Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Quyển thứ hai
(Phần 1)
91. Trả lời
thư cư sĩ Bao Hữu Vũ (thư thứ nhất)
Vừa nhận được
thư, khôn ngăn cảm khái, thẹn thùng. Ấn Quang là một
ông Tăng chỉ biết đến cơm cháo, những
chuyện trong pháp môn nhất loạt chẳng biết ǵ, chỉ
có mỗi Tịnh Độ là khá muốn cho cả ḿnh lẫn
người cùng được văng sanh. Bởi vậy, nếu
có kẻ Tăng, người tục hỏi đến,
đều dùng chuyện này để phụng đáp.
Cư sĩ Từ Úy Như cho rằng những phân tích rơ
ràng giới hạn giữa Thiền và Tịnh, cũng
như những nghị luận ngoài da về sự khó - dễ,
được - mất giữa Tự Lực và Phật Lực,
cũng như việc trọng ḷng kính, giữ ḷng thành [của
tôi] đều hơi có ích cho hàng sơ cơ cho nên tuy
văn từ tệ vụng cũng chẳng vứt bỏ,
ba bốn lượt ấn loát lưu thông, ngơ hầu những
ai có chí liễu sanh tử đều cùng nhận lấy những
lời nghị luận ngô nghê này[1] mà
thôi. Nhưng đem cơm thừa canh cặn bày trước
mặt người đă no ứ tiệc vua ắt sẽ
nhớm gờm mắc ọe, nào c̣n dám chú giải kinh?
Các hạ chẳng cho [lời tôi]
là chua hôi, đáng vứt bỏ, nên kính tặng một bộ
Văn Sao hủ bại. Bản này do ông Từ Úy Như yêu
cầu Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ in
riêng. Năm nay in ra, do Thư Quán sợ bán không được
nên chỉ in hai ngàn bản. In sách xong, chưa kịp phát
hành đă bán hết sạch. Tuy c̣n bản lưu, nhưng
do Thư Quán ấy chú trọng những cuốn sách mới
mang tính thời thượng cho nên đến nay vẫn
chưa in lần thứ hai. Một hai năm nay, cũng có
bạn bè quen biết khuyên Quang khắc in, Quang tính đợi
cho Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp xếp sách
hoàn chỉnh rồi mới cho khắc ván để đỡ
tốn tâm lực. Năm ngoái, miền Bắc mất mùa lớn,
các thiện sĩ lập cách quyên mộ, Quang bèn đem hết
số tiền dự định khắc kinh ra đóng góp
cho công cuộc cứu trợ, làm như thế hai lần tổng
cộng là năm trăm đồng. Nếu như [sách này]
có ích cho hàng sơ cơ, hăy nên in ra, lưu truyền,
chưa hề chẳng có lợi cho người khác vậy!
92. Trả lời
thư cư sĩ Bao Hữu Vũ (thư thứ hai)
Biển cả sanh tử không nhờ
niệm Phật không cách nào vượt được! Muốn
biết gốc cội của pháp niệm Phật nhưng
chẳng xem kinh luận Tịnh Độ, làm sao biết
được? V́ thế, hằng ngày nên tụng kinh A Di
Đà, thường xem kinh Vô Lượng Thọ, và kinh Quán
Vô Lượng Thọ Phật. Đó là Tịnh Độ
Tam Kinh. Đọc những kinh ấy sẽ biết thệ
nguyện rộng sâu của Phật A Di Đà, cảnh duyên
thù thắng của Tịnh Độ, hành tướng văng
sanh của hành nhân. Ngoài ra, khai thị phương pháp niệm
Phật thân thiết nhất th́ có chương Đại
Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông ở cuối
quyển năm kinh Lăng Nghiêm. Lại c̣n có phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm, dùng mười
đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc.
Đọc những kinh này sẽ biết pháp Niệm Phật
cầu sanh Tây Phương chính là bước cuối cùng
để thành Phật trong một đời của kinh
Hoa Nghiêm, là phương tiện tối thắng để
tự lợi lúc tu nhân, để lợi tha khi đă chứng
quả của mười phương tam thế chư Phật.
Những kẻ nói xằng pháp môn Tịnh Độ là Quyền
Tiệm Tiểu Thừa đều là những kẻ có tội
cực nặng hủy báng kinh Hoa Nghiêm và hủy báng Phật
- Pháp - Tăng. C̣n những bản chú giải ba kinh Tịnh
Độ và những sách Tịnh Độ nên chuyên tinh xem
đọc th́ trong lá thơ gởi cho bà Từ nữ sĩ
trong bộ Văn Sao tôi đă tŕnh bày đầy đủ.
Ở đây không phải viết chi tiết nữa!
Phép Thập Niệm buổi sáng nên
thực hành vào lúc súc miệng, rửa ráy xong và trước
khi thực hành công khóa. Trong Tịnh Độ Thập Yếu
và Tây Quy Trực Chỉ đều có nghi thức này, làm theo
đó là được rồi! Nhưng chẳng được
niệm hơn mười niệm v́ niệm nhiều sẽ
bị tổn khí, trong bộ Văn Sao, Quang cũng đă
nhiều lần nêu lẽ lợi - hại. Công khóa sáng tối
cứ chiếu theo công khóa mà niệm là được. Nếu
công việc đa đoan, chẳng rảnh rỗi để
niệm công khóa th́ dùng cách Thập Niệm cũng được!
Ngoài ra th́ chỉ niệm một câu “nam-mô A Di Đà Phật”
là được rồi!
Pháp Thập Niệm vừa nói
đó cứ hết một hơi là một niệm, niệm
mười hơi như thế th́ gọi là Thập Niệm.
Như người hơi mạnh, một niệm có thể
niệm được nhiều đến mười, hai
mươi câu; người khí yếu, chỉ niệm
được vài câu. Bất luận niệm Phật nhiều
ít, chỉ lấy từ một hơi đến mười
hơi làm chừng. Chỗ mầu nhiệm của pháp này
trong bộ Văn Sao cũng đă nói rồi. Nếu niệm
nhiều sẽ bị tổn khí thành bệnh, không thể
không biết. Cổ nhân nói: “Thông
minh chẳng cự nổi nghiệp, phú quư chẳng khỏi
luân hồi”. Sanh tử xảy đến không dựa vào
đâu được, chỉ có A Di Đà Phật là
nương dựa được. Tiếc là người
đời biết điều này quá ít; tuy biết nhưng
chân tín thật niệm lại càng ít hơn nữa!
Ông Vương Thiết San ở Thông
Châu[2] từng
làm chức Phiên Đài[3] ở
Quảng Tây vào đời nhà Thanh trước kia, cơi ấy
thổ phỉ rất nhiều, ông bày kế tiễu trừ,
giết không biết bao nhiêu mà kể. Năm trước mắc
bệnh, nhắm mắt liền thấy ḿnh ở trong nhà tối,
quỷ thật đông cùng xông đến bức bách, hoảng
sợ thức dậy. Suốt ba ngày ba đêm như thế,
vừa chợp mắt liền thấy cảnh ấy. Con
người suy sụp, hơi thở thoi thóp. Bà vợ ông
khuyên ông niệm Phật, liền niệm mấy
mươi tiếng bèn ngủ được. Do ngủ
được đẫy giấc, tinh thần dần dần
tỉnh táo, bệnh liền giảm bớt. Ông liền
trường trai niệm Phật. Nếu lúc ấy không có
ai đem pháp Niệm Phật bảo cho, e rằng vạn phần
chẳng sống được đến bây giờ. V́ thế,
dạy người niệm Phật công đức vô lượng;
những người biết đến lợi ích niệm
Phật đều là do thiện căn nhiều đời
nhiều kiếp tạo thành.
Những chuyện lệnh thân
đă được thấy quả thật là hiếm lạ,
có thể nói là đời trước đă có thiện
căn, nhưng phải tự gắng tu tŕ thật cẩn
thận, ngơ hầu chẳng uổng giấc mộng ấy.
Nếu v́ tri kiến phàm phu, lầm lạc bảo ḿnh
đă được Tam Bảo gia bị, đă dự vào
ḍng Thánh, từ đó sanh ra đại ngă mạn, chưa
đắc bảo là đắc, chưa chứng nói là chứng
th́ là do thiện nhân chuốc lấy ác quả. Người
trong đời Mạt tâm trí hèn kém, thường mắc cái
bệnh này! Ấy là như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Tâm chẳng coi đó là thánh [cảnh]
th́ gọi là cảnh giới lành. Nếu hiểu là cảnh
thánh sẽ bị mắc vào các tà!”, chính là nói về
điều này vậy! Xin hăy đem chuyện tận lực
tu pháp môn Tịnh Độ để tự khích lệ th́
tương lai chắc chắn đạt được
đại lợi ích.
Phải biết một pháp Tịnh
Độ chính là ḷ luyện lớn để nung phàm luyện
thánh của mười phương ba đời chư Phật.
Chúng sanh trong chín pháp giới nếu không vào trong ḷ ấy th́
không ai thoát ra ngoài [chín pháp giới] được, bởi
thoát ra chính là rốt ráo thành Phật vậy! Tin tưởng
được như thế mới gọi là Chánh Tín, mới
gọi là “có Tịnh Độ” vậy!
93. Thư trả
lời cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ nhất)
Ngày hôm qua nhận được
thư luận về chuyện dạy con gái là cái gốc
để tề gia trị quốc, có thể nói là ông
đă thấy thấu triệt được cái lư. Nhà Châu
lập quốc nền tảng là do ba bà Thái. Văn
Vương thành thánh là nhờ thai giáo[4].
Do vậy, biết đời không có bậc thánh hiền là
do thế gian ít có người mẹ thánh hiền mà nên nỗi!
Nếu như bà mẹ nào cũng giống như ba bà Thái
th́ con họ dẫu chẳng là Vương Quư, Văn
Vương, Châu Công[5] th́
cũng chẳng là kẻ gian ác, điều này cũng rơ
ràng lắm! Nhưng người đời chỉ biết
yêu thương con gái, mặc t́nh cho nó kiêu căng thành thói,
chẳng biết đem lẽ mẫu nghi ra dạy. Đấy
chính là một điều đại bất hạnh của
nước ta!
Con người lúc nhỏ thường
kề cận bên mẹ, nên chịu ảnh hưởng thói
quen của mẹ rất sâu. Những kẻ làm con gái
người ta hiện thời, ngày sau sẽ là mẹ
người ta. Ai muốn bồi đắp quốc gia phải
lấy chuyện dạy con gái làm nhiệm vụ cấp
bách. Chớ nói: “Con gái là con người ta, cần ǵ phải
uổng công chịu đựng nhọc nhằn, lo lắng
làm ǵ?” Phải biết rằng: V́ trời đất, vun bồi
một người dân lành biết giữ phận th́ không
có công đức nào lớn hơn! Huống chi nếu
người nữ có thể giữ vững đức hạnh
của nữ nhân th́ con cái cô ta sẽ phỏng theo khuôn mẫu
tốt lành, c̣n vinh dự nào hơn; huống ǵ con dâu, cháu
dâu của chính ḿnh cũng đều là con gái nhà người
ta đó thôi! Muốn cho nước nhà quật khởi
hưng thạnh, nếu không có hiền mẫu sẽ không
có ǵ hỗ trợ được! Đời không có mẹ
hiền th́ chẳng những nước không có lương
dân, mà nhà cũng chẳng có con ngoan! Ngay cả những gă
sư tăng tồi tệ ăn bám Phật pháp cũng đều
chẳng phải do những người mẹ tốt lành
sanh ra! Nếu như người mẹ thật sự hiền,
bọn ấy trọn chẳng đến nỗi kém hèn
đến thế! Tiếc thay!
Phật pháp không ǵ lớn lao chẳng
bao gồm, không ǵ nhỏ nhặt chẳng nêu lên. Ví như một
trận mưa thấm khắp, cây cỏ cùng tươi tốt.
Cái đạo tu thân, tề gia, trị quốc, tân dân không
ǵ chẳng đầy đủ. Xưa nay những kẻ
văn chương lừng lẫy một thuở, công nghiệp
vang rền vũ trụ, và những người nhân hiếu
rất mực, muôn đời kính ngưỡng, người
ta chỉ biết đến h́nh tích chứ chưa xét đến
cội nguồn. Nếu khảo sát kỹ căn do th́ tinh
thần, chí khí, tiết tháo của họ đều do học
Phật vun bồi mà ra. Những chuyện khác không cần
phải nhắc đến, chứ ngay như tâm pháp của
thánh nhân do Tống Nho[6] được
nêu tỏ cũng phải nhờ vào Phật pháp để làm
khuôn mẫu vậy, huống ǵ những thứ khác! Thế
nhưng bọn Tống Nho khí lượng hẹp ḥi, muốn
hậu thế cho rằng những điều ấy do
chính trí của họ t́m ra, nên đặt ra những lời
chê trách Phật để làm kế “bịt tai trộm linh”,
từ đời Tống đến nhà Nguyên rồi sang nhà
Minh, không lúc nào chẳng vậy! Thử dốc ḷng khảo
sát th́ không ai chẳng lấy Phật pháp để tự
làm lợi cho ḿnh! C̣n như họ nói đến chuyện tịnh
tọa, nói đến chuyện tham cứu, đều là chứng
cớ chứng tỏ họ dụng công; lâm chung biết
trước lúc mất, nói cười ngồi thác là những
chứng cớ sau cùng để phát hiện [họ có tu Phật].
Những chuyện như vậy chép trong các truyện kư của
Lư Học không thể nào nêu trọn. Há có phải học Phật
là mối lo cho xă hội ư?
Tống Cát Phồn[7] hằng
ngày làm chuyện lợi người, Triệu Duyệt
Đạo[8] ban ngày làm điều
ǵ, ban đêm ắt thắp hương tâu cùng Thượng
Đế. Viên Liễu Phàm lập mạng, Châu Mộng Nhan
soạn sách, không vị nào chẳng tha thiết mong người
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
tỏ nhân quả, chỉ tội phước, khiến cho
người khác biết: Khởi tâm động niệm th́
thiên địa quỷ thần không ǵ chẳng đều
thấy đều biết. Dẫu muốn dối người
nhưng v́ thiên địa đều thấy biết tất
cả nên chẳng dám làm. Từ đấy, gắng sức
làm lành, thật tâm kiêng ác, tuy là kẻ ương ngạnh
khó giáo hóa nhất chẳng thể dùng lư để dẫn dụ
được, nhưng do nghe đến cái đạo nhân
quả ba đời ắt sẽ dần dần chững lại,
thậm chí chuyển bạo ác thành lương thiện
không biết là bao nhiêu!
Tôi trộm cho rằng: Cha mẹ
yêu con không ǵ chẳng lo lắng, chỉ có bệnh tật
hoạn nạn mới đành cam chịu. Trẻ nhỏ vừa
mới biết nói liền dạy niệm “nam-mô A Di
Đà Phật” và danh hiệu “nam-mô Quán Thế Âm Bồ
Tát” . Dẫu cho đời trước ít vun bồi, nhờ
vào nguyện lực này ắt có thể tiêu được
họa ngay khi chưa chớm, phước đưa đến
mà không biết, có thể không c̣n phải lo ǵ đến những
chuyện bệnh tật, tai ương, hiểm nạn.
Con vừa mới hiểu biết, liền dạy cho con
trung hậu, khoan thứ, nhân từ, kiêng giết, phóng sanh
và những sự tích nhân quả ba đời rơ ràng, ngơ hầu
con tập thành tánh. Lúc nhỏ, chẳng dám tàn bạo đối
với loài trùng kiến nhỏ nhặt, lớn lên trọn
chẳng đến nỗi làm chuyện gian ác, làm nhục tổ
tiên cha mẹ. Phật pháp gặp cha nói từ, gặp con
nói hiếu, gặp anh nói nhường, gặp em nói kính, chồng
xướng vợ thuận theo, chủ đối xử
có nghĩa, tớ trung thành. Tuy gọi chung là “pháp xuất thế”,
nhưng quả thật đầy đủ những khuôn
phép tốt lành để sống trong đời.
Những khuôn phép tốt lành để
sống trong đời cũng giống như Nho Giáo,
nhưng Nho Giáo chỉ dạy con người tận
nghĩa, c̣n Phật giáo mỗi mỗi đều nói đến
nhân quả. Tận nghĩa chỉ có thể dạy người
thượng trí, khó cảm hóa kẻ hạ ngu. Nhân quả
th́ thượng trí hạ ngu không ai chẳng được
lợi ích. Trong xă hội ngày nay, chuyên lấy trí xảo làm
chủ thể. V́ thế, đề ra chuyện ǵ đều
mượn cái danh v́ dân, v́ hạnh phúc của chế độ
Cộng Ḥa, chứ thật ra là anh em một nhà đánh nhau,
khiến cho thế nước ngày càng nguy ngập, nhân dân
ngày càng thêm khốn khổ v́ chuyện tranh chấp ư kiến,
tranh chấp quyền lực. Trở thành ra kết quả
như vậy toàn là do chẳng biết nhân quả báo ứng.
Nếu ai cũng biết nhân quả th́ tự lợi, lợi
tha, tự lập, lập người, sao đến nỗi
cùng cực như thế này? Nói “dạy trẻ học Phật”
chỉ là học mấy nghĩa như vừa đă nói
đó mà thôi, há nào phải dạy chúng những chuyện
tham Thiền ngộ tánh, xem kinh giáo, quán sát cái tâm? Ông
Vương chưa biết Phật pháp nên mới lo lắng
quá mức như thế. Nếu làm như lời ông ta nói
th́ dù gần hết cả một đời cũng chẳng
dám nói đến Phật pháp. Trong thư phúc đáp ông
Vương, ông nên dùng những ư Quang vừa nói để dung
hội và mở rộng ra.
