Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao
Quyển Thứ
Nhất
(Phần 3)
36. Thư gởi sư Ngọc Trụ
Trộm nghe Như Lai v́ một đại
sự nhân duyên mà xuất hiện trong đời, tùy cơ
lập giáo, nói đủ mọi pháp, không ǵ chẳng nhằm
làm cho chúng sanh khai - thị - ngộ - nhập tri kiến
Phật mà thôi. Nhưng chúng sanh vốn sẵn có tri kiến
Phật, do mê muội từ vô thỉ sâu hay cạn khác nhau,
nên người mê cạn th́ tu một pháp bèn
được ngộ nhập. Nếu như mê sâu mà không
nhờ vào sức hoằng thệ nguyện của Phật
Di Đà văng sanh Tịnh Độ quyết khó
được chứng đắc. Huống hồ pháp này
là chỗ quy túc của các pháp, là chỗ cùng cực của
tu chứng. Lúc Như Lai mới thành Chánh Giác, nói kinh Hoa
Nghiêm có đủ vô lượng pháp môn, thâu tóm căn tánh
Nhất Thừa; nhưng Thiện Tài sau khi chứng ngộ
bằng với chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát bèn
dạy phát mười đại nguyện vương dẫn
về Cực Lạc và khuyên hải hội đại chúng
cùng cầu văng sanh. Do vậy, các kinh Đại Thừa
đều cùng tán dương, nhưng ba kinh Tịnh
Độ chuyên thuyết minh điều này cặn kẽ
nhất.
Có
kẻ bảo Tịnh Độ là Quyền Tiệm
Tiểu Thừa, chẳng chịu tu tập, lại c̣n
ngăn trở người khác tu; toàn là do chưa thể
nghiên cứu kinh luận Đại Thừa, chỉ
chấp vào ư chỉ Trực Chỉ, chưa thấy
vầng trăng nơi tự tánh. Cứ xem phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm th́ biết. Huống
chi Ca Diếp, A Nan, Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh
Minh v.v… các đại tổ sư đều chú giải
kinh, tạo luận, cực lực tán dương. Đó
không phải là sáu phương chư Phật hóa thân, là
người kế thừa đích thật của giáo
chủ hai cơi ư? V́ thế nói là “ngàn kinh muôn luận, chốn chốn chỉ quy, văng
thánh tiền hiền ai nấy đều hướng
về!” Huống hồ trong đời Mạt này,
căn tánh con người hèn tệ, tri thức hiếm hoi,
bỏ pháp này sao yên cho được?
Xin
huynh lúc rảnh rang nơi Tông, Giáo, hăy phân tâm nơi pháp này
ngơ hầu tự lợi, lợi tha, báo ân sâu của
Phật. Nếu như c̣n nghi hoặc, hăy nên đọc
nhiều kinh luận Tịnh Độ. Sách Tịnh
Độ Thập Yếu đoạn nghi khải tín, là
bậc công thần đột phá tinh nhuệ nhất, hăy
nên đọc trước. Các sách Di Đà Sớ Sao và
Diễn Nghĩa quả thật là hướng dẫn
tốt lành cho những người tham cứu Tông, Giáo. Càng
đọc kỹ, suy nghĩ tinh tường, sẽ
thấy những sách ấy chẳng chỉ phát huy Tịnh
Độ mà thôi. Ngài Trung Phong nói: “Thiền là Thiền nơi Tịnh Độ,
Tịnh Độ là Tịnh Độ của Thiền”.
Hai sách ấy quả thật là như vậy. Hơn
nữa, nếu huynh muốn tham khảo khắp các lời
chú giải hay khéo trong tông Hiền Thủ (Hoa Nghiêm) th́ hai
sách Sớ Sao[1]
quả là lời chú giải hay khéo thiết thân nhất cho
sự tu chứng của thân tâm. Hăy nên rắp tâm nghiên
cứu th́ lợi ích mầu nhiệm ấy ngay cả đệ
cũng chẳng thể h́nh dung được nổi!
37. Thư gởi cư sĩ Hứa Khoát Nhiên ở Quảng Đông (viết thay cho thầy Khang Trạch)
Cư sĩ ở nơi thiện
đường, tận lực làm thiện sự, suốt
ngày tuyên giảng khuyên người làm lành, gánh vác cái
đạo “ở nhà giúp
nước, ngoài nội tận trung” của thánh
hiền, tuân thủ pháp “đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều lành” của
Phật, Tổ; mỗi lần nghĩ tới,
ngưỡng mộ khôn cùng! Nhưng thiện sự có
lớn, nhỏ sai khác; thiện thư (sách khuyến
thiện) cũng có cạn - sâu khác biệt. Muốn cho ḿnh
lẫn người cùng lên cơi thiện hăy nên chọn
lấy những thiện thư tinh vi, rơ ràng nhất
để ấn loát, lưu truyền, khiến cho thiên
hạ hậu thế thấy nghe những sách ấy đều
sửa lỗi làm lành, mong thành thánh, thành hiền, khác nào các
hạ nói rót vào tai khắp thiên hạ hậu thế khiến
cho họ đều nghe lời vậy. So sánh với việc
tuyên giảng một lúc, một chỗ th́ công đức
lớn - nhỏ dẫu cả năm cũng không thể nói
hết!
Thiện
thư tuy nhiều, nhưng toàn là dạy về tiểu
nhân, tiểu quả thế gian, chỉ riêng ḿnh An Sĩ Toàn
Thư giác thế, mở mang trí óc cho dân, tận thiện,
tận mỹ, giảng đạo, luận đức
tuyệt cổ siêu kim; ngôn từ giản dị nhưng bao
quát, lư sâu nhưng dễ hiểu, dẫn sự tích làm
chứng cứ đích xác, nêu những lời nghị
luận thông suốt, uyên nguyên. Quả thật là của báu
truyền đời quư nhất, cũng là một cuốn
kỳ thư về mặt tuyên giảng. Lời nào cũng
đều là tâm pháp của Phật, Tổ, là đạo
mạch thánh hiền, là đạo trọng yếu để
đời yên, dân lành, là phương thuốc bí truyền
để sáng tỏ sự trước, an vui sự sau.
Nếu hành theo sách ấy th́ có thể nối tiếp thánh
hiền, liễu sanh thoát tử như đưa bằng khoán
ra lấy lại vật cũ. So với những thiện
thư được lưu thông trong đời kia, khác nào
quả núi sánh với ổ kiến, biển cả sánh
với vũng nước vậy. Nhân v́ thầy Liễu
Đắc từ Phổ Đà đến triều bái
Cửu Hoa, lăo nạp[2] riêng
nhờ thầy tiện đường qua Kim Lăng (Nam
Kinh) thỉnh sách ấy gởi qua, tŕnh cho các hạ, mong hăy
chú tâm vui thích đọc, nếm món ngon biết
được ư chỉ, học đạo tột cùng
biết được điều thiện. Cái tâm in
khắc, lưu truyền bố thí rộng răi để
giúp chúng sanh ắt sẽ có cái thế [như] sông ng̣i
[cuồn cuộn] khôn ngăn được!
An
Sĩ tiên sinh họ Châu tên Mộng Nhan, c̣n có tên là Tư
Nhân, người Côn Sơn, tỉnh Giang Tô, thông suốt
mọi kinh sách Tam Giáo, tin tưởng sâu xa pháp môn Niệm
Phật. Đến tuổi nhược quan (20 tuổi) vào
trường, bèn chán khoa cử, phát Bồ Đề tâm,
soạn sách giác ngộ con người, muốn cho dân chúng
trước hết tạo lập được căn
bản không lầm lỗi, rồi do đấy bèn thoát
khỏi biển sanh tử. V́ thế, ông viết sách khuyên
kiêng giết là Vạn Thiện Tiên Tư, sách khuyên kiêng dâm
là Dục Hải Hồi Cuồng, bởi lẽ chúng sanh
tạo nghiệp chỉ có hai điều này là nhiều
nhất, sửa lỗi cũng chỉ hai điều này là trọng
yếu nhất. Lại c̣n soạn Âm Chất Văn
Quảng Nghĩa khiến cho con người đối
với pháp ǵ, chuyện ǵ cũng đều biết
phải theo khuôn phép nào, đều biết ngăn dè. Phê
b́nh, biện luận thông suốt tinh vi, có thể nói là công
thần của Đế Quân[3],
trực tiếp đem cái tâm rủ ḷng giáo huấn [của
Đế Quân] triệt để mở toang ra, giăi bày
trọn vẹn, khiến cho ngàn đời về
trước, ngàn đời về sau, người dạy,
người được dạy không ai c̣n tiếc nuối
ǵ. Do kỳ tài diệu ngộ, ông dùng văn tự và
sự tích thế gian để phát huy ư nghĩa áo diệu,
u vi của Phật, Tổ, thánh hiền để kẻ
nhă, người tục cùng xem, trí - ngu cùng hiểu.
Lại
do pháp môn tu hành chỉ có Tịnh Độ là thiết
yếu nhất, ông lại soạn cuốn Tây Quy Trực
Chỉ nhằm thuyết minh đại sự niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử.
Ấy là v́ tích đức tu thiện chỉ
được phước nhân thiên, phước hết
lại phải đọa lạc, c̣n niệm Phật văng
sanh liền dự vào địa vị Bồ Tát, quyết
định thẳng đến thành tựu Phật
đạo. Ba cuốn sách trước tuy dạy
người đời tu thiện, nhưng cũng có
đủ pháp liễu sanh thoát tử. Cuốn sách này tuy
dạy người liễu sanh thoát tử nhưng lại
phải tận lực hành thiện sự thế gian.
Đúng là hiện thân cư sĩ, thuyết pháp độ
sanh; nếu bảo ông ta không phải là Bồ Tát tái lai, tôi
không tin!
Trộm
nghĩ, Ngu - Thuấn làm lành, bỏ ḿnh theo người;
Thương Thư[4] [luận
về] tu đức lấy thiện làm thầy. Đă
biết các hạ và các vị thiện nhân chung một thiện
đường không việc ǵ chẳng lập, có
chuyện thiện ǵ đều dung nạp, nên mới dám
thỉnh cầu in khắc, tuyên giảng, lưu thông, xoay
vần truyền bá, tuyên dương [những sách này] ngơ
hầu ánh đèn tiếp nối đến tận
đời vị lai, ai nấy đều được
thọ ân. Xin hăy phát tâm đau đáu cứu thế, chớ
v́ người [cầu thỉnh] kém cỏi mà bỏ lời
này th́ may mắn lắm!
Cư
Sĩ Truyện do tiến sĩ Bành Thiệu Thăng[5] ở
Trường Châu, Tô Châu đời Càn Long, thanh nhàn xem
khắp các sách, chọn lấy những gương
đại trung, đại hiếu, thanh bạch, trung chánh,
liêm khiết, có công danh giáo, thông hiểu Phật pháp sâu xa
từ đời Hán đến nay, chép lại chuyện
nhập đạo tu chứng cũng như những bài
văn phát huy Phật pháp của họ. Số người
được chọn hơn mấy trăm, viết thành
sáu tập.
Tam
Giáo B́nh Tâm Luận do học sĩ Lưu Mật đời
Nguyên soạn. Trước hết, thuyết minh Tam Giáo
đều khuyên con người dứt ác hành thiện,
chẳng thể phế bỏ một đạo nào, kế
đến thuyết minh công năng cùng cực sâu - cạn
khác nhau, cuối cùng phá rộng răi thuyết của Hàn
Dũ, Tŕnh, Châu, Âu Dương [Tu][6].
Thích
Thị Kê Cổ Lược[7] lấy
các niên kỷ lịch đại làm cương, lấy các
sự tích Nho - Thích làm mục[8]
từ đời Phục Hy cho đến cuối
đời Minh: Quốc gia b́nh trị hay loạn lạc,
Phật pháp hưng hay suy, tội phước của
việc tin nhận hay hủy báng, lợi ích của
việc tu tŕ, pháp ngôn của tổ sư, hành trạng
của cao tăng và những gương trung hiếu
lỗi lạc, kẻ gian ác cùng cực đều chép những
chuyện chánh yếu khiến cho ai đọc đến
bèn biết pháp giới, ngồi yên mà xem khắp cổ kim. Nào
phải chỉ hữu ích cho người tu đạo mà
quả thật c̣n là kỳ trân trong tay áo của
người đọc sách bàn chuyện cổ. Phật pháp
chỉ dạy người dứt ác tu thiện, minh tâm
kiến tánh, đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh
thoát tử.
Cả
Đại Tạng Kinh trọn chẳng có một chữ nào
dạy người vận khí luyện đan, cầu thành
tiên bay lên trời, trường sanh bất lăo. Năm đầu
thời Dân Quốc (1911), gă dân ma Liễu Hoa Dương[9]
soạn Huệ Mạng Kinh, tận dụng kinh Phật,
lời Tổ ḥng chứng thực pháp luyện đan,
biến chánh thành tà, dùng pháp báng pháp. Người chưa
mở mắt thấy tà thuyết ấy tưởng là chân
thật, chánh kiến vĩnh viễn bị mất. Lời
lẽ, pháp tu trong sách ấy đều là phá hoại
Phật pháp, nhưng cứ nhơn nhơn tự
đắc bảo ta may mắn gặp được chân
thừa, được nghe chánh pháp. Đó là nhận
giặc làm con, nấu cát thành cơm, một kẻ quáng
dẫn lũ mù, kéo nhau sụp hầm lửa! Chẳng
đáng buồn ư? Pháp luyện đan không phải là vô
ích, nhưng chỉ có thể kéo dài tuổi thọ, hết
mức là thành tiên thăng thiên, c̣n chưa phải là chân
truyền của Lăo Tử, huống hồ là chánh
đạo Phật pháp ư? Khổng Tử nói: “Triêu văn đạo, tịch
tử khả hỹ!” (Sáng nghe đạo, tối
chết cũng được vậy!) Lăo Tử nói: “Ngô hữu đại hoạn,
vị ngô hữu thân” (Ta có mối lo lớn là v́ ta có
thân). Nếu lănh hội được những lời này
sẽ chẳng bị chúng nó mê hoặc.
Và
nếu có thể đọc kỹ những sách An Sĩ Toàn
Thư, Cư Sĩ Truyện, [Tam Giáo] B́nh Tâm Luận, [Thích
Thị] Kê Cổ Lược v.v… sẽ như gương
sáng đặt trên đài, tốt - xấu tự phân
biệt. Ḷ luyện lớn thử vàng, thật - giả
biết ngay lập tức! Chỉ sợ ông đă từng
theo đuổi sách ấy nên mới khôn ngăn dài ḍng
nhiều lẽ. Pháp Thiền Tông chỉ dạy
người chân tham thật ngộ, v́ thế tất
cả câu lời đều không có ư nghĩa ǵ. Chẳng nên
dùng tri kiến phàm phu để lănh hội nghĩa lư trên
mặt văn tự! Nếu không thân cận bậc
thiện tri thức sáng mắt và không một phen liều
mạng chết ḷng công phu tham cứu ắt chẳng
thể đốn minh tự tâm. Tâm đă chẳng minh
ắt chẳng hiểu ư chỉ tổ sư. Chớ nên
hiểu nghĩa theo mặt văn tự, học “khẩu
đầu thiền” (thiền nói xuông ngoài miệng). Ví
như dân hèn ngoài rẫy bái, núi non, xưng bừa là
đế vương, tội ắt diệt tộc. Phàm
hết thảy những cơ phong chuyển ngữ trong Kê
Cổ Lược, Cư Sĩ Truyện và hết thảy
ngữ lục chớ có hiểu xằng, mong mỏi
lắm thay!
38. Trả lời thư cư sĩ
Đinh Phước Bảo luận về chuyện tư
hương
Tư hương là đốt hương trên cánh
tay. Linh Phong lăo nhân (tổ Ngẫu Ích) mỗi ngày tŕ hai kinh
Lăng Nghiêm và Phạm Vơng, v́ thế từng đốt
hương nhiều lần. Ấy là v́ hết thảy chúng
sanh không ai chẳng yêu tiếc thân ḿnh, quư báu ǵn giữ thân
ḿnh, lại giết thân kẻ khác, ăn thịt, tâm càng vui
sướng. Đối với chính ḿnh, muỗi
đốt, gai đâm liền cảm thấy khó thể chịu
đựng được. Trong các kinh Đại Thừa
như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Phạm Vơng… đức Như
Lai xưng tán khổ hạnh, dạy đốt thân,
đốt cánh tay hay ngón tay cúng dường chư Phật
nhằm đối trị tâm tham và tâm yêu tiếc bảo
trọng tự thân. Trong sáu Ba La Mật, cách này thuộc
về Bố Thí Độ v́ bố thí có nội -ngoại
bất đồng. Ngoại là quốc thành, vợ con;
nội là đầu, mắt, tủy, năo.
Thắp
hương đốt thân đều gọi là Xả, cần
phải chí thành, khẩn thiết, ngưỡng mong Tam
Bảo gia bị, chỉ mong ḿnh lẫn người
nghiệp tiêu huệ rạng, tội diệt phước
tăng (Nói “ḿnh lẫn người” nghĩa là dù
thật sự v́ ḿnh, nhưng lại nên đem công
đức này hồi hướng pháp giới chúng sanh, nên
nói là “ḿnh lẫn người”). Tâm
trọn chẳng mảy may v́ cầu tiếng tăm và
cầu phước lạc nhân thiên thế gian, chỉ v́
thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh
mà hành th́ công đức vô lượng vô biên chẳng
thể nghĩ bàn. Ấy gọi là “tam luân thể không, tứ hoằng phổ nhiếp”[10].
Công đức do tâm nguyện nên rộng lớn, quả báo
do tâm nguyện nên nhanh chóng đạt được.
Nếu v́ tâm chuộng hư danh, hoặc mong cầu
chấp trước rồi bắt chước [thực hiện]
cái hạnh trừ chấp trước th́ đừng nói là
đốt tư hương, dẫu có đốt sạch toàn
thân cũng chỉ là khổ hạnh vô ích!
Do
tâm chấp trước, ư niệm cầu danh dự nên
đă không hiểu nổi ư chỉ tam luân thể không, mà
cũng chẳng có cái tâm tứ hoằng phổ nhiếp.
Biến pháp phá trừ Thân Kiến của Như Lai thành tăng
Thân Kiến[11] thêm kiên
cố. Tội phước do tâm phân định. Quả báo
do tâm mà khác! V́ thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Ngưu ẩm thủy thành nhũ, xà ẩm thủy
thành độc. Trí học chứng Niết Bàn, ngu học
tăng sanh tử” (Ḅ uống nước thành sữa,
rắn uống nước thành nọc. Trí học chứng
Niết Bàn, ngu học thêm sanh tử).
39. Thư gởi hiếu liêm[12] Tiêu Vĩnh Hoa ở Quảng Đông (viết thay cho thầy Khang Trạch)
Sách Ngũ
Đăng Hội Nguyên[13]
trong danh mục của các nhà xuất bản kinh đều
không có, không cách nào thỉnh được. Chỉ v́ không
biết do lẽ ǵ các hạ t́m sách này nên khôn ngăn
hỏi đi hỏi lại:
1) V́
làm bậc chân tham thật ngộ, thấu suốt rơ ràng
tự tâm, thấy triệt để diện mục
sẵn có trước khi cha mẹ sanh ra?
2) Hay
là muốn học một gậy, một tiếng hét[14],
hét Phật mắng Tổ, ngơ hầu miệng lưỡi
biện bác trơn tru ḥng được tiếng khen trong
cơi tục? Hoặc là muốn nhớ được
lời lẽ để bút lực mạnh mẽ, ngơ
hầu lúc vung ngọn bút viết lách thần cơ hoạt
bát, văn từ u huyền, thâm thúy như bọn ông Tô
Tử Chiêm[15] phun
châu nhả ngọc, gần như không phải là
người ăn cơm thế gian có thể làm
được!
Nếu
muốn được như trường hợp thứ
nhất, trước hết hăy nên nghiên cứu kinh Phật
cho thông suốt giáo pháp. Lại phải thân cận bậc
cao nhân sáng mắt, được nghe một chữ,
một câu, tận lực tham cứu đến cùng
cực, đến khi tận sức công thuần tự
nhiên “tro lạnh, đậu nổ”[16],
triệt ngộ tự tâm như duỗi tay thấy
được ḷng bàn tay, trọn chẳng c̣n mối nghi ta
- người. Lại cần có cao nhân ấn chứng,
kẻo sợ hiểu lầm dấu hiệu. Nếu làm
được như thế th́ hăy xem sách ấy và hết
thảy sách Thiền. Người trong nhà và người
trong cùng một nhà nói chuyện trong nhà, chỉ có ích chứ
không tổn hại mảy may ǵ! Nếu chưa thể
dụng công như thế và chưa được khai
ngộ ấn chứng mà trước đó lại toan coi
sách Thiền mong được khai ngộ th́ cũng
như gương cổ bụi lấp, muốn mau tỏa
ánh sáng, chẳng mài chất nhơ, chỉ bôi phấn
trắng. Bôi bao nhiêu kiếp cũng chẳng tỏa sáng. Đấy
gọi là nương theo người khác để
hiểu, tự lấp cửa ngộ, kể chuyện
ăn, đếm của báu, sao cứu được
đói, nghèo!
Nếu
muốn được như trường hợp thứ
hai th́ tuy là nhân lành nhưng trái lại chuốc lấy
quả ác. Đây chính là cái hố sâu vạn trượng Tăng
- tục hiện thời bị hăm trong ấy. Bởi
những ǵ Thiền Tông nêu bày, đề xướng
đều một mực quy về hướng
thượng. Người ngộ giải sẽ lănh
hội thần diệu, kẻ mê hoàn toàn bị ngôn ngữ
chuyển, chẳng hiểu ư cổ nhân đập gậy,
hét, chửi, bèn lấy đó để hành tŕ. Sự
tổn thất ấy há nào phải chỉ là Vương
Măng[17]
học đ̣i Châu Công, Tào Tháo học đ̣i Văn
Vương. Đề-hồ thượng vị
được cơi đời trân trọng gặp phải
những người ấy biến thành độc
dược. Ông Bùi Công Mỹ[18]
nói: “Hiểu được ư
th́ mau thành Phật đạo, đánh mất ư chỉ
sẽ vĩnh viễn vào Nê Lê (địa ngục)”. Chẳng
đáng sợ ư? Nguyện các hạ đừng manh nha ư
niệm ấy. C̣n như muốn trước tác giống
như cổ nhân, không biết cổ nhân ai nấy
đều đă tỏ rơ tự tâm lớn lao. V́ thế,
nói lời thốt chữ diệu hợp thiền cơ, ví
như đầu bếp xẻ trâu, Dưỡng Do Cơ
bắn vượn[19],
không thể chỉ học mà được như thế đâu!
40. Thư gởi cư sĩ X… (viết thay sư Liễu Dư)
Giữa Xuân lên núi, chớp mắt đă nửa
năm; dẫu thọ trăm năm, khảy tay liền
qua. C̣n một hơi thở nên cầu đường ra,
chớ để đến lúc lâm chung hối không kịp
nữa! Thường nhớ kinh dạy: “Thân người khó được, chính giữa đất
nước khó sanh, Phật pháp khó nghe, tín tâm khó sanh”. Ông
may mắn hội đủ cả bốn điều
ấy, càng phải nên nỗ lực, như lên núi báu
phải được Ma Ni. Do c̣n ở địa vị
phàm phu, chưa đoạn Hoặc nghiệp, sanh tử
chưa giải quyết khó khỏi đọa lạc. V́
vậy, đức Như Lai cực lực khuyên chúng sanh
phát chân tín tâm và tâm nguyện khẩn thiết, tŕ danh
hiệu Phật cầu sanh Tịnh Độ. Mọi công
đức như: cúng dường Tam Bảo, trọn
đời giữ giới, hết thảy việc làm…
chớ dùng để cầu phước báo nhân thiên trong
đời sau, chẳng cầu đời này trường
thọ, mạnh khỏe, b́nh yên, chỉ cầu lâm chung văng
sanh Tịnh Độ, tương khế, tương
hợp với thệ nguyện của chư Phật,
cảm ứng đạo giao nhất định măn sở
nguyện.
