Ấn Quang Pháp
Sư Văn Sao
Quyển Thứ
Nhất
(Phần 2)
20. Thư gởi cư sĩ Tâm
Nguyện
(viết thay cho
bạn)
Tâm là chủ của thân, là tông của muôn pháp.
Thuận theo sẽ mau thành Bồ Đề, trái nghịch
ắt phải ch́m măi trong sanh tử. Hết thảy chúng
sanh mê trái bổn tâm, đuổi theo vọng cảnh,
khởi tham - sân - si, tạo giết - trộm - dâm, luân
hồi trong lục đạo, ngụp lặn trong tam
giới, trải kiếp dài lâu không thể xuất ly. Ông
đă phát tâm quy y Tam Bảo, làm đệ tử Phật, hăy
nên phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện của Bồ Tát,
tự lợi, lợi tha.
Tứ Hoằng Thệ Nguyện là “chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận
thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ
nguyện học, Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”. Phải biết Tứ Hoằng
Thệ Nguyện này chính là thệ nguyện gốc của
hết thảy tam thế chư Phật. Hằng ngày, ông
khởi tâm động niệm phải hợp với
nguyện này. Nếu hợp, hăy mở rộng cho viên măn.
Nếu chẳng hợp, hăy đoạn trừ cho sạch
hết. Muốn lợi tha trước hết phải
tự lợi. Nếu chính ḿnh không xuất sanh tử
trước, sao có thể độ chúng sanh thoát sanh tử?
Ví như người đang chết ch́m trong biển,
chẳng thể cứu người khác bị chết
đuối trong biển. Như Lai nói ra vô lượng vô
biên pháp môn liễu sanh thoát tử, chỉ có mỗi một
pháp Tịnh Độ hạ thủ dễ dàng, thành công cao,
dùng sức ít, đạt hiệu quả nhanh. Nếu
muốn thành tựu ngay trong đời này mà bỏ pháp này
sẽ chẳng có cách nào cả!
Nói
đến pháp Tịnh Độ th́ phải sanh tín, phát
nguyện, niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Nếu quả
thật tín nguyện chân thành, khẩn thiết, nhất tâm
niệm Phật, đến lúc lâm chung quyết định
được Phật tiếp dẫn văng sanh cơi ấy. Đă
được văng sanh liền tạ từ xác phàm, cao
dự ḍng thánh, thấy Phật, nghe pháp, chứng Vô Sanh
Nhẫn, thần thông, trí huệ chẳng thể nghĩ bàn!
Rồi lại nương theo bổn nguyện trở vào
Sa Bà, dùng đủ mọi phương tiện độ
thoát chúng sanh, như Quán Thế Âm Bồ Tát: Nên dùng thân nào
để độ được bèn hiện thân ấy mà
thuyết pháp, khiến cho khắp hết thảy chúng sanh
đồng thoát sanh tử, cùng thành Phật đạo,
rồi mới viên chứng tâm diệu Chân Như chính ḿnh
sẵn đủ. Như thế mới là rốt ráo
khế hợp Tứ Hoằng Thệ Nguyện của
Bồ Tát, với bốn mươi tám nguyện của A
Di Đà Phật và mười đại nguyện
vương của Phổ Hiền Bồ Tát. Ư nghĩa
của Tâm Nguyện là như vậy. Nếu có thể nh́n
vào danh nghĩ đến ư nghĩa, ra sức thực hành
th́ có thể gọi là bậc trượng phu lỗi
lạc, sen mọc trong lửa, là con thật sự của
đức Như Lai, là đích tôn của Đại Sĩ,
hăy gắng lên, hăy cố lên!
21. Thư gởi cư sĩ Vệ Cẩm Châu (ông này do nhà hàng xóm cháy lan qua, nên nhà cửa, của cải mất sạch, vợ kinh hăi thành bệnh, v́ thế tâm thần mê loạn, như say, như cuồng)
Kinh Pháp Hoa dạy: “Ba
cơi không yên, ví như nhà lửa. Các khổ dẫy
đầy, rất đáng kinh sợ”. Do trời
muốn thành tựu người nên có khổ, có vui, có
nghịch, có thuận, có họa, có phước, vốn
không nhất định. Chỉ cần người trong
cuộc có con mắt thông suốt, khéo hiểu ư trời th́
không khổ, không vui, không nghịch, không thuận, không
họa, không phước vậy! Do vậy, quân tử vui
theo mạng trời, trên chẳng oán trời, dưới
chẳng hận người, tùy ngộ nhi an, không lúc nào
không tự tại tiêu dao. Do vậy, “tố phú quư hành hồ phú quư” (Tố có
nghĩa là hiện tại, Hành có nghĩa là thong dong, nhàn
hưởng. Hễ giàu thời chu cấp kẻ bần
cùng, hễ quư hiển bèn tận trung với vua, yêu dân,
tận bổn phận phú quư. Ấy gọi là “tố phú quư hành hồ phú quư”), “tố
bần tiện hành hồ bần tiện” (nếu
nhà không dư dật, thân chưa làm quan th́ giữ khí
tiết thanh bần, chẳng dám làm bậy), “tố di
địch hành hồ di địch” (nếu
tận trung mà bị sàm tấu, bị biếm ra nơi xa,
như các vùng Vân Nam, Quư Châu, Lưỡng Quảng, Hắc
Long Giang v.v… th́ tâm b́nh khí ḥa, chẳng oán vua, chẳng
hận kẻ sàm báng, tự sống như người
ở nơi ấy), “tố hoạn nạn hành hồ
hoạn nạn” (hoặc có thể chẳng
những bị biếm truất, lại c̣n bị xử
tội, nhẹ th́ đánh đập, giam cầm, nặng
th́ chém đầu, phân thây, hoặc đến nỗi diệt
môn, vẫn chẳng oán vua, chẳng hận gian đảng,
cũng như chính ḿnh đáng bị như thế. Đối
với hoạn nạn do người gây ra c̣n như
thế, huống chi những hoạn nạn do trời giáng
xuống, há oán hận ư? Người như vậy
được người yêu thương, trời hộ
tŕ, trong đời này hoặc trong đời sau hoặc là
đời con cháu quyết định được hưởng
phước báo vô cùng để xứng với đức
ấy). Cư sĩ tuy có tư
chất ham làm lành, nhưng chưa rơ lư tột cùng của
Nho và Phật; v́ thế, vừa gặp nghịch cảnh
bèn đâm ra cuồng loạn. Nay tôi khuyên rằng: Rộng
dày, cao minh nhất trong thế gian không ǵ hơn thiên
địa, nhật, nguyệt. Mặt trời đứng
bóng rồi chênh; trăng tṛn rồi khuyết, bờ cao
thành hang, hang sâu thành vách núi, biển xanh biến thành
ruộng dâu, ruộng dâu biến thành biển xanh.
Xưa nay người đạo cao đức trọn vẹn nhất không ai bằng Khổng Tử, thế mà c̣n bị tuyệt lương nơi đất Trần, bị vây nơi đất Khuông, chu du liệt quốc, rốt cuộc không gặp được minh quân, chỉ có một người con, tuổi mới năm mươi liền bị chết mất; may c̣n một cháu nối dơi. Tính trở xuống th́ Nhan Uyên đoản mạng, Nhiễm Bá Ngưu[1] cũng đoản mạng, Tử Hạ [2]bị mù, Tả Khâu Minh[3] cũng bị mù, Khuất Nguyên tự trầm dưới sông (Khuất Nguyên tận trung bị gièm, sau Sở Hoài Vương bị vua Tần bắt giữ, khôn ngăn ưu phẫn, không làm ǵ được, ngày mồng Năm tháng Năm tự trầm nơi sông Mịch La), Tử Lộ[4] bị bằm vụn (chữ 醢 đọc là Hải, có nghĩa là thịt làm thành mắm. Tử Lộ làm quan nước Vệ, Vệ Khoái Quư và con toan chiếm nước. Tử Lộ bị chết trong nạn ấy, bị quân địch băm vụn ra).
Thiên
địa, nhật nguyệt c̣n chẳng thể thường
hằng bất biến, đại thánh đại hiền
cũng chẳng thể chỉ có thuận không nghịch;
chỉ vui theo mạng trời th́ không chuyện ǵ chẳng
an vui, lại được trăm ngàn đời sau,
từ thiên tử cho đến thứ dân, không ai không
ngưỡng mộ. Nếu luận theo t́nh cảnh khi
ấy, tợ hồ họ vô phước; nhưng nếu
luận trên mức độ được truyền
tụng hậu thế th́ không ai phước bằng
được họ! Người sống trong thế
gian, nghĩ ngàn lối, tính muôn bề, đặt bày
mọi cách, xét đến rốt ráo chẳng qua là
để nuôi thân miệng, để lại của
cải cho con cháu mà thôi. Nhưng thân th́ vải thô cũng
đủ che ḿnh, cần ǵ phải lụa, là, the,
đoạn? Miệng th́ canh rau đủ nuốt trôi
cơm, cần ǵ phải cá thịt, hải sản? Con cháu
th́ hoặc là đọc sách, hoặc cày ruộng, hoặc
buôn bán tự nuôi được thân, cần chi phải giàu
có trăm vạn?
Vả
nữa, từ cổ đến nay, những kẻ mưu
cầu phú quư muôn đời cho con cháu ai bằng Tần
Thủy Hoàng, thôn tính lục quốc, đốt sách, chôn
học tṛ, thâu binh khí thiên hạ đúc thành chuông lớn,
không chuyện ǵ chẳng nhằm làm cho nhân dân ngu yếu
chẳng thể nổi dậy. Nào biết Trần
Thiệp vừa khởi, quần hùng đua nhau, sau khi
nhất thống chưa đầy mười hai
mười ba năm bèn đến nỗi thân chết
nước tan, con cháu bị giết sạch hết, khác
nào cắt cỏ trừ rễ, nào c̣n sót ǵ? Đấy là
muốn cho con cháu yên vui, lại đến nỗi làm chúng
mau chết sạch!
Thời
Hán Hiến Đế, Tào Tháo làm Thừa Tướng, chuyên
đoạt uy quyền, những việc hắn làm không ǵ
chẳng nhằm làm suy yếu quyền thế nhà vua,
tăng thêm quyền lực cho bản thân; muốn khi ḿnh
chết đi, con ḿnh sẽ làm vua. Kịp đến khi
chết đi, Tào Phi bèn soán ngôi, xác cha chưa liệm, Tào
Phi đă dời hết cả phi tần đưa sang cung
ḿnh. Tháo chết đi, măi măi đọa trong ác đạo,
đến hơn một ngàn bốn trăm năm sau,
nhằm đời Càn Long nhà Thanh, tại Tô Châu có
người giết heo, moi gan phổi ra, thấy
đề hai chữ Tào Tháo. Xóm giềng có kẻ trông
thấy sợ hăi vô cùng, liền lập tức xuất gia,
pháp danh là Phật An, nhất tâm niệm Phật liền
được văng sanh Tây Phương. Chuyện này
được ghi trong Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục.
Ôi!
Tào Tháo phí sạch tâm cơ, v́ con bày mưu, dù làm hoàng đế
nhưng chỉ được bốn mươi lăm
năm, nước liền diệt vong. Nhưng hằng
ngày cùng Tây Thục, Đông Ngô tranh chấp, có ngày nào
được an lạc đâu? Sau đó, như hai nhà
Tấn[5],
Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy và Lương,
Đường, Tấn, Hán, Châu thời Ngũ Đại
đều chẳng dài lâu. Tựu trung, chỉ có nhà Đông
Tấn dài nhất, cũng chỉ được 103
năm, những triều đại khác hoặc hai ba
năm, hoặc tám chín năm, mười, hai mươi
năm, bốn mươi, năm mươi năm liền
bị diệt vong. Đấy chỉ mới kể
những triều đại chánh thống, chứ c̣n
những kẻ chiếm cứ bừa băi, tiếm xưng
ngụy quốc, số lượng càng nhiều, thời
gian tồn tại càng ngắn hơn nữa. Xét đến
cái tâm ban đầu, không ai không muốn cho con cháu được
phú quư, tôn vinh; nh́n vào hiệu quả thật sự, trái
lại khiến cho con cháu gặp phải kiếp nạn
tru lục, diệt môn tuyệt hộ! Dù quư như thiên
tử, giàu khắp bốn biển, c̣n chẳng thể
khiến cho con cháu đời đời hưởng
phước, huống hồ kẻ phàm phu hèn mọn.
Từ vô lượng kiếp đến nay đă tạo ác
nghiệp dầy hơn đại địa, sâu quá
biển cả, há có thể giữ cho gia đạo
thường hưng thạnh, có phước không tai
ương được ư?
Phải
biết vạn pháp trong thế gian đều là hư
giả, trọn không chân thật, như mộng, như
huyễn, như bọt, như bóng, như sương,
như chớp, như ánh trăng trong nước, như
hoa đốm trên hư không, như ánh nước gợn
khi trời nắng, như thành Càn Thát Bà (Phạn
ngữ Càn Thát Bà, Hán dịch là Tầm Hương, chính là
nhạc thần của Thiên Đế, thành của họ
huyễn hiện, không thật. Thế tục thường
gọi là “thẩn lâu hải
thị” (lầu ṣ chợ biển) chính là nó đấy). Chỉ một niệm tâm tánh của
chính ḿnh hằng cổ hằng kim, chẳng biến,
chẳng hoại. Dẫu không biến hoại nhưng
thường tùy duyên. Hễ ngộ tịnh duyên bèn thành
Thanh Văn, thành Duyên Giác, thành Bồ Tát, thành Phật. Do công
đức có cạn - sâu nên quả vị có cao - thấp.
Hễ mê nhiễm duyên bèn sanh lên trời, sanh trong nhân gian,
đọa vào Tu La, đọa trong súc sanh, đọa vào
ngạ quỷ, đọa xuống địa ngục. Do
tội - phước có nặng - nhẹ nên khổ - vui có
dài - ngắn. Nếu là người không biết Phật pháp
th́ không biết phải nên làm như thế nào.
Ông
đă sùng tín Phật pháp, sao chẳng do nghịch cảnh
này, thấy thấu suốt tướng thế gian, bỏ
duyên mê nhiễm, ngộ theo tịnh duyên, nhất tâm
niệm Phật, cầu sanh Tây Phương? Từ đây
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi lục đạo,
cao chứng quả vị Tứ Thánh. Há chẳng phải là
nhân họa nhỏ này mà thường hưởng phước
to ư? Lại mịt mờ chẳng rơ, như say, như
cuồng. Nếu như lo nghĩ quá độ, đến
nỗi táng thân mất mạng sẽ bao kiếp dài lâu khó
thoát khỏi luân hồi, lại c̣n vợ yếu con côi
lấy ǵ tự lập? Vốn muốn tự lợi,
lợi người, lại trở thành tự hại,
hại người (chữ “người” ở
đây chỉ vợ con). Sao lại
ngu si đến nỗi như thế?
Kinh
dạy: “Bồ Tát sợ nhân,
chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát sợ gặp ác
quả nên đoạn trừ sẵn ác nhân. Do vậy,
tội chướng tiêu diệt, công đức viên măn, măi
cho đến khi thành Phật mới thôi. Chúng sanh
thường gây nhân ác, muốn tránh quả ác, như
dưới mặt trời toan trốn bóng, uổng công
nhọc nhằn rong ruổi! Thường thấy kẻ
ngu vô tri vừa làm chút điều lành nhỏ nhoi bèn mong
phước to, vừa gặp nghịch cảnh bèn nói làm
thiện mắc họa, không có nhân quả. Từ đó, lui
hối cái tâm ban đầu, quay ngược lại phỉ
báng Phật pháp, nào biết ư chỉ sâu huyền “báo thông
ba đời, chuyển biến do tâm”!
“Báo thông ba đời” có nghĩa là đời này làm thiện,
làm ác; ngay đời này được phước,
mắc họa, đó gọi là Hiện Báo. Đời này
làm thiện, làm ác, ngay trong đời sau hưởng
phước, mắc họa, đó gọi là Sanh Báo.
Đời này làm thiện, làm ác, đến đời
thứ ba, hoặc đời thứ tư, hoặc
mười, trăm, ngàn vạn đời, hoặc
đến vô lượng vô biên kiếp sau mới
hưởng phước, mắc họa, đó gọi là
Hậu Báo. Hậu Báo sớm - trễ không nhất
định. Hễ gây nghiệp quyết định không
thể không thọ báo.
“Chuyển biến do tâm” là ví như có người tạo ác
nghiệp, sẽ vĩnh viễn đọa địa
ngục, chịu khổ bao kiếp dài lâu. Về sau,
người ấy sanh ḷng hổ thẹn lớn lao, phát
đại Bồ Đề tâm, cải ác tu thiện,
tụng kinh niệm Phật, tự hành dạy
người, cầu sanh Tây Phương. Do vậy,
đời này hoặc bị người khác khinh rẻ,
hoặc bị chút bệnh khổ, hoặc bị bần
cùng đôi chút, hoặc gặp hết thảy chuyện
chẳng như ư, cái nghiệp vĩnh viễn đọa
địa ngục bao kiếp chịu khổ dài lâu đă
trót tạo trước kia nay liền tiêu diệt, lại
c̣n có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Kinh
Kim Cang dạy: “Nếu có
người thọ tŕ kinh này, bị người khác khinh
rẻ là do tội nghiệp đời trước của
người ấy đáng lẽ đọa ác đạo, v́
đời này bị người khác khinh rẻ nên tội
nghiệp đời trước bèn tiêu diệt, sẽ
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Đấy
chính là ư nghĩa “chuyển biến do tâm” vậy.
Người
đời vừa gặp chút tai ương, nếu không oán
trời th́ cũng trách người, trọn chẳng có ư
tưởng trả nợ, sanh ḷng hối tội. Phải
biết: “Trồng dưa được dưa, trồng
đậu được đậu”. Trồng cỏ
dại chẳng thể được hạt thóc ngon,
trồng gai góc mong chi thóc nếp! Làm ác mà được
phước là do đời trước tài bồi sâu xa.
Nếu không làm ác, phước c̣n lớn hơn nữa! Ví
như con cháu nhà giàu có, ăn uống phung phí, xài vàng như
đất, nhưng không đến nỗi đói rét là do
vàng nhiều. Nếu cứ ngày ngày như thế, dẫu
giàu có đến trăm vạn, chẳng mấy năm
sẽ nhà tan người chết, hết sạch sành sanh!
Làm lành mắc họa là do tội nghiệp đời
trước sâu dày. Nếu không làm lành, tai ương càng
lớn hơn. Ví như kẻ phạm tội nặng,
chưa kịp xử phạt, lại lập công nhỏ; do
công nhỏ nên chưa được tha hoàn toàn, đổi
tội nặng thành tội nhẹ. Nếu có thể ngày
ngày lập công, do công nhiều thành lớn nên tội
hết, được tha miễn. Lại c̣n
được phong hầu bái tướng, thế tập
tước vị[6],
tồn tại măi cùng đất nước.
Đại
trượng phu sống trong thế gian, nên có tri kiến
vượt trội, há để vật ngoài thân phiền
lụy, hủy hoại thân ḿnh. Ví như vàng ngọc
đầy nhà, cường đạo lại cướp,
chỉ nên bỏ đó trốn lẹ, há nên giữ của
đợi chết ư? Bởi lẽ vàng ngọc tuy quư,
nhưng so với thân mạng vẫn hèn kém hơn! Đă
chẳng thể toàn vẹn đôi bề, chỉ có thể
bỏ vàng ngọc để toàn thân mạng. Tài vật
của ông đă cháy hết, buồn xuông ích ǵ? Chỉ nên
tùy duyên sống qua ngày, dốc hết sức niệm Phật,
cầu sanh Tây Phương th́ trong đời vị lai,
vĩnh viễn ĺa khỏi các khổ, chỉ hưởng
các sự vui. Như thế th́ do nạn lửa này, bèn thành
đạo vô thượng. Phải cảm ân, báo
đức c̣n không xuể; há lại oán hận, buồn
phiền như thế chăng?
Xin
hăy đem lời tôi suy nghĩ cặn kẽ, ắt sẽ
được gỡ rối giải thoát. Như vẹt
mây mù thấy được mặt trời, từ đây
tai ương biến thành người dẫn
đường tốt lành, chuyển ngay nóng bức thành mát
mẻ. Nếu cứ chấp mê không ngộ, ắt sẽ
phát điên phát cuồng, bổn tâm bị mất, tà ma
dựa thân, dẫu ngàn đức Phật xuất thế
cũng không cách nào giúp được ông!
22. Trả lời thư cư sĩ Lâm
Giới Sanh ở Thái Thuận (thư thứ nhất)
Bất Huệ học Nho không xong, học Phật
chẳng thành, ĺa quê cũ đă lâu, muốn quay về
nhưng chưa được. Mỗi phen tự xét,
thẹn thùng không biết ẩn vào đâu. Chợt tiếp
được thư ông, khác nào gặp lại cố nhân,
nhưng trong thư khen ngợi quá lẽ, khiến
người như phải chịu búa ŕu. Sau này có viết
thư, xin chớ dùng lời khách sáo ấy nữa!
Được gặp mặt lệnh huynh Chi Phân hôm
mười bốn tháng Bảy, nhân đấy hỏi
thăm chuyện tu tŕ, gia cảnh cư sĩ. Ông ta cho
biết cư sĩ cật lực làm lành, đạo
niệm ngày càng tăng trưởng, nhưng gia đ́nh
bất hạnh, lệnh lang[7]
mất sớm, hai cháu c̣n thơ, khá đáng ưu tư.
Tôi
nghe xong khôn ngăn thở dài, phải biết: Cảnh
nghịch xảy đến hăy thuận theo mới gọi
là “vui theo mạng trời”.
Tu thân trồng đức mới là “tận tánh”.
Đời có kẻ ngu, chẳng biết thiện - ác
đời trước, chỉ nh́n chuyện tốt -
xấu trước mắt, thấy làm lành mắc họa
bèn bảo “chẳng nên làm lành, làm ác được
phước”. C̣n nói: “Ác chẳng đáng kiêng”; chẳng
biết thiện báo, ác báo chẳng phải một sớm
một chiều mà thành, phải do dần dần mà ra. Ví
như ba thước băng há do một ngày lạnh bèn có
thể ngưng đọng, nước trăm sông ngập
tràn há v́ trời nóng một bữa liền tiêu
được ư? Chớ nên oán trời trách
người, do dự, ngă ḷng, hối hận. Hăy nên học
theo Du Tịnh Ư tu thân, học theo Viên Liễu Phàm lập
mạng, sẽ thấy hai cháu thành đạt, sẽ
thấy sanh nhiều con quư[8].
C̣n
như việc trùng tu chùa Hoa Nghiêm, thật không công
đức nào lớn bằng, nhưng ở chốn núi sâu,
quyên mộ khó lắm, chỉ nên tùy duyên, chớ nên miễn
cưỡng. Có chánh điện để thờ Phật,
có liêu pḥng để an thân, có chỗ để hành đạo,
cư ngụ là đủ rồi, cần ǵ phải
dựng nhiều điện vũ, xây nhiều nhà ngang,
chẳng lợi ích ǵ cho ḿnh lẫn người, chỉ
nhằm sướng con mắt tục ư?
Tạ
Hữu tài chí tuy cao, đáng tiếc là chưa gặp
được người thông hiểu, tự nói đáng
tiếc thời đă qua khó học, chuyên theo cử
nghiệp. Nào biết chuyện học thánh, học hiền
chẳng có thời mà cũng chẳng có chuyện lỡ
thời, mà học [theo thánh hiền] cũng chẳng khó,
chẳng dễ. V́ sao nói vậy? Khổng Tử bảy
mươi tuổi c̣n muốn sống thêm vài năm
để học Dịch, ḥng tránh được lỗi
lầm lớn. Há v́ từ nghĩa tinh thông bèn vùng vẫy
bút mực để ḥng được tước vị
cao ư? Năm mươi tuổi dốc chí nơi
học, bảy mươi tuổi vẫn c̣n học. Ông ta
tuổi gần bốn mươi, há phải đâu là đă
quá thời chẳng thể học ư?
Đạo
Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu đễ mà thôi! Cả ngày
khắc kỷ, giữ lễ, thiên hạ quy về nhân.
Thánh nếu mất niệm sẽ thành cuồng, cuồng mà
khắc chế được niệm ắt thành thánh. Trong
ấy, há có khó - dễ ǵ để luận được
ư? Tôi nói: Tạ Hữu mà học th́ không ǵ tốt hơn
lúc này, có cha mẹ để tận hiếu, có anh em
để hết dạ thương yêu, có con cái để
giáo huấn, có thi thư để bắt chước theo,
thật hợp với đạo “ở nhà mà tham dự quyền
chánh trị”[9] của
Phu Tử. Lúc này không học th́ đúng là lỡ thời khó
học vậy. Dẫu cho văn chương quán thế,
quan cao nhất phẩm, rốt cuộc vẫn chỉ là
người tài khéo cùng cực vi diệu, há nào phải
kẻ sĩ hợp thời tận lực học! Do nghe
lời Phật bèn ăn chay trường, đủ
biết túc căn sâu dầy, nhưng vứt bỏ công
sức trước kia, ư muốn xuất gia, đủ thấy
đạo nhăn c̣n mê muội.
Như
Lai thuyết pháp hằng thuận chúng sanh. Gặp cha nói
về Từ, gặp con nói đến Hiếu, ngoài tận
hết nhân luân, trong tiêu tịnh lự, ngơ hầu khôi
phục chân tâm vốn có. Đấy gọi là đệ
tử Phật, nào phải luận trên đầu tóc?
Huống chi quê ông ở sâu trong núi thẳm, người
biết pháp th́ ít, kẻ cao minh v́ không thông ngôn ngữ không
đến nơi ấy. Nương theo tâm lành ấy
dốc tận sức học đạo, tu hiếu
đễ để cảm hóa xóm giềng, lập trai giới
ḥng giết - trộm dần tiêu, nghiên cứu kinh luận
Tịnh Độ ḥng biết yếu đạo xuất
khổ. Thọ tŕ An Sĩ Toàn Thư sẽ biết khuôn
mẫu tốt lành để an cơi đời. Đem pháp môn
Tịnh Độ khuyến dụ cha mẹ, đem pháp môn
Tịnh Độ dạy cho con và những người thân
quen.
Phải
nên v́ sanh tử đại sự mà đau đáu xót
thương thân sau. Bất tất phải chọn riêng
một chỗ, gia đ́nh chính là đạo tràng, lấy toàn
bộ cha mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu, thân thích làm
pháp quyến, tự hành, dạy người, miệng khuyên,
thân làm gương, khiến họ cùng về cơi Tịnh,
cùng thoát ṿng khổ, đáng gọi là bậc cao tăng
để tóc, là Phật tử tại gia vậy! Nên dùng ư
thô tệ này để bảo với ông ta. Nếu nghe
lời này không phỉ báng, vẫn muốn tiến
bước, nhưng đường nẻo chưa dứt
khoát được, mà nếu rảnh rang th́ chẳng
ngại ǵ đích thân đến Phổ Đà gặp
gỡ một phen. Nếu không, chỉ xem Tịnh
Độ Thập Yếu và Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục sẽ tự biết đường lối,
chẳng cần phải nhọc công hỏi ai khác nữa!
Lệnh
huynh trung hậu có thừa, dường như có duyên
với đạo này, hăy khuyên ông ta thọ tŕ An Sĩ Toàn
Thư ngơ hầu chẳng uổng một phen gặp
gỡ. Di Đà Sớ Sao, An Sĩ Toàn Thư mỗi thứ
một bộ gởi kèm theo thư để kết
tịnh duyên.
23. Trả lời thư cư sĩ Lâm
Giới Sanh ở Thái Thuận (thư thứ hai)
Mấy phen chưa gặp gỡ, ḷng luôn
nghĩ nhớ. Mùa Thu năm nay lệnh huynh Chi Phần
đi thi Hương, mang thư lên núi, mới rơ sự tu
tŕ gần đây của cư sĩ, lại nói gia đ́nh
bất hạnh, phải chôn con yêu, sáng tối lo buồn,
chẳng thể yên dạ. Tôi muốn tŕnh bày rơ sự lư
nhân quả, nhưng [lệnh
huynh] kẹt khóa thi Lục Di[10]
buổi sáng, không thể ở lại đêm, cho nên phải
nói đại lược. Nay ngày Rằm thanh nhàn, thầy
Triệt Quyền đến thăm cho biết t́nh
trạng oán hận của cư sĩ, bảo với vô tri
tục nhân rằng: “Làm lành mắc họa, tu hành vô ích” v.v…
đủ mọi tà thuyết. Tôi nghe xong, đau xót, sợ
bậc thượng trí nhân đó biếng nhác tu hành, kẻ
hạ ngu dám làm chuyện ác.
V́
thế chẳng nề bỉ lậu, đem lời nói
thẳng tŕnh bày. Như Lai giảng kinh báo thông ba
đời. Phàm sanh con đại lược có bốn nhân.
Báo thông tam thế là:
1) Thứ nhất là Hiện Báo, nghĩa là hiện
tại làm lành, làm ác, đời này được
phước, mắc họa. Như sĩ tử tập tành
cử nghiệp, đời này được công danh.
Đây là điều mắt phàm thấy được.
2) Thứ hai là Sanh Báo, nghĩa là đời này làm thiện, làm ác, ngay đời sau được phước, chịu tội, như tổ phụ trọng học vấn, cháu con mới phát đạt. Mắt phàm chẳng thấy được điều này, thiên nhăn vẫn có thể thấy được (Đời này, đời sau là ước theo người ấy mà nói, nhưng chuyện cách đời khó thể dùng thí dụ để chỉ rơ nên mới đành tạm thời dựa vào con cháu, tổ phụ cho người khác dễ hiểu, chẳng được chấp vào từ ngữ, khiến ư nghĩa bị trở ngại).
