Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao,
Quyển thứ Tư
(Phần thứ nhất)
VI. Kư[1]
1. Bài kư về việc nghênh đón chân thân Xá
Lợi của Thích Ca Như Lai
(viết giùm)
Trong trần điểm kiếp
trước, đức Trung Thiên Điều Ngự Thích Ca
Thế Tôn đă sớm thành Chánh Giác, dứt sạch ba
đời, trụ trong Tịch Quang, thường hưởng
Tứ Đức, v́ xót thương chín giới bèn thị
hiện thọ sanh, hiện ra tám tướng[2]. Từ
lúc mới ra đời cho đến khi nhập Niết
Bàn, diễn giảng các pháp Thiên - Viên - Đốn - Tiệm,
tạo lợi ích khiến cho chúng sanh gieo nhân, hay do thành thục
mà bèn được giải thoát. Lục đạo tứ
sanh, tam thừa ngũ tánh nghe viên âm liền ngộ đạo,
thấy diệu tướng bèn minh tâm, dẫu dùng hết mọi
vi trần trong cùng tận thế giới vẫn chẳng
thể tính hết được số lượng.
Nhưng củi căn cơ đă hết th́ lửa ứng
hiện cũng tắt, ẩn Tích quy chân, thị hiện diệt
độ. Lại nhằm lợi ích cho đời vị
lai, bi tâm vô tận, Phật bèn nát thân vàng trượng sáu do
Định - Huệ sanh ra thành tám hộc[3]
xá-lợi Kim Cang bất hoại. Do vậy, chia đều
cho tám nước, mỗi nơi đều dựng tháp báu
khiến cho khắp các hàm thức đều được
rộng gieo phước điền. Một trăm năm
sau, nước Ma Kiệt Đề[4] có
vua A Dục[5] cai trị
toàn cơi Diêm Phù, oai đức tự tại, hết thảy
quỷ thần đều thành bầy tôi, bèn đem xá-lợi
được cất giữ bởi ông tổ là vua A Xà Thế,
sai quỷ thần dùng bảy báu, các thứ hương làm
thành bột, tạo thành tám vạn bốn ngàn tháp báu để
cúng dường xá-lợi đặt khắp cả Nam châu
(tức Nam Thiệm Bộ Châu). Phàm những nơi nào Phật
pháp chưa truyền đến đều lập tháp ở
dưới đất [nơi ấy], ở nước
Đông Chấn Đán có mười chín chỗ. Khi đại
giáo từ phương Tây truyền sang, [những tháp ấy]
bèn lần lượt xuất hiện, tức là như
Ngũ Đài Sơn, chùa A Dục Vương v.v… Kinh Niết
Bàn dạy: “Nếu dùng ḷng tin
sâu xa cúng dường toàn thân xá-lợi của Như Lai hoặc
cúng nửa thân, hoặc cúng một phần tư, hoặc một
phần vạn, thậm chí [một phần] nhỏ bằng
hạt cải th́ phước đức của người
ấy so với phước đức cúng dường Phật,
không hai không khác!” Bởi lẽ xá-lợi Phật chính là
sắc thân Phật, đều do thệ nguyện vô tác, do
ḷng từ bi đồng thể thị hiện ra. Do vậy,
nhân thiên có được [xá-lợi] bèn buồn vui xen lẫn,
cạn hết tâm lực cung kính cúng dường.
Khi
Như Lai xuất thế, Phước tôi c̣n đang trầm
luân, nay được làm thân người, pháp đă suy vi. Người
xưa phải trải qua hiểm trở mà c̣n lắm
người đến cầu chánh pháp; nay đường
thủy đường bộ đều thông suốt, dám
đâu chẳng đi lễ bái thánh tích, nên vào năm Quang Tự
30 (1904) bèn ngồi thuyền sang Tây viếng thăm Tiêm La
(Thái Lan), rồi đến Diến Điện, sau cùng
đến Tích Lan (Sri Lanka). Ba nước ấy Phật
pháp rất hưng thịnh, Tăng chúng tuy đông nhưng chẳng
nấu nướng lấy. Toàn quốc thờ Phật, dâng
cơm cúng Tăng. Phàm gặp đúng ngày lễ bái, con buôn
đều không họp chợ, cùng đến lễ tháp
báu, cùng gieo nhân cho mai sau, hơi giống với quy củ
thơm thảo thời đức Phật. Kế đến,
viếng Trung Ấn Độ, Già Da, Vương Xá, Hằng
Hà, Song Lâm, những nơi thánh tích nổi tiếng đều
đến lễ cả. Tiếc cho đời xa, người
mất, pháp suy, giáo kém, chẳng nghe được tiếng
hàng ma chế phục ngoại đạo, chỉ thấy dấu
vết cỏ lấp hoang tàn, tưởng nghĩ thuở
trước thật là đau đớn! Trở về
đô thành Tích Lan, gặp đúng dịp trùng tu bảo tháp,
trong tháp chứa hơn một trăm viên xá-lợi, khẩn
khoản xin vài hạt để tạo phước cho
người phương Đông chúng ta. Họ nói: “Xá-lợi
là phước điền của nước chúng tôi, tháp
này do quốc vương dựng, dám đâu trái Phật phạm
pháp, làm lợi cho người ngoài!” Do vậy, hằng ngày
lễ tháp, cầu Phật thầm gia bị, đau ḷng khóc
lóc, buồn bă khôn cầm. Mười hai ngày như thế,
cảm động tâm họ, bẩm lên quốc
vương, vua chấp thuận ban cho mười hai viên.
Được
toại tâm nguyện, thật cảm kích ơn Phật, liền
trở về Trung Quốc để an trí cho thích hợp.
Linh Thạch Am ở Phổ Đà chính là thánh đạo
tràng Thiện Tài đến tham phỏng ngài Quán Âm, do vậy
bèn lưu lại ba hạt. Giám viện Tịnh Minh bèn dựng
phù-đồ (tháp) gỗ để cúng dường. Thỉnh
chín hạt cúng dường cho ba chùa Bảo Quang, Long
Hưng, Quảng Đức ở Tứ Xuyên. Theo Tây Vực
Kư, nước Tăng Già La (Sinhala) chính là nước Sư
Tử thời cổ ở trong đại hải, gần
Nam Ấn Độ, nay chính là xứ Tích Lan vậy. Phía
Đông Nam nước ấy có núi Lăng Già (Lankā), vách núi cao ngất, hang
sâu thăm thẳm, chính là chỗ đức Như Lai nói
kinh Lăng Già. Xưa kia, em ruột vua A Dục là Ma Hê Nhân
Đà La (Mahendra)[6] xuất
gia chứng đạo, du hóa nước này, tạo dựng
tháp miếu, hưng khởi Phật pháp lớn lao. Tháp này
(tức tháp chứa xá-lợi ở Tích Lan) do chính Ngài sáng lập.
Xá-lợi của Như Lai thần biến khôn cùng, tế
độ u hiển, che chở trời người. Thấy,
nghe, chiêm lễ đều gieo nhân phước thọ, cúng
dường, cung kính đều cảm quả tôn quư. Mây mê
hết sạch, bầu trời chân tánh rạng ngời;
sương tội tan, vầng huệ nhật tỏ rơ. Tam
giác viên măn nơi sơ tâm, vạn đức trọn đủ
trong đương niệm. Dùng nhân như thế ắt cảm
được quả như thế, phàm những ai cùng
hàng với tôi xin hăy xét cho ḷng ngu thành này.
2. Bài kư lễ rước tượng Thích
Ca Như Lai bằng ngọc về điện Tỳ Lô chùa
Vạn Niên núi Nga Mi[7]
(viết giùm)
Trộm nghĩ chư Phật
xuất thế đều có thời tiết, nhân duyên,
Tượng giáo lưu thông trọn khắp mười
phương ba đời. Xét nghĩ đức Thích Ca Thế
Tôn ta từ trần điểm kiếp trước đă
sớm thành Chánh Giác, trụ trong cơi Tịch Quang thanh tịnh,
chứng thân Pháp - Báo viên dung, lại v́ nghĩ thương
xót chúng sanh, bi tâm chẳng bỏ, bèn lập phương tiện
giáo hóa ứng tích vô cùng. Con trẻ mong ngóng sâu xa, mẹ hiền
bèn đến, vốn bất sanh mà bao lượt thị
hiện giáng sanh. Củi căn cơ hết th́ lửa ứng
hiện bèn tắt; vốn vô diệt mà bao lượt hiện
diệt! Thùy tích như thế, theo chiều dọc cùng khắp
ba đời, theo chiều ngang trọn khắp mười
phương. Xét nghĩ Bổn cao, Tích rộng, xem ra nguồn
sâu, nhánh dài. Xét theo lần thành đạo phen này th́ nhằm
năm thứ hai đời Châu Mục Vương[8].
Kinh
Tạo Tượng Công Đức nói: “Như Lai muốn chỉ dạy đạo hiếu
bèn lên cung trời Đao Lợi an cư ba tháng v́ mẹ thuyết
pháp. Vua Ưu Đà Diên[9] khát
ngưỡng Phật bèn dùng tử chiên-đàn (gỗ
chiên-đàn tím) tạc h́nh tượng Phật để hầu
hạ cúng dường chẳng khác ǵ đức Phật.
Qua khỏi chín mươi ngày, Phật giáng hạ nhân gian, bảo
với vua rằng: ‘Ông là người đầu tiên làm
gương tạo h́nh tượng Phật khiến cho các
chúng sanh được đại lợi ích, công đức
của ông không ai sánh bằng. Nếu
ai dùng các món vàng, bạc, đồng, sắt v.v… chạm trổ,
đúc, đắp, vẽ tượng Phật dù là tượng
rất bé chỉ bằng ngón tay cái th́ trong đời này,
người ấy diệt vô lượng tội,
được vô lượng phước, đời sau
tôn quư, giàu có, tin ưa chánh pháp, lần lượt tu tập
cho đến khi thành Phật đạo”. Do vậy, vua
quan các nước đều tạo tượng Phật, đến
thời vua A Dục tạo nhiều nhất.
Đến
khi đại giáo truyền sang Đông, thường có [những
chuyện] tượng Phật bằng vàng hay đá nổi
trên sông, hay từ biển giạt vào, hoặc đất
rung, núi nứt lộ ra tượng Phật được
chép trong những truyện kư nhiều đến nỗi khó
thể thuật trọn. Đức Thế Tôn cao quư thay!
Ḷng từ mạnh mẽ trong đời này mà ḷng bi thấu
tận kiếp vị lai, tuyệt phan duyên (nắm níu) mà ứng
khắp ḷng cảm của đại chúng; như một vầng
trăng in bóng trên ngàn con sông, trụ Chân Tế nhưng ứng
khắp quần cơ; như một trận mưa thấm
ướt muôn loài cỏ cây. Những kẻ thiện
căn chưa gieo, chưa chín muồi, chưa được
thoát liền làm cho họ gieo, chín muồi, giải thoát. Nên
dùng thân tướng nào để độ bèn hiện thân
tướng ấy để thuyết pháp. Trời che,
đất chở, khó sánh ví được ân ấy, nát
xương tan thân chẳng đáp được đức
này.
Thanh
Phước đại sư xưa đă gieo cội đức,
dốc sức tu Tịnh nghiệp, qua Ấn Độ lễ
khắp các thánh tích, trở về đi ngang Diến Điện
bèn cẩn thận chọn ngọc đẹp, chạm khắc
ba bức tượng Phật, thỉnh về Trung Quốc.
Pháp thể rạng ngời, trong sạch, diệu tướng
trang nghiêm, ngờ rằng chẳng phải do thợ khéo gọt
giũa mà là cổ Phật tái lai. Do bổn tự vốn là
thánh địa đạo tràng của Phổ Hiền Bồ
Tát, các triều đại đều xuống chiếu kiến
tạo, tứ chúng quy ngưỡng, tôn sùng; Phật điện
cao ngất như núi non, vẻ đẹp nguy nga đua sáng
cùng nhật nguyệt. Điện này lại được
thập phương thường trụ Tăng chúng vân tập,
một dạ tinh tu đạo phẩm, không lúc nào chẳng
mở rộng cửa cứu độ. Do vậy bèn thờ
một tượng trong đại điện để
khắp mọi hàng Tăng - tục cung kính cúng dường.
Nên biết tượng này chính là chân thân của Phật, chẳng
phải ngọc, chẳng phải đá, vừa là sắc,
vừa là không, hăy nên nhất tâm quy mạng, trọn đời
dốc ḷng thành. Sáng tối như thế, niệm đâu
nghĩ đấy. Nếu như nhất niệm ngầm
phù hợp ắt sẽ biết mọi tướng ĺa
tướng, hoặc là lục căn giải thoát, sẽ tự
có thể tâm tâm ấn tâm. Từ đấy trở về
nguồn cội, trần tiêu, giác tịnh, Ngũ Uẩn
không, Ngũ Nhăn trọn đủ, Tam Hoặc đoạn,
Tam Đức trọn vẹn. Khi ấy, sóng trào biển Hạnh,
mây bủa cửa Từ, Tứ Nhiếp cùng hành, chẳng
chấp vào một pháp, lần lượt truyền tŕ
đến tận đời vị lai, khiến cho huệ
mạng được thường trụ bao kiếp.
Đấy gọi là đệ tử thật sự của
Phật, có thể gọi là “biết ân báo ân” vậy.
3. Bài kư về duyên khởi chuyên tu Tịnh
nghiệp của Đại Giác Nham Tây Lâm thảo am tại
Nam Ngũ Đài Sơn, tỉnh Thiểm Tây
Chân Như pháp tánh chúng sanh và Phật
về thể vốn đồng, do mê hay ngộ cách biệt
mà khổ - vui khác biệt vời vợi. V́ thế, đức
Thế Tôn ta đặc biệt rủ ḷng thương xót,
tuy trong trần điểm kiếp trước đă sớm
thành Phật đạo, lại vận dụng ḷng Bi Đồng
Thể, khởi ḷng Từ Vô Duyên, chẳng ĺa cơi Tịch
Quang, thị hiện sanh trong đời trược, xuất
gia tu hành, thành Đẳng Chánh Giác, cứu vớt những
kẻ mê muội cùng lên bờ giác, thuyết pháp bốn
mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội.
Tùy thuận cơ nghi, khéo khuyên dụ dần dần: Với
hàng đại cơ bèn dạy Ngũ Uẩn đều
không, sáu trần chính là giác, rốt ráo chẳng lập một
pháp, ngay khi đó vạn đức đều hiển lộ
trọn vẹn; với kẻ căn cơ nhỏ nhoi th́ tùy
thuận tiếp dẫn, v́ Thật bày Quyền, khiến
cho họ vun bồi Phật chủng dần dần để
tạo thành nhân duyên đắc độ. Các pháp môn thuận
theo căn cơ nói ra như trên tuy Đại - Tiểu bất
đồng, Quyền - Thật đều khác, nhưng
đều cậy vào Tự Lực để đoạn
Hoặc chứng chân mới thoát được sanh tử.
V́ thế bản hoài phổ độ chúng sanh của đức
Như Lai chưa được thỏa măn rốt ráo. Do vậy,
ngoài các pháp ra, Ngài lại mở riêng pháp môn tín nguyện niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, chỉ bày thế giới
Cực Lạc là quê nhà vốn có, chỉ A Di Đà Phật
là vô thượng từ phụ, khiến cho con người
phát tâm Bồ Đề tŕ danh hiệu Phật, dùng tín nguyện
sâu cầu sanh Tây Phương. Nếu như khăng
khăng vâng giữ, niệm nơi đâu nghĩ tại
đó th́ do tín nguyện của ḿnh hợp với thệ
nguyện của Phật, chúng sanh và Phật khế hợp
nhau, bèn cảm ứng đạo giao, trong đời này
nghiệp chướng tiêu diệt, phước huệ
tăng cao, lâm chung được Phật tiếp dẫn gởi
thân nơi sen báu. Những người Hoặc nghiệp
đă đoạn bèn dự ngay vào địa vị Bổ
Xứ, mau chứng Phật Thừa. Dẫu là hạng phàm
phu sát đất, nghiệp lực khắp thân, cũng vẫn
có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp
văng sanh, khi đă văng sanh liền thoát khỏi ḍng phàm, cao dự
hải hội, chẳng mong đoạn Hoặc mà tự
đoạn, chẳng mong chứng chân mà tự chứng.
Pháp môn này hoàn toàn nương vào Phật lực, ví như kẻ
thọt một ngày đi được mấy dặm, nếu
ngồi luân bảo của Chuyển Luân Thánh Vương sẽ
trong khoảnh khắc đến khắp bốn châu. Đấy
là sức của Luân Vương, chứ không phải sức
của chính ḿnh; suốt đời tu hành, cố nhiên là
như vậy! Dẫu là kẻ tội nặng Ngũ Nghịch,
Thập Ác, lúc lâm chung tướng địa ngục hiện,
nếu có thể chí tâm niệm Phật sẽ liền
được Phật tiếp dẫn.
Ấy
là v́ Phật xem chúng sanh hệt như con một: Với
đứa hiền ngoan tất nhiên thương yêu,
nhưng với đứa ngỗ nghịch lại càng
thương xót gấp bội. Nếu con hồi tâm hướng
về cha mẹ, cha mẹ ắt rủ ḷng từ nhiếp
thọ. Hơn nữa, tâm tánh của chúng sanh và Phật
không hai, do v́ mê trái nên khởi Hoặc tạo nghiệp,
ngăn lấp bản tâm chẳng thể hiện bày trọn
vẹn. Nếu có thể nhất niệm hồi quang th́
khác nào mây tan trăng hiện, tánh vốn chẳng mất, trăng
vốn sẵn có. V́ vậy t́nh trần bao kiếp đoạn
ngay trong một niệm. Ví như nhà tối ngàn năm, một
ngọn đèn [chiếu vào] bèn sáng. Đây chính là pháp nhiệm
mầu nhất trong giáo pháp cả một đời đức
Phật, là con đường để trên thánh, dưới
phàm đều phải theo, là cơ nghi thấu suốt chín
giới, phô bày tột bậc bản hoài của Như Lai.
Cao quư thay, đẹp đẽ thay! Há thể nghĩ bàn
được ư? Đến khi đại giáo truyền
sang Đông, Lô Sơn sáng lập liên xă, một người
xướng trăm người ḥa, không ai chẳng tuân
theo. Hơn một ngàn năm trăm năm qua, những
người ngầm tu hoặc giáo hóa công khai khó thể kể
xiết!
Nêu
tên những bậc lỗi lạc th́ đời Nguyên Ngụy[10]
có ngài Đàm Loan, đời Trần - Tùy có ngài Trí Giả,
đời Đường có các ngài Đạo Xước,
Thiện Đạo, Hoài Cảm[11],
Phi Tích[12], Thừa
Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Đại Hạnh. Các
vị sư trên đây đạo đều vượt
lên bậc Thập Địa, đức chấn động
cửu trùng, không pháp nào chẳng thông, nhưng chỉ đề
cao pháp này. Đời Tống th́ có các ngài Vĩnh Minh, Chiêu
Khánh, Tứ Minh, Trường Lô. Ngài Vĩnh Minh dung hội Thiền
- Giáo - Luật quy vào nhất tâm, soạn Tứ Liệu Giản
để riêng khen ngợi Tịnh Độ. Ngài Chiêu Khánh
dùng máu chép kinh Hoa Nghiêm, lập Tịnh Hạnh Xă, những
hạng đại thần công khanh đua nhau quy y. Ngài Tứ
Minh soạn [Quán Vô Lượng Phật Kinh] Diệu Tông Sao,
phô bày lư Quán Đạo đến cùng cực. Ngài Trường
Lô vừa tính kết liên xă, bậc Đại Thánh đă ghi
danh[13].
Đời Minh có các ngài Sở Thạch, Diệu Hiệp,
Liên Tŕ, Ngẫu Ích, đời Thanh có các ngài Tỉnh Am, Mộng
Đông, không vị nào chẳng Tông - thuyết đều
thông, giải - hạnh tương ứng, chuyên trọng Tịnh
Độ, khuyên khắp mọi người tu tŕ.
Thời
xưa, những vị sư trong Thiền Tông đa số
chuyên về ngầm tu, không mấy ai công nhiên hoằng hóa [Tịnh
Độ]; từ ngài Vĩnh Minh trở về sau, phần
nhiều lưu lại ngôn giáo thiết tha khuyên bảo văng
sanh, như các vị Tử Tâm Tân, Chân Hiết Liễu, Trung
Phong Bổn, Thiên Như Tắc v.v… cho đến tể
quan, cư sĩ như các ông Lưu Di Dân, Bạch Cư Dị,
Văn Ngạn Bác, Dương Vô Vi, Vương Nhật
Hưu, Viên Hoằng Đạo, Châu Mộng Nhan, Bành Thiệu
Thăng v.v… hoặc kết liên xă để tinh tu, hoặc
tạo luận để truyền bá. Những bậc dù
thánh hay hiền, dù Tăng hay tục như thế tuy khác thời
nhưng đều cùng tiếng, cực lực hoằng
truyền, xiển dương. Do vậy, liên phong lừng lẫy
mạnh mẽ, phổ biến trong nước lẫn ngoài
nước, cuồn cuộn như trăm sông vạn ḍng
đổ vào biển cả. Ấy là do nơi hội Hoa
Nghiêm bậc Pháp Thân đại sĩ sau khi đă chứng bằng
với chư Phật c̣n dùng mười đại nguyện
vương hồi hướng văng sanh, trong Quán Kinh hàng
Ngũ Nghịch Thập Ác lúc sắp đọa địa
ngục, nếu xưng danh hiệu Phật mười tiếng
liền được dự vào phẩm cuối. V́ thế,
không căn cơ nào chẳng tiếp độ, không pháp nào
chẳng gồm thâu. Như trời che khắp, như đất
nâng đều, sâm la vạn tượng không ǵ chẳng trụ
trong ấy hoặc có thể vượt ra ngoài được!
Thật có thể nói là “chín pháp
giới chúng sanh ĺa pháp này th́ trên chẳng thể viên thành Phật
đạo, mười phương chư Phật bỏ
pháp này th́ dưới chẳng thể lợi khắp quần
sanh”. Do vậy, hằng sa Như Lai hiện tướng
lưỡi rộng dài để xưng dương, tôn túc
các tông phát tâm Kim Cang lưu truyền. Nam Ngũ Đài chính
là nơi Quán Âm đại sĩ hàng phục rồng độc,
hiện thân tỳ-kheo mở mang đạo tràng. Từ
đời Tùy đến nay hơn một ngàn ba trăm
năm, trong khoảng thời gian ấy do bao lượt
tang thương khiến cho những sự tích của các
cao nhân đều bị mất mát không cách ǵ biết
được. Đến cuối thời Minh, có lăo nhân
Tánh Thiên Văn Lư ẩn cư trong Vô Môn Động (thế tục gọi
sai là Tương Tử Động). Sau đấy, do vân
du đến Hàng Châu, lăo nhân trụ tại Hoàng Long Am. Khi ấy,
Liên Tŕ đại sư chưa xuất gia, bèn cùng phu nhân là
Thang Thị quy y dưới ṭa. Tiếp đó, lại xin xuống
tóc với Ngài. Chẳng lâu sau, lăo nhân trở về Trường
An, ngài Liên Tŕ trung hưng Tịnh tông, cội nguồn quả
thật xuất phát từ đây. Cụ Văn Lư nếu chẳng
phải là bậc cao nhân lỗi lạc, há ngài Liên Tŕ chịu
khuất thân dưới ṭa, trước sau y chỉ nơi
cụ ư? Chuyện này được chép trong bài minh
nơi tháp Thái Tố của ngài Liên Tŕ trong bộ Vân Thê Pháp
Vựng. Quán Âm đại sĩ pḥ tá đức Di Đà
độ thoát chúng sanh, núi này lại là nơi bắt nguồn
trung hưng Tịnh tông. Vị chủ tể lẫn núi này
đều có đại nhân duyên đối với chúng
sanh.
