Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao
Quyển thứ tư
(Phần 2)
24. Bài kư về
chuyện thếp vàng tượng Phật Tiếp Dẫn
trong hang đá của Trung Am thuộc Bí Ma Nham núi Ngũ
Đài
Ngũ
Đài chính là chốn thánh đạo tràng thường trụ
bao kiếp của Văn Thù Bồ Tát và một vạn Bồ
Tát, kinh Hoa Nghiêm gọi là núi Thanh Lương; ấy chính là Phàm
Thánh Đồng Cư ở cơi này; nếu luận trên
phương diện Bồ Tát th́ nó chính là Thường Tịch
Quang Tịnh Độ, hoàn toàn tách ĺa hết thảy phiền
hoặc, nhiệt năo, rốt ráo thanh lương. Chùa Bí Mật
ở Bí Ma Nham chính là do Mộc Xoa ḥa thượng dùng chĩa
ba bằng gỗ[1]
để thể hiện ư chỉ “từ trời Tây qua Đông” của Tổ Sư.
Phàm những ai được nghe tên không ai chẳng sanh tâm
kính ngưỡng, mong mỏi, hâm mộ, huống chi những
ai đă đích thân đến được nơi ấy?
Cách chùa không xa có nơi gọi là Trung Am được tạo
dựng bên vách núi, vách núi ấy cao mấy mươi
trượng. Hang núi ấy khá cao sâu rộng răi, bên trong
đắp một tượng Phật Tiếp Dẫn cao
hơn hai trượng, hết sức viên măn trang nghiêm.
Đó là v́ muốn cho những người đến
đây đều lễ bái từ dung, đều cùng niệm
thánh hiệu, lâm chung cùng được tiếp dẫn văng
sanh Tây Phương. Đại sư Tư Thái trước
khi xuất gia có đến nơi đây lễ Phật,
phát nguyện thếp vàng tượng Phật. Sau khi xuất
gia thọ Cụ Túc Giới, bèn quyên mộ các thiện tín
để thỏa nguyện này, tổng cộng dùng hơn
hai trăm đồng, xin tôi phát huy đại lược
ư nghĩa về sự khác biệt và giống nhau giữa
chúng sanh và Phật, cũng như ḷng từ phổ độ
của đức Di Đà để chỉ dạy cho những
người đến đây.
Trộm nghĩ: Một
niệm tâm thể của chúng ta và Phật không khác, do mê
chưa ngộ nên tâm tướng khác biệt một trời
một vực. Dù Tướng rất khác biệt nhưng Thể
vẫn chẳng khác, như thái hư không trống rỗng,
sáng sủa, thông suốt, hoàn toàn không trệ ngại. Do mây,
sương, bụi bặm nên biến thành tướng tối
tăm, bế tắc, nhơ bẩn. Phải biết: Chính
ngay trong lúc đang tối tăm, bế tắc, nhơ bẩn
ấy, Thể của nó vẫn trống không, sáng sủa,
thông suốt y như cũ. Do vậy, chư Phật
thương xót chúng sanh sẵn có Chân Như Phật Tánh, chỉ
v́ mê trái mà [cái tánh ấy] đâm ra trở thành cái gốc
để khởi Hoặc tạo nghiệp, chịu khổ.
Do vậy, chỉ dẫn nhiều cách khiến cho chúng sanh
trở về gốc, quay về nguồn. Cầu lấy một
pháp hạ thủ dễ thành công cao th́ không ǵ bằng tín
nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương; bởi
lẽ chúng sanh tín nguyện tŕ danh sẽ cảm được
Phật Di Đà từ bi nhiếp thọ. V́ thế, bất
luận thượng trung hạ căn đều được
cậy vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương. So
với việc cậy vào tự lực để đoạn
sạch phiền hoặc rồi mới liễu sanh tử
th́ dù có hết năm cũng chẳng thể nói trọn
được! Do vậy, Phật v́ chúng sanh hiện đủ
mọi thân để tạo nhân duyên đắc độ.
Phải biết: Tượng
này chính là chân thân của Phật, do chúng sanh căn cơ kém
hèn nên thấy là tượng, chứ luận theo phía Phật
th́ thân và cơi chẳng hai, Lư - Trí như một, có pháp nào chẳng
phải là chân thân của Phật, huống hồ bức
tượng đẹp đẽ vạn đức trang
nghiêm này! Bồ Y Đồng Tử[2]
nói: “Một ngọn cỏ, một
cái cây trong núi này đều đầy đủ đức
tướng, trí huệ của Văn Thù”, há lẽ
tượng Phật này lại chẳng đầy đủ
trí huệ, đức tướng của Như Lai ư?
Chỉ v́ chúng sanh căn cơ kém cỏi, đáng nên dùng h́nh
tượng để đắc độ cho nên mới
hiện h́nh tượng để v́ họ thuyết pháp. Nếu
có thể tin tưởng sâu xa lư này th́ chẳng những
tượng này chính là chân thân của Phật, mà hết thảy
chúng sanh trong lục đạo, mỗi mỗi đều
là chân thân của Phật. Hăy nên thương xót kẻ ngu
mê, dùng nhiều cách chỉ dạy khiến cho họ cùng niệm
danh hiệu Phật, cùng sanh về cơi Phật. Đợi
đến khi thấy Phật nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn,
mới biết chính ḿnh vốn sẵn là Phật, đến
nay mới tự chứng. Những kẻ cậy mạnh
hiếp yếu, giết thân kẻ khác cho sướng cái miệng
ḿnh, tranh giành lẫn nhau, giết người ngập thành,
ngập đồng, chẳng những không sanh ḷng đau
thương, lại c̣n cho đó là điều đắc
ư, cái tội lỗi mê muội, trái nghịch ấy không cách
ǵ ví dụ được! Tương lai phải chịu khổ
cùng cực đến dường nào! Nghĩ đến
đó quả thật rất đáng sợ. V́ thế, hăy
kính cẩn đem cái lư “toàn thể là Phật” này bảo
cùng những kẻ mê trái cùng cực khiến cho họ lập
tức tỉnh ngộ, chẳng phụ ḷng từ hiện
thân tiếp dẫn của đức Như Lai th́ quốc
gia may mắn lắm mà chúng sanh cũng may lắm thay!
25. Bài kư về
chuyện văng sanh của cư sĩ Nhạc Vận Sanh
Hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham
làm Phật, nhưng do mê trái tự tánh nên luân hồi sanh tử
chẳng lúc nào xong. Như Lai muốn cho họ khôi phục
bản tâm nên tùy thuận cơ nghi, tuyên nói đủ mọi
pháp. Nhưng muốn cậy vào tự lực để tu
tŕ, trong đời này chứng rốt ráo Chân, đoạn tận
Hoặc để thoát khỏi luân hồi, ḥng liễu sanh
tử th́ trong đời Mạt, thật khó thấy
được mấy ai. Chỉ có tu pháp môn Tịnh Độ
th́ bất luận thượng trung hạ căn, già, trẻ,
trai, gái, chỉ cần đầy đủ ḷng tin chân
thành, nguyện thiết tha, dùng tâm chí thành niệm danh hiệu
Phật cầu sanh Tây Phương, kèm thêm chẳng làm các
điều ác, vâng làm các điều lành, đến khi lâm
chung bèn được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây
Phương, vạn người chẳng sót một ai! Do cậy
vào Phật từ lực nên đạt được lợi
ích lớn lao này, như do ngồi thuyền lớn bèn vượt
được biển, chứ chẳng phải do bản
lănh của chính ḿnh mà được như vậy. V́ thế,
các vị Bồ Tát, các Tổ Sư, các thiện tri thức
nhiều đời đều cực lực đề
xướng pháp này, bởi đây chính là đường tắt
để liễu sanh thoát tử, là pháp trọng yếu
để thành Phật đạo vậy!
Cư sĩ Nhạc Vận
Sanh là cha ông Bộ Vân, tên là Thái Nguyên, tự là Vận Sanh,
thờ cha mẹ chí hiếu, ưa thiện chuộng nghĩa,
thiên tánh trung hậu, không ǵ chẳng thích đáng. Trong mấy
năm gần đây, Bộ Vân sanh ḷng chánh tín kha khá đối
với Phật pháp, ăn chay niệm Phật, một mực
chân thành, nghiêm cẩn. Nhân đấy, khuyên lơn cha mẹ
cùng ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, cũng
như giải nói những sách Tịnh Độ rơ ràng,
đơn giản dễ hiểu, khuyên họ thường
xem. Cha ông biết tự tâm sẵn có Phật tánh, nhưng
v́ Hoặc nghiệp ngăn lấp nên chẳng thụ dụng
được; may là có pháp môn cậy vào Phật từ lực
này khiến cho lũ chúng sanh căn cơ hèn kém như chúng
ta, tuy thiện căn ít ỏi mà ngay trong đời này liền
được vượt ngang ra khỏi tam giới, cao dự
chín phẩm sen, c̣n may mắn nào hơn! Từ đấy,
tâm tâm ức niệm, mong được thỏa nguyện.
Đến đầu tháng Bảy, cụ thị hiện bệnh
nhẹ, sáng ngày mồng Tám dậy sớm, niệm Phật
xong, dặn ḍ Bộ Vân mau sắm sửa tang phục, quan
tài: “Ta sắp đi rồi!” Đợi tang phục, quan tài
chuẩn bị xong xuôi, cụ bèn tắm gội, thay áo,
đi nằm. Bộ Vân khuyên răn người trong nhà:
“Đừng khóc lóc, kẻo cụ bị mất chánh niệm,
hăy đồng thanh niệm Phật để giúp cụ
văng sanh”. Lại khuyên cha trong tâm hăy niệm thầm theo. Tuy
chẳng nghe tiếng nhưng miệng cụ vẫn máy động,
lúc lâu sau thấy ngừng th́ đă mất rồi! Lại
niệm thêm ba giờ nữa mới bắt đầu than
khóc. Vẻ mặt cha vẫn mỉm cười, trong nhà thoảng
mùi hương lạ, để ba ngày mới liệm,
tướng mạo hăy như c̣n sống. Cụ được
văng sanh là điều có thể đoan chắc! Bộ Vân
cùng người nhà hằng ngày niệm Phật trước
bàn linh để cầu cụ được tăng cao phẩm
sen, mau chứng Vô Sanh ḥng báo đáp ân cù lao, trọn hết
phận con.
Lại nữa, ông Bộ
Vân tài nhỏ chức kém, tiền lương ít ỏi, thờ
cha mẹ nuôi vợ con khá chật vật, may nhờ chú họ
là tướng quân Mao Thiếu Phủ bù đắp nhu cầu
cho. Tang phục, quan tài, chi phí tang ma lần này đều do
Thiếu Phủ bỏ ra. Thiếu Phủ chánh trực, công
bằng, liêm khiết, sáng suốt, trong sạch, khí tiết
cao cả, trung với nước, hiếu với cha mẹ,
nghĩ đến t́nh thương yêu của người
trước nên coi Bộ Vân như con, Bộ Vân cảm kích
trước t́nh đùm bọc nên cũng coi Thiếu Phủ
như cha. Nhân duyên ăn chay của Bộ Vân thật ra
cũng do Thiếu Phủ mà ra. Nếu như Thiếu Phủ
do Bộ Vân mà có thể dốc ḷng tu Tịnh nghiệp,
ăn chay niệm Phật hầu sống dự vào bậc
thánh hiền, mất về cơi Cực Lạc th́ lợi ích đạt
được càng rạng rỡ, trọn vẹn đẹp
đẽ đôi đường. Do vậy, bèn ghi lại
để khuyên đời.
26. Bài kư về
chuyện văng sanh của phu nhân Uông Hàm Chương
Đạo
nơi con người giống như nước ở
trong đất, không đâu chẳng có, nhưng nếu không
có công xoi đào chắc chắn khó thể phát hiện
được nước. Tâm tánh của chúng sanh và tâm tánh
của Phật không hai. Do vô minh ngăn lấp nên công đức
của Phật tánh không cách ǵ hiển hiện được!
V́ thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Lạ
thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có đủ
trí huệ của Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng,
chấp trước nên chẳng thể chứng đắc.
Nếu ĺa được vọng tưởng th́ Nhất
Thiết Trí, Tự Nhiên Trí liền được hiện
tiền”. Những ǵ đức Như Lai đă nói trong cả
một đời Ngài đều là pháp dược nhằm
đối trị vọng tưởng chấp trước.
Một pháp Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thật
là viên đốn thẳng tắt, v́ dùng Quả Địa
Giác để làm Nhân Địa Tâm. Do vậy, nhân trùm biển
quả, quả thấu tột nguồn tâm. Từ khi pháp
được truyền qua Đông Chấn, hết thảy
tứ chúng do niệm Phật được văng sanh Tây
Phương, triệt chứng Phật tánh sẵn có viên
thành giác đạo chẳng biết là mấy ngàn vạn ức!
Phu nhân
Uông Hàm Chương là người hôn phối đức hạnh
của cư sĩ Giang Dịch Viên, túc căn sâu dầy, bẩm
tánh hiền thục, thờ cha mẹ, phụng dưỡng
bố mẹ chồng, giúp chồng dạy con, tự ḿnh
nêu gương, ǵn giữ nếp nhà, mọi chuyện đều
đáng làm gương cho hàng khuê các. Bà lại mang tâm niệm
nhân từ, v́ thế thường hành bố thí cho kẻ
nghèo thiếu, cứu vớt mạng loài vật. Những
hành vi tốt lành ấy đều do cần kiệm mà
thành. Nếu như thích buông tuồng, hoang phí, ắt lo cho
chính ḿnh c̣n không xong, huống ǵ cứu người lợi
vật được ư? Dịch Viên lo dạy học
nhiều năm, chỉ muốn vun bồi nhân tài chân chánh,
chẳng tiếc tâm lực, do giảng dạy mệt nhọc
đến nỗi thành bệnh. Năm Dân Quốc thứ
tám (1919), ngă bệnh không ngồi dậy được, thuốc
men vô hiệu, t́nh thế thật nguy ngập. Có người
bạn khuyên ông hăy lắng ḷng niệm Phật, [nhờ
đó] dần dần được khỏi bệnh. Do vậy,
bèn đọc khắp các kinh Phật, mới biết Phật
là đại thánh nhân, dạy những chuyện chẳng thể
nghĩ bàn, buồn tiếc ḿnh trước kia không biết,
nay may mắn được nghe. Do vậy, khuyên cha mẹ,
vợ và con cái cùng tu Tịnh nghiệp. Do đó, phu nhân thành
kính tŕ danh hiệu Phật, tụng kèm thêm các kinh chú như
Di Đà, Phổ Môn, Đại Bi v.v… quyết chí cầu
sanh Tây Phương.
Vào tháng Mười
năm ngoái, bà bị bệnh, chính trong lúc đang đau khổ
bèn phát đại nguyện mau được văng sanh, thấy
Phật nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn rồi sẽ
nương theo Phật từ lực trở vào Sa Bà cứu
khổ cho chúng sanh, tâm cực khẩn thiết. Đêm cuối
tháng, bà bảo với người săn sóc: “Trên lầu có
Phật đường, tiếng mơ thật trầm ấm,
nơi tường vách có kinh viết bằng chữ vàng,
quang minh chói ngời, ngươi có thấy nghe hay chưa?”
Vả nữa, ba hôm trước đó, bà mẹ chồng mộng
thấy kim quang đầy nhà, trong quang minh có không biết là
bao nhiêu Bồ Tát, ư bà cụ cho rằng con dâu bệnh sẽ
chóng được lành. Nên biết: Đấy đều
là tướng trạng Tịnh nghiệp thuần thục,
tịnh cảnh hiện tiền. Bữa hôm sau, nhằm giờ
Mùi ngày mồng Một tháng Mười Một, bà Uông ngồi
xếp bằng, niệm Phật qua đời. Mất rồi,
thần sắc đoan nghiêm, hoàn toàn không có tướng chết
chóc ǵ, toàn thân đều lạnh nhưng đảnh đầu
vẫn ấm. Khi trước hai đùi sưng phù, chẳng
thể co duỗi được, đến lúc sắp mất
lại như b́nh thường. V́ thế, có thể ngồi
xếp bằng qua đời như nhập Thiền Định.
Dịch Viên hướng
dẫn con cái và các đạo hữu chí thành niệm Phật,
giúp bà được văng sanh. Qua năm tiếng đồng
hồ mới bắt đầu xếp đặt [tang ma],
cúng lễ, tiếp đăi khách. [Tang gia] đă không dùng đồ
mặn, mà khi người trong thôn muốn đến tế
lễ chung, Dịch Viên bèn ngăn lại, mỗi ngày chỉ
để một số người đến niệm Phật
một lúc độ khoảng hai tiếng đồng hồ,
một là để khỏi lăng phí, hai là có lợi ích thật
sự cho vong linh, ba là khéo léo dẫn dụ mọi người
cùng gieo thiện căn, bốn là để cho những ai
nghe được phong thái ấy đều phổ biến
ân Phật. Quả thật là phong cách tang lễ mới thật
tốt lành; phàm những ai có tín tâm đều nên hành theo.
Sau
khi tẩn liệm, Dịch Viên gởi thư đến chùa
Pháp Vũ ở Phổ Đà kèm theo 100 đồng, xin Quang
tùy nghi làm Phật sự ḥng [người mất] chưa
được văng sanh liền được văng sanh,
đă văng sanh th́ sẽ được tăng cao phẩm
sen. Quang bảo mười sáu người trong Niệm Phật
Đường cử hành Phật thất, lại v́ họ
khai thị về lợi ích của pháp môn Niệm Phật
cũng như ḷng chân thành của cư sĩ Dịch Viên.
Các sư nghe xong đều cạn ḷng thành, tận ḷng kính.
Đến ngày hai mươi mốt, bà mẹ chồng cầu
khấn: “Con dâu mất đă nhiều ngày rồi, sanh về
Tây hay chưa? Xin hăy báo mộng cho biết để an ủi
ḷng ta!” Đêm ấy, có một người bạn con bà cụ
nằm mộng thấy thư từ nườm nượp
gởi tới, bèn đem một lá thư lên Phật
đường trên lầu để xem, thấy trong Phật
đường treo một ngọn đèn lớn sáng tỏa
bốn phía, sáng hơn đèn điện. Mở thư ra thấy
có một bức vẽ, trong ấy vẽ một đóa sen
lớn màu đỏ, trên hoa có đài ṭa, dưới hoa ghi
hai hàng chữ nhỏ, chẳng thể nhớ được.
Chung quanh có bao nhiêu là hoa nhỏ, nước ở dưới
hoa có màu như bạc. Ngày ấy chính là ngày viên măn Phật
thất ở Pháp Vũ. Được mấy điềm
như thế đủ thấy bà quyết định văng
sanh.
Tâm chúng sanh và tâm của
A Di Đà Phật xét về bản thể hoàn toàn
tương đồng. Nếu dùng tín nguyện ức niệm
để cảm chắc chắn sẽ được thệ
nguyện từ bi của Phật Di Đà nhiếp thọ.
Do vậy, trong cơi này phát tâm niệm Phật cầu sanh Tây
Phương th́ trong ao bảy báu nơi Tây Phương liền
mọc lên một đóa sen. Nếu tinh tấn chẳng lui
sụt th́ hoa sen ấy càng ngày càng to lớn, đến khi
người ấy lâm chung, Phật và thánh chúng liền cầm
hoa ấy tiếp dẫn văng sanh. Bà Kinh Vương phu nhân
đời Tống dốc ḷng tu Tịnh nghiệp, những
người thiếp, thị nữ, không ai chẳng hành
theo. Có một người thiếp không bệnh mà mất,
phu nhân đêm nằm mộng thấy người thiếp
đă mất ấy đến cảm tạ ân cần. Cô lại
dẫn bà đi về phương Tây, thấy có một cái
ao báu kích thước rộng lớn. Trong ao có một cái
hoa to, quang minh thù thắng. Người thiếp bảo:
“Đấy là chỗ phu nhân sẽ sanh về. Tất cả
những hoa chung quanh đều là [hoa của] những
người được phu nhân giáo hóa hay được
lần lượt truyền dạy mà phát tâm đấy!”
Phu nhân tỉnh giấc, buồn vui chen lẫn. Không lâu sau, gặp
đúng dịp sanh nhật, bà đứng niệm Phật
qua đời.
Giấc mộng của
người bạn [ông Dịch Viên] gần giống với
chuyện này, nhưng Uông Phu Nhân không có được công
phu và quyền lực giáo hóa chỉ dạy như Kinh
Vương phu nhân nên cảnh tượng phải kém xa.
Người bạn Tịnh nghiệp chưa thuần thục
nên chỉ thấy được bức vẽ, chứ chẳng
thể đích thân thấy được cảnh. Dùng nhân
như thế sẽ cảm được quả như
thế. Nhân chẳng luống uổng, quả chẳng lăng
phí, do vậy càng thêm tin tưởng. Nguyện những ai
thấy nghe đều gắng sức lên!
27. Bài kư về
chuyện văng sanh của Dương Thái Phu Nhân mẹ ông Từ
Hết thảy chúng
sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật. Bất
luận thiên, nhân, A Tu La, ngạ quỷ, súc sanh, địa
ngục, bất luận nam, nữ, sang, hèn, trí, ngu, hiền,
tệ, thăng trầm lục đạo, luân hồi chẳng
ngơi, đều là do mê sâu hay cạn, do nghiệp thiện
hay ác làm thành nhân duyên, nhưng một niệm Phật tánh
chưa từng do vậy mà bị tăng hay giảm. Do mê
không biết nên chẳng những không được thụ
dụng, trái lại c̣n dùng sức công đức của Phật
tánh làm cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp,
do nghiệp cảm khổ, há chẳng đáng buồn lắm
ư? Đức Như Lai xót thương dạy cho bỏ
mê về với ngộ, đoạn Hoặc chứng chân, cho
đến khi tự chứng được Phật Tánh sẵn
có mới thôi! Lại do chúng sanh không có sức đoạn
Hoặc, dẫu có tu tŕ cũng chẳng thể liễu
thoát sanh tử ngay trong một đời này, thọ sanh lần
nữa đa phần đều mê mất cho nên đến
tận đời vị lai không có lúc nào được giải
thoát. Do vậy, v́ ḷng đại từ bi, đặc biệt
mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây
Phương để hết thảy dù phàm hay thánh đều
cùng trong đời này cậy vào Phật từ lực liễu
sanh thoát tử. So với những kẻ chuyên cậy vào tự
lực th́ khó - dễ, chậm - nhanh, khác biệt như trời
với vực. V́ vậy, từ cổ đến nay,
Tăng - tục tứ chúng tu pháp môn này văng sanh Tây
Phương nhiều chẳng kể xiết, ngay cả mấy
lúc gần đây cũng vẫn thường thấy.
Bà Dương Thái Phu
Nhân mẹ của ông Từ ở huyện Thạch Đăi,
tỉnh An Huy, chính là mẹ đẻ của cư sĩ Từ
Quốc Trị, tánh t́nh hiếu thuận, hiền từ, mềm
mỏng, hiền lành, minh mẫn, quả quyết, thờ
cha mẹ, phụng dưỡng bố mẹ chồng, giúp
chồng dạy con, chăm sóc nhà cửa, mỗi việc
đều đáng làm gương mẫu cho bạn khuê các,
làm bậc thầy mẫu mực cho hàng nữ lưu, chẳng
thẹn sánh với những hàng liệt nữ, mẫu nghi,
hiền nhân, minh trí thời cổ. Từ nhỏ đă tin
Phật, đến già càng sốt sắng, có ba người
con là Quốc Hoa, Quốc Quân và Quốc Trị, đều
theo đuổi quan trường hay thương nghiệp. Quốc
Trị sống ở Thiên Tân muốn được hầu
hạ dưới gối dài lâu, nên vào năm Dân Quốc thứ
10 (1921) đón mẹ về Thiên Tân phụng dưỡng. Bà
bèn ăn chay trường, thọ giới Ưu Bà Di, từ
đấy niệm Phật càng thêm tinh tấn. Bà thấy
được chút điềm lành, nhưng tôi sợ có
người ngu chẳng cầu nhất tâm chỉ chuyên mong
mỏi tướng lành trở thành bệnh nên không ghi lại.
Mùa Thu năm ngoái, tỉnh An Huy vừa bị nạn lụt
lẫn hạn hán, tỉnh trưởng đánh điện
điều Quốc Trị về lo việc cứu tế,
bởi tám năm ở tại kinh đô ông đă có thành tích
trong chuyện này. Quốc Trị chẳng nỡ cách xa mẹ,
phu nhân đem đại nghĩa quở trách, bắt ông phải
đi cho nhanh để cứu giúp dân chúng đang bị tai
họa. Quốc Trị ở đất Hoàn hơn năm,
phu nhân bị bệnh, chẳng cho viết thư báo tin, sợ
ông từ phương xa trở về sẽ lỡ làng việc
cứu tế. Bà lại c̣n dặn ḍ Quốc Hoa, Quốc
Quân quyên mộ, dốc hết tiền dành dụm ra để
giúp đỡ, được Đại Tổng Thống
đề tặng biển ngạch, tặng cho huy
chương Từ Huệ. Năm Dân Quốc 11 (1922) việc
cứu trợ xong xuôi, chính quyền đất Hoàn[3]
lưu giữ Quốc Trị, nên ông lại đón mẹ về
phụng dưỡng tại Hoàn Thản. Năm ấy cụ
đă bảy mươi bốn tuổi, tinh thần suy yếu,
trong thân thích có người khuyên nên thôi ăn chay, phu nhân
nói: “Ta thà ăn chay mà chết, chứ chẳng ăn thịt
để được sống!”
Đến mùa Xuân
năm nay, bệnh ngày càng nặng, thần trí vẫn sáng suốt,
niệm Phật không bỏ sót, bảo Quốc Trị rằng:
“Thế sự gian khổ mẹ đă nếm đủ cả
rồi nên chẳng luyến tiếc, trong tâm chỉ có mỗi
một chuyện niệm Phật mà thôi!” Lại nói: “Mỗi
một lần phát sốt, đau khổ dị thường,
hễ tưởng đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới chợt cảm thấy mát mẻ liền!”
