Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao,
Quyển 4
(Phần 4)
35. Văn tế ông Thịnh Dần Hoài
(viết thay sư Liễu
Dư)
Nhân ngày… tháng… năm…, bạn
phương ngoại[1] là
Liễu Dư kính cẩn dùng lễ hương, trà, cỗ
chay đến tế trước vong linh ông Thịnh Dần
Hoài như sau:
Như ông tuy sanh mà bất sanh,
duyên hội họp bèn sanh. Tuy ông diệt nhưng chẳng
diệt, duyên hết bèn diệt. Nếu triệt ngộ tự
tâm th́ sanh diệt khác ǵ hư không. Nếu chưa thấu
hiểu cái sẵn có, đến - đi nào khác trăng trong
nước? May nhờ túc nhân sâu dầy, bẩm tánh chân thành;
điều đáng than thở là duyên với Phật hăy c̣n
sơ sài, tiếc chưa được nghe bí quyết “hoành siêu Tịnh Độ”.
Luận nơi nhân hiện tại, ông sáng suốt, liêm khiết,
công b́nh, chánh trực, lai báo[2] ắt
tại cung điện chư thiên, hoặc nhà vương
công, phiệt duyệt[3].
Tuy tạm hưởng huyễn phước nhân thiên, khó khỏi
hoa tàn, trăng khuyết. Xin hăy đem phước đời
hồi hướng Cực Lạc tịnh vực, ắt
được từ phụ Di Đà duỗi cánh tay sắc
vàng nghênh tiếp. Từ đấy, giă biệt măi măi đời
ác ngũ trược, thường hưởng ngũ
thanh, ngơ hầu chẳng phụ t́nh tôi quen biết ông đă
lâu, cũng an ủi [tôi] lúc cuối cùng chưa nói lời
thành thật cùng ông được. Thượng hưởng!
36. Văn tế cư sĩ Hàn Sơn Hy
(viết thay cho Thường
Trụ Pháp Vũ, cư sĩ phẩm hạnh đoan chánh
đáng đứng đầu giới thương nhân)
Ôi! Tâm ông trung hậu, hiền từ,
tốt lành; hạnh ông liêm khiết, đoan chánh. Sống
trong cơi trần nắm giữ quyền chánh, gió đức
trọn khắp mọi xứ, khiến kẻ xa xỉ liền
cần kiệm, kẻ yếu ớt trở thành mạnh mẽ,
kẻ hung ác biến thành hiền lành, kẻ phóng đăng hết
cuồng, dốc ḷng tin tưởng Phật thừa, lắm
cách hoằng dương, hộ tŕ, tán trợ. Xét ngược
lại tám mươi bốn năm trước, vốn
chưa từng sanh; c̣n như hiện tại đây, lại
nào đă mất. Đến - đi tuy không có tướng
nhất định, chủ nhân ông vốn tự lộ rành
rành. Nếu suy nhân để nghiệm quả th́ nếu chẳng
hưởng phước chốn cung trời, chắc
cũng hầu đấng Nguyện Vương nơi thế
giới Cực Lạc. Phải biết: Phước trời
dễ hết, sự vui Cực Lạc đến tận
cùng vị lai trọn chẳng phải cầu! Kính xin hăy
phát trọn ba tâm, lên thẳng Thượng Phẩm, ngơ hầu
triệt chứng cái ḿnh sẵn có, để vĩnh viễn
làm thuyền bè cho chúng sanh đang ch́m đắm trong biển
khổ. Thượng hưởng!
37. Văn tế bà nội ông Hồ Gia Khoa
(viết thay)
Than ôi! Nghĩ tổ mẫu ta,
mẫu đức đáng làm thầy, mỗi khi nghĩ
đến ḷng liền bi thương. Nêu gương lành
cho nữ giới, làm bậc hướng dẫn tốt
lành cho chốn khuê các, quả thật đă học
được hạnh của ba bà Thái đời Châu, hai
bà phi của vua Ngu[4],
nuôi nấng vỗ về đứa cháu bất tiếu châu
đáo, thiết tha như trời che đất chở chẳng
sót. Những mong cháu học thành tài, lập được
đức; ra làm quan sẽ là bậc phù tá nước nhà, sống
trong làng xóm sẽ thành gương mẫu. Ngờ đâu
cháu bất tài, lại không tu đức, chẳng học
thành điều ǵ. Ngửa lên trông trời, cúi xuống nh́n
đất, hổ thẹn khôn cùng. May nhờ đi khắp
nơi học lung tung, đọc tràn lan, gặp được
văn từ phổ độ chúng sanh của Như Lai, mới
biết một niệm tâm tánh của chúng ta cùng với
chư Phật thật chẳng hai, chẳng khác, hằng cổ,
hằng kim, chẳng chuyển dời. Chỉ v́ mê trái, chạy
theo cảnh sanh tham, khởi Hoặc tạo nghiệp, đến
nỗi phải thọ quả báo trong tam đồ lục
đạo, nhưng thật ra bổn tánh chẳng giảm hào
ly! Pháp môn tu tŕ vô lượng vô biên đều chẳng
thích hợp bằng cậy vào Phật từ lực hoành
siêu tam giới (siêu thoát tam giới theo chiều ngang). V́ nếu
có thể sanh ḷng tin, phát nguyện, dùng tâm chí thành niệm “nam
mô A Di Đà Phật”, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, quyết định cảm ứng đạo
giao, được Phật tiếp dẫn văng sanh trong ao bảy
báu cơi Tây Phương. Ngũ Nghịch, Thập Ác, lâm chung
tướng địa ngục hiện, niệm Phật mấy
tiếng liền được tiếp dẫn dự vào Hạ
Phẩm Hạ Sanh. Huống chi tổ mẫu ta đức
đẹp, hạnh lành, đôi bề trọn vẹn.
Tưởng nghĩ: Vua Vũ là bậc đại thánh, chẳng
cứu nổi thần thức ông Cổn[5]
đọa trong Vũ Uyên, hóa làm con Hoàng Năi (con ba ba có ba chân)
khôn ngăn buồn - vui lẫn lộn, như cuồng,
như si! Bởi lẽ “Tây
Phương có bậc đại thánh nhân”, lời ấy
thốt từ đức Chí Thánh Tiên Sư Trọng Ni đất
Lỗ. Kính nguyện tổ mẫu ta hăy tin chắc chắn,
đừng nghi ngờ, th́ ngay lập tức được
nhờ cậy Phật từ. Lại nguyện tổ phụ
ta và ông bà nhiều đời cùng phát tâm sợ hăi nỗi khổ
sanh tử để cảm Phật từ bi, y theo đó tu
tŕ, ngơ hầu dẫn nhau cùng dự vào Liên Tŕ hải hội,
thân cận Phật Di Đà, hầu hạ thánh chúng. Nhờ
đấy, triệt ngộ Phật tánh sẵn có để
viên chứng vô thượng đại Bồ Đề.
Thượng hưởng!
38. Tán dương tượng Phật A Di
Đà
Buồn thay chúng sanh không nơi
nương tựa, lẻ loi lênh đênh như đứa
con bỏ trốn. Dù nghe Phật pháp y giáo tu hành, tự lực
yếu kém, khó phá vô minh. Cao đẹp thay! Đức Thế
Tôn tâm từ bi tha thiết, bốn mươi tám nguyện,
b́nh đẳng nhiếp ba căn, khiến cho khắp chúng
sanh tín nguyện tŕ danh, cậy Phật từ lực đới
nghiệp văng sanh. Dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa
Tâm, cảm ứng đạo giao như nam châm hút kim.
Như Lai ân đức dẫu khen ngợi hết kiếp
chẳng trọn. Chỉ mong hàm thức đều
nương theo Phật nguyện.
39. Bài tán dương bức h́nh Quán Âm ở
đầu cuốn sách Quán Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng
Tụng
Cao đẹp thay Đại
Sĩ, thệ nguyện khó thể tuyên nói. Vận ḷng Bi
đồng thể, khởi ḷng Từ vô duyên, tầm thanh cứu
khổ, tùy loại hiện h́nh, hiện mọi sắc thân ứng
khắp hữu t́nh, vô t́nh. Nếu có chúng sanh gặp các khổ
nạn, vừa xưng danh Ngài, liền thấy cứu giúp.
Giàu, thọ, con cái, hễ có sở cầu, lễ bái, cúng
dường, tùy nguyện đáp ứng. V́ sao xưng danh liền
được cảm thông? V́ tâm Bồ Tát đă chứng Chân
Không từ thuở lâu xa. Cái tâm vô tâm ấy khế hợp
tâm chúng sanh và tâm của Phật. Chúng sanh mê trái, chẳng
được thọ ân. Do gặp tai nạn dốc ḷng khẩn
thiết, vừa phát ḷng thành, bèn cảm ứng đạo
giao! Như trăng trong mát sáng tỏ giữa trời, hiện
bóng trong mọi ḍng nước, không đâu chẳng trọn.
Nếu như chẳng tín, không thể cảm được.
Như nước đục ngầu, xao động, bóng
trăng chẳng tỏ. Lỗi tại nơi nước,
phải đâu trăng không chiếu! Nếu nước
trong lặng, ắt hiện sáng ngời. Cũng như nắng
xuân nẩy nở các mầm; gặp phải thứ rễ
khô, càng thêm mục nát. Mưa ngọt xối khắp, thảo
mộc cùng được tốt tươi. Chỉ có thứ
không rễ chẳng thể sanh thành. Yếu chỉ nhập
đạo, Tín là bậc nhất. Muốn được Ngài
từ bi cứu giúp, không tin chẳng được! Kính
nghĩ Bồ Tát sao lại có thể được như
thế? Là v́ có nguồn cội sâu xa, nên mới được
như vậy. Nguồn cội sâu xa là ǵ? Ngài đă viên chứng
ba giác, hiệu là Chánh Pháp Minh, phước - huệ cùng
đủ, tuy trụ Tịch Quang, bi nguyện chưa thỏa,
lại hiện thân Bồ Tát phù tá Pháp Vương. Trong
mười pháp giới thân, không thân nào chẳng hiện.
Theo chiều dọc cùng tột ba đời, theo chiều
ngang trọn khắp mười phương. Công đức
của Bồ Tát khó thể tán dương trọn hết. Nêu
bày đại lược, làm ánh sáng trong đêm dài; riêng cầu
cư sĩ [Hứa] Chỉ Tịnh ở Giang Tây, đọc
khắp kinh điển trong Đại Tạng, soạn
thành bài tán tụng, cung kính mô phỏng [vẽ] thánh tượng
để lưu truyền trọn khắp pháp giới, khiến
cho hàm thức đều được che chở.
40. Bài tán dương bức h́nh vị
Tăng bị điên[6]
Kẻ gian Tần Cối nhận
hối lộ gây rối nước, rối dân; khiến thầy
ta nhọc ḷng cầm chổi quét. Một cây chổi chống
đỡ trời đất, mấy câu pháp ngữ trấn
càn khôn. Tiếc là gă ch́m đắm đă quá sâu đậm,
tuy được chỉ dạy chẳng buồn hỏi
han, đến nỗi thần hồn đọa A Tỳ!
Tượng sắt muôn đời quỳ trước mộ
họ Nhạc[7]!
41. Tịnh Độ Vấn Đáp và Lời
Tựa
Lớn lao thay giáo pháp Tịnh
Độ! Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, pháp Trực Chỉ
Nhân Tâm phải thua pháp này về mặt kỳ đặc
(đặc biệt, lạ lùng). Mười niệm, một
niệm liền lên Bất Thoái. Dù trải bao kiếp tu chứng
vẫn ngưỡng mộ phong thái cao xa của pháp này.
Độ khắp thượng trung hạ căn, thống
nhiếp Luật, Giáo, Thiền Tông. Mưa đúng thời
nhuần thấm mọi vật, như biển cả thâu nạp
muôn sông. Hết thảy pháp Thiên, Viên, Đốn, Tiệm,
không ǵ chẳng lưu xuất từ pháp giới này; hết
thảy hạnh Đại, Tiểu, Quyền, Thật,
không hạnh nào chẳng quy hoàn pháp giới này. Chẳng
đoạn Hoặc nghiệp, được dự vào Bổ
Xứ. Ngay trong một đời này, chứng Đại Bồ
Đề. Chúng sanh chín pháp giới ĺa pháp này th́ trên chẳng
thể viên thành Phật đạo. Mười
phương chư Phật bỏ pháp này th́ dưới chẳng
thể lợi khắp quần sanh. Do vậy, Hoa Tạng hải
chúng đều tuân theo mười đại nguyện
vương. Hội Pháp Hoa xưng niệm một tiếng
đều chứng Thật Tướng các pháp. Lực dụng
lớn lao như thế, chư Phật cùng tuyên
dương. Phát huy tột bậc đến như vậy,
chư Tổ đều cùng như thế. Thật có thể
nói là lời cực đàm (bàn luận đến tột
cùng) của cả một đời giáo hóa, là đại
giáo Nhất Thừa vô thượng vậy! Chẳng trồng
cội đức, dù trải bao kiếp cũng khó
được gặp gỡ! May được nghe ngóng,
un đúc, gắng sức tu tŕ, sợ lũ cuồng đồ
vô tri kia chê là thiển cận, cho nên y giáo khen ngợi, thuật
bày để họ phụng hành vậy!
Hỏi:
Pháp môn Niệm Phật người ngu cũng tu được,
Luật, Giáo, Thiền Tông kẻ trí c̣n khó hiểu được,
sao lại nói pháp này thống nhiếp các pháp kia?
Đáp:
Muốn biết nghĩa này, cần phải hiểu kỹ
sự lớn - nhỏ, hơn - kém giữa Phật lực
và tự lực th́ hết thảy nghi hoặc sẽ ào ạt
tiêu tan, cởi gỡ ngay! Phật và chúng sanh tâm tánh tuy đồng,
nhưng nếu luận về lực dụng th́ khác biệt
vời vợi như trời với đất. Ấy là
v́ chúng sanh có đủ vô lượng phiền năo ác nghiệp,
nên công đức - trí huệ chẳng thể hiện tiền.
Phật đầy đủ vô lượng công đức
- trí huệ, phiền năo ác nghiệp hết sạch không c̣n
sót. Phật và chúng sanh mê - ngộ bất đồng, cho nên
lực dụng hơn - kém thật khác! Luật, Giáo, Thiền
Tông đều cậy vào tự lực để liễu
thoát sanh tử. V́ thế, trải kiếp dài lâu vẫn khó
thoát khỏi. Pháp môn Niệm Phật hoàn toàn cậy vào Phật
lực kiêm thêm tự lực để liễu thoát sanh tử.
V́ thế, hết một đời này liền lên Bất
Thoái.
Hỏi:
Tự lực, Phật lực nghĩa như thế nào, xin
giảng rơ cho!
Đáp:
Luật, Giáo, Thiền Tông thoạt đầu phải hiểu
sâu xa giáo lư, y giáo tu hành, công tu hành sâu, đoạn Hoặc chứng
Chân mới thoát sanh tử. Nếu chẳng hiểu giáo lư
th́ là tu mù luyện đui. Nếu không, được chút
ít đă cho là đủ, liền bị ma dựa, phát cuồng.
Dẫu cho hiểu lư, công sâu, cũng phải đoạn Hoặc.
Nếu c̣n mảy may chưa đoạn sạch th́ vẫn
y như cũ chẳng thoát khỏi ṿng khổ. Đến
khi nào Hoặc nghiệp hết sạch mới có thể ĺa
khỏi sanh tử, nhưng vẫn c̣n cách địa vị
Phật rất xa. Lại phải trải qua bao kiếp tấn
tu mới có thể viên măn Phật quả. Ví như thứ
dân sanh ra thông minh, trí huệ, đọc sách học văn
nhọc nhằn nhiều năm, học vấn đă thành,
thi đậu làm quan. Do có tài năng lớn, cho nên từ chức
nhỏ được thăng lên dần, cho đến làm
tể tướng, làm quan cực phẩm, không thể
thăng lên được nữa. Trong quần thần
địa vị bậc nhất, nhưng nếu so với
thái tử, quư - hèn một trời một vực, huống
ǵ [sánh với] hoàng đế? Suốt đời làm bầy
tôi, phụng hành mạng vua, cúc cung tận tụy, giúp vua
cai trị quốc gia. Nhưng địa vị tướng
quốc ấy thật chẳng dễ dàng, nhọc nhằn
cả nửa đời người, nai lưng chịu
đựng, rồi đến rốt cuộc chẳng qua
chỉ như vậy! Nếu học vấn tài năng
hơi kém cỏi hơn, chẳng đạt được
như vậy ắt có đến trăm ngàn vạn ức
người! Đấy là tự lực. Học vấn tài
năng ví như hiểu sâu giáo lư, y giáo tu hành. Địa vị
đến chức Tể Tướng ví như công tu hành
sâu dầy, đoạn Hoặc chứng Chân. Chỉ có thể
xưng là thần, chẳng dám xưng là vua (Bầy tôi nhất
định chẳng dám xưng là vua. Bầy tôi muốn làm
vua trừ phi thác sanh trong cung vua, làm hoàng thái tử. Tu các
pháp môn khác cũng có thể thành Phật, nhưng so với
pháp Tịnh Độ th́ khác biệt c̣n gấp nhiều lần
[sự khác biệt] giữa ngày và kiếp. Người
đọc phải khéo hiểu ư này, đừng chấp chặt
vào từ ngữ. Nhưng theo như phần cuối kinh Hoa
Nghiêm, Đẳng Giác Bồ Tát c̣n dùng mười đại
nguyện vương để hồi hướng văng
sanh, rất giống với ư nghĩa thác sanh trong hoàng cung,
làm hoàng thái tử. Pháp môn Tịnh Độ có được
kinh Hoa Nghiêm giống như biển cả dung nạp vạn
con sông, như thái hư bao trùm vạn tượng. Cao đẹp
thay! Lớn lao thay!) ví như tuy thoát sanh tử, nhưng c̣n
chưa thành Phật! Những kẻ học vấn chưa
đầy đủ, chẳng thể [đạt
được] như vậy rất đông; ví như những
người chưa đoạn sạch Hoặc, chẳng
thể thoát khỏi biển khổ sanh tử rất nhiều.
Trong
pháp môn Niệm Phật, dẫu chưa hiểu giáo lư,
chưa đoạn Hoặc nghiệp, chỉ cần tín nguyện
tŕ danh cầu sanh Tịnh Độ, lúc lâm chung quyết
định được Phật đích thân rủ ḷng tiếp
dẫn văng sanh Tây Phương. Khi đă sanh về Tây
Phương, thấy Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn,
ngay trong một đời này quyết định bổ
vào địa vị Phật. Đây là Phật lực lại
kiêm tự lực. Nói “tín nguyện tŕ danh” chính là do tự lực
có thể cảm được Phật. Thệ nguyện
nhiếp thọ, rủ ḷng Từ tiếp dẫn chính là Phật
lực có thể ứng với ta. Do cảm ứng đạo
giao cho nên được như thế. Nếu lại hiểu
sâu xa giáo lư, đoạn Hoặc chứng Chân th́ phẩm vị
văng sanh càng cao, viên thành Phật đạo càng lẹ! Do vậy,
Văn Thù, Phổ Hiền, Hoa Tạng hải chúng, Mă Minh,
Long Thọ, tổ sư các tông đều nguyện văng
sanh. Ví như thác sanh trong hoàng cung, vừa ra khỏi thai mẹ
đă sang quư lấn át quần thần, đấy là nhờ
vào sức vua. Đến khi khôn lớn, học vấn, tài
năng mỗi mỗi đều đầy đủ, bèn
có thể kế thừa ngôi vua, b́nh trị thiên hạ. Hết
thảy bầy tôi đều phải nghe chiếu dụ.
Đấy chính là vương lực, tự lực đều
cùng có.
Pháp
môn Niệm Phật cũng giống như thế. Chưa
đoạn Hoặc nghiệp, cậy vào Phật từ lực
văng sanh Tây Phương, liền thoát khỏi sanh tử. Ví
như Thái Tử mới sanh đă sang quư lấn át quần
thần. Đă được văng sanh th́ Hoặc nghiệp
tự đoạn, quyết định bổ vào địa
vị Phật, như Thái Tử khôn lớn, thừa kế
ngôi vua, b́nh trị thiên hạ. Lại nữa, những vị
đă đoạn Hoặc nghiệp như Mă Minh, Long Thọ,
tổ sư các tông, những vị đă đạt tới
địa vị Bổ Xứ như Văn Thù, Phổ Hiền,
Hoa Tạng hải chúng đều nguyện văng sanh. Ví
như thuở xưa, trấn giữ chốn biên
cương quê mùa, chẳng thể kế thừa ngôi báu; nay
sống tại Đông Cung chẳng bao lâu sẽ đăng
cực (lên ngôi vua). Xin hăy bỏ sạch thói cũ, đối
với pháp môn này sanh ḷng tín nguyện cùng cực, chuyên tinh
tu tập th́ vô tận phiền năo nhanh chóng đoạn sạch
chẳng khó khăn ǵ, vô lượng pháp môn tự nhiên chứng
nhập. Viên thành vô thượng Phật đạo, độ
thoát vô biên chúng sanh như trao bằng khoán ra lấy lại
vật cũ. Hăy nên cố gắng! Hăy gắng sức lên!
42. V́ tại gia đệ tử lược
nói Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện
Buồn thay chúng sanh từ vô thủy
đến nay luân hồi lục đạo, lưu chuyển
tứ sanh, không được cứu giúp, không nơi quay về,
không chỗ nương nhờ. Như con côi mất cha,
như người cùng quẫn tan cửa nát nhà. Đều
là do phiền năo ác nghiệp, cảm lấy khổ quả
sanh tử này; đui mù không có con mắt Huệ, chẳng thể
tự thoát! Đức Đại Giác Thế Tôn
thương xót, thị hiện sanh trong thế gian v́ chúng
sanh thuyết pháp, dạy thọ lănh Tam Quy làm cái gốc
để đổi tà về chánh, dạy tŕ Ngũ Giới
để làm nguồn đoạn ác tu thiện, dạy hành
Thập Thiện để làm cái gốc thanh tịnh ba nghiệp
thân - khẩu - ư. Từ đây, không làm các điều ác,
vâng làm các điều thiện. Ba nghiệp đă tịnh
th́ sau đấy mới có thể tuân tu đạo phẩm
ḥng trái trần hiệp giác, chuyển phàm thành thánh, đoạn
cội rễ tham - sân - si phiền năo, thành đại đạo
Giới - Định - Huệ Bồ Đề. V́ thế,
đức Phật nói ra pháp Tứ Đế, Thập Nhị
Nhân Duyên, Lục Độ, ba mươi bảy phẩm Trợ
Đạo v.v… vô lượng pháp môn. Lại muốn cho [chúng
sanh] mau thoát sanh tử, chóng thành Phật đạo, nên bèn
nói pháp môn Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Độ, khiến
[họ] chẳng mất nhiều sức lực lại
được thành tựu ngay trong đời này. Ôi! Ân Thế
Tôn có thể nói là cùng cực; dẫu thiên địa phụ
mẫu cũng chẳng đủ để sánh ví. Bất
Huệ thọ ân rất sâu, không cách nào báo đền.
Nay
các ông nghe lầm lời người, chẳng nề hà cách
xa mấy ngàn dặm đến đây, muốn thờ tôi
làm thầy; nhưng tôi tự xét ḿnh vô đức, đôi ba
lượt khước từ, các ông vẫn chẳng nghe
theo. Nay bất đắc dĩ đem ư nghĩa đức
Như Lai xuất thế thuyết pháp độ sanh thuật
đại lược cùng các ông, cũng như đem Tam
Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện và pháp môn Tịnh Độ
giải thích đại lược ư nghĩa, khiến cho
các ông có cái để học theo, có cái để tuân thủ.
Tứ Đế cho đến ba mươi bảy phẩm
Trợ Đạo không phải là những pháp mà trí lực
các ông có thể biết được. V́ thế, lược
đi không viết. Nếu các ông y giáo phụng hành th́ đấy
chính là tôn Phật làm thầy, huống ǵ Bất Huệ! Nếu
chẳng y giáo phụng hành th́ ân Bất Huệ c̣n phụ bạc,
huống chi ân Phật?
1) Tam Quy (chữ Quy 歸
c̣n viết là Quy 皈. Quy (皈) là trở về với cái trong trắng, theo
ư nghĩa chuyển nhiễm thành tịnh vậy): Một
là quy y Phật, hai là quy y Pháp, ba là quy y Tăng. Quy là gieo vào,
trở về, Y là nương gởi. Như người
té xuống biển, chợt có thuyền đi tới bèn lội
đến bên thuyền; đấy là ư nghĩa của chữ
“quay về, gieo vào”. Lên thuyền ngồi yên là nghĩa
“nương nhờ”. Sanh tử là biển, Tam Bảo là thuyền.
Chúng sanh quy y liền lên bờ kia. Đă quy y Phật, thờ Phật
làm thầy th́ từ hôm nay trở đi cho đến lúc mạng
chung, chẳng được quy y thiên ma, ngoại đạo,
tà quỷ, tà thần. Đă quy y Pháp, lấy Pháp làm thầy th́ từ
nay trở đi cho đến lúc mạng chung, chẳng
được quy y điển tịch của ngoại
đạo (Pháp
chính là kinh Phật và các pháp môn tu hành. “Điển tịch”
chính là kinh sách vậy). Đă quy y Tăng, thờ Tăng làm thầy th́
từ hôm nay trở đi cho đến lúc mạng chung, chẳng
được quy y đồ chúng ngoại đạo.
2)
Ngũ Giới: Một là chẳng
sát sanh. Hai là chẳng trộm cắp. Ba là chẳng tà dâm. Bốn
là chẳng nói dối. Năm là chẳng uống rượu.
Loài
vật cũng như ta ham sống sợ chết; ta đă
ham sống th́ lẽ nào loài vật lại muốn chết
hay sao? Cứ theo đó mà suy th́ có nên giết hại sanh mạng
hay chăng? Hết thảy chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo,
tùy theo nghiệp lành, dữ sẽ bị thăng lên, giáng xuống,
vượt lên hay ch́m xuống. Trong nhiều kiếp, ta cùng
với chúng thay phiên làm cha mẹ, con cái; phải nên nghĩ
cách cứu vớt, lẽ nào nỡ giết hại? Hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ
thành Phật trong đời vị lai. Nếu ta đọa
lạc th́ c̣n mong [được họ] cứu giúp! Hơn
nữa, đă tạo nghiệp sát ắt sẽ đọa
ác đạo, đền trả nợ cũ, giết hại
lẫn nhau chẳng biết bao giờ mới thôi! Lấy
đó mà suy, sao dám giết hại? Nguyên do của sát sanh là
v́ ăn thịt. Nếu đă biết nhân duyên như trên vừa
nói sẽ tự chẳng dám ăn thịt nữa. Kẻ
ngu c̣n cho thịt là ngon, chẳng hề biết thịt vốn
do tinh - huyết tạo thành, trong chứa đầy phẩn,
tiểu, ngoài lẫn chất dơ, tanh tưởi, hôi bẩn,
ngon ở chỗ nào? Thường nên quán bất tịnh th́
ăn vào ắt sẽ phát ọe.
Thêm
nữa, chúng sanh gồm có con người, cầm thú, gịi tửa,
cá, tôm, muỗi ṃng, rận, rệp. Hễ có sanh mạng th́
đều là chúng sanh; chẳng thể bảo hễ con vật
lớn th́ chẳng nên giết, con vật nhỏ th́ giết
được. Kinh Phật đă dạy tường tận
về lợi ích công đức của việc tránh sát sanh
và phóng sanh. Người đời không đọc
được những kinh ấy th́ nên xem tác phẩm Vạn
Thiện Tiên Tư của An Sĩ tiên sinh, ắt sẽ biết
được đại khái.
Chẳng trộm cắp: Thấy
giới này liền nghĩ được nghĩa, nếu
chẳng cho th́ chẳng lấy. Chuyện này người biết
liêm sỉ bèn có thể không phạm. Như bàn tỉ mỉ
th́ nếu ai chẳng phải là bậc đại thánh,
đại hiền đều khó khỏi không phạm. Dùng
của công vào việc tư, tổn người lợi
ḿnh, cậy thế đoạt của, dùng mưu đoạt
vật, ganh tị sự phú quư của người khác, mong
cho người khác nghèo hèn, phô trương làm lành để
lấy tiếng, gặp các việc lành tâm không sốt sắng.
Hoặc như khi lập nghĩa học (trường học
làm nghĩa, không thâu học phí) lại chẳng chọn thầy
nghiêm khiến cho con em người khác bị lầm lạc.
Hoặc khi thí thuốc men, chẳng xét thật - giả khiến
người ta bị hại mạng. Phàm thấy nạn gấp
mặc kệ chẳng cứu ngay; lề mề, hời hợt,
thờ ơ đến nỗi làm hỏng việc, chỉ
làm tắc trách cho xong việc, lăng phí tiền tài người
khác, trong ḷng chẳng coi là khẩn yếu. Những điều
như thế đều gọi là trộm cắp vậy. Do
các ông đang sống trong thiện đường[8]
nên trích ra những điều tốt lành hay tệ hại
để nói đại lược vậy.
Chẳng tà dâm: Người đời
nam nữ lập gia đ́nh sanh con đẻ cái th́ trên là v́
phong hóa, dưới là để [có người] thờ phụng
tổ tiên. Vợ chồng hành dâm không phạm vào điều
cấm; nhưng phải nên kính nhau như khách, chỉ cốt
tiếp nối gịng giống [để có người] thờ
cúng tổ tiên, chẳng nên v́ khoái lạc mà chạy theo ḷng
dục đến nỗi mất mạng. Tuy là vợ ḿnh
nhưng nếu tham lạc quá th́ cũng là phạm giới;
nhưng tội ấy vẫn c̣n nhẹ, nhỏ. Nếu
chung chạ bừa băi với người chẳng phải
là vợ ḿnh th́ gọi là tà dâm; tội ấy rất nặng!
Hành tà dâm là đem cái thân người làm chuyện súc sanh;
khi báo hết mạng dứt, trước sẽ đọa
vào địa ngục, ngạ quỷ, sau sanh trong súc sanh
đạo ngàn vạn ức kiếp chẳng thể xuất
ly. Hết thảy chúng sanh đều do dâm dục sanh ra cho
nên giới này khó giữ dễ phạm; ngay cả bậc
hiền đạt có lúc c̣n vấp ngă, huống là kẻ
ngu. Nếu lập chí tu tŕ th́ trước hết phải hiểu
rơ lợi - hại và phương pháp đối trị: Như
thấy rắn độc, như gặp oán tặc, sợ
hăi e dè th́ dục tâm tự tắt. Phương pháp đối
trị đă được ghi nhiều trong kinh Phật. Nếu
người đời chẳng có duyên xem đến th́ nên
xem cuốn Dục Hải Hồi Cuồng của An Sĩ
tiên sinh, ắt sẽ biết được đại
khái (Lợi:
Cái lợi do chẳng phạm, hại là họa hại do phạm
giới này vậy)
Chẳng nói dối: Tức là lời
nói đáng tin, chẳng thốt ra lời dối trá. Nếu
thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy bảo thấy,
lấy dối làm thật, có nói là không v.v… phàm khi tâm và miệng
chẳng tương ứng, muốn dối gạt người
th́ đều là nói dối cả. Nếu lại có kẻ
chưa đoạn Hoặc mà bảo là đă đoạn Hoặc;
tự chưa đắc đạo bảo là đắc
đạo th́ gọi là đại vọng ngữ; tội ấy
rất nặng, sau khi mạng chung quyết định
đọa thẳng vào A Tỳ địa ngục, trọn
chẳng có kỳ ra. Hiện nay, có nhan nhăn những kẻ
tu hành nhưng chẳng hề biết đến giáo lư Phật
pháp cho nên phải thống thiết răn đe; rất quan
trọng vậy.
Bốn
điều trên đây chẳng luận là xuất gia hay tại
gia, đă thọ giới hay chưa thọ giới, hễ
phạm phải đều có tội lỗi v́ thể tánh
[của những sự ấy] là ác. Người chẳng
thọ giới tội lỗi một tầng; người
đă thọ giới tội nặng gấp đôi: ngoài tội
làm điều ác c̣n thêm tội phạm giới. Nếu tŕ
mà chẳng phạm th́ công đức vô lượng vô biên.
V́ vậy, cần phải gắng công giữ giới!
Chẳng uống rượu: Là
v́ rượu có thể làm mê loạn ḷng người, hư
hoại hạt giống trí huệ. Uống vào khiến
người điên đảo, hôn cuồng, làm điều
xằng bậy nên Phật chế giới cấm hẳn.
Phàm người tu hành đều chẳng được uống.
Thêm nữa, đối với các thứ hành, hẹ, giới
(nén) (薤 đọc là Giới, là một loại tỏi
nhỏ
), tỏi…
năm thứ hăng nồng (ngũ huân), mùi vị hôi hám,
thể chất chẳng thanh khiết. Ngũ huân hễ
ăn chín th́ phát sanh ḷng dâm, ăn sống th́ thêm nóng giận;
phàm là kẻ tu hành đều chẳng được
ăn. Tuy nhiên, đối với người chưa thọ
giới này th́ uống rượu, ăn ngũ huân đều
chẳng bị tội; c̣n nếu đă thọ giới rồi
c̣n uống rượu, c̣n ăn ngũ tân th́ mắc một
tầng lỗi, tức là tội phạm Phật giới.
Phật đă cấm ngăn mà các ông lại phạm nên có tội
(Ngũ Huân[9]:
Tây Vực có đủ năm thứ, ở đây (Trung Hoa)
chỉ có bốn loại).
3) Thập Thiện: Một
là chẳng sát sanh, hai là chẳng trộm cắp, ba là chẳng
tà dâm, bốn là chẳng nói dối, năm là chẳng nói
thêu dệt, sáu là chẳng nói đôi chiều, bảy là chẳng
ác khẩu, tám là chẳng keo tham, chín là chẳng nóng giận,
mười là chẳng tà kiến.
