A Di Đà Phật Thánh Điển

阿彌陀佛聖典

Phần 3

Thích Ấn Quang đại sư giám định

Cư sĩ Phạm Cổ Nông giảo khám

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bổn in của Cao Hùng Tịnh Tông Học Hội năm 2011)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

V. Phát Nguyện Sanh Tây Chương (發願生西章)

 

          Nguyện là vui thích, là mong muốn. Muốn sanh về Tây Phương Tịnh Độ, thích thấy A Di Đà Phật, muốn cầu Chánh Giác, thích độ chúng sanh. Do vậy bèn phát nguyện; cậy vào nguyện để văng sanh. Đấy chính là ư nghĩa chánh yếu của chương này. Chư Như Lai, chư đại Bồ Tát, phát nguyện sanh Tây, kinh luận đă chép trọn đủ. Ngưỡng mong những ai tin nhận kinh giáo, sẽ noi theo gót [các Ngài] mà hành, phát khởi hoằng nguyện, văng sanh Tịnh Độ. Nương cậy bổn thệ của đức Phật ấy, như chúng ta vui thích mong cầu, Phật quả ấy chẳng khó đạt được, mà chúng sanh lại dễ độ vậy!

 

* Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Nhập Pháp Giới Phẩm (Phật Đà Bạt Đà La dịch)

(大方廣佛華嚴經入法界品 - 佛陀跋陀羅譯)

 

          Ngă nhược dục kiến An Lạc thế giới, Vô Lượng Thọ Phật, tùy ư tức kiến (CBETA, T09, no.278, p.694, c26-27).

          我若欲見安樂世界。無量壽佛。隨意即見。

          (Nếu tôi muốn gặp Vô Lượng Thọ Phật trong thế giới An Lạc, sẽ tùy ư liền thấy).

 

* Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm

(大方廣佛華嚴經普賢行願品)

         

          Nhiên bỉ thế giới Như Lai, bất lai chí thử, ngă diệc bất văng nghệ ư bỉ. Thiện nam tử! Ngă nhược dục kiến An Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Như Lai, tùy ư tức kiến...

          Nguyện ngă lâm dục mạng chung thời. Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại. Diện kiến bỉ Phật A Di Đà. Tức đắc văng sanh An Lạc sát. Ngă kư văng sanh bỉ quốc dĩ, hiện tiền thành tựu thử đại nguyện. Nhất thiết viên măn tận vô dư. Lợi lạc nhất thiết chúng sanh giới. Bỉ Phật chúng hội hàm thanh tịnh. Ngă thời ư thắng liên hoa sanh. Thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang. Hiện tiền thọ ngă Bồ Đề kư, mông bỉ Như Lai thọ kư dĩ, hóa thân vô số bách câu-chi. Trí lực quảng đại biến thập phương. Phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới...

          Ngă thử Phổ Hiền thù thắng hạnh. Vô biên thắng phước giai hồi hướng. Phổ nguyện trầm nịch chư hữu t́nh. Tốc văng Vô Lượng Quang Phật sát (CBETA, T10, no.293).

          然彼世界如來。不來至此。我亦不往詣於彼。善男子。我若欲見安樂世界無量壽如來。隨意即見。

          願我臨欲命終時。盡除一切諸障礙。面見彼佛阿彌陀。即得往生安樂剎。我既往生彼國已。現前成就此大願。一切圓滿盡無餘。利樂一切眾生界。彼佛眾會咸清凈。我時於勝蓮華生。親睹如來無量光。現前授我菩提記。蒙彼如來授記已。化身無數百俱胝。智力廣大遍十方。普利一切眾生界。

          我此普賢殊勝行。無邊勝福皆迴向。普願沉溺諸有情。速往無量光佛剎。

          (Nhưng đức Như Lai trong thế giới ấy chẳng đến nơi đây, ta cũng chẳng qua chỗ Ngài. Này thiện nam tử! Nếu ta muốn thấy Vô Lượng Thọ Như Lai trong thế giới An Lạc, sẽ tùy ư liền thấy…

          Nguyện con vào lúc sắp mạng chung, trừ sạch hết thảy các chướng ngại, tận mặt gặp Phật A Di Đà, liền được văng sanh cơi An Lạc. Con đă sanh về cơi ấy rồi, hiện tiền thành tựu đại nguyện này. Hết thảy viên măn chẳng c̣n sót, lợi lạc hết thảy chúng sanh giới. Chúng hội của Phật đều thanh tịnh, con liền sanh trong hoa thù thắng. Đích thân thấy Phật Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ kư quả Bồ Đề. Đă được Như Lai thọ kư rồi, hóa thân vô số trăm câu-chi. Trí lực rộng lớn trọn mười phương, lợi khắp hết thảy chúng sanh giới…

          Hạnh Phổ Hiền thù thắng của con, vô biên phước quư đều hồi hướng, nguyện khắp chúng sanh đang ch́m đắm, mau sanh cơi Phật Vô Lượng Quang).

 

* Văn Thù Sư Lợi Phát Nguyện Kinh

(文殊師利發願經)

 

          Ngă hồi hướng thiện căn, thành măn Phổ Hiền hạnh. Nguyện ngă mạng chung thời, trừ diệt chư chướng ngại. Diện kiến A Di Đà, văng sanh An Lạc sát. Sanh bỉ Phật quốc dĩ, thành măn chư đại nguyện. A Di Đà Như Lai, hiện tiền thọ ngă kư, nghiêm tịnh Phổ Hiền hạnh, măn túc Văn Thù nguyện. Tận vị lai tế kiếp, cứu cánh Bồ Tát hạnh (CBETA, T10, no.296, p.879, c19-25).

          我迴向善根。成滿普賢行。願我命終時。除滅諸障礙。面見阿彌陀。往生安樂剎。生彼佛國已。成滿諸大願。阿彌陀如來。現前授我記。嚴凈普賢行。滿足文殊願。盡未來際劫。究竟菩薩行。

          (Tôi hồi hướng thiện căn, thành măn hạnh Phổ Hiền. Nguyện khi tôi mạng chung, diệt trừ các chướng ngại. Gặp gỡ A Di Đà, văng sanh cơi An Lạc. Đă sanh cơi Phật ấy, thành măn các đại nguyện. A Di Đà Như Lai, liền thọ kư cho tôi, nghiêm tịnh hạnh Phổ Hiền, trọn đủ nguyện Văn Thù, đến tột kiếp vị lai, rốt ráo hạnh Bồ Tát).

 

* Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Nhập Pháp Giới phẩm - Thật Xoa Nan Đà dịch

(大方廣佛華嚴經入法界品 - 實叉難陀譯)

 

          Ngă nhược dục kiến An Lạc thế giới A Di Đà Như Lai, tùy ư tức kiến (CBETA, T10, no.279, p.339, c21-22).

          我若欲見安樂世界阿彌陀如來。隨意即見。

          (Nếu ta muốn thấy A Di Đà Như Lai trong thế giới An Lạc, tùy ư liền thấy).

 

* Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội Kinh

(菩薩念佛三昧經)

 

          Dĩ thị chư thiện nghiệp, ư thử giới mạng chung, đắc cúng Vô Lượng Thọ (CBETA, T13, no.414, p.827, b28-29).

          以是諸善業。於此界命終。得供無量壽。

          (Do các thiện nghiệp này, khi mạng chung trong cơi này, sẽ được phụng sự Vô Lượng Thọ Phật).

 

* Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh

(大乘無量壽莊嚴經)

 

          Văn bỉ Phật danh, phát thanh tịnh tâm, ức niệm thọ tŕ, quy y cúng dường, cầu sanh bỉ độ. Thị nhân mạng chung, giai đắc văng sanh Cực Lạc thế giới, bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

          Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát Bồ Đề tâm dĩ, tŕ chư cấm giới, kiên thủ bất phạm, nhiêu ích hữu t́nh, sở tác thiện căn, tất thí dữ chi, linh đắc an lạc, ức niệm Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai, cập bỉ quốc độ. Thị nhân mạng chung, như Phật sắc tướng, chủng chủng trang nghiêm. Sanh bảo sát trung, hiền thánh vi nhiễu, tốc đắc văn pháp, vĩnh bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

          A Nan bạch ngôn: “Bỉ Phật tịnh sát, đắc vị tằng hữu, ngă diệc nguyện nhạo sanh ư bỉ độ”. Thế Tôn cáo ngôn: “Kỳ trung sanh giả Bồ Tát Ma Ha Tát, dĩ tằng thân cận vô lượng chư Phật, thực chúng đức bổn. Nhữ dục sanh bỉ, ưng đương nhất tâm quy y chiêm ngưỡng” (CBETA, T12, no.363).

          聞彼佛名。發清凈心。憶念受持。歸依供養。求生彼土。是人命終。皆得往生極樂世界。不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。

          若有善男子善女人。發菩提心已。持諸禁戒。堅守不犯。饒益有情。所作善根。悉施與之。令得安樂。憶念西方無量壽如來。及彼國土。是人命終。如佛色相。種種莊嚴。生寶剎中。賢聖圍繞。速得聞法。永不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。

          阿難白言。彼佛凈剎。得未曾有。我亦願樂生於彼土。世尊告言。其中生者菩薩摩訶薩。已曾親近無量諸佛。植眾德本。汝欲生彼。應當一心歸依瞻仰。

          (Nghe danh hiệu đức Phật ấy, phát tâm thanh tịnh, nghĩ nhớ, thọ tŕ, quy y cúng dường, cầu sanh về cơi ấy. Người đó mạng chung, đều được sanh về thế giới Cực Lạc, chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

          Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân đă phát Bồ Đề tâm, giữ các cấm giới, giữ vững chẳng phạm, lợi ích hữu t́nh, những thiện căn đă làm thảy đều thí xả, khiến cho [các hữu t́nh] được an lạc, nghĩ nhớ Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai và cơi nước của Ngài. Người đó mạng chung, sẽ có các thứ trang nghiêm như sắc tướng của Phật, sanh trong cơi báu, hiền thánh vây quanh, mau chóng được nghe pháp, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

          A Nan bạch rằng: “Cơi thanh tịnh của đức Phật ấy chưa từng có, con cũng ưa thích, nguyện sanh về cơi ấy”. Đức Thế Tôn bảo rằng: “Bồ Tát Ma Ha Tát sanh vào trong ấy, đă từng thân cận vô lượng chư Phật, gieo các cội đức. Ông muốn sanh về đó, hăy nên nhất tâm quy y, chiêm ngưỡng”).

 

* Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh

(佛說觀無量壽佛經)

 

          Thời Vi Đề Hy bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Thị chư Phật độ, tuy phục thanh tịnh, giai hữu quang minh. Ngă kim nhạo sanh Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật sở”...

          Vi Đề Hy dữ ngũ bách thị nữ, văn Phật sở thuyết, ứng thời tức kiến Cực Lạc thế giới quảng trường chi tướng, đắc kiến Phật thân, cập nhị Bồ Tát, tâm sanh hoan hỷ, thán vị tằng hữu, hoát nhiên đại ngộ, đăi Vô Sanh Nhẫn. Ngũ bách thị nữ, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, nguyện sanh bỉ quốc. Thế Tôn tất kư, giai đương văng sanh. Sanh bỉ quốc dĩ, hoạch đắc Chư Phật Hiện Tiền tam-muội. Vô lượng chư thiên, phát vô thượng đạo tâm (CBETA, T12, no.365).

          時韋提希白佛言。世尊。是諸佛土。雖復清凈。皆有光明。我今樂生極樂世界阿彌陀佛所。

          韋提希與五百侍女。聞佛所說。應時即見極樂世界廣長之相。得見佛身。及二菩薩。心生歡喜。嘆未曾有。豁然大悟。逮無生忍。五百侍女。發阿耨多羅三藐三菩提心。願生彼國。世尊悉記。皆當往生。生彼國已。獲得諸佛現前三昧。無量諸天。發無上道心。

          (Khi ấy, Vi Đề Hy bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Các cơi Phật ấy tuy đều thanh tịnh, đều có quang minh, nay con thích sanh về thế giới Cực Lạc là chỗ của A Di Đà Phật”...

          Bà Vi Đề Hy và năm trăm thị nữ nghe lời đức Phật dạy, ngay lập tức liền thấy tướng rộng lớn của thế giới Cực Lạc, được thấy thân Phật và hai vị Bồ Tát, tâm sanh hoan hỷ, khen là chưa từng có, hoát nhiên đại ngộ, đắc Vô Sanh Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nguyện sanh về cơi ấy. Đức Thế Tôn đều thọ kư họ sẽ văng sanh. Đă sanh về cơi ấy, đạt được Chư Phật Hiện Tiền tam-muội. Vô lượng chư thiên phát vô thượng đạo tâm).

 

* Phật Thuyết A Di Đà Kinh

(佛說阿彌陀經)

 

          Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả. Thị chư nhân đẳng, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh (CBETA, T12, no.366, p.348, a13-16) .

          若有人已發願。今發願。當發願。欲生阿彌陀佛國者。是諸人等。皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。於彼國土。若已生。若今生。若當生。

          (Nếu có người đă phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh về cơi nước của A Di Đà Phật; những người ấy đều đắc bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đối với cơi nước ấy, hoặc là đă sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh).

 

* Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh

(稱讚凈土佛攝受經)

 

          Nhược thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân, ư Vô Lượng Thọ Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ công đức trang nghiêm, nhược dĩ phát nguyện, nhược đương phát nguyện, nhược kim phát nguyện, tất vị như thị trụ thập phương diện thập Căng-già sa chư Phật thế giới chi sở nhiếp thọ. Như thuyết tu hành, nhất thiết định ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề đắc bất thoái chuyển, nhất thiết định sanh Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ (CBETA, T12, no.367, p.351, a18-23).

          若善男子或善女人。於無量壽極樂世界清凈佛土功德莊嚴。若已發願。若當發願。若今發願。必為如是住十方面十殑伽沙諸佛世界之所攝受。如說修行。一切定於阿耨多羅三藐三菩提得不退轉。一切定生無量壽佛極樂世界清凈佛土。

          (Nếu thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân đối với công đức trang nghiêm của cơi Phật thanh tịnh là thế giới Cực Lạc của Vô Lượng Thọ Phật, mà hoặc là đă phát nguyện, hoặc sẽ phát nguyện, hoặc đang phát nguyện, ắt sẽ được mười Căng-già sa các thế giới của chư Phật trong mười phương nhiếp thọ. Tu hành theo đúng lời dạy, nhất định sẽ được bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hết thảy chắc chắn sẽ sanh về thế giới Cực Lạc là cơi Phật thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật).

 

* Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh

(佛說灌頂經)

 

          Phổ Quảng hựu bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Hà cố kinh trung tán thán A Di Đà sát thất bảo chư thụ, cung điện, lâu, các, chư nguyện sanh giả, giai tất tùy bỉ tâm trung sở nguyện, ứng niệm nhi chí?” Phật ngôn: “Phổ Quảng! Nhữ bất giải ngă ư. Sa Bà thế giới, nhân đa tham trược, tín hướng giả thiểu, tập tà giả đa, bất tín chánh pháp, bất năng chuyên nhất, tâm loạn vô chí, thật vô sai biệt. Linh chư chúng sanh, chuyên tâm hữu tại; thị cố tán thán bỉ quốc độ nhĩ. Chư văng sanh giả, tất tùy bỉ nguyện, vô bất hoạch quả (CBETA, T21, no.1331, p.520, c6-14)

          普廣又白佛言。世尊。何故經中讚歎阿彌陀剎七寶諸樹宮殿樓閣。諸願生者。皆悉隨彼心中所願。應念而至。佛言。普廣。汝不解我意。娑婆世界。人多貪濁。信向者少。習邪者多。不信正法。不能專一。心亂無志。實無差別。令諸眾生。專心有在。是故讚歎彼國土耳。諸往生者。悉隨彼願。無不獲果。

          (Phổ Quảng lại bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! V́ sao trong kinh tán thán các cây bảy báu, cung điện, lầu, gác trong cơi A Di Đà, đối với những người nguyện sanh về đó, ắt đều thuận theo ḷng mong mỏi của họ, vừa nghĩ bèn đến nơi?” Đức Phật nói: “Này Phổ Quảng! Ông chẳng hiểu ư ta. Người trong thế giới Sa Bà nhiều tham lam, nhơ bẩn, kẻ tin tưởng ít ỏi, kẻ tập theo thói tà th́ nhiều, chẳng tin chánh pháp, chẳng thể chuyên nhất, tâm tán loạn, chẳng chuyên chí, đúng là chẳng sai khác. Để làm cho các chúng sanh có chỗ chuyên tâm; cho nên ta tán thán cơi nước ấy. Những người sanh về đó, thảy đều thuận theo ư nguyện của họ, không ai chẳng đắc quả).

 

* Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh

(藥師琉璃光如來本願功德經)

 

          Dĩ thử thiện căn, nguyện sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật sở, thính văn chánh pháp (CBETA, T14, no.450, p.406, b9-10)

          以此善根。願生西方極樂世界無量壽佛所。聽聞正法。

          (Do thiện căn ấy, nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là chỗ của Vô Lượng Thọ Phật, lắng nghe chánh pháp).

 

* Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh

(大乘入楞伽經)

 

          Vị lai thế đương hữu tŕ ư ngă pháp giả, Nam Thiên Trúc quốc trung, đại danh đức tỳ-kheo, quyết hiệu vi Long Thọ, năng phá hữu vô tông, thế gian trung hiển ngă vô thượng Đại Thừa pháp, đắc phước Hoan Hỷ Địa, văng sanh An Lạc quốc (CBETA, T16, no.672, p.627, c18-23).

          未來世當有。持於我法者。南天竺國中。大名德比丘。厥號為龍樹。能破有無宗。世間中顯我。無上大乘法。得福歡喜地。往生安樂國。

          (Trong đời vị lai, sẽ có người ǵn giữ pháp của ta: Trong nước Nam Thiên Trúc, có một vị tỳ-kheo rất nổi tiếng về đức hạnh, có hiệu là Long Thọ. Vị này có thể phá Hữu Tông và Vô Tông, ở trong thế gian, hiển lộ pháp Đại Thừa vô thượng của ta, có phước đắc Hoan Hỷ Địa, sanh về cơi An Lạc).

 

* Nhập Lăng Già Kinh

(入楞伽經)

 

          Ư Nam đại quốc trung, hữu đại đức tỳ-kheo, danh Long Thọ Bồ Tát, năng phá hữu vô kiến, vị nhân thuyết ngă thừa, Đại Thừa vô thượng pháp, chứng đắc Hoan Hỷ Địa, văng sanh An Lạc quốc (CBETA, T16, no.671, p.569, a24-28).

          於南大國中。有大德比丘。名龍樹菩薩。能破有無見。為人說我乘。大乘無上法。證得歡喜地。往生安樂國。

          (Trong một nước lớn ở phương Nam, có vị đại đức tỳ-kheo tên là Long Thọ Bồ Tát, có thể phá kiến chấp Có và Không, v́ người khác nói giáo thừa của ta, tức là pháp Đại Thừa vô thượng, chứng đắc Hoan Hỷ Địa, văng sanh cơi An Lạc).

 

* Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh

(月燈三昧經)

         

          Ư kỳ Di Lặc Như Lai sở, thi thiết vô thượng thắng cúng dường, thiện tŕ bỉ Phật chân diệu pháp, tất đắc văng sanh An Lạc quốc. Bỉ Ly Cấu Uế Như Lai tôn, kỳ Phật hiệu viết A Di Đà, ư bỉ quảng thiết thắng cúng dường, vị cầu Vô Thượng Bồ Đề cố. Hàng phục chư dị luận, quảng tác Phật Bồ Đề. Bồ Tát ư thử chung, văng sanh An Lạc quốc. Di Đà vị thuyết pháp, đăi đắc Vô Sanh Nhẫn (CBETA, T15, no.639).     

          於其彌勒如來所。施設無上勝供養。善持彼佛真妙法。悉得往生安樂國。彼離垢穢如來尊。其佛號曰阿彌陀。於彼廣設勝供養。為求無上菩提故。降伏諸異論。廣作佛菩提。菩薩於此終。往生安樂國。彌陀為說法。逮得無生忍。

          (Ở chỗ Di Lặc Như Lai, sắp đặt những thứ cúng dường thù thắng vô thượng, khéo tŕ diệu pháp chân thật của đức Phật ấy, ắt được văng sanh cơi An Lạc. Đức Ly Cấu Uế Như Lai, vị Phật ấy hiệu là A Di Đà, ở chỗ Ngài sẽ rộng xếp đặt các thứ cúng dường thù thắng v́ cầu Vô Thượng Bồ Đề. Hàng phục các dị luận, rộng hành Bồ Đề của Phật. Bồ Tát mạng chung ở nơi đây, sanh về cơi An Lạc, Phật Di Đà v́ Bồ Tát nói pháp, Bồ Tát bèn đắc Vô Sanh Nhẫn).

 

* Thập Trụ Đoạn Kết Kinh

(十住斷結經)

          Thị thời Thế Tôn, tri lai hội giả tâm trung sở niệm, nhi cáo chi viết: “Tây phương khứ thử vô số Phật độ, hữu Phật danh Vô Lượng Thọ. Kỳ độ thanh tịnh, vô dâm, nộ, si, tất đồng nhất tâm, giai do liên hoa trung sanh, bất nhân phụ mẫu t́nh dục sanh dă, thuần thị đồng nam, diệc vô nữ h́nh, vô đại tiểu tiện. Dĩ Thiền duyệt lạc pháp, vô tưởng niệm thức, dĩ vi phạn thực, cộng tương kính niệm, như phụ, như mẫu. Dục sanh bỉ giả, khả phát thệ nguyện”. Thời tứ ức chúng, tức ư ṭa thượng, đồng tâm phát nguyện, cầu sanh bỉ độ.

          Nhĩ thời Thế Tôn, tức như kỳ tượng, phóng Giác Ư tam-muội quang minh, chiếu bỉ quốc độ, sử tứ ức nhân đắc kiến bỉ độ Như Lai Thế Tôn, cập hóa sanh Bồ Tát. Kỳ quốc quảng bác, thuần kim, ngân, lưu ly, chúng bảo tạp xí, vô tam ác đạo, bát nạn chi khổ. Kiến bỉ quốc dĩ, thử tứ ức nhân, tùy kỳ h́nh thọ, giai đắc đồng thời sanh bỉ quốc độ (CBETA, T10, no.309, p.999, c1-12).

          是時世尊。知來會者心中所念。而告之曰。西方去此無數佛土。有佛名無量壽。其土清凈。無婬怒痴。悉同一心。皆由蓮華中生。不因父母情慾生也。純是童男。亦無女形。無大小便。以禪悅樂法。無想念識。以為飯食。共相敬念。如父如母。欲生彼者。可發誓願。時四億眾。即於座上。同心發願。求生彼土。

          爾時世尊。即如其像。放覺意三昧光明。照彼國土。使四億人得見彼土如來世尊。及化生菩薩。其國廣博。純金銀琉璃。眾寶雜廁。無三惡道。八難之苦。見彼國已。此四億人。隨其形壽。皆得同時生彼國土。

          (Khi ấy, đức Thế Tôn biết tâm niệm của những người đến dự hội, bèn bảo rằng: “Ở phương Tây cách đây vô số cơi Phật, có vị Phật tên là Vô Lượng Thọ. Cơi ấy thanh tịnh, không có dâm, giận, si, [mọi người] đều cùng một tâm, đều sanh từ hoa sen, chẳng do t́nh dục của cha mẹ mà sanh ra, thuần là trẻ trai, cũng chẳng có h́nh tướng nữ nhân, chẳng có đại tiểu tiện. Dùng Thiền duyệt lạc pháp và vô tưởng niệm thức để làm cơm ăn, nghĩ tưởng kính trọng lẫn nhau như cha, như mẹ. Người muốn sanh về cơi ấy, hăy nên phát thệ nguyện”. Khi ấy, bốn ức chúng liền từ ngay chỗ ngồi, đồng ḷng phát nguyện, cầu sanh về cơi ấy.

          Lúc ấy, đức Thế Tôn liền như h́nh tượng ấy, phóng quang minh Giác Ư tam-muội chiếu đến cơi nước ấy, khiến cho bốn ức người được thấy đức Như Lai Thế Tôn trong cơi ấy và các vị Bồ Tát hóa sanh. Cơi ấy rộng mênh mông, thuần là vàng, bạc, lưu ly, các thứ báu xen lẫn, chẳng có các nỗi khổ ba ác đạo và tám nạn. Đă thấy cơi ấy rồi, bốn ức người ấy tùy theo tuổi thọ của họ mà đều đồng thời sanh về cơi nước ấy).

 

* Hiền Kiếp Kinh

(賢劫經)

 

          Quang Diễm Như Lai, bổn túc mạng thời, tằng tác cổ khách, nhập hải trí hoạch kỳ trân. Tùng Vô Lượng Quang Phật sở, sơ phát đạo tâm. Thời kiến Thế Tôn, tâm trung hân hỷ, dĩ minh châu cống thượng kỳ Phật. Nhân kỳ đạo tâm, hành Bồ Tát pháp, tự trí thành Phật, độ thoát nhất thiết (CBETA, T14, no.425, p.59, a11-15).

          光焰如來。本宿命時。曾作賈客。入海致獲琦珍。從無量光佛所。初發道心。時見世尊。心中忻喜。以明珠貢上其佛。因其道心。行菩薩法。自致成佛。度脫一切。

          (Quang Diễm Như Lai, vào thuở xưa kia, từng làm lái buôn, vào biển để lấy những thứ quư báu, lạ lùng. Từ chỗ Vô Lượng Quang Phật, Ngài phát đạo tâm ban đầu. Khi thấy đức Thế Tôn, trong tâm Ngài vui mừng, dâng minh châu lên đức Phật ấy. Do đạo tâm đó, hành Bồ Tát pháp, tự đạt đến thành Phật, độ thoát hết thảy).

 

* Quán Thế Âm Bồ Tát Bí Mật Tạng Thần Chú Kinh

(觀世音菩薩秘密藏神咒經)

 

          Dục cầu hà nguyện, nhất thiết thí nhữ. A Di Đà Phật tự hiện kỳ thân, kiến Cực Lạc thế giới trang nghiêm chi sự như kinh trung thuyết (CBETA, T20, no.1082, a26-28).