Ngày hai mươi mốt tháng Hai, thỉnh Tăng chúng đến
nhà niệm Phật để giúp văng sanh, lại sai đem
những quần áo, đồ đạc của chính ḿnh
bán hết để cúng dường Tam Bảo, hỏi Quốc
Trị: “Ngày nào đi th́ tốt nhất?” Quốc Trị
đáp: “Ngày mốt là ngày ăn chay, ấy là ngày tốt nhất”.
Mấy tiếng sau, cụ nói: “Mẹ đă thấy Thích Ca
Mâu Ni Phật và Phật, Bồ Tát đă thờ ở Thiên
Tân, nhưng có ḿnh đức Phật Tiếp Dẫn sao
không thấy?” Quốc Trị đáp: “Đến lúc sẽ
thấy”. Ngày hôm sau, cụ lại niệm Phật theo
chư Tăng, đến rạng sáng ngày hai mươi ba,
vị sư niệm Phật là thầy Hải Phước
nói: “Phu nhân thần chí, khí tượng như thường,
chắc trong một hai ngày chưa đi đâu!” Đến
giờ Tỵ, Quốc Trị thỉnh h́nh Phật Tiếp
Dẫn thờ trước giường nói: “A Di Đà Phật
đến rồi!” Phu nhân nghe vậy vui mừng lớn
lao, ngồi dậy chiêm ngưỡng, lớn tiếng niệm
“nam-mô A Di Đà Phật” mấy câu, rồi ngồi kết ấn,
mỉm cười qua đời. Quốc Trị và chư
Tăng cùng quyến thuộc vẫn lớn tiếng niệm
Phật ba tiếng đồng hồ nữa rồi mới
cử ai (cất tiếng khóc) và tắm rửa, thay áo. Mùi
thơm ngào ngạt, có người bạn đến phúng
điếu ở ngoài cửa đă ngửi thấy, khen là
hy hữu. Ba ngày sau mới liệm, diện mạo so với
lúc sống càng tươi tắn hơn, đảnh đầu
vẫn c̣n hơi ấm, tứ chi mềm mại, đem xâu
chuỗi đặt vào tay bèn gập ngón tay nắm lấy.
Cao đẹp thay!
Như phu nhân có thể
gọi là người túc căn sâu dầy, đời này tu
hành tinh thuần, lại được người con
như Quốc Trị phụ trợ nhiều cách cho nên Tịnh
nghiệp chín muồi, toại nguyện văng sanh. Những
người trong đời không niệm Phật th́ chẳng
cần bàn đến, chứ như người chí tâm niệm
Phật lúc sắp mất, con cái khóc lóc, tắm rửa, thay
y phục v.v… khiến cho người sắp mất đâm
ra bi thương, hoặc sanh sân hận, đến nỗi
bị mất chánh niệm, vĩnh viễn luân hồi trong
tam đồ lục đạo chẳng thể thoát ra. Những
kẻ ấy cho đó là tận hiếu, chẳng biết
đă mắc tội gây trở ngại cho cha mẹ, so với
tội giết cha mẹ lại càng nặng hơn! Cả
thế gian không biết như vậy, thật là bi
thương! Quốc Trị bắt chước mẹ nhân
từ thờ Phật, nên ăn chay trường, học Phật,
nhiều lần đi cứu trợ thảy đều cạn
kiệt tâm lực. Mùa Hạ năm nay ông lên núi, kể lại
hành trạng của phu nhân, xin tôi soạn bài kư để
làm gương cho con cháu đời sau. Tôi viện cớ
thô lậu, bận bịu để thoái thác, nhưng về
sau ông lại viết thư khẩn cầu. Do vậy, tôi
bèn thuật đại lược cuộc đời và kể
khá tường tận những sự thực cuối
đời để người làm mẹ, người
làm con trong đời đều bắt chước theo.
28. Bài kư về
chuyện cảm ứng của cư sĩ Lục Tây Lâm
(Đầu Thu năm Dân Quốc thứ 15 – 1926)
Quán Âm Đại Sĩ ân trọn khắp
pháp giới, tùy loại hiện thân tầm thanh cứu khổ,
đa phần được Ngài gia bị sâu xa mà không hay
biết. Tháng Năm mùa Hạ năm nay, tôi đă ấn hành
bộ Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng,
gởi cho cư sĩ Tây Lâm Lục Thọ Từ ở Tô
Châu. Ông ta đọc đến phần Cứu Khổ trong
quyển thứ hai khôn ngăn cảm xúc, mới biết
thuở nhỏ gặp cảnh hoạn nạn mà được
sống c̣n đều là nhờ vào từ lực của
Đại Sĩ gia bị, nên bèn lược thuật chuyện
ấy, gởi thư cho Quang như sau:
“Nhà con ở Thái
Thương[4], thuở nhỏ mồ
côi, nhờ bà nội, mẹ góa nuôi dạy. Mẹ ăn chay
Quán Âm[5],
thường tụng kinh Quán Âm, chú Đại Bi. Năm Hàm
Phong thứ 10 (1860), con được 14 tuổi, gặp phải
giặc cướp từ Quảng Đông nhiều phen công
hăm các thành, cô là Hồ Thái Quân đem ba mạng trong nhà về
quê sống tại nhà bà. Không lâu sau, thành lại bị vây
hăm. Con mang cái tráp có bộ Đại Bi Sám[6];
đấy là do mẹ của cô là Trương Thái Quân sai
con chép lại chú văn ấy. Do đó, đọc tụng
thuộc không quên, hằng ngày niệm chừng đó biến.
Đến khi cô đi nơi khác liền ở nhờ nhà người
thân thích họ Mao ở Tam Đồ. Đến mùa Thu, giặc
dấy lên mạnh mẽ, mặc sức cướp bóc,
đốt phá, giết chóc. Một hôm, vào buổi trưa gặp
phải lúc giặc tràn đến, bà nội tuổi cao
không trốn được, con theo mẹ trốn trong lùm
trúc ở vườn sau, giặc cầm mâu đuổi theo
sau, mẹ con vội vàng chạy ra sông, gặp phải bộng
cây liền rúc vào đó, thấy giặc đâm loạn vào
đám trúc một hồi rồi bỏ đi, nghe sau
lưng có tiếng người, nh́n lại thấy mấy
tên giặc đứng bên bờ sông, phất cờ quát
tháo, chừng như chẳng hề thấy mẹ con chúng
con, chốc lát giặc bỏ đi, bèn chui ra. Đến
nay nghĩ lại vẫn c̣n run rẩy khôn cùng!
Tháng Mười năm
sau, lương thực sắp cạn, vay tiền một
ngàn bốn trăm đồng, ngồi thuyền qua Hoàng Kính[7] để
gặp ông Tổ trong ḍng họ là Trúc Lâu Ông. Chưa đến
nơi, trời đă tối, thuyền phu đẩy con lên
bờ, quăng hành lư lên bờ rồi chèo đi. Đêm tối
cùng đường, không biết tính sao, khôn ngăn đau
đớn! Bà lăo trong thôn là Viên Thái Quân thương xót, cho
ngủ đêm trong nhà. Ngày hôm sau, sai con dẫn đi gặp
Trúc Lâu Ông. Ông vốn nghèo, lo việc công, chuộng việc
nghĩa, dạy học có tiếng, nhờ vào nghề thuốc
đắp đổi qua ngày. Vừa gặp cháu rất mừng
rỡ, hứa sẽ tính cách, bảo đợi mấy
ngày, nhưng hóa ra ở nhà họ Viên hơn một tháng. Đến
khi ông tính toán ổn thỏa, bèn bảo ngồi tàu biển
sang Thượng Hải, nhờ thân thích dẫn đến
Thúy Vi Tăng Xá ở ngoài cửa
Phẩm Phổ Môn chép:
“Tâm niệm chẳng luống
qua, diệt khổ trong các cơi. Trong khổ năo nạn chết,
thường làm chỗ nương tựa”. Con tin
đúng là như vậy nên bèn thuật lại mong sao hết
thảy thiện tín chí thành niệm danh hiệu Bồ Tát và
kinh Quán Âm, Đại Bi thần chú, sẽ tự có thể
gặp chuyện dữ hóa thành chuyện lành, gặp tai nạn
biến thành chuyện tốt, cũng như nghiệp tiêu
trí rạng, chướng tận phước cao, sống dự
vào hàng thánh hiền, mất lên cơi Cực Lạc. Xin pháp
sư thương xót ḷng con ngu thành, soạn bài kư sự cảm
ứng chép thêm vào bộ Văn Sao khiến cho khắp các
đồng nhân đều sanh chánh tín, đều được
gội từ ân”.
Cư sĩ Tây Lâm
xưa đă trồng cội đức, hạnh hiện
đời thuần thục, nhiều năm qua ăn chay
trường thờ Phật, tu tŕ Tịnh nghiệp, tuổi
đă tám mươi, tinh thần khỏe mạnh, hễ có
chuyện công ích dù xa đến mấy dặm cũng đều
đi bộ tới, những thứ xe kéo bằng sức
người nhất quyết không chịu dùng. Mục lực
thật tốt, viết được chữ nhỏ.
Tháng Tư, Quang đến đất Tô, mấy lần tṛ
chuyện [cùng cụ], khiêm tốn, nhún nhường như
cụ bây giờ chẳng có ai! Từ nhỏ, cụ đă
mấy lượt được Đại Sĩ thầm
gia bị nên mới có ngày hôm nay, nhưng vẫn chưa hiểu
thấu suốt nguyên do. Như vậy, trong đời những
người được thọ ân từ bi che chở mà
không biết ắt phải là nhiều lắm! Ví như mặt
trời rạng rỡ chiếu khắp muôn nước,
người mù dù được ánh mặt trời sanh
thành, nhưng chưa từng thấy được tướng
ánh sáng, bèn bảo là “không có” thật là phụ ân chiếu
soi quá lắm! Thương cơi đời ngu mê, nên chép thành
bài kư.
29. Bài kư về
chuyện Ô Vưu Sơn Tự dựng Tàng Kinh Các
(Núi ở tại huyện Lạc
Sơn, Gia Định, Tứ Xuyên)
Phật pháp không ǵ lớn lao chẳng bao
trùm, không ǵ nhỏ nhặt chẳng nêu lên, lớn lao như
mười phương pháp giới, nhỏ nhặt như
một niệm tâm tánh của chúng sanh, khuôn mẫu tốt
lành khiến đời yên dân lành, đường lối tốt
đẹp để siêu phàm nhập thánh, không ǵ chẳng
chỉ bày thấu triệt ngọn ngành, kết cuộc, lư
do đến cùng cực vậy. Đạo ấy lớn
lao, nghĩa lư nhỏ nhiệm, văn sâu, nghĩa rộng,
nếu muốn xiển dương chỉ thú ấy th́ cạn
hết biển mực cũng chẳng thể [diễn tả]
tột cùng chỗ mầu nhiệm. Nhưng nếu hiểu
thấu được lẽ đạo viên đốn th́
t́m lấy một chữ cũng không thể được,
dù là bậc thánh nhân vẫn có chỗ không biết đến,
há phàm t́nh có thể suy lường được sao! Do vậy,
pháp này được thực hành rộng răi, thiên - địa,
quỷ thần không ai trái nghịch; cho nên xưa nay những
người xuất sắc lỗi lạc không ai chẳng
siêng năng tu tŕ, cực lực lưu truyền để
mong cho ḿnh lẫn người đều được lợi
ích thật sự.
Nói chung, giáo điển
trong cả một đời giáo hóa của đức
Như Lai chia thành ba tạng. “Tạng” có nghĩa là sâu kín, u
viễn, vô cùng, vô tận. Phàm những kinh Tiểu Thừa,
Đại Thừa đức Phật đă nói đều
gọi là Kinh Tạng. Phàm những luật Đại Thừa,
Tiểu Thừa đức Phật đă chế đều
gọi là Luật Tạng. Phàm những bộ luận do các
vị Bồ Tát, Thanh Văn đă trước tác để
thích kinh, tông kinh[9]
đều gọi là Luận Tạng. Những kinh sách này
đều do thỉnh Phạn bản từ Phật quốc
về cơi này phiên dịch ra [tiếng Hán] ước chừng
hơn năm ngàn quyển. Từ khi đại pháp truyền
sang Đông, các tông quật khởi, đời nào cũng có
cao nhân hoặc soạn sớ để giải thích kinh, hoặc
do tông kinh mà tạo luận, cũng như các thứ ngữ
lục, truyện kư. Phàm là những thứ trước thuật
nhằm hoằng dương pháp đạo đều được
ghép nối tiếp theo sau [Đại Tạng], gọi là Tục
Tạng. Nhưng trước thuật của cổ đức
đa phần bị thất lạc, được nhập
tạng chỉ là một hai phần trong trăm ngàn phần
đó thôi, vậy mà cũng đă nhiều đến
hơn hai ngàn quyển; huống chi những tác phẩm
chưa được nhập tạng nhưng được
lưu hành rộng răi trong cơi đời th́ càng khó thể biết
được số lượng! Núi nghĩa ṿi vọi,
biển pháp mênh mông, tùy theo thiên bẩm của mỗi
người mà nghiên cứu đến cùng tận, không ai chẳng
thấy được Chân Không, thấu triệt nguồn
pháp, khôi phục lại Phật tánh sẵn có.
Ô Vưu Sơn Tự
là nơi thù thắng trứ danh của Tây Thục (Tứ
Xuyên), là đạo tràng hóa hiện của Quán Âm. Từ khi
Huệ Tịnh thượng nhân đời Đường
khai sơn đến nay trải hơn một ngàn năm,
tông phong chẳng suy sụp, dù cung ngọc điện tía
đă lùi vào dĩ văng, nhưng thừa lẫn giới đều
đề cao, dốc cạn ḷng thành lễ tụng, xưa
- nay chẳng khác, há chẳng đáng gọi là “hễ địa linh ắt có
nhân kiệt” hay sao? Truyền Độ đại sư
trụ tŕ núi này, phàm trăm thứ bị bỏ phế,
suy sụp, Sư đều dần dần tu bổ, đă
dựng điện Di Đà để làm nơi chuyên tu Tịnh
nghiệp, lại dựng gác này để thờ tạng
kinh Tần Già[10] vừa
thỉnh, ngơ hầu làm căn cứ nghiên cứu Phật
pháp. Tạng kinh này chữ nhỏ, chẳng tiện cho
người già, mong rằng sau này có bậc đại thí
chủ sẽ lên kinh đô thỉnh Đại Tạng bằng
tiếng Phạn để mọi người được
đọc tụng nghiên cứu rộng răi. Từ chỗ
này đă có thể thấy được đại khái
ḷng thành v́ pháp, v́ người của Sư.
Gác ấy gồm
năm gian, hai tầng, hết sức trang nghiêm, phí tổn
ước chừng ba ngàn mấy trăm đồng, đều
là do đàn-việt xa gần cảm đức của
sư Truyền Độ nên hoan hỷ bố thí. Xây dựng
xong, gởi thư cho Quang sai soạn bài Kư. Trộm nghĩ:
Giáo pháp trong Đại Tạng nghĩa lư vô tận,
nhưng pháp chẳng thể tự hoằng, phải do con
người hoằng pháp. Ví như vị trưởng giả
cực giàu, có rất nhiều kho lẫm; nếu như con
ông ta không biết đến sẽ không thể nào thụ dụng
được, so với con nhà nghèo hèn nào có khác ǵ! Nếu
như biết được, ắt sẽ tự dùng và
châu cấp cho hết thảy mọi người, không ai chẳng
được thỏa ḷng mong muốn, mà kho tàng ấy vẫn
chẳng bị giảm bớt mảy may. Bởi lẽ kho
tàng này chính là vô tận tạng, lấy măi không hết, dùng
hoài chẳng cùng, đến tột cùng đời vị
lai chẳng bị khánh kiệt. Nguyện hết thảy tứ
chúng đều cùng thăm ḍ tạng báu này để tự
lợi, lợi tha, từng ngọn đèn nối tiếp
nhau, sáng măi không dứt, ngơ hầu chẳng phụ một
phen Như Lai nói kinh, chư tổ hoằng pháp, thầy Truyền
Độ dựng gác, đàn tín giúp đỡ tha thiết vậy.
Phàm những ai cùng hàng với tôi đều hăy gắng lên.
30. Bài kư
tháp Phổ Đồng ở Ô Vưu Sơn
Một niệm tâm tánh của chúng sanh và
một niệm tâm tánh của Phật không hai. Do vọng chấp
nên thành khác biệt như trời với vực, đức
Như Lai thương xót, dạy tu quán Tứ Niệm Xứ:
Một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ là khổ,
ba là quán tâm vô thường, bốn là quán pháp vô ngă. Nếu
quán thành thục th́ Ngă Chấp bị phá. Ngă Chấp đă
phá th́ Pháp Chấp cũng mất. Hai Hoặc Kiến và
Tư do đấy liền đoạn, liền có thể
siêu phàm nhập thánh, liễu thoát sanh tử, văng sanh cơi Phật
thanh tịnh, tu tập hạnh nguyện Bồ Tát để
mong được trên thành Phật đạo, dưới
hóa độ chúng sanh mới thôi. Có những kẻ căn
cơ hèn kém, trong đời hiện tại chẳng thể
đạt được như vậy th́ đợi cho
đến khi chết đi, hỏa thiêu thân xác, khiến
cho họ hiểu rơ Ngũ Uẩn vốn không, Tứ Đại
chẳng có, linh tánh chân thật được phô bày trọn
vẹn triệt để, đă chẳng thuộc vào thấy
- nghe - hay - biết, mà cũng chẳng thể nói là nhân, ngă,
chúng sanh, thọ giả, ắt thoát khỏi nghiệp chất
chứa, tự chứng chân thường. V́ thế, những
người tại gia thông suốt thời xưa đa phần
y theo cách tống táng này, chứ không riêng ǵ Tăng chúng mới
vậy.
Dùng cách này khiến cho
người mất được giải thoát, lại c̣n
khiến cho người sống ngộ được cái
vốn không, lợi ích thật chẳng phải nông cạn!
Đă thiêu hóa rồi, nếu là bậc đạo đức
cao siêu ắt có xá-lợi kiên cố chẳng cháy, nếu
không có xá-lợi th́ xương hèn c̣n sót lại đều
được đặt trong tháp Phổ Đồng,
cũng giống như sống trong tùng lâm dự vào hải
chúng, phàm thánh đồng cư, nhờ vào đó để
un đúc. Linh cốt đông đảo, ắt có người
đă thần siêu thăng cơi tịnh vực, nghiệp giă
biệt trần lao, sen nở hoa thượng phẩm, Phật
thọ kư ngay trong một đời. Được sống
cùng với người như vậy giống như con nhặng
bám vào đuôi ngựa Kư, cũng đi được ngàn dặm;
cũng như nước đổ vào biển cả đều
mất tên gốc, cùng có một vị mặn. Đấy
chính là duyên do của tháp Phổ Đồng vậy.
Chùa Ô Vưu ở Gia
Định từ khi đại sư Huệ Tịnh đời
Đường khai sơn đến nay đă hơn một
ngàn năm; năm tháng đă lâu, tháp Phổ Đồng
cũng nghiêng sụp, hư hoại. May được Truyền
Độ đại sư trụ tŕ chùa này, tận lực
chấn hưng Liên tông, đă dạy những người
c̣n sống tu tŕ Tịnh nghiệp để cùng sanh Tây
Phương, lại muốn cho người mất
được hưởng yên vui, cùng dự vào hải hội.
Do vậy, quyên mộ các thiện tín, hoàn thành chuyện này,
sai Quang soạn bài Kư nhằm phát huy ư nghĩa. Do vậy, bèn
tụng rằng:
Chúng sanh bị
sống chết,
Đều
do chấp có Ngă,
Do vậy
khởi Tam Độc,
Như
bướm tranh vào lửa
Thử
quán khi chưa sanh,
Nghĩ xem
ta ở đâu?
Đến
khi đă mất rồi,
Ta rốt
cuộc là chi?
Đă không
thuộc căn thân,
Cũng chẳng
thuộc thức tâm,
Do căn
không hay biết,
Thức tâm
do vật dời,
Chúng sanh v́
không rơ,
Theo vọng
nên mê giác,
Lầm tâm
vọng tưởng ấy,
Thường
bị sanh tử buộc,
Như Lai
rủ ḷng từ,
Dạy
quán Ngă vốn không,
Đă biết
Ngă vốn không,
Chư pháp
tiêu tan hết,
Huống lại
qua lửa gột,
Tứ
Đại đều phân tán,
Ngũ Uẩn
vốn chẳng có,
Ngă c̣n do
đâu hiện?
Từ
đây chứng Vô Sanh,
Mới chạm
mặt Chân Ngă,
Nguyện
khắp các pháp giới,
Đều
cùng thấy như vậy.
31. Bi kư
thuật duyên khởi sáng lập Bồ Đề Tinh Xá
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thành thủy
thành chung để mười phương tam thế
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh. Bởi lẽ các pháp môn được
giảng trong cả một đời giáo hóa của đức
Như Lai đều cần phải có công tu tŕ sâu xa th́ mới
đạt đến địa vị nghiệp tận
t́nh không, mới có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập
thánh. Nếu Hoặc nghiệp chưa tận th́ sanh tử
luân hồi quyết định khó thoát, dẫu có tu tŕ
cũng chỉ được phước thế gian và tạo
thành duyên chủng đắc độ trong đời vị
lai mà thôi. Đấy chính là chỗ khó khăn của việc
cậy vào tự lực để liễu sanh tử. Pháp
môn Tịnh Độ dùng tín sâu, nguyện thiết tŕ danh hiệu
Phật cầu sanh Tây Phương, kèm thêm giữ vẹn
luân thường, tận hết bổn phận, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều lành, dùng tín nguyện
của chính ḿnh cảm ḷng từ bi của Phật, cảm
ứng đạo giao, cho nên khi lâm chung liền được
Phật từ lực đích thân đến tiếp dẫn
văng sanh Tây Phương. V́ vậy, bất luận Hoặc
nghiệp có hay không, [bất luận] công phu sâu hay cạn, chỉ
cần tín chân, nguyện thiết th́ dù là kẻ tội nghiệp
sâu nặng vẫn có thể thoát khỏi tam giới, ngự
lên chín phẩm sen, huống ǵ những người tu trọn
giới thiện, Định lẫn Huệ đều quân
b́nh ư?
Pháp này hoàn toàn cậy
vào Phật lực kèm thêm tự lực để liễu
sanh tử, v́ thế trong các pháp môn của cả một
đời giáo hóa, nó được gọi là pháp môn đặc
biệt, chẳng được dùng những pháp môn cậy
vào tự lực thông thường để bàn luận. Ấy
là v́ dùng Quả Địa Giác để làm Nhân Địa
Tâm, cho nên nhân bao trùm biển quả, quả thấu tột
nguồn nhân. Do đó, ngàn kinh muôn luận đâu đâu
cũng chỉ quy, văng thánh tiền hiền ai nấy đều
hướng về. Pháp này là đường tắt để
liễu sanh thoát tử, là diệu pháp để siêu phàm nhập
thánh vậy. Xét từ khi đại giáo truyền sang
Đông, Viễn công ở Lô Sơn sáng lập liên xă cùng
Tăng - tục một trăm hai mươi ba người
tinh tu Tịnh nghiệp đều được văng sanh.
Từ đấy về sau, đời nào cũng có cao nhân
đề xướng, nhưng Thiên Thai, Thanh Lương,
Vĩnh Minh, Đại Trí v.v… là những vị chẳng tiếc
sức lực phát huy xiển dương mạnh mẽ nhất.
Do vậy, liên phong thổi khắp trong nước, ngoài
nước. Do đây, những người thoát Ngũ
Trược dự vào hải hội há có thể dùng toán số
thí dụ để biết được số lượng
ư! Gần đây, thế đạo nhân tâm càng ngày càng
đi xuống, phàm những ai có ḷng lo cho đời muốn
cứu giúp không ai chẳng dốc ḷng nơi Phật pháp,
đề xướng nhân quả báo ứng và kiêng giết,
che chở loài vật, dốc chí tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tây Phương.
Cư sĩ Phó Dụ
Trai xưa đă trồng cội đức, tánh hạnh thuần
ḥa, theo đuổi nghề buôn bán, chưa biết đến
Phật pháp; năm ngoái sang thăm bạn ở đất
Hàng, đêm nghỉ tại Thường Tịch Quang Lan Nhă,
nghe tiếng chúng Tăng niệm Phật, khác nào được
cam lộ rưới vào đảnh, đề-hồ thấm
ḷng, vui sướng vô ngần, không thể thí dụ
được. Do vậy, xúc động túc căn liền
muốn cùng những người cùng chí hướng tùy phần,
tùy sức tu tŕ pháp này, bèn cùng các thương nhân Đinh Cam
Nhân, Nghê Đại Xuân, Đàm Bộ Thiều, Nghiêm Tử
Lương, Tôn Lương Thần, Phó Dụ Kinh, Phó
Đ́nh Phương, Trầm Tấn Dung, Kim Ích Như, Lâm
Song Tuyền, Trần Tải Phong, Trang Hải Đào, Lư Thuật
Sơ, Ngô Tổ Xương, Đàm Tử Lâm, Đàm Thạch
Khanh, Đàm Hải Thu, Đàm Trúc Hinh, La Trĩ Vân, Tạ
Sùng Hoa, Điền Ngọc Thụ, Phó Mộng Bật,
Đàm Triệu Quư v.v… tính lập một ṭa tinh xá ở Tây
Hồ, Hàng Châu, để làm nơi tùy sức tu tŕ trong hiện
tại, về già chuyên tâm tu đạo. Ai nấy đều
cho đó là lành, bèn t́m mua đất để xây cất,
chưa đầy hai năm đă hoàn thành, nhân đó đặt
tên là Bồ Đề Tinh Xá.
