Bây giờ bắt đầu vào văn kinh, phải chia làm ba phần

A. Phần Tựa (từ câu: “Như thị ngã văn” đến câu “kim hiện tại thuyết pháp”)

B. Phần Chính Tông (từ câu “Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” đến câu “văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sinh bỉ quốc độ”)

C. Phần Lưu Thông (từ câu “Như ngã kim giả, tán thán A Di Ðà Phật…” cho đến hết)

 

Ba phần này gọi Sơ Thiện, Trung Thiện và Hậu Thiện, nghĩa là phần đầu, phần giữa và phần cuối, phần nào cũng hoàn thiện, cũng quan hệ.

Phần Tựa giống như đầu người ta, có đủ ngũ quan.

Phần Chính Tông giống như thân người có đủ lục phủ, ngũ tạng.

Phần Lưu Thông giống như chân tay, vận động, hành vi không ngưng trệ.

Cho nên ngài Trí Giả thích nghĩa kinh Pháp Hoa, ngay phẩm thứ nhất đều cho là phần Tựa. Về sau mười một phẩm rưỡi đều cho là phần Lưu Thông. Lại trong một thời kỳ, hai môn Bản và Tích, mỗi môn chia làm ba đoạn, thế thời từ phẩm Pháp Sư trở xuống 5 phẩm đều là phần Lưu Thông của Tích Môn.

Bởi vì phần Tựa phải là cương lĩnh của cả một bộ kinh, phần Lưu Thông là phần pháp thí không úng tắc, cả hai phần đều quan hệ rất lớn. Người sau không hiểu nghĩa ấy, thấy văn kinh hơi có chút nghĩa lý liền cho vào phần Chính Tông đến nỗi phần Tựa và phần Lưu Thông chỉ còn một ít sáo cũ. Thế thì sao gọi là phần đầu cũng hoàn thiện và phần cuối hoàn thiện được?

 

A. PHẦN TỰA (TỰ PHẬN)

Phần tựa phải chia làm hai là Thông Tự và Biệt Tự; trong phần Thông Tự là nêu lên pháp hội, thời kỳ, xứ sở và đại chúng những ai cùng được nghe phép tu Tịnh Ðộ này.

 

I. THÔNG TỰ

Kinh văn

Hán: Như thị ngã văn: Nhất thời, Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ thụ Cấp Cô Ðộc viên.

Việt: Ðúng thực như thế, chính tôi được nghe: Một thời bấy giờ, tại nước Xá Vệ, Phật ở trong vườn ông Cấp Cô Ðộc, có những cây của Thái Tử Kỳ Ðà.

Ðoạn này là mở ra hội nói phép tu Tịnh Ðộ. Ðây là lời của ngài A Nan, người chép kinh này nói ra.

Ngài nói: “Ðúng thực như thế” là Ngài nêu ra tấm lòng tín thuận của Ngài. Ngài nói: “Chính tôi được nghe” là Ngài nêu rằng: “Chính tôi nghe thầy tôi nói như thế” (hai câu này nguyên chữ Hán là: “Như thị ngã văn”)

“Một thời bấy giờ” là thời kỳ ấy, căn cơ chúng sinh đã cảm động đến tâm Phật. “Phật” là một vị giáo chủ. “Nước Xá Vệ, vườn Cấp Cô Ðộc” là chỗ Phật nói phép tu Tịnh Ðộ này.

Chân lý mầu nhiệm của Thực Tướng (Thực tướng là tâm tính của con người ta, nó đã tạo ra hết thảy các pháp như thế nào thì A Nan chép vào trong bộ kinh này đúng như thế). Thực tướng ấy từ xưa đến nay chẳng hề biến đổi, nó vẫn như như cho nên gọi là Như. Người ta y vào Lý Thực tướng mà niệm Phật cầu sinh Tịnh Ðộ, là một pháp nó tạo ra quyết định không sai, cho nên nói là Thị.

Thực tướng là cái ta chân thực sống lâu mãi mãi, không giống như cái thân người ta biến diệt đây, mà người đời nhận lầm nó là thân ta, nó chỉ là cái ta giả tạm. Ngài A Nan không bỏ cái ta giả tạm ấy cho nên Ngài vẫn xưng là “Ta”. Căn tai của Ngài phát ra cái biết nghe ở tai, chính Ngài được nghe tiếng Phật: cái nghe của Ngài với cái tiếng của Phật giống như hai cái hư không in vào nhau thì gọi là “Nghe” (1). Ý nói cái nghe với cái tiếng đều do Thực Tướng tạo ra, cùng ở trong Thực Tướng, giống như hai hư không in vào nhau thành một.

Chữ “nhất thời” là một thời gian, không phải là một pháp thực có, chỉ là lúc thầy trò đàm đạo, thầy nói trò nghe xong rồi thì gọi là “một thời”.