          欲求何願。一切施汝。阿彌陀佛。自現其身。見極樂世界莊嚴之事。如經中說。

          (Muốn cầu nguyện điều ǵ, hết thảy đều ban cho ngươi. A Di Đà Phật tự hiện thân h́nh, [ngươi sẽ được] thấy các sự trang nghiêm trong thế giới Cực Lạc như trong kinh đă nói).

 

* Bồ Tát Đạo Thụ Kinh

(菩薩道樹經)

 

          Ư thị, thế thọ chung hậu, tiện thượng thăng Đâu Suất Thiên, đương nguyện sanh an ổn quốc, thọ vô cực pháp vương tiền (CBETA, T14, no.532, p.813, a28-b1).

          於是世壽終后。便上升兜率天。當願生安隱國。壽無極法王前。

          (Do vậy, sau khi đă hết tuổi thọ, liền thăng lên trời Đâu Suất, sẽ nguyện sanh về cơi an ổn, ở trước đấng pháp vương thọ lượng vô cực).

 

* Bồ Tát Sanh Địa Kinh

(菩薩生地經)

 

          Ngũ bách tỳ-kheo, cập ngũ bách thanh tín sĩ, nhị thập thanh tín nữ, giai đắc trụ Bất Thoái Chuyển địa, thọ chung tất đương sanh ư Vô Lượng Thọ Phật thanh tịnh quốc, thường hộ tŕ vô số Phật pháp, giáo hóa thành tựu nhất thiết nhân dân, sử bất thoái chuyển. Như thị vô cực hằng sa biên kiếp, đương ư thử độ, dĩ thứ thành Phật (CBETA, T14, no.533, p.814, c15-19).

          五百比丘。及五百清信士。二十清信女。皆得住不退轉地。壽終悉當生於無量壽佛清凈國。常護持無數佛法。教化成就一切人民。使不退轉。如是無極恆沙邊劫。當於此土。以次成佛。

          (Năm trăm vị tỳ-kheo, và năm trăm thanh tín sĩ, hai mươi thanh tín nữ, đều được trụ nơi địa vị Bất Thoái Chuyển; sau khi đă hết tuổi thọ, sẽ đều sanh về nước thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật, thường hộ tŕ vô số Phật pháp, giáo hóa thành tựu hết thảy nhân dân, khiến cho họ chẳng thoái chuyển. Trong vô cực hằng hà sa số kiếp như thế, sẽ ở trong cơi này, lần lượt thành Phật).

 

* Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Kư Kinh

(觀世音菩薩授記經)

 

          Linh thử thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, nguyện sanh bỉ quốc. Sanh bỉ quốc dĩ, tuyệt bất thoái chuyển A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ư thử chúng hội tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiên, long, dạ xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân đẳng, Thích Phạm tứ thiên vương, Bồ Tát, Thanh Văn, giai kiến An Lạc thế giới A Di Đà Phật, Bồ Tát, Thanh Văn quyến thuộc vi nhiễu, hoảng nhược bảo sơn, cao hiển thù đặc, oai quang hách dịch, phổ chiếu chư sát. Như tịnh mục nhân, ư nhất tầm nội, đổ nhân diện mục, minh liễu vô ngại. Kư kiến thị dĩ, hoan hỷ, dũng dược, xướng như thị ngôn: “Nam-mô A Di Đà Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri”. Thời thử chúng trung bát vạn tứ thiên chúng sanh, giai phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, cập chủng thiện căn, nguyện sanh bỉ quốc (CBETA, T12, no. 371).

          令此善男子善女人。發阿耨多羅三藐三菩提心。願生彼國。生彼國已。絕不退轉阿耨多羅三藐三菩提。於此眾會比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷、天龍、夜叉、乾闥婆、阿修羅、迦樓羅、緊那羅、摩睺羅伽、人非人等。釋梵四天王。菩薩聲聞。皆見安樂世界阿彌陀佛。菩薩、聲聞眷屬圍繞。晃若寶山。高顯殊特。威光赫弈。普照諸剎。如凈目人。於一尋內。睹人面目。明了無礙。既見是已。歡喜踴躍。唱如是言。南無阿彌陀如來應供正遍知。時此眾中八萬四千眾生。皆發阿耨多羅三藐三菩提心。及種善根。願生彼國。

          (Khiến cho các thiện nam tử và thiện nữ nhân ấy phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nguyện sanh sang cơi ấy. Đă sanh về cơi ấy rồi, trọn chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ở nơi ấy, các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiên, long, quỷ, dạ xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân phi nhân v.v…Thích Phạm tứ thiên vương, Bồ Tát, Thanh Văn trong chúng hội này đều thấy trong thế giới An Lạc, A Di Đà Phật quyến thuộc Bồ Tát và Thanh Văn vây quanh, [thân Phật] chói ngời như ṭa núi báu, cao tột rạng rỡ lạ lùng đặc biệt, oai quang sáng rực, chiếu khắp các cơi nước. Như người mắt thanh tịnh, trong khoảng một tầm[1], thấy mặt người khác rơ ràng chẳng ngăn ngại. Đă thấy rồi bèn hoan hỷ, hớn hở, xướng như thế này: “Nam-mô A Di Đà Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri”. Lúc ấy, tám vạn bốn ngàn chúng sanh trong hội này đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và gieo thiện căn, nguyện sanh về cơi ấy).

 

* Đại Phương Đẳng Đà La Ni Kinh

(大方等陀羅尼經)

 

          Nhĩ thời đại chúng dao kiến Tây Phương Diệu Lạc thế giới hà tŕ, hoa thụ, trang nghiêm chi sự, vô bất minh liễu. Nhĩ thời, đại chúng hoan hỷ, dũng dược, chí tâm lễ kính Vô Lượng Thọ Phật, các các cầu sanh Diệu Lạc thế giới (CBETA, T21, no.1339, p. 654, c9-11).

          爾時大眾遙見西方妙樂世界河池華樹莊嚴之事。無不明了。爾時大眾歡喜踴躍。至心禮敬無量壽佛。各各求生妙樂世界。

          (Khi ấy, đại chúng từ xa trông thấy các sự trang nghiêm trong thế giới Diệu Lạc ở phương Tây như ao sen, cây hoa… không ǵ chẳng rành rẽ. Lúc đó, đại chúng hoan hỷ, hớn hở, chí tâm lễ kính Vô Lượng Thọ Phật, ai nấy đều cầu sanh về thế giới Diệu Lạc).

 

* Phật Thuyết A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh

(佛說阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經)

 

          Nhất thiết chư thiện, giai tất hồi hướng, nguyện đắc văng sanh An Lạc thế giới. Thùy chung chi nhật, A Di Đà Phật dữ chư đại chúng, hiện kỳ nhân tiền, an ủy xưng thiện. Thị nhân tức thời thậm sanh khánh duyệt, dĩ thị nhân duyên, như kỳ sở nguyện, tức đắc văng sanh (CBETA, T12, no.370, p.352, c8-11).

          一切諸善。皆悉迴向。願得往生安樂世界。垂終之日。阿彌陀佛與諸大眾。現其人前。安慰稱善。是人即時甚生慶悅。以是因緣。如其所願。即得往生。

          (Hết thảy các điều thiện thảy đều hồi hướng, nguyện được văng sanh thế giới An Lạc. Ngày lâm chung, A Di Đà Phật và các đại chúng, hiện ra trước người ấy, an ủi, khen ngợi tốt lành, người ấy ngay lập tức sanh ḷng hết sức mừng rỡ, do nhân duyên ấy, đúng như ước nguyện, liền được văng sanh).

 

* Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh

(過去莊嚴劫千佛名經)

 

          Nhược năng ngũ thể đầu địa tác lễ, khẩu tự tuyên ngôn: - Ngă kim phổ lễ nhất thiết thập phương tam thế chư Phật. Nguyện tam đồ hưu tức, quốc phong, dân an. Tà kiến chúng sanh, hồi hướng chánh đạo, phát Bồ Đề tâm. Tŕ thử công đức, nguyện cộng lục đạo nhất thiết chúng sanh, giai sanh Vô Lượng Thọ Phật quốc. Lập đại thệ nguyện, sử chư chúng sanh, tất sanh bỉ sát. Thân chư tướng hảo, trí huệ, biện tài như A Di Đà Phật. Sở hoạch quả báo, nguy nguy đường đường, thọ mạng vô lượng (CBETA, T14, no.446a, p.365, b4-10).

          若能五體投地作禮。口自宣言。我今普禮一切十方三世諸佛。願三塗休息。國豐民安。邪見眾生。迴向正道。發菩提心。持此功德。願共六道一切眾生。皆生無量壽佛國。立大誓願。使諸眾生。悉生彼剎。身諸相好。智慧辨才。如阿彌陀佛。所獲果報。巍巍堂堂。壽命無量。

          (Nếu có thể năm vóc gieo xuống đất làm lễ, miệng tự tuyên nói: “Con nay lễ khắp hết thảy mười phương ba đời chư Phật. Nguyện tam đồ ngưng nghỉ, nước giàu, dân yên. Chúng sanh tà kiến quay về chánh đạo, phát Bồ Đề tâm. Đem công đức này, nguyện cùng hết thảy chúng sanh trong sáu đường đều sanh về cơi Vô Lượng Thọ Phật. Lập thệ nguyện lớn, khiến cho các chúng sanh đều sanh về cơi ấy. Các tướng hảo nơi thân, trí huệ và biện tài đều như A Di Đà Phật, đạt được quả báo ṿi vọi, lồng lộng, thọ mạng vô lượng).

 

* Bồ Tát Xử Thai Kinh

(菩薩處胎經)

 

          Hoặc hữu Bồ Tát Ma Ha Tát, tùng sơ phát ư năi chí thành Phật, chấp tâm nhất hướng, vô nhược can tưởng, vô sân, vô nộ, nguyện nhạo dục sanh Vô Lượng Thọ Phật quốc. Nhất thiết chúng sanh kỳ sanh bỉ giả, tứ bộ chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, giai đồng nhất kim sắc. Thời long tử, long nữ tâm khai ư giải, thọ chung chi hậu, giai đương sanh A Di Đà quốc (CBETA, T12, no.384).

          或有菩薩摩訶薩。從初發意乃至成佛。執心一向。無若干想。無嗔無怒。願樂欲生無量壽佛國。一切眾生其生彼者。四部眾比丘比丘尼優婆塞優婆夷。皆同一金色。時龍子龍女。心開意解。壽終之後。皆當生阿彌陀國。

          (Hoặc là có Bồ Tát Ma Ha Tát từ lúc mới phát tâm cho đến khi thành Phật, giữ ḷng một hướng, không nghĩ đến ǵ khác, không sân, không giận, vui thích nguyện được sanh về cơi Vô Lượng Thọ Phật. Hết thảy chúng sanh đă sanh về cơi ấy, bốn bộ chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đều là [thân tướng] sắc vàng như nhau. Khi ấy, rồng đực, rồng cái tâm khai ư giải, sau khi đă chết, sẽ đều sanh về nước Phật A Di Đà).

 

* Đại Thừa Du Già Kim Cang Tánh Hải Mạn Thù Thất Lợi Thiên Tư Thiên Bát Đại Giáo Vương Kinh

(大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千缽大教王經)

 

          Biến quán thập phương, khuếch châu pháp giới, lăng nhiên tịch tĩnh, vô hữu chướng ngại, tánh như hư không, đồng bỉ Di Đà Pháp Thân Tịnh Độ. Ư thử Tịnh Độ, phát hoằng thệ nguyện, đương cứu hữu t́nh, tất linh giải thoát, giác liễu tâm kính, đắc nhập tịnh quốc. Vô Biên Âm Thanh Hống Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát Đỏa, linh nhất thiết Bồ Tát, đương lai cập nhất thiết hữu t́nh chúng sanh, đồng chứng nhập thập phương nhất thiết chư Phật A Di Đà Quán Tự Tại Vương Như Lai Pháp Thân thánh tánh Tịnh Độ (CBETA, T20, no.1177A, p.742).

          遍觀十方。廓周法界。朗然寂靜。無有障礙。性如虛空。同彼彌陀法身凈土。於此凈土。發弘誓願。當救有情。悉令解脫。覺了心鏡。得入凈國。無邊音聲吼手菩薩摩訶薩埵。令一切菩薩。當來及一切有情眾生。同證入十方一切諸佛阿彌陀觀自在王如來法身聖性凈土。

          (Xem khắp mười phương, mênh mang trọn khắp pháp giới, rạng ngời, tịch tĩnh, chẳng có chướng ngại, tánh như hư không giống như Tịnh Độ của Di Đà Pháp Thân. Trong cơi Tịnh Độ ấy, phát khởi thệ nguyện rộng lớn, thề cứu hữu t́nh, khiến cho họ đều được giải thoát, giác ngộ tâm kính, được nhập cơi tịnh. Vô Biên Âm Thanh Hống Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát Đỏa khiến cho hết thảy Bồ Tát, và hết thảy hữu t́nh chúng sanh trong tương lai cùng chứng nhập thánh tánh Tịnh Độ của Pháp Thân mười phương hết thảy chư Phật và A Di Đà Quán Tự Tại Vương Như Lai).

 

* Phật Thuyết Bồ Tát Nội Giới Kinh

(佛說菩薩內戒經)

 

          Bồ Tát đương tri tam nguyện, năi vi Bồ Tát. Hà vị tam? Nhất nguyện ngă đương tác Phật, linh quốc trung vô hữu tam ác đạo giả, giai hữu kim, ngân, thủy tinh, lưu ly, thất bảo, nhân dân thọ vô cực, giai tự nhiên phạn thực, y bị, ngũ lạc xướng kỹ, cung điện, lâu, xá. Nhị nguyện ngă văng sanh A Di Đà Phật tiền. Tam nguyện ngă thế thế dữ Phật tương trị, Phật đương thọ ngă biệt. Thị vi tam nguyện. Ngă cấp đương chí A Di Đà Phật sở. Ngă tŕ thị tam-muội, cấp dục dữ thủy tinh, lưu ly, kim, ngân cộng hội tương ngu lạc (CBETA, T24, no.1487).

          菩薩當知三願。乃為菩薩。何謂三。一願我當作佛。令國中無有三惡道者。皆有金銀水精琉璃七寶。人民壽無極。皆自然飯食衣被。五樂倡伎宮殿樓舍。二願我往生阿彌陀佛前。三願我世世與佛相值。佛當授我莂。是為三願。我急當至阿彌陀佛所。我持是三昧。急欲與水精琉璃金銀共會相娛樂。

          (Bồ Tát hăy nên biết ba nguyện th́ mới là Bồ Tát. Những ǵ là ba? Một là nguyện ta sẽ thành Phật, khiến cho trong nước không có ba ác đạo, đều có vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, bảy báu, nhân dân thọ chẳng có hạn lượng, tự nhiên đều là [sẵn có] cơm, thức ăn, quần áo, đồ đắp, năm thứ vui sướng, ca hát, cung điện, lầu, nhà. Hai là nguyện được sanh về trước mặt A Di Đà Phật. Ba là nguyện ta đời đời gặp gỡ Phật, Phật sẽ thọ kư cho ta. Đấy là ba nguyện. Ta sẽ mau chóng đến chỗ A Di Đà Phật. Ta tŕ môn tam-muội này, mau chóng muốn ban cho [chúng sanh] thủy tinh, lưu ly, vàng, bạc để cùng nhau vui thỏa).

 

* Tam Mạn Đà Bạt Đà La Bồ Tát Kinh[2]

(三曼陀颰陀羅菩薩經)

 

          Giai linh sanh hữu Phật xứ, hữu Bồ Tát xứ, giai linh sanh A Ma Đề A Di Đà Phật sát. Mỗ tŕ thị công đức nhân, mỗ hảo tâm cụ túc, biến phát A Nậu Đa La Tam Da Tam Bồ tâm (CBETA, T14, no.483, p.668, a16-18).

          皆令生有佛處。有菩薩處。皆令生阿摩提阿彌陀佛剎。某持是功德因。某好心具足。遍發阿耨多羅三耶三菩心。

          (Đều khiến sanh về chỗ có Phật, chỗ có Bồ Tát, đều khiến cho sanh về cơi A Ma Đề A Di Đà Phật[3]. Tôi (tên là…) dùng cái nhân công đức này, tôi tâm tốt lành trọn đủ, phát khởi trọn khắp cái tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

* Bồ Tát Thọ Trai Kinh

(菩薩受齋經)

 

          Ngă thị Bồ Tát, tŕ Bồ Tát trai. Như ngă niệm Nê Lê trung nhân, Bệ Lệ trung nhân, súc sanh trung nhân, linh đắc giải thoát xuất sanh vi nhân. Tùng thị phân đàn bố thí, đương chí Tu Ha Ma Tŕ Câu Lâu Đàn A Di Đà Phật tiền, thọ đắc tam-muội Thiền. Thị vị Bồ Tát giải trai pháp.

          Thanh tịnh tôn thần quốc, an ổn tại Tây phương, nguyện đắc tự quy mạng, phụng sự vô thượng vương. Thần thông thánh trí đạt, chiếu kiến ngă tâm t́nh, tự quy chư đại hộ, bách kiếp bất động khuynh (CBETA, T24, no.1502).

          我是菩薩。持菩薩齋。如我念泥犁中人、薜荔中人、畜生中人。令得解脫出生為人。從是分檀布施。當至須訶摩持拘樓檀阿彌陀佛前。受得三昧禪。是為菩薩解齋法。

          清凈尊神國。安隱在西方。願得自歸命。奉事無上王。神通聖智達。照見我心情。自歸諸大護。百劫不動傾。

          (Ta là Bồ Tát, giữ trai pháp của Bồ Tát. Như ta nghĩ đến những người trong địa ngục, những người trong ngạ quỷ, những người trong súc sanh, khiến cho họ được giải thoát, sanh ra làm người. Từ đây chia thành Đàn Bố Thí (Bố Thí Ba La Mật), sẽ đến trước Tu Ha Ma Tŕ Câu Lâu Đàn A Di Đà Phật (Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật), nhận được tam-muội Thiền. Đó là Bồ Tát hiểu trai pháp vậy.    

          Nước thanh tịnh, tôn quư, thần diệu, an ổn tại phương Tây. Con nguyện được quy mạng, phụng sự đấng Vô Thượng Vương. Bậc đă thấu đạt thần thông thánh trí, xin hăy soi xét tâm t́nh của con, con tự quy mạng các vị bảo vệ vĩ đại, suốt trăm kiếp chẳng lay động).

 

* Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ

(金剛頂瑜伽三十七尊禮)

 

          Như thử đẳng tội, số việt trần sa, tùng mê chí mê, mạc trắc chung thỉ. Kim thỉ giác ngộ, thâm hối tự tàm, hiểu dạ kinh hoàng, thân tâm chiến lật, vĩnh đoạn mê giác, tham ái ngă nhân, đầu Niết Bàn thành, quy An Lạc quốc (CBETA, T18, no.879, p.338, a26-29).

          如此等罪。數越塵沙。從迷至迷。莫測終始。今始覺悟。深悔自慚。曉夜驚惶。身心戰慄。永斷迷覺。貪愛我人。投涅槃城。歸安樂國。

          (Những tội như thế, số lượng nhiều hơn cát bụi. Từ mê đến mê, chẳng suy lường được đầu cuối. Nay mới giác ngộ, hối hận sâu xa, tự ḿnh hổ thẹn, ngày đêm kinh hoàng, thân tâm run rẩy, vĩnh viễn đoạn trừ [các kiến chấp] mê giác, tham ái, ta, người, gởi thân nơi thành Niết Bàn, trở về nước An Lạc).

 

* Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi

(瑜伽集要焰口施食儀)

 

          Lâm mạng chung thời, thức tánh vô mê hoặc. Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ Như Lai tiền. Y ư huệ nhật phát quang, Văn Tư Tu đoạn Hoặc. Chứng chân mẫn niệm ư hữu t́nh. Nam-mô Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai chư đại Bồ Tát hải hội thánh chúng. Duy nguyện pháp giới tồn vong đẳng tội tiêu trừ, đồng sanh Tịnh Độ (CBETA, T21, no.1320).

          臨命終時。識性無迷惑。願生西方凈土如來前。依於慧日發光。聞思修斷惑。證真愍念於有情。南無西方無量壽如來諸大菩薩海會聖眾。唯願法界存亡等罪消除。同生凈土。

          (Khi sắp mạng chung, thức tánh chẳng mê hoặc. Nguyện sanh về trước Tây Phương Tịnh Độ Như Lai, nương theo mặt trời trí huệ tỏa sáng, do Văn Tư Tu huệ mà đoạn Hoặc, chứng lẽ chân, thương xót hữu t́nh. Nam-mô Tây Phương Vô Lượng Thọ Như Lai và chư đại Bồ Tát, hải hội thánh chúng. Xin nguyện cho những tội [đă trót phạm] trong pháp giới dù c̣n hay mất đều tiêu trừ, cùng sanh về Tịnh Độ).

 

* Long Thọ Bồ Tát Khuyến Giới Vương Tụng

(龍樹菩薩勸誡王頌)

 

          Tùy năng tu nhất sự, vật linh hư yểu sanh. Chúng thiện giai tùy hỷ, diệu hạnh tam tự tu, hậu sanh thọ vô lượng, quảng độ ư nhân thiên. Do như Quán Tự Tại, cực nan đẳng oán thân (CBETA, T32, no.1674, p.754, a20-25).

          隨能修一事。勿令虛夭生。眾善皆隨喜。妙行三自修。後生壽無量。廣度於人天。猶如觀自在。極難等怨親。

          (Hăy tùy theo khả năng mà tu một sự, đừng để uổng phí cuộc đời. Đối với các điều thiện đều tùy hỷ, tự tu ba diệu hạnh, đời sau sẽ thọ vô lượng, độ rộng răi trời, người. Ví như ngài Quán Tự Tại, đă làm được điều cực khó là b́nh đẳng đối với kẻ oán lẫn người thân).

         

* Thiện Tín Ma Thân Kinh

(善信摩親經)

 

          Phật tại Xá Vệ, hữu trưởng giả nữ, danh viết Thiện Tín, trí huệ bác đạt, thường hữu đại nguyện, bất nhạo thế tục, tự niệm vạn vật vô thường, đương quy ư tử. Thiên đế diệc đương bại hoại, huống hồ nhân thân. Niệm ngă phụ mẫu, huynh đệ bất tri tội phước, tham dục vô yếm. Ngă niên tam ngũ, dĩ hứa tha nam, ngă gia huynh đệ, thọ thủ sất bạch. Ngă thân đương văng thọ chư khổ, bất như kim nhật thanh tịnh đương phát thượng nguyện, mịch cầu an ổn trường lạc chi xứ, khả dũ tự ngu, tiện chánh nhất tâm, tự thệ thân mạng. Nhĩ thời thiên đế, hiện ư không trung, cáo Thiện Tín ngôn: “Nhược đương tự quy Tây phương an ổn thanh tịnh pháp quốc, tiên hướng thập phương lễ bái, từ tâm kính ư, niệm tất đạt dă”. Nữ tiện hoan hỷ, tháo dục, thiêu hương, hướng thập phương lễ. Hựu cáo viết: “Nhữ đương thuyết tụng, tán thán A Di Đà Phật”. Thiện Tín y giáo, Đế Thích tức hóa đoan chánh nam tử, thủ băo hoàng kim, dĩ tụng điều chi. Thiện Tín đáp tụng, ha nam nữ quá. Đế Thích xoa thủ lao chi: “Dục cầu hà tác? Phổ thế vô song, công đức dương dương, bất khả xưng lượng”. Thiện Tín văn dĩ hoan hỷ, địa vi đại động, thuyết kệ quy Phật, Phật tức dữ đại chúng, câu phi đáo kỳ gia. Thiện Tín lễ Phật, Phật tiện phóng quang vi tiếu, vị thọ nhị thập tứ giới. Thiện Tín văn chi, nhi đắc Thất Trụ (CBETA, T47, no.1969A, p.160, c17-p161, a4).

          佛在舍衛有長者女。名曰善信。智慧博達。常有大願。不樂世俗。自念萬物無常。當歸於死。天帝亦當敗壞。何況人身。念我父母兄弟。不知罪福。貪慾無厭。我年三五。以許他男。我家兄弟。受取疋帛。我身當往受諸苦。不如今日清凈當發上願。覓求安隱長樂之處。可以自娛。便正一心。自誓身命。爾時天帝。現於空中。告善信言。若當自歸西方安隱清凈法國。先向十方禮拜。慈心敬意。念必達也。女便歡喜。澡浴燒香。向十方禮。又告曰。汝當說頌。讚歎阿彌陀佛。善信依教。帝釋即化端正男子。手抱黃金。以頌調之。善信答頌。訶男女過。帝釋叉手勞之。欲求何索。普世無雙。功德洋洋。不可稱量。善信聞已歡喜。地為大動。說偈歸佛。佛即與大眾。俱飛到其家。善信禮佛。佛便放光微笑。為授二十四戒。善信聞之。而得七住。

          (Đức Phật ngự tại thành Xá Vệ, có một cô con gái của một vị trưởng giả tên là Thiện Tín, trí huệ rộng lớn, thông đạt, thường có đại nguyện, chẳng ưa thích thế tục, tự nghĩ: “Vạn vật vô thường, thảy rồi sẽ chết. Thiên đế cũng sẽ bại hoại, huống hồ thân người! Nghĩ cha, mẹ, anh, em của tôi chẳng biết tội phước, tham dục chẳng chán. Tôi nay tuổi mười lăm, đă hứa gả cho con trai người ta, anh em tôi đă nhận lụa của họ. Thân tôi sẽ hứng chịu nỗi khổ, chẳng thà trong hiện thời đang thanh tịnh, hăy nên phát nguyện bậc thượng, t́m cầu chỗ an ổn, vui sướng lâu dài để có thể tự vui sướng”. Cô ta bèn chánh tâm, tự thề [dốc hết] thân mạng. Lúc bấy giờ, thiên đế hiện ra trên không trung, bảo Thiện Tín rằng: “Ngươi hăy nên quy hướng cơi pháp thanh tịnh an ổn ở phương Tây, trước hết, hăy nên hướng về mười phương lễ bái, vận ḷng từ bi, ư cung kính th́ tâm niệm ắt sẽ đạt được”. Cô ta bèn hoan hỷ, tắm gội, thắp hương, hướng về mười phương lễ bái. Thiên đế lại bảo: “Ngươi hăy nên nói kệ tụng tán thán A Di Đà Phật”. Thiện Tín vâng theo lời dạy, Đế Thích liền hóa thành người nam đoan chánh, tay ôm đầy vàng ṛng, dĩ kệ tụng để điều phục cô ta. Thiện Tín dùng kệ tụng đáp lại, chê trách lỗi lầm của chuyện t́nh ái nam nữ. Đế Thích chắp tay, gạn hỏi: “Ngươi mong cầu điều ǵ? Công đức có một không hai trong khắp cơi đời, mênh mông, chẳng thể diễn tả, tính đếm”. Thiện Tín nghe xong hoan hỷ, cơi đất chấn động to lớn. Cô ta nói kệ quy hướng Phật. Đức Phật liền cùng đại chúng đều bay đến nhà cô ta. Thiện Tín lễ Phật, đức Phật liền phóng quang, mỉm cười, trao truyền hai mươi bốn giới. Thiện Tín nghe rồi, liền chứng đắc Thất Trụ).