Khu đất rộng
hai mẫu sáu phân bảy ly, gồm có hai phần: Phần
trước là đại điện gồm năm gian, chính
giữa thờ Tây Phương Tam Thánh, hai bên thờ mười
tám vị La Hán, dùng nơi đó làm chỗ niệm Phật,
lễ tụng. Phần sau là ngôi gác năm gian ba tầng, ba
gian tầng trên, gian chính giữa thờ tôn tượng Tam
Thánh, hai bên thờ bài vị tổ tiên của hai
mươi bốn người [nói trên] nhằm hiển thị
ư dự vào liên tŕ, thường hầu Phật Di Đà, liền
chứng được Thể - Dụng của vô lượng
quang thọ, Phật tánh bất sanh bất diệt. Thứ
tự trước sau lấy tuổi tác của những
người ấy làm chuẩn. Hai gian bên và tầng giữa
đều chia thành pḥng ốc làm chỗ tịnh tu cho mọi
người. Gian dưới làm nhà khách, hai bên làm Dưỡng
Tâm Đường để bậc cao nhân triết sĩ
tạm thời nghỉ ngơi. Tông chỉ của họ về
đại cương gồm năm điều:
1) Tinh xá này vốn do xă
hữu[11] ai nấy đều
có công việc chẳng thể thường trụ chuyên tu,
do vậy bèn lễ thỉnh bảy vị Tăng có giới
hạnh chân tâm tu đạo tu tŕ suốt năm. Mỗi
ngày hai thời khóa tụng, ba thời niệm Phật để
làm hướng dẫn tốt lành cho các xă hữu nhân lúc rảnh
rỗi đến đây tu tŕ. Tiền chi phí ăn ở
hoàn toàn do các xă hữu đảm nhiệm.
2) Tinh xá này do hai
mươi bốn người chung sức tạo dựng,
cùng quản trị, quyền quản trị được
kế thừa trong tương lai th́ mỗi người chỉ
được truyền một pḥng, phải chọn
người tánh chất tương ứng với Phật
pháp, những con cháu khác đều nhất loạt chẳng
được xen vào để tránh cái nạn chi phái
đôi co, không thể an cư được, hoặc do mỗi
người mỗi ư kiến khác biệt đến nỗi
tranh chấp, chia ĺa.
3) Tinh xá này vốn v́ tự
tu mà thiết lập, tánh chất khác biệt với các chùa
miếu, chẳng được làm Phật sự kinh sám
mang tính chất xă giao đối với người ngoài
liên xă. Dẫu gặp dịp tết lễ, cũng chẳng
để cho người khác tùy tiện đến thắp
hương, chỉ có xă hữu hoặc là cầu thọ,
hoặc là truy tiến th́ không trở ngại ǵ.
4) Tinh xá này lấy
chuyên tu Tịnh nghiệp, thanh tịnh tŕ giới làm tông chỉ
chánh yếu. Chẳng cho người ăn mặn, uống
rượu vào cửa. Tất cả những chuyện
như chơi cờ, đánh bài và những chuyện trái nghịch
Phật pháp đều nhất loạt nghiêm cấm. Phàm các
xă hữu, ai nấy đều nên tự gắng sức.
5) Tinh xá này vốn
để cho các xă hữu tịnh tu mà thiết lập, thời
hạn cư trụ tùy theo tâm ư, nhưng không được
mang theo quyến thuộc nữ nhân và con nít v.v… Nếu
như gia quyến muốn đến chiêm lễ, tuy không phải
là không được, nhưng phải ra về ngay trong
ngày hôm ấy, quyết chẳng để cho phụ nữ
ngủ lại để không trở ngại chuyện tinh
tu, ngăn dứt lời dị nghị của thế gian,
khiến cho hai chữ “Bồ Đề” được khuếch
trương sáng rạng, rộng lớn th́ may mắn lớn
lao thay!
Đem toàn bộ công
đức tu tŕ của Tăng - Tục trên là cầu lịch
đại tổ tông, cha mẹ hiện đời của
mỗi người được tiêu trừ ác nghiệp
từ vô thỉ, tăng trưởng thiện căn thù thắng,
dự vào liên tŕ hải hội, chứng Pháp Thân sẵn có.
Lại mong cho tất cả những vị sư niệm
Phật trụ tại đây và các xă hữu cùng với các
quyến thuộc tam chướng băng tiêu, ngũ phước
như mây nhóm, sống dự vào hạng thánh hiền, mất
trở về cơi Cực Lạc. Lại mong người thấy
kẻ nghe ai nấy bắt chước hành theo, cùng chuyển
phàm tâm trở thành thánh trí th́ lễ nghĩa, nhân nhượng
được hưng thạnh, can qua vĩnh viễn
ngưng dứt, trung hậu, khoan thứ khởi lên, thấy
ta và vật như nhau, khiến cho thiên hạ thái b́nh, nhân
dân an lạc. Phong thái thời Đường Ngu thạnh
trị lại được thấy trong ngày nay, lời
nói “ai nấy đều có thể
trở thành Nghiêu - Thuấn, ai nấy đều có thể làm
Phật” ắt sẽ được chứng nghiệm
thật sự! Đây chính là bản tâm sáng lập tinh xá,
đặt tên là Bồ Đề của các cư sĩ. Do
vậy, bèn trần thuật đại lược!
32. Bi kư ghi
công đức sáng lập Tây Phương Tam Thánh Điện
(viết thay thầy Hoa Đức)
A Di Đà Phật chính là Vô Thượng Từ
Phụ của chúng sanh trong pháp giới, là vị Đạo
Sư (bậc thầy dẫn đường) bậc nhất
trong con đường ác hiểm nạn, lúc tu nhân đă
phát ra bốn mươi tám thệ nguyện, lúc đắc
quả bèn được quang thọ siêu việt mọi số
lượng. Ngự yên nơi Liên Bang, phân thân trọn khắp
mười phương sát hải, nhiếp khắp hàm thức
khiến họ ngay trong đời này chứng được
Tam Đức Niết Bàn. C̣n như hai vị đại
sĩ Quán Âm, Thế Chí th́ hiện thân trong các cơi nước
nhiều như vi trần, tầm thanh cứu khổ, thâu nhiếp
người niệm Phật trở về Tịnh Độ,
pḥ tá Phật Di Đà độ thoát chúng sanh, ban vui dẹp
khổ đều được rốt ráo. Ân đức
của Tam Thánh sâu rộng vô lượng, dẫu [dùng] trời
che đất chở [để thí dụ] cũng không thể
sánh ví được một phần vạn. Dẫu tan thân
nát xương cũng không cách nào báo đáp được
mảy may. Nạp tăng tôi thẹn làm đệ tử,
chưa thể xiển dương lẽ đạo rộng
lớn, muốn cho Tăng chúng trong cả chùa chuyên tu Tịnh
nghiệp, toan dựng Cực Lạc Thế Giới Tam
Thánh Bảo Điện, nhưng tài lực thiếu hụt,
chẳng được như nguyện. May nhờ có tín
sĩ Hồng Khánh Trai và vợ là Qua Diệu Phương
xưa đă trồng cội đức dốc ḷng tin
tưởng Phật thừa, tấm ḷng nhân từ, dốc
ḷng hoằng dương, hộ tŕ, hướng dẫn con
gái là Vương Hồng Thị[12],
cháu ngoại là Vương Thiên Tứ khẳng khái bỏ ra
nhiều tiền để giúp thành toàn chuyện thù thắng
này cho nên kim dung được tỏa sáng, pháp luân thường
chuyển, công đức lợi ích làm sao diễn tả trọn
vẹn được?
Kính mong Tam Thánh rủ
ḷng từ, ngấm ngầm hoặc rơ ràng gia bị khiến
cho các vị thí chủ này và những vị trợ duyên ai nấy
trong đời hiện tại tai chướng ngầm
tiêu, hưởng đủ ngũ phước, lâm chung thể
xác lẫn tinh thần đều tốt đẹp, cao
đăng chín phẩm sen, tổ tiên đă mất đều
thăng lên trời Cực Lạc, con cháu đời sau thảy
đều nhân từ, sống lâu. Do vậy, bèn ghi lại
duyên khởi cho khắc vào đá quư kiên cố để những
người an cư tu hành sau này biết được sự
rộng lớn của pháp môn Tịnh Độ mà quyết
chí cầu sanh, đạo tràng Tam Thánh v́ nguyên do nào mà
được thành lập th́ phước đức cho những
đàn-việt lắm thay!
33. Bi kư
trùng tu miếu Địa Mẫu[13] của chùa
Đông Chiếu ở Loa Đầu Miếu
Chở khắp vạn tượng, chẳng
sanh phân biệt, sanh khắp muôn vật cho mọi người
dùng mà chẳng cậy công, chẳng mong được báo
đáp. Ân đức của đất có thể nói là rộng
lớn, trọn khắp, mênh mông, dày chắc, lâu dài, không thể
nào diễn tả được. Thánh nhân lập pháp: Phàm
những ai đem pháp thí cho dân, siêng năng phụng sự
đến chết, nhọc nhằn giữ yên đất
nước, chế ngự tai họa, dẹp hoạn nạn
lớn lao th́ đều được lập miếu thờ
phụng, huống ǵ đại địa là nơi cả
đời chúng ta nương nhờ vào để sống,
sao không lập riêng một ngôi điện vũ, thánh tượng
trang nghiêm, thường dùng hương hoa, đèn đuốc
cúng dường để bày tỏ chút ḷng báo ân, thường
nêu ḷng thành hệt như thánh nhân đang ngự nơi
đấy hay sao? Đấy chính là nguyên do tạo dựng
miếu Địa Mẫu của chùa Đông Chiếu vậy.
Địa Mẫu chính
là vị được kinh Phật gọi là Chủ Địa
Thần. Ấy là v́ đất sanh trưởng muôn vật
như mẹ nuôi dưỡng con cái nên thế tục gọi
là Địa Mẫu, chứ không phải Ngài chuyên hiện
thân nữ. Theo phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm trong kinh
Hoa Nghiêm th́ có các Chủ Địa Thần (thần cai quản
cơi đất) nhiều như số các vi trần trong một
cơi Phật. Tuy có những vị từ các thế giới
phương khác đến, nhưng chỉ riêng đại
địa nơi này cũng chẳng phải chỉ có một
vị thần làm chủ, do mỗi vị đều có lănh
thổ riêng. Lại nữa, hễ ai thuộc vào hàng thần
thánh đều có chuyện thăng lên, giáng xuống, tiến
- thoái, giống như quan liêu trong cơi đời: Tuy chức
quan, danh hiệu quan vĩnh viễn không thay đổi,
nhưng người đảm nhiệm có tiến - thoái,
nhậm chức hay từ quan, hoàn toàn không nhất định,
không phải như Thương Hiệt, Khổng Tử,
Quan Đế, Văn Xương chuyên thuộc một
người. Đổng Sự Diệp Xương Vân do thấy
miếu Địa Mẫu được tạo dựng
đă lâu sắp bị sụp đổ bèn quyên mộ các
thiện tín được bao nhiêu đó tiền, trụ
tŕ Từ Khoan lại giúp cho một nửa, nên điện
vũ, pháp tướng lại được xây dựng mới,
muốn lập một tấm bia bèn xin tôi thuật những
nghĩa chánh.
Kinh Dịch chép: “Địa Thế Khôn, quân tử
dùng đức dầy để chở vật”. Người
có thể suy nghĩ, xử sự giống như đại
địa, thi ân chẳng cầu báo, bị nhục không ôm
ḷng hận, chỉ trọn hết thiên chức của chính
ḿnh, chẳng quản người khác thuận hay nghịch.
Người như thế sống dự vào hàng thánh hiền,
mất lên cơi Cực Lạc. Như Tŕ Địa Bồ Tát
do làm cho mặt đất bằng phẳng nên tâm địa
cũng được b́nh, chứng đắc viên thông, tương
lai lại c̣n thành vô thượng đạo, giáo hóa hết
thảy chúng sanh trong chín pháp giới như trời che khắp,
như đất chở trọn, không một ai chẳng
được un đúc dưỡng dục. Đấy
chính là đại lợi ích của việc nh́n vào tượng
[Địa Mẫu], tu đạo, chứng tâm, thành Phật,
nguyện những ai đọc đến đều chú ư.
34. Bài kư về
chuyện văng sanh của Kim Thái Đại Sư
Kim Thái Đại Sư họ ngoài đời
là Phương, người huyện Vu Đô, tỉnh Giang
Tây, xưa đă có thiện căn, từ nhỏ đă kiêng
giết, ăn chay. Đến khi ngoài 30 tuổi, chán ngán sâu
xa ngũ dục nhiều khổ năo, ba cơi không yên liền xuất
gia tại chùa Báo Ân ở huyện Trường Đinh, tỉnh
Phước Kiến. Sau khi thọ Cụ Túc Giới, chuyên
chí khổ hạnh, giữ chức Hương Đăng tại
chùa Quang Hiếu ở Cám Châu
(Giang Tây), tinh khiết, kiền thành, cung kính. Phàm những ai
trông thấy đều khen ngợi ḷng thành, tiếc của
thường trụ như giữ tṛng mắt, hằng ngày
lấy chuyện lễ niệm tụng tŕ làm chánh, không
để phí thời gian, được đại chúng
trong chùa khâm phục, kính ngưỡng. Tiếp đó, Sư
muốn chuyên tu Tịnh nghiệp bèn qua hang đá trong núi sâu
ở Ninh Đô[14],
gác tùng làm ṭa, kết cỏ làm đệm, trồng khoai
để ăn, chằm các mảnh giẻ làm áo, sự khổ
hạnh của Sư khó ai kham nổi. Sư điềm
nhiên vui sướng, lấy đạo làm nguồn vui. Lâu
ngày, có người đến thăm tặng cho tiền bạc
đều khước từ không nhận, nhưng nếu
áo rách, thức ăn thô tệ bèn nhận.
Sư bản tánh cô tịch,
thanh khiết, chẳng thâu đồ chúng. Có người trọng
đức Sư, thay mặt thâu nạp cho Sư bốn
đồ đệ, nhưng thật ra không ở chung. Một
người đồ đệ tên là Đức Duyên, chùa
khá dư dả, nghĩ thầy thanh bần, ba bốn
lượt cầu khẩn thầy thương xót tiếp
nhận cúng dường. Không lâu sau, Sư lại bỏ qua
núi Liên Hoa, tự lấy ván dựng một gian thất nhỏ
để sống. Đại chúng trong chùa tôn trọng
đạo hạnh của Sư, để Sư được
tự do. Sư suốt ngày đóng cửa tụng kinh niệm
Phật, trừ hai bữa cơm sáng - tối ra, tiếng
mơ, tiếng khánh rền vang không dứt, mấy mươi
năm hệt như một ngày. Do vậy, những vị
Tăng - tục tin tưởng, hâm mộ, thường
thành tâm cúng dường phẩm vật, nếu không khước
từ được th́ Sư bèn đem cúng Phật, cúng
Tăng để tạo công đức cho họ, bản
thân chỉ giữ lại mười đồng để
làm chi phí hỏa táng khi lâm chung. Sư tự cam chịu thanh
bần, giải thoát, không chấp như thế đó. Phàm
những ai đến thăm hỏi, bất luận
tăng - tục, Sư đều dạy nhiệm vụ trọng
yếu là [nhận hiểu] Sa Bà ác trược, Cực Lạc
thanh tịnh, hăy gấp cầu xuất ly, nhưng phải
hiểu nhân biết quả, tu hành các điều thiện
thế gian, cẩn thận giữ ǵn giới cấm, tụng
kinh, niệm Phật, trong - ngoài như một, từ đầu
đến cuối không thay đổi th́ mới có hy vọng.
Ngoài ra không có một lời lẽ nào liên quan đến
phước lạc thế gian.
Năm Dân Quốc thứ
bảy (1918), tức năm Mậu Ngọ, Sư được
bảy mươi bốn tuổi, đầu tháng Mười
thị hiện bệnh nhẹ, đến ngày mồng Bốn
bỏ ăn uống, niệm tụng như thường
đến khuya mới nghỉ. Rạng sáng ngày mồng
Năm, đại chúng trong chùa không thấy Sư thức dậy,
gơ cửa chỉ thấy yên lặng không đáp, vào thất
xem th́ thấy Sư đă đoan tọa thị tịch.
35. Bài kư về
chuyện văng sanh của cư sĩ Triệu Tôn Nhân
Triệu Tôn Nhân pháp danh là Bồi Canh,
người ở thành phố Mă Đường Như Cao[15],
tuổi ngoài ba mươi, theo đuổi nghề buôn bán,
tánh t́nh thuần ḥa, chân thật, không trá ngụy, làm việc
quả quyết, thật thà. Mấy năm gần đây
được nghe pháp môn Tịnh Độ bèn sanh ḷng tin
tưởng sâu xa, hằng ngày lấy chuyện niệm Phật
cầu sanh Tây Phương làm chánh, gác qua chuyện buôn bán,
chuyên làm chuyện từ thiện công ích hết sức tích
cực. Do vậy, đề xướng lập ra Tế
Sanh phân hội và Phật Kinh Lưu Thông Xứ. Hễ có các
chuyện lành nào đều tận lực lo liệu, không
chuyện ǵ không làm. Đối với đèn đường
ở địa phương, đích thân ông sáng thâu về,
tối đi thắp lên, chẳng nề mệt nhọc.
Người cả một phương đều cảm
phục ḷng thành của ông. Ông dùng ḷng thành để cảm,
mọi người dùng ḷng thành để ứng. Phàm khi
ông quyên mộ, không ai chẳng thuận theo hầu viên thành
ư nguyện cho ông.
Mùa Đông năm Dân Quốc
15 (1926), ông mắc phải bệnh ngặt, vẫn gượng
đè nén cơn bệnh đề xướng Phật thất
để cầu thế giới thái b́nh, dự định
khởi thất vào ngày mồng Hai tháng Chạp, đến
ngày mồng Tám là viên măn, thỉnh sư Phạm Thành chùa Tây
Phương ở Quật Cảng[16]
làm Chủ Thất, chi phí đều do thiện tín tự
đóng góp, người dự hội niệm Phật
hơn bốn mươi người. Cư sĩ tuy
đang bệnh nặng nhưng niệm Phật càng thêm tinh
tấn như người không bệnh. Đến bảy
giờ tối ngày mồng Sáu bèn ngồi niệm Phật
qua đời. Những người đang tham dự hội
càng thêm khẩn thiết niệm Phật, giúp cho ông
được văng sanh. Sau mấy tiếng đồng hồ,
đỉnh đầu vẫn c̣n ấm, vẻ mặt chẳng
khác ǵ lúc sống. Từ đây, ta thấy được
Di Đà nguyện lực, chúng sanh tâm lực, cả hai thứ
đều chẳng thể nghĩ bàn. Ấy là v́ Chân
Như Phật Tánh chúng sanh vốn sẵn có, chỉ nhờ
vào nhân duyên để khải phát mà thôi! Như hạt giống
đă gieo xuống đất, gặp mưa đúng thời
bèn nảy mầm. Những kẻ trong cơi đời dùng sức
Chân Như Phật Tánh để hằng ngày theo đuổi
tham - sân - si, giết - trộm - dâm ví như đem châu Ma Ni
tùy ư tuôn ra các thứ báu quăng trong hầm xí, nên chẳng
thể thụ dụng được, chẳng đáng buồn
ư? Nghe đến phong thái của cư sĩ há chẳng
thẹn đến chết ư?
36. Bài kư về
chuyện văng sanh của cư sĩ Sa Kiện Am
Ông Sa Kiện Am tên là Nguyên Bỉnh,
người xứ Như Cao, tỉnh Giang Tô, phẩm hạnh,
tu dưỡng, văn chương, đạo nghĩa thảy
đều đáng nêu gương cho đời Mạt. Cái
học của ông trọng nơi tận lực thực
hành chứ không chuộng từ chương, chí chuyên chú
nơi tận hết bổn phận, chẳng hâm mộ
vinh hoa, ân sủng. V́ thế, sau khi đỗ đạt bèn
ở nhà thờ cha mẹ cho trọn hết phận con, chẳng
ra làm quan. Thoạt đầu ông chẳng biết Phật
là người như thế nào, kinh có nghĩa như thế
nào, bèn theo đuổi những thuyết của Hàn, Âu,
Tŕnh, Châu, cho rằng Phật pháp có hại cho thánh đạo,
chẳng có ích ǵ cho nước, cho dân. Đến sau cuộc
quốc biến[17]
năm Tân Hợi (1911), buồn bă khôn khuây, thường mang
ư tưởng vượt thoát cơi đời, bèn thử
đọc kinh Phật, thấy nghĩa lư tinh vi áo diệu,
viên dung siêu thoát, mới biết Phật là vị đại
thánh nhân, giáo pháp của Ngài có những chuyện chẳng thể
nghĩ bàn, như thoát ra khỏi hang tối được
thấy mặt trời, khôn ngăn mừng rỡ, nhưng
lại hết sức bi thương, tiếc cho mấy
mươi năm chấp nhặt, hèn tệ. Từ đấy,
âm thầm nghiên cứu, thọ tŕ, đọc tụng để
mong đích thân chứng được Phật tánh sẵn
có, chẳng đến nỗi thường làm người
luân hồi trong lục đạo.
Năm Dân Quốc 12
(1923), tức năm Quư Hợi, tuổi tṛn hoa giáp (sáu
mươi), tâm yếm thế càng thêm khẩn thiết, gặp
đúng dịp pháp sư Đế Nhàn đến đất
Như giảng A Di Đà Kinh Yếu Giải, đích thân
được nghe giảng, biết được pháp môn
Tịnh Độ hoành siêu là đạo để bậc
đại thánh Đẳng Giác, tiểu phàm nghịch ác
đều cùng trong đời này cậy vào Phật từ
lực thoát khỏi Sa Bà lên cơi Cực Lạc, tùy theo căn
tánh mà được chứng nhập. Do vậy, bèn chuyên
tu Tịnh nghiệp để cầu văng sanh. Năm sau,
Thôi Ích Vinh lên núi quy y, có kể cho Quang nghe về học vấn,
tu tŕ của cư sĩ, do vậy bèn nhờ ông Thôi đem
bộ Văn Sao tặng cho ông ta. Năm sau nữa, Trần
Chánh Hữu đem bản luận Bài Xích Tệ Ăn Thịt
Uống Rượu Trong Tang Lễ do ông Sa soạn
đưa cho đọc, thấy trích kinh dẫn sử rơ
ràng, khúc chiết, biết cái học của cư sĩ có
căn bản, chí mong thành thánh thành hiền, tuy chưa gặp
gỡ nhưng tâm hai bên như đă có mối thần giao
[cách cảm]. Mùa Hạ năm ngoái, nghe Quang đến đất
Hỗ (Thượng Hải) muốn đến gặp mặt,
nhưng v́ bệnh không ra khỏi cửa được nên
chẳng thỏa nguyện, vẫn mong có ngày khác lên núi hỏi
han. Đến lúc sắp lâm chung, chuyện tṛ cùng bè bạn
vẫn lấy đó làm điều tiếc nuối. Nhưng
đă sanh Tây Phương, thân cận Di Đà, dự vào hải
chúng th́ chẳng gặp được ông Tăng chỉ biết
có cơm cháo này há có thiếu sót chi!
Đến mùa Thu, nách trái
ông mọc cái ung, tiếp đó ho ra máu, đến mùa
Đông càng nặng. Thuốc Tây lẫn thuốc Tàu đều
vô hiệu, há chẳng phải là do sức tu tŕ nên chuyển
báo nặng đời sau thành báo nhẹ trong đời này
để giải quyết cho xong túc nghiệp đấy
chăng? Đến ngày Mười Một tháng Chạp, nằm
bẹp trên giường không dậy được, bèn
đem những trước tác lúc b́nh thời giao phó cho môn
nhân là Hạng Bản Nguyên, Hoàng Văn Tuấn, dặn ḍ
đại lược việc nhà, hơi hối hận
chuyện trước kia đă phạm lỗi tán thành biến
chùa Quảng Phước thành nơi họp hành, dời
tượng Phật đi chỗ khác, sai con ông là Tấn bỏ
ra ba ngàn đồng sửa chữa Phật điện của
Quảng Huệ Am ở Đông Môn để chuộc lỗi
trước. Lại bảo quyến thuộc trong nhà ngày
đêm thay phiên niệm Phật trước giường
đến khi ông lâm chung cũng vẫn như thế, chẳng
được tắm rửa, thay áo sẵn cũng như
khóc lóc v.v… Liệm bằng vải thô, đừng dùng trừu,
đoạn[18]. Đám tang bất
luận cúng quải hay đăi khách chẳng được
dùng rượu thịt, ta thường soạn luận
trách đời, các ngươi chớ tùy thuận thói ác,
hăm ta vào tội. Lại thỉnh Tăng trợ niệm
để cầu cậy Phật từ lực văng sanh Tây
Phương. Lập hương án trước giường,
thờ tượng Phật A Di Đà tiếp dẫn, mặt
nh́n vào từ dung, miệng niệm, tâm nhớ, chuyên tinh nhất
trí, không đề cập đến chuyện ǵ khác.
Đêm Hai Mươi Bốn, bệnh càng nguy ngập,
Tăng chúng đều đến trợ niệm, cư
sĩ chánh niệm phân minh, hoặc niệm ra tiếng hoặc
thầm niệm theo. Đến ngày Hai Mươi Sáu, tuy chẳng
nghe tiếng, miệng vẫn luôn mấp máy. Đến chiều,
khí càng suy, người nhà và Tăng chúng càng niệm khẩn
thiết. Đến giờ Dậu, chợt qua đời,
thoảng có mùi hương lạ. Đại chúng niệm
Phật càng mạnh mẽ, hơn hai tiếng sau đỉnh
đầu vẫn ấm, đến sáng hôm sau mới dứt
tiếng niệm Phật để tắm rửa thay áo tẩn
liệm, cất tiếng khóc. Con ông vâng lời dạy không
trái nghịch, có thể nói là chân hiếu.
Ôi! Như cư sĩ
có thể nói là túc căn sâu dầy, kiến địa cao
siêu, ngôn hạnh tương ứng, trong - ngoài như một.