Cư
sĩ Hạc Niên Cao Hằng Tùng xuất thân từ Giang Tô, dốc
ḷng tin tưởng Phật thừa, vừa ra làm quan đă
buông bỏ trâm anh[14],
t́m học với đủ mọi bậc Tông tượng,
phỏng theo Thiện Tài tham học cùng khắp, lễ khắp
các danh sơn, đi khắp các nơi giống như ngài Tử
Bách, từng đến núi này hai ba lần. Năm Dân Quốc
thứ ba (1914), nhóm họp Tăng chúng đất Tần
(Thiểm Tây) tu bổ tháp Phổ Đồng dưới
chân ngọn Đại Đài để thập
phương Thiền lữ khi chết có chỗ
nương về. Lại dựng hai tịnh thất chuyên
tu Tịnh nghiệp để mong sao người sống lẫn
kẻ thác đều được văng sanh. Sau đấy,
nhân khi Thiền duyệt rảnh rỗi, bèn đến
chơi hai đài Linh Ứng và Nhiếp Thân (đài Nhiếp Thân bị
thế tục gọi sai là Xả Thân), thấy
vách núi cao ngất, cuộc đất bằng phẳng, chợt
ngộ ra đời trước đă từng ở chỗ
này, bèn đặt tên cho vách đá ấy là Đại Giác.
Do vậy, bèn dựng hai gian thảo am chuyên tu Tịnh nghiệp,
để xa là noi dấu Lô Sơn, gần là bắt chước
Vân Thê, quyết chí quy Tây, v́ thế đặt tên là Tây Lâm.
Lượng tôi xuất gia tại núi này, từng hầu
hương đèn cho Đại Sĩ. Về sau, do tham học
với tri thức, vân du các phương. Đến nay
đă hơn ba mươi năm, đạo nghiệp
chưa thành; do vậy, cứ sống nhờ măi ngoài biển,
không mặt mũi nào quay về quê cũ. Một ngày nọ,
cư sĩ từ Trường An đến bảo hăy soạn
một bài ghi duyên khởi của pháp môn Tịnh Độ
và duyên khởi của núi này cùng thảo am này, tính trước
hết in ra chừng bao nhiêu đó bản để người
thấy nghe đều nẩy sanh ḷng tin, tiếp đó là lập
bia đá trong thảo am để lưu lại vĩnh viễn.
Do vậy, tôi khôn ngăn vui mừng ghi đại lược,
tuy lời lẽ thô vụng, chất phác, không giúp ǵ
được cho pháp đạo, nhưng cũng chẳng
thẹn ḷng đoái tưởng.
4. Bài kư tự trách lỗi trong việc chép
kinh Hoa Nghiêm
(viết thay sư
Khoan Huệ)
Lớn lao thay giáo pháp kinh Hoa Nghiêm,
xứng pháp giới tánh, nói pháp thường trụ.
Nương tâm Chân Như chỉ bày đầy đủ Thể;
Lư vượt ngoài hiện tượng, đạo khế
hợp hoàn vũ. Tịch lẫn Chiếu hiển lộ trọn
vẹn, Năng lẫn Sở cùng mất. Ĺa cái giả danh
“phàm - thánh”, dứt bặt xưng hô “chúng sanh - Phật”.
Châu trong chéo áo, kẻ mê chẳng biết, không thể không
trong cái “chẳng thể tu” lại bàn chuyện tu, trong cái “chẳng
thể chứng” lại bàn chuyện chứng, cho nên mới
có năm mươi hai địa vị theo thứ tự,
Tín - Giải - Hạnh - Chứng sâu - cạn, đó gọi
là “toàn tánh khởi tu, toàn tu tại
tánh”; c̣n như viên chứng Diệu Giác chẳng qua là
khôi phục bản thể! Ngoài bản thể ra, trọn
chẳng tăng thêm ǵ; chỉ là khi Trí Đoạn rốt
ráo th́ quang cảnh nơi bổn địa được
phơi bày triệt để! “Viên
măn Bồ Đề thật ra chẳng có một pháp nào để
đắc! Nhân trùm biển quả, quả thấu nguồn
nhân”, chính là nói về ư này vậy! Mười
phương chư Phật thành đạo không vị nào chẳng
nói pháp này, mười phương Bồ Tát tu hành, không vị
nào chẳng nương theo khuôn phép này.
Kinh
văn tuy gồm tám mươi mốt quyển, hơn sáu
mươi vạn chữ, nhưng đều bao quát hết
sạch hằng sa pháp môn, vô biên diệu nghĩa được
hiển thị chẳng sót. Toàn bộ Sự chính là Lư, toàn
bộ Tu chính là Tánh, toàn thể nhiều chính là một, toàn
Tha chính là Tự. Do vậy nói: “Mười
đời xưa nay từ đầu đến cuối chẳng
ĺa đương niệm; vô biên cơi nước tự - tha
chẳng cách đầu lông”. V́ thế, được
thọ tŕ đọc tụng kinh này th́ núi tội sụp,
biển phước rộng sâu; biên chép lưu truyền th́
mây mê tiêu, mặt trời huệ sáng rỡ. Huệ tôi đời
trước lắm may mắn nên được nhập
pháp môn, nhưng nghiệp cũ rất sâu nên chẳng khế
hợp đạo. Nghĩ muốn chép đại kinh rất
sâu chẳng thể nghĩ bàn này để sám trừ túc
nghiệp, được ḥa thượng Tịch Sơn,
pháp sư Đế Nhàn và các thiện tri thức khuyến
khích, khen ngợi, tán trợ, nên được toại nguyện.
Chỉ v́ ít đọc kinh giáo, chưa hiểu rơ quy củ,
tuy thường thắp hương, đốt đèn, chép
đâu lễ đấy, nhưng dạng chữ tùy tiện,
chưa thật đoan nghiêm, tề chỉnh. Cô lậu quả
văn (thấy nghe kém cỏi) có lỗi chẳng biết!
Trải hai lượt lạnh - nóng chép được
hơn sáu mươi quyển. Một ngày nọ, có vị
lăo túc[15]
trông thấy quở:
-
Ông phát tâm chép kinh, toan nhờ đó để sám trừ túc
nghiệp, hiển lộ cái ḿnh sẵn có, siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử, ḷng mong mỏi ấy lớn
lao chẳng thể nói được, nhưng cẩu thả
như thế này th́ sao có thể trên cảm ứng Tam Bảo,
dưới khế hợp tự tâm, đoạn phiền
hoặc, chứng chân thường, sanh về An Dưỡng
hầu hạ Đạo Sư? Há chẳng phải là cô phụ
một phen khổ công của chính ḿnh cũng như ân đức
khen ngợi, giúp đỡ không ǵ lớn bằng của các
Sư ư? Ông hăy lấy Hoa Nghiêm Cảm Ứng Truyện
mà đọc đi, sẽ thấy các khuôn mẫu chép kinh tốt
đẹp của các vị cổ đức như Đức
Viên, Tu Đức v.v… cũng như những lợi ích mà họ
đạt được, há chẳng thẹn đến
chết ư?
Huệ
tôi nghe dạy xong, ḷng đau như cắt, tiếc hận
sâu xa lúc ban đầu chẳng gặp được vị
lăo nhân này. Do vậy, bèn nhanh chóng sửa lỗi cũ, dốc
kiệt ḷng thành, cạn hết ḷng kính, tuy vẫn thô vụng
như cũ nhưng cung kính cẩn thận tột bực.
Nét bút của bộ kinh trước sau không giống nhau, chỉ
sợ người đọc thấy lạ, nên bèn thuật
bày duyên khởi trách lỗi, cũng mong hết thảy tứ
chúng thọ tŕ đọc tụng hết thảy kinh điển
thảy đều cạn hết ḷng thành, tận hết
ḷng kính không coi thường chút nào, như đối
trước thánh dung đích thân nghe được viên âm,
ngơ hầu tội lỗi của Huệ nhờ đó
được tiêu diệt, mà phước huệ của
người thọ tŕ ấy cũng mau được viên
măn!
5. Bi kư về việc trùng tu tháp Thái Tử và
xây lan can quanh hồ sen tại Phổ Đà (viết thay sư Liễu
Dư)
Nhất niệm tâm tánh của hết
thảy chúng sanh và tam thế chư Phật không hai, không
khác. Nhưng do từ vô thủy đến nay chưa hề
ngộ nên mê chân khởi vọng, trái giác theo trần,
ngược ngạo biến Phật tánh thường trụ
bất sanh bất diệt này thành cái gốc để khởi
Hoặc tạo nghiệp, luân hồi sanh tử. Đức
Như Lai thương xót tùy cơ thuyết pháp, khiến
cho khắp ba căn tùy phần được lợi ích. Lại
v́ pháp âm có lúc bị gián đoạn nhưng tháp tượng
c̣n măi cho nên dạy tứ chúng tạo dựng tháp tượng,
ngơ hầu [con người] chiêm lễ, gieo ḷng thành nơi ấy,
trồng thiện căn dần dần. Một phen thấy
được thánh dung vĩnh viễn thành hạt giống
đạo, dùng đó làm nhân duyên tối thắng để
bỏ vọng về với chân, trái trần hiệp giác,
tiêu trừ Hoặc nghiệp, khôi phục tâm tánh vốn có. Phổ
Đà chính là chỗ thù thắng ứng tích của Đại
Sĩ, là đạo tràng chúc hỗ[16] của
các triều đại. Khai sơn từ thời Trinh Minh
nhà Lương nhằm đời Ngũ Đại, đến
nay đă hơn ngàn năm. Phổ Môn thường khải
phát, Tông phong chẳng suy sụp, quả thật là Phật
quốc nơi Chấn Đán, là phước địa của
vùng Đông
Đến
nay đă hơn 580 năm, năm tháng đă lâu; hơn nữa,
do ở giữa biển cả, gió cuốn theo sương
muối, mặt trời chói chang, sương giá dữ dội
xói ṃn các vật, thật dễ bị hư hoại. Do vậy,
đỉnh tháp đă sứt, thánh tượng bị tàn
khuyết, đá ghép bị ră rời, sắp bị sụp
đổ. Trộm nghĩ tiền nhân tạo dựng vốn
nhằm gieo phước cho quốc dân, nỡ nào để
bị hư nát sụp đổ, dấu xưa cũng
như ruộng phước của chúng sanh đều bị
biến mất ư? Nhưng do Tăng chúng tiền của
lẫn pháp đều nghèo cùng, không cách ǵ lo liệu
được! Tháng Sáu năm Mậu Ngọ (1918), đúng
dịp cư sĩ Tích Châu Trần Tánh Lương lên núi,
tính lập bi phường (nhà để bia) bên đường,
bạn tôi là Ấn Quang cùng với Dư (tức sư Liễu
Dư) và Trụ Tŕ Pháp Vũ là thầy Liễu Thanh đều
bảo ông ta: “Ông vốn xưa đă vâng lời Phật phó
chúc hoằng hộ Tam Bảo, nay tháp Thái Tử liệu chừng
sắp đổ nát, Tăng chúng thẹn không có đức
hạnh, khả năng, không cách ǵ lo liệu, xin đừng
tiếc sức lực sửa sang cho. Có lẽ nên gác lại
chuyện kia, lấy chuyện sửa chữa tháp này làm việc
cấp bách trước”. Ông ta bèn ứng tiếng: “Con
đă phát nguyện, t́nh thế khó thể ngừng giữa
chừng được. Nhưng đă được ủy
thác, con sẽ nỗ lực thay các thầy quyên mộ hóa
duyên, mướn thợ, gắng sức lănh trách nhiệm”.
Do
vậy, bèn giăi bày cặn kẽ tấm ḷng ngu thành, nhờ
vào phước lực ấy được các vị cựu
Đại Tổng Thống là ông Lê [Nguyên Hồng], ông Phùng
[Ngọc Tường], và Đại Tổng Thống
đương nhiệm là ông Từ [Khiêm] đều bỏ
ra tịnh tài để tu bổ Phổ Đà, xướng
suất tứ chúng. Khi ấy, những vị tai to mặt
lớn đều phát tín tâm, chung sức giúp đỡ. Do vậy,
vào tháng Ba mùa Xuân năm nay liền khởi công để
tháp Đa Bảo Phật lại được từ
đất vọt lên, trước chùa Phổ Tế thường
thấy lan can vây quanh ao báu. Lại vỡ đất dựng
tháp viện, cất năm gian nhà chánh, bốn gian chái phụ.
Phàm những thứ cần dùng thảy đều đầy
đủ, cử một vị Đầu Đà tịnh hạnh
hầu hạ hương đèn dài lâu. Tri Sự huyện
Định Hải là ông Phùng Bỉnh Càn nghe vậy, vui mừng
khôn xiết, liền ra sức bảo vệ, có thể nói
là xưa có linh căn, chẳng quên lời phó chúc vậy! Từ
đây những người vào cửa Phổ Môn trông thấy
Đa Bảo, những người tu Tịnh nghiệp
thường dạo nơi ao báu. Công đức lợi ích ấy
sẽ có cùng thọ lượng với hư không, không ngọn
bút nào có thể h́nh dung cho được! Xây dựng đă
xong, bèn thuật duyên khởi, khắc vào đá quư kiên cố
để lưu truyền măi măi không hư nát.
6. Bi kư sáng lập Bi Phường bằng
xi-măng bên đường ven biển và trùng tu Hồi Lan
Đ́nh (đ́nh ngăn sóng) tại Phổ Đà (viết thay sư Liễu
Dư)
Quán Âm Đại Sĩ thệ
nguyện hoằng thâm, từ bi rộng lớn. Trong mười
phương vô tận thế giới hiện khắp các sắc
thân, tùy cơ thuyết pháp, các kinh Đại Thừa đều
chép sự này. Nhưng ứng theo căn cơ phàm phu thị
hiện các thân ở cơi này càng nhiều chẳng thể kể
xiết, mầu nhiệm chẳng thể lường. Huống
chi là ứng khắp trong sáu đường và ứng hiện
cho những bậc căn cơ lớn lao vượt ngoài
Tam Thừa ư? Nếu chẳng đă viên chứng Pháp Thân
sao có được đại dụng như vậy?
Cư sĩ Tích Châu Trần Tánh Lương được
gội ân Bồ Tát sâu xa, tâm báo ân tha thiết, muốn cho
đồng nhân đều cảm niệm sâu xa bèn dựng
một ṭa Bi Phường bằng chất “thủy nê”[21]
bên bờ biển. Đó là v́ muốn chỉ cho con người
thấy biển khổ vô biên, quay đầu lại chính là
bờ, trong biển sanh tử, chỉ có Đại Sĩ
đáng để nương cậy. Do vậy, bèn lược
thuật chuyện thấm gội ân đức của ông
ta, cho khắc vào đá quư kiên cố, mong sao những người
thông hiểu đời sau đều cùng sanh tín tâm, cùng
được che chở, ngơ hầu từ ngay nơi vọng
hiểu rơ chân, tiêu trừ huyễn chấp ta - người,
hiểu tâm thấu gốc, chứng Phật Tánh tịch chiếu.
Cư
sĩ Tích Châu bẩm tánh trung hậu, thoạt đầu chỉ
học hỏi tông chỉ Nho, Đạo, đối với
đại pháp của Như Lai và lư tam thế nhân quả
c̣n chưa tin tưởng sâu xa. Phu nhân là bà họ Hồ
xưa đă có tín tâm, lễ Phật, tụng kinh, dẫu lạnh
nóng, bệnh tật vẫn tu tŕ chẳng lười nhác. Năm
bà ngoài ba mươi tuổi, đứa con đầu không
nuôi được, càng nỗ lực hành thiện, chẳng
lâu sau lại có mang, sắp đến kỳ sanh nở, liền
mắc bệnh nặng, suốt hai mươi chín ngày chẳng
ăn uống ǵ, chẳng nói năng được, chẳng
thể trở ḿnh. Vóc gầy như que củi, thân nóng
như lửa, danh y bó tay, không c̣n cơ hội sống sót nữa!
Một đêm, phu nhân mộng thấy một bà lăo tay cầm
mấy cành hoa sen, bảo: “Ngươi
do túc nghiệp vướng phải bệnh ngặt này, may
đă gieo thiện căn sâu dầy nên ta từ Nam Hải
đến an ủi ngươi”, rồi dùng hoa sen phất
quanh thân phu nhân, bảo: “Phủi
đi nghiệp chướng của ngươi, khéo sanh con
ngoan!” Bà liền thấy thân tâm thanh lương, sảng
khoái không ǵ sánh ví được! Do vậy, bèn tỉnh ra, toàn
thân mướt mồ hôi, hết sốt, thân yên ổn, vẻ
mặt ôn ḥa, thật chẳng khác ǵ người khỏe mạnh.
Ngày hôm sau liền sanh được một con đúng vào
ngày tốt là ngày mồng Ba tháng Ba. Tuy phải trải qua
hai mươi chín ngày sốt nóng, đói khát nhưng thân thể
đứa bé đầy đặn, mập mạp, chẳng
khác ǵ do người không bệnh tật ǵ sanh ra. Đến
năm nay, đứa bé ấy đă lên mười. Ôi chao!
Lạ lùng thay!
Cư
sĩ được nhận đại ân, khác ǵ chết
đi sống lại, xương khô mọc thịt, mới
biết những chuyện lợi sanh chẳng thể
nghĩ bàn của Bồ Tát đă được nói trong
kinh Phật đều chân thật chẳng hư dối.
Tiếc cho những kẻ câu nệ, hẹp ḥi, dùng tri kiến
phàm phu múa mồm báng bổ, khinh nhờn, khác ǵ kẻ vô tri
vô thức ngồi đáy giếng nh́n trời, uổng cho
đức Đại Bi Chủ phải xót thương buồn
bă, nhưng không cách ǵ cứu độ được! Buồn
thay! Do vậy, tâm tin tưởng mười phần khẩn
thiết cực độ. Năm ngoái, ông lên núi muốn lập
bi phường, bạn tôi là Ấn Quang đem chuyện
tháp Thái Tử sắp đổ khuyên ông gác lại chuyện
này lo chuyện đó; nhưng tâm ông ta đă phát nguyện,
khó thể ngưng giữa chừng. Do vậy, mùa Xuân
năm nay cùng khởi công cả hai chuyện cũng như
lập tháp viện và dựng lan can quanh bờ ao trước
chùa, trùng tu đ́nh hóng mát, phí tổn hơn năm vạn.
Tuy cũng xin khắp những vị có tiếng tăm bỏ
ra tịnh tài giúp hoàn thành việc lớn lao này, nhưng tháp
được cao đẹp, ao được trang nghiêm, nhà
bia, đ́nh hóng mát được khang trang, rộng răi, không
tính công chọn thợ, chọn vật liệu, đốc
thúc thợ th́ [ngoài ra] việc ǵ cư sĩ cũng phải
bỏ ra một khoản tiền lớn một ḿnh lo liệu
ḥng thành tựu công đức trang nghiêm. Tín tâm hoằng nguyện
quả thật đáng kính!
[Danh
tánh] các vị thiện sĩ bỏ tiền giúp đỡ
đều được chép trên bia trong tháp viện.
Nơi đây c̣n đặc biệt ghi chép tướng một
giọt nước trong vô lượng trăm ngàn đại
hải ứng hóa của Bồ Tát khiến cho các đồng
nhân sanh tâm chánh tín, ai nấy cung kính cúng dường xưng
niệm danh hiệu, há nào phải chỉ thường được
Ngài gia bị, gặp xui biến thành hên, gặp nạn biến
thành chuyện tốt lành mà thôi ư? Nếu có thể dốc
cạn ḷng thành đến cùng cực th́ đoạn Hoặc
chứng chân siêu phàm nhập thánh nào có khó ǵ, tương lai
cũng được như Bồ Tát theo chiều dọc
suốt cả ba đời, theo chiều ngang trọn khắp
mười phương, hiện đủ mọi sắc
thân độ thoát chúng sanh vậy! Hơn nữa, Quán Âm
đại sĩ chính là vị Cổ Phật trong quá khứ,
do tâm đại bi hiện thân trong chín giới, nên dùng thân
nào để độ được bèn hiện thân ấy
để thuyết pháp. Chỉ v́ chúng sanh căn cơ kém cỏi,
không cách ǵ thấy được bản tướng. Phàm
những người được Ngài gia hộ che chở,
phần nhiều đều thấy là một bà lăo. Ấy
là v́ thuận theo căn cơ kém cỏi bèn hiển thị
tâm tha thiết. Nếu cho rằng Ngài vốn thuộc thân nữ
th́ đối với đạo thượng đồng hạ
hợp của Bồ Tát dẫu có mơ cũng chưa từng
thấy được mảy may!
7. Bi kư thuật duyên khởi Vô Trước
Lăo Nhân sáng lập Thường Minh Am (viết thay thầy
Hóa Hoằng)
Chân tông tịch diệt duy tâm sẵn
đủ, nhưng diệu đạo viên thông không có
người sẽ chẳng thể hoằng truyền
được. Hưng khởi phạm sát, mở mang Phổ
Môn, bủa mây từ, xối mưa pháp. Nhằm lúc pháp vận
đi vào mùa Thu[22],
người chấn hưng đạo Thiền sắp bị
tuyệt diệt, chỉ có ḿnh tiên sư Vô Trước Lăo
Nhân của tôi là người như vậy mà thôi! Thầy
húy là Lập Sơn, pháp danh Măn Viên, biệt hiệu Vô
Trước. Năm Đạo Quang thứ năm (1825) tức
năm Ất Dậu, ngày Hai Mươi Lăm tháng Hạ,
thị hiện giáng sanh vào nhà họ Cố ở Kim Sơn,
Tùng Giang[23], cha
Ngài chính là Phước Bổn Ngộ Công. Năm Sư
mười bốn tuổi, thân phụ bèn xuất gia, tâm muốn
đi theo, nhưng mẹ c̣n tại thế nên chẳng
được thỏa nguyện. Đến tuổi
nhược quan, xin xuống tóc với cha, đến chùa
Đại Sùng Phước thọ Cụ Túc Giới. Do giặc
đang chiếm đóng Nam Kinh[24]
nên chẳng tiện tham học các nơi, bèn trụ tại
Phổ Đà hoặc sống ở Tùng Giang, ẩn ḿnh giấu
tiếng, không có ḷng góp mặt với đời.
Đến
năm Canh Ngọ (1870) đời Đồng Trị, bế
quan tại Bán Sơn Am, hằng ngày lễ kinh Hoa Nghiêm, tham
học khắp hải chúng. Khi ấy, chùa Pháp Vũ điêu
tàn đến cùng cực, thiếu người Trụ Tŕ.
Vị tôn túc trong núi là ḥa thượng Tín Chân suất lănh
pháp quyến gơ cửa thỉnh Sư [làm Trụ Tŕ]. Từ
tạ không được, phải chấp thuận. Mùa
Xuân năm Nhâm Thân (1872) bèn tấn viện[25],
tài sản nhà chùa đơn bạc, chi dụng không đủ,
nhà nát, tường xiêu hoang tàn nhức mắt. Sư cảm
thương, tự đặt trách nhiệm trùng hưng nhà
chùa, tận sức lo liệu, sửa sang, tu bổ, bốn
phương đàn tín trải vàng[26]
chỉ lo chậm chân. Trong ṿng mấy năm, trăm chỗ
bỏ phế đều được phục hưng.
Tuy chưa hoàn toàn khôi phục được quy mô như
cũ, nhưng xét về đại cuộc đă khả
quan lắm. Lâu ngày, ư muốn nghỉ ngơi để
chuyên tu Tịnh nghiệp, do vậy bèn dựng am tại phía
Tây sườn núi Thanh Lương, đề biển là
Thường Minh. Ấy chính là dùng ư nghĩa “tâm tánh tịch chiếu viên dung,
theo chiều ngang trọn khắp, theo chiều dọc thông
suốt” ḥng làm cho người khác tu nhân để đắc
quả.
Mùa
Xuân năm Giáp Thân (1884) đời Quang Tự, Sư thoái ẩn
tại am này, quyết chí quy Tây, niệm Phật không để
sót. Lại lấy hai thời khóa tụng trong am làm hai thời
niệm Phật, dùng đó làm quy định thường hằng
vĩnh viễn, nóng - lạnh không gián đoạn, tậu
ba trăm hai mươi hai mẫu ruộng lúa, trừ ra một
trăm mẫu [làm chi phí cúng tế trong] Vô Trước Từ
Đường, những khoảnh ruộng c̣n lại dùng
để nuôi chúng thường trụ niệm Phật.