Như tôi đă viết nhiều lần
về pháp danh, trộm nghĩ: Trẻ nhỏ chọn lấy
một tên thích hợp là được rồi, cần ǵ
nhất định phải chọn lấy ba tên. Tên của
Khổng Tử chính là nhũ danh, nào có phải nhũ danh[9] chỉ
dùng lúc nhỏ thôi ư? Pháp danh cũng do đời sau
đặt ra, tên các vị đệ tử Phật không tên
nào chẳng phải là tục danh tại gia. Nay dùng pháp danh là
để phân biệt người đă nhập pháp hay
chưa. Nếu con cái ngay thoạt đầu đă chọn
đặt cho cái tên đẹp đẽ th́ có thể dùng
tên ấy suốt đời. Cần ǵ phải mất công
đặt hai ba tên? Trước hết tận lực việc
người, sau nghe theo mạng trời. Chuyện ǵ con
người không tính được bèn cậy vào oai thần
Tam Bảo th́ sẽ âm thầm tự nhiên có chuyển biến
chẳng thể nghĩ bàn.
94. Trả lời
thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ hai)
Hôm qua nhận được
thư ông, biết tâm của Sư Thọ đă xoay chuyển,
không c̣n nhất quyết muốn xuất gia. May mắn thay!
Người đời nay hay coi chuyện xuất gia
như một cách để dựa dẫm, sống bám, t́m
chỗ yên thân. Kẻ kém hơn nữa th́ do không c̣n
đường sống bèn tính kế ăn bám, nên những
kẻ xuất gia ngày nay phần nhiều đều là
phường vô lại, cho nên pháp đạo suy sụp sát
đất đều là v́ hạng xuất gia này làm chuyện
bại hoại mà nên nỗi!
Quang thấy căn tánh của
Sư Thọ nếu tu tŕ tại gia sẽ chẳng uổng
là một bậc thiện sĩ trong làng xóm. Dẫu chẳng
thể hoằng dương giáo pháp rộng lớn,
nhưng đều có lợi ích thiết thực cho cả
ḿnh lẫn người. Nếu xuất gia, do tuổi tác
quá thời, lại do thân yếu đuối chẳng kham chịu
khổ được. Đối với chuyện tham Thiền
học Giáo nếu không hỏi đến bờ bến sẽ
trọn chẳng biết đâu là phương hướng.
Nếu đi tham học th́ dù có dốc hết sức cả
một đời này, vẫn c̣n chưa thể thấu
đạt. Tông, Giáo không biết th́ đối với cái
đạo Niệm Phật chỉ có thể lợi ích cho
ḿnh, chứ chuyện lợi người [th́ không thể,
v́] c̣n thiếu tham học. Do vậy, chẳng bằng ở
nhà theo cách tu tŕ của các vị Long Thư, An Sĩ, Nhị
Lâm th́ tốt hơn!
95. Trả lời
thư vị cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ
ba)
Hôm qua nhận được
thư biết ông lại có con quư, vui lắm! Những
điều ông viết trong thư đều có đạo lư.
Chuyện ông Trương Hoán Bá dạy con cái là biết Thể
nhưng không biết Dụng, chẳng thể hoàn toàn học
theo cách ấy. Con c̣n bé, khi con đi học về phải lấy
chuyện nhân quả báo ứng và lợi ích của pháp môn Tịnh
Độ để ra rả giáo huấn khiến cho con cái
hiện thời được lợi ích nơi niệm Phật,
ắt khỏi phải lo lắng những chuyện xảy
ra ngoài dự liệu; trong tương lai khi lập gia
đ́nh, lập nghiệp, đó lại là cái gốc tiêu tội
được phước. Nếu hoàn toàn chẳng giao thiệp
cùng trường học sẽ chẳng am hiểu thời
vụ, dẫu đứa có khả năng cũng khó tiến
bộ, huống chi những đứa tầm thường!
Người tại gia trước
hết phải t́m được một cách mưu sinh,
cách cư xử của Hoán Bá chỉ có thể dùng
được trong ba mươi năm trước, chẳng
thích hợp cho hiện thời. Thời bây giờ là thời
như thế nào? Chính là cái thời “gian dối đua chen,
tranh giành lẫn nhau”, nếu hoàn toàn chẳng giao thiệp với
những kẻ ấy ắt sẽ bị chúng dối lừa,
làm nhục, khó thể an thân!
C̣n về pháp danh, đứa lớn
đă quy y, không cần phải chọn tên khác nữa. Những
đứa c̣n lại lấy chữ Phước làm chữ
đầu, [chữ thứ hai lần lượt là] Huệ,
Dung, Uyên, Ḥa, Minh. Mẹ chúng nó nên đặt tên là Sư Việt.
Do bà Kinh Vương phu nhân họ Vương đời Tống,
tự hành, dạy người, chuyên tu Tịnh nghiệp,
đứng đầu hàng nữ lưu, nên nếu đặt
tên cho bà [vợ ông] là Sư Vương tợ hồ chẳng
thích hợp. Do Kinh Vương phu nhân c̣n xưng là Việt
Quốc phu nhân nên đặt tên là Sư Việt th́ ổn
thỏa.
Thêm nữa, ĺa ngũ trược,
sanh về Tịnh Độ, chính là siêu việt phàm tục
trược ác, sau khi văng sanh dần dần thăng lên,
cũng là sự siêu việt vậy. Danh là khách của Thực,
ắt phải thường răn dạy khiến cho con
cái biết đạo lư thế gian, biết đạo lư
Phật pháp, tương lai khi chúng trở thành cha mẹ, tự
có thể lập ra quy tắc cho con cái, chẳng đến
nỗi tuy có thiên tư thượng đẳng như ông
Tăng nọ, như kẻ tục nọ, đều có
thiên tư kham làm Phật, làm Tổ, nhưng lại vùi lấp
đường chánh nhân - thiên của ḿnh lẫn người,
đào hố sâu địa ngục! Nguyên do đều là v́
cha mẹ những kẻ ấy thoạt đầu chẳng
đem nhân quả báo ứng dù Sự hay Lư để bảo
ban cho mà ra. Nếu nhân quả chẳng giảng th́ Danh và Thực
trọn chẳng tương ứng, huống c̣n muốn
được hiệu quả thật sự làm thánh, làm hiền,
làm Phật, làm Tổ ư? Hai chữ “nhân quả” chính là
nghĩa lư trọng yếu “gốc chánh nguồn trong” để
cứu nước trị dân cho ngày nay vậy. Bỏ
điều này sẽ không c̣n phương cách nào khác, huống
chi là chuyện dạy con cái ư?
96. Thư trả
lời vị cư sĩ X... ở Vĩnh Gia (thư thứ
tư)
Gia thuộc của ông đông quá.
Khi các cô em dâu, em gái, con gái đi học về, nên đem những
chuyện nhân quả báo ứng và lợi ích niệm Phật
bàn luận cùng họ, ngơ hầu trong tâm ai nấy biết
tâm ḿnh thông với thiên địa quỷ thần,
tương thông cùng từ phụ Di Đà. Do vậy, đoạn
trừ ác niệm, tăng trưởng chánh tín, ngơ hầu
hiện tại họ kham làm vợ hiền của người,
tương lai làm mẹ hiền cho người. Biến
điều ấy thành phong tục cho làng xóm th́ cũng là
căn bản pháp luân để b́nh trị thiên hạ quốc
gia vậy. Bồ Tát sống trong cơi tục để lợi
sanh, chẳng lập riêng quy cách, đối bệnh phát thuốc,
khiến cho ai nấy đều theo đường về
nhà mới thôi.
Nay những phụ nữ trong chốn
học đường đa phần lầm lạc nẩy
sanh những mong muốn lạ lùng, muốn nắm giữ
chánh quyền, chẳng biết giữ bổn phận. Giúp
chồng dạy con chính là căn bản để thiên hạ
thái b́nh. Do vậy, vương nghiệp nhà Châu có nền tảng
là ba bà Thái. Các bà Thái Khương, Thái Tự, Thái Nhậm
chính là bậc thánh nhân trong nữ giới, chỉ chú trọng
âm thầm giúp đỡ chồng, dạy con từ thuở
c̣n trong thai. Người đời nay chẳng học theo
gương đó, những điều họ tính toán, lo
nghĩ đều là những mầm mống mưu mô gây loạn
thiên hạ, c̣n nói ǵ được nữa! Quang vốn là
người ngoài cơi đời, há nên bàn chuyện phụ nữ!
Do v́ gia quyến ông đàn bà đông quá [nên mới bàn đến],
mong rằng họ sẽ là gương mẫu cho hàng nữ
lưu trong tương lai, là gương tốt cho chốn
khuê khổn[10] ḥng phát dương
ánh sáng mặt trời Phật pháp vậy!
97. Trả lời
thư vị cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ
năm)
Dạy con cái phải bắt đầu
từ căn bản. Cái căn bản vừa nói đó chính
là hiếu với cha mẹ, giúp đỡ mọi người,
nhẫn nhục, tận tụy, lấy thân làm gương,
lấy đức làm khuôn phép; như nung chảy vàng hay
đồng, đổ vào khuôn. Khuôn ngay ngắn sẽ
đúc ra vật ngay ngắn, khuôn méo mó sẽ đúc ra vật
méo mó. Lớn - nhỏ, dày - mỏng, trước khi đổ
khuôn đă có thể biết trước, huống ǵ lúc
đă trút khỏi khuôn! Gần đây con người đa
phần chẳng biết điều này. V́ thế, những
con em có thiên tư đa số là cuồng vọng, trái nghịch;
những đứa không có thiên tư lại thành ra
ương bướng, hèn tệ. Đó là do lúc nhỏ
đánh mất khuôn phép, như vàng lỏng rót vào khuôn hư
trở thành đồ hư hỏng. Cố nhiên vàng là một,
nhưng đồ vật lại sai khác một trời một
vực! Tiếc thay! Phật lấy Vô Ngă để dạy,
người đời nay hễ có chút tri kiến bèn nghếch
mắt lên tận trời thẳm, là v́ chỉ biết Phật
pháp qua nghĩa lư văn tự, chẳng biết Phật
pháp chính là tu thân tịnh tâm, diệt trừ ngă tướng,
tận lực tu Định - Huệ, ngơ hầu đoạn
Hoặc chứng Chân!
98. Trả lời
thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ sáu)
Thế giới Sa Bà là một ḷ luyện
lớn, ai chịu được chưng luyện sẽ
không c̣n là người trong thế gian nữa. Ai không chịu
nổi sự chưng luyện th́ ḷ luyện lớn lao bèn
thành món đồ độc hại, thành món đồ gây
khổ năo, ấy là do tùy mỗi người mà tự
được lợi ích. Người cùng một nhà nên
trong lúc nhàn hạ vô sự, nhẹ nhàng, uyển chuyển,
tŕnh bày, mở mang những lư tột cùng khiến cho họ
biết có những chuyện đúng - sai, nên hay không nên th́
tâm thức họ sẽ bất tri bất giác dần dần
bị ảnh hưởng rồi chuyển biến. Nếu
gặp lúc tánh t́nh ngu bướng, ngạo mạn [của kẻ
ấy] lộ ra, nếu như đối trị được
th́ hăy dùng những câu danh ngôn chí lư, ḥa dịu b́nh tâm để
đối trị. Nếu không, cứ để mặc đó,
nhất loạt không bận tâm đến nữa, đợi
khi nào hết nóng, lại dùng tâm b́nh khí ḥa bàn luận đến
đầu đến đũa, lâu ngày kẻ ấy sẽ
được cảm hóa. Nếu dùng thủ đoạn mạnh
bạo, nặng nề để trói buộc th́ hoàn toàn
không thích hợp, do kẻ ấy có chỗ dựa dẫm (chỗ dựa dẫm chính là
con cái người ấy) cũng như đánh mất pháp tắc
giáo huấn con cái. Niệm Phật phải luôn nghĩ ḿnh sắp
chết, sắp bị đọa địa ngục th́
không khẩn thiết cũng sẽ tự khẩn thiết,
không tương ứng cũng tự tương ứng;
v́ cái tâm sợ khổ mà niệm Phật chính là diệu pháp
bậc nhất để thoát khổ, cũng là diệu
pháp bậc nhất để tùy duyên tiêu nghiệp.
99. Trả lời
thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ bảy)
Linh Phong lăo nhân (tổ Ngẫu Ích) là
người độc nhất vô nhị trong đời Mạt
Pháp, lời lẽ, lư - sự của Ngài đều trọn
đủ, há lường được lợi ích ư?
Tùy theo căn cơ của mỗi người, ai nấy
được hưởng lợi ích. Con em có tài hoa, nếu
được khéo dạy sẽ dễ thành tựu chánh
khí; không khéo dạy th́ đa số trở thành phường
bại hoại! Ngày nay dân không lẽ sống, vận nước
gian nan, gần như sụp đổ, đều là do những
kẻ có tài hoa nhưng không được khéo dạy dần
dần ấp ủ tạo thành [mối họa]. Đứa
không tài hoa cố nhiên nên dạy nó thành thật, đứa
có tài hoa càng nên dạy nó thành thật, nhưng dù là đứa
thành thật cũng có thể làm điều dối trá. Thoạt
đầu phải dạy lẽ nhân quả báo ứng và chuyện
“một khởi tâm động niệm của con người
thiên địa quỷ thần đều thấy biết
hết từng điều”, thường nên khuyên dạy
như thế.
Phải dạy chúng đọc thuộc
Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên, đừng cho đấy
không phải là sách Phật rồi coi thường. Do phàm phu
tâm lượng thiển cận, nếu dùng những lẽ
xa xôi, lớn lao, sâu xa để tŕnh bày sẽ khó thể
lănh hội. Những sách ấy dù già hay trẻ nghe đến
đều được lợi ích, huống chi [những
sách ấy] đều chú trọng lấy vô thường
làm thầy, lấy điều thiện làm thầy!
Phật c̣n dạy con người
ta quán tử thi, phẩn uế, rắn độc để
chứng A La Hán, số người chứng quả c̣n nhiều
hơn cát sông Hằng. Huống chi những câu nói thiết
thực, nuôi dưỡng thiện tánh, cảnh tỉnh, tự
xét của những sách này. Kinh Lăng Nghiêm, nếu người
không biết pháp Tịnh Độ đọc đến sẽ
cho là công thần bậc nhất để đả phá Tịnh
Độ; c̣n người đă biết Tịnh Độ
sẽ thấy kinh này là hướng dẫn tốt lành cho Tịnh
Độ. V́ sao nói thế? Dùng tự lực để ngộ
đạo khó lắm, c̣n văng sanh Tịnh Độ lại
dễ. Nhân quả của mười pháp giới, mỗi mỗi
phân minh. Nếu chẳng cậy vào Phật lực, dù phá
được một hai Ấm, vẫn có thể bị ma
dựa, trở thành chủng tử địa ngục.
Đă thế, hai mươi bốn công phu Viên Thông, người
bây giờ ai có thể tu tập được? Chỉ có
niệm Phật như con nhớ mẹ, hễ ai có tâm
đều phụng hành được. Hễ tịnh niệm
tiếp nối bèn tự chứng được Tam Ma
(Chánh Định). Người biết tốt - xấu
đọc đến có c̣n chịu chỉ cậy vào Tự
Lực, chẳng nương vào Phật lực hay chăng?
Kẻ không phân tốt - xấu th́ ngược lại, chỉ
muốn trở thành một bậc thông gia, không hề có cái
tâm liễu sanh tử!
100. Trả lời
thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ tám)
Thư gởi đến nêu rơ chuyện
kính trọng toàn thể Tăng Ni, lư ấy, sự ấy quả
thật rất xác đáng, nhưng về chuyện dạy
dỗ con cái lại phải bàn đi luận lại, bởi
lẽ nếu chỉ nhắc đến một lần, e rằng
ông chẳng biết chọn lấy điều thân - sơ,
rất có thể bị tổn hại! Ví như có người,
dù thơ hay văn, dù Tông hay Giáo, thảy đều cao siêu,
nhưng phẩm hạnh kém hèn, chẳng đáng làm
gương cho người khác. Nếu chẳng biết
phân biệt, cứ nhất loạt thân cận th́ thân cận
người như vậy chẳng những là hành vi có thể
bị xoay chuyển theo, gă đó lại c̣n dùng những ư kiến
ức đoán của chính ḿnh nói ra những đạo lư xằng
bậy nên kẻ không có tri kiến chân chánh rất có thể
bị lầm lạc bởi gă đó. Như vậy, phải
giữ tấm ḷng “đối với người hiền
hay kẻ ngu đều cung kính, chẳng sanh ḷng ngạo mạn”,
nhưng về mặt hành sự thân cận th́ phải thân
hiền, xa ngu, chọn ưu, bỏ hèn. Như thế sẽ
tránh được cái tệ bị lây nhiễm cũng
như khỏi bị lầm lạc oan uổng. Chuyện
thiên hạ có lư nhất định, nhưng không có pháp nhất
định. Nếu chẳng dùng t́nh và sự để
định đoạt, như chữa bệnh có biến
chứng mà cứ chấp chặt vào một phương
thuốc ắt sẽ chết nhiều, sống ít. Lư và t́nh
cần phải phù hợp, pháp và sự phải tương
ứng th́ mới nên.
101. Trả lời
thư cư sĩ X… ở Vĩnh Gia (thư thứ chín)
Trong thư gởi đến, những
điều ông viết đều từ sự suy xét những
tập khí nơi thân tâm của chính ḿnh, khôn ngăn mừng
rỡ, cảm động! Nhưng ở địa vị
phàm phu, tuy không thể không có bệnh, nhưng cũng chẳng
nên mặc kệ không trị. Cách chữa trị ít tốn
sức nhất lại được lợi nhiều là lấy
ngay bệnh làm thuốc. Lấy ngay bệnh làm thuốc th́
bệnh chẳng làm phiền rộn ḿnh được.
Như cái bệnh yêu thương con cái quyết chẳng thể
đoạn được th́ chẳng ngại ǵ lấy
ngay ḷng yêu thương đó làm gốc, muốn cho con cái
lúc sống làm người chân chánh, lúc chết sanh về Tịnh
Độ. Yêu thương như vậy chính là dùng phàm t́nh
thế gian để thành tựu thánh quả xuất thế
gian. Nếu chẳng khéo dùng ḷng yêu thương, mặc ḷng
dung dưỡng thói kiêu căng c̣n hơn giết con trăm
ngàn vạn ức vô lượng vô biên lần. Đất
nước diệt vong, nhân dân điêu đứng đều
v́ những bậc cha mẹ chẳng hiểu sự việc
này ấp ủ thành. Chẳng đáng buồn ư?