3) Thứ ba là Hậu Báo, nghĩa là đời
này làm lành, làm ác, đến đời thứ ba, hoặc
thứ tư, năm, sáu, bảy, hoặc mười,
trăm, ngàn, vạn đời, hoặc một,
mười, trăm, ngàn, vạn kiếp, hoặc
đến vô lượng vô biên Hằng hà sa kiếp
mới chịu báo thiện hay ác. Như vương
nghiệp nhà Thương, nhà Châu, thật ra bắt
đầu nền móng từ lúc ông Tắc, ông Khiết[11]
phù tá vua Thuấn, vua Vũ. Nếu là chuyện ba
đời, thiên nhăn có thể thấy được.
Nếu như trăm ngàn kiếp, thiên nhăn chẳng thể
thấy được, nhưng đạo nhăn của Thanh
Văn c̣n thấy được. Nếu là vô lượng
vô biên Hằng hà sa kiếp, chỉ có ngũ nhăn viên minh
của Như Lai mới thấy được, c̣n chẳng
phải là cảnh giới của đạo nhăn Thanh
Văn, huống ǵ thiên nhăn, nhục nhăn!
Biết được ư nghĩa ba thứ báo
này th́ làm lành sẽ được điều lành giáng
xuống, làm điều chẳng lành phải vướng
tai ương, thánh ngôn vốn chẳng sai lầm! Giàu - sang,
nghèo - hèn, thọ - yểu, cùng, thông, mạng trời
chưa hề thiên vị. Cảnh duyên xảy tới
như gương hiện bóng. Người trí biết sửa
h́nh dung ngoài gương, kẻ ngu uổng công ghét h́nh ảnh
hiện trong gương. Cảnh nghịch xảy
đến bèn thuận chịu mới là vui theo mạng
trời. Chẳng oán chẳng hờn mới ḥng lập
mạng. Con có bốn nhân: Một là báo ân, hai là báo oán, ba là
trả nợ, bốn là đ̣i nợ.
1) Báo ân là cha mẹ sanh con, đời
trước có ân với nó, nên để báo ân bèn sanh vào làm
con ḥng hầu hạ, phụng dưỡng, sống thờ
chết chôn, khiến cho lúc sống th́ cha mẹ vui vẻ,
lúc mất bèn thờ cúng. Thậm chí tận trung với vua,
yêu dân, danh lưu sử xanh, khiến thiên hạ hậu
thế do kính người ấy bèn kính trọng cả cha
mẹ. Như ông Tăng Lỗ Công, Trần Trung Tú,
Vương Quy Linh, Sử Đại Thành (Ba vị
Tăng, Trần, Vương đều là danh thần
đời Tống, ông Sử là trạng nguyên đầu
đời Thanh. Bốn vị đều tin Phật,
chỉ ḿnh ông Trung Tú ngộ nhập rất sâu, bởi
đời trước từng là cao tăng, nên dẫu có
địa vị cao vẫn không quên nhân gốc). Con hiếu cháu hiền đời này
đều thuộc về loại này.
2) Báo oán là cha mẹ đời trước
phụ ơn. Để báo oán bèn sanh vào làm con. Nhỏ th́
ngỗ nghịch mẹ cha, lớn lên gây họa vạ lây
cha mẹ. Sống chẳng phụng dưỡng ngọt
bùi, chết đi mang nhục nơi chín suối. Lại quá
mức đến nỗi con giữ ngôi vị oai quyền,
mưu mô trái lẽ, diệt môn sát tộc, quật mồ cuốc
mả, khiến thiên hạ hậu thế thóa mạ kẻ
ấy lẫn cha mẹ. Như Vương Măng, Tào Tháo,
Đổng Trác, Tần Cối v.v… là loại này.
3) Trả nợ là con đời trước
đoạt của cha mẹ, nay để đền
nợ bèn sanh vào làm con. Nếu mắc nợ nhiều th́ có
thể sống với cha mẹ suốt đời.
Nếu nợ ít, chẳng tránh khỏi giữa đường
chết mất. Như học sắp thành danh bèn táng
mạng, buôn bán vừa có lời bèn mất thân.
4) Đ̣i nợ là cha mẹ đời
trước mắc nợ tiền tài của con; để
đ̣i nợ ấy nó bèn sanh vào làm con. Nợ nhỏ
uổng phí lễ vật[12],
tiền sính lễ mời thầy, cưới vợ cùng
răn dạy đủ cách, mong con thành tài, nhưng
đại hạn đă tới, chợt chết mất
đi. Nợ nhiều th́ chẳng phải chỉ vậy,
ắt phải táng gia bại sản, nhà tan người
chết mới thôi.
Xét kỹ con ông, e rằng là hạng đến
để đ̣i nợ. May là nợ ít nên vừa qua
tuổi nhược quan (20 tuổi) liền mất. Hăy nên
sám hối túc nghiệp, nỗ lực siêng tu, trời
ắt ban cho ông đứa con tốt lành, rỡ ràng nhà
cửa. Huống chi Khổng Tử là bậc thánh nhân, tuổi
trung niên chôn con, Nhan Uyên là bậc đại hiền,
đang tuổi tráng niên chết yểu. Nguyên Hiến nghèo
rớt, Tử Lộ tuẫn nạn, Di Tề chết
đói nơi Thủ Dương[13],
Bá Ngọc cùng quẫn nơi nước Vệ. Há có
thể nói là thánh nhân do tu đức mà bị trời
khiển trách ư? Hay là sanh tử hữu mạng, phú quư
tại trời ư? Chỉ trách đức ḿnh chẳng
chân thành, chớ hỏi trời báo họa phước! Làm
được như thế, tự nhiên ngũ phước
lâm môn[14], lục
cực[15]
quyết định tránh khỏi nhà ḿnh. Cho lời tôi nói
không đáng tin th́ ḱa như vầng dương sáng chói:
Phải biết người sống trong thế gian có
đủ tám khổ, dẫu sanh lên trời chưa khỏi
ngũ suy[16].
Chỉ riêng Tây Phương Cực Lạc thế giới
không có các sự khổ, chỉ hưởng những
sự vui.
Chẳng
phải là do ông đề xướng, chỉ dạy
Tịnh Độ mà trời bèn dùng đứa con vô
phước, vô thọ làm một nhát kim đâm vào
đảnh đầu ông khiến cho ông biết ba cơi không
yên, khác nào nhà lửa, các khổ dẫy đầy, thật
đáng kinh sợ hay sao? Mạng người vô
thường, nhanh như ánh chớp, đại hạn
xảy tới, ai lo phận nấy. Hết thảy pháp
hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng. Với
điều này c̣n không tỉnh ngộ, dốc sức tu
tịnh nghiệp th́ khác ǵ gỗ đá vô t́nh cùng sanh
trưởng trong ṿng trời đất. Là trang nam tử
có huyết tánh, há chịu sống làm thây đi thịt
chạy, chết mục nát cùng cỏ cây, đề cao thánh
cảnh nhưng tự ḿnh lại chịu phận phàm ngu,
gặp lời cảnh sách lớn lao chẳng phát phẫn,
nghe đạo của thánh hiền, Phật, Tổ lại
chẳng chịu hành, ấy là trời phụ người
hay người phụ trời vậy? Xin hăy rủ ḷng dùng
trí huệ quán sát.
24. Thư gởi cư sĩ Lâm Chi
Phần ở Thái Thuận (thư thứ nhất)
Lư Cương[17]
là một tác gia thông đạt, ông ta đem kinh Dịch
đối chiếu với Hoa Nghiêm để bàn luận,
bảo chúng hoàn toàn phù hợp nhau. Ông ta là bậc thiện
tri thức không cự tuyệt người đến
học, dẫn người vào chỗ thù thắng, mở rộng
tầm hiểu biết. Như Mạnh Tử do thấy vua
Tề bất nhẫn trước cái chết của
một con trâu; suy ḷng trắc ẩn ấy, biết vua có
thể bảo bọc dân, làm vua thiên hạ, chứ không
phải là do yêu thương xuông một con trâu mà ḥng làm vua
thiên hạ. Đấy là dẫn dụ, chứ không
phải là luận khít khao; phàm đọc văn tự
của cổ nhân quư ở chỗ lănh hội
được ư. Nếu không chỉ là nhai bă hèm mà thôi!
Ôi!
Hoa Nghiêm là pháp tự chứng của Như Lai; tất
cả các độ, các địa vị đều là
sự thật, đều có thể biểu thị pháp. Tứ
Quả Thanh Văn tuy dự pháp hội, c̣n như câm
điếc, nhân thiên thuộc địa vị phàm phu há
thấy biết được ư? Dẫu có thiên long bát
bộ [tham dự pháp hội] nhưng đều là
những bậc đă đích thân chứng được
Pháp Thân, nhằm thượng cầu hạ hóa lợi ích
hữu t́nh, nên đặc biệt hiện thân tám bộ
đó thôi, chứ không phải là phàm phu nghiệp báo
thật sự vậy! C̣n kinh Dịch lập ra những
h́nh tượng hư giả để đoán định
cát hung, thuận thiên lư để hướng dẫn t́nh
cảm con người, là thường pháp để
trị thế, không phải là đại đạo
xuất thế, là nghi tắc, tiêu chuẩn luân
thường, chứ không phải là chuẩn mực
của Phật đạo. Nhưng với người
thông đạt Phật pháp, không pháp ǵ, chuyện ǵ
chẳng phải là đạo. Nói dọc, nói ngang, nào có
dấu vết? Nếu chẳng thể hiểu rơ triệt
để tự tâm, cũng bắt chước nói theo
như gă thầy thuốc dốt chưa biết chẩn
mạch đă bắt chước róc xương. Lông vũ
yếu ớt, đậu trên cành c̣n khó đă toan bay cao,
chẳng khiến cho cả ḿnh lẫn người cùng
mất mạng là chuyện hiếm lắm!
Nay
tôi dùng thí dụ để nói rơ: Kinh Dịch gọi cha
mẹ là “nghiêm quân”, cổ nhân cũng gọi ấp
lệnh[18] là Quân,
há có phải cha mẹ, ấp lệnh bằng vai phải
lứa với thánh thiên tử, chẳng có cao - thấp hay
chăng? Lại như gọi một bọt nước là
biển, nêu một hạt bụi là cơi đất; biết
bọt nước và hạt bụi là chút phần của
biển và đất th́ được, chứ nói bọt
nước và biển cùng sâu rộng như biển cả,
cùng rộng dầy như cơi đất th́ chẳng
được. Một tia nắng qua kẽ hở chính là
mặt trời chiếu trời, soi đất; mảnh
trời nh́n qua ống hẹp cũng là cơi trời không
ngằn, không mé; nhưng phải ra khỏi cửa ngắm
mặt trời, bỏ ống hẹp để ngửa
trông bầu trời. Há có nên nói ngoài kẽ hở không có
mặt trời, ngoài ống chẳng có bầu trời hay chăng?
Cổ
nhân gọi Nho là Đạo, đa phần nói như
thế. Nếu bảo nói như thế là thật, ắt có
lẽ thánh thiên tử và ấp lệnh cùng tôn quư như
nhau, biển cả, cơi đất cùng bọt nước,
hạt bụi sâu rộng, rộng dầy như nhau hay sao?
Mặt trời nơi kẽ hở và bầu trời trong
ống cùng mặt trời, bầu trời rộng lớn
không ngằn mé cùng trọn khắp như nhau hay sao? Ấy
là lời luận bàn tệ hại của những kẻ
nhà quê vùng Tề Đông[19],
chẳng phải là pháp ngôn của bậc minh tâm kiến
tánh. Các hạ nên tự tŕ giới niệm Phật, lấy
sự tu tŕ của Nho gia làm thường pháp, lấy
sự tu tŕ của Phật giáo làm gia hạnh. Bàn sâu vào lư
ắt mất mấy năm, muốn học Phật,
Tổ, trước hết phải noi theo thánh hiền. Nếu
chính ḿnh thực hiện c̣n có tỳ vết, trái nghịch
luân thường th́ đáng gọi là tội nhân danh giáo, sao
xứng là đệ tử Phật?
Phật
giáo tuy là pháp xuất thế, nhưng gặp vua nói
đến Nhân, gặp bầy tôi nói Trung, gặp cha nói
Từ, gặp con nói Hiếu, do cạn mà vào sâu, học cái
thấp thỏi nhưng đạt được
điều cao cả. Hăy đọc kỹ An Sĩ Toàn
Thư, ắt biết được đại khái. Phàm
phu sửa lỗi hướng thiện và tu Tịnh
nghiệp chỉ quư nơi chân thành, kỵ nhất hư
giả, chẳng được phô trương cái danh hành
thiện tu hành bề ngoài, bên trong ôm ḷng bất trung, không
khoan dung. Cừ Bá Ngọc lúc năm mươi tuổi
biết bốn mươi chín năm trước là sai. Có
như thế mới mong thành thánh, thành hiền, học
Phật, học Tổ là công thần danh giáo, làm con đích
thật của Như Lai. V́ thế, chẳng phải do
kẻ Tăng, người tục cùng quẫn hay thông
đạt mà luận vậy.
Điều
Bất Huệ mong mỏi nơi các hạ cũng chính là
điều mong mỏi nơi hết thảy những
người thân quen, có vậy mới khỏi bơ công một
phen đến Phổ Đà triều bái Đại Sĩ,
gặp gỡ Bất Huệ, như thế chính là nghe
Phật thừa vậy.
25. Thư gởi cư sĩ Lâm Chi
Phần ở Thái Thuận (thư thứ hai)
Phật
pháp đến nay suy tàn quá đỗi. Chúng sanh mờ
mịt như kẻ mù không ai dẫn đường.
Dẫu có một hai thiện tri thức khai thị,
nhưng do nghiệp sâu chướng nặng, chánh trí
chẳng khai, tuy nghe chánh pháp, chẳng sanh tin tưởng.
Dẫu sanh tin tưởng cũng vẫn là phù phiếm,
như say, như mộng, trọn chẳng có định
kiến. Vừa gặp tà ma, ngoại đạo bèn như
nhặng bu theo mùi thối, như thiêu thân đâm đầu
vào lửa. Kiến bu, chim tụ, xúm xít muôn ngàn. V́ thế
năm đầu niên hiệu Quang Tự (1875), ở Quan
Đông[20] có tà
phái gọi là Hỗn Nguyên[21], mỗi
năm người quy y hơn mười vạn
người, đến năm Quang Tự mười
một, mười hai, do thói tệ đă bộc lộ,
người ta thường ghét thấy. Trong ṿng một
năm, [kẻ theo tà phái ấy vẫn] c̣n được
mấy vạn.
Gần
đây có kẻ xuất gia là con cái ma, toan muốn
được đại danh lợi; ba mươi năm
trước gă đă cắt xén ngữ lục của
cổ nhân ḥng lập ngôn, thay đầu đổi
mặt, bảo là ngữ lục của chính ḿnh. Nhưng gă
ma con ấy một là không thông Tông, hai là chẳng thông Giáo,
ba là không học vấn, sợ người khác nói ḿnh không
học vấn, làm sao có thể nói được như
thế, bèn đặc biệt dùng rất nhiều chữ sai
cho giống thật[22],
khiến người khác bảo hắn đúng là
đại triệt đại ngộ, thuận miệng
nói ra, từ ngữ lẫn lư lẽ cao siêu, mầu
nhiệm! Chuyện không thích đáng nhất là do gă chưa
từng đọc sách, chẳng thông hiểu nghĩa
chữ nên bợ nguyên xi Vạn Pháp Quy Tâm Lục, Lục
Tổ Đàn Kinh, thi kệ của Hàn Sơn chỉ đổi
dăm ba chữ mà thôi. Tất cả câu chữ đều
như thế, bèn lưu truyền gần xa, nhưng
cũng không quyến dụ được nhiều!
Gần
đây, gă lại khoe đắc “diệu pháp” khiến cho
thiện nam, tín nữ bắt chước nhau quy y, lại
bảo muốn đắc diệu pháp nào ắt sẽ
được như thế. Do gă ma con ấy thoạt
đầu vờ xưng ngộ đạo, người ta
chưa quy phục. Gần đây, hắn bèn dối xưng
đắc đạo, nên xa gần tranh nhau theo về,
tự nói: “Pháp của ta nói khiến người dễ
đắc đạo!” V́ thế cả một vùng như
cuồng, cùng nhau sùng phụng. Dối xưng đắc
đạo th́ phải có sự thật người ta
mới chịu tin; v́ thế, hắn phóng túng không e dè,
thuận miệng nói càn, thường bảo cùng
người: “Ta có thể nhập định siêu
độ cho vong hồn được sanh lên trời,
hoặc sanh về Tịnh Độ! Có thể biết
hết thảy người đă mất sanh lên trên
trời hoặc sanh trong nhân gian và ba ác đạo. Lại
biết người này thượng phẩm văng sanh Tây
Phương, người kia trung phẩm văng sanh,
người nọ sanh vào hạ phẩm”. Do vậy,
chẳng những ngu phu, ngu phụ cố nhiên ngả theo
chiều gió, ngay cả những bậc sĩ đại phu
không thông Phật lư cũng tưởng hắn thật
sự đắc đạo, bèn quy y tin thờ.
Chuyện
như vậy nay thấy nhiều lắm. Dẫu có
người trí chê là cuồng vọng, nhưng v́ tà
thuyết đó đă ăn sâu vào ḷng người nên
chẳng ai tin [lời bậc trí giả]. Từ xưa, cao
tăng hoặc Phật tái lai hoặc Bồ Tát thị
hiện đều giữ phận phàm phu, trọn chẳng
nói ta là Phật, ta là Bồ Tát. V́ thế, kinh Lăng Nghiêm
nói: “Sau khi ta diệt
độ, truyền cho các Bồ Tát và A La Hán ứng thân
sanh trong thời Mạt Pháp, hiện đủ mọi h́nh,
độ những kẻ đang luân chuyển, trọn chẳng
được tự nói ḿnh thật là Bồ Tát, thật
là A La Hán, tiết lộ mật nhân của Phật, dễ
dăi nói cùng kẻ chưa học. Chỉ trừ khi mạng
chung, ngầm để lại dặn ḍ”.
Như
Trí Giả đại sư thật sự là hóa thân của
Phật Thích Ca, đến lúc lâm chung, có người
hỏi đến địa vị chứng nhập, bèn
đáp: “Nếu ta không lănh chúng,
ắt tịnh sáu căn. Do tổn ḿnh lợi người
nên chỉ dự vào Ngũ Phẩm”, tức là vẫn c̣n
thuộc địa vị phàm phu. Ngũ Phẩm chính là
địa vị Quán Hạnh trong Viên Giáo, sở ngộ
ngang với Phật, đă khuất phục trọn vẹn
Ngũ Trụ Phiền Năo, nhưng chưa thể
đoạn Kiến Hoặc. Ngài Trí Giả lúc lâm chung c̣n
chẳng hiển Bổn, ư muốn cho hàng hậu học
dốc chí tu hành tinh ṛng, chẳng đến nỗi
được chút ít đă cho là đủ, cũng như chẳng
lấy phàm lạm thánh vậy! Nay lũ ma kia bịp
xằng đắc đạo chính là hoại loạn
Phật pháp, là kẻ đại vọng ngữ lầm
lạc chúng sanh. Cái tội đại vọng ngữ
ấy thậm chí c̣n nặng gấp trăm ngàn lần
tội Ngũ Nghịch, Thập Ác! Thầy đó, tṛ đó
sẽ vĩnh viễn đọa trong địa ngục A
Tỳ trải Phật sát vi trần kiếp số[23] luôn
chịu cực khổ c̣n chưa được xuất
ly. Sao lại khổ v́ danh lợi hư phù một lúc, cam
chịu h́nh phạt thảm khốc bao kiếp? Danh lợi
mê hoặc người đến nỗi như thế
ấy!
Gă
ma con kia bảo pháp hắn đă nói khiến người
dễ đắc đạo tức là hiểu cái tâm sanh
diệt là thường trụ, tưởng “không làm thiện,
không đoạn ác” là bất sanh bất diệt, bác không
nhân quả, sụp hầm tà kiến. Đấy chính
thực tế của chuyện gă ma con chèo kéo đồ chúng,
khiến họ [lầm tưởng] đều đă
đắc đạo. V́ thế, có kẻ thường ngày
tŕ trai niệm Phật, vừa thân cận bọn chúng
liền không tŕ trai, không niệm Phật nữa! Kỳ
dư, hết thảy những chuyện cải ác
hướng thiện, biết nhân hiểu quả, vun
đức trồng phước v.v… thảy đều
bỏ hết.
Chúng
chỉ dạy người ta khán một câu thoại
đầu, nhưng thật ra chẳng biết khán như
thế nào, thế nào là thoại đầu? Bèn đem
những lời đối ứng căn cơ của
cổ nhân bảo người khác y văn giải nghĩa,
suy lường, ḍ đoán. Như những câu “con chó không
có Phật tánh, cây bách trước sân, que cứt khô, ba cân
gai, cái áo vải nặng bảy cân” v.v… thảy
đều bóc trần từng chữ để giảng
nghĩa, cho là tu tham Thiền, là thấu triệt công án.
Vừa mới ngồi yên được một chút và có
thể giải nghĩa dựa theo văn tự, bèn ấn
chứng: “Người này túc căn sâu dầy, người
kia hiện đang tu hành tinh thuần, nên dụng công
chưa lâu đă thấu triệt”. Chuyện tham Thiền nói
dễ dàng sao? Cổ nhân như ngài Triệu Châu Thẩm
thiền sư, xuất gia từ nhỏ, đến lúc
ngoài tám mươi vẫn c̣n hành cước[24].
V́ thế có bài tụng rằng:
Triệu Châu bát
thập do hành cước,
Chỉ
vị tâm đầu vị tiêu nhiên.
(Triệu Châu tám chục c̣n hành cước,
Do bởi trong tâm chửa rỗng rang)
Ngài
Trường Khánh ngồi rách bảy cái bồ đoàn
rồi mới khai ngộ; ngài Dũng Tuyền đến
năm bốn mươi vẫn c̣n nhọc nhằn,
Tuyết Phong ba lần lên gặp ngài Đầu Tử, chín
lượt lên Động Sơn. Những vị
đại tổ sư đại triệt đại
ngộ c̣n khó khăn như thế. Bọn ma con kia vừa
mới nghe ma thuyết đều khai ngộ ngay, những
vị tổ sư vừa nói ấy có xách giày cho chúng
cũng chẳng đáng hay sao?
Phải
biết tổ sư ngộ là từ mê đến ngộ,
hễ ngộ rồi sẽ ngộ vĩnh viễn, c̣n cái
“ngộ” của bọn ma là do mê bèn lầm, hễ lầm
rồi bèn vĩnh viễn lầm. Tuy đồng âm với
Ngộ[25],
nhưng sự thật trái nghịch với Ngộ. Do
bọn ma kia từ lúc mới phát tâm, một là không giới
hạnh, hai là không có chánh trí, ba là chẳng biết thoại
đầu là phương tiện để đánh
động, tham thấu tự tâm, cứ tưởng dựa
theo văn nghĩa suy đoán chính là tham [thoại
đầu]. “Tham Thiền” kiểu đó th́ người
thông minh trong thế gian sẽ đều là bậc
đại triệt đại ngộ hết.
Như
kẻ chẳng biết ma-ni bảo châu thấy mắt cá,
quư trọng cất đi, khoe khoang cùng người: “Tôi
đă có được châu ấy”. Mọi người
cũng chẳng biết thế nào là châu, thế nào là
mắt cá, bèn xúm xít t́m cầu, ai nấy đều
được châu ấy. Từ đó, phát đại
thệ nguyện khiến cho khắp đồng bào nghèo
khổ đều được châu ấy. Một mai
gặp được khách thương người Hồ[26],
muốn đổi châu lấy nhiều vàng. Khách
thương người Hồ ném đi, mắng rằng:
“Sao lại đem mắt cá làm bẩn mắt ta?” mới
biết ḿnh đă phí sạch tâm cơ, chỉ đành
hổ thẹn muốn chết mà thôi!
Nhưng
thói thường con người buông lung th́ dễ, câu thúc
th́ khó. Dạy tŕ trai niệm Phật bèn cảm thấy miệng
ăn mất ngon, thân tâm thường khổ sở,
nhọc nhằn. Gă ma kia bảo chỉ cần giữ cái
tâm tốt, cần ǵ phải ăn chay? Ngươi vốn
là Phật, cần ǵ phải niệm Phật? Do vậy,
thật là hợp với cái tánh lười nhác, biếng
trễ của ḿnh, chẳng muốn bó buộc, mặc t́nh
phóng túng như tù được lệnh tha, vui mừng khôn
xiết! Nếu hỏi đến duyên do, bèn nói:
- Đạt
Ma từ trời Tây sang đây, không lập văn tự,
chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật.
Ngươi chỉ khán một câu thoại đầu
ắt thấy được tánh. Thấy được
tánh rồi liền gọi là thành Phật. Đă thành
Phật rồi, hết thảy đều không: không nhân,
không quả, không tu, không chứng, một pháp chẳng
lập, gọi là chân giải thoát. Ai dạy người
tŕ trai niệm Phật, cải ác tu thiện, sợ nhân
quả, vun bồi phước đức, đều là
chẳng biết trong Tự Tánh không pháp nào chẳng đủ,
cũng như không thể lập được một pháp
nào. Ngươi chấp trước pháp tướng,
chẳng chịu ĺa bỏ. Bỏ gốc đuổi theo
ngọn, không dây mà tự buộc. Người như
thế gọi là Tiểu Thừa. Sao có thể coi là
thiện tri thức để thân cận được
ư? Phải biết những pháp Như Lai nói về nhân
quả, tu chứng v.v… đều là lấy lá vàng giả
làm vàng để dỗ trẻ nín khóc; bọn họ
lại chấp là thật, vậy là trí bọn họ có khác
ǵ trẻ nít đâu! Nếu là đại trượng phu,
Phật c̣n chẳng thể được, há c̣n có
những pháp nhân quả, tu chứng v.v… Nếu lập một
mảy trần, sẽ chẳng phải là Phật pháp. Ông
chỉ tự biết ḿnh đă là Phật th́ dù cho ăn
thịt, uống rượu, trộm cắp, hành dâm, không
pháp nào chẳng phải là Phật pháp! Trên thiên
đường, dưới địa ngục, áo
trời, thức ăn trời, vạc dầu, ḷ than, có
cảnh nào chẳng phải là Phật cảnh? Tự ta
chính là Di Đà, ngay nơi đây chính là Cực Lạc; há
nên khuấy động cái tâm vọng tưởng
nghiệp thức, quang quác cái miệng do cha mẹ sanh ra để
cả đời niệm Phật suốt ngày, chịu
nhiều oan uổng ư? Cầu đến lúc lâm chung văng
sanh Tây Phương, bỏ ḿnh cầu nơi người,
bỏ nhà lang thang, há chẳng phải là tri kiến điên
đảo, tu tập lầm loạn hay sao?
Các
thứ ma thuyết đại để là như thế. Nay
thử luận xem:
- Nếu
“chỉ cần tâm tốt cần ǵ phải tŕ trai” th́
giết thân mạng chúng sanh để sướng cái
miệng là hảo tâm hay không hảo tâm? Vả nữa, khi
binh kiếp, giặc đến giết người
cũng nên coi đó là hảo tâm. Ví như lúc ngươi
bị nó giết bèn sẽ cảm ơn hay oán hận
vậy? Ngươi vốn là Phật, chẳng chịu
niệm đức Phật nào khác, sao lại chịu
giết chúng sanh để ăn? Những chúng sanh ấy
chẳng phải đều là cha mẹ quá khứ, chư
Phật vị lai hay sao? Như vậy, tâm tánh của
ngươi vốn đă là Phật, nhưng hành vi của
ngươi vốn là chúng sanh, sao chưa đắc bảo
là đắc, đem phàm xen lộn thánh, coi niệm
đức Phật khác là nhục, coi sát sanh là vinh hiển
như vậy?
Đạt
Ma từ trời Tây qua, không lập văn tự là v́
muốn cho con người chứng ngộ triệt
để bản thể, chẳng chú trọng đọc
tụng ngôn ngữ xuông. Nếu khế nhập bổn thể
th́ văn tự chính là bản thể, chính là tướng
giải thoát. Suốt ngày đọc tụng, y giáo tu hành,
rốt ráo chẳng có được tướng văn
tự. Như các bậc đại lăo Vĩnh Minh Diên
Thọ, Thủ Sơn Niệm, Thê Hiền Thực, Dục
Vương Vi v.v… đều suốt đời đọc
tụng, há các Ngài đều không biết ư chỉ “chẳng lập văn tự”
hay sao? Chỉ do ngươi hiểu lầm ư nghĩa
“bất lập” là phế bỏ, bèn nói hết thảy kinh
điển Tiểu, Đại Thừa, vô lượng pháp
môn do Như Lai đă nói đều là dùng lá vàng giả làm
vàng để phỉnh phờ trẻ nhỏ. Nếu
như vậy, Ca Diếp, A Nan, Mă Minh, Long Thọ, Vĩnh
Minh, Thủ Sơn v.v… đều là những gă chơi
với lá vàng. Ngươi đă cho là họ đều sai
sao c̣n truyền thừa pháp của họ, bảo ḿnh là
Thiền Tông. Nếu họ đúng th́ “Thiền Tông” của
nhà ngươi chẳng phải là Thiền Tông của
họ! Ngươi chỉ mạo danh họ, là ác tặc
phá hoại pháp của họ mà thôi!