 

* Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, Dị Hành Phẩm

(十住毗婆沙論易行品)

 

          Giai tùng bỉ phát nguyện, thọ mạng vô hữu lượng. Quang minh chiếu vô cực, quốc độ thậm thanh tịnh, văn danh định tác Phật, kim hiện tại thập phương, cụ túc thành Thập Lực. Thị cố khể thủ lễ, nhân thiên trung tối tôn (CBETA, T26, no.1521, p42, c3-7).

          皆從彼發願。壽命無有量。光明照無極。國土甚清凈。聞名定作佛。今現在十方。具足成十力。是故稽首禮。人天中最尊。

          (Đều theo đó mà phát nguyện, thọ mạng chẳng có hạn lượng. Quang minh chiếu vô cực, cơi nước thật thanh tịnh, nghe tên quyết thành Phật, nay đang ở mười phương, thành Thập Lực viên măn. V́ thế, con đảnh lễ, đấng tối tôn trời người).

 

* Đại Trí Độ Luận quyển tam thập bát

(大智度論卷三十八)

 

          Vấn viết: “Bồ Tát pháp ưng độ chúng sanh, hà dĩ đản chí thanh tịnh Vô Lượng Thọ Phật thế giới trung?” Đáp viết: “Bồ Tát hữu nhị chủng. Nhất giả hữu từ bi tâm đa vị chúng sanh, nhị giả đa tập chư Phật công đức. Nhạo đa tập chư Phật công đức giả, chí Nhất Thừa thanh tịnh Vô Lượng Thọ Phật thế giới. Háo đa vị chúng sanh giả, chí vô Phật pháp xứ tán thán Tam Bảo chi âm” (CBETA, T25, no.1509, p.342, a28-b4).

          問曰。菩薩法應度眾生。何以但至清凈無量壽佛世界中。答曰。菩薩有二種。一者有慈悲心多為眾生。二者多集諸佛功德。樂多集諸佛功德者。至一乘清凈無量壽佛世界。好多為眾生者。至無佛法處讚歎三寶之音。

          (Hỏi: “Pháp của Bồ Tát là phải nên độ chúng sanh, v́ sao chỉ đến thế giới thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật?” Đáp: “Bồ Tát có hai loại. Một là người có tâm từ bi phần nhiều v́ chúng sanh, hai là hạng huân tập nhiều công đức của chư Phật. Người thích huân tập nhiều công đức của chư Phật th́ đến thế giới Nhất Thừa thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật. Kẻ thích phần nhiều v́ chúng sanh th́ dốc chí dùng âm thanh để tán thán Tam Bảo trong chỗ không có Phật pháp).

 

* Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sanh Kệ

(無量壽經優波提舍願生偈)

 

          Thế Tôn ngă nhất tâm, quy mạng tận thập phương, Vô Ngại Quang Như Lai. Nguyện sanh An Lạc quốc. Ngă y Tu Đa La. Chân thật công đức tướng. Thuyết nguyện kệ tổng tŕ. Dữ Phật giáo tương ứng. Quán bỉ thế giới tướng, thắng quá tam giới đạo. Cứu cánh như hư không. Quảng đại vô biên tế. Chánh đạo đại từ bi. Xuất thế thiện căn sanh. Tịnh quang minh măn túc. Như kính nhật nguyệt luân. Bị chư trân bảo tánh. Cụ túc diệu trang nghiêm. Vô cấu quang diễm xí. Minh tịnh diệu thế gian. Bảo tánh công đức thảo, nhu nhuyễn tả hữu toàn. Xúc giả sanh thắng lạc. Quá Ca Chiên Lân Đà. Bảo hoa thiên vạn chủng, minh phú tŕ lưu tuyền. Vi phong động hoa diệp. Giao thác quang loạn chuyển. Cung điện chư lâu các. Quán thập phương vô ngại. Tạp thụ dị quang sắc. Bảo lan biến vi nhiễu. Vô lượng bảo giao lạc. La vơng biến hư không. Chủng chủng linh phát hưởng, tuyên thổ diệu pháp âm. Vũ hoa y trang nghiêm. Vô lượng hương phổ huân. Phật huệ minh tịnh nhật. Trừ thế si ám minh. Phạm thanh ngộ thâm viễn. Vi diệu văn thập phương. Chánh quán A Di Đà. Pháp vương thiện trụ tŕ. Như Lai tịnh hoa chúng. Chánh Giác hoa hóa sanh. Ái nhạo Phật pháp vị. Thiền tam-muội vi thực. Vĩnh ly thân tâm năo. Thọ lạc thường vô gián. Đại Thừa thiện căn giới. Đẳng vô cơ hiềm danh. Nữ nhân cập căn khuyết, Nhị Thừa chủng bất sanh. Chúng sanh sở nguyện nhạo, nhất thiết năng măn túc. Cố ngă nguyện văng sanh. A Di Đà Phật quốc. Vô lượng đại bảo vương. Vi diệu tịnh hoa đài. Tướng hảo quang nhất tầm, sắc tượng siêu quần sanh. Như Lai vi diệu thanh. Phạm hưởng văn thập phương. Đồng địa, thủy, hỏa, phong. Hư không vô phân biệt. Thiên nhân bất động chúng. Thanh tịnh trí hải sanh. Như Tu Di sơn vương. Thắng diệu vô quá giả. Thiên nhân trượng phu chúng. Cung kính nhiễu chiêm ngưỡng. Quán Phật bổn nguyện lực. Ngộ vô không quá giả. Năng linh tốc măn túc. Công đức đại bảo hải. An Lạc quốc thanh tịnh. Thường chuyển vô cấu luân. Hóa Phật, Bồ Tát nhật. Như Tu Di trụ tŕ. Vô cấu trang nghiêm quang. Nhất niệm cập nhất thời. Phổ chiếu chư Phật hội. Lợi ích chư quần sanh. Thiên vũ nhạc, hoa, y, diệu hương đẳng cúng dường. Tán Phật chư công đức. Vô hữu phân biệt tâm. Hà đẳng thế giới vô, Phật pháp công đức bảo, ngă nguyện giai văng sanh. Thị Phật pháp như Phật. Ngă tác luận thuyết kệ, nguyện kiến Di Đà Phật. Phổ cộng chư chúng sanh, văng sanh An Lạc quốc (CBETA, T26, no.1524, p.230, c17-p.231, b6).

          世尊我一心。歸命盡十方。無礙光如來。願生安樂國。我依修多羅。真實功德相。說願偈總持。與佛教相應。觀彼世界相。勝過三界道。究竟如虛空。廣大無邊際。正道大慈悲。出世善根生。凈光明滿足。如鏡日月輪。備諸珍寶性。具足妙莊嚴。無垢光焰熾。明凈耀世間。寶性功德草。柔軟左右旋。觸者生勝樂。過迦旃鄰陀。寶華千萬種。明覆池流泉。微風動華葉。交錯光亂轉。宮殿諸樓閣。觀十方無礙。雜樹異光色。寶欄遍圍繞。無量寶交絡。羅網遍虛空。種種鈴發響。宣吐妙法音。雨華衣莊嚴。無量香普熏。佛慧明凈日。除世痴闇冥。梵聲悟深遠。微妙聞十方。正觀阿彌陀。法王善住持。如來凈華眾。正覺華化生。愛樂佛法味。禪三昧為食。永離身心惱。受樂常無間。大乘善根界。等無譏嫌名。女人及根缺。二乘種不生。眾生所願樂。一切能滿足。故我願往生。阿彌陀佛國。無量大寶王。微妙凈花台。相好光一尋。色像超群生。如來微妙聲。梵響聞十方。同地水火風。虛空無分別。天人不動眾。清凈智海生。如須彌山王。勝妙無過者。天人丈夫眾。恭敬繞瞻仰。觀佛本願力。遇無空過者。能令速滿足。功德大寶海。安樂國清凈。常轉無垢輪。化佛菩薩日。如須彌住持。無垢莊嚴光。一念及一時。普照諸佛會。利益諸群生。雨天樂花衣。妙香等供養。贊佛諸功德。無有分別心。何等世界無。佛法功德寶。我願皆往生。示佛法如佛。我作論說偈。願見彌陀佛。普共諸眾生。往生安樂國。

          (Thế Tôn, con một ḷng, quy mạng trọn mười phương, Vô Ngại Quang Như Lai. Nguyện sanh cơi An Lạc. Con nương tướng chân thật, công đức trong Khế Kinh, nói nguyện kệ tổng tŕ, tương ứng lời Phật dạy. Quán tướng thế giới kia, vượt trỗi khắp tam giới, rốt ráo như hư không, rộng lớn không ngằn mé. Chánh đạo đại từ bi, thiện căn xuất thế sanh, quang minh sạch trọn đủ, như gương, vầng nhật nguyệt, trọn đủ tánh trân bảo, đầy đủ diệu trang nghiêm. Vô cấu quang rực rỡ, sáng sạch ngời thế gian. Cỏ tánh báu công đức, mềm mại cuộn hai bên, chạm vào vui thù thắng, hơn Ca Chiên Lân Đà[4]. Hoa báu ngàn vạn thứ, phủ sáng ao, suối nguồn. Gió nhẹ lay cánh hoa, ánh sáng chen khoe sắc. Cung điện, các lầu gác, quán mười phương vô ngại. Cây sáng đủ màu sắc, lan can báu giáp ṿng, vô lượng báu giăng xen, lưới mành bủa hư không, các thứ linh vang tiếng, tuyên nói diệu pháp âm. Mưa hoa, y trang nghiêm, vô lượng hương xông khắp. Phật huệ vầng tịnh nhật, trừ si ám thế gian. Tiếng Phạm khiến người nghe, giác ngộ rất sâu xa, mười phương nghe lời mầu. Chánh quán A Di Đà, pháp vương khéo trụ tŕ. Như Lai tịnh hoa chúng, hoa chánh giác hóa sanh. Yêu thích Phật pháp vị, ăn bằng Thiền tam-muội, măi ĺa thân tâm khổ, hưởng vui chẳng gián đoạn. Cơi thiện căn Đại Thừa, b́nh đẳng, không danh xưng, gợi lên nỗi tỵ hiềm. Nữ nhân và căn thiếu, giống Nhị Thừa chẳng sanh[5]. Điều chúng sanh mong, thích, hết thảy đều vẹn toàn. Nên con nguyện văng sanh, cơi A Di Đà Phật. Vô lượng đại bảo vương, đài hoa tịnh vi diệu. Tướng hảo sáng một tầm, h́nh sắc trỗi muôn loài. Tiếng Như Lai vi diệu, giọng Phạm rền mười phương. Như đất, nước, gió, lửa, hư không chẳng phân biệt. Chúng trời người bất động, sanh từ biển tịnh trí. Như núi chúa Tu Di, tuyệt vời không chi sánh. Đấng Thiên Nhân Trượng Phu, chúng kính nhiễu chiêm ngưỡng[6]. Quán Phật bổn nguyện lực, kẻ gặp chẳng luống uổng, khiến cho mau trọn đủ, biển công đức báu lớn. Cơi An Lạc thanh tịnh, thường chuyển vô cấu luân. Hóa Phật, Bồ Tát nhật, như Tu Di ǵn giữ, vô cấu trang nghiêm quang. Một niệm và một thời, chiếu khắp các hội Phật, lợi ích các quần sanh. Trời tuôn nhạc, hoa, y, hương mầu để cúng dường. Tán thán công đức Phật, chẳng có tâm phân biệt. Thế giới nào chẳng có báu công đức Phật pháp, con nguyện đều văng sanh, dạy Phật pháp như Phật. Con soạn luận, nói kệ, nguyện thấy Di Đà Phật. Nguyện khắp các chúng sanh, văng sanh An Lạc quốc).

 

* Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận

(究竟一乘寶性論)

 

          Y thử chư công đức, nguyện ư mạng chung thời, kiến Vô Lượng Thọ Phật. Vô biên công đức thân. Ngă cập dư tín giả, kư kiến bỉ Phật dĩ, nguyện đắc ly cấu nhăn, thành Vô Thượng Bồ Đề (CBETA, T31, no.1611, p.820, c17-20).

          依此諸功德。願於命終時。見無量壽佛。無邊功德身。我及余信者。既見彼佛已。願得離垢眼。成無上菩提。

          (Nương vào công đức này, nguyện trong lúc mạng chung, thấy Vô Lượng Thọ Phật, thân công đức vô biên. Con và những người tin, đă thấy đức Phật rồi, nguyện được mắt ĺa cấu, thành Vô Thượng Bồ Đề).

 

* Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận

(大乘集菩薩學論)

 

          Diễm Quang Như Lai ư Vô Lượng Quang Như Lai sở, sơ phát Bồ Đề tâm thời, trụ thành ấp trung, dĩ thảo đăng cự, thí bỉ Phật cố (CBETA, T32, no.1636, p.77, a20-21).

          焰光如來。於無量光如來所。初發菩提心時。住城邑中。以草燈炬。施彼佛故。

          (Diễm Quang Như Lai đă ở chỗ Vô Lượng Quang Như Lai, khi mới phát Bồ Đề tâm, trụ trong thành ấp, dùng đuốc thắp sáng kết bằng cỏ để cúng thí đức Phật ấy).

 

* Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận

(大乘寶要義論)

 

          Minh Diễm Như Lai, ư Vô Biên Quang Như Lai sở, sơ phát Bồ Đề tâm. Bỉ Minh Diễm Như Lai, tích vi thủ thành nhân, dĩ nhất thảo đăng thí cúng nhân duyên, tùng thị phát tâm (CBETA, T32, no.1635, p.53, a9-11).

            明焰如來。於無邊光如來所。初發菩提心。彼明焰如來。昔為守城人。以一草燈施供因緣。從是發心。

            (Minh Diễm Như Lai ở chỗ Vô Biên Quang Như Lai phát Bồ Đề tâm lần đầu. Đức Minh Diễm Như Lai xưa kia là người giữ thành, do nhân duyên dùng cỏ kết thành đuốc để cúng thí, từ đó phát tâm).

 

VI. Tu Hành Pháp Môn Chương

 

          Tu hành niệm Phật, pháp môn có nhiều đường lối, hoặc dùng tŕ danh, hoặc dùng quán tưởng, hoặc dùng lễ bái, cúng dường, hoặc dùng Tín - Nguyện, hoặc là Thiền, Giới, hoặc tu các công đức, hoặc dùng một pháp môn, hoặc dùng nhiều pháp môn. [Những pháp môn] đă được nêu rơ trong các kinh luận, mỗi pháp môn đều chuyên ứng với một căn cơ khế nhập riêng. Giáo tướng tuy khác nhau, đều là diệu pháp. Tu hành tuy khác nhau, nhưng chỗ hướng về là một, đều là Tịnh nghiệp, cùng về Tịnh Độ. Tu bất cứ một môn nào cũng đều có thể chứng nhập. Cốt yếu là phải trước sau như một, tin tưởng, tiếp nhận chẳng thay đổi. Chớ nên sáng đổi chiều thay, uổng phí ngày tháng mà thôi!

 

* Đại Phương Quảng Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh

(大方廣如來不思議境界經)

 

          Tức ư tượng tiền, đầu diện lễ túc, tác thị tư duy: “Ngă văn thập phương vô lượng chư Phật, kim hiện tại thế, sở vị Nhất Thiết Nghĩa Thành Phật, A Di Đà Phật (CBETA, T10, no.301, p.911, a22-24).

          即於像前。頭面禮足。作是思惟。我聞十方無量諸佛。今現在世。所謂一切義成佛。阿彌陀佛。

          (Liền đối trước tượng, đầu mặt lễ dưới chân đức Phật, suy nghĩ như thế này: “Con nghe mười phương vô lượng chư Phật nay c̣n đang tại thế, như là Nhất Thiết Nghĩa Thành Phật, A Di Đà Phật”).

 

* Đại Bảo Tích Kinh, Phát Thắng Chí Nhạo Hội

(大寶積經發勝志樂會)

 

          Nhĩ thời Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

          - Thế Tôn! Như Phật sở thuyết A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới công đức lợi ích. Nhược hữu chúng sanh, phát thập chủng tâm, nhất nhất tâm chuyên niệm hướng ư A Di Đà Phật. Thị nhân mạng chung, đương đắc văng sanh bỉ Phật thế giới. Thế Tôn! Hà đẳng danh vi phát thập chủng tâm? Do thị tâm cố, đương đắc văng sanh bỉ Phật thế giới.

          Phật cáo Di Lặc Bồ Tát ngôn:

          - Di Lặc! Như thị thập tâm, phi chư phàm ngu bất thiện trượng phu chi sở năng phát. Hà đẳng vi thập? Nhất giả, ư chúng sanh, khởi ư đại từ vô tổn hại tâm. Nhị giả, ư chư chúng sanh, khởi ư đại bi vô bức năo tâm. Tam giả, ư Phật chánh pháp, bất tích thân mạng, nhạo thủ hộ tâm. Tứ giả, ư nhất thiết pháp, phát sanh thắng nhẫn vô chấp trước tâm. Ngũ giả bất tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng tịnh ư nhạo tâm. Lục giả, cầu Phật Chủng Trí, ư nhất thiết thời vô vong thất tâm. Thất giả, ư chư chúng sanh, tôn trọng cung kính, vô hạ liệt tâm. Bát giả, bất trước thế luận, ư Bồ Đề phần, sanh quyết định tâm. Cửu giả, chủng chư thiện căn, vô hữu tạp nhiễm, thanh tịnh chi tâm. Thập giả, ư chư Như Lai, xả ly chư tướng, khởi tùy niệm tâm.

          Di Lặc! Thị danh Bồ Tát phát thập chủng tâm. Do thị tâm cố, đương đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới.

          Di Lặc! Nhược nhân ư thử thập chủng tâm trung, tùy thành nhất tâm, nhạo dục văng sanh bỉ Phật thế giới, nhược bất đắc sanh, vô hữu thị xứ (CBETA, T11, no.310, p.528, b18-c7).

          爾時彌勒菩薩白佛言。世尊。如佛所說阿彌陀佛極樂世界功德利益。若有眾生。發十種心。一一心專念向於阿彌陀佛。是人命終。當得往生彼佛世界。世尊。何等名為發十種心。由是心故。當得往生彼佛世界。佛告彌勒菩薩言。彌勒。如是十心。非諸凡愚不善丈夫之所能發。何等為十。一者於諸眾生起於大慈無損害心。二者於諸眾生起於大悲無逼惱心。三者於佛正法不惜身命樂守護心。四者於一切法發生勝忍無執着心。五者不貪利養恭敬尊重凈意樂心。六者求佛種智於一切時無忘失心。七者於諸眾生尊重恭敬無下劣心。八者不着世論於菩提分生決定心。九者種諸善根無有雜染清凈之心。十者於諸如來舍離諸相起隨念心。彌勒。是名菩薩發十種心。由是心故。當得往生阿彌陀佛極樂世界。彌勒。若人於此十種心中。隨成一心。樂欲往生彼佛世界。若不得生。無有是處。

          (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

          - Bạch đức Thế Tôn! Như Phật đă nói về công đức và lợi ích trong thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật. Nếu có chúng sanh phát ra mười thứ tâm, mỗi một tâm đều chuyên niệm hướng về A Di Đà Phật, người ấy mạng chung, sẽ được sanh về thế giới của đức Phật ấy.

          Bạch đức Thế Tôn! Như thế nào th́ gọi là phát ra mười loại tâm; do những tâm ấy, sẽ được sanh về thế giới của đức Phật ấy?

          Đức Phật bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

          - Mười tâm như thế, chẳng phải là phàm phu hoặc trượng phu bất thiện mà có thể phát khởi được. Những ǵ là mười?

          Một là đối với chúng sanh, khởi tâm đại từ không tổn hại.

          Hai là đối với chúng sanh, khởi tâm đại bi, không bức bách, năo hại.

          Ba là đối với chánh pháp của Phật, tâm chẳng tiếc thân mạng, ưa thích bảo vệ.

          Bốn là đối với hết thảy các pháp, phát sanh tâm nhẫn thù thắng, chẳng chấp trước.

          Năm là tâm chẳng tham lợi dưỡng, yêu thích thanh tịnh, cung kính tôn trọng.

          Sáu là tâm cầu Phật Chủng Trí, trong hết thảy các thời, chẳng quên mất.

          Bảy là đối với các chúng sanh, tâm tôn trọng, cung kính, chẳng coi rẻ.

          Tám là tâm chẳng vướng mắc nơi luận định của thế gian, sanh tâm quyết định đối với Bồ Đề phần.

          Chín là tâm thanh tịnh gieo các thiện căn, chẳng có tạp nhiễm.

          Mười là đối với các Như Lai, tâm ĺa bỏ các tướng, dấy ḷng tùy niệm.

          Này Di Lặc! Đấy gọi là Bồ Tát phát mười loại tâm. Do những tâm ấy, sẽ được văng sanh thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật.

          Này Di Lặc! Nếu người nào đối với mười tâm này, hễ thành tựu một tâm nào, ưa thích mong sanh về thế giới của đức Phật ấy mà nếu chẳng được sanh, chẳng có lẽ ấy!)

 

* Bát Châu tam-muội kinh

(般舟三昧經)

 

          Kỳ hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di tŕ giới hoàn cụ, độc nhất xứ chỉ, tâm niệm Tây Phương A Di Đà Phật kim hiện tại. Tùy sở văn đương niệm, khứ thị gian thập ức vạn Phật sát. Kỳ quốc danh Tu Ma Đề. Tại chúng Bồ Tát trung ương thuyết kinh, nhất thiết thường niệm A Di Đà Phật. Phật cáo Bạt Đà Ḥa:

          - Thí như nhân ngọa, xuất ư mộng trung, kiến sở hữu kim, ngân, trân bảo, phụ mẫu, huynh đệ, thê tử, thân thuộc, tri thức, tương dữ ngu lạc, hỷ lạc vô bối. Giác dĩ, vị nhân thuyết chi, hậu tự lệ xuất, niệm mộng trung sở kiến như thị.

          Bạt Đà Ḥa Bồ Tát! Nhược sa-môn, bạch y sở văn Tây Phương A Di Đà Phật sát, thường niệm bỉ phương Phật, bất đắc khuyết giới, nhất tâm niệm, nhược nhất trú dạ, nhược thất nhật thất dạ, quá thất nhật dĩ hậu, kiến A Di Đà Phật. Ư giác bất kiến, ư mộng trung kiến chi. Thí như mộng trung sở kiến, bất tri trú, bất tri dạ, bất tri nội, bất tri ngoại, bất dụng tại minh trung cố bất kiến, bất dụng hữu sở tế ngại cố bất kiến.

          Như thị Bạt Đà Ḥa Bồ Tát! Tâm đương tác thị niệm, thời chư Phật quốc cảnh giới danh, đại sơn, Tu Di sơn, kỳ hữu u minh chi xứ, tất vi khai tỵ, mục diệc bất tế, tâm diệc bất ngại. Thị Bồ Tát Ma Ha Tát, bất tŕ Thiên Nhăn triệt thị, bất tŕ Thiên Nhĩ triệt thính, bất tŕ Thần Túc đáo kỳ Phật sát, bất ư thị gian chung, sanh bỉ gian, Phật sát năi kiến. Tiện ư thị gian, tọa kiến A Di Đà Phật. Văn sở thuyết kinh tất thọ, đắc tùng tam-muội trung, tất năng cụ túc vị nhân thuyết chi.

          Như thị Bạt Đà Ḥa Bồ Tát! Ư thị gian quốc độ, văn A Di Đà Phật số số niệm, dụng thị niệm cố, kiến A Di Đà Phật. Kiến Phật dĩ, tùng vấn đương tŕ hà đẳng pháp sanh A Di Đà Phật quốc. Nhĩ thời, A Di Đà Phật ngữ thị Bồ Tát ngôn: “Dục lai sanh ngă quốc giả, thường niệm ngă số số thường đương thủ niệm, mạc hữu hưu tức. Như thị đắc lai sanh ngă quốc”. Phật ngôn: “Thị Bồ Tát dụng thị niệm Phật cố, đương đắc sanh A Di Đà Phật quốc” (CBETA, T13, no.418, p.905).

          其有比丘比丘尼優婆塞優婆夷。持戒完具。獨一處止。心念西方阿彌陀佛今現在。隨所聞當念去是間十億萬佛剎。其國名須摩提。在眾菩薩中央說經。一切常念阿彌陀佛。佛告跋陀惒。譬如人卧。出於夢中。見所有金銀珍寶父母兄弟妻子親屬知識。相與娛樂。喜樂無背。覺已為人說之。后自淚出。念夢中所見如是。跋陀惒菩薩。若沙門白衣所聞西方阿彌陀佛剎。常念彼方佛。不得缺戒。一心念。若一晝夜。若七日七夜。過七日已后。見阿彌陀佛。於覺不見。於夢中見之。譬如夢中所見。不知晝。不知夜。不知內。不知外。不用在冥中故不見。不用有所蔽礙故不見。如是跋陀惒菩薩。心當作是念。時諸佛國境界名大山須彌山。其有幽冥之處。悉為開闢。目亦不蔽。心亦不礙。是菩薩摩訶薩。不持天眼徹視。不持天耳徹聽。不持神足到其佛剎。不於是間終生彼間。佛剎乃見。便於是間坐見阿彌陀佛。聞所說經悉受。得從三昧中。悉能具足為人說之。如是跋陀惒菩薩。於是間國土。聞阿彌陀佛數數念。用是念故。見阿彌陀佛。見佛已。從問當持何等法生阿彌陀佛國。爾時阿彌陀佛語是菩薩言。欲來生我國者。常念我數數常當守念。莫有休息。如是得來生我國。佛言。是菩薩用是念佛故。當得生阿彌陀佛國。

          (Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di giữ giới toàn vẹn, ở một ḿnh, tâm niệm Tây Phương A Di Đà Phật nay đang hiện hữu. Vừa được nghe [danh hiệu của Phật], bèn nghĩ cách nơi này mười ức vạn cơi Phật, có một cơi nước tên là Tu Ma Đề (Sumati)[7], đức Phật đang ở chính giữa các vị Bồ Tát nói kinh, hết thảy hăy thường niệm A Di Đà Phật. Đức Phật bảo Bạt Đà Ḥa (Bhadra-pāla, Hiền Hộ):

          - Ví như có người nằm ngủ, từ trong mộng thấy tất cả những thứ như vàng, bạc, các món quư báu, cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, người quen biết, vui sướng với nhau, mừng vui chẳng chống trái. Tỉnh giấc, kể lại với người khác, sau đó, ứa lệ, nghĩ tới trong mộng đă thấy những chuyện như thế.