Như
người té xuống biển, có thuyền đến
cứu, nếu chịu ngồi lên thuyền liền lên
được bờ kia. Cầu phước nhân thiên,
chẳng cầu sanh Tịnh Độ giống như không
chịu lên thuyền, khó khỏi chết ch́m. Phật
muốn khiến cho ông siêu phàm nhập thánh, ông lại
chỉ nguyện được phước hữu
lậu. Khi phước báo hết rồi, đọa măi
trong tam đồ, như dùng châu Ma Ni để bắn chim
sẻ, được th́ ít, mất th́ nhiều! Chẳng
đáng tiếc ư? Hăy nên cảnh tỉnh!
Phải
biết một pháp niệm Phật văng sanh chính là
đạo trọng yếu bậc nhất để
hết thảy chúng sanh mau thoát khỏi sanh tử, quả
thật là pháp môn tối thượng để hết
thảy chư Phật mau thành Chánh Giác. Đừng nghĩ
pháp này giản tiện, dễ hành, rồi coi là chuyện nhàn
hạ, phải chí tâm siêng năng, khẩn thiết mới
có thể thành tựu. C̣n như pháp tắc tu tŕ th́ trong Long
Thư Tịnh Độ Văn đă ghi đủ. Lại
có An Sĩ Toàn Thư chép đủ pháp tắc niệm
Phật văng sanh và những việc để tích
đức, sống trong cơi trần học đạo,
tề gia, dạy con, làm cho đời yên, dân lành,
đủ mọi pháp tắc đều bàn luận áo
diệu đến cùng cực. Có thể nói là bộ sách
độc nhất vô nhị thông Nho lẫn Phật, là tác
phẩm vô song xưa nay, hết thảy Tăng, tục,
nam, nữ đều có thể lấy sách ấy làm
gương mẫu vậy!
41. Thư gởi phu nhân X… ở Hải Diêm (viết thay thầy Ngộ Khai)
Thân chính là cái gốc chuốc
khổ, chán ghét nó chính là cơ sở để
được vui. Do túc nhân sâu dày, hiện tại nhiều
điều thiện, nên báo nặng nhiều kiếp
biến thành báo nhẹ phải thọ trong đời
hiện tại, mắc tai họa nhưng dũng mănh tu tŕ
th́ sự đau khổ cơi Sa Bà biến thành đạo
sư cho Cực Lạc. Nên nghĩ như ḿnh phải
trả nợ th́ áo năo, phiền muộn tự tiêu. Nếu
sanh ḷng oán hận th́ tội nghiệp nối tiếp nhau
khởi lên. Cảnh nghịch xảy đến hăy
thuận chịu mới là người biết vui theo
mạng trời. Chán cơi này, ưa cơi kia mới là
người tu Tịnh niệm Phật. Nghĩ cư sĩ
sùng tín đại pháp, nhờ vào đức hạnh trong
đời lẽ ra phải được hưởng báo
khỏe mạnh, b́nh yên; do duyên ǵ thân lại mang bệnh
ngặt? Phải chăng là Di Đà Như Lai, Quán Âm
đại sĩ tha tâm, thiên nhăn, phóng đại quang minh nhờ
cơn bệnh huyễn của phu nhân để làm lời
cảnh tỉnh cho những kẻ đồng nhân, ngơ
hầu cứu vớt khắp mọi kẻ đang
đắm ch́m trong biển khổ?
Dám mong bà hăy sâu xa khuyên từ
con, dâu, cho đến tôi tớ và xóm giềng, thân quyến
bên ngoài đều cùng kiêng giết, phóng sanh, ăn chay,
niệm Phật, th́ gia pháp của Tịnh Như ngàn năm
măi tốt đẹp, ngơ hầu tước lộc rỡ
ràng, lưu danh thơm muôn đời. Như thế th́ cái
thân bệnh thê lương này trở thành mái chèo thoát
biển khổ, lời than bệnh ủ rũ trở thành
hướng dẫn tốt lành cho trần thế. Nào c̣n
phải đợi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn mới có
thể vào cơi tục độ sanh, nào phải lên
địa vị Bất Thoái mới có thể hiện thân
thuyết pháp!
Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng diệt
được trọng tội trong tám mươi ức
kiếp sanh tử”. Dạy người niệm Phật
một tiếng hơn bố thí bảy báu suốt trăm
năm! Chỉ cần chí tâm niệm Phật th́ không
bệnh nào chẳng lành, hăy theo vết chân thơm của bà
phu nhân họ Phùng dạy người niệm Phật th́
phẩm vị văng sanh tối cao, chẳng kém khuôn mẫu
tốt đẹp của Kinh Vương[20]
phu nhân cho mấy. Dùng điều đó cầu đảo
nơi Phật lập tức thấy thuyên giảm. Xin hăy
dốc sức, chớ nên nghi ngờ. Thêm nữa, cuốn
Di Đà Sớ Sao Hiệt (trích yếu Di Đà Sớ Sao)
của Tịnh Như ngôn từ giản dị nhưng tinh
xác, lư sâu nhưng dễ hiểu, là một cuốn sách quan
trọng trong Tịnh Độ, quả thật là
người hướng dẫn tốt lành cho kẻ sơ
cơ, hăy nên đọc kỹ. Mong rằng có ai đến
đem về mấy bộ để cuộc thí pháp
của Tịnh Như được mở rộng.
42. Thư gởi Cố mẫu Từ phu nhân ở Hải Diêm (viết thay thầy Ngộ Khai)
Người tên X… lên núi, hỏi đến
cuộc sống của bà, cho biết: Bà thường ngày
đọc Thiền Lục, thường bàn luận công án.
Ngu tôi cho rằng: Lúc tuổi già suy, nên siêng niệm
Phật, lấy Tịnh Độ làm tông mới có thành
tựu thật sự. Xin thử bàn xem: Thiền và Tịnh
Độ lư vốn không hai. Nếu luận trên mặt
Sự tu th́ tướng trạng khác nhau một trời,
một vực. Thiền nếu không triệt ngộ
triệt chứng sẽ chẳng thể siêu xuất sanh
tử. V́ thế, ngài Quy Sơn nói: “Nơi chánh nhân th́ có thể đốn ngộ, c̣n xuất
trần phải tiến từ từ theo thứ tự. Nếu
đời đời bất thoái th́ thành Phật quyết
định có kỳ”. Lại nói: “Sơ tâm do duyên đốn ngộ tự tánh, nhưng
hăy c̣n có tập khí từ vô thỉ bao kiếp chưa
thể diệt ngay được, nên phải dạy ngươi
trừ cho hết hiện nghiệp lưu thức”. Ngài
Hoằng Biện[21]
nói: “Đốn ngộ tự
tánh bằng với chư Phật, nhưng chưa thể
nhanh chóng hết sạch tập khí vô thỉ. Cần phải
nhờ vào đối trị mới ḥng khởi công dụng
thuận theo Tánh được, như người ăn
cơm chẳng thể ăn một miếng liền no
ngay!” Ngài Trường Sa Sầm[22]
nói: “Thiện tri thức trong
thiên hạ chưa chứng quả Niết Bàn là v́ công
hạnh chưa bằng với chư thánh vậy”. Do
vậy, Ngũ Tổ Giới lại trở thành Tô Đông
Pha, Thảo Đường Thanh lại thành Lỗ Công.
Cổ kim tông sư triệt ngộ nhưng chưa
triệt chứng phần nhiều như vậy. Ấy là
do chỉ cậy vào Tự Lực, chẳng cầu Phật
gia bị, Hoặc nghiệp c̣n mảy may chưa tận th́
sanh tử quyết chẳng thể thoát khỏi.
Tịnh
Độ hễ có đủ ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh
liền có thể đới nghiệp văng sanh. Hễ
được văng sanh liền thoát sanh tử, kẻ
ngộ chứng bèn mau lên Bổ Xứ, kẻ chưa
ngộ cũng chứng A Bệ Bạt Trí (Bất Thoái
Chuyển). V́ thế, Hoa Tạng hải chúng đều
nguyện văng sanh; các tri thức bên Tông, bên Giáo cùng sanh
Tịnh Độ. Là v́ hoàn toàn cậy vào Phật lực,
lại thêm tự ḿnh tâm khẩn thiết. V́ thế,
được cảm ứng đạo giao; do vậy, mau
thành Chánh Giác. Nay tôi v́ bà tính toán: Hăy nên gạt bỏ hết
Thiền Lục, chuyên tu Tịnh nghiệp. Dùng cái tâm
mảy trần chẳng nhiễm tŕ thánh hiệu vạn
đức hồng danh, hoặc niệm ra tiếng,
hoặc niệm thầm, không xen tạp, không gián
đoạn. Niệm phải khởi từ tâm, tiếng
lọt vào tai, từng chữ phân minh, từng câu chẳng
loạn, lâu ngày chầy tháng sẽ tự thành phiến,
đích thân chứng Niệm Phật tam-muội, tự
biết Tây Phương tông phong. Đấy là đem cái công
phu “xoay trở lại nghe nơi tự tánh” của Quán Âm
để tu tịnh nghiệp “nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối” th́ tu Tịnh mà là Thiền,
c̣n ǵ diệu bằng!
43. Thư trả lời cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ nhất)
Người niệm Phật cũng không
phải là không được tŕ chú, nhưng Chủ và
Trợ phân minh th́ Trợ cũng quy về Chủ. Nếu
cứ tràn lan không phân biệt, coi đều như nhau th́
Chủ cũng không phải là Chủ. Chuẩn Đề và
Đại Bi nào có hơn, kém; nếu tâm chí thành, pháp nào
cũng linh. Tâm không chí thành, pháp nào cũng không linh! Một
câu Phật hiệu bao quát trọn vẹn không sót cả
Đại Tạng giáo. Người thông Tông, thông Giáo
mới có thể thật sự làm người niệm
Phật chân chánh. Nhưng người không biết ǵ, không
làm được ǵ, chỉ cần miệng nói
được th́ cũng có thể là người niệm
Phật chân chánh. Ngoài hai hạng này ra th́ chân chánh hay không
chân chánh đều là do chính ḿnh có nỗ lực, có y giáo
phụng hành hay không?
C̣n
như tu hành Tịnh Độ có lư quyết định không
nghi, cần ǵ phải hỏi đến sự hiệu
nghiệm nơi người khác! Dẫu người
khắp thế gian đều không có hiệu nghiệm,
cũng chẳng sanh một niệm nghi tâm, lấy lời
thành thật của Phật, Tổ làm bằng chứng. Nếu
hỏi đến sự hiệu nghiệm của
người khác tức là chưa tin cùng cực vào lời
Phật, phải lấy lời người để
quyết định nên thành cái tâm mong ngóng, không thể thành
tựu. Làm thân nam tử anh hùng, tráng liệt trọn
chẳng đến nỗi bỏ Phật ngôn để tin
lời người khác, tâm ḿnh vô chủ, chuyên muốn
lấy sự hiệu nghiệm của người ta
để hướng dẫn tiền đồ, chẳng
đáng buồn ư?
Tùy Tự
Ư tam-muội chính là đường tu chung từ phàm
đến thánh, tuy nói là Sơ Tâm Bồ Tát bao gồm
hết thảy phàm phu, nhưng thật ra là hạng Sơ
Trụ Bồ Tát phát trọn vẹn ba tâm, tam đức
viên chứng trong Viên Giáo (nếu ước theo Biệt
Giáo th́ là Sơ Địa): Do lấy
phát Lư tâm làm chánh nhân nên chứng Pháp Thân đức, do phát
Huệ tâm làm liễu nhân nên chứng Bát Nhă đức, do
phát thiện tâm làm duyên nhân nên chứng Giải Thoát
đức. V́ thế có thể hiện thân mười pháp
giới ứng khắp mọi căn cơ trong
mười phương thế giới, thượng
cầu hạ hóa; ông lại nói Sơ Phát Tâm chỉ là
kẻ sơ phát tâm vừa mới phát tâm tu hành thôi ư? Ông
thấy Kim Luân [chú pháp] đă dạy “ngộ pháp Nhị Không chứng lư Thật
Tướng” liền hớn hở, vui mừng, bèn
muốn gánh vác; Quang sợ ông bị ma dựa, nên tŕnh bày rơ
thân phận khiến cho ông trọn chẳng c̣n lầm
lạc nữa. Ngộ pháp Nhị Không, chứng lư Thật
Tướng chính là thân phận của Sơ Phát Tâm Bồ
Tát vậy! Pháp được giảng trong sách ấy phàm
phu đều có thể y theo đó để tu tŕ, nhưng
đừng hiểu thân phận được sách nhắc
đến là phàm phu [thật sự]! Thanh Văn, Duyên Giác có
đại thần thông c̣n chẳng thể đạt đến,
huống ǵ phàm phu! Lúc khắc in riêng sách ấy nên xem
kỹ:
1)
Vô trụ sanh tâm.
2) Chẳng trụ vào pháp để hành bố
thí.
3) Tam luân thể không.
4) Ư nghĩa nhất đạo thanh tịnh.
(Bốn câu này là cương yếu
của Phật pháp, người xem kinh tu hành phải nên
biết) th́ sẽ được thông
hiểu lớn lao!
Quang muốn đem những nghĩa này làm thành
bài tụng để người xem đến biết
được cương yếu. Đă bàn cùng Úy Như
nhưng bận rộn lắm việc chưa thể
rảnh rỗi, phải đợi năm sau. Khắc in
Thập Văng Sanh Kinh[23]
và ba thứ Tịnh nghiệp ban đầu trong Quán kinh
để lưu truyền trong đời cũng
được, tôi đă bảo với Úy Như nhưng chưa
rảnh để sửa những chữ sai trong bản
ấy, nên đem nguyên bản gởi đi. Chữ cổ tuy
không sai, nhưng không nên dùng. C̣n như nói quán thân, chẳng
quán hết thảy, chỉ quán vô duyên th́ vô duyên là Tùy Tự
Ư tam-muội, nghĩa là tánh không, vô sở hữu; đă vô
sở hữu nên không có ǵ để vin nắm (phan duyên).
Nếu chẳng một nhát dao chặt đôi từ căn
bản th́ tâm duyên trùng trùng, giải thoát sao được?
Mấy lời này giản lược cùng cực, nhưng ư
nghĩa sâu rộng. Mong hăy bảo với ông Úy Như.
44. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ hai)
Ḥa thượng Pháp Tràng xưa đă sẵn
linh căn, thoạt đầu là bậc chân Nho, sau thành
bậc chân Thích, có thể nói là chẳng uổng công
đọc sách học đạo vậy! Đời có
bậc chân Nho nên mới có chân Tăng. Bọn vô lại
xuất gia kia cố nhiên đều là ma vương
ngoại đạo phá hoại Phật pháp! Ngữ lục
của Ḥa Thượng thống khoái thẳng chóng, mở
rộng tâm mắt con người, đáng nên khắc in
lưu thông làm pháp bảo cho Thiền gia, nhưng sách ấy
chỉ phát huy đạo “chỉ
thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật”, chúng
ta chuyên tu Tịnh nghiệp chớ nên sờ soạng, ḍ
lường lời Ngài đến nỗi đánh mất
lợi ích cả hai bên. Không thể không biết
điều này! Điều được nhà Thiền
đề xướng là chỉ hướng về bổn
phận, ngoài ra [mọi chuyện khác] đều không
xiển phát. Chuyện tu nhân đạt quả, đoạn
Hoặc chứng chân của họ đều là tự ngầm
tu tŕ. Người ngoài thấy nhà Thiền chẳng
đề xướng những đạo lư tu chứng
ấy bèn bảo nhà Thiền không dùng đến những
pháp đó, thành ra hủy báng Thiền, báng Phật, báng pháp.
Mă
Tăng Ma[24] kiến
địa cao siêu, văn tự khéo léo, đẹp đẽ,
cũng đáng nên khắc bản lưu thông. Vương
Huyễn Như không thấu hiểu Tông môn chỉ v́ không
chịu nghiên cứu sâu xa giáo lư và cũng do chưa hề
thân cận tri thức, v́ thế chỉ thành một kẻ
hiểu biết Tông Môn trên mặt văn tự mà thôi.
Năm Quang Tự hai mươi mốt, tức mùa Xuân
năm Ất Mùi (1895), người ấy đến
Phổ Đà, được thế phát bởi ḥa
thượng Hóa Văn trụ tŕ chùa Pháp Vũ, chưa
thọ giới, sống được nửa năm bèn
trở về nhà, lại trở thành cư sĩ. Trong
cuốn đầu, ông ta viết năm Bính Thân (1896)
đến Phổ Đà làm tri kỷ của sư Hóa
Văn, toan muốn xuất gia, nhưng v́ gia sự thúc bách
phải quay về. Từ chỗ này có thể thấy ngôn
hạnh chẳng tương ứng!
Quang
từng gặp người này, chưa hề nói với
nhau một lời. Hỏi đến những người
ông ta thường gặp gỡ xem ông ta hành tŕ những ǵ;
họ nói ông ta không niệm Phật mà cũng chẳng xem
kinh. Những ǵ chép trong sách Minh Tâm Lục của ông quá
nửa là những câu dựa theo sách Kính Hoa Tập xưa
kia. Ông ta có sở đắc nơi ư Thiền Tông, nhưng
hạnh nhà Thiền chưa từng thực sự tu
tập. Do vậy mới đến nỗi chẳng
biết thời vụ, trao xằng pháp dược,
khiến cho những kẻ vô tri vô thức học phải
những lời sáo rỗng ấy bèn quay ra bài bác, vứt
bỏ những lư thật, sự thật trong kinh, khiến
ḿnh mù, làm cho người mù, từ đầu đến
cuối sách chẳng hé lộ triều đại và niên
hiệu với thâm ư khiến người đời sau
tưởng ḿnh là bậc cao nhân thời thượng
cổ mà thôi! Toàn thể sách ấy là cái tâm phàm phu sanh
tử kết nghiệp, chớ hề có ư nghĩa tùy duyên
mặc ḷng tự vui Thiên Chân. Hạng người như
vậy chẳng nên tán thán; chỉ sợ do tôi tán thán [người
đời] bèn tưởng ông ta hoàn toàn đúng, mà cũng
không nên báng bổ v́ sợ do tôi gièm báng người khác bèn
cho là ông ta hoàn toàn sai! Nhưng ông giữ pháp của ông, tôi
giữ đạo của tôi mà thôi! Rảnh công đâu bàn
chuyện rỗi hơi của người ta chẳng
ăn nhập ǵ đến ḿnh!
Bài
tiểu tự của sách Vạn Liên Tịnh Độ Thi,
hai ḍng đầu nêu lên thuyết “nhất tâm được
biểu hiện hay che lấp” chính là lư luận sai lầm. Lời
dạy chuyên tu Tịnh Nghiệp của ngài Thiện
Đạo có thể gọi là “tỏ rơ tâm chuyên nhất”, nhưng
ngài Vĩnh Minh dạy “vạn thiện đều tu” há có
thể gọi là “ngăn lấp tâm chuyên nhất” ư? Đúng
là sai lầm đến cùng cực! Phải nói là pháp môn Tịnh
Độ có Chuyên và Viên. Do căn khí của chúng sanh bất
nhất, nên chư Tổ lập pháp bất đồng. Ngài
Thiện Đạo dạy người nhất tâm tŕ danh,
không dạy tu tạp nghiệp là v́ sợ người
căn tánh trung hạ do tạp nghiệp đến nỗi
tâm khó quy nhất. Do vậy, Ngài dạy Chuyên Tu. Ngài Vĩnh
Minh dạy người vạn thiện đều tu,
hồi hướng Tịnh Độ là v́ sợ bậc
thượng căn hạnh chấp vào một bên,
đến nỗi phước huệ chẳng thể
xứng tánh viên măn nên dạy Viên Tu.
Nếu
là người chưa đạt đến địa
vị đại triệt đại ngộ th́ lập ngôn
quyết khó khỏi mắc điều tệ. Ví như
ếch ngồi đáy giếng chỉ thấy
được khoảng trời xanh chừng bằng miệng
giếng mà thôi! Bài tựa giảo chánh tái bản sách Tùy
Tự Ư Tam Muội, nếu nói thông thường th́
đại tâm phàm phu là Sơ Phát Tâm Bồ Tát, và nói đúng
ra th́ phải hiểu Sơ Phát Tâm Bồ Tát thuộc
địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo. Hiểu như
thế sẽ không mắc cả hai lỗi Ngă Mạn và Thoái
Khuất.
45. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ ba)
Đă đến Phổ Đà mấy lần,
hăy nên ở nhà lắng ḷng niệm Phật, chẳng nên
tới thường. Đến đây tốn phí công
sức, thời gian, hao tài, đối với ḿnh lẫn
người đều không có lợi ích ǵ. Nếu chưa
từng đến th́ đến chiêm bái đạo tràng
Bồ Tát một lần cũng được. Nếu
đă đến rồi nên ở nhà cúng dường, cung
kính, lễ bái, lẽ đâu Bồ Tát chỉ ở tại
Phổ Đà, chẳng cảm ứng khắp pháp giới
ư? Quán Âm Bồ Tát thường trụ trong khởi tâm
động niệm của hết thảy chúng sanh, hiển
lộ đại thần thông, diễn thuyết diệu
pháp; tiếc là chúng sanh mê trái bỏ lỡ, cô phụ từ
ân. Nếu có thể thường niệm danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát, trong hết thảy thời, hết
thảy chỗ sẽ tự thường được
Ngài che chở. Nên đem ư này bảo lại cùng hết
thảy kẻ tri giao.
46. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ tư)
Biết ư ông muốn sống ở Thông Châu, tuy
có chí muốn thành tựu con em, nhưng không biết con em
được thành tựu chỉ là do gia đ́nh dạy
dỗ! Đối với con cái, từ nhỏ phải
dạy hiếu, đễ, trung, tín, cần (siêng năng),
kiệm (tiết kiệm), ôn (ôn ḥa), cung (cung kính), th́ khi
đến lớn đi học đọc sách mới có
cơ sở để hưởng được lợi
ích. Nếu từ nhỏ dung túng thành quen thói, đừng
nói chi những đứa không có thiên tư, không khéo dạy;
ngay cả những đứa có thiên tư, được
khéo dạy cũng chỉ thành một gă thợ khéo văn
chương, thành phường bại hoại trong làng Nho
mà thôi! Đời có kẻ tài cao Bắc Đẩu, học
khắp năm xe[25],
nhưng hành vi đều ỷ vào thông minh, độc
hại sanh linh, hủy diệt đạo nghĩa! Nguyên
nhân đều bắt đầu do lúc ban đầu
thiếu gia giáo vậy! Văn Vương nêu gương
cho vợ, gương ấy thấu đến anh em, rồi
lan ra khắp nước nhà; điều này cùng một ư vị
với điều được nói trong sách Đại Học:
“Muốn b́nh trị thiên
hạ, quốc gia th́ phải khởi đầu từ cách
vật trí tri, thành ư, chánh tâm”. Đây chính là bí quyết vô
thượng dạy người mong thành thánh thành hiền
của Nho Gia vậy. Bỏ nơi đây cầu nơi khác
đều là chạy theo cái ngọn!
Nay
tôi bàn tính: Khi con cái đă có thể nói năng, hiểu
biết th́ trong gia đ́nh trước hết phải
dạy cho con biết mặt chữ (con gái tuy không
cần phải có học vấn rộng, nhưng trọn
chẳng thể chỉ dạy cho con biết mặt
chữ, không thông ư nghĩa. Mẹ c̣n phải nên dạy con
từ thuở c̣n nằm trong thai. Nếu con gái biết
chữ, thông văn lư th́ con cái do ḿnh sanh ra sẽ càng dễ
dạy). Mỗi một tờ
giấy chỉ viết một chữ, đừng viết
cả hai mặt. Nếu viết hai mặt khác sẽ
giống như nhớ khẩu quyết vậy[26].