Công khóa mỗi ngày hồi hướng
mỗi mỗi đều v́ pháp giới chúng sanh. Nếu làm
công khóa này v́ chuyện này, công khóa kia v́ chuyện kia, tuy không
phải là không được, nhưng cần phải có
cái nguyện hồi hướng rộng khắp th́ mới
tương ứng với ba thứ hồi hướng. Ba
thứ hồi hướng th́ một là hồi hướng
Chân Như Thật Tế, tâm tâm khế hợp; hai là hồi
hướng Phật Quả Bồ Đề, niệm niệm
viên măn; ba là hồi hướng pháp giới chúng sanh cùng sanh
Tịnh Độ. Mỗi người ai nấy có chí, ai nấy
có nghiệp (nghiệp
là thức nghiệp), cứ tùy duyên tùy phận là được rồi,
bất tất mọi người đều phải giống
nhau.
102. Trả lời
thư cư sĩ Hà Ḥe Sanh
Nhận được thư biết
cư sĩ có chí hướng thượng, nhưng chưa
biết duyên do và thời cơ của pháp môn này. Nếu
đă từng đọc Văn Sao của Quang th́ ông cũng
chưa xét rốt ráo những ư chỉ Quang đă nói. Phàm tu
hành dụng công vốn là v́ liễu sanh tử. Nếu dụng
công nhưng chẳng thể liễu sanh tử là v́ chẳng
chịu hành theo pháp có thể liễu được sanh tử,
há chẳng phải là gánh gai bỏ vàng[11],
tự chuốc lấy vạ hay sao? Tham Thiền dù có đại
triệt đại ngộ như Ngũ Tổ Giới, Thảo
Đường Thanh, Chân Như Triết, Đoạn Nhai
Nghĩa[12] c̣n chẳng thể
liễu, hễ thọ sanh lần nữa bèn bị mê mất,
kém xa đời trước, huống hồ bọn ta! Vị
ḥa thượng X… tuy đă biết phương hướng
của Thiền Môn, nhưng chưa vượt ra được
giới hạn của Thiền Tông nên chẳng thể làm
cho các hạ lắng ḷng niệm Phật.
Ư ông cho rằng hễ ngộ ắt
sẽ không có sanh tử để kết liễu, cũng
chẳng có Niết Bàn để chứng, nhưng chẳng
biết rằng dẫu có ngộ đến địa vị
“thấy không có sanh tử để kết liễu, không có
Niết Bàn để chứng đắc” th́ vẫn cứ
ở trong sanh tử y như cũ, chẳng thoát ra
được, chẳng thể chứng được Niết
Bàn. Chúng sanh đời Mạt cậy vào Tự Lực
để đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh
thoát tử rất ư là khó; huống chi ông đă quán sát nhất
niệm rớt vào chốn nào th́ phải luôn luôn quán sát niệm
ấy đi về đâu. Ngoại trừ chuyện này ra,
bất cứ điều ǵ khác cũng không quan tâm đến,
thật giống như truy tầm oan gia, chẳng chịu lăng
ư một nháy mắt kẻo nó trốn mất, phải sao
cho bắt được nó ngay khi đó, khiến cho nó táng
thân mất mạng mới thôi! Nhưng ông nói rằng khi cái
niệm ấy khởi lên đủ mọi cảnh giới
bèn bỏ toàn thể chuyện quán sát những cảnh giới
ấy đi về đâu, cho rằng mọi cảnh giới
đă hiện ra chính là do tâm đạt được, tức
là chẳng biết những cảnh giới ấy đều
do tịnh định mà phát hiện, quả thật là
chướng ngại cho sự tham Thiền. V́ sao? V́ quên mất
chuyện suy xét đến tận cùng xem cái niệm này
đi về đâu, tưởng huyễn cảnh là điều
ḿnh đạt được. Vả nữa, cảnh giới
ấy c̣n xen tạp những cảnh giới của bọn
luyện đan. Trước đây, các hạ đă từng
dùng qua công phu ấy, nên nay do tịnh định, chúng bèn hiện
ra. Nếu cho đó là chứng đắc, ắt có mối
lo sau này sẽ bị ma dựa. Các hạ chẳng biết
vứt bỏ toàn bộ những chuyện ấy, vẫn cứ
mong thường giữ được lâu dài. Do chẳng
thể đạt được bèn bứt rứt, than thở,
há chẳng phải là nhận giặc làm con, giao cho nó giữ
gia nghiệp hay sao? Kinh Kim Cang dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”, Tâm Kinh nói: “Soi thấy
Ngũ Uẩn đều không, vượt hết thảy
khổ ách”. Tướng ấy của các hạ là tướng
hay phi tướng vậy? Là Ngũ Uẩn hay không phải
Ngũ Uẩn vậy? Nếu là tướng, là Ngũ Uẩn
th́ đều phải bỏ đi, sao lại trân quư nó? Nếu
nó là phi tướng, là phi Ngũ Uẩn th́ cái niệm để
thấy c̣n chẳng thể có, những cảnh tướng
ấy do đâu mà có?
Cổ nhân nói: “Người học đạo chẳng hiểu lẽ
chân đều là v́ từ trước chẳng hiểu
được thức thần là cái gốc của vô
lượng kiếp sanh tử, người ngu cho đó là
con người sẵn có của ḿnh”. Câu nói đó chính là
món thuốc mầu nhiệm thật thích hợp để
trị chứng bệnh của các hạ vậy. Há có nên vọng
động đem ư ḿnh để tham Thiền ư? Hăy nên
ngay trong lúc một niệm khởi, phải quán xem ư niệm
ấy đi về đâu. Chẳng dốc sức vào đó
th́ sai chỉ hào ly, lạc đi ngàn dặm, lại c̣n cho
đó là đắc, há chẳng quá đáng buồn hay sao? Tuy
thế, Quang chẳng phải là Thiền khách, trọn chẳng
dùng Thiền học để dạy người. Đây
chẳng qua là v́ các hạ không biết cảnh nào là tà - chánh,
đúng - sai, nên mới khôn ngăn biện luận, phân tích
đôi chút. Nếu các hạ muốn dựng cao cờ xí nhà
Thiền, lấy đại triệt đại ngộ làm
chuyện chánh yếu, hăy nên tham học với những bậc
đại lăo trong Thiền Tông. Nếu nói “tôi trong một
đời này, quyết định phải liễu sanh tử”
th́ xin hăy đem ư niệm tham Thiền vứt ra ngoài Đông
Dương đại hải, y theo pháp môn Tịnh Độ,
sanh tín, phát nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, nương vào Phật từ lực, chắc
chắn sẽ được măn nguyện. Nếu chẳng
y theo pháp môn Tịnh Độ th́ tất cả những ǵ
đă tu tŕ đều trở thành phước báo nhân thiên
và nhân duyên để đắc độ trong tương
lai mà thôi, muốn liễu sanh tử khó thể mộng thấy
được!
Muốn biết nguyên do của Thiền
và Tịnh mà không xem rộng khắp các sách Thiền - Tịnh
sẽ không thể nào hiểu được. Dẫu có thể
xem rộng khắp, nhưng nếu không có mắt chọn lựa
pháp cũng sẽ thành dơi nh́n biển cả thở than, mịt
mờ chẳng biết về đâu. Do vậy, hăy nên chuyên
đọc các trước thuật Tịnh Độ,
nhưng các trước thuật về Tịnh Độ rất
nhiều, người chưa nhập môn khó nắm
được cương yếu. T́m lấy một tác phẩm
dẫn người tiến vào chỗ thù thắng, phân tích
minh bạch giới hạn giữa Thiền và Tịnh, Phật
lực và tự lực, không gây nghi ngờ, trệ ngại,
ngôn ngữ đơn giản, rơ ràng, nghĩa lư b́nh thường,
thực tế, là hướng dẫn ban đầu để
nghiên cứu các trước thuật của cổ đức,
th́ có lẽ là bộ Ấn Quang Văn Sao chăng? Xin hăy lắng
ḷng nghiên cứu ắt sẽ tự biết!
103. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ nhất)
Ngài Ngẫu Ích sanh vào cuối đời
Minh, mất vào đầu đời Thanh[13],
một đời hoằng pháp đều ở phương
Nam, chưa từng lên đất Bắc. Thêm nữa, trong những
năm đầu thời Thuận Trị, phương Nam
c̣n nhiều chỗ chưa quy phục, sau khi vua Sùng Trinh[14]
thăng hà, lănh thổ nhà Minh tan nát, phàm trước thuật
ǵ, đại sư đều chỉ ghi năm tháng, không
ghi quốc hiệu và niên hiệu. Đến khi các xứ
Ninh Ba, Phước Kiến quy thuận [nhà Thanh], chưa
đầy một hai năm sau, đại sư bèn nhập
Niết Bàn, nhưng trong tông Thiên Thai có người bắt
chước, trước thuật vào thời Khang Hy
cũng chẳng ghi quốc hiệu và niên hiệu, có thể
nói là vu báng, khinh miệt ngài Ngẫu Ích lẫn quốc gia vậy.
Do chẳng khéo học nên mới có chuyện như thế!
Học giả ở phương
Nam đa số thiên về giáo pháp Thiên Thai, các học giả
phương Bắc đa số chuộng giáo nghĩa Hiền
Thủ hoặc Từ Ân. Do không người học tập
nên những tác phẩm [của tông Thiên Thai được
lưu hành ở phương Bắc] cũng ít. Thanh Thế
Tông (Ung Chánh) tuy đề xướng khắc in Đại
Tạng, nhưng đầu mùa Hạ năm ấy đă
lên làm khách cơi trời. Những kinh sách được
đưa vào hay gạt ra khỏi Đại Tạng đời
Thanh thường nói là do Thanh Thế Tông định đoạt,
nhưng thật ra quá nửa là do vị thân vương
đặc phái và vị đại ḥa thượng thủ
lănh tổng lư việc in khắc Đại Tạng chủ
tŕ.
Hơn nữa, những vị
Tăng sắp đặt việc in khắc đều là
người thuộc các tông Hiền Thủ, Từ Ân, Lâm Tế.
Tông Thiên Thai chỉ có một vị, nhưng chỉ giữ
vai tṛ giảo duyệt, không có quyền quyết định.
Những trước thuật của ngài Ngẫu Ích
được nhập tạng chỉ có hai thứ là
Tướng Tông Bát Yếu[15]
và Thích Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn[16],
những thứ khác ở phương Bắc không có, lấy
đâu mà nhập tạng cho được? Đây là chuyện
thuộc về cuối đời Ung Chánh, đầu đời
Càn Long. Đến cuối đời Càn Long, ở kinh
đô, những trước thuật của ngài Ngẫu Ích
không c̣n được bao nhiêu. Triệt Ngộ lăo nhân đọc
bộ Duyệt Tạng Tri Tân[17],
liền muốn khắc in. Ngài mong t́m được một
bộ th́ chẳng cần phải chép riêng[18]
ḥng giảm bớt tâm lực nên t́m ṭi khắp nơi, chỉ
được một bộ. Phàm những trước thuật
của đại sư được truyền đến
kinh đô th́ ngài Triệt Ngộ và môn nhân của ngài Triệt
Ngộ đều cho khắc bản, cũng được
mười hay hai mươi loại.
Những kẻ không biết thời
thế cứ đổ riệt Thanh Thế Tông chẳng chọn
lấy những tác phẩm ấy, đúng là đă vu báng vua
Thế Tông. Nếu như Thanh Thế Tông được thấy
toàn bộ những trước tác của ngài Ngẫu Ích chắc
chắn sẽ cho nhập tạng toàn bộ, chẳng sót bộ
nào. Phải biết: Đại Tạng kinh đời Thanh
do Thanh Thế Tông khởi xướng, đến khi Thanh
Thế Tông băng hà, Cao Tông (Càn Long) kế vị, phàm những
chuyện khắc in Đại Tạng đều do những
người có quyền thế trong giới Tăng - tục
thời ấy làm chủ, chẳng qua Cao Tông cũng chỉ
chủ tŕ trên danh nghĩa đó thôi. V́ sao biết như vậy?
Bộ Giản Ma Biện Dị Lục[19]
do Thế Tông soạn vừa mới hoàn tất bản thảo,
c̣n chưa sửa chữa hoàn chỉnh, vua liền băng
hà ngay. Tuy Cao Tông sai người biên chép, khắc bản,
nhưng chẳng rảnh rỗi để kiểm điểm.
Do vua không sai một bậc đại thông gia chủ tŕ,
nên rốt cuộc sai ngoa không biết bao nhiêu mà kể. Di
bút của cha mà c̣n để như thế, huống ǵ là
Đại Tạng?
Vả nữa, lúc Thế Tông bắt
đầu soạn tác phẩm này liền ban lời dụ,
trong đó có nhắc đến chuyện nhập tạng
lưu thông. Về sau, chỉ khắc bản in sách, rốt
cuộc không nhập tạng, chỉ đem lời dụ
này in kèm vào sau cuốn Ngữ Lục của Viên Minh cư
sĩ[20],
há cũng nên bảo là v́ Thế Tông tỵ hiềm sách ấy
có tập khí nên không được nhập tạng ư?
Nguyên nhân chẳng được nhập tạng là v́ những
kẻ ngoại hộ của con cháu sư Hán Nguyệt Tạng[21] đa
phần là những người đang nắm quyền, nên
chẳng ai dám đề xướng [nhập tạng sách ấy]
mà thôi. Nếu luận về tập khí, có thể nói ngài Ngẫu
Ích hoàn toàn không có; thế nhưng những kẻ thiền
ḥa[22]
mù quáng cho là Ngài uổng có văn tự, nhưng chưa
đại ngộ, cống cao ngă mạn. Những kẻ
như thế ngửa mặt nhổ lên trời, há có nên lấy
những lời của họ để làm cơ sở
b́nh luận ư? Những kẻ hủy báng Thanh Thế
Tông cũng như hủy báng ngài Ngẫu Ích, đều là
những kẻ nghe lỏm nói ṃ, hùa theo phụ họa mà
thôi!
104. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ hai)
Hôm qua nhận được tin từ
Sư Đạo cho biết tháng trước bệnh t́nh
ông thật nguy ngập, gần đây đă thuyên giảm,
may mắn thay! Con người xử thế, nhất nhất
nên án theo bổn phận, chẳng được lầm lạc
lo lắng vượt ngoài bổn phận. Đấy là
như câu nói: “Quân tử chẳng
nghĩ ra ngoài địa vị”. Lại nói: “Quân tử chỉ thuận theo
địa vị mà hành”. Tuy ông đă hơi sanh tín tâm
đối với pháp môn Tịnh Độ, nhưng vẫn
c̣n có ư niệm ham cao chuộng lạ chưa buông xuống
được, chưa chịu tu tập như hàng ngu phu,
ngu phụ. Phải biết liễu sanh tử đối với
ngu phu, ngu phụ th́ dễ, bởi tâm họ chẳng có dị
kiến; c̣n nếu là bậc thông Tông, thông Giáo mà khắp
thân buông xuống được, thực hành công phu của
kẻ ngu phu, ngu phụ th́ cũng dễ. Nếu không, bậc
cao nhân thông Tông, thông Giáo lại chẳng bằng kẻ ngu
phu, ngu phụ đới nghiệp văng sanh! Pháp môn Tịnh
Độ lấy văng sanh làm chánh yếu, tùy duyên, tùy phận,
chuyên tinh chí hướng; chắc chắn Phật chẳng
dối người! Nếu không, cầu thăng hóa ra bị
đọa, đấy chính là tự ḿnh tạo lỗi, nào
phải lỗi Phật đâu!
105. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ ba)
Học Phật phải chuyên chú lấy
việc giải thoát cho chính ḿnh làm chuyện chánh yếu,
nhưng cũng phải tùy phần tùy sức làm chuyện
công đức. Nếu là người có sức lớn lao
th́ mới có thể triệt để buông xuống, triệt
để đề khởi. C̣n người trung hạ
căn, nếu hết thảy đều không làm sẽ trở
thành biếng nhác, lười trễ, ngay cả tự lợi
cũng chẳng nỗ lực, chuyện lợi người
hoàn toàn gác qua một bên, rớt vào thói tệ “dù chỉ nhổ một sợi
lông để làm lợi cho người khác cũng chẳng
chịu làm” của Dương Tử[23]. V́
thế, phải hành cả hai pháp để bổ trợ
cho nhau, nhưng chuyên chú nơi tự lợi. Cũng chớ
nên hiểu lầm lời của ông Nhị Lâm (Bành Tế
Thanh). Hiểu lầm sẽ đắc tội với ông Nhị
Lâm chẳng nhỏ! Ư của ông Nhị Lâm là phải chuyên
chú nơi tự lợi, chứ không phải hoàn toàn vứt
bỏ chuyện tùy phần tùy sức dạy người
khác tu tập pháp môn Tịnh Độ. Chuyện lợi
người chỉ bậc đại Bồ Tát mới có
thể gánh vác nổi, những kẻ kém cỏi hơn nào
ai dám nói lời lẽ lớn lao ấy? Người trung hạ
căn phải biết tùy phần tùy lực để làm
chuyện lợi ích người khác th́ mới hợp với
cái đạo tu hành tự lợi vậy! Do v́ pháp môn tu hành
có Lục Độ, vạn hạnh; nên tự ḿnh chưa
độ thoát th́ lợi người vẫn thuộc về
tự lợi.
Nhưng chẳng nên chuyên chú làm những
chuyện thuộc về h́nh tích bên ngoài, c̣n chuyện đối
trị phiền năo tập khí trong tâm ḿnh bèn gác lại, không
nhắc ǵ tới, tức là có ngoại hạnh, nhưng
công phu bên trong hoàn toàn bỏ phế! Do đấy, đâm ra
nẩy sanh ngă mạn, tự cho công hạnh lợi tha là
đức hạnh, sẽ bị tổn thất rất nhiều.