          Này Bạt Đà Ḥa Bồ Tát! Nếu hàng sa-môn hoặc kẻ tại gia nghe nói đến cơi Phật A Di Đà ở phương Tây, thường nghĩ đến đức Phật ở phương đó, chớ nên thiếu sót giới, hăy nhất tâm niệm, hoặc một ngày đêm, hoặc bảy ngày bảy đêm. Sau bảy ngày bảy đêm, thấy A Di Đà Phật, hoặc là khi tỉnh th́ không thấy, trong mộng th́ thấy. Ví như được thấy trong mộng, chẳng biết là ngày, chẳng biết là đêm, chẳng biết là trong, chẳng biết là ngoài, chẳng do ở trong nơi tối tăm mà chẳng thấy, chẳng do v́ có những thứ ngăn che, trở ngại mà chẳng thấy.

          Như thế đó, này Bạt Đà Ḥa Bồ Tát! Tâm hăy thường nghĩ như thế này, khi ấy, những quả núi to hữu danh, núi Tu Di, những chỗ tối tăm trong cơi nước của chư Phật thảy đều rỗng rang, mắt cũng chẳng bị ngăn che, tâm cũng chẳng bị chướng ngại. Vị Bồ Tát Ma Ha Tát ấy chẳng do Thiên Nhăn mà thấy thấu suốt, chẳng do Thiên Nhĩ mà nghe thấu suốt, chẳng dùng Thần Túc để đến cơi Phật ấy, chẳng chết từ cơi này sanh sang cơi kia rồi mới thấy cơi Phật ấy, mà là ngồi ở trong thế gian này, trông thấy A Di Đà Phật. Nghe Ngài nói kinh, ắt thọ tŕ, những ǵ đạt được từ trong tam-muội ắt đều có thể nói trọn đủ cho người khác nghe.

          Như thế đó Bạt Đà Ḥa Bồ Tát! Trong cơi nước thuộc thế gian này, nghe [danh hiệu] A Di Đà Phật bèn nhiều lượt niệm; do v́ niệm Phật mà thấy A Di Đà Phật. Đă thấy Phật rồi, bèn hỏi hăy nên tŕ những pháp nào để sanh về cơi A Di Đà Phật. Lúc bấy giờ, A Di Đà Phật bảo vị Bồ Tát ấy rằng: “Muốn sanh về nước ta, hăy thường niệm ta nhiều lần, hăy thường nên giữ ǵn tâm niệm ấy, đừng ngơi nghỉ. Như thế th́ sẽ được sanh về nước ta”.

          Đức Phật bảo: “Vị Bồ Tát ấy do niệm Phật mà sẽ được sanh về cơi A Di Đà Phật”).

 

* Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh, Hiền Hộ Phần

(大方等大集經賢護分)

 

          Phục thứ Hiền Hộ! Vân hà danh vi Bồ Tát tư duy Chư Phật Hiện Tiền tam-muội dă?

          Hiền Hộ! Nhược hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di thanh tịnh tŕ giới, cụ túc chư hạnh, độc xử không nhàn, như thị tư duy: Ư nhất thiết xứ, tùy hà phương sở, tức nhược Tây Phương A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Thị nhân nhĩ thời, như sở văn dĩ, tức ưng tự tác như thị tưởng niệm: Như ngă sở văn, bỉ A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, kim tại Tây phương, kinh đồ khứ thử bách thiên ức chư Phật quốc độ. Bỉ hữu thế giới, danh viết An Lạc. Như thị Như Lai kim hiện tại bỉ, vị chư Bồ Tát châu táp vi nhiễu, xử đại chúng trung, thuyết pháp giáo hóa. Nhiên nhi thị nhân y sở văn cố, hệ niệm tư duy, quán sát bất dĩ, liễu liễu phân minh. Chung hoạch kiến bỉ A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác dă.

          Phục thứ Hiền Hộ! Thí như thế gian, nhược nam, nhược nữ, ư thùy mộng trung, kiến chủng chủng sự, sở vị kim, ngân, chúng bảo, trân tài, thương khố, hoặc kiến bằng hữu, chư tri thức bối, hoặc kiến giác thời tâm bất nhạo giả. Thị nhân mộng trung, sở đối cảnh giới, hoặc vi, hoặc thuận, hoặc ưu, hoặc hỷ, hữu thời ngôn ngữ, hoan hân cực lạc, hữu thời tháo thích, tận ư bi ai. Thị nhân ngụ dĩ, tư duy ức niệm, như mộng sở kiến, vị tha quảng tuyên, truy niệm mộng trung, tiện sanh ưu hỷ.

          Như thị Hiền Hộ! Bỉ thiện nam tử, thiện nữ nhân đoan tọa hệ niệm, chuyên tâm tưởng bỉ A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác như thị tướng hảo, như thị oai nghi, như thị đại chúng, như thị thuyết pháp, như thị hệ niệm, nhất tâm tương tục, thứ đệ bất loạn. Hoặc kinh nhất nhật, hoặc phục nhất dạ. Như thị hoặc chí thất nhật thất dạ, như tiên sở văn, cụ túc niệm cố, thị nhân tất đổ A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác dă. Nhược ư trú thời bất năng kiến giả, nhược ư dạ phần, hoặc thùy mộng trung, A Di Đà Phật tất đương hiện dă.

          Phục thứ Hiền Hộ! Thí như thế gian, nhược nam, nhược nữ, viễn hành tha quốc. Ư thùy mộng trung, kiến bổn cư gia, thời thật bất tri vi trú, vi dạ, nhi diệc bất tri vi nội, vi ngoại. Thị nhân nhĩ thời sở hữu nhăn căn, tường, bích, sơn, thạch, chung bất năng chướng, năi chí u minh hắc ám, diệc bất vi ngại dă.

          Hiền Hộ! Bồ Tát Ma Ha Tát tâm vô chướng ngại, diệc phục như thị. Đương chánh niệm thời, ư bỉ sở hữu Phật sát trung gian, phàm thị nhất thiết Tu Di sơn vương, cập Thiết Vy sơn, Đại Thiết Vy sơn, năi chí bách dư chư hắc sơn đẳng, bất năng dữ thử nhăn căn vi chướng, nhi diệc bất phục phú tế thử tâm. Nhiên thị nhân giả, kỳ thật vị đắc Thiên Nhăn, năng kiến bỉ Phật; diệc vô Thiên Nhĩ, văn bỉ pháp âm. Phục phi thần thông, văng bỉ thế giới. Hựu diệc bất ư thử thế giới một, sanh bỉ Phật tiền, nhi thật đản tại thử thế giới trung, tích niệm huân tu, cửu quán minh lợi. Cố chung đắc đổ bỉ A Di Đà Như Lai, Ứng Đẳng Chánh Giác, tăng chúng vi nhiễu, Bồ Tát hội trung, hoặc kiến tự thân, tại bỉ thính pháp. Văn dĩ ức niệm, thọ tŕ tu hành. Hoặc thời phục đắc cung kính lễ bái, tôn thừa cúng dường bỉ A Di Đà Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác.

          Hiền Hộ! Bỉ thiện nam tử thiện nữ nhân đẳng, nhược dục thành tựu Bồ Tát Ma Ha Tát tư duy Nhất Thiết Chư Phật Hiện Tiền tam-muội, diệc phục như thị. Kỳ thân thường trụ thử thế giới trung, tạm đắc văn bỉ A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác danh hiệu, nhi năng hệ tâm tương tục tư duy, thứ đệ bất loạn, phân minh đổ bỉ A Di Đà Phật. Thị vi Bồ Tát tư duy cụ túc thành tựu Chư Phật Hiện Tiền tam-muội. Nhân thử tam-muội đắc kiến Phật cố.

          Chư thiện nam tử! Nhược nhữ kim dục chánh niệm Phật giả, đương như thị niệm. Kim giả A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, cụ hữu như thị tam thập nhị tướng, bát thập tùy hành hảo, thân sắc quang minh, như dung kim tụ, cụ túc thành tựu. Chúng bảo liễn dư, phóng đại quang minh, tọa sư tử ṭa, sa-môn chúng trung, thuyết như thị pháp. Kỳ sở thuyết giả, vị nhất thiết pháp bổn lai bất hoại, diệc vô hoại giả. Như bất hoại Sắc năi chí bất hoại Thức đẳng chư Ấm cố. Hựu như bất hoại Địa, năi chí bất hoại Phong đẳng chư Đại cố. Hựu bất hoại Sắc, năi chí bất hoại Xúc đẳng chư Nhập cố. Hựu bất hoại Phạm, năi chí bất hoại nhất thiết Thế Chủ đẳng. Như thị năi chí bất niệm bỉ Như Lai, diệc bất đắc bỉ Như Lai. Bỉ tác như thị niệm Như Lai dĩ, như thị thứ đệ đắc Không tam-muội.

          Thiện nam tử! Thị danh chánh niệm Chư Phật Hiện Tiền tam-muội dă (CBETA, T13, no.416).

          復次。賢護。云何名為菩薩思惟諸佛現前三昧也。賢護。若有比丘比丘尼優婆塞優婆夷。清凈持戒。具足諸行。獨處空閑。如是思惟。於一切處。隨何方所。即若西方阿彌陀如來應供等正覺。是人爾時。如所聞已。即應自作如是想念。如我所聞。彼阿彌陀如來應供等正覺。今在西方。經途去此百千億諸佛國土。彼有世界。名曰安樂。如是如來今現在彼。為諸菩薩周匝圍繞。處大眾中。說法教化。然而是人依所聞故。繫念思惟。觀察不已。了了分明。終獲見彼阿彌陀如來應供等正覺也。復次。賢護。譬如世間。若男若女。於睡夢中。見種種事。所謂金銀眾寶珍財倉庫。或見朋友諸知識輩。或見覺時心不樂者。是人夢中。所對境界。或違或順。或憂或喜。有時言語。歡欣極樂。有時躁戚。盡意悲哀。是人寤已。思惟憶念。如夢所見。為他廣宣。追念夢中。便生憂喜。如是賢護。彼善男子善女人。端坐繫念。專心想彼阿彌陀如來應供等正覺。如是相好。如是威儀。如是大眾。如是說法。如是繫念。一心相續。次第不亂。或經一日。或復一夜。如是或至七日七夜。如先所聞。具足念故。是人必睹阿彌陀如來應供等正覺也。若於晝時不能見者。若於夜分或睡夢中。阿彌陀佛必當現也。復次賢護。譬如世間。若男若女。遠行他國。於睡夢中。見本居家。時實不知為晝為夜。而亦不知為內為外。是人爾時所有眼根。牆壁石山。終不能障。乃至幽冥黑暗。亦不為礙也。賢護。菩薩摩訶薩。心無障礙。亦復如是。當正念時。於彼所有佛剎中間。凡是一切須彌山王及鐵圍山大鐵圍山。乃至百餘諸黑山等。不能與此眼根為障。而亦不復覆蔽此心。然是人者。其實未得天眼。能見彼佛。亦無天耳。聞彼法音。復非神通。往彼世界。又亦不於此世界。沒生彼佛前。而實但在此世界中。積念薰修。久觀明利。故終得睹彼阿彌陀如來應等正覺。僧眾圍繞。菩薩會中。或見自身。在彼聽法。聞已憶念。受持修行。或時復得恭敬禮拜。尊承供養彼阿彌陀如來應等正覺。

          賢護。彼善男子善女人等。若欲成就菩薩摩訶薩思惟一切諸佛現前三昧。亦復如是。其身常住此世界中。暫得聞彼阿彌陀如來應供等正覺名號。而能繫心相續思惟。次第不亂。分明睹彼阿彌陀佛。是為菩薩思惟具足成就諸佛現前三昧。因此三昧得見佛故。

          諸善男子。若汝今欲正念佛者。當如是念。今者阿彌陀如來應供等正覺明行足善逝世間解無上士調御丈夫天人師佛世尊。具有如是三十二相。八十隨行好。身色光明。如融金聚。具足成就。眾寶輦輿。放大光明。坐師子座。沙門眾中。說如是法。其所說者。謂一切法本來不壞。亦無壞者。如不壞色。乃至不壞識等諸陰故。又如不壞地。乃至不壞風等諸大故。又不壞色。乃至不壞觸等諸入故。又不壞梵。乃至不壞一切世主等。如是乃至不念彼如來。亦不得彼如來。彼作如是念如來已。如是次第得空三昧。善男子。是名正念諸佛現前三昧也。

          (Lại nữa, Hiền Hộ! Như thế nào th́ gọi là Bồ Tát tư duy Chư Phật Hiện Tiền tam-muội?

          Này Hiền Hộ! Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di tŕ giới thanh tịnh, trọn đủ các hạnh, ở một ḿnh nơi chỗ vắng vẻ, tư duy như thế này: Trong hết thảy các chỗ, tùy theo một phương nào đó, chẳng hạn như Tây Phương A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Khi đó, người ấy đúng theo những điều đă được nghe, hăy nên tự suy niệm như thế này: “Như tôi được nghe, đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, nay đang ở phương Tây, cách đây qua khỏi trăm ngàn ức cơi nước của chư Phật. Nơi đó, có thế giới tên là An Lạc. Đức Như Lai như vậy nay đang ở đó, được các vị Bồ Tát quây quần vây quanh. Ngài ở giữa đại chúng thuyết pháp, giáo hóa”. Nhưng người ấy do dựa theo những điều đă được nghe mà hệ niệm tư duy, quán sát chẳng ngơi, rành rẽ, phân minh, rốt cuộc được thấy đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.

          Lại này Hiền Hộ! Ví như trong thế gian, hoặc nam hay nữ, trong khi nằm ngủ, mộng thấy đủ mọi chuyện, như là vàng, bạc, các thứ của báu, tài vật trân quư, hoặc gặp bằng hữu, các vị tri thức, hoặc thấy những kẻ mà trong khi chính ḿnh tỉnh ngủ sẽ chẳng ưa mến. Người ấy ở trong mộng, đối với những cảnh giới hoặc nghịch, hoặc thuận, hoặc lo, hoặc mừng. Có khi nói năng, vui vẻ, hết sức sung sướng; có lúc bộp chộp, bứt rứt, hết sức đau buồn. Người ấy tỉnh giấc, suy nghĩ, tưởng nhớ, nói rộng răi với người khác những điều đă thấy trong mộng; nhớ lại những chuyện trong mộng bèn sanh ḷng buồn hay vui.

          Như thế đó, Hiền Hộ! Kẻ thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy ngồi ngay ngắn, hệ niệm, chuyên tâm tưởng đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác có tướng hảo như thế, oai nghi như thế, đại chúng như thế, thuyết pháp như thế. Hệ niệm như thế, một dạ tiếp nối, theo đúng thứ tự chẳng loạn. Hoặc trải qua một ngày, hoặc lại là một đêm. Như thế hoặc là đến bảy ngày bảy đêm, đúng như trước đó đă nghe [mà hệ niệm]. Do niệm trọn đủ, người ấy ắt thấy A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Nếu vào ban ngày mà chẳng thể thấy, th́ hoặc là vào ban đêm, hoặc trong khi nằm mộng, A Di Đà Phật ắt sẽ hiện thân.

          Lại này Hiền Hộ! Ví như trong thế gian, kẻ nam hay người nữ, đi xa qua nước khác, trong khi ngủ, nằm mộng thấy căn nhà của chính ḿnh , lúc đó, thật sự chẳng biết là ngày hay đêm, mà cũng chẳng biết là trong hay ngoài. Khi ấy, đối với người ấy, tất cả tường, vách, núi, đá, trọn chẳng thể chướng ngại nhăn căn vốn có. Cho đến chỗ u minh, tăm tối, cũng chẳng thể ngăn ngại.

          Này Hiền Hộ! Tâm của Bồ Tát Ma Ha Tát vô chướng ngại cũng giống như thế. Trong khi đang chánh niệm, đối với người ấy, trong tất cả các cơi Phật, phàm là hết thảy núi chúa Tu Di và núi Thiết Vy, núi Đại Thiết Vy, cho đến hơn trăm ṭa hắc sơn đều chẳng thể chướng ngại nhăn căn của người ấy, mà cũng chẳng c̣n ngăn lấp cái tâm người ấy. Nhưng người ấy thật ra chưa đắc Thiên Nhăn mà có thể thấy đức Phật ấy, cũng chưa đắc Thiên Nhĩ mà nghe pháp âm của Ngài. Lại chẳng có thần thông mà đến thế giới ấy, lại cũng chẳng từ thế giới này chết đi mà sanh ra trước mặt đức Phật ấy, thật sự chỉ là ở trong thế giới này, tích lũy tâm niệm huân tu, do quán lâu ngày bèn sáng suốt, nhanh nhạy; cho nên rốt cuộc được thấy A Di Đà Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác, tăng chúng vây quanh, ở trong chúng hội của Bồ Tát, hoặc thấy chính ḿnh nghe pháp nơi đó. Nghe rồi nghĩ nhớ, thọ tŕ, tu hành, hoặc có lúc lại được cung kính, lễ bái, tôn trọng, thừa sự, cúng dường đức A Di Đà Như Lai Ứng Đẳng Chánh Giác.

          Hiền Hộ! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, nếu muốn thành tựu Nhất Thiết Chư Phật Hiện Tiền tam-muội do các Bồ Tát Ma Ha Tát tư duy th́ cũng giống như vậy. Thân người ấy thường trụ trong thế giới này, do tạm được nghe danh hiệu của A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, bèn có thể cột tâm tư duy liên tục, theo thứ tự chẳng đoạn, phân minh thấy A Di Đà Phật. Đấy là Bồ Tát tư duy, thành tựu trọn đủ Chư Phật Hiện Tiền tam-muội. Do môn tam-muội này mà được thấy Phật.

          Các thiện nam tử! Nếu nay ông muốn chánh niệm đức Phật, hăy nên niệm như thế. Nay th́ A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn có đầy đủ ba mươi hai tướng như thế, tám mươi tùy hành hảo, sắc thân, quang minh như khối vàng nung chảy, thành tựu trọn đủ. Xe cộ bằng các thứ báu, phóng đại quang minh, ngồi ṭa sư tử, ở giữa chúng sa-môn, nói pháp như thế. Những điều Ngài đă nói như là: Hết thảy các pháp vốn bất hoại, mà cũng chẳng có ǵ hủy hoại. Như đối với các Ấm, chẳng hoại Sắc cho đến chẳng hoại Thức v.v… Lại như đối với các Đại, chẳng hoại Địa cho đến chẳng hoại Phong. Lại như đối với các Nhập, chẳng hoại Sắc cho đến chẳng hoại Xúc v.v Lại chẳng hoại Phạm vương cho đến chẳng hoại hết thảy các vị Thế Chủ[8]. Như thế cho đến chẳng niệm đức Như Lai ấy, mà cũng chẳng đắc đức Như Lai ấy. Người ấy niệm Như Lai như thế rồi, sẽ như vậy mà lần lượt đắc Không tam-muội.

          Này thiện nam tử! Đấy gọi là Chánh Niệm Chư Phật Hiện Tiền tam-muội).

 

* Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh

(佛說無量壽經)

 

          Chư hữu chúng sanh văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỷ, năi chí nhất niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc, tức đắc văng sanh, trụ Bất Thoái Chuyển, duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.

          Nhược hữu chúng sanh minh tín Phật trí, năi chí Thắng Trí, tác chư công đức, tín tâm hồi hướng, thử chư chúng sanh, ư thất bảo tŕ trung, tự nhiên hóa sanh (CBETA, T12, no. 360).

          諸有眾生。聞其名號。信心歡喜。乃至一念。至心迴向。願生彼國。即得往生。住不退轉。唯除五逆誹謗正法。

          若有眾生明信佛智。乃至勝智。作諸功德。信心迴向。此諸眾生。於七寶池中。自然化生。

          (Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu của Ngài, tín tâm, hoan hỷ, thậm chí một niệm, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về cơi ấy, sẽ liền được văng sanh, trụ Bất Thoái Chuyển, chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.

          Nếu có chúng sanh tin hiểu rơ ràng Phật trí, cho đến Thắng Trí, làm các công đức, tín tâm hồi hướng, những chúng sanh ấy sẽ tự nhiên hóa sanh trong ao bảy báu).

 

* Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh

(大乘無量壽莊嚴經)

         

          Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân phát thập chủng tâm. Sở vị nhất bất thâu đạo, nhị bất sát sanh, tam bất dâm dục, tứ bất vọng ngôn, ngũ bất ỷ ngữ, lục bất ác khẩu, thất bất lưỡng thiệt, bát bất tham, cửu bất sân, thập bất si. Như thị trú dạ tư duy Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật chủng chủng công đức, chủng chủng trang nghiêm, chí tâm quy y, đảnh lễ cúng dường. Thị nhân mạng chung, bất kinh, bất bố, tâm bất điên đảo, tức đắc văng sanh bỉ Phật quốc độ (CBETA, T12, no.363, p.323, b25-c2).

          若有善男子善女人。發十種心。所謂一不偷盜。二不殺生。三不淫慾。四不妄言。五不綺語。六不惡口。七不兩舌。八不貪。九不嗔。十不痴。如是晝夜思惟極樂世界無量壽佛種種功德。種種莊嚴。志心歸依。頂禮供養。是人命終。不驚不怖。心不顛倒。即得往生彼佛國土。

          (Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân phát mười loại tâm, tức là: Một là chẳng trộm cắp, hai là chẳng sát sanh, ba là chẳng dâm dục, bốn là chẳng nói dối, năm là chẳng nói lời thêu dệt, sáu là chẳng nói lời thô ác, bảy là chẳng nói đôi chiều, tám là chẳng tham, chín là chẳng sân, mười là chẳng si. Ngày đêm tư duy các thứ công đức, các thứ trang nghiêm như thế của Vô Lượng Thọ Phật trong thế giới Cực Lạc, chí tâm quy y, đảnh lễ cúng dường. Người ấy mạng chung, chẳng kinh hoảng, chẳng sợ hăi, tâm chẳng điên đảo, liền được sanh về cơi nước Phật ấy).

 

* Phật Thuyết Quán Vô LượngThọ Phật Kinh

(佛說觀無量壽佛經)

 

          Dục sanh bỉ quốc giả, đương tu tam phước. Nhất giả, hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện Nghiệp. Nhị giả, thọ tŕ Tam Quy, cụ túc chúng giới, bất phạm oai nghi. Tam giả, phát Bồ Đề tâm, thâm tín nhân quả, độc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả. Như thử tam sự, danh vi Tịnh nghiệp. Phật cáo Vi Đề Hy: “Nhữ kim tri phủ? Thử tam chủng nghiệp năi thị quá khứ, vị lai, hiện tại tam thế chư Phật tịnh nghiệp chánh nhân”.

          Phàm tác tưởng giả, nhất thiết chúng sanh, tự phi sanh manh, hữu mục chi đồ, giai kiến nhật một, đương khởi tưởng niệm, chánh tọa Tây hướng, đế quán ư nhật, dục một chi xứ, linh tâm kiên trụ, chuyên tưởng bất di. Kiến nhật dục một, trạng như huyền cổ. Kư kiến nhật dĩ, bế mục, khai mục, giai linh minh liễu. Thị vi Nhật Tưởng, danh viết Sơ Quán.

          Thứ tác thủy tưởng, kiến thủy trừng thanh, diệc linh minh liễu, vô phân tán ư. Kư kiến thủy dĩ, đương khởi băng tưởng. Kiến băng ánh triệt, tác lưu ly tưởng. Thử tưởng thành dĩ, kiến lưu ly địa, nội ngoại ánh triệt. Hạ hữu kim cang thất bảo kim tràng, ḱnh lưu ly địa. Kỳ tràng bát phương, bát lăng cụ túc. Nhất nhất phương diện, bách bảo sở thành. Nhất nhất bảo châu, hữu thiên quang minh. Nhất nhất quang minh, bát vạn tứ thiên sắc, ánh lưu ly địa, như ức thiên nhật, bất khả cụ kiến. Lưu ly địa thượng, dĩ hoàng kim thằng, tạp xí gián thác, dĩ thất bảo giới, phân tễ phân minh. Nhất nhất bảo trung, hữu ngũ bách sắc quang. Kỳ quang như hoa, hựu tự tinh nguyệt, huyền xử hư không, thành quang minh đài. Lâu, các thiên vạn, bách bảo hợp thành. Ư đài lưỡng biên, các hữu bách ức hoa tràng. Vô lượng nhạc khí, dĩ vi trang nghiêm. Bát chủng thanh phong, tùng quang minh xuất, cổ thử nhạc khí, diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă chi âm. Thị vị Thủy Tưởng, danh đệ nhị Quán. Thử tưởng thành thời, nhất nhất quán chi, cực linh liễu liễu. Bế mục, khai mục, bất linh tán thất. Duy trừ thực thời, hằng ức thử sự. Như thử tưởng giả, danh vi thô kiến Cực Lạc quốc địa. Nhược đắc tam-muội, kiến bỉ quốc địa, liễu liễu phân minh, bất khả cụ thuyết. Thị vi Địa Tưởng, danh đệ tam Quán…

          Địa tưởng thành dĩ, thứ quán bảo thụ. Quán bảo thụ giả, nhất nhất quán chi. Tác thất trùng hàng thụ tưởng, nhất nhất thụ cao bát thiên do-tuần. Kỳ chư bảo thụ, thất bảo hoa diệp, vô bất cụ túc. Nhất nhất hoa diệp, tác dị bảo sắc. Lưu ly sắc trung, xuất kim sắc quang. Pha lê sắc trung, xuất hồng sắc quang. Mă năo sắc trung, xuất xa cừ quang. Xà cừ sắc trung, xuất lục chân châu quang. San hô, hổ phách, nhất thiết chúng bảo, dĩ vi ánh sức. Diệu chân châu vơng, di phú thụ thượng. Nhất nhất thụ thượng, hữu thất trùng vơng, nhất nhất vơng gian, hữu ngũ bách ức diệu hoa cung điện, như Phạm thiên cung. Chư thiên đồng tử, tự nhiên tại trung. Nhất nhất đồng tử, ngũ bách ức Thích Ca Tỳ Lăng Già ma-ni dĩ vi anh lạc. Kỳ ma-ni quang chiếu bách do-tuần, do như ḥa hợp bách ức nhật nguyệt, bất khả cụ danh. Chúng bảo gián thác, sắc trung thượng giả. Thử chư bảo thụ, hàng hàng tương đương, diệp diệp tương thứ. Ư chúng diệp gian, sanh chư diệu hoa. Hoa thượng tự nhiên hữu thất bảo quả. Nhất nhất thụ diệp, tung quảng chánh đẳng, nhị thập ngũ do-tuần. Kỳ diệp thiên sắc, hữu bách chủng hoạch, như thiên anh lạc. Hữu chúng diệu hoa, tác Diêm Phù Đàn kim sắc, như toàn hỏa luân, uyển chuyển diệp gian, dũng sanh chư quả, như Đế Thích b́nh. Hữu đại quang minh, hóa thành tràng phan. Vô lượng bảo cái, thị bảo cái trung, ánh hiện tam thiên đại thiên thế giới nhất thiết Phật sự. Thập phương Phật quốc, diệc ư trung hiện. Kiến thử thụ dĩ, diệc đương thứ đệ, nhất nhất quán chi. Quán kiến thụ hành, chi, diệp, hoa, quả, giai linh phân minh. Thị vi Thụ Tưởng, danh đệ tứ Quán.