Mỗi ngày hạn định mấy chữ, mỗi ngày
phải nhận rành mặt chữ, lại phải nhận
được mặt chữ hai ba lần. Chưa đầy
một năm đă biết được nhiều
chữ. Về sau lúc đọc sách, hễ đọc
đến đều nhận được mặt
chữ, chẳng đến nỗi vướng cái tệ
chỉ nhớ ca kệ.
Phàm
những ǵ trẻ làm được đều nên dạy
nó thường tập quen siêng năng (như quét
tước, dọn dẹp v.v...)
Phàm thức ăn, y phục chớ nên hoa mỹ. Nếu
trẻ phung phí ngũ cốc và làm hư đồ
đạc, bất luận là vật sang, hèn, nặng,
nhẹ đều nên bảo cho nó biết của ấy
chẳng dễ có, và những nghĩa lư chiết
phước tổn thọ! Nếu vẫn như thế nhất
định phải trách phạt, quyết chẳng bỏ
qua. Như thế, trẻ sẽ tự ḿnh kiệm
ước, trọn chẳng đến nỗi xa xỉ,
phung phí. Khi trẻ đọc được sách nên đem
những sách Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên dạy
trẻ đọc thuộc, thuận theo mặt chữ mà
diễn giảng. Những hành vi thường nhật
nếu hợp với điều thiện th́ chỉ cho
trẻ thấy điều ấy hợp với những
điều thiện được nêu trong hai cuốn sách trên
mà khen thưởng. Nếu làm điều bất thiện
th́ chỉ cho trẻ thấy điều ấy phù hợp
với chuyện bất thiện được nói trong hai
sách ấy để quở trách (nhà cư sĩ Bành
Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) đỗ đạt
đứng đầu tỉnh Giang Tô, đời
đời tuân thủ hai sách ấy. Nhà ấy Trạng Nguyên
thật nhiều, nhưng suốt đời đều
tuân thủ hai sách ấy không thay đổi). Như vàng đổ vào khuôn, như
nước có đê ngăn, há lẽ nào chẳng thể
thành đồ vật, vẫn cứ chảy ngang y như
cũ hay sao? Căn bản để con người làm
người là đây! Không giảng điều này mà
muốn thành con người hoàn toàn, trừ phi là hạng có
thiên tư bằng Mạnh Tử trở lên mới
được mà thôi!
Nhưng
đến lúc đi học, chẳng nên cho con vào ngay
những trường đă lập hiện thời, nên
để con ở nhà vài năm, mời một vị
thầy văn chương lẫn đức hạnh
đều khá, tin sâu nhân quả để dạy trẻ
học Tứ Thư và Ngũ Kinh trước. Đến
khi trẻ học được vài phần, đối
với toàn bộ văn tự đạo lư chẳng
bị tà thuyết tục luận mê hoặc th́ mới cho
con vào trường ḥng mở mang tầm mắt, biết so
sánh sự việc, chẳng đến nỗi hành xử trái
thời, không cách nào tiến lên được! Làm
được như vậy th́ đứa có thiên tư
sẽ tự thành đạt, đứa không thiên tư
cũng thành lương thiện, tốt lành cho ḿnh lẫn
người, tự lợi, lợi tha, quả thật
chẳng ngoài những điều lăo tăng thường
nói.
Lại nữa, trước kia ở Dương Châu có thỉnh mười ba bộ Cảm Ứng Vựng Biên tặng cho người, Vân Lôi cũng tặng một bộ. Ngày hôm sau Vân Lôi đến chỗ tôi ở, tôi bảo ông ta mang cho ông một bộ, ông ta đem tặng cho người khác, nói ông có thể thỉnh được sách nơi thư cục chánh, không biết đă thỉnh hay chưa? Những văn bút đàm luận trong sách này đều siêu diệu (sách ấy có đôi ba chỗ hơi trở ngại đôi chút, nhưng xét về toàn thể đều tốt nên có thể dùng được), nhưng không quán thông Phật pháp bằng An Sĩ Toàn Thư. Ngoại trừ An Sĩ Toàn Thư ra, nên coi sách này là nhất, nhưng chẳng dễ ǵ chỉ dạy cho đàn bà, con trẻ. Quang ở Dương Châu nhân thấy sách này phần đầu chưa khắc Cảm Ứng Thiên, bèn cho khắc bổ sung. Do t́m sách bèn gặp được một bản Cảm Ứng Thiên Trực Giảng, sách ấy do một bậc đại thông gia soạn, lời chú giống với lối văn Bạch Thoại, đọc theo mạch văn ư nghĩa càng rơ ràng, rất thích hợp cho con cái đang tuổi thơ ấu. Nay đem sách ấy gởi đi, mong ông sẽ dùng sách ấy để răn dạy con cái, tương lai ắt được lợi ích thật sự mà lại c̣n thiết thân nữa (Ông Vương Lôi vào mùa Hạ từng khắc Nhị Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục của ông Bành Hy Tốc, đều là những chuyện thực trong chánh sử, rất dễ làm cho người khác [đọc đến] phải kiêng dè, chỉ có hai bản).
47. Thư gởi cư sĩ X… ở
Vĩnh Gia (thư thứ năm)
Những lời Úy Như nói hơi có
đạo lư. Nhưng tôi là một gă vô tri vô thức
chỉ biết lo tự độ[27],
dạy người cũng dùng những pháp tắc
để tự độ, c̣n ông ta muốn cho
người khác thông hiểu rộng răi Phật pháp rồi
nhờ đó mà tin sâu Tịnh Độ; do vậy mới
đến nỗi bề ngoài tợ hồ không phù hợp,
nhưng bên trong quả thật do chú trọng đến những
điểm khác nhau, ai nấy có sở trường riêng và
cũng có khuyết điểm riêng nên mỗi cách có
những thiếu sót riêng. Nếu có thể chọn lấy
những chỗ lợi ích th́ chẳng đến nỗi
trở thành thói tệ, pháp môn sẽ may mắn lắm!
Tuy
vậy, rất khó! Pháp do Như Lai, chư Tổ đă
lập, hậu nhân làm theo c̣n bị biến thành tệ
hại, huống ǵ bọn ta? Ai nấy chỉ nên giữ
lấy một pháp ngơ hầu tự lợi và kiêm dùng pháp
đó để lợi ích người hữu duyên th́
mới nên! Kẻ vô duyên Phật c̣n chẳng độ
được, dù chúng ta có lập đủ cách cũng
sẽ chỉ có thể nói “không làm ǵ được” mà
thôi! Hai lá thư của Úy Như đă khen ngợi Bất
Huệ quá mức khiến cho người ta thẹn thùng
không lánh vào đâu được! Trọn chẳng
được học theo cái lối ấy, học theo
sẽ khiến người khác nghi ngờ, miệt thị
cổ nhân, đâm ra cả ḿnh lẫn người cùng
bị tổn hại! Thư ông viết cũng rất
hữu lư, nhưng Quang sự việc quá nhiều, không
rảnh rang tŕnh bày rơ. Những lời thỉnh vấn
nếu phù hợp bèn đáp, nếu không hợp bèn bảo
đi hỏi cao nhân khác. Như các cửa tiệm ngoài
chợ, mỗi tiệm có bán hàng hóa chuyên biệt: Hoặc
chỉ một món hàng mà có thể thông thương làm nước
giàu, hưng gia lập nghiệp; hoặc bán nhiều món hàng
nhưng chẳng qua cũng chỉ nhằm để thông
thương, nước giàu, hưng gia, lập nghiệp mà
thôi.
Chúng
tôi đă chẳng dựng đại pháp tràng, nhặt
cơm thừa canh cặn bị vất bỏ ở
cửa nhà trưởng giả đại phú để
tự nuôi thân; nếu ai chẳng nề hà hôi chua bèn
chẳng ngại chuyền tay trao lại. Nếu không, hăy
cứ mặc ḷng lấy gan rồng tủy phượng
để tự bồi bổ, há có nên nói “tặng hết
cho mọi người, khiến cho ai nấy đều
hưởng thứ cơm thừa canh cặn của ta mới
đẹp dạ ḿnh” ư? Ở chợ, nếu cửa
hàng chuyên bán một thứ luôn luôn phát đạt th́ kẻ
bán nhiều mặt hàng cũng sẽ trích vốn
[để buôn mặt hàng đó]. Sao riêng chuyện hoằng
pháp lợi sanh lại chẳng giống như thế? Ngàn
căn cơ đều cùng dạy chính là lư do xuất
thế của Như Lai. Như Lai giáng tích thị hiện
làm thiện tri thức, cũng chẳng lấy đó làm
chuẩn. Tôi pháp ǵ cũng chẳng thông, chỉ chịu niệm
Phật th́ cũng có thể cậy vào đó để
liễu sanh tử; tôi cũng chẳng thẹn v́ ḿnh không
thông, chỉ thẹn ḿnh ngôn hạnh không tương
ứng, hữu danh vô thực mà thôi!
48. Thư trả lời cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ sáu)
Giấc mộng tốt lành kỳ lạ,
đặc biệt, ắt có con quư xuất loại bạt
tụy nối ḍng thư hương, kế nghiệp
tổ tông, do Phật, trời ban cho. Ḷng vui mừng, an
ủi khôn cầm, chúc mừng, chúc mừng! Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Hết thảy chúng sanh
đều có đủ đức tướng, trí huệ
của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp
trước nên chẳng thể chứng đắc”. Do vậy,
biết trí huệ, đức tướng chúng sanh và
Phật giống nhau. Ấy chính là Tánh Đức! Do có
vọng tưởng, chấp trước và ĺa vọng
tưởng, chấp trước nên chúng sanh và Phật khác
hẳn nhau. Đấy chính là Tu Đức vậy.
Tu
Đức có thuận, có nghịch. Tu thuận theo tánh th́ càng
tu càng gần, tu đến cùng cực bèn chứng triệt
để, tuy chứng nhưng trọn chẳng được
điều ǵ! Tu nghịch với tánh th́ càng tu càng xa, tu
đến cùng cực bèn vĩnh viễn đọa trong ác
đạo, đọa nhưng trọn chẳng mất ǵ.
Hiểu rơ điều này th́ kẻ ngu có thể là hiền, kẻ
hiền có thể là ngu, kẻ thọ bị chết
yểu, kẻ chết yểu được sống
thọ, phú quư, bần tiện, con cháu đầy đàn hay
tuyệt diệt, mỗi chuyện đều có thể
tự ḿnh làm chủ, có chỗ nương tựa có
thể thành không nơi nương tựa, không nơi nương
tựa có thể thành có nơi nương tựa; như
núi cao không lên được, con người không có cách nào
th́ cũng chẳng ngại đục vách núi xếp bậc
rồi cũng lên thẳng được chót đảnh.
Con người xưa nay không biết đến nghĩa lư
“tùy tâm tạo nghiệp, tùy tâm
chuyển nghiệp”; bao nhiêu kẻ đại thông minh,
đại học vấn trở thành bỏ sạch
mọi công trước, lại c̣n di hại bao kiếp!
Nếu
chẳng tu đức th́ thân dù giàu trùm thiên hạ, quư
như thiên tử, hoặc quan vị cao cùng cực, thanh
thế lừng lẫy như địa vị tể
tướng, phụ thần, có hay không những kẻ ngay
trong đời này thân bị giết, nhà tan cửa nát?
Như vậy những ǵ thân ḿnh tự có được
đều chẳng thể nương cậy
được! Viên Liễu Phàm khá hiểu nghĩa này, nên
coi hết thảy những ǵ ḿnh được
hưởng thụ không ǵ chẳng phải do nhân
trước định sẵn! Thế tục
thường gọi “tiền nhân” là trời, “thiên
định thắng nhân” nghĩa là khó chuyển
được cái nhân trước! Nhân định cũng
có thể thắng được trời nghĩa là tu tŕ
chống lại nghiệp th́ nhân trước chẳng đáng
nương cậy! Tức là dùng cái nhân hiện tại làm
nhân để tiêu diệt cái nhân trước. Nếu
mặc t́nh làm càn th́ sẽ trở thành trái ngược
lại. Hiểu điều này th́ kẻ ngu sẽ thành
hiền, kẻ dở tệ, tầm thường sẽ
thành siêu quần, bạt tụy; đều do chính ḿnh
giữ cái ḷng tu đức và tùy thời khéo dạy mà thôi!
Há chẳng nên nỗ lực tài bồi ngơ hầu giấc
mộng tốt đẹp trở nên có căn cứ hay sao?
49. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ bảy)
Nhất Hạnh Cư Tập[28] nét
chữ khắc quá nhỏ, in tạm mấy ngàn bộ, là do
các vị Úy Như v.v… không chăm sóc tử tế. Bản
in được duyệt sửa khá tinh tế, không
thấy sai ngoa. Sách này quả thật là đại hộ
vệ cho Tịnh tông, nhưng cũng có chỗ có thể làm
cho người khác mắc bệnh. Nay tôi không thể không
bảo cho ông biết, những người khác cũng do
đây mà hiểu đại lược. Nhị Lâm cư
sĩ (Bành Tế Thanh) rất tin vào cầu cơ, những
lời giáng cơ được ông chép lại rất phù
hợp với giáo pháp. Nếu chịu hành tŕ theo đó
ắt được đại lợi ích. Nhưng
thời thế khi ấy khác, thời này lại khác!
Nếu chấp rằng lời giáng cơ ắt đều
phù hợp với giáo pháp nhà Phật, đều có thể
nương theo những lời ấy ắt sẽ mắc
lỗi do cầu cơ bèn nghịch giáo. Những kẻ
giáng cơ đa số là linh quỷ, chân tiên rất ít!
Dẫu chân tiên đi nữa, há có thể hơn
được chư Phật, chư Tổ ư? Chớ
nên viện cớ “Nhị Lâm cư sĩ c̣n tin vào lời
giáng cơ, lẽ nào chúng ta dám không tin!” th́ là lầm lạc
quá lắm!
Trong
sách ấy có lời Bạt ghi Thiền Tông Bí Mật Liễu
Nghĩa kinh do chính Phật đă nói. Ông Nhị Lâm chưa
mở mang Sai Biệt Trí, nên tạo thành đầu mối
bịa đặt bừa băi cho người đời sau.
Kinh này ở chùa Pháp Vũ trước kia cũng có một
bản, Quang đă từng đọc qua; lời lẽ thật
sự không có lỗi lầm ǵ, nhưng toàn là những câu trích
từ các kinh Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Viên Giác, Kim Cang…và
Lục Tổ Đàn Kinh, cũng như những câu dung
hội hai tông Thiền - Tịnh trong Tịnh tông ghép thành. Bậc
thông gia xem thấy cố nhiên được lợi ích, c̣n
kẻ không thông suốt dùng chuyện này làm chuẩn để
đánh giá mọi lời giáng cơ th́ trật rồi. Do
vậy, Quang bèn đốt đi để diệt mối
hại. Nhị Lâm đem sách ấy giảo chánh, in lại;
đó là v́ trí của Nhị Lâm chỉ biết đến
mặt lợi ích, không biết sách sẽ gây ra mối
tệ vô cùng: Mai sau có những kẻ biến tà thuyết
thành chánh giáo đều sẽ dùng lời Bạt ấy
để xướng xuất. Nếu Ấn Quang khắc
in sách ấy sẽ trọn chẳng khắc lời Bạt
ấy. Lưu thông Phật pháp chẳng phải là chuyện
nhỏ nhặt, há chẳng nên cẩn thận từ
đầu ư?
Tôi
là người ngoài cơi đời, cần ǵ phải
mừng Tết, mừng thọ? Năm Dương Lịch
đă hết, cần ǵ phải gởi thiệp chúc
mừng? Há chẳng phải là vô sự bèn sanh sự?
Dẫu hết năm Âm Lịch cũng chẳng cần
phải ăn mừng. Thói tục phù phiếm nhân t́nh
thế gian ấy nếu có nhân duyên tiện dịp bèn đề
vài câu c̣n được, chứ riêng v́ lẽ mừng
tuổi bèn từ xa vài ngàn dặm gởi đến
một phong thư th́ chẳng bằng lắng ḷng, giảm
việc có hay hơn không?
50. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ tám)
Nhận được thư, biết ông trong
cơn bệnh nhờ sức Tam Bảo biến hiểm
thành lành, mới biết sanh tử trắng tay; nếu không
thâm nhập một môn sẽ chẳng làm được ǵ.
Nhân nghiên cứu, đọc các sách Tịnh tông mới
biết Di Đà v́ ta phát nguyện, lập hạnh
để mong thành Phật. Ta do trái nghịch Di Đà
hạnh nguyện nên bao kiếp dài lâu thường luân
hồi lục đạo, vĩnh viễn làm chúng sanh. Hiểu
rơ Di Đà là Phật trong tâm ta, ta là chúng sanh trong tâm Di
Đà. Đă là một mà phàm và thánh khác nhau một trời
một vực là v́ ta một mực mê trái nên mới thành ra
nông nỗi ấy. Tín tâm như thế mới là chân tín.
Từ tín tâm này, phát ra cái nguyện quyết định văng
sanh, hành cái hạnh quyết định niệm Phật,
ngơ hầu thâm nhập pháp giới Tịnh Độ, thành
tựu ngay trong một đời, siêu nhập thẳng vào
Như Lai địa như mẹ con gặp gỡ, vui
sướng vĩnh viễn.
Tuy
nhiên, biết không khó, làm được mới khó. Trong
đời có hạng người nói xuông, khoe mẽ[29]
nghe được lư “tâm,
Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt”, hoặc do
duyệt Giáo tham Tông ngộ được lư ấy, bèn nói:
“Ta đă giống hệt Phật th́ tu hay chứng c̣n có ích
ǵ”, bèn buông tâm phóng ư trong hết thảy cảnh duyên, lầm
lạc bảo: “Sáu trần chính là giác, tham - sân - si chính là
Giới - Định - Huệ, cần ǵ phải chế tâm
nhiếp thân, không dây tự trói?” Loại kiến giải
này hèn kém nhất, chính là chấp Lư phế Sự, bác không
nhân quả, như dùng bánh vẽ để khỏi đói,
xây nhà trên không, tự lầm, lầm người, tội
há thể cùng tận nổi? Do thiện nhân chuốc
lấy ác quả, tam thế chư Phật gọi kẻ
ấy là “hạng đáng thương xót”. Ông nên
nương vào lư tâm Phật, nhân quả bất nhị này
để thiết thực tu tŕ pháp Tín - Nguyện -
Hạnh th́ văng sanh sẽ có ngày, có hy vọng thành Phật,
may mắn lắm thay!
Bài
tựa Thiền Tông Bí Mật Liễu Nghĩa Kinh nơi
sách Nhất Hạnh Cư Tập tôi đă nói với ông Úy
Như rồi, ông ta viết thư trả lời: “Ông ta
chưa hề thấy kinh ấy, nên lúc khắc đă sơ
ư bỏ qua, sẽ bỏ bài tựa ấy đi, ngơ hầu
khỏi tạo nên nghi ngờ, lầm lạc”. Tôi lại bảo
khắc chữ to hơn, ḥng [sử dụng bản gỗ
khắc] in được nhiều lần hơn; ông ta cũng
cho biết đă bảo thợ khắc chữ to hơn, lại
c̣n cho biết trong đầu tháng Hai sẽ lên miền
Bắc. Quang cũng chẳng hỏi ông ta đă trở
lại làm việc cho chính quyền hay chưa? Ở Bắc
Kinh hiện đang lập xưởng in kinh, nếu Úy
Như không chăm sóc sẽ không xong. Toa thuốc cữ hút
thuốc phiện[30] truyền
xa bốn phương, ai nương theo đó cữ thuốc,
khi dùng hết thuốc bệnh bèn lành, quả thật là
thần phương (bài thuốc tuyệt hay).
Như
Lai thuyết pháp vốn thích ứng căn cơ, v́ thế
mới có chuyện v́ Thật bày ra Quyền, khai Quyền
hiển Thật, năm thời ban bố giáo pháp. Lại v́
cậy vào Tự Lực để liễu thoát th́ khó
khăn, cậy vào Phật Lực để liễu thoát th́
dễ dàng; lại thêm chúng sanh đời Mạt căn
cơ hèn kém; do vậy, Phật đặc biệt mở ra
pháp môn Tịnh Độ, ngơ hầu ba căn thượng,
trung, hạ cùng được lợi ích, cùng chứng
Bất Thoái. Đời có kẻ ham cao chuộng xa,
chẳng xét thời cơ, thường dạy
người tu tập những pháp đa phần chẳng
thể khế ngộ, ư họ tuy rất tốt lành,
nhưng ước về Giáo lại chẳng thể thích hợp
căn cơ, nên dùng sức nhiều lại được
lợi ích ít ỏi!
51. Trả lời thư cư sĩ X…
ở Vĩnh Gia (thư thứ chín)
Thư ông gởi đến khá hợp thuyết
Chuyên Tu của ngài Thiện Đạo, lại c̣n khế
ngộ người căn cơ tầm thường, hèn
kém. Rất vui! Chúng sanh mỗi người tập khí sai
khác, mỗi người thiên về một chỗ. Kẻ
ngu thiên về hèn kém, tầm thường, bậc trí thiên
nơi cao thượng. Nếu kẻ ngu yên chịu
phận ngu, chẳng dụng tâm tạp loạn, chuyên tu
Tịnh nghiệp th́ ngay trong đời này quyết
định được văng sanh, có thể nói là không ai
sánh kịp kẻ ngu ấy. Nếu người trí
chẳng cậy vào trí, vẫn cứ theo đuổi
một môn cậy vào Phật từ lực, cầu sanh
Tịnh Độ, th́ có thể nói là “đại trí”. Nếu
ỷ vào kiến giải của chính ḿnh, miệt thị
Tịnh Độ sẽ thấy từ kiếp này sang
kiếp khác trầm luân ác đạo, có muốn
được bén gót những gă ngu trong hiện thời
cũng hoàn toàn chẳng thể được!
Tôi
thật sự yêu mến, hâm mộ những kẻ hiểu
sâu xa Tánh, Tướng, Tông, Giáo kia, nhưng chẳng dám
thuận theo. V́ sao? Dây ngắn chẳng kéo được
nước sâu, giấy nhỏ không thể bọc rộng,
nguyên do là vậy! Chứ không phải là hết thảy
mọi người đều phải bắt chước
việc tôi làm. Nếu cũng hèn kém giống như tôi mà
muốn học theo hành vi của bậc đại thông gia,
muốn diệu ngộ ngay tự tâm, xem đọc
biển giáo, tôi sợ chẳng thể thành bậc
đại thông gia; trái lại c̣n bị hạng ngu phu ngu
phụ thật thà niệm Phật văng sanh Tây Phương
thương xót! Há chẳng phải là quá khéo biến thành
vụng to, bay lên không lại rớt xuống vực sâu
ư? Một lời bao trùm hết: Phải tự xét
kỹ căn cơ của chính ḿnh mà thôi! Chúng ta chỉ nên
an phận chịu ngu, mặc cho người khắp cơi
đời đều là bậc thông gia, chỉ mong Phật
pháp được rực sáng trong đời, chúng sanh
đều được độ thoát mà thôi, c̣n ǵ
sướng hơn! Cũng mong ông đem lời này bảo
với Sư Thọ. Thầy Hoằng Nhất muốn lánh
vào ở trong núi sâu, đáng gọi là bậc có ḷng tin
sốt sắng, chân tu, tôi vui mừng vô lượng!
52. Trả lời thư cư sĩ Châu
Quần Tranh ở Vĩnh Gia
Lời ông nói khá có đạo lư, tôi cảm
thấy an ủi lắm! Đại sự sanh tử
cần phải lo liệu sẵn! Nếu đợi
đến lúc ra đi mới tu chỉ sợ bị
nghiệp lực đoạt mất! Bế phương tiện
quan, cự tuyệt những sự duyên không cấp bách: Rất
hữu ích! Ông La Đài Sơn[31]
không văng sanh mà đọa vào chỗ phước báo là v́
tập khí văn tự quá nặng! Tập khí ấy đă
nặng th́ dù bảo là niệm Phật, nhưng thật ra
niệm niệm luôn đặt nơi công phu văn tự,
công phu niệm Phật chỉ là duy tŕ bên ngoài mà thôi.