Ngoài ra, các vị như Hóa Khai v.v… dành ra bốn mươi
bốn mẫu ruộng để giúp tiền chi dụng
cho những vị sư niệm Phật, đều ghi chép
tường tận ở phần sau.
Lăo
nhân thường nói: “Chúng sanh
đời Mạt chướng sâu căn độn, chẳng
dễ ǵ thấu đạt lẽ hướng thượng,
đại ngộ c̣n khó huống chi thật chứng! Chỉ
có mỗi một pháp Tịnh Độ thích hợp khắp
ba căn, lợi - độn gồm thâu, thượng thánh
hạ phàm đều nên tu tŕ. Bởi lẽ pháp này hoàn toàn
lấy Quả Giác làm cái tâm trong khi tu nhân, nhân bao trùm biển
quả, quả thấu tột nguồn nhân, dùng chính ngay
tướng thế gian để thông đạt Thật
Tướng, lấy phàm tâm khế hợp Phật tâm. Pháp
có thể nhờ cậy để duy tŕ Phật pháp, giúp cho
nền chánh trị của đất nước, cảm
động tâm người chỉ có ḿnh pháp này mà thôi! Các
ông hăy nên tận lực tuân hành, chớ nên phế bỏ mới
chẳng phụ tứ ân, giúp trọn tam hữu. Nếu sau
này hàng đương gia (người cai quản am này) phế
bỏ quy củ đă thành lập này th́ kẻ ấy chẳng
phải là đệ tử của ta, hăy nhóm họp pháp quyến
lập tức tẫn xuất[27], chớ
cho ẩn náu kẻo phụ ḷng ta”.
Đến
ngày mồng Một tháng Chạp năm Kỷ Sửu (1889),
Sư an nhiên thâu thần qua đời, Tăng lạp[28] bốn
mươi sáu năm, thọ sáu mươi lăm tuổi.
Đệ tử thế độ mấy mươi
người, nhưng người nối tiếp được
công hạnh của Sư chỉ có ḿnh Hóa Văn. Bọn Hoằng
tuy được liệt vào hàng đồ đệ
nhưng chưa vào được cửa trong[29], chẳng
biết được sở ngộ của Sư, chẳng
dám đề cao thầy kẻo đem phàm lạm thánh,
cũng chẳng dám hạ thấp kẻo khuất lấp
người hiền, đành nêu đại cương ngôn
hạnh của thầy để nêu rơ duyên khởi am này (Xét ra Pháp Vũ Tự
khai sơn vào năm Vạn Lịch thứ tám đời
Minh, đời Thanh trước kia hai lần được
sắc kiến, sau loạn Hồng Dương suy bại đến
cùng cực, ngài Vô Trước trùng hưng chùa).
8. Bi kư ghi công đức xây giếng Tiên Nhân ở
Phổ Đà
(viết thay thầy
Giới Như)
Viên
Thông đại sĩ bao kiếp thường trụ núi
này, bậc tiên nhân vượt ngoài trần gian không lúc nào chẳng
sống tại nơi đây. Tuy chưa đến thời
Tượng Giáo, phàm tục không thấy được từ
dung, nhưng từ chỗ ở của bậc ứng thân,
các tiên thật sự luôn được chiêm ngưỡng
Phật nhật. Do vậy, An Kỳ Sanh đời Tần,
Mai Tử Chân đời Hán, Cát Trĩ Xuyên đời Tấn
v.v… đều sống nhờ núi này để tu chân dưỡng
đạo. Ḍng suối ngọt họ uống được
gọi là Tiên Nhân Tỉnh (giếng Tiên Nhân). Đến niên
hiệu Trinh Minh đời Lương mới bắt đầu
lập đạo tràng, ấy chính là ḷng từ rộng lớn
của Đại Sĩ, vận ḷng trời độ rộng
khắp. Dấu cổ của tiên nhân cũng nhờ Phật
pháp mà được lưu truyền. Mặt trước
giếng ấy gần biển cả, có cái hang đất
che bên trên. Từ dưới đất sâu hơn cả
trượng, [nước suối] từ dưới vọt
lên. Lúc khô hạn nhất suối chẳng giảm, lúc ngập
úng nhất cũng chẳng tăng thêm, lúc nóng gắt th́
nước lại mát rượi, lúc rét buốt th́ nước
lại ấm, nước chảy chậm răi, lừ đừ,
nhưng trong lắng, vị ngon ngọt, mướt dịu.
Ai tin tưởng uống nước ấy phần nhiều
khỏi bệnh trầm kha. V́ thế những người
đến chiêm bái núi này từ Mân, Việt, Ngô, Sở[30]
đều dùng b́nh múc nước giếng mang về để
làm pháp dược.
Nếu
không phải là đại bi pháp thủy từ tâm đại
từ bi của Bồ Tát chảy ra, khiến cho người
uống vào gần là khỏi tật bệnh, xa là chứng
Bồ Đề, sao có thể linh nghiệm sâu xa như vậy
được? Cư sĩ Can Hạnh Thôn ở Tứ Minh,
lên núi dâng hương, uống nước thấy ngọt,
hỏi đến ư nghĩa tên gọi, khen ngợi khôn cùng,
liền khẳng khái bỏ ra tiền của, nhờ Nạp
Tăng lo liệu dùng đá xây thành giếng và đắp
đường quanh giếng. Phía trên dựng một cái
khám thờ Đại Sĩ trong ấy, bên trái thờ Long
Vương, bên phải thờ An tiên nhân (tức An Kỳ
Sanh), muốn cho những người lấy nước
sau này hành đạo thanh tịnh, thấu triệt nguồn
đáy pháp. Thấy Quán Âm ngay nơi ấy, vun bồi hạt
giống Phật cho tương lai. Đề Hồ vào miệng,
bệnh tật ĺa thân, tâm địa thanh lương,
vĩnh viễn không bị nhiệt năo bức bách, tiền
tŕnh xa rộng, thường được nhân từ, sống
lâu, khỏe mạnh. Nạp Tăng tôi quư ḷng thành khẩn của
ông ta, lược thuật đầu đuôi, tạc vào
đá quư kiên cố để bảo cùng những người
thông sáng trong tương lai.
9. Bi kư của Trinh Tiết Tịnh Độ
Viện thuộc Lưu Trang Trường tại Hưng
Hóa, tỉnh Giang Tô
Phật pháp là pháp chung cho cả
chín pháp giới, không một ai chẳng kham tu mà cũng không
một ai chẳng thể tu được. Bởi phàm ai
có tâm th́ không một ai chẳng cùng sẵn có Phật tánh,
nhưng do mê chưa ngộ nên đâm ra dùng sức công đức
của Phật tánh để khởi Hoặc tạo nghiệp,
luân hồi sáu nẻo trải trần điểm kiếp,
không thể thoát ĺa, há chẳng đáng buồn quá sức
ư? Nhưng v́ chúng sanh và Phật thể vốn đồng
bèn cảm Như Lai xuất thế, soi sáng cho chúng sanh. Do
đây, người bỏ tục xuất gia, tận lực
tu Định - Huệ, đoạn Hoặc chứng chân, liễu
thoát sanh tử không thể kể xiết! Cũng có vị cư
trần học đạo, tu chân ngay trong cơi tục, tự
chứng Pháp Thân, sanh lên bờ đạo như cư
sĩ Duy Ma, Phó Đại Sĩ, Bàng Cư Sĩ v.v… cả
nhà tu tŕ, đều chứng thánh quả. Các vị đại
sĩ ấy làm gương cho chúng sanh, đủ biết
ai nấy đều có thể tu, hễ tu ắt đều
được lợi ích. Do vậy, từ khi pháp
được truyền sang Đông Độ, vua quan, dân
chúng, khuê các anh hiền chẳng ĺa trần lao tu ṛng Tịnh
nghiệp, đều đích thân thấy được Phật
Tánh, đoạn Hoặc chứng chân, cũng như người
được cảm ứng đạo giao được
Phật tiếp dẫn, đới nghiệp văng sanh lại
không biết bao nhiêu mà kể.
Cư sĩ Hạc Niên Cao Hằng
Tùng là người Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô, xưa đă
trồng cội đức, dốc ḷng tin tưởng Phật
thừa. Tuổi vừa nhược quan liền hâm mộ
chân tu, vứt bỏ trói buộc thế tục, chăm chú
nơi sự nghiệp tuyển Phật rộng lớn. Do
vậy, bèn đến khắp các tùng lâm, tham học với
những bậc tông tượng, ḥng nhanh chóng thấu rơ tự
tánh, triệt ngộ duy tâm, báo đáp tứ ân, tế độ
mọi phẩm. Việc phụng dưỡng cha mẹ giao
cho vợ, mấy tháng mới quay về để thăm hỏi.
Bà phu nhân tên X… bẩm tánh hiền thục, tận ḷng hiếu
đạo, dẫu đă kết hôn, nhưng chí hâm mộ
thanh tu. V́ thế, cư sĩ không lo thiếu sót t́nh phụng
dưỡng, mà cha mẹ cũng hưởng niềm vui
được quấn quít. Nếu không phải do nguyện
xưa đă kết, làm sao được như vậy!
Đến khi cha mẹ đều khuất, không c̣n phải
lo lắng ǵ nữa, khác nào hạc nội mây ngàn mặc sức
bay nhảy. Do vậy, Ngũ Đài, Nga Mi, Thiên Thai, Kê Túc[31],
tất cả mọi chỗ danh sơn thánh đạo
tràng, thường đến lễ bái một loạt nữa.
Riêng đối với đạo tràng của Quán Âm Đại
Sĩ ở Chung Nam[32] lại
càng quyến luyến sâu xa, chợt nhận biết đời
trước từng trụ tại núi này, đủ thấy
nhiều đời nhiều kiếp đă tu Phật đạo
từ lâu, chẳng phải chỉ gieo thiện căn tại
một đức Phật, hai đức Phật, ba bốn
năm đức Phật mà thôi.
Năm
Dân Quốc thứ 10 (1921), từ núi Kê Túc trở về nhà
trông nom, thấy vợ đă già, cô đơn không nơi
nương tựa. Nghĩ đến công vợ thay ḿnh phụng
dưỡng cha mẹ nhọc nhằn, thương vợ
giữ chí thủ tiết thanh tu, do vậy bèn biến nhà
ḿnh thành Trinh Tiết Tịnh Độ Viện. V́ để
cho trinh nữ, phụ nữ tiết hạnh sống ở
đó chuyên tu Tịnh nghiệp, cầu sanh Tịnh Độ
nên đặt tên như vậy. Những bậc
hương thân chuộng nghĩa bèn bẩm lên huyện ra
cáo thị: Phàm là con cháu họ Cao và nhân sĩ các giới chẳng
được can dự, bởi lẽ viện này
được tạo dựng bởi tài sản riêng để
làm phước, tánh chất khác biệt với những am
miếu [thông thường]. Tài sản ban đầu là bao
nhiêu đó mẫu, tậu thêm bao nhiêu đó mẫu, tô lợi
thu được hằng năm dùng chi tiêu cho cơm áo của
người trong viện, căn cứ theo thâu nhập mà
thâu nhận người để khỏi bị thiếu
hụt. Chi phí sửa chữa, xây dựng đều do bạn
bè thân thiết của cư sĩ giúp đỡ. Ba gian nhà
chánh dùng làm điện Phật, bên trong thờ tượng
ngồi của Tây Phương Tam Thánh để những
người sống trong ấy sớm tối lễ tụng
ḥng tạo tư lương văng sanh. Hai gian chái hai bên làm chỗ
ăn ở của các bà. Những trinh nữ tiết phụ
lui tới đều không phân biệt chọn lựa, chỉ
cần trường trai niệm Phật, quyết chí văng
sanh, tánh t́nh nhu ḥa, không có các thói ngang ngược, tai ác, chẳng
coi trọng trang điểm, chẳng ăn mặn, uống
rượu, đoạn tuyệt t́nh thân thế tục, chẳng
du hành bừa băi th́ đều được chấp nhận.
Nếu không, nhất loạt chẳng chấp nhận cho cư
trú ở đó.
Lại
vào mùa Đông, mùa Hạ mỗi năm, nhằm hai dịp Phật
Đản[33], liền
mời bậc nữ sĩ thông hiểu pháp đến giảng
thuyết suốt tuần ngơ hầu đường lối
tông chỉ tu tập thảy đều hiểu rơ, chẳng
đến nỗi dùng pháp liễu sanh tử để
đạt được phước trời người.
Đấy chính là thượng hoằng hạ hóa, trọn
vẹn đôi bề, do bi thành kính, hai thứ ruộng (bi
điền và kính điền) đều đầy đủ.
Do vậy, bàn bạc việc này xong xuôi, những bạn bè
chuộng nghĩa đều vui thích hỗ trợ, như
ông Giản Chiếu Nam, Giản Ngọc Giai, Phan Đạt
Vi, Lư Bách Nông, Lê Ất Chân ở Quảng Đông và các vị
cư sĩ ở đất Hỗ (Thượng Hải), đều
tùy tâm lực, bỏ tiền của giúp đỡ. So với
việc giúp đỡ những bà góa th́ gần như giống
nhau, nhưng về mặt lợi ích cách biệt như trời
với đất. Viện nuôi bà góa bất quá chỉ nhằm
làm cho họ có chỗ gởi thân, chẳng đến nỗi
đói rét, nhưng chỉ ăn no, suốt ngày chẳng chịu
dụng tâm, chẳng tụng kinh chú, chẳng kiêng rượu
thịt, chỉ nhằm giúp đỡ họ trong đời
này, chẳng tính đến chuyện “khi mất đi thần
thức sẽ đi về đâu!” Sống trong viện này
suốt ngày tŕ danh hiệu Phật, sớm tối khẩn
thiết sám hối, chẳng những lúc sống có chỗ
nương gởi, chẳng uổng sống qua ngày, mà c̣n
khiến cho khi mất đi, có chỗ nương về,
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi. Ư đẹp, pháp
lành thật hay đẹp, thật cao quư! Pháp này đă
hưng khởi, sau này ắt có bậc thông hiểu pháp
nghĩa hành theo để giúp đỡ các bà góa, ngơ hầu
bậc trinh tiết anh hiền cùng dự vào Liên Tŕ hải
hội, công đức ấy chẳng thể diễn tả
được!
10. Bài kư về tịnh nghiệp trinh hiếu
của trinh nữ Trần Thánh Tánh
Chân Như pháp tánh chúng sanh và Phật
đồng thể. Do mê - ngộ sai khác mà thánh - phàm khác biệt.
Muốn khôi phục tâm tánh sẵn có th́ phải đoạn
Hoặc nghiệp huyễn vọng. Muốn đoạn Hoặc
nghiệp mà không nghiêm tŕ tịnh giới, tận lực tu
Định - Huệ sẽ không thể được! Tận
lực tu ba món Giới - Định - Huệ đến khi
công thuần th́ Vọng Hoặc triệt để tiêu diệt,
bổn tâm hiển hiện toàn thể. Ví như mài
gương, hết chất bẩn, tánh sáng c̣n lại.
Gương vốn sẵn có tánh sáng, chẳng do bên ngoài mà
có, chỉ nhờ vào duyên lau mài mà hiển hiện vậy.
Tuy
nhiên, cậy vào tự lực tu hành để đoạn
Hoặc chứng Chân, thật chẳng dễ dàng! Đoạn
Kiến Hoặc giống như cắt đứt ḍng
nước rộng bốn mươi dặm, huống ǵ
là Tư Hoặc! Vừa đoạn Kiến Hoặc bèn chứng
Sơ Quả, dự vào ḍng Thánh, vẫn c̣n phải bảy
lần sanh lên trời, bảy lần sanh xuống nhân gian mới
đoạn sạch được Tư Hoặc và chứng
Tứ Quả. Tuy nói là mười bốn lần sanh tử,
nhưng trên trời tuổi thọ rất dài, nên chẳng
dễ ǵ luận bàn năm tháng cho được! Thánh nhân
Sơ Quả muốn liễu sanh tử c̣n khó khăn
như thế đó, huống chi phàm phu có đủ Hoặc
nghiệp ư? Nếu chứng Tứ Quả th́ vĩnh viễn
cắt đứt căn bản sanh tử, vượt
thoát ra ngoài lục đạo luân hồi. Nếu phát tâm
đại bi th́ vào đời độ sanh, thừa nguyện
thị hiện hạ sanh, chẳng giống như kẻ
Hoặc nghiệp đầy dẫy bị nghiệp lực
thiện - ác lôi kéo, thăng - trầm trong sáu đường,
tự ḿnh không làm chủ được mảy may nào! Nếu
không phải là người túc căn sâu dầy sẽ không thể
tự lực liễu sanh tử được; chúng sanh
đời Mạt sao có thể mong cầu! Do vậy, đức
Như Lai đặc biệt mở ra một pháp môn Tịnh
Độ, để hết thảy dù thánh hay phàm, thượng
trung hạ căn cùng liễu sanh thoát tử ngay trong đời
này. Tâm từ bi cứu giúp ấy tột bậc không c̣n ǵ
hơn được nữa! Pháp tu tŕ này cũng phải
nghiêm tŕ tịnh giới, tận lực tu Định - Huệ,
nhưng phải kèm thêm sanh ḷng tin phát nguyện, tŕ danh hiệu
Phật cầu sanh Tây Phương. Tín nguyện chân thật,
thiết tha, niệm lực tinh thuần, ngay trong hiện
đời cũng có thể chứng thánh, lâm chung lên thẳng
Thượng Phẩm, dự vào địa vị Bồ
Tát, chứng địa vị Bất Thoái. Nếu như
căn cơ kém hèn, chưa được như thế, chỉ
cần chí tâm niệm Phật th́ tâm và Phật khế hợp,
cảm ứng đạo giao, lúc lâm chung ắt được
Phật từ tiếp dẫn đới nghiệp văng sanh.
Thậm chí kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác khi lâm chung
tướng địa ngục hiện nếu tâm thức
chẳng mê, có thiện tri thức dạy niệm Phật,
người ấy sanh ḷng sợ hăi lớn lao, sanh ḷng thẹn
hối lớn lao, dẫu chỉ niệm được mấy
tiếng rồi liền mạng chung cũng vẫn
được cậy vào Phật từ lực tiếp dẫn
văng sanh. Được văng sanh rồi th́ vĩnh viễn
thoát luân hồi, cao dự hải hội, tấn tu dần
dần ắt chứng Phật Quả. Cậy vào tự lực
để liễu sanh tử khó khăn như thế
đó; cậy vào Phật từ lực để liễu
sanh tử dễ dàng như thế này! Phàm những ai có tâm
đều có thể niệm Phật, đều có thể
văng sanh. Là trang nam tử có chí khí, quyết chẳng chịu
để Chân Như Phật Tánh sẵn có trái nghịch tịnh
duyên, ngả theo duyên mê nhiễm, luân hồi bao kiếp trong
lục đạo, không thể thoát ra!
Trinh
nữ Trần Thánh Tánh vốn là người quê ở huyện
Hoài Ninh tỉnh An Huy, cha cô vào độ tuổi trung niên
theo đuổi nghề buôn bán ở Cam Tuyền,
Dương Châu, bèn dời nhà sang đó, bà mẹ họ Cao.
Trinh nữ sanh nhằm năm thứ chín đời Hàm Phong
(1859), có ba chị em gái, người chị cả chính là mẹ
ông Trương Thiệu Xuân, trinh nữ là con giữa, cùng với
cô em đều tự ăn chay từ nhỏ, không ăn mặn.
Ấy là sẵn có túc căn. Ba người em trai, lớn
nhất là Thọ Thanh, từng được hậu bổ
làm tri huyện Giang Tây đời Thanh trước kia. Kế
đến là ông Mậu Chi, người em thứ ba là ông Mậu
Như, đều theo nghề buôn bán muối. Trinh nữ
đến tuổi cài trâm, cha mất, mẹ muốn chọn
chỗ giạm hỏi cho, trinh nữ bèn đau đớn
khóc lóc, thệ nguyện làm Anh Nhi Tử con gái nhà họ Bắc
Cung[34], vứt
bỏ trang sức để nuôi mẹ, ở đến
già không lấy chồng. Cô em quyết chí xuất gia tu hành,
c̣n trinh nữ th́ lập chí ở tại gia hầu hạ mẹ.
Mẹ biết chẳng thể thay đổi được
chí hướng của con, liền để mặc. Mẹ
cô có tật sạch sẽ quá đáng, phàm thức ăn, quần
áo, giầy dép, mền gối, giường màn, không thứ
nào không thay mới mỗi ngày, dẫu là sàn nhà cũng phải
mỗi ngày lau chùi một lần, ba ngày rửa một lần,
v́ thế chuyện ǵ giao cho con hầu, vú già làm đều
chẳng vừa ư, chỉ có trinh nữ nấu nướng,
khâu vá, giặt giũ, rửa ráy mới vừa ḷng mẹ
mà thôi. Tận lực hầu hạ chăm sóc, chẳng
để thiếu sót, hễ rảnh th́ tụng kinh lễ
Phật, không bỏ uổng ngày tháng. Dẫu nhằm dịp
lễ tết cũng chẳng ra khỏi cửa đi
chơi, tận tâm hiếu dưỡng, dốc sức tu Tịnh
nghiệp đến mức như thế đó, không những
đă trọn hết phận gái mà c̣n thật sự phụng
tŕ Phật pháp. Về sau, cô lại quy y Tam Bảo, thọ
Bồ Tát Ưu Bà Di giới, Thánh Tánh chính là pháp danh của
cô vậy.
Đến
khi mẹ mất, cô đau đớn cùng cực, sau đấy
ở nhà người em trai, càng siêng năng tu tŕ. Mấy năm
gần đây, Thiệu Xuân tin Phật ngày càng sốt sắng,
cô từng đến thăm cháu mấy lần, mừng v́
chí hợp đạo đồng, bèn không trở về nữa.
Qua hơn một năm, các em trai phải ép đón về.
Không lâu sau, tự biết ḿnh c̣n ở đời không lâu,
do các em trai và em dâu chỉ biết lễ nghi thế gian,
đều chẳng hiểu Phật pháp, sợ lúc lâm chung họ
thương cảm lưu luyến làm loạn chánh niệm
đến nỗi bị mất lợi ích, bèn đến ở
ni am của cô em gái để cầu chánh niệm văng sanh.
Không lâu sau, cô thị hiện bệnh nhẹ, gọi Thiệu
Xuân và ba người em trai đến, nhờ thỉnh vị
Tăng đầy đủ đức hạnh làm lễ
thế phát cho cô làm ni cũng như thuyết giới cho, lại
dặn sau khi mất nên hỏa táng để không c̣n sót lại
vật ǵ, xả thân rồi không c̣n ǵ để nương
náu nữa mới là tốt. Thiệu Xuân chấp thuận,
cô liền tắm gội, mặc pháp phục, ngồi ngay
ngắn niệm Phật. Thiệu Xuân bảo các vị ni và
các ông em trai cùng niệm Phật trợ giúp. Các ông em trai buồn
thương không cầm được, Thiệu Xuân tận
lực răn nhắc họ đừng làm loạn chánh niệm
của cô, các ông em trai đều nén ḷng bi thương niệm
Phật. Một chập lâu sau, dứt hơi, Thiệu Xuân
bảo đại chúng nhất tâm niệm Phật hai tiếng
đồng hồ, mặt cô càng thêm rạng rỡ hơn
khi c̣n sống. Sức tu tŕ cả một đời
được thể hiện trong khi ấy, chắc chắn
sẽ được văng sanh Tây Phương. Nếu không,
sao có thể đạt được tướng lành
như vậy ư? Lúc ấy nhằm giờ Sửu ngày 17
tháng Chạp năm Dân Quốc thứ 10 (1921), thọ sáu
mươi ba tuổi. Tuy lúc lâm chung đă xuống tóc làm ni,
nhưng chưa được mấy ngày, cũng như v́
muốn hiển thị tấm ḷng trinh bạch, đức
hạnh đẹp đẽ, thủ tiết tận hiếu
cả một đời của cô nên gọi là “trinh nữ”.