Nghĩa chữ “Phật”: tự mình đã giác ngộ rồi, đi giác ngộ cho người khác, mình và người đều giác ngộ đến cực điểm, làm thầy cả cõi người và cõi trời thì gọi là “Phật”.

“Xá Vệ” là tiếng Ấn Ðộ, dịch ra chữ Hán là “văn vật”, là cái tên nước lớn ở Trung Ấn Ðộ, là kinh đô của vua Ba Tư Nặc.

“Kỳ Ðà” là tiếng Ấn Ðộ, dịch nghĩa ra chữ Hán là “chiến thắng” (thắng trận) là tên của Thái Tử con vua Ba Tư Nặc.

Một quan đại thần ở nước ấy, tên Ấn Ðộ là Tu Ðạt Ða, dịch nghĩa ra chữ Hán là “Cấp Cô Ðộc” vì ông này giàu lắm, hay cấp đỡ cho người cô thân, độc thân. Ông đem vàng ra trải khắp cái vườn của thái tử Kỳ Ðà, mua lấy được để cúng Phật, cúng Tăng, thái tử cảm động quá, còn một ít đất chưa kịp lót vàng, thái tử bảo thôi, xin đem một ít đất ấy và những cây cối trong vườn cúng Phật, cúng Tăng. Vì thế mà chỗ Phật nói pháp đây được gọi bằng cả hai tên thí chủ: “Cây của ông Kỳ, vườn của ông Cấp Cô Ðộc”.

Ðoạn dưới đây nói về đại chúng có những ai cùng dự nghe phép tu Tịnh Ðộ này, trong đại chúng chia làm ba chúng: 1) Thanh Văn chúng 2) Bồ Tát chúng 3) Thiên, Nhân chúng.

Các vị Thanh Văn đứng đầu vì các Ngài là hình tướng xuất thế gian, vì các Ngài thường theo Phật, vì các Ngài là Tăng mà Phật và Pháp đều nhờ có Tăng mà lưu truyền được.

Các vị Bồ Tát ở giữa, vì các Ngài là hình tướng bất định (vừa xuất thế vừa tại thế), vì các Ngài chẳng thường theo Phật, vì các Ngài tiêu biểu cái nghĩa Trung Ðạo.

Các vị Thiên và Nhân ở sau cùng vì các Ngài là hình tướng thế gian, vì trong các ngài có lẫn cả phàm và thánh, vì các ngài là chức ngoại hộ (đứng ngoài mà bảo hộ Phật pháp).

 

1. Thanh Văn chúng

Ðây là số và loại các vị Thanh Văn.

Kinh văn

Hán: Dữ đại tỳ khưu tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.

Việt: Cùng với các bậc đại tỳ khưu tăng, có một ngàn hai trăm năm mươi vị.

“Ðại tỳ khưu” là người tu xuất gia, đã được giữ Cụ Túc Giới, tỳ-khưu là tiếng Ấn Ðộ, nguyên âm đọc là Bhikkhu, có hàm 3 nghĩa:

1) “Khất sĩ” chỉ giữ một chiếc bát để xin cơm nuôi thân, không súc tích tiền của chi cả, chuyên cầu xin lấy đạo xuất thế gian. Khất Sĩ là kẻ đi xin ăn, xin đạo.

2) “Phá ác” dùng trí tuệ chân chính để quan sát phá trừ mọi tật, các phiền não, chẳng sa đọa vào vòng ái kiến.

3) “Bố ma” đã phát tâm thụ giới, phép Yết Ma đã thành tựu, tức thời loài Ma trông thấy phải sợ hãi.

“Tăng” nguyên là Tăng-già, tiếng Ấn Ðộ đọc là Sangha, dịch nghĩa ra chữ Hán là Hòa Hợp Chúng. Cùng chứng được lý vô vi giải thoát, gọi là Lý hòa. Thân hòa: cùng ở với nhau. Miệng hòa: không cãi cọ nhau. Ý hòa: cùng đẹp lòng nhau. Kiến hòa: cùng hiểu với nhau. Lợi hòa: cùng chia với nhau, gọi là Sự hòa. Tất cả là Lục Hòa thì mới được gọi là Tăng-già, là Hòa Hợp Chúng.

Trong số 1250 vị ấy thì ba anh em ông Ca Diếp với học trò của ba ông cộng được 1.000 người. Ông Xá Lợi Phất và ông Mục Kiền Liên với học trò của hai ông cộng được 200. Bọn ông Gia Xá Tử có 50 người; đều là những người khi Phật mới thành đạo được độ thoát trước tiên, vì cảm thâm ân của Phật nên thường theo Phật.

 

Ðây là nói về địa vị và đạo đức của các ngài Thanh Văn.

Kinh văn

Hán: Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức.

Việt: Ðều là những bậc đại A La Hán, chúng đều quen biết.

“Ðại A La Hán” là tiếng Ấn Ðộ, nguyên âm đọc là Arhan, có hàm 3 nghĩa:

1. “Ứng cúng”, người được cúng dường, đó là quả Khất Sĩ.