Trong
những giới này, ba giới đầu tiên là thân nghiệp;
bốn giới giữa là khẩu nghiệp; ba giới sau
cùng thuộc về ư nghiệp. Nghiệp là sự. Nếu
giữ ǵn chẳng phạm th́ gọi là Thập Thiện; nếu
vi phạm chẳng giữ được th́ gọi là Thập
Ác. Thập Ác chia ra làm thượng, trung, hạ; sẽ cảm
thân trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh. Thập Thiện cũng chia ra làm thượng,
trung, hạ, được thân trong ba đường lành:
trời, người, A Tu La. Nhân lành cảm quả lành, nhân
ác cảm quả ác, quyết định không nghi, tơ hào
chẳng lầm. Những điều “giết, trộm,
dâm, nói dối” đă giảng trong phần nói về Ngũ
Giới.
Nói
thêu dệt là nói lời vô ích, phù phiếm, bóng bảy, đẹp
đẽ, bàn soạn chuyện dâm dục khiến người
ta nghĩ bậy v.v… Nói đôi chiều là đến người
kia nói chuyện người này, hướng đến
người này nói chuyện kẻ kia; khêu gợi thị
phi, đ̣n xóc hai đầu. Ác khẩu là ngôn ngữ thô ác
như đao, như kiếm, phơi bày những điều
xấu người ta muốn giấu, chẳng biết
kiêng dè. Nếu lại c̣n mạo phạm đến cha mẹ
người th́ gọi là đại ác khẩu; tương
lai sẽ mắc quả báo súc sanh. Đă thọ Phật giới
th́ nên cẩn thận chớ phạm. “Keo tham” (xan tham) là chẳng
chịu thí của cải của chính ḿnh cho người
th́ gọi là Keo. Đối với của cải của
người ta chỉ muốn đoạt về ḿnh th́ gọi
là Tham. Nóng giận là phẫn hận, giận dữ: Thấy
người đạt được điều ǵ th́ lo
buồn, phẫn nộ; thấy người bị mất
mát, ḷng khoan khoái sung sướng. [Nóng giận] cũng có
nghĩa là cậy thế lực, buông lung tâm tánh, khinh rẻ
cả người lẫn vật. Tà kiến: Chẳng tin
làm lành được phước, làm ác mắc tội; nói
là không có nhân quả, chẳng có đời sau; khinh miệt
lời của hiền thánh, hủy kinh giáo của Phật.
Thập
Thiện này bao gồm hết thảy mọi sự. Nếu
có thể tuân hành Thập Thiện th́ không ác chi chẳng dứt
được, không điều lành chi chẳng tu. Tôi sợ
kẻ sơ tâm chẳng thể hiểu rơ nên nay nêu đại
lược một hai việc:
a.
Một là nên hiếu thuận phụ mẫu, chẳng trái,
chẳng nghịch, mềm mỏng, uyển chuyển, khuyên
cho cha mẹ nhập đạo, bỏ mặn, ăn chay,
tŕ giới, niệm Phật, cầu sanh Tây phương liễu
thoát sanh tử. Nếu cha mẹ tin nhận th́ không điều
lành nào lớn hơn nữa! Nếu như cha mẹ nhất
quyết chẳng làm theo th́ cũng chớ ép buộc v́ sẽ
mất đạo Hiếu; chỉ nên đối trước
Phật thay cha mẹ sám hối tội lỗi; đó mới
là điều nên làm. Với anh em bèn hết dạ; với
vợ chồng th́ tận kính; với con cái th́ cực lực
giáo huấn khiến cho chúng tốt lành. Cẩn thận chớ
mặc t́nh kiêu hănh quen thói đến nỗi thành phường
trộm cướp. Đối với xóm giềng làng nước
nên ḥa mục, nhún nhường. V́ họ nói nhân quả, thiện
ác khiến họ đổi ác, hướng lành. Đối với
bằng hữu th́ tận tín; với tôi tớ th́ từ ái.
Đối với việc công cũng tận tâm hết sức
như làm việc tư. Hễ thấy người thân, kẻ
quen biết th́ gặp cha bèn nói về ḷng từ; gặp con
liền nói về hiếu.
b.
Về làm ăn tuy là bỏ vốn kiếm lời, cũng
chẳng nên dùng đồ giả, gạt gẫm người
khác.
Nếu
phong hóa này được thạnh hành ở một làng, một
ấp sẽ tiêu được cái họa loạn khi
chưa chớm, đến nỗi h́nh phạt thành ra vô dụng
th́ có thể nói là ngoài nội tận trung, sống ở nhà
mà tham dự quyền cai trị vậy.
43. Dạy bà tỳ-kheo-ni X…
(Bà này là người
xuất gia thuộc ḍng dơi thế gia, viết thay cho bạn)
Quang âm nhanh chóng, thời thế
đổi dời trong từng sát-na, chẳng ngừng nghỉ
dẫu chỉ một niệm. Đấy chính là tạo vật
hiện tướng lưỡi rộng dài v́ khắp hết
thảy chúng sanh như bà với tôi mà nói “mạng người vô thường, vinh hoa chẳng
tồn tại dài lâu, hăy gấp đi theo diệu pháp vô
thượng để khỏi bị trầm luân”. Bà
đă nhàm bỏ vinh hoa cơi thế, phát tâm xuất gia, ắt
phải nỗ lực siêng tu, chớ nên chần chừ
để ngày tháng trôi qua. Một hơi thở ra khó thể
giữ lại, thở ra không hít vào được nữa
liền thuộc vào đời sau. Hăy nghĩ h́nh chất
tuy thuộc Ngũ Lậu[10],
nhưng tâm tánh vốn đủ Tam Đức. Đau
đáu gột rửa tập khí nữ nhân từ bao kiếp,
tận lực tŕ thánh hiệu Di Đà, quán cơi Sa Bà này
trược ác c̣n hơn chuồng xí, tin cơi Cực Lạc
kia chính là quê nhà ta vốn sẵn có. Chẳng cầu những
phước lạc trời - người đời này,
đời sau, chỉ nguyện báo hết mạng tận
được Phật tiếp dẫn văng sanh. Sáng sao chiều
vậy, niệm đâu nghĩ đấy, niệm cực
công thuần, cảm ứng đạo giao, đến lúc
lâm chung ắt được thỏa nguyện. Đă sanh về
Tịnh Độ đốn ngộ Vô Sanh, nh́n lại phú
quư thế gian khác nào ánh nắng dợn, hoa đốm trên
không, hệt như ngục tù, biển độc!
Nhưng muốn sanh Tịnh
Độ trước hết phải đối trị
nhiễm tập (những tập khí nhơ uế). Kinh Phật
thường dạy: “Phú quư khó
học đạo, nữ nhân cũng khó học đạo”.
Ấy là v́ kẻ phú quư, kiêu mạn thành tánh, xa xỉ đầy
ḷng, c̣n chưa thể khiêm cung tiếp nhận sự vật
để tự chăn giữ chính ḿnh, sao có thể dứt
nghĩ, quên duyên, hư tâm cầu đạo? Nữ nhân chỉ
cậy bóng sắc, thường ôm ḷng ghen ghét, chẳng biết
dẫu là hạng sắc nước hương trời vẫn
cứ là đăy phân, túi da y như cũ! Đă tham luyến thân
huyễn, sao ngộ được diệu tánh? Nhằm trị
bệnh này, đức Như Lai dạy tu quán Tứ Niệm
Xứ: Một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ là
khổ, ba là quán tâm vô thường, bốn là quán pháp vô ngă. Quán
này nếu thành th́ tập khí yêu mến cái thân, ỷ thế
sẽ tiêu diệt không c̣n sót, chẳng khác ḷ lớn nung tan
mảnh tuyết. Bà vốn là nữ nhân phú quư xuất gia,
phàm những tập khí kiêu ngạo, xa hoa, đẹp đẽ,
bóng bảy phải triệt để vứt bỏ, chẳng
để cho mảy may nào chứa chấp trong ḷng th́
tương lai mới có phần thoát khổ. Hiện thời,
pháp yếu ma mạnh, thầy lành bạn tốt thật chẳng
dễ được, phải nên tôn kính cổ nhân, lấy
cổ nhân làm thầy. Tỳ Kheo Ni Truyện, Thiện Nữ
Nhân Truyện, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục hăy nên thường đọc
kỹ, ngơ hầu có cái để học theo, không do đâu
bị đọa vào bè ma. Gần đây Tăng - Ni đa phần
không đúng pháp, chớ nên lạm thâu đồ chúng, hoại
loạn Phật pháp, đấy thật là điều thiết
yếu nhất. Hăy nên tận lực giữ ǵn Thanh Quy, tận
lực tu Tịnh nghiệp, sống làm gương cho nữ
nhân, chết dự vào Liên Tŕ, mới khỏi phụ công trốn
khỏi hầm lửa vạn trượng, đích thân làm
đệ tử Như Lai. Hăy gắng sức lên, chớ
quên lời ta.
44. Giới Đường Tiểu Thực
Bảng[11]
Thể Tam Đức viên dung
được tỏ lộ bởi Giới. Thân do Tứ
Đại huyễn thành, sống nhờ ăn uống. Tiến
đến Bồ Đề hoàn toàn nhờ vào Giới Độ;
tinh tu đạo phẩm ắt phải dựa vào cái
ăn. Các ông đă phát Vô Thượng Đạo Tâm, muốn
đắc Tam Tụ Tịnh Giới[12], hăy
nên dốc cạn tâm lực gieo ḷng thành lễ sám. Các vị
thầy ngoài Giới Đường và các vị hộ pháp
chỉ sợ các ông thân tâm nhọc mệt, đạo nghiệp
khó thể hoàn thành, nên trước bữa cơm trưa,
đặc biệt lập ra bữa Tiểu Thực để
các ông đỡ ḷng ḥng được yên ổn. Phải
biết bữa ăn này về Thể chính là Thiền Duyệt[13],
vô sanh vô diệt, chính là Sắc, chính là Không, giống như
cơm thơm của ngài Tịnh Danh (Duy Ma Cật) th́ Hoặc
mới tiêu được đôi chút. Nó chính là chất Kim
Cang[14] trong
kinh Hoa Nghiêm, dù kiếp hoại [Kim Cang] vẫn không hoại.
Nếu các ông hiểu được [như vậy] th́ tam
luân thể không, liền giác được lục trần,
nhất niệm chẳng sanh, mười cơi tiêu mất. Thức
ăn, pháp, tâm, cảnh mỗi mỗi b́nh đẳng. Giống
như hư không hợp với hư không, như nước
đổ vào nước, biến mất nhưng chẳng
hoại, trở thành một thể. Như vậy mới xứng
là người tŕ tịnh giới, mới gọi là người
báo đáp được ân. Nếu không, hạt gạo to
như núi làm sao ăn cho tiêu được, tương lai
chắc phải có ngày khoác lông đội sừng đền,
các ông ai nấy hăy cố gắng!
45. U Minh Giới Điệp[15]
(Bốn chữ “hiện tọa đạo tràng”
chỉ Phổ Đà mới có thể dùng, những chỗ
khác nên dùng chữ “tầm thanh
cứu khổ”)
Thể của Tâm vốn tịnh,
nhân mê vọng mà phiền hoặc bèn sanh. Thế giới vốn
trong sạch, do huyễn nghiệp mà trược ác liền
nhanh chóng hiện ra. Một phen mê th́ măi măi mê, từ kiếp
này sang kiếp khác trầm luân trong cơi sanh tử, ch́m mất
trong trần lao. Quán chiếu chưa khởi, sao biết
được Ngũ Uẩn vốn không? Tham nhiễm thành
tánh, nào rơ lục trần chính là giác! Ôm bảo châu vô giá oan uổng
chịu khốn khổ, sẵn đủ Phật tánh
thường trụ lại cam chịu luân hồi. Đức
Đại Giác Thế Tôn thương xót thị hiện
thành Chánh Giác, chế ra giới pháp. Trên từ Tam Thừa Thập
Địa, dưới đến địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, phàm những ai có tâm thảy đều nên
thọ tŕ. Ấy là v́ hết thảy chúng sanh đều
đầy đủ trí huệ, đức tướng của
Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước
nên chẳng thể chứng đắc. Nếu ĺa vọng
tưởng th́ Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí liền
được hiện tiền. Do sức của Tam Tụ
Tịnh Giới này, ngay lập tức dứt ác ngừa quấy,
bỏ vọng theo chân, dơ hết, sáng hiện, vi trần
vỡ, kinh lộ ra, cái tâm nghiệp thức biến thành
Như Lai Tạng, khôi phục chân tâm thường trụ
chẳng dời chẳng biến, chứng Pháp Tánh tịch diệt
không giảm không tăng; nhập địa vị chư
Phật, làm con đấng Pháp Vương, đến tận
cùng đời vị lai độ thoát chúng sanh, ngơ hầu
ḿnh cùng người đều thành giác đạo. Cao quư
thay đức Thế Tôn! Dùng Giới độ sanh, khiến
cho ĺa khổ được vui, khiến cho phàm phu trở
thành thánh. Từ ân bát ngát, pháp lợi mênh mông. Dẫu thiên
địa, phụ mẫu cũng chẳng thể sánh ví
được muôn một.
Nay
có tín sĩ X… sống trong huyện… phủ… tỉnh… của
Trung Hoa Dân Quốc, thuộc Nam Thiệm Bộ Châu trong tứ
thiên hạ, thờ Phật, tu nhân, siêu tiến vong linh văng
sanh liên bang, kính v́ [hương linh]… sanh năm… tháng… ngày… giờ…
hưởng thọ… tuổi, trong ngày… tháng… năm… đột
nhiên qua đời. Đau đớn nghĩ: Thân ĺa trần
thế, thần thức vào chốn u minh, chưa liễu nhất
tâm, khó thoát lục đạo. Muốn cậy nhờ Phật
lực dẫn dắt thần thức văng sanh Cực Lạc,
nên đến chùa này, xin thuyết giới để trước
hết gột sạch căn thân. Do vậy, kính vâng theo lời
Phật sắc truyền, lập đàn tác pháp, phụng thỉnh
Sa Bà Giáo Chủ Thích Ca Thế Tôn, Cực Lạc Đạo
Sư A Di Đà Phật, Phật Thuyết Phạm Vơng Bồ
Tát Giới Kinh, U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Bồ
Tát, Hiện Tọa Đạo Tràng Quán Âm Đại Sĩ,
thập phương tam thế vô tận Tam Bảo giáng
đàn chứng minh, rủ ḷng từ gia bị khiến cho giới
pháp vô tác mầu nhiệm tốt lành từ đảnh môn nhập
vào thân tâm, thành tựu pháp khí, tiếp nối hưng thạnh
ḍng giống Phật.
Do
vậy, trước hết dạy [vong linh] quy y Tam Bảo,
phản tà quy chánh, kế đó, dạy sám hối nghiệp
chướng, thanh tịnh căn thân. Tiếp đó, dạy
phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, thượng cầu hạ
hóa. Sau đó, mới v́ [vong linh] nói Tam Tụ Tịnh Giới
khiến cho thân - khẩu - ư nghiệp có chỗ nương
tựa. Từ đấy, đoạn ác tu thiện, tự
lợi, lợi tha. Nếu tự có thể mạnh mẽ
không ngừng nghỉ, sẽ phá được Ngũ Trụ,
thoát khỏi nhị tử, viên măn Tứ Hoằng, chứng
Tam Đức nào có khó ǵ! Phải biết: Sa Bà trược
ác, gặp phải duyên bèn gây chướng đạo; Cực
Lạc thanh tịnh, thấy cảnh tâm bèn sáng tỏ.
Đem công đức thọ giới vô thượng này hồi
hướng văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Phát trọn vẹn ba tâm, xưng danh mười niệm,
chắc chắn được Phật Di Đà đích thân
tiếp dẫn, thánh chúng đều đến đón. Trong
khoảng khảy ngón tay liền sanh sang cơi kia, gởi thân
nơi thai sen, vĩnh viễn ĺa các khổ, nghe pháp thọ
kư, đốn chứng Vô Sanh. Rồi từ đó
nương theo nguyện luân của chính ḿnh, trở vào Sa
Bà, ứng trọn khắp các căn cơ, hiện thân h́nh
tùy theo từng loại để thành tựu trọn các
duyên, xiển dương pháp “tự
tánh chính ngay nơi tâm”, khiến cho chúng sanh trong khắp
pháp giới đều cùng vào trong Di Đà nguyện hải,
đáng gọi là Phật tử tối thượng, là bậc
đại trượng phu thật sự! Tác pháp đă
xong, cấp cho điệp văn. Nhờ công đức này
liền được sanh về Tịnh Độ.
46. Dạy Trần Sanh
(ông này sống nhờ
tại trường học Hóa Vũ ở Phổ Đà,
cha ông ta dạy học tại trường này)
Mạnh Tử cho rằng bậc
quân tử có ba điều vui[16]
c̣n hơn làm vua thiên hạ, điều thứ ba chính là
được dạy dỗ bậc anh tài trong thiên hạ.
Có thể thấy rằng chuyện giáo dục anh tài rất
lớn lao, trách nhiệm rất nặng, quan hệ thật
chẳng phải nông cạn. Ấy là v́ nếu bậc anh
tài được giáo dục sẽ nối tiếp
được thánh nhân đời trước, chỉ bảo
cho người học đời sau, giữ yên đất
nước, khiến đời yên dân lành. Nếu không
được giáo dục th́ bậc thượng do không có
khuôn phép [để noi theo] nên chẳng thể siêu quần
xuất chúng, trở thành một kẻ tầm thường;
c̣n bậc hạ sẽ bầu bạn với kẻ gian,
đàn đúm với kẻ trộm cướp, làm quấy,
làm ác, hoặc hăm thân trong phường gian thần tặc tử
mà chẳng tự biết! Bất Huệ khi trẻ chẳng
nỗ lực, đến già chẳng thành tṛ trống ǵ,
trên phụ tấm ḷng sư phụ dạy dỗ, dưới
bị mất đi niềm vui giáo dục bậc anh tài. Chỉ
mong anh tài trong thiên hạ đều được giáo dục,
cùng hưởng cái tâm vui sướng ấy, chưa từng
một ngày nào quên đi điều đó!
Ông
tướng mạo xuất chúng, thông minh hơn người,
nếu chịu phát phẫn học hỏi, tương lai
nhất định đạt đại thành tựu chẳng
thể suy lường được! Chỉ sợ ông ham
chơi, luống uổng thời gian, đến nỗi tài
vén mây ngút trời trở thành cái tài quẩn quanh trong gang tấc.
Bài thơ đă nói chiều qua, sợ ông chưa thể nhớ
được, nên hôm nay chép lại đưa cho ông, mong
giúp phần tạo nên cái tâm phát phẫn học hành cho ông ngơ
hầu trở thành bậc đội trời đạp
đất vô song trong cả cơi đời. Thơ rằng:
Thiếu
niên thanh xuân tự quá câu,
Song tiền
sự nghiệp cánh hà như,
Dục vi
thiên hạ vô song sĩ,
Tu độc
nhân gian vạn quyển thư,
Vũ lộ
nan tư khô căn thảo,
Phong lôi đản
hóa hữu lân ngư,
Tương
Như[17]
bất phẫn đề kiều chí,
Yên đắc
cao thừa tứ mă xa,
(Tạm dịch:
Tuổi
xuân như bóng bạch câu[18],
Bên song sự nghiệp biết
đâu mà lường?
Muốn thành thiên hạ vô song,
Hăy nên đọc lấy muôn vàn
quyển văn,
Cỏ khô rễ đẫm
sương vô ích,
Cá có vảy sấm gió mới
thành,
Bên cầu phẫn chí ghi thề,
Tương Như mới có ngựa
xe dập d́u!)
Lại nói:
Tam
xích Long Tuyền, vạn quyển thư,
Lăo thiên sanh
ngă ư hà như?
Sơn
Đông tể tướng, Sơn Tây tướng,
Bỉ
trượng phu hề ngă trượng phu!
(Long Tuyền[19]
ba thước, sách vàn muôn,
Trời sanh ra tớ, há chuyện
xuông?
Sơn Đông tể tướng,
Sơn Tây tướng[20],
Người trượng phu, ta
cũng trượng phu!)
Hai bài thơ ấy của cổ
nhân nhằm khích lệ tấm ḷng anh tài, có thể nói là thân
thiết, khẩn thiết đến cùng cực không chi
hơn được nữa! Mong ông hăy đọc kỹ,
nghĩ chín chắn th́ may mắn lắm thay!
47. Dạy những nghĩa lư về pháp môn Tịnh
Độ và cách đối trị nóng giận
Đức Như Lai ra đời
vốn nhằm làm cho các chúng sanh đoạn Hoặc chứng
Chân, liễu sanh thoát tử măi cho đến khi thành Phật
mới thôi! Nhưng v́ chúng sanh căn tánh không đều
nhau, cho nên Như Lai phải thuận theo cơ nghi, nói ra hết
thảy các pháp Đại - Tiểu, Quyền - Thật,
Thiên - Viên, Đốn - Tiệm. Pháp tuy đủ mọi loại
bất nhất, nhưng đều nhằm để thành
thục thiện căn cho chúng sanh, khiến cho họ rốt
ráo thành Phật. Nhưng đoạn Hoặc chứng Chân,
liễu sanh thoát tử há phải dễ dàng ư? Nếu chẳng
phải thuộc hai loại người, [tức là] hạng
đă gieo trồng [hạt giống] từ trước
đến nay chín muồi và hàng Pháp Thân thị hiện, th́
dù có tu tŕ cũng chẳng thể ngay trong đời này, hoặc
trong một hai đời giải quyết nhanh chóng
được! Kẻ căn cơ độn dù trải
qua kiếp số lâu xa vẫn khó thể liễu thoát bởi
lẽ chỉ cậy vào tự lực! Như Lai nghĩ
thương chúng sanh tự lực liễu thoát khó khăn,
nên bèn đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ
tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chỉ cần đầy đủ
ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, tŕ danh hiệu Phật
th́ tuy là tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cực nặng
sắp đọa địa ngục A Tỳ vẫn
được văng sanh. Huống chi những ai không làm các
điều ác, vâng làm các điều thiện ư? Huống
ǵ những Phật tử thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ
các giới ư?
Pháp
môn Tịnh Độ thích hợp khắp ba căn, chính là
để tiếp dẫn căn khí Thượng Thượng,
và là tiếp dẫn kèm thêm hạng trung hạ. Kẻ ngu
thường hay chê [pháp này] là thiển cận, Tiểu Thừa,
nói chung là v́ do chưa đọc kinh luận Đại Thừa,
chưa gặp được bậc thông suốt có đầy
đủ con mắt, dùng cái tâm điên đảo, chấp
trước của chính ḿnh để ḍ lường đạo
thông suốt từ ban đầu cho đến chung cục
của Như Lai. Như kẻ mù nh́n mặt trời,
như kẻ điếc nghe sấm, cố nhiên bọn họ
chẳng thấy, chẳng nghe, cho nên mới b́nh luận lầm
lạc! Phải biết: Một pháp Tín Nguyện Niệm Phật
chính là lời tuyên thuyết phát xuất tâm từ bi triệt
để phổ độ chúng sanh của đức
Như Lai; chỉ có các vị Bồ Tát như Quán Âm, Thế
Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… mới có thể gánh vác rốt
ráo. Bọn họ thấy ngu phu, ngu phụ đều có thể
niệm Phật bèn coi [pháp này] là thiển cận, là Tiểu
Thừa, có khác ǵ thấy ngôi sao treo nhỏ tí trên không trung
bèn cho trời là nhỏ nhoi, thấy con trùng bé xíu ḅ trên
đất bèn cho là đất cỏn con hay chăng?
Nếu
có thể tin tưởng được pháp này th́ chính là
nhiều đời nhiều kiếp đă gieo sâu thiện
căn. Nếu có thể dùng ḷng tín nguyện sâu xa tŕ danh hiệu
Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối th́ chính cái tâm phàm phu ấy sẽ biến thành
Như Lai Tạng, như người nhiễm mùi
hương thân có mùi thơm. Hiện tại được
tiếp xúc với khí phận của Phật, lúc lâm chung lẽ
nào chẳng cảm ứng đạo giao, được
Phật tiếp dẫn hay sao? Những pháp như nhiếp
tâm niệm Phật và tùy phận tu tŕ, tùy duyên hóa đạo,
cũng như duyên do của Thiền Tông, Tịnh Tông, Phật
lực, tự lực lớn - nhỏ, khó - dễ đă
được tŕnh bày tường tận trong Ấn Quang
Văn Sao, xin hăy lắng ḷng đọc kỹ ắt sẽ
tự biết, nên ở đây không ghi lại cặn kẽ.
Chỗ
quan trọng trong việc tu hành chính là đối trị tập
khí phiền năo. Tập khí ít đi một phần th́ công phu
tiến thêm được một phần. Có người
càng ra sức tu hành, tập khí càng dấy động là v́
chỉ biết tu tŕ theo mặt sự tướng, chẳng
biết phản chiếu hồi quang, kiên quyết trừ
khử những vọng t́nh trong tâm họ mà ra. Nếu ngay
trong lúc b́nh thời đă đề pḥng sẵn, th́ lúc gặp
cảnh đụng duyên, phiền năo sẽ chẳng phát khởi.
Nếu b́nh thời biết được thân tâm ta đây
hoàn toàn thuộc về huyễn vọng, cầu lấy thực
thể, thực tánh của Ngă hoàn toàn chẳng thể
được th́ đă không có Ngă, nào c̣n có nhân cảnh (cảnh
nơi nhân), nhân nhân (đối tượng con người
nơi nhân) mà ḥng sanh khởi những chuyện phiền
năo! Đây chính là phương pháp giải quyết tối
thiết yếu từ trên căn bản vậy! Nếu
như chẳng thể hiểu chắc thật Ngă Không, hăy
nên nương theo pháp Ngũ Đ́nh Tâm Quán đức
Như Lai đă dạy để đối trị (Ngũ Đ́nh Tâm
nghĩa là dùng năm pháp này để điều ḥa,
ngưng lặng cái tâm, khiến cho tâm an trụ, chẳng bị
chuyển theo cảnh nữa!) Có nghĩa là: Chúng sanh nhiều
tham th́ hành Bất Tịnh Quán; chúng sanh nhiều sân th́ hành Từ
Bi Quán; chúng sanh nhiều tán loạn th́ hành Sổ Tức
Quán; chúng sanh ngu si th́ hành Nhân Duyên Quán, chúng sanh nhiều
chướng th́ hành Niệm Phật Quán.
Tham
có nghĩa là thấy cảnh bèn dấy ḷng yêu thích. Chúng sanh
trong Dục Giới đều do dâm dục mà sanh. Dâm dục
do ái sanh. Nếu có thể quán sát mỗi mỗi kỹ càng
thân ḿnh, thân người từ ngoài vào trong th́ chỉ thấy
hờm đất, mồ hôi, đờm răi, tóc, lông, móng,
răng, xương, thịt, máu, mủ, đại tiện,
tiểu tiện, thối như xác chết, bẩn như
chuồng xí, ai có thể sanh ḷng tham ái đối với vật
này cho được! Tham ái đă dứt th́ tâm địa
thanh tịnh. Dùng tâm thanh tịnh niệm danh hiệu Phật,
như chất ngọt được trộn lẫn,
như vải trắng ăn màu, dùng Nhân Địa Tâm khế
hợp Quả Địa Giác, sự giảm được
nửa mà công gấp bội, lợi ích khó nghĩ suy!
Sân
là thấy cảnh khởi tâm bực bội, chán ghét.
Người phú quư thường hay nóng giận. Phàm mọi
chuyện muốn được như ư phải có người
[để sai bảo], hễ hơi chút sai trái liền sanh
phẫn nộ, nhẹ th́ buông lời dữ ác, nặng th́ roi
vọt vụt đánh, chỉ cốt khoái ư ḿnh, chẳng
đoái hoài người khác đau ḷng! Lại nữa, tâm
sân nếu khởi lên th́ vô ích cho người, tổn hại
cho ḿnh, nhẹ th́ cũng khiến cho tâm ư bực bội,
xáo động; nặng th́ gan lẫn mắt đều bị
tổn thương. Hăy nên giữ sao cho trong tâm thường
có một khối nguyên khí thái ḥa th́ bệnh tật tiêu diệt,
phước thọ tăng trưởng. Xưa kia vua A Kỳ
Đạt (A Xà Thế) cả đời thờ Phật,
giữ vững năm giới, khi lâm chung do người hầu
cầm quạt đuổi ruồi, quạt lâu mệt mỏi,
hôn trầm, đánh rơi cây quạt rớt trúng mặt
vua, tâm vua sanh phiền hận, ngay lập tức mạng
chung. Do một niệm ấy liền mang thân măng xà. Do sức
túc phước, c̣n biết được nhân ấy bèn cầu
sa-môn dạy cho Tam Quy, Ngũ Giới, liền thoát thân măng
xà, sanh lên trên trời. Do vậy biết thói nóng giận gây
hại rất lớn. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Một niệm sân tâm khởi, trăm ngàn cửa
chướng mở!” Cổ đức nói: “Sân là lửa trong tâm, cháy trụi
rừng công đức. Muốn học đạo Bồ
Đề, nhẫn nhục pḥng tâm sân”.
Như
Lai dạy chúng sanh nhiều sân tu Từ Bi Quán như sau: Xem
hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ,
là chư Phật trong vị lai. Đă là cha mẹ trong quá khứ
th́ nên nghĩ đời trước họ có ân đức
sanh thành, dưỡng dục, thẹn chưa thể báo
đáp, há có nên v́ chuyện trái ư nhỏ nhặt bèn ôm ḷng phẫn
nộ ư? Đă là vị lai chư Phật ắt sẽ
rộng độ chúng sanh. Nếu ta chưa giải quyết
được sanh tử, vẫn mong họ đến
độ thoát! Chẳng những chuyện trái ư nhỏ nhặt
không nên nổi nóng, dẫu là chuyện táng thân mất mạng
cũng chỉ sanh hoan hỷ, chẳng sanh sân hận! V́ vậy,
lúc Bồ Tát xả đầu, mắt, tủy, năo, đều
xem người xin những thứ ấy như thiện
tri thức, coi như ân nhân, coi như người thành tựu
đạo Bồ Đề vô thượng cho ḿnh. Xem phẩm
Thập Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm sẽ tự
biết.
Lại
nữa, một niệm tâm tánh của chúng ta và chư Phật
không hai. Chỉ v́ mê trái bổn tâm, chấp chặt Ngă Kiến
nên hết thảy các duyên đều thành đối
đăi. Như cái bia để bắn đă lập th́ các
mũi tên đều nhắm vào. Nếu biết được
tâm ta vốn là tâm Phật, Phật tâm không, vô sở hữu.
Giống như hư không: Sâm la vạn tượng không ǵ
chẳng bao gồm. Cũng như biển cả: Trăm
sông mọi nguồn nước không ǵ chẳng dung nạp.
Như trời che chở khắp, như đất nâng b́nh
đẳng, chẳng coi chuyện che chở, nâng đỡ
là đức. Nếu ta do chuyện nghịch ư nhỏ nhặt
bèn sanh nóng giận th́ chẳng những khiến cho tâm
lượng chính ḿnh thành hẹp ḥi, mà c̣n tự đánh mất
cả đức. Tuy có đủ Phật tâm lư thể
nhưng khởi tâm động niệm toàn là xử sự
theo phàm t́nh, coi vọng là chân, biến tớ thành chủ; suy
nghĩ như thế há không hổ thẹn ư? Nếu
b́nh thời thường nghĩ như thế th́ tâm lượng
sẽ rộng lớn, không ǵ chẳng dung được, coi
muôn loài như chính ḿnh, chẳng thấy đây - kia. Điều
nghịch xảy đến c̣n thuận chịu được,
huống ǵ những chuyện trái ư nhỏ nhặt mà lại
sanh nóng giận ư?
Ngu
si nghĩa là hoàn toàn không có tri thức, tức là nói thế
nhân đối với cảnh duyên thiện - ác chẳng biết
đều là do túc nghiệp chuốc lấy, do hành vi trong
hiện tại cảm lấy, lầm lạc bảo là không
có nhân quả báo ứng, và những chuyện đời
trước, đời sau v.v… Hết thảy chúng sanh không
có con mắt Huệ, nếu không chấp Đoạn th́ lại
chấp Thường. Chấp Đoạn là nói con người
bẩm thụ khí chất của cha mẹ mà sanh ra, trước
lúc được sanh ra vốn chẳng có vật ǵ, đến
lúc chết rồi, h́nh hài đă mục nát th́ hồn
cũng phiêu tán; làm ǵ có đời trước cũng
như đời sau! Những nhà Nho câu nệ, hẹp ḥi
cơi này đa phần nói như thế. Chấp Thường
là nói con người thường làm người, súc vật
thường làm súc vật; chẳng biết nghiệp do tâm
tạo, h́nh tùy tâm chuyển.
Thời
cổ có kẻ cực độc từ ngay nơi thân ấy
biến thành măng xà, có kẻ cực tàn bạo, ngay từ
chính nơi thân ấy biến thành cọp. Ngay trong lúc nghiệp
lực đang mạnh mẽ, dữ dội, c̣n có thể
biến đổi được h́nh thể, huống chi nhằm
lúc sau khi chết đi, trước lúc được sanh
ra, thức do nghiệp lôi kéo mà chuyển biến ư? Do vậy,
đức Phật nói mười hai nhân duyên chính là lời
luận bàn xuyên suốt cả ba đời. Nhân trước
ắt cảm lấy quả sau, quả sau ắt có nhân
trước. Báo ứng thiện - ác, phước - họa
xảy đến đều do tự ḿnh làm, tự ḿnh chịu,
nào phải trời giáng xuống! Chẳng qua do hành vi của
người ấy mà trời đứng ra làm chủ mà
thôi.[21] Sanh
tử tuần hoàn chẳng có cùng cực, muốn khôi phục
bổn tâm để liễu sanh tử mà bỏ tín nguyện
niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ chẳng thể
được! Ba thứ Tham - Sân - Si là căn bản của
sanh tử. Ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh chính là diệu
pháp để liễu sanh tử. Muốn bỏ ba thứ ấy
th́ cần phải tu ba pháp này. Ba pháp này tu đắc lực
th́ ba thứ ấy tự tiêu diệt. Pháp quán Sổ Tức
không nhất thiết phải dùng, bởi lẽ trong lúc niệm
Phật nhiếp tai lắng nghe th́ sự nhiếp tâm ấy
tương tự Sổ Tức, nhưng lực dụng
khác Sổ Tức một trời một vực. Về pháp
quán trong khi Niệm Phật chỉ cần xem Ấn Quang
Văn Sao và những trước thuật Tịnh Độ
sẽ tự biết.