Mùa
Xuân năm nay, Thiệu Xuân đến Phổ Đà lễ
Đại Sĩ, thuật cặn kẽ sự việc, xin
tôi soạn bài kư để khai phát đức ẩn kín, ánh
sáng ngầm của cô. Tôi dựa theo kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật, [xét thấy] Tịnh Nghiệp Chánh Nhân gồm
ba điều: Một là hiếu thuận phụ mẫu, phụng
sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập
Thiện Nghiệp; bốn điều này thuộc điều
thiện thế gian. Hai là thọ tŕ Tam Quy, giữ đủ
các giới, chẳng phạm oai nghi, ba điều này thuộc
về Giới Thiện. Ba là phát tâm Bồ Đề, tin sâu
nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến
tấn hành giả, bốn điều này thuộc về Huệ
Thiện. Hai điều đầu tùy thuộc mỗi
người mà thuộc về Đại Thừa hay Tiểu
Thừa, nhưng điều này thuộc về Đại
Thừa. Trong mười một sự ấy, dù trọn vẹn
hay nửa phần, thậm chí chỉ làm được một
việc, dùng ḷng tín nguyện sâu, hồi hướng Tịnh
Độ th́ đều được văng sanh. Huống
chi trinh nữ làm được nhiều phần, lại
thêm b́nh sinh chuyên tâm niệm Phật, lẽ đâu chẳng
văng sanh. Cô biết trước thời khắc, sau khi tắt
hơi vẻ mặt lại càng thêm rạng rỡ, đủ
chứng tỏ điều ấy vậy.
Do
đó, bèn đem nguyên do của pháp môn Tịnh Độ và
hạnh đẹp trinh hiếu, tịnh nghiệp của
cô lược thuật những nét chánh, mong sao những bậc
anh hiền trong khuê các và hết thảy thiện tín nghe đến
phong cách của cô bèn hưng khởi theo, ai nấy trọn
hết bổn phận và tu Tịnh nghiệp, cha từ, con
hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ
theo, chủ nhân từ, tôi tớ trung thành, càng tu Tịnh
nghiệp càng giữ vẹn luân thường, sống th́
được thêm tiếng tăm, mất liền gởi
thân nơi Tịnh Độ. Trông ra những kẻ chỉ
biết Thế Đế, chẳng hiểu Phật pháp,
nghiệp thức mênh mang, không nơi nương tựa, uổng
có Phật tánh mà mê mất toàn thể, luân hồi trong sáu nẻo,
đọa lạc trong tam đồ đến cùng tận
đời vị lai trọn chẳng có lúc thoát ra, dẫu hết
cả năm cũng không thể nói hết được nổi.
Phàm những ai thấy nghe hăy đều nên gắng sức
vậy!
11. Bi kư lễ phóng sanh nhằm ngày sinh nhật
của bà phu nhân cư sĩ Châu Mộng Pha ở Ô Tŕnh[35]
Một niệm tâm tánh của hết
thảy chúng sanh với tam thế chư Phật hoàn toàn chẳng
hai, nhưng do mê chưa ngộ nên trải kiếp dài lâu
luân hồi trong sáu nẻo măi măi không ngừng. Tuy đường
lành trời người đem so với tam đồ ác
đạo khổ - vui thật khác, nhưng đều tùy
thuộc nghiệp lực thiện - ác thường bị
luân chuyển. Do vậy, thiện đạo chẳng
đáng để nương cậy, ác đạo thật
đáng kinh sợ! Há có nên không vun bồi nhân lành, lầm tạo
ác nghiệp, ỷ ḿnh mạnh mẽ lấn hiếp kẻ
yếu, bắt lấy hết thảy chúng sanh sống
dưới nước, trên cạn, trên không trung đem giết
hại để ăn uống ư? Trước kia, khi Phật
Giáo chưa truyền sang, thánh nhân Nho Giáo đều dùng luân
thường thế gian để lập giáo, đối với
Phật tánh sẵn có của chúng ta và lục đạo
luân hồi thăng trầm chuyển biến cũng như
chuyện đoạn Hoặc chứng chân, siêu phàm nhập
thánh dù Lư hay Sự đều chưa nêu tỏ. V́ thế,
chẳng ngăn cấm giết chóc, nhưng cái tâm bất
nhẫn đă được hiển hiện rơ ràng qua những
giáo huấn để lại cho đời. Như kinh
Thư nói chim, thú, cá, ba ba đều sống vui vẻ, sách
Luận Ngữ nói “chỉ câu
nhưng không quăng lưới, chỉ bắn chim đang
bay, không bắn chim đang đậu”[36],
Mạnh Tử nói “thấy sống
liền không nỡ nh́n thấy chết, nghe thấy tiếng
bèn không nỡ ăn thịt”, kinh Lễ chép: “Chư hầu không có lư do th́ chẳng
mổ trâu, đại phu không có nguyên do bèn chẳng giết
dê, kẻ sĩ không có lư do sẽ chẳng mổ giết
chó, lợn, thứ dân không có nguyên do sẽ không ăn đồ
ngon quư”. “Đồ ngon quư” chính là thịt vậy! Đủ
thấy Nho Tông cũng không phải là không răn cấm chuyện
sát sanh, nhưng do giáo hóa phải quyền biến nên
chưa thể ngăn cấm vĩnh viễn được!
“Phải có lư do mới giết” nên giết chóc ít
đi, không có lư do bèn không ăn thịt, nên một năm
ăn thịt không được mấy ngày. Về sau, đạo
giáo hóa suy sụp, quen thói tàn nhẫn, lấy thịt làm món
ăn thường ngày, chỉ mong sao sướng miệng,
chẳng nghĩ đến nỗi khổ của loài vật,
chẳng đáng buồn ư?
Đến
khi Phật Giáo truyền sang Đông, rốt ráo xiển minh thật
sự thật lư thường trụ măi măi“hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh” và “hễ mê th́ sanh tử luân hồi
trọn không có lúc ngơi, hễ ngộ th́ triệt chứng
Niết Bàn, bao kiếp thường trụ” th́ mới
biết bao nhiêu dị loại đều là cha mẹ quá khứ,
chư Phật vị lai. Chẳng những không dám giết
ăn, mà lại c̣n nghĩ cách khiến cho chúng được
sống yên vui. Do vậy, vua thánh, tôi hiền, triết
sĩ, thâm Nho đa phần tuân theo lời Phật giáo huấn,
vun bồi ḷng nhân, hoặc ăn chay, dứt ăn mặn,
hoặc kiêng giết, phóng sanh. Những lời hay hạnh
đẹp chép đầy trong sử sách, cũng mong cho
người đời sau cùng tu từ tâm, thương những
loài vật cùng có Phật tánh, do nhân duyên ác nghiệp phải
đọa trong loài súc sanh, ta nay may được sanh trong
loài người, nếu chẳng thương xót cứ mặc
t́nh giết hại, khó tránh khỏi đời vị lai sau
oan oan tương báo. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Giết thân mạng chúng, hoặc
ăn thịt chúng, trải vi trần kiếp ăn giết
lẫn nhau, ví như bánh xe xoay tṛn, lần lượt lên
cao xuống thấp không lúc nào ngưng nghỉ. Trừ [khi
đắc] Xa Ma Tha và [khi] Phật xuất thế ra, chẳng
thể ngưng nghỉ!” Nhưng đạo Xa Ma Tha[37]
thật chẳng dễ đắc, Như Lai xuất thế
cũng chẳng dễ gặp, nào dám chẳng học theo
tiên hiền, tuân lời Phật dạy. Suy cái tâm sợ chết
của chúng ta mà cứu vớt chúng nó đang đợi bị
nấu nướng, ngơ hầu tiêu trừ túc nghiệp, vun
bồi thiện căn, vĩnh viễn dứt cái nhân sát hại,
cùng chứng quả trường thọ.
Cư
sĩ Mộng Pha Châu Khánh Vân ở Ô Tŕnh thuộc ḍng vọng
tộc tại Nam Tầm, ưa thiện, thích bố thí,
đời đời tiếp nối đức hạnh,
bà nội là Hứa Thái Phu Nhân bẩm tánh từ thiện,
phước thọ song toàn, từ năm sáu mươi tuổi
đến nay nhằm mỗi dịp sanh nhật đều
khuyên các con đừng làm tiệc, mà dùng tiền đó
để lo các thiện sự như giúp người nghèo,
cứu người hoạn nạn, giúp đỡ bà góa,
nuôi trẻ mồ côi, cho quần áo, tặng thuốc… Đức
lành lan xa, cả làng đều kính ngưỡng. Đến
năm bảy mươi chín tuổi lại dùng 500 quan tiền
lập hội Phóng Sanh, các con đều vâng hiểu ḷng từ
của mẹ, kính cẩn thuật chuyện này, khắc vào
bia đá đặt trong từ đường để
con cái cháu chắt trong họ và những người
được thấy nghe đều phát thiện niệm,
tu cái nhân trường thọ.
Cư
sĩ cùng người hôn phối đức hạnh là
Trương phu nhân đều tận lực tuân thủ gia
quy, dốc ḷng tin tưởng Phật thừa, chỉ mang
tâm niệm lợi người cứu vật. Nay phu nhân tuổi
đă tṛn hoa giáp (sáu mươi), cũng muốn vâng tiếp
gương lành, bỏ ra năm trăm đồng lập
hội Phóng Sanh tại Thu Tuyết Am ở Tây Khê, Hàng Châu
để thay thế cho lễ chúc thọ, dù con hay cháu
cũng đều có thể tiếp nối chí nguyện
người trước ḥng đẹp ḷng mẹ. Cư
sĩ lại muốn dựng một tấm bia ngơ hầu
người nghe tiếng đều khởi ḷng cùng văn hồi
kiếp vận. Do vậy, bèn đem chuyện này ủy thác
cho Quang trần thuật. Quang tự thẹn tài lẫn pháp
đều nghèo, không cách ǵ giúp cho thế đạo
được, nhưng một niệm ngu thành chỉ muốn
cho người đời cùng phát từ tâm, cùng tu Tịnh
nghiệp văng sanh, sống làm một người chẳng
thiếu nợ trong cơi Sa Bà, khi mất dự vào Liên Tŕ Hải
Hội ở Cực Lạc. Do vậy, quên ḿnh hèn tệ,
lược thuật đại khái nguyên do kiêng giết
phóng sanh và đức hạnh nhiều đời của họ
Châu.
12. Bài kư nêu tỏ ư nghĩa ẩn kín của
Tuần Cai[38]
Tiểu Trúc
Hiếu là đạo không lớn
lao nào vượt ra ngoài được, hết thảy các
điều thiện không ǵ chẳng bao trùm, nhưng có
điều thiện thế gian và xuất thế gian, đại
- tiểu, bổn - tích khác biệt. Đạo hiếu thế
gian là hầu hạ, phụng dưỡng cho [cha mẹ] được
yên thân, tiếp nối ư chí của người trên để
làm đẹp dạ, cho đến lập thân hành đạo
để được lưu danh đến tận
đời sau. Tuy là lớn - nhỏ bất đồng,
nhưng đều thuộc về phương diện sắc
thân. Dẫu cho đại hiếu ngút trời, rốt cuộc
đối với tâm tánh, sanh tử của cha mẹ chẳng
được lợi ích ǵ! Có thể nói là toàn chạy theo
h́nh tích, chẳng xét đến cái gốc, huống chi sát
sanh để phụng dưỡng, cúng tế khiến cho
cha mẹ bị oán đối cố kết, nhiều kiếp
đền trả chẳng ngơi ư?
Đạo
hiếu xuất thế về mặt h́nh tích th́ cũng giống
như thế gian: Hầu hạ, phụng dưỡng cho
đến lập thân, dương danh; nhưng về mặt
cội gốc th́ khiến cho cha mẹ huân tu đại
pháp của đức Như Lai, [khi cha mẹ] c̣n sống
th́ khéo léo khuyên dụ ngơ hầu cha mẹ ăn chay niệm
Phật, cầu sanh Tây Phương. Ăn chay th́ chẳng tạo
sát nghiệp, lại diệt được túc ương;
niệm Phật th́ ngầm thông Phật trí, thầm hợp
diệu đạo. Nếu có thể tin sâu nguyện thiết
cầu sanh Tây Phương, ắt đến khi lâm chung
được Phật tiếp dẫn, gởi chất
nơi chín phẩm sen. Từ đấy siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn ĺa các sự khổ
chốn Sa Bà, thường hưởng những sự vui
nơi Cực Lạc. Cha mẹ đă mất th́ thay cha mẹ
dốc ḷng tu Tịnh nghiệp, chí thành hồi hướng
cho cha mẹ. Nếu tâm chân thật, tha thiết th́ cha mẹ
được lợi ích, nếu chưa văng sanh sẽ liền
có thể được văng sanh. Nếu đă văng sanh ắt
tăng cao phẩm sen. Đă có thể phát tâm như vậy
th́ tương ứng với Tứ Hoằng Thệ Nguyện,
khế hợp giác đạo Bồ Đề, há nào phải
chỉ riêng cha mẹ được lợi ích mà công đức,
thiện căn của chính ḿnh, phẩm bậc nơi
đài sen lại càng được cao siêu thù thắng
hơn, huống chi lại c̣n lấy thân ḿnh thuyết pháp
khiến cho khắp đồng luân đều phát tâm hiếu
thuận ư? Đấy mới là thật nghĩa rốt
ráo của Hiếu, chẳng phải như thế gian chỉ
mong làm lợi cho sắc thân và đời này, hoàn toàn bỏ
sót tâm tánh và vị lai chẳng bàn đến!
Do
vậy biết Phật giáo lấy Hiếu làm gốc, cho
nên kinh Phạm Vơng chép: “Hiếu
thuận phụ mẫu, sư tăng, Tam Bảo. Hiếu
thuận là pháp chí đạo (đạo tột cùng). Hiếu gọi là Giới”. Trong các giới Giết
- Trộm - Dâm đều dạy phải sanh ḷng từ bi,
sanh tâm hiếu thuận. Trong giới “bất hành phóng cứu” (Không thực hành chuyện
phóng sanh, cứu vớt), có câu: “Hết
thảy người nam là cha ta, hết thảy người
nữ là mẹ ta, đời đời kiếp kiếp
không lúc nào ta chẳng sanh ra từ họ, cho nên lục
đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta. Giết họ
ăn thịt chính là giết cha mẹ ta”. Do vậy, nói:
Đạo hiếu của Phật giáo trọn khắp tứ
sanh lục đạo, đến tận vô thủy trước,
đến tột cùng vị lai sau, nào phải [đạo
hiếu thế gian] chỉ biết một thân một đời
có thể so sánh được ư? Đă như thế rồi
mà chẳng kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật,
há có c̣n là đạo hiếu rốt ráo tột bậc không
ǵ hơn được nữa hay sao?
Ông
Trương Tử Ấm ở Hàng Thản hiếu thuận
khôn nguôi, cha mẹ khuất bóng đă mấy mươi
năm, mỗi lần nghĩ đến vẫn c̣n gạt
lệ, do nghĩ đến cha mẹ bèn chuyên niệm danh
hiệu Phật, ấy là v́ sắc thân của ta đây
chính là thân của cha mẹ, ta đă v́ cha mẹ niệm Phật,
cha mẹ ắt sẽ được Phật nhiếp thọ,
ấy chính là hiếu! Đó gọi là “thế gian lẫn xuất thế gian đều vẹn
toàn”. Đă có cha như thế ắt có con như thế;
con ông là Hinh Cốc khéo hiểu ḷng cha, dốc sức tu Tịnh
nghiệp, rộng hành các điều thiện, thoạt
đầu thỉnh khắp các bậc danh hiền phát huy
đức hạnh thủ tiết nuôi con côi của bà nội
là bà Phí Thái Nhụ Nhân[39],
đức lừng lẫy khắp nữ giới, cho khắc
vào tập Tinh Tiết Lục để an ủi tấm ḷng
trinh linh của bà nội, cũng như xoa dịu ḷng
thương nhớ hiếu thuận suốt đời của
cha. Kế đó, do cha luôn nghĩ nhớ, bèn dựng một
cái thất nhỏ, trồng la liệt tùng, trúc, đặt tên
là Tuần Cai Tiểu Trúc, trong thất thờ h́nh bà nội,
bốn vách treo đầy những đề vịnh của
các bậc danh hiền, để cha thường được
thờ phụng h́nh bóng bà, giữ ḷng thành như bà đang
c̣n sống.
Lại
v́ Tuần Cai Tiểu Trúc bèn cầu t́m đề vịnh của
khắp các bậc danh hiền để tỏ rơ ḷng hiếu
thuận của cha, ngơ hầu cảm phát đồng nhân,
phù hợp sâu xa đạo “hiếu
thuận cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ
tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp” của
Quán Kinh. Đă có Tịnh nghiệp chánh nhân, ắt đạt
được thật quả văng sanh. Cha con ông Tử Ấm
và các quyến thuộc tuy vẫn sống trong Sa Bà, nhưng
quả thật đă là các thượng thiện nhân trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới. Những ai
muốn hiếu thuận với cha mẹ trong cơi đời,
chẳng thể không lấy điều này làm gương vậy!
13. Bi kư về việc tạo lan can sắt
bên đường lên Phật Đảnh Sơn
(viết thay cho
Văn Chất ḥa thượng)
Viên Thông đại sĩ thệ
nguyện hoằng thâm, pháp giới hữu t́nh đều
được b́nh đẳng nhiếp thọ, Phổ Môn
thị hiện trong hết thảy xứ, chân trí không ngằn
mé. Danh sơn Bổ Đát ở Đông Nam Hải là chỗ
Ngài ứng tích. Do không ngằn mé nên bèn tùy theo h́nh loại,
thí ḷng từ bi đồng thể. Do có nơi chỗ nên
bèn vượt biển trèo núi, báo đáp ân đức khôn ngằn.
Do vậy, bao triều đại đều khâm kính, cả
cơi đời cùng tôn sùng. Không ai chẳng muốn cầu
chúc mọi người cùng được khỏe mạnh,
yên vui để cơi đời thạnh trị, tiêu tai lệ
để tạo phước cho lê dân. V́ thế, ba ngôi chùa
đứng như thế chân vạc, các am la liệt; chùa
nào am nấy đều hoằng đạo Tổ, đều
cùng xiển dương Phật tâm. Chỉ riêng chùa Huệ
Tế xây nền trên đảnh núi mang tên là Phật Đảnh,
quanh co mấy dặm, đường đi xếp bằng
đá tảng, ṿng vèo cao ngàn nhận[40]
khác nào người leo thang lên trời. Mỗi khi đến
kỳ dâng hương, người qua lại nhộn nhịp,
chân đạp trên đá trơn hết sức nguy hiểm.
Vị
trụ tŕ đời trước là Văn Chánh quyên mộ
các đàn tín xây dựng con đường đá khiến
cho con đường hiểm trở biến thành khang trang,
dù cao ṿi vọi, ngút ngàn, nhưng bước nào cũng bằng
phẳng, nhưng v́ bên đường không có ǵ ngăn chặn
nên qua lại vẫn cảm thấy rờn rợn. Vị
đại hộ pháp là ông Chúc Đại Xuân xưa đă
gieo cội đức, dốc ḷng tin tưởng Phật
thừa; đă thế, trong cơi tục, ông ta lại có địa
vị trong chánh quyền, hành đạo “tu chân ngay trong cơi tục”,
gặp dịp đến đây dâng hương trông thấy
t́nh cảnh ấy, bèn phát đại tâm, cho dựng lan can sắt
khắp nơi, khiến cho mọi người đến
đây lên đạo tràng viên thông đều đi
đường yên ổn, không sợ hăi ǵ nữa, chẳng
mất công cứ mỗi bước lại phải nh́n xuống
chân, đắc đại tổng tŕ, hiểu rơ bậc thềm
Phật ở tại ngay nơi ấy, nương theo
đường chăng bằng giây vàng, đâu đâu
cũng gặp đạo. Từ dưới đất vịn
nắm quanh co, đi một mạch lên đến nơi
sơn cùng thủy tận, từ đấy nhập vào Phật
huệ, tự thấy Quán Âm. Công đức như thế
thật giống như sức Phổ Môn Thí Vô Úy, có cùng một
Thể - Tướng - Dụng; ắt sẽ do đây nhanh
chóng vượt lên Thập Địa, viên măn Tam Giác, không
những thân tâm được yên vui, điều tốt
lành nườm nượp xảy đến dài lâu dằng
dặc, mà điều mừng vui c̣n thấu đến tận
hậu duệ nữa!
14. Bi kư trùng hưng chùa Tịnh Cư ở Tế
Nơi Thật Tế lư địa
trọn chẳng có cái tên chúng sanh và Phật, trong pháp môn tu
tŕ mới có danh hiệu phàm và thánh. Tâm thể vốn vắng
lặng, do phiền hoặc nên hôn trược bèn nhanh chóng
hiện ra. Vọng tánh vốn không, do giác chiếu nên chân
thường riêng tồn tại. Do vậy biết: Bất
biến tùy duyên mười giới thăng trầm rất
khác; tùy duyên bất biến, Thể - Dụng của nhất
tâm không khác. Tâm ấy, lư ấy mọi chúng sanh đều
có, nhưng triệt ngộ, triệt chứng chỉ có ḿnh
đức Phật. V́ thế, đức Thế Tôn ta thị
hiện sanh trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy
cơ thuyết pháp. Với kẻ đại căn bèn chỉ
ngay Nhất Chân pháp giới khiến họ vô trụ sanh
tâm, cho đến khi đoạn Hoặc chứng chân. Với
kẻ căn khí nhỏ nhoi bèn giảng cặn kẽ tam thế
nhân quả, khiến họ hướng lành tránh dữ, dùng
đó làm phương tiện nhập đạo. Tuy ngàn
căn cơ đều được dưỡng dục,
pháp không có tướng nhất định, nhưng muôn ḍng
đều quy hướng, đều đổ vào biển
giác. Phàm nói đến đạo “cách vật trí tri, chánh tâm
thành ư, tu - tề - trị - b́nh” th́ chẳng khác ǵ khuôn phép của
Nho Giáo, nhưng chuyện “minh tâm kiến tánh, chân cùng, Hoặc
tận” th́ Nho Giáo chưa thể phát huy được. Bởi
lẽ một đằng tùy thuận t́nh kiến thế
gian, một đằng chỉ thẳng vào tâm thể (bản
thể của tâm). Nếu xét đến cội gốc th́
Linh Sơn, Tứ Thủy ở cùng một đất,
Đông Lỗ[42],
Tây Trúc thực chẳng phải hai trời. Do vậy, vua
quan đời cổ không ai chẳng hoằng dương,
hộ tŕ, những bậc hiền triết thời nay thảy
đều nghiên cứu đến cùng tận, bởi lẽ
pháp này về mặt ngầm là giúp cho đạo b́nh trị,
về mặt tỏ khiến dân t́nh yên lành, tiêu họa loạn
ngay khi chưa chớm, chứng Phật tánh sẵn có vậy.
Tế
Vào
năm Dân Quốc thứ bảy (1918), ông thương nghị
với vị Trụ Tŕ đă thoái ẩn của am Phổ
Tế ở Tế Ninh là ngài Đức Hinh, ngài Đức
Hinh bèn sai phương trượng am ấy là Kiến Huệ
đến Tế Nam t́m đất, thấy mười mấy
mẫu đất thuộc nền cũ của Tịnh
Cư Tự ở Đông Quan là nơi có thể lập
đạo tràng. Chùa này được lập vào thời Bắc
Tống, nay đă thành chốn g̣ hoang, chỉ c̣n lại ba
gian Phật điện nhưng cũng sắp sụp đổ.
Người trông coi chùa muốn tu bổ nhưng khổ nỗi
không có sức, gặp đúng lúc thầy Kiến Huệ
đem chuyện muốn quyên mộ đất để lập
tùng lâm ra nói, người ấy cố nhiên khâm phục
đức của ông Phan, ngài Đức Hinh, thầy Kiến
Huệ, nên bèn vui vẻ dâng tặng, lại bẩm lên huyện
lập giấy tờ để làm bằng chứng. Ông
Phan tuổi cao, đă thuộc vào hàng thất thập, bèn
lên kinh đô, xin ông phụ tá của Quốc Vụ Tổng
Lư (Thủ Tướng) là ông Cận đứng ra đề
xướng, ông Cận bèn quyên tặng hai ngàn đồng.