Hơn
nữa, ngươi chấp trước vứt bỏ
văn tự mới là “không lập văn tự” th́
Lục Tổ nói: “Chỉ một
câu ‘chẳng lập’ ấy đă là văn tự, huống
ǵ c̣n có tám chữ chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật!” Mười sáu chữ ấy của
tổ Đạt Ma từ trời Tây qua là văn tự hay
không phải là văn tự? Lại nữa, hết
thảy đều không, không nhân, không quả, không tu, không
chứng, một pháp chẳng lập gọi là chân giải
thoát, thế sao lại lập phá trai, báng Phật? Sao
chẳng chịu để cho các pháp nương vào ác,
phế thiện, mê muội nhân quả, chiết
phước tổn đức v.v… đều không?
Thượng trí biết Không càng tăng tấn đức,
hạ ngu biết Không bèn bỏ thiện. Ngàn trăm năm
trước, Phật, Tổ sớm đă v́ ngươi
phán định, ngăn ngừa.
Ngươi
gièm báng người khác chấp vào thiện pháp là “bỏ
gốc theo ngọn, là không dây tự trói, là Tiểu Thừa”,
c̣n ngươi chấp vào ác pháp, chẳng chịu vứt
bỏ, đời này sẽ chịu phép nước,
chết đi đọa măi trong A Tỳ, ấy có phải
là bỏ ngọn theo gốc, ấy có phải là trói mà không
trói, ấy có phải là Đại Thừa hay chăng?
Ngươi nói: “Đại trượng phu Phật c̣n
chẳng thể được, huống hồ có nhân
quả tu chứng. Nếu lập một mảy trần
th́ không phải là Phật pháp; cho nên Phật, nhân quả, tu
chứng đều là mảy trần, đều chẳng
được lập”, nhưng ăn thịt, uống
rượu, trộm cắp, hành dâm, há chẳng phải là mảy
trần đều lập được hay sao?
Lại
hỏi: Cái tâm ăn thịt, uống rượu, trộm
cắp, hành dâm là tâm Phật hay tâm chúng sanh? Nếu bảo
là tâm Phật, há Phật giữ cái tâm ấy ư? Làm
những chuyện ấy ư? Nếu bảo là tâm chúng sanh
th́ há có c̣n là vượt ngoài nhân quả, có c̣n chẳng
phải là trần, có c̣n là Phật pháp nữa hay chăng?
Địa ngục vẫn là cảnh Phật, ngay nơi
đây chính là Tây Phương th́ khổ cũng chẳng
chán, vui cũng chẳng cầu, không lấy, không bỏ, quên
ghét, quên yêu, sao lại tham cầu danh lợi đời này,
hư vọng mong chết đi để lại tiếng
tốt? Xén trộm lời cổ nhân, thay đầu đổi
mặt, cho là ngữ lục của chính ḿnh, chưa
đắc bảo là đắc, chưa chứng bảo
đă chứng, đem phàm xen lộn thánh, dối xưng tri
thức, dạy nhiều nam nữ thiện tâm đọa
hầm tà kiến, chôn mất huệ mạng, từ đây
đọa măi trong ác đạo, muốn thoát ra không có cách
nào! Xét đến bổn nhân của gă ma con ấy chẳng
qua là muốn được danh lợi hư phù, mong
người khác gọi ḿnh là bậc đại thiện
tri thức mà thôi. Biết rơ hậu báo th́ t́nh trạng
đau đớn thê thảm dẫu hết sạch trúc[27]
khó chép hết được nổi, chẳng đáng
buồn sao?
Ông đă
phát tâm niệm Phật, nên dựa theo những ǵ đă nói
trong kinh luận Tịnh Độ mà tu. Những lời gă
ma con nói chỉ là ăn cắp từ lời lẽ của
các tổ sư Tông Môn, do bản thân gă hiểu lầm ư nhà
Thiền, nên gă nói ǵ cũng đều dường như là
đúng nhưng thật ra là sai, thật sự trái
nghịch đạo lư nhà Thiền, thật sự là kẻ
oán của Phật pháp. Nếu bị hắn dụ, theo bè
đảng hắn sẽ khó tránh khỏi v́ hảo tâm mà chuốc
lấy quả ác, trọn chẳng thể thân cận gă ma
con ấy! Nên khăng khăng giữ lấy quy củ
của liệt tổ Tịnh tông đă thành lập, tŕ trai
niệm Phật, cải ác hướng thiện, biết
nhân hiểu quả, vun phước trồng đức,
để mong đời này tiêu trừ nghiệp
chướng, lâm chung chánh niệm văng sanh mới ḥng
khỏi uổng một đời này, đích thân làm
đệ tử Như Lai! Phải biết một pháp
Thiền Tông gọi là “giáo
ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo), phàm
những ǵ đề xướng đều là “ư tại ngôn ngoại”, ngàn
lời vạn lẽ đều nhằm chỉ về Pháp
Thân Lư Thể chẳng dính dáng ǵ đến nhân quả, tu
chứng, phàm, thánh, chúng sanh, Phật, để con
người trước hết ngộ được
Thể này, rồi mới bắt đầu tu nhân,
chứng quả, siêu phàm nhập thánh, tức là chúng sanh
thành Phật đạo về mặt Sự.
Thế
nhưng những lời ứng với căn cơ gọi
là “cơ phong”, hoặc gọi là “chuyển ngữ” ấy
đều là muốn cho người ta tham thấu tự
hiểu, nên không có nghĩa lư ǵ. Nếu hiểu
được th́ là may mắn lớn. Nếu không hiểu
th́ lấy câu nói ấy làm bổn mạng nguyên thần, quên
ăn bỏ ngủ, suốt ngày thâu đêm như một
người chống lại vạn người, chẳng dám
có chút gián đoạn, phóng túng. Một năm chẳng
ngộ bèn tham hai năm, mười năm chẳng ngộ
bèn tham hai mươi năm. Một đời chẳng
ngộ bèn đời đời tham. Nếu quả
thật dốc trọn thâm tâm này mà tham cứu câu ấy,
quyết chẳng có lẽ nào không ngộ! Ngộ rồi,
bèn gọi là “ngộ đạo”, vẫn phải trải
qua các cảnh duyên để rèn giũa tập khí, ngơ
hầu phiền hoặc hết sạch mới gọi là
chứng đạo. Gă ma con kia tưởng lầm là
ngộ, ngộ của hắn xét về toàn thể là
ngộ nhận, nói chi đến chứng, nhưng
chẳng biết hổ thẹn, chẳng sợ nhân
quả, đến nỗi vô lượng nam nữ hảo
tâm bị gă dụ dỗ cùng đoạn thiện căn.
Ông dốc ḷng tin vào lời này sẽ chẳng bị gă
đó hăm hại. Hăy nhớ lấy, nhớ lấy!
26. Trả lời thư anh em cư
sĩ X… ở Vĩnh Gia
Giữa Xuân vừa hết, đă sang tiết
Hè, quang âm vùn vụt, thật đáng kinh người.
Thường nhớ hai vị tín tâm chân thành, khẩn
thiết, pháp nhăn chưa tỏ, nên đến nỗi
bỏ chỗ cao minh chọn lấy chỗ tối tăm,
hèn tệ. Khác nào bỏ vị Phật sống trong nhà
đi thờ pho tượng đất ngoài đồng; chẳng
những tự đánh mất chánh kiến c̣n để
tiếng chê cười cho thiên hạ. Tuy Quang tôi tiến thoái
lưỡng nan, thẹn thùng sâu xa, vẫn gởi thư
để sau này quư vị có dịp sẽ tùy thời xem
đến. Quang tôi mắt mờ, sức yếu, nếu không
có chuyện ǵ bèn chẳng gần gũi bút mực; ví
như có chuyện phải đụng đến th́ khác ǵ gom chữ, chồng giấy,
nào có khả quan ǵ? Nhưng sợ cô phụ ḷng mong mỏi,
nay bèn đem những cơm thừa, canh cặn
trước đây tạm gom thành một hai món. Nếu
chẳng hiềm chua hôi cũng có thể coi như là thứ
khác thường để nếm vị diệu tuyệt
của tự tánh.
Bài
Tịnh Độ Quyết Nghi Luận là do vào năm Dân
Quốc thứ ba, cư sĩ Địch Sở Thanh v́ ông Đoan
Phủ trở về quê, số báo thứ mười ba
không đủ bài nên mới bảo tôi viết một hai
bài cho xôm tụ. Sau này, không người chủ tŕ bèn
ngừng không xuất bản. Bài luận văn ấy tuy
dở vụng, nhưng giúp đoạn nghi sanh tín không ít.
Phần giải thích về bài Tứ Liệu Giản
của tổ Vĩnh Minh nên xem kỹ càng. Nếu không tin
tưởng như thế bèn thành hư văn. Đấy
là những điều Bất Huệ tôi đau ḷng nhức
óc phát huy trong mấy mươi năm, muôn vàn chớ v́
người đời nay nói này nói nọ mà cô phụ tâm
đại từ bi của tổ Vĩnh Minh. Bài luận “Lợi ích của việc tŕ kinh
phải do tâm mà luận” là v́ người đời nay
thọ tŕ kinh điển trọn chẳng sanh khởi ḷng
kiêng dè mà viết. Muốn được lợi ích
thật sự nơi Phật pháp, phải cầu nơi
kính sợ. Có thể dốc kiệt ḷng thành, dốc
cạn ḷng kính th́ dẫu là quả đức rốt ráo c̣n
có thể chứng được, huống chi những
thứ kém hơn ư?
Các
bài khác đều là tùy sự mà viết, đấy chính là lấy
đá nơi núi khác chế biến thành ngọc, chỉ xét
đến phần lợi ích – đừng so sánh về h́nh
tích – th́ sẽ được lợi ích nhỏ nhoi,
nếu đem sánh với trước tác của cổ
đức ắt phải đem đốt ngay không
chần chừ, huống hồ c̣n có thể để
lọt vào mắt được ư?
Sách
Giản Ma Biện Dị Lục văn lư cao sâu, Thiền
Giáo dung quán, soạn từ mùa Hạ năm Ung Chánh thứ
mười một (1733) đến năm mười ba
(1735) mới xong, chưa kịp khắc in, xe rồng đă
lên làm khách cơi trời. Đến sau này lúc in, do nguyên
bản dùng nhiều chữ Thảo để thay thế[28],
kẻ chép lại không xem xét kỹ bèn thay nhiều [chữ
Thảo] bằng chữ đủ nét [nhưng không xét
đến văn cảnh] khiến tác phẩm bị sai
ngoa nhiều không kể xiết. Giả sử Thanh Thế
Tông (Ung Chánh) c̣n sống, chắc chắn chẳng
đến nỗi như thế. Mùa Xuân năm nay, tôi
giảo chánh tường tận hai lượt, mong hoàn
lại bản lai diện mục [của sách], đợi
sau này đầy đủ nhân duyên, ngơ hầu chẳng
phụ Thế Tông một phen dốc cạn tâm ư.
Thiện Đạo ḥa thượng là Di Đà
hóa thân, có đại thần thông, có đại trí huệ,
xiển dương Tịnh Độ rộng răi, không
chuộng huyền diệu, chỉ trọng chỗ chân
thật, thiết thực, b́nh phàm, thực tiễn dạy
người tu tŕ. Lời dạy của Ngài về hai cách
Chuyên Tu và Tạp Tu lợi ích vô cùng.
1)
Chuyên Tu nghĩa là thân nghiệp chuyên lễ (phàm
những khi đi nhiễu và hết thảy những khi
thân chẳng buông lung th́ chính là thân nghiệp chuyên lễ), khẩu nghiệp chuyên xưng (phàm
tụng kinh chú, có thể chí tâm hồi hướng th́
cũng có thể gọi là chuyên xưng), ư nghiệp chuyên niệm. Như thế th́ văng sanh Tây
Phương vạn người chẳng sót một.
2)
Tạp Tu là kiêm tu các pháp môn, hồi hướng văng sanh. Do tâm
chẳng thuần nhất khó được lợi ích,
trong trăm người khó được một, hai; trong
ngàn kẻ hiếm được ba bốn người
văng sanh.
Đấy
là lời thành thật từ kim khẩu, là lời phán
định đanh thép ngàn đời chẳng đổi
được. Hai vị nên dùng lời này để
tự lợi, lại nên dùng lời này để lợi
khắp hết thảy. C̣n như pháp tŕ chú chỉ có
thể dùng làm Trợ Hạnh, chẳng được coi
pháp Niệm Phật là hạnh tu kèm, coi Tŕ Chú là Chánh
Hạnh. Tuy pháp môn Tŕ Chú cũng chẳng thể nghĩ bàn,
nhưng phàm phu văng sanh hoàn toàn do tín nguyện chân thành,
khẩn thiết, cảm ứng đạo giao với
hoằng thệ đại nguyện của Phật A Di
Đà, nên được tiếp dẫn. Nếu chẳng
biết ư này, th́ pháp nào, hạnh nào cũng đều
chẳng thể nghĩ bàn, tùy ư tu pháp nào cũng đều
thấy là pháp nào cũng được, bèn thành “không Thiền, không Tịnh
Độ; giường sắt và cột đồng,
vạn kiếp lẫn ngàn đời, không một ai
nương tựa!”.
Nếu
tự biết ḿnh là phàm phu đầy dẫy phiền năo,
nghiệp lực đầy thân, không dựa vào hoằng
thệ nguyện lực của Như Lai, quyết khó
thể trong đời này thoát khỏi luân hồi, mới
biết lực dụng của giáo pháp cả một
đời [đức Phật] đều chẳng thể
sánh với một pháp Tịnh Độ. Tŕ chú, tụng kinh
để trồng phước huệ, tiêu tội
nghiệp th́ được! Nếu sanh tâm lầm lạc,
muốn cầu thần thông th́ có thể nói là bỏ
gốc theo ngọn, chẳng khéo dụng tâm. Nếu tâm
ấy cố kết, lại c̣n chẳng thông mặt Lư,
giới lực không vững, tâm Bồ Đề chẳng
sanh, tâm ta - người càng thạnh, ắt sẽ có ngày
bị ma dựa phát cuồng. Phàm muốn đắc
thần thông, trước hết phải đắc
đạo; hễ đắc đạo sẽ tự có
thần thông. Nếu chẳng dốc sức nơi
đạo, chỉ cầu thần thông, đừng nói chi thần
thông chẳng đắc, dẫu có đắc cũng
trở thành chướng đạo. V́ thế, chư
Phật, chư Tổ đều nghiêm cấm chẳng cho
người tu học vậy. Do trong đời
thường có hạng người kiến giải như
vậy nên phải thuật tỉ mỉ nhiều
lượt.
Lệnh
thân[29]
của hai vị c̣n tại thế, hăy nên đem pháp môn
Tịnh Độ, sự tích, cảm ứng thường
giảng giải cho, ngơ hầu họ sanh tâm hoan hỷ, tin
nhận, phụng hành. Nếu chẳng coi đó là hiếu,
dẫu có thực hiện trọn những điều
thế gian gọi là Hiếu rốt cuộc có lợi ích ǵ
cho cha mẹ đâu? Đại Vũ là bậc đại
thánh nhân chẳng cứu nổi hồn ông Cổn hóa thành
con hoàng năi[30] chui
vào vực Vũ Uyên. Thấy điều đó chẳng
đáng kinh sợ ư? Nếu đă tỉnh ngộ, hăy
cầu sao dẫn dắt được thần thức
của cha mẹ cao dự hải hội, thân cận Di
Đà, ḥng chứng được vô lượng quang
thọ sẵn có nơi tự tâm.
Cư
sĩ Chí Liên tuy siêng khổ hạnh, chỉ e tông chỉ
Tịnh Độ c̣n chưa biết, rất có thể ḷng
bà ta sẽ cầu chuyển được thân nữ,
hoặc cầu sanh vào chốn an vui trong cơi trời
người, chẳng thể triệt để buông
xuống, đến nỗi đánh mất vô biên lợi ích
nơi những chuyện vui nhỏ nhặt của thế
gian. Cũng nên thường giảng nói cho bà ta biết khiến
chí hướng được quyết định. Phàm
khuyên một người sanh Tịnh Độ chính là thành
tựu cho một chúng sanh làm Phật. Phàm thành Phật
ắt độ vô lượng chúng sanh, công ấy do ta
khởi đầu, công đức lợi ích há thể
nghĩ bàn được ư?
Lại
nữa, tự ḿnh đă tu Tịnh Độ, phải nên
đem pháp môn này khuyên khắp hết thảy, huống
hồ với thê thiếp, con cái há chẳng nên khuyên phát tâm khiến
họ bị mất lợi ích lớn lao hay sao? Nếu
họ do thiên tánh thân cận pháp này th́ c̣n ǵ thiện
bằng; nếu họ hơi trái nghịch cũng sẽ
dần dần tiêm nhiễm, ắt sẽ từ xa thành
gần. Đấy mới là yêu thương sâu xa, mới
là ḷng từ rộng lớn. Bỏ đi điều này mà
bảo là từ ái th́ chỉ là hữu danh vô thực mà thôi!
Nói
xuông chẳng đủ để thuyết phục,
tạm chép một hai điều để hai vị
thấy đại lược, muốn xem tường
tận hăy đọc Tịnh Độ Thập Yếu,
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Lạc Bang Văn
Loại[31] v.v…
ắt sẽ có căn cứ để bắt chước
theo, không c̣n hoài nghi được nữa. Một bộ
Pháp Uyển Châu Lâm[32]
thuật rơ nhân quả, lư sự đều cao, có thể
đối trị cố tật mù quáng bài bác nhân quả,
phóng túng, không e dè gần đây. Phàm ai có tín tâm đọc sách
nên thường khuyên họ đọc sách ấy, chẳng
những hữu ích cho thân tâm tánh mạng, lại c̣n thật
sự có ích cho chuyện cách vật trí tri[33],
văn chương, học vấn. An Sĩ Toàn Thư
cũng có tác dụng tương tự, kẻ văn nhân
đều chẳng thể không biết. Nỗi khổ Sa
Bà nói chẳng thể hết, dẫu nhằm thời thanh
b́nh vẫn thường ngày khổ năo, do chúng sanh tiếp
xúc lâu ngày thành quen nên chẳng tự biết.
Gần
đây, Trung Quốc trải mấy lượt binh
biến, đúng là khổ chẳng thể nói. Nhưng các
nước bên Âu Tây đại chiến ba năm,
người chết gần ngàn vạn, mở đầu
cuộc binh kiếp lần thứ nhất, nhưng t́nh h́nh
chiến tranh vẫn c̣n dữ dội, chẳng biết
rốt cuộc thế nào? Lặng im suy nghĩ, quả
thật đáng sợ hăi, bên kia họ đang tận lực
t́m cách tàn diệt nước khác. Ác báo do ác nghiệp
của chúng sanh trong quá khứ chiêu cảm cũng chưa
lúc nào đến nỗi cực độ như thế.
Nay nghe lời này, hăy nên phát phẫn đại tâm, mau
cầu văng sanh. Sau đấy, trở vào Sa Bà, phổ
độ hết thảy. Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”.
Bồ Tát sợ chuốc lấy quả ác nên đoạn
nhân ác. Nhân ác đă đoạn th́ quả ác không sanh từ
đâu được. Chúng sanh đua nhau gây nhân ác,
đến nỗi thọ quả ác. Khi hứng chịu
quả ác, chẳng biết tự sám hối nghiệp cũ,
lại gây tạo pháp ác nghiệp để đối
trị nên oan oan tương báo bao kiếp chẳng ngơi.
Chẳng đáng buồn ư? Chẳng đáng sợ sao?
Biết rồi mà chẳng cầu sanh Tịnh Độ th́
chẳng phải là người nữa!
27. Trả lời cư sĩ X… ở
Vĩnh Gia (thư thứ nhất)
Nh́n chung, ông chọn lựa học vấn trong
hai mươi năm, trải đủ nạn hiểm
rồi mới có thể từ Nho học Phật, từ
Tục tu Chân, bỏ tự lực, chuyên đề cao
Tịnh Độ. Có thể nói là “tam sanh hữu
hạnh”, đồng về một đạo vậy.
May mắn lắm! An ủi lắm! Phàm con người trong
đời trước quả thật đă trồng
thiện căn th́ đừng nói là v́ học cầu đạo
nên có thể tạo thành cơ sở tốt đẹp cho
đại sự xuất thế, mà ngay cả phiền năo
Hoặc nghiệp tham - sân - si, tật bệnh dây dưa,
đủ mọi ác báo vẫn đều có thể tạo
thành nhân duyên xuất sanh tử nhập Phật pháp, tùy thuộc
người ấy có thể tự tỉnh ngộ hay không!
Không
thể tự phản tỉnh th́ đừng nói chi kẻ
tầm thường bị cái học thế gian câu thúc,
ngay cả Hối Am, Dương Minh, Tĩnh Tiết, Phóng
Ông v.v… tuy học vấn, tu dưỡng, kiến giải
thảy đều kỳ đặc, trác tuyệt, nhưng
rốt cuộc cũng chẳng thể triệt ngộ
tự tâm, liễu thoát sanh tử. Học vấn, tu
dưỡng, kiến giải của họ có thể dùng
làm cơ sở cho vô thượng diệu đạo,
nhưng họ không biết tự phản tỉnh, rốt
cuộc thành chướng ngại cho việc nhập
đạo. Đủ biết nhập đạo khó
khăn, đúng là khó hơn lên trời vậy!
Những
câu như “chớ chấp trước” về Lư th́ đúng,
nhưng về Sự lại chẳng phải là chuyện
hàng phàm phu sát đất có thể làm được!
Suốt ngày mặc áo, ăn cơm, bèn nói khơi khơi
chẳng chấp đói lạnh, bảo với kẻ bụng
rỗng, suốt ngày chẳng được chén
nước hạt cơm, sắp chết đói rằng:
“Ta xem gan rồng, tủy phượng giống như
vật nhơ, nghĩ đến muốn ói, huống ǵ
nuốt xuống được!” Cùng là một loại nói
xuông như vậy thôi. Hiện thời người không rơ
giáo lư, ngay những kẻ tham Thiền thường đa
phần mắc bệnh giải thoát xuông này. C̣n như khi
tịnh tọa lắng ḷng, không cảnh hiện tiền,
bất quá là do ngưng lặng khuất phục vọng
tưởng nên ngẫu nhiên huyễn cảnh phát hiện.
Nếu tưởng lầm đó là dấu hiệu
[chứng tỏ ḿnh chứng ngộ] rồi sanh hoan hỷ
lớn ắt sẽ mất trí thành cuồng, Phật
cũng khó ḷng trị được! Nếu may mắn quan
sát kỹ, không chấp trước, vứt bỏ huyễn
vọng, chợt quán thông các pháp môn, có thể nói là: “Đi trong gai góc đă lâu,
chợt đến chỗ quang đăng”.
Con
người đời Mạt căn tánh hèn kém, tri thức
hiếm hoi, nếu chẳng cậy vào Phật từ
lực, chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ cậy vào tự
lực, tham khấu Thiền Tông th́ những người đạt
được minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc
chứng chân, hiếm có một ai; kẻ tưởng
huyễn là chân, coi mê là ngộ, ma dựa phát cuồng,
thật nhiều vô kể! Do vậy, các vị Vĩnh Minh,
Liên Tŕ v.v… quán xét căn cơ đương thời,
cực lực chủ trương pháp môn Tịnh
Độ. Nếu như sánh ví th́ đấy chính là lư
luận xác đáng ngàn phần đúng, vạn phần
đúng trong hiện tại. Hưng điều lợi,
trừ thói tệ, ắt phải xét đến kết
quả rốt ráo trong tương lai th́ mới hợp
thời. Nếu không lại noi theo vết xe đổ: Chặt
bỏ đầu, chân ḥng để trị bệnh nơi
đầu và chân, há chẳng khiến người khác
đau buồn ứa lệ, thở than dài ư?
C̣n
đối với câu hỏi lời đáp về chuyện
tín tâm chân thành, khẩn thiết, hạnh nguyện chuyên
nhất, xét về Lư tuy đích xác, nhưng chưa thể
khai phát tín tâm cho người, tŕnh bày chủ kiến
của chính ḿnh, nay tôi xin đáp thay rằng:
- Tôi
đă nghiên cứu khắp giáo lư, xem khắp các thánh, nên mới được như
thế, há nào phải là nghiên cứu, thân cận tầm
thường ư? V́ sao nói thế? Pháp môn Tịnh
Độ do Thích Ca và Di Đà kiến lập, do Văn Thù,
Phổ Hiền chỉ bày, hướng dẫn về, do Mă
Minh, Long Thọ hoằng dương, do các vị Khuông Lô[34],
Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Tŕ, Ngẫu Ích
phát huy, đề xướng, hướng dẫn ḥng
khuyên khắp dù thánh hay phàm, dù ngu hay trí. Các vị Bồ Tát
đại sĩ ấy từ ngàn trăm năm
trước, sớm đă v́ tôi nghiên cứu khắp
Tạng Giáo, đặc biệt chọn ra diệu pháp “chẳng
đoạn Hoặc nghiệp mà được dự vào
Bổ Xứ, ngay trong một đời này quyết
định xổ lồng” chí viên, chí đốn,
hết sức giản dị, thống nhiếp Thiền,
Giáo, Luật, vượt trỗi Thiền, Giáo, Luật,
vừa cạn, vừa sâu, vừa Quyền, vừa Thật,
đặc biệt, siêu việt thiên nhiên này. Tôi tin
tưởng Phật, Tổ, lấy cổ đức làm
thầy, há chẳng bằng thân cận thiện tri thức
đời nay hay sao? Kinh Hoa Nghiêm vua trong Tam Tạng,
cuối cùng quy trọng nguyện vương. Hoa Tạng
hải chúng đều chứng Pháp Thân, đều cầu
văng sanh ḥng viên thành Phật quả. Tôi là hạng
người nào dám chẳng tuân theo? Hăy bỏ cái tâm
cuồng ấy, tận lực hành theo đạo ấy,
công đức lợi ích sẽ tự chứng biết, nào
phải đợi đến khi tham học rộng khắp
mới là biết pháp ư!
28. Thư trả lời cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ hai)
Sách Di Đà Trung Luận, dù kinh hay luận
đều có công với Tịnh nghiệp hành nhân, mà
cũng là đầu mối để người
đời sau bài bác cổ nhân xằng bậy; lỗi
ấy thật chẳng phải cạn cợt! Như sách
ấy viết: Hăy nên chọn lấy pháp bế quan chuyên tu,
hoặc kể từ khi ngài Khuông Lô sáng lập Liên Tông
đến nay, không ai hiểu nghĩa lư kinh, tự
chứng tam-muội, chỉ một ḿnh Tỉnh Nhất
đại sư. Đấy là lời bàn luận thiên
kiến, hạn hẹp, khinh miệt cổ đức thậm
tệ, mở ra đầu mối ngă mạn, mưu toan ngang
hàng với bậc thông triết, há chẳng phải là v́
báng Pháp, báng Tăng nên mới lập ra thuyết ấy, thật
ra là muốn phô ḿnh tự được chân truyền
của bậc thánh sư, đúng là công thần bậc
nhất của Tịnh tông mà thôi. C̣n như tác giả chỉ
trích các vị Tử Các, Vân Thê, Ngẫu Ích v.v… càng lộ rơ
sự ít thấy ít nghe, chẳng thông đạt các pháp môn Quyền
- Thật của Như Lai, muốn lấy căn cơ
của mỗi một ḿnh ông ta làm chuẩn!
Như
cổ đức nói: “Một
mắt lưới bắt được chim, chẳng
thể nói mắt lưới ấy chính là toàn thể cái
lưới. Một người có công trị quốc,
chẳng thể coi một người là cả đất
nước”. Ông Vương Canh Tâm quyết muốn coi
một mắt lưới là cái lưới, coi một
người là đất nước, nên lập ra luận
ấy, khá là kiêu căng. Vẫn là tuổi trẻ bụng
rỗng tâm cao, nhưng chớ nên giữ thái độ ngông
cuồng ấy suốt đời. [Ông ta] khoe ḿnh bế
quan hai kỳ, cũng có sở chứng, thật khó tin
tưởng! V́ sao nói thế? Người chứng
tam-muội chẳng lập ra nghị luận biện bác
như thế, chỉ tâm b́nh khí ḥa, chỉ đề cao Lư.
Nếu cuốn luận của ông ta có nhiều chỗ hợm
ḿnh chê người, ấy chính là lời lẽ của kẻ
biện bác: “kiên bạch đồng dị” [35],
không phải là bộ luận khế lư, khế cơ
quyết định! Dẫu có công đi nữa, tôi
chẳng dám hướng về người khác tán thán,
bảo họ thọ tŕ, lưu thông.
Lưu
thông Phật pháp thật chẳng phải chuyện dễ;
phiên dịch kinh luận chẳng phải là chuyện
chơi. Do vậy, trong dịch trường phải có
vị chủ dịch, vị dịch ngữ, vị chứng
nghĩa, nhuận văn, nào dám tùy tiện tự tâm cắt
xén, truyền bá kinh Phật! Bản kinh Đại Di Đà[36]
của ông Vương Long Thư từ triều Tống
đến cuối đời Minh được nhiều
người thọ tŕ; do ngài Vân Thê chê có những chỗ
không hợp lư thích đáng nên từ đó về sau dần
dần ẩn mất. Ông Ngụy Thừa Quán học
thức không bằng Vương Long Thư, tự cho ḿnh
hơn hẳn Long Thư, noi theo dấu vết của
người khác mà ra công nên dễ đắc lực,
phải đâu Thừa Quán vượt trội Long Thư?