Hỏi:
Nếu như nói: “Dẫu táng thân mất mạng cũng chỉ
sanh hoan hỷ, chẳng sanh nóng giận”, th́ giả sử
như có người ác đến hại ḿnh cũng chẳng
bận tâm, mặc cho họ giết chóc ư?
Đáp:
Phàm người tu hành có người là phàm phu, có vị là Bồ
Tát đă chứng Pháp Thân. Lại có người lấy việc
duy tŕ thế đạo làm chủ, có người lấy
liễu giải tự tâm làm chủ. Nếu chỉ nhằm
liễu giải tự tâm và là bậc Bồ Tát đă chứng
Pháp Thân th́ giống như trên đă nói: Coi muôn vật và ta
như nhau, sống - chết hệt như nhau. Nếu là kẻ
phàm phu, lại muốn duy tŕ thế đạo th́ suy
nghĩ nên giống như Bồ Tát từ bi lớn lao, sâu
xa, không ǵ chẳng dung nạp, nhưng xử sự th́ vẫn
phải y theo lẽ thường của thế gian, hoặc
làm chuyện ngăn cản, chế ngự để nhiếp
phục, hoặc dùng nhân từ để cảm hóa. Sự
việc chẳng nhất loạt giống nhau, nhưng tâm
nhất quyết chẳng được có ḷng sân độc,
kết thành oán hận! Những điều chỉ dạy
trong đoạn văn phía trước chính là để dạy
người “dùng chuyện giả dụ nhằm tiêu diệt
tập khí nóng giận”. Nếu pháp quán này thành thục th́ tập
khí nóng giận tự diệt. Dẫu gặp phải cảnh
hại thân thật sự cũng vẫn giữ được
tấm ḷng thản nhiên, hành đại bố thí. Nhờ
vào công đức ấy liền sanh về Tịnh Độ.
So với chuyện giết chóc lẫn nhau, bao kiếp dài
lâu báo đền th́ chẳng phải là cách biệt như
trời với đất ư?
48. Biện định về sự sai ngoa trong
việc sát sanh tế lễ tại Chiêu Văn Cổ Hội
(tức hội tế
lễ Chiêu Minh Thái Tử ở Y Huyện, tỉnh An Huy)
Thế tục mê hoặc, coi ác
là thiện, xem tạo nghiệp là tu phước, đa số
là như vậy! Chuyện mắt nh́n thê thảm, tâm đau
xót nhất không ǵ bằng chuyện mở hội tế thần.
Nhà giàu có sang cả ắt giết những con vật lớn
để tế. Một là để cầu được
nhiều phước, hai là để phô phang sự giàu có.
Dẫu cho nhà nghèo cùng, nhỏ nhoi cũng phải giết
gà, giết vịt để mong thần thường ban ân
che chở, khiến cho phước thọ tăng trưởng,
mọi chuyện như ư. Chẳng biết trời đất
lấy hiếu sanh làm đức, thần thánh làm chủ tể
các sự cho trời đất, lẽ nào tâm họ lại
trái nghịch trời đất, v́ bản thân hưởng
một kỳ tế lễ lại khiến cho vô số sanh
mạng cùng chịu nỗi khổ cắt chặt, há c̣n
đáng gọi là một vị chánh thần thông minh chánh trực,
thưởng thiện phạt ác nữa ư?
Nguyên do là v́ kẻ ngu phu tham
ăn mượn danh tế thần giết chóc loài lớn,
loài nhỏ cho sướng khoái bụng miệng, tập
quen thành thói, chẳng biết là đă tạo thành đại
ác nghiệp! Nói là “để tế thần” chứ thần
có ăn đâu? Huống chi đă gọi là “thần” th́ ắt
phải có đức thông minh chánh trực, ắt phải lấy
chuyện làm thiện hay làm ác làm chuẩn mực để
giáng phước hay gieo tai ương. Lẽ nào sát sanh cúng
ta, tức là làm ác [ta] cũng giáng phước; không sát sanh
cúng ta chính là làm thiện [ta] cũng giáng họa hay sao? Nếu
như vậy th́ tâm hạnh của vị thần ấy có
khác ǵ bọn vô lại tiểu nhân đầu đường
xó chợ đâu? Sao c̣n xứng danh là một vị thần
thông minh chánh trực được nữa? Đă là vị
thần thông minh chánh trực chắc chắn chẳng làm
chuyện yêu ma quỷ quái, không tuân theo chuyện đạo
đức nhân nghĩa ấy!
Huống
chi thái tử Chiêu Minh là vị thâm nhập Phật pháp, triệt
ngộ tự tánh, nhận lănh đại giới của Phật,
cả đời ăn chay ư? Xét ra, thái tử họ
Tiêu, tên là Thống, tên tự là Đức Thí, là con trưởng
của Lương Vơ Đế. Lúc sống thông duệ,
nhân từ, khoan thứ, cung kính, cần kiệm, dốc ḷng
tin tưởng Phật pháp, tận lực tu Tịnh nghiệp,
xem khắp các kinh, thấu đạt sâu xa đế lư, thọ
Bồ Tát Giới, vốn thường ăn chay. Trong cung lập
riêng một điện Huệ Nghĩa, chiêu tập danh
tăng giảng luận huyền áo. Ngay cả Vơ Đế
cũng ăn chay nhiều năm, cúng tổ tiên th́ dùng bột
ḿ để chế thành những con vật hiến tế.
Sở ngộ, sở chứng của thái tử vượt
trỗi Vơ Đế gấp mười lần, xưa nay
trong hàng cư sĩ chẳng thấy được mấy
người! Sự tích, lời lẽ của Ngài chép trong bộ
Lương Thư và Quảng Hoằng Minh Tập cùng Cư
Sĩ Truyện[22].
Há
lẽ nào khi sống tŕ giới, nhân từ như thế,
chết đi bèn trở thành vị thần tham muốn
ăn thịt, nếu người ta sát sanh để tế
th́ bèn giáng phước, nếu không, bèn giáng họa hay sao? Ấy
là v́ thế nhân chỉ nghĩ ăn thịt là ngon, bèn dựa
vào ư kiến tham ăn những thứ hôi nhơ tanh tưởi
của chính ḿnh nghĩ rằng thần cũng giống
như thế. Từ đấy, đây kia bắt chước
nhau, chẳng biết là sai. Ví như gịi tửa ăn phân,
cho là thiên tiên cũng sẽ tham vị ngon lành này, bèn thường
muốn dâng cúng để cầu được ban tặng
phước khánh! Những con vật bị giết ấy
phần nhiều đều là những người đời
trước sát sanh tế thần ngơ hầu chính ḿnh
được ăn thịt nay phải đền trả
quả báo sát sanh! Những kẻ ngu cứ nghe nói sát sanh tế
thần bèn hoan hỷ, hớn hở, cho là làm phước,
chẳng biết tương lai bị biến thành những
sanh mạng ấy, lúc bị người ta giết, có miệng
mà chẳng nói được, không cách ǵ trốn thoát! Huống
hồ đối với bậc cao nhân lỗi lạc thâm
nhập Phật pháp, nhận lănh đại giới của
Phật, cả đời ăn chay lại đặt
điều trắng trợn “Ngài là hạng tham ăn thịt”
để rồi giết vô số sanh mạng cúng tế.
Cái tội trái trời nghịch lư, vu khống miệt thị
thánh hiền càng đáng bị trong đời đời kiếp
kiếp vĩnh viễn làm những loài vật bị giết
hại ấy, há chẳng đáng buồn quá đỗi
ư?
Cư
sĩ Lô Trí Duệ ở Y Huyện thuộc tỉnh An Huy
thương xót cho nỗi thảm sát sanh tế thần
trong làng ḿnh, sợ hăi sâu xa rằng hạng ngu nhân vô tri do
v́ sát sanh mà tương lai phải tự thọ báo, xin tôi giảng
rơ chân lư để chỉ dạy, ngơ hầu bậc quân tử
hiểu rơ lư cùng nhau thổi gió Từ văn hồi kiếp vận,
khiến cho hết thảy sanh mạng có linh thức đều
được an nhàn sanh trưởng, loài nào loài nấy
hưởng hết tuổi trời trong ṿng trời đất.
Do vậy, bèn thuật bày duyên do, mong sao bọn họ biết
ḿnh hết sức sai trái, tận lực sửa đổi
để làm nền móng cho thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc.
Đă biết sát sanh tế thần là sai th́ chuyện sát
sanh để cúng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ,
đăi khách, tự cung phụng ḿnh là sai trái cũng không cần
phải khuyên dạy nữa! Nếu có thể vui vẻ lănh
hội th́ lợi ích ấy chỉ có ḿnh đức Phật
mới biết được, xin hăy suy nghĩ kỹ!
49. Bài chúc tụng nhân việc khánh thành ngôi
chùa mới của Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ
Lâm
Chân Như Phật Tánh mọi
hàm thức đều có, hiềm v́ chẳng biết, mê cái
đầu nên phát cuồng bỏ chạy[23].
V́ vậy, đức Thế Tôn ta thị hiện sanh trong
thế gian khiến cho khắp các chúng sanh ai nấy ngộ
được tánh thiên (bầu trời tánh đức). Do
căn cơ bất nhất khiến cho cách giáo hóa bất đồng,
bèn mở ra Luật, Giáo, Thiền, Mật, Tịnh tông. Các
tông khác đều là tự lực, c̣n Tịnh tông kiêm thêm
Phật lực, liễu thoát ngay trong hiện đời, thật
là bậc nhất. Pháp môn lớn lao thay! Thông trên thấu
dưới, Đẳng Giác, nghịch ác cùng hướng về,
cùng hành theo. Pháp truyền sang Đông Độ, mở đầu
tại Lô Sơn, một ngàn mấy trăm năm hoằng
truyền khắp cơi. Xuất gia tứ chúng, tại gia bốn
loại, những người được văng sanh nhiều
khó thể kể xiết! Gần đây vận đời
ngày càng suy hoại, muốn văn hồi ngọn sóng cuồng
loạn, ngoại trừ Phật ra th́ không thể dựa
vào ai khác được! Các đại cư sĩ cực
lực đề xướng lập ra ngôi Cư Sĩ Lâm
mới đứng sừng sững tại đất Hỗ
(Thượng Hải), các tông đều hoằng nhưng
chú trọng Tịnh Độ, pháp nào cũng viên thông, noi
theo quy củ chư Tổ. Quang vốn là một ông Tăng
tầm thường, không có sức hoằng pháp noi theo dấu
thơm ấy, tâm thật vui sướng, dốc tấm
ḷng ngu thành của tôi để chúc tụng: Theo chiều
ngang trọn khắp, theo chiều dọc tột cùng thảy
đều bắt chước theo!
50. Bài tụng phổ hồi hướng việc
quyên mộ khắc kinh Hoa Nghiêm
Lớn lao thay kinh Hoa Nghiêm, là vua
trong các kinh! Pháp môn và công đức hai thứ đều chẳng
thể lường. Đức Như Lai thành Chánh Giác, nói
thẳng vào pháp đă chứng. Những người dự
pháp hội ấy đều là Pháp Thân Bồ Tát. Tuy Nhị
Thừa cũng tham dự, vẫn chẳng thấy chẳng
nghe, huống ǵ các phàm phu lại được dự nghe,
un đúc hay sao? Do tấm ḷng đại từ bi, đức
Phật thâu tóm chỗ cạn cợt vào chỗ sâu nhất,
chỗ quy tông cuối cùng [của kinh Hoa Nghiêm] dạy thân cận
đức Di Đà. Chỉ có ḿnh pháp lạ lùng, đặc
biệt này là phàm - thánh đều nên tuân hành, thâu nhiếp
trọn vẹn Đẳng Giác và quần manh trong lục
đạo. Người độn căn đời Mạt
đoạn Hoặc thật khó. Người tín nguyện niệm
Phật quyết định ngự lên chín phẩm sen. Sức
công đức của kinh này hệt như châu Ma Ni, tùy ư
tuôn ra các thứ báu thảy đều phù hợp các ư nguyện.
Các thiện tín giúp khắc kinh ai nấy đều ước
nguyện khác nhau, cầu siêu cho người thân hoặc cầu
phước, không ai chẳng được cảm thông. Cầu
con liền được con, cầu sống lâu liền
được sống lâu, túc chướng đều tiêu
diệt, việc làm đều như ư. Ví như ánh nắng
Xuân rọi đến, cây cỏ đều tươi tốt;
cũng như mặt trời mọc lên giữa trời, mọi
việc đều nhờ đó được thành. Dẫu
cầu phước thế gian rốt cuộc cũng thành
nhân xuất thế, như bệnh gặp được
thuốc tiên, ngay khi ấy liền thành chân [tiên]. Nguyện
những người thí tiền của sở nguyện
đều đạt được. Đến ngày xả
báo, cùng sanh về cơi Cực Lạc, diện kiến Phật
A Di Đà, được Phật đích thân thọ kư, chứng
Vô Sanh Pháp nhẫn, làm công việc Phật làm. Muốn thuật
công đức trải bao kiếp khó thể tán
dương. Những ai tin nhận được đều
cùng chứng vô lượng quang!
51. Đề từ cho tập sách Hám Sơn
Đại Sư Lục Vịnh
(Khế Chân là pháp danh
của Lư Quốc Tùng)
Hám Sơn đại sư đại
quyền thị hiện, công hoằng pháp sâu dầy, bị
kẻ đố kỵ vu hăm, phải đầy đi làm
lính thú đất Quảng Châu, chế ngự được
họa loạn. May gặp quan Thái Sử nh́n Ngài bằng con
mắt đặc biệt; hoằng pháp Tào Khê, nối lại
huệ mạng đă đứt. Thuyết pháp xứng
cơ, tệ lớn tiêu diệt. Hộ quốc an dân công
vượt trội ngài Văn Hiến; mất rồi, nhục
thân chẳng hoại, chẳng biến đổi! Đất
Việt (Quảng Đông), đất Cám (Giang Tây) tranh giành,
đưa [nhục thân] về bên Tào Khê. Lục Tổ, Thất
Tổ lừng danh trong ngạn ngữ đương thời,
Phật nhật thêm sáng, làm thành lũy pháp. Trước thuật
hoằng truyền, nhật nguyệt sáng ngời; Đại
Tạng lưu thông, tiếc rằng chỉ được
một nửa[24],
bị lạc mất th́ nhiều, cũng có khi xuất hiện.
Diệu kệ Lục Vịnh, bút pháp mạnh mẽ,
văn nghĩa siêu diệu, càng đọc càng phơi phới.
Hơn ba trăm năm, may sao chẳng bị tàn khuyết.
Phật tử Khế Chân t́m được tác phẩm này
tại các tiệm ở đất Hỗ (Thượng Hải),
muốn biểu lộ chí hướng mênh mông của đại
sư, nên cho in thành những tập sách nhỏ, cậy Quang
đề từ để nêu khuôn phép. Do vậy, bèn lược
thuật đại cương để mong cho những
người thông sáng sau này được thấy nghe.
52. Đề tại Tâm Phật Các
(Cư sĩ Tiền
Dưỡng Nguyên ở Giang Tô xin đề từ cho ba mục
Tâm Phật Các. Trước chưa gặp gỡ, sợ ông
ta chấp lư phế sự, lầm nhận tin tức, chánh -
tà hỗn loạn, nhân đấy bèn kéo dài thành ba bài ca, mong
sao ông ta sẽ trừ bỏ được màng mộng, trừ
sự ḷa tối, chánh - tà phân minh, lư - sự viên dung. Đối
với luật lệ thanh vận tôi không hiểu rơ, mong hăy
nh́n vượt ra ngoài chữ nghĩa, lời lẽ, th́ may
mắn lắm thay!)
Chúng sanh, Phật b́nh đẳng
chỉ một tâm này, do mê - ngộ bất đồng nên
thăng trầm. Muốn khôi phục Chân Như Phật Tánh
sẵn có, phải phụng sự đấng Đại
Giác viên chứng. Kiền thành lễ kính tội nghiệp diệt.
Khẩn thiết ức niệm phước huệ sâu. Một
mai Hoặc tận, Thường Quang hiện. Soi tỏ
thiên địa và xưa nay.
53. Đề Minh Tâm Kiến Tánh Trai[25]
Đêm vắng, trai pḥng thanh
tĩnh, kiệt lực tham cứu. Tham đến thấu
triệt trước lúc cha mẹ chưa sanh ra, Tứ
Đại, Ngũ Uẩn đều rớt mất. Lục
căn, thất t́nh đều tiêu vong. Phiền hoặc hết
sạch, biển lặng sóng. Chân thường hiển lộ,
mặt trời sáng rực giữa trời. Hiểu
được tâm thấu được gốc như thế,
chẳng phụ mang tên tự là Dưỡng Nguyên.
54. Đề từ cho sách Tiên Phật Hợp
Tông
Tiên - Phật khác tông, sao hợp
được? Một đằng tham cứu cái tâm, một
đằng chấp vào cái vỏ. Trường sanh rốt
cuộc cũng phải kết thúc. Vô sanh rốt ráo chẳng
diệt mất. Nếu bảo tam giáo là một nhà th́ tôn ty
trong một nhà thật rơ ràng. Giống như trong cùng một
thân người đây, há có thể lẫn lộn giữa
đầu và chân ư? Phải biết chúng sanh và Phật
tâm b́nh đẳng, trăm ngàn đạo khác chưa giác ngộ
thấu triệt, riêng ḿnh đức Phật đại
giác Thích Ca ta viên chứng tâm này thật siêu việt, lại
thương chúng sanh trong pháp giới mê trái tâm này như anh
chàng Diễn Nhă, nên tùy cơ rộng diễn các pháp môn, lắm
cách gỡ niêm, cởi trói. Hoặc Thiền, hoặc Giáo, hoặc
Luật Nghi, rốt ráo đều đưa về một
chỗ, nếu trong đương niệm ĺa được
Năng - Sở th́ trăng rạng giữa trời, nước
dồn vào khe.
Nếu
như căn độn, cơ chưa chín, nên lấy Tịnh
Độ để nương tựa. Như Lai tâm triệt
để đại bi, rất sợ trung hạ căn
luân lạc măi, nói pháp chẳng thể nghĩ bàn này, khác nào
diệu dược A Già Đà. Sanh tín, phát nguyện tŕ danh
Phật, chỉ cầu lâm chung sanh Cực Lạc, như
con nhớ mẹ không gián đoạn, cảm ứng đạo
giao khó suy lường! Được Phật tiếp dẫn
liền văng sanh, vĩnh viễn tạ từ biển ác khổ
sanh tử, thấy Phật, nghe pháp, ngộ Vô Sanh. Viên minh
Ngũ Nhăn, tuyệt màng mộng. Nương Phật từ
lực và nguyện luân của chính ḿnh, trở vào Sa Bà độ
ngũ trược, khiến cho khắp vô tận các hàm thức
khôi phục nguồn tâm, đều thành Phật. Đấy
chính là bậc đại trượng phu lỗi lạc, thật
sự có bản lănh tự lợi, lợi tha. Một pháp
nhiếp khắp hết thảy pháp, pháp ước lược
chính là pháp rộng răi, pháp rộng răi chính là pháp ước
lược. Phật pháp rộng lớn không ngằn mé,
điều thiện nhỏ nhặt nào trong thế gian
cũng bao hàm, chỉ có phép trường sanh luyện
đan trọn chẳng có một lời nào dạy con
người học. Hăy thử đọc bộ Hộ Pháp
Luận của ngài Thiên Giác, Ngài phê phán thẳng thừng, sắc
bén, văn từ, lư lẽ rộng răi, há nào phải nhà Nho
riêng xu nịnh Phật, mà chỉ là thấy điều thiện
bèn đề cao, không chi không thích đáng!
Một
bộ sách Tiên Phật Hợp Tông là do tà nhân hủy báng Phật
nên xuyên tạc xằng bậy, trích dẫn lời Phật,
bẻ cong ư nghĩa để chứng minh phép luyện
đan: Chất trầm độc và cam lộ đựng
trong cùng một bát! Ma kinh Huệ Mạng cũng giống
như thế, đọc vào bị mù chánh nhăn. Những
phường như vậy c̣n chẳng phải là đồ
đệ của Lăo Tử, đă tước sạch thể
thống đạo đức, huống ǵ đối với
tối thượng thừa của đức Như Lai,
làm sao họ có thể liễu giải rồi sanh ḷng cung
kính tận lực tuân thủ? Họ lầm lạc dùng ư nghĩ
nhặm lẹ của chính ḿnh để vu báng, kẻ
đui dẫn lũ mù đi vào vạc lửa. Giá như có
bậc đại lực v́ khắp thế gian này gơ mơ gỗ,
khiến cho họ ra khỏi nẻo tà trở về
đường chánh, ai nấy thân tâm được giải
thoát. Nếu cho là lời tôi chẳng đáng nghe, cứ mặc
t́nh bay lên trời và hóa thành hạc. Ông xem đó: Người
có trí trong thế gian, ai lại đem Ma Ni bắn sẻ
vàng. Kiếp xưa nếu đă gieo thiện căn thật
sự quyết chẳng bỏ lời dài ḍng này, nắm tay
kéo đi cũng không được, chấp thuận hay không
mặc ḷng ông châm chước!
55. V́ chủ rạp hát X…. thượng
đường[26]
Tam giới vốn là một hư
trường (sân khấu diễn tuồng), mọi người
hăy gấp trở về quê nhà, đừng đợi đến
khi chiêng, trống đều ngưng bặt, chẳng biết
nẻo về, phải bơ vơ oan uổng! Pháp không có
tướng nhất định, gặp được
duyên nào bèn đề cao pháp ấy. Sơn tăng một gậy
tùy thân, chẳng ngại gặp sân khấu bèn diễn tuồng,
ứng theo căn cơ người đến hỏi khiến
cho họ biết đường trở về nhà. Phải
biết: Tánh thấy - nghe - hay - biết trong một niệm
hiện tiền của chúng ta và tánh tịch diệt thường
trụ của mười phương tam thế hết thảy
chư Phật không hai, không khác. Chỉ v́ tâm mê chạy theo
cảnh, trái giác, hiệp trần, đến nỗi luân hồi
lục đạo, trọn chẳng có lúc ra. Do thiện nghiệp
mà tạm được thăng lên nhân thiên, theo ác nghiệp
phải đọa vĩnh viễn trong tam đồ! Vạc
sôi, ḷ than, thai lừa, bụng ngựa, hứng chịu muôn
nỗi khổ, một linh tánh vĩnh viễn bị mê muội.
Tưởng cái thân nghiệp báo trong lục đạo là bổn
mạng nguyên thần của chính ḿnh, cậy vào Phật
tánh hằng cổ hằng kim chẳng dời chẳng biến
để hứng chịu nỗi khổ thoạt ch́m, thoạt
nổi, chợt thăng, chợt đọa. Hoa trong
gương, trăng dưới nước trọn không có
Thật Tướng, chẳng khác ǵ diễn tuồng trên
sân khấu, kép, đào, hề, vua, quan, hầu cận thay
vai, nhưng bản lai diện mục chủ nhân ông chẳng
biến đổi mảy may.
Tiếc
cho chúng sanh mê ngay trong cuộc, coi huyễn là chân, trái bỏ
cái ḿnh sẵn có, bị luân hồi oan uổng. Chư Phật,
Bồ Tát thương xót, dùng Như Huyễn Tam Muội Du
Hư Thần Thông chẳng thể nghĩ bàn thị hiện
sanh trong thế gian để đồng sự với họ,
ứng cơ thuyết pháp, hát lên ca khúc trở về quê
hương, chỉ ra con đường trở về nguồn
cội, khiến họ đều hiểu cảnh, minh tâm,
trái trần, hiệp giác, tự thấy được bản
lai diện mục, triệt chứng Phật tánh chân thường.
Lại sợ kẻ căn cơ kém cỏi, chưa thể
nhanh chóng thoát khỏi trần lao, nếu thọ sanh khó tránh
khỏi bị đắm ch́m như cũ, liền mở
ra phương tiện lớn lao, dạy họ văng sanh Tây
Phương, thoát khỏi sân khấu trở về ngồi
yên trong nhà, vĩnh viễn ĺa khỏi các khổ, chỉ
hưởng những sự vui. Tuy nhiên, nhân mừng dịp
vui trai hội, bèn khen một câu, diễn tṛ một chút (dộng trượng
nói):
Ôi!
Phùng trai nhược
hội khất phạn nhân,
Kham hiện
thần thông du hư thân.
(Gặp hội xin cơm ḱa mấy
kẻ,
Hăy hiện thần thông du hư
thân)
56. Lời chúc dành cho dịp xuất bản Đại
Vân nguyệt san
Nhà lửa hừng hực, ngọn
lửa thật mạnh. Lại c̣n tà thuyết giúp thêm uy thế.
Bác không nhân quả, ai nấy mưu toan tự lợi, anh em
trong nhà đánh nhau, trọn chẳng đoái hoài, kiêng dè! Xót
thay đồng bào không được che chở, dẫu muốn
thoát ĺa chẳng biết về đâu! Bèn có bậc Khai
Sĩ (Bồ Tát) riêng phát hoằng thệ, đề xướng
Phật pháp để cứu tế. Ví như mây to tuôn xuống
mưa lớn, khiến cho lửa dữ tắt ngay lập
tức. Nhân quả tuần hoàn nêu cặn kẽ lư ấy, dạy
“lợi người chính là lợi ḿnh”, khiến cho biết
được tự tâm và Phật đồng thể, hết
thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, phải
nên nâng đỡ như anh, như em. Cạnh tranh tiêu diệt,
lễ nghĩa, nhân nhượng hưng khởi, tấn tu
Tịnh nghiệp, thổi khắp liên phong. Sống dự
bậc thánh, mất lên cơi Phật. Chỉ mong báo này lưu thông
khắp cơi. Mong mấy lời chúc tụng này thích hợp với
những điều báo đang đề cao.
57. Diễn từ hoan nghênh hội Phật
giáo Đông Doanh (Nhật Bản) đến thăm núi
Như Lai đại pháp trọn
khắp pháp giới, tam thừa lục phàm không đâu chẳng
nương tựa. Bổn ư đức Phật là khiến
cho khắp tất cả đều được thành Phật.
Do căn cơ bất nhất, đối bệnh phát thuốc,
Đại - Tiểu, Quyền - Thật, Thiên - Viên, Đốn
- Tiệm, Tông, Giáo, Luật, Mật đều thích nghi.
Như bốn cửa thành vào bằng cửa nào đều
được! Theo đường về nhà đỡ tốn
tâm lực. B́nh, mâm, thoa, xuyến vốn cùng là vàng; trăm
ngàn pháp môn chẳng ĺa tự tâm. Chứng được tự
tâm th́ gọi là thành Phật; đạt cái không thể
đạt được, viên măn ba giác. Nhưng các pháp ấy
đều cần tự lực, nghiệp tận t́nh không
mới đạt được lợi ích thật sự.
Kẻ lợi căn sẽ đạt được ngay
trong hiện đời; nếu độn căn kém cỏi,
trải bao kiếp khó đạt được! Do vậy,
đức Như Lai riêng rủ ḷng từ mẫn, mở ra
môn Tịnh Độ để cứu vớt hết thảy.
Bất luận thượng thánh cùng với hạ phàm
đều cùng trong đời này lên chín phẩm sen. Pháp tuy
vô lượng nhưng năm tông này nhiếp trọn. Cầu
lấy pháp ổn thỏa, chỉ có Tịnh Độ là tối
thắng. Dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm,
nhân quả bao gồm trọn khắp, mầu nhiệm không
ǵ sánh bằng. Do vậy, kinh luận không ǵ chẳng tán
dương rộng răi, những người gánh vác pháp
đạo làm cho khắp mọi người quyết định
thành tựu.
Đại
pháp truyền sang Đông gần hai ngàn năm, Luật, Giáo,
Thiền, Mật hoằng truyền khắp cơi. Một tông
Tịnh Độ bắt nguồn từ Lô Sơn, măi cho
đến nay hết sức hưng thạnh. Một nước
Nhật Bản tuy ở phía Đông, núi sông un đúc, đời
nào cũng có bậc cao hiền. Xét từ thời Đông Tấn,
pháp truyền sang cơi ấy. Từ đấy, người
sang đây học chẳng đếm nổi số, tam giáo
ngũ tông, Đông Lâm, Nam Sơn, Kim Cang, Bí Mật đều
do từ đây mà truyền. Những trước thuật
của cổ đức phần nhiều được bảo
tồn, khiến cho các nước cầu pháp t́m được
cửa. Bởi lẽ đó, nhân tài đông đảo, bờ
cơi tuy nhỏ lại xưng hùng toàn cầu.
Năm
ngoái hội Phật giáo [Nhật Bản] mời sang thăm
viếng, tiếp đăi ân cần, quà tặng nồng hậu.
Năm nay đến thăm núi, thẹn chẳng có vật
báu để biếu khách quư hầu thỏa tấm ḷng. May
có bộ sách mới tên là Quán Âm Tụng, nhờ đây biểu
lộ chút ḷng thành, dùng làm quà tặng. Từ ân của Đại
Sĩ trọn khắp pháp giới, chuyện nhỏ nhặt
như thế này làm sao thể hiện ḷng cảm kích cung
kính cho được? Chỉ nguyện các vị đều
vốn sẵn ḷng từ của Phật, giúp vua hoằng
pháp, chỉ thực thi ḷng nhân từ. Phàm những ǵ thuộc
về quốc dân đều coi như một thể, chẳng
phân chia khu vực, chẳng có chút riêng tư. Người
đă được gội ân, trời tự mến đức
mà ban điều lành, đạt được phước
vĩnh cửu chẳng sai! Người giàu tặng của,
người nhân tặng lời, thẹn chẳng thật có
hai thứ ấy, chỉ dâng lời xuông. Chú trọng đến
quyền thế, lợi lộc, trải bao kiếp bị
trừng phạt; chú trọng đến đạo
nghĩa Bồ Đề ắt sẽ thành tựu. Lời
nói xuông chẳng trống rỗng, pháp đạo lưu
thông, các nước bắt chước theo, tiếng
tăm vô cùng!
58. Bài minh trên bia mộ của Hoàng Thái Phu
Nhân mẹ ông Lư
Sách Luận Ngữ chép: “Thiên hạ loạn lạc, thất
phu có trách nhiệm”, bởi lẽ thiên hạ do mỗi một
nhà hợp thành. Nếu chồng vợ từng nhà đều
biết đạo nghĩa cũng như nhân quả, giữ
vẹn bổn phận, trọng luân thường, tận tụy
thực hành chẳng thiếu sót th́ con cái do họ sanh ra sẽ
quen thấy quen nghe, như nước trút vào đồ
đựng, như vàng được đúc khuôn, tánh t́nh tự
thành hiền thiện, ắt chẳng đến nỗi bạo
ác, phóng túng, coi làm ác là chuyện đương nhiên.
Nhưng con người có hiền hay không là nhờ nơi mẹ,
so với cha [con chịu ảnh hưởng của mẹ]
nhiều hơn lắm. Do lúc trong thai bẩm thụ khí chất
của mẹ, lúc nhỏ được mẹ chăm nom
nên chẳng mong như vậy mà lại thành vậy. V́ thế
Châu Tử viết sách Tiểu Học, trong chương mở
đầu bèn nói về chuyện thai giáo. Văn
[Vương], Vơ [Vương], Châu Công, Khổng, Mạnh
đều nhờ hiền mẫu gầy dựng cái gốc
nên thành đức đạt tài trở thành thánh nhân. Do vậy,
biết rằng quyền của đàn bà giúp chồng dạy
con thật ra chẳng kém ǵ đạo trị nước
yên dân của đàn ông. Nhưng cơi đời hiểu lầm,
thực hành ngược ngạo, chẳng dốc sức
nơi đây lại lo tham chánh làm quan. Nào có khác ǵ cầm
đao phía lưỡi bén, chẳng bị đứt tay ngay
lập tức ư?
Ông
Lư Nguyên Hiền thuộc giới buôn bán, có phong cách của
nhà Nho, dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, tận lực
hành đạo hiếu hữu, chuộng thiện, ưa
thí, ấn tống thiện thư. Quang đoán trong gia
đ́nh ông về mặt giáo dục ắt phải có người
lỗi lạc. Nay ông gởi cho xem hành trạng của mẹ,
xin Quang viết lời minh cho bia mộ, mới biết ḿnh
đoán không lầm. Căn cứ theo bài tường thuật
th́ phu nhân họ Hoàng, người làng Thủy Ma, huyện Vĩnh
Xuân, lúc nhỏ mẹ chẳng phải nhọc công dạy dỗ,
tánh t́nh nhân hiếu, từ ḥa, hiểu việc đời
sâu xa. Năm hai mươi sáu tuổi lấy ông Lư Kế
Như. Ông Như mồ côi từ nhỏ, nhà nghèo, lênh
đênh trơ trọi. Phu nhân vui theo mạng trời, siêng
năng dệt cửi kiếm sống để ông Như
yên tâm kinh doanh, khỏi phải bận tâm việc nhà ḥng tạo
thành sự nghiệp. Thường mấy năm mới
quay về, vợ chồng kính trọng nhau như khách. Thoạt
đầu không có con, bèn nuôi con nuôi là Nguyên Xuân, xem như do
chính ḿnh đẻ ra. Về sau, sanh được Nguyên Hiền
và con gái là Cầm Nương, đều thương yêu
như nhau, trọn chẳng hề phân biệt thân sơ.