2. “Sát tặc”, giết hết giặc phiền não, đó là quả Phá Ác.

3. “Vô sinh” không còn sinh tử nữa, đó là quả Bố Ma.

Lại có 3 bậc A La Hán khác nhau: 1) Tuệ giải thoát 2) Câu giải thoát 3) Vô nghi giải thoát.

Các vị ở đây là “vô nghi giải thoát”, cho nên gọi là Ðại A La Hán. Lại vì các vị ấy vốn là bậc Pháp Thân Ðại Sĩ (Bồ Tát đã chứng minh được Pháp Thân) thị hiện ra làm Thanh Văn để chứng thực phép tu Tịnh Ðộ là một phép bất khả tư nghì, cho nên gọi là Ðại A La Hán.

Các vị theo Phật đi thuyết pháp, gọi là “chuyển pháp luân” (lăn bánh xe pháp), làm lợi ích khắp cõi nhân và cõi thiên, cho nên được chúng đều quen biết.

 

Ðây là kể tên các vị đứng đầu:

Kinh văn

Hán: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma-ha Mục Kiền Liên, Ma-ha Ca Diếp, Ma-ha Ca Chiên Diên, Ma-ha Câu Si La, Ly Bà Ða, Chu Lợi Bàn Ðà Già, Nan Ðà, A Nan Ðà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Ðề, Tân Ðầu Lư Phả La Ðọa, Ca Lưu Ðà Di, Ma-ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Ðà, như thị đẳng chư đại đệ tử.

Việt: Là: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma-ha Mục Kiền Liên, Ma-ha Ca Diếp, Ma-ha Ca Chiên Diên, Ma-ha Câu Si La, Ly Bà Ða, Chu Lợi Bàn Ðà Già, Nan Ðà, A Nan Ðà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Ðề, Tân Ðầu Lư Phả La Ðọa, Ca Lưu Ðà Di, Ma-ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Ðà, còn nhiều các vị đệ tử khác, cũng như thế nữa.

Tuổi cao đức trọng đều tôn quý thì gọi là “trưởng lão”; lại gọi là Tôn Giả, là người đáng tôn quý.

Ngài Xá Lợi Phất (Ấn Ðộ đọc là Sariputra, chữ Hán là Thân Tử), trong hàng Thanh Văn, Ngài là bậc Trí Tuệ đệ nhất.

Ngài Ma-ha Mục Kiền Liên (Ấn Ðộ đọc là Mahamogallàna, chữ Hán là Ðại Thái Thúc Thị), là bậc có phép thần thông đệ nhất.

Ngài Ma-ha Ca Diếp (Ấn Ðộ đọc là Maha Kasyapa, chữ Hán là Ðại Ẩm Quang), thân Ngài có ánh sáng vàng, được Phật truyền tâm ấn cho làm Tổ đệ nhất, Ngài là bậc tu hạnh Ðầu Ðà đệ nhất (hạnh Ðầu Ðà là khất thực, đi xin ăn).

Ngài Ma-ha Ca Chiên Diên (Ấn Ðộ đọc là Maha Katyana, chữ Hán là Ðại Văn Sức), là dòng Bà La Môn, là bậc có tài nghị luận giỏi đệ nhất.

Ngài Ma-ha Câu Si La (Ấn Ðộ đọc là Maha Kausthila, chữ Hán là Ðại Tất), là bậc có tài trả lời các câu hỏi hay đệ nhất.

Ngài Ly Bà Ða (Ấn Ðộ đọc là Revata, chữ Hán là Tinh Tú), là bậc không điên đảo rối loạn đệ nhất (tức là ngồi Thiền Ðịnh).

Chữ Chu Lợi Bàn Ðà Già (Ấn Ðộ đọc là Ksudra Panthaka, chữ Hán là Kế Ðạo), là người rất đần độn, chỉ nhớ nghĩa được một bài kệ mà thành người có tài biện luận giỏi vô cùng, nên Ngài là bậc nhớ nghĩa hay đệ nhất.

Ngài Nan Ðà (Ấn Ðộ đọc là Nanda, chữ Hán là Khánh Hỷ), là em ruột của Phật, Ngài là bậc có uy nghi, dung mạo đệ nhất.

Ngài A Nan Ðà (Ấn Ðộ đọc là Ananda, chữ Hán đọc là Khánh Hỷ), là em con chú của Phật, lại được làm Thị Giả đứng hầu Phật, Ngài là bậc được nghe nhiều đệ nhất.

Ngài La Hầu La (Ấn Ðộ đọc là Rahula, chữ Hán là Phú Chướng), là Thái-tử của Phật, Ngài có đạo hạnh bí mật đệ nhất.