Tổ Liên Tŕ c̣n không lưu thông bản của họ
Vương, bọn ta dám đâu lưu truyền bản
của họ Ngụy, bởi lẽ sẽ tạo
đầu mối cho hậu nhân lầm lạc sửa
đổi kinh Phật và tạo thành nạn bài xích
Phật, chê: “Kinh Phật toàn do người đời sau
biên soạn, chứ chẳng phải từ ban đầu kinh
quả thật được dịch từ nước
Phật ra!”
Nhưng
nếu bậc chân tu thượng sĩ xem đến kinh[37]
ấy, luận ấy ắt có lợi ích lớn, chỉ
chọn lấy những ǵ ích lợi mà chẳng bị
nhiễm những điều tệ. Nếu kẻ hạ
căn xem đến, chẳng được ích lợi ǵ,
trước hết c̣n bị tổn hại, bắt chước
thói tệ sửa kinh, chê cổ đức, chẳng
học đ̣i hạnh thẳng chóng, chuyên tinh. Quán sát căn
cơ mà dạy cho thích hợp, đối chứng bệnh
mà phát thuốc. Dạy chẳng khế hợp căn
cơ, cho thuốc chẳng đúng bệnh vậy! Dám v́
một hai điều chấp nhận được bèn
cho lưu thông rộng khắp hầu tạo tội khiên
cho kẻ hạ căn ư? Bộ Thích Quần Nghi
Luận, Quang tôi trước
kia chưa từng thỉnh được, cũng
đă từng được xem qua một lần. Do
mục lực chẳng đủ, đành chịu lỗi
chẳng thể đọc nhiều lượt.
Nếu
luận về sách phù hợp căn cơ hay nhất th́ nên
lấy Tịnh Độ Thập Yếu làm đầu,
sách Di Đà Yếu Giải là lời chú giải tinh
diệu nhất của ngài Ngẫu Ích, trong những
bản chú giải kể từ khi đức Phật nói ra
kinh này đến nay, nên tôn sách này là bậc nhất.
Dẫu cho cổ Phật tái xuất trong đời,
hiện tướng lưỡi rộng dài, chú giải
lại kinh này, cũng chẳng thể hay hơn
được nữa! Huống hồ kẻ hậu sinh
nghe hiểu nông cạn, lại toan chê trách, mong trỗi
vượt hơn ư? Đem lửa đom đóm sánh
với mặt trời, thật chẳng biết
lượng sức! Tiếc cho họ Vương sao
lại khổ sở như thế! Chú Am hỏi
đến sách nào đều đọc được, đấy
chính là Tha Tâm Thông! Tôi muốn tŕnh bày rơ ư chỉ ấy
nhưng cần phải tu bổ [lầu] Tàng Kinh nên không
rảnh, đành đợi khi khác.
29. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ ba)
[Để hiểu] kinh A Di Đà nên
dựa theo sách Yếu Giải của ngài Ngẫu Ích,
những lời giải thích trong sách Di Đà Trung Luận
phần nhiều là ư kiến tùy tiện của chính tác
giả, trái nghịch ư chỉ kinh, không thể tin cậy
được! Phật v́ chúng sanh trong chín pháp giới
thuyết pháp, há có nên v́ trí lực của ḿnh chẳng thấu
tới bèn đoan quyết chẳng có lư ấy hay chăng?
Lời giải thích về đoạn kinh “từ một
ngày đến bảy ngày” chứng tỏ tác giả đă
đem chính ḿnh so lường chín pháp giới. Nếu nói
như vậy, không riêng ǵ bộ kinh Di Đà chẳng
thể thống nhiếp mọi căn cơ, mà ngay cả toàn
bộ những đàm luận nhiệm mầu viên
đốn trong giáo điển cả một đời
đức Phật cũng sẽ do trí của chính ḿnh không
hiểu thấu mà trở thành vọng ngữ! Báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng, tội chẳng thể dung! Dẫu sách
ấy cũng có chỗ cảnh tỉnh, khải phát hạng
hạ căn, nhưng làm tổn hại đại thể.
Do vậy, Quang tôi chẳng dám khuyên người khác thọ
tŕ.
Pháp
môn Tịnh Độ khác nào biển cả; sông to, rạch
lớn đều đổ vào biển. Chén nước,
giọt nước cũng đổ vào. Bậc chứng
ngang với chư Phật c̣n cầu văng sanh; kẻ Ngũ
Nghịch Thập Ác cũng dự vào phẩm cuối. Há có
nên đem chuyện đắc nhất tâm và tam-muội để
cự tuyệt người chưa đắc? Chỉ nên
học theo như trên, ḥng được như vậy,
tự ḿnh quyết chí cầu sanh, hăy chỉ nên mong mỏi
được như thế. Nếu nói không nhất tâm và đắc
tam-muội quyết định chẳng được
văng sanh th́ chính là tự lập luận thuyết, chẳng
nương theo lời Phật nói. Ba kinh Tịnh Độ
lưu thông từ cổ cùng với phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện là bốn kinh, há nên nói là chẳng đáng
tôn làm khuôn phép ư?
Nay
người tu Tịnh nghiệp, đa số chẳng
biết tông chỉ, chỉ dựa theo sự tướng. Nói
dễ dăi th́ cũng có thể gọi là hành nhân Tịnh tông.
Nhưng nếu nói nghiêm khắc, thật ra trong trăm
người có đến chín mươi lăm
người đều thuộc loại “không Thiền,
không Tịnh Độ”. Há có thể lấy những
người như vậy làm chuẩn được sao?
Do Tiểu Bổn (kinh A Di Đà) văn giản dị,
nghĩa phong phú, nên được dùng làm kinh nhật
tụng, c̣n những kinh kia th́ tùy mỗi người
thọ tŕ khác biệt. Những ǵ được nói trong sách
Di Đà Trung Luận, cố nhiên có nhiều điều
hữu ích, nhưng những điều gây trở ngại
lại cũng chẳng ít. Nếu không có mắt trí huệ
chọn lựa pháp, chỉ e chẳng được lợi
ích ǵ, lại c̣n bị tổn hại hết cả, như
những lời sách ấy giải thích về một ngày
đến bảy ngày, thập niệm chẳng độ
v.v…
Thọ
tŕ đọc tụng từ đầu đến cuối
là Chánh Hạnh của nhà Phật; dẫu là kẻ chuyên chú
tham cứu trong Thiền Tông cũng phải thọ tŕ
như thế, như các vị Dược Sơn,
Ngưỡng Sơn, Vĩnh Minh, Thủ Sơn, Thê Hiền
Thực, Dục Vương Vi v.v… Chỉ khăng khăng
đề cao hướng thượng th́ tợ hồ có bài
bác việc thọ tŕ, chẳng biết đề cao
hướng thượng th́ khắp thế gian, pháp ǵ,
chuyện ǵ cũng đều quy về bổn phận. C̣n
những kẻ chưa đắc môn ấy, chỉ
hiểu nghĩa lư trên mặt văn tự rồi từ
đó tham Thiền, đa phần miệt thị kinh giáo.
Bọn họ tuy tự xưng là Thiền nhân, nhưng
thật ra là tội nhân của pháp môn, là nghịch tử
của Như Lai, sao đáng nói đến? Khuyên nên thọ
tŕ đọc tụng th́ các kinh không kinh nào chẳng dạy
như thế, há nào phải chỉ ḿnh Kim Cang hạnh
nguyện?
Kinh
Hoa Nghiêm vua trong Tam Tạng, cuối cùng quy trọng
nguyện vương, nhưng coi trọng Hoa Nghiêm chẳng
được coi thường các kinh khác v́ các kinh
Đại Thừa đều lấy Thật Tướng
làm Thể của kinh. Kinh Hoa Nghiêm lớn lao v́ là
đại pháp vượt ngoài pháp giới bàn thẳng vào
chuyện xứng tánh, chẳng gồm Nhị Thừa. Pháp
Hoa hay khéo ở chỗ gom ba thừa về Nhất
Thừa, khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển
Bổn[38]. V́
thế tông Thiên Thai bảo kinh Pháp Hoa “thuần viên
độc diệu”, bởi lẽ Hoa Nghiêm vẫn c̣n nói
kiêm về Quyền Giáo (tức là kinh Hoa Nghiêm c̣n nói
đến những địa vị Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Những
địa vị ấy thuộc về Quyền Giáo). Nhưng đối với kinh Pháp Hoa,
Phật khen ngợi Pháp Hoa là vua trong các kinh; với Hoa Nghiêm
cũng thế. Sau này, những người hoằng
truyền kinh trong thế gian quyết định trong
năm bộ phận lớn[39],
chia ra kinh này cao, kinh kia thấp, chẳng phải là kinh nào
cũng riêng được khen ngợi ư? Người
tu Thiền ca ngợi Thiền Tông, người tu Tịnh
Độ ca ngợi Tịnh Độ. Nếu không như
thế sẽ chẳng thể khiến cho con người
sanh chánh tín, phát khởi ḷng ngưỡng mộ. Phải
khéo hiểu ư nghĩa, chớ để văn từ
hại ư. Mạnh Tử ca ngợi Khổng Tử là vị
thánh chưa từng có trong trăm họ, nhưng Khổng
Tử thấy vua Nghiêu trong canh, thấy vua Thuấn nơi
tường, thấy Châu Công trong mộng, ḷng bắt
chước, ngưỡng mộ ba vị thánh ấy sao mà
chí thành đến mức cùng cực như thế!
Người
niệm Phật chỉ cần chân thật, khẩn
thiết niệm Phật sẽ tự có thể cậy vào
Phật từ lực, tránh khỏi đao binh, nước,
lửa. Nếu có gặp th́ là do túc nghiệp kéo lôi cũng
như v́ được chuyển tội nặng trong
địa ngục thành báo nhẹ trong đời này nên
mới gặp phải những nạn ấy. Nhưng do thường
ngày có ḷng tin chân thành, nguyện khẩn thiết, chắc
chắn lúc ấy sẽ được Phật tiếp
dẫn. Nếu đă chứng tam-muội trong hiện
tại, cố nhiên đă dự vào ḍng Thánh, tự thân
như huyễn, đao binh, nước, lửa đều
chẳng gây trở ngại được. Dẫu hiện
thời gặp nạn, thật ra không khổ, trong thế
giới mênh mông được mấy ai như thế?
Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm nghĩa lư rộng mênh
mông, văn tự vi diệu, tụng phẩm này sẽ
khiến cho những chấp trước “ta, người,
chúng sanh” của người tụng trở nên không c̣n
nữa; thiện căn văng sanh Tịnh Độ ngày càng
tăng trưởng. Lẽ ra phải nên tự hành,
dạy người, nhưng chớ nên v́ không tŕ kinh này, tu
ngay Tịnh Độ, [mà cho rằng người như
vậy] cũng thuộc hạng bạc phước, kém
cỏi. Các vị Liên Tŕ, Ngẫu Ích cũng đều
cực lực hoằng dương kinh này, trong Di Đà Yếu
Giải có câu: “Trong giáo pháp
suốt cả một đời của Như Lai, chỉ
có ḿnh kinh Hoa Nghiêm luận về sự viên măn ngay trong
một đời, nhưng cái nhân để
được viên măn trong một đời th́ đến
cuối cùng Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười
nguyện vương dẫn về Cực Lạc,
khuyến khích Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng. Ôi! Bẩm
tánh của kinh Hoa Nghiêm đă được đặt
trọn trong kinh này, nhưng thiên hạ xưa nay tin ít ngờ
nhiều, viết càng lắm, nghĩa càng hao, tôi chỉ c̣n
có cách mổ tim vẩy máu mà thôi”.
Do
vậy, ngài Vô Ẩn nói kinh Hoa Nghiêm chính là quảng bổn
(bản kinh giảng chi tiết) của kinh Di Đà, Di
Đà chính là lược bổn của Hoa Nghiêm. Ngẫm
lời hai vị đại sư liền biết: Nếu
xem kinh mà không có con mắt viên dung sẽ cô phụ Phật
ân nhiều lắm! Những ǵ Bất Huệ vụng
về viết ra, tuy nghĩa lư có chỗ đáng dùng
được, thật chẳng đáng coi là tác phẩm
kiệt xuất thiên cổ, chẳng phải là thứ
văn chương thường được khen
ngợi cả một đời, chớ nên đem phàm xen
lộn thánh, xem miếng gỗ một tấc trội hơn
lầu cao!
Trong
thư trước, ông nói sẽ qua Dương Châu, xin
cứ tùy hỷ, tôi chưa từng đến đó.
Lại nghĩ ông trên có mẹ già, trong nhà vợ yếu con
thơ, lẽ ra nên tu tŕ tại gia, chớ nên rong ruổi
bên ngoài. Chủ nhân có mặt ắt những chuyện
bất ngờ bên ngoài tự nhiên chẳng khởi. Nếu
ra ngoài lâu ngày không về, chẳng những hiếu giáo[40]
bị khuyết, chỉ e tiểu nhân thừa dịp, trộm,
cướp, nước, lửa đều nên đề
pḥng. Chẳng những không nên đi Dương Châu, ngay
cả Phổ Đà cũng không nên tới. Nếu muốn
chuyện tṛ, giăi bày, đă có bưu cục thay ḿnh thông báo.
Đôi bên đă thấu t́nh nhau, tốn kém quả thật
chẳng mấy, sao không tính cho đôi bề vẹn lẽ
vậy? Mong từ đây về sau đừng đánh
điện tín, nếu có chuyện ǵ cần tŕnh bày, hăy
đợi ba tháng rưỡi sau hăy gởi.
Đi
qua Dương Châu nói chung là bốn tháng rưỡi,
nếu lại quyết định muốn lên núi [Phổ
Đà] th́ cũng nên tới vào ba tháng rưỡi sau. Nay
đang nhằm lúc mọi người lên núi dâng
hương, không biết khách dâng hương quá nhiều,
mọi chuyện khó ḷng đúng pháp. Gần đây
đường tàu đă mở, từ tháng Giêng đến
tháng Tám đều có người đến. Lúc rảnh th́
mọi chuyện đều đúng thứ tự, lúc
bận bịu th́ mọi việc đều trở thành láo
nháo hết. Người chân tâm lễ yết Đại Sĩ
không thể không biết. Phật đạo không sâu, không
cao, không cạn, không lớn, phải vừa sâu vừa
cạn mới gọi là thường trụ. Ngôn từ
chẳng diễn đạt được ư, nên nói là
vừa cạn, vừa sâu, vừa nhỏ, vừa lớn,
pháp nào cũng viên thông nên gọi là Thường Trụ.
30. Thư gởi cư sĩ X… ở
Vĩnh Gia (thư thứ tư)
Vân Thê đại sư lập pháp dạy
người đều là những chuyện thực
hiện trong cuộc sống thường nhật, thực
tiễn. Tu tŕ theo đó th́ ngàn phần thích đáng, vạn
phần ổn thỏa, trọn chẳng đến nỗi
được chút ít cho là đủ, bị ma dựa phát
cuồng. Vương Canh Tâm chưa mười phần
hiểu rơ yếu chỉ nhập đạo, lại
mặc t́nh múa bút, mặc sức huênh hoang mạt sát hết
thảy. Dẫu có tâm hoằng pháp, nhưng thật ra
mắc lỗi hoại pháp. Đấy đều là do hai
chứng bệnh “chẳng gần gũi bậc tri thức
sáng mắt” và “chẳng phản tỉnh tự vấn” mà
nên nỗi.
Tâm
gặp ác mộng là dấu hiệu ác nghiệp đời
trước hiện ra, nhưng cảnh được
hiện không có thiện - ác, chuyển biến ở nơi
chính ḿnh. Ác nghiệp hiện nhưng chuyên tâm niệm
Phật th́ ác nhân duyên biến thành thiện nhân duyên, ác
nghiệp đời trước chuyển thành
người hướng dẫn cho đời này. Tiếc
cho người đời thường bị nghiệp buộc
ràng, chẳng thể chuyển biến, thành ra đă té
giếng c̣n bị ném đá, khổ càng thêm khổ! Quang tôi
do mắt quáng chẳng thể xem kinh viết chữ, mùa
Hạ này toan soạn bài luận nói về sự dốc
kiệt ḷng thành mới được lợi ích thật
sự, nhưng viết chưa được một nửa
th́ thị lực đă không kham nổi, do đó phải
ngừng giữa chừng. Vẫn muốn trong những
tháng mùa Đông sẽ chuyên tâm sám hối túc nghiệp, ngơ
hầu sức nh́n mạnh hơn một chút, sẽ
tiếp tục hoàn thành [bài luận ấy]. Lại do
năm ngoái đáp ứng lời cư sĩ Trần Tích
Châu tu chỉnh cuốn Phổ Đà Sơn Chí, v́ Quang nhăn
lực như thế chắc cũng phải kéo dài hai ba
năm. Nếu mắt sáng sẽ nguyện tận lực
trong năm sáu năm, đem hết những sự tích
về Quán Âm trong Đại Tạng phân môn chia loại,
soạn theo thể phú, chép tường tận dưới
bản văn. Sách soạn thành, khắc thành hai bản,
một để tại chỗ in kinh, c̣n một giữ
ở Phổ Đà, mong cho hết thảy những ai
hữu duyên cùng được thấm nhuần sự
chẳng thể nghĩ bàn của Đại Sĩ. Nếu
mắt vẫn như cũ, chỉ đành nói số
mạng như thế, biết làm sao được!
Đại
giáo truyền sang Đông, tất cả tông phái thạnh suy,
nếu không đọc thấu suốt toàn bộ
Đại Tạng, vừa nghe liền nhớ ngay sẽ
chẳng thể hiểu. Nếu khinh suất làm bừa,
ắt chẳng những không thể phát dương quang
đại Phật pháp, trái lại c̣n làm nhục Phật
pháp! Thập Văng Sanh kinh nay trong Đại Tạng không có,
chẳng cần phải t́m trọn khắp. Tập Chư
Kinh Lễ Sám Hối Văn, Tây Phương Lễ Tán v.v… dù
kệ hay văn đa phần là trích từ văn trong Quán
Kinh Tứ Thiếp Sớ của ngài Thiện Đạo.
Nếu xem kỹ lời chú trong chương Thượng
Phẩm Văng Sanh của Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ sẽ
biết: Nói đến Quán kinh, chỉ nêu một câu trong
Quán Kinh, rồi ở dưới bèn giải thích
tường tận, chứ không phải toàn thể [những
câu trong tác phẩm ấy] đều thuộc về kinh
văn.
Quán
Kinh Tứ Thiếp Sớ của ngài Thiện Đạo ở
Trung Quốc thất truyền đă lâu, gần đây
từ Đông Doanh (Nhật Bản) thỉnh về, Kim
Lăng[41]
khắc bản lưu truyền đă lâu, sai ngoa rất nhiều.
Ngay cả
Tha
Tâm Thông có nhiều thứ bất đồng, nếu
luận theo sự chứng đạo th́ như ông Chú Am[43] hễ
hỏi đến bất cứ sách nào, liền có thể
đọc được thông suốt hết thảy,
không sai một chữ. Ông ta chưa hề đọc sách,
sao lại làm được như thế? Ấy là do
nghiệp tận, t́nh không, tâm như gương sáng; lúc
không ai hỏi, trong tâm một chữ cũng chẳng có.
Đến khi ai hỏi tức là người ấy đă
đem những ǵ chính ḿnh từng đọc qua từ
trước ra hỏi, người hỏi tuy đă lâu không
nhớ, nhưng trong tám thức điền vẫn c̣n
giữ lại h́nh ảnh của những câu chữ ấy
(xem kinh Phật cũng giống như thế. Cổ
nhân nói: “Nhất nhiễm
thức thần, vĩnh vi đạo chủng” (một
phen lọt vào thần thức, vĩnh viễn thành hạt
giống đạo). Hăy nên tin tưởng chắc
điều này). Người kia
cố nhiên v́ vô minh che lấp kín mít, trọn chẳng hay
biết, c̣n người này có Tha Tâm Thông, nên thấy rơ ràng
rành mạch những h́nh ảnh trong tâm thức của người
kia, v́ thế hỏi đến bèn đọc ra, không sai sót
ǵ. Nếu người hỏi chưa từng đọc
sách ấy, cũng có thể thấy trong tâm thức của
người khác mà đọc ra. Đấy là dùng tâm
người khác làm tâm ḿnh, chứ không phải trong tâm
người ấy ghi nhớ không quên rất nhiều kinh
sách như thế. Phàm phu không rơ, cho là thật kỳ
đặc, thật sự chỉ là do nghiệp tiêu huệ
rạng, chướng tận trí viên mà thôi!
Cầu
cơ đa phần là linh quỷ giả mạo tiên,
Phật, thần thánh, con quỷ nào kém cỏi sẽ không có
sức thần thông ấy. Quỷ nào khá hơn th́ biết
được tâm người, v́ thế, nó có thể
mượn dùng trí thức và sự thông minh của con
người. Ông Kỷ Văn Đạt bảo: “Cầu cơ đa phần là
linh quỷ giả vờ. Tôi cùng anh là Thản Nhiên[44] hầu
cơ bút, tôi làm được thơ nhưng viết
chữ xấu. Khi tôi hầu cơ bút th́ thi từ mẫn tiệp,
chữ viết nguệch ngoạc. Thản Nhiên hầu
cơ bút th́ thi từ tầm thường, chữ viết
ngay ngắn, cứng cỏi. Quỷ giả mạo cổ
nhân, hỏi đến những điều bí hiểm, sâu
kín trong những tác phẩm của cổ nhân[45], bèn
bảo niên đại quá lâu, không c̣n nhớ
được. Do vậy biết không phải thật!”
Nhưng sự linh thiêng của quỷ là chỉ có thể
mượn dùng những ǵ tâm con người hiện
đang biết, c̣n những ǵ được ghi nhớ
trong thần thức nhưng hiện nay người
hỏi không biết, hoặc những nghĩa chính
người hỏi cũng không biết th́ quỷ chẳng
thể nêu ra để chỉ dạy cho người. So
với Tha Tâm Thông của người nghiệp tận t́nh
không th́ khác hẳn một trời một vực, nhưng
nh́n vào t́nh cảnh khá tương tự. Lại sợ các
ông bị mê hoặc bởi những lời giáng cơ, nên
mới phải bất đắc dĩ nhắc đến
chuyện này. Lại trong sách Tống Cao Tăng truyện có
chép ngài Tăng Giam đến thọ trai nơi Vương
Xử Hậu. Xử Hậu đọc ra văn
chương thật đắc ư; nhân đó, Sư hỏi:
-
Đang đọc những văn từ ǵ vậy?
Xử
Hậu nói:
-
Đó là bài văn đậu tiến sĩ của tôi.
Sư
nói:
- Dưới
mái hiên hóng gió, thong dong đến thế ư?
Liền
lấy một tập sách trong bọc ra, bảo:
-
Đây chẳng phải là bài văn sách của ông hay sao?
Xử Hậu đọc thấy chính là nguyên
bản bài văn sách khi trước, bèn hỏi:
- Về sau tôi đă gọt giũa bài này.
Tăng Giam nói:
- Dĩ nhiên tôi biết nó không phải là bài
văn sách gốc của ông.
Nhân đó bèn hỏi:
- Trong bọc của Sư sao lại có bài
văn sách này của tôi?
Tăng Giam đáp:
- Chẳng những chỉ có bài văn sách này.
Phàm những sách ông đă đọc từ trước
đến nay, thậm chí một nét, một vạch đùa
bỡn, trong bọc của tôi đều có đủ
hết!
Xử Hậu hoảng sợ, chẳng dám
hỏi tới. Chú Am tuy có Tha Tâm Thông, nhưng chưa
thấy có thần thông; Tăng Giam vừa có Tha Tâm Thông
lại có cả đại thần thông, có thể hiện
những ǵ trong tâm thức người khác thành sách,
hiện thành h́nh chất để chỉ bày cho
người khác, chứ không phải là trong bọc ḿnh
thật sự có chứa sẵn để lôi ra.
Gần
đây, Thượng Hải rầm rộ mở đàn
cầu cơ, những ǵ cơ bút khai thị về sửa
lỗi hướng thiện, tiểu luân hồi, tiểu
nhân quả v.v…đều có lợi ích cho thế đạo,
nhân tâm. C̣n như giảng về cơi trời, giảng
về Phật pháp đúng là nói lăng nhăng! Chúng ta là
đệ tử Phật, chẳng được bài xích
pháp ấy kẻo mắc lỗi chướng ngại
người khác hướng thiện, nhưng cũng
chẳng được phụ họa, khen ngợi pháp
ấy, bởi những ǵ cơ bút giảng về Phật
pháp toàn là nói ṃ, sợ rằng đến nỗi tạo
thành tội khiên lầm lạc hoại loạn Phật pháp,
lầm lạc chúng sanh. Ấn Quang xưa nhiều ác
nghiệp, đến đời này có mắt như mù,
trọn chẳng dám thuận theo t́nh cảm chẳng
dựa vào lư, tự lầm, lầm người. Mong hăy châm
chước t́nh và lư mà hành mới không bị tệ
hại.
Với mười thứ lợi ích của
việc Niệm Phật xin hăy xem cẩn thận
mười thứ lợi ích thù thắng nơi cuối quyển
hạ của Tịnh Độ Chỉ Quy Tập. Từ
Vân Sám Chủ[46]
bảo các kinh đều có nói, chưa biết trích ra
từ kinh nào, hoặc là ước theo nghĩa lư mà
viết gọn lại cũng chưa biết chừng.
Trong mấy trang đầu có nói đến chuyện
lớn tiếng niệm Phật, tụng kinh và lễ Phật
đều có mười thứ công đức[47],
ghi là trích từ kinh Nghiệp Báo Sai Biệt, kinh Hộ
Tịnh, tôi chưa kiểm, lúc rảnh rỗi sẽ
đọc. Những câu ghi trên b́a sách đừng ghi
nhiều, chỉ nên ghi giản dị, rơ ràng. Nếu
dẫn nhiều th́ hăy nên đăng nơi b́a trong cuốn
sách, hoặc nơi b́a sau in riêng một trang. Niệm
Phật hồi hướng chẳng được bỏ
đi, hồi hướng chính là tín nguyện
được phát ra từ miệng, nhưng chỉ nên
hồi hướng sau khi xong khóa tối, và sau khi niệm
Phật, tụng kinh trong ngày xong. Nên niệm Phật từ
sáng đến tối không gián đoạn, trong tâm chỉ
có ư niệm nguyện sanh chính là “thường thời
hồi hướng” (luôn luôn hồi hướng). Nếu theo
nghi thức tụng niệm mà hồi hướng th́
lẽ cố nhiên chẳng được thường
xuyên như thế.
Các
kinh Đại Thừa kinh nào cũng đều làm cho chúng
sanh được vào thẳng Phật đạo, hiềm
v́ chúng sanh chẳng thành tâm niệm tụng, cho nên không được
lợi ích hoàn toàn. Phần cuối quyển năm kinh
Lăng Nghiêm, tức chương Đại Thế Chí
Bồ Tát, chính là phần khai thị tối thượng
của Tịnh tông. Chỉ riêng một chương này đă
có thể sánh cùng bốn kinh Tịnh Độ thành năm
kinh, há cứ phải văn từ dài ḍng mới đáng
nể ư? Quân tử học v́ ḿnh, niệm niệm
nhắc nhở ḿnh tự tỉnh[48].
Tỉnh và mộng như một, chỉ có công phu
đến nơi đến chốn mới có thể làm
được. Chỉ cần luôn tu dưỡng trong lúc
thức th́ lâu ngày trong mộng cũng tự có thể
chẳng làm chuyện ǵ sai quấy lớn.
31. Thư gởi cư sĩ X… ở
Vĩnh Gia (thư thứ năm)
Từ
tháng Chạp năm ngoái đến hạ tuần tháng Ba
đă nhận được bốn lá thư, và Sư Trân
đă mang đến lời vấn đáp giữa hai
vị và ông Từ[49],
cùng với vải vóc, thực phẩm v.v… đủ
thấy ḷng v́ đạo pháp thiết tha, ḷng thương
mến tôi sâu xa. Thoạt tiên th́ mong ngóng ông Từ
đến, tiếp đấy lại phải duyệt
bản Văn Sao do ông ta đứng in, tợ hồ
mắt tôi càng yếu thêm v́ thế mới phải phúc
đáp thư trễ tràng. Thư tháng Chạp năm ngoái
quả thật đă nêu lên cái nghĩa dùng t́nh bạn ḥng
hỗ trợ điều nhân, nhưng đề cao tôi quá
mức khiến người càng thêm hổ thẹn!
Phàm
giềng mối lớn của đời người
chỉ có năm, tức là vua - tôi, cha - con, anh - em, chồng
- vợ, bè - bạn, nhưng cha sanh, thầy dạy, vua
nuôi, ba mối quan hệ này trọng bằng nhau; v́ sao trong
Ngũ Luân không nhắc đến thầy? Không biết rằng
thầy có đức tánh thành tựu cho ta, do vậy
thầy giống như cha. Kế đến, khuyên nhủ,
khen thưởng, khuyến khích cho ḿnh thành tài nên thầy
giống như anh. V́ thế Mạnh Tử nói: “Thầy cũng là cha anh”.
Tiếp đến, thầy tṛ tạo lợi ích tốt
đẹp cho nhau giống như hai vầng trăng cùng
chiếu, như hai tay giúp đỡ lẫn nhau, nên thầy
giống như bạn (Chữ Bằng do hai chữ
Nguyệt ghép lại, chữ Hữu do hai chữ Thủ
ghép lại). V́ thế, nhà Phật
thường nói “t́m thầy hỏi bạn”. Ấn
Quang trọn chẳng có thật đức, chẳng dám làm
thầy người, chỉ có cái tâm làm bạn để
giúp điều nhân. V́ vậy, từ lúc dốc chí theo
đuổi việc học cho đến ngày nay chưa
từng quên nghĩ tới, nhưng người ta chẳng
khoan dung với ḿnh, chẳng những không dùi mài cho ḿnh, có
lúc c̣n vứt bỏ.