Dựa theo mấy năm tu tŕ ấy và tín nguyện b́nh
sinh, cảnh tượng khi lâm chung, có lẽ là Trung Phẩm
Thượng Sanh đó chăng? Bởi lẽ ông hiếu
dưỡng cha mẹ, làm điều nhân từ thế
gian, đầy đủ tín nguyện thật sự, nhiếp
tâm tịnh niệm. Một khi được văng sanh ắt
đạt địa vị Bất Thoái, chứng Vô Sanh Nhẫn,
tu tập dần dần cho đến viên măn Bồ Đề
mới thôi, há c̣n tiếc nuối chi? Ở đây, tôi ghi lại
tóm tắt những ǵ học tṛ ông là Hạng Bản Nguyên,
con ông là Tấn, và học tṛ của tôi là Thôi Ích Vinh đă
thuật, để sau này tập hợp thành Văng Sanh Truyện
và Ẩn Sĩ Sự Tích, nên mới có bài này.
37. Bài kư về
chuyện thoát nạn của cư sĩ Trầm Dực
Tiên
Phật xem hết thảy chúng sanh giống
như con một, thương yêu không thiên vị, thường
muốn độ thoát. Do hết thảy chúng sanh đều
có Phật tánh, đều kham làm Phật, nên dù là kẻ Nhất
Xiển Đề hoàn toàn chẳng có tín tâm cũng không có một
tâm niệm vứt bỏ. Nếu cơ duyên đă đến
bèn tự có thể sanh ḷng tin tưởng quy y, y giáo tu tŕ
cho đến khi đoạn Hoặc chứng chân, liễu
sanh thoát tử. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Mười phương Như
Lai nghĩ thương chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu
con bỏ trốn, mẹ tuy có nhớ cũng không làm ǵ
được! Nếu con nhớ mẹ như khi mẹ nhớ
con th́ mẹ con đời này qua kiếp khác chẳng hề
xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật,
hiện tiền, tương lai, nhất định thấy
Phật, cách Phật chẳng xa. Như người nhiễm
hương thân có mùi thơm”. Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có vô lượng trăm
ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ năo, nghe đến
[danh hiệu] Quán Thế Âm Bồ Tát liền nhất tâm
xưng danh th́ Quán Thế Âm Bồ Tát liền ngay lập tức
xem xét âm thanh ấy, [khiến cho họ] đều
được giải thoát”. Lại nói: “Vị Quán Thế Âm Bồ Tát này trong chỗ kinh sợ
nạn gấp thường ban cho sự không sợ hăi, cho
nên thế giới Sa Bà này đều gọi Ngài là bậc
Thí Vô Úy”. Ấy là v́ tâm chúng sanh và tâm Phật, Bồ Tát
xét về Thể hoàn toàn không khác, nhưng v́ chúng sanh mê muội,
trái giác hiệp trần, đến nỗi đây - kia bị
ngăn cách, chẳng được che chở. Nếu có thể
trái trần hiệp giác, nhất tâm xưng danh sẽ tự
nhiên cảm ứng đạo giao, được các Ngài rủ
ḷng từ gia bị, dù gặp hiểm nạn cũng
được không lo lắng. Cư sĩ Trầm Dực
Tiên ở An Huy, trước kia không biết Phật, mùa Xuân
năm Bính Dần, xứ Kim Lăng mở pháp hội Kim
Quang Minh, bèn dự hội tùy hỷ, đọc kinh Kim Quang
Minh Tối Thắng Vương[19], nhận
thấy nghĩa lư tinh diệu, bèn nguyện thường thọ
tŕ. Nhân đó, thỉnh một bộ, mỗi ngày tụng một
quyển, mười ngày hết một bộ, đă hết
bộ th́ lại tụng từ đầu. Mùa Hạ gia nhập
quân đội ở đất Cám, việc quân bề bộn chẳng thể tụng
kinh, chỉ thầm niệm thánh hiệu A Di Đà Phật
và Quán Thế Âm Bồ Tát mà thôi. Tháng Tám mặt trận ở
đất Cám tan vỡ, toàn quân chết sạch, chỉ
ḿnh ông ta được toàn thân mạng, mới biết Phật
từ rộng lớn, cảm ứng không sai. Hiềm rằng
bao nhiêu chúng sanh chẳng những không sanh ḷng tin tưởng,
trái lại c̣n hủy báng, đến nỗi vô duyên đại
từ, đồng thể đại bi không cách nào tự
nhận lănh được. Ví như mặt trời rạng
rỡ giữa trời, chiếu khắp muôn nước, kẻ
đội chậu kia chẳng thấy được
tướng ánh sáng, chẳng đáng thương ư? Về
sau, đọc được bộ Ấn Quang Văn Sao mới
biết pháp môn Tịnh Độ chính là đạo để
hết thảy dù phàm hay thánh được liễu sanh
thoát tử ngay trong đời này, cậy vào Phật từ
lực để vượt ngang ra khỏi tam giới, so
với những pháp “thụ xuất” (vượt ra theo chiều
dọc) cậy vào tự lực để đoạn Hoặc
chứng chân th́ khó - dễ khác biệt như trời với
vực.
Đầu mùa Đông
trở về nhà, dọn riêng một tịnh thất để
thờ Phật và thánh tượng Quán Âm, sáng - tối lễ
niệm để mong tiêu trừ túc nghiệp, tăng
trưởng thiện căn, hầu sống làm người
ba nghiệp thanh tịnh, chết ngự lên chín phẩm sen
báu. Gởi thư cho Quang, xin viết bài kư, nhân đấy,
bèn đem nghĩa lư “Phật, Bồ
Tát b́nh đẳng đại từ đại bi nghĩ
thương chúng sanh, và chúng sanh do tin tưởng hay trái nghịch
sai khác mà đến nỗi được che chở hay
không” viết tặng cho, mong sao người không có ḷng
tin liền sanh chánh tín, người đă có ḷng tin càng thêm gắng
tu tŕ, chăm chú giữ vẹn luân thường, tận hết
bổn phận, khắc kỷ, giữ lễ, dứt ḷng
tà, giữ ḷng thành, vâng làm các điều thiện, không làm
các điều ác, để sống làm hạng thánh hiền,
mất dự vào cơi nước của Như Lai. Nếu ai
nấy đều như vậy th́ tranh chấp bị tiêu
diệt, lễ nghĩa, nhân nhượng hưng thạnh,
thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc, may mắn nào hơn?
Nguyện những người thấy nghe đều tin
tưởng chắc thật, tận lực thực hành.
38. Bài kư
trùng tu [cầu và đ́nh thờ tượng] Quán Âm và sự
linh cảm của Quán Âm Bồ Tát ở Đông Quan thuộc
Vĩnh Xuân
Quán Âm Bồ Tát thệ nguyện hoằng
thâm, từ bi rộng lớn, trọn khắp các cơi nhiều
như vi trần, tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu
khổ, độ thoát chúng sanh. Do vậy, mọi chỗ
giao lộ, đường trọng yếu đa phần dựng
miếu vũ để mong người qua lại trông thấy
thánh tượng, sanh tâm cung kính, ngơ hầu đều
được che chở. Huyện Vĩnh Xuân ở tỉnh
Phước Kiến, xưa kia gọi là Đào Nguyên, núi
sông đẹp đẽ, dân t́nh thuần phác. Cách ấp này
mười dặm về phía Đông có một chỗ gọi
là Đông Quan, giáp ranh với
Năm Quang Tự 34 (1908)
đời Thanh, nhằm năm Mậu Thân, bị nạn lụt
to, cầu hoàn toàn bị hủy diệt. Lúc cầu sắp bị
phá hủy nhằm đúng nửa đêm, mưa gió dữ dội,
đầu cầu có một người chủ tiệm tên
là Trần X… đă ngoài năm mươi tuổi, rất
ưa điều lành, tin Phật, đă ngủ say rồi,
chợt nghe có tiếng gơ cửa rất gấp, kêu rất to:
“Mau chạy lên cầu thỉnh tượng Bồ Tát ra”, liền
sực tỉnh. Tiếng gơ cửa càng gấp gáp hơn,
liên tiếp gọi “đi mau!” Ông vội vàng mở cửa
chẳng thấy ai cả, thấy thế nước cuồn
cuộn, cây cầu lắc lư răng rắc, sắp sụp
đến nơi. Mưa gió táp vào mặt chẳng quản,
cứ chạy ào lên ngôi đ́nh trên cầu bưng tượng
Bồ Tát ra. Vừa rời khỏi cầu, nghe tiếng sụp
đổ ầm ầm, đoạn chính giữa cầu
đă bị sóng gió cuốn mất. Ông ta nói: “Thoạt đầu
chẳng biết v́ sao lại mạnh mẽ đến vậy,
ắt là có thần giúp mới được như vậy!
Ôi! Lạ lùng thay!”
Một người
trong ấp tên là Lư Nguyên Hiền có cha tên là Kế Như buôn
bán ở Tinh Châu (Singapore), cửa nhà khá dư giả, nhiệt
tâm làm chuyện công ích, bèn đề xướng quyên mộ
trùng tu cầu với các bạn kiều bào ở Tinh Châu.
Đến năm Giáp Dần (1914) thời Dân Quốc cầu
mới xây xong. Đến năm Bính Th́n (1916) lại bị
nạn gió lốc, ngôi đ́nh trên cầu cùng gỗ lót cầu
đều bị hủy hoại. Dân trong làng bèn rước
Bồ Tát về thờ trong ngôi miếu gần đó; thế
đạo rối loạn, suy tàn, chuyện xây cầu không
ai nhắc đến nữa. Mẹ ông Nguyên Hiền là Hoàng
Thái Phu Nhân đến miếu thắp hương, đi qua
chỗ này, vô cùng cảm thương, ư muốn trùng tu. Đêm
mộng thấy Bồ Tát hiện thân sắc vàng trang nghiêm
rạng rỡ, bảo: “Chỉ có bà mới có thể v́ ta dựng
lại cây cầu này và thờ phụng ta, hăy làm nhanh ḥng
để phước lại cho con cháu”. Nh́n từ đây,
đủ thấy Bồ Tát chỉ luôn tâm niệm lợi
ích chúng sanh, vừa thấy được thánh tượng
liền gieo thiện căn thành Phật cho tương lai.
V́ thế, Ngài đặc biệt dạy sửa chữa cầu
cũng như thờ phụng thánh tượng.
Thái Phu Nhân bèn gởi
thư khuyên ông Hiền hăy bỏ tiền dựng lại cầu,
bèn cử người trong ấp là những ông X…. trông nom.
Đến tháng Hai năm Quư Hợi (1923) hoàn tất, nhân
sĩ trong vùng soạn hoành phi, đối liễn ca tụng.
Lại rước tượng Bồ Tát về thờ
trong ngôi đ́nh trên cầu. Do nhân duyên này, hương
đèn càng thạnh. Người trông coi khi trước là
ông X… gần đây đến Tinh Châu kể lại chuyện
linh ứng của Bồ Tát, người trong ấp đều
muốn lập bia nơi đ́nh, một là để tỏ
rơ dấu tích linh thiêng của Bồ Tát, hai là phát khởi
nhiệt tâm cho người đời sau. Do thấy chuyện
này có liên quan rất lớn đến thiện căn của
người trong ấp nên Nguyên Hiền bèn gởi thư
cho Quang xin soạn bi kư. Sách Luận Ngữ có câu: “Không phải cha như thế sẽ
không thể sanh được con như thế”. Lại
nói: “Muốn biết cha hăy nh́n
vào con”. Cầu này thoạt đầu do ông Kế Như
xướng suất trùng tu, tiếp đến do Hoàng Thái
Phu Nhân trùng tu. Nguyên Hiền kính nối tiếp chí cha, tận
vâng lệnh mẹ, chẳng tiếc khoản tiền lớn
lao để mong vui ḷng mẹ, lợi lạc người
trong ấp. Tâm ấy cố nhiên khế hợp với tâm
phổ độ chúng sanh của Bồ Tát. Người
đời muốn được Bồ Tát gia bị, cầu
được tiêu tai chướng, tăng phước thọ,
hăy nên cầu nơi việc dốc sức hành hiếu hữu,
lợi nhân lợi vật th́ cầu ǵ mà chẳng được!
VII. Tạp
trước[20]
1. Diễn
thuyết tại phân hội Phật giáo Triều
Dương – bài 1
(viết thay sư Liễu Thanh)
Đức Đại Giác Thế Tôn Thích
Ca Mâu Ni Phật ta trong trần điểm kiếp trước
đă sớm thành Chánh Giác; v́ độ chúng sanh nên bao lượt
hiện sanh, bao lần hiện diệt. Xét đến lần
xuất thế này, nhằm năm Giáp Dần tức năm
26 đời Châu Chiêu Vương[21],
giáng sanh nơi Trung Thiên Trúc trong cung Tịnh Phạn
Vương[22] nước Ca Tỳ
La Vệ. Mẹ Ngài là Ma Gia phu nhân, nhằm ngày mồng Tám
tháng Tư vào dạo chơi vườn Lam Tỳ Ni[23],
trông thấy cây Vô Ưu[24] nở
đầy hoa, dùng tay phải vịn cành toan hái, đức
Thế Tôn bèn sanh ra đời từ hông phải của mẹ.
Phật một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống
đất, mắt nh́n bốn phương, đi đủ
bảy bước, nói: “Thiên
thượng thiên hạ, duy ngă độc tôn”. Đến
năm mười chín tuổi, vào nửa đêm ngày mồng
Tám tháng Hai cưỡi ngựa Càn Trắc (Kanthaka), vượt
thành bỏ đi, vào thẳng núi sâu tu đạo xuất thế.
Lại muốn chỉ rơ ngoại đạo đều chẳng
phải là chánh pháp nên Ngài lại đi khắp nơi trong suốt
năm năm, tham học với khắp các tiên nhân. Sau
đó, ngồi một ḿnh quán tâm, ngày ăn một hạt
mè hay một hạt lúa mạch, khổ hạnh sáu năm.
Ngày mồng Tám tháng Chạp, đúng lúc sao Mai vừa mọc,
ngước mắt nh́n chợt hoát nhiên đại ngộ,
than rằng: “Lạ thay! Lạ
thay! Hết thảy chúng sanh có đủ đức tướng,
trí huệ của Như Lai chỉ v́ vọng tưởng
chấp trước nên chẳng thể chứng đắc.
Nếu ĺa vọng tưởng th́ Nhất Thiết Trí, Tự
Nhiên Trí, Vô Ngại Trí liền được hiện tiền”.
Phải biết: Đức
Thế Tôn xuất gia, tham học, khổ hạnh, ngộ
đạo đều nhằm làm gương cho những
người tu hành đời sau, chứ không phải
trước đó Ngài thật sự chưa ngộ, đến
lúc ấy mới ngộ đâu nhé! Chuyện này vào đúng
năm Quư Mùi tức năm thứ hai đời Châu Mục
Vương (năm 959 trước Công Nguyên). Từ đấy,
tùy thuận cơ nghi độ thoát chúng sanh, thuyết pháp
bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm
hội, Thiên - Viên, Đốn - Tiệm, Đại - Tiểu,
Quyền - Thật, quán sát căn cơ ban giáo pháp thích hợp
khiến cho [người nghe] được lợi ích.
Đến ngày Rằm tháng Hai năm Nhâm Thân tức năm
thứ 52 (909 trước Công Nguyên) đời Châu Mục
Vương, do hết thảy chúng sanh căn tánh chín muồi
đều đă chứng đạo quả, người
căn cơ chưa chín muồi cũng đă tạo
được nhân duyên đắc độ, sự nghiệp
một đời đă xong, liền thị hiện nhập
Niết Bàn, phân Pháp Thân trượng sáu được sanh
bởi Định - Huệ thành tám hộc Kim Cang bất hoại
xá-lợi, phân bố khắp cơi trời, nhân gian dựng
tháp cúng dường, khiến cho khắp mọi chúng sanh
đều gieo thiện căn.
Đến năm
Vĩnh B́nh thứ bảy (64) tức năm Giáp Tư đời
Hán Minh Đế, vua mộng thấy người vàng, [phía
sau] cổ có viên quang[25],
bay đến trước sân điện. Sáng ra hỏi quần
thần đó là điềm lành ǵ? Thái Sử Phó Nghị tâu
rằng: “Tây Vực có vị thần hiệu là Phật,
vị bệ hạ mộng thấy chắc là Ngài đó!”
Vua liền sai quan Bác Sĩ Vương Tuân, Trung Lang Tướng
Tần Cảnh, Lang Trung Thái Âm v.v… mười tám người
đi cầu Phật pháp, đến xứ Nhục Chi[26] gặp
hai vị tôn giả Ca Diếp Ma Đằng, Trúc Pháp Lan, thỉnh
kinh tượng Phật, muốn hóa độ phương
này bèn thỉnh [hai ngài] cùng sang [Trung Hoa]. Đến năm [Vĩnh
B́nh] thứ 10 (67) mới về đến Lạc
Dương[27], tạm ngụ tại
Hồng Lô Tự[28],
sau lập nơi đó thành già-lam[29].
Nhân v́ dùng ngựa trắng chở kinh, ở nhờ Hồng
Lô Tự, nên bèn đặt tên chùa là Bạch Mă Tự.
Vua hỏi ngài Ma Đằng:
“Đức Đại Giác Thế Tôn v́ sao chẳng sanh tại
Trung Quốc?” Ngài Ma Đằng đáp: “Nước Ca Tỳ La Vệ nằm chính giữa
đại thiên thế giới, tam thế chư Phật
đều sanh nơi đấy, những quốc độ
ở chung quanh chừng mấy trăm năm hoặc
hơn ngàn năm, thanh giáo[30] sẽ dần dần
truyền đến. Cơi này thuộc phương Đông nhưng
tự xưng là Trung Quốc vậy!” Do vua hết sức
tôn sùng coi trọng Phật pháp là đạo mới truyền
đến nên các đạo sĩ các núi thuộc Ngũ Nhạc[31]
mang ḷng ganh ghét.
Đến năm
Vĩnh B́nh 14 (71), nhằm ngày mồng Một tháng Giêng, bàn
định việc triều chánh xong, [các đạo sĩ]
dâng biểu xin tỷ thí, vua chấp nhận. Đến
ngày Rằm ở ngoài cửa
Đến đời
Đường th́ Luật, Giáo, Thiền, Tịnh, Tánh,
Tướng các pháp không ǵ chẳng trọn đủ. Vào thời
Ngũ Đại, Phật giáo ở phương Bắc
hơi suy, phương
Xét từ khi pháp
được truyền sang Trung Quốc, vua chúa các đời
không ai không sùng phụng. Chỉ có Tam Vơ diệt Phật,
nhưng rồi Phật pháp lại được hưng
thạnh. Ví như mùa Đông thời ngưng đọng
kiên cố chính là để thành tựu cho lúc Xuân - Hạ nẩy
mầm tăng trưởng. Mặt trời giữa hư
không, một tay bưng bít nổi ư? Ngửa mặt nhổ
lên trời, bẩn ngược thân ḿnh! Tam Vơ là Ngụy Thái
Vơ [Đế], Châu Vơ Đế, Đường Vơ Tông, thoạt
đầu đều tin Phật pháp, hết sức tu tập.
Ngụy Vơ Đế tin lời sàm tấu mê hoặc của
Thôi Hạo, Châu Vơ Đế nghe lời sàm báng của Vệ
Nguyên Tung, Đường Vơ Đế tin lời vu báng của
Lư Đức Dụ và đạo sĩ Triệu Quy Chân. Hủy
diệt chưa bao lâu, người chủ trương, kẻ
tán trợ đều mắc phải tai ương thật
nặng. Ngụy Vơ Đế phế giáo xong, chưa đầy
năm sáu năm sau, Thôi Hạo bị diệt tộc mà chính
vua cũng bị ám sát. Thái tử nối ngôi lại đại
hưng Phật giáo. Châu Vơ Đế phế giáo xong, Nguyên
Tung bị biếm truất, chết đi; chưa tṛn
năm năm nhà vua thân mắc phải bệnh dữ, khắp
thân lở lói, chết chưa được ba năm, Tùy
Văn Đế học Thiền lại đại hưng
Phật giáo. Đường Vơ Tông phế Phật giáo xong,
chưa đầy một năm Quy Chân bị giết,
Đức Dụ chết trong khi bỏ trốn, Vơ Tông uống
kim đan của đạo sĩ, lưng mọc ung nhọt
chết tốt. Tuyên Tông lại đại hưng Phật
giáo.
Tống Huy Tông lúc đầu
cũng rất tin Phật giáo, sau nghe lời yêu vọng của
đạo sĩ Lâm Linh Tố, bèn đổi tượng
Phật theo h́nh tượng Đạo Giáo, gọi Phật
là Đại Giác Kim Tiên, gọi Tăng là “đức sĩ”,
bắt mặc áo đạo sĩ, phàm mỗi khi làm pháp sự
phải đứng sau các đạo sĩ. Vua xuống chiếu
không lâu, kinh thành bị lụt to hệt như hồ, biển.
Vua tôi hoảng sợ, vua sai Linh Tố ngăn nước,
càng ngăn nước càng dâng, chợt có Tăng Già đại
thánh hiện nơi cung cấm, vua đốt hương
van xin, ngài Tăng Già chống tích trượng lên mặt
thành nước liền cạn ngay; do vậy, vua bèn sắc
truyền khôi phục quy chế cũ cho Phật giáo.
Chưa đầy sáu bảy năm, cả cha lẫn con bị
giặc Kim bắt đi, người Kim phong Huy Tông làm Hôn Đức
Hầu, phong cho Khâm Tông làm Trọng Hôn Hầu. Huy Tông lẫn
Khâm Tông đều chết ở thành Ngũ Quốc[32].
Phật chính là tam giới
đại sư, là cha lành của bốn loài, là bậc
thánh của các thánh, là trời của các trời, dạy
người bỏ vọng về chân, trái trần hiệp
giác, hiểu rơ Hoặc nghiệp huyễn vọng, khôi phục
tâm tánh sẵn có, cảm ân, báo đức, hộ tŕ, lưu
thông c̣n chưa xuể, há có thể cậy thế lực một
thời để diệt con mắt Huệ của chúng
sanh, cắt đứt con đường bằng phẳng
của trời người, đào hầm sâu địa ngục
để chuốc lấy báo ứng nhăn tiền, bao kiếp
trầm luân, để lại tấm gương tầy
đ́nh cho đời sau chê cười ư? Kinh Thư
chép: “Thuận lư dẫn đến
điều lành, trái nghịch th́ xấu, đều do ảnh
hưởng”. Nhân quả báo ứng cũng là mẫu mực
thánh trong Nho Giáo, nhưng chưa phát huy sâu xa đến cùng
cực. Do vậy, đa phần con người ám muội
không hiểu rơ. Từ đời Hán đến nay đă hơn
một ngàn tám trăm năm, từ thiên tử cho đến
thứ dân, người nương theo Phật pháp để
minh tâm kiến tánh, liễu sanh thoát tử nhiều như
cát sông Hằng. Đến nay nền Dân Quốc được
xây dựng, danh nhân các giới đều biết Phật
pháp là nguồn cội của đạo thế gian lẫn
xuất thế gian nên bảo vệ, hộ tŕ, tán trợ.
Xứ Quảng Đông
chúng ta chính là cuộc đất hoằng pháp thù thắng
đă hơn một ngàn năm, một mạch Tào Khê[33]
lưu truyền khắp trong nước ngoài nước. Linh
Sơn ở Triều Châu là nơi Đại Điên thiền
sư (Sư húy là Bảo Thông, người họ
Dương ở Triều Châu, tham học với ngài Nam Nhạc
Thạch Đầu Hy Thiên thiền sư được
đại ngộ, bèn nối pháp ấy trụ tại Linh
Sơn ở Triều Châu. Thứ Sử Hàn Thoái Chi lúc đầu
không tin Phật, thường viết văn bài xích, đến
năm Nguyên Ḥa 14 đời Đường Hiến Tông
(819) v́ can gián nhà vua làm lễ nghênh đón xương Phật
nên bị biếm xuống Triều Châu. Do đó, bèn qua lại
với Đại Điên, mới sanh ḷng tin tưởng
đôi chút) đă nhiếp phục
được bậc Đại Nho báng Phật, là nơi
đạo tràng thù thắng nhập Phật pháp.
Đến nay pháp vận
tuy suy, đất vẫn c̣n thù thắng như cũ. Các vị
cùng quy y thuộc Tăng giới chúng ta ai nấy hăy nên lấy
cổ nhân làm thầy, thấy người hiền mong
được bằng, tinh tấn dũng mănh, tận lực
tu Tịnh nghiệp, ngơ hầu Tông phong chẳng đến
nỗi suy bại sát đất, làm nhục pháp môn. Huống
chi ngoại hộ đă có người th́ nội tu không
chướng ngại, há có nên không tự gắng sức
để đẩy lùi cơn sóng hung cuồng nghiêng ngửa,
nối tiếp huệ mạng sắp bị dứt, ḥng
báo ân Phật trong muôn một ư?
2. Diễn
thuyết tại phân hội Phật giáo Triều
Dương – bài 2
Ngày hôm nay, Tăng - tục vân tập, hội
tốt lành rộng mở. Danh nghĩa, tông chỉ, sự
nghiệp, lợi ích rốt cuộc là như thế nào? Xin
tŕnh bày đại lược! Nói đến danh nghĩa
th́ danh (tên gọi) là “Triều Dương Phật giáo phân hội”.
Về nghĩa th́ Phật chính là Giác: tự giác, giác tha, giác
hạnh viên măn th́ gọi là Phật, chỉ cho đức
giáo chủ Sa Bà Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chứ
không phải quá khứ - hiện tại - vị lai mười
phương hết thảy chư Phật. Giáo có nghĩa là lời thánh nhân dạy
cho người dưới, là pháp để người
trên thi hành, người dưới bắt chước theo.