Ngài Kiều Phạm Ba Ðề (Ấn Ðộ đọc là Gavampati, chữ Hán là Ngưu Tư), vì có tội ác khẩu từ kiếp trước nên phải chịu quả báo còn sót lại: mồm nhai như con bò, Ngài là bậc được hưởng cúng dường ở cõi Thiên bậc nhất.

Ngài Tân Ðầu Lư Phả La Ðọa (Ấn Ðộ đọc là Pindola Bharadvaja, chữ Hán là Bất Ðộng và Lợi Căn), Ngài ở lại thế gian rất lâu dài để hưởng cúng dường ở đời mạt thế. Ngài là bậc phúc điền đệ nhất, giống như một thửa ruộng tốt để người đời trồng cây phúc.

Ngài Ca Lưu Ðà Di (Ấn Ðộ đọc là Kalodayin, chữ Hán là Hắc Quang), Ngài là sứ giả của Phật, là bậc giáo hóa được nhiều người đệ nhất.

Ngài Ma-ha Kiếp Tân Na (Ấn Ðộ đọc là Maha Kapphina, chữ Hán là Phòng Tú), là bậc biết xem sao đệ nhất.

Ngài Bạc Câu La (Ấn Ðộ đọc là Vakkula, chữ Hán là Thiện Dung), Ngài là bậc có thọ mệnh sống lâu đệ nhất.

Ngài A Nậu Lâu Ðà (Ấn Ðộ đọc là Anirudha, chữ Hán là Vô Bần), Ngài cũng là em con chú của Phật. Ngài là bậc có Thiên Nhãn, con mắt trông xa đệ nhất.

Các Ngài thường theo Phật luôn luôn, cho nên gọi là Thường Tùy Chúng. Các Ngài vốn là bậc Pháp Thân Ðại Sĩ, là bậc Bồ Tát đã chứng được Pháp Thân, mà thị hiện ra làm Thanh Văn, cho nên lại gọi các Ngài là Ảnh Hưởng Chúng, là các vị Tăng có nhiều ảnh hưởng cho đạo Phật.

Nay các Ngài được nghe phép tu Tịnh Ðộ là phép thu nhận được vô lượng công đức, các Ngài đều được lợi ích là: Phật đã bố thí cho các Ngài được hiểu nghĩa đệ nhất trong giáo lý của Phật. Các Ngài làm cho đường Ðạo tăng lên, đường đời giảm bớt, tự mình cải tạo cho đất nước mình trở nên thanh tịnh giác ngộ, cho nên các Ngài lại được gọi là Ðương Cơ Chúng, là các vị Tăng có cơ đương nổi việc Phật.

 

2. Bồ Tát chúng

(Nói về Bồ Tát chúng hay Bồ Tát tăng)

Kinh văn

Hán: Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Ða Bồ Tát, Càn Ðà Ha Ðề Bồ Tát, Thường Tinh Tiến Bồ Tát, dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát.

Việt: Lại có các vị Ðại Bồ Tát là: Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Ða Bồ Tát, Càn Ðà Ha Ðề Bồ Tát, Thường Tinh Tiến Bồ Tát cùng nhiều vị đại Bồ Tát khác, cũng như thế nữa.

Chữ Bồ Tát Ma Ha Tát tiếng Brahmana ở Ấn Ðộ, nguyên âm đọc là Boddhi Sattvaya Maha Sattvaya (Bồ Ðề Tát Ðỏa Bà Gia Ma Ha Tát Ðỏa Bà Gia), dịch nghĩa ra chữ Hán là “đại đạo tâm thành tựu hữu tình” (có tâm đạo lớn làm cho hữu tình được thành tựu). Ðó là một danh hiệu của một người đã vận dụng được cả hai tâm: bi thương và trí tuệ, làm lợi lạc cả mình và người.

Phật là Pháp Vương (ông vua tạo ra vạn pháp). Ngài Văn Thù Sư Lợi (nguyên tiếng Ấn Ðộ đọc là Manjusri, chữ Hán là Diệu Ðức, Diệu Cát Tường). Ngài vốn nối nghiệp nhà của Phật nên được gọi là Pháp Vương Tử (con của đức Pháp Vương). Trong hàng Bồ Tát Tăng, Ngài là bậc có trí tuệ đệ nhất. Chẳng là bậc có trí tuệ chân thực dũng mãnh thì chẳng tài nào chứng được và hiểu được pháp môn Tịnh Ðộ này, cho nên Ngài được đứng đầu.

Ngài A Dật Ða (tiếng Ấn Ðộ đọc là Ajita, chữ Hán là Vô Năng Thắng, là tên riêng của Ngài Di Lặc Bồ Tát, tiếng Ấn Ðộ đọc là Maitreya). Ngài là bậc sẽ được thành Phật, sau đời Phật Thích Ca, hiện bây giờ Ngài ở ngôi Ðẳng Giác Bồ Tát (Bồ Tát thứ 10), Ngài lấy việc làm cho đất nước mình trở nên trang nghiêm trong sạch, giác ngộ là việc thiết yếu của Ngài, cho nên Ngài đứng thứ nhì.