Ví như ăn cơm phải có thức ăn kèm vào,
cũng như thân thể phải dùng áo mũ để
trang hoàng. Trên con đường tu hành để liễu
sanh tử dài dằng dặc, sao lại muốn thâm nhập
một môn, phế sạch các môn khác? Thâm nhập một môn[24],
bỏ hết các môn khác chỉ có lúc đả thất th́
được. B́nh thời, nếu không phải là Bồ
Tát tái lai, trọn chưa có ai chẳng vướng mối
tệ trở thành giải đăi, khinh mạn! Bởi cái
tâm phàm phu hễ cái ǵ thường có quá ắt sẽ sanh
chán!
Trời sanh ra muôn vật ắt phải
dùng trời tạnh, mưa dầm xoay vần, nóng -lạnh
đắp đổi th́ mới có thực tế sanh thành tạo
hóa. Nếu cứ thường tạnh hoặc mưa măi,
hoặc nóng măi, lạnh măi th́ dưới gầm trời sẽ
không có một vật nào cả! Huống chi tâm bọn ta
như khỉ vượn, chẳng dùng đủ mọi
pháp đối trị muốn cho nó ở yên một chỗ,
chẳng rong ruổi lung tung th́ rất ư là khó! Con người
hăy nên tự lượng sức ḿnh, chớ nên thiên chấp
một pháp, cũng chớ nên tràn lan không lớp lang ǵ, lấy
tŕ giới niệm Phật cầu sanh Tây Phương làm
chánh. Gặp hết thảy mọi người, trên là cha mẹ,
giữa là anh em, bè bạn, dưới là vợ con, đầy
tớ, đều đem chuyện này chỉ dạy, há có
nên nói đây chẳng phải là tự lợi ư? Một
ngọn đèn chỉ là một ngọn đèn, một ngọn
đèn thắp truyền sang trăm ngàn vạn ức ngọn
đèn, nhưng ngọn đèn ấy trọn chẳng bị
tổn hại ǵ, ai được, ai mất, nào đến,
nào đi? C̣n phải đợi hỏi người khác mới
hiểu rơ nữa ư?
106. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ tư)
Ngày Rằm tháng trước nhận
được thư ông. Do ông bảo khi Mạnh Do[25]
đến, ông sẽ lên đường ngay, nên sợ trả
lời thư sẽ bị lạc mất. V́ thế, không
phúc đáp. Trưa nay lại nhận được thư
ông, biết Mạnh Do c̣n chưa về lại tỉnh nhà.
Do ông ta nấn ná chưa về, nên ông không dám dứt khoát. Nếu
ông ta trở về, ông sẽ dứt khoát lên đường.
Sao ông không hiểu ḷng tôi và tấm ḷng những người
khác mà thành ra đạo lư ương ngạnh như thế?
Quang cũng là người xuất gia, há cứ nhất
định phải ngăn trở ông, trở ngại ông, học
theo thói người tại gia lưu luyến nhà cửa, chẳng
muốn cho người khác mau được giải thoát
ư? Nhưng cơ duyên gặp gỡ của mỗi người
có muôn vàn kiểu chẳng giống nhau.
Luận theo phần ông, quả thật
tại gia có ích rất lớn, c̣n xuất gia chỉ
được lợi ích nhỏ nhoi. Tổ nghiệp của
ông gần như sống qua ngày được, trên có mẹ
hiền để thờ, giữa có anh em để
nương tựa, trong nhà có vợ hiền, dưới gối
không con cái. Nhưng anh cả của ông khá tin tưởng
vào Phật pháp, chú Ba, chú Tư cũng chẳng chống trái
đạo pháp lắm. Ông tại gia dốc sức tu Tịnh
nghiệp, cũng có thể hướng dẫn khiến cho
mẹ hiền sanh ḷng tin niệm Phật, ngơ hầu
được liễu thoát mà cũng có thể v́ anh em đang
ở ngoài lo liệu chuyện trong gia đ́nh, cũng
như suất lănh vợ, em dâu v.v… cùng tu Tịnh nghiệp,
cùng thoát ṿng khổ. Bên ngoài th́ xóm giềng, thân thích, tùy duyên
hướng dẫn, chỉ vẽ, th́ nhà cửa bèn thành
đạo tràng, hết thảy mẹ, anh em, vợ con, cháu
chắt, xóm giềng, thân bằng đều thành pháp quyến.
Tùy sức, tùy phận, thân làm gương, miệng giáo hóa
khiến cho mọi kẻ lạc đường ở
Vĩnh Gia cùng những kẻ chủng tánh tà kiến kia cùng
được nạp vào trong ḷ luyện lớn là pháp môn Tịnh
Độ chí cực viên đốn của Phật pháp, cùng
trở thành pháp khí[26],
cùng tu Tịnh nghiệp, tương lai cùng lên Liên Bang, cùng
chứng Bồ Đề. Há chẳng bằng ông xuất
gia làm Tăng, bỏ mẹ đi xa, người trong nhà ôm
mối hận không người nương cậy, mẹ
đem ḷng oán con hay sao? Đă thế, những kẻ chẳng
hiểu rơ lư cùng cực sẽ đâm ra nói Phật pháp trái
nghịch thế đạo, lầm sanh hủy báng, khiến
cho những kẻ ấy tạo ác nghiệp, đọa ác
đạo. Chưa thấy ích ǵ mà trước hết
đă mắc lấy những tổn hại to lớn
như thế, như vậy là tốt hơn hay sao?
Huống chi mẹ ông đă không bằng
ḷng, há có nên chẳng tuân theo ư mẹ, vẫn cứ ôm ấp
ư niệm ấy? Nếu như mẹ ông trọn chẳng bằng
ḷng cho ông tu hành, th́ [chuyện bỏ nhà đi xuất gia]
c̣n chấp nhận được! Chứ ông tu hành mẹ
rất hoan hỷ, lẽ đâu lại muốn bỏ mẹ
đi tu? Trong Phật pháp có đủ mọi công nghiệp,
Lục Độ vạn hạnh đều v́ lợi ích chúng
sanh. Ông không xuất gia sẽ có lợi ích lớn lao cho mẹ,
chỉ nội một điều này đă nên chiều theo
ḷng mẹ, sống trong cơi trần học đạo, khiến
cho mẹ hằng ngày trông thấy quen mắt, chẳng mong
mẹ tin tưởng mà mẹ tự nhiên tin tưởng,
c̣n công đức nào lớn lao hơn? Huống chi nào phải
chỉ một ḿnh mẹ [được lợi ích]?
Hơn nữa, mẹ đă không chấp
thuận, th́ về mặt đạo nghĩa, chẳng nên
nghĩ tới chuyện xuất gia nữa! V́ trong giới
luật nhà Phật, cha mẹ chẳng bằng ḷng cho con xuất
gia, ḿnh cứ tự tiện xuất gia th́ [nhà chùa] chẳng
được phép dung nạp, xuống tóc, và thọ giới
v.v… Nếu không cả thầy lẫn tṛ đều mắc
tội. Ông đă thờ Quang làm thầy, coi Quang là thiện
tri thức, tuy Quang thật chẳng phải là thiện tri
thức, nhưng chuyện trái nghịch Phật pháp quyết
chẳng dám làm. Chỉ mong ông nghe theo lời Quang, thuận
ḷng mẹ, tại gia tu hành mới nên! Cổ nhân có người
v́ tri kỷ, chẳng ngại đem thân đền đáp.
Huống chi mẹ ông đă lưu giữ ông, Quang khuyên ông:
Lẽ nào lại chống trái, cố chấp không thay đổi
ư? Phải biết: Hiếu thuận cha mẹ, phụng
sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu Thập
Thiện Nghiệp, chính là chánh nhân để văng sanh Tây
Phương. Hăy nên học đ̣i Vương Hư Trung[27],
Châu An Sĩ, Bành Xích Mộc (Bành Thiệu Thăng) ba vị
tiên sinh th́ mới chẳng thẹn là đệ tử Phật!
107. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ năm)
Chuyện trong thiên hạ đều
có nhân duyên, chuyện được thành hay chăng đều
do nhân duyên gây ra. Tuy có người làm cho chuyện ấy
thành hay bại, nhưng quyền lực thực tế là do
cái nhân trước của chính ta, chứ không do cái duyên hiện
tại. Hiểu điều này sẽ vui theo mạng trời,
chẳng oán, chẳng hận, thuận theo địa vị
mà hành, không trong hoàn cảnh nào chẳng tự tại vậy!
Riêng ông chẳng biết làm phận con, đúng lư ra phải
nghe lời cha mẹ. Thêm nữa, muốn làm học tṛ của
người ta, nên nghe theo lời thầy. Những ǵ cha mẹ
mưu tính cho con cái rất có thể không thích đáng, là v́
yêu thương sâu nặng nên có thể bị thiên lệch,
c̣n thầy đă có thể coi là bậc tri thức, trọn
chẳng đến nỗi tính toán những điều quá
sai lầm.
Sống trong cơi trần học
đạo, tu chân ngay trong cơi tục, chính là chuyện đạt
nhân danh sĩ lẫn ngu phu, ngu phụ đều có thể
làm được. Gắng sức tu tŕ, do tại gia có
đủ mọi hệ lụy, nên coi như những lời
cảnh tỉnh[28],
lâu dài sanh cái tâm chán ĺa, ngơ hầu sẽ dài lâu nuôi lớn
cái tâm ưa thích, lấy bệnh làm thuốc, biến tắc
thành thông, trên chẳng khiến mẹ phải thở than,
dưới gia đ́nh riêng của ḿnh chẳng mất
nơi nương tựa, lại c̣n khiến cho hết thảy
mọi người do cùng thấy nghe bèn được
tăng trưởng Tịnh nghiệp, c̣n vui nào bằng?
Chỉ mong ông trên là nghe theo lời
mẹ, cũng như thuận theo ḷng Quang, tùy phận tùy
duyên tự lợi, lợi tha. Bồ Tát bỏ đầu,
mắt, tủy, năo để cứu chúng sanh đói khát. Tại
gia tu hành đối với mẹ, đối với ông
đều có lợi ích lớn lao, sao lại lầm sanh chống
trái? Như ông cứ nhất quyết muốn y theo tâm hạnh
của ḿnh, làm sao Quang có thể chấp nhận như thế
được, chỉ mong hăy đem cái danh tự thầy
tṛ giả tạm thủ tiêu đi, ông cứ việc bái vị
cao tăng nào đó làm thầy, Quang hoàn toàn không hỏi
đến nữa. Ngày sau gặp gỡ như người
đi trên cùng một đường gặp nhau, đừng
giữ cái lễ thầy tṛ nữa!
Nếu không như thế th́ xin hăy
nghe theo lời tôi nói, thay Quang khuyến hóa trai gái vùng Âu Giang[29]
cùng vào Liên Tŕ Hải Hội. So với việc ông cứ muốn
làm Tăng, khiến cho mẹ chẳng vui ḷng, anh em, vợ
con đều buồn bă, người xứ Âu Giang lầm
lạc khởi lên tâm nghiệp phỉ báng Phật pháp. Lẽ
được - mất khác biệt tựa hồ một
trời, một vực, ông hăy thử nghĩ kỹ xem:
Quang v́ ông hay là hại ông vậy? Quang đă nói hết lời,
chẳng thể viết thêm một chữ thừa thăi nào nữa,
mặc ḷng ông tự tiện mà thôi!
108. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ sáu)
Một pháp nhân quả là bước
đầu để nhập môn Phật giáo, cũng là
phương sách trọng yếu để thành tâm, chánh ư,
tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ. Cuốn
sách của họ Đinh[30]
dù có sai sót, nhưng về đại thể là tốt. Chớ
v́ họ Viên thiếu đức mà cho là chẳng đáng
lưu thông. Họ Viên[31]
đă mất rồi, người biết ông ta thiếu
đức được mấy người? Nếu
như chuyện nhân quả báo ứng đập vào mắt,
thấm vào ḷng, dẫu họ Viên hèn kém cũng nên giảm
ḷng tà, giữ ḷng thành, khắc kỷ, giữ lễ, mong
chính ḿnh tránh khỏi tội lệ, vun trồng phước
đời sau, chớ v́ một lỗi mà giấu kín đi.
Hơn nữa, họ Viên lúc ban
đầu bài bác Phật, sau đọc nhiều, đọc
sâu hơn, biết đích xác nhân quả không sai chạy mảy
may, tuy chưa dứt khoát nghiên cứu sách vở nhà Phật,
nhưng xem đến những sự tích cảm ứng
đă được ghi chép th́ quả thật tâm đă vui
mừng, khâm phục Phật pháp. Sở dĩ, ông ta chưa
được như ông Bành Nhị Lâm là v́ do văn tự
chướng ngại sâu xa, lại thêm biếng nhác, trễ
năi, thành ra kết quả chỉ là gieo nhân cho tương
lai, đáng tiếc thay! Tôi cho rằng do ông Viên, ông Kỷ[32] học
rộng mà c̣n chăm chú gom soạn nhân quả báo ứng
như thế, người sau xem đến, há đâu chẳng
cảm động sâu xa ư? Nếu không muốn lưu
thông th́ thôi, c̣n muốn lưu thông hăy nên lưu thông, đừng
có nên nghĩ ngợi thái quá!
109. Trả lời
thư cư sĩ Châu Quần Tranh (thư thứ bảy)
Giảng Khởi Tín Luận rất
tốt, chỉ e ít người lănh hội được,
nên kẻ căn cơ nông cạn sẽ bị mất lợi
ích nhiều. Có lẽ nên giảng kèm pháp môn Tịnh Độ
khiến cho họ trước hết biết được
đạo trọng yếu để liễu sanh tử, lại
c̣n biết được tâm pháp trọng yếu của Phật
pháp th́ cả Lư lẫn Cơ đều được khế
hợp. Để đối chứng cấp thuốc cho
người hiện thời th́ nhân quả báo ứng là bậc
nhất, c̣n trong các pháp nên tu th́ Tịnh Độ là bậc
nhất. Nếu nghiên cứu Khởi Tín Luận th́ tuy cũng
có nhân quả Tịnh Độ, nhưng tri kiến phàm phu
không thể lănh hội trọn vẹn nghĩa lư, lại
c̣n chẳng thể nương theo luận ấy để
khởi tu, chỉ hiểu được ư nghĩa mà thôi!
Bất luận căn tánh nào, không thể không trước
hết nghiên cứu nhân quả, Tịnh Độ; c̣n về
giáo tướng th́ cũng phải chọn người mà
thí, bởi lẽ học tṛ mỗi người có chuyện
phải học riêng, Phật học chỉ là chuyện kèm
thêm. Nếu người căn cơ thiên tánh cạn cợt
lại chuyên chú vào giáo tướng, rất có thể sẽ
quăng Tịnh Độ ra sau ót, đến nỗi thành
ra kết quả “có nhân mà không có quả”! Đấy là lập
cách chẳng phù hợp căn cơ vậy.
Nay trong những kẻ tôn sùng
Tướng tông, thói tệ ấy cũng giống như thế.
Chuyện họ đề xướng chẳng thật sự
v́ liễu sanh tử mà chỉ v́ thông suốt Lư Tánh để
thuyết giảng mà thôi! Nếu như họ biết
được nỗi khó khăn của việc dùng Tự
Lực để liễu sanh tử, quyết sẽ chẳng
chịu dốc sức nơi chuyện ấy, bỏ qua Tịnh
Độ không hỏi đến! Nếu kẻ nào chê bai
th́ kẻ ấy đều thuộc hạng ham cao chuộng
thù thắng, chẳng biết duyên do của sự cao, sự
thù thắng. Nếu thật sự biết th́ dù có giết
họ, họ cũng chẳng chịu gác bỏ Tịnh
Độ không dốc sức tu! Thật là học đạo
khó khăn thay! Chí của sư Hoằng Nhất chỉ có
ḿnh ngài Hoằng Nhất biết rơ. Nếu chẳng đại
tinh tấn, tâm sanh tử không khẩn thiết sẽ thành hạng
biếng nhác, bê trễ.
Tăng nhân ngày nay thật khó khiến
cho người ta tin tưởng, nhưng đă truy điệu
Tăng nhân, há nên phỉ báng Tăng nhân. Nếu nêu lên những
điều thiện, răn dè những điều bất
thiện th́ không mắc lỗi ǵ. Nhưng nếu đă dự
vào hàng học tṛ người ta, th́ chuyện chỉ trích
cũng nên im lặng. Chuyện ấy chỉ có người
đức cao trọng vọng mới có thể tiến
hành, không phải là chuyện hàng chim non miệng vàng nên làm.
Những kinh hư rách không thể
tu bổ được th́ đốt đi cũng không
sao! Nếu c̣n xem được, c̣n có thể tu bổ
được th́ chẳng nên thiêu. Nếu chẳng biết
lẽ biến thông, cứ một mực không dám thiêu, kinh ấy
rốt cuộc chẳng thể xem, mà cũng không được
cất giữ như kinh tốt, thành ra khinh nhờn, lại
c̣n tạo thành cái lỗi khinh nhờn cho người đời
sau vậy, há có nên chẳng biết quyền biến ư? Quang
thường nói: “Nhân quả là
phương tiện lớn lao để thánh nhân thế
gian lẫn xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, độ
thoát chúng sanh”. Lúc này nếu chẳng coi nhân quả là nhiệm
vụ cấp bách để cứu nước cứu dân
th́ dù ông trí xảo, đạo đức cao siêu đến
đâu cũng chỉ uổng công, bởi lẽ chẳng giảng
đạo lư cũng như không có vương pháp vậy!