Đến khi hai con khôn lớn, nhà đă hơi khá giả,
phu nhân vẫn siêng năng, tiết kiệm, ôn ḥa như
cũ. Ông Như thấy thế, vui vẻ, bảo với
hai con: “Nhà ta được như ngày nay đều là do mẹ
các con siêng năng, tiết kiệm, chăm chút giữ ǵn mà
được vậy!”
Cuối
thời Quang Tự nhà Thanh, ông Như quay về dựng nhà,
gă thổ phỉ ở địa phương biết ông
giàu có, toan nuốt trộng, bèn kiện lên quan. Phàm những
việc thuê nhân công, mua vật liệu, tính toán chi dụng
đều do phu nhân đích thân trông nom. Do phu nhân b́nh thời
giúp nạn cứu nghèo, giúp đỡ kẻ mồ côi, góa bụa,
sửa cầu, chữa đường, chấn hưng
công ích, khiến xóm làng cảm động, bội phục,
cho nên thiện nhân quân tử đều muốn cứu
giúp. Gă thổ phỉ sợ mọi người giận dữ,
khó thể xâm phạm nên đành ỉm việc ấy
đi. Do đây mà biết được tài đức, kiến
thức của phu nhân vậy. Đến khi ông Như mất
đi, phu nhân liền tŕ trai niệm Phật, dạy các cháu
đọc sách. Cầm Nương sớm góa bụa, nhà
nghèo, cụ liền cho đón về nhà nuôi, khuyên răn những
đại nghĩa như thủ tiết nuôi con côi, và tụng
kinh, niệm Phật, mẹ con giúp nhau tu tŕ làm lệ
thường. Tuổi già, cháu chắt quanh quần dưới
gối. Nguyên Hiền lại kế tục nghề cha, phu
nhân càng ráo riết khuyên răn chớ tự măn, hăy khiêm tốn,
chẳng để cho người trong nhà kiêu ngạo, xa
hoa và sát sanh. Phàm ra ngoài đều cầm theo tiền bạc
để mong gặp người nghèo cùng th́ châu cấp
cho. Thói ưa thiện chuộng thí xuất phát từ thiên
tánh. Cụ làm chuyện lành rất nhiều, tạm nêu một
hai chuyện:
Cầu
Đông Quan trong ấp là con đường trọng yếu
trong ấp, bị gió lốc phá hủy, gặp lúc thế
đạo loạn lạc, không ai hỏi đến. Phu
nhân đi qua đó, nôn nao thương cảm, lập tức
bảo Nguyên Hiền chọn ngày tu bổ, phí tổn lớn
lao nhưng không tiếc nuối chút nào. Cầu xây xong, nhân
sĩ trong ấp làm hoành phi, câu đối ca tụng. Nguyên
Hiền buôn bán ở Tinh Châu (Singapore). Năm Dân Quốc thứ
10 (1921), do địa phương không yên ổn, bèn đón
mẹ xuống phương Nam. Hoa kiều ở Tinh Châu muốn
lập Hoa Kiều Y Viện (bệnh viện của kiều
bào người Hoa), phu nhân liền quyên ra một vạn
đồng để xướng suất. Về sau, phí tổn
lớn quá, không thể thực hiện được, phu
nhân sai đem khoản tiền ấy để lo cho việc
b́nh thiếu[27] và
trường học trong ấp. Cụ thường sợ
hai con chẳng thấu hiểu ư, bèn nói: “Không phải là mẹ
không mong nhà ḿnh giàu có, nhiều lần đem những khoản
tiền lớn ra làm việc nghĩa chính là v́ các con trừ
họa, tích đức đấy, hăy khéo hiểu ư mẹ!”
Đến
năm Dân Quốc 12 (1923), tức năm Quư Hợi, nhằm
giờ Thân ngày Mười Chín tháng Năm, cụ mất tại
chỗ trú ngụ bên Tinh Châu. Cụ sanh vào giờ Tuất
ngày mồng Hai tháng Mười năm Kỷ Mùi, nhằm
năm Hàm Phong thứ chín (1859), hưởng thọ sáu
mươi lăm tuổi. Vào ngày… tháng… năm Dân Quốc 16
(1927) hợp táng với Kế Như tại núi Đại
Bằng ở ấp nhà. Hai con trai, một con gái, tám cháu
trai, năm cháu gái, chắt năm đứa. Ôi! Như phu
nhân có thể nói là giữ đức hạnh người nữ,
giúp đỡ chồng, làm thầy nữ giới, nêu
gương cho bạn khuê các, trọn hết đạo làm
mẹ, chẳng nhục đấng sanh thành. Nếu những
kẻ làm mẹ trong cơi đời đều được
như phu nhân th́ nào đến nỗi người trong nhà
đánh nhau, giết hại lẫn nhau khiến cho vận
nước nguy ngập, dân không lẽ sống, cũng
như đủ mọi thiên tai thường thấy xảy
ra! Tôi thường nói: “Quyền
trị quốc b́nh thiên hạ, nữ nhân chiếm quá nửa!”
Lại nói: “Dạy con là cái gốc
để trị quốc b́nh thiên hạ, nhưng dạy
con gái lại càng thiết yếu!” Ấy là v́ đời
thiếu hiền nhân là do cơi đời thiếu hiền mẫu.
Có hiền nữ ắt sẽ có hiền thê, hiền mẫu!
Có hiền thê, hiền mẫu th́ chồng con họ chẳng
thành hiền nhân cũng hiếm hoi lắm! Những ai muốn
văn hồi thế đạo, chánh nhân tâm hăy nên dốc sức
nơi việc này!
Minh rằng: Cao đẹp thay cụ
Lư! Bẩm tánh hiền thục, nhân hiếu từ ḥa vốn
sẵn tánh trời. Giúp chồng dạy con thảy đều
thích đáng. Phước do đức lớn, họa do ĺa
nhân từ. Cứu nạn giúp nghèo, giúp đỡ kẻ mồ
côi, góa bụa. Phàm có chuyện nghĩa không ǵ chẳng hỷ
xả. Dựng cầu lợi người, phí tổn lớn
lao chẳng tiếc. Y viện chưa lập, đem tài khoản
giúp người cùng quẫn. Biết giàu chiêu họa, nhiệt
tâm làm việc nghĩa, tích đức để làm kế
sách vĩnh viễn chẳng bị suy sụp. Dốc ḷng
tin Phật pháp, tu tŕ nghiêm cẩn, mẹ con đồng tâm,
nêu gương nữ giới. Nhờ công đức này cầu
sanh Tịnh Độ, do ḷng thành chiêu cảm, được
Phật đón rước. Vị hiền mẫu này xứng
mặt anh thư; nếu mẹ nào cũng được như
thế đời sẽ tự thái b́nh. Cảm cơi đời
cạnh tranh, càng ngưỡng mộ tấm gương tốt
lành, nên viết những nét chánh để làm gương
soi đời!
59. Bài ca ngợi nhân dịp mừng cư
sĩ Phan Đối Phù sắp được bảy
mươi tuổi
Cao đẹp thay cư sĩ!
Nương đại nguyện luân thị hiện trong cơi
đời trược ác này, hiện thân tể quan, nhẹ
gảy khúc đàn, gió nhân chở đạo, đến khi
về hưu, tu tŕ càng sâu. Ban ân cho kẻ nghèo khốn, thí khắp
gạo tiền. Hưng khởi chốn tịnh cư, khôi
phục đạo tràng cổ, kiêng giết, phóng sanh, khuyên
dạy siêng gắng. Nghĩ đến kiếp vận,
không dùng những cách trên đây sẽ chẳng thể cứu
giúp được. Tuổi thọ sắp được
bảy mươi, tuổi càng cao càng khỏe. Tâm tâm Di
Đà, thường trụ chẳng dời, làm sứ giả
của Như Lai phù tá pháp vương, dẫn khắp đồng
nhân cùng lên Lạc Bang.
60. Ca tụng hạnh cao đẹp của
cư sĩ Vương Hân Phủ
Ông
Vương Ư Mục xưa đă trồng cội đức,
bẩm tánh chuyên dốc, giữ hạnh nghiêm cẩn, hiếu
dưỡng cha mẹ, đối xử ḥa mục từ
ái với tông tộc, cảm hóa xóm làng, chuyển biến
thói tục thành thuần thục. Lúc làm quan nắm quyền
chỉ chăm chú làm lợi cho dân, cai quản bảy ấp,
mọi người đều ca tụng là bậc chí nhân.
Mỗi khi xử án, chẳng cần rườm lời, cứ
thật lư, thật t́nh xử cho thích nghi, thượng quan
tin cậy, hạ dân cảm kích. Trong cuối đời
Thanh, không ai được tiếng bằng ông; nhưng v́ bản
tánh chất phác, chẳng bận tâm bợ đỡ, khiến
cho chức phận đến cuối cùng vẫn chỉ là
quan huyện. Mong tận thiên chức, không màng tiếng
tăm, chỉ nội việc này cũng đủ tỏ tấm
ḷng trong trắng. Tuổi tri mạng (50 tuổi) từ
quan, mong tận hiếu dưỡng, hưng khởi học
vấn, giữ vẹn bổn phận, nêu gương cho
đời. Đến tuổi văn niên, lịch duyệt càng
sâu, dốc sức tu Tịnh nghiệp, mong thoát khổ luân.
Đến khi lâm chung, quả nhiên thỏa túc nguyện,
được sanh Tây Phương, có thể nghiệm thấy
qua hơi nóng trên đảnh đầu. Nh́n h́nh tượng
ông, đọc hành trạng của ông, thật là
gương cao tột cho cơi đời. Do vậy chọn lấy
những nghĩa chánh yếu, viết thành bài tụng để
mong nêu tấm gương lành cho con cho cháu.
61. Ca ngợi chuyện quy Tây của Tưởng
Thái Phu Nhân mẹ ông Vương
Xét nghĩ đức đẹp
đáng ca ngợi của cụ Vương: từ ḥa, an
tường, vui vẻ, ḥa thuận, làng nước đều
nghe tiếng. Trên học theo hai bà Phi[28]
và ba bà Thái, con cháu hiền thiện, đáng bậc mẫu
nghi. Con cả tên là Chấn, hiếu từ bậc nhất.
Phàm có chuyện lành ǵ thảy đều giúp sức. Khi
xưa, trông thấy con liền biết được mẹ,
bởi không có mẹ như vậy, sao có con như vậy?
Dốc sức tu sự thiện thế gian, thâm tín Phật
thừa, mẹ con đồng ḷng niệm Phật cầu
văng sanh. Tuổi quá bát tuần (80), thân tâm mạnh mẽ, nhớ
Phật, niệm Phật chẳng tạp, chẳng loạn.
Đến khi lâm chung chánh niệm phân minh, qua đời tốt
lành, theo Phật về Tây. Ngự lên chín phẩm sen, địa
vị chứng Bất Thoái, lưu lại gương đẹp
này vĩnh viễn cho các ngươi.
62. Ca ngợi chuyện quy Tây của Uẩn
Không Trương Phu Nhân
(bà này vốn tên là Uẩn Tuyên, pháp danh là Uẩn
Không)
Lúc nói Ngũ Uẩn
đương thể là Không. Hiểu rơ ư nghĩa này, Hoặc
nghiệp tiêu dung. Bẩm tánh nhân ái, thương dân yêu vật,
từ bi hỷ xả, thảy đều bộc lộ. Tu
chân trong cơi tục, sống trong cơi trần học đạo,
phát trọn ba tâm chuyên tŕ Phật hiệu. Tinh thành cùng cực
bèn cảm ứng đạo giao, được Phật tiếp
dẫn, vượt ngang ra khỏi Nhẫn Giới (cơi Sa
Bà). Đoái tưởng, dặn ḍ dâu, con phải nên thường
niệm. Tự lợi lợi tha, từ chỗ này có thể
thấy được! Kính khuyên những ai thấy nghe
đều phát tín tâm, ngơ hầu đều chứng diệu
nhân ngay trong đời hiện tại.
63. Ca ngợi hạnh đẹp của
Dương Thái Phu Nhân mẹ ông Vương
(Mẹ ông
Vương Cửu Linh ở Vân Nam, tánh t́nh tịnh định,
không chấp trước. Một vị cư sĩ nói: “Phu
nhân đời trước đă từng tham Thiền, ngộ
nhưng chưa chứng”)
Tâm tánh của chúng sanh giống
như chư Phật. Mê hay ngộ, hướng về hay
chống trái đều có duyên do. Cao quư thay cụ
Vương! Túc căn rất sâu, hiếu hữu từ thiện,
đức dầy nêu gương cho nữ giới, tướng
mạo như núi, tánh t́nh như đá, quyết định,
phán đoán không ai ḍ biết được! Tuy chưa
đọc sách tâm vẫn hợp đạo, biểu hiện,
lời lẽ đều thuộc về những nghĩa
lư trọng yếu. Khổ - vui, tốt - xấu, hiểm -
lành, thuận - nghịch, đều xem b́nh đẳng, có sức
trấn tịnh. “Xét quả
nghiệm nhân th́ đời trước đă từng học
Thiền, ngộ nhưng chưa chứng”, lời ấy
khá đúng! “Đại chúng chịu
khổ, há ta hưởng vui riêng? Thăng trầm tùy duyên”,
đích thị là phong thái nhà Thiền (Cửu Linh khuyên mẹ
niệm Phật văng sanh, bà đáp: “Đại chúng chịu
khổ, há ta hưởng vui riêng? Ta chỉ mặc cho
thăng trầm tùy duyên mà thôi”). Chỉ biết tự lực,
chẳng biết Phật lực, nên đến nỗi
đối với Tịnh Độ đánh mất lợi
ích lớn lao. Con đă tin sâu, thay mẹ tu tŕ, ắt sẽ
nhờ vào ḷng từ của đức Phật gởi thân
nơi ao sen. Một khi lên được cơi Tịnh, triệt
chứng duy tâm, mới có thể nương nguyện phổ
độ quần luân.
64. Ca tụng điềm lành do chép kinh của
phu nhân Cung Viên Thường
Phu nhân của
cư sĩ Khoái Nhược Mộc là bà Cung Viên Thường
trường trai thờ Phật, tu tŕ nghiêm cẩn. Năm
Dân Quốc thứ năm (1916), chích máu cánh tay chép các kinh chú
Di Đà, Địa Tạng, Đại Bi, Văng Sanh v.v… để
cầu tiêu trừ túc nghiệp, lâm chung văng sanh. Đến
ngày viên măn, vào lúc quá nửa đêm, đi nằm chưa ngủ,
chợt thấy phía cuối chân giường hiện ra một
viên quang to như cái mâm, sáng hơn ánh chớp, cả hơn
một giờ mới biến mất. Đă thấy tướng
lành ấy bà càng thêm tinh tấn, mấy năm sau, niệm
Phật qua đời. Nhược Mộc bèn kiểm lại
những kinh do bà đă chép bằng máu, cho là chuyện này có
thể khơi gợi tín tâm nên liền vẽ h́nh, viết
lời thuật rơ, gởi một phần cho Quang. Do vậy,
Quang bèn ca tụng rằng:
Tuyệt thay Cung phu nhân, xưa
trồng đại thiện căn. Chí muốn chấn
hưng nữ giới, thị hiện sanh trong nhà nổi tiếng,
bẩm tánh hiếu hữu, từ ái. Từ nhỏ mẹ
đă ít phải nhọc công dạy dỗ, thờ cha mẹ,
phụng dưỡng bố mẹ chồng. Trong ngoài không bị
chê trách. Giúp chồng dạy con cái, mỗi mỗi đều
hợp lễ. Vận xấu, vận tốt chẳng phiền
hay vui. Do tri mạng nên mới được như thế.
Đến khi nghe Phật pháp, dốc sức quay trở lại
nghe nơi tánh nghe, muốn chứng lẽ thật viên
thường, chép kinh để nối tiếp viên âm, giơ
lưỡi dao vô t́nh, chích máu từ cánh tay, khiến cho máu
phàm phu hoàn toàn trở thành lời đấng Thiện Thệ.
Phàm - thánh vốn bất nhị, kinh và máu ḥa vào nhau chẳng
khác. Do vậy, khế hợp Chân Trí, tánh quang bèn tiết lộ.
Tánh quang vừa viên vừa thường, há đâu vừa nhỏ
vừa ngắn ngủi? Phải biết có đủ vô minh
th́ không thể thấu tỏ toàn thể. Cậy vào sức
tu tŕ ấy, hồi hướng sanh Tịnh Độ. Lâm
chung được Phật tiếp dẫn, gởi thân
trong sen báu. Thấy Phật chứng Vô Sanh, tu Phổ Hiền
hạnh nguyện, lúc Trí Đoạn rốt ráo, tánh quang mới
hiện hoàn toàn. Ông Khoái tiếc cho người đời
đa phần chưa giác ngộ, nhờ vào bức thụy
ứng đồ (bức tranh mô tả điềm cảm ứng
tốt lành) này để dẫn nhập [người đời]
bước vào Như Lai Địa.
65. Nêu bày ư nghĩa ẩn tàng của việc
khuyên tŕ kinh Kim Cang
Mười pháp giới thánh - phàm,
chúng sanh - Phật cao - thấp bất đồng, khổ -
vui thật khác biệt, nhưng bản thể của cái
tâm đều tịch chiếu thường hằng, chẳng
sanh, chẳng diệt, linh minh tinh diệu, không biến,
không dời. Nói: “Con người
cùng một tâm này, tâm cùng một lư này. Hết thảy chúng
sanh đều có Phật tánh” là v́ lẽ này vậy. Phải
biết cái tâm này chẳng liên can đến nhân - quả, tu
- chứng, phàm - thánh, chúng sanh - Phật, nhưng nhân - quả,
tu - chứng, phàm - thánh, chúng sanh - Phật đều
được kiến lập trên cái tâm này. Ấy là v́ Thể
tuy bất biến, Dụng thường tùy duyên. Hễ theo
ngộ tịnh duyên bèn thành tứ thánh pháp giới. Nếu theo
mê nhiễm duyên liền thành lục phàm pháp giới. Dù ngộ
tịnh đến cùng cực viên măn Bồ Đề, an trụ
trong Tịch Quang, hay mê nhiễm đến tột cùng
vĩnh viễn đọa trong A Tỳ, chịu các nỗi
khổ cùng cực, căn thân khí giới[29] cố
nhiên phải khác biệt một trời một vực,
nhưng bản thể của tâm đều hoàn toàn chẳng
có tăng thêm hay bị tổn hoại trong những thời
gian ấy. Nếu biết được nghĩa này, ai lại
chịu dùng cái tâm có thể thành Phật đầy đủ
pháp lạc này để làm chúng sanh vĩnh viễn oan uổng
hứng chịu nỗi khổ sanh tử luân hồi?
Kinh Kim Cang là diệu pháp để
triệt chứng tự tánh ngay nơi tự tâm của hết
thảy chư Phật, là con đường tắt để
hết thảy chúng sanh rốt ráo siêu phàm nhập thánh. V́ thế,
nói: Hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều
phát xuất từ kinh này. Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều
có đủ trí huệ của Như Lai, nhưng do vọng
tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng
đắc. Nếu ĺa được vọng tưởng
th́ Nhất Thiết Trí, Vô Sư Trí, Vô Ngại Trí liền
được hiện tiền”. Do vậy, kinh này nhiều
lần răn cấm trụ vào pháp, chấp vào tướng;
bởi lẽ trụ vào pháp chấp vào tướng th́ tuy có
tu tập, vẫn trọn chẳng thể thoát ra ngoài vọng
tưởng, chấp trước. Nếu toàn thể đă
thuộc trong vọng tưởng, chấp trước th́
trí huệ Như Lai c̣n do đâu hiển hiện triệt
để được nữa? Do vậy, kinh dạy phát
Bồ Đề tâm độ thoát hết thảy chúng sanh,
khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn ḥng diệt
độ, nhưng lại chẳng thấy có một chúng
sanh nào được diệt độ. Bởi lẽ: Tâm
chúng sanh vốn sẵn có Vô Dư Niết Bàn, nhưng do mê
chân chạy theo vọng nên biến thành phiền năo nghiệp
khổ, chứ tự ban đầu nào bị mất
đi. Đă được chỉ dạy bèn bỏ vọng
theo chân, th́ phiền năo nghiệp khổ lại trở thành
Vô Dư Niết Bàn, chứ nào phải đến bây giờ
mới có! Ước theo Trí th́ gọi là trí huệ Như
Lai; ước theo Lư th́ gọi là Vô Dư Niết Bàn. Tên gọi
tuy khác, Thể vốn là một. Do tâm trụ vào Thật
Tướng, chẳng trụ nơi Huyễn Tướng,
nên bên trong chẳng thấy ta là người độ, v́ vậy
không có Ngă Tướng; ngoài th́ chẳng thấy có người
khác và chúng sanh được độ nên không có Nhân Tướng
và Chúng Sanh Tướng; chính giữa chẳng thấy Vô
Dư Niết Bàn để đạt được nên
không có Thọ Giả Tướng. Bốn tướng
đă không th́ tam luân thể không, cho nên vạn hạnh khởi
như mây nhóm, chẳng chấp vào một pháp nào. Do đó,
chẳng trụ vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc,
Pháp để hành các hạnh như Bố Thí v.v… Bố Thí
đứng đầu lục độ vạn hạnh nên
kinh chỉ nêu hạnh đầu tiên để làm chuẩn
cho những hạnh khác. Lời Phật hay khéo, chẳng cần
phải rườm lời! Như vậy th́ sóng trào biển
Hạnh, mây bủa trời Từ, chẳng hề khoe
khoang, làm mà không thấy ḿnh làm th́ trên khế hợp quả
giác của Như Lai, dưới khế hợp tự tánh
của tự tâm, cho nên thọ tŕ bốn, ba, hai, một câu
kệ, công đức bằng với mười
phương hư không.
Người
đời chẳng biết nh́n vào chỗ ĺa tướng
vô trụ, bèn bảo kinh này phá tướng, chẳng biết
kinh này chính là vô thượng diệu tướng dạy
người rộng hành lục độ vạn hạnh,
thượng cầu hạ hóa, khởi ḷng Từ vô duyên, vận
ḷng Bi đồng thể. Phải biết lợi ích thật
sự nơi Phật pháp ắt phải do chẳng chấp
trước, do vô trụ mà đạt được. Muốn
chẳng chấp trước, chẳng trụ mà không tận
hết ḷng thành, cạn hết ḷng kính th́ không được!
Tận hết ḷng thành, cạn hết ḷng kính chính là đạo
trọng yếu để tu tập Phật pháp thành thủy
thành chung vậy. Đại sư Chân Đạt muốn
khiến cho người thọ tŕ đều dấy tâm
hoan hỷ, thành kính, bèn thỉnh cư sĩ Uông Hồng Tảo
chép kinh theo lối chữ Khải để ấn hành
lưu thông, và kèm thêm bài ca tụng công đức đằng
sau ngơ hầu người thọ tŕ đều đạt
được sở đắc như tiền nhân.
66. Nêu bày ư nghĩa ẩn kín của ba
mươi hai ứng thân Quán Thế Âm Bồ Tát
Quán Thế Âm Bồ Tát thệ
nguyện hoằng thâm, từ bi rộng lớn. Tuy đă
thành Đẳng Chánh Giác, nhưng lại thị hiện làm
Bồ Tát. Tuy đă thị hiện thân Bồ Tát, lại c̣n
hiện đủ mọi sắc thân trong mười
phương pháp giới, tầm thanh cứu khổ độ
thoát chúng sanh. Hiện thân trong mười pháp giới, không
thân nào chẳng hiện, khiến cho hết thảy chúng
sanh xưng danh chí kính trong hiện tại ĺa được
những huyễn khổ đang phải gánh chịu,
tương lai được thành tựu sự vui chân thật
là thành Phật. Ngài có nhân duyên sâu đậm nhất đối
với thế giới Sa Bà này. V́ vậy, trong phẩm Phổ
Môn, Vô Tận Ư Bồ Tát nghe xong nhân duyên Quán Thế Âm Bồ
Tát có được danh hiệu như vậy, lại hỏi
đến chuyện Bồ Tát dạo qua thế giới
này, phương tiện thuyết pháp; đức Phật bèn
nói đại lược ba mươi hai ứng thân để
chỉ dạy đại khái.
Ba mươi hai ứng thân là
trong bốn thánh pháp giới thuộc mười pháp giới,
chỉ lược nêu ba thân pháp giới Phật, Bích Chi Phật
(tức
Duyên Giác)
và Thanh Văn (thân
Bồ Tát chính là bổn vị nên chẳng nhắc đến). Trong sáu
phàm pháp giới th́ về loài trời, nêu đại lược
sáu thân: Phạm Vương, Đế Thích, Tự Tại
Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên Đại Tướng
Quân, Tỳ Sa Môn Thiên[30]
mà thôi. Với loài người th́ nêu mười lăm thân:
tiểu vương, trưởng giả, cư sĩ, tể
quan, Bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, đồng nam, đồng nữ, các thân phụ
nữ thuộc hàng trưởng giả, cư sĩ, tể
quan, Bà La Môn. Trong tám bộ th́ trời đă được
nêu trong phần trước, nên ở phần này không kể
ra nữa, chỉ có Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca
Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, lại c̣n có Chấp Kim
Cang Thần[31]. Tám
thân này th́ thân Tu La thuộc vào Tu La pháp giới, kỳ dư
đều thuộc thiên [pháp giới], hoặc thuộc súc
sanh, hoặc thuộc quỷ. Lục phàm pháp giới chỉ
thiếu địa ngục pháp giới.
Nhưng đây là nói tóm lược, chứ
không phải là Bồ Tát không hiện thân trong chốn đó
để cứu khổ. Phải biết: Ba mươi hai
ứng thân chẳng qua là nói sơ lược đại
khái để nêu ví dụ cho những thân khác. Nếu nói
tường tận th́ chẳng thể kể trọn hết
được. Bồ Tát hưng khởi ḷng Từ Vô Duyên,
vận ḷng Bi Đồng Thể, tùy cơ ứng hiện, thần
biến khôn ngằn, nếu hiểu được ư th́ diệu
nghĩa sẽ phô bày trọn vẹn. Nếu cứ khư
khư chấp nhặt vào Tích để luận th́ đă
đánh mất sự hay khéo “chẳng
động Chân Tế, hiện các oai nghi, trọn không tính
nghĩ, không ǵ chẳng thích đáng, như một vầng
trăng in bóng khắp ngàn con sông, ngàn con sông đều hiện
toàn vẹn bóng trăng, một mùa Xuân tăng trưởng
khắp mọi cây cỏ, mỗi loài đều được
hưởng ánh nắng Xuân” của Bồ Tát vậy!
Nhưng Bồ Tát chẳng chỉ hiện thân hữu t́nh, [mà
c̣n hiện những thân vô t́nh] như núi, sông, thành tŕ, lầu,
đài, nhà cửa, cầu, bến, đường sá, cây cối,
thóc lúa, tùy theo cơ duyên thảy đều thị hiện.
Ngài Di Sơn đă nói: “Đời
tật dịch hiện làm cỏ thuốc, thuở đói
kém hiện làm gạo thóc”, đủ chứng tỏ tấm
ḷng từ bi của Bồ Tát.
Đại
sư Tông Thiền thuộc chùa Châu Cương thuộc Cao
Đường, Phiên Ngung[32],
Quảng Châu nghĩ đến ân đức của Bồ
Tát rộng lớn, trọn khắp, thiết tha, nên bèn dựng
một căn gác để thờ thánh tượng. Trong ấy
thờ bổn tượng Quán Âm, hai bên thờ tượng
ba mươi hai ứng thân. Ba mươi hai người
như cư sĩ Bổn Nguyện v.v… ai nấy đều
tùy sức ḿnh bỏ tiền ra giúp, công đức ấy chẳng
thể nghĩ bàn. Trộm nghĩ: Trong kiếp quá khứ,
một người nữ tu bổ tháp Phật, ba
mươi hai người giúp cho mới thành. Sau họ
đều cùng được sanh lên Tam Thập Tam Thiên,
người đề xướng trở thành Đế
Thích, người giúp đỡ trở thành những vị
trời thuộc tám cơi trời ở bốn phương.
Tông Thiền đại sư, Bổn Nguyện cư sĩ
v.v… chẳng cầu phước báo nhân thiên, chỉ nguyện
người đề xướng, người trợ
giúp và những người chiêm lễ, cúng dường
trong hiện tại, vị lai đều được
ngay trong hiện đời phước rạng huệ cao,
dự vào bậc thánh hiền cao quư; lâm chung t́nh không nghiệp
tận, lên thẳng cơi Cực Lạc, thấy Phật, nghe
pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn, trở về Sa Bà độ
thoát chúng sanh mà thôi! Lại cầu mưa thuận, gió ḥa,
dân yên, vật mạnh, binh đao dứt, thiên hạ thái b́nh,
lễ nghĩa, nhân nhượng hưng khởi, phong tục
thuần mỹ. Do vậy, bèn nêu bày ư nghĩa ẩn tàng
như thế đó.
67. Đề từ cho bộ Gia Ngôn Lục
Tịnh Độ đại
pháp môn lớn lao không ǵ ở ngoài nó được, như
trời che khắp, như đất chở trọn. Bậc
Đẳng Giác muốn thành Phật c̣n phải cậy nhờ
pháp này; kẻ nghịch ác sắp đọa A Tỳ mười
niệm lên cơi sen, thích hợp khắp với căn cơ
chín pháp giới, đều cùng đảnh lễ kính vâng,
sướng thỏa tâm độ sanh của Phật, duy nhất
không c̣n pháp thứ hai nào nữa! Tôi do sức túc nghiệp,
từng làm một gă Nhất Xiển Đề, bắt
chước bọn Âu, Hàn v.v… ngu xuẩn không sao chữa được.
May là bị bệnh mấy năm, lúc ấy mới suy
nghĩ kỹ càng: Các bậc thánh hiền xưa nay lẽ
đâu đều vô tri cả? Bọn họ đều cùng
tôn thờ, ta nào dám chê bai? Dẫu bậc thánh vẫn có chỗ
không biết, nhưng bọn họ vẫn đủ sức
làm thầy bọn Âu, Hàn. Từ đó, quy y Phật, xuống
tóc, khoác áo thâm. Tự lượng túc nghiệp sâu xa, Tông,
Giáo ḿnh đều chẳng thích hợp, chỉ có cậy
vào Phật lực mới ḥng thỏa ḷng mong, nên chuyên tâm tu
Tịnh nghiệp hầu được dự vào Liên Tŕ.
Gần
mười mấy năm qua, người khác đều lầm
hỏi đến, lời đáp cũng giống như thế
ấy, chẳng dám vượt phận tí nào. Ông Từ Úy
Như ở Hải Diêm[33]
cho những lời lẽ ấy thiết thực, gần
gũi, hai ba lượt đem in ở Bắc Kinh, Thượng
Hải. Lời lẽ tuy chất phác, nhưng mọi
người chẳng giận, t́m đọc càng nhiều,
có nhiều người sanh chánh tín. Cư sĩ Lư Viên Tịnh
túc căn càng sâu dầy, chú thích các kinh luận, xiển minh
Như Lai tâm, sau đó v́ hao tổn tinh thần, yếu bệnh
mỗi ngày càng thêm nặng, bèn bỏ nơi rộng lớn
chọn lấy chỗ ước lược, lập chí nối
gót Đông Lâm. Lại muốn lợi lạc hàng sơ
cơ, tạo thành quy củ, châm ngôn [cho họ], nên bèn trích
yếu những lời trong bộ Văn Sao, phân thành từng
loại để biên tập, cũng như tự bỏ
ra tịnh tài in tặng những ai hữu duyên, mong cho hết
thảy mọi người đều gắng sức mong
thành thánh, thành hiền, giữ vẹn luân thường, tận
hết bổn phận, ai nấy đều hoàn thành tánh
thiên của chính ḿnh, vâng làm các điều thiện, tiêu trừ
sạch các điều ác, tín nguyện siêng năng niệm
Phật, cầu lên được chín phẩm sen, lâm chung
Phật đến tiếp dẫn, đều được
như trăng in bóng trên sông, ngay lập tức văng sanh Tây
Phương, vĩnh viễn thoát vực sâu sanh tử. Thấy
Phật ngộ Vô Sanh, dần dần đạt đến
phước huệ trọn vẹn. Do vậy, thỉnh tôi
viết mấy câu để rộng lưu truyền. Lời
quê lọt vào mắt nhă, uổng chuốc lấy tiếng
cười chê, thương xót. Mặt dầy mày dạn
dâng tấm ḷng ngu thành, mong ai nấy đều xét tỏ
tường. Nếu chưa vượt lên được
bậc Đẳng Giác th́ cũng dự vào hàng Hồi Hướng
vậy.
68. Đề từ cho sách Phật Thuyết
Luân Chuyển Ngũ Đạo Tội Phước Báo Ứng
Kinh Tập Giải
Bản tánh của chúng sanh vốn
không sanh - diệt. Do mê trái nên luân chuyển bao kiếp. Tam
giới không yên ví như nhà lửa, các khổ đầy dẫy,
thoát ĺa không được! Luân chuyển năm đường
trọn không lúc ngừng, giống như bánh xe, xoay vần
lên cao, xuống thấp. Phật xuất hiện trong thế
gian nêu tỏ nguyên do: Do trái nghịch giác nên luân chuyển chẳng
ngơi! Muốn được ngưng nghỉ phải hiểu
nhân quả, tận lực tu Định - Huệ, diệt
trừ nhân - ngă. T́nh kiến nhân ngă đă không, Kiến Hoặc
Tư Hoặc đoạn sạch mới vĩnh viễn ĺa
khỏi sự bỏ thân trong tam giới được[34]! Sự
lư ấy tuy cực thắng diệu, nhưng chỉ có bậc
thượng thượng căn mới có thể đích
thân đạt được. Nếu như độn
căn, kém cỏi, đừng nói là trong một đời
này, dẫu cho ngàn vạn đời cũng khó thành
được! Tội phước báo ứng Phật
đă nêu rơ; tam đồ cố nhiên là ác, nhưng nhân thiên
cũng hiểm, do v́ có phước phần nhiều là nền
móng của họa! Thiện báo đạt được ấy
chính là cái mở lối cho chuyện làm ác. Đức Thế
Tôn đại từ, nhằm dứt nỗi lo, bèn mở ra
Tịnh Độ, khiến cho khắp tất cả đều
đắc độ. Nếu sanh ḷng tin sâu xa và phát nguyện
thiết tha, kiền thành tŕ Phật hiệu ắt sẽ
thành tựu ngay trong đời này.