          Thứ đương tưởng thủy. Dục tưởng thủy giả, Cực Lạc quốc độ hữu bát tŕ thủy. Nhất nhất tŕ thủy, thất bảo sở thành. Kỳ bảo nhu nhuyễn, tùng Như Ư Châu Vương sanh, phân vi thập tứ chi. Nhất nhất chi tác thất bảo diệu sắc. Hoàng kim vi cừ. Cừ hạ giai dĩ tạp sắc kim cang, dĩ vi để sa. Nhất nhất thủy trung, hữu lục thập ức thất bảo liên hoa. Nhất nhất liên hoa, đoàn viên chánh đẳng thập nhị do-tuần. Kỳ ma-ni thủy, lưu chú hoa gian, tầm thụ thượng hạ. Kỳ thanh vi diệu, diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, chư Ba La Mật. Phục hữu tán thán chư Phật tướng hảo giả. Tùng Như Ư Châu Vương, dũng xuất kim sắc vi diệu quang minh. Kỳ quang hóa vi bách bảo sắc điểu, ḥa minh ai nhă, thường tán niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Thị vi Bát Công Đức Thủy Tưởng, danh đệ ngũ Quán…

          Chúng bảo quốc độ, nhất nhất giới thượng, hữu ngũ bách ức bảo lâu các. Kỳ lâu các trung, vô lượng chư thiên tác thiên kỹ nhạc. Hựu hữu nhạc khí, huyền xử hư không, như thiên bảo tràng, bất cổ tự minh. Thử chúng âm trung, giai thuyết niệm Phật, niệm Pháp, niệm tỳ-kheo Tăng. Thử tưởng thành dĩ, danh vi thô kiến Cực Lạc thế giới bảo thụ, bảo địa, bảo tŕ. Thị vi Tổng Quán Tưởng, danh đệ lục Quán…

          Dục quán bỉ Phật giả, đương khởi tưởng niệm. Ư thất bảo địa thượng, tác liên hoa tưởng, linh kỳ liên hoa, nhất nhất diệp thượng, tác bách bảo sắc, hữu bát vạn tứ thiên mạch, do như thiên họa. Mạch hữu bát vạn tứ thiên quang, liễu liễu phân minh, giai linh đắc kiến. Hoa diệp tiểu giả, tung hoành nhị bách ngũ thập do-tuần. Như thị liên hoa, cụ hữu bát vạn tứ thiên diệp. Nhất nhất diệp gian, hữu bách ức ma-ni châu, dĩ vi ánh sức. Nhất nhất ma-ni châu, phóng thiên quang minh. Kỳ quang như cái, thất bảo hợp thành, biến phú địa thượng. Thích Ca Tỳ Lăng Già bảo, dĩ vi kỳ đài. Thử liên hoa đài, bát vạn Kim Cang Chân Thúc Ca bảo, Phạm ma-ni bảo, diệu chân châu vơng, dĩ vi hiệu sức. Ư kỳ đài thượng, tự nhiên nhi hữu tứ trụ bảo tràng. Nhất nhất bảo tràng, như bách thiên vạn ức Tu Di sơn. Tràng thượng bảo mạn, như Dạ Ma thiên cung. Phục hữu ngũ bách ức vi diệu bảo châu, dĩ vi ánh sức. Nhất nhất bảo châu, hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất nhất quang tác bát vạn tứ thiên dị chủng kim sắc, nhất nhất kim sắc biến kỳ bảo độ. Xứ xứ biến hóa, các tác dị tướng, hoặc vi kim cang đài, hoặc tác chân châu vơng, hoặc tác tạp hoa vân. Ư thập phương diện, tùy ư biến hiện, thi tác Phật sự. Thị vi Hoa Ṭa Tưởng, danh đệ thất Quán…

          Tưởng bỉ Phật giả, tiên đương tưởng tượng, bế mục, khai mục, kiến nhất bảo tượng, như Diêm Phù Đàn kim sắc, tọa bỉ hoa thượng. Kiến tượng tọa dĩ, tâm nhăn đắc khai, liễu liễu phân minh, kiến Cực Lạc quốc, thất bảo trang nghiêm. Bảo địa, bảo tŕ, bảo thụ hàng liệt, chư thiên bảo mạn, di phú kỳ thượng. Chúng bảo la vơng, măn hư không trung. Kiến như thử sự, cực linh minh liễu, như quán chưởng trung. Kiến thử sự dĩ, phục đương cánh tác nhất đại liên hoa, tại Phật tả biên, như tiền liên hoa, đẳng vô hữu dị. Phục tác nhất đại liên hoa, tại Phật hữu biên. Tưởng nhất Quán Thế Âm Bồ Tát tượng, tọa tả hoa ṭa, diệc tác kim sắc, như tiền vô dị. Tưởng nhất Đại Thế Chí Bồ Tát tượng, tọa hữu hoa ṭa. Thử tưởng thành thời, Phật, Bồ Tát tượng, giai phóng quang minh. Kỳ quang kim sắc, chiếu chư bảo thụ. Nhất nhất thụ hạ, diệc hữu tam liên hoa. Chư liên hoa thượng, các hữu nhất Phật nhị Bồ Tát tượng, biến măn bỉ quốc. Thử tưởng thành thời, hành giả đương văn thủy lưu, quang minh, cập chư bảo thụ, phù, nhạn, uyên ương, giai thuyết diệu pháp, xuất Định, nhập Định, hằng văn diệu pháp. Hành giả sở văn, xuất Định chi thời, ức tŕ bất xả, linh dữ Tu Đa La hợp. Nhược bất hợp giả, danh vi vọng tưởng. Nhược dữ hợp giả, danh vi thô tưởng kiến Cực Lạc thế giới. Thị vi Tưởng Tượng, danh đệ bát Quán…

          Vô Lượng Thọ Phật, thân như bách thiên ức Dạ Ma Thiên Diêm Phù Đàn kim sắc. Phật thân cao lục thập vạn na-do-tha Hằng hà sa do-tuần. Mi gian bạch hào, hữu toàn uyển chuyển, như ngũ Tu Di sơn. Phật nhăn như tứ đại hải thủy, thanh bạch phân minh. Thân chư mao khổng, diễn xuất quang minh như Tu Di sơn. Bỉ Phật viên quang, như bách ức tam thiên đại thiên thế giới. Ư viên quang trung, hữu bách vạn ức na-do Hằng hà sa hóa Phật. Nhất nhất hóa Phật, diệc hữu chúng đa vô số hóa Bồ Tát dĩ vi thị giả. Vô Lượng Thọ Phật hữu bát vạn tứ thiên tướng, nhất nhất tướng trung, các hữu bát vạn tứ thiên tùy h́nh hảo. Nhất nhất hảo trung, các hữu bát vạn tứ thiên quang minh. Nhất nhất quang minh biến chiếu thập phương thế giới niệm Phật chúng sanh, nhiếp thủ bất xả. Kỳ quang tướng hảo, cập dữ hóa Phật, bất khả cụ thuyết, đản đương ức tưởng, linh tâm nhăn kiến. Kiến thử sự giả, tức kiến thập phương nhất thiết chư Phật. Dĩ kiến chư Phật cố, danh Niệm Phật tam-muội. Tác thị quán giả, danh Quán Nhất Thiết Phật Thân…

          Quán Vô Lượng Thọ Phật giả, tùng nhất tướng hảo nhập, đản quán mi gian bạch hào, cực linh minh liễu. Kiến mi gian bạch hào tướng giả, bát vạn tứ thiên tướng hảo, tự nhiên đương hiện. Kiến Vô Lượng Thọ Phật giả, tức kiến thập phương vô lượng chư Phật. Đắc kiến vô lượng chư Phật cố, chư Phật hiện tiền thọ kư. Thị vi Biến Quán Nhất Thiết Sắc Thân Tưởng, danh đệ cửu Quán…

          Kiến Vô Lượng Thọ Phật, liễu liễu phân minh dĩ. Thứ diệc ưng quán Quán Thế Âm Bồ Tát. Thử Bồ Tát thân trường bát thập vạn ức na-do-tha do-tuần. Thân tử kim sắc, đảnh hữu nhục kế. Hạng hữu viên quang, diện các bách thiên do-tuần. Kỳ viên quang trung, hữu ngũ bách hóa Phật, như Thích Ca Mâu Ni. Nhất nhất hóa Phật, hữu ngũ bách hóa Bồ Tát, vô lượng chư thiên dĩ vi thị giả. Cử thân quang trung, ngũ đạo chúng sanh, nhất thiết thân tướng giai ư trung hiện. Đảnh thượng Tỳ Lăng Già Ma Ni bảo dĩ vi thiên quan. Kỳ thiên quan trung, hữu nhất lập hóa Phật, cao nhị thập ngũ do-tuần. Quán Thế Âm Bồ Tát, diện như Diêm Phù Đàn kim sắc. Mi gian hào tướng bị thất bảo sắc, lưu xuất bát vạn tứ thiên chủng quang minh. Nhất nhất quang minh, hữu vô lượng vô số bách thiên hóa Phật. Nhất nhất hóa Phật, vô số hóa Bồ Tát dĩ vi thị giả, biến hiện tự tại, măn thập phương giới. Thí như hồng liên hoa sắc, hữu bát thập ức vi diệu quang minh dĩ vi anh lạc. Kỳ anh lạc trung, phổ hiện nhất thiết chư trang nghiêm sự. Thủ chưởng tác ngũ bách ức tạp liên hoa sắc. Thủ thập chỉ đoan. Nhất nhất chỉ đoan, hữu bát vạn tứ thiên hoạch, do như ấn văn. Nhất nhất hoạch hữu bát vạn tứ thiên sắc. Nhất nhất sắc hữu bát vạn tứ thiên quang. Kỳ quang nhu nhuyễn, phổ chiếu nhất thiết. Dĩ thử bảo thủ, tiếp dẫn chúng sanh. Cử túc thời, túc hạ hữu thiên bức luân tướng, tự nhiên hóa thành ngũ bách ức quang minh đài. Hạ túc thời, hữu kim cang ma-ni hoa, bố tán nhất thiết, mạc bất di măn. Kỳ dư thân tướng, chúng hảo cụ túc, như Phật vô dị. Duy đảnh thượng nhục kế, cập Vô Kiến Đảnh Tướng, bất cập Thế Tôn. Thị vi Quán Thế Âm Bồ Tát Chân Thật Sắc Thân Tưởng, danh đệ thập Quán…

          Thứ quán Đại Thế Chí Bồ Tát. Thử Bồ Tát thân lượng đại tiểu, diệc như Quán Thế Âm. Viên quang diện các bách nhị thập ngũ do-tuần, chiếu nhị bách ngũ thập do-tuần. Cử thân quang minh, chiếu thập phương quốc, tác tử kim sắc. Hữu duyên chúng sanh, giai tất đắc kiến. Đản kiến thử Bồ Tát nhất mao khổng quang, tức kiến thập phương vô lượng chư Phật tịnh diệu quang minh. Thị cố hiệu thử Bồ Tát danh Vô Biên Quang. Dĩ trí huệ quang, phổ chiếu nhất thiết, linh ly tam đồ, đắc vô thượng lực. Thị cố hiệu thử Bồ Tát danh Đại Thế Chí. Thử Bồ Tát thiên quan, hữu ngũ bách bảo hoa. Nhất nhất bảo hoa, hữu ngũ bách bảo đài. Nhất nhất đài trung, thập phương chư Phật tịnh diệu quốc độ quảng trường chi tướng, giai ư trung hiện. Đảnh thượng nhục kế như Bát Đầu Ma hoa. Ư nhục kế thượng, hữu nhất bảo b́nh, thịnh chư quang minh, phổ hiện Phật sự. Dư chư thân tướng, như Quán Thế Âm, đẳng vô hữu dị. Thử Bồ Tát hành thời, thập phương thế giới nhất thiết chấn động, đương địa động xứ, hữu ngũ bách ức bảo hoa. Nhất nhất bảo hoa trang nghiêm cao hiển, như Cực Lạc thế giới. Thử Bồ Tát tọa thời, thất bảo quốc độ nhất thời dao động, tùng hạ phương Kim Quang Phật sát năi chí thượng phương Quang Minh Vương Phật sát, ư thử trung gian, vô lượng trần số phân thân Vô Lượng Thọ Phật, phân thân Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, giai tất vân tập Cực Lạc quốc độ, tắc tắc không trung, tọa liên hoa ṭa, diễn thuyết diệu pháp, độ khổ chúng sanh. Tác thử quán giả, danh vi Quán Kiến Đại Thế Chí Bồ Tát. Thị vi quán Đại Thế Chí sắc thân tướng. Quán thử Bồ Tát giả, danh vi đệ thập nhất Quán…

          Kiến thử sự thời, đương khởi tự tâm, sanh ư Tây Phương Cực Lạc thế giới, ư liên hoa trung, kết già phu tọa, tác liên hoa hợp tưởng, tác liên hoa khai tưởng. Liên hoa khai thời, hữu ngũ bách sắc quang lai chiếu thân tưởng. Nhăn mục khai tưởng, kiến Phật, Bồ Tát măn hư không trung. Thủy, điểu, thụ lâm, cập dữ chư Phật, sở xuất âm thanh, giai diễn diệu pháp, dữ thập nhị bộ kinh hợp. Xuất Định chi thời, ức tŕ bất thất, kiến thử sự dĩ, danh kiến Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc thế giới, thị vi Phổ Quán Tưởng, danh đệ thập nhị Quán…

          Nhược dục chí tâm sanh ư Tây phương giả, tiên đương quán ư nhất trượng lục tượng, tại tŕ thủy thượng, như tiên sở thuyết Vô Lượng Thọ Phật, thân lượng vô biên, phi thị phàm phu tâm lực sở cập. Nhiên bỉ Như Lai túc nguyện lực cố, hữu ức tưởng giả, tất đắc thành tựu. Đản tưởng Phật tượng, đắc vô lượng phước. Huống phục quán Phật cụ túc thân tướng. A Di Đà Phật thần thông như ư, ư thập phương quốc, biến hiện tự tại. Hoặc hiện đại thân, măn hư không trung, hoặc hiện tiểu thân, trượng lục, bát xích. Sở hiện chi h́nh, giai chân kim sắc. Viên quang hóa Phật, cập bảo liên hoa. Như thượng sở thuyết, Quán Thế Âm Bồ Tát, cập Đại Thế Chí, ư nhất thiết xứ thân đồng. Chúng sanh đản quán thủ tướng, tri thị Quán Thế Âm, tri thị Đại Thế Chí. Thử nhị Bồ Tát trợ A Di Đà Phật phổ hóa nhất thiết. Thị vi Tạp Tưởng Quán, danh đệ thập tam Quán.

          Thượng phẩm thượng sanh giả, nhược hữu chúng sanh, nguyện sanh bỉ quốc giả, phát tam chủng tâm, tức tiện văng sanh. Hà đẳng vi tam? Nhất giả chí thành tâm, nhị giả thâm tâm, tam giả hồi hướng phát nguyện tâm. Cụ tam tâm giả, tất sanh bỉ quốc. Phục hữu tam chủng chúng sanh, đương đắc văng sanh. Hà đẳng vi tam? Nhất giả, từ tâm bất sát, cụ chư giới hạnh. Nhị giả, độc tụng Đại Thừa Phương Đẳng kinh điển. Tam giả, tu hành lục niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Cụ thử công đức, nhất nhật năi chí thất nhật, tức đắc văng sanh…

          Thượng phẩm trung sanh giả, bất tất thọ tŕ, độc tụng Phương Đẳng kinh điển, thiện giải nghĩa thú. Ư Đệ Nhất Nghĩa, tâm bất kinh động, thâm tín nhân quả, bất báng Đại Thừa. Dĩ thử công đức, hồi hướng nguyện cầu, sanh Cực Lạc quốc…

          Thượng phẩm hạ sanh giả, diệc tín nhân quả, bất báng Đại Thừa, đản phát vô thượng đạo tâm. Dĩ thử công đức, hồi hướng nguyện cầu, sanh Cực Lạc quốc…

          Trung phẩm thượng sanh giả, nhược hữu chúng sanh, thọ tŕ Ngũ Giới, tŕ Bát Giới Trai, tu hành chư giới, bất tạo Ngũ Nghịch, vô chúng quá hoạn. Dĩ thử thiện căn, hồi hướng nguyện cầu, sanh ư Tây Phương Cực Lạc thế giới…

          Trung phẩm trung sanh giả, nhược hữu chúng sanh, nhược nhất nhật, nhất dạ, tŕ Bát Giới Trai. Nhược nhất nhật nhất dạ, tŕ Sa Di giới. Nhược nhất nhật nhất dạ, tŕ Cụ Túc Giới, oai nghi vô khuyết. Dĩ thử công đức, hồi hướng nguyện cầu sanh Cực Lạc quốc…

          Trung phẩm hạ sanh giả, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân hiếu dưỡng phụ mẫu, hành thế nhân từ. Thử nhân mạng dục chung thời, ngộ thiện tri thức, vị kỳ quảng thuyết A Di Đà Phật quốc độ lạc sự, diệc thuyết Pháp Tạng tỳ-kheo tứ thập bát đại nguyện. Văn thử sự dĩ, tầm tức mạng chung. Thí như tráng sĩ khuất thân tư khoảnh, tức sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới…

          Hạ phẩm thượng sanh giả, hoặc hữu chúng sanh, tác chúng ác nghiệp. Tuy bất phỉ báng Phương Đẳng kinh điển, như thử ngu nhân, đa tạo ác pháp, vô hữu tàm quư, mạng dục chung thời, ngộ thiện tri thức, vị thuyết Đại Thừa thập nhị bộ kinh thủ đề danh tự. Dĩ văn như thị chư kinh danh cố, trừ khước thiên kiếp cực trọng ác nghiệp. Trí giả phục giáo hiệp chưởng xoa thủ, xưng Nam-mô A Di Đà Phật. Xưng Phật danh cố, trừ ngũ thập ức kiếp sanh tử chi tội…

          Hạ phẩm trung sanh giả, hoặc hữu chúng sanh, hủy phạm ngũ giới, bát giới, cập Cụ Túc Giới. Như thử ngu nhân, thâu Tăng-kỳ vật, đạo hiện tiền tăng vật, bất tịnh thuyết pháp, vô hữu tàm quư, dĩ chư ác nghiệp nhi tự trang nghiêm. Như thử tội nhân, dĩ ác nghiệp cố, ưng đọa địa ngục. Mạng dục chung thời, địa ngục chúng hỏa nhất thời câu chí. Ngộ thiện tri thức dĩ đại từ bi, tức vị tán thuyết A Di Đà Phật thập lực oai đức, quảng tán bỉ Phật quang minh thần lực, diệc tán Giới, Định, Huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Thử nhân văn dĩ, trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội. Địa ngục mănh hỏa, hóa vi thanh lương phong, xuy chư thiên hoa. Hoa thượng giai hữu hóa Phật, Bồ Tát nghênh tiếp thử nhân…

          Hạ phẩm hạ sanh giả, hoặc hữu chúng sanh, tác bất thiện nghiệp, Ngũ Nghịch, Thập Ác, cụ chư bất thiện, như thử ngu nhân, dĩ ác nghiệp cố, ưng đọa ác đạo, kinh lịch đa kiếp, thọ khổ vô cùng. Như thử ngu nhân, lâm mạng chung thời, ngộ thiện tri thức, chủng chủng an ủy, vị thuyết diệu pháp, giáo linh niệm Phật. Bỉ nhân khổ bức, bất hoàng niệm Phật. Thiện hữu cáo ngôn: “Nhữ nhược bất năng niệm bỉ Phật giả, ưng xưng Vô Lượng Thọ Phật. Như thị chí tâm, linh thanh bất tuyệt”. Cụ túc thập niệm, xưng nam-mô A Di Đà Phật. Xưng Phật danh cố, ư niệm niệm trung, trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội. Mạng chung chi thời, kiến kim liên hoa, do như nhật luân, trụ kỳ nhân tiền, như nhất niệm khoảnh, tức đắc văng sanh (CBETA, T12, no.365).

          欲生彼國者。當修三福。一者孝養父母。奉事師長。慈心不殺。修十善業。二者受持三皈。具足眾戒。不犯威儀。三者發菩提心。深信因果。讀誦大乘。勸進行者。如此三事。名為凈業。佛告韋提希。汝今知不。此三種業。乃是過去未來現在三世諸佛凈業正因。

            凡作想者。一切眾生。自非生盲。有目之徒。皆見日沒。當起想念。正坐西向。諦觀於日。欲沒之處。令心堅住。專想不移。見日欲沒。狀如懸鼓。既見日已。閉目開目。皆令明了。是為日想。名曰初觀。次作水想。見水澄清。亦令明了。無分散意。既見水已。當起冰想。見冰映徹。作琉璃想。此想成已。見琉璃地。內外映徹。下有金剛七寶金幢。擎琉璃地。其幢八方。八楞具足。一一方面。百寶所成。一一寶珠。有千光明。一一光明。八萬四千色。映琉璃地。如億千日。不可具見。琉璃地上。以黃金繩。雜廁間錯。以七寶界。分齊分明。一一寶中。有五百色光。其光如花。又似星月。懸處虛空。成光明台。樓閣千萬。百寶合成。於台兩邊。各有百億花幢。無量樂器。以為莊嚴。八種清風。從光明出。鼓此樂器。演說苦空無常無我之音。是為水想名第二觀。此想成時。一一觀之。極令了了。閉目開目。不令散失。唯除食時。恆憶此事。如此想者。名為粗見極樂國地。若得三昧。見彼國地。了了分明。不可具說。是為地想。名第三觀。

            地想成已。次觀寶樹。觀寶樹者。一一觀之。作七重行樹想。一一樹高八千由旬。其諸寶樹。七寶花葉。無不具足。一一華葉。作異寶色。琉璃色中。出金色光。玻瓈色中。出紅色光。碼瑙色中。出硨磲光。硨磲色中。出綠真珠光。珊瑚琥珀。一切眾寶。以為映飾。妙真珠網。彌覆樹上。一一樹上。有七重網。一一網間。有五百億妙華宮殿。如梵天宮。諸天童子。自然在中。一一童子。五百億釋迦毗楞伽摩尼以為瓔珞。其摩尼光。照百由旬。猶如和合百億日月。不可具名。眾寶間錯。色中上者。此諸寶樹。行行相當。葉葉相次。於眾葉間。生諸妙華。華上自然有七寶果。一一樹葉。縱廣正等。二十五由旬。其葉千色。有百種畫。如天瓔珞。有眾妙華。作閻浮檀金色。如旋火輪。宛轉葉間。涌生諸果。如帝釋瓶。有大光明。化成幢幡。無量寶蓋。是寶蓋中。映現三千大千世界一切佛事。十方佛國。亦於中現。見此樹已。亦當次第一一觀之。觀見樹莖。枝葉華果。皆令分明。是為樹想。名第四觀。

            次當想水。欲想水者。極樂國土。有八池水。一一池水。七寶所成。其寶柔軟。從如意珠王生。分為十四支。一一支作七寶妙色。黃金為渠。渠下皆以雜色金剛。以為底沙。一一水中。有六十億七寶蓮花。一一蓮華。團圓正等。十二由旬。其摩尼水。流注華間。尋樹上下。其聲微妙。演說苦空無常無我諸波羅蜜。復有讚歎諸佛相好者。從如意珠王。湧出金色微妙光明。其光化為百寶色鳥。和鳴哀雅。常贊念佛念法念僧。是為八功德水想。名第五觀。

            眾寶國土。一一界上。有五百億寶樓閣。其樓閣中。無量諸天。作天伎樂。又有樂器。懸處虛空。如天寶幢。不鼓自鳴。此眾音中。皆說念佛念法念比丘僧。此想成已。名為粗見極樂世界寶樹寶地寶池。是為總觀想。名第六觀。

            欲觀彼佛者。當起想念。於七寶地上。作蓮華想。令其蓮華。一一葉上。作百寶色。有八萬四千脈。猶如天畫。脈有八萬四千光。了了分明。皆令得見。華葉小者。縱橫二百五十由旬。如是蓮華。具有八萬四千葉。一一葉間。有百億摩尼珠。以為映飾。一一摩尼珠。放千光明。其光如蓋。七寶合成。遍覆地上。釋迦毗楞伽寶。以為其台。此蓮華台。八萬金剛甄叔迦寶。梵摩尼寶。妙真珠網。以為校飾。於其台上。自然而有四柱寶幢。一一寶幢。如百千萬億須彌山。幢上寶幔。如夜摩天宮。復有五百億微妙寶珠。以為映飾。一一寶珠。有八萬四千光。一一光作八萬四千異種金色。一一金色遍其寶土。處處變化。各作異相。或為金剛台。或作真珠網。或作雜華雲。於十方面。隨意變現。施作佛事。是為華座想。名第七觀。