Khi ấy, con ông Phan là Phục, giữ chức Tổng
Trưởng Tài Chánh, quyên góp khắp trong đất Đàm[44]
được tất cả năm ngàn đồng, lại
tùy duyên quyên góp được khoảng sáu ngàn đồng
nữa, bèn khởi công vào mùa Xuân năm Dân Quốc thứ
chín (1920), đến mùa Thu th́ hoàn thành. Khi ấy, gặp
đúng lúc đốc quân Du Quan là ông Điền Uẩn
Sơn đóng quân ở Sơn Tả, dốc ḷng tin tưởng
Phật pháp, nên khẳng khái quyên ra một ngàn đồng,
cực lực đề xướng, lại c̣n phái người
thay mặt đến trước để phụ đôn
đốc, nên mau được hoàn thành.
Trù
tính tu bổ Phật Điện, Thiên Vương Điện,
mỗi nơi đều ba gian. Vây quanh là Tổ Đường,
Già Lam Điện, Phương Trượng, Niệm Phật
Đường, Thiền Đường, Trai Đường,
Đại Môn (cổng chánh), Khách Đường (nhà tiếp
khách), Khách Sảnh (chỗ nghỉ cho khách), Trù Pḥng (nhà bếp)
v.v… tổng cộng hơn năm mươi gian, tuy chưa
đáng gọi lầu cao giăng mắc, điện các ṿi
vọi, nhưng cũng đă tiến hành tham thiền, niệm
Phật, hoằng pháp lợi sanh được rồi.
Đến ngày Mười Chín tháng Chín, làm lễ khai quang
tượng Phật, thành lập đạo tràng, treo chuông,
bản lên, người đèn nhang lễ Phật chen vai,
thích cánh, khi đó có chuyện lạ đứa bé con té giếng,
được Phật cứu vớt, nằm yên ổn trong
nhà. Về sau, có chuyện tốt lành là có một người
già cả mắc bệnh lâu ngày không khỏi, nằm mộng
thấy có người cho uống nước giếng này
liền được lành bệnh. Đến năm Dân Quốc
thứ 10 (1921), vùng Tế Ninh hạn hán lớn, ôn dịch
tràn lan, mọi người cùng kéo nước giếng này
để uống và cầu đảo th́ mưa ngọt
bèn tuôn xuống khắp nơi, ôn dịch dứt ngay. Do vậy,
mọi người đều gọi là Thánh Thủy. V́ thế
bèn lập một cái đ́nh bát giác để che giếng,
khắc bia ghi lại việc này. Ôi chao! Lạ lùng thay! Ḷng
thành đến cùng cực th́ vàng đá cũng nứt.
Đấy là do ḷng thành của ông Phan, các thầy Đức
Hinh, Kiến Huệ, phát khởi ḷng thành của mọi
người thành lập đạo tràng này, do ḷng thành của
mọi người tương cảm nên Phật từ
bèn rủ ḷng ứng theo, cho nên mới có những chuyện
chẳng thể nghĩ bàn như vậy, đủ chứng
tỏ “tâm, Phật, chúng sanh cả
ba không sai biệt!” Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, cảm
ứng đạo giao, giống như đă có h́nh ắt có
bóng, có tiếng ắt có tiếng vang.
Tuy
chùa đă thành lập, nhưng Tăng không được
nuôi dưỡng th́ cũng không thể an cư hành đạo;
do vậy, ông Phan lại quyên mộ được một
vạn hai ngàn đồng gởi vào công ty Lỗ Phong với
lăi suất khởi đầu một phân hai ly, mỗi tháng
thu được một trăm bốn mươi bốn
đồng, dùng làm tiền ăn uống và chi phí những
thứ cần dùng trong chùa, có thể nuôi được hai
mươi vị Tăng thường trụ và mười
vị Tăng quải đơn[45]. Sau
này nếu có bậc đại từ thiện quyên tặng
khoản tiền lớn hơn th́ sẽ căn cứ theo
khả năng mà mở rộng quy mô hơn nữa. Chùa
thành lập rồi, hai vị Đức Hinh và Kiến Huệ
nối nhau quy Tây; do vậy, bèn thỉnh vị Trụ Tŕ
đă thoái ẩn của Thiên Mục là Năng Ḥa Lăo Nhân tạm
thời chấp chưởng, nay thỉnh ḥa thượng
Diệu Liên thuộc chùa Hoa Nghiêm ở Duyện Châu[46]
làm Trụ Tŕ.
Việc
tu tŕ trong chùa chuyên chủ Tịnh Độ, không truyền
giới, không làm kinh sám thù tạc. Thí chủ có tín tâm đến
chùa niệm Phật hoặc đả Phật thất
để hồi hướng cho tiên linh hoặc cầu
phước thọ th́ không cự tuyệt. Do pháp môn Tịnh
Độ chính là pháp quy tông kết đảnh của hết
thảy các pháp, hạ thủ dễ thành công cao, dùng sức
ít lại được hiệu quả nhanh chóng, là vô
thượng diệu đạo để phổ độ
chúng sanh của Như Lai, quả thật là pháp môn đặc
biệt để cả phàm lẫn thánh cùng lên bờ giác.
Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, tu các pháp môn
khác khó thể được lợi ích thật sự, bởi
lẽ hết thảy pháp môn đều cậy vào tự lực,
chỉ có pháp Tịnh Độ này hoàn toàn nương vào Phật
lực. Cậy vào tự lực để đoạn Hoặc
chứng chân nếu không phải là bậc lợi căn cao
nhất th́ chẳng thể liễu thoát ngay trong đời
này! Nương vào Phật lực, có đủ ḷng tin chân
thành, nguyện thiết tha, dẫu là hạng độn
căn thấp nhất cũng có thể đới nghiệp
văng sanh. So sánh hai pháp th́ sự khó - dễ, nhanh - chậm
khác nào trời với vực. Do vậy, mười
phương chư Phật hiện tướng lưỡi
rộng dài để tán dương, thánh hiền hai cơi phát
tâm Kim Cang lưu truyền.
Lược
nêu tóm tắt những ư chánh để bảo cùng đồng
nhân, nếu ai tin tưởng chắc thật th́ lợi ích
vô tận. Phương danh của những vị thí tiền
của được ghi đầy đủ ở mặt
sau bia, nhờ vào công đức này ắt hiện đời
phước thọ tăng trưởng, lâm chung được
Phật Di Đà tiếp dẫn vậy!
15. Bi kư Vạn Niên Niệm Phật Hội ở
Thường Minh Am
Từ nơi phàm t́nh hiển lộ
Như Lai Tạng, dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa
Tâm, dẫn sáu nẻo lên chín phẩm sen, vượt thoát tam
giới hưởng tứ đức, trong thời Ngũ Trược
lừng lẫy, làm một tông viên măn ngay trong một đời
th́ chỉ có pháp Niệm Phật là được như vậy
mà thôi! Khi xưa, Lập Sơn Lăo Nhân trùng hưng chùa Pháp
Vũ suốt mười mấy năm, muốn thoái ẩn
nơi tịnh thất để chuyên tu Tịnh nghiệp,
nên mới dựng am này, ḥng làm chỗ cho chính ḿnh và các
đồ đệ gieo tấm ḷng thành cho đến hết
đời, mong trở về An Dưỡng. Cảnh giới
vắng lặng, cách tuyệt cơi trần, quy củ nghiêm
túc, không dễ dăi chút nào; chẳng phải là người
không tham thế duyên, cam chịu đạm bạc, dốc
chí tu tŕ cầu sanh Tịnh Độ sẽ chẳng thể
ở đây được!
Vào
năm Tuyên Thống thứ hai (1910) đời Thanh trước
kia, nhằm khi sư Liễu Đế làm đương
gia, có các cư sĩ Trần Lạc Chi, Cố Thọ Bành
v.v… lên núi dâng hương, ở nhờ am này. Trông thấy
am quy (quy củ trong am) nghiêm túc, Tăng chúng nghiêm tịnh,
xa là tiếp nối được liên xă của Khuông Lô, gần
là thừa kế Tịnh tông của ngài Vân Thê. Thầy Liễu
Đế lại v́ họ giảng cặn kẽ pháp Niệm
Phật, sự tuy giản dị, nhưng lư cực viên
đốn, độ khắp ba căn, lợi - độn
cùng thâu, là tông yếu tối thượng của vô lượng
pháp môn trong cả một đời giáo hóa của đức
Như Lai. Hết thảy pháp môn, hằng sa diệu nghĩa
không ǵ chẳng lưu xuất từ pháp giới này, không ǵ
chẳng trở về pháp giới này. Do vậy, vị Tổ
của ta là Lập Sơn Lăo Nhân dựng lập am này để
tiếp độ con cháu.
Bọn
họ vừa nghe như vậy bèn phát đại tâm, chọn
lựa tập hợp mấy mươi người cùng
chí hướng, ai nấy đóng góp bao nhiêu đó tiền,
lập ra Vạn Niên Niệm Phật Hội, bắt đầu
từ ngày Mười Chín tháng Hai của năm sau cho đến
ngày Hai Mươi Lăm là viên măn, đêm hôm đó làm lễ
thí thực để cứu giúp mọi cô hồn, vĩnh
viễn lấy đó làm lệ nhất định, chẳng
được sửa đổi. Am này đem số tiền
thanh tịnh ấy, ngoại trừ phần dùng để
làm chi phí trong pháp hội ấy ra, phần c̣n lại dùng
để mua ruộng hết. Hoa lợi thâu được
liền dùng để lập pháp hội kế tiếp. Số
tiền c̣n dư th́ dùng để giúp chi dụng cho thường
trụ. Sợ rằng lâu năm không chứng cớ, bèn khắc
vào đá quư kiên cố, ngơ hầu ức vạn năm sau
không bị phế bỏ. Sẽ thấy đạo tràng Thường
Minh hương đèn ngày càng thạnh, mười
phương đàn-việt tín tâm càng nồng, cùng dự Phật
hội, cùng niệm danh hiệu Phật, cùng sanh cơi Phật,
cùng thành Phật đạo, công đức lợi ích làm sao
diễn tả cho được? Những quy củ
được ghi tường tận ở phần sau.
16. Bài kư nơi tháp hóa thân của chùa Phổ
Tế tại Phổ Đà
Cổ nhân nói: “Tử sanh cũng lớn lắm, há chẳng đau
đớn ư?” Trộm nghĩ: Chẳng biết nguyên
do, dù có đau ḷng nào có ích ǵ đâu? Phải biết hết
thảy chúng sanh theo nghiệp lưu chuyển, thọ sanh
trong sáu đường. Sống chẳng biết từ
đâu đến, chết chẳng biết đi về
đâu. Do tội phước, nhân duyên bèn thăng - giáng,
xoay vần luân hồi trọn không lúc nào ngơi. Như Lai
thương xót, dạy cho nhân duyên “do Hoặc khởi nghiệp, do nghiệp cảm khổ”
và bản thể “thường
- lạc - ngă - tịnh, tịch chiếu viên dung”, khiến
cho họ biết rơ: Do vô minh nên mới có thân này, tức là
sắc thân này hoàn toàn thuộc huyễn vọng, chẳng những
Tứ Đại không có mà ngay cả Ngũ Uẩn cũng
đều là Không. Đă biết các Uẩn là Không th́ diệu
lư Chân Như Pháp Tánh Thật Tướng sẽ triệt
để phô bày trọn vẹn. Lại sợ có kẻ t́nh
chấp kết chặt chưa thể giải thoát, nên sau
khi xả báo bèn dùng lửa thiêu hóa, ngơ hầu người
chưa ĺa chấp trước sẽ mau ĺa được,
người đă ĺa được bèn mau chứng Pháp
Thân, lại c̣n khiến cho hiện tiền đại chúng
ngộ biết thân này chẳng chân thật, dùng ngay cái thân ấy
để làm chứng minh. Ấy gọi là “nên dùng thân hóa thành tro, diệt mất dấu tích
để độ, bèn hiện thân cháy thành tro, diệt mất
dấu tích để thuyết pháp”. Do đây bèn lập
ra quy chế hỏa táng, phàm những ai thuộc vào Tăng
đồ đều tuân hành.
Nhằm
lúc pháp đạo thạnh hành vào đời Đường,
đời Tống, những người tại gia thông hiểu
đa phần cũng tuân theo, chứ không chỉ riêng
Tăng chúng mới vậy. Phổ Đà chính là đạo
tràng của Quán Âm Đại Sĩ; Phổ Tế, Pháp
Vũ là tùng lâm thập phương cộng trụ, Tăng
chúng đến - đi quả thật rất đông. Phàm
những vị mất đi đều dùng lửa thiêu hóa,
nhưng ḷ thiêu rất thô sơ, chẳng những tốn
nhiều củi đốt, lại c̣n khiến cho
xương bị trộn lẫn với tro đất. Các
cư sĩ đương thời túc căn sâu dầy dốc
ḷng tin tưởng Phật pháp, phát tâm Bồ Đề làm
chuyện lợi lạc, bèn phỏng theo cách thức của
ngoại quốc, nghiên cứu châm chước sao cho thích hợp,
chuẩn bị nhân công, vật liệu, tạo cho hai chùa
trước và chùa sau mỗi chùa một ḷ. Do ḷ ấy h́nh
như cái tháp, nên gọi là Tháp. Mỗi tháp tốn hơn cả
ngàn bạc, có thể nói là công đức chân thật vậy.
Tháp vừa dựng xong, gặp đúng lúc có người
văng sanh, chưa đầy ba tiếng đồng hồ
đă thiêu sạch sẽ, tro xương đều đựng
trong hộp sắt, không bị lẫn lộn với tro
đất nữa. Do vậy, đại chúng hoan hỷ,
mong khắc vào đá để ghi lại. Minh[47] rằng:
Ban
đầu thọ thân là do vô minh, mê cái gốc Chân Như, lầm
sanh ái t́nh, ái t́nh đă khởi, huyễn chất gá vào, nhận
lầm là Ngă, vĩnh viễn chẳng giác. Như Lai
thương xót, riêng lập phương tiện, khiến
cho kẻ c̣n, người mất đều ĺa Ngă Kiến.
Thân c̣n chẳng được, Ngă từ đâu có? Diệt
trọn bốn tướng, Ngũ Uẩn đốn không.
Sanh - diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền.
Chân Như Pháp Tánh trở về sẵn có. Ĺa tướng
huyễn vọng, phát tâm Bồ Đề, hồi hướng
Tịnh Độ, gần đấng Quang Thọ, nghe pháp,
thọ kư, chứng Vô Sanh Nhẫn, nương đại
nguyện luân độ cho những kẻ thật đáng
thương xót, khiến cho hết thảy cùng sanh Tây
Phương, đều trong vị lai làm đấng Pháp Vương.
17. Bài kư nơi tháp hóa thân chùa Pháp Vũ, Phổ
Đà
Ngă Chấp của chúng sanh kiên cố
khó phá lắm thay! Cái sắc thân này vốn do đất,
nước, gió, lửa Tứ Đại hợp thành,
nhưng lầm chấp là Ngă, như dầu lẫn vào miến,
vĩnh viễn chẳng thoát, đâm ra mê trái toàn thể
[chân lư] “Chân Ngă chẳng thuộc Ấm - Giới, chẳng
thuộc thánh - phàm”, như gương bị bụi lấp,
chẳng thể chiếu soi. V́ thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều
có đủ trí huệ của Như Lai, nhưng do vọng
tưởng, chấp trước, chẳng thể chứng
đắc. Nếu ĺa vọng tưởng th́ Nhất Thiết
Trí, Vô Sư Trí đều được hiện tiền”.
Do vậy biết tâm tánh của chúng sanh ngang bằng chư
Phật, nhưng do chấp trước mà chẳng thể
thọ dụng, chẳng đáng buồn ư?
V́
thế, đức Như Lai thuyết pháp đủ cách khiến
cho chúng sanh biết rơ cái sai từ
trước đến nay
“nhận lầm Tứ Đại là thân tướng, [tưởng
lầm] duyên ảnh của sáu trần là tướng của
tự tâm” th́ “chân thân thường
- lạc - ngă - tịnh, chân tâm tịch chiếu viên dung”
bèn tự được hiển hiện toàn thể. Lại
do những người chấp chặt thân tướng,
căn cơ ám độn cũng khó liễu ngộ thân này
là vọng, ngơ hầu chẳng sanh chấp trước, cho nên
sau khi xả báo, bèn đem hỏa thiêu, đột nhiên chẳng
c̣n ǵ nữa. Như thế th́ người c̣n lẫn kẻ
mất đều ngộ được cái thân do Tứ
Đại giả hợp chẳng phải là thân. Các cư
sĩ đương thời từ xưa đă có linh
căn, tận lực tu tịnh hạnh, tâm lợi người
tha thiết, ḷng hộ pháp ân cần. Do từ trước
đến nay ḷ thiêu chưa thích đáng, nay muốn sửa
đổi cho tốt đẹp hơn, bèn tinh chuyên nghiên cứu,
phỏng theo cách thức của ngoại quốc để
sửa đổi, tạo cho Pháp Vũ, Phổ Tế mỗi
chùa một ḷ. H́nh cái ḷ ấy giống như cái tháp nên gọi
là Hóa Thân Tháp. Phí tổn tính ra hơn cả ngàn bạc, ư đẹp,
cách hay, công đức vô lượng.
Minh
rằng: Chúng sanh mê trái chẳng phải Ngă, lại chấp
là Ngă, như tằm kéo kén, như con thiêu thân đâm đầu
vào lửa. Vốn có Chân Ngă mà chẳng đoái hoài, Tứ
Đại huyễn chất lại cứ lầm nhận.
Như Lai xót thương, dạy dỗ đủ cách, lại
dạy hỏa thiêu, để toàn trí chiếu. Đă biết
là vọng bèn hiểu được chân, đắc Vô Ngại
Trí, thấy thân vốn có. Nương trí thân ấy hồi
hướng Tịnh Độ, được vô lượng
thọ, dự vào Bổ Xứ, chẳng ĺa An Dưỡng,
vào khắp mười phương, khiến khắp kẻ
mê trở về quê nhà sẵn có. Do vậy chúng sanh đều
khôi phục bản tánh, phước huệ trọn đủ,
tiếp nối huệ mạng Phật. Nguyện đem
công đức này trao cho khắp tất cả pháp giới
hữu t́nh đều chứng Chánh Giác.
18. Bài kư về chuyện Lư Thái Phu Nhân ở
Trấn Hải thắp đèn soi sáng biển
Hết thảy chúng sanh đều
có Phật tánh thường quang, tất cả những ǵ
sáng - tối, thông - tắc, xa - gần thảy đều
chiếu thấu suốt không sót. V́ vậy, chẳng cần
nhờ vào ánh sáng của mặt trời, mặt trăng,
đèn đuốc mới thấy được. Hiềm
rằng chúng sanh mê muội bản tánh, trái giác hiệp trần,
đến nỗi Phật tánh thường quang ấy biến
thành phiền năo vô minh, chẳng những chỗ tối
tăm, ngăn lấp, xa xôi không thấy được,
ngay cả những thứ ở gần ngay trước mắt
nếu không có ánh sáng của mặt trời, mặt
trăng, đèn đuốc, dù là Thái Sơn vẫn không thể
thấy được, huống ǵ những thứ khác! Do
vậy, luân hồi trong biển khổ sanh tử như
người mù không ai dẫn đường, trọn chẳng
thể thoát ra được! Chẳng đáng buồn
ư? Đức Đại Giác Thế Tôn xót thương,
nói ra đủ mọi pháp khế lư khế cơ, khiến
họ bỏ vọng theo chân, trái trần, hiệp giác, hầu
khôi phục Chân Như Phật Tánh sẵn có. Lại sợ
kẻ căn cơ hơi kém, trong đời này chưa thể
đoạn hết được phiền hoặc, qua một
đời sau lại thành mê muội, nên bèn mở ra pháp môn
Tịnh Độ cậy vào Phật từ lực văng sanh
Tây Phương. Bất luận trung hạ căn, chỉ cần
đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha
niệm danh hiệu Phật sẽ quyết định văng
sanh, vạn người chẳng sót một ai! Quả thật
là vô thượng diệu pháp bậc nhất để phổ
độ chúng sanh của đức Như Lai. Ví như ngồi
trên chiếc tàu lớn vào trong biển cả, cứu vớt
khắp những kẻ ch́m đắm cùng lên bờ kia. Có
duyên gặp được pháp này th́ c̣n may mắn nào
hơn!
Lư
Thái Phu Nhân ở Trấn Hải là mẹ của ông Vân
Thư, túc căn sâu dầy, hiện đời tu tập
tinh thuần, dốc ḷng tu Tịnh nghiệp, rộng hành
phương tiện, chẳng những đáng là bậc mẫu
nghi nơi khuê các, đức lẫy lừng nữ giới,
mà quả thật c̣n đáng là gương mẫu cho cả
xóm làng, tận lực hộ tŕ thánh giáo. Huyện Phổ
Đà nằm bên biển cả, là đạo tràng ứng
hóa của Quán Âm đại sĩ, chỗ cao nhất gọi
là Phật Đảnh. Lên đảnh núi nh́n xa bốn phía,
biển mênh mông tiếp nối trời, quả thật mở
rộng cơi ḷng, tăng trưởng trí thức. Năm Quang
Tự 30 (1904) đời Thanh, tức năm Giáp Th́n, các ông
Triệu Phức Trù, Đồ Cảnh Tam tạo một
tháp đèn ở nơi ấy để thường thắp
sáng mỗi đêm ngơ hầu trừ nỗi hiểm thuyền
vỡ v́ đi lạc phương hướng. Lại dựng
ba gian Phật đường để những ai đến
đảnh Diệu Cao Phong này đều trông thấy đức
Quán Âm. Thái phu nhân cũng đă quyên tặng bao nhiêu đó tiền;
tiếp đó, bà nghĩ: Ngọn đèn này vốn thuộc
về Phật quang, chẳng những khiến cho thuyền
bè qua lại chẳng đi sai hướng mà c̣n có thể
khiến cho những người từ bốn phía trông thấy
từ xa bèn nghĩ nhớ Đại Sĩ. Do vậy muốn
cúng dầu đốt đèn nhiều năm. Do tịnh nghiệp
chín muồi sẽ quy Tây, cụ bèn dặn ḍ con là ông Vân
Thư v́ cụ lo liệu.
Mùa
Xuân năm Quư Hợi (1923), những vị thiêng liêng trong núi
muốn cho quy mô được mở rộng, lại muốn
cho người đời sau cùng được gieo thiện
căn bèn nhờ sức thần Chúc Dung[48]
thiêu sạch Phật đường đă dựng từ
xưa, Tăng chúng chùa Huệ Tế lại quyên mộ kiến
tạo, Vân Thư bèn đem số phiếu công trái kỳ hạn
bảy năm, giá trị năm ngàn đồng cúng cho chùa
Huệ Tế, chỉ định chuyên dùng [số tiền ấy]
để chi phí mua dầu thắp đèn nơi tháp hải
đăng. Phiếu ấy lợi tức mỗi năm là
sáu ly (6%), tính ra tiền là ba trăm đồng, đợi
đến khi nào rút thăm được hoàn lại tiền
vốn th́ sẽ đem tiền ấy giao cho nhà chùa mua ruộng
đất, dùng hoa lợi thâu được làm chi phí thắp
đèn. Hễ Phật Đảnh c̣n tồn tại th́
đèn ấy chẳng diệt, tâm quang của hiền mẫu
hiếu tử cũng nương theo Phật quang chiếu
măi ức vạn năm. Những kẻ trong cơi đời đuổi
theo thanh sắc, tiêu vàng như đất, đến nỗi
cha mẹ, anh em đều chẳng buồn hỏi đến,
nghe phong thái của ông Vân Thư há chẳng thẹn đến
chết ư? Do vậy, tôi vui vẻ soạn bài kư, muốn
cho hết thảy chúng sanh cùng dùng đèn sáng Phật pháp phá
trừ tối tăm phiền hoặc, do đây cùng thoát khỏi
biển khổ sanh tử, cùng về quê nhà Cực Lạc, làm
con thật sự của đức Di Đà, làm bạn tốt
của Đại Sĩ vậy!