Ngài Càn Ðà Ha Ðề (tiếng Ấn Ðộ là Gandhahastin, chữ Hán là Bất Hưu Tức, tức là “chẳng ngừng nghỉ”). Vì Ngài là người tu hành mãi mãi, lâu đời nhiều kiếp chẳng hề ngừng nghỉ.

Ngài Thường Tinh Tiến là một vị Bồ Tát thường làm lợi lạc cho cả mình và người mà không hề mỏi mệt.

Các vị này đều là các vị Bồ Tát ở ngôi rất cao, các Ngài đều phải quyết chí cầu sinh Tịnh Ðộ, vì cớ rằng các Ngài mong được thấy Phật luôn luôn chẳng rời, mong được nghe Pháp luôn luôn chẳng rời, mong được thân cận cúng dường chúng Tăng luôn luôn chẳng rời, có thế thì mới có thể mau chóng viên mãn được tâm Bồ Ðề của mình (Phép tu Tịnh Ðộ này về phần Sự là một nhân duyên rất lớn lao, về phần Lý là một phép tu bí mật tạng, ta chớ nên bỏ qua).

 

3. Thiên, nhân chúng

Ðây là nói về thiên, nhân chúng (chúng cõi thiên và cõi nhân)

Kinh văn

Hán: Cập Thích Ðề Hoàn Nhân đẳng, vô lượng chư thiên đại chúng câu.

Việt: Cả vua Ðế Thích và các vua khác, cùng với các đấng trên cõi Trời, và các cõi khác đông không xiết kể, cùng đến dự hội.

Thích Ðề Hoàn Nhân, nguyên tiếng Phạn là Sakra Devà indra, chữ Hán là Năng Vi Chúa hay Năng Thiên Chúa, tức là một vị Thiên vương ở cõi trời Ðao Lợi, ở đỉnh núi Tu Di, cao nhất thế giới.

Chữ Ðẳng là kiêm cả hạ đẳng và thượng đẳng tức là các vị vua chúa ở cõi trời dưới vua Ðế Thích và các vị ở cõi trời trên vua Ðế Thích. Dưới vua Ðế Thích có bốn vị thiên vương ở lưng chừng núi Tu Di. Trên vua Ðế Thích ở hư không, còn có vô số các đấng ở các cõi trời khác, tức là 4 cõi Dục Giới: Dạ Ma, Ðâu Suất, Hóa Lạc và Tha Hóa, 18 cõi trời Sắc Giới và 4 cõi Vô Sắc Giới (tất cả có 2 cõi trời Dục Giới ở núi Tu Di và 26 cõi trời ở trên Hư Không, cộng là 28 cõi).

Chữ “đại chúng câu” là tóm tắt hết cả các giới ở khắp mười phương, cõi trời, cõi người, tám bộ quỷ thần, a tu la, nhân, phi nhân v.v… không một ai là không đến dự Hội nói pháp này, không một người nào là không được thu hút vào trong pháp môn tu Tịnh Ðộ (chỉ vì pháp môn này rất rộng lớn nên mới mầu nhiệm được như thế).

 

Ðến đây là hết phần Thông Tự.

 

II. BIỆT TỰ

Từ đây là phần Biệt Tự, hay Phát Khởi Tự.

Phép tu Tịnh Ðộ là pháp môn mầu nhiệm, chẳng khá nghĩ bàn, cho nên không có ai biết mà hỏi, tự Phật phải khởi xướng lên. Phật nói cho biết trên cái thế giới kia (y báo) và nhân vật ở thế giới kia (chính báo) để phát khởi cái tâm Tín Nguyện của con người. Lại nữa, trí huệ Phật soi thấy căn cơ của chúng không sai lầm, Phật thấy rõ tất cả đại chúng đây ai cũng có cơ được nghe pháp tu Tịnh Ðộ này, ít ra cũng được một trong 4 lợi ích:

1) Nghe rồi thấy toàn thân sung sướng, vui mừng

2) Nghe rồi sinh tâm thích làm thiện

3) Nghe rồi chừa bỏ hết tội ác, tật xấu

4) Nghe rồi hiểu thấu vào tới chỗ chính lý của Thực Tướng.

Vì lẽ ấy mà Phật chẳng đợi ai hỏi mà tự Phật phát khởi ra phép tu Tịnh Ðộ này. Cũng như trong kinh Phạm Võng, nào có ai biết vị hiệu Phật là gì mà hỏi, cũng là tự Phật khởi xướng lên mà nói rằng: Chính vị hiệu của ta là Phật Lô Xá Na (Rocana). Ngài Trí Giả cũng cho đoạn kinh này là phần Phát Khởi Tự, ta lấy đấy làm tỷ lệ thì đủ biết đoạn kinh này cũng là phần Phát Khởi Tự.