Phật thấy bổn giác diệu tánh của hết thảy
chúng sanh không khác ǵ chính Ngài, nhưng do nhân duyên mê nhiễm
nên trở thành bất giác, huyễn khởi phiền năo Hoặc
nghiệp, oan uổng chịu khổ quả sanh tử. Do vậy,
đem cái lư chúng sanh vốn có do chính Ngài đă chứng
để thuận theo căn tánh của họ nói đủ
mọi cách Thiên - Viên - Đốn - Tiệm, Đại - Tiểu
- Quyền - Thật khác biệt, khiến cho họ từ
tâm bất giác khởi lên trí Thỉ Giác, tu đức hữu
công, tánh đức mới hiển hiện. Chân cùng, vọng
tận, triệt chứng Bổn Giác. Giáo pháp của cả
Đại Tạng đều giảng về nghĩa này;
các đệ tử Phật vĩnh viễn lấy đó
làm khuôn phép. Đấy chính là nguyên do của Giáo vậy. Hội
là tụ (nhóm lại), là hợp lại. Muốn trên cầu
Phật đạo, nếu không tụ hợp lục độ
vạn hạnh th́ không có cách ǵ hết. Muốn dưới
là lợi lạc chúng sanh mà chẳng tụ hợp tam tông tứ
giáo[34] sẽ
không thể được. Nay hội này tụ hợp các
vị đại đức thuộc hai giới Tăng - tục,
đồng tâm tận lực duy tŕ pháp môn, chấn hưng
Phật giáo, trên là giúp cho nước nhà, dưới là giáo
hóa đồng bào. Nhưng hội này cũng chính là hội
tốt lành của đấng Pháp Vương, thuộc về
hội pháp thí. Tông chỉ là “chỉnh lư pháp môn, bảo vệ
tài sản của Tăng, khiến cho Tăng lẫn tục
đều thấu hiểu trung hậu, khoan thứ, từ
bi, vĩnh viễn hưởng hạnh phúc cộng ḥa”.
Sự nghiệp là giáo dục những Tăng sĩ c̣n nhỏ
học tập kinh điển, cổ vũ, khuyến khích
họ tiến lên, dốc sức tu Tịnh nghiệp. Nếu
là tại gia cư sĩ th́ chú trọng mong cho họ chuyên
niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương. Lợi
ích là giữ ǵn giới cấm của Phật, tự hành,
dạy người th́ phong tục tốt đẹp, con
người thuận ḥa, y giáo tu quán, đoạn Hoặc chứng
chân để siêu phàm nhập thánh.
Thầy thuốc trị
bệnh hễ bệnh ḥa hoăn th́ vun bồi cái gốc, hễ
bệnh cấp bách th́ trị cái ngọn. Ngoại giới
xâm đoạt chính là cái bệnh nơi đằng ngọn
của pháp môn. Do đây là căn bệnh cấp bách nên lấy
chuyện bảo vệ tài sản của Tăng làm đầu.
Nếu luận về đạo “gốc chánh nguồn
trong” th́ những người cùng một sắc áo với
tôi nếu ai nấy đều tận lực giữ trọn
thanh quy, dốc ḷng tu Tịnh nghiệp, nếu thân ḿnh tự
lập được đạo hạnh th́ đức sẽ
cảm hóa đồng nhân, những kẻ thường mưu
tính xâm đoạt, bài xích sẽ đâm ra cung kính, cúng dường
c̣n không kịp, cần ǵ phải bảo vệ nữa? Nếu
hội Phật giáo dù có lập mà hạnh vẫn y như
cũ th́ người lành sẽ chán ghét, kẻ ác ắt sẽ
có chứng cớ cho [lời gièm báng] “Phật giáo vô ích”,
càng thêm xâm đoạt, bài xích; dù có muốn bảo vệ
cũng không cách ǵ thi thố được! Câu nói của Mạnh
Tử: “Phàm con người phải
tự khinh th́ sau đó người khác mới khinh ḿnh
được, nhà phải tự hủy rồi sau người
ta mới hủy được, nước phải tự
diệt rồi người ta mới diệt được”,
chính là nói đến ư này vậy. Phàm những ai cùng một
sắc áo với tôi, xin hăy gắng sức, nội hộ
đắc pháp th́ những khinh dễ bên ngoài sẽ tự
tiêu.
3. Diễn
thuyết tại phân hội Phật giáo Triều
Dương – bài 3
Chư Phật, Bồ Tát b́nh đẳng
tạo lợi ích cho các chúng sanh chẳng hề thiên vị,
như trời che khắp, như đất chở trọn,
như nhật - nguyệt chiếu khắp, như mưa
lành thấm trọn, hoàn toàn không có tâm phân biệt yêu - ghét. Nhưng
v́ chúng sanh hướng về hay trái nghịch sai khác cho nên bị
tổn thất hay được lợi ích khác biệt
như trời với đất. Ví như con người sống
trong ṿng trời đất, do không giữ ǵn sức khỏe
hoặc do rét dữ, nắng gắt thành bệnh, hoặc
do sa hầm xảy hố đến nỗi mất mạng,
chỉ nên quy lỗi về chính ḿnh, há có nên oán trời trách
đất? Lại như mặt trời, mặt trăng
giữa hư không, người mù tuy chẳng thấy
được ánh sáng cũng vẫn được chiếu
soi. Mưa đúng thời b́nh đẳng tuôn xuống, dẫu
cây cỏ nhỏ khó thể mọc chọc trời cũng
vẫn được tăng trưởng. Chiếu sáng và
thấm ướt hệt như nhau, nhưng mỗi loài
được lợi ích khác biệt là v́ mắt hư, rễ
nhỏ mà ra. Những chuyện chẳng thể nghĩ bàn do
thệ nguyện từ bi đem công đức của chính
ḿnh hồi hướng cho chúng sanh, ngầm un đúc, gia bị,
và hiện thân trong sáu đường ḥa quang đồng sự
tạo đủ mọi phương tiện lợi ích
chúng sanh, nếu không triệt chứng bản tâm, đọc
hết Đại Tạng làm sao thấy trọn biết hết
cho được?
Nay
tôi dùng một chuyện dễ thấy rơ ràng để luận,
những ai có trí sẽ do một hiểu được nhiều,
cảm nhận sâu xa ân Phật, buồn cho ḿnh được
nghe pháp tu tŕ quá muộn. Đang lúc này đây là lúc đă cách
thời Nghiêu - Thuấn - Vũ - Thang - Văn - Vơ ba bốn
ngàn năm, thế đạo nhân tâm kém xa chẳng bằng
thời cổ, nhưng do biết lục đạo luân hồi
theo nghiệp thăng trầm, qua lại thiên đường
- địa ngục, chuyển biến trong nhân gian - súc sanh,
nên dù là kẻ cùng hung cực ác ương ngạnh khó giáo
hóa, hoàn toàn không có tín tâm th́ tâm họ cũng vẫn bị
pháp này chiết phục. Dẫu coi rẻ mạng người
nhưng trong tâm vẫn ngầm ẩn bóng dáng kiêng nhân sợ
quả, nên chẳng đến nỗi mười phần
bạo ác. Như các chư hầu thời Liệt Quốc,
đem những thần thiếp yêu thương và bá tánh giết đi để tuẫn
táng, giết cả mấy chục, mấy trăm người
chẳng cho là sai trái, ngược lại c̣n cho đó là vinh,
chẳng phải là [họ nghĩ] do đây mà được
trội hơn người khác ư? Văn Vương ân
trạch thấm đến xương khô chẳng biết
mấy trăm năm, nhưng cái thói giết người
tuẫn táng khắp cả thiên hạ, dù Lăo, Trang, Khổng,
Mạnh cùng ra đời cũng chẳng thể cứu văn
được phong tục đồi bại ấy! Từ
sau khi Phật pháp truyền sang Đông, lư “sanh tử luân
hồi nhân quả báo ứng” rạng ngời trong đời,
đừng nói chi chư hầu, ngay đến kẻ quay mặt
về
Nếu không có pháp này,
chỉ dùng thuyết “chánh tâm thành ư” để dạy
con người dấy ḷng trung thứ khoan hậu khăng
khắng nghĩ con người như ruột thịt,
như chính bản thân ḿnh ḥng chấm dứt tục tuẫn
táng để toàn dân được sống sót th́ tôi sợ
rằng có khuyên cũng uổng công, thói ấy càng được
thạnh hành hơn! Huống ǵ sau này Nho gia chỉ biết
đường lối cai trị, hoàn toàn chẳng biết
đến tự tâm, muốn bài trừ Phật pháp, cưỡng
lập môn đ́nh, đều bảo rằng “chết
đi sẽ vĩnh viễn diệt mất, không có đời
sau”. Nếu không có lư “sanh tử luân hồi, nhân quả
báo ứng” của đức Như Lai thấm vào ḷng
người th́ trong đời sau nhân dân giữ được
cái mạng một cách chánh đáng, chết yên lành sẽ hiếm
hoi lắm! Đấy chính là pháp thiển cận nhất
trong Phật pháp mà c̣n thắng được tàn bạo, trừ
khử được giết chóc, huống chi những
pháp lớn lao sâu xa viên đốn tột bậc ư? Thế
trí phàm t́nh làm sao suy lường sự lợi ích của
pháp ấy trong muôn một cho được!
4. Diễn
thuyết tại phân hội Phật giáo Triều
Dương – bài 4
Chúng sanh là Phật chưa ngộ, Phật
là chúng sanh đă ngộ. Bản thể tâm tánh b́nh đẳng
như một, không hai, không khác, nhưng khổ - vui, thọ
dụng cách biệt như trời với đất là do xứng
tánh thuận tu hay trái tánh nghịch tu mà ra! Lư ấy rất
sâu chẳng dễ tuyên nói. Muốn chẳng tốn lời
nên bèn dùng thí dụ để giảng. Chư Phật tu
đức đến cùng cực, triệt chứng Tánh Đức,
ví như tấm gương báu tṛn lớn thể chất
là đồng, biết nó có quang minh, hằng ngày chuyên chú chùi,
mài, đổ công chẳng ngừng th́ khi bụi hết,
ánh sáng sẽ hiện, dựng trên đài cao, hễ có h́nh ắt
có bóng: Lớn như trời đất, nhỏ như hạt
bụi nơi đầu sợi lông, sâm la vạn tượng
đều hiện rành rành. Trong lúc vạn tượng cùng
hiện ấy, gương vẫn trống rỗng, thông suốt,
trọn chẳng có một vật ǵ. Tâm chư Phật
cũng giống như thế: Đoạn hết phiền
năo Hoặc nghiệp, đức tướng trí huệ sẽ
phơi bày trọn vẹn, đến tận cùng đời
vị lai an trụ trong Tịch Quang, thường hưởng
pháp lạc, độ chín giới thoát ĺa sanh tử, cùng chứng
Niết Bàn.
Chúng sanh hoàn toàn mê Tánh Đức,
không có mảy may Tu Đức, ví như gương báu phủ
bụi, chẳng những không có mảy may quang minh nào, mà
ngay cả chất đồng cũng bị phủ lấp
chẳng c̣n hiện ra. Tâm chúng sanh cũng giống như thế.
Nếu biết tấm gương bị bỏ phế chẳng
hiện chất đồng ấy sẵn có quang minh chiếu
trời soi đất, từ đấy chẳng chịu
buông bỏ, ngày ngày chăm chú lau chùi, mài giũa. Thoạt
đầu hơi lộ chất đồng, tiếp đó
dần dần tỏa quang minh. Nếu vẫn cực lực
mài sạch th́ một mai hết sạch trần cấu, tự
nhiên gặp h́nh bèn hiện bóng, chiếu trời soi đất.
Nhưng quang minh ấy gương vốn sẵn có, chẳng
phải đến từ bên ngoài, chẳng phải do mài mà
được; nhưng không mài th́ cũng không có cách nào
đạt được! Chúng sanh trái trần hiệp
giác, bỏ vọng theo chân cũng giống như thế. Dần
dần đoạn Phiền Hoặc, dần dần tăng
trưởng trí huệ. Đến khi nào công hạnh viên măn
sẽ đoạn được cái không thể đoạn,
chứng được cái không thể chứng, viên măn Bồ
Đề, trở về chỗ không thể đạt được,
thần thông, trí huệ, công đức, tướng hảo,
hoàn toàn chẳng khác ǵ với mười phương ba
đời hết thảy chư Phật. Tuy vậy chỉ
là khôi phục cái sẵn có, hoàn toàn chẳng có ǵ là mới
đạt được!
Nếu chỉ ỷ
vào Tánh Đức, chẳng khởi Tu Đức th́ đến
hết đời vị lai sẽ thường chịu nỗi
khổ sanh tử luân hồi, vĩnh viễn chẳng có
ngày khôi phục cái gốc hoàn lại cái nguồn. Bọn ta
đă là Phật tử th́ phải hành Phật hạnh, tuy
chưa thể phá rỗng toang vô minh, nhanh chóng khôi phục
tánh thể để tiến thẳng vào diệu giác quả
hải, nhưng lẽ nào chẳng thể phát trọn ba
tâm, dốc ḷng tu Tịnh nghiệp để cầu đoạn
phiền hoặc nơi thân này, gởi tâm thức nơi Liên
Bang, làm đệ tử Phật Di Đà, làm bạn lành của
Đại Sĩ, an trụ tịch diệt, vẫy vùng
trong cơi Phật, trên cầu Phật đạo, dưới
hóa độ chúng sanh ư? Nếu chẳng tự gắng
công, cứ đề cao thánh cảnh nhưng vẫn cam phận
phàm ngu, chỉ e nửa đời tu tŕ siêng năng, nhọc
nhằn, vẫn cam chịu bao kiếp trầm luân khổ sở!
Mê muội [tưởng lầm] hạt châu nơi chéo áo chẳng
quư, lên núi báu trở về tay không, dùng tánh Chân Như mầu
nhiệm vô lượng công đức, trí huệ, thần
thông, tướng hảo để oan uổng gánh chịu vô
lượng nỗi khổ cùng cực phiền năo sanh tử
luân hồi huyễn vọng, há chẳng phải là mất
trí cuồng tâm, ghét thăng, thích đọa, sống làm thây
đi thịt chạy, chết mục nát cùng cỏ cây
ư? Tam thế chư Phật gọi [người như
vậy] là “kẻ đáng thương xót”! Phàm những ai
đồng hàng với tôi xin hăy nỗ lực.
5. Nói về
chuyện bột ngọt có thể văn hồi kiếp vận
Đối với con người ăn
uống có quan hệ rất lớn. Được ăn
th́ sống, không ăn th́ chết, nên mới nói: “Thực vi dân thiên”(Đối
với dân, cái ăn giống như trời vậy).
Nhưng trời đất đă v́ con người sanh ra
đủ loại hạt, đủ loại rau, đủ
loại quả; những thứ để nuôi sống con
người cũng rất nhiều. Chỉ v́ miệng bụng
mà bắt lấy những loài vật sống dưới
nước, trên cạn, trên hư không giết ăn nhằm
sướng miệng một lúc, hoàn toàn chẳng đoái
hoài chúng nó và bọn ta cùng bẩm thọ tánh linh minh, cùng mang
cái thân máu thịt, cùng biết đau đớn, khổ -
sướng, cùng biết tham sống sợ chết;
nhưng do sức chúng cự không lại nên mới bị ta
giết ăn. Lẽ nào chúng chẳng ôm oán kết hận
mong báo thù trong đời vị lai ư? Thử nghĩ
đi, há chẳng kinh sợ ư? Nỡ v́ sướng miệng
một chốc để rồi trong đời
tương lai phải bị chúng nó giết chóc ư? Nguyện
Vân thiền sư nói:
Thiên bách niên lai oản lư canh,
Oán thâm tự hải, hận nan b́nh,
Dục tri thế thượng đao binh kiếp,
Đản thính đồ môn dạ bán thanh
(Trăm ngàn năm qua trong bát canh,
Oán sâu tựa
biển, hận khôn b́nh,
Muốn biết
đao binh trong cơi thế,
Lắng
nghe ḷ mổ giữa đêm thanh).
Nghĩ kỹ lời ấy ắt sẽ
ngộ. Hiềm rằng người đời quen thói
ăn thịt, khuyên họ ăn chay, dù có tâm trắc ẩn
cũng khó nghe theo, bởi lẽ không có mùi vị ǵ để
giúp cho món ăn cả! Gần đây có nhà hóa học nổi
tiếng là ông Ngô Uẩn Sơ, có tâm lo cho đời, muốn
văn hồi sát kiếp nên đặc biệt chuyên nghiên cứu
tỉ mỉ mùi vị thức ăn. Ông ta dùng chất cám
lúa mạch ngâm ra thành ḿ căn, đem ủ nhiều ngày, chế
thành bột nêm, bột ngọt dùng để tạo vị
cho thức ăn. Ư tưởng này cũng rất tốt
lành. Loại sản phẩm này tánh chất thuần hậu,
hoàn toàn không phải là đồ mặn. Xin những người
ăn chay hăy tùy tiện dùng.
Khi Quang mới nghe nói
cũng chẳng dám tin. Một bữa, vợ chồng ông
Lâm Địch Am cùng đến quy y, nhân đó kể cùng họ
kết quả thảm thương của việc ăn thịt,
thiên tai nhân họa đa phần là do sát sanh ăn thịt
mà ra. Hiềm rằng người đời do miệng
lưỡi quá lệ thuộc vào mùi vị, nên khó tiêu diệt
được cội gốc vậy. Ông ta bèn nói: “Bột
ngọt, bột nêm của ông Ngô chế ra rất ngon lành. Nếu
bỏ một chút vào trong thức ăn th́ thức ăn dở
tệ cũng thành ra ngon lành”. Do vậy, tôi bèn nhờ cư
sĩ Quang Hài Giang Vị Nông và hai ba người bạn cùng
đến xưởng đó, xem xét cách thức chế biến,
bội phục sâu xa một phen khổ tâm của ông Ngô. Bởi
lẽ thứ sản phẩm này một khi được
lưu hành không những cứu giúp, che chở sanh mạng
loài vật mà c̣n cởi gỡ oán kết cho đồng
nhân, khiến cho con người cùng hết thảy các loài vật
đều được chung sống trong ṿng trời
đất đến hết tuổi trời; lợi ích ấy
lớn lao thay!
Mạnh Tử nói: “Người làm mũi tên há chẳng
nhân từ bằng người chế tạo áo giáp ư?
Người chế tên chỉ sợ không làm tổn
thương được người, người chế
tạo áo giáp chỉ sợ người bị
thương. Đồng cốt và người thợ làm
quan tài cũng giống như thế, cho nên chọn lựa
nghề nghiệp chẳng thể không cẩn thận”[35]. Trộm
nghĩ: Sản phẩm này của ông Ngô, xét về tài nghệ
đă đạt đến mức khéo léo, tuy ông ta lưu
hành món này trong đời để kiếm lời nhưng
thật ra cũng mang ḷng lợi người, lợi vật,
có lợi ích sâu xa cho việc cứu nước, cứu
dân. Công ấy lớn lao thay! Từ Thọ Thâm[36]
thiền sư nói:
Ẩm thực
vu nhân nhật nguyệt trường,
Tinh thô tùy phận tắc cơ thương,
Hạ hầu tam thốn thành hà vật?
Bất dụng tương tâm tế giảo lượng!
(Tạm dịch:
Đời người ăn uống bao phen
Dở ngon tùy phận khỏi cơn đói ḷng
Nuốt qua cổ họng là xong,
Tính toan tỉ mỉ nhọc ḷng làm chi?)
Huống chi lại có sản phẩm vật
này phụ trợ th́ hết thảy mọi người hăy
đều nên ăn chay để giữ cho thân ḿnh đời
đời kiếp kiếp chẳng gặp sát kiếp, bậc
minh triết quân tử ắt chẳng cho lời Quang là hủ
bại vậy!
6. Nói về
chuyện ông Nhạc Bộ Vân v́ cha mẹ lập Phật
đường
Một niệm tâm tánh của chúng sanh chẳng
khác ǵ với Phật. Do mê trái nên chẳng thọ dụng
được, đâm ra dùng sức công đức Phật
tánh ấy để khởi tham - sân - si, tạo giết - trộm
- dâm, đến nỗi luân hồi tam đồ lục
đạo, trọn chẳng lúc nào xong. Chẳng đáng buồn
ư? A Di Đà Phật trong kiếp xưa đă phát ra bốn
mươi tám đại nguyện, có một nguyện
như thế này: “Nếu có
chúng sanh xưng danh hiệu ta, cầu sanh về nước
ta, dù chỉ mười niệm, nếu chẳng được
sanh th́ chẳng giữ lấy Chánh Giác”. Do vậy, biết
Phật nghĩ đến chúng sanh như mẹ nhớ con,
nếu như chúng sanh sanh ḷng tin, phát nguyện, tŕ danh hiệu
Phật cầu sanh Tây Phương như con nhớ mẹ,
th́ tự nhiên khế hợp tâm Phật, cảm ứng
đạo giao, trong đời này được Phật
gia bị, nghiệp chướng tiêu diệt, các duyên thuận
lợi, lâm chung được Phật tiếp dẫn
đới nghiệp văng sanh Cực Lạc thế giới.
Từ đấy siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử;
so với những kẻ cậy vào tự lực tu Giới
- Định - Huệ măi cho đến khi Hoặc nghiệp
hết sạch mới liễu sanh thoát tử th́ khó - dễ
khác ǵ trời với vực.
Cư sĩ Nhạc Bộ
Vân tín tâm chân thiết, bẩm tánh lại chí hiếu. Cha ông
là Vận Sanh, tuổi già mắt ḷa. Ông Vân chí tâm niệm Phật,
lại khuyên cha niệm Phật, nên hai mắt được
sáng lại. Do vậy, cha mẹ đều niệm Phật
lâu dài. Lại do công việc bận bịu, chẳng thể
thường thăm viếng, hỏi han, ông bèn mời song
thân lên tỉnh, thuê nhà để ở cho tiện hầu hạ,
đặc biệt lập một Phật đường
để làm chỗ tu tŕ cho cha mẹ. Chính ḿnh và vợ con
đều hầu cha mẹ niệm Phật để mong
cha mẹ được vui ḷng, cũng có thể nói là khéo
thờ cha mẹ, khuyên dụ cha mẹ vào đạo vậy.
Kinh Thi có câu: “Hiếu tử chẳng
túng quẫn, vĩnh viễn ban cho ngươi”, tất
nhiên sẽ có người nghe được phong thái ấy
bèn khởi tâm làm theo vậy!
7. Phổ
khuyến yêu tiếc sanh mạng loài vật và dùng xà-pḥng Thanh
Minh chế tạo từ dầu thực vật để
giảm sát nghiệp
Gần đây, thiên tai nhân họa xảy
ra quá nhiều, nhân dân tử vong càng nhiều, càng thảm
hơn nữa! Há có phải là đạo trời bất
nhân hay chăng? Thật ra chỉ là v́ ác nghiệp trong bao kiếp
và hiện đời của chúng ta chiêu cảm mà thôi. Chắc
chắn không thể nào không có nhân mà lại có quả
được; chắc chắn cũng không hề có chuyện
làm nghiệp lành lại bị quả ác. Nhưng v́ tri kiến
phàm phu chẳng hiểu rơ nhân duyên đời trước
nên tợ hồ cũng có chuyện không đáng được
mà được. Nếu có thể nh́n rộng ra nhiều
kiếp, nhiều đời th́ mỗi một quả thiện
- ác [ta nay] phải gánh chịu đều như tiếng vọng
ứng theo tiếng, như bóng theo h́nh, hoàn toàn chẳng sai
lầm.
Nhưng trong các ác nghiệp,
chỉ có Sát là nặng nề nhất. Khắp thiên hạ,
không ai chẳng tạo nghiệp sát. Dẫu cả đời
chưa hề sát sanh, nhưng hằng ngày ăn thịt th́
tức là hằng ngày sát sanh; do không giết th́ chắc chắn
không có thịt, bởi lẽ kẻ đồ tể,
người săn bắn, kẻ bắt cá đều nhằm
để cung cấp cho nhu cầu của người
ăn thịt nên mới giết thay cho họ. Một cửa
ải ăn thịt hay ăn chay quả thật là cái gốc
của sự thăng - trầm của chúng ta và [là cái gốc
khiến] thiên hạ b́nh yên hay loạn lạc, [mối quan
hệ ấy] chẳng nhỏ đâu! Những ai tự biết
thương thân và yêu thương nhân dân khắp cơi đời,
muốn được trường thọ, an lạc, chẳng
mắc phải tai họa ngoài ư muốn th́ hăy nên kiêng giết,
ăn chay, đó chính là diệu pháp bậc nhất để
văn hồi thiên tai nhân họa. Do một niệm tâm tánh của
hết thảy chúng sanh chẳng khác ǵ với Phật, mà
cũng chẳng khác ǵ chúng ta, chỉ v́ ác nghiệp đời
trước mà đọa trong dị loại. V́ thế, hăy
nên sanh ḷng thương xót lớn lao, há nên mặc t́nh giết
ăn? Chớ như người đời vướng
trong tập tục, thường lấy chuyện sát sanh
ăn thịt làm vui, chẳng nghĩ những con vật bị
giết hại ấy đau đớn oán hận đến
mức độ nào! Cậy mạnh hiếp yếu, xem
như chuyện đương nhiên, nhưng một khi
đao binh dấy lên th́ t́nh cảnh cũng giống như
những con vật bị giết. [Bọn giặc cướp]
thiêu đốt nhà các ông, gian dâm phụ nữ nhà ông, cướp
đoạt tiền tài của các ông, giết thân mạng
các ông, mà các ông vẫn chẳng dám thốt lời xấu ác
đối với chúng v́ sức không chống lại nổi.
Loài vật đang sống mà bị giết cũng là v́
chúng nó không chống cự lại được. Nếu
như chống lại được, ắt chúng sẽ lập
tức cắn xé con người mới đành! Sao con người
không trong cảnh khổ ấy, hăy thử suy nghĩ lại?
Loài vật và ta đều cùng tham sống sợ chết, ta
đă sẵn có khí chất đội trời đạp
đất, lẽ ra phải nên hỗ trợ quyền sanh
thành dưỡng dục, khiến cho chim, thú, cá, rùa đều
được sống yên, nỡ nào giết thân mạng chúng
để thỏa thích bụng miệng ư? Do sát nghiệp
cố kết đến nỗi phát sanh đao binh là tai vạ
do con người gây ra, cũng như những thiên tai lửa
nước, hạn hán, lụt lội, đói kém, tật dịch,
băo lốc, động đất, biển trào, sông tràn v.v… mỗi
thứ liên tiếp giáng xuống.