Kinh
này nói đại lược sự luân chuyển trong ngũ
đạo, tội phước báo ứng, nhân lẫn quả
đều cùng tỏ bày. Do đọc kinh này sẽ biết
cái khổ sanh tử; muốn giải quyết cho xong sanh tử
phải tu Tịnh Độ. Ông Vương Ước Chi
có ḷng đại từ, xiển minh sự lư rơ ràng như
chỉ ra những đường chỉ trong ḷng bàn tay.
Trong đời gần đây, sớ giải kinh Phật rơ
ràng, thấu đạt như thế thật chẳng ai
hơn được! Thương cơi đời trầm
mê, bác không nhân quả, mạnh ăn thịt yếu, cạnh
tranh nhân ngă, đến nỗi dân chúng như đọa
trong nước, lửa, càng nóng, càng sâu, nên làm thế nào
đây? Hoằng truyền kinh này, giải thích nghĩa lư
tường tận, như nhóm họp người mù lại
khiến cho chúng được thấy rơ. Cũng như
gương sáng chiếu khắp muôn h́nh tượng, h́nh
chia tốt - xấu chứ bóng không hai. Biết cái nhân ở
nơi ḿnh sẽ cẩn thận hành vi, cải ác hướng
thiện, mong được yên vui, dứt thói cạnh
tranh, đôn đốc thực hành nhân nhượng, thói tục
biến thành thuần phác, chỉ đề cao đạo.
Công
đức của ông Vương thật khó nghĩ bàn; lợi
ích của việc in tặng vĩnh cửu chẳng suy.
Cùng đẩy lùi con sóng cuồng loạn, nương ḍng
chánh đạo, ngơ hầu đồng luân yên vui dài lâu!
Nhưng [ông Vương] chú giải ư nghĩa của kinh chưa
nói đến Tịnh nghiệp, tuy có dẫn chứng
nhưng không phát huy, lại cho là khéo nói, chỉ e người
đọc không hiểu được nghĩa này, do vậy,
tôi bèn nêu rơ để họ biết được lối
ra. Hết thảy giáo điển do đức Như Lai
đă nói [đều dạy]: “Kiến
- Tư chưa tận, sanh tử khó tránh”. Chỉ có Tịnh
Độ chuyên cậy vào Phật lực, như con thơ
dại cậy mẹ chăm sóc, như vượt biển
cả phải cậy tàu thuyền, lên thẳng bờ kia,
thân tâm thản nhiên! Nếu hiểu lầm nghĩa này, muốn
tự trôi nổi, chẳng những tốn sức lại
c̣n lo bị ch́m.
Kính
khuyên người đọc tin sâu nhân quả, đem tinh lực
ấy hướng về việc cầu sanh Tịnh Độ,
hành trọn vẹn hiếu hữu, tận hết bổn
phận, lấy thân ḿnh nêu gương cho người, cảm
hóa xa gần, đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều thiện, khắc kỷ, giữ lễ, dứt
ḷng tà, giữ ḷng thành. Làm được như vậy th́
gọi là Phật tử thật sự, sống dự vào
ḍng thánh, chết sanh về cơi Phật. Phật pháp rộng
lớn, phủ khắp trời người. Chỉ có pháp
Tịnh Độ này nhiếp thâu toàn vẹn mọi căn
cơ. Đẳng Giác đại thánh hay nghịch ác tiểu
phàm đều được b́nh đẳng nhiếp thọ,
khiến cho lên sen chín phẩm. Biết cơi Sa Bà luân chuyển
năm đường, biết nước Cực Lạc chín
phẩm an vui, b́nh thản, thiện duyên đều trọn,
ác duyên đều diệt, trừ kẻ si ra, ai không tự
gắng! Thân cận Phật Di Đà, theo gót hải chúng, chứng
Vô Sanh Nhẫn, địa vị gần bậc cực thánh.
Muốn khôi phục bản tánh chỉ có pháp này là trọng
yếu! Bỏ pháp này tu pháp khác không ai ḥng đạt
được!
69. Bài ca tụng việc nghiền vàng để
vẽ những h́nh tượng thuộc phẩm Phổ Môn
Lớn lao thay đức Quán Thế
Âm! Triệt chứng pháp giới tạng, nương đại
bi nguyện lực, hiện khắp các sắc tướng,
tầm thanh cứu khổ, tùy theo ḷng cảm mà ứng hiện
trọn khắp. Như vầng trăng giữa trời, vạn
con sông đều in bóng. Ấy là v́ tâm chúng sanh và [tâm] Bồ
Tát không hai. Do v́ trái nghịch giác nên bèn thành khác biệt.
Đă gặp phải các tai nạn, bèn ngưỡng cầu
Ngài rủ ḷng cứu giúp. Ngay trong tâm niệm ấy liền
khế hợp nguồn Chân Giác. V́ thế, vừa khởi
lên một niệm, niệm danh hiệu Bồ Tát th́ liền
ngay trong niệm ấy được cứu khỏi tai nạn,
h́nh phạt.
Trên
núi Linh Thứu, đức Thế Tôn rộng nói kinh Pháp Hoa.
Vô Tận Ư Bồ Tát cung kính gạn hỏi ư nghĩa danh hiệu
[đức Quán Thế Âm], đức Thế Tôn bèn lược
nói chuyện hiện thân cứu khổ. Nêu lên một hạt
bụi trong đại địa, lược giảng chút
phần ư nghĩa. Do vậy, các chúng sanh đều có
được chỗ nương tựa. Như trời
đất che chở, như cha mẹ nuôi nấng. Xưa
có một vị thiện sĩ, muốn rộng nêu ḷng từ
của Bồ Tát bèn nghiền vàng để chép phẩm Phổ
Môn cũng như vẽ nghi dung cứu khổ. Niên đại
đă lâu xa, may vẫn thường giữ được.
Do vậy, đến khi ông Ngô Điệp Khanh đích thân
được nhận lănh, muốn khơi gợi niềm
chánh tín cho người khác bèn xin tôi viết mấy lời,
nguyện cho chúng sanh khắp pháp giới đều cùng chứng
lư Thật Tướng. Thế nên, tôi quên ḿnh hèn tệ, nêu
bày đại lược các nhân duyên, mong sao người thấy
kẻ nghe đều lên được trời Đệ
Nhất Nghĩa.
VIII. Phụ Lục
1. Bài kư về chuyện Quán Âm Bồ Tát ứng
tích tại chùa Viên Quang, Nam Ngũ Đài Sơn
(núi này cách tỉnh
thành Thiểm Tây bảy mươi dặm)
Bài
kư về sự thị hiện ứng tích văn từ
điển nhă, tường thuật sự việc tinh tường.
Tiếc rằng diệu lực vô tác chẳng thể
nghĩ bàn của Bồ Tát c̣n chưa được phát
huy. Lượng tôi chẳng nề kém tệ, gượng
soạn một bài tán để đặt ở trước,
mong sao sự lư viên dung, Thể lẫn Dụng cùng
được nêu tỏ. Nguyên do chúng sanh có thể cảm,
nguyên do thánh có thể ứng đều được nêu
bày, ngơ hầu người sau đọc đến liền
phát Bồ Đề tâm, thấy người hiền mong
được bằng, lấy tâm đức Quán Âm làm tâm
ḿnh, lấy việc của ngài Quán Âm làm việc của ḿnh, để rồi cũng là đức
Quán Âm trong đời vị lai. Tuy văn từ chẳng
bóng bảy, trang nhă, nhưng ư nghĩa cũng đáng chấp
nhận được. Tán
rằng:
Quán Âm đại
sĩ trong vô lượng kiếp, thành Phật đă lâu. V́
độ chúng sanh chẳng ĺa Tịch Quang, hiện thân Bồ
Tát. Lại c̣n ứng khắp quần cơ, hiện h́nh
trong lục đạo. Dùng ba mươi hai ứng thân,
mười bốn vô úy, bốn vô tác diệu lực chẳng
thể nghĩ bàn, tầm thanh cứu khổ, độ
thoát quần manh. Nên dùng thân nào để độ được
bèn hiện thân ấy để thuyết pháp. Khác nào
trăng in bóng trên ngàn con sông, mùa Xuân tăng trưởng
muôn cây cỏ. Tuy trọn chẳng tính nghĩ, nhưng chẳng
sai sót mảy may. Ấy là v́ triệt chứng duy tâm, tỏ
trọn tự tánh. Vận ḷng Bi đồng thể, khởi
ḷng Từ vô duyên, lấy niệm của chúng sanh làm tâm, lấy
hết cảnh trong pháp giới làm lượng. Do vậy
biết vô tận pháp giới vô lượng chúng sanh đều
ở trong tâm tịch chiếu của Bồ Tát. Cho nên
được mây bủa cửa Từ, sóng trào biển Bi, hễ cảm liền
ứng, không nguyện nào chẳng thỏa!
(Thích Thánh Lượng đảnh lễ kính
cẩn viết. Từ đây trở đi là phần kư về
sự thị hiện ứng tích)
Hang Đại Sơn Nham là chỗ
rồng rắn ở, lâu năm biến thành yêu tinh, mặc
t́nh gieo hung tác nghiệt, ăn nuốt không ngừng, gây họa
lây cho dân chúng, biến ra h́nh thù quái dị bay lên, không ai chế
ngự nổi. Nếu không phải bậc ứng thân đại
sĩ ai có thể cứu tế cho được! Ṿi vọi
thay diệu trí thần lực chẳng thể nghĩ bàn!
Nhưng trong cảnh chẳng nghĩ bàn, gượng dùng
văn từ để ghi chép, thuật lại sự tích
ngơ hầu gây ḷng tin sâu xa cho những bậc quân tử cả
ngàn năm sau. Xưa kia, vào thời Tùy, trong niên hiệu Nhân
Thọ (601-604), núi này có độc long. Do nó có sức thần
thông tạo bởi nghiệp lực, nên biến h́nh thành người
mặc áo lông (đạo sĩ), cầm đan dược
đi bán ở Trường An, trá xưng tiên thuật để
lừa kẻ ngu tục, bảo thuốc ấy linh lắm,
uống vào lập tức bay lên trời. Ô hô! Người
dân vô tri nhẹ dạ tin lời ấy, phàm kẻ uống
thuốc ấy bay lên trời không biết là bao nhiêu! Nào có
biết sẽ bị rớt xuống sào huyệt của
đạo sĩ ấy để thỏa bụng miệng
hắn?
Dân
cư một phương vẫn mê chẳng ngộ, chỉ
có đức Đại Sĩ ta do sức bi nguyện, hiện
thân tỳ-kheo, kết cỏ làm am, sống trên đảnh
núi ấy, dùng sức diệu trí hàng phục yêu quái thần
thông ấy, dùng gió thanh tịnh trừ khử nhiệt năo
cho nó. Ư niệm từ bi thấm đến, độc khí
ngầm tiêu, rồng được thanh lương ở
yên trong hang núi. Dân chúng nhờ đức ấy đều
giữ được mạng sống. Chuyện quái dị
xưa kia chẳng c̣n thấy nữa. Do vậy, sự thi
ân linh ứng ấy thấu đến triều đ́nh. V́
Sư có công đối với đất nước, có ân
đối với dân nên lập chùa trên đảnh núi để
đáp tạ. Đại Sĩ dùng gió từ, mưa pháp cứu
khắp hàm linh, huệ nhật sáng ngời thanh tịnh, phá
các tối tăm. Do vậy, người quyền quư[35] ngưỡng
mộ, kẻ b́nh dân khâm phục phong cách, cắt lưới
ái để quy chân, bỏ trâm anh để nhập đạo.
Đại Sĩ thường ngồi trên tảng đá,
vượn núi, thú hoang quây quần bên ṭa, trăm loài chim tụ
họp đông nghịt, đậu lặng lẽ như
đang nghe pháp âm, một lúc lâu sau mới bay đi.
Ô
hô! Dựng chùa vừa được một năm th́ vào
ngày Mười Chín tháng Sáu, Đại Sĩ đột
nhiên thị hiện vô thường, điềm nhiên nhập
diệt. Mùi hương lạ ngập thất, sương
sầu phủ kín trời, chim thú kêu ai oán, núi rừng đổi
sắc. Lúc đó, mọi người trong chùa nghe triều
đ́nh sai sứ đem hương ban xuống, phụng chỉ
phúng điếu, phong tặng để đề cao
phước ngầm. Lúc làm lễ trà-tỳ[36],
trời đất tối tăm, trong khoảnh khắc ấy,
[nơi ấy] hóa thành cơi bạc, chợt nghe trên không trung vang
lên tiếng tiêu, tiếng trống, núi non lay động, mây
lành phủ trùm, hương lạ ngào ngạt. Từ trên ngọn
núi phía Đông chợt hiện ra cái cầu vàng, trên cầu
thiên chúng đứng thành hàng, ai nấy cầm tràng phan và rải
hoa vàng phơi phới chẳng rơi xuống đất.
Cuối cùng trên ngọn Nam Đài, trăm thứ báu chói ngời,
nhiều không biết xuể, xông lên tận trời không ngằn
mé! Trong đó, [Bồ Tát] hiện tướng tự tại
đoan nghiêm, từ dung vĩ đại, rực rỡ, anh
lạc, thù y[37], gió trời
hiu hiu, sáng ngời trước mắt. Khi ấy, hai chúng
Tăng - Tục một ngàn một trăm mấy
mươi người đều thấy dung nghi thật
sự, buồn vui lẫn lộn, không ai chẳng khóc lóc
chiêm lễ, quy y, xưng danh hết sức cung kính. Lúc ấy
mới biết là Quán Âm Đại Sĩ thị hiện ứng
tích vậy! Thanh khí, dị hương đọng lại cả
tháng.
Quan
Tả Bộc Xạ[38]
là ông Cao tấu tŕnh đầy đủ sự việc. Hoàng
thượng xem tờ biểu, than thở hồi lâu, thâu
thập di cốt lập tháp, đích thân viết biển
đề, ban hiệu là Quán Âm Đài Tự, ban tặng ruộng
đất rừng núi mỗi chiều rộng trăm dặm.
Mỗi năm ban ngự hương để chư
Tăng làm lễ cúng tôn sùng pháp hóa rộng lớn. Đến
năm Đại Lịch thứ sáu (771) đời
Đường, đổi tên chùa thành Nam Ngũ Đài
Sơn Thánh Thọ Tự. Thời Ngũ Đại, chiến
tranh liên miên, điện vũ thuộc các đài đều
bị thiêu hủy, chỉ c̣n tàn tăng, nhà nát ở lẫn
cùng gỗ đá. Đến mùa Hạ năm Thái B́nh Hưng
Quốc thứ ba (978) đời Tống, trước sau
sáu lần hiện những điềm lành như mây lành có
h́nh tṛn năm màu. Vị Tăng chủ tŕ là Hoài Vĩ
tường tŕnh đầy đủ lên quan Phủ Doăn,
được quan tâu lên triều đ́nh. Triều đ́nh
bèn sắc tứ bảng vàng, đề là Ngũ Đài
Sơn Viên Quang Tự. Do vậy, tu sửa, xây thêm điện
báu, đắp vẽ tượng Bồ Tát. Ráng khói hương
cùng vàng, ngọc đua sáng; điệu mơ cùng tiếng gió thổi
qua rặng tùng cùng diễn nhiệm mầu. Nhà cửa trong
các đài trên dưới đều xây dựng mới, trụ
tŕ tiếp nối hương đèn chẳng dứt. Từ
quang chiếu sáng, đá ươm mây lành, mưa pháp thấm
đẫm, nước thành cam lộ.
Cách
mấy trăm bước về phía Nam của Đài, có một
thạch tuyền, chảy vào một cái ao h́nh vuông, sắc
vị ngọt sạch, trừ được nhiệt năo,
làm tươi nhuận sự khô kháo. Mở rộng ra thời
tràn ngập sa giới (các cơi nước nhiều như cát),
thâu hẹp lại th́ ao đá lặng trong. Có lúc hạn hán
gắt gao, người nghênh thỉnh đứng nối tiếp
nhau bên đường, đều được cảm ứng
như ḷng mong, châu quận đều ghi rơ [chuyện này]
trong sách vở. Hữu t́nh được hưởng
phước, cây cỏ đượm ân. Từ xưa
đến nay, tiếng tăm chẳng mất. Ôi! Đại
Thánh dùng sức bi nguyện phước phủ một
phương, mà dân một phương ấy cũng chẳng
quên ân phước từ bi. Mỗi dịp Thanh Minh và nhằm
ngày kỵ vào mùa Hạ, chẳng ngại xa xôi trăm dặm,
trèo leo khó khăn, hiểm trở, đều mang tấm
ḷng thanh tịnh noi dấu chân lên đến nơi, nào phải
chỉ trăm ngàn vạn? D́u già, dắt trẻ, đông nghịt
đường nẻo, kéo dài hơn cả tháng. Ai nấy
đều dùng hương hoa, âm nhạc, lọng lụa,
tràng phan, vật dụng cần dùng để cúng dường.
Rồi đầu mặt đảnh lễ, hết sức
cung kính chiêm ngưỡng h́nh tượng, đi nhiễu,
tán thán, không ai chẳng gột tội, được
phước, trừ chướng, đượm ân, nào uổng
công bôn ba leo trèo. Vị Tăng trong chùa là Pháp Nhẫn lo rằng
năm tháng đă lâu, dấu thiêng bị ch́m mất, nên
đem các tấm bia hư vỡ nhờ ghi chép lại, Phổ
Minh cố từ tạ nhưng chẳng được, thật
xấu hổ chẳng phải là tay văn tài. Nếu gặp
được bậc hiền sĩ sửa đổi cho
đúng, chẳng hợp lẽ hơn ư?
Thái
Bạch Sơn Thích Phổ Minh kính cẩn soạn vào ngày Rằm
tháng Giêng năm Chí Nguyên thứ bảy (1270) tức năm
Canh Ngọ. Nhật Đô viện chủ Thích Trừng Uyên
lập bia.
2. Ghi lại lời sờ voi (nói ṃ) về
Niệm Phật Tam Muội
(nguyên cảo của
sư Liễu Dư đă bị lược bớt do Phật
Học Tùng Báo bỏ lầm mấy câu, v́ thế sao lục
nguyên văn)
Năm Bính Ngọ tôi yểm quan
tại chùa Bảo Khánh ở Từ Khê[39],
tạ tuyệt duyên đời, tu tập Tịnh nghiệp.
Gặp đúng dịp vị chủ giảng trong chùa là pháp
sư Đế Nhàn giảng Di Đà Sớ Sao gần chỗ
bế quan. Tôi bèn bắt chước chuyện Khuông Xung
khoét vách[40] khi
xưa, đục một lỗ nhỏ nơi vách pḥng bế
quan, chẳng ĺa đương xứ thường dự
giảng ṭa. Từ đấy niệm Phật càng cảm
thấy thân thiết. Phật hiệu vừa khởi lên vọng
niệm hoàn toàn tiêu, khắp thân mát mẻ, trong ḷng cảm
thấy vui sướng, khác nào cam lộ rưới đảnh,
đề hồ thấm tâm. Sự vui sướng ấy
không ǵ sánh ví được! Một ngày nọ có khách đến
quan pḥng hỏi:
-
Tôi đă tu tŕ pháp Niệm Phật hơn hai mươi
năm, đối với việc sanh ḷng tin phát nguyện
tu tŕ, không ǵ không chân thành, thiết tha, nhưng nghiệp sâu
chướng nặng, rốt cuộc vẫn chưa thể
đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn.
Trộm xét căn tánh tôi chỉ đáng đới nghiệp
văng sanh, tuy trong đời này pháp Niệm Phật Tam Muội
tôi không dám mong mỏi, nhưng pháp nào có thể đạt
được, tướng nào sẽ đạt được
[nơi tam-muội ấy] xin thầy hăy v́ tôi mà dạy cho!
Tôi
nói:
-
Cảnh tướng của tam-muội chỉ có chứng mới
hiểu rốt ráo được, như người uống
nước, nóng - lạnh tự biết. Tôi đă chưa
chứng làm sao tuyên nói được?
Khách
cố kèo nài chẳng thôi, tôi nói:
-
Nếu luận về pháp th́ phải trong lúc đang niệm
Phật, liền xoay trở lại quán niệm ấy,
chuyên chú một cảnh, đừng để rong ruổi
theo bên ngoài. Niệm niệm chiếu soi nguồn tâm, tâm tâm
khế hợp Phật thể. Quay trở lại niệm
nơi cái niệm của chính ḿnh, quay trở lại quán
chính sự quán của ḿnh. Hễ niệm liền quán, hễ
quán liền niệm, sao cho toàn bộ Niệm chính là Quán,
ngoài Niệm không có Quán; toàn bộ Quán chính là Niệm, ngoài Quán
không có Niệm. Quán và Niệm tuy giống như nước
với sữa, vẫn chưa đạt đến cội
nguồn. Phải hướng về một niệm “nam mô
A Di Đà Phật” mà thể cứu (suy xét cho thấu hiểu)
từng tầng một, khăng khắng chăm chú hướng
đến. Càng thể cứu càng tha thiết, càng hướng
đến càng thân thiết, cho đến khi lực cực
công thuần, đột nhiên niệm rớt mất, chứng
nhập cảnh giới “không niệm - không chẳng niệm”.
Như câu nói: “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi căn
trần, thể lộ chân thường, chẳng chấp
vào văn tự. Tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành,
chỉ ĺa vọng niệm chính là Như Như Phật”
chính là nói về ư này vậy!
Công
phu đến mức này là đắc pháp Niệm Phật,
cảm ứng đạo giao rất dễ đắc lực.
Tướng ấy giống như mây tan giữa hư
không, bầu trời xanh lộ ra hoàn toàn, đích thân thấy
được bản lai vốn không có ǵ để thấy
được. Vô kiến chính là chân kiến, hữu kiến
là đọa vào trần. Đến mức độ này
th́ sắc núi, tiếng suối đều là Đệ Nhất
Nghĩa Đế, quạ kêu sẻ hót không ǵ chẳng phải
tối thượng chân thừa, sống động hoạt
bát nơi các pháp, chẳng trụ một pháp nào. Ánh sáng rực
rỡ chiếu ngời các cảnh, nhưng trọn chẳng
có một vật nào. Nói đến Dụng của nó th́
như mặt trời buổi mai mọc lên từ phía
Đông, tṛn trịa chiếu sáng ngời. Nói đến Thể
th́ như vầng trăng rạng rỡ lặn bên phía Tây,
thanh tịnh tịch diệt, vừa chiếu vừa tịch,
vừa tịch vừa chiếu, cùng tồn tại, cùng biến
mất, dứt bặt đối đăi một cách viên
dung. Ví như tuyết phủ ngàn quả núi, biển dung nạp
muôn mạch nước, chỉ là một sắc, trọn
chẳng có vị ǵ khác. Không vướng mắc, tự tại,
tự như. Luận về lợi ích th́ hiện tại
tuy chưa ĺa Sa Bà, đă thường dự hải hội;
lâm chung lên ngay thượng phẩm, đốn chứng Phật
thừa. Chỉ có người trong nhà mới biết
được chuyện trong nhà, [đem ra] nói với kẻ
ở ngoài cửa chắc chắn sẽ bị báng bổ,
đó là điều không c̣n nghi ngờ ǵ nữa.
Lại
hỏi:
-
Con người trong sanh hoạt thường nhật
thường gặp đủ mọi duyên, làm sao có thể
“lọt vào mắt là Bồ Đề, chuyện ǵ
cũng là đạo được?”
Đáp:
-
Tâm sanh th́ đủ mọi pháp sanh. Tâm diệt th́ mọi thứ
pháp diệt. Vạn cảnh chẳng ngoài một tâm, một
tâm dung thông vạn cảnh. Nếu hiểu rơ tâm thể vốn
không, nào ngại bao trùm vạn tượng? Phải biết
vạn tượng như huyễn, sanh diệt chỉ là một
tâm; các duyên không trói buộc, vốn tự giải thoát. Sáu
trần không ác, vẫn đồng Chánh Giác. Tâm và cảnh
như một, nào có vướng mắc? Chẳng thấy Sự
Sự vô ngại pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm đó sao? Nói:
“Hết thảy các cơi nước trong mỗi một trần,
hết thảy tâm trong mỗi một tâm. Trong mỗi một
tâm, một trần, lại lần lượt có đủ
lẫn nhau, trùng trùng vô tận không chướng ngại. V́
vậy, khí giới[41], sợi
lông, hạt bụi, đài mây, lưới báu đều
tuyên biển tánh, đều diễn chân thừa. Theo chiều
dọc cùng tột ba đời, theo chiều ngang trọn
khắp mười phương. T́m một chỗ chừng
bằng đầu sợi lông không phải là đạo cũng
không thể được! V́ vậy, pháp ǵ, chuyện
ǵ không ǵ không phải là đại tịch diệt trường.
Tâm tâm niệm niệm đều khế hợp biển Tát
Bà Nhă (Nhất Thiết Trí). Duy tâm diệu cảnh, duy cảnh
diệu tâm, ĺa tứ cú, tuyệt bách phi, dứt bặt
đối đăi một cách viên dung, làm sao có thể
nghĩ bàn cho được?” Những điều vừa
nói trên đây như người mù sờ voi, tuy chẳng
ĺa voi, chỉ sợ chẳng phải là toàn thể con voi!
Ghi lại để dâng cho các vị xem xét.
3. Khuyên thiêu hủy dâm thư
(Cư sĩ
Trương Thụy Tăng ở Duy Dương cho khắc
lại sách Cách Ngôn Liên Bích, nhờ Quang giảo đính. Do
nguyên văn sách ấy chất phác, sơ lược, rất
khó gây cảm động ḷng người, nên bèn sửa chữa
cho văn lẫn nghĩa đều suông sẻ, thông suốt.
Cư sĩ muốn lưu truyền rộng răi, khuyên Quang nên
đăng kèm vào bộ Văn Sao; do vậy bèn lược
thuật duyên khởi để khắc thêm vào phần Phụ
Lục, mong người đọc chẳng thấy tôi
ăn theo sự tốt đẹp của người khác mà
chê cười.
Thích Ấn Quang ghi)
Sau thời Tam Đại[42],
cơi đời lắm tà kiến, nhưng loại tà kiến
gây hại cho thế đạo nhân tâm nhất th́ không ǵ bằng
tiểu thuyết dâm từ. Bởi lẽ kinh truyện của
thánh hiền chỉ sợ chẳng thể làm cho sự ngu
mê của thiên hạ được tỉnh giác, nhưng tiểu
thuyết dâm từ lại chỉ sợ không thể phá hoại
được liêm sỉ của dân chúng. V́ vậy, tiểu
thuyết ra đời th́ phong hóa dâm ô liền mạnh mẽ.
Hễ dâm từ hưng thịnh th́ trinh đức bị suy.
Dẫu không có tâm thẹn ghét, há bằng ḷng làm chuyện cầm
thú, nhưng nếu con em thông minh, phụ nữ linh mẫn
một phen xem đến những sách ấy sẽ đều
bị mê hoặc. Thoạt đầu th́ thấy từ
chương bóng bẩy, cho là hay khéo, kế đến là
tâm t́nh bị chuyển biến theo văn chương, chẳng
tự chống chọi được, đến nỗi
rốt cuộc cam ḷng đem cái thân “mong thành thánh thành hiền,
yên nhà yên nước” để khoét ngạch, vượt
tường, cắp hương, trộm ngọc, hoàn toàn
chẳng hề tiếc nuối, đều là v́ bị những
tà thư làm mê hoặc vậy. Chất độc của những
sách ấy c̣n quá mứt ướp phê sương[43],
hăm người c̣n thảm hơn hầm sâu tuyết phủ,
khiến cho con người diệt lư, loạn luân, giảm
phước, tổn thọ, tan nhà, diệt thân, ô nhục tổ
tiên, tuyệt tự. Đến khi chết đi, thần
thức c̣n bị đọa trong địa ngục, chịu
các sự khổ cùng cực trải kiếp dài lâu, không do
đâu được thoát ra. Chẳng đáng buồn
ư?
Phàm
những ai viết các sách ấy và kẻ buôn bán những
sách ấy, tội c̣n nặng hơn tội đứng
đầu bè lũ phản nghịch, cầm đầu loạn
tặc, ắt bị phép nước tru lục, luật trời
chẳng tha! Kính khuyên những vị danh tiếng vĩ nhân
đang nắm quyền và hết thảy những bậc
nhân từ quân tử có tâm lo cho thế đạo, phàm trông
thấy những kẻ như vậy đều tận tụy
khuyên họ nên đổi nghề, phàm thấy những sách
ấy và những ván khắc [sách ấy] đều sốt
sắng khuyên thiêu hủy sạch hết đi. Hễ có sức
th́ tự ḿnh đảm nhiệm, nếu không có sức th́
khuyên nhiều người cùng làm. Lại mong lần lượt
chỉ dạy lẫn nhau, khiến cho ai nấy đều
bắt chước theo, ngơ hầu thế gian vĩnh viễn
không c̣n có những sách ấy nữa, nhân dân đều
đôn đốc giữ vẹn luân thường mới
thôi! Ắt sẽ thấy Phật, trời che chở
như mây nhóm, tai chướng băng tiêu, thân tâm yên vui, cửa
nhà được hưởng tốt lành giàu, sang, mạnh
khỏe, b́nh yên, thân hiện đời hưởng ngũ
phước như Cơ Tử đă nêu [trong thiên sách Hồng
Phạm], tước vị tăng cao, hậu duệ
được hưởng trăm điều lành như [đă
nói] trong bài Y Huấn[44].
Riêng đem bốn điều hại của việc cất
chứa những tiểu thuyết và mười cách thiêu hủy
dâm thư ghi tường tận ở phần sau, mong sao những
người có tâm cho lo thế đạo nhận lấy
hành theo (Bốn
điều hại, mười cách [thiêu hủy] xin xem trong
Cách Ngôn Liên Bích).
4. Phương thuốc thần diệu
để cai thuốc phiện
(ngàn vạn phần
chẳng được thêm một vị thuốc nào khác
vào, hễ thêm vào th́ bài thuốc không c̣n linh nghiệm nữa)
Nha phiến gây hại, những
người bị mắc hại chẳng biết là bao
nhiêu. Những đồng bào có chí thường muốn cai nghiện
nhưng khổ v́ không có phương thuốc tốt lành. Gần
đây, những thuốc hoàn để cai thuốc phiện
bán trên thị trường phần nhiều bỏ thêm chất
độc ma-phi (morphine), tuy có thể đè nén được
cơn thèm thuốc, nhưng người dùng bị hại
càng quá hơn nữa. Nay phương thuốc thần diệu
này giản tiện dễ chế biến, có lợi không gây
hại, chỉ mong sao những ai có chí cai hút nha phiến đều
mau chiếu theo toa mà uống, bách phát bách trúng, muôn vàn phần
chớ coi thường!
* Toa
thuốc:
Cam
Thảo (Radix Glycyrrhizae) tám lạng[45].
Xuyên Bối Mẫu (Bulbus Fritillariae cirrhosa) bốn lạng.
Đỗ
Trọng (Eucommia
Ulmoides Oliver) bốn lạng.
Thuốc
gồm ba vị, dùng sáu cân (60 lạng) nước trong, sắc
c̣n một nửa, đem thuốc lọc qua vải để
bỏ bă, bỏ thêm một cân đường đỏ tốt
làm thành cao. Mỗi lần uống ba tiền, chiêu với
nước ấm.
* Cách uống:
Ba ngày đầu mỗi ngày dùng
một lạng thuốc cao, bỏ thêm một tiền thuốc
phiện. Ngày thứ tư, năm, sáu, cứ mỗi một
lạng thuốc cao, bỏ thêm tám phân[46]
thuốc phiện. Ngày thứ bảy, tám, chín, cứ mỗi
lạng chỉ thêm sáu phân. Đến ngày thứ mười,
mười một, mười hai, cứ mỗi lạng bỏ
thêm bốn phân thuốc phiện. Đến ngày mười
ba, mười bốn, mười lăm, mỗi một lạng
thêm hai phân thuốc phiện. Đến ngày mười sáu,
mười bảy, mười tám, mỗi lạng thêm một
phân thuốc phiện. Sau ngày mười tám cứ mỗi lạng
thêm một phân thuốc phiện. Lại uống bảy
ngày, sau đấy không cần thêm thuốc phiện vào nữa.
Uống xong thuốc cao này, bệnh nghiện tự dứt,
không khó chịu cũng như chẳng bị hết thảy
bệnh vặt. Thật là phương thuốc kỳ diệu.
Cai nghiện xong, chớ hút lại. Yêu tiếc quang âm, bảo
dưỡng tinh thần, hết sức cầu mong. Trong lúc
đang uống thuốc cai nghiện, phải kiêng chất
chua.
* Biện
pháp pḥng ngừa:
Nếu đang cai nghiện mà nẩy
sanh những bệnh tật khác th́ với mỗi lạng
thuốc cao, chiếu theo kỳ hạn mà tăng thêm một
phân thuốc phiện, chớ bỏ quá nhiều, tự
nhiên bệnh lành, vạn người chẳng sót một ai.
Phương thuốc này trị lành rất nhiều người,
có kẻ mỗi ngày hút hai ba lạng thuốc phiện, uống
vào một liều đều dứt được cơn
nghiện. Chẳng những không sanh bệnh tật, tinh thần
lại c̣n mạnh mẽ, cực kỳ linh nghiệm.