Đấy là căn bệnh chung của văn nhân, không
riêng ǵ La Đài Sơn! Phật bảo Thế Trí Biện Thông
là một trong tám nạn chính v́ lẽ này.
Niệm
Phật muốn được nhất tâm, ắt phải
phát tâm chân thật v́ liễu sanh tử, chẳng v́
để được cái danh người đời
gọi ta là “kẻ chân thật tu hành”. Lúc niệm phải
từng chữ, từng câu từ tâm phát khởi, từ
miệng thốt ra, lọt vào tai, một câu như thế,
trăm ngàn vạn câu cũng như thế. Làm
được như vậy th́ vọng niệm không do
đâu khởi được, tâm và Phật tự có
thể khế hợp! Lại phải khéo dụng tâm,
chớ chấp trước quá mức đến nỗi
thân tâm chẳng yên, hoặc đến nỗi khởi các ma
sự. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối, hành theo đó, quyết chẳng bị lầm
lạc đi vào đường rẽ.
Không
biết Liễu Phàm Tứ Huấn [ông nhắc đến
trong thư] là bản chép từ An Sĩ Toàn Thư hay
bản được lưu thông riêng. Quang thấy trong
một bản đang được lưu thông, thiên Tích
Thiện khuyết mười điều sự tích nhân
quả. Nếu muốn in, nên đem so với bản
được chép sau cuốn An Sĩ Toàn Thư, hễ
thiếu bèn bổ sung, hễ sai bèn sửa. Lời tựa
đến hơn một ngàn chữ, ư nghĩa chấp
nhận được, nhưng văn từ chẳng thông
suốt, Quang vốn muốn phát huy những ư chỉ
chưa được thông suốt của Liễu Phàm
Tứ Huấn, ư nghĩa bị ngôn từ gây trở
ngại nên rốt cuộc chưa được nêu tỏ,
nhưng đặt bài tựa ấy nơi đầu sách
cũng có cái lợi nhỏ là có thể dùng để tham khảo,
làm chứng lẫn nhau.
Lại
nữa, cái chí muốn được thấy Phật trong
hiện tại có thể nói là chân thiết, nhưng sự
này há phải dễ dàng! Nên lấy “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối” để cầu nhất tâm bất loạn làm điều
chánh yếu quyết định. Trước khi chưa
được nhất tâm, trọn chẳng nên manh nha ư
niệm thấy Phật. Hễ được nhất tâm
th́ tâm hợp với đạo, tâm hợp với Phật,
muốn thấy liền thấy ngay, không thấy cũng
không trở ngại ǵ! Nếu muốn gấp thấy
Phật, tâm niệm lăng xăng, cái ư niệm muốn
thấy Phật cố kết trong bụng dạ, trở
thành căn bệnh lớn cho việc tu hành. Lâu ngày, oan gia
nhiều đời nương theo cái t́nh tưởng
vọng động ấy hiện thành thân Phật hầu
báo túc oán. Tự ḿnh tâm không chánh kiến, toàn thể là khí
phận ma. Hễ thấy bèn sanh hoan hỷ, từ
đấy ma nhập vào tâm tạng, bị ma dựa phát
cuồng. Dẫu có Phật sống cũng chẳng
biết làm sao được!
Chỉ
nên nhất tâm, nào cần phải tính sẵn có thấy
Phật hay không? Nhất tâm rồi sẽ tự biết tốt
- xấu! Khi không thấy đă tăng tiến công phu, th́
khi được thấy, lại càng phải lắng ḷng
chuyên tu, trọn chẳng mắc lỗi hiểu lầm,
chỉ có lợi ích thắng tấn. Người thế
gian không hiểu lư, vừa có chút tu tŕ đă ôm ḷng mong
mỏi quá phận. Ví như mài gương, nếu hết
bụi nhơ quang minh quyết định tỏa lộ
chiếu trời soi đất. Nếu chẳng tận lực
mài gương, chỉ mong gương tỏa sáng, toàn
thể gương là cấu uế th́ nếu có quang minh
cũng chỉ là ánh sáng quỷ quái, chứ không phải là
ánh sáng của gương. Quang sợ ông không khéo dụng
tâm đến nỗi tự ḿnh đánh mất lợi lành,
lui sụt tín tâm của người khác, nên mới viết
thêm. Ngài Vĩnh Minh nói: “Chỉ
được thấy Di Đà, lo ǵ không khai ngộ”. Nay
tôi cũng bắt chước nối đuôi rằng: “Chỉ cầu tâm bất
loạn, chẳng kể thấy, không thấy!” Biết
vậy hăy dốc sức nơi đạo tâm hợp
với Phật vậy!
53. Trả lời thư sư Hoằng
Nhất
Nhận được thư biết Sư
phát đại Bồ Đề tâm, thề chứng
Niệm Phật tam-muội, định kỳ yểm quan
hầu thỏa đại nguyện ấy. Quang đọc
xong khôn ngăn hoan hỷ, c̣n như Sư xin lời
huấn thị tối hậu, Quang nào dám nhận, nhưng
há chẳng nên đem hết ḷng ngu thành của ḿnh dâng lên
hay sao? Tuy đă biết tọa hạ dùng cách nói ràng
buộc ấy, nhưng bằng hữu qua lại, giàu - nghèo
đều trọn phận, không riêng ǵ trí hay ngu đều
chẳng như thế! Chỉ tận tấm ḷng ngu thành mà
thôi, chẳng kể người khác có dùng được
hay không!
Trộm
thưa: Tâm ấy của tọa hạ thuộc tâm
chẳng thể nghĩ bàn, nhưng trong lúc bế quan
dụng công nên lấy chuyên tinh bất nhị làm chánh. Nếu
tâm thật sự chuyên nhất sẽ tự có cảm thông
chẳng thể nghĩ bàn. Lúc chưa được
nhất tâm, chớ nên vọng động cầu
được cảm thông trước. Nhất tâm rồi
quyết định có cảm thông. Cảm thông th́ tâm càng
tinh nhất. Đó gọi là gương sáng đặt trên
đài gặp h́nh liền hiện bóng, h́nh tự lăng
xăng, can chi đến ḿnh! Chưa nhất tâm mà cầu
cảm thông th́ cái tâm cầu cảm thông ấy bèn trở
thành đại chướng bậc nhất cho việc tu
đạo. Huống chi vọng động mong mỏi
chuyện phi thường rất có thể khiến cho ma
sự khởi, phá hoại tịnh tâm. Ngài Đại
Thế Chí nói: “Nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối,
đắc tam-ma-địa, ấy là bậc nhất”.
Dám v́ tọa hạ tŕnh bày!
54. Trả lời thư cư sĩ
Vưu Tích Âm ở Vô Tích
Cư sĩ vô ngă, thích được rèn giũa,
nhưng mắc lỗi hiểu lầm ư Quang, nên đầu
thư gọi Quang là “sư tôn”, không dùng bốn chữ “Ấn
Quang pháp sư” khiến cho Ấn Quang và bản thân cư sĩ
đều bất an. Ấn Quang là một ông Tăng chỉ
biết cơm cháo, xưng là “pháp sư” th́ đă quá phận
cùng cực rồi! Dẫu là xưng hô chung chung thông
thường cũng chẳng thể không gọi như
vậy. Nếu như không gọi tên, lại gọi là
“sư tôn” th́ quả thật đă mất đi cái
đạo chánh danh giao hữu vậy; lần sau chớ
dùng cách xưng hô sáo rỗng ấy. C̣n như kư tên, cổ
kim thông dụng, phàm với những người ngang hàng
đều nên ghi như thế, chứ không phải chỉ
đối trước bậc đáng tôn trọng mới
dùng từ ngữ “ḥa nam[32]
đảnh lễ” v.v… Nay lễ giáo bị tước bỏ,
phàm người nghiên cứu học Phật gởi thư
cho tri thức đa phần hay dùng những câu như “chắp mười ngón tay kính
cẩn thưa lên”, nhưng chẳng chịu kém cạnh
tí nào.
Vua
Vũ lạy và nhận lời nói hay, Tử Hạ mù
mắt oán trời, bị Tăng Tử quở trách, c̣n
quăng gậy lễ tạ. Người ngang hàng với
ḿnh có một lời dạy dỗ ḿnh, đều phải
cúi ḿnh lễ tạ. Như nay đi tới chỗ ngơ rẽ,
không thể quyết đoán [nên đi đường nào],
muốn hỏi người ta c̣n phải chắp tay,
huống chi muốn được giúp đỡ về
đại sự liễu sanh tử lại dùng cung cách chào
nhau ngoài đường để tiếp nhận th́ là
khinh pháp vậy! Khinh pháp sẽ chẳng thể
được lợi ích thật sự nơi pháp. Xưa
kia, Cổ Linh Tán thiền sư sau khi đại ngộ,
muốn báo ân thầy thế độ bèn nhiều phen
khơi gợi. Thầy Ngài lấy làm lạ, bảo hăy v́
ḿnh tuyên nói, Ngài bảo: “Nên bày pháp tọa”, bảo thầy
đón ḿnh lên ṭa lễ bái, rồi mới nói sau. Thầy Ngài
tuân theo, ngay trong lúc Ngài đang nói, vị thầy ấy bèn
đại ngộ. Nếu Cổ Linh chẳng trọng pháp
như thế, và vị thầy chẳng trọng
người đắc pháp như thế, đừng bảo
là không nói, dù có nói cũng chỉ là tri kiến văn tự
mà thôi, quyết chẳng thể ngay trong một lời bèn
minh bạch bổn tâm.
Sách
Luận Ngữ nói: “Chẳng hạ
thấp hơn người khác thật sâu, chẳng
được lẽ chân”. Như Lai diệt độ,
chỉ c̣n kinh tượng tồn tại. Nếu coi
tượng bằng đất, gỗ, vàng, sơn vẽ
v.v… là Phật thật sẽ diệt được
nghiệp chướng, phá phiền hoặc, chứng
tam-muội xuất sanh tử. Nếu coi là đất,
gỗ, vàng, sơn vẽ v.v... th́ chỉ là đất,
gỗ, vàng, sơn vẽ mà thôi; khinh nhờn đất,
gỗ, vàng, sơn vẽ th́ không mắc lỗi ǵ. Nếu
khinh nhờn tượng Phật bằng đất,
gỗ, vàng sơn vẽ th́ tội ngập trời.
Đọc tụng kinh Phật, lời Tổ phải
nghĩ Phật, Tổ đang hiện diện đích thân
nói cho chúng ta, chẳng dám manh nha ư niệm lười nhác,
coi thường. Tôi nói người làm được
như thế ắt được văng sanh, cao đăng
phẩm vị, chứng ngộ triệt để Nhất
Chân. Nếu không, bèn là đùa cợt với pháp môn,
được lợi ích bất quá là thấy nhiều,
biết nhiều, nói trơn tru, chẳng được
thọ dụng thật sự mảy may ǵ, chỉ thành chuyện
nghe lỏm nói ṃ!
Đối
với Tam Bảo, cổ nhân luôn giữ ḷng kính trọng
thật sự, chẳng phù phiếm bàn xuông! Người
bây giờ ngay một chữ “khuất” c̣n không nói
được, huống ǵ thực hành? Xưa kia, Thanh
Thế Tổ Chương Hoàng Đế (Thuận Trị)
bái ngài Ngọc Lâm Thông Tú[33] thiền sư làm
thầy, c̣n muốn xin được đặt cho một
pháp danh. Ngài Thông Tú nói:
“Đế vương cần ǵ phải dùng đến thứ
này!” Vua không chịu, xin được đặt cho
một cái tên xấu xí. Ngọc Lâm liền viết hơn
mười chữ xấu xí cho nhà vua tự chọn, vua bèn
chọn lấy chữ Si. Thiền phái ấy đến
đời vua là chữ Hành, nên vua có pháp danh là Hành Si. Phàm
mỗi khi vua viết thư cho đệ tử ngài
Ngọc Lâm đều kư tên là “pháp
đệ Hành Si ḥa-nam”. Khai quốc hoàng đế c̣n
tự khuất ḿnh như thế. Nếu người
đời nay suy xét, trước hết phải phạt
tội, rồi mới vấn pháp th́ mới hợp cách
thức. Nếu không, dân thường không c̣n là dân
thường, hoàng đế không c̣n là hoàng đế!
Đối
với Phật học, Quang không đạt được
điều ǵ, như kẻ mù đối trước
ngũ sắc, như kẻ điếc nghe ngũ thanh,
trọn chẳng biết tiếng như thế nào, màu
sắc ra sao! Nhưng đối với phương diện
chú trọng ḷng kính, ǵn giữ ḷng thành, tôi nguyện dốc
hết ḷng ngu thành, để trọn vẹn cái lợi ích
nhỏ nhoi đá nơi núi khác[34].
Đă là tâm giao hăy nên bỏ đi những tṛ phiền toái.
55. Thư dự định trả
lời vị cư sĩ X…
Đính
kèm thư của vị cư sĩ ấy:
Bỉ nhân là tín đồ
Tịnh Độ, đă quyết định phụng hành,
nhưng với hai chữ “nguyện, hạnh” c̣n phải
xin chỉ dạy: Nguyện và hạnh là hai thứ vận
dụng riêng biệt hay là phải cùng vận dụng?
1) Nếu bảo là [vận
dụng] hai thứ [riêng biệt] th́ lúc niệm Phật
trước hết phải phát nguyện cầu sanh như
bài Thập Niệm Cầu Sanh Văn của ngài Từ Vân rồi
mới niệm. Chỉ lúc niệm Phật mới giữ ư
chỉ “ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”, tâm và
miệng như một, cứ như thế mà niệm măi.
Trong mỗi niệm chỉ giữ ư niệm ấy, cũng
chẳng có ư nguyện cầu sanh. Niệm theo cách như thế
th́ đều văng sanh thượng phẩm. Đây là chiếu
theo lời của Triệt Ngộ thiền sư.
2) Nếu nói
phải vận dụng cả Nguyện lẫn Hạnh cùng
một lúc th́ lúc niệm Phật mỗi tiếng như
trẻ nhỏ té xuống nước gấp gáp gọi
mẹ đến cứu. Đây là thuyết của ngài
Ngọc Phong thiền sư ở Hàng Châu. Lại như Kiên
Mật[35]
đại sư nói: “Sáu chữ hồng danh trong mỗi
một niệm có đủ cả ưa thích và nhàm chán”, cũng
giống với thuyết của ngài Ngọc Phong[36].
Trong
hai thuyết trên, theo thuyết thứ nhất th́ trong lúc
niệm Phật tợ hồ thiếu ư khẩn thiết,
Ngẫu Ích đại sư từng nói: “Cầu sanh Tịnh
Độ hoàn toàn dựa vào tín nguyện. Nếu không có tín
nguyện dẫu niệm đến mức gió thổi
chẳng lọt, mưa chẳng ướt được
như tường bạc vách sắt, cũng không thể
được văng sanh”. Như vậy dù có niệm
được nhất tâm bất loạn, sợ rằng
vẫn chưa được mười phần ổn
thỏa, thích đáng! Theo như thuyết thứ hai, lúc
niệm Phật có đủ cả hạnh lẫn
nguyện, nhưng trong mỗi niệm, trong tâm thường
c̣n chứa một nguyện, e rằng đối với
nhất tâm bất loạn chẳng thuần. Gần đây
vị sư… ở Hàng Châu cũng lo ngại về chuyện
không thể kiêm nguyện và không thể không kiêm nguyện
[như tôi]. Ngài Ngọc Phong có thí dụ dụng binh, kẻ
mạt học độn căn chưa hiểu rơ rốt
ráo, mong bậc cao hiền ắt có lời bàn luận xác
đáng để làm bến bờ cho hàng hậu học.
Pháp
môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh
làm tông, như ba chân của cái đỉnh, khuyết
một chẳng thể được. Các hạ đă
dốc chí tu Tịnh nghiệp th́ một chữ Tín ắt
đă đảm đương trọn vẹn, rốt ráo
không nghi. Đối với hai pháp Nguyện và Hạnh vẫn
c̣n có chấp trước hai thứ đối đăi
như thế, chẳng thể dung hội quán thông
đến nỗi đối với pháp viên dung vô ngại,
sanh khởi nhiều chướng ngại, để rồi
ánh trăng viên măn muôn hào quang chiếu khắp của ba
vị đại sư Triệt Ngộ, Kiên Mật,
Ngẫu Ích chỉ v́ một sợi tơ nơi mắt ḿnh
bèn thành phân cách. Tiếc thay!
Nay
tôi bảo người thật sự niệm Phật th́
lúc niệm Phật ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh
đều toàn thể đầy đủ như con
nhớ mẹ, không hề có chuyện gián đoạn và
cũng không có ư niệm hồ nghi chẳng tin và chẳng
mong thấy mẹ! Ông nói đến chuyện “cùng vận
dụng” hay “vận dụng riêng rẽ”, cho rằng “hễ
có Nguyện th́ nhất tâm chẳng thuần”. Chúng vốn là
một, sao lại trên đầu chồng thêm đầu
rồi lo ngại “chẳng thể kiêm” và “chẳng thể
không kiêm”? Xem những ǵ các hạ đă nói và lời bàn
luận của vị Tăng nọ quả thật là
chưa thể thật sự theo đuổi [Tịnh nghiệp],
ấy chính là trước lúc chưa cất bước
đă lo bàn cảnh tượng khi về đến nhà. V́
thế, đối với pháp ngôn đối trị phân
biệt của cổ nhân nẩy sanh đủ mọi phân
biệt. Thử hỏi: “Ngoài
tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”, nếu chẳng
khẩn thiết có làm được như thế hay
chăng? Không tín nguyện có làm được như
vậy hay chăng? Lời của hai vị Triệt
Ngộ và Kiên Mật tuy khác nhau, nhưng ư nghĩa thật
sự hỗ trợ, hoàn thành lẫn nhau.
Ông
nghĩ có chuyện “cùng vận dụng” và “vận dụng
riêng rẽ” th́ có thể nói là thiếu con mắt chọn
lựa pháp. C̣n lời ngài Ngẫu Ích nói chính là pháp
dược cho hạng dựa dẫm Tông Môn, niệm
tự tánh Di Đà, sanh duy tâm Tịnh Độ, và những
kẻ chẳng y theo tông chỉ Tịnh Độ
để tu, chỉ lấy chuyện “niệm đến
nhất tâm bất loạn” làm cùng cực rốt ráo. Sao
lại dẫn chuyện ngoài cửa Tịnh tông để
so sánh với chuyện chân tu tín nguyện đầy
đủ đến nỗi đường lối bị
lộn xộn! Đây là nói chung trên mặt Lư.
Nếu
luận riêng theo Sự th́ sớm tối lúc niệm
Phật xong (pháp Thập Niệm buổi sáng th́
cũng niệm Phật trước, phát nguyện sau) có thể dùng bài Tiểu Tịnh
Độ Văn. Nếu thân tâm rảnh rang nên dùng bài Tân
Định Tịnh Độ Văn của Liên Tŕ
đại sư [để hồi hướng]. Bài này ngôn
từ lẫn nghĩa lư đều châu đáo, đứng
đầu cổ kim. Nên biết: Phát nguyện đọc
văn th́ phải nương theo văn để phát
nguyện, không phải cứ đọc văn hồi
hướng một lượt là đă phát nguyện
đâu nhé! Ngoại trừ sáng tối phát nguyện ra, trong
hết thảy thời chỉ chí thành khẩn thiết
niệm Phật là được rồi!
56. Thư gởi cư sĩ Cao Hạc
Niên
Nam Ngũ Đài Sơn, một ngàn ba trăm
năm trước đây, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện
thân tỳ-kheo hàng phục rồng độc ở đó[37],
đáng gọi là đạo tràng cổ. Nơi ấy
cũng là chỗ bắt nguồn trung hưng Liên Tông
của vị tổ Liên Tông thứ tám: Vân Thê Liên Tŕ
đại sư. Thời Gia Tĩnh (1522-1566) nhà Minh, có lăo
ḥa thượng Tánh Thiên Văn Lư ẩn cư trên
động Vô Môn của núi này. Sau này, do Ngài vân du
đến Hàng Châu, trụ tại Tây Sơn Hoàng Long Am, Liên
Tŕ đại sư ngưỡng mộ đạo phong
của Ngài, cùng với phu nhân họ Thang quy y dưới
ṭa. Không đầy hai, ba năm sau, lại theo Ngài xuất
gia. Nếu vị này không có đạo đức lỗi
lạc, sao có thể khiến cho đại sư là một
bậc quân tử bác học, văn chương lỗi
lạc, chú trọng thực tiễn, đức hạnh
sung măn chịu khuất thân dưới ṭa, thủy chung y
chỉ làm đệ tử? Sau khi đại sư xuất
gia, lăo nhân lại quay về Quan Trung (Thiểm Tây).
Đại sư chí hâm mộ tham học rộng khắp
nên không thể theo hầu.
Đạo
pháp ở Quan Trung sau thời Càn Long ngày càng suy vi, bậc
hiền triết mất đi, sách vở truyện kư bị
thất lạc, đến nỗi lời hay hạnh
đẹp của lăo nhân không được lưu
truyền măi măi cho hậu thế, đáng cảm thán khôn
cùng! Nhưng một vị Tăng từ nơi khác lại
có thể khiến cho ngài Liên Tŕ quy y xuất gia th́ có
thể h́nh dung Ngài là người như thế nào!
Chuyện này có thể đọc từ bài minh nơi tháp
của Liên Tŕ đại sư trong bộ Vân Thê Pháp
Vựng. [Bài kệ truyền ḍng của] phái này là:
Tông phước
pháp đức nghĩa,
Phổ
Hiền hạnh nguyện thâm,
Văn
Thù quảng đại trí,
Thành
Đẳng Chánh Giác quả[38].
Đại sư thuộc hàng chữ Thù, sau
đổi thành chữ Châu. Vào thời Hồng Vũ
(1368-1398), có một vị cao tăng, vua Hồng Vũ (Minh
Thái Tổ) triệu kiến, rất sủng ái, đặc
biệt dùng chén ngọc đựng sữa ban cho Sư
uống. Nhân đó, Sư làm thơ tạ ơn, có câu:
Nhất trản
quỳnh tương lai thù vực,
Cửu
trùng ân đức tự thượng phương.
(Một chén
quỳnh tương từ xứ lạ,
Phương
trên ân đức chín tầng ban)
Vua
Hồng Vũ họ Châu[39]
liền nghĩ: “Chữ Thù chính là “ngạt châu”[40]
(họ Châu xấu xa), Sư có ư mắng ta” liền ra
lệnh chém. Chém rồi, mới biết Sư không có ư
mạ lỵ vua, nhưng hối cũng không kịp. Đây
là do sát nghiệp đời trước cảm thành, lúc
nghiệp lực hiện không thể tự chủ
được. Sát nghiệp khó tiêu như thế, chẳng
kiêng dè ư? Trong các giới của Như Lai đều
lấy sát giới làm đầu, ḷng từ bi sâu xa rộng
lớn đến cùng cực không ǵ hơn được
nữa! Nhưng ngu phu điên đảo, mê hoặc không
biết cảm ân, trái lại c̣n phỉ báng, tất nhiên
từ kiếp này sang kiếp khác giết hại lẫn
nhau, chẳng đáng buồn ư?
Liên Tŕ đại sư do nguyên nhân ấy,
bỏ bộ Ngạt 歹 trong chữ Thù 殊, thay bằng
bộ Y衣, nên trở thành chữ Châu 袾[41]. Thế gian không xem xét, thường
viết sai chữ Châu 祩 với bộ Thị 示,
không hiểu nghĩa chữ, tâm khí thô phù, nên mới sai
như vậy, khiến cho cái đạo cẩn thận,
tế nhị, dứt mầm họa, chánh danh thuận ngôn
của đại sư bị mai một, tiếc thay!