            想彼佛者。先當想像。閉目開目。見一寶像。如閻浮檀金色。坐彼華上。見像坐已。心眼得開。了了分明。見極樂國。七寶莊嚴。寶地寶池。寶樹行列。諸天寶幔。彌覆其上。眾寶羅網。滿虛空中。見如此事。極令明了。如觀掌中。見此事已。復當更作一大蓮華。在佛左邊。如前蓮華等無有異。復作一大蓮華。在佛右邊。想一觀世音菩薩像。坐左華座。亦作金色。如前無異。想一大勢至菩薩像。坐右華座。此想成時。佛菩薩像。皆放光明。其光金色。照諸寶樹。一一樹下。亦有三蓮華。諸蓮華上。各有一佛二菩薩像。遍滿彼國。此想成時。行者當聞水流光明。及諸寶樹鳧雁鴛鴦。皆說妙法。出定入定。恆聞妙法。行者所聞。出定之時。憶持不舍。令與修多羅合。若不合者名為妄想。若與合者。名為粗想見極樂世界。是為想像。名第八觀。

            無量壽佛。身如百千億夜摩天閻浮檀金色。佛身高六十萬那由他恆河沙由旬。眉間白毫。右旋宛轉。如五須彌山。佛眼如四大海水。青白分明。身諸毛孔。演出光明。如須彌山。彼佛圓光。如百億三千大千世界。於圓光中。有百萬億那由恆河沙化佛。一一化佛。亦有眾多無數化菩薩。以為侍者。無量壽佛有八萬四千相。一一相中各有八萬四千隨形好。一一好中各有八萬四千光明。一一光明遍照十方世界念佛眾生。攝取不舍。其光相好。及與化佛。不可具說。但當憶想。令心眼見。見此事者。即見十方一切諸佛。以見諸佛故。名念佛三昧。作是觀者。名觀一切佛身。

            觀無量壽佛者。從一相好入。但觀眉間白毫。極令明了見眉間白毫相者。八萬四千相好。自然當現。見無量壽佛者。即見十方無量諸佛。得見無量諸佛故。諸佛現前授記。是為遍觀一切色身想。名第九觀。

            見無量壽佛。了了分明已。次亦應觀觀世音菩薩。此菩薩身長八十萬億那由他由旬。身紫金色。頂有肉髻。項有圓光。面各百千由旬。其圓光中。有五百化佛。如釋迦牟尼。一一化佛。有五百化菩薩。無量諸天。以為侍者。舉身光中。五道眾生。一切身相。皆於中現。頂上毗楞伽摩尼寶。以為天冠。其天冠中。有一立化佛。高二十五由旬。觀世音菩薩。面如閻浮檀金色。眉間毫相。備七寶色。流出八萬四千種光明。一一光明。有無量無數百千化佛。一一化佛。無數化菩薩。以為侍者。變現自在。滿十方界。譬如紅蓮華色。有八十億微妙光明。以為瓔珞。其瓔珞中。普現一切諸莊嚴事。手掌作五百億雜蓮華色。手十指端。一一指端。有八萬四千畫。猶如印文。一一畫有八萬四千色。一一色有八萬四千光。其光柔軟。普照一切。以此寶手。接引眾生。舉足時。足下有千輻輪相。自然化成五百億光明台。下足時。有金剛摩尼華。布散一切。莫不彌滿。其餘身相。眾好具足。如佛無異。唯頂上肉髻。及無見頂相。不及世尊。是為觀觀世音菩薩真實色身想。名第十觀。

            次觀大勢至菩薩。此菩薩身量大小。亦如觀世音。圓光面各百二十五由旬。照二百五十由旬。舉身光明。照十方國。作紫金色。有緣眾生。皆悉得見。但見此菩薩一毛孔光。即見十方無量諸佛凈妙光明。是故號此菩薩名無邊光。以智慧光。普照一切。令離三塗。得無上力。是故號此菩薩名大勢至。此菩薩天冠。有五百寶華。一一寶華。有五百寶台。一一台中。十方諸佛凈妙國土廣長之相。皆於中現。頂上肉髻。如缽頭摩華。於肉髻上。有一寶瓶。盛諸光明。普現佛事。余諸身相。如觀世音。等無有異。此菩薩行時。十方世界。一切震動。當地動處。有五百億寶華。一一寶華莊嚴高顯。如極樂世界。此菩薩坐時。七寶國土。一時搖動。從下方金光佛剎。乃至上方光明王佛剎。於此中間。無量塵數分身無量壽佛。分身觀世音大勢至。皆悉雲集。極樂國土。塞空中。坐蓮華座。演說妙法。度苦眾生。作此觀者。名為觀見大勢至菩薩。是為觀大勢至色身相。觀此菩薩者。名第十一觀。

            見此事時。當起自心。生於西方極樂世界。於蓮華中。結跏趺坐。作蓮華合想。作蓮華開想。蓮華開時。有五百色光來照身想。眼目開想。見佛菩薩。滿虛空中。水鳥樹林。及與諸佛。所出音聲。皆演妙法。與十二部經合。出定之時。憶持不失。見此事已。名見無量壽佛極樂世界。是為普觀想。名第十二觀。

            若欲至心生於西方者。先當觀於一丈六像。在池水上。如先所說無量壽佛。身量無邊。非是凡夫心力所及。然彼如來宿願力故。有憶想者。必得成就。但想佛像。得無量福。況復觀佛具足身相。阿彌陀佛。神通如意。於十方國。變現自在。或現大身。滿虛空中。或現小身。丈六八尺。所現之形。皆真金色。圓光化佛。及寶蓮華。如上所說。觀世音菩薩。及大勢至。於一切處身同。眾生但觀首相。知是觀世音。知是大勢至。此二菩薩助阿彌陀佛普化一切。是為雜想觀。名第十三觀。

            上品上生者。若有眾生。願生彼國者。發三種心。即便往生。何等為三。一者至誠心。二者深心。三者迴向發願心。具三心者。必生彼國。復有三種眾生。當得往生。何等為三。一者慈心不殺。具諸戒行。二者讀誦大乘方等經典。三者修行六念。迴向發願。願生彼國。具此功德。一日乃至七日。即得往生。

            上品中生者。不必受持讀誦方等經典。善解義趣。於第一義。心不驚動。深信因果。不謗大乘。以此功德。迴向願求。生極樂國。

            上品下生者。亦信因果。不謗大乘。但發無上道心。以此功德。迴向願求。生極樂國。

            中品上生者。若有眾生。受持五戒。持八戒齋。修行諸戒。不造五逆。無眾過患。以此善根。迴向願求。生於西方極樂世界。

            中品中生者。若有眾生。若一日一夜。持八戒齋。若一日一夜。持沙彌戒。若一日一夜。持具足戒。威儀無缺。以此功德。迴向願求生極樂國。

            中品下生者。若有善男子善女人。孝養父母。行世仁慈。此人命欲終時。遇善知識。為其廣說阿彌陀佛國土樂事。亦說法藏比丘四十八大願。聞此事已。尋即命終。譬如壯士屈伸臂頃。即生西方極樂世界。

            下品上生者。或有眾生。作眾惡業。雖不誹謗方等經典。如此愚人。多造惡法。無有慚愧。命欲終時。遇善知識。為說大乘十二部經首題名字。以聞如是諸經名故。除卻千劫極重惡業。智者復教合掌叉手。稱南無阿彌陀佛。稱佛名故。除五十億劫生死之罪。

            下品中生者。或有眾生。毀犯五戒。八戒及具足戒。如此愚人。偷僧祇物。盜現前僧物。不凈說法。無有慚愧。以諸惡業。而自莊嚴。如此罪人。以惡業故。應墮地獄。命欲終時。地獄眾火。一時俱至。遇善知識以大慈悲。即為贊說阿彌陀佛十力威德。廣贊彼佛光明神力。亦贊戒定慧解脫解脫知見。此人聞已。除八十億劫生死之罪。地獄猛火。化為清涼風。吹諸天華。華上皆有化佛菩薩迎接此人。

            下品下生者。或有眾生。作不善業。五逆十惡。具諸不善。如此愚人。以惡業故。應墮惡道。經歷多劫。受苦無窮。如此愚人。臨命終時。遇善知識。種種安慰。為說妙法。教令念佛。彼人苦逼。不遑念佛。善友告言。汝若不能念彼佛者。應稱無量壽佛。如是至心。令聲不絕。具足十念。稱南無阿彌陀佛。稱佛名故。於念念中。除八十億劫生死之罪。命終之時。見金蓮華。猶如日輪。住其人前。如一念頃。即得往生。

          (Kẻ muốn sanh về cơi ấy, hăy nên tu ba phước. Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp. Hai là thọ tŕ Tam Quy, trọn đủ các giới, chẳng trái phạm oai nghi. Ba là phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả. Ba chuyện như thế được gọi là Tịnh nghiệp. Đức Phật bảo bà Vi Đề Hy: “Bà có biết hay chăng? Ba loại nghiệp ấy chính là tịnh nghiệp chánh nhân của quá khứ, vị lai, hiện tại ba đời chư Phật”.  

          Phàm là kẻ quán tưởng, hết thảy chúng sanh, nếu chẳng phải là kẻ mù từ thuở lọt ḷng, là những người có mắt, đều thấy mặt trời lặn. Hăy nên dấy lên sự tưởng niệm, ngồi hướng thẳng về phương Tây, quán kỹ mặt trời ở chỗ sắp lặn, giữ cho cái tâm trụ vững, chuyên tưởng, chẳng dời. Thấy mặt trời sắp lặn, h́nh dạng như cái trống treo. Đă thấy mặt trời rồi, nhắm mắt, mở mắt, đều giữ sao cho rơ ràng. Đó là phép Quán mặt trời, gọi là phép Quán thứ nhất.

          Kế đó là tưởng nước, thấy nước trong lặng, cũng quán sao cho rơ rệt, ư chẳng phân tán. Đă thấy nước rồi, hăy nên tưởng là băng. Thấy băng chiếu sáng ngời, trong suốt, tưởng là lưu ly. Phép tưởng này đă thành rồi, thấy đất lưu ly, trong ngoài sáng ngời trong suốt. Phía dưới có tràng vàng bằng chất kim cang bảy báu, nâng đỡ đất lưu ly. Tràng ấy có tám mặt, tám cạnh trọn đủ. Mỗi một mặt đều do trăm thứ báu hợp thành. Mỗi viên bảo châu, có một ngàn quang minh. Mỗi một quang minh, tám vạn bốn ngàn sắc, chiếu sáng đất lưu ly như ức ngàn mặt trời, chẳng thể thấy trọn. Trên đất lưu ly, dùng dây bằng vàng ṛng, xen kẽ, ḥa lẫn, dùng bảy báu làm ranh giới, chia thành từng khu vực phân minh. Trong mỗi thứ báu có quang minh năm trăm màu. Quang minh ấy như hoa, lại như ngôi sao, mặt trăng, treo lơ lửng trên hư không, thành đài quang minh. Lầu, gác ngàn vạn, do trăm thứ báu hợp thành. Ở hai bên đài, mỗi bên đều có trăm ức tràng hoa. Vô lượng nhạc khí dùng để trang nghiêm. Tám loại gió mát từ trong quang minh lùa ra, lay động các nhạc khí, diễn nói các âm thanh Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă. Đấy là Thủy Tưởng, gọi là phép Quán thứ hai. Khi phép tưởng này đă thành, quán mỗi thứ sao cho hết sức rành rẽ. Nhắm mắt, mở mắt, đừng để cho tan mất. Chỉ trừ khi ăn, luôn nhớ chuyện này. Tưởng như thế, gọi là thấy cơi đất Cực Lạc về phần thô. Nếu đắc tam-muội, thấy cơi đất của nước ấy rành rẽ, phân minh, chẳng thể nói trọn. Đấy là Địa Tưởng, gọi là phép Quán thứ ba.

          …Tưởng đất đă thành rồi, kế đến quán cây báu. Quán cây báu th́ mỗi mỗi đều quán. Tưởng bảy lớp hàng cây, mỗi cây cao tám ngàn do-tuần. Các cây báu ấy, hoa lá bằng bảy báu, không ǵ chẳng trọn đủ. Mỗi một hoa lá đều có màu của các chất báu khác lạ. Trong màu lưu ly, tỏa quang minh kim sắc. Trong màu pha lê, tỏa quang minh màu đỏ. Trong màu mă năo, tỏa quang minh màu xa cừ. Trong màu xa cừ, tỏa quang minh màu lục chân châu. San hô, hổ phách, hết thảy các thứ báu chói lọi để trang hoàng. Lưới chân châu mầu nhiệm che phủ trên cây. Trên mỗi cây, có bảy tầng lưới. Trong khoảng giữa mỗi tầng lưới, có năm trăm ức cung điện bằng hoa mầu nhiệm, như cung điện của Phạm Thiên. Các đồng tử cơi trời, tự nhiên xuất hiện trong ấy. Mỗi đồng tử có năm trăm ức Thích Ca Tỳ Lăng Già ma-ni để làm chuỗi ngọc. Ánh sáng từ các viên ma-ni ấy chiếu xa một trăm do-tuần, giống như ḥa hợp trăm ức mặt trời, mặt trăng, chẳng thể kể trọn! Các báu xen kẽ, màu sắc đẹp đẽ nhất. Các cây báu ấy từng hàng ngang nhau, các lá đối xứng. Khoảng giữa các lá, sanh ra các đóa hoa đẹp đẽ. Trên hoa, tự nhiên có quả bằng bảy báu. Mỗi một lá cây kích thước mỗi bề tương xứng hai mươi lăm do-tuần. Lá cây ngàn màu, có trăm loại gân lá như chuỗi ngọc cơi trời. Có các thứ hoa đẹp đẽ, màu như chất vàng Diêm Phù Đàn, như ṿng lửa xoay, uyển chuyển giữa các lá, các loại quả trồi ra [có h́nh dạng] như chiếc b́nh của Đế Thích. Có đại quang minh hóa thành tràng phan. Vô lượng lọng báu, trong các lọng báu ấy, hiện bóng hết thảy Phật sự trong tam thiên đại thiên thế giới. Mười phương cơi Phật cũng hiện trong ấy. Đă thấy những cây ấy rồi, cũng nên theo thứ tự quán từng điều một. Quán thấy thân cây, cành, lá, hoa, quả, thảy đều phân minh. Đấy là Thụ Tưởng, là phép Quán thứ sáu.

          Kế đó, hăy nên tưởng nước. Muốn tưởng nước th́ cơi nước Cực Lạc có ao nước tám công đức. Mỗi ao nước đều do bảy báu hợp thành. Chất báu ấy mềm mại, sanh từ Như Ư Châu Vương, chia thành mười bốn nhánh. Mỗi nhánh đều có màu bảy báu đẹp đẽ, vàng ṛng làm lạch dẫn. Dưới đáy lạch, đều dùng chất kim cang nhiều màu để làm cát trải đáy. Trong mỗi ḍng nước, có sáu mươi ức hoa sen bằng bảy báu. Mỗi một hoa sen, tṛn trặn vừa đúng mười hai do-tuần. Nước ma-ni chảy rót trong các hoa, luồn theo thân cây chảy lên, chảy xuống. Tiếng nước chảy vi diệu, diễn nói Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, các Ba La Mật. Lại có tiếng tán thán tướng hảo của chư Phật. Từ Như Ư Châu Vương, túa ra quang minh sắc vàng ṛng vi diệu. Quang minh ấy hóa thành các loài chim có màu sắc của trăm thứ báu, ḥa tiếng hót du dương, thanh nhă, thường ca ngợi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Đấy là phép tưởng nước tám công đức, gọi là phép Quán thứ năm.

          …Cơi nước bằng các thứ báu, trong mỗi khu vực, có năm trăm ức lầu gác báu. Trong mỗi lầu, gác, vô lượng chư thiên tấu các âm nhạc trời. Lại có những món nhạc khí treo lơ lửng trên hư không, như tràng báu cơi trời, không có ai tấu mà tự phát ra tiếng. Trong các âm thanh ấy, đều nói niệm Phật, niệm Pháp, niệm tỳ-kheo Tăng. Phép tưởng này đă thành, gọi là thấy thế giới Cực Lạc về phần thô, [tức là] thấy cây báu, đất báu, ao báu. Đấy là Tổng Quán Tưởng, gọi là phép Quán thứ sáu.

          …Muốn quán đức Phật ấy, hăy nên dấy lên sự tưởng niệm. Trên đất bảy báu, tưởng có hoa sen, tưởng sao cho hoa sen ấy, trên mỗi cánh hoa đều có màu của trăm thứ báu, có tám vạn bốn ngàn đường gân ví như nét vẽ cơi trời. Mỗi đường gân có tám vạn bốn ngàn quang minh, rành rẽ, phân minh, thảy đều trông thấy. Cánh hoa nhỏ th́ mỗi bề là hai trăm năm mươi do-tuần. Hoa sen như thế có đủ tám vạn bốn ngàn cánh. Giữa mỗi cánh, có trăm ức ma-ni châu để chiếu ngời trang điểm. Mỗi viên ma-ni châu, tỏa ra một ngàn tia quang minh. Quang minh ấy như cái lọng, do bảy báu hợp thành, che khắp mặt đất. Báu Thích Ca Tỳ Lăng Già dùng làm đài hoa. Đài hoa sen ấy được trang hoàng bằng tám vạn báu Kim Cang Chân Thúc Ca, báu Phạm ma-ni và lưới diệu chân châu. Trên cái đài ấy, tự nhiên có bốn trụ tràng báu. Mỗi một tràng báu như trăm ngàn vạn ức núi Tu Di. Trên tràng có màn báu như cung trời Dạ Ma. Lại có năm trăm ức bảo châu vi diệu chói ngời để trang hoàng. Mỗi viên bảo châu có tám vạn bốn ngàn quang minh. Tưởng mỗi quang minh hiện ra tám vạn bốn ngàn sắc vàng khác loại, mỗi sắc vàng trọn khắp trên các báu ấy. Biến hóa khắp nơi, mỗi nơi đều là tướng lạ, hoặc là đài kim cang, hoặc là lưới chân châu, hoặc là mây các loại hoa. Trong mười phương, tùy ư biến hiện, thực hiện Phật sự. Đấy là Hoa Ṭa Tưởng, gọi là phép Quán thứ bảy.

          …Tưởng đức Phật ấy th́ trước hết hăy nên tưởng một h́nh tượng, nhắm mắt, mở mắt, đều thấy một tượng báu có màu như vàng Diêm Phù Đàn, ngồi trên hoa ấy. Đă thấy tượng ngồi rồi, tâm nhăn được mở mang, rành rẽ, phân minh, thấy cơi Cực Lạc trang nghiêm bằng bảy báu. Đất báu, ao báu, cây báu bày hàng, các màn báu cơi trời che phủ bên trên, các lưới mành báu đầy ắp hư không. Thấy những sự như thế rồi sao cho hết sức rành rẽ như nh́n vào bàn tay. Đă thấy những chuyện ấy rồi, lại nên tưởng một đóa hoa sen to ở bên trái đức Phật giống như hoa sen trước chẳng khác. Lại tưởng một hoa sen to ở bên phải đức Phật. Tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi trên hoa ṭa bên trái. Cũng tưởng h́nh tượng ấy sắc vàng như trên, chẳng khác. Tưởng một tượng Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi trên hoa ṭa bên phải. Khi phép tưởng ấy đă thành, tượng Phật và Bồ Tát đều phóng quang minh. Quang minh ấy kim sắc, chiếu các cây báu. Dưới mỗi một cây, cũng có ba hoa sen. Trên các hoa sen, đều có tượng một vị Phật và hai vị Bồ Tát trọn khắp nước ấy. Khi phép tưởng này đă thành, hành giả sẽ nghe ḍng nước, quang minh, và các cây báu, le, nhạn, uyên ương đều nói diệu pháp. Xuất Định, nhập Định, luôn nghe diệu pháp. Đối với những điều hành giả đă được nghe, khi xuất Định, bèn ghi nhớ chẳng bỏ, sao cho phải phù hợp với Khế Kinh. Nếu chẳng phù hợp th́ gọi là vọng tưởng. Nếu phù hợp th́ gọi là tưởng thế giới Cực Lạc về phần thô. Đấy là Tưởng Tượng, gọi là phép Quán thứ tám.

          …Vô Lượng Thọ Phật thân như sắc vàng Diêm Phù Đàn của trăm ngàn ức Dạ Ma Thiên. Thân Phật cao sáu mươi vạn na-do-tha Hằng hà sa do-tuần. Bạch hào giữa mày, uyển chuyển xoay về bên phải, [to] như năm quả núi Tu Di. Mắt Phật như nước bốn biển cả, xanh trắng phân minh. Từ các lỗ chân lông nơi thân, tỏa ra quang minh như núi Tu Di. Viên quang của đức Phật ấy như trăm ức tam thiên đại thiên thế giới. Trong viên quang có trăm vạn ức na-do-tha Hằng hà sa hóa Phật. Mỗi vị hóa Phật cũng có rất nhiều vô số hóa Bồ Tát làm thị giả. Vô Lượng Thọ Phật có tám vạn bốn ngàn tướng, trong mỗi một tướng đều có tám vạn bốn ngàn tùy h́nh hảo. Trong mỗi một hảo, đều có tám vạn bốn ngàn quang minh. Mỗi một quang minh chiếu trọn khắp các chúng sanh niệm Phật trong mười phương thế giới, nhiếp thủ chẳng bỏ. Quang minh, tướng hảo, cùng với hóa Phật chẳng thể nói trọn, chỉ nên ức tưởng khiến cho tâm nhăn trông thấy. Trông thấy sự ấy, liền thấy mười phương hết thảy chư Phật. Do thấy chư Phật, nên gọi là Niệm Phật tam-muội. Quán tưởng như vậy gọi là Quán Thân Của Hết Thảy Các Vị Phật.

          ….Quán Vô Lượng Thọ Phật là từ một tướng hảo mà nhập quán, chỉ quán bạch hào giữa hai mày sao cho hết sức rơ rệt. Thấy tướng bạch hào giữa hai mày th́ tám vạn bốn ngàn tướng hảo tự nhiên sẽ hiện tiền. Thấy Vô Lượng Thọ Phật chính là thấy mười phương vô lượng chư Phật. Do được thấy vô lượng chư Phật, chư Phật hiện tiền thọ kư. Đấy là quán tưởng trọn khắp hết thảy các sắc thân, gọi là phép Quán thứ chín.

          …Đă thấy Vô Lượng Thọ Phật rành rẽ, phân minh rồi, kế đến, cũng nên quán Quán Thế Âm Bồ Tát. Thân vị Bồ Tát này cao tám mươi vạn ức na-do-tha do-tuần, thân có màu vàng tía, đỉnh đầu có nhục kế. Cổ có viên quang, mỗi phía rộng đến trăm ngàn do-tuần. Trong viên quang ấy, có năm trăm hóa Phật như Thích Ca Mâu Ni. Mỗi vị hóa Phật có năm trăm vị hóa Bồ Tát, vô lượng chư thiên làm thị giả. Trong quang minh nơi toàn thân, hết thảy các thân tướng của chúng sanh trong năm đường đều hiện trong ấy. Trên đỉnh đầu, dùng chất báu Tỳ Lăng Già Ma Ni để làm măo trời. Trong măo trời ấy, có một vị hóa Phật đứng, cao hai mươi lăm do-tuần. Quán Thế Âm Bồ Tát sắc mặt như vàng Diêm Phù Đàn. Tướng bạch hào giữa hai mày có màu bảy báu, tỏa ra tám vạn bốn ngàn loại quang minh. Mỗi một quang minh có vô lượng vô số trăm ngàn hóa Phật. Mỗi vị hóa Phật có vô số hóa Bồ Tát làm thị giả, biến hiện tự tại, đầy ắp các cơi trong mười phương. [Cánh tay của Bồ Tát] ví như màu hoa sen đỏ, có tám mươi ức quang minh vi diệu làm chuỗi anh lạc. Trong các chuỗi anh lạc, hiện khắp hết thảy các sự trang nghiêm. Tưởng bàn tay Ngài có màu của năm trăm ức hoa sen nhiều màu. Mười đầu ngón tay, mỗi đầu ngón tay có tám vạn bốn ngàn đường vân, ví như nét khắc trên cái ấn. Trong mỗi một đường vân, có tám vạn bốn ngàn sắc. Mỗi sắc có tám vạn bốn ngàn quang minh. Quang minh ấy mềm mại, chiếu trọn khắp hết thảy. Ngài dùng tay báu ấy để tiếp dẫn chúng sanh. Khi Ngài giở chân, dưới bàn chân có tướng bánh xe ngàn căm, tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài quang minh. Khi Ngài đặt chân xuống, có hoa kim cang ma-ni, tán rải hết thảy, không đâu chẳng đầy ắp. Những thân tướng khác, các thứ hảo trọn đủ, chẳng khác Phật, chỉ có nhục kế trên đảnh và tướng Vô Kiến Đảnh chẳng bằng đức Thế Tôn. Đấy là phép tưởng sắc thân chân thật của Quán Thế Âm Bồ Tát, gọi là phép Quán thứ mười.