Ông
mong tôi đích thân chứng tam-muội. Lại sợ
phụ mất ư nguyện ban đầu nên gởi thư
khuyến tấn chẳng tiếc sức thừa. Tôi
từ lúc búi tóc đọc sách đến nay, chưa
từng gặp được bạn bè hữu ích như
thế, cảm thấy thật xấu hổ! Nhưng
bốn chữ tử tội là từ ngữ do kẻ
bầy tôi ngay thẳng can vua nói khích để vua phải
nghe theo, đem áp dụng vào chỗ thầy - bạn
thật không thích hợp! Ấn Quang túc nghiệp sâu
nặng, mới sanh ra được nửa năm đă
mắc bệnh mắt sáu tháng, gào la khóc lóc, trừ lúc
ăn ngủ ra, không ngưng khóc một khắc nào. Nỗi
thống khổ ấy không biết ví như thế nào? May
nhờ sức thiện căn xưa, được
thấy mặt trời, thật là vạn hạnh. Tuổi
niên thiếu đọc sách, do túc nghiệp dẫn phát
đến nỗi nhiễm phải bả độc báng
Phật của họ Hàn, họ Âu[50],
sau đấy tỉnh ngộ sâu xa, tự xét, tự
biết hổ thẹn, quy mạng Tam Bảo, xuất gia
làm Tăng. Nếu không phải là Tam Bảo rủ ḷng
ngầm gia bị khiến cho tôi tự tỉnh ngộ th́
ngay trong lúc ấy đă vào địa ngục A Tỳ
từ lâu rồi, chịu các sự khổ dữ dội,
há c̣n có thể cùng các vị quân tử chỉ Đông nói
Tây, bàn về Tự Lực và Tha Lực để mong cùng
chứng chân thường, sanh lên bờ giác nữa ư?
Kết thất đă măn, tam-muội chưa thành: Một là do
túc nghiệp sâu nặng, hai là v́ tinh thần suy yếu mà nên
nỗi. Nhưng cố nhiên Phật chẳng bỏ kẻ
tội nhân, phải nương theo hạnh ấy
để được văng sanh.
Phép Thập Niệm Kư Số không phải là Sổ Tức (đếm hơi thở), do v́ đếm từ một đến mười nên giống với Sổ Tức. Lại do sách Liên Tông Bảo Giám chép sai là niệm đến trăm, đến ngàn, đến vạn, e sẽ bị bệnh. Ông dẫn điều ấy để chứng minh, gọi cách ấy là Sổ Tức Tŕ Danh, hoàn toàn không thể được! Muốn chứng tam-muội th́ đă có cách do Phật, Tổ đă dạy, ba đời chẳng đổi, sao lại c̣n phải hỏi đến sở chứng của tôi rồi mới chịu tu tập? Kinh Di Đà dạy: “Chấp tŕ danh hiệu hoặc một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn” (câu “một ngày cho đến bảy ngày” chỉ là nêu thí dụ, không thể chấp chặt. Nếu là bậc căn tánh Đẳng Giác th́ chỉ một niệm đă có thể chẳng loạn, cần ǵ phải mất một ngày! Nếu là căn tánh nghịch ác, suốt đời c̣n khó được nhất tâm, huống chỉ bảy ngày. Vương Canh Tâm gộp bừa thượng, trung, hạ căn thành một loại, đưa ra lời bàn luận, thật quá kiêu căng, cho là ḿnh đă phát huy được điều người xưa chưa hề phát. Thật ra là trên trái nghịch lời chân thành của Phật, dưới mở đường cho kẻ hậu tiến cuồng vọng, khiến người khôn ngăn đau xót, buồn thương, không ǵ ngăn dứt được!)
Quán
Kinh dạy: “
Nhưng
ông thốt ra lời ấy chắc cũng có nguyên do. Ấy
là do sách Trung Luận thuật rơ cảnh được
thấy bởi Tỉnh Nhất đại sư và ông
Vương Canh Tâm bảo ḿnh được thừa
truyền tâm ấn của Sư, hàm ư: Ḿnh có đủ
mọi diệu cảnh chẳng thể nghĩ bàn và
những bí quyết mầu nhiệm do miệng truyền
tâm nhận vậy! Chẳng biết: Tam-muội, tiếng
Hán gọi là Chánh Định, hoặc c̣n dịch là Chánh
Thọ. Chánh Định có nghĩa là Tịch và Chiếu
cùng dung hội. Chánh Thọ có nghĩa là vọng bị
khuất phục, chân hiện ra. Tịch và Chiếu cùng dung
hội th́ c̣n có cảnh giới nào để
được nữa? Tâm kinh nói: “Soi thấy Ngũ
Uẩn đều không, độ hết thảy khổ
ách”. Lại nói: “Do không có ǵ để đắc nên
tam thế chư Phật chứng Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Viên măn
Bồ Đề trở về chỗ không được
ǵ”.
Người
tu Thiền Định (chỉ Tứ Thiền, Bát
Định) và người tham
Thiền chỉ cậy vào tự lực, không cầu
Phật gia hộ. V́ thế, lúc công phu đắc lực,
chân và vọng chống chọi nhau nên thường thấy
các cảnh giới huyễn hoặc hiện ra, mất
đi. Ví như lúc mưa dầm sắp tạnh, mây dầy
bị xé toạc, chợt thấy ánh nắng, trong khoảng
chớp nhoáng biến hiện không lường
được. Không phải là người thật sự
có đạo nhăn sẽ chẳng thể phân biệt,
nhận biết được tất cả cảnh
giới! Nếu lầm tưởng là dấu hiệu
chứng ngộ, sẽ bị ma dựa phát cuồng, không
sao trị được! Người niệm Phật dùng
tín nguyện chân thật, khẩn thiết, tŕ vạn
đức hồng danh, ví như vầng mặt trời
sáng rỡ giữa không trung, đi trên đường lớn
của vua, chẳng những lỵ mỵ vơng lượng[51]
mất bặt tăm tích, ngay cả những ư niệm
ngoắt ngoéo, thị phi cũng không sanh khởi
được.
Xét
đến cùng cực chẳng qua là: “Niệm đến công thuần, tận sức th́
toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm và Phật không hai,
tâm - Phật như một” mà thôi! Lư này, hạnh này
chỉ sợ người ta không biết, chẳng thể
hợp với nguyện phổ độ chúng sanh của
Phật, lẽ đâu bí mật không truyền, chỉ
truyền riêng cho ông ư? Nếu có những bí quyết
mầu nhiệm chỉ truyền miệng, ghi nhớ trong
ḷng, dạy ở nơi kín đáo th́ đấy chính là tà
ma, ngoại đạo, không phải là Phật pháp. Nhưng
Ấn Quang quả thật có bí quyết người khác
không đắc, chỉ ḿnh tôi đắc, do ông cầu
thỉnh bèn chẳng ngại ǵ đem bảo khắp các
Phật tử trong thiên hạ. Bí quyết ấy chỉ có
ǵ? Là Thành, là Cung Kính. Những chữ ấy cả thế
gian đều biết, nhưng đạo ấy cả
thế gian đều lầm. Ấn Quang do tội
nghiệp sâu nặng, mong tiêu trừ tội chướng
để báo ân Phật nên thường t́m cầu khuôn
mẫu tu tŕ tốt đẹp của cổ đức, do
vậy mới biết Thành và Cung Kính quả thật là bí
quyết cực diệu để siêu phàm nhập thánh,
liễu sanh thoát tử. V́ thế, tôi thường ra rả
bảo cùng những ai hữu duyên. Tŕ Kinh Lợi Ích Tùy Tâm Luận tuy đă nêu ra
đầu mối, nhưng chưa nói rơ nguyên tắc
đại lược. Toan muốn dài ḍng một hai
vạn chữ, dẫn đủ khắp những
chuyện thành kính và đạo cảm ứng của
cổ đức ḥng phụ thêm vào lời nói dở tệ
của ḿnh, phát huy b́nh luận, ngơ hầu ai đọc
đến hiểu phân minh pháp và giới, biết lấy và
bỏ như thế nào, chẳng đến nỗi do cái
nhân to chỉ được quả nhỏ, do thiện nhân
lại phải chuốc lấy ác quả! Những lời
ấy tôi đă nói với ông Từ. Phải biết Thành và
Kính, không riêng ǵ học Phật mới nên như thế mà
hết thảy các pháp thế gian hay xuất thế gian muốn
được tinh nhất th́ không thể không lấy thành
và kính làm cơ bản. Nh́n vào chuyện Mạnh Tử
lấy Dịch Thu[52]
để dạy về chuyện đánh cờ vây th́
biết.
Ông
Từ vốn sẵn linh căn từ đời
trước, lại đời đời thờ Phật,
từ lúc ra đời đến nay đă được
dạy dỗ đàng hoàng, lại c̣n có cái học vấn
lịch duyệt hai ba mươi năm, sao lại bỏ
cái cao minh để chọn lấy cái hèn tệ, trân
trọng đem văn Ấn Quang lưu truyền trong đời
như vậy? Phải biết hoằng pháp lợi sanh quư
ở chỗ biết thời cơ, pháp người
đời nay nên nhận cũng như căn bệnh
người đời nay mắc phải, bậc cao minh
không chịu nói rơ, những lời họ nói dẫu
huyền diệu cùng cực, đa phần không phải là
thuốc trị đúng bệnh, e rằng diệu
dược ấy lại làm bệnh nặng thêm!
Ấn
Quang khác nào gă thầy lang dốt vô tri vô thức, chẳng
những không biết gốc bệnh, cũng chẳng
biết dược tánh, chỉ biết dùng thuốc A Già
Đà Vạn Ứng Hoàn của tiên tổ đă ngầm
chế tạo thành, mọi căn bệnh hư, thực,
hàn, nhiệt đều cắt thuốc ấy. Nếu
chẳng nghi hoặc, lấy thuốc ấy uống vào,
lập tức khỏi hẳn, dẫu là chứng bệnh
Tần Hoăn, Biển Thước phải chịu bó tay,
vừa uống thuốc này lập tức khởi tử
hồi sanh. Do vậy, ai có tâm cứu người giúp
đời bèn cho phát hành rộng răi ḥng những ai có
bệnh cùng được uống thuốc này. Tuy biết
tài thần diệu của những người như
Tần Hoăn chẳng thể nào lường được,
nhưng chẳng thể chỉ dạy rộng răi, v́
căn bệnh này thuộc về túc nghiệp, dẫu
thần tiên cũng chẳng trị được,
huống ǵ thần y!
C̣n những
lời phán định [của ông] về những lời
lẽ trong sách Trung Luận, quả thật là đau ḷng rát
miệng rọi sáng thêm cho Ấn Quang, riêng muốn mở
chánh nhăn cho người, không phải là tô vẽ cho Ấn
Quang. Những lời b́nh luận của cụ Nhân
(Dương Nhân Sơn) cũng cực thống thiết,
nhưng c̣n chưa chỉ rơ tâm bệnh của chàng
Vương (Vương Canh Tâm) cũng như những
điều tác tệ của Trung Luận. Những lời
Ấn Quang đă nói đa phần chú trọng vào hai
điều ấy. C̣n những lời đáp khác
đều thích đáng trọn vẹn.
Riêng đoạn văn luận về bốn cơi th́ về Lư cố nhiên không trở ngại chi lớn, nhưng ước theo Sự c̣n thiếu tinh tường. Bởi lẽ, hai cơi Phàm Thánh Đồng Cư độ và Phương Tiện Hữu Dư độ là ước theo phàm phu đới nghiệp văng sanh và bậc tiểu thánh đă đoạn Kiến Tư Hoặc mà lập, chứ không thể ước theo Phật mà luận. Nếu ước theo Phật mà luận th́ không riêng ǵ toàn thể của bốn cơi Tây Phương đều là Tịch Quang; mà ngay cả ngũ trược ác thế, tam đồ ác đạo nơi đây nếu nh́n từ phía Phật th́ không ǵ chẳng phải là Tịch Quang. V́ thế nói: “Tỳ Lô Giá Na trọn hết thảy mọi nơi, chỗ Phật ở được gọi là Thường Tịch Quang”. Khắp mọi nơi đều là cơi Thường Tịch Quang, cứ hễ viên chứng được Pháp Thân Quang Minh Biến Chiếu Tỳ Lô Giá Na bèn tự được thọ dụng. Ngoài ra đều là phần chứng. Nếu xét từ bậc Thập Tín trở xuống phàm phu, về Lư th́ có, nhưng về Sự lại không. Muốn hiểu tường tận nên đọc kỹ đoạn luận về bốn cơi trong sách Di Đà Yếu Giải, mà sách Phạm Vơng Huyền Nghĩa cũng bàn luận rơ ràng (Tỳ Lô Giá Na, Hán dịch là Quang Minh Biến Chiếu, hoặc Biến Nhất Thiết Xứ, là hiệu chung của Pháp Thân thanh tịnh được chứng bởi hết thảy chư Phật khi đă viên chứng cực quả rốt ráo. Viên Măn Báo Thân Lô Xá Na cũng thế. C̣n Thích Ca, Di Đà, Dược Sư, A Súc v.v… là những danh hiệu khác biệt của mỗi hóa thân Phật. Lô Xá Na, Hán dịch là Tịnh Măn, do Hoặc nghiệp đă hết sạch, trí huệ viên măn. Đây là ước trên trí đức và đoạn đức cảm được quả báo mà nói).
Lại
phải biết Thật Báo và Tịch Quang vốn cùng là
một cơi. Nếu ước theo cái quả do xứng tánh
cảm được th́ gọi là Thật Báo, nếu
ước theo cái lư rốt ráo chứng được th́
gọi là Tịch Quang. Bậc Sơ Trụ vừa dự
vào Thật Báo, chứng một phần Tịch Quang.
Diệu Giác mới là thượng thượng Thật
Báo, rốt ráo Tịch Quang. Từ Sơ Trụ đến
Đẳng Giác đều chỉ chứng được
một phần hai cơi ấy. Đến Diệu Giác cực
quả mới được rốt ráo cả hai cơi
ấy. Nói đến Thật Báo là chỉ ước trên
phần chứng, c̣n Tịch Quang là ước trên rốt
ráo. Tịch Quang không có tướng, Thật Báo có
đủ vi trần số những trang nghiêm vi diệu
chẳng thể nghĩ bàn của Hoa Tạng thế
giới hải. Ví như hư không, thể của nó không
có các tướng, nhưng hết thảy các tướng đều
do hư không mà phát hiện. Lại như gương báu,
trống sáng rỗng rang, trọn chẳng có một
vật, nhưng hễ người Hồ đến bèn
hiện bóng người Hồ, người Hán đến
bèn hiện bóng người Hán. Thật Báo và Tịch Quang là
một mà lại hai, tuy hai nhưng một. Muốn cho con
người dễ hiểu nên nói là hai cơi.
Những
ǵ được dạy trong Kim Luân chú pháp chính là nhân
quả ba đời, làm thợ săn, làm vị tăng đều
là nhân quả đời trước. Nay được làm
người, phước hết sẽ đọa.
Đấy là ước theo người mê không tu bèn
dạy nhân trước quả sau. Niệm Phật,
đọc kinh, ngộ lư Nhị Không[53],
chứng pháp Thật Tướng, là luận theo
người tỉnh ngộ tu tŕ mà chỉ dạy hiện
nhân hậu quả. Chớ có buông tuồng mặc ư, cho
rằng đời này sẽ lại được như
thế. Trong đời này người chứng được
Thật Tướng không phải là không có ai; chỉ e
hiền khế[54]
không có thiện căn ấy. Nếu chẳng tŕnh bày rơ nguyên
do, e sẽ hư vọng mong mỏi chứng thánh, chí cao
nhưng hạnh không thấu, lâu ngày chầy tháng ắt
đến nỗi táng tâm cuồng dại, chưa
đắc nói đă đắc, chưa chứng nói đă
chứng, cầu thăng lại đọa, hóa khéo thành
vụng. Xét đến kết quả, khó tránh khỏi
vĩnh viễn ch́m đắm trong đường ác.
Chẳng những mai một linh tánh của chính ḿnh, mà
quả thật c̣n cô phụ ơn Phật.
Cái
lư Nhị Không chỉ nói về ngộ th́ phàm phu lợi
căn có thể làm được, như những
người thuộc vào địa vị Danh Tự trong
Viên Giáo, tuy Ngũ Trụ Phiền Năo chưa phục
đoạn[55]
được mảy may, nhưng sở ngộ đă
bằng với chư Phật không hai, không khác (Ngũ
Trụ: Kiến Hoặc là một trụ, Tư Hoặc
gồm ba trụ. Hai loại này thuộc về giới
nội. Trần Sa Hoặc và Vô Minh Hoặc gộp thành
một trụ. Hai loại này thuộc về giới
ngoại). Nếu nói theo nhà Thiền
th́ gọi là đại triệt đại ngộ, c̣n nói
theo Giáo th́ gọi là đại khai viên giải. Đại
triệt đại ngộ và đại khai viên giải
không phải là lờ mờ, phảng phất h́nh như hiểu
rơ đâu nhé! Như Bàng cư sĩ[56]
nghe Mă Tổ nói: “Đợi khi
nào ông một hơi uống cạn nước Tây Giang
sẽ bảo cho ông biết”, ngay khi đó, Bàng cư
sĩ bèn quên ngay nhân ngă, thấu hiểu lẽ huyền.
Ngài Đại Huệ Cảo nghe ngài Viên Ngộ nói: “Gió Nồm từ phương
Nếu nói đến việc chứng pháp Thật Tướng th́ không phải là chuyện hạng phàm phu sát đất có thể làm được. Nam Nhạc Tư đại thiền sư, là thầy đắc pháp của ngài Trí Giả, có đại trí huệ, có đại thần thông, lâm chung có người hỏi đến sở chứng, bèn nói: “Thoạt đầu ta mong được Đồng Luân (tức địa vị Thập Trụ, phá vô minh, chứng Thật Tướng, vừa dự vào Thật Báo, phần chứng Tịch Quang. Bậc Sơ Trụ có thể thị hiện làm thân Phật trong tam thiên đại thiên thế giới giáo hóa chúng sanh. Bậc Nhị Trụ có thể hiện trong một ngàn tam thiên đại thiên thế giới, Tam Trụ th́ một vạn, địa vị càng cao lên th́ con số càng tăng gấp mười, há tiểu căn làm được ư?). Nhưng v́ lănh chúng quá sớm, chỉ chứng được Thiết Luân mà thôi! (Thiết Luân là địa vị Thập Tín. Sơ Tín đoạn Kiến Hoặc, Thất Tín đoạn Tư Hoặc. Bát, Cửu, Thập Tín phá Trần Sa Hoặc, khuất phục vô minh. Ngài Nam Nhạc thị hiện ở vào địa vị Thập Tín, c̣n chưa chứng được pháp Thật Tướng. Nếu phá một phẩm vô minh, liền dự vào Sơ Trụ, mới có thể nói là viên chứng pháp Thật Tướng).
Trí
Giả đại sư là hóa thân của Phật Thích Ca, lâm
chung có người hỏi: “Chưa rơ đại sư
chứng nhập địa vị nào?” Bèn đáp: “Nếu ta không lănh chúng ắt
tịnh được sáu căn” (tức là
thuộc địa vị Thập Tín, sáu căn đều
tịnh, như đă thuyết minh trong phẩm Pháp Sư
Công Đức kinh Pháp Hoa), do
tổn ḿnh lợi người nên chỉ chứng
được Ngũ Phẩm (Ngũ Phẩm là
Quán Hạnh vị, đă khuất phục hoàn toàn phiền
năo nhưng chưa đoạn trừ được
Kiến Hoặc).
Ngẫu
Ích đại sư lúc lâm chung để lại bài kệ:
Danh tự vị trung chân Phật nhăn,
Vị tri tất cánh phó hà nhân?
(Chân
Phật nhăn trong địa vị Danh Tự c̣n chưa
biết rốt ráo, giao phó cho ai đây?)
(Người thuộc địa vị Danh Tự đă viên ngộ Tạng tánh, ngang với chư Phật, nhưng Kiến Tư c̣n chưa khuất phục được, huống chi là đoạn! Những người đại triệt đại ngộ trong đời Mạt đa phần mang thân phận này. Ngũ Tổ Giới làm thân Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh trở thành Lỗ Công, c̣n là bực thượng. Kế đến là như Hải Ấn Tín làm con gái của Châu Pḥng Ngự. Kém hơn nữa là như vị tăng ở Nhạn Đăng trở thành con nhà họ Tần mang tên Cối. Rơ ràng là v́ Lư tuy đă đốn ngộ, nhưng Hoặc chưa khuất phục được, trải qua một phen thọ sanh, rất có thể bị mê mất. Tạng tánh chính là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh, tức là tên gọi khác của Thật Tướng).
Ngẫu
Ích đại sư thị hiện thuộc địa
vị Danh Tự, Trí Giả thị hiện thuộc
địa vị Ngũ Phẩm, Nam Nhạc thị
hiện chứng địa vị Thập Tín, nhưng
bổn địa của ba vị đại sư
chẳng thể lường được, nhưng các Ngài
thị hiện ba địa vị Danh Tự, Quán Hạnh,
Tương Tự cho thấy Thật Tướng không
dễ chứng, hàng hậu tấn khó thể vượt
lên. Quả thật các Ngài sợ rằng hậu nhân chưa
chứng nói đă chứng, nên bèn hiện thân thuyết pháp
khiến cho họ tự biết hổ thẹn, chẳng
dám làm xằng. Ân thị hiện sau cùng của ba vị
đại sư chúng ta dẫu nát xương tan thân
cũng không báo đáp được! Ông hăy tự suy
nghĩ xem ḿnh có thể trội hơn được ba
vị đại sư ấy hay chăng? Nếu nói
Niệm Phật, duyệt kinh ḥng vun bồi thiện căn;
sau khi văng sanh, thường hầu Di Đà, cao dự
hải hội, tùy theo công hạnh sâu hay cạn, ắt
sẽ chứng Thật Tướng sớm hay muộn th́
đấy là lời quyết định không nghi, hết
thảy người văng sanh cùng được chứng
đắc.
Lại
như Kim Luân chú pháp chẳng cho hỏi việc ǵ khác,
chỉ cho hỏi về thiện căn, hỏi về pháp
môn. Chúng sanh đời Mạt bất luận có thiện
căn hay không đều nên quyết định chuyên tu
Tịnh Độ, cũng chẳng cần hỏi
đến pháp môn nữa, hăy nên nỗ lực! Nếu không
có thiện căn hăy cứ tận lực vun bồi, nên
cũng không cần phải hỏi về thiện căn
nữa! Chỉ nên tŕ chú để trợ tu Tịnh
nghiệp, chớ tự tiện tác pháp làm phiền
Phật, thánh. Nếu bộp chộp tác pháp, nhưng thân tâm
chẳng cung kính, hoặc chẳng chí thành, rất có thể
khiến cho ma sự khởi.
Chỉ
có mỗi một việc nên tác pháp nhưng không phải là
phận sự của ông. Tức là nếu như có
người muốn xuất gia, nhưng tự ḿnh chưa
chứng đạo, chẳng thể quán sát căn cơ
kẻ ấy, bèn trên cầu Phật từ, ngầm dạy
cho ḿnh biết kẻ ấy có thích hợp hay không, ngơ
hầu khỏi bị cái nạn những kẻ giặc
cướp, bại hoại xen lẫn [vào cửa Phật].
Nhưng nay người ta thâu đồ chúng, chỉ sợ
không thâu được nhiều, dẫu biết rơ kẻ
đó là phường hạ lưu, vẫn cứ gấp
gáp muốn thâu nạp, chỉ sợ hắn vuột thoát!
Ai chịu làm pháp này để quyết định! Tham danh
lợi, ưa quyến thuộc đến nỗi làm cho
Phật pháp bị suy bại sát đất, không sao hưng
khởi được!
C̣n
như ai nghiệp chướng nặng nề, tham sân
lừng lẫy, sức yếu tâm khiếp nhược,
chỉ nên nhất tâm niệm Phật, lâu ngày các chứng
bệnh đều sẽ tự khỏi. Phẩm Phổ
Môn nói: “Nếu có chúng sanh
nhiều dâm dục, nóng giận, ngu si, thường
niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền
được ĺa khỏi”. Niệm Phật cũng
thế, nhưng phải tận tâm kiệt lực, không c̣n
ngờ vực th́ chẳng cầu ǵ không được.
Quán Âm có nhân duyên lớn với Sa Bà. Ngoài việc niệm
Phật ra, tŕ thêm danh hiệu Quán Âm cũng được,
hoặc kiêm tŕ các chú Lăng Nghiêm, Đại Bi v.v… cũng đều
được cả. C̣n như duyệt kinh, nếu
muốn làm pháp sư để tuyên dương cho
đại chúng th́ hăy nên đọc kinh văn trước,
kế đến là đọc chú sớ. Nếu tinh
thần không sung túc, kiến giải không hơn
người, chớ nên uổng công lao tâm lao lực,
uổng phí năm tháng.
Nếu
muốn tùy sức chứng được lợi ích
thật sự, phải chí thành khẩn thiết, thanh
tịnh ba nghiệp, trước hết đoan tọa
một lát để thân tâm ngưng lặng, rồi sau
đấy mới lễ Phật tụng ra tiếng,
hoặc chỉ thầm đọc, hoặc lễ Phật
rồi đoan tọa một chút, sau đấy mới mở
kinh ra. Cần phải ngồi ngay ngắn nghiêm chỉnh
như đối trước thánh dung, đích thân nghe viên
âm, chẳng dám chớm một niệm lười nhác,
cũng chẳng dám khởi một niệm phân biệt.
Đọc thẳng từ đầu đến cuối,
bất luận dù văn hay nghĩa đều nhất
loạt chẳng dụng công để hiểu. Đọc
kinh như thế, người lợi căn liền có
thể ngộ được lư Nhị Không, chứng pháp
Thật Tướng. Nếu như căn cơ
độn, kém, cũng có thể tiêu trừ nghiệp
chướng, tăng trưởng phước huệ. Lục
Tổ nói: “Chỉ xem kinh Kim
Cang liền có thể minh tâm kiến tánh”, tức là nói
đến cách xem như vậy đó. V́ thế nói “chỉ”.
Có thể xem như thế th́ xem kinh Đại Thừa nào
cũng có thể minh tâm kiến tánh, há phải riêng ǵ kinh
Kim Cang là như vậy!
Nếu
cứ một bề phân biệt, câu nói này nghĩa là ǵ,
đoạn này nghĩa là ǵ, bèn hoàn toàn thuộc vào phàm t́nh
vọng tưởng, đoán ṃ, suy lường, há có
thể ngầm hợp ư Phật, viên ngộ ư chỉ
của kinh, nhân đó nghiệp chướng tiêu trừ,
phước huệ tăng cao ư? Nếu biết cung
kính, c̣n trồng được một chút thiện căn.
Nếu hoàn toàn như nhà nghiên cứu già dặn đọc
sách Nho sẽ thấy cái tội khinh nhờn như núi cao vút,
như vực sâu thăm thẳm. Do nhân lành chuốc lấy
quả ác, chính là hạng người này đấy! Cổ
nhân chuyên trọng nghe kinh v́ tâm chẳng thể khởi phân
biệt. Như có một người đọc tụng ra
tiếng, người khác ở bên cạnh nhiếp tâm
lắng nghe kỹ càng từng chữ từng câu sao cho phân
minh. Tâm người ấy chuyên chú chẳng dám duyên theo
hết thảy thanh sắc bên ngoài. Nếu hơi phóng túng
liền bị đoạn tuyệt, văn nghĩa
chẳng thể quán thông được. Người
tụng có kinh văn để nương vào, tâm chẳng
cần chuyên chú lắm vẫn có thể tụng rơ ràng.
Người nghe chỉ có thể nhờ vào âm thanh nên
nếu phóng túng sẽ bị đứt đoạn.
Nếu nghe được như thế sẽ bằng
với công đức chí thành cung kính của người
tụng. Nếu người tụng hơi kém cung kính th́
công đức khó thể sánh bằng người nghe.
Con
người hiện thời coi kinh Phật như giấy
cũ, để lẫn lộn kinh với những thứ
khác trên án kinh, tay chẳng rửa ráy, miệng không súc
sạch, thân đung đưa, chân gác lên, thậm chí phóng
thí[57],
găi chân, hết thảy phóng túng chẳng e sợ mà muốn
đọc kinh để được phước tiêu
tội th́ chỉ có ma vương muốn tiêu diệt Phật
pháp mới chứng minh, tán thán, bảo là hoạt bát viên
dung, phù hợp sâu xa với diệu đạo chẳng
chấp trước của Đại Thừa! Phật
tử chân tu thực sự tu hành, trông thấy chỉ
đành ngấm ngầm đau ḷng, lặng lẽ ứa
lệ, than thở quyến thuộc ma hoành hành, chẳng
biết làm sao!
Trí
Giả tụng kinh, hoát nhiên đại ngộ, lặng
lẽ nhập định, há có phải là do tâm phân biệt
mà ḥng đạt được ư? Một vị cổ
đức chép kinh Pháp Hoa, nhất tâm chuyên chú bèn
được niệm cực t́nh vong, đến khi
trời tối mịt vẫn cứ viết măi. Thị
giả vào nói trời đă tối đen rồi sao vẫn
viết măi, liền duỗi tay ra chẳng thấy
được bàn tay[58].