Vô Môn
Động chính là Tương Tử Động ngày nay, nhớ
xưa kia c̣n có tên là Tương Tử Động, khi lăo
nhân (tức ḥa thượng Tánh Thiên Văn Lư) ngụ ở
đó bèn đổi tên là Vô Môn Động. Khi lăo nhân
mất đi, kẻ tăng người tục vô tri, không
biết ư nghĩa chữ Vô Môn, coi chuyện Hàn Tương
Tử[42] thành
tiên mới là kỳ lạ nên vẫn gọi động
ấy là Tương Tử Động. V́ sao biết
vậy? Nam Ngũ Đài Sơn không có động lớn để
ở được, cũng không có cái động nào tên là
Vô Môn cả. Chỉ có Tương Tử Động cao sâu
rộng răi, có thể ở được, lại c̣n
khuất sau núi, dưới vách đá treo, lại rất
gần ḍng suối thánh, củi nước đều
thuận tiện. Địa thế lại c̣n hướng
về phía
Đến
đầu triều Quang Tự, các vị Pháp Nhẫn, Dă
Khai v.v… chọn ngụ nơi này, đến nay trở thành
đại lan-nhă. Đạo do người hoằng,
đất do người mà linh, chẳng đáng tin ư?
Gọi là Vô Môn v́ Đại Sĩ (Quán Thế Âm Bồ Tát)
dùng đạo pháp Phổ Môn độ thoát chúng sanh, lăo nhân
bắt chước Đại Sĩ nên gọi nơi ḿnh
ở là Vô Môn, cũng lấy Lăng Già Phật ngữ tâm
làm tông, Vô Môn có nghĩa là pháp môn. Phải biết Vô Môn chính
là Phổ Môn. Bởi lẽ pháp nào, chuyện nào nếu mê đều
sẽ khởi Hoặc tạo nghiệp, c̣n ngộ th́
đều có thể đoạn Hoặc chứng chân. V́
thế, hai mươi lăm vị thánh giả trong kinh
Lăng Nghiêm đối với lục căn, lục
trần, lục thức, thất đại mỗi mỗi
đều chứng viên thông. Do vậy, không pháp nào không
phải là diệu lư Tam Đế[44],
mà cũng không pháp nào chẳng khế hợp bí tạng tam
đức. Do tất cả đều là môn (cửa vào) nên
không cần phải lập riêng một môn, v́ thế
gọi là Vô Môn.
Cư
sĩ may mắn được ở núi này, rất có
thể trước kia đă được pháp nhuận
của vị sư này thấm đến, hăy nên đem ư này
tŕnh bày rơ cùng vị tăng chủ ngôi chùa tranh để
ông ta biết rơ chuyện xưa của bậc cao nhân
cũng như biết tên gọi chân chánh sâu xa là ǵ,
chẳng nên gọi chốn ấy theo cái danh xuông do
ngoại đạo truyền lại đến nỗi cái
tên chánh đáng trong nhà Phật bị mất đi.
Nhiếp
Thân Nham đỉnh ngọn chót vót, chớn chở, vách núi
cao vạn nhận[45],
lên tận chót núi nh́n xuống, khôn ngăn run rẩy, sợ
hăi, thân tâm run sợ, vọng tưởng tiêu diệt, chánh
niệm tỏ ngời, chính là giống như ư câu kinh
Lăng Nghiêm: “Nhiếp trọn
sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Do thân là tên
gọi chung, sáu căn là chia ra từng hạng mục riêng,
dùng chung để thâu tóm riêng, nên chỗ này chỉ gọi
là Nhiếp Thân mà thôi. Sau này, triết nhân mất đi, sách
vở truyện kư bị thất lạc, tản mác, vô tri Tăng
tục bèn gọi sai là Xả Thân. Sai lầm truyền măi,
không ai cải chánh, phỉ báng danh sơn không ǵ bằng
vậy! Nếu có Bồ Tát hiện thân khai sơn, lẽ
đâu lại đem cái tên hại đạo lầm
người để đặt cho ngọn núi ấy?
Lại
có gă dân ma, tạo tác ma thuyết, nói Quán Âm xả thân ở
đấy nên mới thành đạo quả để
lừa dối ngu phu, ngu phụ. Những lời nói vô căn
cứ như thế ở huyện Tề Đông[46]
(thuộc tỉnh Sơn Đông) làm ô danh Đại Sĩ,
làm nhục pháp đạo, chuốc lấy điều tà
báng của ngoại đạo, gợi lên những suy
nghĩ quỷ quái nơi người ngu, mối hại
thật chẳng cạn cợt! Chuyện này cũng
giống như ở Phổ Đà, tảng đá Quán Âm
Thiếu (Quán Âm dơi nh́n) bị hiểu sai thành Quán Âm Khiêu
(Quán Âm nhảy)[47],
cùng một loại ma kiến. Thật khiến cho
người ta cảm thấy đáng than, đáng hận,
đáng buồn, đáng thương xót!
Duyên khởi khai sơn của Nam Ngũ Đài Sơn xưa kia trọn không có căn cứ, năm Quang Tự thứ mười một (1885), Quang ở Đại Đảnh, đích thân hầu hương đèn cho Đại Sĩ. Một ngày nọ xuống núi, đến chùa Tây ở Lưu Thôn (thuộc về hạ viện của Đại Đảnh), thấy vài tấm bia, những chuyện ghi chép trên ấy đều không phải là duyên khởi tối sơ. Trong số ấy có một tấm bia bị nước và chất bẩn phủ kín giống như một miếng đá. Quang lấy gạch cạo, th́ ra là tấm bia dựng năm Chí Nguyên thứ bảy (1271) đời Nguyên tường thuật duyên khởi cổ nhất. Nếu Quang không cạo ra, biết đâu kẻ vô tri tăng tục chẳng dùng tấm bia ấy như một tấm đá th́ sự tích linh thiêng cứu khổ chẳng thể nghĩ bàn của Đại Sĩ vĩnh viễn bị mai một. Nay may mắn đă mất mà lại khôi phục được, nên tôi v́ cư sĩ tŕnh bày cặn kẽ. Kính chép lại lời ghi trên bia để ông giữ xem (phần văn bia được chép vào phần Phụ Lục)
57. Thư hỏi thăm bệnh pháp
sư Đế Nhàn
Hạ tuần tháng Hai, nghe Ngài từ Ôn Châu
trở về, thân mắc bệnh ngặt, chân tay cử
động khó khăn. Đương nhiên, Quang biết
Ngài bi tâm sâu nặng, muốn thị hiện ngơ hầu các
đệ tử và hết thảy tứ chúng phải
sớm nỗ lực tu hành, đừng đợi
đến lúc con ma bệnh vào thân sẽ chẳng dễ ǵ
thoát khỏi. Dẫu trực tiếp dùng miệng nói c̣n e
chẳng thân thiết, bèn hiện thân để nói. Có
thể nói là đại từ bi sâu xa không chi hơn
được nữa! Quang tự thẹn cả pháp
lẫn tài đều khuyết, muốn bắt
chước bày tỏ tấm ḷng ngu thành nhưng không có
sức, nên chỉ hỏi qua những người như
Căn Kỳ, Căn Nhiên, Căn Vân… Sau nghe Phật Hy nói
Ngài bệnh đă lành, nhưng chân không thể đi nhiều
được. Tôi cứ nghĩ rằng: Đi th́ vẫn
đi được, nhưng khó đi ra ngoài mà thôi! Hôm qua,
gặp mặt trụ tŕ Vạn Niên Tự là thầy
Liễu Ngộ, hỏi thăm, thầy cho biết: “Ăn
cơm, nói năng không khác ǵ người b́nh thường,
chỉ có tay chân trọn chẳng thể cử động
được, muốn ăn uống, tiêu tiểu,
nhất nhất phải nhờ người khác châu toàn cho!”
Quang
trộm nghĩ t́nh h́nh bệnh tật như thế làm sao
hoằng pháp cho được, rất có thể khiến
cho kẻ hiểu biết nông cạn nói Phật pháp không
linh. Bởi lẽ một vị đại pháp sư
giảng kinh nổi danh mấy mươi năm trong thiên
hạ, thân mắc bệnh ngặt, cầu thầy uống
thuốc cũng chẳng thấy lành! Những ǵ ông ta hay nói:
“Y giáo tu tŕ chuyển được định
nghiệp và thuốc A Già Đà chữa được
vạn bệnh” đều là dối người.
Nếu không dối người, vị pháp sư ấy hăy
nên y giáo chuyển định nghiệp, ông ta tôn sùng
Tịnh Độ sao không lấy danh hiệu Di Đà làm
thuốc A Già Đà để uống đi? Lại lúc
giảng giải phẩm Phổ Môn Quán Âm Viên Thông không
biết bao nhiêu là đạo lư, nào là xưng danh cầu
cứu Bồ Tát liền đến. Nếu đă như
vậy, sao không buông xuống thân tâm, dốc hết tánh
mạng chí tâm niệm Quán Âm Bồ Tát để cầu thân
tâm đều được an ổn và được
đại giải thoát, đạt được chân viên
thông? Quang nghĩ người đời đa phần
nghĩ như thế.
Nếu
như ngài ngưỡng cầu Đại Sĩ rủ ḷng
từ khiến cho quư thể được khôi phục, phước
huệ cao rạng th́ những kẻ tri kiến nông cạn
kia sẽ đoạn sạch hồ nghi, tăng
trưởng chánh tín, đưa nhau ra khỏi
đường tà, vào trong Phật đạo, ngơ hầu
lợi khắp ḿnh người không ǵ chẳng trọn
vậy. Ấy quả thật là dùng ḷng đại từ
bi hiện thân thuyết pháp, lợi ích lớn lao thay! Theo
cuốn Quán Âm Tŕ Nghiệm Kư của Châu Khắc Phục[48]
có chép câu chuyện bệnh tật gần giống như
bệnh của Ngài, nhân phẩm kẻ ấy kém xa Ngài
một trời một vực, kẻ ấy c̣n
được Bồ Tát gia bị khiến cho túc nghiệp
nhanh chóng tiêu trừ, cố tật lành ngay! Huống chi Ngài
là người bậc nhất trong pháp môn trong hiện tại,
pháp đạo hưng suy tùy thuộc vào sự tồn vong
của một thân Ngài. Nếu có thể đem những ǵ
Ngài thường ngày giảng cho người khác về
phẩm Phổ Môn và toàn bộ tinh thần viên thông của
Quán Âm để xưng niệm hồng danh, thường
chẳng ĺa tâm ấy, sẽ được tiêu túc
nghiệp lại được an ổn, khiến
những kẻ trước kia đă sanh ḷng gièm báng, chê
cười Phật pháp chẳng linh đều nương
theo quy y tín phụng, chỉ sợ bị tụt hậu!
Năm
Tân Tỵ (1641) niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh, tại
Đồ Huyện, Quan Vu, có một người bại
liệt từ Sơn Đông đến, dùng tay thay chân,
ăn xin ở chợ, thường bị người ta
chán ghét. Kẻ liệt tuy bệnh nhưng tánh t́nh nóng
nảy, bị chửi mắng liền bất b́nh, nghe nói
ở am Đường Kiều có một vị Tăng tu
hành tên Thủy Cốc, bèn đến kể lể nỗi
niềm khất thực gian nan, thầy Thủy Cốc nói:
“Nếu ông có thể phát tâm xuất gia, nương theo
đại lực từ bi th́ có thể có người thí
cho”. Người liệt thuận theo, bèn xuống tóc,
thọ trai giới, dẫu ăn xin nhưng không ăn
mặn, dẫu bị nhục mạ vẫn yên lặng
chịu đựng. Thầy Thủy Cốc lại dạy
niệm danh hiệu Quán Thế Âm và tŕ chú Chuẩn
Đề, thọ tŕ hơn hai năm, vào mùa Thu năm
Mậu Tư (1648), chợt mộng thấy một bà lăo kêu:
“Ngươi đứng lên, đứng lên!” Người
liệt nói: “Tôi là người liệt, sao đứng lên
được?” Bà lăo dùng tay chỉ vào hai chân, cảm
thấy chân thẳng ra không co quắp nữa, sáng ra
liền khỏi bệnh liệt, nghiễm nhiên thành một
ông Tăng hiên ngang, lẫm liệt, lấy hiệu là Bán
Nhai, liền có người cúng dường. Chuyện này trích
từ sách Kỷ Cầu của ông Đường Nghi Chi[49].
Quán
Âm đại sĩ chuyên lấy việc tầm thanh cứu
khổ làm sự nghiệp, từ xưa đến nay,
người được cảm ứng ĺa khổ năo nào
chỉ phải trăm ngàn vạn ức, những ǵ
được chép trong truyện tích chỉ là đại
lược thấy một hai kẻ trong ức vạn
người mà thôi! Lẽ dĩ nhiên, Quang chẳng biết
được ư Ngài, cứ ước theo thiển
kiến của ḿnh mà luận th́: Để thật sự
được an lạc, trọn không khổ năo cũng nên
cầu Bồ Tát cứu khổ, nêu gương cho
đại chúng vậy!
58. Trả lời thư thầy
Hoằng Nhất (thư thứ nhất)
Tọa hạ dũng mănh, tinh tấn, làm
được điều người khác khó thể làm. Lại
muốn trích máu chép kinh, có thể nói là “trọng pháp, khinh
thân, ắt thỏa được đại nguyện
lớn lao!” Tuy vậy, Quang xin tọa hạ trước
hết hăy chuyên chú tu Niệm Phật tam-muội,
đợi khi nào chứng đắc rồi mới hành pháp
sự này. Nếu thoạt đầu đă làm ngay hạnh
này e rằng máu thiếu, tinh thần kém, khó ḷng xoay trở.
Nhập đạo có nhiều cửa, chỉ do chí
hướng của mỗi người, trọn không có
một pháp nhất định. Cái nhất định là
Thành, là Cung Kính. Hai sự này dẫu chư Phật tột
cùng đời vị lai xuất thế cũng chẳng
thể thay đổi được. Nhưng bọn phàm
phu sát đất chúng ta muốn tiêu nghiệp lụy nhanh
chóng, mau chứng Vô Sanh lại chẳng dốc sức
nơi hai chuyện này th́ ví như cây không rễ lại
muốn xum xuê, chim không cánh lại muốn bay, há có
được chăng?
Nay
tôi sẽ đem những điều hay - dở của cách
thực hiện và lấy sự chứng nghiệm của
tiền nhân để tŕnh bày đại lược
một hai điều, ngơ hầu Ngài tùy ư tác pháp: Trích
huyết chép kinh có người chỉ dùng máu để
chép, có người pha thêm vàng, thêm chất son, hay mực.
Chuyện pha vàng chúng ta không đủ sức làm. Hám Sơn
đại sư chép kinh được hoàng thái hậu cung
cấp giấy và vàng. Chép bằng chữ vàng th́ phải
dùng giấy màu lam mới nổi chữ, giấy trắng
không hiện rơ. Dù là giấy lam chữ vàng vẫn không rơ
bằng giấy trắng mực đen và chữ son, Quang
từng đă thấy qua. Nếu trộn chung vàng, mực,
son v.v… th́ chỉ có chút máu để biểu lộ ḷng chí
thành.
Như
ngài Hám Sơn ở am Diệu Đức, núi Ngũ Đài,
rạch lưỡi lấy máu pha vàng chép kinh Hoa Nghiêm. Ngài
Diệu Phong hằng ngày[50]
khứa lưỡi trích máu hai phần, một phần ḥa son
để chép kinh Hoa Nghiêm, một phần dành để
soạn nghi thức Mông Sơn Thí Thực, thí cho quỷ
thần. Ngài Nam Hồ Kỳ thiền sư của Cao Ly
thấy cuốn Di Đà Yếu Giải của ngài Ngẫu
Ích muốn lưu thông rộng răi, bèn khứa lưỡi
lấy máu ḥa mực chép Yếu Giải để làm
bản mẫu khắc in, ngơ hầu sách này lưu thông trọn
khắp pháp giới đến tận cùng đời
vị lai. Cứ viết một chữ lại lạy ba
lạy, nhiễu ba ṿng, xưng mười hai tiếng
Phật hiệu, có thể nói là thấy biết siêu
quần, tu tŕ tinh chuyên vậy.
Ba vị
này khứa lưỡi trích máu chẳng làm cách nào khác
cả, máu trích ra bèn ḥa ngay với vàng, son, mực
để chép ngay; quyết chẳng phải là thuần dùng
huyết, pha thêm nước vào. Nếu chuyên dùng máu
để viết th́ lúc trích máu phải để sẵn
chén nhỏ để hứng, dùng kim dài tận lực
khuấy để loại gân máu ngơ hầu máu chẳng
quánh ngọn bút mới ḥng tùy ư biên chép. Nếu chẳng
loại những sợi gân máu ra, bút sẽ bị những
sợi gân máu bó cứng chẳng thể viết được.
Xưa có người trích máu chép Hoa Nghiêm, gân máu ngày ngày tích
lại đem đắp thành tượng Phật, cao
hơn một tấc.
Thêm
nữa, tánh của máu là trong và nhạt, dính giấy
liền lan ra, trọn không thành nét bút, mà thành một
đốm máu. Giấy ấy trước hết phải
dùng phèn trắng xát lên mới có thể dùng được.
Giấy bôi phèn xong không thấm, đỡ hao máu, trong
những tiệm bán giấy lớn có bán loại này, không
cần phải tự chế. Loại giấy này dành cho người
vẽ theo lối tỉ mỉ từng nét bút sử dụng.
Giấy đă nhúng phèn đặc biệt dầy nặng, lại
c̣n để được lâu. Như giấy vàng đă
nhuộm phèn bèn cứng chắc, giấy chưa nhuộm
th́ khô gịn. Cổ nhân trích huyết từ lưỡi
hoặc ngón tay, hoặc cánh tay, hoặc trước
ngực không nhất định. Nếu trích trên thân th́
từ tim trở xuống trọn chẳng được
dùng. Nếu dùng sẽ mắc tội chẳng cạn! Không
biết tọa hạ tính chép kinh ǵ; nếu là bộ kinh
nhỏ th́ máu nơi lưỡi cũng đủ dùng.
Nếu là bộ kinh lớn và dùng thuần máu để chép
e rằng máu nơi lưỡi khó đủ! Phải dùng
máu nơi ngón tay và cánh tay mới ḥng đủ
được. Do lưỡi là chót ngọn của tim,
nếu lấy máu quá nhiều sợ rằng tâm lực
bị tổn thương, khó thể tấn tu.
Quang
thấy những người trích máu chép kinh gần đây
đúng là tạo nghiệp, trọn chẳng cung kính.
Mỗi lần trích máu quá nhiều, nhằm tiết Xuân,
tiết Thu, hai ba ngày sau bèn trở mùi, mùa Hạ chỉ
nửa ngày là hôi, cứ dùng để chép. Lại có kẻ
c̣n đem máu phơi khô, mỗi lúc chép dùng nước ḥa máu
khô để viết. Lại c̣n chép nguệch ngoạc,
chẳng cung kính mảy may, đúng là tṛ đùa trẻ nít,
chẳng phải là dùng máu để biểu lộ chí thành,
mà là dùng máu chép kinh ḥng chuốc cái danh chân tâm tu hành. Tôi
trộm nghĩ: Máu nơi ngón tay, máu nơi lưỡi, mỗi
lần chẳng được trích quá nhiều. Nếu
ở cánh tay, mỗi lần trích máu có thể hứng
chừng nửa chén. C̣n như máu đă hôi vẫn dùng và máu
phơi khô nghiền ra dùng th́ chẳng bằng lúc ban
đầu ḥa huyết với son làm thành thỏi, phơi khô
để dùng, vừa không phí máu, lại chẳng bị máu
hôi làm ô uế kinh, tiện lợi đôi bề! Nhưng
thỏi son máu này không có chất keo, sợ lâu ngày son sẽ
ră ra, lúc trộn nên trộn thêm Bạch Cập[51]
để khỏi bị ră. Thêm nữa, nếu sắp trích
huyết th́ trước đó mấy ngày nên bớt ăn
muối và những thứ nêm nhiều gia vị. Nếu
không kiêng những thứ đó trước th́ máu sẽ
tanh tưởi; nếu kiêng những thứ ấy máu
sẽ không có mùi tanh.
Vả nữa, chép kinh chẳng giống như viết
b́nh[52]
cốt sao diễn đạt được cái thần, [viết
b́nh] không cần phải tề chỉnh, nắn nót. Nếu
viết kinh hăy nên như chàng tiến sĩ viết bài
văn sách, mỗi một nét bút chẳng được cẩu
thả, viết tắt. Kiểu chữ dùng phải tuân theo
thể loại chánh thức. Nếu tọa hạ dùng
kiểu chữ viết trát th́ không thể được!
Xưa nay, người ta đa số dùng lối Hành Thư,
Thảo Thư để viết kinh, Quang trọn chẳng
tán thành. Bởi lẽ, thầy Khoan Huệ ở
Dương Châu phát tâm chép kinh Hoa Nghiêm, đă chép
được hơn sáu mươi quyển, nét bút luông
tuồng. Người biết đẹp - xấu trọn
chẳng muốn xem. Quang cực lực chê trách, bảo
mỗi một nét bút, mỗi một vạch phải cung,
phải kính, lại c̣n bảo thầy ấy viết bài kư
trách lỗi để nêu lỗi ḿnh ḥng giăi bày cùng
người đọc. Ông ta nhờ Quang viết giùm, nên
tôi chép thêm vào trong cuốn Văn Sao dở tệ này.
Muốn dùng cách [chép kinh] này để đoạn phiền
hoặc, liễu sanh tử, độ chúng sanh, thành
Phật đạo, há có nên biến thành tṛ đùa ư?
Trong
thời đại này, người đàm huyền
thuyết diệu không thiếu! Nếu từ đây mà
kiểm điểm th́ lại càng thưa thớt. Ông
Vưu gởi thơ đến, lời lẽ khá khiêm cung,
Quang phúc đáp xong, lại gởi thơ cảm tạ, có
thể gọi là hạng có ḷng tin sốt sắng; tuy
thế c̣n mang tri kiến xă hội, chưa thể ở trong
Phật pháp lắng ḷng thật sự cầu
được lợi ích. V́ sao thấy thế? Như nay
có người đi đường, không biết
đường phía trước, muốn hỏi người,
c̣n phải chắp tay. Trong hai lá thư gởi đến,
phần kư tên, ông Vưu chỉ viết là “hợp thập” (chắp mười ngón tay);
vậy là pháp liễu sanh tử chỉ bằng với
người đi đường [hỏi
đường] thôi ư? Viết thư c̣n chưa
thấy khuất ḿnh, làm sao chịu tự khuất để
lễ Tăng cho được? Quang và tọa hạ là
bạn tâm giao, mà cũng là bạn tâm giao của ông Vưu,
không phải là trách ông ta ngạo mạn mà chỉ là
thật sự mong ông ta được lợi ích đó
thôi!
59. Trả lời thư thầy
Hoằng Nhất (thư thứ hai)
Nhận được thư, dạng chữ
khéo, chỉnh, có thể y theo đó để chép kinh. Phàm
chép kinh là muốn chuyển cái tâm thức phàm phu thành trí
huệ Như Lai, giống như chàng tân tiến sĩ vào
trường thi trong đền vua, phải nghiêm cung, dè
dặt, không giải đăi, coi thường chút nào. Làm
được như thế ắt mới có thể
biến cái tâm nghiệp thức thành Như Lai Tạng,
mới ḥng đậu Trạng Nguyên trong trường thi
tuyển Phật. Người hiện thời chép kinh,
mặc t́nh ngoáy bút, không phải là chép kinh mà chỉ là
nhờ vào việc này để luyện chữ, cũng
như muốn lưu lại bút tích cho hậu thế mà
thôi! Chép kinh như vậy không phải là hoàn toàn vô ích,
bất quá chỉ thành cái nhân đắc độ trong
vị lai, nhưng cái tội khinh nhờn cũng chẳng
cạn nhỏ!