          …Kế đến quán Đại Thế Chí Bồ Tát. Thân lượng của vị Bồ Tát này lớn nhỏ cũng như Quán Thế Âm. Viên quang mỗi phía đều rộng một trăm hai mươi lăm do-tuần, chiếu xa hai trăm năm mươi do-tuần. Quang minh toàn thân chiếu thấu các cơi nước trong mười phương, đều là màu vàng tía. Chúng sanh hữu duyên thảy đều trông thấy. Chỉ thấy quang minh từ một lỗ chân lông của vị Bồ Tát này, liền thấy quang minh thanh tịnh, vi diệu của mười phương vô lượng chư Phật. V́ thế, vị Bồ Tát này có hiệu là Vô Biên Quang. Ngài dùng quang minh trí huệ chiếu khắp hết thảy, khiến cho [chúng sanh] ĺa khỏi tam đồ, được vô thượng lực. V́ thế, vị Bồ Tát này có tên là Đại Thế Chí. Trong măo trời của vị Bồ Tát này, có năm trăm hoa báu. Mỗi hoa báu có năm trăm đài báu. Trên mỗi đài, tướng rộng lớn của các cơi nước thanh tịnh, nhiệm mầu của mười phương chư Phật đều hiện trong ấy. Nhục kế trên đỉnh đầu như hoa bát-đầu-ma (hoa sen hồng). Trên nhục kế, có một cái b́nh báu, chứa đầy các quang minh, hiển hiện trọn khắp các Phật sự. Các thân tướng khác giống hệt như Quán Thế Âm, chẳng khác biệt ǵ. Khi vị Bồ Tát này đi, mười phương thế giới hết thảy chấn động. Ở ngay những chỗ bị chấn động, có năm trăm ức hoa báu. Mỗi một hoa báu trang nghiêm, cao rạng như thế giới Cực Lạc. Khi vị Bồ Tát này ngồi, cơi nước bảy báu cùng lúc rúng động. Từ cơi Phật Kim Quang ở phương dưới cho đến cơi Phật Quang Minh Vương ở phương trên, trong khoảng giữa ấy, vô lượng phân thân của Vô Lượng Thọ Phật, phân thân Quán Thế Âm và Phật thân Đại Thế Chí số lượng nhiều như vi trần thảy đều như mây nhóm họp trong cơi nước Cực Lạc, đầy nghẹt hư không. Các vị ngồi trên ṭa hoa sen, diễn nói diệu pháp, độ chúng sanh khổ năo. Tu phép Quán này, gọi là quán thấy Đại Thế Chí Bồ Tát. Đây là quán tưởng sắc thân của ngài Đại Thế Chí. Quán vị Bồ Tát này th́ gọi là phép Quán thứ mười một.

          …Khi thấy chuyện này, hăy nên dấy ḷng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới: Tưởng ngồi xếp bằng ở trong hoa sen, tưởng hoa sen khép lại, tưởng hoa sen nở ra. Khi hoa sen nở, tưởng có năm trăm tia sáng nhiều màu chiếu vào thân. Tưởng khi mở mắt, sẽ thấy Phật, Bồ Tát đầy ắp hư không. Những âm thanh do nước, chim, cây cối, cùng với [âm thanh do] chư Phật phát ra, đều diễn diệu pháp tương ứng với mười hai bộ kinh. Khi xuất Định, ghi nhớ chẳng quên. Đă thấy chuyện ấy rồi, th́ gọi là thấy thế giới Cực Lạc của Vô Lượng Thọ Phật. Đấy là phép tưởng Phổ Quán, gọi là phép Quán thứ mười hai.

          …Nếu ai muốn chí tâm sanh về Tây Phương, trước hết, hăy nên quán trên mặt nước trong ao, có một tượng cao một trượng sáu thước. Như đă nói trong phần trên, thân lượng Vô Lượng Thọ Phật vô biên, tâm lực của phàm phu chẳng thể tưởng nổi; nhưng do sức túc nguyện của đức Như Lai ấy, hễ có ai ức tưởng, ắt sẽ được thành tựu. Chỉ tưởng h́nh tượng Phật ấy, sẽ được vô lượng phước. Huống hồ lại c̣n quán thân tướng trọn đủ của Phật! A Di Đà Phật thần thông như ư, trong các cơi nước ở mười phương, Ngài biến hiện tự tại. Hoặc hiện thân lớn đầy chật hư không, hoặc hiện thân nhỏ, một trượng sáu thước, hoặc tám thước. Những thân đă hiện đều là màu vàng ṛng. Hóa Phật trong viên quang và hoa sen báu đều như trong phần trên đă nói. Hết thảy mọi nơi trên thân của Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát giống như nhau. Chúng sanh chỉ quán tướng đầu, sẽ biết là Quán Thế Âm hay biết là Đại Thế Chí. Hai vị Bồ Tát ấy giúp A Di Đà Phật hóa độ trọn khắp hết thảy. Đấy là Tạp Tưởng Quán, gọi là phép Quán thứ mười ba.    

          Thượng phẩm thượng sanh là nếu có chúng sanh, nguyện sanh về cơi ấy, phát ra ba thứ tâm, liền được văng sanh. Những ǵ là ba? Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm, ba là hồi hướng phát nguyện tâm. Người trọn đủ ba tâm, ắt sanh về cơi ấy. Lại có ba loại chúng sanh sẽ được văng sanh, những ǵ là ba? Một là từ tâm chẳng giết, đầy đủ các giới hạnh. Hai là đọc tụng kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng. Ba là tu hành sáu niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh về cơi ấy. Có đủ các công đức ấy, từ một ngày cho đến bảy ngày, sẽ liền được văng sanh.

          …Thượng phẩm trung sanh là chẳng cần thọ tŕ, đọc tụng kinh điển Phương Đẳng, khéo hiểu nghĩa thú. Đối với Đệ Nhất Nghĩa, tâm chẳng kinh động, tin sâu nhân quả, chẳng phỉ báng Đại Thừa, đem công đức ấy hồi hướng nguyện cầu sanh về cơi Cực Lạc.

          …Thượng phẩm hạ sanh là cũng tin nhân quả, chẳng phỉ báng Đại Thừa, chỉ phát vô thượng đạo tâm. Dùng công đức ấy, hồi hướng nguyện cầu, sanh về cơi Cực Lạc.

          …Trung phẩm thượng sanh là nếu có chúng sanh thọ tŕ Ngũ Giới, tŕ Bát Quan Trai Giới, tu hành các giới, chẳng tạo Ngũ Nghịch, chẳng có các lầm lỗi. Đem thiện căn ấy, hồi hướng nguyện cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.

          …Trung phẩm trung sanh là nếu có chúng sanh, hoặc một ngày, một đêm tŕ Bát Quan Trai Giới, hoặc một ngày, một đêm tŕ giới Sa Di, hoặc một ngày, một đêm tŕ giới Cụ Túc, chẳng thiếu oai nghi. Đem công đức ấy, hồi hướng nguyện cầu sanh về cơi Cực Lạc.

          …Trung phẩm hạ sanh là nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân hiếu dưỡng cha mẹ, thực hành ḷng nhân từ thế gian, người ấy khi mạng sắp chấm dứt, gặp thiện tri thức v́ người ấy rộng nói những chuyện vui trong cơi nước của A Di Đà Phật, và cũng nói bốn mươi tám đại nguyện của tỳ-kheo Pháp Tạng. Người ấy nghe những chuyện đó xong, ngay lập tức mạng chung. Ví như trong khoảng tráng sĩ co duỗi cánh tay, liền sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.

          …Hạ phẩm thượng sanh là nếu có chúng sanh, tạo các ác nghiệp. Tuy chẳng phỉ báng kinh điển Phương Đẳng, kẻ ngu như thế tạo nhiều pháp ác, chẳng có ḷng hổ thẹn, lúc mạng sắp hết, gặp thiện tri thức v́ người ấy nói danh tự, tựa đề của mười hai bộ kinh Đại Thừa. Do nghe tên của các kinh như vậy, trừ được ác nghiệp cực nặng trong ngàn kiếp. Người trí lại dạy kẻ ấy chắp tay, xưng Nam-mô A Di Đà Phật. Do xưng danh hiệu, trừ khử tội lỗi trong năm mươi kiếp sanh tử.

          …Hạ phẩm trung sanh là nếu có chúng sanh hủy phạm năm giới, tám giới, và Cụ Túc Giới. Kẻ ngu như thế ăn trộm vật của Tăng-kỳ, ăn trộm vật dụng của hiện tiền tăng, thuyết pháp bất tịnh, chẳng có ḷng hổ thẹn, dùng các ác nghiệp để tự trang nghiêm. Tội nhân như thế do v́ ác nghiệp, đáng phải đọa địa ngục. Khi mạng sắp chết, các thứ lửa địa ngục cùng lúc ùa tới. Gặp thiện tri thức do ḷng đại từ bi, liền v́ kẻ ấy khen nói thập lực oai đức của A Di Đà Phật, khen ngợi rộng răi quang minh và thần lực của đức Phật ấy, và cũng khen ngợi Giới, Định, Huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Kẻ đó nghe xong, trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Lửa dữ địa ngục hóa thành gió trong mát, thổi các hoa trời. Trên hoa đều có hóa Phật, hóa Bồ Tát đón tiếp kẻ ấy.

            …Hạ phẩm hạ sanh là nếu có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện, Ngũ Nghịch, Thập Ác, đầy đủ các điều bất thiện. Kẻ ngu như thế, do v́ ác nghiệp, đáng đọa ác đạo, trải qua nhiều kiếp chịu khổ vô cùng. Kẻ ngu như thế, khi lâm chung, gặp thiện tri thức an ủi đủ mọi cách, v́ kẻ ấy nói diệu pháp, dạy kẻ ấy niệm Phật. Kẻ ấy bị khổ năo bức bách, chẳng rảnh để niệm Phật. Thiện hữu bảo rằng: “Nếu ông chẳng thể niệm đức Phật ấy, hăy nên xưng Vô Lượng Thọ Phật. Chí tâm như thế, khiến cho tiếng niệm chẳng dứt, trọn đủ mười niệm, xưng nam-mô A Di Đà Phật”. Do xưng danh hiệu Phật, trong mỗi niệm, trừ tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Khi mạng chung, thấy hoa sen bằng vàng như vầng mặt trời ở trước kẻ ấy, như trong khoảng một niệm, liền được văng sanh).

 

* Bạt Pha Bồ Tát Kinh

(拔陂菩薩經)

 

          Bồ Tát bạch y giả, nhược học giả, văn A Di Đà Phật sở tại quốc, thường đương niệm kỳ phương, vô hủy lậu ư giới. Ư giới ấm, mạc dụng loạn ư, tịnh tâm niệm nhất nhật nhất dạ chí thất nhật thất dạ. Như thị thất nhật thất dạ tất niệm, tiện khả kiến A Di Đà Phật (CBETA, T13, no.419, p.922, a12-16).

          菩薩白衣者。若學者。聞阿彌陀佛所在國。常當念其方。無毀漏於戒。於戒陰莫用亂意。凈心念一日一夜至七日七夜。如是七日七夜畢念。便可見阿彌陀佛。

          (Hàng Bồ Tát tại gia, hoặc là người học, nghe nói cơi nước có A Di Đà Phật đang ngự, hăy thường nên nghĩ đến chỗ ấy, chẳng hủy phạm, sai sót nơi giới. Đối với giới ấm, chẳng loạn ư, tịnh tâm niệm từ một ngày, một đêm cho đến bảy ngày, bảy đêm. Niệm xong bảy ngày, bảy đêm như thế, sẽ có thể thấy A Di Đà Phật).

 

* Chư Pháp Vô Hành Kinh

(諸法無行經)

 

          Ngă vị tằng kiến văn, từ bi nhi hành năo, hỗ cộng tương sân khuể, nguyện sanh A Di Đà. Nhược nhân như hằng sa, ác khẩu gia đao trượng. Như thị giai năng nhẫn, tắc sanh thanh tịnh độ (CBETA, T15, no.650, p. 751, c15-19).

          我未曾見聞。慈悲而行惱。互共相嗔恚。願生阿彌陀。若人如恆河。惡口加刀杖。如是皆能忍。則生清凈土。

          (Ta chưa từng thấy nghe người có ḷng từ bi mà làm chuyện năo hại, giận hờn người khác, nguyện sanh về cơi A Di Đà. Nếu người đông như cát sông Hằng, nói lời thô ác, cùng dùng đao, gậy [làm hại] mà đều có thể nhẫn như thế, sẽ sanh về cơi thanh tịnh).

 

* Bất Không Quyến Tác Thần Biến Chân Ngôn Kinh

(不空罥索神變真言經)

 

          Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, tiên thọ Bồ Tát giới, nhị bách ngũ thập giới, ngũ bách giới, ngũ giới, thập giới, bát giới, tam quy y giới, văn loa thanh giả, đương xả thân dĩ, trực văng Tây Phương Cực Lạc quốc độ, liên hoa hóa sanh, trụ Bất Thoái Chuyển (CBETA, T20, no.1092, p.323, b21-24).

          若有善男子善女人。先受菩薩戒、二百五十戒、五百戒、五戒、十戒、八戒、三歸依戒。聞螺聲者當捨身已。直往西方極樂國土。蓮花化生。住不退轉。

          (Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân trước hết thọ Bồ Tát giới, hai trăm năm mươi giới, năm trăm giới, năm giới, mười giới, tám giới, tam quy y giới, nghe tiếng tù và, sẽ xả thân, về thẳng cơi nước Tây Phương Cực Lạc, hóa sanh trong hoa sen, trụ Bất Thoái Chuyển).

 

* Phật Thuyết A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh

(佛說阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經)

 

          Nhược hữu thọ tŕ bỉ Phật danh hiệu, ức niệm bất vong, thập nhật, thập dạ, trừ xả tán loạn, tinh cần tu tập Niệm Phật tam-muội, tri bỉ Như Lai, thường hằng trụ ư An Lạc thế giới, ức niệm tương tục, vật linh đoạn tuyệt (CBETA, T12, no.370, p.352, b28-c2).

          若有受持彼佛名號。憶念不忘。十日十夜。除舍散亂。精勤修習念佛三昧。知彼如來。常恆住於安樂世界。憶念相續。勿令斷絕。

          (Nếu có người thọ tŕ danh hiệu của đức Phật ấy, nghĩ nhớ chẳng quên, mười ngày, mười đêm, trừ bỏ tán loạn, siêng năng chuyên ṛng tu tập Niệm Phật tam-muội, biết đức Như Lai ấy thường luôn trụ trong thế giới An Lạc, liên tục nghĩ nhớ, đừng để đoạn tuyệt).

 

* Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh

(大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經)

 

          Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân ngũ thập nhị Bồ Tát, tức tùng ṭa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: “Ngă ức văng tích Hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang. Thập nhị Như Lai tương kế nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo ngă Niệm Phật tam-muội. Thí như hữu nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhân chuyên vong. Như thị nhị nhân, nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến, nhị nhân tương ức, nhị ức niệm thâm. Như thị năi chí tùng sanh chí sanh, đồng ư h́nh ảnh, bất tương quai dị. Thập phương Như Lai, liên niệm chúng sanh, như mẫu ức tử. Nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi. Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời, mẫu tử lịch sanh, bất tương vi viễn. Nhược chúng sanh tâm, ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật, khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai. Như nhiễm hương nhân, thân hữu hương khí. Thử tắc danh viết Hương Quang Trang Nghiêm. Ngă bổn nhân địa, dĩ niệm Phật tâm, nhập Vô Sanh Nhẫn. Kim ư thử giới, nhiếp niệm Phật nhân, quy ư Tịnh Độ. Phật vấn viên thông, ngă vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc tam-ma-địa, tư vi đệ nhất” (CBETA, T19, no.945, p.128, a21-b6).

          大勢至法王子。與其同倫五十二菩薩。即從座起。頂禮佛足而白佛言。我憶往昔恆河沙劫。有佛出世。名無量光。十二如來相繼一劫。其最後佛。名超日月光。彼佛教我念佛三昧。譬如有人。一專為憶。一人專忘。如是二人。若逢不逢。或見非見。二人相憶。二憶念深。如是乃至從生至生。同於形影。不相乖異。十方如來。憐念眾生。如母憶子。若子逃逝。雖憶何為。子若憶母。如母憶時。母子歷生。不相違遠。若眾生心。憶佛念佛。現前當來。必定見佛。去佛不遠。不假方便。自得心開。如染香人。身有香氣。此則名曰香光莊嚴。我本因地。以念佛心。入無生忍。今於此界。攝念佛人。歸於凈土。佛問圓通。我無選擇。都攝六根。凈念相繼。得三摩地。斯為第一。

          (Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, cùng với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng hàng với Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: -Con nhớ Hằng hà sa kiếp xưa kia, có Phật xuất thế, tên là Vô Lượng Quang. Mười hai đức Như Lai nối tiếp nhau xuất thế trong một kiếp. Vị Phật cuối cùng, tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Đức Phật ấy dạy con Niệm Phật tam-muội. Ví như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế, dẫu gặp mà như chẳng gặp, dẫu thấy mà như chẳng thấy. Hai người nhớ nhau, hai đằng nhớ nhau sâu đậm. Như thế cho đến từ đời này sang đời khác, như h́nh với bóng, chẳng hề sai khác. Mười phương Như Lai thương xót chúng sanh, như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ trốn, tuy mẹ nhớ mà chẳng làm sao được! Nếu con nhớ mẹ, như khi mẹ nhớ con, mẹ và con trải qua các đời chẳng chống trái, xa cách nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ vào phương tiện, tâm tự mở mang. Như người nhuốm mùi hương, thân có mùi thơm. Đó gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Lúc con c̣n tu nhân, vốn dùng cái tâm niệm Phật để nhập Vô Sanh Nhẫn. Nay trong cơi này, nhiếp thủ người niệm Phật trở về Tịnh Độ. Phật hỏi về phép Viên Thông, con chẳng chọn lựa, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc tam-ma-địa, đấy là bậc nhất).

 

* Phật Thuyết Vô Thường Kinh Phụ Lâm Chung Phương Quyết

(佛說無常經附臨終方訣)

 

          Đản linh bệnh giả, hữu hiếp trước địa, hiệp chưởng, chí tâm, diện hướng Tây Phương… vị tuyên thuyết Phật độ nhân duyên, thập lục quán đẳng, do như Tây Phương Vô Lượng Thọ quốc, nhất nhất cụ thuyết, linh bệnh giả tâm nhạo sanh Tịnh Độ. Vị thuyết pháp dĩ, phục giáo đế quán, tùy hà phương quốc, Phật thân, tướng hảo. Quán tướng hảo dĩ… Phục linh bệnh nhân xưng bỉ Phật danh, thập niệm thành tựu (CBETA, T17, no.801, p.746).

          但令病者。右脅着地,合掌至心,面向西方。為宣說佛土因緣。十六觀等。由如西方無量壽國。一一具說。令病者心樂生凈土。為說法已,復教諦觀,隨何方國,佛身相好。觀相好已。復令病人稱彼佛名。十念成就。

          (Chỉ nên bảo người bệnh, nằm bên hông phải, chắp tay, chí tâm, mặt hướng về phương Tây… v́ người ấy tuyên nói nhân duyên của cơi Phật ấy, mười sáu phép Quán v.v… ví như cơi của Vô Lượng Thọ ở Tây Phương, mỗi mỗi đều nói đầy đủ, khiến cho người bệnh tâm ưa thích mong sanh về Tịnh Độ. Đă v́ người ấy nói rồi, lại dạy quán chắc thật, tùy theo cơi nước ở phương nào mà [quán tưởng] thân Phật và tướng hảo. Đă quán tướng hảo xong… lại dạy người bệnh xưng danh hiệu đức Phật ấy, mười niệm thành tựu).

 

* Bồ Tát Thọ Trai Kinh

(菩薩受齋經)

 

          Như chư Bồ Tát lục vạn Bồ Tát pháp trai, nhật dạ nhất phần Thiền, nhất phần độc kinh, nhất phần ngọa. Thị vi Bồ Tát trai nhật pháp. Chánh nguyệt thập tứ nhật thọ, thập thất nhật giải. Tứ nguyệt bát nhật thọ, thập ngũ nhật giải. Thất nguyệt nhất nhật thọ, thập lục nhật giải. Cửu nguyệt thập tứ nhật thọ, thập lục nhật giải. Hữu trai nhật số, quy mạng Tây Phương A Di Đà Tam Da Tam Phật Đàn Cáp Lâu Hỗ Ma Ha Na Bát Bồ Tát, tam độc tiêu trừ, văng sanh tôn tiền (CBETA, T24, no.1502, p.1116, b22-29).

          如諸菩薩六萬菩薩法齋。日夜一分禪。一分讀經。一分卧。是為菩薩齋日法。正月十四日受。十七日解。四月八日受。十五日解。七月一日受。十六日解。九月十四日受。十六日解。右齋日數。歸命西方阿彌陀三耶三佛檀廅樓互摩訶那缽菩薩。三毒消除。往生尊前。

          (Như sáu vạn Bồ Tát pháp trai của các vị Bồ Tát, [trong mỗi] ngày đêm, dùng một phần thời gian để Thiền, một phần để đọc kinh, và một phần để nghỉ ngơi. Đấy là cách [hành tŕ] trong một ngày trai của Bồ Tát. Thọ vào ngày Mười Bốn tháng Giêng, ngày Mười Bảy xả. Ngày mồng Tám tháng Tư thọ, ngày Rằm xả. Ngày mồng Một tháng Bảy thọ, ngày Mười Sáu xả. Ngày Mười Bốn tháng Chín thọ, ngày Mười Sáu xả. Trong các hôm trai nhật trên đây, hăy quy mạng Tây Phương A Di Đà Chánh Đẳng Chánh Giác, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát, tam độc tiêu trừ, sanh về trước mặt các vị ấy).

 

* Đại Thừa Đại Phương Đẳng Nhật Tạng Kinh

(大乘大方等日藏經)

 

          Phật ngôn: - Dục sanh thanh tịnh Phật sát, bất sanh chướng ngại, nhi thử chúng sanh, ưng tịnh tẩy dục, trước tiên khiết y, thái sắc trường trai, vật đạm tân xú, ư tịch tĩnh xứ, chánh niệm kết già, hoặc hành, hoặc tọa, niệm Phật thân tướng, cánh mạc tha duyên. Hoặc nhất nhật dạ, hoặc thất nhật dạ, chí tâm niệm Phật, năi chí kiến Phật, tiểu niệm kiến tiểu, đại niệm kiến đại. Năi chí vô lượng niệm giả, kiến Phật sắc thân, vô lượng vô biên (CBETA, T47, no.1969A, p.160, a21-27).

          佛言。欲生清凈佛剎。不生障礙。而此眾生。應凈洗浴。着鮮潔衣。菜色長齋。勿啖辛臭。於寂靜處。正念結跏。或行或坐。念佛身相。更莫他緣。或一日夜。或七日夜。至心念佛。乃至見佛。小念見小。大念見大。乃至無量念者。見佛色身。無量無邊。

          (Đức Phật dạy: - Muốn sanh về cơi Phật thanh tịnh, chẳng sanh chướng ngại th́ những chúng sanh ấy hăy nên tắm gội sạch sẽ, mặc áo sạch sẽ, ăn chay trường với thực vật, đừng ăn những thứ cay nồng, hôi thối, ở chỗ vắng lặng, chánh niệm, ngồi kết già, hoặc đi, hoặc ngồi, niệm thân tướng của Phật, đừng nghĩ đến các duyên khác. Hoặc một ngày đêm, hoặc bảy ngày đêm, chí tâm niệm Phật cho đến khi thấy Phật. Niệm nhỏ sẽ thấy [h́nh tượng Phật] nhỏ, niệm lớn sẽ thấy lớn. Cho đến vô lượng niệm, sẽ thấy sắc thân của Phật vô lượng vô biên).

 

* Tư Duy Lược Yếu Pháp

(思惟略要法)

 

          Quán Vô Lượng Thọ Phật giả, hữu nhị chủng nhân. Độn căn giả, tiên đương giáo linh tâm nhăn quán sát ngạch thượng nhất thốn, trừ khước b́ nhục, đản kiến xích cốt, hệ niệm tại duyên, bất linh tha niệm. Tâm nhược dư duyên, nhiếp chi linh hoàn. Đắc như thị kiến giả, đương phục giáo linh biến thử xích cốt, tích phương nhất thốn, linh bạch như kha. Kư đắc như thị kiến, đương cánh giáo linh biến thử cốt thân sử thử lưu ly quang sắc, thanh tịnh thị biểu triệt lư. Kư đắc như thị kiến giả, đương phục giáo linh tùng thử lưu ly thân trung, phóng bạch quang minh tự cận cập viễn, biến măn Diêm Phù, duy kiến quang minh, bất kiến chư vật. Hoàn nhiếp quang minh, nhập ư thân trung. Kư nhập chi hậu, phục phóng như sơ. Phàm thử chư quán, tùng dị cập nan. Kỳ bạch diệc ưng sơ thiểu hậu đa. Kư năng như thị, đương tùng thân trung phóng thử bạch quang. Năi ư quang trung, quán Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ Phật, kỳ thân xu đại, quang minh diệc diệu, Tây hướng đoan tọa, tướng tướng đế thủ. Nhiên hậu tổng quán kỳ thân, kết già phu tọa, nhan dung nguy nguy, như tử kim sơn, hệ niệm tại Phật, bất linh tha duyên. Tâm nhược dư duyên, nhiếp chi linh hoàn. Thường như dữ Phật đối tọa bất dị. Như thị bất cửu, tiện khả đắc kiến. Nhược lợi căn giả, đản đương tiên tác minh tưởng, hoảng nhiên không tịnh, năi ư minh trung quán Phật, tiện khả đắc kiến. Hành giả dục dục sanh ư Vô Lượng Thọ Phật quốc giả, đương tác như thị quán Vô Lượng Thọ Phật dă. Dục sanh Vô Lượng Thọ Phật quốc giả, ưng đương như thị thượng quán Vô LượngThọ Phật. Hựu quán chư pháp Thật Tướng, nhi ư chúng sanh thường hưng đại bi. Sở hữu thiện bổn tận dĩ hồi hướng, nguyện sanh Vô Lượng Thọ Phật quốc, tiện đắc văng sanh (CBETA, T15, no.617, p.300, b22-23).