Duyệt kinh như thế cùng với tham thiền, khán
thoại đầu, tŕ chú, niệm Phật có cùng sự
chuyên tâm chuyên chí. Ra sức như thế, lâu ngày ắt có
bữa sẽ được lợi ích hoát nhiên quán thông.
Thời
Minh, Tuyết Kiểu Tín thiền sư người phủ
thành Ninh Ba, không biết chữ nào, trung niên xuất gia, nhọc
nhằm tham cứu tận lực, nhẫn được
những điều người khác chẳng thể
nhẫn, làm được những điều
người khác không thể làm, hành những hạnh
khổ người khác quả thật khó thể làm
được. Lâu ngày đại triệt đại
ngộ, thuận miệng nói ra những điều khéo
khế hợp thiền cơ, dẫu không biết chữ,
chẳng thể viết được, nhưng lâu ngày bèn
biết chữ. Lâu sau ngọn bút vẫy vùng, nghiễm nhiên
thành một nhà thư pháp lớn. Các lợi ích này
đều cầu từ nơi chẳng phân biệt, chuyên
tinh tham cứu. Người duyệt kinh cũng nên lấy
cách này làm pháp tắc. Ngữ lục của vị này đă
được đưa vào tạng kinh đời Thanh.
Đàm Tảo Am mang danh Tiến Sĩ, quy y dưới ṭa,
soạn bài bia thuật đạo hạnh của Sư hơn
một vạn chữ.
Lúc
duyệt kinh trọn chẳng được khởi phân
biệt, tự nhiên vọng niệm nép phục, thiên chân
phát hiện. Nếu muốn nghiên cứu nghĩa lư hoặc
đọc chú sớ, nên dành lúc khác chỉ chú trọng nghiên
cứu. Trong lúc nghiên cứu, tuy không nghiêm túc như lúc
duyệt kinh, cũng chẳng thể hoàn toàn không cung kính,
bất quá so với lúc duyệt kinh thư thả hơn
một chút. Chưa thể nghiệp tiêu trí rạng th́
lấy duyệt kinh làm chánh, nghiên cứu chỉ là phụ
kèm theo. Nếu không, quanh năm suốt tháng chỉ lo nghiên
cứu, dẫu nghiên cứu đến mức như
vẹt mây thấy mặt trăng, mở cửa thấy
núi, cũng chỉ là lưu loát ngoài miệng, đối
với thân tâm sanh mạng và chuyện sanh tử trọn
không can dự mảy may. Ngày Ba Mươi tháng Chạp
xảy đến, quyết định chẳng dùng
được tí ti nào. Nếu có thể duyệt kinh
như vừa mới nói ắt nghiệp sẽ tiêu, trí
sẽ rạng, ba thứ t́nh kiến sẽ quy về
chốn làng quê chưa hề có. Nếu không duyệt như
thế, chẳng những ba thứ t́nh kiến chưa
chắc không phát sanh, lại e do sức túc nghiệp dẫn
khởi tà kiến, bác không nhân quả, và giết - trộm -
dâm đủ mọi phiền năo nối tiếp nhau dấy
lên như lửa cháy hừng hực, nhưng cứ
tưởng ḿnh là người tu Đại Thừa,
hết thảy vô ngại, bèn vin vào lời Lục Tổ “tâm đă b́nh cần ǵ phải
nhọc ḷng tŕ giới”, bèn cho các giới đều phá mà
không phá mới là chân hành tŕ, thật là tu hành khó
được chân pháp vậy! Do vậy, chư Phật,
chư tổ chủ trương Tịnh Độ,
nương vào Phật từ lực để chế
phục nghiệp lực, chẳng cho nghiệp lực phát
hiện.
Nên
lấy Niệm Phật làm chủ, duyệt kinh làm phụ.
Như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Kim Cang, Viên
Giác, hoặc chuyên chú một kinh, hoặc lần
lượt duyệt sáu kinh này cũng được.
Nhưng cách duyệt trọn chẳng thể không tuân theo
cách tôi đă tŕnh bày. Nếu làm cẩu thả đến
nỗi lợi ích chẳng thể nghĩ bàn bị mất
v́ phóng túng không kiêng dè và phân biệt, vọng t́nh th́ há
chẳng đáng buồn ư?
Trước
kia, tôi cho rằng ông và Sư Trân đă có thể triệt
để tin theo pháp môn Tịnh Độ; đến khi
xem những thư từ hỏi đáp giữa ông và ông
Từ thấy ông lại muốn tŕ chú, lại toan nghiên
cứu Giới học, cho rằng mật chú có công
đức thù thắng chưa hề thấy xưng
thuật trong Tịnh Độ, tâm bèn chao đảo, không
có mảy may ư kiến nhất định nào! Ông căn
cơ như thế nào mà muốn pháp ǵ cũng đều
thông cả vậy? Do bị những chuyện cấp
thiết khuấy động lâu ngày rất có thể
bị mất trí, tôi bảo ông Từ: “Mong ông hăy cực
lực khai thị cho ông ta để trọn t́nh thầy
bạn cùng một pháp môn”. Sư Trân cho rằng Mật Tông
[nói đến những chuyện] hơi xông, bụi dính[59]
đều được giải thoát, c̣n Tịnh tông không
có những lợi ích ấy, sao chẳng xét Ngũ
Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung địa ngục hiện,
niệm Phật mấy tiếng bèn được văng sanh?
Lại chẳng thấy những vị Đẳng Giác
trong hội Hoa Nghiêm chứng ngộ bằng với chư
Phật, vẫn dùng mười đại nguyện
vương hồi hướng văng sanh để cầu
viên măn Phật quả đó ư? Nếu bảo là có pháp
nào thù thắng hơn pháp này, bèn muốn bỏ pháp này
để tu pháp kia th́ sao chẳng suy xét Phật, Tổ
trong ngàn kinh muôn luận đă đinh ninh ân cần dốc
cạn ư vậy?
Nói
thật ra, các pháp môn Đại Thừa pháp nào cũng
đều viên diệu, nhưng do căn cơ có sống -
chín, duyên có cạn - sâu, nên lợi ích thành ra có dễ
đạt và khó đạt! Thiện Đạo là hóa thân
của Phật Di Đà, Ngài dạy Chuyên Tu v́ sợ hành nhân
tâm chí bất định, bị các pháp môn khác đoạt
chí. Dẫu cho khắp tất cả từ Sơ, Nhị,
Tam, Tứ Quả thánh nhân và các Bồ Tát Trụ, Hạnh,
Hướng, Địa, Đẳng Giác, cuối cùng là
mười phương chư Phật tận hư không,
trọn pháp giới, hiện thân phóng quang khuyên bỏ
Tịnh Độ, giảng cho diệu pháp thù thắng
cũng chẳng chịu nhận, bởi thoạt
đầu đă phát nguyện chuyên tu Tịnh Độ,
chẳng dám trái nghịch nguyện ấy. Ḥa thượng
Thiện Đạo đă sớm biết người
đời sau đứng núi này trông núi nọ, chẳng có
tí ti định kiến nào nên mới nói như vậy ḥng
giết chết cái tâm chụp giựt cuồng vọng
cứ luôn mong mỏi, ngưỡng mộ ḷng ṿng! Ai
biết lấy ngài Thiện Đạo làm thầy mà
chẳng thuận theo. Người thuận theo [ư tổ
Thiện Đạo] chỉ e không thấy nhiều. Há
chẳng phải là ác nghiệp đời trước sai
khiến đến nỗi pháp khế cơ khế lư
nhất ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ, thành
ra kẻ nghiệp thức mờ mịt không Thiền, không
Tịnh Độ, luân hồi không có gốc rễ
để nương tựa đó ư? Buồn thay!
Tôi
thấy tâm ông tha thiết muốn học hỏi, nhưng
nếu thường gởi thư hỏi han, đôi bên
đều bị phiền rộn. Do vậy, hỏi Sư
Trân có hay không những sách giảng về Giáo Thừa Pháp
Số[60]
để thỉnh ắt sẽ có cái để tra
duyệt. Sách Phiên Dịch Danh Nghĩa thuộc về
[loại giải thích] danh nghĩa tiếng Phạn. Thích
Thị Kê Cổ Lược là sách chuyên chép sự tích
nhiều đời trong nhà Phật. Duyệt Tạng Tri Tân
là sách tóm tắt đại ư của các kinh luận, ngữ
lục và những trước thuật trong Đại
Tạng. Long Tạng Vựng Kư chính là mục lục
của Đại Tạng Kinh đời Thanh. Những sách
ấy đều thuộc loại không thể không có. Có
những cuốn sách ấy như có một vị thầy
theo sát bên cạnh, hễ hỏi liền đáp.
Người
chưa đoạn Phiền Hoặc cần phải y theo
mặt Sự để sám hối, khẩn thiết
đến cùng cực th́ diệu lư chẳng thể nghĩ
bàn sẽ triệt để phô bày trọn vẹn. Nếu
bỏ Sự nói Lư sẽ chỉ được lợi ích
bánh vẽ; lúc nói th́ có, lúc dùng th́ không. Lại như trong
những tập một, hai, ba, bốn của Cao Tăng
Truyện, Cư Sĩ Truyện, Tỳ Kheo Ni Truyện,
Thiện Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục đều ghi chép những lời lẽ,
hành vi tốt đẹp của cổ đức.
Đọc đến tâm sẽ tự vui sướng
ngưỡng mộ, trọn chẳng đến nỗi
được chút ít đă cho là đủ, tự cam
phận ở nơi hèn kém, mất mát lớn lao. Hoằng
Minh Tập, Quảng Hoằng Minh Tập, Đàm Tân Văn
Tập, Chiết Nghi Luận, Hộ Pháp Luận, Tam Giáo B́nh
Tâm Luận, Tục Nguyên Giáo Luận, Nhất Thừa
Quyết Nghi Luận đều là những sách hộ tŕ
giáo pháp. Đọc đến chẳng bị ma tà,
ngoại đạo mê hoặc, lại c̣n phá
được thành lũy tà kiến của chúng. Những
sách này đọc đến có thể làm cho chánh kiến
kiên cố, có thể hỗ trợ chứng minh cho kinh giáo.
Chớ nói ḿnh nhất tâm duyệt kinh, gác những sách
ấy ra ngoài không hỏi tới, kẻo tri kiến sai
biệt chẳng mở mang, gặp địch ắt
bị đánh bại nhục nhă vậy. Những
điều tŕnh bày trong thư có những chỗ chưa nêu
ra, nhưng nếu chú tâm suy xét th́ những ư nghĩa ấy
sẽ tự hiện rơ.
Lại
nữa, Nhị Không chính là Ngă Không và Pháp không. Ngă Không có
nghĩa là đối với Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức, hiểu rơ dù Sắc hay Tâm (Sắc là
sắc pháp, bốn thứ sau chính là tâm pháp) đều do nhân duyên ḥa hợp sanh ra.
Nhân duyên tách rời bèn diệt, trọn không có được
cái chủ tể thật ngă. Pháp Không là đối với
pháp Ngũ Ấm, hiểu rơ Thể của chúng hoàn toàn là
không. Tâm Kinh nói “soi thấy năm Uẩn đều không”
chính là nghĩa này. Lư Pháp Không này chính là Thật
Tướng. Do phá vô minh, chứng Thật Tướng, nên
nói “độ hết thảy
khổ ách”. Thật Tướng là Pháp Thân Lư Thể,
bỏ ĺa trọn vẹn các tướng sanh, diệt,
đoạn, thường, không, có v.v…, là gốc của
hết thảy các tướng, là chân thật nhất. V́
thế gọi là Thật Tướng. Thật Tướng
ấy chúng sanh và Phật cùng có, nhưng phàm phu, Nhị
Thừa do mê trái nên chẳng thọ dụng
được. Giống như minh châu trong áo, do không biết
nên chẳng tránh khỏi bần cùng, chứ không phải là
phàm phu đang mê và hàng Nhị Thừa chứng Chân
Đế không có Lư Thể ấy.
Hễ
ngộ th́ rành mạch phân minh như mở cửa thấy
núi, vẹt mây thấy mặt trăng. Lại như
người mắt sáng đích thân thấy đường
về, cũng như kẻ sĩ nghèo lâu ngày chợt
mở được kho báu. Người chứng như
theo đường về nhà, khỏi phải đi
nữa, ngồi yên ổn, cũng như nắm
được kho báu này tùy ư thọ dụng. Về ngộ
th́ đại tâm phàm phu giống như chư Phật, c̣n
chứng th́ Sơ Địa chẳng biết
được chỗ cất chân, hạ chân của
Nhị Địa. Hiểu được nghĩa ngộ
và chứng này tự nhiên chẳng khởi Tăng
Thượng Mạn, chẳng bị thoái khuất mà cái tâm
cầu sanh Tịnh Độ dẫu vạn con trâu cũng
khó kéo lại được.
Lại
nữa, phàm sao lục văn tự ắt phải xét
kỹ càng, tinh tường, chẳng được làm qua
loa cho xong việc. Bài tựa sách Di Đà Yếu Giải,
lúc soạn xong, đại sư Ngẫu Ích bỏ đi
những câu chữ chưa trọn vẹn. Nhưng câu cuối
[trong bài tựa], đại sư đă viết: “Chẳng dám đua chen khác
với hai vị[61],
cũng chẳng bất tất phải ép cho giống
với hai vị. Ví như nh́n nghiêng thành chỏm, nh́n ngang
thành rặng đều là chân cảnh Lô Sơn bất
tận, không cần phải bỏ đi cái nh́n Lô Sơn
của riêng mỗi người”. Khi ấy, Sư
lược bỏ thí dụ này. Chữ Tất trong “bất tất phải ép cho
giống với hai vị” bị sửa sai thành chữ
Cảm (dám), bèn thành ngă mạn tự đại, miệt
thị hai vị kia, ngụ ư: Trong những lời chú
của hai vị có những điều trái nghịch
với kinh, chẳng dám nương theo những ư nghĩa
ấy, đâm ra tương phản với thí dụ tiếp
theo đó. Quả thật là oan uổng cho ngài Ngẫu Ích,
khiến hậu học bị lầm lạc, khiến cho người
đọc đến phải đau ḷng buốt óc!
Nay đang là lúc nào? Nam Bắc đánh
lẫn nhau, trong ngoài chống chọi nhau, ba bốn năm
nay, người chết bốn năm ngàn vạn, kể
từ khi có loài người đến nay, chưa từng
nghe thê thảm như thế. Đă thế lại c̣n gió lốc,
nước ngập, động đất, ôn dịch
xảy ra liên miên khắp mọi nơi. Lại thêm lũ
lụt, hạn hán, không một năm nào chẳng kèm thêm
những tai nạn ấy. Vật giá đắt đỏ
hơn trước mấy lần, ngay trong lúc như
vậy, may sao c̣n được sống, dám chẳng
kiệt lực chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu
được văng sanh Tịnh Độ ư? Dám do may
được thân người bèn phóng túng tâm chí, chẳng
chuyên chú một pháp, phù phiếm, ơ hờ phí sức
nơi pháp môn chẳng khế cơ, khế thời ư?
Ví như một hơi thở ra không hít vào được,
muốn lại được nghe pháp môn thẳng tắt
này, chỉ sợ rằng chẳng được may
mắn như thế nữa đâu!
32. Thư trả lời
cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ sáu)
Quang đă không có
học vấn, lại không có sức lực, nếu nói quá
nhiều mắt bèn đỏ au, khó xem được
chữ, sao có thể giảng kinh? Huống hồ hiện
thời c̣n bận chuyện in sách, vạn phần chẳng
rảnh tay giúp người khác. Dẫu không bận
chuyện ǵ cũng chẳng thể đáp ứng
được chuyện này. Lời của ông nói chính là v́
h́nh hài gỗ đất mà thếp vàng, nghe rất hay, c̣n đối
với người hiểu thấu suốt th́ chẳng
đáng nửa đồng. Từ nay về sau chẳng nên
nói như vậy nữa, để Quang tôi khỏi phải
hổ thẹn, kẻo người ta biết đâm ra chê
cười. Người học đạo nếu đạo
niệm nặng một phần th́ phàm t́nh nhẹ
được một phần. Đấy là cái thế
tất nhiên. Nhưng người chưa đoạn
Hoặc thường phải nỗ lực. Nếu vừa
phóng túng, bệnh cũ nhất định sẽ lại
nổi dậy.
Người đoạn sạch
Kiến Tư Hoặc mới có thể khéo tùy ư bay nhảy,
không cần bó buộc nhiếp tŕ. Nhà nào muốn hưng
thạnh th́ gia quy nhà ấy ắt phải nghiêm nhặt
từ đầu. Nhà nào muốn lụn bại, ắt gia
quy nhà ấy phải suy đồi, phế bỏ ngay
từ đầu. Muốn con em thành người th́
phải bắt đầu từ hành vi của chính ḿnh có
phép tắc, làm gương cho con em. Đấy là lư nhất
định. Nay muốn khởi sự từ chỗ
bớt việc, bớt tốn sức nên lấy nhân
quả báo ứng làm câu đầu tiên để bắt
đầu, khiến cho tập quen thành tánh, ngơ hầu sau
này chẳng đến nỗi phạm phải sai sót
lớn. Đấy chính là diệu pháp bậc nhất
để yên đời, làm cho dân lương thiện,
tề gia, dạy con.
Trí Giả đại sư
được đời xưng tụng là Thích Ca hóa thân,
ai biết được sở chứng của Ngài.
Nhưng Phật v́ chúng sanh hiện thân làm gương nên
tự mang thân phận phàm phu, nói: “Nếu ta không lănh chúng, ắt tịnh sáu căn”.
Dùng chính ḿnh để răn người, hiện thân
thuyết pháp vậy. Do đại sư thoạt
đầu cầu đoạn Hoặc chứng chân, mong dự
vào những bậc Địa, Đẳng (Địa là Thập Địa,
Đẳng là Đẳng Giác), do hoằng pháp lợi sanh nên bỏ
lỡ công phu Thiền Định của chính ḿnh, v́
thế chỉ chứng được địa vị
Ngũ Phẩm Quán Hạnh trong Viên Giáo mà thôi. Do vậy, Ngài
nói: “Tổn ḿnh lợi
người chỉ chứng Ngũ Phẩm”.
Ngũ Phẩm chính là tùy hỷ,
đọc tụng, giảng nói, kiêm hành lục độ,
chánh hành lục độ, năm thứ như vậy.
Địa vị Ngũ Phẩm trong Viên Giáo viên ngộ Tạng
tánh (Tạng tánh là
diệu lư Thật Tướng. Khi tại triền (c̣n
triền phược) th́ gọi là Như Lai Tạng; khi
thoát khỏi triền phược th́ gọi là Pháp Thân.
Triền là vô minh, do vô minh chưa đoạn nên gọi là “tại triền”), sở ngộ trọn
không khác ǵ Phật. Khuất phục trọn vẹn
Kiến Tư, Vô Minh, Trần Sa phiền năo, nhưng
chưa đoạn được Kiến Hoặc. Nếu
đoạn được Kiến Hoặc sẽ chứng
Sơ Tín. Cho đến Thất Tín, đoạn sạch
Tư Hoặc, thật sự chứng sáu căn tùy ư
chẳng nhiễm sáu trần; nên gọi là địa
vị “lục căn thanh
tịnh”. Lại trong mỗi một căn có đủ
công đức của sáu căn, sáu căn làm Phật
sự, v́ thế c̣n gọi là “lục
căn hỗ dụng” (sáu căn dùng lẫn cho nhau)
như trong phẩm Pháp Sư Công Đức kinh Pháp Hoa
đă nói, ngài Nam Nhạc Tư thị hiện chứng
địa vị này. Người thuộc địa
vị này chẳng những có đại trí huệ mà c̣n có
đại thần thông, thần thông ấy Tiểu
Thừa A La Hán chẳng thể sánh bằng. V́ thế ngài
Nam Nhạc lúc sống cũng như sau khi mất,
đều có những chuyện chẳng thể nghĩ bàn
khiến cho kẻ thấy, người nghe đều phát
khởi tín tâm.
Nam Nhạc lẫn Trí Giả
đều là Pháp Thân đại sĩ, địa vị các
Ngài thật sự chứng không ai ḍ được mức
cao thâm. Chẳng qua là muốn khuyên hậu thế chuyên tinh
học đạo nên thị hiện thấp kém như
thế, há phải họ thật sự chỉ chứng
địa vị Thập Tín Tương Tự hay Ngũ
Phẩm Quán Hạnh mà thôi! Hạng phàm phu sát đất
chúng ta sao kham bắt chước các Ngài, chúng ta chỉ nên
khéo thô tŕ trọng giới[62],
nhất tâm niệm Phật, kiêm tu những điều
thiện thế gian để làm Trợ Hạnh,
nương theo cách của các vị Vĩnh Minh, Liên Tŕ mà hành
th́ không ǵ chẳng được lợi! Tự ḿnh
cải ác tu thiện, nhất tâm niệm Phật.
Phàm với hết thảy những
người thân thiết và hữu duyên cũng nên đem
pháp này dạy cho. Những ai phản đối nên sanh ư
tưởng thương xót, chẳng được
cưỡng bức họ phải hành, đè đầu ḅ
bắt gặm cỏ, muôn vàn chẳng nên! Nếu nói ta
nhất tâm niệm Phật, mặc kệ mọi việc,
chẳng những trở ngại nơi pháp thế gian mà
c̣n chẳng phù hợp Phật pháp. Hành xử theo đúng địa
vị mới nên. Khuyên người niệm Phật tu hành,
cố nhiên là công đức bậc nhất, dưới là
vợ con, anh em, trên là cha mẹ, ông bà đều nên khuyên
lơn. Nếu chẳng thể uyển chuyển
phương tiện trong gia đ́nh khiến cho thân thuộc
của ḿnh cùng được lợi ích liễu sanh thoát
tử chẳng thể nghĩ bàn này th́ chính là bỏ
gốc theo ngọn, lợi cho kẻ sơ chẳng tính
lợi cho người thân, há có nên chăng?
Công khuyên người niệm Phật
sách Tịnh Độ nói rất nhiều, chỉ sợ phí
bút mực, nên chẳng viết cặn kẽ. Ông và Sư
Thọ đă tu tịnh nghiệp, chỉ nên tại gia
niệm Phật, chẳng nên thường đến
Phổ Đà. C̣n những danh sơn khác nếu có triều
yết, cũng chẳng qua là ngắm phong cảnh núi non mà
thôi. Sao không ở nhà tu tŕ, chẳng phí tiền tài, thời
gian, chẳng nhọc thân tâm bôn ba có tốt hơn không?
Lại kẻ ngu vô tri lấy tai làm mắt[63], một
người bịa chuyện, truyền đến vạn
người thành thật, đồn xằng Địa
Tạng Bồ Tát chính là thái tử nước Tiêm La (Thái
Lan). Đến tháng Bảy nhuận, quốc vương
nước ấy đích thân đến mở cửa tháp
thờ nhục thân. Đấy toàn là những chuyện
không chứng cớ, trọn chẳng nên coi đó là
thật. Đợi tới lúc ấy mà đến th́ do người
đông đất chật, có thể bị xô đẩy,
chen lấn, chịu đủ mọi đau khổ.
Thật ra, Ngài là vương tộc nước Tân La[64] xuất gia, họ
Kim tên Kiều Giác, vào thời Đường Huyền Tông
đến núi Cửu Hoa, sống ở đó mấy
mươi năm, sau tọa thoát (ngồi mà tịch),
nhục thân bất hoại, đem toàn thân nhập tháp,
trọn chẳng có chuyện mở cửa tháp.
Trong thời Đường, Cao Ly
gồm ba nước: Một là Cao Câu Ly, hai là Tân La, ba là
Bách Tế. Sau này Cao Câu Ly thôn tính hai nước kia, nên
chỉ gọi là Cao Ly. Cận đại, kẻ ngu không
biết đến nước Tân La, bèn ngoa truyền là Tiêm
La. Thời Đường cũng chưa có danh xưng Tiêm
La. Danh xưng này gồm hai nước: Một là
nước Tiêm (Siam), hai là nước La Hộc (Lavo)[65]. Sau này hợp thành
một nên mới gọi là Tiêm La. Sự tích của vị
Tăng ấy được chép đầy đủ trong
Cửu Hoa Chí và Tống Cao Tăng Truyện.
Nếu muốn lễ pháp nhan, nên
chọn nhằm lúc vắng vẻ. Nhằm đúng kỳ
dâng hương ở Cửu Hoa sơn, khách dâng hương
đông đảo gấp trăm lần Phổ Đà,
huống chi năm nay lại có lời đồn ấy,
người lên núi lễ không biết đông gấp
mấy lần thường kỳ. Huống chi tháp xây
ở chỗ cao, nếu trước tháp có chừng hai ba
trăm người, ắt sẽ có chuyện chen lấn,
xô đẩy. Nếu không hiểu chuyện, mang theo phụ
nữ, do chen lấn bị táng thân mất mạng, hoặc
cũng khó giữ ǵn. Há có nên chẳng y theo pháp ngôn, chuyên tin
lời đồn, tự chuốc lấy phiền năo? Quang
thấy hai vị lệnh tôn tuổi đă cao, sợ các
vị không biết lợi - hại, cứ cho như
vậy mới là tận hiếu, nên khôn ngăn dài ḍng, mong
hăy xét kỹ th́ may mắn thay!
33. Thư gởi nữ
sĩ Từ Phước Hiền
Tôi ăn bám Phổ Đà hơn hai
mươi năm, trọn chẳng giao thiệp cùng hai chúng
tại gia. Do lăo hữu Chí Ngu trụ tích[66] tại Từ Nham nên
thường gặp nhau tṛ chuyện. Gần đây,
thầy Phước Nghiêm đến đây chưa
đầy một tuần, thường đến chỗ
tôi, nhắc đến sự trinh tháo của bà liền
khởi ḷng thương xót,. Nhân đấy, tôi bèn an ủi
rằng: “Tuy bà ta trinh liệt đáng phong tặng, nhưng đáng
tiếc là không biết đường tu ra sao? Tôi sẽ
tŕnh bày đại lược những điểm
cương yếu để bà tùy phận tùy sức,
dốc ḷng tu tịnh nghiệp”.
Thầy Nghiêm bèn lễ thỉnh khẩn thiết, nhân
đó, tôi bảo:
- Phật pháp chính là pháp vốn có trong
tâm hết thảy chúng sanh. Tam thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát), lục phàm (thiên, nhân, A Tu La, địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh) đều nên tuân hành.
Tại gia hay xuất gia đều có thể thọ tŕ.
Huống chi thân nữ nhiều chướng ngại,
chuyện ǵ cũng không được tự do. Ĺa quê sang
tỉnh khác, dễ chuốc lấy lời chê trách, gièm
xiểm, hủy nhục của người ngoài. V́ lo
nghĩ đến điều ấy, [theo tôi] bà chỉ nên ở
nhà tŕ giới niệm Phật, quyết chí cầu sanh
Cực Lạc thế giới, trọn chẳng nên xa ĺa quê
nhà, xuất gia làm ni. C̣n như nghiên cứu kinh giáo
đến cùng tột, tham phỏng minh sư quyết
định là phận sự của nam tử, nữ nhân
chẳng nên bắt chước! Nữ nhân chỉ nên
dốc ḷng tu Tịnh nghiệp, chuyên tŕ Phật hiệu.
Nếu thật sự có thể
nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối, tự nhiên trong đời này tự chứng
Niệm Phật tam-muội, lâm chung văng sanh Thượng
Phẩm. Dẫu chưa thể tự chứng tam-muội cũng
được cao dự hải hội, hầu cận Di
Đà măi măi. Do đấy, tự chứng Vô Sanh, khôi
phục tâm tánh vốn có, nên vô biên giáo hải thảy
đều hiểu rơ, như gương báu đặt trên
đài, muôn h́nh ảnh đều hiện. Sau đấy,
nương vào từ lực Phật và bổn nguyện
của ḿnh chẳng ĺa An Dưỡng, trở vào Sa Bà, dùng đủ
mọi phương tiện độ thoát chúng sanh, mong
hết thảy hữu t́nh cùng lên Liên Bang, đều
chứng Vô Sanh, ngơ hầu chẳng phụ một phen tâm
quyết liệt tu tŕ, đáng gọi là hoa sen trong lửa,
là bậc trượng phu của nữ giới. Phàm tu Tịnh
nghiệp, phải lấy quyết chí cầu sanh Tây
Phương làm gốc. Pháp môn Tịnh Độ lấy ba
pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông.
Nói đến Tín th́ phải biết
Sa Bà là khổ, khổ không nói nổi! Cực Lạc là vui,
vui không thể ví. Cái khổ trong Sa Bà là sanh, lăo, bệnh,
tử, yêu thương phải chia ĺa, chán ghét cứ
phải gặp gỡ, cầu không được, Ngũ
Ấm (Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức) hừng hực (Ngũ Ấm hừng hực
nghĩa là chúng sanh đối với năm Ấm Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức khởi Hoặc tạo
nghiệp, như lửa cháy bừng bừng, chẳng
thể ngưng dứt. Cái khổ này thuộc về nhân chiêu
cảm quả khổ, bảy thứ trước là
quả khổ được chiêu cảm. Cái khổ trong
Sa Bà tuy nhiều hơn cát sông Hằng, nhưng tám thứ
khổ này bao gồm trọn hết không sót. Các nỗi
khổ đích thân đă trải qua, nên không cần phải
giải thích chi tiết).