19. Bài kư trùng tu tháp viện của ngài Bách
Trượng Đại Trí Hoài Hải thiền sư
Từ khi đức Thế Tôn
cầm cành hoa, ngài Ca Diếp mỉm cười, Chánh Pháp
Nhăn Tàng, Niết Bàn diệu tâm được truyền thừa
măi măi. Hai mươi tám vị Tổ ở Tây Thiên, sáu vị
Tổ ở Đông Độ tâm tâm tương ấn, nên
pháp này được thạnh hành, rạng rỡ ở
Thiên Trúc lẫn Trung Hoa. Đến thời môn đệ của
ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng, xuất hiện ngài Mă Tổ
Đạo Nhất mở ra mối pháp vượt khỏi
cách thức thông thường, phương cách tiếp
độ căn cơ không ngằn, khéo léo không ǵ sánh ví
được. Đối với những kẻ mê t́nh liền
dạy tâm bổn giác, chẳng ĺa đương niệm
siêu phàm nhập thánh, như sấm sét rung trời, nghe rồi
đều táng thân mất mạng, như cam lộ, Đề
Hồ nếm vào [liền giống như] đă chết rồi
bèn sống lại, chẳng những đại giáo của
đức Như Lai đều hiện rơ chân tâm thường
trụ, mà ngay cả sơn hà đại địa cũng
hiển lộ diệu thể của đấng Pháp Vương,
khiến cho mọi h́nh mọi sắc trong thế gian đều
quy về quang cảnh nơi bổn địa. Với pháp
ǵ, chuyện ǵ trong khắp cùng vũ trụ cũng thấy
chính là đương nhân.
Do
vậy, trong đồ chúng của Ngài có tám mươi bốn
vị tri thức kiệt xuất, nhưng Hoài Hải thiền
sư thật là bậc nhất. Trong lúc vịt trời bay
qua, bèn vặn đầu mũi lôi lại[49],
quát to một tiếng, tai điếc ba ngày, khác nào tượng
vàng gỡ khỏi khuôn, quang minh chiếu khắp, sư tử
ra khỏi hang oai mănh khôn địch, bèn đại khai
đạo tràng tuyển Phật tại núi Bách Trượng.
Dùng ḷ luyện “một pháp chẳng lập” đúc thân
Phật vạn đức sẵn đủ để tự
hành dạy người; Luật, Giáo, Liên (Tịnh Độ)
tu trọn vẹn không gián đoạn, một đạo Giới
- Định - Huệ cùng hành, tùy cơ thuyết pháp, hoàn
toàn chẳng lưu dấu tích, nhưng đoạn văn “linh quang riêng chiếu, thoát khỏi
Căn - Trần, thể lộ chân thường, chẳng
câu nệ văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự
viên thành, chỉ ĺa được vọng niệm th́ chính
là Như Như Phật” là thân thiết nhất. Ngài lo lắng
sâu xa khi pháp tồn tại lâu ngày sẽ nẩy sanh mối
tệ, nên nghiêm cẩn lập ra Thanh Quy để làm khuôn
phép ngăn ngừa sẵn, dựa theo giới luật
đức Phật đă chế ngơ hầu thích hợp thời
tiết, nhân duyên, trở thành khuôn vàng thước ngọc
cho các tùng lâm trong thiên hạ, những bậc thầy
gương mẫu trong thiên hạ cũng do đây mà
được thành lập.
Bản
thân Ngài giữ Luật đă nghiêm, mà làm lụng cũng
đứng đầu đại chúng. Nếu có chuyện
ǵ ngăn trở không chấp tác (làm lụng) được
bèn chẳng ăn, v́ thế mới có lời huấn thị:
“Một ngày không làm th́ một
ngày không ăn” răn chúng thật thiết tha! V́ vậy,
Ngài mới có câu nói “Chẳng lầm
nhân quả” khiến cho kẻ hiểu lầm thốt lời
“chẳng rơi vào nhân quả”
liền được thoát thân nghiệp báo chồn hoang. Nếu
ước trên Thật Tế Lư Thể mà luận th́ phàm -
thánh, chúng sanh - Phật, nhân - quả, tu - chứng đều
chẳng thể được, nhưng bàn trên
phương diện pháp môn tu tŕ th́ trên là đức Như
Lai đă thành Phật đạo, dưới là chúng sanh
đọa trong A Tỳ đều chẳng thể ra khỏi
nhân quả được. Hiểu lư tánh nhưng chẳng
bỏ sự tu, ấy là Chánh Tri. Chấp lư tánh phế sự
tu, bèn thành tà kiến. Sai biệt chừng hào ly liền cách
biệt thành Phật và địa ngục! Chủ nhân núi
Bách Trượng đời trước[50]
muốn cứu vớt những kẻ cuồng huệ
đời Mạt khỏi đọa lạc nên chẳng tiếc
công hiện thân nêu tỏ quả báo; quả thật đă
cùng với Bách Trượng thiền sư đe - búa thành
toàn cho nhau, cùng nhau rèn đập, khiến cho những Thiền
giả đời sau triệt ngộ lư “chẳng dính dáng nhân quả”, thực hành sự “tu
nhân chứng quả”, ngơ hầu rốt ráo triệt chứng,
hiển bày trọn vẹn. Hai câu chuyện này thể hiện
thâm tâm của ngài Bách Trượng, người học chẳng
được lơ là đọc phớt qua vậy.
Núi này thuộc về huyện
Phụng Tân, tỉnh Giang Tây, chùa ấy sau khi được
ngài Bách Trượng sáng lập bèn được sắc tứ
là Thọ Thánh Thiền Tự. Năm Nguyên Ḥa thứ chín (814)
thời [Đường] Hiến Tông, ngài Bách Trượng
thị tịch, thọ sáu mươi sáu tuổi. Năm
Trường Khánh nguyên niên (821) đời [Đường]
Mục Tông, được sắc phong thụy hiệu là
Đại Trí thiền sư, tháp mang tên là Đại Bảo
Thắng Luân, tháp cách chùa hai dặm. Từ đời
Đường đến nay hơn một ngàn một
trăm mấy mươi năm, pháp đạo không ǵ chẳng
hưng - suy. Nhờ có người có khả năng gánh vác
pháp đạo làm bậc trụ tŕ nên chùa tháp được
tồn tại măi, Tông phong vẫn y như cũ. Từ cuối
đời Thanh đến nay, mấy phen gặp binh hỏa,
lại thêm đói kém, đến nỗi chùa không có bậc
cao nhân, tháp viện đổ nát.
Năm Dân Quốc thứ tám
(1919), tức năm Kỷ Mùi, chủ chùa là thầy Tự
Thành chẳng nỡ để tổ đạo mất tích,
liền khẩn khoản thỉnh ḥa thượng Tiên Cần
làm Trụ Tŕ, vĩnh viễn biến chùa thành tùng lâm truyền
hiền của thập phương. Đến năm Dân
Quốc thứ 12 (1923), ngài Tiên Cần giao cho sư Liễu
Nhiên. Hai vị đều là bạn thân trong pháp môn, cùng
nghĩ tháp viện của Tổ Sư đổ nát khó
kham, bèn khởi đầu quyên mộ những người
cùng một sắc áo các nơi được bao nhiêu đó
tiền bèn tận lực trùng tu tháp điện, hiến
điện, tường vây quanh tự viện và tăng
liêu đều sửa tốt đẹp hoàn toàn, tổng cộng
tốn chừng bao nhiêu đó tiền. Tiền dư bèn
đem chuộc lại chừng bao nhiêu đó mẫu ruộng
để làm chi phí ăn ở cho tăng chúng trụ trong
tháp viện. Phàm suy sụp đến cùng cực sẽ lại
khôi phục, bỉ cực ắt thái lai, hai thầy Tiên Cần,
Liễu Nhiên trước sau trụ tŕ núi Bách Trượng
chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên. Tháp viện sửa
xong, muốn phát huy đạo yếu của ngài Bách Trượng
cũng như nguyên do trùng hưng tháp viện bèn sai Quang soạn
bài kư. Quang thẹn ḿnh chẳng hiểu Thiền, đành
mượn chuyện cũ của ngài Bách Trượng và
những chuyện hiện tại kể thẳng vào đây
ngơ hầu những bậc hiền triết trong vị lai
có cái để khảo cứu, kiểm chứng vậy.
Lại
nữa, từ khi đức Thế Tôn nhập diệt
đến nay, phàm các chùa miếu không đâu chẳng lấy
Phật làm chủ, điện Phật phải được
lập ở chánh giữa chùa. Ngài Bách Trượng lập
Thanh Quy: Phàm những chuyện chúc ly, chúc thọ[51],
Phật Đản v.v… đều tụng kinh trong đại
điện, c̣n khóa tụng sáng tối th́ không cần nói
đến. Trong Tống Cao Tăng Truyện, chép sai câu “lập Phật điện ở
đằng trước, lập pháp đường ở
đằng sau” thành “chẳng
lập Phật điện, chỉ lập pháp đường”.
Ông Dương Đại Niên khi viết lời tựa cho
bộ Thanh Quy cũng lập lại cái sai này, chẳng
nghĩ nếu không có Phật điện, phàm những lễ
chúc ly, chúc thọ v.v… sẽ cử hành ở đâu đây? Chẳng
lẽ trong chùa hoàn toàn không có một tượng Phật
nào hay sao? Hay là thờ Phật ở điện phụ vậy?
Không có tượng Phật nào th́ có khác ǵ ngoại đạo!
Tự ḿnh ở chính giữa c̣n thờ Phật ở điện
bên cạnh để cử hành những lễ chúc ly, chúc
thọ v.v… có khác ǵ khinh miệt quốc gia, khinh mạn Phật
đâu? Nhưng cái sai lầm rành rành nhất ấy từ
đời Tống cho đến Nguyên, Minh, Thanh, gần cả
ngàn năm không ai sửa cho đúng khiến cho Bách Trượng
thiền sư bị vu báng, miệt thị oan uổng, há
chẳng khiến cho người ta đau ḷng nhức óc
ư? Sách Chứng Nghĩa Kư sửa thành “chẳng lập các điện khác, lập pháp
đường trước hết” cũng chẳng trọn
câu, v́ câu này chỉ nói lên chuyện gấp rút cần làm
trước hết, há có thể lấy làm khuôn mẫu cố
định vĩnh viễn được ư? Do vậy,
tôi bèn nêu sự lư đại lược nơi đây để
hậu hiền biết cái sai lầm trong Tống Cao
Tăng Truyện và những lời tựa Thanh Quy trong các bộ
Đại Tạng khiến cho bản hoài của Bách
Trượng thiền sư được thông suốt lớn
lao trong cơi Thường Tịch Quang th́ may mắn lắm
thay!
20. Bi kư công đức xây lại Ngũ Phật
Trấn Măng Tháp tại Tiểu Bạch Lănh
(Viết giùm)
Đức Đại Giác Thế
Tôn xem hết thảy chúng sanh như con một, bởi một
niệm tâm tánh của họ vốn không hai, không khác với
tam thế chư Phật. Do mê trái nên chẳng những không
thể đích thân thọ dụng, mà c̣n đâm ra dùng sức
Phật tánh thường trụ bất sanh bất diệt
này để khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi
sáu đường trải trần kiếp lâu xa, không thể
thoát ĺa. Do vậy, đức Phật bèn thị hiện
sanh trong thế gian thành Đẳng Chánh Giác, tùy cơ thuyết
pháp khiến cho [chúng sanh] được độ thoát.
Ngài cũng tạo nhân duyên đắc độ cho những
căn cơ chưa chín muồi cũng như hết thảy
chúng sanh trong vị lai. Ấy gọi là “lưu thông kinh giáo, dạy khắp vị lai”. Khi
hết thảy sự việc đă xong, Phật liền nhập
Niết Bàn, do ḷng đại từ bi, hóa lửa tự
thiêu, nát Pháp Thân vạn đức trang nghiêm thành tám hộc
bốn đấu xá-lợi để chúng sanh lễ bái,
cúng dường, tăng trưởng phước điền,
gây nhân thành Phật. Do vậy, trên trời trong cơi người,
long cung, hải tạng, nơi nào cũng đều
được chia xá-lợi, dựng tháp cúng dường.
Phần xá-lợi chia cho nhân gian
được chia đều cho tám nước, riêng vua A
Xà Thế được tám vạn bốn ngàn hạt, thờ
nơi sông Hằng, lập vành đai gươm [vây quanh] để
thủ hộ. Một trăm năm sau, chắt của vua
tên là A Dục làm vua cơi Diêm Phù, oai đức tự tại,
vâng theo lời Phật phó chúc, chấn hưng Phật pháp,
đem xá-lợi ấy sai khiến quỷ thần dùng bảy
báu, các loại hương làm vữa (chất hồ), trong
ṿng một ngày tạo ra tám vạn bốn ngàn cái tháp báu. Muốn
cho những tháp ấy được phân bố khắp
Ấy
là v́ chúng sanh đang mê chẳng hiểu rơ lục trần về
bản thể chính là Thật Tướng Chân Như, do vậy,
bèn khởi Hoặc tạo nghiệp, luân hồi nhiều kiếp.
Chư Phật lập giáo, chẳng qua chỉ là ngay trong những
cảnh giới lục trần bị mê ấy, mỗi mỗi
chỉ ra bản thể của những cảnh giới ấy
chính là Giả, chính là Không, chính là Trung, khiến họ chuyển
mê thành ngộ, hiểu tâm rơ gốc. Do vậy, kinh Lăng
Nghiêm nói: “Ngũ Ấm, Lục
Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới đều
là Như Lai Tạng Diệu Chân Như tánh”. Tam Tổ
nói: “Sáu trần chẳng ác, trở
về giống với Chánh Giác”. Ông Tô Đông Pha nói: “Tiếng suối chảy chính là
tướng lưỡi rộng dài, sắc núi không ǵ chẳng
phải là thân thanh tịnh”. Như vậy, thấy sắc,
nghe tiếng đều có thể dùng để hiểu tâm
rơ gốc, huống chi kinh do chính kim khẩu của đức
Như Lai đă nói và chân thân xá-lợi cũng như h́nh
tượng Phật ư?
Tuy
giáo thể của phương này vốn thuộc về nghe
tiếng, nhưng nghe pháp được lợi ích cố
nhiên chẳng phổ biến thường hằng bằng
thấy tướng được lợi ích. Do vậy,
tam thế chư Phật không vị nào chẳng dạy con
người xây dựng tháp miếu, tạo h́nh tượng
Phật. Bởi lẽ một phen chạm vào mắt th́
trong tám thức điền đă gieo được hạt
giống thành Phật. Từ đấy, dần dần
tăng trưởng, rốt ráo được thành giác
đạo. Do vậy, vua thánh tôi hiền các triều đại,
những bậc triết nhân thông suốt, đa phần
đều xây dựng tháp miếu ở những nơi danh
sơn, hoặc cuộc đất tốt đẹp, để
người thấy nghe cùng gieo thiện căn. Đấy
chính là cội nguồn của tháp miếu ở Chấn
Đán vậy.
Tháp
Trấn Măng thuộc Tiểu Bạch Lănh ở phía Đông
huyện Cận, Tứ Minh. Huyện chí và Thiên Đồng
Tự Chí đều nói tháp được dựng vào đầu
niên hiệu Hội Xương (841-846) đời Đường.
Rặng núi ấy có con măng xà lớn hung hăng mặc sức
phun độc, người đi đường bị mắc
nạn. Khi ấy, Trụ Tŕ chùa Thiên Đồng là ngài Tạng
Hoán[52],
sau khi diệt độ được sắc phong thụy
hiệu là Tâm Kính thiền sư, ngài chính là con (đệ tử)
của [ngài Linh Mặc ở] núi Ngũ Tiết, là cháu
(đồ tôn) của ngài Mă Tổ, vốn là bậc đại
sĩ thừa nguyện giáng sanh, những chuyện lạ
suốt cả đời Ngài khiến người ta phải
kính ngưỡng, Ngài thật sự là thủy tổ chùa
Thiên Đồng vậy. Nghe chuyện quái lạ ấy, bèn
đến độ thoát. Trước hết, Ngài thí cho rắn
ăn để thân nó được an lạc, rồi mới
thuyết pháp, cho nó thọ giới, khiến tâm nó khai ngộ
cũng như có chỗ nương tựa. Thức ăn Ngài
dùng để thí vốn chỉ là thứ bánh mạn đầu
có nhân, do sức pháp lực nên hóa thành vô lượng. Những
cái bánh rắn ăn không hết đều biến thành
đá, đầy khắp trong núi và trên mặt đất,
nay gọi di tích ấy là “mạn đầu thạch”, ngoài
trắng trong đen, h́nh dáng rất giống [bánh mạn
đầu]. Rắn đă nhận pháp thực, lại
được nghe pháp yếu, liền được tiêu
trừ nghiệp chướng, thoát ĺa thân rắn, Sư bèn
theo đúng pháp hỏa thiêu, nhặt lấy xương thừa,
vùi bên vách núi, lập tháp lên trên. Tháp có sáu cạnh, bảy tầng,
cao hơn mười trượng, bên trong để tượng
Phật và các kinh chú, để mong cho măng xà nương Phật
từ lực, mau chứng Pháp Thân. Phàm những loài thuộc
ḍng giống nó đều chẳng dấy lên khuấy phá nữa.
Do vậy, đặt tên tháp là Trấn Măng Tháp, cũng
như mong cho nhân, thiên, quỷ thần chiêm lễ cúng dường
gieo nhân Bồ Đề thù thắng, kết thành viễn
duyên thành Phật.
Từ
đời Đường đến nay đă hơn một
ngàn năm, mưa gió vùi dập, sương tuyết xói ṃn,
nghiêng sụp mất nửa, thế sắp bị sụp
đổ hoàn toàn. Phàm những ai trông thấy đều
than thở: “Sao hoàn toàn vắng lặng chẳng có ai bảo
tồn dấu cổ, khai khẩn ruộng phước vậy!”
Cuối đời Thanh, trụ tŕ chùa Thiên Đồng là
ngài Kư Thiền, muốn trùng tu lại, chưa kịp khởi
công, đă nhụt chí, quy Tây. Người kế vị là thầy
Tịnh Tâm, chí lại càng tha thiết, nhưng do trong chùa
quá nhiều công tŕnh [xây dựng] nên chẳng đủ sức
lo tới. Trụ tŕ hiện thời là sư Văn Chất
muốn hoàn thành công tŕnh này cho chóng, bèn cùng với thầy Tịnh
Tâm dốc sức đồng tâm, ai nấy bỏ ra tiền
của và quyên mộ đàn tín giúp cho việc thù thắng
này được hoàn thành. Do vậy, Tăng - tục hoan hỷ,
tùy sức tán trợ, khởi đầu từ mùa Đông
năm Kỷ Mùi tức năm Dân Quốc thứ tám (1919),
hoàn thành vào mùa Hạ năm Quư Hợi tức năm Dân Quốc
12 (1923). Qua năm phen nóng lạnh đắp đổi mới
lại được thấy bảo tháp từ đất
vọt lên, chỉ có điều tháp cũ sáu cạnh, đặc
ruột, nay tháp mới tám cạnh, rỗng ruột. Đó
là phỏng theo ư nghĩa tướng bạch hào giữa chặn
mày của đức Như Lai “có tám cạnh, nhưng rỗng
ruột, có đầy đủ quang minh, chúng sanh được
quang minh ấy chiếu đến bèn ngay lập tức ĺa
khổ được vui, gần là sanh vào nhân thiên, xa là dự
vào ḍng thánh”.
Trên
tầng cao nhất thờ tượng Ngũ Phương Ngũ
Phật, hàm nghĩa: “Tỳ Lô
Pháp Thân thuộc địa vị cao tột trong mười
pháp giới, đầy đủ Tứ Trí Bồ Đề”.
Lại c̣n chỉ rơ từ địa vị phàm phu muốn
chứng Phật Quả th́ phải giẫm đạp trên
Thật Địa, tuân tu đạo phẩm, tăng tấn
dần dần, đoạn Hoặc chứng chân cho đến
khi Trí Đoạn rốt ráo mới có thể triệt chứng
thật nghĩa tứ đức Thường - Lạc - Ngă
- Tịnh sẵn có của Pháp Thân. Chót tháp đúc bằng
đồng theo h́nh dạng hồ lô, phần dưới
cùng để trống chính giữa, bên trong đặt
tượng Phật, Bồ Tát và tên các kinh trong Đại
Tạng và kinh chú Đại Thừa nhằm biểu thị
Nhất Thể Tam Bảo, Tam Đức bí tạng chẳng
ĺa đương xứ, rốt ráo hiển bày trọn vẹn.
Lại nữa, kinh chính là Pháp Thân xá-lợi của Như
Lai, tượng là hai thân Báo - Hóa của đức Như
Lai, ngơ hầu người chiêm lễ, đi nhiễu quanh,
cúng dường, tán thán, trong đời vị lai cùng chứng
được công đức Như Lai đă chứng. Hai
phần trên cùng và phần giữa của tháp, bên trong đổ
đầy cát sạch để trấn đỉnh tháp, tạo
thành bảy tầng cấp, cao hơn mười trượng,
để làm biểu hiệu lớn lao ṿi vọi của
giác đạo, làm hướng dẫn tốt lành rạng
ngời cho kẻ mê đường. Chung quanh tháp dựng
tường cao vây quanh, ngơ hầu những thứ tệ hại,
dơ bẩn không xen lẫn vào được, dễ ǵn giữ.
Đằng trước tháp dựng mấy gian nhà, cử một
vị tịnh hạnh đầu-đà, hầu hạ
hương đèn măi măi. Tổng cộng dùng đến
hơn năm vạn bạc, phương danh công đức
đều khắc riêng trên đá.
Do
công đức này nguyện nền tảng đất
nước bền vững măi măi, vận nước tốt
đẹp, Phật nhật thêm sáng, pháp luân thường
chuyển. Phàm những người đề xướng,
trông nom, lo liệu, bỏ tiền, góp sức và những
người chiêm lễ, thấy nghe trong hiện tại vị
lai, cạn ḷng thành, hết ḷng kính, cúng dường tán thán
đều được Hoặc chướng băng
tiêu, cát khánh như mây nhóm, giàu, thọ, khỏe mạnh, b́nh
yên thảy đều đạt được, đạo
Giới - Định - Huệ đều trọn đủ
trong đương niệm, nghiệp tận t́nh không, thấy
được diện mục sẵn có, phước đủ,
trí rạng, chứng Pháp Thân thường trụ, sống
làm người tự tại trong cơi Sa Bà, chết dự
vào hội Liên Tŕ thanh tịnh. Như vậy mới thỏa
được bổn nguyện tạo tháp của hai vị
sư Tịnh Tâm, Văn Chất, mà cũng chẳng phụ
tấm ḷng nồng nhiệt phi thường của đàn
tín bỏ tiền của tán thành. Do vậy, bèn thuật bày
duyên khởi để khắc vào đá quư kiên cố vậy.
21. Bài kư huấn dụ của Diệu Ngộ
Luật Viện ở Kim Lăng
Đại pháp của đức
Như Lai lấy Chân Như Thật Tướng làm thể.
Thể ấy chúng sanh và Phật đều có, tại Phật
chẳng tăng, nơi chúng sanh chẳng giảm; nhưng
Phật th́ chứng ngộ rốt ráo, c̣n chúng sanh th́ triệt
để mê mất, đến nỗi thăng - trầm thật
khác biệt, khổ - vui thật sai khác. Đức Như
Lai thương xót, tùy thuận cơ nghi, nói đủ mọi
pháp khiến họ bỏ vọng theo chân, trái trần hiệp
giác. Pháp ấy xét trên đại thể, gồm có năm
tông, tức là Luật, Giáo, Thiền, Mật và Tịnh. Luật
là Phật thân, Giáo là Phật ngữ, Thiền là Phật tâm;
Phật sở dĩ thành Phật chỉ do ba nghiệp này.