5. Nguyên bạt
(lời bạt cho bộ
Tăng Quảng Văn Sao)
Pháp sư Ấn Quang, pháp danh
Thánh Lượng, biệt hiệu Thường Tàm (thường
hổ thẹn), là người huyện Cáp Dương tỉnh
Thiểm Tây, trụ tích tại lầu Tàng Kinh của chùa
Pháp Vũ, Phổ Đà, đời hiếm người biết
đến. Năm Giáp Dần (1914), cư sĩ Cao Hạc
Niên đem mấy thiên trong Văn Sao của Sư
đăng tải trong Phật Học Tùng Báo, Úy tôi nhận
lấy đọc, chắp tay hoan hỷ, than là chưa từng
có! Đại pháp suy kém, lúc này là cùng cực, chẳng ngờ
trong đời c̣n có bậc có đủ chánh tri chánh kiến
như thầy tôi. Tiếp nối huệ mạng của Phật
chính là đây. Văn của Sư không một chữ nào
không có lai lịch, sự thâm nhập được hiển
lộ, phù hợp khéo léo với thời cơ, quả thật
là thuốc tốt lành thích ứng căn bệnh trong đời
Mạt Pháp vậy. Mùa Xuân năm Mậu Ngọ (1918), suốt
năm đă thâu thập, ḍ hỏi được hai mươi
hai thiên văn chương, bèn đem in ở kinh đô,
đó là bộ Sơ Biên. Quay về yết kiến Sư tại
Phổ Đà, thâu thập được khá nhiều bản
cảo, lại được những người quen biết,
bè bạn sao lại những thư của Sư gởi cho
xem. Mùa Thu năm Kỷ Mùi (1919), lại đem những bản
đă sao lục hay giữ được gồm ba
mươi tám thiên in thành bộ Tục Biên. Mùa Đông
năm ấy, đi cứu tế trở về Nam, Tăng
- tục miền Nam t́m đọc sách ấy càng nhiều,
bèn thương lượng với Thương Vụ Ấn
Thư Quán in lại để lưu truyền rộng răi.
Lại được ông Trương Vân Lôi ra sức thâu
góp rộng răi, cùng với Úy tiếp tục thâu thập bản
cảo, tổng cộng tăng thêm ba mươi bốn
thiên. Do ba vị Châu Mạnh Do, Châu Xích Manh, Hoàng Ấu Hy kết
hợp bộ Sơ Biên và Tục Biên, phân loại sắp xếp
theo thứ tự, giảo duyệt cặn kẽ, so với
hai lần in trước lại càng hoàn thiện hơn.
Sách soạn thành, kính cẩn ghi lại duyên khởi như
thế đó.
Trọng
Đông (giữa mùa Đông) năm Canh Thân (1920), Từ
Văn Úy ở Chiết Tây kính đề.
6. Công đức in tạo kinh tượng
(Hoằng Nhất
Thích Diễn Âm dạy đại cương, Hoằng Thật
Vưu Tích Âm diễn dịch)
Chúng sanh trầm luân trong biển
khổ, ắt phải nhờ vào thuyền từ cứu tế,
sau này sẽ có lúc được độ thoát. Phật
pháp hóa đạo trong thế gian hoàn toàn cậy vào kinh -
tượng để duy tŕ hầu truyền đăng cho
vô tận đời sau. Do bởi lẽ ấy, phàm những
ai có thể phát tâm đối với kinh Phật, tượng
Phật, hoặc khắc, hoặc chép, hoặc tạc, hoặc
đắp, hoặc thếp vàng, hoặc vẽ vời; các
cách in tạo như thế hoặc cạn kiệt tâm ḿnh, một
ḿnh ra sức lo liệu, hoặc v́ sức ḿnh chẳng
đủ bèn khuyên rộng răi mọi người, hoặc
lưu thông [những kinh tượng] người khác
đă in tạo để cúng dường, hoặc thấy
người khác vừa in tạo bèn tán trợ hoặc hoan
hỷ th́ công đức của những người ấy
đều thật rộng, thật lớn, chẳng thể
dùng toán số tầm thường để tính toán
được. V́ sao vậy? Phật lực vô biên khéo dẹp
các khổ; chúng sanh vô lượng nghe pháp khó lắm. Nay những
người gây công đức in tạo ấy khai thông cầu
pháp, hoằng dương sự giáo hóa rộng lớn, thí rộng
khắp bè báu, giúp khắp những ai hữu duyên. Tâm lượng
ấy rộng lớn quả thật chẳng thể
nghĩ bàn. V́ vậy, công đức ấy cũng rộng
lớn chẳng thể nghĩ bàn. Kính đem những lời
vốn do kinh dạy, nêu đại lược mười
lợi ích lớn, kính cẩn dùng lời văn nông cạn
để lần lượt tŕnh bày như sau:
1) Các thứ tội lỗi đă tạo
trước đây hễ nhẹ bèn lập tức tiêu diệt,
nặng th́ cũng chuyển thành nhẹ: Tham -
sân - si là chủng tử tạo nghiệt, thân -khẩu - ư
là cơ quan để làm ác. Đêm thanh tự kiểm
điểm, đời này đă phạm nhiều tội chẳng
thể tính được. Nếu gộp những tội
đă phạm trong nhiều đời th́ tội nghiệp
đă tạo nhiều như núi băng nơi xứ lạnh,
chẳng thể không sợ hăi! Tuy nhiên, tội tánh vốn
không, nếu dấy động tâm cơ chuộc tội,
thệ nguyện lưu thông thánh kinh, trang nghiêm tượng
Phật, th́ núi băng tội ác một khi gặp phải
huệ nhật lẽ nào chẳng tiêu giảm không dấu vết
ư?
2)
Thường được cát thần (thiện thần)
ủng hộ, hết thảy tai nạn ôn dịch, nước,
lửa, giặc cướp, đao binh, lao ngục đều
chẳng bị hứng chịu: Những thứ ác
báo trong nhân gian không ǵ chẳng phải là do ác nghiệp
đă tạo trong nhiều đời. Thiện lực trong
một niệm có thể xoay chuyển được ḷng
trời. Tu hành thiện nghiệp phải bắt đầu
từ chuyện thuận tiện, dễ làm nhất là công
đức thù thắng do in tạo kinh tượng mà làm, sẽ
cảm động những vị thần tốt lành nên
được họ hộ vệ. Điều này quả
thật có mối quan hệ lợi ích lẫn nhau. Bởi lẽ
dù là thần đạo hay thiên đạo, nói theo Phật
pháp, đều bị túc nghiệp sai sử, chưa thoát khỏi
cái nhân khổ luân chuyển bao kiếp. Do vậy, khi đức
Như Lai thuyết pháp thường có vô số thiên thần
cung kính ủng hộ. Khi ngài A Nan kết tập kinh, tứ
đại thiên vương nâng án. In tạo kinh tượng
là chuyện chư thiên long thần hoan hỷ phi thường.
Do công đức này cảm được những vị
thần tốt lành thường ủng hộ cho. Hết
báo thân này ĺa các tai ách. Đây là chuyện phải như vậy
chứ không phải nhờ may mắn [mà được cát
thần ủng hộ] đâu!
3)
Oán đối đời trước đều
được lợi ích nơi pháp, được giải
thoát, vĩnh viễn tránh khỏi nỗi khổ tầm thù
báo phục: Hết thảy các thứ hành vi ngang ngược
kết oán như tranh giành, ghen ghét, dối trá, vu hăm, cướp
đoạt, tàn sát… trong thế gian không ǵ chẳng bắt
nguồn từ ư niệm tự tư tự lợi. Phật
pháp lấy phá trừ Ngă Chấp làm công tŕnh bậc nhất
để cứu khổ, gột sạch nạn. In tạo
kinh tượng lợi ích khắp nhân gian, là công đức
pháp thí chẳng thể nghĩ bàn, ảnh hưởng rất
rộng. Một giọt mưa pháp thừa sức dập tắt
lửa sân oán đối nhiều đời, hóa thù thành ân,
chuyển họa thành phước, quyền ấy có bao giờ
chẳng do chính ta thực hiện?
4)
Dạ-xoa, ác quỷ chẳng thể xâm phạm. Rắn
độc, cọp đói chẳng làm hại được:
Hạnh xấu keo tham là cái nhân sâu xa khiến đọa lạc
trong quỷ đạo. Lửa sân vô minh là điềm gây
nên tai ương độc trùng. Kết oán nhiều đời,
tầm thù trăm kiếp. Ác duyên chưa chín muồi, mặc
ư tiêu dao; đến khi cơ hội đă tới, nhờ
ai giải cứu? Quỷ mị xâm hại, cọp rắn
bức bách. Nghiệt do ḿnh tự gây, chẳng phải là
chuyện ngẫu nhiên. Người tu kinh sợ, in tạo
kinh tượng, hành sám hối tội sẵn. Do vậy, dù
có ác duyên cũng đều tiêu trừ được. Nếu
lâm vào hiểm địa liền hóa thành đường bằng
phẳng.
5)
Tâm được an ủi, ngày không hiểm sự,
đêm không ác mộng, vẻ mặt tươi sáng, khí lực
sung măn, việc làm tốt lành, thuận lợi: Trần
thế đông người, mười phần có đến
bảy tám phần gặp cảnh kinh hăi, ưu phiền,
nghi ngờ, buồn bă, áo năo, oán hận, thống khổ.
Trong một đời chúng ta, trong mười phần có đến
bảy tám phần lâm vào cảnh kinh hăi, ưu phiền, nghi
ngờ, buồn bă, áo năo, oán hận, thống khổ. Ấy
là v́ chấp ngă, những ǵ ở ngoài ta đều đứng
vào vị trí đối lập, một ḿnh kháng cự mọi
người, nguy ngập hết sức. Huống chi dục
tâm khó thỏa giống như hang sâu. Vô sự lại tự
khuấy rộn ḿnh, không gió cũng nổi sóng. Đấy
chính là lư do “h́nh là đầm tội, thân là gốc khổ”
vậy. Phật pháp khéo diệt các gốc khổ, những
người in tạo kinh tượng sẽ được
đượm pháp vị mà thông sáng, hoặc ngầm
được gia bị trở thành thông suốt, nhanh lẹ,
các chướng tiêu sạch, tâm yên, thần khỏe, thân sắc
tươi nhuận là chuyện chắc chắn vậy!
6)
Chí tâm phụng pháp, dẫu không mong cầu tự nhiên
cơm áo dư dật, gia đ́nh ḥa mục, phước thọ
dài lâu: Cư xử với người, thấy biết
chỉ một niềm chân thật, hễ có việc ǵ cần
làm bèn làm ngay, không suy tính, không mong cầu. Phát tâm thật
chân thành, thiết tha, vận dụng hết sức lực,
tự nhiên thành tựu thật cao trỗi. Đối với
việc in tạo kinh tượng, chí thành ngút trời, người
chí tâm phụng pháp thực hiện bằng ḷng chân thiết
khẩn khoản như thế, dẫu chẳng tính đến
công đức mà công đức đạt được
quả thật không hạn lượng. Ở đây chỉ
nói lên một phần phước thế gian người ấy
đạt được mà thôi, tự nhiên mỗi một
điều đều đạt đầy đủ,
không chút khiếm khuyết. Nếu lại có người
tâm ôm hy vọng rồi mới làm điều thiện, do phát
tâm không chân thiết, kết quả liền nhỏ nhoi, mỏng
manh, ấy là điều có thể đoan chắc. Tuy nhiên,
một niệm lành, một đồng nhỏ nhặt
đều chẳng luống uổng, đều có vô lượng
quả thù thắng. Ví như một hạt thóc gieo xuống
đất màu mỡ, một biến thành trăm, sau năm
lần biến đổi, bèn hóa thành trăm vạn triệu.
Người tạo công đức hoằng pháp há chẳng
thể có kế sách lớn lao, không có quyết tâm như vậy
sao?
7)
Lời nói việc làm khiến trời người hoan
hỷ, đến bất cứ đâu thường
được nhiều người dốc ḷng thành yêu mến
hâm mộ, cung kính lễ bái: Đời trước
mang ḷng ganh ghét, thốt lời phỉ báng, nêu chuyện ác của
người, bộc lộ chỗ dở của người,
thỏa ư một chốc, chết đi trầm luân trăm
kiếp, thảm khổ muôn bề, chịu đủ hết
thảy ác báo. Một mai sanh trong nhân gian, nhân duyên xấu
hèn, đi đến bất cứ đâu đều bị
chán ghét, làm bất cứ chuyện ǵ đều không kết
quả. Nhưng người hoằng dương Phật
pháp đă gieo nhân lành từ đời trước, giữ
tấm ḷng báo ân, mang tâm niệm lợi lạc mọi
người, hoặc tịnh tam nghiệp tạo công đức
chép kinh vẽ tượng, hoặc bỏ ra nhiều tiền
để làm công đức in kinh tạo tượng, sẽ
đạt được phước thù thắng chẳng
thể tính lường. Hiện tại hết thảy mọi
người kính yêu người ấy, vốn là do công
đức hoằng pháp trong đời trước mà ra.
Sau này, hết thảy những người khiến đại
chúng vui mừng, kính trọng, quả thật cũng là do
công đức hoằng pháp trong hiện tại mà ra. Trồng
cây gai được gai góc, trồng sen được ngó
sen, mỗi một hậu quả đều do ḿnh gieo trồng
vậy.
8)
Ngu chuyển thành trí, bệnh tật thành khỏe mạnh,
khốn đốn chuyển thành hanh thông. Làm thân phụ nữ
th́ đến khi báo hết, nhanh chóng chuyển thành thân nam:
Đời trước keo lận trong việc dạy dỗ,
cũng như phóng túng buông lời báng pháp, mặc sức hủy
báng người có đức th́ tội nặng trầm
luân ắt phải chịu về sau. Lại c̣n bị quả
báo nhiều kiếp ngu xuẩn, vô tri. Đời trước
v́ bụng miệng tham lam nên mặc sức giết hại
muông thú, chim chóc, cũng như từng làm phường chài,
đồ tể, thợ săn, đầu bếp, cũng
như từng nắm quyền chế tạo hung khí, hỏa
khí, độc dược v.v… trợ giúp cho sát nghiệp
hung ác của người khác được thành tựu
th́ sau khi tội nặng trầm luân đă trả hết, lại
c̣n phải bị quả báo nhiều kiếp tàn phế, bệnh
ngặt. Đời trước tham dục không nhàm, chỉ
biết bóc lột người để béo thân ḿnh, keo tiếc
tàn tệ, chẳng chịu mở túi tiền châu cấp th́
sau khi trả hết tội nặng trầm luân, lại c̣n
bị quả báo nhiều kiếp bần cùng khốn khổ,
tai ách. Đời trước tri kiến hẹp ḥi, mang tâm
dua vạy, xảo ngôn bóng bẩy, giấu diếm, thêu dệt
dối trá, lựa dịp đưa đẩy, đo
lường thiếu hụt, chần chừ, lười
nhác, dựa dẫm thành tánh, phiền năo cấu nặng nề,
oán hận, phẫn nộ dễ phát, tâm đố kỵ
sâu dầy, t́nh dục lừng lẫy th́ sau khi trả hết
tội nặng trầm luân, lại c̣n phải nhiều kiếp
mắc báo làm thân nữ. Chỉ có Phật pháp khéo cởi gỡ
các ràng buộc. Biển khổ vô biên, quay đầu lại
là bờ, núi tội muôn nhận[47],
dứt niệm liền không. Do vậy, nhờ công đức
vô thượng của việc kiền thành lưu truyền
kinh Phật, trang nghiêm tượng Phật, tội tích
lũy từ quá khứ tự nhiên giảm trừ, phước
thù thắng trong vị lai ngầm được viên măn
thành tựu.
9)
Vĩnh viễn ĺa ác đạo, thọ sanh trong thiện
đạo. Tướng mạo đoan chánh, thiên tư siêu
việt, phước lộc thù thắng: Hết thảy
hàm linh xả thân, thọ thân, qua lại trong sáu đường
như bánh xe quay. Ngàn đời vạn kiếp thường
trong cảnh mộng, làm thiện không ngừng, tội hết
ắt thăng lên. Kiêu căng phóng túng quên gốc, gieo nhân
đọa lạc. Làm ác lắm nỗi, phước hụt,
thọ tổn trăm ngàn vạn lần, ác báo thật
đáng kinh hăi! Địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh
đọa trong ba đường ác, muôn kiếp trầm
luân. Khó được dễ mất, thân người
như vậy đó! Tạo nghiệp Thập Thiện, tu
hành Ngũ Giới, sanh trong trời người, túc phước
chẳng nhẹ! Chư Phật Như Lai thương lẫn
xót đều sâu, rộng thuyết pháp cho, đầu tiên
chú trọng việc nhiếp tâm, chánh niệm vô tác, ĺa cấu
vượt trần. V́ thế, in tạo kinh tượng th́
khế hợp tâm Phật; chỉ mang ư nguyện nhỏ nhặt
này đă gieo nhân phước. Từ đấy về sau,
làm bậc tái lai, các phước trọn đủ, lỗi
lạc siêu quần.
10)
Có thể làm các thứ thiện căn cho hết thảy
chúng sanh, dùng tâm chúng sanh làm đại phước điền,
đạt vô lượng quả thù thắng. Sanh ở
nơi đâu cũng thường được thấy
Phật nghe pháp, măi cho đến khi Tam Huệ rộng mở,
tự chứng Lục Thông, mau được thành Phật.
Thời đức Phật có những người trong một
thành khó thể nhiếp hóa. Phật nói những người
ấy có duyên với ngài Mục Liên. Do đó bèn sai ngài Mục
Liên qua đấy. Dân chúng toàn thành quả nhiên đều dốc
ḷng nhận lănh sự giáo hóa. Các đệ tử hỏi Phật
về nhân duyên, Phật dạy: “Trong kiếp xưa, Mục
Liên từng làm tiều phu, một ngày nọ lên non đốn
củi, kinh động vô số ong bay tán loạn, thế
thật hung hăng toan đến xâm phạm. Mục Liên
răn chúng đừng hành hung, lại c̣n khuyên nhủ: ‘Các
người đều có Phật tánh, mai này nếu ta thành
đạo, sẽ độ các ngươi’. Nay dân chúng
trong thành ấy chính là hậu thân của bầy ong khi
đó. Do Mục Liên từng phát một niệm độ hết
thảy nên có duyên với họ”. Gieo nhân trong nhiều kiếp
trước, một mai cơ duyên chín muồi, thâu
được quả thù thắng chẳng thể nghĩ
bàn này. Do đây mà thấy, chúng ta trong nhiều đời
trải qua nhiều thời đại, nơi nơi từng
tiếp xúc vạn loại, mỗi mỗi đều có duyên
với ta. Tâm địa hết sức linh diệu của
mỗi một chúng sanh đều có thể làm phước
điền vô thượng cho ta và người cùng được
lợi. Ta đă gieo rắc hạt giống phước
đức trong tâm điền của mỗi một chúng
sanh th́ mỗi một chúng sanh đều có đại duyên
với ta. Trong tâm điền của hết thảy chúng
sanh đă kết vô lượng quả phước to lớn.
Tuy nói là [thành tựu] quả phước lớn lao vô
lượng đời không hết, nhưng nói đó chính
là gieo nhân cho phẩm vị diệu trang nghiêm trong thời kỳ
đạo quả thành thục cũng không phải là không
đúng. Vả nữa, chúng ta trước hết phải
đối trị sao cho tâm điền của chính ḿnh thanh
khiết để tiếp nhận vô thượng pháp bảo
của mười phương tam thế chư Phật
Như Lai, tạo thành chủng tử để thoát thai
đổi cốt, chuyển phàm thành thánh. Thân ta có đại
nhân duyên với mười phương tam thế chư Phật
Như Lai. Mỗi một công đức thù thắng nơi
biển nguyện của chư Phật đều nhiếp
trong tâm ta, nguyện của ta và nguyện của Phật
không sai biệt. Từ nguyện của chư Phật cùng
nhiếp thọ, nhân trùm biển quả, quả thấu nguồn
nhân, vô biên phước thù thắng được kết tạo
trong chân tâm in tạo kinh tượng hoằng pháp lợi
sanh ngày hôm nay. Phổ nguyện hết thảy hiện tại,
vị lai hữu duyên khéo t́m phước điền, khéo kết
thắng duyên, chớ mặc cho diệu dụng quang âm cực
hảo hiện tiền như nước cuồn cuộn
trôi qua trước mắt, chảy qua dưới chân.
6.1.
Cơ hội in tạo kinh tượng
Công đức do in tạo kinh
tượng đă lược thuật như trên. Nhưng
khi nào, chỗ nào thích hợp để thực hiện hành
động gieo phước này? Đă riêng nghiên cứu cho
tiện việc tận lực làm, nay kính lược thuật
như sau:
1) Chúc
thọ: Sanh vốn vô sanh, vô sanh mà sanh. Tuổi thọ của
Pháp Thân vốn không có hạn lượng. Huyễn thân hiện
tại vốn do nghiệp báo mà có. Báo hết liền diệt,
chẳng khác ǵ hoa Đàm (Udumbara) một lần hiện, thọ
bao nhiêu mới đủ? Nay v́ tùy thuận thế tục
thường t́nh, bèn mở cửa phương tiện chúc
thọ. Phàm trong nhà ḿnh, hoặc v́ người trưởng
thượng, hoặc v́ người ngang hàng, hoặc v́ bản
thân, lúc cử hành lễ chúc thọ, chớ nên sát sanh
đăi khách, lăng phí tiền bạc, lầm lạc tạo
oán nghiệp, cũng chớ tham luyến hư danh chẳng
đáng để coi là khinh hay trọng, dâng văn, hiến
thơ, tiếp nhận những thứ xưng tụng quá
mức. Soạn những thứ văn chương hư
giả ấy, đối với đại chúng chính là dối
trá, thêu dệt, tự hỏi ḷng ḿnh chắc thẹn mướt
mồ hôi! Do vậy, không ǵ tốt bằng bỏ sạch hết
thảy lề thói đời thường ưa chuộng,
theo đuổi việc ấn tạo kinh tượng (có sức th́ khắc
kinh, tạo tượng; không sức th́ chép kinh, vẽ
tượng). Trên th́ để báo bốn ân nặng, dưới
cứu khổ tam đồ. Đă đạt được
vô lượng phước khánh, c̣n lưu lại làm kỷ
niệm vĩnh viễn. Hành động thù thắng này hàng
cư sĩ được trọng vọng càng nên dốc
ḷng đề xướng, để lại gương tốt
cho nhiều người nh́n vào. Nếu hàng thân thích bằng
hữu cử hành lễ khánh chúc cũng nên khuyên họ làm
theo cách này để tạo phước thù thắng.
Đôi bên sẽ đạt được công đức
chẳng thể tính lường được!
2) Ăn
mừng: Một niệm vọng động khởi lên
dục ái. Từ trong cái vốn là không, huyễn hiện sắc
thân. Suốt cả cuộc đời chỉ thấy
trăm nỗi khổ chen nhau nung nấu, các oán quẩn
quanh bức bách. Người nghe pháp tỉnh giác mới hổ
thẹn đau khổ không xuể, nào có ǵ đáng gọi là
vui. Chồng vợ, cha con, không ǵ chẳng do nợ cũ
lôi kéo, trói buộc. Yên vui, giàu có, sang quư, vinh hiển, toàn là
cảnh giới chôn sống. Trong tầm mắt của
đấng Pháp Vương, đâu đâu cũng đáng buồn.
Nay v́ nhiều bề lôi kéo, nên bèn mở ra cửa
phương tiện cho việc ăn mừng. Phàm lúc trai
cưới vợ, gái lấy chồng, sanh con đẻ cái,
lúc được thăng tấn chức vị, lúc khánh
thành nhà mới, khai trương công ty, cửa hàng, cửa
tiệm, phàm lúc trăm việc kinh doanh có lời, cũng
như hết thảy các dịp thế tục coi là vui mừng,
việc do nơi ḿnh, hăy nên giảm bớt số tiền
ăn mừng, dùng số tiền đó làm công đức
thù thắng khắc kinh, tạo tượng. Như thân
thích bằng hữu biểu lộ ḷng chúc mừng hăy nên
tuyên bố sẵn ư chỉ đă định trước
để họ biết mà làm theo. Đem nhiều chuyện
thuộc bên trong phạm vi hoằng pháp để nêu khuôn
phép cho nhiều người. Từ giai cấp trí thức mở
ra phong thái này để thay đổi thói tục, khiến
được hưởng ứng nhanh chóng rộng sâu là
điều có thể đoan chắc. Nếu là chuyện
vui thuộc phía thân thích, bè bạn cũng nên lựa dịp
hướng dẫn để họ khỏi làm chuyện
vô vị, giảm bớt tiền của để làm chuyện
mong ḿnh lẫn người đều được lợi
này.
3) Tránh
tai nạn: Thiên tai, nhân họa, không đời nào chẳng
có. Tai ương chia thành lớn nhỏ, đều là do biệt
nghiệp và đồng nghiệp của hết thảy chúng
sanh chiêu cảm mà ra. Chữ Tai (災) tạo từ chữ Thủy (水) và chữ Hỏa (火), biểu thị
chúng xảy đến với khí thế mănh liệt, một
khi đă phát ra khó thể thâu thập. Tai ương có nhiều
loại khác nhau như đao binh, ôn dịch, đói kém, hoặc
lao ngục, hoặc lo bị lụt lớn khiến ruộng,
nhà đều bị ngập ch́m, trôi mất. Nếu đại
địa rung nứt th́ thành ấp bị sụp đổ.
Ngoài ra, hết thảy tất cả phong tai, hỏa tai hủy
diệt, cũng như hết thảy chuyện có kết
quả bi thảm đột ngột chẳng thể dự
pḥng được, đều gọi chung là tai họa! Mắt
nh́n tâm kinh hăi. Nghĩ đến hoạn nạn phải dự
pḥng. Luận về phương cách tránh né th́ chẳng thể
trong một ngày là xong. Nay v́ làm lợi ích hết thảy hữu
t́nh nên đặc biệt mở ra cửa phương tiện
pḥng tránh tai ương: Bất luận sống gần núi,
gần nước, hay sống trên đồng bằng, tất
cả những thứ nhân và cảnh sanh ra những tai ách
đặc biệt lạ lùng, cũng như đao binh, giặc
cướp, dịch lệ, hỏa hoạn, lao ngục,
cùng là hết thảy tai họa do oán đối nhiều
đời tầm thù báo oán, hoặc v́ cha mẹ, sư
trưởng, và các quyến thuộc cùng với thân thích bằng
hữu cầu đảo tránh khỏi tai họa, hoặc
v́ hết thảy chúng sanh cùng sống trong cơi đời
phát tâm đại từ bi, thay họ cầu đảo khỏi
bị tai họa, hoặc v́ hết thảy chúng sanh trong tứ
sanh lục đạo hiện tại, vị lai phát tâm
Đại Bồ Đề, thay họ cầu đảo
tránh tai họa th́ biện pháp thực tế có hiệu quả
thù thắng nhất là nên lấy việc lưu truyền
kinh Phật, trang nghiêm tượng Phật làm hành động
tốt đẹp bậc nhất. V́ lẽ nào vậy? Do
mười phương tam thế chư Phật nghĩ
thương chúng sanh vậy. V́ tai ách trong tam giới chỉ
có sức oai thần của Phật mới có thể khéo
tiêu trừ được. V́ do người hoằng pháp dốc
ḷng thành và do thâm tâm hoằng nguyện từ bi cứu bạt
của chư Phật ngầm cảm thông vậy.
4) Cầu
nguyện: Nếu động chẳng ngừng th́ nước
lặng đều hóa thành sóng cuộn, nếu tĩnh lặng
chẳng khuấy đảo th́ sóng gió trở thành nước
lặng. Tướng nước như thế đó, tâm cảnh
cũng giống như vậy. Bất biến tùy duyên,
đương thể của Chân Như trở thành sanh diệt.
Tùy duyên bất biến, đương thể của sanh
diệt chính là Chân Như. Hễ mê th́ mộng tưởng
điên đảo, chỗ tiếp xúc bèn thành chướng
ngại. Hễ ngộ th́ rốt ráo Niết Bàn, thanh
lương ngay khi đó. Trong đạo tràng bất động,
vốn sẵn có hết thảy, nào khiếm khuyết ǵ
để phải cầu cho có? Nay v́ khuyến tấn nhiều
người, nên đặc biệt mở ra cửa
phương tiện cầu đảo này. Phàm v́ chính ḿnh và
v́ lục thân quyến thuộc lo sợ tuổi thọ ngắn
ngủi mà cầu tăng thọ, v́ khó có con nối ḍng mà cầu
sanh nở, cho đến cầu tật bệnh mau
được lành, cầu gia trạch b́nh yên, cầu cởi
gỡ oán thù, cầu doanh nghiệp thuận lợi, cầu
hết thảy chuyện làm được như ư (nhưng những hành
vi thương tổn đạo đức và những nghề
nghiệp chẳng thích hợp với Phật đạo
đều phải nên loại trừ ra), cầu
đất nước ḥa b́nh, cầu thế giới ḥa
b́nh, cầu cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới hồi
tâm hướng thiện, ĺa các ma nạn, cho đến hết
thảy những người nghe pháp cầu tăng trưởng
trí huệ, cầu chứng Niệm Phật tam-muội, cầu
lúc lâm chung không có các khổ ách, tâm chẳng điên đảo,
văng sanh Cực Lạc, hăy đều nên làm công đức
chép kinh, in kinh, tạo tượng, vẽ tượng này. Chí
thành cầu đảo, rốt cuộc mỗi một việc
ǵ đều được thỏa nguyện.
5) Sám
hối: Trong bài Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn
của Tỉnh Am pháp sư có câu: “Đức Thích Ca Như Lai ta lúc ban đầu mới
phát tâm, do v́ chúng ta nên hành Bồ Tát đạo trải vô
lượng kiếp chịu đủ các khổ. Lúc ta tạo
nghiệp, Phật bèn buồn thương, phương tiện
giáo hóa, nhưng ta ngu si, chẳng biết tin nhận. Ta
đọa địa ngục, Phật càng đau buồn,
muốn thay ta chịu khổ, nhưng do ta nghiệp nặng
nên chẳng thể cứu bạt. Ta sanh trong loài người,
Phật dùng phương tiện dạy gieo thiện
căn, đời đời kiếp kiếp theo sát bên ta,
tâm chưa tạm bỏ. Lúc Phật mới xuất thế,
ta c̣n trầm luân. Nay được thân người, Phật
đă diệt độ. Tội ǵ mà phải sanh nhằm đời
Mạt Pháp, chướng nào chẳng thấy được
thân vàng?” Đấm ngực, gập ḿnh tự hỏi,
há c̣n chỗ nào để chẳng kinh hoàng, run sợ nữa
ư! Nay v́ tiêu trừ tội chướng nên đặc biệt
mở ra cửa phương tiện sám hối này. Tu tŕ giới
hạnh là một phương pháp tối thiết yếu
mà chúng sanh đời Mạt dùng để vượt thoát
biển khổ sanh tử. Muốn tu giới hạnh hăy nên
tham cầu nơi các pháp điển trong Luật Tạng.
Đệ tử tại gia hăy nên đọc kinh Thập Thiện
Nghiệp Đạo, Tại Gia Luật Yếu Quảng Tập,
Ưu Bà Tắc Giới Kinh, Bồ Tát Giới Bổn Kinh
Tiên Yếu, Phạm Vơng Kinh Hợp Chú, c̣n giới luật
xuất gia th́ chẳng thể ghi hết. Sau đấy mới
hiểu rơ hết thảy tội lỗi ở chỗ nào.
Đối với những chuyện chẳng lành ḿnh đă
làm trước kia tự hối sâu xa, muốn sám hối, mở
cửa diệt tội, mở ra con đường đổi
mới th́ lưu truyền kinh Phật, trang nghiêm tượng
Phật là [phương cách] hữu hiệu nhất. Lúc làm
công đức này, chí thành sám hối để chuộc tội
khiên, những nghiệp bất thiện đă làm trước
kia sẽ có thể tiêu diệt lập tức. Nếu sám hối
thay cho người khác th́ dùng phương pháp này vẫn
thích hợp.
6) Siêu độ cứu bạt:
Cây muốn lặng nhưng gió chẳng ngừng, con muốn
phụng dưỡng nhưng cha mẹ chẳng c̣n nữa!
Những người làm con cái trong khắp thiên hạ muốn
đáp tạ ân cha mẹ dưỡng dục nhưng không
biết làm thế nào, ôm nỗi buồn đau vô hạn.
Nhưng thân thể cha mẹ ta tuy đă diệt mất, vẫn
c̣n có cái chẳng bị diệt mất cùng thân thể, đó
là vật ǵ vậy? Chính là linh tánh! Linh tánh ấy xả thân
thọ thân, bị túc nghiệp sai sử, chỗ nào nặng
sẽ đọa vào chỗ ấy, khó tự làm chủ
được! Tuần hoàn qua lại tam đồ lục
đạo từ kiếp này sang kiếp khác, trọn không
có lúc ra. Than ôi! Nhà lửa tam giới há nên lưu luyến!
Lành thay, Liên Tŕ đại sư đă nói: “Cha mẹ
được ĺa trần cấu th́ đạo con mới
thành tựu!” Do vậy, kẻ khéo báo ân cha mẹ hăy
thường kiền thành tu pháp xuất thế khiến cho
cha mẹ sanh ra ta trong đời này nhờ vào nguyện lực
chẳng thể nghĩ bàn của ta để thoát ĺa biển
khổ sanh tử, ấy là điều ta mong mỏi bậc
nhất, và làm cho cha mẹ đă sanh ra ta trong trăm ngàn kiếp
hiện c̣n đang vướng mắc trong lục đạo
chịu khổ vô lượng đều được nhờ
vào nguyện lực, phương tiện chẳng thể
nghĩ bàn của ta mà thoát ĺa biển khổ sanh tử.