Ví như người
đời tặng quà Tết cho nhau, ta tặng quà đi,
người biếu đáp lại, hoàn toàn chẳng có chuyện
không tặng ǵ lại được biếu, hoặc tặng
rồi không được biếu lại. Nếu có xảy
ra như thế, ắt phải có nhân duyên khác ngăn trở,
chứ thật ra chẳng thể vượt ngoài chuyện
qua lại đáp đền được! Trời thưởng
hay phạt cũng giống như thế, huống chi là con
người báo đền! V́ vậy, kinh Thư chép: “Làm lành trăm điều lành
giáng xuống; làm điều bất thiện, trăm điều
tai ương giáng xuống”. Kinh Dịch chép: “Nhà tích thiện ắt sự vui
sướng có thừa, nhà tích điều bất thiện ắt
tai ương có thừa!” Đạo trời khéo xoay vần,
không ǵ qua rồi chẳng trở lại. Muốn tránh khỏi
quả ác th́ trước hết phải đoạn nhân ác,
muốn được quả lành th́ phải gieo nhân lành
trước. Thiên lư, nhân t́nh hết sức xác đáng
như vậy. Do vậy, những người có tâm lo cho thế
đạo nhân tâm hiện thời không ai chẳng đề
xướng kiêng giết, phóng sanh, ăn chay niệm Phật
để xiển minh sự lư sanh tử luân hồi, nhân quả
báo ứng v.v… ngơ hầu nhân dân khắp cơi đời đều
được hưởng yên vui, cùng được giải
thoát.
Dùng xà-pḥng là chuyện
phổ biến khắp cả trong nước lẫn ngoài
nước, nhưng chất liệu để chế tạo
là mỡ ḅ, mỡ lợn để tăng độ nhờn.
Xà-pḥng được sử dụng thật rộng răi th́
giết chóc cũng thật nhiều. Gần đây có cư
sĩ Châu Văn Minh vốn dùng ḷng từ bi của đức
Như Lai hành phương tiện giảm giết chóc,
đặc biệt phát minh ra loại xà-pḥng Thanh Minh làm bằng
chất liệu thực vật. Để tăng tính
trơn mịn cho xà-pḥng, ông dùng dầu dừa, loại xà-pḥng
này trừ chất dơ không thua ǵ loại xà-pḥng chế từ
mỡ động vật, mà giặt áo, tắm rửa
vĩnh viễn chẳng lưu lại mùi tanh tưởi,
nhơ uế. Chẳng những người ăn chay niệm
Phật nên dùng, mà ngay cả hết thảy mọi người
cũng đều nên dùng. Chỉ có ích không bị tổn hại
th́ ai chẳng nên dùng cơ chứ? Mong rằng khi loại xà-pḥng
này được phổ biến rồi th́ những
người làm xà-pḥng bằng mỡ động vật
đều đổi sang làm xà-pḥng từ chất béo thực
vật, [tính ra] mỗi năm trong nước lẫn ngoài
nước giảm được sự giết hại
sanh mạng không chỉ là trăm ngàn vạn ức.
Hiện thời mới
bắt đầu tiến hành, ông Châu thấy tôi đề
xướng những sự lư “kiêng giết, phóng sanh, nhân quả
báo ứng” v.v… để mong cứu văn thiên tai, nhân họa,
nên xin tôi phát huy ḷng thành giảm giết chóc này. Do vậy,
tôi quên ḿnh tệ kém, bèn tŕnh bày tội lỗi của việc
sát sanh ăn thịt và lợi ích trong hiện tại và
tương lai của việc dùng xà-pḥng chế từ chất
béo thực vật này để mong người người
kiêng giết, nhà nhà ăn chay ḥng văn hồi ư trời, ắt
sẽ thấy mưa thuận gió ḥa, thời thế yên
b́nh, được mùa, phong tục tốt đẹp, nhân
dân hiền lương, đao binh chẳng khởi, trở
lại cơi đời đại đồng ḥng vui với
thiên chân của chính ḿnh th́ may mắn nào hơn? Nếu chẳng
v́ lăo tăng thường nói như vậy mà coi thường
th́ thiên hạ, quốc gia may mắn lắm thay!
8. Đề
nghị biện pháp dự pḥng để tiêu tai, bảo vệ
sanh mạng
Phàm những ǵ được dự
pḥng trước th́ sẽ được bền vững,
c̣n những ǵ chẳng dự pḥng sẽ bị hư phế,
cho nên bậc thánh hiền thời cổ đều lo b́nh
trị ngay khi chưa loạn, giữ ǵn đất nước
ngay từ khi c̣n chưa nguy, khiến cho khắp nhân dân
dưới gầm trời cùng hưởng phước
thái b́nh, nhưng gần như chẳng lưu lại dấu
tích để [hậu nhân] có thể tán dương, tường
thuật cho được. Người sống trong thuở
ấy may mắn nào bằng? Mấy lúc gần đây nỗi
thảm đao binh kiếp từ xưa tới giờ
chưa hề nghe nói đến, lại thêm lụt, hạn,
dịch bệnh, sâu rầy, băo lốc, địa chấn,
đủ mọi thứ thiên tai, dân bị khổ sở chẳng
kham nổi! Lại thêm thổ phỉ nổi dậy tứ
bề, cướp bóc, trộm cắp không cách ǵ đề
pḥng, chế ngự được, không kêu gào vào đâu
được! Người trong nhà lại c̣n tranh chấp,
dấy lên chiến tranh lớn lao, tiếng đại bác
như sấm, đạn văi như mưa. Một khẩu
đại bác vừa nổ đă tử vong vô số, huống
ǵ nhiều khẩu đại bác bắn suốt ngày trong
nhiều buổi! Lại thêm máy bay thường bay đến,
rải dày đặc địa lôi, không cách giết người
kỳ lạ nào là chẳng có! Dân chúng, binh lính bị đạn
pháo hoặc lôi đạn bắn trúng, tan thân nát
xương kể sao cho xiết? Những người dân ở
đúng vào chỗ có chiến trường th́ nhà cửa
đồ đạc hoàn toàn chẳng c̣n ǵ nữa! Nếu
không bỏ chạy từ trước th́ cũng bị
cướp bóc, vợ con ly tán, trơ trọi lênh đênh,
có kêu trời gào đất cũng chẳng được
cứu vớt! Những cuộc đất phụ cận
chiến trường và những chỗ binh lính tràn qua, nỗi
thảm bị hăm hiếp, cướp bóc chẳng nỡ thấy,
nghe! Huống chi trời đă sanh ra dân, chẳng ban hạnh
phúc cho nhân dân, lại khiến cho dân bị họa
ương th́ thật ra là cái tâm ǵ vậy?
Phải biết: Đưa
đến điều lành hay chuyện dữ xét về lư không
sai sót, họa phước vô môn chỉ do con người tự
chuốc lấy. Nếu tự ḿnh không gây mối oan nghiệt,
chắc chắn chẳng cảm được tai nghiệt
từ trời! Đă trồng nhân ấy chắc chắn chẳng
thể tránh khỏi được báo ấy. Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ
quả”. Sợ nhân th́ chẳng tạo ác nghiệp, sẽ
tự chẳng có ác quả. Sợ quả th́ đă phải
chịu ác quả bèn lại tạo ác nhân, ngay trong lúc phải
chịu ác quả vẫn cứ đây - kia tấn công nhau,
báo hại lẫn nhau. Người đời tạo nghiệp,
nói chung có ba điều là giết, trộm, dâm. Hai nghiệp
trộm và dâm th́ kẻ ngoan cố, ngu độn bị t́nh
thế khống chế, c̣n người hiền bậc trí
th́ lại bị nghĩa buộc ràng, vẫn chẳng đến
nỗi quá quắt. Đối với nghiệp giết th́
người khắp cơi đời bất luận trí - ngu,
hiền - tệ, thật ít có ai chẳng phạm. Do miệng
bụng tham vị ngon nên hoặc dùng trí đánh bắt, hoặc
bỏ tiền ra cầu t́m, bắt lấy hết thảy
những loài sống trên cạn, dưới nước,
bay trên không mà cắt nấu đủ cách để sướng
miệng ta, nuôi cái thân ta, cũng như dâng lên cha mẹ cho
tận hiếu, cúng bái tổ tiên nhằm tưởng nhớ,
tế thần thánh để cầu phước, đăi
khách khứa cho thỏa dạ. Phàm những chuyện thuộc
quan - hôn - tang - tế không ǵ chẳng lấy thịt để
biện lễ. Nếu không dùng thịt th́ tợ hồ
khinh miệt lư, trái đức, không c̣n mặt mũi nh́n
người khác, nào nghĩ đến chúng nó cùng một
h́nh hài, cùng một linh tánh, cùng lánh dữ t́m lành, cùng một
thói ham sống sợ chết, nỡ nào chỉ v́ tâm tưởng
tham ăn vọng khởi mà chẳng đoái hoài đến
phương diện khẩn yếu khiến cho những
loài vật kia bị nỗi khổ chém, chặt, cắt, nấu
để cho thân tâm ta được an lạc, mọi sự
đều toại ư ư? Không có ǵ khác ngoài lư do câu nệ
thói đời, tập quen thành phong tục, chẳng suy xét
sâu xa mà ra vậy!
Chỉ có đức
Như Lai ta thấu suốt sự - lư nhân quả ba đời,
lục đạo luân hồi, cho nên dạy hết thảy
chúng sanh đừng tạo sát nghiệp, v́ hết thảy
chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ
quyến thuộc của chúng ta trong quá khứ, đều
sẽ thành Phật đạo trong tương lai. V́ vậy,
kinh Phạm Vơng nói: “Nếu là
Phật tử th́ do Từ tâm bèn hành nghiệp phóng sanh, hết
thảy người nam là cha ta, hết thảy người
nữ là mẹ ta. Trong đời đời, không một
ai chẳng phải là người sanh ra ta; do vậy, lục
đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta, giết đi
ăn thịt chính là giết cha mẹ vậy!” Nói “hết thảy nam tử, hết
thảy nữ nhân” là gộp chung hết thảy chúng
sanh trong lục đạo, chứ không phải chỉ nói
riêng về con người! Do vậy, tiếp đó, kinh dạy:
“Trong đời đời,
không một ai chẳng phải là người sanh ra ta; do vậy,
lục đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta”. Nếu
nghĩ như vậy, lo cứu tế c̣n không xuể, nào
dám giết hại! Kinh Nhập Lăng Già dạy: “Hết thảy chúng sanh từ vô
thủy đến nay, trong sanh tử luân hồi chẳng
ngơi, không ai chẳng từng làm cha mẹ, anh em, con cái,
quyến thuộc, cho đến bè bạn, người thân
ái, kẻ hầu hạ. Qua đời khác phải mang lấy
thân chim, thú v.v… sao lại bắt ăn? Bồ Tát quán các
chúng sanh giống như chính thân ḿnh, nghĩ thịt đều
từ những loài có sanh mạng, cớ sao lại ăn?”
Như Lai do đại
từ bi muốn cho các chúng sanh đều được
yên vui, vượt thoát sanh tử, nên đặc biệt nói
sẵn pháp tự cứu, cứu người. Nếu đối
với loài vật c̣n chẳng nỡ giết, mong chúng
được sống an ổn, th́ chắc chắn chẳng
tàn hại nhân dân, khiến họ phải chịu các nỗi
khổ sở đến nỗi tử vong! Chớ nói “con người và súc vật biến
lẫn ra nhau, nhân quả tuần hoàn nào ai đích thân thấy
được!” Phải biết Phật pháp răn cấm
nói dối, ắt Phật phải tự không nói dối lừa
người. Người bậc thượng trong thế
gian c̣n chẳng chịu nói dối để đánh mất
phẩm hạnh, huống chi Phật là đại sư của
ba cơi, là cha lành của bốn loài, há lẽ nào tự lập
pháp rồi lại tự ḿnh phạm pháp ư? Do vậy, biết
rằng lời Phật không có mảy may nghĩa nào đáng
ngờ, huống chi bộ truyện Xuân Thu và hai mươi
hai bộ Sử cơi này chép rất nhiều sự tích thiện
- ác báo ứng và sanh tử luân hồi. Tiếc cho người
đời đa phần không xem, hoặc dù có xem cũng
không chịu suy xét kỹ, đọc loáng thoáng qua đến
nỗi cùng bị hăm trong hầm sâu muôn trượng “chẳng
biết nhân quả”. V́ vậy, phải chịu quả báo
thảm thương đồng phận chiêu cảm này.
Hết thảy nhân dân
không ai chẳng muốn an lạc, trường thọ, cửa
nhà yên vui, nhưng hằng ngày cứ giết loài vật
để ăn, khác nào xông vào hầm lửa t́m sự mát mẻ,
uống rượu có chất trầm độc để
cầu trường thọ đâu! Cái nhân đă làm
tương phản cái quả mong cầu, làm sao đạt
được? Năm nay nạn lụt, nạn hạn hán
gần như khắp cả toàn quốc, mấy nơi lại
trải qua đại chiến, gạo quư như ngọc,
dân không lẽ sống! May c̣n hưởng chút b́nh yên,
nhưng nguyên khí nhất thời khó thể khôi phục, oan
hồn c̣n chưa được yên; do vậy, lệ khí (khí
ác, khí hung dữ) kết lại, khó tránh khỏi ôn dịch
hoành hành. Bất Huệ thương xót đồng luân gặp
phải thảm kiếp này, nghĩ muốn dứt trừ
hậu hoạn, cho nên chẳng nề hà tầm thường,
ngu độn, tuân theo sự từ bi cứu tế chúng
sanh, đạo “coi đồng nhân như một” của
đức Như Lai, tŕnh bày phương pháp dự pḥng
để tiêu thiên tai dứt nhân họa.
Nếu có thể mở
rộng tầm mắt, thấu hiểu việc
xương minh tâm “thương dân yêu vật” của thánh
hiền xưa nay và đạo “xem
hết thảy chúng sanh như con một” của đức
Như Lai, đều cùng kiêng giết, bảo vệ sanh vật,
ăn chay, niệm Phật, tận lực giữ vẹn
luân thường, ai nấy tận hết bổn phận,
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
tự hành, dạy người để cầu khắp mọi
giới cùng theo phong thái này. Nhân tâm đă xoay lại, ắt
trời sẽ tự ḥa, sẽ thấy mưa thuận gió
ḥa, dân giàu, của cải dư dật, từ thiện thạnh
hành, can qua vĩnh viễn dứt bặt, lễ nghĩa
hưng khởi, cường bạo chẳng dấy.
Như vậy th́ tuy là người trong đời về
sau mà chẳng khác thuở Hy - Hoàng, c̣n ǵ vui bằng? Nếu
ai nấy đều nương theo tâm lực này để
văn hồi ḷng trời th́ cũng chưa hẳn là không thể
làm được. Vả nữa, chốn chiến trường
tử thi phân hủy, đa phần vùi lấp khe ng̣i, những
xác chết đó bị tôm cá ăn vào, tích chứa oán hận
và những chất từ tử thi rữa nát, ắt mang chất
độc nặng nề. Nếu con người ăn phải
những thứ tôm cá ấy ắt mắc phải tai
ương tật dịch. V́ thế, sau mỗi trận
đại chiến thường có đại dịch,
đều là v́ bụng miệng tham cầu mà nên nỗi! Huống
chi, những con vật đó đă từng ăn thây người
chết, nay con người sao lại nỡ ăn những
thứ đó. Nếu ăn th́ có khác ǵ ăn thịt người
cho mấy? Bất Huệ đă không có đạo lực, lại
chẳng có tài lực, chỉ cậy vào lời nói xuông
để giăi bày tấm ḷng ngu thành, cầu xin những vị
rủ ḷng đọc đến ai nấy đều đem
ḷng thương ḿnh để thương loài vật, khiến
cho loài vật cùng ta đều được an lạc
sanh sống trong chốn trời cao đất dầy th́
may mắn lắm thay!
9. Bàn về
nhân quả là căn bản của thánh giáo Nho và Thích
Nhân quả báo ứng là phương tiện
lớn lao để b́nh trị thiên hạ, độ thoát
chúng sanh của thánh nhân thế gian lẫn xuất thế
gian, nhưng thế nhân chẳng suy xét, đối với lời
dạy của nhà Phật phần nhiều bài xích đủ
cách, hoặc cho là nghĩa lư thiển cận rồi gạt
phăng qua một bên, cậy vào Thế Trí Biện Thông của
chính ḿnh, ch́m đắm dài lâu trong chốn tà kiến nhơ
bẩn. Phàm những nghị luận đều chẳng phải
là đạo căn bản để sửa ḿnh trị
người của thánh hiền, khiến cho điều
thiện không được khuyến khích, điều ác
không bị trừng phạt, dẫn đến mối tệ
tranh giành danh lợi, quyền thế, địa vị,
đến nỗi giết người ngập thành, ngập
đồng chẳng ngưng. Ôi! Đáng buồn thay! Ngôn luận,
sự thực nhân quả báo ứng được thấy
rất nhiều trong kinh sử. Trong kinh Thư th́ ghi “thuận lư đưa đến
điều lành, trái nghịch dẫn đến điều
xấu chỉ v́ ảnh hưởng, làm thiện trăm
điều lành giáng xuống, làm điều bất thiện
trăm tai ương giáng xuống”. Nói như vậy chỉ
là luận trên đời này và con cháu mà thôi.
C̣n như ngũ phước,
lục cực được nói trong sách Hồng Phạm nếu
chẳng suy từ nhân đời trước, cứ quy hết
vào sự cai trị của vua th́ hóa ra là chuyện bàn luận
vô căn cứ; há nào phải là nguồn cội của cái
tâm dạy dỗ muôn đời của vua Vũ và Cơ Tử[37] ư?
Ngũ Phước gồm Thọ (sống lâu), Khang (mạnh
khỏe), Ninh (b́nh yên), Du Hiếu Đức (yêu chuộng
đức), Khảo Mạng Chung (chết tốt lành); và Lục
Cực gồm Hung (xui xẻo), Đoản (chết sớm),
Chiết (gian nan trắc trở), Tật (bệnh hoạn),
Ưu (lo buồn), Ác (xấu xí), Nhược (yếu ớt),
há có phải là do vua dùng quyền hành tạo ra được
như thế hay chăng? Trong ấy, chỉ có giàu và nghèo
là c̣n có thể do con người tạo ra, chứ những
thứ khác đa phần là do túc nhân chiêu cảm. “Ác” chính là
diện mạo xấu ác, chứ không có nghĩa là bạo
ác. Nếu giải thích ác là bạo ác th́ có nghĩa là vua có
thể dùng oai quyền ép người ta phải trở
thành bạo ác ư? Khổng Tử khen ngợi kinh Dịch,
trong phần Văn Ngôn, viết rằng: “Nhà tích thiện ắt điều tốt lành có thừa,
nhà làm điều bất thiện ắt tai ương có thừa!”
Trong phần Hệ Từ Truyện[38]
có câu: “Xét từ cội nguồn
đến chung cục cho nên biết: Nói đến sanh tử
th́ tinh khí là vật, du hồn là biến chuyển. Do vậy,
biết được t́nh trạng của quỷ thần[39]”. Đấy
chẳng phải là nói về nhân quả báo ứng sanh tử
luân hồi hay sao?
C̣n như những chuyện
thiện - ác báo ứng, sanh tử luân hồi trong Xuân Thu Tả
Truyện[40] và hai mươi hai
bộ sử nhiều không thể ghi hết, bộ Nhị
Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục hai quyển chỉ
ghi được một phần, hay mười phần
trong trăm ngàn mà thôi! Do vậy biết rằng nếu nhà
Nho không tin vào sự lư nhân quả báo ứng sanh tử luân hồi
th́ chẳng những trái nghịch kinh Phật mà thật ra c̣n
trái nghịch thiên mạng, khinh rẻ lời thánh nhân nữa!
Nếu không, sáu kinh sẽ chẳng phải là sách vở của
Nho gia; Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vơ, Châu, Khổng
và những vị chép sử các đời đều là tội
nhân dối đời lừa dân, có lẽ ấy chăng? Nếu
không có nhân quả ba đời th́ hóa ra trời ban phát cho
con người không công b́nh, làm thiện uổng công, làm ác
được lợi! Chỉ là do đời trước
có công hay gây lỗi sai khác nên đời này hưởng thụ
khác biệt. Do đó nói: “Vĩnh
viễn hợp với ḷng trời, tự cầu nhiều
phước[41],
họa phước vô môn, chỉ do con người tự
chuốc lấy”. Do vậy, kinh Phật mới dạy: “Muốn biết cái nhân đời
trước th́ [hăy nh́n] vào những ǵ được hưởng
trong đời này; muốn biết cái quả của đời
sau [hăy nh́n vào] những việc làm trong đời này”.
Hiểu rơ điều
này th́ khổ, sướng, hên, xui đều do tội
phước của chính ḿnh chiêu cảm, chứ không phải
do trời giáng xuống, cũng chẳng phải do ai khác tạo
ra. Do vậy, người quân tử chăm tu đức
ḿnh, hành xử thuận theo địa vị, trên chẳng
oán trời, dưới chẳng trách người. V́ thế,
kinh dạy: “Bồ Tát sợ
nhân, chúng sanh sợ quả”. Do sợ nhân nên dùng Giới -
Định - Huệ để chế phục cái tâm; khiến
cho ư niệm tham - sân - si không do đâu khởi lên được!
Khởi tâm động niệm, lời lẽ, hành vi, không
ǵ chẳng phải là lục độ vạn hạnh, là
đạo lợi người giúp vật, khi tích chứa
đến cùng cực, công thuần thục th́ phước
huệ vẹn cả đôi bề, triệt chứng tự
tâm, dùng đó để viên thành Phật đạo. Chúng
sanh chẳng biết quả do nhân chiêu cảm, niệm niệm
cứ chăm chú phát khởi tham - sân - si, cho nên hành vi không
ǵ chẳng phải là giết - trộm - dâm. Nhưng hai nghiệp
dâm - trộm th́ bậc thượng trí bị nghĩa ràng
buộc, kẻ hạ ngu do t́nh thế ngăn cản nên
không đến nỗi quá đáng, chứ sát sanh ăn thịt
có thể nói là chuyện đương nhiên. Do vậy, hoặc
dùng trí để đánh bắt, hoặc dùng tiền của
mong cầu, bắt hết thảy chúng sanh sống trên cạn,
dưới nước, trên không, rồi giết chóc, cắt
xẻ, nấu nướng cho sướng bụng miệng,
nuôi thân thể ta, cũng như dùng để dâng lên cha mẹ,
cúng kiếng tổ tông, tế lễ quỷ thần,
đăi đằng khách khứa, chỉ cốt sướng
ḿnh, chẳng nghĩ đến nỗi khổ của chúng
nó. Người khắp cơi đời thảy đều
như thế! Sát nghiệp tích tụ lâu ngày sẽ phát sanh
tai nạn đao binh, lụt lội, hạn hán, tật dịch
v.v… Nghiệp quả đă chín muồi th́ không cách nào trốn
tránh được, dẫu có sanh ḷng sợ hăi cũng chẳng
ích ǵ! Do vậy, đức Như Lai thương các chúng
sanh, dạy yêu tiếc tánh mạng loài vật, chớ nên
ăn thịt. Ḷng thương dân ấy hết sức sâu
xa, chứ nào phải chỉ yêu thương loài vật mà
thôi ư?
Người cùng quê với
tôi là cư sĩ Vương Ấu Nông xưa đă trồng
cội đức, dốc ḷng tin tưởng Phật thừa,
bẩm tánh liêm khiết, phỏng theo “bốn điều biết”
của Dương Chấn[42]
để tu tŕ nghiêm minh, học theo “ba lượt phản
tỉnh” của Tăng Tử, bất luận ra làm quan hay ở
nhà đều chuyên chú thương dân yêu vật, đau
đáu nghĩ nỗi thảm đao binh mấy năm gần
đây, muốn giải quyết vấn đề từ
căn bản, nên cùng vợ ăn chay trường, lại
c̣n cực lực đề xướng nhân quả báo ứng,
sanh tử luân hồi, kiêng giết, bảo vệ sanh vật,
ăn chay, niệm Phật, để mong sát nghiệp dứt,
thiên hạ thái b́nh, phong tục nhân hậu được
thạnh hành, nhân dân yên vui. Lại muốn cho con cháu đời
đời tuân giữ thành quy củ, bèn xin tôi phát huy
nghĩa lư cùng tột của nhân quả, khiến cho con cháu
có cái để noi theo, cũng có thể gọi là “người
biết được cái gốc” vậy! Thiên hạ loạn
lạc là do gia đ́nh không khéo dạy, khiến cho những
đứa có thiên tư quen thói cuồng vọng, đứa
không thiên tư cam bề ngu độn. Hai loại này đều
chẳng phải là phước cho quốc gia xă hội. Do
đó biết: Dạy con là cái gốc của b́nh trị, dạy
con gái lại càng thiết yếu nhất, bởi lẽ hiền
nữ ngày nay mai kia sẽ là hiền thê, hiền mẫu của
người. Con người được hiền mẫu
giáo dục, được hiền thê phụ trợ, há có
ai chẳng thành hiền nhân ư? V́ thế mới nói: “Dạy con gái chính là căn bản
để thiên hạ thái b́nh vậy!”
10. Phổ
khuyến kiêng giết ăn chay để văn hồi kiếp
vận
Thế nhân quen thói tàn nhẫn lắm
thay! Chuyện ǵ cũng lấy sát sanh để thành lễ,
chẳng biết như vậy là sai! Hết thảy chúng
sanh cùng ta sống trong ṿng trời đất, đồng
có cái thân huyết nhục, đồng bẩm thụ tánh
tri giác, cùng biết t́m lành tránh dữ, tham sống sợ chết.
Huống chi kinh Phật thường nói: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh,
đều kham làm Phật, đều trong vô lượng kiếp
đến nay, đây - kia làm cha mẹ, anh em, vợ con, quyến
thuộc của nhau”. Há có nên v́ muốn báo ân, báo đức,
cầu phước, cầu thọ, hoặc tế lễ
thiên địa, thần thánh, và cúng giỗ tổ tông, họ
hàng, hoặc phụng dưỡng cha mẹ, hoặc đăi
đằng bè bạn, hoặc v́ sướng khoái bụng
miệng ta, bồi bổ thân thể ta, mà chuyện ǵ
cũng đều giết các sanh mạng để mong bày
tỏ tấc ḷng thành của ta, thỏa thích tâm ta, chẳng
nghĩ đến chúng nó bị các nỗi khổ cùng cực,
chẳng đoái nghĩ đại ân thân thuộc đời
trước vậy.