Nếu chúng sanh có thể y theo Luật, Giáo, Thiền của
Phật để tu tŕ th́ ba nghiệp của chúng sanh sẽ
chuyển biến thành ba nghiệp của chư Phật. Ba
nghiệp đă chuyển th́ Chân Như Thật Tướng
sẽ tự chứng đắc được. Phật
c̣n sợ rằng chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng,
chẳng dễ thành tựu nên dùng Đà La Ni tam mật gia
tŕ để chuyển Thức thành Trí, chuyển phiền
năo thành Bồ Đề. Lại sợ kẻ căn khí kém
cỏi, chẳng thể giải thoát trong đời hiện
tại; nếu phải thọ sanh lần nữa khó thể
tránh khỏi mê mất, phải sanh tử luân hồi đến
cùng tận kiếp chẳng thể thoát khỏi. Do vậy,
đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ khiến cho trên từ Đẳng
Giác Bồ Tát dưới đến kẻ tội nhân ác nghịch
đều cùng trong đời này văng sanh Tây Phương,
thượng thánh sẽ mau thành Phật đạo, hạ
phàm cũng được dự vào ḍng thánh. Đấy
chính là quy củ rộng lớn vỗ về, dưỡng
dục hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới của
đức Như Lai.
Tông
tuy có năm, nhưng đạo vốn nhất quán, năm
tông trọn đủ th́ mới có thể tùy cơ hoằng
dương một tông, trên mới có thể tiếp nối
huệ mạng của Như Lai, dưới mới có thể
khải phát cho quần sanh tăm tối. Nếu không, một
bánh xe, một cánh làm sao đi xa, bay lên không cho được?
Luật là cơ sở của Giáo, Thiền, Mật, Tịnh.
Không tŕ Luật sẽ chẳng đạt được lợi
ích thật sự nơi Thiền, Giáo, Mật, Tịnh; như
xây lầu cao vạn trượng, nếu nền móng không
kiên cố, ắt chưa thành đă sụp. Tịnh là chỗ
quy túc của Luật, Giáo, Thiền, Mật, không niệm Phật
cầu văng sanh Tây Phương th́ Luật, Giáo, Thiền, Mật
đều khó thể rốt ráo; bởi Tịnh Độ
chính là pháp môn thành thủy thành chung để mười
phương tam thế chư Phật trên thành Phật đạo,
dưới hóa độ chúng sanh. Do vậy, những vị
Đẳng Giác Bồ Tát đă chứng bằng với
chư Phật trong hội Hoa Nghiêm vẫn c̣n phải dùng
mười đại nguyện vương hồi hướng
văng sanh Tây Phương để cầu viên măn Phật quả;
huống ǵ hết thảy thánh hiền khác và những kẻ
phàm phu chưa đoạn Kiến Tư Hoặc ư?
Diệu
Ngộ Luật Viện từ trước tới nay luôn lấy
việc tŕ luật, niệm Phật để tu tŕ. Trụ
tŕ An Tịnh ḥa thượng rất sợ hậu nhân quên
mất đường lối này th́ một phen khổ tâm
của người phục hưng viện này là Minh Thiền
Lăo Nhân bị mất đi, bèn nhờ Quang tŕnh bày đại
ư để răn dạy đại chúng trụ tại viện
này trong tương lai. Xét ra viện này chính là cổ sát
(ngôi chùa cổ) của triều đại trước, vào
thời Hàm Phong nhà Thanh đă bị hư nát khó kham. Sau
cơn binh hỏa, chỉ c̣n ba gian nhà rách. Minh Thiền Lăo
Nhân chẳng tiếc tâm lực phục hưng. Lại
được thầy An Tịnh nối chí bèn trở thành
một Tịnh nghiệp đạo tràng. Nhưng do [nhà
chùa] sản nghiệp không nhiều nên chẳng thể thu nhận
đại chúng đông đảo, nhưng khóa tụng sáng
tối, tiếng tụng kinh niệm Phật cố nhiên
hoàn toàn chẳng khác ǵ tùng lâm các phương. Vào lúc mới
tạo dựng ban đầu, bọn thổ phỉ hay
đến khuấy nhiễu, ư toan xâm chiếm, cụ Minh
luôn nhẫn nhục nên tiêu trừ được thói dữ.
Những kẻ trước kia chiếm đoạt bao nhiêu
đất đai của nhà chùa đó, chẳng lâu sau nhà cửa
suy bại, chẳng thể giữ được, phải
bán cho người khác, người khác cũng chẳng giữ
được, lại bán ngược lại cho viện. Do
đào kênh ng̣i, khai quật được những pháp khí
như bát, linh v.v…mới biết là nền đất của
đạo tràng được long thần thủ hộ, kẻ
chiếm đoạt đều chẳng gặp được
chuyện tốt lành, lại phải trả về cho chủ
cũ.
Kẻ
ngu không biết nhân quả, thường muốn chiếm
tài sản nhà chùa, chẳng biết long thiên nổi giận,
ngấm ngầm bị chiết phước, tổn thọ,
bị tổn hại thật nặng. Luận trên nhân quả
th́ người đời c̣n nhẹ, chứ Tăng chúng
càng nặng nề hơn. Nhưng người đời
có gia đ́nh nên quả báo dễ thấy, chứ Tăng chỉ
có một thân, khó thấy được báo ứng. Phàm là
Tăng sĩ trụ trong viện này ai nấy đều phải
thật sự v́ sanh tử, phát tâm Bồ Đề, nghiêm
tŕ giới cấm, dốc sức tu Tịnh nghiệp.
Như thế th́ sống làm phước điền cho thế
gian, mất sẽ dự vào Liên Tŕ Hải Hội. Nếu
không suốt ngày ăn no kềnh, chẳng dụng tâm chút
nào th́ nhân cách của kẻ đó trở thành hạ lưu.
Nếu lại c̣n phá trai phạm giới, bại hoại cửa
Phật sẽ thành quyến thuộc của ma vương,
là ḍng giống địa ngục. Viện này do tâm lực
của hai thầy Minh Thiền, An Tịnh và thí chủ tạo
thành, an trụ trong đây chẳng chịu tu tŕ th́ khác nào
xâm chiếm thường trụ!
Cổ
đức nói: “Một hạt
gạo thập phương, to như núi Tu Di, ăn rồi
không tu đạo, mang lông, đội sừng đền”.
Nếu chỉ v́ cái thân, thầm lén trộm cắp, th́ khi một
hơi thở ra không hít vào được liền đọa
ngay vào địa ngục, lửa từ trên đùa xuống,
lửa từ dưới bốc lên, trải trăm ngàn kiếp
thường bị lửa đốt, không cách ǵ thoát ra
được! Há chẳng rất đáng sợ ư?
Trưởng lăo An Tịnh đau đáu nghĩ thuở “pháp nhược ma cường”
(pháp suy yếu, ma tà mạnh mẽ), muốn khơi dậy
tâm tu tập mạnh mẽ của Tăng chúng, muốn tiêu
trừ ư niệm xâm chiếm của người thế tục
ngơ hầu người ngoài đời th́ ngũ phước
đều vẹn đủ, tốt đẹp về sau,
Tăng chúng th́ Tam Học viên minh, chấn hưng tông phong.
V́ thế, soạn ra bài kư lưu lại huấn dụ này
để mong viện này vĩnh viễn hưng thạnh
không bị suy tàn, thường hoằng dương pháp
đạo th́ pháp giới chúng sanh đều được
hưởng lợi ích.
22. Bi kư thuật duyên khởi của con
đường Giáp Thọ
Tứ Minh[53]
có nhiều quả núi đẹp, nhưng Thái Bạch đẹp
nhất. Trường tuyển Phật Thiên Đồng ở
ngay trên quả núi này. Từ năm Vĩnh Khang nguyên niên
(300) đời Huệ Đế nhà Tây Tấn, tổ
sư Nghĩa Hưng kết cḥi tranh ở đây tiềm
tu, cảm được sao Thái Bạch[54]
biến thành một đứa bé trai làm kẻ hầu. Từ
đấy, trở thành đạo tràng lớn, v́ thế
núi này có tên là Thái Bạch, chùa có tên là Thiên Đồng (đứa
trẻ nhà trời). Đến đời Đường
th́ các vị sư như Pháp Duệ, Tâm Kính v.v… hoằng
đạo Trực Chỉ của Thiền Tông khiến chùa
càng thêm to lớn. Từ đấy về sau, hơn một
ngàn ba trăm năm, pháp đạo thường hưng thạnh,
tông phong chẳng suy sụp, đến nay vẫn được
coi là chùa hàng đầu của nhà Thiền. Ấy là v́
đời nào cũng có người gánh vác pháp đạo vậy,
thật đúng là “được
cuộc đất tối thắng th́ mới có thể hoằng
dương đạo tối thắng, tạo lập chuyện
phi thường ắt phải đợi người phi
thường”. Địa linh lẫn nhân kiệt đều
hội đủ, đấy là đại nhân duyên chứ
không phải ngẫu nhiên!
Từ
chùa Thiên Đồng đi theo phía trái chừng một dặm
là Linh Lung Nham, thế núi quanh co lạ lùng như khắc,
như vẽ, phàm là kẻ tao nhân mặc khách đến
chơi nơi đây, không ai chẳng khởi lên ư niệm
thoát tục. Từ đây, đi quanh co lên trên, ngang qua một
khe suối lớn và một khe suối nhỏ th́ đến
Bàn Đà Thạch, lên cao nữa là động Ngộ Tâm, ngọn
Phi Lai, đài Bái Kinh, động Quán Âm, động Thiện
Tài, đường đi độ chừng hai dặm
nhưng qua mấy khúc quanh, mắt dơi nh́n ngàn dặm, quả
thật như lên Đông Nhạc, lên núi Thái, huống chi dơi
nh́n biển cả, trời nước ḥa lẫn vào nhau,
khiến ḷng dạ con người rộng mở, tựa hồ
chẳng phải là người trong thế gian nữa!
Nhưng con đường ấy chưa được mở
mang, đi lên thật khó, rất đáng tiếc nuối!
Cư
sĩ Mộng Pha Châu Khánh Vân túc căn sâu dầy, hạnh tu
tập hiện đời thanh cao, đời đời tiếp
nối đức hạnh, nhiệt tâm làm chuyện công ích.
Vào mùa Thu năm Quư Hợi, tuổi đúng sáu mươi, liền
đến Thiên Đồng làm các Phật sự để
cầu cho ông bà đă khuất cùng sanh về Tây
Phương, quyến thuộc hiện đời đều
tăng phước thọ. Một bữa, ông đến
chơi Linh Lung Nham, thấy cảnh núi đẹp đẽ
xinh xắn hết sức thỏa thích, nhưng đường
đi trắc trở, quá sức trái ư, bèn khẳng khái phát
tâm đắp đường, phó thác cho bạn ông là
Phương Bội Thân trông coi, lắng ḷng nghỉ hưu
để đốc thúc, qua mười tháng bèn hoàn thành. Con
đường ấy khởi đầu từ Linh Lung Bồng
cho đến động Thiện Tài th́ ngưng, độ
chừng hơn 150 trượng, phí tổn hơn một
ngàn một trăm năm mươi đồng. Lại dựng
một ṭa nhà đá, phí tổn là bốn trăm đồng,
cùng đặt tên cho con đường và ṭa nhà đá ấy
là Giáp Thọ. Qua khỏi khe suối lớn, con suối bên
đường cũng đặt tên là Giáp Thọ.
Trộm
nghĩ: Giáp chính là Thủ (đứng đầu), đă gọi
là Giáp Thọ th́ không c̣n ǵ có thể cao hơn được
nữa. Do con người sống trăm năm như bóng mặt
trời lướt qua khe cửa sổ, lưu lại di
tích ấy để đóng góp vào danh sơn ngơ hầu những
ai đến đây đều trông thấy sẽ nói: “Các
pháp thế gian sanh diệt vô thường, gọi là Giáp Thọ,
há liền có thể bất sanh bất diệt hay sao?” Phải
biết: Phật pháp không đâu chẳng tồn tại, há
có thể ĺa pháp thế gian để nói Phật pháp
được ư? Nếu thấy biết ṭa nhà ấy,
đi trên con đường đó th́ ṭa nhà ấy, con
đường ấy chính là Phật pháp bất sanh bất
diệt vô thủy vô chung.
Xưa
kia, lúc tu nhân, đức Thế Tôn từng trải tóc lót chỗ
lầy lội, chỉ vào đó nói: “Chỗ này nên lập một ngôi chùa”. Khi ấy,
trưởng giả Hiền Vu cầm cành cây cắm xuống
chỗ Phật đă chỉ, nói: “Lập ngôi chùa xong”. Khi ấy chư thiên rải
hoa tán thán. Hăy nói xem dựng nhà đắp đường
và cắm cành cây dựng chùa là giống hay là khác? Nếu nói
là khác th́ xưa nay há nào có hai; nếu bảo là giống th́
há có nên chê là sanh diệt? Pháp vốn không sanh diệt, sanh diệt
là do con người! Người có đủ con mắt thấy
được ṭa nhà này, con đường này, ắt sẽ
ngay khi đó tự thấy được bản lai diện
mục của chính ḿnh, ấy tức là Thọ, tột cùng
đời vị lai cũng chẳng có cùng tận. Nếu
không như thế th́ hăy y theo kinh dạy, sanh tín, phát nguyện,
niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương, ắt
nương theo Phật từ lực mau được chứng
đắc. Ư nghĩa của chữ Giáp Thọ là như thế
đó. Người có đủ con mắt sẽ chẳng
cho lời tôi là sai lầm vậy.
23. Bi kư thuật duyên khởi Cư Sĩ Niệm
Phật Lâm Liên Xă tại Cửu Giang[55]
Pháp Niệm Phật chính là pháp
môn đặc biệt trong giáo pháp cả một đời
của đức Như Lai, quả thật là đạo
trọng yếu vô thượng thành thủy thành chung để
mười phương tam thế chư Phật trên thành
Chánh Giác, dưới hóa độ chúng sanh. Nay [Cư Sĩ]
Lâm này được lập ra bắt nguồn từ Viễn
Công (tổ Huệ Viễn) kết xă ở Đông Lâm, khởi
xướng phong trào niệm Phật. Hơn một ngàn
năm sau, cư sĩ Liễu Nghĩa hiểu sâu xa pháp này
khế lư khế cơ bèn cực lực đề xướng,
trùng hưng liên xă, theo đuổi dấu thơm. Tuy biết
ḿnh lẫn người trí huệ cạn mỏng, mê hoặc
sâu dầy, nhưng chẳng nề hà, bởi lẽ con
người có cùng một tâm này, tâm cùng một lư này, nếu
cứ tích cực đề xướng sẽ được
đồng thanh tương ứng, chẳng cần luận
xưa nay khó - dễ! Do vậy, chẳng ngại gian khổ,
gắng công tiến hành, chẳng tiếc sức lực,
ngơ hầu xa gần trông thấy đều cùng dấy tâm,
đề xướng tiến hành cho đến trọn khắp
vũ trụ, chứ nào phải chỉ mong ru rú trong một
chỗ này mà thôi?
Hoằng
dương Phật pháp th́ đạo tràng là gốc, thoạt
đầu ở nhờ am của người ta, không những
không thể duy tŕ lâu dài, mà cuộc đất c̣n chật hẹp,
tới lui bất tiện. Do vậy, vào năm Quư Hợi
bèn biến nhà ḿnh ở thành Niệm Phật Lâm, nguyện lực
mạnh mẽ, cứng cỏi, lớn lao, sâu rộng ấy
quả thật hiếm có! Nhà ấy bốn tầng, tầng
trệt cho thuê làm tiệm bán gạo mỗi năm được
hơn hai trăm đồng dùng làm chi phí cho Niệm Phật
Lâm. Tầng hai làm nơi tiếp đăi và họp hành. Tầng
ba làm đại điện, trong ấy thờ tượng
Tây Phương Tam Thánh Tiếp Dẫn để luôn lễ
bái, chiêm ngưỡng, ngơ hầu lâm chung dễ được
cảm thông. Tầng bốn làm Tịnh Độ Diên Sanh
Đường, bày đủ bài vị cha mẹ của những
người đă quyên góp ngơ hầu người sống
được tăng phước, tăng thọ, người
mất được lên thẳng Liên Bang. Lại c̣n có lầu
để làm chỗ xem kinh, tọa thiền.
Cư
sĩ đă phát tâm ấy, những người cùng trong liên
xă đều kính ngưỡng, ai nấy tùy sức đóng
góp: Hoặc là tạo tượng Phật, hoặc trần
thiết trang nghiêm và sắm sửa đồ thờ. Phàm
những ǵ cần dùng cho đạo tràng chẳng thiếu
thứ ǵ. Từ đấy, tu tŕ, giảng diễn đă có
nơi, ắt thấy thiện tín nườm nượp
đổ tới, xa - gần đều bắt chước
theo. Do vậy bèn bỏ phàm t́nh để liễu Phật
tánh, văn hồi kiếp vận thành thái b́nh, sống làm bậc
hiền thánh, chết dự vào Liên Tŕ Hải Hội, ngơ hầu
chẳng phụ ân Thế Tôn thuyết pháp, thiện tri thức
các đời hoằng dương, một phen cư sĩ
Liễu Nghĩa tâm đại từ bi bỏ nhà, đề
xướng, cũng như chẳng phụ Chân Như Phật
Tánh tâm ḿnh sẵn có vậy!
Pháp
môn Tịnh Độ lư vốn cực rộng sâu chỉ có
Phật với Phật mới có thể thấu hiểu
cùng tột, đừng nói chi hạng phàm phu sát đất
chẳng thể suy lường được, ngay cả
hàng Bồ Tát đă chứng Pháp Thân từ lâu cũng chẳng
thể biết trọn. Do vậy, khi đức Thế Tôn
nói pháp môn này, mười phương hằng hà sa số
chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài đồng
thanh tán thán khiến cho khắp mọi chúng sanh đều
sanh tín tâm, lại c̣n khen ngợi nồng hậu đức
Thích Ca Thế Tôn có thể làm chuyện hy hữu rất
khó. Đức Thế Tôn cũng tự nói: “Ta ở trong đời ác ngũ trược, làm chuyện
khó như thế này: Đắc Vô Thượng Bồ Đề,
v́ hết thảy thế gian nói ra pháp khó tin này, thật là rất
khó!” Phổ Hiền Bồ Tát dạy Hoa Tạng hải
chúng đều cùng dùng mười đại nguyện
vương hồi hướng văng sanh, nếu chẳng phải
là đạo trọng yếu thành thủy thành chung há có thể
được như vậy ư? V́ vậy, ngàn kinh muôn luận
chỗ nào cũng chỉ quy, văng thánh tiền hiền ai nấy
đều hướng về, như mọi ngôi sao chầu
về Bắc Đẩu, như các ḍng nước đổ
vào biển Đông. Người niệm Phật tin
được như thế mà nếu chẳng văng sanh th́
mặt trời, mặt trăng sẽ xoay ngược chiều,
trời đất sẽ bị đổi chỗ, há có lẽ
ấy chăng? Xin những ai thấy nghe hăy cùng gắng sức
lên!
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao,
Quyển thứ tư
Phần 1 hết
[1] Kư: Một thể loại văn xuôi nhằm ghi chép sự việc.
[2] Tám tướng là tám sự kiện
được Phật biến hiện trong suốt thời
gian Phật thị hiện trong thế gian này :
1. Từ cung Đâu Suất giáng trần. 2. Nhập thai 3. Đản sanh 4. Xuất gia 5. Hàng ma 6. Thành đạo 7. Thuyết pháp 8. Nhập Niết Bàn.
[3] Hộc: Đơn vị đo lường thời cổ, một Hộc là mười Đấu. Một Đấu là mười Thăng
[4] Ma Kiệt Đề (Magadha), c̣n phiên âm
là Ma Già Đà, Ma Yết Đà, Ma Kiệt Đà, Mặc Kiệt
Đà, Ma Ha Đà, dịch nghĩa là Vô Hại Quốc, Bất
Ác Xứ, Chí Cam Lộ Xứ, Thiện Thắng Quốc, là
một trong 16 đại quốc thời Phật tại thế,
nay thuộc địa phận của Bihar, thủ phủ
là Patna (Hoa Thị thành). Theo Đại Đường Tây Vực
Kư, quyển 8, xứ này rộng hơn năm ngàn dặm,
đất đai ph́ nhiêu, phong tục thuần phác, sùng tín
Phật pháp, đa phần tín phụng Đại Thừa
Phật giáo, ngoại đạo cũng đông. Vùng phụ
cận Hoa Thị Thành hiện c̣n nền cũ của tháp A
Dục Vương, Phật Túc Thạch, Kê Viên Tự, chỗ
Phật tu khổ hạnh, chỗ Ca Diếp quy y Phật
v.v… Vua Tần Bà Sa La của nước này kiến lập
kinh thành Vương Xá (nay là thành phố Rajgir) ở phía Bắc
kinh đô cũ, nơi này trở thành chỗ Phật
thường thuyết pháp. Đến thời đại
vương triều Cấp Đa (Gupta), vua Đế Nhật
sáng lập học viện Na Lan Đà (Nalanda), học viện
này trở thành trung tâm của Phật giáo Ấn Độ,
ngài Huyền Trang từng theo học ở đây.
[5] Vua A Dục (Aśoka),
dịch nghĩa là Vô Ưu Vương, c̣n có biệt hiệu
là Thiên Ái Hỷ Kiến Vương (Devānajpriya
Priyadraśi), là vua đời thứ
ba của vương triều Khổng Tước tại
Ma Kiệt Đề, sống vào khoảng thế kỷ thứ
ba trước Công Nguyên. Vua thống nhất Ấn Độ,
là người nhiệt thành ủng hộ Phật giáo. Khi
c̣n nhỏ, hoàng tử rất hung bạo, vua cha không ưa.
Đến khi nước chư hầu Taksaśīla
làm phản, vua cha liền sai hoàng tử cầm quân đi
đánh dẹp với hy vọng hoàng tử sẽ bị loạn
quân giết. Nhưng hoàng tử đă dẹp yên phản loạn,
lập đại công, thanh thế lừng lẫy. Sau khi
cha mất, hoàng tử bèn trở về giết hết 99
người anh em để lên ngôi (tuy vậy, cũng có
thuyết cho rằng đây là lời ngoa truyền nhằm
phóng đại tính tàn nhẫn của nhà vua). Đă làm vua, A
Dục càng bạo ác hơn, tàn hại đại thần,
phụ nữ, bá tánh; do vậy dân chúng oán thán gọi vua là
Chiên Đà A Dục (Chiên Đà là tiếng gọi hàng tiện
dân Ấn Độ, những người này thường
làm nghề đồ tể hoặc những nghề bẩn
thỉu như thiêu xác, gánh phân v.v…). Vua lấy thành Hoa Thị
làm thủ đô, gây chinh chiến liên miên để mở rộng
đế quốc, thống trị toàn Ấn Độ và
những tiểu quốc xung quanh. Về sau vua được
Phật giáo cảm hóa. Theo truyền thuyết, do cuộc viễn
chinh xứ Kalinga quá tàn nhẫn, vua động ḷng, bèn nhiệt
thành tin tưởng Phật giáo, tận lực hoằng
dương Phật giáo để chuộc lỗi cũ,
nên dân gian lại gọi vua là Đạt Ma A Dục
vương (Chánh Pháp A Dục Vương). Năm thứ 17
dưới triều vua A Dục, Tam Tạng kinh điển
được kết tập lần thứ ba dưới
sự chủ tọa của ngài Mục Kiện Liên Tử
Đế Tu (Moggaliputta-tissa), có hơn một ngàn vị
trưởng lăo tham dự, chín tháng mới kết tập
xong. Vua phái các danh tăng đạo cao đức trọng
đi truyền đạo khắp các cơi như Majjhantika,
Kasmira, Gadhara, Mahadeva, Mahisakamandala, Rakkhita, Vanavāsi, Yonaka-dhammarakkhita… cho
đến tận Tích Lan. Vua cũng cho lập các bia đá
ghi chép các huấn dụ hoằng dương Phật giáo,
truyền lệnh khoan dung, tôn trọng các ngoại đạo,
cho lập các trụ đá đánh dấu nơi đức
Phật đản sanh, thành đạo, nhập diệt
v.v…
[6] Ma Hê Nhân Đà La (Mahendra), thường được biết theo tên gọi trong tiếng Pali là Mahinda, chính là sơ tổ Phật giáo Tích Lan. Theo Đảo Sử (Mahavamsa), ngài sanh tại xứ Ô Xà Diên (Ujayana) thuộc Tây Bắc Ấn Độ, xuất gia năm 20 tuổi, lễ ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (Moggaliputta-Tissa) làm thầy, thọ giới Sa Di với ngài Ma Ha Đề Bà, thọ Cụ Túc với ngài Mạt Xiển Đề, trong khi thọ giới bèn chứng quả La Hán. Ngài đến Tích Lan truyền giáo theo lệnh vua vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên. Ngài lập Đại Tinh Xá (Mahāvihāra) tại thủ đô A Nậu La Đà Bổ La (Anurādhapura), giảng kinh B́nh Đẳng Tâm (Samacitta-suttanta), lập hang đá để yên cư, thiết lập Tăng đoàn và cơ sở Phật giáo cho Tích Lan. Ngài từng triệu tập đại hội Tăng già, công cử trưởng lăo A Lợi Đa cầm đầu Tăng đoàn, chú giải Đại Tạng Kinh Nam Truyền. Em ngài là ni sư Tăng Già Mật Đa (Sanghamitrā) đă đem nhánh cây Bồ Đề nơi Phật thành đạo về trồng tại Tích Lan và truyền giới Tỳ Kheo Ni. Anh em Ngài có công truyền bá Phật pháp tại Tích Lan suốt hơn ba mươi năm ṛng.