110. Trả lời
thư cư sĩ Hồng Quán Lạc
Thánh hiền xưa kia không ai chẳng
dè dặt, kinh sợ tự tu tŕ; v́ thế, tâm họ chẳng
bị phú quư, cùng - thông xoay chuyển. Nếu bần cùng th́
riêng một thân ḿnh thiện, c̣n hiển đạt sẽ
kiêm làm điều lành cho thiên hạ. Người đời
nay trong cách cư xử, nói năng hằng ngày, giữa cha
con, anh em, vợ chồng với nhau c̣n chẳng thể mỗi
mỗi đều đúng pháp. Có chút tri kiến liền lầm
lạc mong thành bậc cao nhân lỗi lạc; nếu
chưa có quyền lực bèn mặc t́nh cuồng vọng biện
luận mù quáng lừa đời dối dân. Khi đă có
địa vị bèn phô bày ác niệm bạo ngược của
chính ḿnh rối nước hại dân. Cái gốc bệnh là
do lúc ban đầu cha mẹ, thầy bạn kẻ ấy
chưa từng đem cái đạo nhân quả báo ứng
ra dạy dỗ cho kẻ đó. Nếu hắn biết chút
ít về nhân quả báo ứng th́ khởi tâm động niệm
ắt sẽ có chỗ kiêng sợ, chẳng dám phóng túng. Dẫu
chẳng mong thành thánh thành hiền, cũng vẫn dè dặt,
kiêng sợ như rớt xuống vực sâu, như đi
trên băng mỏng, không thể không như vậy
được. Do vậy, kẻ có thiên tư cao lại
càng phải bắt tay từ chỗ thiển cận, đừng
thấy điều thiện nhỏ bèn không làm, đừng
cho là điều ác nhỏ rồi cứ làm. Lúc nhỏ huân
tập thành tánh, như cây lúc nhỏ đă mọc ngay thẳng,
đến khi lớn, muốn cho nó cong vẹo cũng không
thể nào được!
111.
Trả lời thư cư sĩ Uông Cốc Nhân
Chân cảnh có
hạn lượng, do không biết hai chữ “chân
cảnh” nên tính toán lầm lạc. Thế giới không đồng - dị,
chỉ bậc đă viên chứng Tịch Quang mới thấy
được như thế. Sanh tử và Niết Bàn cùng một
nguồn, nhưng do mê - ngộ khác biệt nên mới có trói
buộc và giải thoát sai khác. Chân và vọng vốn không hai
thể, nhưng mê chân thành vọng, nên chỉ thấy
được vọng, chẳng thấy được
chân. Nếu hỏi v́ sao thành ra như thế, xin hăy tự
tham cứu nơi chính ḿnh. Đến khi nào thấy ngay cả
chính ḿnh cũng chẳng thể được th́ sẽ tự
biết. Như người uống nước, lạnh - nóng
tự hay. Nếu hướng về người khác hỏi
han ḥng biết rơ, dù người khác nói rất rành rẽ,
cũng giống như nghe nói về bánh, chính
ḿnh làm sao biết được mùi vị, dứt cơn
đói khát cho được?
Toàn thể
chân biến thành vọng, há hỏi bản thể của
cái chân nếu
có th́ có ở chỗ nào? Nếu toàn thể
vọng biến thành chân, há có thể hỏi tướng vọng
vốn không, cái không ấy đi về đâu? Những kẻ
hỏi như vậy chẳng gọi là người trí. Dẫu
Phật ngữ như sấm, nhưng tâm đầy nghiệp
chướng th́ làm sao đây? Nếu thật sự thông
đạt Nhất Thừa th́ Tứ Đại đều
mất bổn tánh, sáu căn thảy đều dùng lẫn
cho nhau. Lư Thể như thế nói có vẻ dễ, chứng
được thật khó. Xưa kia may ra c̣n có người
chứng đắc, chứ hiện thời toàn là những
kẻ ham cao chuộng xa, chẳng trọng thật tu, toàn
là những kẻ hư vọng, vờ vịt bàn xằng
Bát Nhă. Xin hăy đọc kỹ Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm, cùng cầu văng sanh với những vị Đẳng
Giác Bồ Tát đă chứng ngang bằng với Phật, ấy
chính là điều Quang tôi mong mỏi sâu xa. Nếu không, ai
giữ chí nấy, chẳng cần phải thương
lượng nữa!
112.
Trả lời thư cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ
nhất)
Người
chưa thọ giới chẳng được xem Luật
Tạng:
1) Một là v́
sợ kẻ chưa hiểu lư sâu, trông thấy hành vi của
những người phạm giới cấm, chẳng biết
là bậc Đại Quyền Bồ Tát thị hiện, v́
mong Phật chế giới ḥng lợi lạc cho đời
sau, bèn hiện tướng chẳng như pháp để Phật
có dịp chế lập giới, nêu khuôn phép. Do chẳng hiểu
lư này, chỉ căn cứ vào những hành vi trước mắt,
cho là khi Như Lai tại thế, các đệ tử Phật
phần nhiều chẳng như pháp. Từ đấy, khởi
lên tà kiến miệt thị Tăng chúng, tội đó chẳng
nhỏ.
2) Hai là những chuyện trong Luật
Tạng chỉ Tăng được biết, nếu
để kẻ chưa phải là Tăng đọc
được, rất có thể có kẻ ngoại đạo
giả vờ dự vào hàng tỳ-kheo, làm chuyện sai pháp,
vu báng Phật pháp th́ hại chẳng nhỏ.
Do vậy, nghiêm cấm như thế
là để dự pḥng. C̣n như kẻ hảo tâm hộ
pháp, giảo chánh, lưu thông, há có nên cứ tuân theo thường
lệ chăng? Nếu chấp chặt vào lời ấy th́
Luật phải do Tăng chép, Tăng khắc, Tăng in,
Tăng truyền mới khỏi trái nghịch cấm chế
của Phật. Vạn sự trong thiên hạ đều có
lư nhất định, làm điều ǵ phải thuận
theo cái lư nhất định, nhưng cách thực hiện
th́ phải tuân theo cái đạo thích nghi thời tiết,
nhân duyên. Lư khế hợp với Quyền, pháp phù hợp
cùng đạo mới nên. Trong Luật ắt có những
đoạn văn nói rơ [điều ấy], Quang mắt mờ
chẳng thể xem trọn. Bộ Tỳ Ni Tập Yếu
của ngài Ngẫu Ích cũng nhắc đến nghĩa lư
này, ông cũng không cần phải kiểm lại.
Nếu đă không vướng vào
những lỗi như: không phải người hiểu lư
sâu xa, chỉ biết căn cứ vào chuyện trước
mắt, muốn biết chuyện cơ mật trong Phật
pháp, hoặc muốn giả vờ dự vào chúng tỳ-kheo
v.v… th́ cứ thanh thản yên tâm giảo chánh, lưu thông.
Công đức ấy vô lượng vô biên, cần ǵ phải
lo nghĩ quá? Nhưng phải im lặng, chẳng được
đem những sự tướng chép trong Luật tuyên nói
cho kẻ vô tri vô thức, cũng như trích đăng bừa
băi trong những văn tập tầm thường, khiến
kẻ vô tri lầm lạc tạo khẩu nghiệp. Lư thế
gian hay xuất thế gian về lư đều nhất định,
nhưng pháp không nhất định. Lớn như chuyện
giữ nước yên đời, nhỏ như một miếng
ăn hớp uống không chuyện ǵ chẳng như vậy.
Sao lại riêng chấp khăng khăng nơi Luật Tạng?
113. Thư gởi
cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ hai)
Trước kia tôi ở
Dương Châu, biết thái phu nhân mắc bệnh, các hạ
phải trở về đất Thân (Thượng Hải)
để chăm sóc. Tôi cho rằng bà cụ đă ngoài bảy
mươi, Tịnh nghiệp đă thuần, rất có thể
là v́ muốn răn nhắc những người đồng
hàng nên dùng đại sự Tây quy để nhân đó họ
được tỉnh ngộ đó chăng? Cho đến
ngày mồng Bốn tháng Chín, Quang đến đất Thân,
hôm sau gặp Vân Lôi, cho biết thái phu nhân thân thể đă
mạnh khỏe, các hạ cũng đă quay lại Bắc
Kinh mấy ngày rồi! Khôn ngăn mừng rỡ vô cùng! Ai ngờ
thái phu nhân rốt cuộc chẳng muốn trụ lâu trong
thế giới này, dùng chính thân ḿnh thuyết pháp, chỉ muốn
cho hết thảy thân bằng quyến thuộc đều
biết tướng thế gian vô thường, hễ sanh ắt
có tử, dốc sức tu Tịnh nghiệp, cầu mau
được thoát khỏi đời ác ngũ trược
này, chứng triệt để thiên chân Phật tánh chúng ta
vốn sẵn có mới thôi! Có thể nói thật là đại
từ bi, hiện thân thuyết pháp vậy!
Nhận được tin từ
Vân Lôi, tâm tôi rất bi thương; kế đó nghĩ thái
phu nhân quả thật muốn cho chúng ta khỏi chịu khổ
luân hồi, nên mới thị hiện đến - đi.
Điều đáng bi thương chỉ là ông mất
nơi nương cậy, mất đi mẹ hiền mà
thôi. Tuy vậy, thần thức cụ đă siêu về tịnh
vực, nghiệp trả lại trần lao, sen chín phẩm
nở hoa, Phật thọ kư ngay trong một đời. Do
các hạ thiên nhăn chưa mở, chẳng thể thấy thấu
suốt, xét về phần được thái phu nhân chở
che, cố nhiên tơ hào chẳng cách, nhưng đă thành chuyện
dĩ văng rồi! Xin ông bớt buồn, lấy chuyện niệm
Phật ngơ hầu phẩm sen của cụ được
cao thêm, mau chứng Vô Sanh làm trọng. Quyết chớ nên
quá bi thương, đến nỗi hai bên đều vô
ích. Quang may chẳng bị ghét bỏ, được dự
vào hàng bè bạn của ông, pháp lẫn tài đều nghèo,
biết lấy chi làm lễ, chỉ đành vào lúc sáng tối
lễ tụng, v́ thái phu nhân hồi hướng Bồ
Đề, để tận t́nh bạn bè phương ngoại[33] mà
thôi.
114. Thư gởi
cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ ba)
Hôm qua nhận được
thư cùng thiệp báo tin buồn, đọc xong, khôn
ngăn buồn than khôn xiết. Phàm chư Phật, Bồ
Tát, Pháp Thân đại sĩ nghĩ thương chúng sanh, thị
hiện sanh trong thế gian, ḥa quang đồng sự[34]
dùng hạnh giáo hóa, khiến cho dù nam, dù nữ, hoặc quốc
vương, đại thần, phi hậu, đại gia,
và những kẻ bần cùng hạ tiện trông thấy đều
được cảm hóa, phát khởi, bất cứ
đâu, bất cứ ai đều được nhập
vào Nhất Thừa viên diệu, sâu xa mà chẳng tự biết.
Như thế th́ pháp đạo lưu thông, như Xuân về
trên lănh thổ của vua Vũ, mặt nhật rạng ngời
trời Nghiêu, không chỗ nào, không một ai chẳng
được hưởng quang minh, được thấm
nhuần nuôi dưỡng. Xét việc làm của cả một
đời thái phu nhân và t́nh h́nh khi lâm chung, trước
đây Quang đă từng bảo bà cụ là bậc thừa
nguyện thị hiện, mang thân phận nữ nhân mà thuyết
pháp, luận như vậy là đích xác nhất.
Quang uổng mang thân nam, lạm chen
vào Tăng chúng, bốn mươi năm qua chẳng
được mảy may lợi ích ǵ nơi pháp môn cả.
Đọc thấy thái phu nhân sốt sắng lưu thông
Đại Tạng, khắc in những sách khế lư khế
cơ, thẹn đến chết được! Sáng chiều
lễ tụng hồi hướng chỉ để giăi bày
tấm ḷng thành của tôi, c̣n mong thái phu nhân từ mẫn,
dẫn thánh chúng của Phật Di Đà mau đến độ
tôi, sao có thể nói là tôi làm pháp thí cho cụ bà được?
Nhưng tôi chẳng ngại nhờ vào duyên sự này để
tăng trưởng cái tâm tự lợi, lợi tha. Do vậy,
hàng phàm phu sát đất, trong lúc lễ tụng c̣n v́ chư
Phật hồi hướng, huống chi những vị thị
hiện địa vị phàm phu th́ về mặt Lư nào có ngại
ǵ?
Trong thời gian làm thất và trong
hết thảy lúc, hết thảy sự, đều nên lấy
niệm Phật làm chánh, chứ nào phải chỉ trong lúc
chưa đưa đám! Do hiện nay, đa số Tăng
lười nhác, người không biết tụng kinh th́ nhiều,
mà Tăng lại đọc nhanh như nước chảy,
người khác dù có biết tụng kinh nhưng không thuộc
cũng chẳng thể niệm theo. Dẫu có mười mấy
người, số người niệm theo chẳng
được mấy. Chỉ có niệm Phật th́ ngoại
trừ những kẻ không phát tâm ra, chắc chắn không
có cái tệ chẳng niệm theo. Lại dù họ chẳng
chịu niệm, nhưng một câu Phật hiệu đă lọt
qua tai vào tâm th́ tự được lợi chẳng cạn.
Đấy chính là lư do Quang tuyệt chẳng đề
xướng làm các đạo tràng khác.
Người đang lúc lâm chung, chỉ
đồng thanh niệm Phật hiệu là có ích. Nếu thức
tâm [của người sắp mất] chưa rời khỏi
[xác thân] th́ tắm rửa, cất tiếng khóc v.v… đều
gây trở ngại lớn. Do vậy, người tu Tịnh
nghiệp trong lúc b́nh thời phải thuật rơ duyên do cùng
thân quyến ngơ hầu họ chẳng đặt ḷng yêu
thương sai chỗ. Nếu là người có sức lớn
lao, là bậc cao sĩ lỗi lạc, ắt sẽ chẳng
sợ bị những thứ ấy gây vướng mắc.
Bởi lẽ, những vị ấy phước đức
sâu dầy, ngay trong lúc uế nghiệp đă diệt, tịnh
cảnh hiện tiền, liền ngay trong lúc ấy, những
ǵ họ thấy họ nghe đă không c̣n thuộc vào thế
gian này nữa!
Thái phu nhân vốn đă chẳng phải
hạng tầm thường; v́ thế chẳng nên theo lệ
thường. Bà cụ ắt văng sanh, phẩm vị ắt
chẳng thuộc vào Trung, Hạ, nhưng Phật pháp rộng
sâu, chỉ khi nào thành Phật rồi mới có thể buông
tay, muốn quyết định được văng sanh, quả
thật chẳng ngại ǵ khẩn thiết niệm Phật,
thường hành truy tiến[35],
tức là như kinh Phật thường nói: “Tuy biết tội tánh vốn
không, nhưng thường hối tội trước, chẳng
nói ḿnh đă được thanh tịnh”. Ngài Liên Tŕ
cũng nói: “Trong năm, thường
nên truy tiến tiên vong[36] chẳng
được bảo họ đă được giải
thoát nên chẳng cử hành”.
Phải biết niệm Phật, tụng
kinh tuy nói là để cầu siêu cho người thân,
nhưng thật ra là để cho quyến thuộc hiện
tiền tự biết, khai tâm địa, trồng thiện
căn, và đem tất cả công đức cầu siêu cho
người thân để hồi hướng cho hết thảy
chúng sanh trong pháp giới, ḥng mở rộng tâm lượng
của ḿnh lẫn người, của kẻ c̣n, người
mất, nhằm tiêu diệt những chấp trước
trở ngại c̣n - mất của ḿnh lẫn người.
C̣n như không lấy ḷng thành làm chánh, chỉ cốt xa hoa,
bày vẽ, phô trương với người th́ đúng là
dùng đám tang cha mẹ để bày tṛ náo nhiệt, chẳng
phải là điều kẻ làm con nên làm. Các hạ thông hiểu
Phật pháp sâu xa, quyết chẳng đến nỗi
như thế, chỉ e quyến thuộc, người quen
bị ảnh hưởng bởi những thói ưa thích xa
hoa của những nhà giàu có gần đây, nên tôi chẳng
ngại nhắc nhở các hạ, ngơ hầu ngăn chặn
những tâm trái pháp, trái lư, xu thời vậy.
115. Thư gởi
cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ tư)
Hôm trước, Vân Lôi gởi
đến cuốn Kim Cang Liễu Nghĩa của Vô Y đạo
nhân, đọc xong, biết Phật học của các hạ
đến nay cũng sâu xa lắm, khôn ngăn cảm phục.
Mạnh Do gởi đến cuốn Nhất Hạnh Cư
Tập, tôi thấy chữ cũng nhỏ quá, không thể dùng
để in lâu được[37],
đấy chính là điều nhà khắc kinh ở Bắc
Kinh chưa nghĩ đến. Bản để in kinh sách
nên khắc chữ thật to, bản in hiện thời nhỏ
quá, chẳng thể chiếu theo cách ấy, nhưng cũng
nên phỏng theo cách thức ở Dương Châu, Nam Kinh.
Mong ông hăy gởi thư đến người trông coi, nhắc
đến nguyên do, sao cho cứ một bức gỗ khắc
in được cả mấy ngàn cuốn, lợi ích rất
lớn.
Thêm nữa, Nhất Hạnh Cư
Tập cả văn lẫn lư đều hay, chỉ có phần
Bạt, nói về Thiền Tông Bí Mật Liễu Nghĩa
Kinh quả là trong đề-hồ có lẫn chất độc.
Bản kinh ấy do đàn cầu cơ mà có, toàn nhặt nhạnh
những câu trong Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Viên Giác
cũng như Lục Tổ Đàn Kinh gộp thành, và gom góp
những đoạn văn trong các Ngữ Lục Thiền,
Tịnh. Bậc đại thông gia xem đến cố nhiên
là hữu ích, nhưng người không đầy đủ
con mắt [trí huệ] sẽ cho rằng kinh này từ
đàn cầu cơ mà có, do chính miệng vàng nói ra. Từ
đó, sẽ bảo những kinh có được từ
đàn cầu cơ đều là kinh Phật. Xưa kia có kẻ
nhắm mắt tụng ra kinh, nhưng những kinh ấy
đều chẳng được lưu thông, v́ sợ rằng
sẽ tạo thành đầu mối bịa đặt vậy!