          觀無量壽佛者。有二種人。鈍根者。先當教令心眼觀察額上一寸。除卻皮肉。但見赤骨。繫念在緣。不令他念。心若余緣。攝之令還。得如是見者。當復教令變此赤骨。辟方一寸。令白如珂。既得如是見。當更教令變此骨身使此琉璃光色。清凈視表徹里。既得如是見者。當復教令從此琉璃身中。放白光明。自近及遠。遍滿閻浮。惟見光明。不見諸物。還攝光明。入於身中。既入之後。復放如初。凡此諸觀。從易及難。其白亦應初少后多。既能如是。當從身中放此白光。乃於光中。觀無量壽佛。無量壽佛。其身姝大。光明亦妙。西向端坐。相相諦取。然後總觀其身。結跏趺坐。顏容巍巍。如紫金山。繫念在佛。不令他緣。心若余緣。攝之令還。常如與佛對坐不異。如是不久。便可得見。若利根者。但當先作明想。晃然空凈。乃於明中觀佛。便可得見。行者欲欲生於無量壽佛國者。當作如是觀無量壽佛也。欲生無量壽佛國者。應當如是上觀無量壽佛。又觀諸法實相。而於眾生常興大悲。所有善本盡以迴向。願生無量壽佛國。便得往生。

          (Kẻ quán Vô Lượng Thọ Phật th́ có hai hạng người. Đối với kẻ độn căn, trước hết hăy dạy cho kẻ ấy dùng tâm nhăn quán sát phía trên trán một tấc, trừ bỏ da thịt ra, chỉ thấy xương đỏ. Hăy duyên vào đó để hệ niệm, đừng nghĩ chi khác. Nếu tâm duyên theo điều khác, hăy nhiếp tâm trở lại đó. Được thấy như thế, lại dạy [hành nhân quán tưởng], biến miếng xương đỏ ấy tách ra vuông vức chừng một tấc, tưởng xương trắng như ngọc. Đă được thấy như thế, hăy nên dạy kẻ đó tưởng xương nơi thân này biến thành có màu sắc và sáng ngời như lưu ly, thanh tịnh nh́n thấu suốt từ ngoài vào trong. Đă được thấy như thế, lại nên dạy kẻ ấy từ trong thân lưu ly ấy, tỏa quang minh màu trắng từ gần đến xa. Trọn khắp cơi Diêm Phù, chỉ thấy quang minh, chẳng thấy các vật. Thâu hồi quang minh trở lại, nhập vào trong [thân thể]. Đă nhập rồi, lại tỏa ra như trước. Phàm các phép quán này, [hăy nên tu tập] từ dễ đến khó. Đối với ánh sáng trắng cũng nên [quán tưởng] trước ít, sau nhiều. Đă có thể như vậy, hăy nên từ trong thân, tỏa ra ánh sáng trắng ấy. Ở trong ánh sáng, quán Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ Phật thân thể đẹp đẽ, to lớn, quang minh cũng mầu nhiệm. Ngồi ngay ngắn hướng về Tây, quán chắc chắn từng tướng một. Sau đấy bèn quán chung thân Ngài, ngồi xếp bằng, dung nhan ṿi vọi như ṭa núi vàng tía. Hăy hệ niệm đức Phật, chẳng duyên theo những điều khác. Nếu tâm duyên theo những điều khác, hăy nhiếp tâm trở lại. Hăy thường như ngồi đối diện với Phật, chẳng khác! Như thế th́ chẳng lâu sau, sẽ có thể được thấy. Nếu là kẻ lợi căn, chỉ nên trước hết tưởng quang minh, rạng ngời, rỗng rang, thanh tịnh, rồi từ trong quang minh mà quán Phật th́ sẽ có thể được thấy. Hành giả muốn được sanh về cơi Vô Lượng Thọ Phật, hăy nên quán Vô Lượng Thọ Phật như thế. Kẻ muốn sanh về cơi Vô Lượng Thọ Phật, hăy nên quán Vô Lượng Thọ Phật như trên đây. Lại quán Thật Tướng của các pháp, đối với chúng sanh thường dấy ḷng đại bi, hồi hướng trọn hết tất cả các gốc thiện, nguyện sanh về cơi Vô Lượng Thọ Phật th́ sẽ được văng sanh).

 

* Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, Địa Tướng Phẩm

(十住毗婆沙論地相品)

 

          Bồ Tát tại Sơ Địa trung, tâm đa hoan hỷ. Niệm chư Phật giả, niệm Nhiên Đăng đẳng quá khứ chư Phật, A Di Đà đẳng hiện tại chư Phật (CBETA, T26, no.1521, p.26, b26-28).

          菩薩在初地中。心多歡喜。念諸佛者。念然燈等過去諸佛。阿彌陀等現在諸佛。

          (Bồ Tát thuộc Sơ Địa, tâm có nhiều niềm hoan hỷ. Niệm chư Phật là niệm chư Phật quá khứ như Nhiên Đăng, niệm chư Phật hiện tại như A Di Đà Phật…)

 

* Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, Dị Hành Phẩm

(十住毗婆沙論易行品)

 

          Phật tự ư kinh trung, giải thuyết như thị sự. Như nhân tham thọ giả, trảm thủ tắc đại úy, Bồ Tát diệc như thị. Nhược ư Thanh Văn địa, cập Bích Chi Phật địa, ưng sanh đại bố úy. Thị cố nhược chư Phật sở thuyết, hữu Dị Hành Đạo, tật đắc chí A Duy Việt Trí phương tiện giả, nguyện vị thuyết chi… Phật pháp hữu vô lượng môn, như thế gian đạo, hữu nan, hữu dị. Lục đạo bộ hành tắc khổ, thủy đạo thừa thuyền tắc lạc. Bồ Tát đạo diệc như thị, hoặc hữu cần hành tinh tấn. Hoặc hữu dĩ tín phương tiện dị hành, tật chí A Duy Việt Trí giả... Nhược nhân dục tật chí Bất Thoái Chuyển địa giả, ưng dĩ cung kính tâm, chấp tŕ xưng danh hiệu. Đản văn thị thập Phật danh hiệu, chấp tŕ tại tâm, tiện đắc bất thoái A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vi cánh hữu dư Phật, dư Bồ Tát danh đắc chí A Duy Việt Trí da? Đáp viết: “A Di Đà đẳng Phật, cập chư đại Bồ Tát, xưng danh nhất tâm niệm, diệc đắc bất thoái chuyển” (CBETA, T26, no.1521).

          佛自於經中。解說如是事。如人貪壽者。斬首則大畏。菩薩亦如是。若於聲聞地。及辟支佛地。應生大怖畏。是故若諸佛所說。有易行道。疾得至阿惟越致方便者。願為說之。佛法有無量門。如世間道。有難有易。陸道步行則苦。水道乘船則樂。菩薩道亦如是。或有勤行精進。或有以信方便易行。疾至阿惟越致者。若人慾疾至。不退轉地者。應以恭敬心。執持稱名號。但聞是十佛名號。執持在心。便得不退阿耨多羅三藐三菩提。為更有餘佛余菩薩名。得至阿惟越致耶。答曰。阿彌陀等佛。及諸大菩薩。稱名一心念。亦得不退轉。

          (Từ trong kinh, đức Phật đă giải thích chuyện như thế này: Như kẻ tham sống lâu, rất sợ bị chém đầu. Bồ Tát cũng giống như vậy. Đối với địa vị Thanh Văn và địa vị Bích Chi Phật, hăy nên sanh ḷng sợ hăi to lớn. Do vậy, như chư Phật đă nói, có Dị Hành Đạo (đạo dễ hành) là phương tiện mau chóng để đạt tới A Duy Việt Trí (A Bệ Bạt Trí, Bất Thoái Chuyển), xin hăy nói cho…

          Phật pháp có vô lượng môn, như đường đi trong thế gian có dễ, có khó. Đi bộ theo đường trên đất liền, sẽ khổ sở; theo đường thủy ngồi thuyền sẽ vui sướng. Bồ Tát đạo cũng giống như thế, có con đường cần phải siêng năng, tinh tấn hành tŕ; hoặc có con đường dùng phương tiện tín nguyện dễ hành, mau chóng đạt tới A Duy Việt Trí… Nếu ai muốn mau chóng đạt tới địa vị Bất Thoái Chuyển, hăy nên dùng cái tâm cung kính để chấp tŕ, xưng danh hiệu.

          Chỉ nghe mười danh hiệu ấy của đức Phật (tức Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Thiện Thệ v.v…), chấp tŕ trong tâm, sẽ được chẳng lui sụt nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vậy th́ có danh hiệu Phật hay danh hiệu Bồ Tát nào khác, [khiến cho hành giả chấp tŕ] sẽ đạt được địa vị A Duy Việt Trí hay không? Đáp rằng: “Xưng danh, nhất tâm niệm A Di Đà Phật và danh hiệu của các vị đại Bồ Tát th́ cũng được bất thoái chuyển).

 

* Đại Trí Độ Luận, quyển nhị thập nhất

(大智度論卷二十一)

 

          Phục thứ, niệm Phật Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Kiến, đại từ, đại bi, thập lực, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, thập bát bất cộng pháp đẳng. Niệm như Phật sở tri vô lượng bất khả tư nghị chư công đức. Thị danh niệm Phật. Thị niệm tại Thất Địa trung, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Hữu lậu giả hữu báo, vô lậu giả vô báo. Tam căn tương ứng, lạc, hỷ, xả căn, hành đắc, diệc quả báo đắc. Hành đắc giả như thử gian quốc trung học Niệm Phật tam-muội. Quả báo đắc giả như Vô Lượng Thọ Phật nhân sanh tức năng niệm Phật (CBETA, T25, no.1509, p.221, b1-8).

          復次。念佛一切智、一切見、大慈、大悲、十力、四無所畏、四無礙智、十八不共法等。念如佛所知無量不可思議諸功德。是名念佛。是念在七地中。或有漏。或無漏。有漏者有報。無漏者無報。三根相應。樂喜舍根。行得亦果報得。行得者如此間國中學念佛三昧。果報得者。如無量壽佛國人生即能念佛。

          (Lại nữa, niệm Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Kiến, đại từ, đại bi, thập lực, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, mười tám pháp bất cộng v.v… của Phật. Niệm vô lượng các công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật như đă biết. Đấy gọi là niệm Phật. Cách niệm này thuộc về Thất Địa, có hữu lậu và vô lậu. Hữu lậu là có báo, c̣n vô lậu là không có báo. Ba căn tương ứng với Lạc căn, Hỷ căn và Xả căn. [Cách niệm Phật này] cũng [có hai loại là] đạt được do tu tập và đạt được do quả báo. Đạt được do tu tập là như ở trong cơi thế gian này mà học Niệm Phật tam-muội. Do quả báo mà đạt được là như người sanh trong nước Vô Lượng Thọ Phật sẽ liền có thể niệm Phật [theo cách này]).

 

* Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sanh Kệ

(無量壽經優波提舍願生偈)

 

          Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân tu ngũ niệm môn thành tựu giả, tất cánh đắc sanh An Lạc quốc độ, kiến A Di Đà Phật. Hà đẳng ngũ niệm môn? Nhất giả lễ bái môn, nhị giả tán thán môn, tam giả tác nguyện môn, ngũ giả hồi hướng môn. Vân hà lễ bái? Thân nghiệp lễ bái A Di Đà Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, vị sanh bỉ quốc ư cố. Vân hà tán thán? Khẩu nghiệp tán thán xưng bỉ Như Lai danh. Như bỉ Như Lai quang minh trí tướng, như bỉ danh nghĩa, dục như thật tu hành tương ứng cố. Vân hà tác nguyện? Tâm thường tác nguyện, nhất tâm chuyên niệm tất cánh văng sanh An Lạc quốc độ, dục như thật tu hành Xa-ma-tha cố. Vân hà quán sát? Trí huệ quán sát, chánh niệm quán bỉ. Dục như thật tu hành Tỳ Bà Xá Na cố. Bỉ quán sát hữu tam chủng, hà đẳng tam chủng? Nhất giả quán sát bỉ Phật quốc độ công đức trang nghiêm. Nhị giả quán sát A Di Đà Phật công đức trang nghiêm. Tam giả quán sát bỉ chư Bồ Tát công đức trang nghiêm. Vân hà hồi hướng? Ư bỉ quán sát bất xả nhất thiết khổ năo chúng sanh, đồng nguyện sanh bỉ An Lạc quốc độ. Nguyện tâm sở hữu công đức thiện căn, dĩ xảo phương tiện, tác nguyện hồi hướng, nhiếp thủ chúng sanh, bất xả nhất thiết cố. Quán sát bỉ Phật quốc độ công đức trang nghiêm giả, hữu thập thất chủng sự ưng tri. Hà giả thất thập? Nhất giả thanh tịnh công đức thành tựu. Nhị giả vô lượng công đức thành tựu. Tam giả tánh công đức thành tựu. Tứ giả h́nh tướng công đức thành tựu. Ngũ giả chủng chủng sự công đức thành tựu. Lục giả diệu sắc công đức thành tựu. Thất giả xúc công đức thành tựu. Bát giả trang nghiêm công đức thành tựu. Cửu giả vũ công đức thành tựu. Thập giả quang minh công đức thành tựu. Thập nhất giả thanh công đức thành tựu. Thập nhị giả chủ công đức thành tựu. Thập tam giả quyến thuộc công đức thành tựu. Thập tứ giả thọ dụng công đức thành tựu. Thập ngũ giả vô chư nạn công đức thành tựu. Thập lục giả đại nghĩa môn công đức thành tựu. Thập thất giả nhất thiết sở cầu công đức thành tựu… Quán Phật công đức trang nghiêm thành tựu giả, hữu bát chủng ưng tri. Nhất giả ṭa trang nghiêm. Nhị giả thân trang nghiêm. Tam giả khẩu trang nghiêm. Tứ giả tâm trang nghiêm. Ngũ giả chúng trang nghiêm. Lục giả thượng thủ trang nghiêm. Thất giả chủ trang nghiêm. Bát giả bất hư tác trụ tŕ trang nghiêm… Quán Bồ Tát công đức trang nghiêm thành tựu giả, quán bỉ Bồ Tát hữu tứ chủng chánh hạnh công đức thành tựu ưng tri, hà đẳng vi tứ? Nhất giả ư nhất Phật độ thân bất động dao, nhi biến thập phương chủng chủng ứng hóa, như thật tu hành, thường tác Phật sự… Nhị giả bỉ ứng hóa thân, nhất thiết thời bất tiền, bất hậu, nhất tâm, nhất niệm, phóng đại quang minh, tất năng biến chí thập phương thế giới, giáo hóa chúng sanh, chủng chủng phương tiện, tu hành sở tác, diệt trừ nhất thiết chúng sanh khổ cố… Tam giả bỉ ư nhất thiết thế giới, vô dư chiếu chư Phật hội đại chúng, vô dư quảng đại vô lượng cúng dường, cung kính tán thán chư Phật Như Lai... Tứ giả bỉ ư thập phương nhất thiết thế giới vô Tam Bảo xứ, trụ tŕ trang nghiêm Phật Pháp Tăng bảo công đức đại hải, biến thị linh giải, như thật tu hành... Thử tam chủng thành tựu nguyện tâm công đức trang nghiêm. Lược thuyết nhập nhất pháp cú cố. Nhất pháp cú giả, vị thanh tịnh cú. Thanh tịnh cú giả, vị chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân cố (CBETA, T26, no.1524, p.232, b23-25).                若善男子善女人。修五念門成就者。畢竟得生安樂國土。見阿彌陀佛。何等五念門。一者禮拜門。二者讚歎門。三者作願門。四者觀察門。五者迴向門。云何禮拜。身業禮拜阿彌陀如來應正遍知。為生彼國意故。云何讚歎。口業讚歎稱彼如來名。如彼如來光明智相。如彼名義。欲如實修行相應故。云何作願。心常作願。一心專念畢竟往生安樂國土。欲如實修行奢摩他故。云何觀察。智慧觀察。正念觀彼。欲如實修行毗婆舍那故。彼觀察有三種。何等三種。一者觀察彼佛國土功德莊嚴。二者觀察阿彌陀佛功德莊嚴。三者觀察彼諸菩薩功德莊嚴。云何迴向。於彼觀察不舍一切苦惱眾生。同願生彼安樂國土。願心所有功德善根。以巧方便。作願迴向。攝取眾生。不舍一切故。觀察彼佛國土功德莊嚴者。有十七種事應知。何者十七。一者清凈功德成就。二者無量功德成就。三者性功德成就。四者形相功德成就。五者種種事功德成就。六者妙色功德成就。七者觸功德成就。八者莊嚴功德成就。九者雨功德成就。十者光明功德成就。十一者聲功德成就。十二者主功德成就。十三者眷屬功德成就。十四者受用功德成就。十五者無諸難功德成就。十六者大義門功德成就。十七者一切所求功德成就。觀佛功德莊嚴成就者。有八種應知。何等八種。一者座莊嚴。二者身莊嚴。三者口莊嚴。四者心莊嚴。五者眾莊嚴。六者上首莊嚴。七者主莊嚴。八者不虛作住持莊嚴。觀菩薩功德莊嚴成就者。觀彼菩薩有四種正行功德成就應知。何等為四。一者於一佛土身不動搖。而遍十方種種應化。如實修行常作佛事。二者彼應化身。一切時不前不後。一心一念。放大光明。悉能遍至十方世界。教化眾生。種種方便。修行所作。滅除一切眾生苦故。三者彼於一切世界。無餘照諸佛會大眾。無餘廣大無量供養恭敬讚歎諸佛如來。四者彼於十方一切世界無三寶處。住持莊嚴佛法僧寶功德大海。遍示令解。如實修行。此三種成就願心功德莊嚴。略說入一法句故。一法句者。謂清凈句。清凈句者。謂真實智慧無為法身故。

          (Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tu ngũ niệm môn thành tựu, sẽ rốt ráo được sanh về cơi nước An Lạc, thấy A Di Đà Phật. Ngũ niệm môn là ǵ? Một là lễ bái môn, hai là tán thán môn, ba là tác nguyện môn, bốn là quán sát môn, năm là hồi hướng môn.

          1) Lễ bái là như thế nào? Thân nghiệp lễ bái A Di Đà Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, v́ muốn sanh về cơi ấy.

          2) Tán thán là như thế nào? Khẩu nghiệp tán thán, xưng danh hiệu của đức Như Lai ấy. Như quang minh, trí tướng, danh nghĩa của đức Như Lai ấy, v́ mong như thật tu hành tương ứng.

          3) Tác nguyện là như thế nào? Tâm thường phát nguyện, nhất tâm chuyên niệm rốt ráo văng sanh cơi nước An Lạc, v́ muốn như thật tu hành Xa-ma-tha (Chỉ).

          4) Quán sát là như thế nào? Dùng trí huệ quán sát, chánh niệm quán sát những điều ấy, v́ muốn như thật tu hành Tỳ Bà Xá Na (Quán). Sự quán sát ấy có ba loại. Những ǵ là ba?

          4.1. Một là quán sát công đức trang nghiêm của cơi Phật ấy.

          4.2. Hai là quán sát công đức trang nghiêm của A Di Đà Phật.

          4.3. Ba là quán sát công đức trang nghiêm của các vị Bồ Tát trong cơi ấy.

          5) Hồi hướng là như thế nào? Đối với những chúng sanh khổ năo đă quán sát, chẳng ĺa bỏ họ, nguyện họ cùng được sanh về cơi nước An Lạc, nguyện tâm dùng tất cả công đức, thiện căn, dùng phương tiện thiện xảo để phát nguyện, hồi hướng, nhiếp thủ chúng sanh, chẳng xả hết thảy.

          4.1. Quán sát công đức trang nghiêm của cơi nước Phật ấy, hăy nên biết có mười bảy sự. Những ǵ là mười bảy?

          - Một là thanh tịnh công đức thành tựu.

          - Hai là vô lượng công đức thành tựu.

          - Ba là tánh công đức thành tựu.

          - Bốn là h́nh tướng công đức thành tựu.

          - Năm là các thứ sự công đức thành tựu.

          - Sáu là diệu sắc công đức thành tựu.

          - Bảy là xúc công đức thành tựu.

          - Tám là trang nghiêm công đức thành tựu.

          - Chín là vũ công đức thành tựu (công đức thành tựu nơi mưa [các loại hoa trời]).

          - Mười là quang minh công đức thành tựu.

          - Mười một là thanh công đức thành tựu (công đức thành tựu nơi âm thanh của nước, chim, cây báu, quang minh).

          - Mười hai là chủ công đức thành tựu (công đức thành tựu của đức giáo chủ cơi ấy, tức A Di Đà Phật).

          - Mười ba là quyến thuộc công đức thành tựu (công đức thành tựu của Bồ Tát, Thanh Văn, trời, người trong cơi Cực Lạc).

          - Mười bốn là thọ dụng công đức thành tựu (công đức thành tựu nơi sự hưởng thụ như cung điện, ao tắm, y phục, ăn uống, du hóa tự tại cúng dường mười phương Phật v.v…).

          - Mười lăm là công đức thành tựu không có các nạn.

          - Mười sáu là đại nghĩa môn công đức thành tựu.

          - Mười bảy là công đức thành tựu hết thảy những mong cầu…

          4.2. Quán Phật công đức trang nghiêm thành tựu th́ hăy nên biết có tám thứ:          - Một là ṭa trang nghiêm.

          - Hai là thân trang nghiêm.

          - Ba là khẩu trang nghiêm.

          - Bốn là tâm trang nghiêm.

          - Năm là chúng trang nghiêm.

          - Sáu là thượng thủ trang nghiêm.

          - Bảy là chủ trang nghiêm.

          - Tám là trụ tŕ, chẳng tạo tác hư giả trang nghiêm…

          4.3. Quán công đức trang nghiêm thành tựu của Bồ Tát là quán các vị Bồ Tát ấy có bốn thứ chánh hạnh công đức thành tựu, hăy nên biết. Những ǵ là bốn?

          - Một là trong một cơi Phật, thân chẳng lay động, mà đủ loại ứng hóa trọn khắp mười phương, như thật tu hành, thường làm Phật sự…

          - Hai là ứng hóa thân của các Ngài, trong hết thảy thời, chẳng trước, chẳng sau, nhất tâm, nhất niệm, tỏa quang minh lớn, ắt đều có thể chiếu thấu trọn khắp mười phương thế giới, giáo hóa chúng sanh, thực hiện đủ mọi phương tiện, diệt trừ nỗi khổ của hết thảy chúng sanh…

          - Ba là trong hết thảy các thế giới, chiếu thấu đại chúng trong hội của chư Phật chẳng sót, cúng dường, cung kính, tán thán chư Phật Như Lai rộng lớn vô lượng, chẳng thừa sót…

          - Bốn là trong mười phương hết thảy các thế giới, nơi nào không có Tam Bảo, sẽ trụ tŕ biển lớn công đức trang nghiêm Phật Pháp Tăng Bảo, chỉ dạy trọn khắp, khiến cho họ thấu hiểu, như thật tu hành…

          Ba thứ thành tựu tâm nguyện công đức trang nghiêm ấy, nói đại lược sẽ gộp vào một pháp cú. Một pháp cú là một câu thanh tịnh. Câu thanh tịnh ấy chính là “Pháp Thân vô vi trí huệ chân thật”).

 

          Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới tam thập lục vạn ức nhất thập nhất vạn cửu thiên ngũ bách đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật.

          Tích Thích Ca Phật ư nhất tục xá trung, ông bà nhị nhân, dĩ cốc nhất đẩu kư số, cộng niệm A Di Đà Phật, nguyện sanh Tịnh Độ. Phật ngôn: Ngă hữu dị phương tiện, linh nhữ ư nhất thanh trung niệm đắc đa cốc số, toại linh niệm thượng Phật danh(CBETA, T47, no.1936A, p.161, c21-26).

          南無西方極樂世界三十六萬億一十一萬九千五百同名同號阿彌陀佛。

          昔釋迦佛於一俗舍中。翁婆二人。一斗記數。共念阿彌陀佛。願生凈土。佛言。我有異方便。令汝於一聲中念得多穀數。遂令念上佛名。

          (Nam mô ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm trăm vị Phật có cùng danh hiệu là A Di Đà Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.

          Xưa kia, Thích Ca Mâu Ni Phật ở một nhà thế tục. Hai ông bà lăo dùng một đấu gạo để ghi nhớ số, cùng niệm A Di Đà Phật, nguyện sanh Tịnh Độ. Đức Phật bảo: “Ta có phương tiện lạ, khiến cho các vị trong một câu niệm sẽ niệm được số gạo khá nhiều”).

          Chuyện trên đây được ghi trong sách Lạc Bang Văn Loại.

A Di Đà Phật Thánh Điển

Phần 3 hết

 



[1] “Tầm” () ở đây là một đơn vị đo lường thời cổ, bằng tám thước (thước Tàu).

[2] Tam Mạn Đà Bạt Đà La (Samantabhadra) là danh xưng trong tiếng Phạn của Phổ Hiền Bồ Tát.

[3] Theo Phật Học Từ Điển của Đinh Phước Bảo, A Ma Đề là phiên âm của chữ Abhetri, có nghĩa là Vô Úy. Đây cũng là một biệt danh của Quán Thế Âm Bồ Tát.

[4] Theo Phật Học Đại Từ Điển của Đinh Phước Bảo, Ca Chiên Lân Đà (Kācalindikāka) c̣n phiên âm là Ca Chiên Lân Địa, Ca Chỉ Lân Na, Ca Giá Lân Để Ca, Ca Chân Na Để Ca, Ca Lân Đà… là tên một loài chim, dịch nghĩa là Khả Ái Điểu. Kinh Chánh Pháp Niệm đă giảng rơ: “Ca Chiên Lân Đề, hải trung điểu, xúc chi đại lạc, hữu Luân Vương xuất thế, thử điểu tắc hiện” (Ca Chiên Lân Đề là một loài chim sống trong biển, chạm vào sẽ vui sướng lớn lao. Có Luân Vương xuất hiện trong cơi đời, loài chim này mới xuất hiện).

[5] Do số chữ có giới hạn nên hai câu này rất dễ gây hiểu lầm. Ư lời kệ là: Cực Lạc là cơi sanh từ thiện căn Đại Thừa, trong cơi ấy, không có những danh xưng gây nên tỵ hiềm (chán ghét, chê bai). Cho nên trong cơi ấy không có nữ nhân. Người trong Cực Lạc các căn viên măn nên không có ai là người bị thiếu khuyết các căn. Trong cơi Cực Lạc, toàn là căn tánh Đại Thừa, nên không có danh xưng Nhị Thừa. Kinh Di Đà nói đến Thanh Văn, tức là nói đến những pháp tu tập của hành giả trước khi văng sanh. Chứ nếu hành nhân tu pháp Nhị Thừa mà không hồi tiểu hướng Đại, sẽ không thể văng sanh. Lời kệ hoàn toàn không có ư nói người nữ, người tàn tật sẽ không được văng sanh.

[6] Câu này có nghĩa là đại chúng cung kính vây quanh, chiêm ngưỡng đức Thiên Nhân Trượng Phu (Thiên Nhân Trượng Phu là một trong mười đức hiệu của Phật).

[7] Theo Đinh Phước Bảo, Tu Ma Đề là tên gọi khác của Cực Lạc, có nghĩa là Diệu Ư hoặc Hảo Ư.

[8] Thế Chủ: Chủ của thế gian, danh xưng này để gọi chung các vị đại thiên chúa như Tứ Vương Thiên, Đế Thích, Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên v.v…