Đó là điều mong mỏi bậc nhất. Do nghĩ
đến thâm ân của cha mẹ nhiều đời bèn
nghĩ cách báo đáp triệt để. Do nghĩ cha mẹ
nhiều đời trầm luân trong lục đạo nên
thấy chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ,
nghĩ lục đạo chúng sanh khi chưa được
độ hết liền thề chẳng thành Phật. Bất
luận giác ngộ trước hay giác ngộ sau, ai nấy
đều có đại sự nhân duyên chưa báo đáp ân
cha mẹ. Nay t́m lấy một pháp thiển cận dễ
hành nên đặc biệt mở ra cửa phương tiện
siêu độ cứu bạt này. Phàm gặp phải lúc cha mẹ
vừa mất, hoặc kỷ niệm bốn mươi
chín ngày sau khi mất, kỷ niệm giỗ đầu cho
đến đă mất mấy năm, kỷ niệm vô số
chu niên, hoặc nhằm ngày mất, hoặc nhằm sanh nhật
[của người đă mất], hoặc minh thọ[48]
mà kỷ niệm, đều nên cử hành công đức in
tạo kinh tượng. Đối với ông bà nội, ông
bà ngoại cùng hết thảy người ngang hàng, người
vai vế nhỏ hơn, cũng nên làm công đức này
để tạo phước ngầm cho họ. Nếu lúc
thân thích, bằng hữu mất cũng nên dùng loại công
đức hoằng pháp này để thay thế cho hết
thảy lễ số vô ích. Công đức đạt
được sẽ vô hạn lượng!
Những điều như trên
vừa nói chẳng qua chỉ là nói đại khái. Ngoài những
điều này, cơ hội gieo phước chẳng thể
kể trọn. Muốn hiểu trọn vẹn, hăy đọc
nhiều kinh điển sẽ tự biết.
6.2.
Phương pháp in tạo kinh tượng
1) Chép kinh:
Phàm các kinh trong Đại Tạng
và các luật, luận, cho đến trước tác của
hết thảy đại đức từ xưa đến
nay: trường thiên, đoản văn, câu đối,
đề từ, bài tụng, đều có thể cung kính
biên chép. Hoặc thương lượng với người
thông đạt Phật pháp, châm chước lượng
định hết thảy cho thật ổn thỏa, tốt
lành. Nếu chính ḿnh chẳng thể biên chép được,
có thể nhờ người làm giùm. Nếu tự ḿnh chép
được th́ tự chép là hơn. Về cách chép th́
không bó buộc phải chú trọng tinh xảo, đẹp
đẽ như thế nào, chỉ cần đàng hoàng, tề
chỉnh, chớ nên cẩu thả, nguệch ngoạc. Pháp
sư Ấn Quang ở Phổ Đà Sơn nói: “Chép kinh
nên như tấn sĩ viết văn sách, mỗi một
nét bút chớ có cẩu thả, gián đoạn. Lối chữ
phải tuân theo lối viết chánh thức[49]”.
Sư lại nói: “Cổ nhân viết một chữ, lễ
ba lạy, đi nhiễu ba ṿng, xưng danh hiệu Phật
mười hai câu”. Huấn dụ từ bi ân cần, khiến
người xúc cảm sâu xa. Kính sao chép lại để
khuyên người thực hiện công đức chép kinh.
2) Vẽ tượng:
Phàm tượng Phật hay Bồ
Tát đều có thể vẽ được, hoặc lớn,
hoặc nhỏ, hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc
vẽ bằng mực, hoặc dùng màu vẽ đều
được cả. Vẽ bao lớn, vẽ nhân vật
như thế nào, nên coi kỹ trong nội điển sẽ
dễ hiểu được cách vẽ nhất. Phải
giống như khi học vẽ chưa có mảy may căn
bản ǵ, hạ bút dè dặt, không hề buông tuồng.
Đừng khinh dễ mà vẽ, kẻo chuốc lấy tội
lỗi khinh nhờn.
3) Khắc kinh, in kinh:
Hoặc khắc mộc bản,
hoặc in bằng lối sắp chữ, hoặc thạch ấn,
đều có thể châm chước lượng định
mà làm. Hoặc bỏ tiền thỉnh những kinh điển
đă in xong từ những nơi phát hành kinh, đem gởi
tặng người hữu duyên để lưu truyền
hoặc khuyến hóa rộng răi. Hoặc có lúc gặp
người khác quyên góp th́ bỏ tiền tán trợ, để
tạo công đức thấy nghe tùy hỷ, đều có
thể gieo các thứ thiện căn, đắc đại
lợi ích. Có loại giấy bóng láng khiến mực bị
nḥe, chớ dùng. Nếu tham tiền mà dùng th́ công đức
so với việc dùng giấy của nước nhà sẽ
bị giảm gấp mười. Không thể không biết!
4) Khắc tượng, in
tượng:
Nếu có được h́nh
tượng Phật, Bồ Tát do các nhà danh họa vẽ
th́ hăy nên t́m cách lưu truyền vĩnh viễn. Rộng
hành nhiếp hóa th́ không ǵ bằng chế bản ấn loát.
Hoặc thỉnh thợ khéo điêu khắc lên bản gỗ
cứng rắn, hoặc khắc vào đá, hoặc chế bản
đồng, bản kẽm và bản pha lê đều tốt
cả.
6.3. Dạng
thức văn phát nguyện
Loại văn phát nguyện này
nên chép vào sau kinh tượng. Cách thức rất nhiều,
chẳng thể thuật trọn. Nay nêu đại lược
sáu cách như sau:
1) Tả kinh:
Ngày… tháng… năm… đệ tử
tên là… kính chép kinh… bao nhiêu bộ. Đem công đức này nguyện
Chấn Đán Trung Quốc[50]
và các nước trên thế giới mưa thuận gió ḥa,
sung túc, yên ổn, tai nạn tiêu trừ, can qua vĩnh viễn
ngưng dứt, cùng được gội ân Phật giáo
hóa, cùng chứng Bồ Đề (Lời chúc nguyện hoàn toàn có thể tùy ư
biến đổi linh động, ở đây chỉ nêu
lên một cách thức mà thôi!)
2) Vẽ tượng:
Ngày… tháng… năm… đệ tử
tên là… cung kính bỏ chút của cải nhỏ mọn, thỉnh
họa sư tên là… kính vẽ h́nh tượng Phật… (Bồ
Tát…) bao nhiêu bản. Nguyện thân thể con yên vui, mạnh
khỏe, của cải đầy đủ. Đời hiện
tại vĩnh viễn ĺa khỏi những suy năo, lâm chung
văng sanh Tây Phương. Lại nguyện đem công đức
này hồi hướng pháp giới chúng sanh cùng vượt
khỏi bờ mê, đều thành Phật đạo.
3)
Khắc kinh:
Ngày…
tháng… năm… cư sĩ… (hoặc những danh xưng thích hợp
khác)
nhằm sanh nhật bao nhiêu tuổi. Bọn đệ tử
chúng con tên là… đều vui mừng, bèn trộm phỏng
theo lệ người xưa chép kinh chúc thọ, kính khắc
kinh… và ấn tống bao nhiêu bộ để mở rộng
hoằng nguyện cũng như cầu tăng thêm tuổi
thọ. Kính xin Tam Bảo chứng tri.
4)
In kinh:
Ngày…
tháng… năm… là sanh nhật của con trai (thứ mấy);
đệ tử tên là… kính thí tiền để ấn tống
kinh… bao nhiêu bộ hầu kết pháp duyên. Cùng nguyện những
chúng sanh không con trong pháp giới đều sanh được
con trai phước đức trí huệ, kế tục
hưng thạnh gia nghiệp, hoằng tuyên Phật pháp, lợi
khắp hữu t́nh, dằng dặc tiếp nối măi đến
tận đời vị lai.
5)
Khắc tượng:
Ngày…
tháng… năm… bọn đệ tử tên là… bỏ tiền
chung nhau để khắc tượng Phật… (hoặc
tượng Bồ Tát….) và in ra bao nhiêu bản đó. Chỉ
mong chúng con tội chướng tiêu trừ, phước huệ
tăng trưởng, sớm chứng Niệm Phật tam-muội,
cùng sanh về Cực Lạc liên bang phổ độ chúng
sanh, cùng viên thành Chủng Trí.
6)
In tượng:
Ngày…
tháng… năm… đệ tử tên là… kính thí tiền để
ấn tống tượng Phật… (hoặc tượng Bồ
Tát…) bao nhiêu bản đó, lại nguyện nhờ công đức
này v́ mẹ tên là… (hoặc
v́ người khác th́ bèn đổi danh xưng cho phù hợp) sám trừ
những tội…. Những tội như thế nguyện
đều tiêu diệt. Nếu chẳng trừ được
th́ nguyện xin chịu thay, khiến cho bệnh khổ
trong hiện tại đều mau được yên lành. Nếu
đại hạn khó tránh khỏi th́ rốt ráo lên An Dưỡng.
Kính xin Tam Bảo chứng minh nhiếp thọ.
Như
muốn xem rộng răi những dạng thức phát nguyện
xin hăy xem bộ Linh Phong Tông Luận. Sách này do chùa Pháp Tạng
tại Chuyên Kiều, Đông Hương, Dương Châu khắc
bản, giá hai đồng, đều có gởi bán tại
thư cục chánh ở Thượng Hải, và Phật
Kinh Lưu Thông Xứ (nơi phát hành kinh Phật) ở
đường Bắc Kinh nơi Bắc Nê Thành Kiều tại
Thượng Hải, Phật Kinh Lưu Thông Xứ thuộc
chùa Ngọa Phật tại Bắc Kinh và những chỗ
lưu thông kinh Phật trứ danh khác. Giá khoảng chừng
hai đồng. Quyển đầu bộ sách này toàn chép những
nguyện văn, nếu có thể đọc thông thuộc
những nguyện văn ấy th́ chẳng những có thể
thông thạo cách thức viết nguyện văn mà c̣n có thể
quán thông nghĩa lư tinh diệu của Phật pháp. Kính khuyên
những bậc có chí chớ nên xem thường. Lại nữa,
phát nguyện tuy là chuyện của chính ḿnh, nhưng phải
kèm thêm những lời lẽ “hướng đến trọn
khắp chúng sanh”, có như thế th́ nguyện lực trọn
khắp, công đức càng lớn lao hơn!
6.4. Lúc
chép, lúc vẽ nên chú ư:
Lúc
chép kinh, vẽ tượng nên dứt rượu thịt,
tắm gội, mặc áo sạch, quét dọn bàn ghế, thắp
hương lễ Phật rồi mới nâng bút. Như vậy
sẽ đạt được công đức thù thắng,
được đại lợi ích. V́ thế, Ấn Quang
pháp sư nói: “Muốn được lợi ích thật
sự nơi Phật pháp th́ phải cầu từ nơi cung
kính. Có được một phần cung kính th́ tiêu
được một phần tội nghiệp, tăng một
phần phước huệ”. Trong Ấn Quang Văn Sao,
lại có bài luận Cạn Kiệt Ḷng Thành Mới
Được Lợi Ích Thật Sự[51]
giảng về điều này rất tường tận
rơ ràng, xin hăy đọc bài ấy. Ấn Quang Pháp Sư Văn
Sao [nói ở đây] là bản Tăng Quảng do Trung Hoa Thư
Cục ở Thượng Hải ấn hành. Phân cục các
nơi đều có, có thể đến thư cục gần
nơi ḿnh ở để thỉnh.
6.5. Kết
luận:
Xem
những điều vừa đă nói trên đây về việc
chép vẽ khắc in kinh Phật, tượng Phật, có những
tác dụng thù thắng, mầu nhiệm như thế và có
những phương pháp ứng dụng như thế
đó. Vậy chúng ta hăy nên tùy thời tùy sức y theo những
phương pháp ấy hoan hỷ phụng hành. Những
người gia cảnh giàu có dư dả, có thể đảm
nhiệm việc khắc in kinh tượng. Nếu chi dùng
chẳng dư dật, cũng có thể tự ḿnh sao chép, chụp
ảnh, hay vẽ, và lượng sức ḿnh đến
đâu mà thỉnh những kinh tượng đă in xong để
thí lại cho người khác hầu kết thiện duyên,
tăng phước huệ. Dù chỉ thí một bộ kinh,
thí một tờ ảnh Phật mà xuất phát từ tấm
ḷng chí thành khẩn thiết th́ công đức cũng vô lượng.
Lại nữa, bất luận nam nữ trẻ già
được thấy bài văn này mà sanh hoan hỷ, hớn
hở, dấy tâm chí thành, tâm rộng lớn, tùy thời,
tùy chỗ, hướng về người khác tuyên nói những
sự tiêu tai cứu nạn, gieo phước được
lợi ích do lưu truyền kinh Phật, trang nghiêm tượng
Phật giống như trên đă nói để chỉ bảo,
hướng dẫn đại chúng chẳng chán, chẳng mệt
mỏi. Tuy gặp phải kẻ vô tri hủy báng, ngăn
trở, vẫn chẳng so đo, chẳng nhụt chí, một
khối chân thành hoằng dương đại pháp như
vậy giống như vàng ṛng thuần túy, càng được
nung luyện qua lửa mạnh màu sắc, vẻ
tươi đẹp càng chói ngời. Ḷng tinh thành đến
cùng cực th́ thiên địa quỷ thần đều bị
cảm động. Huống ǵ những kẻ vô tri, đều
cùng sẵn có thiên lương, trọn chẳng có dịp cảm
hóa được ư? Lại nữa, đạo “thích
thành tựu điều tốt đẹp cho người
khác, khen ngợi người làm lành”, hết thảy mọi
người đều có thể làm được. Bất
luận lúc nào, chỗ nào, hễ thấy hay nghe, có người
ngẫu nhiên phát tâm làm công đức hoằng pháp, chẳng
cần biết họ đă làm, đang làm hay sẽ làm, mỗi
mỗi ta đều có lời hoan hỷ tán thành để
ôn tồn phủ dụ, khuyến khích họ, khiến cho
tâm hướng thiện của người ấy càng thêm
kiên cố, mạnh mẽ, khiến cho tâm hâm mộ điều
thiện của người khác đều cùng sôi nổi.
Công đức vô thượng chẳng tốn một phân
tiền này ai nấy đều làm được! Bài
văn phổ khuyến phát tâm làm công đức in tạo
kinh tượng này lưu truyền tới đâu bất luận
người thấy kẻ nghe đều tùy theo thuận
tiện mà làm. Những kẻ ồn ào đề xướng
thuyết “không có tài lực th́ làm được ǵ” chính là kẻ
nói ra những lời tự phụ bạc ḿnh, ruồng rẫy
người, tự lầm, lầm người vậy.
Đức Như Lai có tướng lưỡi mỏng, sạch,
rộng, dài, [thè ra] trùm khắp khuôn mặt, đấy chính
là tướng lưỡi phước đức hy hữu,
thật sự do công đức vạn kiếp ngàn đời
khen ngợi, tùy hỷ mà có. Người chí thành hoằng
pháp tùy thời, tùy chỗ, lựa thời cơ khéo léo chỉ
dạy, phương tiện hay khéo, người siêng
năng vận dụng tướng lưỡi rộng dài
này, ai dám bảo là chẳng thể dùng công đức thù thắng
mầu nhiệm này để trừ khử tướng tội
nghiệp của chúng sanh, đạt phước vô lượng!
7. Những
điều cần chú ư để giảm thiểu tội
lỗi khi lật giở xem đọc kinh sách (phụ chú)
Người học khi xem đọc
những sách vở tầm thường, mỗi khi phải
giở sang trang, thường dùng móng tay khêu góc trang sách lên,
khiến cho trang giấy bị hư hao, vết tay ngang dọc,
thật là trái đạo tôn trọng giữ ǵn vậy. Thói
quen xấu ấy áp dụng cho những sách vở tầm
thường nhưng hữu ích cho thân tâm th́ đă phạm
tội lỗi, huống hồ kinh sách Phật học là bè
báu để vượt khỏi biển khổ sanh tử,
thiên thần địa kỳ đều cùng cung kính ủng
hộ, lại có thể mặc t́nh khinh nhờn, ngạo mạn,
chẳng yêu mến, ǵn giữ ư? Chúng sanh đời Mạt
phước lượng giảm mỏng dần, được
hưởng dùng các vật thật khó khăn; vật chất
ngày càng kém! Những loại giấy sản xuất gần
đây thật kém xa khi trước. Nếu thường giở
xem, giấy dễ bị rách nát. Áp dụng thói quen đă
tích tập ấy vào kinh sách Phật học thật là đại
bất kính, hăy nên gấp răn ngừa. Hễ trông thấy
người khác làm như thế, hăy nên dùng lời khéo
khuyên bảo khiến cho họ hối cải th́ công đức
rất lớn. Lại có người dùng đầu ngón tay
thấm nước miếng chấm vào trang giấy để
lật. Tuy chất giấy chưa chắc bị hao tổn,
nhưng màu mực, màu trắng tinh của góc trang giấy dễ
bị bẩn. Hơn nữa, dùng nước miếng ô uế
để bôi lên kinh Phật th́ cái tội khinh nhờn thật
chẳng thể trốn tránh được! Huống chi những
kẻ có bệnh, nước miếng thấm vào sách, dễ
làm cho những người tụng đọc sau này bị
lây bệnh truyền nhiễm! Gây phiền lụy cho người,
thật là tổn đức, phải nên kiêng dè! Trộm
nghĩ: Sách Phật lưu truyền trong thế gian là vô
thượng bảo điển nhằm nuôi dưỡng huệ
mạng của con người, độ con người
thoát khổ. Người đọc càng phải nên chú tâm
ǵn giữ, yêu tiếc, mong sách được lưu truyền
lâu dài trong đời, cứu bạt nhiều người,
lợi khắp kẻ hữu duyên. Ai nấy lúc lật giở
trang sách, hăy nên dùng ḷng bàn tay từ bên cạnh sách mà lật
nhẹ nhàng, chẳng nên lỗ măng, hăy nên thận trọng.
Thoạt đầu cảm thấy chưa quen, lâu ngày sẽ
có thể tùy ḷng sử dụng. Thêm nữa, lúc sắp mở
quyển sách ra, th́ phải quét dọn sạch sẽ bụi
bặm trên bàn. Trang b́a kinh sách nên bọc bằng giấy hay
bằng vải đều được.
8. Bài
thơ vịnh ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh đời
Đường qua Tây Vực thỉnh kinh
(đính kèm bài thơ
này để thấy niềm may mắn được thấy
nghe pháp)
Thời đại Tấn, Tống,
Tề, Lương, Đường
Cao tăng cầu pháp ĺa Trường
An
Đi trăm vị, về chưa
được mười,
Gian nan đời sau nào thấu
hiểu!
Đường xa ngất trời,
rét căm căm,
Sông, cát mù trời, sức ṃn lụn,
Đời sau chẳng tường
nông nỗi ấy,
Cứ nghĩ được
kinh thật dễ dàng!
9. Nêu tỏ ư nghĩa in tạo kinh văn
(trích từ bộ An
Sĩ Toàn Thư)
Tuy có thức ăn ngon, nhưng
không ăn sẽ chẳng biết là ngon. Tuy có đạo tột
cùng, không học chẳng biết là hay. Trong thiên hạ, cái
dễ mất nhất là thân người, cái khó được
nghe nhất là Phật pháp. Nếu đức Như Lai không
xuất thế th́ trên cơi trời, trong cơi người đều
như trong đêm dài, chẳng những kẻ tầm
thường bị hạn cuộc trong cái nh́n của chính
ḿnh, ngay cả nhà Nho cũng bị quẩn quanh trong những
ǵ chính ḿnh nghe được! Ngước mặt nh́n trời,
cho là chỉ có mặt trời, mặt trăng, chẳng biết
c̣n có các cơi nước nhiều như vi trần; cho rằng
lúc mới sanh ra dân th́ bắt đầu từ Bàn Cổ[52],
chẳng biết từ bao nhiêu kiếp đến nay đă
trải qua vô biên kiếp số. [Chỉ nghĩ] thiên đế,
thiên tiên là chí tôn không ai sánh được, chẳng biết
họ là thượng đẳng phàm phu luân hồi trong lục
đạo. Khi thân mất đi rồi, cho là h́nh đă diệt
thần bèn tiêu, chẳng biết nhất điểm linh
quang đời đời chẳng mê lầm. Cha mẹ quyến
thuộc mất đi bèn cho rằng: Chẳng biết làm
như thế nào? Nào biết pháp môn này dù có trải qua ngàn
đời vạn kiếp, vẫn tự có cách đáp đền.
Thấy người lành trắc trở, tiểu nhân đắc
chí, bèn cho là đạo trời khó thể nương tựa,
nào hay do túc nghiệp chiêu cảm, chẳng sai sót tơ tóc!
Giáo điển của đức Như Lai lớn lao thay!
Thật đáng gọi là thuyền Từ để vượt
biển, là đuốc báu cho đường tối, là
nhũ mẫu cho trẻ thơ, là thóc gạo trong năm
đói kém. Cho nên lúc ngài A Nan kết tập, Phạm
Vương, Đế Thích đều cầm giữ phan, lọng,
Tứ Đại Thiên Vương đều vâng giữ bốn
chân ṭa cao. Sách vở thế gian há phảng phất
được một phần vạn ư? In, tạo há phải
dễ dàng ư?
10. Bài văn cùng thệ nguyện trong Tây
Tư Xă của Chứng Thông pháp sư
Long Hưng nguyên niên (1163),
năm Quư Mùi, mồng Tám tháng Tư, thầy tṛ trong nhà họ
Thích và toàn bộ đại chúng trong hội đều quy
mạng Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, Bồ
Tát hải chúng, nguyện các Ngài vận ḷng từ rộng lớn,
rủ ḷng quán sát cho chí hướng nhỏ nhặt [của
chúng con]. Bọn chúng con (tên là…) nghĩ ḿnh túc phước
sâu dầy, sống tại Trung Hoa, cung kính xem bảy bộ
kinh trong Đại Tạng, thuần bàn về Tịnh
Độ, y chánh trang nghiêm, công đức thắng diệu.
Nh́n lại nơi đây: Ba ác tám nạn, nhiều điều
bất thiện nhóm họp. Sanh - lăo - bệnh - tử, thọ
mạng ngắn ngủi. Tự lực tu hành khó tiến dễ
lùi! Bậc thánh hiền đời trước
thương xót chúng con nên lập ra pháp môn Niệm Phật
này, giảng sâu nhưng dễ đạt, khêu gợi, khuyến
khích cầu sanh. Hiền thánh xưa nay những vị hoằng
đạo này sách vở chất như núi. Tăng - tục
bốn phương kết thành liên xă, đời nào
cũng chẳng thiếu người. Mười
phương chúng sanh sanh về cơi ấy nhiều như
mưa rào. Do vậy, chúng con tánh t́nh thanh cao tự nhiên phát
khởi, chẳng ước hẹn lại giống nhau,
chí đă quy hướng, đều cùng gởi ḷng nơi
Tây cảnh. Đă niệm niệm chẳng quên mong hết
báo thân này, quyết được văng sanh; chúng con vẫn
lo tánh t́nh, thói quen bất đồng, việc đời
trói buộc, miệng bàn Cực Lạc, ư luyến Sa Bà, chẳng
hiểu sự lư, hạnh nguyện bị khuyết, sáng cầu
như nhau, tối về cách biệt. Do vậy, cẩn thận
chọn ngày tốt lành, tụ hội gieo ḷng thành, rập
đầu trước phạm dung, lập lời hoằng
thệ này. Ngửa mong đức Từ Tôn duỗi cánh tay
sắc vàng, xoa đảnh chúng con, động lưỡi
sen hồng, ngầm thọ kư cho con, khiến cho con từ
đời này trở đi chẳng làm các điều ác,
vâng làm các điều thiện, chẳng gặp tà sư, chẳng
mất chánh niệm. Ngày mạng chung không bịnh, không khổ,
thân tâm vui sướng, theo gót Như Lai cùng về An Dưỡng,
hoa sen sớm nở, ngộ Vô Sanh Nhẫn, đi khắp
mười phương cơi nước phụng sự
chư Phật, cứu vớt chúng sanh khổ sở khiến
đều cùng thành vô thượng đạo. Hư không có
cùng tận, nguyện con chẳng cùng tận. Nếu ai thấy
nghe, đều thấm đượm lợi lạc!
11. Cách lưu thông kinh sách hữu ích cho thế
đạo nhân tâm
1)
Toàn thí lưu thông (lưu thông bằng cách bố thí
hoàn toàn): Khẳng khái bỏ ra khoản tiền lớn để
in ra nhiều bộ, hoàn toàn thí tặng, chẳng lấy
đồng nào, công đức rất lớn. Chuyện này
chỉ người có sức mới làm được. Nếu
không có sức th́ in ké vài phần hoặc thay người ta
giảo duyệt chữ, hoặc thay người ta quyên mộ,
hoặc hoan hỷ tán thán khiến tâm bố thí của
người ta vững vàng th́ cũng có công đức không
ǵ lớn hơn.
2) Bán thí lưu thông (Lưu
thông bằng cách cúng thí một phần): Hoặc giúp tiền
mua giấy, hoặc giúp tiền in, hoặc giúp tŕnh bày, sửa
chữa, hoặc đăng quảng cáo, hoặc giúp chuyên
chở, tùy tiện phát tâm, dùng nguyện nhỏ nhoi của
ḿnh để giúp cho hành vi thù thắng này được
thành tựu, đều gọi là thí, c̣n gọi là “bán thí”. Tuy
gọi là bán thí, nhưng nếu xuất phát từ ḷng chí
thành hoan hỷ, làm chuyện này không kiêu căng, không khiếp
sợ, thệ nguyện trọn vẹn, công đức sẽ
thù thắng.
3) Kỳ phước lưu
thông (Lưu thông do cầu phước): Cầu danh, cầu
lợi, cầu con, cầu thọ, nếu có thể tùy sức
ấn thí th́ sở nguyện ắt trọn. Nếu do cha mẹ
mắc bệnh cầu mau được lành, hứa nguyện
in thí, ḷng chí thành cảm động thiên địa. Nguyện
này vừa phát liền thấy linh ứng.
4) Sám hối lưu thông:
Con người chẳng phải là thánh hiền, ai mà không lỗi!
Nhưng thiên đạo họa dâm chẳng phạt tội
người hối lỗi. Con người phải biết
sửa lỗi và sớm sám hối tội bèn lưu thông
kinh điển để chuộc tội. Tận lực
kiên quyết hành như thế th́ túc chướng tự
tiêu.
5) Báo ân lưu thông: Con cái
chịu ân sâu của cha mẹ, cây muốn lặng nhưng gió
chẳng ngừng, sức con phụng dưỡng
được nhưng cha mẹ chẳng c̣n. Đau buồn
nhưng biết làm như thế nào? Chỉ nên ấn tống
kinh điển đă có thể tạo phước ngầm
cho người khuất, tận hết ḷng hiếu thuận.
Thật mong con cái trong khắp cơi đời đang ôm mối
hận suốt đời[53] hăy
đều tận lực thực hành.
6) Mẫn thương lưu
thông (thương kẻ chết non mà lưu thông): Không
duyên không oán chẳng thành cha con. Duyên tận bèn ĺa, oán tiêu sẽ
đi. Đứa con dĩnh ngộ khác lạ tuổi trẻ
chết yểu, ở đâu cũng có chuyện như thế.
So với chuyện lăng phí tiền bạc để làm chuyện
vô vị th́ chẳng bằng in kinh tạo tượng để
giúp cầu siêu, cứu bạt. Phàm những bậc cha anh hiền
thiện rất nên khởi xướng phong khí này.
7) Cát khánh lưu thông (lưu
thông kinh điển khi gặp dịp vui mừng, may mắn):
Gặp những chuyện như thành danh được lợi,
dựng nghiệp, xây cất, nhậm chức, thăng cấp,
cưới hỏi, sanh con, tiệc thọ v.v… đều nên
kiêng giết để khỏi tạo oan nghiệt. Hăy nên in
kinh điển để kéo dài phước trạch.
8) Quỹ tống lưu thông
(lưu thông bằng cách biếu tặng): Lễ mừng, lễ
tiễn, lễ gặp mặt... những thứ qua lại
để thể hiện t́nh cảm phải dùng đến
lễ vật đều có thể thay bằng kinh sách. Phổ
nguyện những bậc hiền đạt trong nước
nêu gương. Tương lai sẽ có hiệu quả thay
đổi phong tục không ai hay biết.
9) Tuyên giảng lưu thông:
Phàm những ngày mồng Một, Rằm hay ngày nghỉ, ở
nhà th́ tập hợp người nhà, trong làng th́ tụ họp
người làng, tùy theo tŕnh độ mỗi người
mà dẫn kinh điển làm chứng cứ để
phương tiện tuyên nói, khiến người thất
học cũng được thấm pháp, khiến cho sự
giáo hóa lớn lao của bậc tiên thánh được phổ
cập trong dân chúng, hiện tướng lưỡi rộng
dài, phát vô ngại biện tài. Đây cũng là thiên chức
phải nên thực hiện trọn vẹn của bậc
tiên giác vậy.
10) Hàm độc lưu thông (lưu thông qua thư từ, bút
thiếp): Bạn bè thân thiết qua lại nên giảm
trừ những loại hư văn vô ích. Trước hết
nên dẫn những lời vàng ngọc lập thân xử thế
của bậc tiên triết để khuyến khích lẫn
nhau, tận hết ḷng thành “mượn đá nơi núi khác
để làm ḥn đá mài”[54]. Tùy
tŕnh độ, tùy nhược điểm của mỗi
người mà khuyên cho được lợi ích. Cuối
thư liệt kê những kinh sách hữu ích cho người
ấy gồm bao nhiêu loại để người ấy
lấy đó làm chuẩn mực để xử thế
11) Thiện tả lưu thông
(lưu thông kinh điển bằng cách viết chữ
đẹp): Người viết chữ đẹp hễ
có ai cầu xin thư pháp bèn tuyển những câu chí lư, mẫu
mực trong kinh sách để viết. Nhờ đó để
sửa ngay ḷng người, duy tŕ thế đạo, công
đức ấy rất lớn. Chép được trọn
thiên sách hoặc toàn bộ, cho lưu hành trong đời th́
công đức ấy càng vô lượng.
12) Phiên ấn lưu thông (lưu
thông bằng cách in lại, in thêm cho nhiều những kinh
điển, tranh tượng đă được in): Kinh
điển có lợi cho thế đạo nhân tâm, nếu
không có bản quyền th́ hăy tom góp tiền bạc in lại
để rộng lưu truyền khiến cho cả cơi
đời thực hành nhân nghĩa, chẳng đến nỗi
bị bỏ phế, lao ngục trong thiên hạ trống rỗng,
ấy chẳng phải là nền móng trăm năm muôn kiếp
đó ư?
13) Mậu dịch lưu thông
(lưu thông kinh điển, tranh tượng bằng
cách buôn bán): Đối với những thiện thư do
các nhà xuất bản hoặc do các hàn sĩ buôn bán bèn lưu
hành rộng răi để mở rộng mậu dịch, hoặc
phát hành trong các nơi cử hành pháp hội thù thắng, hoặc
bán trong các đô hội lớn nhằm tạo thuận tiện
cho độc giả th́ chẳng những là tạo phước
mà c̣n được thêm tiền tài.
14) Lữ hành lưu thông: Gần
đây, đường tàu thủy phát triển, đường
xe lửa giao thông ngày càng thuận tiện. Xa xôi ngàn dặm
sớm chiều đă đến nơi. Lữ hành đă
thuận tiện, lữ khách ngày càng đông. Người
truyền đạo hoặc lựa dịp truyền bá trên
đường đi, hoặc mang những truyền
đơn lưu thông kinh điển phát theo đường
đi để mọi người được nhiều
lợi ích bởi mưa pháp.
15) Quảng cáo lưu thông:
Buôn bán lợi dụng quảng cáo th́ sự mậu dịch
ngày càng phát đạt. Bậc đại sĩ nên dùng cách
thức tuyên truyền pháp mới mẻ này để giúp
cho việc lưu thông đại pháp. Tùy thời nghiên cứu
ngành quảng cáo học, ngơ hầu việc lưu truyền
rộng răi đạt được hiệu quả rộng
lớn.
16) Công duyệt lưu thông (lưu
thông bằng cách lưu hành nơi công cộng cho mọi
người cùng đọc): Được kinh điển
mà cất trên gác cao sẽ mắc tội; để xuông
trên bàn chẳng để cho đại chúng biết đến
th́ cũng mắc tội. Những kẻ có căn cứ học
vấn, dùng vô ngại biện tài, thích v́ nhiều người
tuyên nói những khuyết điểm của kinh điển
th́ dầu chẳng thể nói là có tội, nhưng cũng
chẳng thể bảo là không lỗi. Hoằng dương
đại pháp, giáo hóa chỉ dạy rộng răi th́ không ǵ hay
bằng lập những thư viện kinh sách công cộng
tại các nơi.
Mười sáu cách lưu thông
trên đây dựa theo những nguyên tắc do các bậc tiên
hiền đă định, hăy châm chước theo thời
đại mà thực hiện.
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao,
Tăng
Quảng Chánh Biên
Quyển
4 hết
(Trọn
bộ)
Dịch
xong ngày 14 tháng 03 năm 2006
Giảo
chánh hoàn tất ngày 06 tháng 11 năm 2006
Nguyện sanh về cơi Tây Phương,
Hoa sen chín phẩm là cha mẹ ḿnh
Hoa nở gặp Phật chứng vô sanh,
Các vị Bồ Tát bạn lành với ta.
Trong quá tŕnh chuyển ngữ, chắc chắn
không thể tránh khỏi những sai sót không nên có, chúng con
xin thành tâm đê đầu sám hối. Ngưỡng mong những
vị thức giả từ bi thương xót phủ chánh
và nhuận sắc để bản dịch này được
hoàn thiện hơn. Nếu như việc làm không lượng
sức này có chút công đức nào, đều xin hồi
hướng đến Bổn Sư Thích Giải Thắng,
tọa chủ Bửu Quang Tự, quận 7, Sài G̣n, lịch
đại tổ tiên, phụ mẫu, thân bằng quyến
thuộc và những đạo hữu thân quư như Minh Tiến,
Huệ Trang, Vạn Từ... đă tận tụy sửa chữa,
giảo duyệt bản dịch, tŕnh bày bản in. Cũng
xin cảm tạ và hồi hướng công đức này
đến các liên hữu thuộc Cổ Tấn Báo Ân Niệm
Phật Đường, Tịnh Tông Học Hội Los
Angeles, Tịnh Tông Học Hội Úc Châu, pháp sư Ngộ
Sanh, đạo hữu Tuệ Tâm và hết thảy hữu
t́nh hàm thức. Nguyện tất cả đều cùng
được sanh về Liên Bang, thân cận Phật Di
Đà, viên thành Phật đạo.