[7] Núi Nga Mi thuộc thành phố Nga Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, chiếm một khoảng đất rộng đến 154 km2. Ngọn cao nhất là Vạn Phật Đảnh.
[8] Châu Mục Vương (Cơ Măn), tương truyền thọ đến 105 tuổi, làm vua từ năm 960 đến 923 trước Công Nguyên). Như vậy, năm Châu Mục Vương thứ hai là chính là năm 975 trước Công Nguyên.
[9] Vua Ưu Đà Diên (Udayana), thường được gọi là vua Ưu Điền, đôi khi c̣n được phiên âm là Ô Đà Diên Na, dịch nghĩa là Nhật Tử Vương, hoặc Xuất Ái Vương, vua nước Kiều Thưởng Di (Kauśāmbi) thời đức Phật. Do hoàng hậu dốc ḷng tin Phật pháp, vua bèn trở thành bậc đại ngoại hộ. Theo Tăng Nhất A Hàm Kinh, quyển 28, khi Phật lên cung trời Đao Lợi an cư ba tháng, vua không thể lễ Phật, buồn bă thành bệnh, quần thần bèn dùng gỗ Ngưu Đầu Chiên Đàn tạc thành bức tượng Phật cao năm thước Tàu (độ 1.6 m), vua mừng rỡ khỏi bệnh. Tương truyền, các tượng Phật được tạc về sau đều lấy tượng vua Ưu Điền đă tạc làm mẫu. Kinh Tạo Tượng Công Đức cũng chép chuyện này.
[10] Nguyên Ngụy chính là nhà Bắc Ngụy
(386-534) thuộc thời Nam Bắc Triều. Sử thường
gọi là nhà Hậu Ngụy, hoặc Thác Bạt Ngụy, tức
triều đại được sáng lập bởi ḍng họ
Thác Bạt thuộc sắc tộc Tiên Ty (hậu duệ của
dân Hung Nô, do sống tại núi Tiên Ty nên gọi là tộc Tiên
Ty). Nguyên thủy, ḍng họ Thác Bạt sống tại Thiểm
Tây và Nội Mông Cổ lập ra nước Đại, sau
bị nhà Phù Kiên nhà Tiền Tần thôn tính. Năm 386, Thác Bạt
Khuê xưng vương, tái lập nước Đại,
đồng thời đổi danh xưng là Ngụy. Gọi
là Nguyên Ngụy là v́ năm 493, vua đổi họ Thác Bạt
thành họ Nguyên. Năm 534, vương quốc này lại bị
nội loạn tách thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. Ḍng họ
này có một có một tục lệ tàn khốc là khi nào một
phi tần sanh con trai liền bị giết ngay để
ngăn ngừa sau này khi con trai được vinh hiển,
sẽ phải sắc phong cho mẹ. Nhưng điều này
lại dẫn đến nghịch lư là các vua nước
Ngụy rất coi trọng nhũ mẫu, dẫn đến
những trường hợp nhũ mẫu dùng t́nh cảm
lung lạc nhà vua, nhiễu loạn chánh sự.
[11] Hoài Cảm: Cao tăng Tịnh Độ tông đời Đường, nguyên quán không rơ, thoạt đầu trụ tại chùa Thiên Phước ở Trường An học Duy Thức và Giới Luật, bác thông kinh điển, chưa sanh ḷng tin đối với pháp môn Tịnh Độ. Sau yết kiến tổ Thiện Đạo bày tỏ mối nghi được Tổ chỉ dạy, giải nghi, bèn dự vào đạo tràng của Tổ tinh tu niệm Phật. Hai mươi mốt ngày sau vẫn chưa thấy tướng lành, tự hận tội chướng sâu nặng, muốn tuyệt thực chết, bị Tổ ngăn trở. Sư lại tinh thành niệm Phật, ba năm sau cảm được linh nghiệm, thấy tướng ngọc hào sắc vàng, chứng Niệm Phật tam-muội, bèn soạn bộ Thích Tịnh Độ Quần Nghi, nhưng viết chưa xong đă thị tịch, đồng môn là Hoài Chí bèn hoàn tất chí nguyện.
[12] Cao tăng đời Đường, năm sanh năm mất không rơ. Sư oai nghi, kiến thức trác tuyệt, thông hiểu Nho, Mặc, giỏi viết lách, thường nghiên cứu luật nghi, về sau tu Mật Giáo đạt nhiều chứng nghiệm. Năm Vĩnh Thái nguyên niên (765) đời Đường Đại Tông, vâng chiếu cùng các vị Lương Phần v.v… tất cả mười tám người tham dự vào dịch trường của đại pháp sư Bất Không, dịch các bộ Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă Kinh, Mật Nghiêm Kinh v.v… Sư c̣n soạn bộ Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận để tuyên dương Tịnh Độ, Vô Thượng Thâm Diệu Thiền Môn Truyền Tập Pháp Bảo, Thệ Văng Sanh Tịnh Độ Văn.
[13] Ngài Trường Lô vừa dự định lập Tịnh Hạnh Xă niệm Phật th́ mộng thấy Phổ Hiền, Phổ Huệ Bồ Tát xin ghi danh tham dự.
[14] Trâm anh: Trâm là vật dụng có h́nh như một que dài nhọn, ngày xưa khi đội măo thường búi tóc lên rồi cài trâm qua để giữ cho măo khỏi tuột, Anh là giải măo, vừa giữ cho măo được chặt vừa mang tính cách trang trí.
[15] Lăo túc: Lớn tuổi, phẩm hạnh, kiến thức đều cao.
[16] Chúc hỗ: Cầu nguyện, chúc tụng cho hoàng thất, quốc gia, nhân dân được yên ổn, thịnh vượng, sống thọ.
[17] Thái Hồ là hồ lớn thứ ba của Tàu, nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Triết Giang, hồ rộng đến 2.213 km2, đá ở đây vừa đẹp vừa bền.
[18] Phật Đa Bảo (Prabhūtaratna), dịch âm là Bảo
Hưu La Lan, c̣n dịch là Bảo Thắng Phật, Đại
Bảo Phật, Đa Bảo Như Lai. Trong phẩm Hiện
Bảo Tháp của kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Phật diệt
độ đă lâu, toàn thân xá-lợi được lưu
trong bảo tháp, chỗ nào có Phật giảng kinh Pháp Hoa th́
tháp Đa Bảo bèn hiện ra trước đại chúng
để chứng minh. Theo Pháp Hoa Mạn Đồ La Oai
Nghi Sắc Pháp Kinh th́ thân tướng Phật Đa Bảo
có nhục kế sắc xanh đen, giữa hai chân mày có
tướng bạch hào phóng hào quang chiếu sáng hết thảy,
thân màu vàng ṛng, tay kết Định Huệ Trí Quyền ấn,
ngồi xếp bằng trên ṭa hoa sen cực lớn. Các sách
vở chú giải Mật Tông thường hay coi Đa Bảo
Như Lai chính là đức Đại Nhật Như Lai của
Kim Cang Giới, c̣n Thích Ca Như Lai chính là Đại Nhật
Như Lai trong Thai Tạng Giới.
[19] Tức là cao 18 m (theo Phổ Đà Sơn Chí)
[20] Tuyên Nhượng Vương chính là Thiếp Mộc Nhi (Temur) con trai thứ tư của Trấn Nam Vương Thoát Hoan (Togan). Thoát Hoan chính là con trai của Hốt Tất Liệt và là người đă đem quân đánh Việt Nam, bị thất bại nặng nề, nên Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt) cấm vĩnh viễn không được về kinh gặp mặt vua cha.
[21] Theo từ điển Từ Hải, “thủy nê” là một vật liệu xây dựng, dịch nghĩa chữ “sĩ-mẫn-thổ” (cement; ta thường gọi là “xi-măng”), đôi khi c̣n gọi là “dương nê” (bùn Tây, vữa Tây).
[22] Ư nói đạo pháp đi vào giai đoạn suy vi.
[23] Tùng Giang nay chỉ c̣n là một khu vực hành chánh của Thượng Hải, nằm ngay trên sông Hoàng Phố. Thoạt đầu, vào thời Đường, huyện Hoa Đ́nh được thành lập tại đây, đến đời Minh – Thanh được đổi thành Tùng Giang Phủ. Khi ấy, Tùng Giang Phủ rất lớn, gồm 7 huyện mà Thượng Hải chỉ là một huyện trực thuộc phủ Tùng Giang. Kim Sơn chính là một huyện thuộc phủ Tùng Giang.
[24] Tức loạn Thái B́nh Thiên Quốc.
[25] Tấn viện: Khi một vị Sư đến nhậm chức Trụ Tŕ một ngôi chùa nào th́ gọi là “tấn sơn” hay “tấn viện”.
[26] Trải vàng (bố kim): Khi xưa trưởng giả Cấp Cô Độc lấy vàng ṛng lót đất để mua khu vườn của thái tử Kỳ Đà nhằm tạo tinh xá cúng dường Phật ở nước Xá Vệ. Do tích này, nghĩa cử bỏ tiền của để kiến tạo đạo tràng tự viện cũng gọi là “bố kim” (trải vàng).
[27] Tẫn xuất (pravrājana): C̣n gọi là Diệt Tẫn, Khu Tẫn, Tẫn Phạt, Khu Xuất, Khu Di, Tẫn Trị, hoặc chỉ đơn giản là Tẫn, là một trong những phương pháp xử phạt hàng tỳ-kheo hoặc sa-di phạm giới, tức là gạt bỏ người đó ra ngoài đoàn thể Tăng già đang cùng ở, không cho cùng ở với Tăng chúng. Theo Thập Tụng Luật, quyển 21, người phạm Ba La Di Giới chẳng được thọ Cụ Túc Giới của người xuất gia. Nếu cho thọ th́ người truyền giới cũng bị tẫn xuất. Theo Tứ Phần Luật, quyển 17, điều “Tùy Tẫn Sa Di Giới” th́ Sa Di bị chúng Tăng trách tội vẫn không sửa lỗi, sẽ bị tẫn xuất. Thiện Kiến Tỳ Bà Sa Luật cũng chép tương tự. Người bị tẫn xuất không được truyền giới cho người khác, không được làm y chỉ sư, không được nhận đồ đệ, không được nhận các vật phẩm cúng dường như y bát, ngọa cụ, tọa cụ, nước rửa chân… Theo Tỳ Ni Mẫu Kinh, quyển 2: “Tẫn Xuất có hai loại Yết Ma: Một là vĩnh tẫn (khai trừ vĩnh viễn), hai là do điều phục nên tẫn xuất. Điều phục nghĩa là trong khi chưa sám hối th́ mọi thứ ăn ở, nói năng, hết thảy pháp sự của Tăng chúng đều không được tham dự… Nếu kẻ đó vẫn ương ngạnh không thay đổi, hối hận, th́ suốt đời chẳng được tham dự Tăng sự”. Ngoài ra, c̣n có một h́nh thức trừng phạt gọi là Mặc Tẫn (brahma-danda), nghĩa là không tṛ chuyện, không hỏi han đến người bị trừng phạt, coi như người ấy không tồn tại trong Tăng chúng.
[28] Tăng lạp: Số năm tính từ khi xuất gia (có thuyết nói chỉ tính từ khi thọ giới Cụ Túc).
[29] Ư nói không lănh hội được tâm pháp của thầy.
[30] Mân: Phước Kiến,
Việt: Lưỡng Quảng, Ngô: miền
[31] Kê Túc Sơn gồm hai chỗ:
1.
Núi Kê Túc (Kukkutapāda-giri) ở Ấn Độ, c̣n
được dịch là Kê Cước Sơn, Tôn Túc
Sơn, Lang Túc Sơn, Lang Tích Sơn, thuộc miền Trung
nước Ma Kiệt Đề, là nơi ngài Ma Ha Ca Diếp
nhập diệt, nằm cách Bồ Đề Đạo
Tràng ba mươi hai dặm về phía Bắc. Do ngài Ca Diếp
nhập diệt ở đây, để tỏ ḷng tôn trọng,
người ta chỉ gọi là núi Tôn Túc.
2. Núi Kê Túc nằm ở
phía Tây Bắc cách huyện lỵ Tân Xuyên tỉnh Vân Nam
hơn 50 dặm, tiếp giáp ranh giới của huyện
Thái Ḥa và Đặng Xuyên. H́nh thế núi trông như đóa
sen chín cánh nên c̣n có tên là Cửu Trùng Nham Sơn. Phía Đông
núi có ḍng sông Ca Diếp, có một ngọn núi cao vọt,
đỉnh núi phía Nam bằng phẳng, ba phía c̣n lại
đều có một nhánh núi trông như cái chân gà có ba ngón,
nên gọi là núi Kê Túc. Trên đỉnh núi có hang Ca Diếp,
tương truyền ngài Ca Diếp cất giấu y của
đức Phật, đợi khi nào Bồ Tát Di Lặc
thành Phật sẽ dâng y này lên (trong Đại Di Lặc
Thành Phật Kinh, có chép khi Di Lặc Bồ Tát thành Phật,
dẫn chúng tỳ-kheo lên núi Kê Túc, dùng thần lực mở
núi ra, đánh thức ngài Ca Diếp đang nhập định
chờ Phật Di Lặc giáng thế, chúng Tăng hỏi Phật:
“Sao lại có con trùng mang h́nh người mặc y tỳ-kheo?”
Phật nói: “Đây không phải là trùng, mà là đại
đệ tử Ma Ha Ca Diếp của Phật Thích Ca”. Ngài
Ca Diếp xuất Thiền, dâng y tăng-già-lê lên Phật Di
Lặc. Phật nhận lấy, thấy y tăng-già-lê không
phủ kín được ngón tay út, bèn than thở: “Chúng sanh
thời Phật Thích Ca do ác trược quá nặng nên thân h́nh
quá bé nhỏ”. Dâng y xong, ngài Ca Diếp bèn nhập Hỏa
Quang Tam Muội tự thiêu thân, nhập Niết Bàn). Do vậy,
núi này được coi là đạo tràng của ngài Ma Ha
Ca Diếp.
[32] Chung Nam, c̣n gọi là Trung
[33] Tức ngày đản sanh của Phật Thích Ca và ngày vía Phật A Di Đà.
[34] Trong Chiến Quốc Sách, thiên Triệu Oai Hậu Vấn Tề Sứ (Oai Hậu nước Triệu hỏi sứ giả nước Tề), có đoạn: “Triệu Oai Hậu hỏi sứ giả: ‘Nước Tề có Anh Nhi Tử con gái nhà họ Bắc Cung vứt bỏ bông tai, đồ trang sức trên đầu, ở đến già không lấy chồng để nuôi mẹ, nêu gương tận hiếu cho bá tánh. V́ sao măi đến nay không sắc phong cho cô ta? Như vậy làm sao thống lănh nước Tề, làm cha mẹ muôn dân cho được!” Về sau, thường dùng điển tích “Bắc Cung chi nữ Anh Nhi Tử” để chỉ những người con gái suốt đời không lấy chồng để phụng dưỡng cha mẹ.
[35] Ô Tŕnh nay thuộc huyện Ngô Hưng, tỉnh Chiết Giang.
[36] Nguyên văn: “Điếu chi bất cương, dặc bất xạ túc”. Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của sách Tứ Thư Bạch Thoại Giải Thích, trang 186, phần Thuật Nhi, sách Luận Ngữ.
[37] Xa Ma Tha (Samatha): Dịch nghĩa là Chỉ, Tịch Tĩnh, Năng Diệt, là một trong bảy tên của Thiền Định, hàm nghĩa nhiếp tâm chẳng để cho ngoại cảnh lay động, xa ĺa hết thảy các tán loạn, giữ cho tâm vắng lặng.
[38] Cai có nghĩa là thềm, bậc, nhưng ở đây đặt tên là Tuần Cai với ngụ ư theo điển tích trong kinh Thi, có khúc hát Nam Cai với đại ư “người con hiếu cùng bảo ban nhau, răn dạy nhau phụng dưỡng hiếu thuận cha mẹ”. Như vậy, Tuần Cai có nghĩa là noi gương hiếu thuận, Tiểu Trúc là một công tŕnh xây dựng nhỏ, như một căn nhà nhỏ chẳng hạn.
[39] Thời cổ, vợ quan đại phu gọi là Nhụ Nhân. Đời Minh, Thanh, vợ các quan thất phẩm được gọi là Nhụ Nhân.
[40] Nhận: Đơn vị đo lường thời cổ, một nhận bằng bảy hoặc tám thước Tàu.
[41] Tế
[42] Quê Khổng Tử là Khúc Phụ thuộc
đất Lỗ (nay thuộc địa phận tỉnh
Sơn Đông) nên thường gọi là Đông Lỗ.
[43] Nước Tề, nước Lỗ thời Đông Châu Liệt Quốc đều thuộc địa phận tỉnh Sơn Đông ngày nay, nên tỉnh Sơn Đông thường gọi là đất Tề hoặc Tề Lỗ.
[44] Đàm: Là tên một
nước chư hầu nhà Châu thời cổ, nay thuộc
vùng phụ cận của Đông Long Sơn Trấn thuộc
thành phố Tế Nam, bị nước Tề diệt vào
năm 684 trước Công Nguyên. Do vậy, Tế
[45] Vị khách Tăng đến nhập chúng trong một ngôi tùng lâm nào đó một thời gian gọi là “quải đơn” (treo giường). Khi cáo từ đi qua nơi khác gọi là “trừu đơn” (rút giường).
[46] Duyện Châu là một huyện của tỉnh Sơn Đông, thuộc địa phận thành phố Tế Ninh. Huyện Duyện Châu này chính là một trong chín châu thời cổ.
[47] Minh: Theo từ điển Từ Hải, Minh là một thể văn thường dùng để khắc trên những đồ vật như chuông, khánh, đá; nhằm biểu thị ư vĩnh viễn ghi nhớ không quên. Minh c̣n có nghĩa là một thể văn dùng để biểu thị công đức, hoặc răn nhắc chính ḿnh (chẳng hạn Tín Tâm Minh). Thông thường, những bi kư (bài văn viết trên bia), gồm có hai phần: Phần đầu của bi kư, thuật duyên do v́ sao lập bia, và phần thứ hai là Minh, nhằm ca ngợi, tán dương một nhân vật hoặc một hành vi nào đó; hoặc thuần túy là cảnh tỉnh. Ở đây, Tổ Ấn Quang dùng chữ Minh theo nghĩa thứ hai.
[48] Chúc Dung là tên vị thần lửa trong Đạo Giáo. Thật ra, theo thần thoại Trung Hoa, Toại Nhân là người phát minh ra lửa đầu tiên, nhưng Chúc Dung lại là người t́m ra cách đánh đá mồi bùi nhùi lấy lửa, nên được Hoàng Đế phong làm quan chủ quản việc lửa, rồi lại phong cho ông trông coi Hành Sơn. Do vậy, Đạo Giáo đă tôn xưng Chúc Dung làm hỏa thần, coi Hành Sơn là đạo tràng của ông.
[49] Đây là một công án Thiền
được chép trong Bách Trượng Hoài Hải Thiền
Sư Ngữ Lục (Vạn Tục Tạng, quyển 119,
sách số 404), một ngày nọ, Sư theo ngài Mă Tổ ra
đi, giữa đường chợt thấy một bầy
vịt trời bay ngang, Mă Tổ hỏi: “Cái ǵ thế?”
Sư đáp: “Vịt trời!” Tổ lại hỏi:
“Đi về đâu vậy?” Sư đáp: “Bay qua mất rồi!”
Tổ liền chụp chót mũi của Sư vặn mạnh,
Sư đau quá hét lên thất thanh, Mă Tổ bảo: “Nói bay
mất nữa đi!” Nghe lời đó, Sư bèn hoát nhiên
đại ngộ, về sau được nối pháp của
ngài Mă Tổ.
[50] Con chồn hoang trong công án “dă hồ” trong năm trăm đời trước từng là phương trượng một ngôi chùa tại núi Bách Trượng.
[51] Chúc ly: Lễ chúc tụng hoàng triều khi đất nước có dịp vui mừng khánh hạ chẳng hạn như hoàng tử được sanh ra, thắng trận. Chúc thọ: Lễ cầu nguyện chúc tụng vua, hoàng hậu, thái hậu vào dịp sanh nhật của những người này. Do ân quốc vương là một trong Tứ Ân, nên các tùng lâm ngoài những dịp này vào mỗi nửa tháng đều có lễ Chúc Tán với mục đích cầu nguyện cho đất nước b́nh yên, được mùa, hoàng triều thịnh vượng.
[52] Ngài Tạng Hoán (790-866), họ ngoài đời là Châu,
người huyện Hoa Đ́nh, Tô Châu, xuất gia từ nhỏ,
thoạt đầu theo học với ngài Đạo Khoáng,
sau qua Tung Sơn thọ Cụ Túc, tham học khắp các
chùa thuộc Hồ Sơn. Sau đến Tam Học Thiền
Viện tại núi Ngũ Tiết, tỉnh Chiết Giang, gặp
Linh Mặc thiền sư, được truyền pháp. Sau
khi ngài Linh Mặc viên tịch vào năm 818, Phật giáo Trung
Hoa gặp đại nạn Tam Vơ, nhiều tự viện
bị phá hủy, nhưng Tam Học Thiền Viện vẫn
duy tŕ nhờ nỗ lực không mệt mỏi của ngài Tạng
Hoán. Đến thời Hội Xương, Tam Học Thiền
Viện lại được trùng hưng mạnh mẽ.
Về sau, ngài đến trụ tích chùa Thiên Đồng thuộc
thành phố Ninh Ba, đồng thời khai sáng Đông Luật
Thiền Viện tại bờ Đông Dũng Giang. Do đức
hạnh của Sư, nơi này trở thành một già-lam lớn,
sau đổi tên là Thất Tháp Tự. Ngày mồng ba tháng
Tám năm Hàm Thông thứ bảy (866), thời Đường,
Sư viên tịch, hưởng 77 tuổi, Tăng lạp 57
năm.
[53] Núi Tứ Minh ở phương Tây Nam
huyện Cận, tỉnh Chiết Giang, trải dài qua các huyện
Từ Khê, Cận, Phụng Hóa, Tân Xương, Tứ Minh,
Thượng Ngu, Dư Diêu v.v… Rặng núi này gồm nhiều
ngọn cao ngất, nhưng đặc biệt là trên ngọn
Phù Dung có bốn cái hang, lúc trời trong, từ dưới
nh́n lên trông giống như những vuông cửa sổ
được ánh mặt trời, mặt trăng soi qua,
nên gọi là Tứ Minh.
[54] Thái Bạch chính là Kim Tinh (Venus), c̣n được biết dưới những tên khác như sao Hôm, sao Mai, hoặc Trường Canh hay Khải Minh.
[55] Cửu Giang là một thương cảng thuộc miền Tây Bắc tỉnh Giang Tây, nằm ngay trên sông Dương Tử, Lô Sơn thuộc phạm vi thành phố này.