 

Kinh văn

Hán: Nhĩ thời Phật cáo trưởng lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Ðà, kim hiện tại thuyết pháp”.

Việt: Bấy giờ, đức Phật bảo ngài trưởng lão Xá Lợi Phất rằng: “Từ đây đi về bên Tây Phương kia, trải qua mười muôn ức Phật độ, có một thế giới, gọi là Cực Lạc. Cõi ấy có Phật hiệu A Di Ðà, hiện đang thuyết pháp”.

 

Pháp tu Tịnh Ðộ là một pháp môn thu nhiếp được cả ba hạng người: thượng căn, trung căn, hạ căn; là một pháp môn viên dung tuyệt đối, bất khả tư nghì. Pháp môn này thu được tất cả, vượt được tất cả các pháp môn khác, xưa nay chưa nói rõ được như thế. Một pháp môn rất sâu, rất khó tin, cho nên đặc biệt bảo cho người đại trí tuệ. Vì rằng chẳng phải là người trí tuệ đệ nhất thì chẳng cách nào hiểu ngay được mà không nghi ngờ (đủ thấy người trí tuệ mới tu được, mà hiền ngu cũng tu được, thực là hai việc bất khả tư nghì).

Hai chữ “Tây phương” là Phật bảo: đi tắt ngang thẳng sang phía Tây, là chỗ hiện đương có cõi Tịnh Ðộ ngay lúc ấy.

Chữ “ức” ở đây là 10 triệu. Vậy 10 vạn ức thành một ngàn ngàn triệu.

Chữ “Phật độ” là một khu vực của một vị Phật hóa độ, có một ngàn triệu thái dương hệ, trong kinh Phật gọi là một “tam thiên đại thiên thế giới”. Nay hãy nói thế nào là một Phật độ (hay là tam thiên đại thiên thế giới). Ta lấy ngay quả đất của ta ở đây, ta nói: Quả đất của ta có một núi Tu Di cao nhất, 4 bên: Ðông, Tây, Nam, Bắc, mỗi bên là một châu chung quanh có Thiết Vi bọc lấy. Châu nào cũng cùng ở dưới một mặt trăng, một mặt trăng soi vào. Mỗi châu là một thiên hạ; quả đất có bốn tứ thiên hạ, cho nên gọi là “quả tứ thiên hạ”. Một nghìn quả Tứ Thiên Hạ gọi là một tiểu thiên thế giới. Một nghìn tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới. Một nghìn trung thiên thế giới gọi là một Ðại Thiên Thế Giới (Vậy chữ Tam Thiên ở đây nghĩa là 1 x 1.000 tiểu thiên. Lại 1.000 x 1.000 – Ðại Thiên – 1.000.000.000 - một ngàn triệu). Nay Phật bảo: Phải đi qua 10 vạn ức Phật độ như thế về phía Tây, đến đấy là thế giới Cực Lạc.

Hoặc có người hỏi: Cớ gì Cực Lạc ở phương Tây?

Thưa: Câu hỏi ấy không có nghĩa. Giả sử nói Cực Lạc ở phương Ðông thì ngài lại hỏi: “Cớ gì nó ở Ðông?” Câu hỏi ấy chẳng phải là câu đùa chơi (hý luận) là gì? (Không trả lời thế mới là trả lời rất hay, xưa nay càng trả lời nhiều càng thêm hý luận). Huống chi, ngài đi quá ra 11 vạn ức Phật độ, ngài nhìn lại Cực Lạc thì nó lại ở đằng Ðông rồi, ngài còn nghi ngờ gì nữa?

Câu “hữu thế giới danh viết Cực Lạc” (có thế giới gọi là Cực Lạc) là nói cái tên quả đất kia, là cái phần y báo của Phật và nhân dân ở đấy (Y báo là quả báo do nghiệp ý của con người đã tạo ra, để cho con người phải y vào đấy mà sinh sống). Quả đất ấy vận chuyển luôn luôn, lúc này qua lúc khác thành ra nó có 3 đời: đời trước, đời này, đời sau, cho nên gọi nó là Thế. Quả đất ở trong hư không, chung quanh nó là 10 phương: Ðông, Tây, Nam, Bắc, Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc, thượng và hạ; phương nào nó cũng có giới hạn ở phương ấy, cho nên gọi nó là Giới. Vì nó bị vận chuyển trong tam thế và nó có giới hạn ở khắp thập phương nên gọi nó là “thế giới”.

Nước Cực Lạc, nguyên âm tiếng Brahmana, Ấn Ðộ đọc là Sumati (Tu Ma Ðề), chữ Hán là Cực Lạc, An Lạc, Diệu Ý, An Dưỡng, Thanh Thái v.v… nghĩa là một đất nước yên vui, yên ổn đệ nhất, vĩnh viễn thoát ly hết mọi khổ, xem xuống dưới còn thích nghĩa rõ hơn.