[1] Bạn phương ngoại: Tăng sĩ quen biết cùng người tại gia thường xưng là “phương ngoại hữu”. Chữ “phương ngoại” ngụ ư đă tách ngoài cơi đời.
[2] Lai báo: Quả báo trong đời kế tiếp đời này.
[3] “Phiệt duyệt” là từ ngữ chỉ những
ḍng họ, gia đ́nh quyền quư, có danh vọng. Theo Thiều
Chửu, viết công trạng vào ván hay giấy, dán ngoài cửa,
phía bên trái gọi là Phiệt, bên phải gọi là Duyệt.
Sách Sử Kư giảng: “Nêu rơ thứ
bực là Phiệt, số ngày tích lại gọi là Duyệt”.
[4] Ba bà Thái là Thái Khương, Thái Tự và Thái Nhậm. Vua Ngu tức là vua Thuấn (thuộc ḍng họ Đường Ngu). Hai bà phi này tên là Nga Hoàng và Nữ Anh. Khi vua Thuấn đi tuần du lâu ngày chưa về, hai bà theo dấu t́m nhà vua, thuyền bị gió đánh lênh đênh trên hồ Động Đ́nh. Nghe tin vua đă mất ở Thương Ngô, hai bà nh́n mặt nước hồ Động Đ́nh mênh mông, vịn những cành trúc bên núi Động Đ́nh, khóc than đến chảy cạn máu mắt mà chết. Tương truyền giống trúc tại vùng Động Đ́nh ngày nay có vằn trắng là do nước mắt của hai bà vẩy vào (thường gọi là trúc Tương Phi). Do hai bà thường được gọi là Quân Phi, Tương Phi nên núi Động Đ́nh được đổi tên thành Quân Sơn. Hiện c̣n mộ của hai bà tại đó.
[5] Ông Cổn là cha vua Vũ, theo truyền thuyết ông Cổn là hậu duệ của Hoàng Đế. Khi Đế Nghiêu làm vua, ông Cổn trông nom việc pḥng lụt, nhưng càng đắp đê ngăn lụt, lụt lội càng khốn khổ hơn. Khi vua Thuấn kế nghiệp vua Nghiêu đă xử tử ông Cổn v́ tội tắc trách trong nhiệm vụ, sai ông Vũ tiếp tục công việc trị thủy. Khi chết, ông Cổn hóa thành con ba ba có ba chân sống trong vực núi Vũ Uyên. Nhờ trị thủy thành công, Đại Vũ được vua Thuấn truyền ngôi cho.
[6] Ông Tăng bị điên (phong tăng) ở đây chính là ngài Tế Điên ḥa thượng.
[7] Thừa tướng Tần Cối nhà Tống từng được ngài Tế Điên cảnh tỉnh nhưng vẫn gian ngoan không chừa, cấu kết với Tống Cao Tông hăm hại Nhạc Phi. Trong khi đại quân của Nhạc Phi đang đại thắng, đánh cho tướng Kim là Ngột Truật thất điên bát đảo, chiếm lại rất nhiều đất đai đă mất vào tay quân Kim, thừa thắng vượt Trường Giang (sông Dương Tử) vây hăm Biện Kinh. Vua Kim cho người mua chuộc Tần Cối, Cao Tông cũng sợ Nhạc Phi chiến thắng sẽ đem Huy Tông và Khâm Tông (đang bị giam lỏng ở Biện Kinh) về lại Tống nên cùng nhau một ngày hạ đến 12 tấm kim bài buộc Nhạc Phi phải băi quân. Nhạc Phi bị tước hết binh quyền mà Tần Cối vẫn chưa hả dạ, lại c̣n vu cáo Nhạc Phi mưu phản và ra lệnh cho Đại Lư Tự (cơ quan tư pháp của Tống) xử tử Nhạc Phi. Nhạc Phi chết, quân Kim chiến thắng quân Tống dễ dàng. Như vậy có khác nào Tần Cối đă hai tay dâng giang sơn nhà Tống cho quân Kim nên người Trung Hoa hết sức căm ghét Tần Cối, tạc h́nh tượng Tần Cối bằng sắt quỳ trước cửa miếu thờ Nhạc Phi. Người đến lễ miếu Nhạc vương gia (Nhạc Phi) thường dùng chày sắt đập trên đầu Tần Cối. Tương truyền, loại bánh dầu cháo quẩy (du xao quỷ: quỷ chiên dầu) chính là mô phỏng h́nh ảnh vợ chồng Tần Cối đang bị quỷ sứ chiên trong chảo dầu nơi địa ngục.
[8] Thiện đường: Cơ quan hay tổ chức nhân đạo (charity).
[9] Huân, gọi đủ là huân tân (hăng
nồng và cay), chỉ những thứ thực vật có mùi
hôi nồng, có vị cay. Theo kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới
quyển hạ, Ngũ Huân (thường gọi phổ biến
hơn là Ngũ Tân) gồm đại toán, cách thông, từ
thông, lan thông và hưng cừ (hành, hẹ, tỏi, kiệu
và củ nén). Theo Tứ Phần Luật quyển 15, Thập
Tụng Luật quyển 17, Câu Xá Luận quyển 14 và 18,
Pháp Uyển Châu Lâm quyển 93, đều chép Phật cấm
rượu và Ngũ Tân. Theo lăo ḥa thượng Diễn Bồi,
rượu ở đây bao gồm tất cả những
thứ có men gây say, dù là loại bia nhẹ hay sâm-banh, vang nhẹ
đều không được uống; các loại cây dù
không thuộc trong danh sách Ngũ Tân nhưng hăng nồng
như boa-rô (tỏi tây), hành tây… chẳng hạn cũng
không nên dùng. Hiện thời tại hải ngoại có một
số giảng sư chủ trương không kiêng Ngũ
Tân, thậm chí c̣n bảo chuyện kiêng Ngũ Tân là do cổ
đức Trung Hoa bịa đặt ra, chứ trong giới
luật không có! Không rơ những luận thuyết ấy
căn cứ vào đâu, v́ Tứ Phần Luật và Thập
Tụng Luật đều nói rất rơ chuyện này. Trong
các tự viện Trung Hoa khi xưa, trước cổng Tam
Quan thường có tảng đá hay bia đá khắc chữ
to “bất hứa huân tửu nhập
sơn môn” (chẳng cho người uống rượu,
ăn thứ tanh hôi vào sơn môn). Bia ấy thường
được gọi là Cấm Bi Thạch, Giới Đàn
Thạch, Huân Tửu Bi.
[10] Lậu có nghĩa là ṛ rỉ, đánh mất,
hàm nghĩa do phiền năo nên bị rơi rụng trong tam giới.
Thông thường có Tam Lậu, Lục Lậu, Thất Lậu.
Ở đây nói đến Ngũ Lậu nhằm ám chỉ
năm món lậu chính trong Thất Lậu, tức: 1. Kiến
Lậu (các thứ tà kiến) 2. Căn Lậu (các phiền
năo nơi sáu căn). 3. Ác Lậu (những phiền năo sanh
khởi do ác duyên bên ngoài như vua ác, bạn ác…) 4. Thọ Lậu
(phiền năo tạo bởi các cảm thọ sướng,
khổ, xả) 5. Niệm Lậu (phiền năo do tà niệm
sanh khởi).
[11] Ta thường gọi Tiểu Thực là “bữa lỡ”, tức bữa ăn nhẹ trước bữa ngọ. Đây là bài Cảnh Sách được treo trong Giới Đường để chư Tăng quán niệm khi dùng bữa lỡ. Thông thường, Giới Đường đối diện với Trai Đường, là nơi ở dành cho hàng Sa-di tu tập để cầu được thọ Cụ Túc Giới.
[12] Tam Tụ Tịnh Giới (Tri-vidhāni śīlāni), chỉ
giới pháp của Đại Thừa Bồ Tát, c̣n gọi
là Tam Tụ Thanh Tịnh Giới, Tam Tụ Viên Giới. Tụ
có nghĩa là họp thành loại. Do ba tụ giới pháp này
vô cấu thanh tịnh, nhiếp trọn các giới Đại
Thừa vô ngại viên dung nên gọi là Tam Tụ Tịnh Giới,
gồm:
1. Nhiếp Luật
Nghi Giới (Samvara-śīla): Đoạn hết thảy ác, ngăn dứt các
ác (Chỉ Ác môn) như Ngũ Giới, Bát Giới, Thập
Giới, Cụ Túc Giới v.v…
2. Nhiếp Thiện
Pháp Giới (Kuśala-dharma-samgrāhaka-śīla): Bao gồm hết
thảy Bồ Đề đạo giới, thuộc Tu Hành
Môn trong Luật Nghi. Đem tất cả điều lành từ
thân - khẩu - ư hồi hướng vô thượng Bồ
Đề, thường siêng tinh tấn, cúng dường
Tam Bảo, tâm không phóng dật, nhiếp thủ các căn,
hành lục Ba La Mật v.v.. Nếu phạm lỗi bèn
như pháp sám trừ.
3. Nhiếp Chúng Sanh Giới (Sattvārtha-kriyā-śīla), c̣n gọi là Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới, dùng từ tâm nhiếp thọ, lợi ích chúng sanh, tức là Lợi Sanh Môn trong Luật Nghi.
[13] Thiền Duyệt: Sự vui sướng, an vui khi nhập Thiền.
[14] Kim Cang (vajra): C̣n dịch âm là Phạt Xà
La, Bạt Xà La, Bạt Triết La, Phạ Nhật Ra, Phạt
Triết La, Bạt Nhật La. Thông thường, Kim Cang
được hiểu là chất cứng rắn nhất
trong các kim loại, hoặc loại bảo thạch quư báu
nhất, không ǵ phá hoại được, đốt không
cháy, xuyên thủng các vật. Sách Đại Thừa
Nghĩa Chương quyển 9 nói Kim Cang có các đặc
tính xuyên thủng mọi vật, thanh tịnh, cứng rắn,
tối thắng, khó suy lường, hiếm có, trong suốt,
trang nghiêm, không phân biệt v.v…
[15] Khi truyền giới cho người đă mất, giới điệp cấp cho vong linh được gọi là U Minh Giới Điệp.
[16] Theo Mạnh Tử, người quân tử
có ba điều vui trọng yếu trong cuộc đời:
1. Hiếu kính cha mẹ,
gia đ́nh ḥa thuận, cha mẹ anh em cùng vui hưởng niềm
vui thiên luân.
2. Dùng lương tâm
đối xử người khác, bỏ nhiều lấy
ít, nghiêm khắc với bản thân, khoan dung với người,
hành xử chẳng thẹn với trời.
3. Giáo dục bậc anh tài không mệt mỏi.
[17] Tư Mă Tương Như (170 trước Công Nguyên - 118 trước Công Nguyên) là một văn nhân hữu danh thời Tây Hán, chuyên viết Từ và Phú. Ông tên tự là Trường Khanh, người Thành Đô, Thục Quận (nay là tỉnh Tứ Xuyên). Thích đọc sách múa kiếm, thời trẻ được Hán Cảnh Đế thường cho theo hầu bên kiệu. Cảnh Đế không thích thơ phú nên ông bèn cáo bệnh từ quan, qua đất Lương là đất phong của Lương Hiếu Vương, tụ họp cùng những danh gia thời ấy như Trâu Dương, Mai Thừa v.v… viết ra bài Tử Hư Phú rất nổi tiếng. Lương Hiếu Vương chết, Tương Như quay về đất Thục, đi qua Lâm Cung gặp được người con gái góa là Trác Văn Quân. Cô này nghe khúc Phụng Cầu Hoàng do Tương Như gảy, say mê bỏ nhà trốn theo về Thành Đô. Do Tương Như quen ăn tiêu phung phí nên không bao lâu gia sản khánh kiệt, bị mọi người khinh rẻ, phẫn chí, khi qua cầu Thăng Tiên ở Thành Đô, Tương Như đă căm phẫn viết lên trụ cầu: “Chẳng ngồi xe cao bốn ngựa kéo, chẳng thèm đi qua cầu này nữa!” Khi Hán Vũ Đế lên ngôi, đọc bài Tử Hư Phú vô cùng tán thưởng bèn triệu Tương Như ra giữ chức Trung Lang Tướng.
[18] Theo Hiện Đại Hán Ngữ Từ Điển của Vương Đồng Ức, Câu là con ngựa non chưa đầy hai tuổi, hoặc những con ngựa non khỏe mạnh cao từ năm đến sáu thước. Ngựa non chạy khá nhanh nên thường được dùng để ví với thời gian như trong câu thành ngữ “bạch câu quá khích” (con ngựa non trắng chạy qua khe cửa), ư nói: Mới thấy đó đă qua mất rồi.
[19] Long Tuyền: Tên một thanh gươm báu thời cổ. Tương truyền kiếm ấy được đúc từ huyện Long Tuyền thuộc tỉnh Chiết Giang nên mới có tên như vậy. Cho đến nay, huyện Long Tuyền vẫn rất nổi tiếng về nghề đúc kiếm và binh khí.
[20] Đây là một thành ngữ ư nói: Ta và người không hề kém cạnh nhau. Tỉnh Sơn Đông nổi danh là có nhiều danh thần, đại tướng từ thời cổ. Có thể tạm nêu: Y Doăn, Quản Trọng, Yến Anh, Gia Cát Lượng, Vương Mănh, Vương Đạo, Pḥng Huyền Linh v.v… Ngay cả người sáng lập ra nước Tề thời Chiến Quốc là Khương Tử Nha và người lập ra nước Lỗ là Châu Công Đán cũng là người Sơn Đông.
[21] Tức là đứng ra làm thực hiện
họa phước ứng với nhân quả chứ không
phải trời cố ư giáng họa hay ban phước!
[22] Chiêu Minh Thái Tử (499-529), con trưởng của Lương Vơ Đế
(Tiêu Diễn) thời Nam Triều. Tánh linh mẫn, thông duệ,
lên ba tuổi đă đọc thông Hiếu Kinh, Luận Ngữ,
Ngũ Kinh Nho Giáo. Năm Thiên Giám nguyên niên (502) được
phong Hoàng Thái Tử. Thái Tử tín phụng Phật giáo, thọ
Bồ Tát Giới, giữ giới nghiêm cẩn, đọc
rộng các kinh, thấu hiểu ư nghĩa sâu xa. Lập cung
Huệ Nghĩa để quy tụ danh tăng giảng luận
kinh điển. Thái tử nhân ái, ra lệnh bỏ h́nh ngục,
suốt hai năm không hề chứa nữ nhạc trong
cung, thường thích giảng luận kinh sách cùng những
bậc danh sĩ. Trong Đông Cung chứa đến ba vạn
bộ sách. Tháng Ba năm Đại Thông thứ ba, Thái Tử
mắc bệnh, đến tháng Tư th́ mất, hưởng
thọ 31 tuổi. Trong triều, ngoài nội không ai chẳng
thương tiếc, vua ban thụy hiệu là Chiêu Minh. Di
trước c̣n có Văn Tập 20 quyển, Cổ Kim Điển
Cáo Văn Ngôn Chánh Tự 10 quyển, Anh Hoa Tập 10 quyển,
Văn Tuyển 10 quyển.
Lương Thư là biên
niên sử triều Lương.
Quảng Hoằng Minh
Tập gồm ba mươi quyển được ngài
Đạo Tuyên (596-667) soạn vào năm Lân Đức thứ
nhất (644), được xếp vào tập 52 của
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Sách này ghi chép
những chuyện trọng yếu trong đạo Phật.
Trước đó, ngài Tăng Hựu soạn bộ Hoằng
Minh Tập ghi chép những sự kiện hộ pháp từ
đời Đông Tấn đến Tống, Tề,
Lương. Đến đời Đường, ngài
Đạo Tuyên soạn Quảng Hoằng Minh Tập để
chép tiếp từ thời Lục Triều đến đời
Đường, ghi lại tiểu sử của hơn ba
trăm nhân vật. Nội dung bao gồm những chuyện
hưng phế của Phật giáo Trung Hoa cho đến
đời Đường và những nội dung thảo
luận, tranh biện Phật pháp trong các thời, cũng
như những luận thuyết, văn thư, thi phú, chiếu
lục v.v… của những nhân vật Phật giáo hữu
danh.
Cư Sĩ Truyện
gồm 56 quyển, do Bành Thiệu Thăng (Bành Tế Thanh)
soạn vào đời Thanh, chép ngôn hạnh của hơn
200 vị cư sĩ nổi tiếng từ thời Hậu
Hán đến thời Càn Long nhà Thanh, bắt đầu bằng
các vị Mâu Dung, An Huyền… cho đến Châu An Sĩ, Tri
Quy Tử kèm thêm phần b́nh luận của Uông Đại
Thân.
[23] Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 4 có chép chuyện chàng Diễn Nhă Đạt Đa ở thành Thất La soi gương trông thấy cái đầu của chính ḿnh bèn hoảng sợ, phát cuồng, bỏ chạy.
[24] Ư nói những trước tác của Hám Sơn Đại Sư được đưa vào Đại Tạng và Tục Tạng quá ít.
[25] Trai ở đây là một căn nhà riêng, hay gian nhà yên tĩnh để đọc sách, hoặc để dọn ḿnh trước khi tế lễ.
[26] Thượng đường là thuật ngữ
trong Thiền Lâm có nhiều nghĩa khác nhau:
1.
Lên ṭa nói lời khai thị tại thuyết pháp đường.
Thường do vị trụ tŕ tự viện (hoặc một
vị trưởng lăo) đảm nhiệm, có nhiều loại
như đán vọng (giảng trong mồng Một, ngày Rằm),
ngũ tham (mồng 5, 10, 20, 25) v.v…
2. Các nghi lễ trong lễ
nhậm chức của vị tân trụ tŕ.
3. Thượng
đường thuyết pháp xong, tới Trai Đường
thọ cúng dường gọi là Thượng Đường
Trai.
4. Gian trên của
Tăng Đường gọi là Thượng Đường,
các gian khác gọi là Hạ Đường.
Thông thường, từ ngữ “thượng đường” được hiểu theo nghĩa thứ nhất. Ở đây, Tổ giảng thượng đường cho một chủ rạp hát nên dùng nhiều thuật ngữ của nghệ thuật tuồng.
[27] “B́nh thiếu” là mua trữ sẵn gạo để chờ lúc gạo tăng giá v́ mất mùa, chiến tranh chẳng hạn, bèn tung ra bán cho dân với giá b́nh thường khiến cho giá gạo không tăng lên được.
[28] Tức hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh đă được nhắc đến trong chú thích trong bài 37 “Văn tế bà nội ông Hồ Gia Khoa”.
[29] Khí giới là một thuật ngữ của Hoa Nghiêm Tông, chỉ hoàn cảnh bên ngoài để cho chúng sanh hữu t́nh nương vào đó mà tồn tại, như sơn hà, đại địa v.v… Nói cách khác, khí giới c̣n gọi là Y Báo.
[30] Tỳ Sa Môn (Vaiśravana), dịch
nghĩa là Đa Văn, hoặc Chủng Chủng Văn
Thiên, là một trong bốn Đại Thiên Vương, lănh
nhiệm vụ thủ hộ phương Bắc cơi Diêm Phù
Đề. Cung điện của Ngài ở mặt Bắc
tầng trời thứ tư ngang hông núi Tu Di. Ngài thống
lănh loài Dạ Xoa, La Sát v.v… Thường thủ hộ đạo
tràng, nghe giảng Phật pháp nên mới có tên là Đa
Văn. Ở Ấn Độ, ngài c̣n được coi là
vị thần Chiến Thắng nên rất được
vua chúa sùng bái. Ngài thường được tạc
tượng mặc giáp trụ, đạp trên hai con quỷ,
tay trái bưng bảo tháp, tay phải cầm gậy báu.
[31] Càn Thát Bà (Gandharva) là một trong những
thiên chúng thuộc quyền cai quản của Đông
phương Đề Đầu Lại Tra thiên
vương (Dhṛtarāṣṭra), là nhạc thần của Đế
Thích, thích ngửi mùi hương, nên thường được
dịch nghĩa là Hương Thần.
Khẩn Na La (Kimnara)
cũng là nhạc thần, có đầu chim h́nh người.
Ma Hầu La Già
(Mahoraga) là loại rắn lớn, có thần thông, nhưng
thường hay bị chim Ca Lâu La bắt ăn thịt.
Chấp
Kim Cang Thần (Vajrapani): Trong Mật Giáo, Chấp Kim Cang Thần
là danh xưng chung của những vị Kim Cang thần, do
các vị này tay thường cầm Kim Cang Xử nên có danh
xưng như thế. Danh xưng của các vị thường
được hiểu như sau:
1.
Mười sáu vị Chấp Kim Cang Thần trong hội
Thành Thân thuộc Kim Cang Giới Mạn Đồ La, gồm:
Hư Không Vô Cấu Kim Cang, Kim Cang Luân, Kim Cang Nha, Tô Rị
Đa (Diệu Trụ) Kim Cang, Danh Xưng Kim Cang, Đại
Phận Kim Cang, Kim Cang Lợi, Tịch Nhiên Kim Cang, Đại
Kim Cang, Thanh Kim Cang, Liên Hoa Kim Cang, Quảng Nhăn Kim Cang, Chấp
Diệu Kim Cang, Kim Cang Kim Cang, Trụ Vô Hư Luận Kim Cang, Hư
Không Vô Biên Du Bộ Kim Cang. Theo sách Kim Cang Đảnh Du Già
Tam Thập Thất Tôn Xuất Sanh Nghĩa th́ mười
sáu vị Chấp Kim Cang Thần này do tâm Bồ Đề mạnh
mẽ của hết thảy Như Lai hóa hiện, biểu
thị lúc đức Như Lai tu hành có vi trần tâm chướng
phiền năo, Phật dùng trí huệ sắc bén như chất
Kim Cang đập tan, thành tựu trí môn nhiều như vi trần.
Do dùng trí huệ Kim Cang đối trị phiền năo nên các
vị Kim Cang này được tạc h́nh tướng dữ
tợn, hung ác.
2.
Tứ Chấp Kim Cang: Lại gồm hai thuyết:
a.
Những vị Kim Cang thần thủ hộ bốn cửa
đàn Quán Đảnh, tức là Trụ Vô Hư Luận Kim Cang
ở phương Đông Nam, Hư Không Vô Cấu Kim Cang ở
phương Tây Nam, Vô Cấu Nhăn Kim Cang ở phương
Tây Bắc, Bị Tạp Sắc Y Kim Cang ở phương
Đông Bắc. Sách Đại Nhật Kinh Sớ giảng: “Đàn Quán Đảnh h́nh vuông
tượng trưng cho Tâm Vương Kim Cang Giới. Trụ
Vô Hư Luận chính là tam thế vô ngại trí giới nơi bản
tánh vốn thanh tịnh. Hư Không Vô Cấu là nương
vào trí giới không chướng ngại, dứt trừ mọi
hư luận, thanh tịnh như hư không. Vô Cấu Nhăn là giống
như hư không hễ không có cấu chướng th́ thấy
được hết thảy, giống như Bát Nhă ĺa hết
thảy tướng, nhưng không ǵ chẳng thấy nghe
hay biết. Bị Tạp Sắc Y giống như người
mắt sáng tự tại làm mọi việc, xem thấy hết
thảy các căn duyên, khéo léo chỉ dạy”.
b.
Bốn vị đại thần Đất, Nước,
Gió, Lửa trong Kim Cang Giới Hiện Đồ Mạn
Đồ La. Những vị thần này đứng ở bốn
góc hội Thành Thân, tay cầm Kim Cang xử nên gọi là Chấp
Kim Cang Thần.
3. Mười chín vị
Chấp Kim Cang Thần trong pháp hội Đại Nhật,
là quyến thuộc của Phật Tỳ Lô Giá Na, gồm:
Hư Không Vô Cấu, Hư Không Du Bộ, Hư Không Sanh, Bị
Tạp Sắc Y, Thiện Hạnh, Trụ Nhất Thiết
Pháp B́nh Đẳng, Ai Mẫn Vô Lượng Chúng Sanh Giới,
Na La Diên Lực, Đại Na La Diên Lực, Diệu, Thắng
Tấn, Vô Cấu, Nhẫn Tấn, Như Lai Giáp, Như Lai
Câu Sanh, Trụ Vô Hư Luận, Như Lai Thập Lực Sanh,
Vô Cấu Nhăn và Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ. Những vị
này tượng trưng cho một khía cạnh đại
trí đức của Như Lai. Nếu xét kỹ, 18 vị
đầu là biệt đức, Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ
là tổng đức. Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ là giáo
lệnh luân thân của Phổ Hiền Bồ Tát theo kinh Kim
Cang Phong Lâu Các Du Già Du Kỳ.
[32] Phiên Ngung là một khu vực hành chánh thuộc miền
Đông
[33] Hải Diêm là một huyện thuộc phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Từ Úy Như (1878-1937): Tên tự là Văn Úy, hiệu Tàng Nhất, thuộc ḍng dơi thế gia ở Hải Diêm, Chiết Giang, là một cư sĩ hữu danh thời cận đại. Ông theo mẹ tụng kinh lễ Phật từ nhỏ, sau quy y với ngài Đế Nhàn theo lời dạy của tổ Ấn Quang, tự đặt trách nhiệm hoằng truyền, ấn hành kinh Phật. Ông xuất bản những lá thư của tổ Ấn Quang lần đầu tiên vào năm 1918 nhờ đọc được những lá thư ấy trên tờ Phật Học Tùng Báo do cư sĩ Cao Hạc Niên đăng tải. Từ đó, suốt đời ông tận lực sưu tập và biên tập những lá thư, trước tác của ngài Ấn Quang để tạo thành các bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên, Tục Biên, và Tam Biên. Về sau, ông sáng lập Bắc Kinh Khắc Kinh Xứ, Thiên Tân Khắc Kinh Xứ v.v… Năm 1937, quân phiệt Nhật chiếm cứ Hoa Bắc, ông cùng các cư sĩ thuộc hội Phật giáo Thiên Tân tận lực cứu giúp những người dân tản cư lánh nạn. Do quá nhọc nhằn, ông ngă bệnh và mất trong năm ấy, thọ sáu mươi tuổi.
[34] Nguyên văn: Nhân ngă t́nh không, Kiến Tư hoặc tận, phương vu tam giới, vĩnh ly sanh hấn. Hấn là cắt cổ muông thú để lấy máu bôi lên chuông, trống. Trước khi, Phật giáo truyền sang Trung Hoa, người Hán vẫn tin chuông trống nếu không bôi máu loài thú sẽ không kêu! Do giết những loài thú này khi chúng c̣n đang sống nên gọi là “sanh hấn”. Chúng tôi dịch gượng chữ “sanh hấn” thành sự bỏ thân trong câu này.
[35] Nguyên văn là “tấn thân” (搢紳), cắm cái hốt vào đai, mô tả cách phục sức của quan lại. Do đó, chữ “tấn thân” được hiểu theo nghĩa rộng là giới quan lại cũng như con cháu nhà quan.
[36] Trà-tỳ (jhāpeti): Đôi khi c̣n phiên âm là Đồ Tỳ,
Xà Tỳ, Xa Tỵ, Tà Duy, có nghĩa là hỏa thiêu, tức
là dùng lửa thiêu hủy thi hài, rồi thâu nhặt di cốt.
[37] Thù y: Thù là một đơn vị đo lường thời cổ, bằng 1/24 lạng. Thù y là thứ áo cực nhẹ, trong kinh Phật thường dùng chữ “thù y” để chỉ áo của chư thiên v́ nó rất nhẹ.
[38] Tả Bộc Xạ là một chức quan văn. Thời Hán, chức quan này là tùy viên của Thượng Thư Lệnh (chuyên coi sóc về xét duyệt tấu chương, chiếu biểu, có thể hiểu giống như chức Chánh Thư Kư Văn Pḥng Nội Các bây giờ). Từ thời Tùy - Đường trở đi, Bộc Xạ tương đương chức Tể Tướng, và chia làm Tả Bộc Xạ và Hữu Bộc Xạ.
[39] Từ Khê là một huyện thuộc phủ Khánh Nguyên tỉnh Chiết Giang.
[40] Theo sách Tây Kinh Tạp Kỷ
(không rơ tác giả là ai, có thuyết nói là Lưu Hâm đời
Hán, có thuyết lại nói là Cát Hồng đời Tấn),
Khuông Xung tự Trĩ Khuê, người xứ Đông Hải
(nay là Tam Lăng Trấn, Thương Sơn), nhà rất
nghèo, chăm học nhưng không có đèn đuốc, bèn
khoét một lỗ nhỏ trên vách để đọc nhờ
đèn hàng xóm. Trong xóm có một nhà giàu sở hữu rất
nhiều sách, Khuông Xung bèn đi làm thuê cho nhà ấy không lấy
tiền công để được đọc sách. Sau này
đỗ đạt, giữ chức Bác Sĩ Cấp Sự
Trung chuyên giảng kinh sách cho hoàng tộc và bá quan, cũng như
từng giữ chức Thái Tử Thiếu Bảo chuyên dạy
hoàng tử. Có lúc ông từng làm quan đến chức Thừa
Tướng đời Hán Nguyên Đế. Điển cố
“Khuông Xung tạc bích thâu quang” (Khuông Xung khoét vách trộm
ánh sáng) được dùng để chỉ gương hiếu
học.
[41] Khí giới ở đây là khí thế gian, tức cảnh bên ngoài, bao gồm cơi nước, thế giới v.v… tức Y Báo.
[42] Tam Đại là ba triều đại Hạ, Thương và Châu.
[43] Nguyên văn “mật tiễn phê sương” (trái cây làm thành mứt, ướp lẫn chất arsenic) ngon ngọt, nhưng ăn vào sẽ bị trúng độc chết.
[44] Y Huấn là một thiên sách của Y
Doăn. Theo thiên Thương Thư trong kinh Thư, nhân ngày giỗ
vua Thành Thang, Y Doăn giáo huấn các quan, trong đó có câu: ‘Tác thiện giáng chi bách tường,
tác bất thiện giáng chi bách ương’ (làm điều
lành th́ trăm điều tốt lành giáng xuống, làm
điều chẳng lành th́ trăm tai ương giáng xuống).
Bài răn ấy được gọi là Y Huấn (giáo huấn
của ông Y Doăn), và thường được biết
đến dưới danh xưng ‘Y Huấn chi bách tường’.
[45] Một Lạng (lượng) gồm
10 Tiền, tùy theo địa phương mà chênh lệch từ
36g đến 40 g. Hiện thời, tại Trung Hoa Đại
Lục quy định một lạng là 50 g, trong khi Đài
Loan và Hương Cảng quy định một lạng là
37.429g (theo Wikipedia)
[46] Một phân là 1/10 tiền, khoảng từ
3.7 đến 0.5 g (tùy theo dùng hệ thống đo lường
của Trung Quốc hay Đài Loan).
[47] Nhận: Đơn vị đo
lường thời cổ, một nhận bằng khoảng
chừng tám thước Tàu.
[48] Ngày sanh nhật của người
già đă mất gọi là Minh Thọ.
[49] Tức là viết chữ chân
phương, rơ ràng, không viết tắt, không bớt nét,
không viết theo lối thảo.
[50] Tùy theo mỗi xứ sở mà thay
đổi danh xưng cho phù hợp!
[51] Xin xem bài luận này trong quyển thứ hai, bài
số 7.
[52] Bàn Cổ: Theo thần
thoại Trung Quốc là người tạo dựng ra trời
đất muôn loài từ thuở thế giới c̣n hỗn
độn sơ khai. Do vậy, Đạo Giáo đă tôn
phong Bàn Cổ là hóa thân của Ngọc Thanh Nguyên Thủy
Thiên Tôn (một trong Tam Thanh của Đạo Giáo). Theo
đó, khi vũ trụ c̣n là một khối hỗn độn,
Bàn Cổ bèn tự nhiên sinh ra. Suốt 18.000 năm, Bàn Cổ
dùng ŕu để tách rời trời đất, những chất
nhẹ và trong sạch bay lên thành trời, những chất
nặng nề, dơ bẩn ch́m xuống thành đất. Sợ
trời đất lại sụp xuống trộn lẫn
vào nhau lần nữa, Bàn Cổ liền đầu đội
trời, chân đạp đất, khiến trời mỗi
ngày cao lên một thước, thân Bàn Cổ cũng mỗi
ngày cao thêm một thước. Sau 18.000 năm, Bàn Cổ chết
đi, những bộ phận trên thân ông ta biến thành vạn
vật trong vũ trụ: Chân tay thân ḿnh biến thành núi non,
bắp thịt biến ruộng ph́ nhiêu, máu biến thành
sông ng̣i, gân xương biến thành đường lớn,
răng lợi biến thành ngọc thạch, da lông biến
thành cây cỏ v.v… Có nhà nghiên cứu cho rằng, truyền
thuyết Bàn Cổ bắt nguồn từ truyền thuyết
Bàn Qua của những dân tộc bản địa (như
người Việt cổ chẳng hạn) sống ở
hạ lưu Trường Giang trước khi người
Hán tràn vào Trung Nguyên.
[53] Ư nói nỗi hận day dứt suốt
đời v́ không thể phụng dưỡng cha mẹ khi
cha mẹ c̣n sống.
[54] Điển tích này lấy ư từ câu
kinh Thi ‘Tha sơn chi thạch,
khả dĩ vi thác’ (ḥn đá lấy từ núi khác, có thể
dùng làm đá mài) : Ư nói bạn bè mượn những
điều hay lẽ phải của người khác để
khuyên răn, rèn giũa cho nhau.