Tọa
hạ gởi thư cho Vưu cư sĩ, mấy hôm
trước ông ta cũng gởi thư đến, ông ta
nghĩ Quang là hạng người chỉ muốn
được người khác cung kính, nên vừa mở
đầu thư đă xưng Quang là “sư tôn”, không dùng
bốn chữ “Ấn Quang pháp sư” nữa! Quang đă
tŕnh bày cặn kẽ duyên do. Đầu thư của
tọa hạ cũng nên dùng hai chữ “Ấn Quang”,
chẳng nên quá khiêm hư kẻo trở thành khách sáo như
thế tục. Như cổ nhân nếu có người ngang
hàng với ḿnh dạy cho ḿnh một lời đều làm
lễ cảm tạ, ấy là lễ nghi thông thường
bất luận Tăng, tục. Nay lễ giáo sa sút, v́
thế thường hay tập thành thói quen ngă mạn,
tự đại. Dẫu học một tài, một
nghề khéo mà không chịu ở dưới người khác
c̣n là chuyện chẳng nên, huống chi học đạo
vô thượng Bồ Đề! Đây chính là tấm ḷng
thành ngu muội dùng đá nơi núi khác làm ngọc cho chính
ḿnh của Quang. Chuyện trích máu chép kinh xin hăy thư
thả, trước hết hăy lấy chuyện nhất tâm
niệm Phật làm trọng, e rằng huyết hao thần
suy, đâm ra thành chướng ngại. Thân có an th́
đạo mới tăng tấn. Trong địa vị
phàm phu, chẳng được học đ̣i khổ
hạnh của địa vị Pháp Thân đại sĩ,
như vậy mới có hiệu quả. Hễ
được nhất tâm th́ pháp nào cũng đều viên
dung!
60. Trả lời thư cư sĩ Uông
Mộng Tùng
Hôm qua nhận được thư, phô
trọn nỗi ḷng. Tuy chưa gặp mặt đă thấu
ḷng nhau. Quang chỉ là một ông Tăng dở tệ, chẳng
có một mảy ǵ tốt đẹp, chẳng qua những
ǵ tôi nói ra chỉ là dựa trên bổn phận của chính
ḿnh, chẳng dám nói chuyện lớn lao vượt quá
sức ḿnh, lừa ḿnh, bịp người. Cư sĩ Úy
Như do thấy ư kiến của tôi phù hợp với ḿnh
bèn đem [những thư từ của tôi] nhiều lần
in ra lưu truyền đến nỗi mùi [thức ăn]
thừa cặn chua hôi nhức tai gai mắt khắp mọi
người. Không ngờ các hạ chẳng cho đó là chua
hôi đáng vứt bỏ, lại c̣n đề cao, khôn
ngăn người ta thẹn thùng không biết ẩn vào
đâu! Qua một lá thư này, biết được
đức và lỗi của các hạ, chẳng nề hà
Quang vô tri, cứ xin Quang nói cho một vài điều
đại lược.
Chán
ghét nhà Nho mượn kinh truyện thánh hiền để
dối đời trộm danh, chán kẻ học Phật mượn
cớ phổ độ chúng sanh để lừa gạt
tiền tài. Ông mang ư chí mạnh mẽ chẳng ngơi
ấy, ắt có thể chánh tâm thành ư, trở thành bậc
chân Nho, đoạn Hoặc chứng chân, thành người học
Phật thật sự. Cái tâm chán ghét càng khẩn thiết
th́ cái tâm tu hành càng đắc lực. Cái tâm tu hành càng
đắc lực th́ lợi ích chứng đắc càng
lớn lao. Cái đức ấy quả thật có thể kế
tục người xưa, mở đường cho hàng hậu
lai. Nếu chỉ biết chán nhưng không chịu theo
đuổi th́ chỉ thành chí khí, tiết tháo của
một kẻ ngay thẳng yếm thế ghét đời. Có
thể nói là chẳng khéo dùng ḷng ghét, đức trở
thành lỗi vậy! Dường như các hạ một
dạ ôm ḷng chán ghét, nay hăy chuyển ḿnh nơi ḷng chán ghét
ấy, hoàn toàn biến khuyết điểm thành đức
th́ với tâm pháp của Nho và Phật ắt sẽ nhân
đó tự đạt được.
Dám
v́ các hạ tính sẵn: Muốn làm một Phật tử
chân thật, trước hết phải thành một nhà Nho
chân thật đă! Nếu chẳng đôn đốc, tu dưỡng
nơi chánh tâm thành ư, khắc kỷ, giữ lễ,
trọng ḷng kính, giữ ḷng thành, hiếu thuận [với
cha mẹ], yêu thương anh em, bè bạn, cung kính v.v… th́
căn cơ chẳng vững, làm sao học Phật cho
được! Tuyển trung thần từ nơi hiếu
tử, lẽ nào kẻ hành vi trái nghịch Nho đạo
lại có thể gánh vác gia nghiệp của Như Lai, trên
tiếp nối huệ mạng, dưới hóa độ
chúng sanh ư? Phật pháp không ǵ to lớn chẳng bao hàm,
không ǵ nhỏ nhặt chẳng nêu lên. Thế gian, xuất
thế gian không pháp nào chẳng thuộc phạm vi Phật
pháp. Những kẻ nông nổi trong đời
thường cho xuất gia làm Tăng là trái luân lư, đă
chẳng suy nghĩ đến nơi đến chốn,
trái lại c̣n hủy báng thêm, như kẻ mắc nghẹn
bèn bỏ ăn, tự mất tánh mạng, thật đáng
thương xót!
Nếu
có thể mở rộng tầm mắt, mới hay Phật
pháp lưu truyền khắp trong nước, ngoài
nước, hai ngàn năm qua, đạo pháp thạnh hành,
được không biết bao nhiêu vua thánh tôi hiền,
bậc kiệt sĩ vĩ nhân hộ tŕ truyền bá,
cố nhiên trong ấy phải có cái đạo chân thật
mà phàm t́nh chẳng thể suy lường được!
Dẫu có một hai nhà Nho nông cạn chê trách, hoặc vua
bạo ác hủy diệt, rốt cuộc một tay không
bịt nổi mặt trời, ngửa mặt nhổ lên
trời càng lộ rơ cái lỗi thấy nghe kém ít, làm càn, làm
bậy của chính họ, chứ rốt cuộc có tổn
hại ǵ đến Phật đâu! Lại có kẻ bề
ngoài ra vẻ chê trách, bác bỏ, nhưng bên trong lại
thật sự tu chứng. Từ đời Tống
trở đi, phàm những tay cự phách trong làng Nho không ai
chẳng vậy. Như Quang nói: “Thành ư chánh tâm do vậy
bị khiếm khuyết” quả thật là lời bàn
luận quyết định vậy!
Các
hạ túc căn sâu dầy, nên từ trong ḷng chán lại
mong cầu được cái chân thật, chẳng nề
hà cầu t́m cho được lối vào nơi Quang là
hạng không ra ǵ. Nhưng cái học của Quang khác nào con
muỗi uống nước biển cả, chỉ biết
no bụng, chẳng suy lường nổi sự sâu
rộng của biển. Nếu muốn làm bậc
đại thông gia, phải từ đường lối
chung học Phật mà luận. Khởi Tín Luận, Lăng
Nghiêm kinh là thiết yếu nhất, nên chuyên chú dụng công
nơi chúng để làm cái gốc tự lợi, lợi
người, thượng cầu, hạ hóa. Nhưng
đạo lư rộng sâu, chỉ hoàn toàn thông suốt đă
chẳng dễ ǵ, huống ǵ là do thông suốt bèn tự
chứng! Những kinh luận Đại Thừa khác
đều nên nghiên cứu, nhưng pháp môn vô lượng, ắt
phải lấy hai pháp Thiền và Tịnh làm gốc. Như
thế th́ tự ḿnh có thể hoằng dương pháp hóa,
dẫn dắt lợi lạc chúng sanh. Nếu không phải
là bậc thiên tư cao tột, thật khó thể
đạt được lợi ích lớn lao!
Nếu
muốn tùy phận, tùy sức tu tŕ, liễu sanh tử ngay
trong đời này th́ nên chuyên chú vào một môn Tịnh
Độ. Dùng ḷng tin chân thành, nguyện khẩn thiết,
niệm Phật cầu sanh Tây Phương, bất luận
công phu sâu hay cạn, không ai lúc lâm chung không được toại
nguyện. Pháp này chính là do Như Lai v́ chúng sanh đời
Mạt không đủ sức đoạn Hoặc, chẳng
thể liễu sanh tử bèn đặc biệt lập ra
một pháp quyết định liễu thoát vậy!
Nếu Phật chẳng mở ra pháp này th́ kẻ không
sức đoạn Hoặc đều chẳng có hy vọng
ǵ liễu thoát sanh tử! May mắn sao gặp
được pháp này, dẫu không phải là kẻ căn
cơ lớn lao tự đoạn được Hoặc
vẫn đới nghiệp văng sanh mau thoát sanh tử, nào c̣n
thiếu sót, tiếc nuối ǵ? Một pháp này thống
nhiếp hết thảy, người tự đoạn
được Hoặc, tự liễu sanh tử, c̣n nên
hồi tâm hướng về mới mau chứng
được địa vị Phật. Chớ bảo
pháp này là pháp thiển cận dành cho hạng ngu phu, ngu
phụ tu tập, sẽ tự đánh mất lợi ích.
Hăy nên xem trong bộ Văn Sao của Quang cũng có tŕnh bày
đại lược một hai điều, nay không
nhắc lại nữa.
Muốn
niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ phải
biết nhân hiểu quả, những ǵ thân làm, những ǵ
tâm nghĩ phải hợp với Phật. Nếu trái
nghịch Phật, dù có niệm Phật cũng khó văng sanh!
Đó là v́ đạo cảm ứng chẳng tương
giao! Nếu có thể sanh ḷng hổ thẹn, sợ hăi lớn
lao, sửa lỗi như trừ ghẻ độc, lập
chí như giữ bạch ngọc th́ vạn người
không sót một ai, ai nấy đều được văng
sanh. Ư này trong bộ Văn Sao của Quang và các sách Tịnh
Độ đều đă tŕnh bày cặn kẽ nên
chẳng cần phải nhiều lời.
61. Trả lời thư cư sĩ
Trần Huệ Siêu
Nhận được thư, biết tấm
ḷng mộ đạo của cư sĩ cực kỳ
khẩn thiết, an ủi khôn cùng! Nhưng do phải
giảo định An Sĩ Toàn Thư và bận rộn
nhiều việc, chẳng rảnh phúc đáp, nên mới
lần chần đến bây giờ. Tâm tham - sân - si ai
nấy đều có. Nếu biết đấy là bệnh
th́ thế lực của chúng khó thể lừng lẫy. Ví
như kẻ giặc vào nhà người ta, nếu chủ
nhân coi nó là người nhà th́ toàn bộ những thứ quư
báu trong nhà đều bị nó lấy trộm hết
sạch. Nếu biết nó là giặc, chẳng cho nó lưu
lại trong nhà ḿnh một khắc, phải đuổi nó
đi xa cho khuất mắt, ngơ hầu của cải
chẳng bị mất mát, chủ nhân mới yên dạ.
Cổ đức nói: “Chẳng
sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm”. Tham
- sân - si vừa khởi nhận biết liền th́ ngay lúc
ấy chúng sẽ bị tiêu diệt. Nếu coi tham - sân - si
là chủ nhân chánh thức của nhà ḿnh th́ cũng như
nhận giặc làm con, của cải quư báu trong nhà ắt
phải tiêu tán!
Lúc
niệm Phật chẳng thể khẩn thiết là v́ không
biết Sa Bà là khổ, Cực Lạc là vui vậy! Nếu
nghĩ đến thân người khó được, khó
sanh vào chính giữa đất nước, Phật pháp khó
gặp gỡ, pháp môn Tịnh Độ lại càng khó
gặp gỡ. Nếu không nhất tâm niệm Phật,
một khi hơi thở không hít vào được, chắc
chắn sẽ theo ác nghiệp nặng nề nhất trong
đời này hay đời trước đọa trong tam
đồ ác đạo, chịu khổ bao kiếp dài lâu,
trọn không có ngày thoát ra. Như vậy chính là “nghĩ địa ngục
khổ, phát tâm Bồ Đề”. Bồ Đề tâm là
tâm địa lợi ḿnh, lợi người. Tâm ấy
vừa phát ra giống đồ vật nhiễm
điện, như thuốc pha thêm lưu huỳnh, sức
chúng rất lớn, lại rất mau chóng. Điều này
tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ;
không phước đức, thiện căn b́nh
thường nào có thể sánh ví cho được! Bị
cảnh giới xoay chuyển là do sức tu dưỡng
(tháo tŕ) c̣n cạn nên hỷ - nộ c̣n bị động,
xấu - tốt hiện ra mặt. “Tháo tŕ” có nghĩa là hàm
dưỡng vậy! Nếu coi trọng chánh niệm th́
hết thảy những thứ khác đều thành nhẹ.
V́ vậy, người thật sự tu hành phải
giồi mài trong trần lao, ắt phải làm cho phiền
năo tập khí dần dần tiêu diệt th́ mới là công phu
thực tại.
Người tại gia không ở trong chúng,
mỗi người niệm Phật, ngồi, đứng,
đi nhiễu, quỳ đều được cả,
nhưng chẳng nên chấp cứng một pháp. Nếu
chấp chặt một pháp sẽ dễ bị nhọc
nhằn, nhưng tâm khó được tương ứng.
Hăy nên châm chước tùy theo sức lực và công phu
của ḿnh để chọn hạnh thích hợp. Nếu hành
theo cách thông thường th́ trước hết nên đi nhiễu,
rồi ngồi, rồi quỳ. Đi nhiễu hay quỳ
cảm thấy nhọc nhằn th́ hăy nên ngồi niệm.
Nếu ngồi niệm mà thấy hôn trầm th́ hăy nên
nhiễu niệm, hoặc đứng niệm. Hết hôn
trầm lại ngồi niệm. Nên dựa theo giờ,
chẳng nên lần chuỗi v́ lần chuỗi sẽ khó
dưỡng tâm.
An
Sĩ Toàn Thư quả thật là hướng dẫn
tốt lành tối thắng trong đời mạt. Cư
sĩ Vưu Tích Âm cực lực muốn cho sách này
được lưu truyền toàn quốc ngơ hầu
mọi người đều mở rộng tầm
mắt, nhờ đấy văn hồi thế đạo nhân
tâm, ngừng dứt thiên tai nhân họa. Nay đă quyên
được hơn một vạn bộ, nhưng
vẫn c̣n khó thể rộng lưu truyền. Nay gởi
một bản thông cáo và một trang biện pháp, mong các
hạ đọc xong, tùy phần tùy sức giúp đỡ,
tùy duyên, tùy cơ khuyên lơn. Không đủ sức bỏ tiền
của th́ dùng lời lẽ khen ngợi khiến
người ta phát tâm, cũng là công đức! Cốt sao
bọn mê muội nghe tiếng chuông ban mai tỉnh giấc
mộng, lũ tham ái thấy nhân quả ḷng run sợ!
Nếu chuyển được ḷng người thiên tai
sẽ tự tiêu. Đây thuộc về cái đạo “nguồn
trong, gốc chánh”, tuy là pháp thiển cận thuộc Thế
Đế, nhưng đạt được phương
tiện tối thắng của pháp xuất thế sâu xa
không thể suy lường. Với những ai tri giao hăy nên
khuyến phát. Với người không tin chớ có khuyên ép.
Bởi điều này thuộc về kết thiện duyên,
nếu miễn cưỡng bèn xen tạp phiền năo,
dẫu có công lao nhỏ nhoi, nhưng quả thật là
lỗi lầm lớn, chưa thể đạt
được lợi ích lớn lao, trở ngại cái tâm
tự lợi, lợi tha.
62. Trả lời thư ông Ly Ẩn
Tẩu
Ngày hôm qua từ chỗ Hải Thi Đạo
Nhân[53]
ở Gia Hưng chuyển thư các hạ tới, biết
ngài dốc sức nơi Đạo học (tu tiên) đă
lâu, có sở đắc sâu xa, nay lại muốn hỏi
đến ngọn ngành pháp môn Tịnh Độ thành
thỉ thành chung trong Phật pháp, có thể nói là đời
trước từng gieo thiện căn sâu dầy nơi
Phật pháp, không chấp vào kiến giải hẹp ḥi của
Hà Bá[54],
muốn biết những điều trọng yếu
nơi biển pháp vậy. Ngài đă biết Hải Thi
đạo nhân, sao không hỏi ông ta, lại bỏ bậc
cao minh t́m người hèn tệ, đến nỗi phụ
ḷng mong mỏi. Ông Hải Thi thông suốt cả Tông lẫn
Giáo, Thiền - Tịnh song tu, quả thật là thuyền
đại nguyện trong biển sanh tử; nhưng do khiêm
tốn quá mức nên lấy tên là Thi (xác chết). Nếu
trong biển sanh tử gặp được cái xác ấy
bảo đảm mau lên được bờ kia, về
nhà ngồi yên vậy. C̣n Quang là một ông Tăng tầm thường
chỉ biết đến cơm cháo, trong pháp môn chẳng
biết được chuyện ǵ. Ngài đă lầm
hỏi đến nên chẳng ngại v́ ngài trừ bớt
đôi chút nghi nan mà thôi!
Trộm
nghĩ cội nguồn Thích, Đạo vốn không hai,
nhưng nhánh nhóc, chi phái quả thật khác xa một
trời, một vực. Phật giáo dạy người
trước hết phải tu Tứ Niệm Xứ Quán:
quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô
thường, quán pháp vô ngă. Đă biết thân, thọ, tâm,
pháp đều là huyễn vọng, khổ, không, vô
thường, vô ngă, bất tịnh th́ diệu tánh Chân
Như tự có thể hiển lộ. Đạo giáo nguyên
sơ chánh truyền cũng chẳng coi trọng việc “luyện
đan, vận khí, chỉ cầu trường sanh bất
tử”; hậu thế hễ tu theo Đạo giáo không
một ai chẳng coi chuyện đó là chánh tông. Phật
giáo không ǵ lớn lao chẳng bao gồm, không ǵ nhỏ
nhặt chẳng nêu lên, chẳng những phát huy trọn
vẹn cái đạo thân tâm tánh mạng không c̣n sót, mà ngay
cả những sự nhỏ nhặt thuộc Thế Đế
như Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm,
Sỉ v.v…không bỏ sót mảy may điều thiện nào.
Chỉ có những chuyện luyện đan, vận khí v.v…
là tuyệt đối không nhắc đến một chữ,
lại c̣n ngăn cấm nghiêm nhặt. Bởi lẽ
một đằng biết thân tâm là huyễn vọng,
một đằng lại khư khư thân tâm là chân
thật. Cái tâm vừa nói đó chính là cái tâm sanh diệt tùy
duyên, không phải là chân tâm vốn có. Một pháp luyện
đan không phải là vô ích, nhưng chỉ có thể kéo dài
tuổi thọ, tột bậc là thành tiên sanh lên trời.
Nếu bảo là liễu sanh thoát tử khác ǵ lời nói
trong mộng!
Các
hạ đă biết kiếp tiên có số, Phật thọ
vô lượng, th́ ngay trong lúc cao niên này đúng là lúc nên tu
pháp môn Niệm Phật, chuyên tinh dốc sức, c̣n các pháp
Thiền, Giáo khác hăy nên giản lược. Bởi lẽ
các pháp ấy rộng lớn sâu xa, chẳng dễ nghiên
cứu đến cùng tột. Dẫu cho đạt đến
chỗ cùng cực, vẫn phải nên quy hướng, đề
cao pháp môn Tịnh Độ mới ḥng rốt ráo thành
tựu được. Phàm với kinh luận Tịnh
Độ hăy nên gấp gáp nghiên cứu đến cùng, y
giáo phụng hành, chẳng nên v́ ḿnh không hiểu bèn sanh chút
niệm nghi tâm. Ngửa tin lời thành thật của
Phật, Tổ, sanh ḷng tin phát nguyện tŕ danh hiệu
Phật, sẽ tự được Phật từ
lực tiếp dẫn văng sanh. Hễ được văng
sanh bèn sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử,
hầu cận Di Đà dài lâu, theo gót hải chúng, rồi sẽ
chứng ngộ triệt để Vô Sanh, mau đạt lên
Bổ Xứ. Nh́n lại những chuyện thành tiên bị Thiên
Đế cai quản, cách xa một trời, một
vực!
Những
lời các hạ dẫn từ Mộng Đông Ngữ
Lục và lời ông Bành Thiệu Thăng tựa hồ
đều đă bị bọn luyện đan sao chép
sửa đổi xằng bậy, không phải là những
lời trích từ tác phẩm gốc. Bởi lẽ, trong
số những người luyện đan cũng có
kẻ coi tịnh tọa là tham Thiền nên nói “niệm Phật và tham Thiền
giống nhau, hơi khác một chút với pháp Đạo
giáo”. Câu “hơi khác một
chút với pháp Đạo Giáo” là do bọn luyện
đan thêm vào. Bỏ câu ấy ra, những đoạn
văn trước và sau đó tuy ư nghĩa không sai lầm
lớn, nhưng cũng lủng củng, mập mờ.
Mộng Đông Ngữ Lục trọn chẳng có
đoạn văn ấy. Bọn họ sao lục lấy ư
nghĩa ấy, nhưng quả thật chẳng hiểu duyên
do, nhưng vẫn cứ sao lục. Nay tôi cũng không
cần phải biện luận cặn kẽ, mong ngài hăy
lắng ḷng xem Mộng Đông Ngữ Lục ắt sẽ tự
biết.
C̣n
như lời cư sĩ Bành Nhị Lâm đă dẫn
cũng giống như trên, sai lạc quá mức! Như nói:
“A Di Đà Phật bốn
chữ dễ niệm, chỉ cần niệm niệm
tiếp nối nhất tâm bất loạn th́ nhất khí
mới có thể tuần hoàn, tinh - khí - thần ngưng
tụ một chỗ, lâu ngày sẽ thành xá-lợi tử,
lại lâu hơn nữa bèn kết thành Bồ Đề
châu, bèn thành Phật!” Lời này biến pháp Niệm
Phật thành pháp luyện đan, tuyệt đối
Nhị Lâm chẳng nói như vậy! Chánh nhăn chưa
mở, kéo chánh thành tà, chuyện như vậy nhiều
lắm. Huệ Mạng Kinh, Tiên Phật Hiệp Tông[55]
những thứ như vậy càng tệ hơn nữa:
Dẫn lời người nhưng chẳng hiểu ư
nghĩa, sửa đổi, cắt xén xằng bậy
để chứng minh pháp của ḿnh. Cái tội miệt
thị lư, vu báng người, dối đời lầm
người chẳng thể dùng lời lẽ, bút mực
kể hết được! Tham cầu hư danh nhất
thời, chẳng sợ họa thật sự bao kiếp
dài lâu, Như Lai gọi người như vậy là “kẻ
đáng thương xót!”
C̣n
cái pháp hồi quang phản chiếu như ông nói đó
dẫu không gây trở ngại lớn, hai mắt nh́n vào
đầu ngón tay chính là “nh́n vào chót mũi” bị ngoa
truyền. Có thể cách này do cư sĩ Nhị Lâm lập
ra, tuy cũng có ích, nhưng chắp tay một lúc lâu
thật rất tốn sức, chẳng an lạc tự
tại bằng nh́n xuống ánh sáng trắng nơi chót
mũi, thân lẫn tâm đều thảnh thơi. Do sơ
tâm tập định, niệm khó thể quy nhất.
Nếu có thể thường quán chót mũi th́ tâm sẽ
chẳng vọng động rong ruổi bên ngoài. Cách này thuộc
về pháp quán thiển cận ban đầu. Mộng
Đông Ngữ Lục do cư sĩ Tiền Y Am trích
lấy những câu nói chuyên dạy về Tịnh
Độ từ Mộng Đông Di Tập đem lưu
truyền ở phương
Di
Đà Yếu Giải là bản chú giải mầu nhiệm
từ khi có kinh này đến nay, quả thật là chỉ
nam cho người tu Tịnh nghiệp. Cuốn này
được chép làm quyển đầu trong bộ
Tịnh Độ Thập Yếu. Tịnh Độ
Thập Yếu là do đại sư trích lấy những
trước thuật Tịnh Độ khế lư khế
cơ nhất hợp thành bộ này, tổng cộng
gồm mười cuốn, nên gọi là Thập Yếu. Do
Yếu Giải chú thích kinh nên được xếp đầu
tiên để tỏ ư tôn trọng kinh.