Nhưng mà, Phật độ nào cũng có 4 cõi, cõi nào cũng chia làm hai: Tịnh Ðộ và Uế Ðộ (câu này đính chính lại các chỗ sai lầm):

1. Cõi Phàm Thánh Ðồng Cư, chỗ nào ngũ trọc nặng là Uế Ðộ, chỗ nào ngũ trọc nhẹ là Tịnh Ðộ (nhưng ở Tây Phương thì cõi Ðồng Cư là Tịnh Ðộ vì phàm với thánh ở đấy cùng một lệ).

2. Cõi Phương Tiện Hữu Dư. Chỗ nào người tu phép “tích không chuyết độ” chứng vào ở đấy là Uế Ðộ; chỗ nào của người tu phép “thể không xảo độ” chứng vào ở đấy là Tịnh Ðộ (nhưng Tây Phương thì cõi Phương Tiện là Tịnh Ðộ vì người tu Tiểu Thừa ở đấy đã hồi tâm).

3. Cõi Thực Báo Vô Chướng Ngại, chỗ nào của người tu phép Thứ Ðệ Tam Quán chứng vào ở đấy là Uế Ðộ. Chỗ nào người tu phép Nhất Tâm Tam Quán chứng vào ở đấy là Tịnh Ðộ (nhưng ở Tây Phương thì cõi Thực Báo là Tịnh Ðộ vì là chỗ ở của người tu phép Viên Chiếu).

4. Cõi Thường Tịch Quang, chỗ nào của người tu Phận Chứng ở là Uế Ðộ; chỗ nào của người tu Cứu Kính Mãn Chứng ở là Tịnh Ðộ (nhưng ở Tây Phương thì cõi Thường Tịch Quang là Tịnh Ðộ vì 16 vị vương tử đều ở đấy, phần Bản và phần Tích đều cao).

Cái thế giới Cực Lạc nói ở trong kinh này chính là cõi Ðồng Cư Tịnh Ðộ mà 3 cõi Tịnh Ðộ trên cũng có đủ cả ở ngay đấy (Ðây là bàn về Tu Ðức, đức tu của mình lên cao nên chỉ có Tịnh Ðộ thôi. Còn bàn về Tính Ðức thì trong Tính Ðức dù là một hạt bụi nhỏ li ti cũng thế, trong hạt nào cũng có sẵn đủ 4 Phật độ cả Tịnh và Uế. Nay rút vào phép tu chỉ có 3 món Tín, Nguyện, Hành với danh hiệu đức Phật A Di Ðà bất khả tư nghì, mà khiến được người phàm phu cảm ứng hiện ra ở thế giới Cực Lạc một cõi Ðồng Cư cực kỳ thanh tịnh, mà ở trong những Phật độ khác ở khắp mười phương đều không thể có được, chỉ riêng ở Cực Lạc mới có một cõi Ðồng Cư như thế mà thôi; có thế thì mới là tông chỉ phép tu Tịnh Ðộ ở Cực Lạc (Xuống dưới này, những chỗ giảng nghĩa về Tịnh Ðộ đều như thế cả).

Câu “hữu Phật hiệu A Di Ðà” (có Phật hiệu là A Di Ðà) là nói cái tên của đức Giáo Chủ kia, là cái phần Chính Báo của vị Phật ở đấy (Chính Báo là cái quả báo do nghiệp ý của con người đã tạo ra, nó là chính cái thân con người phải sinh sống ở đấy). Xuống dưới này sẽ phiên dịch, thích nghĩa rộng nhiều.

Phật phải có 3 thân là: Pháp Thân, Báo Thân, và Ứng Thân; thân nào cũng có thân đơn và thân kép.

Pháp Thân đơn là cái tính lý của người tu đã chứng nhận được. Báo Thân đơn là những công đức và trí tuệ của người tu đã tạo ra để chứng thực. Hóa Thân đơn là những màu sắc, hình tượng 32 tướng, 80 hảo của người tu đã hiện ra.

Pháp thân kép thì 1) Cái Pháp Thân tự tính nó vốn trong sạch (tự tính thanh tịnh pháp thân) 2) Cái Pháp Thân rất mầu nhiệm đã thoát lìa hết trần cấu (hết mọi tà kiến, phiền não nhơ bẩn).

Báo thân kép thì 1) Cái Báo Thân mình tạo ra để cho mình thụ dụng (tự thụ dụng báo thân) 2) Cái Báo Thân mình tạo ra để cho người khác thụ dụng (tha thụ dụng báo thân).

Hóa Thân kép thì 1) Cái Hóa Thân mình thị hiện giáng sinh vào cõi nào (thị sinh hóa thân) 2) Cái Hóa Thân mình ứng hiện ra (ứng hiện hóa thân). Lại còn 2 loại Hóa Thân nữa: 1) Hóa thân ở cõi Phật 2) Hóa thân ở mỗi loài chúng sinh.