Vả nữa, thiên
địa lấy hiếu sanh làm đức, Nho gia vâng giữ
ư niệm “cùng là ruột thịt, vật giống hệt
như ta”, sao chẳng sanh tâm trắc ẩn nhân từ
yêu vật mà cứ quen thói bạo hành mạnh ăn thịt
yếu? Phải yêu thương loài vật th́ mới có thể
thương dân được, hễ thương dân ắt
phải yêu thương loài vật. Nếu đối với
dị loại c̣n chẳng nỡ giết th́ chắc chắn
chẳng nỡ giết hại người dân là đồng
loại của ta. Nếu coi giết hại loài vật là
chuyện b́nh thường, ắt sẽ giết người
ngập thành ngập đồng chẳng những không
thương xót, ngược lại c̣n coi đó là sung
sướng, khoái trá. Ấy là v́ hễ thói giết chóc vừa
tăng trưởng th́ cái tâm nhân từ bị mất ngay! C̣n
như tế lễ thiên địa, thánh nhân, há chẳng thể
dùng nếp, gạo thơm[43],
rau, quả để tỏ ḷng thành, cần ǵ cứ phải
sát hại mạng loài vật?
Chúng ta sống trong ṿng
trời đất, được trời đất che
chở th́ phải nên tích đức, làm điều nhân
để bổ khuyết quyền dưỡng dục của
trời đất. Nếu luận về chuyện báo ân, dù
có tan xương nát thân cũng khó thể báo đáp được
muôn một, há những loại thịt trâu, dê, lợn… tanh
tưởi, hôi dơ có thể [dùng để] báo ân
được ư? Huống chi Thiên Đế và người
cơi trời thanh tịnh, thơm tho, thanh khiết há lẽ
nào c̣n hâm hưởng[44] những
mùi vị ô trược, hôi nhơ ấy chăng? Ấy chính
là dùng cái tâm tham lam cốt thỏa bụng miệng của
chính ḿnh để suy lường tâm trời đất. Lại
xem trời đất như những quỷ thần ở
trên không, dưới nước th́ vu báng, miệt thị,
khinh nhờn, ô nhục thiên địa quá đáng! Ngay
như hai kỳ tế lễ Xuân - Thu ở thánh miếu
văn vơ, các tỉnh, phủ, châu, huyện đều giết
trâu, dê, lợn v.v… để cúng tế, coi đó là báo ân
đáp đức, sùng thánh trọng đạo. Quang Tự
nguyên niên (1875) đời Thanh, tại Văn Miếu thuộc
tỉnh thành Thiểm Tây, một ngày trước bữa tế
mùa Thu, tôi đến đó lễ yết. Trong điện
Đại Thành, những con trâu, dê, lợn v.v… đều
bày trên giá, để nguyên con, chỉ mổ bỏ ruột
gan mà thôi. Mùi tanh hôi, t́nh trạng thê thảm gai mắt nhức
mũi, chẳng nỡ thấy nghe! Khi ấy, tôi vừa mới
theo đ̣i học vấn, vẫn c̣n bắt chước
Hàn, Âu báng Phật, mà đă khôn ngăn than thở sườn
sượt: “Có nên rốt cục biến ḷng kính trọng
thánh nhân rốt cuộc thành sự khinh nhờn thánh nhân
đến mức độ cùng cực như thế này
chăng?” Cứ thử bảo những người tế
lễ ấy ngủ lại qua đêm trong điện để
họ nh́n cho quen mắt, mũi ngửi cho quen mùi, ắt họ
sẽ cật lực cự tuyệt chẳng chịu ở!
Huống ǵ là bậc đại thánh nhân “Tổ Thuật
Nghiêu Thuấn, Hiến Chương Văn Vũ, Vạn Thế
Sư Biểu”[45]
trăm đời của Nho Gia lại cam ḷng hâm hưởng
những vật ô uế chẳng thể kham nổi ấy
ư?
Lại như ở
phía Đông ngoài cửa miếu là chỗ để giết
trâu, tôi trông thấy một cái nồi lớn, nước
chứa trong ấy ô trược chẳng thể kham nổi
v́ nó là nước để rửa trâu. Nghĩ đến
liền muốn phát ói. Than ôi! Bẩn thỉu đến thế
mà dùng làm lễ để kính thánh nhân được ư?
Nếp, tẻ không thơm tho, do Minh Đức bèn thành thơm
tho, sao không dùng nếp, gạo thơm, rau, quả để
tỏ ḷng chí thành? Hơn hai ngàn huyện trong thiên hạ, mỗi
năm hai lần khinh nhờn Văn Vơ nhị thánh[46],
khiến cho mấy vạn sanh linh đều lâm vào tử
địa, thật là khinh thánh giết vật quá lớn!
Sao không có bậc đại nhân tôn kính thánh nhân, yêu tiếc
sanh mạng loài vật ra mặt thay đổi vĩnh viễn
lệ cũ, lập ra cách thức mới, khiến cho oai
linh của hai vị thánh chẳng bị những thứ
đó xông sực ô uế, mấy vạn sanh mạng chẳng
bị làm thịt để làm thức ăn cho những
người tế lễ? Thánh nhân ôm ḷng thương dân yêu
vật, nào muốn chính ḿnh bị ô uế, khinh miệt, lại
c̣n làm cho mấy vạn sanh linh cùng lâm vào tử địa
ư?
Quan Đế lúc c̣n sống
th́ tinh trung ḷa nhật nguyệt, hạo khí ngút trời
đất, phú quư chẳng dâm, nghèo hèn chẳng thay đổi,
oai vũ chẳng khuất phục được, mất
đi làm thần cai quản núi Ngọc Tuyền. Thời
Tùy Văn Đế, Trí Giả đại sư đến
Ngọc Tuyền[47],
Quan Đế bèn vận dụng thần lực xây dựng
chùa miếu, lại cầu được truyền giới
để làm cái gốc cho đạo Bồ Đề, và
phát nguyện ủng hộ Phật pháp (xem Quan Đế
Toàn Thư và Ngọc Tuyền Tự Chí). V́ thế, các tùng lâm trong thiên hạ đều gọi
Ngài là Già Lam Bồ Tát, cùng với Vi Đà Bồ Tát trấn
giữ sơn môn. Hơn một ngàn năm qua, hộ quốc,
hộ dân, được tôn lên địa vị đế
vương, há cam ḷng nhận lănh những con trâu, dê, lợn
v.v… c̣n sống ô uế chẳng kham nổi, cho chúng nó là những
thứ ngon lành để hâm hưởng ư? Dẫu là bọn
tham ăn hèn tệ cùng cực trong thế gian cũng chẳng
đành ḷng ngửi những thứ hôi nhơ ấy, mà lại
bảo là Quan Đế ưng chịu ư? Sao lại coi
hai vị thánh nhân văn vơ hèn tệ cùng cực đến như
thế ấy? Ô hô, buồn thay! Nếu như có bậc
đại nhân hiểu rơ lư lẽ, thực hành ḷng kính thật
sự dấy lên sửa bỏ thói quen hèn hạ khinh thánh hại
vật ấy, tôi sẽ thơm thảo đảnh lễ,
chúc tụng khôn ngằn.
C̣n như cúng bái tổ
tông cố nhiên nên dùng nếp, gạo thơm, rau, quả
để tỏ ḷng kính, cần ǵ phải giết chóc hoặc
mua từ hàng đồ tể? Cổ nhân cúng tổ tiên c̣n
cầu thóc lúa từ nơi người nhân, nay v́ trọn hết
ḷng thành tưởng nhớ người trước mà khiến
cho những loài vật kia đều chịu nỗi thảm
bị giết hại cắt xẻ, chẳng những
đánh mất ḷng nhân trắc ẩn của chính ta mà c̣n
đánh mất sâu xa đạo tôn kính tổ tiên! Lấy giết
chóc để tỏ ḷng kính, ấy là đại nghịch!
Huống chi tổ tông chẳng phải là bậc thánh nhân
đă đoạn Hoặc chứng chân, ắt phải luân hồi
trong lục đạo tam đồ, chẳng v́ họ làm
phước để họ được siêu thăng
th́ là đă đánh mất đạo của người
đời sau, há có nên mặc t́nh sát sanh gây nên chuyện “đă
té giếng c̣n bị quăng đá” nữa ư?
C̣n như phụng
dưỡng cha mẹ, thức ăn rau quả há chẳng
đủ vị ngọt bùi mà cần phải ăn thịt,
hăm cha mẹ vào cảnh đời đời kiếp kiếp
bị giết để đền trả mối nợ
oan uổng v́ được ta hiếu dưỡng hay
chăng? Nếu chẳng biết sự lư tam thế nhân quả,
luân hồi lục đạo th́ c̣n dung thứ được.
Nay đă hiểu rơ chuyện người và súc sanh tuần
hoàn, báo ứng, những chuyện ấy được thấy
thấu triệt trong hai mươi bốn bộ sử và
các sách vở, mà vẫn cố chấp thói quen hèn tệ chẳng
chịu sửa đổi, cứ mong cho chính ḿnh và cha mẹ
cùng chịu báo này, kẻ như vậy chẳng phải là
mất trí cuồng tâm, đem phê sương, trầm độc
dâng cho cha mẹ mà mong được trường thọ,
yên vui ư? Đáng buồn thay! (Những sự tích nhân
quả ba đời, luân hồi lục đạo trong sử
chép rất nhiều. Muốn biết đại khái th́ hăy
xem sáu câu vấn đáp về vấn đề “thân diệt,
tinh thần vẫn c̣n” trong ba trang từ bốn mươi
ba đến bốn mươi lăm của bộ Dục
Hải Hồi Cuồng sẽ biết đại lược.
Lại nữa, Phật, Bồ Tát muốn làm cho con người
kiêng giết, phóng sanh nên dùng ḷng đại từ bi, thị
hiện thân trong dị loại, giết rồi mới biết
là thánh nhân thị hiện, khiến cho con người chẳng
dám giết các loài vật để ăn ngơ hầu đây -
kia cùng được giải thoát. Chuyện như vậy
rất nhiều, chẳng thể ghi trọn, nên xem trang ba
mươi “Vật loại hiện tướng” (hiện
thân trong loài vật) trong quyển 1 của bộ Quán Thế
Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng sẽ biết
đại khái. Nguyện những người xem đến
đều sanh chánh tín).
Nói đến chuyện
đăi đằng bạn bè, vốn nhằm để thỏa
ḷng, phô bày t́nh cảm, sao lại dùng chuyện sát sanh thê thảm
để giúp cho bữa tiệc thanh khiết ấy? Loài vật
cùng với ta và bạn ta chẳng hề có nỗi oán giết
cha, sao lại xẻ thịt chúng bày thành tiệc để
giúp cho khách khứa vui sướng? Cứ thử nghĩ
đến tiền nhân hậu quả th́ dù có ăn cũng
chẳng thể nuốt trôi được! Người
đời cưới vợ sanh con vốn để tiếp
nối ḍng giống, đó là chuyện tốt lành nhất,
nếu như ăn thịt th́ không c̣n ǵ hung hiểm hơn
được! Ta muốn cho vợ chồng giai lăo, con cháu
đầy đàn mà làm cho những con vật kia chịu nỗi
bi thương ĺa bầy, hoặc bị nỗi thảm dao
xẻ; đêm thanh suy nghĩ, yên ḷng được
chăng? Lại người ta cứ mỗi khi gặp dịp
vui như chúc thọ, cưới vợ, sanh con v.v… nếu
vô ư nói đến những chữ Chết, Tang v.v… chủ
nhân không vui, nếu có chuyện như làm vỡ đồ
đạc chẳng hạn liền cho là bất tường.
Cớ sao giết các sanh mạng, cắt, chặt, nấu,
nướng, cho đến xé ăn, lại ngược ngạo
coi là vui, là lễ, là tốt lành, may mắn? Thật ra, ấy
là cái tâm ǵ vậy? Chính là [làm theo] thói quen không suy nghĩ
đó thôi!
Nếu nói đến
chuyện để tự cung phụng ḿnh th́ lại càng
không nên giết. Nên nghĩ rằng: Ta sanh trong thế gian có
công đức ǵ đối với nhân dân, có phước
trạch ǵ đối với tổ tông, cha mẹ, nay
được nhờ phước ấm của tổ
tông, cha mẹ che chở sâu dầy, chẳng cực lực
làm lành để tăng thêm phước cho tổ tông, cha mẹ,
lại cứ mặc t́nh sát sanh ăn thịt, chẳng những
bất lợi cho ḿnh, mà c̣n gây liên lụy cho tổ tông, cha
mẹ. Huống chi ta bẩm thụ di thể từ cha mẹ,
hằng ngày dùng loài vật để bồi bổ, lâu ngày
khí chất sẽ biến đổi theo, thật đáng sợ!
Nay tôi nêu chứng cứ đại lược ngơ hầu
người biết yêu thương chính ḿnh sẽ tận
lực dứt bỏ thói tham ăn ngon ấy. Sách Vạn
Thiện Tiên Tư chép: “Đàn
bà có thai ăn thịt thỏ th́ con bị môi sứt, ăn
thịt sẻ th́ mắt lé, ăn cua th́ phần nhiều
con bị đẻ ngang, ăn ba ba th́ cổ ngắn đầu
teo, ăn cá ch́nh, lươn th́ phần nhiều khó sanh,
ăn thịt ếch th́ phần nhiều con bị câm ngọng”.
Sách Đại Đới Lễ[48]
chép: “Ăn thịt th́ dũng cảm
nhưng hung hăn, ăn ngũ cốc th́ trí huệ, nhưng
khéo léo; đều là khí chất bị chuyển biến
theo khí chất của từng loài, từng vật vậy”.
Khí chất do cha mẹ để lại cho ta v́ ăn thịt
mà dần dần bị biến đổi ngấm ngầm
thành khí chất của loài vật, đấy là đại
bất hiếu. Từng thấy [người ta] chữa trị
kẻ cứa cổ nhưng chưa đứt khí quản
bằng cách cắt thịt chim hay thịt gà sống đắp
vào chỗ bị thương, khi lành rồi chỗ ấy bèn
mọc lên lông gà. Tuy đắp ở bên ngoài nhưng chỗ
ấy vẫn là thể chất của súc vật. [Như vậy]
suốt cả đời ăn thịt để bồi
đắp bên trong há chẳng đáng kinh sợ hoảng hốt
ư? Như vậy là ǵn giữ di thể được bẩm
thụ từ cha mẹ đó sao? Huống chi chất thịt
đều chứa chất độc, do lúc bị giết
hận tâm kết lại cho nên người ăn thịt
phần nhiều hay sanh ghẻ chốc, khi ôn dịch
lưu hành hay mắc bịnh truyền nhiễm. Người
ăn chay thường ít mắc phải những chứng ấy.
Phàm muốn giải thoát oán nghiệp, giữ ǵn thân thể
th́ không thể không biết [chuyện này].
Nếu nói “tam sanh
ngũ đỉnh[49],
nhờ vào loài vật để tỏ ḷng thành; nếu
như ông vừa nói th́ pháp do cổ thánh hiền đă lập
đều sai trái hết hay sao?” Đáp: Thánh hiền thuận
theo thói tục mà lập pháp, lúc đầu chẳng phải
là thật nghĩa rốt ráo. Nay đă biết chuyện
luân hồi của người và súc sanh th́ cố nhiên phải
bỏ Quyền theo Thật, há nên chấp Quyền bỏ Thật,
tổn thương đức hiếu sanh của trời
đất, chôn vùi ḷng nhân bất nhẫn của chính ḿnh.
Huống chi nhờ vào vật để tỏ ḷng thành th́ sao
không mượn nếp, gạo thơm, rau, quả mà cứ
phải dùng những vật máu thịt ô uế? Há chẳng
phải là nói trời, đất, đức Khổng,
đức Quan thích vật nhơ uế, ghét những món
thanh khiết ư? Không có ǵ khác ngoài quen thói chẳng biết
là sai đó thôi! Đến như việc cúng tổ, phụng
dưỡng cha mẹ, đăi khách, tự dùng, hễ nh́n lại
sẽ biết rơ là sai, đều thay đổi thói cũ,
nên chẳng nói rơ.
Nếu như lại
nói: “Nếu như ông nói th́ hoàn toàn chẳng sát sanh ăn thịt,
ắt loài vật sẽ đầy dẫy trọn khắp
thế giới, biết làm sao đây?” Đáp: Những thứ
con người ăn đều là do con người làm cho
nó sanh sôi nẩy nở. Những loài lợn, dê, gà, vịt
kia nếu như nhốt riêng các loài đực - cái, trống
- mái th́ chưa quá mười năm, chúng nó sẽ vĩnh
viễn không tồn tại nữa! Huống chi những giống
cọp, báo, chó sói, rắn, rết, con người đều
chẳng ăn sao từ cổ đến nay chúng chẳng
đầy khắp thế giới vậy? Phải biết:
Nếu người ăn thịt nhiều th́ người
ta lập ra cách để những giống lợn, dê, gà, vịt
v.v… sanh trưởng cho nhiều, thật ra quá nửa đều
là v́ bụng miệng tham muốn, chẳng tiếc mạng
loài vật, phải theo nghiệp thọ báo, thác sanh trong những
loài vật ấy để bị người ta giết
ăn!
Do vậy, kinh Lăng
Nghiêm nói: “Tham lẫn ái cùng nẩy
nở. Do tham chẳng thể ngưng dứt nên các loài noăn,
thai, thấp, hóa trong thế gian cậy mạnh hiếp yếu,
ăn nuốt lẫn nhau. Người ăn dê, dê chết
thành người, người chết thành dê, như thế
cho đến mười thứ sanh loại, chết chết
sống sống ăn nuốt lẫn nhau”. Kinh Phạm
Vơng dạy: “Nếu là đệ
tử Phật th́ do từ tâm bèn hành nghiệp phóng sanh, hết
thảy người nam đều là cha, hết thảy
người nữ đều là mẹ ta. Đời đời
ta chẳng bao giờ không sanh ra từ họ”. V́ thế
lục đạo chúng sanh đều là cha mẹ ta, giết
để ăn thịt chính là giết cha mẹ. Kinh
Lăng Già dạy: “Hết thảy
chúng sanh từ vô thủy đến nay luân hồi chẳng
ngơi trong sanh tử, không ai chẳng từng làm cha mẹ,
anh em, con cái, quyến thuộc cho đến bạn bè,
người thân yêu, kẻ hầu hạ, sang đời
khác mang thân chim, thú v.v… Sao lại bắt lấy chúng để
ăn thịt?” Trong các kinh Đại Thừa, những
câu nói như vậy nhiều lắm, khó thể trích đủ.
Quán lời Phật dạy,
có thể biết rằng cái họa sát sanh ăn thịt rất
sâu, con người và súc vật tuần hoàn, giết ăn
lẫn nhau. Nếu vẫn chấp mê chẳng ngộ th́ trở
thành “kẻ đáng thương xót” như đức
Như Lai đă gọi. Phải biết kiếp đao binh đều
do sát sanh phát khởi. Một ngày trong thế gian chẳng biết
giết mấy vạn vạn triệu! Do ác tâm sát sanh
ăn thịt và tâm oán hận của những con vật bị
giết kết thành kiếp đao binh. Mười mấy
năm qua, trong nước ngoài nước chiến tranh,
người bị tử vong số đến vạn vạn.
Huống hồ thiên tai liên tiếp giáng xuống, lụt lội,
hạn hán, ôn dịch, băo lốc, động đất, biển
trào, sông tràn, thổ phỉ, đạo tặc, các thứ
tai nạn xảy ra dồn dập, thóc gạo đắt
đỏ, dân không lẽ sống. Bọn ta gặp phải
thời đại này mà vẫn chẳng phát ḷng tự
thương xót, tâm tự thương ḿnh xót người
để mong văn hồi kiếp vận th́ c̣n quư báu ǵ để
dự vào trong số mục Tam Tài, là “vạn vật chi linh” nữa ư? Nỡ dùng tâm
tánh “sẵn đủ Nghiêu - Thuấn,
có thể thành Phật” để trầm luân bao kiếp
dài lâu trong biển nghiệp ăn giết lẫn nhau không
thể thoát ra được th́ chẳng đáng buồn
ư?
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao
Quyển
thứ tư
Phần 2
hết
[1] Theo Hoành Xuyên Ḥa Thượng Ngữ Lục, sách số 1.411 trong Vạn Tục Tạng Kinh, tập 71, ḥa thượng Bí Ma Nham mỗi khi trông thấy có vị Tăng nào đi đến liền giơ chĩa ba bằng gỗ lên bảo: “Ma mị nào dạy ông xuất gia? Ma mị nào dạy ông hành? Nói được cũng bị đâm chết! Nói không được cũng bị đâm chết! Nói mau! Nói mau! Bí Ma giơ chĩa ba, trắc nghiệm xem ông vốn là ai, nói được bị đâm chết, chẳng phụ tấm thân này!”
[2] Bồ Y đồng tử là đứa
trẻ mặc áo kết bằng cỏ Bồ. Theo sách
Ngũ Đài Sơn Linh Tích, thời Tống Thần Tông,
Thái Úy Lă Huệ Khanh thông hiểu Phật pháp, từng chú giải
bộ Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán, nhân lúc nhàn hạ, du ngoạn
Ngũ Đài Sơn, cùng thuộc hạ ngắm cảnh chỉ
trỏ bàn bạc xôn xao rất cao hứng. Đoàn người
vừa lên trên cao, chợt quang cảnh biến đổi
đột ngột, trời đang quang đăng bỗng
sương phủ mịt mù, cuồng phong ào ạt, chớp
xẹt loang loáng, mưa như trút nước, sấm nổ
inh tai. Đang trong lúc chớp xẹt sáng ḷa, mọi người
thấy trong mây như có h́nh rồng rắn bay vút lên, nhiều
h́nh trạng dị thường khiến bọn họ kinh
hoảng ngă lăn ra đất. Một lúc sau, trời lại
tạnh ráo, quang đăng. Bọn người Lă Thái Úy
chưa hết kinh sợ, chợt thấy có một đồng
tử tóc xơa dài, mặc áo kết bằng cỏ Bồ,
để hở vai phải, đi tới hỏi: “Quan nhân
thấy ǵ mà kinh hăi đến thế?” Họ Lă đáp: “Ta
nghĩ chắc đời trước tạo ác nghiệp,
sắp bị cơn mưa to giết chết!” Đồng
tử cười: “Mưa to có ǵ mà đáng sợ? Không phải
hết mưa rồi sao? Quan nhân đến Ngũ Đài cầu
khẩn điều ǵ?” Họ Lă đáp: “Muốn thấy thắng
tích của Bồ Tát Văn Thù”. Đồng tử bảo:
“V́ sao ông muốn thấy Văn Thù Bồ Tát? Đáp: “Tôi từng
đọc Hoa Nghiêm, nhưng ư chỉ kinh rộng sâu, có những
chỗ không hiểu được, nên nghĩ tưởng
Văn Thù Đại Sĩ, hy vọng Ngài chỉ điểm
một đôi điều. Nếu được như vậy,
tôi sẽ chú giải kinh Hoa Nghiêm để kinh ấy được
lưu truyền hậu thế, khải phát hậu nhân”.
Đồng tử bảo: “Diệu ư của chư Phật
khéo thuận sự lư, giản dị, minh bạch, xem chú giải
của người đời trước liền hiểu
rơ, như Thập Địa Phẩm chỉ giải thích
dưới mỗi câu mấy ḍng. Hiện thời dài ḍng
lan man, chú giải cả mấy trăm quyển, càng muốn
giải thích ư Phật, càng xa cách ư Phật! Quả thật,
càng giải cặn kẽ, càng khiến cho Phật giáo bị
chi ly, vụn vặt!”. Họ Lă hỏi: “Xem dáng vẻ,
ngươi bất quá chỉ là một đứa trẻ,
sao lại dám lớn mật chê trách cao tăng đến thế?”.
Đồng tử cười x̣a: “Quan nhân hiểu lầm rồi!
Núi này, mỗi một ngọn cỏ, một cái cây không ǵ chẳng
phải là cảnh thù thắng của Văn Thù Bồ Tát.
Nhắn với những ai đến đây, chỉ cần
trong sanh hoạt thường nhật gặp chuyện chẳng
mê th́ đấy chính là Văn Thù Đại Sĩ thật sự.
Cần ǵ phải dùng phàm t́nh để suy nghĩ loạn cả
lên, thật xa cách cảnh giới Phật quá sức!” Lă
Thái Úy nghe vậy, trong tâm giải ngộ, biết ḿnh sai lầm,
cúi đầu lạy tạ. Ngẩng đầu lên, liền
thấy đồng tử đă biến thành Bồ Tát
Văn Thù, cưỡi sư tử xanh, bay lên không trung. Thái
Úy gặp Bồ Tát mà không biết, hối hận khôn cùng,
trở về nhà, tận lực thờ kính, mong gặp lại
Bồ Tát. Không lâu sau lại thấy đồng tử mặc
áo bằng cỏ Bồ, hiện trong khói hương, quở
trách: “Không ngờ ngươi vẫn tham chấp vào h́nh
tướng!” Lă Thái Úy thưa: “Con nghĩ người đời
đều mong thấy được dung mạo Bồ
Tát”, rồi vẽ h́nh Ngài. Vẽ xong, Bồ Tát biến mất!
[3] Hoàn là tên một nước nhỏ vào thời Xuân Thu, nằm ngay trong địa phận tỉnh An Huy nên An Huy cũng thường được gọi là Hoàn (có khi c̣n đọc là Hoán)
[4] Thái Thương là một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Giang Tô.
[5] Đây là tập tục của vùng Giang Tô, ngoài trai kỳ thường nhật, mỗi năm người ta ăn chay thêm hai kỳ: Kỳ thứ nhất từ ngày mồng Một tháng Hai đến ngày 19 tháng Hai (ngày vía Quán Âm đản sanh), kỳ thứ hai từ ngày mồng Một tháng Chín đến 19 tháng Chín (ngày vía Quán Âm thành đạo).