Nhân Hiếu hoàng hậu thời Minh mộng cảm
được kinh[38],
nghĩa lư lợi ích đều chẳng thể nghĩ bàn,
nhưng trong bộ Duyệt Tạng Tri Tân, Linh Phong lăo nhân xếp
kinh ấy vào loại nghi ngụy[39].
Đầu đời Thanh kinh này cũng được khắc
in, nhập tạng; nhưng sau đời Cao Tông (Càn Long)
bèn bỏ ra để pḥng chuyện ngụy lạm. Nhị
Lâm kiến địa thật cao, cớ sao chẳng
nghĩ đến điều ấy! Ở chùa Pháp Vũ
trước kia cũng có một bản, Quang đă đốt
đi để ngăn mối họa, đối với bậc
tri kỷ pháp môn chẳng ngại ǵ dài ḍng một phen.
Hiện thời, nước cùng quẫn,
dân khốn khó đă đến mức cực điểm,
cái nạn hút thuốc phiện đă dính đến tận
xương, chưa thể trừ được, cũng
là một mối lo nghĩ lớn cho những ai nặng
ḷng trách nhiệm với thế đạo dân sinh. Mùa Hạ
năm nay có người bạn từ Cáp Nhĩ Tân[40]
đến, cho biết nơi ông ta cấm thuốc phiện
rất ngặt, cũng có hai ba người bạn muốn
cai thuốc nhưng khổ v́ không có phương thuốc
hay. Trước kia, Quang nghe nói ông Trần Tích Châu có bài thuốc
cai thuốc phiện linh nghiệm phi thường, trước
nay chưa hề có. Đến khi ông ta lên núi thăm tôi, bèn
bảo ông ta viết ra gởi đi, lại c̣n chép lại
một bản giao cho phó tự của chùa ḿnh bảo phân
phát cho người khác, v́ ông ấy đă từng đến
làm việc trong Thương Vụ, giao du ắt phải rộng,
chỉ mong bài thuốc ấy được phổ biến
lưu truyền. Giữa tháng 11, từ Cáp Nhĩ Tân có thư
gởi đến, nói bài thuốc do Quang gởi cho linh nghiệm
phi thường, xin thay mặt cho những bạn bè đă
cai được thuốc hết sức cảm tạ.
Khôn ngăn hoan hỷ!
Nhân đó tôi hỏi thăm vị
phó tự của chùa ḿnh, ông cho biết vợ của ông
Uông Thiềm Thanh (bạn
của ông ta), do bị khí thống nên hút thuốc phiện, về
sau muốn cai, liền mua thuốc viên bán ngoài chợ về
uống, nhưng trọn chẳng dứt tận gốc
được. Nếu chẳng uống thuốc th́ cơn
thèm thuốc phiện lẫn bệnh khí thống cùng nổi
lên, được phương thuốc này uống một
liều liền khỏi, hai chứng ghiền thuốc và
khí thống đều hết sạch! Con ông ta mở tiệm
thuốc Uông Lư Tế Đường, sanh ḷng cảm kích lớn
lao, in bài thuốc ấy tặng cho người, và theo toa
chế thành thuốc viên, thuốc nước ḥng giúp
người, bán ở các tiệm thuốc của ḿnh. Quang liền
yêu cầu in ra hai trăm tờ bài thuốc này, để hễ
gởi thư cho những tri giao xa gần đều gởi
kèm một toa. Người có sức sẽ in ra lưu truyền
rộng răi.
Trộm nghĩ các hạ và Vân Lôi
đều là những người có tâm làm lợi cho
người khác, hăy nên đem toa thuốc này đăng lâu
dài trên báo để khắp cơi đời đều biết
đến th́ công đức vô lượng vậy. Tôi
đă bàn với Vân Lôi sẽ bỏ ra một nửa tiền
đăng báo. Khoản phí tổn ấy nên kiếm dăm
ba người có ḷng với thế đạo chia sẻ
th́ sự việc ắt sẽ tiến hành được,
đối với ṭa báo, đối với chính ḿnh đều
không trở ngại ǵ. Nếu ai muốn cai thuốc liền
có thể nhanh chóng thoát khỏi nỗi khổ ấy,
đây cũng là một đầu mối để cứu
nước cứu dân vậy! Đối với các xứ
Quảng Đông, Vân Nam, Quang đều gởi kèm bài thuốc
ấy theo Văn Sao, bảo họ in bài thuốc ấy ra
phổ biến truyền bá. Lúc gởi cho người bạn
ở Cáp Nhĩ Tân trước kia, cũng bảo ông ta kiếm
dăm ba người có tài lực chịu lợi người
bỏ tiền ra đăng báo suốt năm trên hai tờ
báo ở nơi đó, ngơ hầu người nơi ấy
và người chung quanh đều biết đến. Nay
đă tự đạt được sự hiệu nghiệm,
ắt phải nên thường đăng báo. Người
thật sự tu đạo, sao lại xen vào chuyện
người khác? Nhưng toàn thân chưa thể buông xuống,
cắt đứt muôn duyên th́ chẳng ngại ǵ vun bồi
tâm địa, ngơ hầu cứu vớt phần nào (Bài thuốc được in kèm
ở cuối tập)
116. Thư gởi
cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ năm)
Cư sĩ Vương Hoằng
Nguyện tuy sùng tín Mật Tông, khá có hiệu nghiệm[41],
nhưng lúc đầu do nhận lầm tin tức[42]
nên mới mắc lỗi chưa đắc đă bảo là
đắc; về sau, do đọc nhiều giáo điển
mới biết ḿnh sai lầm. Lại thêm hiện thời tuy
công phu đắc lực nhưng hư hỏa bốc lên,
không cách nào trị được. Do hai điều này,
Quang nhận định rằng một pháp Mật Tông chẳng
thể độ khắp ba căn, chẳng bằng Tịnh
Độ ngàn vạn phần ổn thỏa, thích đáng,
có thể nói là ông ta xưa đă có linh căn, kiến địa
cao siêu, mà c̣n hiểu lầm cũng như mắc bệnh
chẳng biết đối trị th́ biết: Người
đời do chẳng bằng ông ta sẽ thành ra như thế
nào rồi!
Ông ta cho là Mật Tông vượt trội
Hiển Giáo, dẫn đủ mọi ngôn luận để
biện bác, nhưng Phật không hai tâm, cũng không hai pháp,
muốn đề cao Mật Tông nhưng chỉ luận về
những chỗ cao siêu của Mật Tông, bởi xét về
mặt chứng đắc th́ chỗ mầu nhiệm của
Mật Tông và chỗ mầu nhiệm của Hiển Giáo giống
như nhau, dù có muốn suy tôn th́ thật ra vẫn ngang
như nhau. Lời luận của ông ta là ước theo
giáo pháp, bỏ sót căn cơ; Quang ước theo chỗ lợi
ích cho từng căn cơ mà luận giáo. Bởi khế lư
nhưng chẳng khế cơ th́ không thể cảm ứng
đạo giao, nghĩa là thuyết pháp chẳng hợp với
căn cơ th́ chỉ thành lời nói xuông, đại ư là
như vậy. Những ǵ Quang nói đa số là lập
đi lập lại, lại thêm mục lực chẳng
đủ, những thư từ nói chung không giữ lại
bản nháp.
Hai câu nói: “Một vị bao gồm hết thảy vị, từ
cạn đến sâu, hành tướng vẫn phải luôn
rơ ràng như thế. Viên dung chẳng trở ngại ǵ
đến việc bố thí” rất thích đáng. Bởi
lẽ viên dung chính là viên dung nơi việc hành bố thí. Nếu
không hành bố thí sao nói là viên dung được? Hành bố
thí chính là hành bố thí nơi viên dung, nếu không viên dung
th́ sự bố thí ấy sẽ thành sanh diệt, bèn thuộc
đế lư Tiểu Thừa, chẳng phải là cái đạo
“bao gồm nhân, thấu triệt quả”!
117. Thư gởi
cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ sáu)
Nhận được thư và bản
Quán Kinh Nghĩa Sớ của Gia Tường đại
sư, duyệt kỹ một lần nữa, văn
chương của bản chú sớ ấy quả thật
khiến người đọc rối ren. Một câu nói
đi nói lại nhiều lần, ư nghĩa hàm hồ, lại
chỉ chú trọng giải thích danh nghĩa, trước
đă không giảng tường tận duyên do, sau lại chẳng
kết về chỗ quy túc. Quang phỏng đoán bản chú
sớ chưa chắc đă do chính Gia Tường[43]
đại sư viết, có lẽ là do bọn người
Nhật Bản cả tin mạo danh đại sư soạn
ra. Nếu không, dẫu bị sao chép sai ngoa, cũng chẳng
đến nỗi toàn bộ không thành văn lư, tạp nhạp,
lụn vụn, trọn chẳng hiển thị được
đại nghĩa. Như đoạn văn “núi Tu Di cao vượt khỏi biển
cả, tám thứ gió thổi chẳng động, dẫu
khiến cho tốt đẹp lại thêm trang nghiêm, vẫn
chẳng thể dời động một chữ” thật
đáng nghi. Thập Nhất Diện Sớ[44]
cũng thế! Bọn họ hâm mộ tên tuổi của bậc
cao nhân nước ta, bèn xằng bậy viết sách [mạo
danh], chẳng biết chính ḿnh chẳng phải là cao nhân, dù
có mạo danh th́ cũng chẳng mạo danh được!
Thêm nữa, gần đây ở Bắc
Kinh in sách dùng loại giấy Mao Biên, giấy này hiện giờ
trông thấy khá tốt, nhưng để lâu bèn bị gịn
vụn. Lúc Quang ở Bắc Kinh, thấy những cuốn
sách đă hơn trăm năm, giấy đều đă
gịn vụn, kẻ thô tâm giở xem, sẽ bị vỡ nát.
Tâm tôi đă trộm ngờ, nhưng chẳng biết nguyên
do. Năm Quang Tự thứ 31 (1905), hỏi tiên sinh
[Dương] Nhân Sơn, ông nói: “Do bị muội than hun”. Thuyết
ấy tuy hữu lư nhưng cũng chưa thể dứt
ḷng ngờ, bởi sách được cất giữ nhiều,
há đều cất ở những chỗ có muội than
ư? Ở Hồng Loa[45]
không có than, sách cũng bị gịn, mới biết tiên sinh nói
ra lời ấy cũng chỉ là nghĩ ra lư do, chứ
chưa phải căn cứ vào thực nghiệm.
Cho đến năm ngoái, vào Tàng
Kinh Viện, cùng một vị chuyên làm sách già đời bàn
về tánh chất của giấy; nhân đó nhắc đến
chuyện sách cũ ở Bắc Kinh đều bị gịn gẫy,
ông cho biết: “V́ in bằng loại giấy Mao Biên! Giấy
Mao Biên lúc mới cảm thấy rất dày cứng, kiên cố,
do dùng chất liệu bằng cỏ nhiều, chất liệu
tre ít, nên để lâu ngày bèn bị gịn. Chất giấy Mao
Thái, Trọng Thái không dày chắc như giấy Mao Biên,
nhưng để lâu không bị biến chất. Người
ngoài nghề thường cho giấy Mao Biên là tốt, những
người in sách chúng tôi cũng thích in sách bằng giấy
Mao Biên, bởi nó cứng cáp dễ in. Thật ra giấy Mao
Thái, Trọng Thái để được lâu hơn”.
Quang nghe xong, tâm nghi dứt sạch.
118. Thư gởi
cư sĩ Từ Úy Như (thư thứ bảy)
Quán Kinh Sớ thích văn thích
nghĩa hết sức thiếu sót, qua loa; việc phân khoa
ba bốn lượt nhắc đi nhắc lại, thật
là dở tệ vô cùng. Nay các hạ cũng biết sách ấy
là ngụy tạo, có lẽ nên bảo người phát tâm ngừng
việc in khắc để Gia Tường đại
sư khỏi bị vu oan. Phàm lưu thông chú sớ của
cổ nhân cần phải lấy tiêu chuẩn chọn lựa
là “chọn những bản mà nghĩa lư văn tự khải
phát ḷng người, phô bày triệt để ư nghĩa kinh”.
C̣n những sớ văn như cuốn này khắc in có ích
ǵ? Dù bảo Quang tu chỉnh cũng không khá hơn được!
Nếu sửa chữa quá nhiều sẽ thành ra một
trước tác khác, chẳng thể gọi là tu chỉnh
được. Huống chi các bộ sớ của ngài
Thiên Thai, Thiện Đạo đă được lưu
thông khắp pháp giới, sao chẳng tiếc tiền của
đem làm chuyện vô ích này? Đem những bản tốt
đẹp lưu thông th́ sẽ làm rạng rỡ cổ
nhân, tạo ích lợi cho hậu học. Nếu chẳng
xét chân - ngụy, đều cùng lưu thông hết sẽ
khiến cổ nhân bị vu hăm, hàng hậu học nhọc
ḷng phiền trí, trọn chẳng ích lợi ǵ! Mong hăy nói
cùng ông đó. Năm trước, Quang thấy bản sớ
giải kinh Thập Nhất Diện cũng là ngụy tạo,
nhưng chưa bàn luận rơ ràng. Những loại sách
như thế đừng lưu thông th́ mới nên!
119. Thư gởi
cư sĩ Đinh Phước Bảo
Gần đây, hàng sĩ đại
phu đa số có kiến giải hẹp ḥi, câu nệ, có
người nếu đem chuyện nhân quả báo ứng
sanh tử luân hồi nói với họ, sẽ bảo: “Những
chuyện do dă sử, tiểu thuyết vụn vặt bịa
đặt ra, há đáng tin tưởng được!” Hạng
người ấy đă từng đọc kinh, duyệt sử,
tuy thấy những sự tích ấy nhưng chẳng hiểu
được duyên do, nên mới có cái nh́n hạn hẹp,
câu nệ như vậy. Cư sĩ đem những chuyện
nhân quả báo ứng sanh tử luân hồi trong lịch sử
biên soạn lại, trên là Lân Kinh[46],
dưới là Minh Sử, những sự tích rành rành có thể
khảo chứng được. Những kẻ câu nệ
hẹp ḥi kia đọc đến ắt sẽ câm họng
chẳng dám bảo là chuyện bịa không có căn cứ
được nữa!
C̣n như chuyện học Phật
th́ phải trọn vẹn đạo làm người mới
ḥng tiến vào được. Nếu đối với những
chuyện hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm,
sỉ không thực hiện một điều nào, dẫu
có suốt ngày thờ Phật, Phật cũng chẳng thể
nào gia hộ được! Ấy là v́ Phật pháp bao trùm
hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian. Do vậy,
với cha nói đến từ, với con nói hiếu, thảy
đều cho ai nấy tận hết đạo làm người,
rồi sau đấy mới tu pháp xuất thế. Ví
như muốn xây lầu cao vạn trượng, trước
hết phải đắp vững nền móng, khai thông
đường nước th́ lầu cao vạn trượng
mới xây dần lên được, lại c̣n vĩnh cửu
chẳng hư hoại. Nếu như nền móng không chắc,
ắt đến nỗi chưa xây xong đă sụp. Sách Luận
Ngữ nói: “Tuyển trung thần
nơi nhà hiếu tử”, người học Phật
cũng phải như thế. Xưa kia, ông Bạch Cư Dị
hỏi Ô Khoa thiền sư[47]: “Thế nào là đại ư Phật
pháp?” Sư nói: “Đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Muốn
học Phật pháp, trước hết phải khắc kỷ,
cẩn thận, dè dặt, sự sự đều phải
từ tâm địa chân thật mà làm. Người như
thế đáng gọi là đệ tử thật sự của
Phật. Nếu tâm gian ác mà muốn nhờ vào Phật pháp
để khỏi tội nghiệp th́ có khác ǵ trước
hết uống thuốc độc rồi lại uống
thuốc tốt lành để thân thể nhẹ nhàng, khỏe
mạnh, há có sống thọ được ư?
Bộ sách thực nghiệm quả
đă phá được cái tệ ấy, lưu thông trong
đời lợi ích lớn lao. Lại nữa, ông Bành Hy Tốc[48] ở
Tô Châu từng soạn cuốn Nhị Thập Nhị Sử
Cảm Ứng Lục trích tuyển hơn một trăm tám
mươi điều liên quan đến sự thật
nhân quả trong lịch sử, không biết các hạ đă
có cuốn sách ấy hay chưa? Nếu có, hăy nên in ra để
mở rộng tầm mắt cho bọn câu nệ, hẹp
ḥi. Hơn nữa, hai mươi bốn bộ sử[49]
ghi chép rất nhiều chuyện lạ, cư sĩ đọc
rộng không sót, hăy nên đem những chuyện phàm t́nh không
thể thấu hiểu được, giống như những
chuyện đă được nêu lên trong phần sau bộ
Dục Hải Hồi Cuồng và những chuyện nhân quả
luân hồi chép hết soạn thành một bộ sách để
giúp cho việc trị quốc an dân, liễu sanh thoát tử
th́ công đức ấy lớn lắm. Chẳng biết
ông có chịu thỏa măn ư nguyện ngu muội của tôi
hay không?
120. Trả lời
thư cư sĩ X… ở Ninh Ba
Nhận được thư
biết ông mang cái tâm đối trị tập khí, tuy siêng
năng, khẩn thiết, nhưng chưa đạt,
chưa thấy được hiệu quả tập khí
tiêu trừ. V́ sao như vậy? Ấy là v́ cái tâm sanh tử
chưa khẩn thiết, chỉ biến chuyện siêu phàm
nhập thánh, tiêu trừ Hoặc nghiệp, thành tựu tịnh
niệm thành chuyện nói xuông ngoài miệng, nên không có hiệu
quả thật sự. Nếu biết thân người khó
được, Phật pháp khó nghe, pháp môn Tịnh Độ
lại càng khó được nghe hơn, nay may mắn
được làm thân đại trượng phu, lại
được nghe pháp môn Tịnh Độ khó được
nghe nhất, có dám để quang âm hữu hạn bị
tiêu hao sạch nơi thanh sắc, vật chất, lợi lộc,
khiến cho vẫn sống thừa chết uổng y
như cũ, vẫn bị trầm luân lục đạo,
không mong có ngày thoát ra hay sao?