Như nói đến Xá Lợi th́ đó là
tiếng Phạn, Hán dịch là Thân Cốt (xương nơi
thân), hoặc Linh Cốt (xương thiêng), do Giới - Định
- Huệ của người tu đạt được,
chứ không phải do luyện Tinh - Khí - Thần hợp
thành. Đây chỉ là biểu thị tâm hợp với
đạo, tâm hợp với Phật, chẳng phải riêng
ǵ chết rồi đem thiêu, thịt, xương, tóc trên
thân biến thành xá-lợi. Xưa có vị cao tăng
tắm gội bèn được xá-lợi. Lại c̣n Tuyết
Nham Khâm thiền sư[56]
cạo đầu, tóc rớt xuống biến thành một
chuỗi xá-lợi. Lại có người chí tâm niệm
Phật, trong miệng có xá-lợi. Lại có người
khắc bản Long Thư Tịnh Độ Văn, từ
trong ván in hiện ra xá-lợi. Lại có người thêu h́nh
Phật, thêu kinh, kim đâm xuống bèn được xá-lợi.
Lại có người chết đem thiêu xá-lợi vô
số, môn nhân ai nấy đều có. Có một
người đi xa chưa về, lúc về, cúng tế
trước tượng, cảm khái đau buồn, bèn
được xá-lợi ngay trước tượng. Ngày
thiêu hóa Trường Khánh Nhàn thiền sư trời nổi
cơn gió lớn, khói bay xa ba bốn mươi dặm.
Chỗ nào khói lan tới đều có xá-lợi, nhặt gom
lại được hơn bốn thạch[57].
Nên
biết xá-lợi do đạo lực tạo thành, kẻ
luyện đan không biết căn do, đoán bừa là do
Tinh - Khí - Thần luyện thành, v́ những kẻ luyện
đan thấy danh tướng trong nhà Phật, chẳng xét
đến nguồn gốc chỉ chấp vào h́nh tích. V́
thế, đem những chuyện thuộc lănh vực luyện
đan của ḿnh ghép bừa vào. Đắc Bồ
Đề đạo là thành Phật, chứ chưa hề
nghe nói luyện Tinh - Khí - Thần trước hết thành
xá-lợi tử, sau đó thành Bồ Đề châu là thành
Phật! Kẻ luyện đan khư khư ǵn giữ
sắc thân, cho là giữ đến mức cùng cực
sẽ thành Phật. Lấy đó làm chứng, người
mắt sáng trông thấy chẳng bơ một trận
cười. Nhà luyện đan nói đến tánh, nói
đến mạng đều là những điều
biện luận dựa trên sắc thân, lại nói
ngược Phật pháp chỉ biết tu tánh, không biết
tu mạng, không biết những điều họ đang
theo đuổi đều là những điều bị Phật
giáo phá trừ. Quán Tứ Niệm Xứ sẽ tự
biết rơ.
Huệ
Mạng Kinh là do gă ma dân Liễu Hoa Dương soạn vào
đầu đời Thanh. Gă xuất gia làm Tăng, nhưng
chủng tánh tà vạy, v́ thế gă dùng những điều
trích dẫn kinh Phật nhất nhất được
hiểu theo ư nghĩ sai lầm của chính gă để
chứng minh pháp luyện đan. Chỗ nào bất tiện
bèn sửa đổi câu chữ, lại c̣n tự chú thích, ư
mong người khác coi ḿnh là cao nhân bậc nhất từ xưa
tới nay. Những kẻ vô tri vô thức bèn khắc in,
truyền dạy riêng cho nhau, chỉ sợ người
mắt sáng biết đến th́ họa ương
chẳng nhỏ. Phàm ai xem những loại sách ấy
đều là hạng tà - chánh chẳng phân. Nếu
người có đủ mắt xem đến sẽ
quăng ngay vào lửa mạnh, để khỏi làm
hại chánh nhăn của thiên hạ hậu thế. Sách Tiên
Phật Hiệp Tông vu báng Phật pháp so với Huệ
Mạng Kinh c̣n tệ hơn nữa. Phàm muốn luyện
đan th́ lấy ngôn luận của chính các nhà luyện
đan để đề xướng, hướng dẫn
th́ được, sao lại biến chánh thành tà, bày kế
bịt tai trộm linh[58]?
Dẫn lời người nhưng chẳng dựa theo
nghĩa của người, đă mộ cái danh nhưng
lại ghét cái thật, há chẳng mất trí thành cuồng,
cầu thăng hóa đọa ư? Những chuyện này
vốn chẳng đáng nhắc đến, sao lại c̣n
bày tỏ cặn kẽ? Chỉ v́ các hạ chưa biết
cội nguồn của đây và kia (tức Phật và
Đạo giáo) tuy đồng, nhưng những ǵ phát sanh
từ bên kia, bên đây lại khác. Nếu chẳng phân
biện, vẫn cho phép luyện đan là đủ[59], chẳng
thể như Trang Phục Chân[60]
bỏ ngay đạo kia, chọn lấy pháp này; há Quang
chẳng nên biện luận kỹ hay sao? Thật sợ rằng
nếu chỉ nói hàm hồ sẽ khiến cho các hạ
đối với cả hai môn đều chẳng
được lợi ích.
Quán
Thế Âm Bồ Tát trong kiếp xa xưa, thành Phật
đă lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh. Nhưng do tâm từ bi
thiết tha nên tuy an trụ trong cơi Thường Tịch
Quang lại thùy tích trong ba cơi Thật Báo, Phương
Tiện, Đồng Cư. Tuy thường hiện thân
Phật, nhưng lại c̣n hiện đủ mọi thân
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn và thân trong sáu
đường trời người lục đạo, tuy
thường hầu Di Đà, nhưng lại hiện
sắc thân trong khắp mười phương vô tận
pháp giới, có thể nói là “chỉ có lợi ích, không ai
không ngưỡng mộ, sùng kính”. Nên dùng thân nào để
độ bèn hiện thân ấy để thuyết pháp.
Phổ Đà Sơn là chỗ Bồ Tát ứng tích, muốn
cho chúng sanh có chỗ gởi tấm ḷng thành nên bèn thị
hiện tại núi này, nào phải Bồ Tát chỉ ở
Phổ Đà, không ở nơi khác!
Một
vầng trăng vằng vặc giữa trời, vạn con
sông đều hiện bóng, dẫu nước nhỏ
như một chước[61],
một giọt thảy đều hiện trọn vẹn
bóng trăng. Nếu nước vừa đục vừa
xao động, bóng trăng chẳng thể phân minh. Tâm chúng
sanh như nước, nếu nhất tâm chuyên niệm
Bồ Tát th́ Bồ Tát liền ngay trong lúc niệm ấy bèn
khiến cho được lợi ích hiển hiện hoặc
thầm kín. Nếu tâm không chí thành, không chuyên nhất,
ắt khó được cứu hộ. Nghĩa này rất
sâu, hăy xem trong Ấn Quang Văn Sao bài tựa Thạch
Ấn Phổ Đà Sơn Chí sẽ tự biết. Ngài có
tên là Quán Thế Âm, là v́ lúc tu nhân Bồ Tát do quán tánh Nghe
chứng được viên thông, lúc đắc quả do
quán sát âm thanh xưng danh của chúng sanh để ban bố
sự cứu hộ nên có tên là Quán Thế Âm.
Phổ
Môn là đạo Bồ Tát lớn lao không ngằn, tùy
thuận khắp mọi căn tánh của chúng sanh,
khiến cho ai nấy đều theo đường về
nhà, chẳng lập riêng một môn. Như trong đời
có ngàn căn bệnh nên thuốc có vạn phẩm,
chẳng chấp nhất định một pháp nào, tùy theo
con người mê chỗ nào và chỗ nào người ấy
dễ ngộ, liền chỉ điểm cho. Như nơi
sáu căn, sáu trần, sáu thức, bảy đại, mỗi
mỗi đều có thể chứng viên thông. Do vậy,
pháp ǵ, chuyện ǵ cũng đều là cửa để
thoát sanh tử thành Chánh Giác, nên gọi là Phổ Môn. Nếu
Bồ Tát chỉ ở tại Nam Hải th́ chẳng
đáng gọi là Phổ vậy! Đối với sự
lư chẳng thể nghĩ bàn của Phật, Bồ Tát, các
hạ đă chẳng dốc ḷng suy xét; v́ thế,
đối với những sự thiển cận này đều
mê muội không rơ.
Những
điều vừa nói chính là v́ các hạ hỏi nên mới
bàn, chứ quả thật chưa phải là chuyện để
các hạ rốt ráo được lợi ích nơi pháp môn
Tịnh Độ vậy. Nếu muốn tŕnh bày cặn
kẽ, quá tốn bút mực, xin hăy đọc Vô
Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ Phật
kinh, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục, Triệt Ngộ Ngữ Lục. Xem rồi
sẽ tự biết phải tu như thế nào, chứng
như thế nào. Vả nữa, cư sĩ Từ Úy
Như gom góp những thư từ trao đổi của
Ấn Quang hai lần đem in ở kinh đô, đặt tên
là Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, hai bản, đă gởi đi
hết. Mùa Xuân năm nay lại nhờ Thương Vụ
Ấn Thư Quán tái bản và giữ lại bản lưu;
nhưng nhà in nói chi nhánh các nơi của họ sẽ phân
phối giùm, đến nay c̣n chưa ra sách, có lẽ vào cuối
năm sang đầu Xuân sẽ in xong, mong hăy thỉnh về
đọc. Tuy không phát huy lớn lao, nhưng hơi có chút
lợi ích nhỏ nhoi cho kẻ sơ cơ. V́ thế,
Từ Úy Như mới đem in nhiều lần, ngơ hầu
được lưu truyền rộng răi. Xem đến
th́ giới hạn giữa Thiền và Tịnh sẽ phân
minh, lợi ích lớn - nhỏ giữa Tự Lực và
Phật Lực rơ ràng như xem ngọn lửa. Chẳng
đến nỗi tự ḿnh muốn liễu sanh tử
nhưng không biết đường nẻo, trong hết
thảy pháp, thấy pháp nào cũng viên diệu nhưng
chẳng đến nỗi theo đuổi pháp không thích
hợp vậy!
63. Trả lời thư cư sĩ
Vưu Hoằng Như
Các hạ túc
căn sâu dầy, tâm mộ đạo tha thiết, lại
là bạn thân thiết với đại sư Hoằng
Nhất, nay muốn buộc Quang làm pháp khế[62]
trong hội Liên Tŕ, khôn ngăn vui sướng, nhưng do nhân
duyên phơi kinh nên chẳng rảnh rỗi để trả
lời ngay, thiếu sót quá! Quang tuổi nhỏ thiếu
học vấn, đến già không biết ǵ. Hai ba năm gần
đây, thường có những người lầm nghe lời
người khác, hỏi đến, chỉ đem những
ǵ ḿnh biết được, ḿnh làm được ra
đáp. C̣n như những nghĩa lư tinh vi trong Phật pháp,
thật chứng nơi Thiền Định, Quang không
biết được, cũng chẳng dám không biết coi
như biết, vọng động bàn luận. Sư Hoằng
Nhất bác học đa văn, c̣n Quang hèn kém, nhưng
giữ tấm ḷng khá chân thật, chuyện tu hành
đương nhiên y theo bổn phận của kẻ kém
hèn, nên châu toàn cho nhau, quả thật chẳng dám chạm
mặt. Nay Sư phát tâm bế quan, cự tuyệt hết
thảy, ắt sẽ tự chứng Niệm Phật
tam-muội ḥng giúp hết thảy kẻ hữu duyên, khôn
ngăn mong mỏi. Người đời nay nghiên cứu
Phật pháp, đa số muốn thành một bậc đại
thông gia, mong đối trước hết thảy
đại chúng thanh đàm cao luận, khiến cho
người khác nể phục, ít ai v́ liễu sanh tử mà
chuyên học Phật pháp. Nếu các hạ muốn thành
một người bậc nhất th́ tri kiến của
Quang trọn chẳng thể đưa lại lợi ích
kém cỏi nào, hăy nên cầu học với bậc
đại thông gia trong giới Tăng tục
đương thời mới ḥng chẳng uổng ḷng
kỳ vọng. C̣n nếu muốn trong cơi tục tu chân, dùng
quang âm hữu hạn để kiêm lo liệu chuyện
đời, lại mong ngay trong đời này nhất
định liễu sanh tử th́ Quang chẳng ngại
đem những ǵ ḿnh nghe được từ cổ nhân
thuật lại cùng các hạ.
Ngài Mộng Đông nói: “Thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín
nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật”. Mười sáu
chữ này là đại cương tông của pháp môn
Niệm Phật. Đoạn khai thị này tinh vi, khẩn
thiết đến cùng cực, hăy nên đọc kỹ.
Mộng Đông Ngữ Lục từ ngữ lẫn lư
lẽ đều châu đáo, là kim chỉ nam cho Tịnh
tông. Nếu muốn t́m cầu cao hơn th́ có bộ Di
Đà Yếu Giải của Ngẫu Ích lăo nhân gia, quả
thật là người hướng dẫn tốt lành thiên
cổ độc nhất vô nhị. Nếu có thể
chết ḷng nương theo hai bộ sách ấy th́ chẳng
cần phải nghiên cứu hết thảy kinh luận,
chỉ thường xem đọc ba kinh Tịnh Độ
và Thập Yếu, ngửa tin lời thành thật của
Phật, Tổ, sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện
khẩn thiết, dùng ḷng chí thành cung kính tŕ danh hiệu
Phật. Dẫu ở trong nhà tối pḥng kín vẫn như
đối trước Phật, trời, khắc kỷ,
giữ lễ, cẩn thận, kiêng dè, giữ ḷng thành, chẳng
học đ̣i những phường thông nhân trong thế
gian gần đây trọn chẳng câu thúc, phóng túng không kiêng
dè. Quang tuy là sanh tử phàm phu, dám bảo đảm các
hạ trong đời này sẽ từ tạ Sa Bà, cao
dự hải hội, đích thân làm đệ tử
Phật Di Đà, làm bạn lành của Đại Sĩ.
Nhưng đối với pháp Tịnh Độ, nếu
chẳng chết sạch cái ḷng mong ngóng ngấm nghé[63],
quyết chí tu tŕ, trọng ḷng kính, giữ ḷng thành, khắc
kỷ, giữ lễ, lại toan đem lẽ không chấp
trước để làm lá bùa khéo léo che đậy thói coi
thường, tán loạn, buông lung mà ḥng được
lợi ích th́ Quang do hiểu biết kém tệ chẳng
thể nào hiểu được chuyện ấy!
Những điều khác trong bộ Văn Sao dở tệ
của Quang đă tŕnh bày rơ. Do vậy, không cần đọc
nhiều, xem kinh th́ chỉ có cung kính mới được
lợi ích. Nếu không cung kính, dẫu có được lợi
ích th́ chẳng qua cũng chỉ là hiểu ư nghĩa theo mặt
chữ, chứ nghiệp tiêu trí rạng, triệt ngộ tự
tâm, trọn chẳng thể cầu may như thế. Huống
chi cái lỗi khinh nhờn càng không thể nói được.
Đấy là căn bệnh chung của cả thế gian,
chỉ đành đau đớn khóc lóc thở dài mà thôi!
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Quyển Thứ Nhất
(Phần 3 hết)
[1] Gọi là “hai sách Sớ Sao”, v́ ngài Liên Tŕ viết Di Đà Sớ Sao, đệ tử Ngài viết cuốn A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa để chú giải thêm lời Sớ Sao.
[2] Lăo nạp: Tiếng tự xưng của các vị tăng sĩ. Do ca-sa bằng các mảnh vải khâu chằm lại, nên thường gọi là nạp-y (áo chằm vá), các tăng sĩ cũng thường xưng là lăo nạp hay nạp tử.
[3] Âm Chất Văn là thiên sách tương truyền do Văn Xương Đế Quân soạn ra. Ông Châu Mộng Nhan chú giải thiên sách này tường tận nên gọi là công thần của Đế Quân. Người ta thường đồng nhất Đế Quân với sao Văn Xương (tức Văn Xương Tinh Quân). Theo thiên Kê Chí của Minh Sử, Văn Xương Đế Quân c̣n có hiệu là Tử Đồng Đế Quân, họ Trương, tên Á Tử, làm quan nhà Tấn, tử trận được lập miếu thờ tại Độc Thất Khúc Sơn (thuộc huyện Tử Đồng, tỉnh Tứ Xuyên). Có thuyết nói Ngài sống vào thời Đường, sùng tín Đạo Giáo, do phẩm đức cao đẹp nên sau khi chết được dân lập miếu thờ tại Độc Thất Khúc Sơn. Miếu ấy nay vẫn c̣n tên là Thanh Hư Quán. Lúc đó, Ngài chỉ mới được gọi là Tử Đồng Thần. Đến thời nhà Nguyên, vào năm Diên Hựu thứ 3 (1316), Đế Quân được Nguyên Nhân Tông phong tặng là Phụ Nguyên Khai Hóa Văn Xương Tư Lục Hoằng Nhân Đế Quân, nên từ đó ngài thường được gọi là Văn Xương Đế Quân. Theo Đạo Giáo, Ngài được Thượng Đế giao cai quản phủ Văn Xương, chủ tŕ văn học, đỗ đạt. Bản Âm Chất Văn xuất hiện vào thời Nam Tống.
[4] Thương Thư là một thiên sách của kinh Thư, gồm những bài ngắn ghi lại những sự việc liên quan đến nhà Thương.
[5] Bành Thiệu Thăng (1740-1796), cư sĩ học
giả đời Thanh, người Trường Châu (Ngô
Huyện), tỉnh Giang Tô, tự Doăn Sung, hiệu Xích Mộc,
c̣n hiệu là Nhị Lâm cư sĩ, pháp danh là Tế Thanh.
Ông đậu tiến sĩ đời Càn Long, nhưng không
ra làm quan. Ông thông suốt sách Nho, rất giỏi về Lư
Học, tu Tiên suốt ba năm không thành tựu ǵ. Về
sau, đọc kinh Phật măi đến năm 29 tuổi
mới chuyển sang tin Phật, tự đặt hiệu
là Tri Quy Tử. Ông xem khắp Đại Tạng Kinh,
thọ Bồ Tát giới, ăn chay, tŕ giới. Rồi
lại học Tịnh Độ với ngài Văn Học
Định Công (1712-1788), bế quan ở Văn Tinh Các
tại Tô Châu tu Nhất Hạnh tam-muội. B́nh sinh ông
tận lực hoằng dương Tịnh Độ,
chủ trương Thiền Tịnh dung hợp, Phật
Nho nhất trí. Những tác phẩm tiêu biểu của ông là
Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận, Tịnh
Độ Tam Kinh Tân Luận, Cư Sĩ Truyện,
Thiện Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục v.v…
[6] Tŕnh Minh Đạo, Tŕnh Y Xuyên và Châu Hy là những người sáng lập Tống Nho, đă vay mượn lư thuyết Phật giáo để đưa những khái niệm như Lư và Khí vào trong Nho Giáo, rồi lại quay ra đả kích Phật giáo.
[7] Thích Thị Kê Cổ Lược (gọi
tắt là Kê Cổ Lược) là một bộ biên niên
sử Phật giáo do sư Bảo Châu Giác Ngạn soạn
vào niên hiệu Chí Chánh thứ mười bốn
đời Nguyên (1354), gồm bốn cuốn,
được xếp vào tập 46 của Đại Chánh
Tân Tu Đại Tạng Kinh. Nguyên lai, bộ này chép từ
lúc đạo Phật được truyền vào Trung Hoa
cho đến cuối đời Nam Tống. Năm Sùng
Trinh thứ 11 (1638) đời Minh; Huyễn Luân soạn
tiếp bộ Thích Thị Kê Cổ Lược Tục
Tập gồm ba quyển, chép từ năm Chí Nguyên nguyên
niên đời Nguyên (1264) đến năm Thiên Khải
thứ 7 (1627) đời Minh.
[8] Ư nói sách chép theo lối biên niên, tức là những sự kiện được tŕnh bày theo thứ tự thời gian.
[9] Liễu Hoa Dương không rơ năm sanh, môn nhân của ông ta thường ngoa truyền họ Liễu sanh vào năm đầu niên hiệu Càn Long (1736) để chứng tỏ ông ta đă thành tiên sống rất lâu. Họ Liễu là người làng Hồng Đô (nay là Nam Xương, tỉnh Giang Tây), lúc nhỏ học Phật từng xuất gia tại chùa Song Liên ở Hoán Thủy, sau bỏ theo học tu tiên với đạo sĩ Ngũ Thủ Dương của Toàn Chân Giáo Long Môn Phái. Do vậy, đôi khi các sách vở Đạo Giáo vẫn gọi ông ta là Liễu Hoa Dương thiền sư thay v́ Liễu Hoa Dương Chân Nhân. Theo môn nhân, một đêm kia, Hoa Dương nghe một vị trưởng lăo nói: “Xưa Ngũ Tổ vào lúc canh ba, bí mật truyền đạo cho Lục Tổ”, bèn hoát nhiên đại ngộ, biết chứng đạo phải được bí truyền! T́m không được vị thầy nào khai ngộ, ông ta bèn tham học khắp các vị thầy thuộc Tam Giáo. Về sau, gặp được Ngũ Thủ Dương (Xung Hư Chân Nhân) bèn ngộ áo chỉ, biết được huệ mạng. Tương truyền, ông ta gặp Hồ Linh đạo sĩ núi Khuông Lô căn dặn: “Pháp tu Phật - Đạo song hành nay đă thất truyền, ngươi nên khéo nối tiếp huệ mạng”. Phái đạo sĩ của Ngũ Thủ Dương và Liễu Hoa Dương được gọi là Ngũ Liễu Tiên Tông. Họ vay mượn một số khái niệm Thiền học để pha trộn với bí quyết luyện đan, vận khí cũng như luyện phù chú Ngũ Lôi. Xin trích một đoạn Huệ Mạng Kinh để minh thị những lập luận nhập nhằng của họ Liễu: “Tu luyện tánh mạng không ǵ bằng quy nhất. Cổ thánh tiên hiền đem tông chỉ tánh mạng quy nhất khéo léo ví dụ với ngoại vật, chẳng chịu chỉ rơ bàn thẳng, nên hậu thế không ai tu được. Tôi đọc được đồ h́nh [luyện khí], chẳng dám tiết lộ bừa băi, tức là tuân theo pháp Lậu Tận trong kinh Lăng Nghiêm, biểu thị diệu chỉ của kinh Hoa Nghiêm, gom những lời rải rác trong các kinh để đưa về đồ h́nh chánh yếu… Lập ra đồ h́nh này là nguyện những ai cùng chí hướng hiểu rơ cơ trời song tu này, chẳng đọa bàng môn, mới biết chủng tánh chân thật do đây mà thành, Lậu Tận do đây mà thành, xá-lợi do đây mà luyện…” Trong đoạn này, y đă nhập nhằng bảo phải do luyện đan, vận khí theo đồ h́nh do y chỉ dạy mới đạt được Lậu Tận, thành tựu xá-lợi!
[10] Tam luân thể không, tứ hoằng phổ nhiếp: Tam luân thể không là người thí, người nhận, vật được thí thể đều không; tứ hoằng phổ nhiếp là bao gồm trọn vẹn bốn Hoằng Thệ Nguyện.
[11] Thân kiến: chấp thân này thật có.
[12] Hiếu liêm vốn là một khoa thi phát xuất từ thời Hán nhằm tuyển người ra làm quan, tiêu chuẩn thời ấy là những người ấy phải vừa hiếu thuận vừa liêm khiết. Đến thời Minh - Thanh vẫn giữ khoa này, tuy thế chỉ thuần là khoa cử, không c̣n dựa trên tiêu chuẩn hiếu và liêm nữa! Người đậu khoa này được gọi là Hiếu Liêm.