Sự vui trong Cực Lạc nếu
ước theo căn thân th́ hoa sen hóa sanh, trường sanh
bất tử, mang thân nam, trọn không có h́nh dáng nữ,
chẳng nghe đến cái tên ác đạo, huống ǵ
thật có! Ước theo khí thế giới th́ vàng ṛng làm
đất, bảy báu làm ao, hàng cây kín trời, lầu gác
trụ trên không. Nghĩ đến áo bèn có áo, nghĩ
đến ăn được ăn, phàm những thứ
ǵ ḿnh thọ dụng không ǵ chẳng được như
ư, nhưng những ǵ dùng đến đều là hóa
hiện; không như cơi này phải do sức người
tạo tác mới thành. Di Đà đạo sư
tướng hảo, quang minh vô lượng vô biên, vừa
thấy từ dung liền chứng Pháp Nhẫn. Huống
hồ c̣n có Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh hải hội,
mỗi vị đều phóng tịnh quang cùng tuyên diệu
âm. V́ thế, tuy là phàm phu đầy dẫy phiền năo,
nghiệp lực đầy thân nhưng nếu như tín
nguyện chân thành, khẩn thiết liền được
Phật từ nhiếp thọ. Vừa văng sanh, phiền
năo, ác nghiệp bèn bị tiêu diệt triệt để,
công đức, trí huệ rốt ráo hiện tiền. Tin
được như thế th́ gọi là chân tín. Muốn
biết tường tận nên đọc kỹ kinh A Di
Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật, những kinh này được gọi chung
là Tịnh Độ Tam Kinh, chuyên giảng về duyên
khởi, sự lư Tịnh Độ.
Những kinh Đại Thừa khác
đều nói kèm Tịnh Độ, nhưng kinh Hoa Nghiêm là lúc
Như Lai mới thành Chánh Giác v́ bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ xứng tánh
giảng thẳng vào diệu pháp Nhất Thừa. Cuối
cùng Thiện Tài đồng tử tham học khắp các
thiện tri thức, chứng ngang với chư Phật,
bèn được Phổ Hiền Bồ Tát dạy cho
mười đại nguyện vương, khiến cho
Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng hồi hướng
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, ngơ
hầu viên măn Phật quả. Trong Quán Kinh, Hạ Phẩm
Hạ Sanh Ngũ Nghịch Thập Ác đủ mọi
chuyện bất thiện, lúc lâm chung, tướng
địa ngục hiện, có thiện tri thức dạy
niệm Phật. Người ấy liền vâng lời
dạy, xưng niệm Phật danh, chưa đủ
mười tiếng liền thấy hóa Phật x̣e tay,
tiếp dẫn văng sanh.
Kinh Đại Tập chép: “Đời
Mạt Pháp ức ức người tu hành, hiếm có
một kẻ đắc đạo, chỉ có niệm Phật
mới thoát khỏi sanh tử”. Do vậy, biết
một pháp Niệm Phật chính là đạo để
thượng thánh hạ phàm cùng tu, là hạnh chung để
hành của mọi người dù ngu hay trí, hạ thủ
dễ, thành công cao, dùng sức ít, hiệu quả nhanh chóng.
Do chuyên cậy vào Phật lực, nên lợi ích thù
thắng, là đạo pháp siêu việt đường
lối thông thường. Người xưa nói: “Học
đạo nơi các môn khác như con kiến ḅ lên núi cao,
niệm Phật văng sanh như căng buồm xuôi gió,
thuận nước”. Có thể gọi là khéo h́nh dung
nhất!
Nếu muốn nghiên cứu kinh A Di
Đà th́ có bản Yếu Giải do đại sư
Ngẫu Ích soạn, lư sự đều đạt
đến tột bậc, là bản chú giải bậc
nhất kể từ khi Phật đă giảng kinh này. Hay
khéo, xác đáng cùng cực, quả thật dẫu cổ
Phật tái sanh nơi đời chú giải lại kinh này cũng
không thể hay hơn được! Chớ có xem
thường, hăy nên tin nhận kỹ càng. Kinh Vô
Lượng Thọ có bản sớ giải của pháp
sư Huệ Viễn đời Tùy, giải thích ư nghĩa
theo kinh văn rất trong sáng, găy gọn.
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh
có bản Tứ Thiếp Sớ của ḥa thượng
Thiện Đạo, do muốn độ khắp ba căn
nên đa phần Ngài ước theo sự tướng mà
phát huy. Cuối chương Thượng Phẩm
Thượng Sanh, Ngài lại phát huy sự hơn - kém
giữa hai cách Chuyên Tu và Tạp Tu, khiến [người
đọc] sanh tín tâm kiên cố, chân thật: Dẫu Thích Ca
và chư Phật hiện thân bảo bỏ pháp Tịnh
Độ này, tu những pháp môn khác, cũng chẳng
đổi dời ư chí đôi chút. Có thể nói lời
ấy chính là kim chỉ nam cho hành giả Tịnh Độ
vậy. Như Quán Kinh Sớ Diệu Tông Sao của tông Thiên
Thai đế lư cực viên dung, nhưng người trung
hạ căn chưa thể được lợi ích. V́
thế chẳng bằng Tứ Thiếp Sớ độ
khắp ba căn, lợi căn lẫn độn căn
cùng được lợi ích.
Đă biết những nghĩa lư
như trên vừa nói th́ phải nương theo đó mà tin
tưởng chắc chắn, tự ḿnh nhận biết,
tin tưởng được như thế. Nếu
như ḿnh không thấy được như thế th́
cũng nên tin tưởng như thế. Ngửa tin lời
Phật, trọn chẳng nên v́ phàm t́nh suy lường không được
rồi nẩy sanh mảy may nghi niệm th́ mới gọi
là chân tín. Đă sanh ḷng tin rồi, ắt phải phát
nguyện: Nguyện ĺa Sa Bà như đang bị tù mong thoát
khỏi lao ngục; nguyện sanh Cực Lạc như
đứa con cùng quẫn mong về lại cố
hương.
Nếu trước khi
được sanh về Tịnh Độ, dẫu
được trao ngôi vua trong cơi trời cơi người
cũng nên coi đó là nhân duyên đọa lạc, trọn
chẳng có một niệm mong mỏi, hâm mộ. C̣n [những
chuyện] như đời sau chuyển nữ thành nam,
xuất gia từ tấm bé, nghe một hiểu ngàn,
đắc Đại Tổng Tŕ, cũng nên coi như là
đường tu đi vào ngơ rẽ, tâm trọn chẳng có
một niệm mong mỏi. Chỉ muốn lúc lâm chung
được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây
Phương. Đă được văng sanh liền liễu
sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, ở vào địa
vị Bất Thoái, chứng Vô Sanh Nhẫn. Ngoảnh
lại nh́n những chuyện làm vua trời người và
xuất gia làm Tăng, không biết đến Tịnh
Độ, tu các pháp môn khác, trải bao kiếp nhọc
nhằn, không do đâu được giải thoát, giống
như lửa đóm sánh cùng mặt trời rạng
ngời, tổ kiến sánh cùng Thái Sơn, buồn bă khôn
ngăn, thương xót khôn cầm! V́ thế người
tu Tịnh Độ trọn chẳng thể cầu mong
phước lạc nhân thiên trong đời sau và xuất
gia làm Tăng v.v…
Nếu tâm có mảy may mong cầu
đời sau th́ chính là không chân tín, nguyện thiết,
bị cách ngăn với thệ nguyện của Phật
Di Đà, chẳng thể cảm ứng đạo giao, chẳng
được Phật tiếp dẫn, biến diệu
hạnh thù thắng chẳng thể nghĩ bàn này thành cái
nhân phước báo hữu lậu nhân thiên. Huống chi lúc
hưởng thụ ắt tạo ác nghiệp! Đă
tạo ác nghiệp, khó tránh khỏi ác báo, như bỏ
chất độc trong Đề Hồ có thể giết
người. Chẳng khéo dụng tâm c̣n tệ hơn
thế. Phải triệt để chém đứt những
ư niệm ấy mới mong được lợi ích hoàn
toàn nơi Tịnh Độ, toàn thân thọ dụng. Đă
có chân tín, nguyện thiết, ắt phải chí tâm chấp
tŕ sáu chữ thánh hiệu “nam mô A Di Đà Phật”, bất
luận đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, im
lặng, mặc áo, ăn cơm, và lúc đại tiểu
tiện v.v… đều chẳng ĺa sáu chữ hồng danh (hoặc tŕ bốn chữ
cũng được), ắt phải dốc toàn tâm là Phật,
toàn Phật là tâm, tâm - Phật không hai; tâm - Phật như
một. Nếu có thể niệm đâu chú tâm đó,
niệm đến cùng cực, bao t́nh kiến mất
hết, tâm không, Phật hiện, th́ trong đời này
tự có thể chứng được tam-muội.
Đến lúc lâm chung, sanh vào Thượng Thượng
Phẩm, có thể nói là đă tu tŕ đến cùng cực vậy.
Ngay trong sanh hoạt thường ngày,
với tất cả những điều thiện nhỏ
nhặt và các thiện căn như tụng kinh, lễ bái…
đều đem những công đức ấy hồi
hướng văng sanh. Như thế th́ hết thảy
hạnh môn đều thành trợ hạnh cho Tịnh
Độ, như gom các trần thành đất, tụ các
ḍng nước thành biển, rộng lớn sâu thẳm, ai
cùng tột được! Nhưng phải phát Bồ
Đề tâm, thệ nguyện độ sanh, tất
cả công đức tu tŕ hồi hướng cho khắp pháp
giới chúng sanh bốn ân ba cơi. Giống như đổ
dầu vào lửa, như mạ gặp mưa; đă
kết pháp duyên sâu xa cùng hết thảy chúng sanh lại c̣n
có thể mau thành tựu hạnh Đại Thừa thù
thắng cho chính ḿnh. Nếu không biết nghĩa này th́ là
kiến giải tự lợi của phàm phu, Nhị
Thừa, dẫu tu diệu hạnh này, chỉ cảm
được quả hèn kém.
Tuy hết thảy thời, hết
thảy lúc niệm Phật đều không trở ngại,
nhưng phải thường nên kiêng dè; coi tượng
Phật giống như Phật sống, coi kinh Phật,
lời Tổ giống như Phật, Tổ đang
hướng về ḿnh thuyết pháp, chẳng dám ôm ḷng hoài
nghi, khinh mạn tí nào. Dẫu hiếu tử đọc di
chúc, trung thần vâng sắc chỉ cũng chẳng thể
hơn được. Trong lúc b́nh thời niệm Phật,
niệm ra tiếng hay niệm thầm tùy ư, c̣n lúc ngủ
nghỉ hoặc đại tiểu tiện, tắm
gội, rửa chân v.v…và đi qua chỗ hôi nhơ,
chẳng sạch đều nên niệm thầm, chớ nên
niệm ra tiếng. Niệm ra tiếng là không cung kính,
niệm thầm công đức cũng thế.
Tôi thường nói muốn
được lợi ích nơi Phật pháp phải
hướng về cung kính mà cầu. Có một phần cung
kính ắt tiêu một phần tội nghiệp, tăng
một phần phước huệ. Có mười phần
cung kính, tiêu được mười phần tội
nghiệp, tăng được mười phần
phước huệ. Nếu trọn chẳng cung kính th́ dù
có trồng viễn nhân, nhưng cái tội khinh nhờn
chẳng thể tưởng tượng được!
Nay những kẻ tại gia đọc kinh Phật
đều phạm phải những bệnh ấy. V́
thế, đối trước những kẻ hữu duyên
phải thường ra rả nói. Niệm Phật cần
phải nhiếp tâm, niệm từ tâm khởi, tiếng
từ miệng phát ra, đều phải mỗi câu mỗi
chữ phân minh rành rẽ. Lại phải lắng tai nghe
kỹ, từng câu từng chữ nạp vào trong tâm. Nhĩ
căn đă nhiếp th́ các căn kia không cách chi rong
ruổi bên ngoài, mới ḥng mau đạt nhất tâm
bất loạn.
Đại Thế Chí Bồ Tát nói: “Nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối,
đắc tam-ma-địa ấy là bậc nhất”
chính là chỉ về điều này vậy. Ngài Văn Thù
nói: “Quay trở lại nghe nơi tự tánh, tánh thành vô
thượng đạo” cũng nhằm chỉ
điều này. Chớ bảo pháp Tŕ Danh là thiển cận
rồi bỏ bê, tu theo những pháp Quán Tượng, Quán
Tưởng, Thật Tướng. Phàm trong bốn cách
niệm Phật chỉ có Tŕ Danh là khế cơ nhất.
Tŕ đến nhất tâm bất loạn th́ diệu lư
Thật Tướng hiển lộ toàn thể, Tây
Phương diệu cảnh triệt để phô bày
trọn vẹn. Do tŕ danh chứng được Thật
Tướng, chẳng cần quán tưởng vẫn
thấy được thấu triệt Tây Phương.
Một pháp Tŕ Danh chính là huyền môn để nhập
đạo, là đường tắt để thành
Phật. Người đời nay giáo lư quán pháp chẳng
hiểu rơ. Nếu tu quán tưởng Thật Tướng
rất có thể bị ma dựa, khéo quá hóa vụng,
cầu thăng hóa đọa. Nên tu hạnh dễ hành,
ắt tự cảm được quả chí diệu.
Sách Tịnh Độ Thập Yếu
là do Ngẫu Ích đại sư dùng con mắt Kim Cang, từ
các sách xiển dương Tịnh Độ, chọn
lấy những quyển khế lư khế cơ cùng tột
không c̣n thêm ǵ được nữa. Thứ nhất là Di
Đà Yếu Giải do chính đại sư tự chú
thích, văn uyên thâm nhưng dễ hiểu, lư viên
đốn duy tâm, không c̣n ǵ tuyệt diệu hơn, hăy nên
thường nghiên cứu! C̣n chín tác phẩm sau không
cuốn nào chẳng lư viên măn, từ hay khéo, khế hợp
thời cơ sâu xa. Tuy chưa chắc có thể hoàn toàn
hiểu rơ từng cuốn, nhưng mỗi lần
đọc đều giống như uống tiên
đơn, lâu ngày chầy tháng xác phàm sẽ thành cốt tiên
vậy! (Đây là nói ví
von pháp môn mầu nhiệm, chẳng được hiểu
lầm là thành tiên!).
Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục chép tường tận những hạnh nguyện
của Phật Di Đà khi c̣n tu nhân cũng như công
đức khi đă chứng quả, và những chuyện
tự hành hóa tha của các vị Bồ Tát Quán Âm, Thế
Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ. Kế
đến chép sự tích văng sanh của Viễn Công (tổ
Huệ Viễn), Trí Giả và các đại tổ sư,
thiện tri thức cho đến đầu đời
Thanh và những chuyện tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, vua, quan,
sĩ thứ, phụ nữ, ác nhân, súc sanh niệm Phật
văng sanh. Lại c̣n chọn lọc những ngôn luận
thiết yếu chép vào từng truyện, ngơ hầu
người đọc có căn cứ để bắt
chước, không c̣n ǵ nghi ngờ, lấy cổ nhân làm
thầy, tận lực tu tịnh nghiệp. So với tham
phỏng tri thức lại càng chân thành, khẩn thiết
hơn!
Long Thư Tịnh Độ Văn
đoạn nghi khởi tín, phân môn chia loại, chia chẻ pháp
môn tu tŕ thành từng điều cặn kẽ, là cuốn
sách kỳ diệu dẫn dụ sơ cơ bậc
nhất. Nếu muốn lợi khắp hết thảy,
chẳng thể chẳng khởi đầu từ sách này. Ba
thứ trên đây và Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, Quán
Kinh Tứ Thiếp Sớ, tổng cộng năm loại;
trước đây, tôi đă bảo thầy Phước
Nghiêm thỉnh rồi gởi qua bưu điện, không
biết đă thỉnh được chưa? Nếu không,
hăy hồi âm để gởi lại. Có những cuốn
sách ấy, ắt biết trọn các nghĩa lư Tịnh
Độ, dẫu không đọc khắp các kinh, cũng
chẳng bị thiếu khuyết ǵ! Nếu chẳng
biết pháp môn Tịnh Độ, dẫu thâm nhập Kinh Tạng,
triệt ngộ tự tâm, muốn liễu sanh tử c̣n
chẳng biết phải mất mấy đại kiếp
mới ḥng măn được nguyện ấy! Thuốc A
Già Đà (Phạn
ngữ A Già Đà, Hán dịch là Phổ Trị (trị
khắp tất cả), trị được hết
thảy bệnh tật) trị được vạn bệnh. Không
biết điều này, đáng đau tiếc thay! Biết
nhưng không tu, hoặc tu chẳng chuyên tâm dốc ḷng, càng
đáng đau tiếc hơn nữa! Nữ nhân ra khỏi
cửa bị trở ngại lớn. Huống chi
độ dụng (chi phí hằng ngày) gian nan, càng thêm
bất tiện!
Đối với việc thọ
giới nếu nam tử xuất gia làm tăng th́ phải
vào chùa tập tành oai nghi mới biết quy củ của
chốn tùng lâm, giữ đúng oai nghi của Tăng th́ du
phương hành cước mới trọn không bị
trở ngại. Nếu không, thập phương tùng lâm không
cách nào ở được! Nếu là nữ nhân, nhà
cửa giàu có, tự ḿnh làm chủ th́ đến chùa
thọ giới cũng không phải là không được.
C̣n như gia cảnh khốn cùng, cần ǵ phải làm
như thế? Chỉ nên đối trước Phật
khẩn thiết, chí thành, sám hối tội nghiệp
bảy ngày, tự thệ thọ giới. Đến ngày
thứ bảy, đối trước Phật
xướng rằng: “Đệ tử là Phước
Hiền, thề giữ năm giới, làm măn phận Ưu
Bà Di (Ưu Bà Di, Hán
dịch là Cận Sự Nữ, nghĩa là đă thọ
năm giới, kham vâng thờ Phật. Măn Phận nghĩa
là cả năm giới đều tŕ). Suốt cuộc
đời không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục (nếu có vợ chồng th́ nói
là “không tà dâm”). Suốt cả một đời không vọng ngữ,
suốt cả một đời không uống rượu”.
Nói ba lần như thế, liền được
đắc giới. Nhưng phải tự chí tâm thọ
tŕ, công đức trọn chẳng hơn - kém. Chớ
bảo kẻ tự thệ thọ giới chẳng
đúng pháp. Điều này chính là thánh huấn của
Như Lai trong kinh Phạm Vơng.
Phổ Đà mùa Thu không truyền
giới. Truyền giới bắt đầu vào
thượng tuần tháng Giêng đến ngày Mười Chín
tháng Hai là viên măn. Nhưng tôi mong bà hăy ở yên tu tŕ tịnh
nghiệp, chớ nên bôn ba lặn lội. Nếu vẫn
chấp trước không đổi chính là không phân tốt -
xấu, trở ngại sự thanh tu của chính ḿnh,
phụ lời trung thực của lăo tăng. Tôi mong bà
đời này thành tựu đạo nghiệp, chứ trọn
chẳng ngăn trở pháp duyên của bà. Bà hăy nên suy
nghĩ kỹ, tự biết lấy - bỏ ra sao. C̣n
như chẳng thể xuất gia toan bỏ mạng này, ư
niệm ấy tuy trinh liệt, nhưng tâm ấy thật si
khờ. Tăng - ni đời nay ai có thể kham làm
thầy? Trụ tŕ am miếu cường bạo thật
nhiều. Bà là phận gái, bậc thượng sĩ khó
thể dạy dỗ, uốn nắn v́ phải tỵ
hiềm, kẻ hạ ngu bèn kiệt lực chạy theo
duyên do muốn tạo nghiệp.
Bà chỉ biết xuất gia làm ni là
giải thoát, không biết xuất gia làm ni là chướng
ngại. V́ thế chẳng ngại phiền toái, ân cần
bảo ban. Bà tưởng xả mạng là giải thoát
ư? Chẳng biết thức bị nghiệp lôi đi,
lại phải thọ sanh vào trong bụng ngựa cái,
lừa cái cũng không biết chừng! Muốn lại có
được thân người nữ, chỉ e không
được may mắn lớn lao như thế! Dẫu
lại được làm thân người nữ, hoặc
làm thân nam, hoặc làm vua trong loài người, vua cơi
trời, há dám bảo đảm gặp được
Phật pháp bèn tin nhận ư? Há dám chắc c̣n gặp
được pháp môn Tịnh Độ liễu thoát ngay
trong đời này ư? Dẫu cho gặp được,
sao bằng đời này nhẫn nại cố sống, báo
hết liền sanh về Tây Phương chẳng hơn
ư?
Từ lúc sanh ra đến nay, có ai v́
bà tính toán như vậy hay chăng? Nếu vẫn không tin
lời tôi tức là vong ân phụ nghĩa, cái khổ trong
tương lai c̣n vô lượng vô biên gấp bội ngày
nay. Nắm tay người ta kéo đi không được,
phải là tự người ta có chịu đi th́ mới
tương ứng. Có nghe lọt tai hay không? Mong bà hăy
tự suy xét! Cũng mong bà đem những lời này
bảo cho trinh nữ Phước Liên biết.
34. Thư gởi sư
Khang Trạch
Quang tôi túc nghiệp sâu
nặng, hiện hạnh yếu kém, dẫu [bế quan tu
luyện] trường kỳ trọn chẳng tiến
bộ; vọng niệm nhiều hơn Phật niệm,
nghiệp thức chướng lấp tri thức. Phật
từ thấm khắp mà tôi vẫn chẳng thể
được lợi ích. Mỗi lần nghĩ đến
lại hổ thẹn khôn ngằn. Dù Phật chẳng
nhiếp thọ kẻ dối trá đi nữa, Quang tôi
ắt phải đến chết mới cam ḷng thất
bại (Nguyên văn:
“dĩ tử kỳ bại liệt”. Đây là phương
ngôn của người phương Bắc. Liệt là công
oanh liệt, Bại là bại hoại (thua chết), như
Trương Tuần giữ Duy Dương, thề phá
giặc công lao oanh liệt, lấy cái chết làm hạn,
quyết chẳng thất bại. Nếu không chết
quyết định phải thành tựu công lao oanh liệt
ấy. Nếu chết mới chịu thất bại.
Đây là thành ngữ người phương Bắc
thường dùng, người phương Nam chưa
từng nghe đến nên phải ghi ư nghĩa này ở
đây), buồn
thương cầu gia bị; dẫu nay chưa
được gia bị, nhưng rốt cuộc cũng có
ngày được gia bị. Nay tôi tính từ ngày Ba Mươi
theo đại chúng đón năm mới, đến ngày
mồng Một bèn lại bắt đầu kỳ [bế
quan] cho đến khi Ḥa Thượng thoái ẩn mới thôi,
lại định chương tŕnh cho sau này, quyết
định phải tâm tương ứng Phật, mới
hơi yên dạ.
Hiện thời, pháp đạo ngày
càng thấy suy đồi, nghiêng ngửa, sự thể sau
này chẳng đành ḷng nói đến! Hăy nên dốc sức niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, ngơ hầu chẳng
uổng công xuất gia tu hành. Nếu không, e rằng sau này
muốn tu hành cũng không chỗ nào tu được.
Dẫu muốn cầu pháp cũng chẳng có pháp ǵ
để cầu. Biết làm sao đây? Trong kỳ hạn
[bế quan] sẽ đem Vô Lượng Thọ Kinh Sớ
đọc kỹ hai lần. Phần huyền đàm phán
định chung của bản sớ này tuy chẳng
bằng tông Thiên Thai, nhưng phần giải thích kinh
văn, ư nghĩa thật rơ ràng, không thể không xem!
Đọc Quán Kinh Sớ ba lượt. Ḥa thượng
Thiện Đạo chuyên lấy sự tướng b́nh
thường thực tiễn của pháp môn để
tiếp dẫn phàm phu đời Mạt, chẳng dùng
đến những pháp môn huyền diệu quán tâm
ước giáo, có thể nói là ḷng từ bi đến
mức cùng cực không ǵ hơn được nữa!
Ấy là v́ nghiệp thức chưa tiêu, tam-muội chưa
thành, dẫu có bàn đến lư tánh, cũng trọn thành bánh
vẽ!
Lại v́ cổ nhân nghe nói đến
lư tánh, “ngay nơi bản thể chính là” liền tiến
triển thật nhanh, người đời này nghe
đến những lời lẽ ấy bèn vứt bỏ
đạo nghiệp, chỉ muốn mặc t́nh mặc
sức coi nghiệp thức mờ mịt là thiên chân! Sách
này trong nước, ngoài nước sao lục, biên chép sai
lầm nhiều quá đỗi. Những chỗ ông
Dương Nhân Sơn chấm câu để đọc
đều thích đáng, c̣n như việc giảo chánh
những chỗ sai lầm cũng chỉ là đối
chiếu cho có lệ, chưa hoàn toàn chỉnh hết
những sai ngoa. Đối với những bản Di Đà
Sớ Sao đă khắc, Quang chẳng ngại mắc
tội, đại lược đính chánh. Biết nỗi
ḷng đau đáu của ngài Thiện Đạo càng thêm thân
thiết, nhưng chẳng dám được xem như ông
Dương và những vị hoằng pháp đương
thời. Nếu bọn họ xem đến lại khác nào
như [tôi] công khai nhục mạ người thông minh.
Đọc Văng Sanh Luận Chú một lượt, văn
nghĩa hiển lộ, rộng răi, thẳng tắt, trên
thật sự có thể kế tục ngài Khuông Lô,
dưới có thể dẫn khởi các vị Thiên Thai, Tây
Hà, Trường An[67] v.v... hăy nên
đọc kỹ. Những chữ sai lầm trong ba bộ
sách ấy đều ghi bên trái mỗi ḍng[68], đợi
đến hết kỳ hạn [bế quan] mùa Xuân năm
sau sẽ tŕnh cho thầy rơ.
35. Thư gởi pháp
sư Đế Nhàn[69]
Quang từ khi xuất
gia đến nay liền tin một pháp Tịnh Độ.
Nhưng do nghiệp chướng ngăn che, đă hai
mươi năm, phè phỡn sống thừa, miệng tuy
niệm Phật, tâm chẳng nhiễm đạo. Gần
đây được pháp sư dạy dỗ, khuyến
khích, thệ lập kỳ [tu tập ḥng] chẳng phụ
tấm ḷng đau đáu. Hiềm rằng hôn tán chen lẫn,
vẫn cứ lẩn quẩn y như cũ. Nhân đó
mỗi ngày đọc hơn mười tờ kinh
điển Tịnh Độ để phát khởi tâm
thắng tấn.
Thử dùng pháp môn Bảo Vương
Tùy Tức[70] liền nhận
thấy vọng niệm không c̣n trào dâng, ồ ạt như
trước. Nghĩ tu cách này lâu ngày ắt sẽ có lúc
sương tan, mây tiêu, thấy tỏ mặt trời. Lại
tra trong sách Lạc Bang Văn Loại, Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục đều có chép đoạn này. Nhân
đó, hiểu phép Thập Niệm của ngài Từ Vân
nhờ vào hơi thở để trói buộc cái tâm,
cội gốc là đấy, nhưng Liên Tông Bảo Giám[71]
cũng chép cách này. Đủ thấy cổ nhân đă
thấy trước cơ nghi của hậu thế, không
có cách này chẳng nhập được, bèn lập
sẵn pháp ấy. Nhưng cổ nhân không thường đem
cách ấy dạy người, bởi căn tánh con
người [khi ấy] c̣n thông lợi, hễ chịu phát
tâm bèn tự được nhất tâm.
Nhưng người đời nay
như Quang, chướng nặng căn độn, e
cả đời chẳng đạt được
nhất tâm bất loạn. V́ thế tŕnh bày chuyện ḿnh
để hỏi bậc cao minh nên hay không nên, xin bảo rơ
cho. Quang lại cho rằng chỉ một pháp này có
đủ cả Ngũ Đ́nh Tâm Quán[72]. Nếu có thể
niệm Phật theo hơi thở bèn gồm cả hai pháp
quán Sổ Tức, Niệm Phật. Nhiếp tâm niệm
Phật sẽ có thể dần dần đoạn
được nhiễm tâm, sân khuể ắt chẳng
lừng lẫy, hôn trầm, tán loạn vừa hết, trí huệ
hiện tiền, ngay cả ngu si cũng phá được,
lại chính là pháp môn nhiếp trọn sáu căn của ngài
Đại Thế Chí. Theo ngu ư cho rằng đối
với kẻ niệm Phật hờ hững hiện
thời, có lẽ không nên dạy họ tuân theo pháp này; sợ
rằng do không nhớ số bèn thành giải đăi.
Có ai chịu bằng ḷng tu tập th́
nếu không theo pháp này, e chắc chắn khó thành
tam-muội. Pháp sư nương nguyện lợi ích
người, tuy tự ḿnh chẳng dùng, nhưng nên v́
hậu học thử dùng để dạy cho thông sáng về
sau. Nếu là kẻ lợi căn, trong một thất, hai
thất quyết định được nhất tâm.
Như Quang là kẻ hôn ám, độn căn, thô lậu, hèn
kém, nghĩ phải mười năm, tám năm th́ có lẽ
sẽ được bất loạn!
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao
Quyển Thứ Nhất
(Phần 2 hết)
[1] Nhiễm
Bá Ngưu (tên thật là Nhiễm Canh), là người được
Khổng Tử ngợi khen về đức hạnh. Khi
Nhiễm Canh bị mù, Khổng Tử đến thăm, cầm
tay than: “Là số mạng
vậy! Người như thế này mà bị mù là v́
số mạng vậy!”
[2] Tử Hạ tên thật là Bốc Thương, tự là Tử Hạ. Sau khi Khổng Tử mất, ông lui về Tây Hà dạy học, con chết, ông khóc đến mù mắt.