Phải đem một chữ Chết
(chữ Chết này
hay lắm) dán cho rủ xuống trán. Phàm khi những cảnh
tham luyến [đáng lẽ] chẳng nên có [mà lại] hiện
tiền liền biết đấy chính là vạc sôi, ḷ than
của chính ḿnh, sẽ trọn chẳng đến nỗi
như con thiêu thân gieo ḿnh vào lửa, tự đốt thân
ḿnh. Phàm với những chuyện thuộc về bổn phận
nên làm, liền biết đấy chính là bè từ để
thoát khổ của ta vậy, quyết chẳng đến
nỗi thấy việc nhân bèn nhường cho người
khác, thấy điều nghĩa chẳng làm. Như vậy
th́ trần cảnh sẽ trở thành duyên để nhập
đạo, cần ǵ phải tuyệt sạch muôn duyên mới
tu hành được? V́ đă làm chủ được
tâm, chẳng chuyển theo cảnh th́ trần lao chính là giải
thoát. V́ thế, kinh Kim Cang nhiều lượt dạy con
người tâm chẳng nên trụ vào tướng, phát tâm
độ tận hết thảy chúng sanh, nhưng chẳng
thấy ta là người độ, người khác và chúng
sanh là kẻ được độ, cũng như chẳng
thấy tướng thọ giả, Vô Dư Niết Bàn
để đắc th́ mới là thật sự hành Bồ
Tát đạo. Nếu thấy có ta là người độ,
chúng sanh là kẻ được độ, và pháp Vô Dư
Niết Bàn dùng để độ, th́ tuy là độ sanh
nhưng thật ra chẳng thể khế hợp đạo
Nhất Thừa Thật Tướng. V́ chẳng hiểu rơ
bản thể của chúng sanh chính là Phật, Phật tánh
b́nh đẳng, lầm lạc khởi lên phàm t́nh toan hiểu
trí thánh, đến nỗi chẳng được lợi
ích, trở thành công đức hữu vi; huống chi khằn
chặt vào thanh sắc, của cải, lợi lộc?
Nhưng người sống trong
thế gian chẳng thể không làm ǵ, phải tận t́nh, tận
phận, quyết chẳng mong ngóng ra ngoài bổn phận,
trách nhiệm. Sĩ, nông, công, thương ai nấy chăm
chú nghề ḿnh để làm cái gốc nuôi thân, nuôi gia
đ́nh, tùy phận, tùy sức chấp tŕ Phật hiệu,
quyết chí cầu sanh. Phàm những việc lành sức ḿnh
có thể làm được bèn bỏ ra tiền của, hoặc
giúp lời nói, ra sức tán trợ. Nếu không làm
được như thế bèn phát tâm tùy hỷ th́ cũng
là công đức. Dùng những điều này để vun
trồng phước điền, tạo thành Trợ Hạnh
văng sanh. Như thuận nước giương buồm, lại
thêm lèo lái, đến được bến bờ chẳng
càng nhanh hơn ư?
Ngày Ba Mươi tháng Chạp, chính
là ngày cuối cùng của một năm, nếu trước
đó chưa từng dàn xếp cho khéo th́ chủ nợ oan
gia lũ lượt kéo đến bức ngặt, há dung
cho ông sao? Lúc mạng sắp hết chính là ngày Ba Mươi
tháng Chạp của một đời người vậy.
Nếu tư lương Tín - Nguyện - Hạnh chưa
đầy đủ, ác tập khí tham - sân - si vẫn c̣n
th́ oán gia chủ nợ trong vô lượng kiếp đều
kéo đến bắt tính sổ, há chịu dễ dăi với
ông ư? Đừng nói chi kẻ không biết đến
pháp môn Tịnh Độ không biết làm sao, phải tùy nghiệp
thọ sanh; dẫu cho kẻ biết đi nữa, nhưng
không thật sự chuyên chú tu tập cũng sẽ giống
như thế, bị ác nghiệp lôi vào trong tam đồ lục
đạo, vĩnh viễn luân hồi. Muốn cầu
đường trọng yếu để thoát khổ chỉ
có niệm niệm sợ chết và sợ chết đi phải
đọa lạc trong tam đồ ác đạo, th́ niệm
Phật sẽ tự thuần, Tịnh nghiệp sẽ tự
thành, hết thảy trần cảnh sẽ chẳng thể
đoạt được chánh niệm nữa! Tâm Kinh nói: “Soi thấy Ngũ Uẩn đều
không, độ hết thảy khổ ách”. Trong là căn
thân, ngoài là khí thế gian, thế giới, bao gồm trọn
trong Ngũ Uẩn, thấy được chúng đều
là Không th́ từ ngay nơi Ngũ Uẩn sẽ ĺa
được Ngũ Uẩn; pháp ǵ, chuyện ǵ cũng đều
là pháp môn đại giải thoát, là cảnh giới đại
Niết Bàn!
121. Thư gởi
bạn
Phàm là thiện tri thức, nhất
cử nhất động đều có liên quan đến
huệ mạng của Như Lai và thiện căn của
chúng sanh, chứ không phải chỉ lên ṭa thuyết pháp mới
là hoằng pháp lợi sanh mà thôi! Tôi đọc bộ Tục
Truyền Đăng Lục[50],
thấy ngài Đầu Tử Ngung thiền sư có đại
trí huệ, có đại bản lănh, lên ṭa đoái nh́n chung
quanh khiến cho Phú Trịnh Công ngay khi đó biết chỗ
chỉ quy, từ ấy tận lực tham cứu, thành tựu
nhanh chóng. Nhưng do thiền sư có đến hơn
mười người gánh theo hành lư khiến cho quan Tư
Mă Ôn Công[51] muốn đến
gặp thiền sư nhưng nửa đường dừng
lại, rốt cuộc cả đời làm kẻ đứng
ngoài cửa đối với đại pháp của Như
Lai và bổn tánh của chính ḿnh. Nếu như Ngung thiền
sư một trượng, một bát, chưa chắc Ôn
Công đă kém Trịnh Công, nhưng Ôn Công lo thổi lông t́m vết,
tự đánh mất lợi ích lớn lao. Ngung thiền
sư dùng đồ vật quá nhiều, tổn phước
điền của đại chúng, có trách nhiệm với
pháp đạo, xin hăy coi gương ấy!
122. Trả lời
thư cư sĩ Nhạc Tiên Kiệu
Nếu muốn tự được
lợi ích thật sự trong đời này, hăy nên
nương vào pháp môn Tịnh Độ, tín nguyện niệm
Phật cầu sanh Tây Phương sẽ quyết định
liễu sanh thoát tử. Nếu chẳng nương vào pháp
môn Niệm Phật, đừng nói chi kẻ chưa đắc
chân truyền của Phật giáo chẳng thể liễu,
ngay cả người đắc rồi cũng chẳng
thể liễu. V́ sao vậy? V́ được chân truyền
chỉ là bậc đại triệt đại ngộ,
chưa phải là thật chứng. Có chứng mới liễu
được, c̣n ngộ th́ chưa thể liễu. Tu các
pháp môn khác đều phải đoạn Hoặc chứng Chân
mới có thể liễu sanh tử. Pháp môn Tịnh Độ
chỉ cần đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện
thiết tha tŕ danh hiệu Phật, đừng làm các điều
ác, vâng làm các điều lành, hành cả Chánh Hạnh lẫn
Trợ Hạnh th́ chẳng những quyết định
văng sanh mà phẩm vị c̣n ưu thắng. Không riêng ǵ kẻ
tinh ṛng, thuần thành, sốt sắng quyết định
được văng sanh, ngay cả phường Ngũ Nghịch
Thập Ác lúc lâm chung nếu có thể sanh ḷng hổ thẹn
lớn lao, sanh ḷng lo sợ lớn lao, chí tâm niệm Phật
mấy tiếng, ngay khi đó bèn mạng chung, cũng quyết
định được văng sanh. Do ḷng từ của Phật
rộng lớn, chuyên chăm chú độ sanh, nhất niệm
hồi quang liền được Phật nhiếp thọ.
Đấy gọi là “cậy vào từ lực của Phật,
đới nghiệp văng sanh”. Chúng sanh đời Mạt
chẳng y vào Tịnh Độ, tu các pháp môn khác, chỉ
được phước báo trời người và thành
nhân duyên đắc độ trong tương lai mà thôi. Do
không có sức đoạn Hoặc, nên cội rễ sanh tử
vẫn c̣n, sao không nẩy mầm sanh tử cho được?
123. Thư gởi
Tịch Sơn Ḥa Thượng ở chùa Vạn Thọ,
Dương Châu
Ngưỡng mộ cao phong
đă lâu, chưa được một phen gặp gỡ.
May nhờ pháp duyên Khai Mông của Thông công[52],
được nghe tiếng đằng hắng[53].
Ngài chẳng khinh mạt học, hạ cố hỏi đến
kẻ tiều phu, cắt cỏ; nỗi ḷng cảm khái, thẹn
thùng, bút mực khôn bày tỏ hết. Hôm qua, thầy Ngộ
Khai nhận được thư Ngài[54]
bèn đưa cho xem, biết cư sĩ Lê Đoan Phủ chấp
thuận sửa chữa [tác phẩm này], đă định
kỳ hạn hoàn thành. Văn bối mừng vui lộ rơ ra
ngoài, khôn ngăn chân tay múa may. Lúc ngài ở núi này, văn bối
cũng từng nhắc đến ông Lê, chỉ lo ông ta
đă nhận lời mời sửa chữa bộ Địa
Luận, chỉ e không rảnh rỗi để làm.
Nay ông ta đă chấp thuận lời
Ngài mời mọc, cho thấy bậc đại sĩ trí
huệ khác nào vầng mặt trời giữa trưa, chiếu
khắp đại địa, bọn chúng tôi cầm lửa
đom đóm dơi theo từng nét chữ dễ ḥng sánh
được nổi sao! Bộ Khai Mông của Thông công quả
thật đă tuyển chọn được tinh hoa của
các nhà, những lư tánh được sách ấy phát huy có thể
nói là thâm thiết rơ ràng, nhưng v́ bản tánh thật thà,
chẳng quan tâm đến chi tiết, cho nên sử dụng
từ ngữ, lập luận không chỗ nào chẳng
vướng cái tệ sơ sót. Nếu lược bỏ
những chỗ tạp nhạp để chọn lấy
cái tinh túy ắt phải đợi người được
ư quên lời; c̣n kẻ ưa tranh ảnh, sợ rồng thật,
chỉ có thể dơi theo mấy hàng mực[55].
Nếu chẳng sửa chữa thật nhiều, quyết khó
thể lợi ích trọn ba căn. Trộm nghĩ kinh Xuân
Thu là sử nước Lỗ, qua tay Trọng Ni[56] gọt
dũa mới thành bộ đại kinh thiên cổ quư giá.
Hám Sơn Toàn Tập do giao cho Khiêm Ích hiệu đính, sửa
chữa mới thành tác phẩm nhiệm mầu được
nhập tạng, lưu thông. Xưa đă như thế, nay
cũng nên như vậy.
Chỉ mong hiển lộ triệt
để diện mục của Lô Sơn, bất tất cứ
phải theo quy củ giữ đúng nguyên bản. Ví như
rỡ toang lầu Ngũ Phượng để xây lại,
tách rời bài tựa của họ Tả để soạn
thành tập riêng, tài liệu tuy vẫn y như cũ,
nhưng kết cấu phải thuận theo việc đáng
nên làm, chẳng ngại lấy cột làm kèo, mặc t́nh cắt
dài nối ngắn. Văn rườm rà th́ bỏ bớt,
nghĩa thiếu sót bèn thêm vào, đáng để ở phần
trước th́ dời lên trước, đáng đem ra sau
bèn để ra sau, ngơ hầu lư Đại Phật Đảnh[57],
tánh thường viên thông, dù văn hay lư đều
được phơi bày triệt để, giăi bày trọn
vẹn. Dù là thượng, trung hay hạ căn không ai vừa
đọc đến không liền hiểu rơ, ai nấy
được lợi ích lớn lao, [như vậy] mới
có thể làm cho bản hoài của ông Thông, ông Lê và ngài
được phô diễn thông suốt rốt ráo.
Nếu chỉ hạn định
trong ṿng hai tháng sẽ xong, e rằng chỉ thành sửa chữa
sơ sài. Kỳ hạn quá ngắn, tài khéo của ông Lê
chưa thành h́nh, sửa chữa hiệu đính không tinh
tường, cái tâm tha thiết của ông Lê bị khuất
lấp. Khắc in, lưu truyền, muốn được
cùng tồn tại măi trong cơi đời với bản chú
giải khác của kinh Lăng Nghiêm e khó đạt
được! Xin hăy bỏ đi ư niệm [mong cho] chóng
xong, tăng thêm thời hạn vài tháng nữa để xem
đi xét lại nhiều lần, tra xét kỹ càng, sửa
chữa tinh xác, tự nhiên trên khế hợp với diệu
tâm của chư Phật, dưới thỏa măn hoằng
nguyện của các vị, được lưu thông đến
tận đời vị lai, khắp mọi loài chúng sanh
được độ mới thôi.
Phần tựa đề bộ sớ
hai vị cùng viết, trước hết đề Ức
Liên Sa Môn Thông Trí Tầm Nguyên soạn, rồi đề
Đoan Phủ cư sĩ Lê Dưỡng Chánh hiệu
đính. Tuy ông Lê tâm dạo chơi cơi Hoa Tạng, mang chí
hướng lợi người, ngộ nhân ngă đều
không, hiểu rơ ta - người bất nhị, nhưng
trong phần cảm ân ca tụng đức, cố nhiên
chúng ta nên tŕnh bày như thế. Sửa chữa, hiệu
đính đă xong, liền trao cho thợ in không cần phải
gởi đến nữa. Ông Lê là Thái Sơn, Bắc Đẩu
trong làng Nho, là bến bờ trong biển pháp, Tông thuyết
cùng thông, hạnh giải tương ứng. Nếu không phải
là Quán Âm, Phổ Hiền ứng hóa, chắc chắn là
Phương Sơn, Vô Vi[58]
tái lai. Tất cả trước thuật đều khế
lư khế cơ, nếu treo tác phẩm ấy trên cửa Ngọ
Môn[59],
ai đổi được một chữ thưởng một
ngàn vàng, sẽ thấy hết năm rốt tháng không ai dám
sửa một nét bút, há nào c̣n ngờ chi, cần ǵ phải
có người ngoài chứng minh nữa?
Đợi đến khi toàn bộ
khắc in xong, mong hăy rủ ḷng pháp thí rộng khắp. Văn
bối tuy mắt ḷa, chẳng thể đích thân thấy
được ánh mặt trời, nhưng trong đêm dài
tăm tối cũng thường mong được chiếu
thấu. Cầm bút ḍ dẫm, chẳng thể [phô diễn] theo
ư tưởng được.
124. Trả lời
thư cư sĩ Lê Đoan Phủ ở Giang Tây
Phương Đông hết rét,
mong xiển dương tông chỉ Hiển Mật dung thông;
mặt trời giáo hóa tỏa rạng, nguyện được
hưởng ánh sáng Phật Đảnh viên măn. Ngửa trông
Đoan Phủ Lê Công đại cư sĩ, kiếp xưa
đă gieo cội đức, thừa nguyện tái lai, rộng
xem cùng tột các sách, thâm nhập Kinh Tạng. Thương
giáo pháp đời Tượng Pháp suy đồi, làm sáng tỏ
cương yếu của pháp tánh, xuất ngôn thành
chương, khế cơ, khế lư, lập nguyện cứu
đời, giải hạnh đều cao, tiếng sấm
phá mộng tỉnh mê vang rền kinh động cái tâm, giúp
Giáo hoằng Tông, ban bố cơ duyên tỉnh ngộ, thành tựu
điều tốt đẹp cho người chẳng nài
nhọc khổ. Khéo léo dẫn dắt kẻ mạt học,
ḥa quang lợi vật. Nếu chẳng phải là Phổ
Môn ứng hiện, ắt phải là hậu thân của Duy
Ma[60],
có phải là như vậy hay chăng?
Quang tuổi nhỏ thiếu học
vấn, lớn lên chẳng biết ǵ. Cửa Tông Môn cao ngất
không thể dấn bước, đành nương Tịnh
Độ để ẩn náu. Thiên tư kém hèn; v́ thế,
không thể tham học với nhiều bậc tri thức,
nẻo khách lênh đênh, do vậy đành cam ăn bám Phổ
Đà hai mươi năm. Giữa Đông năm Nhâm Tư
(1912), được xem Phật Học Tùng Báo, mới biết
bậc hoằng pháp đại sĩ phần nhiều hiện
thân trong làng Nho, hoan hỷ cảm thán, không lời lẽ nào
sánh ví nổi! Đối những trước thuật của
các hạ càng thêm khâm phục, chỉ hận ḿnh độn
căn, cốt cách ruỗng nát, chẳng thể thường
theo hầu nơi trượng thất, ḥng lạm dự
phần được gọt dũa.
Cuối Thu, Tịch công[61] ở
chùa Vạn Thọ do nhân duyên san định bộ Khai Mông,
hạ cố đến chỗ Quang, nhân khuyên nên sửa chữa,
tu đính, tôi nhắc nhở đến ngài. Lại lo ngài
không rảnh rỗi để làm, may sao Tam Bảo gia bị,
đă hiện sẵn điềm mộng, đă được
hứa khả, may mắn nào hơn? Tịch công bèn gởi
thư nêu duyên do, hạn định hai tháng sẽ hoàn thành.