[13] Do ngài Phổ Tế đời Nam Tống soạn, gồm 25 quyển, được xếp vào tập 138 của Tục Tạng Kinh. Bộ sách này toát yếu năm bộ sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Quảng Đăng Lục, Tục Đăng Lục, Liên Đăng Hội Yếu, Phổ Đăng Lục, nên gọi là Ngũ Đăng Hội Nguyên. Nội dung chép sự tích quá khứ thất Phật, hai mươi tám vị Tổ Ấn Độ, các vị tổ Thiền Tông Trung Hoa từ Lục Tổ cho đến ngài Nam Nhạc và những vị thiền sư đích truyền thuộc pháp hệ này.
[14] Thiền Tông Lâm Tế dùng gậy đánh và tiếng hét để khai thị cho học nhân.
[15] Tức Tô
Thức (1036-1101), người huyện Mi Xuyên, tỉnh Tứ Xuyên, sống vào
đời Bắc Tống, tự là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha, là một trong tám đại văn hào thời Đường - Tống; rất hâm
mộ Phật pháp,
chủ trương Thiền Tịnh song tu, thường giao du
mật thiết với ngài Phật Ấn. Ông biện luận Phật pháp rất
thông suốt, thường mang theo một bức tượng
Phật Di Đà bên ḿnh, nói “đây là sự nghiệp chung
thân của ta” nhưng không chuyên tâm tu Tịnh nghiệp, cuối cùng vẫn không
được văng sanh.
[16] Câu thành ngữ “lănh hôi đậu bộc”, có nghĩa là trong tro lạnh chợt nổ ra hạt đậu nóng, ngụ ư chuyện không thể có được. Ở đây, Tổ dùng thành ngữ này với ngụ ư: thực hiện được chuyện tưởng chừng như không thể nào xảy ra được.
[17] Vương Măng người đời Hán, vốn là cháu của Hiếu Nguyên Hoàng Hậu. Sau được làm Đại Tư Mă cầm binh quyền. Hán Ai Đế băng, Măng lập B́nh Đế lên ngôi, bắt vua lấy con gái ḿnh làm hoàng hậu. Măng độc đoán chuyên quyền, coi ḿnh như Châu Công, tự xưng là Hán An Công. Không lâu sau, Măng giết B́nh Đế, lập con B́nh Đế là Lưu Anh lên ngôi, gọi là Nhụ Tử, được ba năm bèn soán ngôi, đổi quốc hiệu là Tân. Măng làm vua được 15 năm (từ năm thứ 9 sau CN đến năm 23 sau CN), khi tông thất nhà Hán là Quang Vũ Đế nổi dậy, khôi phục nhà Hán, thương nhân Đỗ Ngô bèn lập mưu giết Vương Măng.
[18] Bùi Công Mỹ tên thật là Bùi Hưu, tự Công Mỹ, làm tể tướng đời Đường Tuyên Tông, đắc pháp với thiền sư Hoàng Bá Hy Vận. Ông có để lại tác phẩm Truyền Tâm Pháp Yếu.
[19] Nguyên văn: “Bào đinh giải ngưu, Do Cơ xạ viên”. “Bào đinh giải ngưu” là điển cố xuất phát từ thiên Dưỡng Sanh Chủ của Trang Tử: Văn Huệ Quân thấy mổ trâu bèn nói: “Ôi! Giỏi thay! Tuyệt đến mức ấy”, người bào đinh (đầu bếp) thưa: “Thần khéo léo được như vậy là do tập quen, khéo léo dần”. Từ ngữ “bào đinh giải ngưu” được dùng để ví sự khéo léo, nhanh nhẹn đến cùng cực do tập luyện. Dưỡng Do Cơ là một tay thiện xạ nổi tiếng bách phát bách trúng “bách bộ xuyên dương” (bắn trúng lá dương liễu ở cách xa một trăm bước) thời Chiến Quốc. Tương truyền, Dưỡng Do Cơ đi săn, loài vượn thấy ông ta bèn khóc ṛng v́ biết không thể nào tránh tên được, cho nên ở đây mới nói: “Do Cơ bắn vượn”.
[20] Đây là những vị nữ nhân tu pháp Tŕ Danh Niệm Phật được văng sanh, tiểu truyện của họ được ghi lại trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục.
[21] Hoằng Biện là người nối pháp (pháp tự) của ngài Chương Kính Huy thiền sư, sống vào thời Đường Tuyên Tông. Câu nói trên trích từ sách Ngũ Đăng Hội Nguyên trong cuộc vấn pháp của nhà vua vào năm 851.
[22] Trường Sa Cảnh Sầm là người nối pháp của ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Câu nói trên cũng trích từ sách Ngũ Đăng Hội Nguyên.
[23] Thập Văng Sanh kinh chính là kinh Phật Thuyết Thập Văng Sanh A Di Đà Phật Quốc, được xếp vào quyển 87 của Vạn Tục Tạng Kinh, không rơ ai đă dịch kinh này từ Phạn sang Hán. Nội dung kinh này dạy 10 pháp quán niệm để được văng sanh Cực Lạc thế giới.
[24] Mă Tăng Ma là thọ nghiệp sư của ḥa thượng Pháp Tràng.
[25] Điển cố “học phú ngũ xa” (học khắp năm xe) xuất phát từ câu văn trong sách Trang Tử: “Huệ Thí hữu phương, kỳ thư ngũ xa”. Huệ Thí là một triết gia thời Chiến Quốc, học vấn rất rộng. Câu trên có ư nói Huệ Thí học rất rộng, đọc rất nhiều sách, phải dùng năm cái xe mới chở hết được!
[26] Ư nói: Nếu viết nhiều chữ trong một tờ giấy, trẻ có thể nhớ âm đọc, cầm lên đọc nằm ḷng nhưng không nhận biết từng chữ.
[27] Nguyên văn: “Tự liễu hán”, từ điển Phật Quang Sơn giảng: “Tự liễu hán: Chỉ hạng người không có ư niệm lợi tha, chỉ mong chính ḿnh được lợi ích. Chỉ biết đến thân ḿnh, không quan tâm đến đại cuộc. Nhà Thiền thường gọi kẻ chỉ tự ḿnh tu hành, không có ư niệm độ sanh là Tự Liễu Hán”. Ở đây, Tổ tự xưng ḿnh là Tự Liễu Hán v́ có những người chỉ trích pháp môn Tịnh Độ là ích kỷ, chỉ lo cầu giải thoát cho riêng ḿnh.
[28] Đây là một tác phẩm của Bành Thiệu Thăng, xiển dương Tịnh Độ, đồng thời dẫn dụng những công án bên Nho để xiển dương Phật pháp. Ông viết tác phẩm này trong khi đang bế quan tu Nhất Hạnh tam-muội tại Văn Tinh Các.
[29] Nguyên văn là “lược hư hán”, tự điển Phật Quang Sơn giải thích: Đây là thuật ngữ nhà Thiền chỉ kẻ thích nói xuông, làm ra vẻ tu hành. Lược là “lược thủ” (cướp lấy), Hư là hư vọng không thật. “Lược hư” tức là nói xuông, mô phỏng ngôn ngữ của người khác, làm ra vẻ.
[30] Bài thuốc này được đăng tải trong phần phụ lục thuộc quyển 4 của Ấn Quang Văn Sao.
[31] La Đài Sơn: người Giang Tây, đậu Cử Nhân thời Càn Long, sống cùng thời với Bành Thiệu Thăng. Ông mất sớm, chỉ thọ bốn mươi sáu tuổi. Trong Nhất Hạnh Cư Tập có sao lục những thư từ trao đổi giữa Bành Thiệu Thăng và La Đài Sơn.
[32] Ḥa nam (Vandana): có nghĩa là kính lễ, đảnh lễ.
[33] Ngọc Lâm Thông Tú (1614-1675): Người Thường Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 19 tuổi xuất gia thọ Cụ Túc Giới với ngài Khánh Sơn Viên Tu (thuộc ḍng pháp Long Tŕ Huyễn Hữu. Ngài Viên Tu c̣n được gọi gọi là Thiên Ẩn Viên Tu) thuộc tông Lâm Tế. Sau khi ngài Thiên Ẩn Tu viên tịch, bèn được kế thừa pháp tịch, trụ tŕ chùa Báo Ân ở Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang. Năm Thuận Trị 15 (1658), vâng chiếu vào cung, hoằng dương đại pháp tại Vạn Thiện Điện. Không lâu sau, Ngài lui về núi, lưu đệ tử là Hành Sâm ở lại hoằng pháp nơi Bắc Kinh. Năm Thuận Trị 17, vua thọ giới Bồ Tát, đặc biệt yêu cầu ngài Ngọc Lâm làm bổn sư truyền giới, ban hiệu Đại Giác Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư. Khi giảng pháp trong cung, Sư có soạn một thiên sách gọi là Khách Vấn. Đại học sĩ Kim Chi Tuấn phụng chiếu viết lời b́nh chú và viết lời tựa để lưu hành. Về già, Sư sáng lập chùa Thiền Nguyên tại núi Tây Thiên Mục thuộc Chiết Giang, thường trụ nơi đó. Ngài thị tịch vào ngày mồng Mười tháng Tám năm Khang Hy 14 (1675) tại am Từ Vân ở Hoài An, thọ 62 tuổi. Đệ tử nối pháp hơn 20 người, lưu lại Ngữ Lục gồm 12 quyển. Vua Ung Chánh do đọc Ngữ Lục này mà lănh hội pháp yếu.
[34] Câu này dựa theo thành ngữ “Dĩ tha sơn thạch công tự kỷ chi ngọc”: Lấy đá nơi núi khác làm ngọc cho ḿnh.
[35] Kiên Mật: Cao tăng đời Thanh, người huyện Khâm, Huy Châu. Xuất gia năm 28 tuổi, tham học rộng khắp các bậc tông tượng Thiền, Giáo. Đến khi gặp được Liên Tŕ đại sư, kính mộ vô cùng, thề suốt đời y chỉ hoằng truyền đạo thầy. Ngài tịch năm Khang Hy 17 (1678). Ba ngày trước khi đại sư văng sanh, mùi hương lạ tràn ngập thất (theo Tịnh Độ Thánh Hiền Lục).
[36] Ngọc Phong đại sư pháp húy Cổ Côn, người cuối đời Thanh, tự Ngọc Phong, hiệu Luyến Tây, người huyện Thượng Nhiêu, tỉnh Giang Tây, không rơ sanh vào năm nào, xuất gia năm mười tuổi tại chùa Phổ Ninh, thọ Cụ Túc Giới tại chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai, nhân nghe tiếng chuông bèn đại ngộ. Về sau, Sư trụ tại chùa Sùng Phước ở Hàng Châu, đọc bộ Di Đà Viên Trung Sao của đại sư U Khê Truyền Đăng bèn cảm ngộ, tự xưng ḿnh là hậu duệ truyền pháp của ngài U Khê. Sư nghiêm tŕ giới luật, nhất tâm thệ nguyện cầu văng sanh. Tự hạn định mỗi ngày tŕ danh sáu vạn biến, hai thời hồi hướng. Sư cực lực san khắc kinh luận Đại Thừa và những sách đề cao Tịnh Độ. Năm Quang Tự thứ mười lăm (1892), Sư thị hiện có bệnh rồi nhập diệt. Trước tác gồm các bộ: Tịnh Độ Tùy Học (2 quyển), Tịnh Độ Tất Cầu, Liên Tông Tất Độc, Niệm Phật Yếu Ngữ, Niệm Phật Tứ Đại Yếu Quyết (bộ này được đưa vào Tục Tạng Kinh), Tịnh Độ Tự Cảnh Lục, Tịnh Độ Thần Châu, Tây Quy Hành Nghi, Vĩnh Minh Thiền Sư Niệm Phật Quyết, Niệm Phật Khai Tâm Tụng, Thượng Phẩm Tư Lương v.v…
[37] Xin xem bài kư Quán Âm Bồ Tát Ứng Tích Tại Chùa Viên Quang thuộc Nam Ngũ Đài Sơn trong phần Phụ Lục của quyển 4.
[38] Theo sách Phật Tổ Tâm Đăng, đây là bài kệ truyền thừa pháp phái của ngài Khuê Phong Tông Mật thuộc tông Hiền Thủ đời Đường.
[39] Minh Thái Tổ tên là Châu Nguyên Chương.
[40] Chữ Thù gồm chữ Ngạt và chữ Châu ghép lại.
[41] Pháp
danh của đại sư vốn là Thù Hoằng, nhưng
thay bộ Ngạt bằng bộ Y nên thành Châu Hoằng
(trong âm Quan Thoại, hai chữ này có âm đọc gần
giống nhau). Châu 袾
(bộ Y) là màu đỏ
sậm; c̣n chữ Châu 祩 (bộ Thị) lại có nghĩa là nguyền rủa.
Chữ Châu thứ hai nghĩa không đẹp, trong tiếng
Tàu âm lại không giống với chữ Thù lắm, nên Tổ
mới chê những người viết sai là tâm khí thô phù!
[42] Hàn Tương Tử là một trong bát tiên của Đạo Giáo (những người kia như Lă Động Tân, Hà Tiên Cô, Lư Thiết Quải, Tào Quốc Cữu v.v…), là một nhân vật có thật thời Đường. Ông ta chính là cháu của văn hào Hàn Dũ. Sự tích ông tiên này được chép trong cuốn tiểu thuyết Đông Du Bát Tiên.
[43] Nguyên
văn “hướng Dương”, phía
[44] Tam Đế: Không, Giả, Trung.
[45] Nhận: Đơn vị đo chiều dài. Đời Châu tám thước là một nhận, tức khoảng 6.48 m.
[46] Tề Đông: Tương truyền, dân vùng này hay đồn nhảm nên những lời nói không căn cứ thường được gọi là “Tề Đông dă nhân chi ngữ”.
[47] Cái sai này đến nay vẫn c̣n. Nay ở Phổ Đà vẫn c̣n tảng đá khắc rất to ba chữ Quán Âm Khiêu. Thậm chí người ta c̣n đặt ra truyền thuyết Quán Âm đại sĩ giành núi Phổ Đà với xà vương, và tảng đá Quán Âm Khiêu là do lúc Bồ Tát từ Cực Lạc trở về nhảy xuống in dấu chân trên tảng đá này.
[48] Châu Khắc Phục là một vị cư sĩ đầu đời Thanh. Cuốn Quán Thế Âm Bồ Tát Kinh Chú Tŕ Nghiệm Kư được xếp vào Vạn Tục Tạng Kinh.
[49] Đường Nghi Chi là một danh sĩ cuối thời Minh, đậu Tiến Sĩ trong niên hiệu Gia Tĩnh. Châu Khắc Phục lấy câu chuyện này từ sách Kỷ Cầu của ông Đường Nghi Chi.
[50] Diệu Phong: Cao tăng đời Minh, tên Phước Đăng, quê ở B́nh Dương, Sơn Tây. Ngài sanh ra có h́nh dáng lạ lùng, môi hớt, răng vẩu, mũi huếch, hầu lộ. Năm bảy tuổi mồ côi phải đi chăn dê cho người khác. Năm 12 tuổi, xin xuất gia tại một ngôi chùa gần nhà, bị Tăng chúng ngược đăi quá mức phải bỏ đi ăn xin ngoài chợ, đêm ngủ tại Văn Xương Các do Sơn Âm Vương dựng. Sư xin vị trụ tŕ chùa Vạn Cố là Lăng Công cho ở nhờ. Một ngày nọ, Sơn B́nh Vương trông thấy, bảo Lăng Công: “Đứa nhỏ này ngũ quan đều lộ, nhưng thần thí ngưng đọng, xương cứng, sau này sẽ thành bậc đại pháp khí, nên thâu làm đồ chúng”. Vương tu bổ Thê Nham lan nhă ở Điều sơn, dạy Sư bế quan ở đó chuyên tu Thiền quán. Về sau, Sư trụ tại Thanh Lương thuộc Ngũ Đài.
[51] Bạch Cập (Hyacinth Bletilla): là một loại thảo mộc thuộc họ Lan, có tên khoa học là Bletilla Striata, rễ nó thường được dùng làm chất cầm máu trong Đông Y.
[52] Viết b́nh hay đề b́nh: Lối viết chữ đề trên b́nh phong, trên quạt hoặc trên những mảnh giấy dài rộng để phô diễn tài thư pháp.
[53] Hải Thi Đạo Nhân chính là cư sĩ Phạm
Cổ Nông (1881-1951), một nhà nghiên cứu Phật giáo
cận đại. Ông có hiệu là Huyễn Am, biệt
hiệu là Kư Đông, thường dùng bút danh là Hải Thi
Đạo Nhân, quê ở Gia Hưng tỉnh Chiết Giang.
Thoạt đầu, ông đă không thích con đường
cử nghiệp, không hâm mộ Phật pháp. Sau giao du
với các ông Quế Bá Hoa, Lê Đoan Phủ, bèn chịu
ảnh hưởng. Sau ông đọc được
bộ Viên Giác Kinh Đại Sớ, tâm vô cùng khâm phục,
tự theo đuổi chương tŕnh học Phật do
ông Dương Nhân Sơn đề ra, lănh hội sâu
sắc. Năm 1911, nhân nghe giảng kinh A Di Đà, nghiên cứu
Đại Thừa Khởi Tín Luận, ông tin tưởng
sâu xa pháp môn Tịnh Độ. Năm 1918, quy y, thọ
Cụ Túc Giới với Đế Nhàn đại sư,
lại thông hiểu giáo nghĩa Thiên Thai. Về sau, ông chuyên
giảng kinh hoằng pháp tại Thượng Hải, Hàng
Châu, Giang Tô, Dương Châu v.v… Ông cũng thông hiểu sâu xa
Duy Thức Tông, thường nói: “Học
lư cao sâu không ǵ bằng Thành Duy Thức Luận, phương
pháp hành tŕ không ǵ hơn được Du Già Sư
Địa Luận”. Ông cũng xuất bản các báo
Phật Học Bán Nguyệt San, biên tập bộ Phật
Học Tiểu Tùng Thư, Phật Học Bách Khoa Tùng
Thư, Hải Triều Âm Văn Khố, cũng như
chủ tŕ việc ấn tống Đại Tạng Kinh theo
bản đời Tống.
[54] Hà Bá: Họ Mă, tên Di, c̣n có tên khác là Băng Di. Do qua sông
chết đuối nên được Thượng
Đế phong làm thần sông. Thiên Thu Thủy của sách
Trang Tử có câu: “Hà Bá vui
sướng vô ngần, cho mọi vẻ đẹp trong
thiên hạ đều thuộc về ḿnh”. Do vậy
mới có thành ngữ “Hà Bá chi câu kiến” (sự
thấy biết câu nệ, hẹp ḥi của Hà Bá). Ở đây,
Tổ dùng điển tích này với ư nghĩa khiêm nhường,
cho cái thấy biết của ḿnh cũng như sự thấy
biết của Hà Bá, không thể sánh với sự hiểu
biết rộng răi như biển cả của Hải Thi Đạo
Nhân.
[55] Huệ Mạng Kinh là tác phẩm của Liễu Hoa Dương, Tiên Phật Hiệp Tông Ngữ Lục là tác phẩm của Ngũ Thủ Dương. Hai người này trộm lấy rất nhiều ư nghĩa trong kinh Phật, diễn giải xuyên tạc để chứng minh cách tu Tiên luyện đan của họ.
[56] Tuyết Nham Khâm thiền sư là một vị cao Tăng thuộc tông Tào Động. Sư từng nói: “Sơn tăng xuất gia lúc năm tuổi, được hầu Thượng Nhân, nghe ngài tṛ chuyện cùng khách, liền biết có sự này, liền tin tưởng đến nơi, bèn học tọa thiền… Nếu luận về sự thực hành th́ phải vận dụng công phu, như người đi đường, đi được một hai dặm chỉ nói được những ǵ thuộc một hai dặm. Đi được ngàn dặm, vạn dặm mới nói những lời ngàn dặm, vạn dặm”.
[57] Thạch: Đơn vị đo dung tích thời xưa. Mỗi thạch là mười đấu, tức một trăm thăng (ta thường gọi là Thưng). Ngoài ra, Thạch c̣n là đơn vị đo trọng lượng, mỗi thạch bằng 120 cân Tàu (gần bằng 120 pounds).
[58] Yểm nhĩ đạo linh: Bịt tai để khỏi nghe tiếng linh kêu, ḥng ăn trộm cái linh đó. Ư nói làm chuyện ngây ngô, rồ dại, tự ḿnh dối ḿnh.
[59] Nguyên văn “dĩ luyện đan vi phụ quách điền” (coi pháp luyện đan là khoảnh ruộng gần bờ thành): “Phụ quách điền” là một điển tích xuất phát từ Tô Tần Liệt Truyện trong sách Sử Kư. Tô Tần nói: “Nếu ta có được hai khoảnh ruộng gần thành Lạc Dương, ta há c̣n có thể mong đeo ấn sáu nước nữa ư?” Đời sau thường dùng chữ “Phụ Quách Điền” để chỉ được chút ít đă thỏa măn, không c̣n mong mỏi tiến lên nữa.
[60] Trang Phục Chân là một danh sĩ thời Minh tên là Quảng Hoàn, người Đồng Hương, tỉnh Chiết Giang. Lúc nhỏ học Nho, năm bốn mươi chán ngán sự đời bèn học thuật Dưỡng Sinh của đạo sĩ, lâu ngày thành bệnh, bèn tậu một miếng vườn nhỏ, trồng hoa cỏ, sắp xếp sơn thủy tự vui. Một bữa thấy hoa nở rồi tàn, ngộ thân vô thường, liền hủy khu vườn ấy, bế quan tọa Thiền, tụng kinh Kim Cang. Về sau, qua chơi Hàng Châu, cùng người khác bàn về đạo Phật. Người ấy nói: “Ông học Phật, ai là thầy ông?” Đáp: “Chưa có ai!” Người kia lại hỏi: “Chưa đọc cuốn Phục Khí của Liễu Tử Hậu phải không? Sách ấy nói ở Vân Thê có Liên Tŕ thiền sư đó!” Ông bèn đến yết kiến ngài Liên Tŕ. Đại sư dạy niệm Phật, bèn thọ Ngũ Giới. Trở về nhà lập thường khóa mỗi ngày niệm năm vạn câu danh hiệu Phật, chưa đầy nửa năm, tâm địa rỗng rang. Năm ông 80 tuổi lại đến thọ Bồ Tát Giới với đại sư Liên Tŕ. Do thương xót người trong làng không biết chánh pháp, thường sùng tín tà thuyết bèn soạn bộ Tịnh Độ Tư Lương Tập để khuyến hóa họ.
[61] Chước: Đơn vị đo lường dung tích rất nhỏ, có thuyết nói khoảng chừng 1centilitre (cl). Sách Tôn Tử Toán Kinh chỉ mô tả như sau: “Mười toát là một sao, mười sao là một chước, mười chước là một hợp, mười hợp là một thăng…” Nếu hiểu Thăng tương ứng 1 lít hiện thời th́ một Chước bằng một centilittre. Nhưng Thăng biến đổi theo các triều đại nên cũng khó thể nói nhất định một Chước là bao nhiêu.
[62] Pháp khế: bạn đạo
[63] Nguyên văn: Thâu tâm (có nghĩa là
cái tâm trộm cắp). Đây là dụng ngữ nhà
Thiền, chỉ cái tâm hướng ngoại phân biệt,
khởi tâm mong ngóng, luôn đứng núi này trông núi nọ. Ḥa
Thượng Tịnh Không giảng “thâu tâm” là cái tâm không kiên
định tu một pháp môn nào, nay chạy theo pháp này, mai
chạy theo pháp khác, luôn nghĩ cách tu tắt, cầu may,
chẳng hạn nghe nói tŕ chú này có công hiệu bèn tŕ chú
đó, được vài bữa, thấy nghe nói chú khác có
công hiệu lớn lao bèn bỏ chú này tŕ chú khác. Nay học
pháp thiền này, mai đi nghe giảng lại bỏ theo cách
thiền khác, suốt đời học táp nham, không chuyên tu
được một pháp nào.