[3] Tả Khâu Minh: Người thời Xuân Thu, làm quan thái sử nước Lỗ. Ông giám định, nhuận sắc tác phẩm Xuân Thu, nên bản ấy được gọi là Tả Thị Xuân Thu (thường gọi tắt là Tả Truyện). Khi về già, ông bị mù.
[4] Tử Lộ: Tên thật là Trọng Do, tự Tử Lộ, hoặc Quư Lộ, là đệ tử của Khổng Tử, tánh hiếu dũng, thờ cha mẹ rất có hiếu, thường đi đội gạo thuê cả trăm dặm để có tiền phụng dưỡng cha mẹ. Ông là một trong số 24 gương hiếu tử trong tác phẩm Nhị Thập Tứ Hiếu Diễn Ca của Lư Văn Phức. Ông có tài cai trị nên thoạt đầu làm quan nước Lỗ, rồi sang làm quan nước Vệ.
[5] Tây Tấn (266-316) do Tư Mă Viêm thành lập. Đến thời Tấn Nguyên Đế (Tư Mă Duệ), chư hầu nổi dậy, phải dời đô sang Đông gọi là nhà Đông Tấn, truyền đến đời Tấn Phế Đế bèn bị diệt vong (năm 369), vừa đúng 103 năm. Nam Triều: Nhà Lưu Tống truyền được 59 năm (420-478), nhà Tiêu Tề truyền được 23 năm (479-501), nhà Tiêu Lương của Lương Vơ Đế truyền được 55 năm (502-556), nhà Trần được 32 năm (557-588), nhà Tùy 29 năm (589-617). Thời Ngũ Đại gồm nhà Hậu Lương truyền được 16 năm (907-922), nhà Hậu Đường 13 năm (923-935), nhà Hậu Tấn 11 năm (936-946) và nhà Hậu Châu 9 năm (951-959).
[6] Thế tập tước vị: Tước vị của cha, con trưởng được kế thừa, thường gọi là Tập Ấm.
[7] Lệnh lang: tiếng gọi tỏ vẻ tôn trọng con trai người khác.
[8] Nguyên văn là “lân nhi” (Con kỳ lân) ví cho đứa trẻ thông minh, giỏi giang.
[9] Ư nói tuy không ra làm quan, vẫn góp phần giúp vua giữ yên đất nước.
[10] Thời Minh – Thanh, trước khi thi Hương, có thêm một khóa thi bổ sung gọi là Lục Di. Ai đỗ khóa ấy mới được vào thi Hương. Mục đích của khóa thi này nhằm loại bớt những sĩ tử kém cỏi.
[11] Tắc là Hậu Tắc, thủy tổ nhà Châu, làm quan coi việc nông thời vua Nghiêu. Ông Khiết là thủy tổ nhà Thương.
[12] Nguyên văn là Thúc Tu (một loại thịt muối), lấy điển tích khi xưa Khổng Tử dạy học, học tṛ đến học bèn biếu thầy một miếng Thúc Tu để xin nhập môn. Nay dùng chữ Thúc Tu để chỉ quà cáp, lương bổng trả cho thầy để xin cho con được học.
[13] Khi Trụ Vương bị Châu Vơ Vương hưng binh tru diệt, nhà Thương mất ngôi; Bá Di, Thúc Tề là con cháu nhà Thương không chịu ăn thóc nhà Châu, nhịn đói đến chết.
[14] Ngũ phước lâm môn: Năm thứ phước vào cửa, tức là phú, quư, thọ, khang, ninh (giàu, sang, sống lâu, mạnh khỏe, yên ổn).
[15] Lục cực: Theo Từ Tỉnh Dân trong bài Nho Học Giải Thuyết th́ lục cực là bị vùi dập, bệnh tật, lo buồn, nghèo cùng, bị ghét bỏ và thân thể suy yếu.
[16] Ngũ suy: năm tướng suy hiện ra khi một vị trời sắp hết tuổi thọ, tức là hoa trên măo héo úa, nách rịn mồ hôi, áo quần nhơ nhớp, thân mất vẻ oai nghi có mùi hôi và mắt thường hay chớp, không thích chỗ ngồi cũ của ḿnh hoặc làm những việc thô tháo với ngọc nữ.
[17] Lư Cương,
tự Bá Kỷ, người xứ Thiệu Vũ, ra làm
quan dưới thời Tống Huy Tông. Trong thời Tĩnh
Khang, ông thuộc phe chủ chiến nên bị giáng chức.
Khi Cao Tông nối ngôi, ông được triệu ra làm tể
tướng. Lư Cương rất tin Phật pháp, đặc
biệt hâm mộ kinh Hoa Nghiêm. Ông mất năm Thiệu Hưng
thứ 10 (1126), thọ 58 tuổi. Trong cuốn Dịch dữ
Hoa Nghiêm đối luận (So sánh kinh Dịch và kinh Hoa
Nghiêm), ông viết: “Dịch
lập ra h́nh tượng để diễn đạt ư,
kinh Hoa Nghiêm mượn sự để biểu thị pháp.
Lư vốn không hai. Thế gian và xuất thế gian cũng
không hai đạo. V́ sao vậy? Thiên địa vạn
vật, hữu t́nh không ǵ chẳng nhiếp!”
[18] Ấp lệnh: người đứng đầu một ấp.
[19] Nguyên văn “Tề Đông dă nhân chi bỉ luận”. Tề Đông Dă Nhân là một thành ngữ , hàm nghĩa những lời đồn đăi không có bằng chứng, toàn là ngoa truyền. Tương truyền, người vùng Tề Đông thường nói những lời không đúng sự thật, thích đồn thổi.
[20] Quan Đông: vùng đất ở phía Đông ngoài Sơn Hải Quan, nay thuộc vùng Đông Tam Tỉnh, tức đất Măn Châu khi xưa.
[21] Hỗn Nguyên Môn là một thứ tà giáo
thời Minh Thanh, vốn là một chi phái của Bạch
Liên Giáo. Giáo phái này c̣n có tên là Hồng Dương Giáo, Nguyên
Thuần Giáo, do Hàn Thái Hồ ở Khúc Châu, tỉnh Trực
Lệ sáng lập. Giáo này phát triển rầm rộ tại
vùng Đông Bắc Trung Hoa. Hàn Thái Hồ sanh năm Long Khánh
thứ 4 (1570). Năm Vạn Lịch 16 (1588), ông ta
đến núi Thái Hổ ở Lâm Thành thuộc tỉnh
Trực Lệ tu hành. Sau ba năm tự xưng đắc
đạo sáng lập Hồng Dương Giáo, tôn giáo
tổ La Thanh của Vô Vi Giáo làm tổ sư, tự xưng
ḿnh chính là hậu thân của La Thanh, mô phỏng bộ La
Tổ Ngũ Bộ Kinh để soạn ra Hồng
Dương Thán Thế Chân Kinh, tạo thành Ngũ
Đại Bộ Kinh của giáo phái ḿnh. Rồi trộm
lấy những thần chú, Phật hiệu nhà Phật,
sửa chữa, cắt xén tạo thành bộ Tỏa Thích
Hỗn Nguyên Vô Thượng Đại Đạo Huyền
Diệu Chân Kinh gồm 5 bộ khác nhau, gọi là Tiểu
Ngũ Bộ. Năm Vạn Lịch 23, ông ta đến
Bắc Kinh truyền giáo. Lúc ấy, triều đ́nh nhà Minh
rất sùng bái thuật đồng cốt, họ Hàn bèn
kết giao với tổng thái giám. Do vậy,
được triều đ́nh phong tặng danh hiệu
Hộ Pháp, phong thưởng tước vị. Năm
Vạn Lịch 26 (1598), Hàn Thái Hồ chết, chỉ
mới 29 tuổi. Giáo đồ nhân đó thêu dệt
rất nhiều chuyện để thần bí hóa họ
Hàn. Vị thần được giáo phái này tôn sùng nhất
là Hỗn Nguyên Lăo Tổ (c̣n gọi là Vô Sanh Lăo Mẫu),
tất cả các kinh sách của đạo này đều
bắt đầu bằng Hỗn Nguyên, Hồng
Dương hay Hoằng Dương. Giáo nghĩa chủ yếu
của họ là thế giới sắp tận thế, ai tu
theo Hồng Dương Giáo sẽ được cứu độ.
Vào những ngày đản sanh của Phật, Quán Âm,
Địa Tạng, và sáng tồ của đạo hoặc
các dịp ma chay, giáo đồ tụ tập cử hành
tế lễ, tuyên niệm những bài kinh Hoằng
Dương Khổ Công Ngộ Đạo Kinh, Hỗn Nguyên
Hồng Dương Lâm Phàm Phiêu Cao Kinh, Hộ Quốc
Hựu Dân Phục Ma Bảo Quyển, Thái Sơn Đông
Nhạc Thập Vương Bảo Quyển v.v… Các h́nh thức
trị bệnh bằng bùa chú, ban thánh thủy, thánh dược
cũng rất thạnh hành. Trong thời vua Gia Khánh, giáo phái
này giao tranh khốc liệt với Thiên Lư Giáo nên bị nhà
Thanh đàn áp, nên suy yếu dần. Hỗn Nguyên Môn mạnh
mẽ trở lại vào thời Quang Tự rồi lại
bị suy yếu Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc liệt giáo
phái này vào danh sách những tà giáo. Đến nay, ở Trung
Hoa Đại Lục vẫn c̣n một hai nhóm theo giáo phái này.
[22] Ư nói: Cố ư dùng những chữ không đúng chỗ, không thích hợp để làm ra vẻ như đang thuận miệng giảng nói, chứ không phải là do biên soạn ra nên từ ngữ không được trau chuốt, găy gọn.
[23] Phật sát vi trần kiếp số: Tức số lượng nhiều như số tất cả hạt vi trần trong một cơi Phật.
[24] Hành cước: Thiền khách đi tham học khắp với các bậc tôn túc đă chứng ngộ trong tùng lâm thiên hạ.
[25] Ngộ 悟 (bộ Tâm) là giác ngộ, c̣n Ngộ 誤 (bộ Ngôn) là lầm lẫn, mê lầm. Ngộ của bọn ma chính là Ngộ (lầm lẫn).
[26] Nguyên văn “Cổ Hồ” là những lái buôn người Hồ. Xưa những người từ Tây Vực, Tân Cương thường vào Trung Hoa buôn bán, người Trung Hoa nhất loạt gọi họ là người Hồ.
[27] Thời cổ dùng thẻ tre làm giấy ghi chép, nên thường có thành ngữ “khánh trúc nan thư kỳ tội” (hết sạch trúc khó chép hết nổi tội)
[28] Ư nói trong nguyên bản có nhiều chỗ dùng lối chữ Thảo để viết tắt, hoặc dùng chữ đồng âm để viết cho gọn (tức là lối Giả Tá). Khi người ta sao lại để in không xét kỹ ngữ cảnh, cứ thay bằng chữ đủ nét tương ứng nhưng không phù hợp ngữ cảnh làm cho sai lạc ư nghĩa.
[29] Lệnh thân: tiếng tôn xưng cha mẹ của người khác.
[30] Chữ Hán ghi là Hoàng Năng 黃能, tổ Ấn Quang chú thích: “Âm Năi, b́nh thanh, tức tam túc miết” (đọc là Năi, đọc thanh ngang, chính là con ba ba có ba chân). Ông Cổn là bố vua Đại Vũ.
[31] Lạc Bang Văn Loại: Tác phẩm
này gồm năm quyển do ngài Tông Hiểu (1151-1214)
soạn vào đời Nam Tống, hoàn thành vào năm Khánh
Nguyên thứ sáu (1200). Nội dung bao gồm các đoạn
văn trọng yếu trong các kinh luận liên quan
đến Tịnh Độ, cũng như liệt kê tên
các trước thuật, thi kệ, truyện kư của
chư tổ sư, phân thành mười bốn môn
(đề mục), chia thành hơn 220 thiên. Về sau, ngài
Tông Hiểu soạn thêm cuốn Tục Biên Lạc Bang Di
Cảo để bổ sung.
[32] Pháp Uyển Châu Lâm tổng cộng
gồm 100 quyển do ngài Đạo Thế (?-683) soạn
vào năm đầu niên hiệu Tổng Chương
đời Đường (668). Đây là một loại
bách khoa toàn thư vô cùng quư giá về các kinh luận Phật
giáo. Ngài Đạo Thế đă dựa theo bộ
Đại Đường Nội Điển Mục
Lục và Tục Cao Tăng Truyện của anh ḿnh là
Đạo Tuyên để biên soạn. Tác phẩm này
gồm một trăm thiên, chia thành 668 tiểu loại,
tŕnh bày đại lược tư tưởng, thuật
ngữ, pháp số v.v… của Phật giáo. Sách dẫn
rộng các kinh, luật, luận, kư, truyện (hơn
cả bốn trăm thứ). Rất nhiều tác phẩm
được Pháp Uyển Châu Lâm nhắc đến nay
đă bị thất lạc.
[33] Cách vật trí tri: Theo cách hiểu thông thường của Tống Nho, cách vật trí tri nghĩa là học hỏi nghiên cứu sự vật để hiểu biết thấu đáo. Tổ Ấn Quang giảng câu này phải hiểu là “cách trừ vật dục” (tức trừ khử ḷng ham muốn) mới thấu đáo được đạo.
[34] Khuông Lô: Chỉ sơ tổ Tịnh Tông, tức ngài Huệ Viễn. Ngài dựng Liên Xă nơi núi Khuông Lô. Chữ Lô c̣n đọc là Lư, nên có sách viết là Khuông Lư.
[35] Công Tôn Long (320-250 trước Công nguyên), người
nước Triệu, tân khách của B́nh Nguyên Quân, chủ
trương thuyết h́nh danh (mọi sự vật tồn
tại chỉ do cái tên), mang nặng tính ngụy biện.
Tác phẩm đặc trưng của ông ta là Kiên Bạch
Luận và Danh Thật Luận. Luận điểm chủ
yếu của ông ta là: “Ngựa trắng không phải là
ngựa. V́ trắng là màu sắc, ngựa là h́nh trạng.
Ngựa và Trắng chỉ là hai khái niệm độc
lập không ăn nhập ǵ với nhau”. Luận
điểm thứ hai là “Kiên bạch thạch tam”: “Kiên
(cứng) là tánh, Bạch là màu, Thạch (đá) là h́nh, ba
tướng này cũng là ba khái niệm tách rời nhau, không
liên quan ǵ với nhau, không thể nhận biết
đồng thời được”. Từ đó, Công
Tôn Long quan niệm vật chất không tồn tại,
chỉ thừa nhận quan niệm tinh thần tồn
tại, không có sự vật cụ thể. V́ thế,
người ta thường dùng từ ngữ “kiên bạch
đồng dị” để chỉ luận thuyết
của Công Tôn Long. Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này
hàm ư những luận thuyết của Vương Canh Tâm
đều là ngụy biện, biện luận hàm hồ.
[36] Đại A Di Đà Kinh là bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ từ bốn bản nguyên dịch của ông Vương Nhật Hưu đời Tống, ông này có hiệu là Long Thư.
[37] Kinh ở đây chỉ bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ của ông Ngụy Thừa Quán được ông Vương Canh Tâm nhuận sắc, phân đoạn. Di Đà Trung Luận là bộ luận nhằm giải thích kinh A Di Đà do Vương Canh Tâm soạn.
[38] Khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn: Chỉ rơ pháp nào là Quyền (tạm thời, phương tiện), pháp nào là Thật, tức pháp Nhất Thừa. Tích là những ǵ do Pháp Thân hóa hiện nhằm thích ứng căn cơ, Bổn là Pháp Thân. Bổn c̣n có nghĩa là địa vị thật sự chứng đắc của một vị Pháp Thân đại sĩ, c̣n Tích là những ǵ các Ngài thị hiện nhằm giáo hóa chúng sanh.
[39] Tông Thiên Thai chia toàn bộ kinh điển nhà Phật thành năm bộ phận lớn (ngũ thời) là Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, và Pháp Hoa - Niết Bàn.
[40] Hiếu giáo: Hiếu dưỡng mẹ, dạy dỗ con.
[41] Chỉ nhà in kinh Kim Lăng Khắc Kinh Xứ ở Nam Kinh.
[42] Ư Tổ nói: Trong những phần Ngài đính chánh, đa phần là sửa những chỗ sai thành đúng, c̣n những chỗ Ngài do hiểu sai nên sửa đúng thành sai, hoặc sửa từ cái sai này sang cái sai khác th́ ít.
[43] Theo sách Di Đà Trung Luận, sư Chú Am người xứ Cam Tuyền, Giang Nam, lúc nhỏ tính t́nh thô lỗ, vô lại, không giữ giới luật, thường sống tại Dương Châu thiền tự, hay cà khịa với vị sư giữ chức Phạn Đầu, chửi bới tục tằn, vô lễ. Trụ Tŕ quở trách. Về sau, Sư hối cải, bế quan ba năm, chuyên tŕ chú Đại Bi. Lúc xuất quan, phong cách thay đổi hẳn, khiêm nhường nhũn nhặn, ai trông thấy cũng phải lấy làm lạ, kính ngưỡng. Bất cứ sách vở thế gian, kinh điển nhà Phật nào, ngay cả những thứ tiểu thuyết nhảm nhí chẳng cần đem sách lại, hễ hỏi đến Sư bèn đọc ra thông suốt.
[44] Pháp sư Hội Tánh nói: Khi in Ấn Quang Văn Sao, tên ông này bị ghi sai, đúng ra phải là Thản Cư.
[45] Nguyên văn là Tập, các tác phẩm cổ điển của Trung Hoa được chia thành bốn loại lớn: Kinh, Sử, Tử, Tập. Tập chính là các tác phẩm, thi tập của những văn nhân, thi sĩ nổi tiếng.
[46] Từ Vân Sám Chủ: tức ngài Tuân
Thức (964-1032), cao tăng đời Tống,
người huyện Lâm Hải, Thai Châu (nay thuộc
tỉnh Chiết Giang), họ Diệp, tự Tri Bạch.
Xuất gia năm 18 tuổi với ngài Nghĩa Toàn của
tông Thiên Thai, 20 tuổi thọ Cụ Túc Giới. Lúc
đầu, Ngài chuyên học Luật, từng đốt
một ngón tay trước tượng Phổ Hiền Bồ
Tát để cúng dường, thề hoằng dương
giáo pháp Thiên
[47] Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh nói: “Lớn tiếng niệm Phật, tụng kinh, có mười thứ công đức: Trừ được buồn ngủ, thiên ma kinh sợ, tiếng vang khắp mười phương, tam đồ dứt khổ, tiếng bên ngoài chẳng lọt vào, tâm chẳng tán loạn, dũng mănh tinh tấn, chư Phật hoan hỷ, tam-muội hiện tiền, văng sanh Tịnh Độ”.
Kinh Lễ Phật Công Đức Nghiệp
Báo Sai Biệt nói: “Lễ
Phật một lạy th́ từ đầu gối
xuống đến Kim Cang Tế, mỗi một hạt
bụi là một ngôi Chuyển Luân Vương, được
10 thứ công đức: được diệu sắc thân,
nói ra người khác tin tưởng, ở trong chúng không
sợ hăi, được Phật hộ niệm, có đại
oai nghi, mọi người thân cận, chư thiên kính yêu, có
đại phước đức, mạng chung văng sanh, mau
chứng Niết Bàn”.
[48] Sách Luận Ngữ Kim Giải giảng câu này có nghĩa là: Người quân tử nhằm bồi dưỡng học vấn của chính ḿnh nên nỗ lực học tập.
[49] Tức cư sĩ Từ Úy Như, người in Ấn Quang Văn Sao lần đầu.
[50] Âu là Âu Dương Tu (1007-1072) là một văn gia kiêm sử gia thời Tống. Ông này đă viết Bản Luận gồm ba thiên cực lực bài xích tư tưởng Phật giáo. Lúc biên soạn Tân Đường Thư và Tân Ngũ Đại Sử, ông ta c̣n cắt bỏ hơn 200 bài kư sự về Phật giáo. Sau này, về già, ông lại trở thành tín đồ Phật Giáo. C̣n họ Hàn chính là Hàn Dũ (768-824), hiệu là Xương Lê, văn nhân thời Đường, cực lực báng Phật, đ̣i đốt kinh Phật, dẹp chùa, đuổi Tăng về làm dân.
[51] Lỵ mỵ vơng lượng: Lỵ mỵ (Lỵ đúng ra phải đọc là Si) là loài quỷ trong núi sâu, vơng lượng là loài quỷ trong rừng. Nói chung, lỵ mỵ vơng lượng là các loài quỷ quái do sơn thần, thủy tinh biến hiện hại người.
[52]
Dịch là một loại cờ vây. Mạnh Tử nói
Dịch Thu là một người thời cổ do giỏi
đánh cờ vây mà mang tên là Dịch Thu. Trong sách Mạnh Tử,
thiên Cáo Tử, có chép: “Phàm phu
học nghề đánh cờ vây là nghề mọn,
chẳng chuyên tâm dốc chí sẽ không học được.
Dịch Thu là người giỏi cờ vây nhất nước.
Nếu Dịch Thu dạy hai người, một
người chuyên tâm dốc chí, chỉ lắng nghe Dịch
Thu; người kia tuy nghe Dịch Thu nói nhưng lại
nghĩ có con chim hồng hộc bay tới, ḿnh sẽ giương
cung bắn. Tuy là cùng học, kết quả lại
chẳng giống nhau!”
[53] Nhị Không: Ngă Không và Pháp Không.
[54] Hiền khế: tiếng gọi tỏ vẻ trân trọng bạn hữu.
[55] Phục đoạn: Khuất phục, đè nén chứ chưa đoạn trừ cội rễ.
[56] Bàng cư sĩ tên là Bàng Uẩn, tự Đạo Huyền, người xứ Hành Dương, học Nho, từ nhỏ đă ngộ trần lao, chí cầu xuất thế. Năm đầu niên hiệu Trinh Nguyên (785) đời Đường, tham yết sư Thạch Đầu, hỏi: “Chẳng cùng vạn pháp làm bạn th́ là ai?” Thạch Đầu lấy tay che miệng. Đột nhiên Bàng Uẩn hơi tỉnh ngộ, sau tham yết Mă Tổ, hỏi lại câu trên đây. Mă Tổ đáp: “Đợi khi nào ông một hơi uống cạn nước Tây Giang sẽ bảo cho ông biết”, ngay khi đó bèn đốn ngộ huyền chỉ. Khi cư sĩ sắp nhập diệt, bảo với con gái là Linh Chiếu: “Huyễn hóa không thật, tùy ngươi duyên theo. Hăy ra ngoài xem mặt trời, khi nào đúng Ngọ bảo cha!” Linh Chiếu ra khỏi cửa, trở vào bảo: “Mặt trời đứng bóng rồi lại chênh, hăy ra xem thử!” Cư sĩ ra cửa xem, Linh Chiếu bèn lên ṭa của cha, chắp tay qua đời. Cư sĩ cười: “Con ta lanh lẹ quá!” Bèn dời ngày chết lại bảy hôm. Người đứng đầu vùng ấy là Vu Công Đốn đến hỏi thăm, cư sĩ nói: “Chỉ nguyện không vô sở hữu, chớ đừng mọi thứ đều thật, chẳng phải không! Khéo trụ trong thế gian, đều như bóng, như tiếng vang”. Nói xong, tựa đầu vào gối ông Vu, qua đời.
[57] Phóng thí: tức trung tiện (break the wind, passing gas)
[58] Theo Tử Bách Lăo Nhân Tập, quyển 22, vị Tăng này chính là Nhất Am thiền sư sống vào thời Gia Tĩnh (1522-1566) nhà Minh.
[59] Trong Mật Tạng, có nói những bài chú nếu gió thổi qua người tŕ tụng chạm vào người khác, người khác cũng được lợi ích. Như chú Đại Tỳ Lô Giá Na Quán Đảnh, tụng vào cát đem rải lên xương người chết, người chết cũng được giải thoát.
[60] Ở đây Pháp Số chỉ những sách chuyên giải nghĩa những thuật ngữ Phật giáo như Tam Quy, Ngũ Giới, Tâm Vương, Tâm Sở, Ngũ Trụ, Tứ Đảo v.v…
[61] Hai vị ở đây là Liên Tŕ và U Khê đại sư (tác giả Di Đà Viên Trung Sao)
[62] Gọi là thô tŕ v́ chỉ mới giữ được giới tướng trên mặt sự tướng, chưa lănh hội được giới thể.
[63] Ư nói nghe tin đồn rồi tin tưởng như chính mắt ḿnh thấy.
[64] Tân La (Silla) một vương quốc cổ ở Đại Hàn. Cùng với Cao Câu Ly (Koguryo) và Bách Tế (Pakje) hợp thành thế chân vạc, sử Triều Tiên gọi là Tam Quốc thời đại.
[65] Lawo
hoặc Lavo là một vương quốc cổ của
người Mon-Khmer, nay thuộc tỉnh Lobpuri của Thái
Lan (thành phố Lobpuri có tên xưa là Lavo). Sau khi vương
quốc Ayuthaya thành lập, Lavo trở thành kinh đô
thứ hai.
[66] Tích là tích trượng, cây gậy có những ṿng sắt để vị Tăng cầm đi đường hoặc khất thực. Trụ tích là ở lại một nơi nào đó tu hành.
[67] Thiên Thai là ngài Trí Giả, Tây Hà là ngài Đạo Xước, Trường An là ngài Thiện Đạo.
[68] Nguyên văn: “Tiêu ư đỉnh cách”. Theo Vương Đồng Ức, “đỉnh cách” là cách viết ghi chú sao cho chữ đầu của mỗi hàng ghi chú nằm đúng ngay bên trái ḍng ấy.
[69] Đế
Nhàn (1858-1932), danh tăng tông Thiên Thai sống vào cuối
đời Thanh cho đến đầu thời Dân
Quốc, người Hoàng Nham, Chiết Giang, họ Châu, tên
Cổ Hư, hiệu Trác Tam. Thuở bé thấy sa-môn
liền vui mừng, lúc trẻ học Y, năm hai
mươi tuổi từng nhiều lần thí thuốc cho
người nghèo ở Hồ Ấp. Về sau, vợ
chết, con mất, bèn bỏ vào núi Bạch Vân, xuất gia
với ngài Thành Đạo. Năm 24 tuổi, thọ Cụ
Túc Giới ở chùa Quốc Thanh, núi Thiên
[70] Bảo
Vương Tùy Tức do ngài Phi Tích đời Đường
chế ra. Trong Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương
Luận, quyển trung, ngài dạy như sau: “Người trên đời đa
phần dùng bảo ngọc, thủy tinh, hạt Kim Cang,
hạt Bồ Đề, hạt Mộc Hoạn để
làm xâu chuỗi, c̣n ta dùng hơi thở ra vào để làm xâu
chuỗi. Xưng danh hiệu theo hơi thở th́ chắc
chắn lắm, nào sợ thở ra không hít vào được
bèn thuộc đời sau! Ta đi - đứng - nằm -
ngồi thường dùng xâu chuỗi này, dẫu cho mê
mệt cũng ôm Phật mà ngủ, thức lại niệm
tiếp. Ắt trong mộng thấy được đức
Phật!”
[71] Bộ sách này do ngài Ưu Đàm Phổ
Độ chùa Đông Lâm, Lô Sơn (sống vào đời
Nguyên) soạn, gồm 10 quyển. C̣n có những tên gọi
khác như Lô Sơn Ưu Đàm Bảo Giáo, Lô Sơn Liên
Tông Bảo Giáo Niệm Phật Chánh Nhân, hoặc Niệm
Phật Bảo Giám. Ngài Ưu Đàm coi ḿnh là người
nối tiếp chí hướng của sơ tổ Huệ
Viễn, xiển dương giáo nghĩa của ngài Từ
Chiếu Từ Nguyên thời Nam Tống. Sách gồm
những trích lục trọng yếu về pháp Niệm
Phật Tam Muội, sử truyện của Tịnh Tông. Ngài
soạn tập sách này nhằm thuyết minh cặn kẽ
giáo nghĩa Tịnh Độ được xiển
dương bởi ngài Huệ Viễn và Tử Nguyên
nhằm bài trừ những tà thuyết, kiến giải sai
lầm của những người tự xưng là
Tịnh Độ thời ấy. Nội dung chia thành các
mục Niệm Phật Chánh Nhân, Niệm Phật Chánh Giáo,
Niệm Phật Chánh Tông, Niệm Phật Chánh Phái, Niệm
Phật Chánh Tín, Niệm Phật Chánh Hạnh, Niệm
Phật Chánh Nguyện, Niệm Phật Văng Sanh Chánh Quyết,
Niệm Phật Chánh Báo, Niệm Phật Chánh Luận.
Mỗi quyển gồm có phần tổng thuyết,
rồi đến những đoạn kinh luận
trọng yếu, hành trạng của cổ đức, giáo
ngữ v.v…
[72] Ngũ Đ́nh Tâm Quán: năm pháp quán để dứt phiền năo, mê hoặc gồm Bất Tịnh Quán (quán tưởng thân thể ḿnh và người khác dơ bẩn để dứt tham ái), Từ Bi Quán (quán tưởng ḷng từ bi để đối trị sân hận), Duyên Khởi Quán (quán tưởng 12 nhân duyên thuận và nghịch để đối trị ngu si), Giới Phân Biệt Quán (quán tưởng các pháp của 18 giới đều do đất, nước, gió, lửa, không và thức ḥa hợp để đối trị Ngă Chấp), và Sổ Tức Quán (đếm hơi thở để đối trị tâm tán loạn và khiến cho tâm dừng lặng nơi một cảnh)