Tuy là phân tách ra thân đơn, thân kép của 3 thân thì như thế (mà đây luận về Tính Ðức) chứ thực ra thân của Phật chẳng phải một, chẳng phải ba, mà là ba, mà là một, chẳng dọc, chẳng ngang, chẳng cùng, chẳng khác (nói thế nào cũng không đúng, cũng lỗi lầm cả). Thân của Phật phải thoát hết mọi lỗi lầm ấy, là cái thân chẳng khá nghĩ, chẳng khá bàn.

Nay trong kinh này nói là: “Phật A Di Ðà” thì chính là chỉ vào cái Thị Sinh Hóa Thân ở trong cõi Ðồng Cư Tịnh Ðộ, nhưng cũng tức là Báo Thân, tức là Pháp Thân đấy (bởi vì thân của Phật là tùy theo 4 cõi ngang nhau mà hiện ra).

Lại nữa, ở trên chữ “thế giới” và chữ “Phật” đều có chữ “hữu”, thì chữ Hữu ấy nghĩa là “có” mà là “có thực”. Trong chữ Hữu bao hàm 4 nghĩa (tứ tất đàn: hoan hỷ, sinh thiện, phá ác, nhập lý).

Nói rằng “có thế giới”, “có Phật” là vì đức Thích Ca muốn nêu lên một cảnh tượng chân thực, khiến cho người tu vui cầu. Vì Ngài đem lời thành thực chỉ bảo cho, khiến người tu phải chuyên chú Nhất Tâm. Thế giới Cực Lạc và Phật A Di Ðà nói ở đây chẳng phải là cảnh tượng “càn thành, dương diệm” (cảnh ma), chẳng phải là cảnh tượng “quyền hiện khúc thị” (cảnh quyền giáo), chẳng phải là cảnh tượng “duyên ảnh hư vọng” (cảnh tà), chẳng phải là cảnh tượng “bảo chân thiên đản” (cảnh Tiểu Thừa). Nêu ra cảnh chân thật này là vì Ngài muốn phá mọi cảnh: Ma, Quyền, Tà, Tiểu (phá Quyền là phá cái ngụy biện trong sách Hoa Nghiêm Hợp Luận. Phá Tà là phá cái tập quán của người đời mạt thế ngu mê. Hai điều này rất quan hệ). Lại vì Ngài muốn người tu Tịnh Ðộ chứng sâu vào Thực Tướng, là tâm tính của con người trong “có đủ cả”: có thế giới Cực Lạc, có thân Phật A Di Ðà thực, chỉ cần mình tu niệm là tự khắc hiện ra đầy đủ, rõ rệt.

Câu “kim hiện tại thuyết pháp” (nay hiện đang thuyết pháp) đối với hai cảnh tượng hiện có (2 câu trên) là ý báo: thế giới Cực Lạc và chính báo: thân Phật A Di Ðà, thì cảnh tượng “nay hiện đang thuyết pháp” đây chẳng phải là cảnh quá khứ đã diệt, cũng chẳng phải là cảnh vị lai chưa thành (giống như cảnh Phật Thích Ca chẳng ở lâu cõi này và cảnh Phật Di Lặc chưa giáng sinh, là hai thời gian không có Phật để cho mình nương tựa) thì cảnh “kim hiện tại thuyết pháp” đây chính là một cảnh để cho mình nên phát nguyện cầu vãng sinh, để được thân cận Phật, được nghe Pháp, được chóng thành Chính Giác.

Lại nữa, hai chữ Hữu và chữ Hiện Tại đây là lời tựa để khuyên người tu mở lòng Tín. Chữ “thế giới danh viết Cực Lạc” là lời tựa để khuyên người tu Nguyện. Chữ “Phật hiệu A Di Ðà” là lời tựa khuyên người tu phải thực hành cái hạnh tu mầu nhiệm là Trì Danh (tức là niệm Phật).

Lại nữa, chữ “A Di Ðà” là lời tựa về Phật, chữ “thuyết pháp” là lời tựa về Pháp; chữ “hiện tại” trong có hải hội nghe Pháp là lời tựa về Tăng. Phật, Pháp, Tăng cùng ở trong một Thực Tướng là lời tựa về phần thể chất. Y theo vào thể chất ấy (nhất thể Tam Bảo), mà khởi ra Tín, Nguyện, Hạnh là lời tựa về phần tôn chỉ. Tín, Nguyện, Hạnh đã thành rồi, tất là được vãng sinh, được thấy Phật, được nghe pháp, là lời tựa về phần lực dụng. Chỉ có một cảnh giới Phật dùng làm cảnh giới cho tâm mình chăm chú vào (giống như cái kim chỉ nam) chẳng cho một sự tướng nào khác xen lẫn vào tâm mình, đó là lời tựa về Giáo tướng. Lời nói sơ lược mà ý nghĩa này rất chu đáo.

Phần Tựa (cả Thông và Biệt) đến đây là xong.