[6] Tức Đại Bi Sám Pháp do ngài Tứ Minh Tri Lễ của tông Thiên Thai soạn vào đời Tống. Sám pháp được soạn theo bản kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni do ngài Già Phạm Đạt Ma dịch, nội dung gồm đảnh lễ, quán niệm, sám hối, xưng dương Quán Thế Âm Bồ Tát và tụng chú Đại Bi để nguyện tiêu tai chướng, tăng trưởng phước huệ, lâm chung văng sanh Tây Phương Cực Lạc.
[7] Hoàng Kính là một tiểu thị trấn cũng thuộc tỉnh Giang Tô, thuộc ngoại vi thành phố Tô Châu.
[8] Lư tướng quốc chính là Lư Hồng Chương (1823-1901), một danh tướng trải các đời Hàm Phong - Đồng Trị - Quang Tự, ông đă giúp Tăng Quốc Phiên dẹp loạn Thái B́nh Thiên Quốc.
[9] Thích kinh là giải thích ư nghĩa từng đoạn kinh văn, hay từng câu, từng từ ngữ, c̣n “tông kinh” là chỉ phát huy tông chỉ, phương pháp tu hành được dạy bởi kinh. Chẳng hạn như bộ Văng Sanh Luận (Vô Lượng Thọ Ưu Ba Đề Xá) chính là Tông Kinh, v́ trong tác phẩm này, tổ Thiên Thân chỉ nhấn mạnh những giáo nghĩa chánh yếu của kinh và đề ra năm môn tu niệm (Ngũ Quán Môn).
[10] Tần Già Tạng: Gọi đủ là
Tần Già Bản Đại Tạng Kinh, do Tần Già tinh
xá ấn hành. Vào năm thứ ba đời vua Tuyên Thống
nhà Thanh (1911), tinh xá Tần Già ở Thượng Hải
dùng lối in chữ rời (hoạt tự) để ấn
hành Đại Tạng, đến năm Dân Quốc thứ
9 (1920) mới hoàn thành, toàn tạng tổng cộng gồm
414 tập, chia thành 1.916 bộ. Bản này lấy bản in
của Hoằng Giáo Thư Viện Nhật Bản làm gốc,
tham khảo các bản khác như Kính Sơn Tạng, Long Tạng
(Đại Tạng Kinh được ấn hành bởi
vua Càn Long) cũng như các bản kinh được
lưu hành riêng lẻ. Điểm đặc sắc của
bản Hoằng Giáo là ghi chú tỉ mỉ những dị biệt
giữa các bản trước đó, nhưng bản Tần
Già lại lược bỏ những chỗ ghi chú ấy
nên mất đi giá trị học thuật.
[11] Xă hữu: Thành viên của liên xă.
[12] Cô con gái này họ Hồng, gả về làm dâu họ Vương nên gọi là Vương Hồng Thị.
[13] Địa Mẫu chính là Mẹ Đất trong tín ngưỡng dân gian Trung Hoa, được nhân cách hóa thành một vị nữ thần. Bà thường được thờ dưới dạng một vị thánh mẫu, danh xưng đầy đủ là: Vô Thượng Hư Không Địa Mẫu Huyền Hóa Dưỡng Sanh Bảo Mạng Nguyên Quân, hoặc chỉ gọi gọn là Địa Mẫu Nương Nương. Những người coi sóc Hỗn Độn Cổ Phụng Cung (miếu thờ Địa Mẫu ở trấn Ngọc Lư, huyện Hoa Liên, Đài Loan) thậm chí c̣n coi Địa Mẫu tương ứng với Thượng Đế sáng tạo trong thần thoại phương Tây, và xem những danh hiệu Hồng Mông Lăo Tổ, Hỗn Độn Lăo Tổ, Vô Cực Chí Tôn, Vô Cực Lăo Mẫu đều là những biệt danh của Địa Mẫu Nương Nương.
[14] Ninh Đô là một
huyện thuộc vùng Đông
[15] Như Cao là một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Giang Tô, giáp ranh Thượng Hải.
[16] Quật Cảng là một tiểu trấn thuộc huyện Như Đông, tỉnh Giang Tô.
[17] Tức cuộc cách mạng Tân Hợi, lật đổ Thanh Triều lập ra Dân Quốc.
[18] Trừu (c̣n đọc là Trù) là một loại vải lụa mỏng, mịn mặt, c̣n Đoạn gần giống như vải satin hiện thời.
[19] Kim Quang Minh kinh (Suvarnaprabhāsottama Sūtra) cùng với kinh
Pháp Hoa, kinh Nhân Vương Hộ Quốc được
coi là ba bộ kinh trấn giữ đất nước. Tụng
kinh này sẽ được Tứ Thiên Vương hộ
vệ quốc gia. Phẩm trọng yếu nhất của
kinh này là phẩm Thọ Lượng. Trong phẩm này, Tín
Tướng Bồ Tát nghi tại sao thọ mạng của
Phật ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm, khi
ấy, bốn phương Phật liền hiện thân nói
tướng thọ mạng dài lâu của Phật. Phẩm
trọng yếu thứ hai là phẩm Sám Hối, tán thán giáo
pháp Kim Quang Minh và công đức của pháp sám hối Kim
Quang Minh. Chú Thiện Thiên Nữ trong Thập Chú thuộc thời
công phu buổi sáng trích từ kinh này. Kinh này gồm có
năm bản dịch:
1. Kim Quang Minh, bốn
quyển do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào thời Bắc
Ngụy.
2. Kim Quang Minh Đế
Vương Kinh, bảy quyển, do ngài Chân Đế dịch
vào đời Trần.
3. Kim Quang Minh Cánh Quảng
Đại Biện Tài Đà La Ni kinh, năm quyển, do ngài
Da Xá Quật Đa dịch vào thời Bắc Châu (có thuyết
nói do ngài Xà Na Quật Đa dịch)
4. Hiệp Bộ Kim
Quang Minh Vương, tám quyển, do ngài Bảo Quư dịch
và kết tập vào đời Tùy.
5. Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương kinh 10 quyển, do ngài Nghĩa Tịch
dịch vào đời Đường.
Hai bản số 2 và 3
nay đă thất truyền, chỉ c̣n lại một phần.
Bản của ngài Đàm Vô Sấm phổ biến nhất,
kế đó là bản Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương của ngài Nghĩa Tịnh.
[20] Những bài viết không thuộc một thể loại nhất định được gọi chung là “tạp trước”.
[21] Châu Chiêu Vương (Cơ Hà) làm vua từ năm 979 trước Công Nguyên đến năm 961 trước Công Nguyên, như vậy năm 26 đời Châu Chiêu Vương là năm 953 trước Công Nguyên. Nhưng Châu Chiêu Vương chỉ làm vua 19 năm, có lẽ nguyên bản sách này bị khắc sai. Theo ngu ư, có lẽ là Châu Mục Vương (960 trước Công Nguyên đến 923 trước Công Nguyên) th́ đúng hơn, v́ ông này làm vua đến 38 năm.
[22] Tịnh Phạn Vương (Śuddhodana), c̣n được phiên âm là Thủ Đồ Đà Na,Thâu Đầu Đàn Na, Duyệt Đầu Đàn, dịch nghĩa là Tịnh Phạn, Bạch Tịnh, hay Chân Tịnh. Theo kinh Khởi Thế, quyển 10, vua là con trưởng của Sư Tử Giáp (Simhahanu). Vua thọ 76 tuổi, và cũng được Phật khuyến hóa, nhiệt thành tu tập, đắc Sơ Quả.
[23] Bản tiếng Hán ghi là Tỳ Lam Ni, e rằng bị in sai v́ vườn này có tên tiếng phạn Lumbini.
[24] Cây Vô Ưu (Aśoka) c̣n phiên âm là A Thâu
Ca. A Thúc Ca, A Thư Ca, dịch ư nghĩa là Vô Ưu, tên khoa học
là Jonesia Asoka Roxb, là một loài cây thuộc họ Đậu,
rất phổ biến tại chân núi Himalaya, Tích Lan và bán
đảo Mă Lai. Thân cây mọc thẳng, lá kép h́nh giống
lông vũ loài chim, hoa to từ sáu đến 10 cm, có màu đỏ
tươi rất bắt mắt. Quả có h́nh nón, dài
hơn 20 cm. Trong văn học Ấn Độ, loại cây
này được tượng trưng cho điềm lành.
[25] Viên quang: Quang minh tỏa ra quanh đầu Phật có h́nh tṛn nên gọi là “viên quang”.
[26] Nhục
Chi (Kusana):
Tên một quốc gia tồn tại vào đầu thế kỷ
thứ ba trước CN đến thế kỷ thứ
năm, nằm vào phía Tây Bắc Ấn Độ, thuộc
lưu vực sông Hằng. Theo Hán sử, thoạt đầu
tộc người Nhục Chi sống ở vùng Đông Bắc
Trung Quốc thuộc khu vực Đôn Hoàng, Kỳ Liên
sơn. Đầu đời Hán, do tránh nạn Hung Nô xâm
lăng họ phải thiên di sang Tây, thôn tính các tộc
người Saka, Ô Tôn, Đại Hạ (Bactria), chiếm cứ
phía Bắc sông A Mẫu, tự xưng hiệu là Đại
Nhục Chi, những người c̣n ở lại vùng
Đôn Hoàng (nay thuộc vùng phụ cận thành phố Tây
Ninh) tự xưng là Tiểu Nhục Chi. Vua Đại Nhục
Chi đóng đô tại Lam Tử Thành phía Bắc A Phú Hăn
(Afghanistan), giao cho năm vương hầu thuộc giống
Đại Hạ cai quản vùng đất cũ. Mấy
trăm năm sau, Quư Xương hầu là Khưu Tựu
Khước (Kujura Kadphises) diệt bốn vương hầu
kia, chiếm ngôi vua Đại Nhục Chi, đổi quốc
hiệu là Quư Xương (Kushān), lại chinh phục An Tức (Parthia),
thôn tính Kabul, tiêu diệt Kế Tân (Dardisthan), chiếm
đóng vùng Ngũ Hà (Panjab) của Ấn Độ. Do vậy,
sử gọi thời đại này là Quư Xương
vương triều, nhưng người Hán vẫn gọi
là Đại Nhục Chi. Con của Kujura là Wema Kadphises II lại
chiếm lănh Bắc Thiên Trúc, cử người làm giám quốc
xứ Kiện Đà La. Vua Wema đặc biệt chú trọng
phát triển giao dịch, giao thương cả với La
Mă, cho đúc tiền bằng kim loại. Do giao thương
với Tây Phương, ở Quư Xương h́nh thành nền
nghệ thuật Phật giáo chịu ảnh hưởng Hy
Lạp, thường gọi là nền mỹ thuật Kiện
Đà La (Gandhara). Hậu duệ là vua Ka Nhị Sắc Ca
(Kaniska) càng mở
rộng lănh thổ, đóng đô tại Purusapura, bảo hộ Phật
giáo, kiến thiết chùa tháp. Vua lại c̣n nhóm họp
năm trăm vị A La Hán tại nước Ca Thấp Di
La để soạn bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận.
Sự cống hiến của vua đối với Phật
giáo chỉ kém vua A Dục. Các vị luận sư trứ
danh như ngài Long Thọ, Mă Minh đều sống vào thời
đại vua Ca Nhị Sắc Ca. Đại Nhục Chi nằm
giữa Trung Ấn và Trung Hoa nên đóng vai tṛ môi giới
đặc biệt giữa hai nền văn hóa. Các vị
pháp sư đại đức nổi tiếng trong thời
kỳ sơ khởi Phật giáo ở Trung Hoa đều là
người Đại Nhục Chi như các vị Ca Diếp
Ma Đằng, Chi Lâu Ca Sấm, Chi Diệu, Chi Cương
Lương Tiếp… Các vị hoằng pháp nổi danh
như Chi Lương, Chi Khiêm, Trúc Pháp Hộ, Chi Pháp Độ,
Chi Đạo Căn, Chi Thi Luân đều có tổ tiên là
người Đại Nhục Chi. Vào giai đoạn Trung Kỳ
Phật giáo cũng có những vị pháp sư trứ danh
xuất thân từ Đại Nhục Chi như Diệu Âm,
Pháp Thắng, Đàm Ma Nan Đề, Phù Đà Bạt Ma, Di
Đà Sơn, Đạt Ma Mạt Ma v.v…
[27] Lạc Dương
nằm ở phía Tây tỉnh Hà
[28] Hồng Lô Tự vốn là một cơ quan đặc trách lễ tân của triều đ́nh. Cơ quan này có nhiệm vụ tiếp đăi các sứ đoàn ngoại quốc đến kinh đô cũng như hướng dẫn nghi lễ triều đ́nh cho sứ bộ và các quan ở ngoài về kinh chầu vua. Thoạt đầu, Tự chỉ có nghĩa là một cơ quan hành chánh.
[29] Già Lam là gọi tắt của tiếng
Phạn Sanghārāma, dịch nghĩa là
Chúng Viên, Tăng Viên, Tăng Viện. Nghĩa gốc là
nơi rừng hay vườn cây để chúng Tăng ở,
về sau dùng để chỉ chung chùa chiền của
Tăng chúng. Một ngôi Tăng Già Lam phải có đủ bảy
kiến trúc, gọi là Thất Đường Già Lam. Tùy
theo tông phái và thời đại mà bảy thứ kiến
trúc này hơi khác biệt, nhưng thông thường gồm
có: Tháp (để thờ xá-lợi), kim điện (tức
chánh điện thờ Phật), giảng đường,
lầu chuông, tàng kinh lâu, tăng pḥng và trai đường.
Chánh điện và tháp luôn xây ở phía
[30] Do cơi Sa Bà dùng âm thanh làm Phật sự, tức là chúng sanh phải nhờ nghe tiếng thuyết pháp mới lănh hội được giáo pháp nên gọi là “Thanh Giáo”.
[31] Ngũ Nhạc gồm Đông Nhạc
Thái Sơn (thuộc huyện Thái An, tỉnh Sơn Đông),
Tây Nhạc Hoa Sơn (thuộc huyện Hoa Dương, thành
phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây), Trung Nhạc Tung Sơn
(thuộc thành phố Đăng Phong, tỉnh Hà Nam), Bắc
Nhạc Hằng Sơn (thuộc huyện Hỗn Nguyên, tỉnh
Sơn Tây) và Nam Nhạc Hành Sơn (thuộc huyện Hành
Sơn, tỉnh Hồ Nam). Ngũ Nhạc đánh dấu
ranh giới Trung Nguyên thời cổ và tương ứng với
Ngũ Hành trong quan niệm Dịch Học. Theo truyền
thuyết, Bàn Cổ (thủy tổ người Hán) sau khi
chết, đầu và tứ chi hóa thành Ngũ Nhạc. V́ thế,
Đạo Giáo coi đây là những ngọn núi thiêng, đặc
biệt sùng bái sơn thần những núi này.
[32] Thành Ngũ Quốc nay thuộc huyện Y Lan, tỉnh Hắc Long Giang.
[33] Tào Khê là một con sông ở Thiều
Châu (nay thuộc phía Đông
[34] Theo Hoa Nghiêm Tông th́ Đại Thừa Phật
giáo có thể chia thành ba tông như sau:
1.
Pháp Tướng Tông: Chủ trương hết thảy hữu
lậu vọng pháp và vô lậu tịnh pháp từ vô thủy
đến nay, pháp nào cũng đều có chủng tử
trong A Lại Da Thức, do gặp duyên huân tập, đều
từ tự tánh khởi lên, chẳng dính dáng đến
Chân Như. Do vậy, từ nơi sắc pháp và tâm pháp, lập
ra các danh tướng như Ngũ Vị Bách Pháp, Tam Tánh Nhị
Vô Ngă, Tứ Trí Tam Thân v.v… Du Già Tông, Duy Thức Tông v.v… thuộc
về Pháp Tướng Tông.
2.
Phá Tướng Tông: Chủ trương hết thảy các
pháp tịnh - nhiễm, phàm - thánh đều không, vốn vô
sở hữu, như mộng, như huyễn. V́ thế,
các giáo nghĩa như Bát Bất Trung Đạo, Tứ Cú
Bách Phi v.v… phá hết thảy các pháp tướng. Tam Luận
Tông thuộc về Phá Tướng Tông.
3.
Pháp Tánh Tông: Chủ trương y Chân khởi vọng, Chân
Như bất biến, chẳng ngại tùy duyên. Như nói
Pháp Thân lưu chuyển ngũ đạo, Như Lai Tạng
thọ khổ lạc v.v… hễ ngộ vọng chính là chân
th́ chân - vọng bất nhị. Tâm hết thảy chúng sanh
chẳng do đoạn Hoặc mà được thanh tịnh,
nó vốn sẵn thanh tịnh. Đấy chính là pháp tánh của
tâm hết thảy chúng sanh. Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông thuộc
về Pháp Tánh Tông. Tứ giáo là
Tạng, Thông, Biệt, Viên.
[35] Nguyên văn: “Thỉ nhân khởi bất nhân vu hàm nhân tai? Thỉ nhân duy khủng bất thương nhân, hàm nhân duy khủng thương nhân. Vu, tượng diệc nhiên. Cố thuật bất khả bất thận dă!” Chúng tôi dịch theo cách diễn giải nơi trang 440, thiên Công Tôn Sửu, sách Mạnh Tử của bộ Tứ Thư Bạch Thoại Giải Thích. Nói người đồng cốt và thợ làm quan tài cũng giống như thế là v́ đồng cốt chỉ mong cầu cúng cho người ta khỏi chết, thợ đóng quan tài chỉ mong người ta chết cho nhiều, không thể nói đồng cốt nhân từ hơn thợ làm áo quan!
[36] Từ Thọ Hoài Thâm (1077-1132), là một cao tăng đời Tống, quê ở Lục An, phủ Thọ Xuân, tỉnh An Huy, xuất gia năm 14 tuổi. Vào đầu niên hiệu Sùng Ninh (1102-1106), Sư yết kiến Trường Lô Sùng Tín thiền sư ở chùa Tư Thánh tại Gia Ḥa (thuộc huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang), đắc pháp, nối nghiệp Ngài. Sư c̣n để lại bộ Từ Thọ Thâm Ḥa Thượng Quảng Lục (4 quyển), tác phẩm này đă được đưa vào tập 73 của Vạn Tục Tạng Kinh.
[37] Cơ Tử: Tác giả sách Hồng Phạm. Ông này sống vào đời Thương, là chú của vua Trụ, được phong làm quan Thái Sử ở đất Cơ (nay thuộc Thái Cốc, tỉnh Sơn Tây). Từng dâng sớ can gián Trụ Vương, nhưng vua không nghe, lại bắt ông bỏ tù, măi đến khi Châu Vơ Vương diệt Trụ mới được thả khỏi tù. Theo truyền thuyết, về già, ông bỏ sang Triều Tiên sống.
[38] Hệ Từ là phần giải thích ư nghĩa của Quái Từ (Quái Từ là phần luận về ư nghĩa của mỗi quẻ trong kinh Dịch). Hệ Từ Truyện là phần giải thích ư nghĩa của Hệ Từ do Khổng Tử soạn.
[39] Nguyên văn: “Nguyên
thủy yếu chung, cố tri sanh tử nhi thuyết, tinh
khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ
thần chi t́nh trạng”. Theo bài viết Đạo Giáo
Nghiên Cứu của Cái Kiến Dân, giáo sư thuộc khoa
Triết Học viện Văn Học Hạ Môn, th́ câu “nguyên thủy yếu chung”
đúng ra phải viết là “nguyên
thủy phản chung”, Phản là suy ngược lại,
t́m đến tận cội nguồn. Như vậy, “nguyên
thủy yếu chung” là truy cầu sự vật từ
ban đầu cho đến kết thúc. Nói cách khác, “nguyên thủy yếu chung” là
cách suy luận dựa trên t́nh trạng nguyên sơ của sự
vật và t́nh trạng lúc chung cục của chúng để
quy nạp lại mà phán đoán, nhận định. Theo
chương Nội Nghiệp sách Quản Tử th́ “tinh khí” phải hiểu là “hồn
thần”. Trịnh Huyền giảng câu “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến” như sau: “Tinh khí là thần, du hồn là quỷ”.
Tức là: Quỷ thần là h́nh thái do tinh khí biến hóa ra.
Sách Lễ Kư cũng giảng: Thể phách tụ xuống
đất thành quỷ, bốc lên không thành thần. Những
thứ này có tri giác, hưởng thụ nhân gian cúng tế.
Hàn Khang Bạch đời Tấn c̣n đi xa hơn, chú giải
rằng: “Khí tụ lại hiển
hiện thành vật chất là Thần, phân tán, ẩn kín th́
gọi là Hồn”. Trang Tử, Liệt Tử cho rằng
Tinh Khí phải hiểu là h́nh hài thể chất, c̣n du hồn
(linh hồn lăng đăng vô định) chính là tinh thần. Tổng
hợp những cách giải thích này, ta có thể tạm hiểu
như sau: “Xét từ cội nguồn
lẫn chung cục, cho nên biết: Nói đến sanh tử
th́ tinh khí là thể chất, du hồn biến chuyển.
Do vậy, biết được
t́nh trạng của quỷ thần”. Nói cách khác, Khổng
Tử thừa nhận con người gồm hai phần: vật
chất và linh hồn (nhà Phật gọi là Thức) tồn
tại sau khi xác thân đă hư hoại.
[40] Xuân Thu Tả Truyện c̣n gọi là Tả Thị Xuân Thu, hoặc chỉ gọi gọn là Tả Truyện. Gọi như vậy để phân biệt với kinh Xuân Thu (cũng là sử biên niên nước Lỗ) do Khổng Tử san định. Đây là bộ biên niên sử cổ nhất Trung Hoa do sử quan Tả Khâu Minh (556 trước Công Nguyên – 451 trước Công Nguyên) biên soạn thời Xuân Thu (770-476 trước Công Nguyên), chủ yếu chép về lịch sử nước Lỗ và những sự kiện của các vua nhà Châu và chư hầu.
[41] Đây là một câu trích từ kinh Thi: “Vĩnh ngôn phối mạng, tự cầu đa
phước”. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn Giảng
Kư, ḥa thượng Tịnh Không giảng như sau: “Vĩnh là vĩnh hằng, “phối
mạng” là hợp với ḷng trời”
[42] Dương Chấn lúc làm Thái Thú đất Kinh Châu từng đề bạt Tú Tài Vương Mật giữ chức Ấp Lệnh đất Xương. Về sau, khi Dương Chấn có việc đi qua Xương Ấp, Vương Mật chờ nửa đêm mang mười cân vàng đến biếu Dương Chấn để tạ ơn đề bạt. Dương Chấn cự tuyệt. Vương Mật nói: “Đêm khuya thanh vắng, không ai biết chuyện này, xin Ngài hăy yên ḷng”. Dương Chấn quở: “Trời biết, đất biết, ta biết, ông biết, sao lại nói là không ai biết, ông hăy đem vàng về đi!” Dương Chân cả đời liêm khiết, thanh bạch, nên được xưng tụng bằng mỹ hiệu Quan Tây Phu Tử. Câu nói “trời biết, đất biết, ta biết, ông biết” của Dương Chấn về sau này được gọi bằng từ ngữ “Dương Chấn tứ tri”.
[43] Nguyên văn là Tắc, tức là một thứ lúa thân dài đến hơn một trượng, là một giống lúa chín sớm nhất, ngày xưa cho là thứ lúa quư nhất trong trăm giống lúa. Ở đây tạm dịch là “gạo thơm”.
[44] Hâm hưởng: Quỷ thần hưởng đồ cúng tế bằng cách ngửi hơi nên gọi là “hâm hưởng”.
[45] Mỹ hiệu tôn xưng Khổng Tử của Nho Gia, ngụ ư: Khổng Tử là bậc vâng giữ, tiếp nối đạo của Nghiêu, Thuấn, phỏng theo, tỏ rơ quy chế, luật pháp của Văn Vương và Vơ Vương, xứng đáng là bậc thầy gương mẫu cho muôn đời.
[46] Tức Khổng Tử và Quan Công.
[47] Núi Ngọc Tuyền
nằm ở phía Đông
[48] Đại Đới Lễ tức là sách Lễ Kư. Nguyên thủy, Lễ Kư là một trong sáu kinh trọng yếu của Nho Gia do Khổng Tử biên tập vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Sau khi Tần Thủy Hoàng đốt sách Nho, chôn học tṛ, Lễ Kư chỉ c̣n lại sót lại 130 thiên, được Lưu Hướng thâu thập. Đới Đức đời Hán đă rút gọn 130 thiên ấy thành 85 thiên, nên người đời sau gọi là Đại Đới Lễ Kư. Về sau, cháu của ông là Đới Thánh lại rút gọn bộ Đại Đới Lễ Kư một lần nữa thành 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt Lệnh, Minh Đường Vị và Nhạc Kư, thành bộ Lễ Kư gồm 49 thiên, với danh xưng Tiểu Đới Lễ Kư. Bộ Lễ Kư được lưu hành hiện thời chính là bộ Tiểu Đới này. Các thiên sách Đại Học, Trung Dung được rút ra từ bộ Lễ Kư, hợp với Luận Ngữ, Mạnh Tử tạo thành Tứ Thư. Tuy mang tên gọi là Lễ Kư, nhưng sách này là không chỉ nói đến lễ nghi, chế độ, mà là c̣n bao gồm của những quan điểm nhân nghĩa đạo đức, xử thế thời cổ.
[49] Theo Nho lễ, để cúng tế phải dâng ba thứ thịt là ḅ (hoặc trâu), lợn, dê gọi là “tam sanh” (ba loại động vật dùng để hiến tế). “Ngũ đỉnh” là các thứ cỗ cúng phải được nấu thành năm món (thuở xưa dùng những cái đỉnh đồng không có nắp để đựng vật cúng). Về sau từ ngữ “tam sanh ngũ đỉnh” được dùng để chỉ cỗ bàn cúng tế hậu hĩnh.