Quang sợ rằng ngài chưa đọc kỹ nguyên cảo,
ngài Tịch Sơn chưa tŕnh bày rơ cách thức biên tập,
chỉ sợ ngài thuận theo ư Sư sửa chữa đại
lược. Do vậy, tôi tŕnh bày những điều khó
khăn gởi đến Tịch công; chẳng ngờ
[thư ấy] được chuyển đến Ngài soi
xét, cảm kích, thẹn thùng vô cùng. Đến bữa khác,
nhận được thư ngài dạy dỗ, chứng tỏ
Ngài tiếp độ mọi loài đọc kinh, đúng
như cái chuông lớn treo trên giá hễ gơ bèn kêu,
gương báu đặt trên đài, không h́nh sắc nào chẳng
hiện! Cảm kích lắm!
Trộm nghĩ bản thảo Khai
Mông tuy do Thông Công (tức ngài Thông Trí Tầm Nguyên) soạn, nhưng
phát huy, nhuận sắc hoàn toàn nhờ vào các hạ. Nếu
tinh thần không đủ th́ chỉ thành ra làm đăi bôi cho
xong. Nếu sắc lực mạnh mẽ, chẳng ngại
ǵ ngoài Hiển Giáo ra, ở những chỗ khác, với mỗi
chỗ bèn nêu thêm cương yếu của Mật giáo ngơ hầu
người đọc đến biết Hiển Mật
viên thông, pháp môn vô nhị. Về Sự tu nên thâm nhập một
môn, về Lư Tánh cố nhiên hai pháp ấy nhiếp trọn lẫn
nhau. Xin đừng tiếc bút lực như rường cột,
khiến cho Phật Đảnh phóng quang minh viên măn, phổ
chiếu hết thảy hữu t́nh tận cùng đời vị
lai. Hơn nữa, những nhà giảng giải đời
Mạt thường thích luận Thiền, khiến cho thính
chúng đa phần bị những câu thoại đầu
xoay chuyển. Trộm nghĩ, những câu cơ phong chuyển
ngữ của Thiền gia trọn chẳng có ư nghĩa ǵ,
chỉ nhắm vào căn cơ của người đến
tham phỏng mà chỉ về lẽ hướng thượng,
chỉ nên tham cứu, chớ nên giảng nói! Giảng kinh
như thế th́ chỉ bậc đại sĩ tư chất
thù thắng mới được lợi ích; c̣n những kẻ
trung hạ căn khác thảy đều mắc bệnh.
Đối với Tông th́ cơ phong chuyển ngữ chẳng
biết tận lực tham cứu, tự lầm lạc suy
đoán ư nghĩa. Đối với Giáo th́ do những lư thật,
sự thật chẳng phải là cảnh của ḿnh, bèn
cho những điều đó chỉ nhằm ngụ ư biểu
thị pháp. Dùng Tông phá Giáo, dùng Giáo phá Tông, gần đây thói
tệ ấy không ǵ tệ bằng. Mong ngài hăy hiện
tướng lưỡi rộng dài, cứu vớt những
kẻ chết đuối ấy.
Thêm nữa, thầy Ngộ Khai
túc căn sâu chắc, tâm hiếu thắng mạnh mẽ,
thoạt đầu chuyên chú Thiền Tông, miệt thị Tịnh
Độ. Về sau, dự vào pháp hội của ngài Thông
Trí, từ đó mới dần dần sanh tín tâm, tuy ấp ủ
tánh cuồng vọng, chí nguyện cao chẳng thể đè
lấn được, nhưng sắc lực yếu
đuối, hành tŕ thật khó tương ứng, mùa
Đông năm ngoái từng bộc lộ bản ư, Quang bèn cực
lực quở trách. Hiềm v́ tâm chấp quá nặng, chẳng
văn hồi được! Không nhớ [tôi đă kể cho
các hạ nghe chưa] nên cũng thưa cùng các hạ: Ngày 21
vào tháng mùa Đông, thầy ấy ôm bệnh về núi, kể
cho sư huynh nghe chuyện ngoài núi chưa xong, liền chẳng
nói được nữa, đến giờ Mùi hôm sau bèn
qua đời, nào có tướng cảm ứng tốt lành
nào để nói đâu? Dương Thứ Công[62]
nói: “Ái chẳng nặng chẳng
sanh Sa Bà; niệm bất nhất, chẳng sanh Cực Lạc”.
Thầy Ngộ Khai chẳng phải là không tin có Tây
Phương, nhưng do ái căn cố kết, ư niệm bất
nhất, những điều b́nh sinh mong mỏi đều
thành bánh vẽ. [Thầy ấy] mong thấy được
đạo, mong lâm chung hiện đủ mọi tướng
lành đều hé lộ ái căn, “thoạt đầu chẳng gặp tác gia[63], đến già
trọn thành đống xương” là nói về thầy
Ngộ Khai vậy. Buồn thay!
Lại nữa, tháng Chạp năm
Nhâm Tư, do đọc Phật Học Tùng Báo, [thấy] báo in bằng
giấy Tây, chẳng để được lâu như giấy
Tàu, khiến cho những bài văn, bài luận kỳ vĩ
của quư vị v́ dùng loại giấy ấy đều bị
mất hết, chẳng thể tạo ích lợi rộng
răi, dài lâu! Do vậy, tôi chẳng nề hà mắc tội,
tŕnh bày đại lược những điều hèn tệ
ḿnh đang ấp ủ, tuy có vài điều, nhưng điều
này là chánh! Vào mồng Một tháng Giêng năm Quư Sửu
(1913), đă gởi đến ban biên tập, có lẽ ông Nhất
Thừa Bộc[64]
chê là lẩm cẩm trọn chẳng để mắt tới,
Cao cư sĩ (Cao Hạc Niên) đến đây bèn sao lục
lại, chuyển đạt tới các vị ngơ hầu các
vị biết rơ cái hại của loại giấy Tây, chẳng
biết đă lọt vào mắt xanh hay chưa?
Nay tuy Tùng Báo đă đ́nh bản,
nhưng vẫn phải ngửa lên thưa tŕnh: Cái hại của
loại giấy Tây c̣n hơn cả nước lũ, mănh
thú, nghèo nước, khốn dân, đoạn diệt Nho
Thích thánh giáo, cái họa ấy không có cùng cực! Mong có bậc
đại lực dứt trừ thói quen ấy th́ phước
cho đồng bào, pháp đạo được vĩnh
truyền vậy! Ông Sở Thanh Địch có chí lưu
thông, có chánh thư cục, gần đây in mấy đầu
sách đều dùng giấy Tây. Nếu chẳng thống thiết
tŕnh bày lợi hại, tương lai các nơi in khắc
Đại Tạng chắc chắn khó ḷng không dùng loại
giấy ấy; do vậy, lưu thông lại thành ra diệt
vong nhanh chóng! Đấy là điều Bất Huệ tôi
đau ḷng buốt óc, vô phương khẩn cầu. Nay may
được ngài rủ ḷng dạy dỗ, nên mới dám
tŕnh lên.
Sức học của ngài trùm khắp
cả nước, đạo cao ngút đời, giao du khắp
cả trong nước, ngoài nước, ngôn luận khuất
phục ḷng người. Khẩn khoản xin ngài bảo
cùng khắp những vị hoằng pháp, và soạn thuật
một bài văn rộng lớn đăng lâu dài trên báo
chí, ngơ hầu đồng bào cả nước đều
biết họa hại. Phàm những ǵ thuộc loại kinh
sách thánh hiền lưu truyền trong đời và khế
ước, văn bằng, đều nhất loạt chẳng
dùng loại giấy ấy, ngơ hầu Tam Giáo chẳng đến
nỗi mau diệt vong, ngũ tộc[65]
cùng thấm nhuần ơn lớn rộng vậy.
125. Thư gởi
tổng nhung Trương Liên Thắng (viết thay cho bạn)
Xuân về trên lănh thổ vua
Vũ[66],
ngày Nghiêu vĩnh cửu, Bắc Uyển mai nở, hoa tŕnh
ngũ phước như Cơ Tử đă phân định,
vườn Đông trúc mướt, lá báo Hoa Phong tam đa[67]. Kính
khen tổng nhung Trương Đại Nhân tài kiêm văn
vơ, giữ chức trọng yếu, đạo luôn rỡ
ràng, hưng thạnh; tước ngày càng nâng cao. Từ
đầu Xuân đến nay, vinh hiển lănh phẩm trật
cao quư; đă thế, chỗ nhậm chức ở gần
Nam Hải, rất gần Quán Âm. Đấy chính là do nhiều
đời nhiều kiếp từng gieo thiện căn nơi
Đại Sĩ, và Đại Sĩ bi tâm muốn nhờ
vào oai lực [của tổng nhung để] hộ tŕ pháp
môn nên khiến ra như thế. Đạo thể khỏe
mạnh, yên vui, nơi ăn chốn ở hưởng
phước không cần coi bói cũng có thể biết, mừng
rỡ, vui sướng chúc mừng.
Trộm nghĩ Phổ Đà là
đất ứng hóa của Đại Sĩ, trải các
triều đại đều được sắc tứ
kiến tạo, cả đời đều kính ngưỡng,
sùng mộ, nhất là có đại nhân duyên đối với
các tổng nhung. Xưa kia th́ không biết, chứ gần
đây, có ba người có công huân lớn lao đối với
núi này. Trong niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, tổng
nhung Hầu Kế Cao, khi rảnh rỗi về việc vơ bị,
bèn biên soạn, tu chỉnh Sơn Chí, hộ tŕ, lưu thông,
khắng khít nơi chuyện này. Từ thời mở
nước đến nay[68], vùng
biển chẳng yên, chùa núi hư nát, đến năm Khang
Hy thứ hai mươi tám (1689), cơi đời yên b́nh, xa giá
hoàng đế tuần du phương Nam[69],
tổng nhung Hoàng Đại đến khải tấu t́nh
trạng đổ nát của danh sơn, vua liền ban công
khoản sắc truyền tu sửa. Chưa đầy
năm ấy, ông Hoàng đă được thăng tước.
Năm sau, tổng nhung Lam Lư đến
thay, phụng chỉ trông nom việc xây dựng, cúc cung tận
tụy, kiệt lực lo liệu. Chuyện nhà Phật,
chuyện vua một vai ông gánh vác, hai ngôi chùa trước và
sau núi đều lập miếu thờ sống ông, vĩnh
viễn theo Đại Sĩ hưởng hương
đèn, mà ông Hoàng cũng được thờ cúng. Những
bậc quan vơ khác hộ tŕ núi này khó thể nêu hết, là v́
các quan vơ mỗi khi quân trận đối địch, xông
pha ngọn giáo mũi tên, thường hay thầm niệm
Đại Sĩ, ngầm được Ngài hộ tŕ, gia
hộ. Nhờ vậy, lập chiến công được
thái b́nh, nên họ mới hộ tŕ [núi này] như thế. Dẫu
nhằm lúc yên ổn, cũng nhờ oai lực của Đại
Sĩ, trấn quân oai giữ yên cơi xa, tiêu họa loạn
trước khi chớm nẩy. Bởi chịu ân đă sâu
nên báo ân cũng thiết tha. Do báo ân thiết tha nên cúng tạ
cũng hậu. Như hai vị Hoàng và Lam, và những vị
như Tăng, Bành, Tả v.v… vào thời gần đây không
ai chẳng đều như vậy.
Hiện nay nhằm lúc Mạt Pháp,
pháp nhược ma cường, thường có kẻ vô lại
trà trộn pháp môn, chẳng giữ thanh quy, bại hoại
Phật pháp. Do vậy, hàng Nho sĩ chẳng hiểu lư sâu
trông thấy Tăng sĩ du hành nhân gian tạo tác ác nghiệp,
bèn nói Tăng chúng trong cả cơi đời không ai là chẳng
giống vậy. Từ đấy, một giọng xướng,
trăm tiếng ḥa, phỉ báng, vùi dập, thậm chí phá hủy
chùa miếu, thiêu đốt kinh tượng. Chẳng biết
ngọc tuy phát xuất từ dăy Côn Luân[70],
nhưng ngọc ẩn, đá lộ. Nếu chẳng đục
khoét th́ chỉ thấy đá, chẳng thấy được
ngọc. Do không thấy ngọc, bèn muốn đốt cháy
sạch [cả núi] th́ v́ đá xấu bèn đốt sạch
ngọc đẹp vậy!
Xưa có người ôm [tảng
đá] có ngọc báu hiếm có trong đời của núi
Kinh c̣n bị chặt đứt hai chân[71],
huống chi người ôm diệu bảo Thật Tướng
của núi Vô Thượng Đại Niết Bàn, tri kiến
thế tục làm sao biết được, nên lắm phen
bị hủy nhục. Kính mong các hạ hộ tŕ danh
sơn, dẹp tà giúp chánh, làm nanh vuốt cho đất
nước, làm kim thang[72]
cho Đại Sĩ, nối gót thơm của ông Hoàng, ông
Lam, gỡ màng mộng trong mắt thế tục, đấy
là cúng tạ vậy. Ắt sẽ được chứng quả
Vô Sanh, đạt địa vị Bất Thoái, thành Chánh
Giác trong tương lai, làm bậc điều ngự
trượng phu, há nào phải chỉ ấn phong biến
thành vuông, ngạch trật chuyển sang quan văn[73], trăm
năm phước thọ, tiếng thơm truyền đến
cả con cháu mà thôi!
126. Trả lời
thư cư sĩ Trương Vân Lôi (thư thứ nhất)
Lương Nhậm Công[74]
có tài xuất chúng, đáng kính nể trong đời, sao chẳng
dùng hoài băo, tài năng sẵn có để quay sang tận lực
tham cứu đại pháp xuất thế, ngơ hầu triệt
ngộ diệu tánh sẵn có. Lại c̣n tận lực tu Tịnh
nghiệp, hồi hướng văng sanh, ngơ hầu mỗi
điều đă ngộ đều tự chứng đắc.
Sau đấy, lại nương vào đại nguyện,
thị hiện sanh trong cơi đời ác trược, dùng thần
thông biến hóa chẳng thể nghĩ bàn, bày cách đối
trị: đối với kẻ mạnh bạo chẳng
ḥa hoăn bèn đối trị bằng cách cứng rắn, với
kẻ ḥa hoăn, bèn đối trị bằng cách mềm dẻo;
bất luận trung hạ căn, không ai chẳng được
gội ơn. Đấy chính là nghĩa tự lợi lợi
tha rốt ráo của bậc đại trượng phu nối
tiếp quá khứ, mở đường tương lai. Trong
đời này, thời này, nếu chẳng kiệt lực
nghiên cứu, uổng ḷng ôm cái tâm lo lắng cho đời,
khó tránh mối lo bị nguy đến thân; mà là hành vi của
kẻ anh hùng hào kiệt phẫn thế buồn đời,
chẳng phải là bản sắc “tùy theo địa vị mà hành xử, vui theo mạng
trời” của thánh hiền vậy. Kiếp xưa vun bồi
được huệ căn này, cố nhiên chẳng dễ
dàng. Nếu chẳng chuyên tinh dốc sức nơi đây
ngơ hầu tự chứng th́ sẽ giống như chén bát
chưa nung, gặp mưa liền ră. Quang âm ngắn ngủi,
mạng người được mấy? Một hơi
thở ra không trở lại là đă thuộc đời
sau. Người chưa chứng đạo từ ngộ
vào mê vạn người có đến mười ngàn, từ
ngộ tăng thêm ngộ, trong ức người chưa
được một hai! Nỡ để cái chén vô thượng
pháp khí, qua cơn mưa “tái sanh” lại trở thành bụi
đất ư? Nhậm Công và Quang trọn không có giao t́nh,
gần đây nghe lầm lời người, cũng muốn
làm bạn tri kỷ. Tri kỷ phải tính toán cho tri kỷ,
phải v́ đại thể nói lời trọn vẹn mới
chẳng đánh mất t́nh “v́
một lời hợp nhau, cả đời làm bạn tri kỷ”.
Chẳng biết ông Lương xem thấy như vậy sẽ
gật đầu hay là lắc đầu, mong hăy đem ư này
chuyển đạt đến ông ta.
127. Trả lời
thư cư sĩ Trương Vân Lôi (thư thứ hai)
Cuốn sách Nhập Phật Vấn
Đáp dẫn dắt kẻ chưa ngộ, khiến họ
sanh chánh tín, tùy cơ khai thị, từ từ thâm nhập,
biếu tặng kết duyên quả thật không công đức
nào lớn hơn. Nhưng sách ấy chỉ bàn chung chung về
sự lư nhập môn nhà Phật, tuy cũng khen ngợi Tịnh
Độ, nhưng quả thật chưa hoằng
dương rộng lớn được yếu chỉ của
pháp môn này. Nếu đă có tín tâm hăy nên đọc các sách Tịnh
Độ. Nếu chẳng thể đọc nhiều th́
cuốn rơ ràng, giảng rộng nhất là cuốn Kính Trung
Kính Hựu Kính[75]
(Đường tắt hơn hết trong số các con
đường tắt). Cuốn sách này tuyển chọn lấy
yếu nghĩa của các nhà, phân môn chia loại, khiến
cho người đọc chẳng phí nhiều công sức
xem đọc, tiến thẳng vào chỗ uyên áo của Tịnh
Độ. Sách này có lợi ích rất lớn đối với
người sơ cơ. C̣n những tŕnh tự nghiên cứu
được tŕnh bày trong bộ Nhập Phật Vấn
Đáp chỉ có người thiên tư cao, túc căn sâu mới
kham đảm nhiệm được. Nếu cả hai
điều này đều kém th́ dù muốn dựa theo những
điều sách ấy đă chỉ dạy để nghiên
cứu th́ e rằng chẳng thể thông suốt hoàn toàn
giáo lư, mà đối với pháp Tịnh Độ, do dốc
sức nghiên cứu giáo lư bèn thành ra lui sụt. Phật pháp
v́ con người mà lập bày, trọn chẳng thể chấp
vào quy củ thông thường được, khiến
thành ra bị trái nghịch căn cơ đến nỗi bị
mất lợi ích thù thắng “liễu sanh tử ngay trong
đời này”. Cốt sao người đương
cơ tự biết căn tánh để chọn pháp tu tŕ
vậy.
Học chú Văng Sanh bằng tiếng
Phạn cũng rất tốt, nhưng chẳng được
sanh tâm phân biệt, cho bài chú giản lược [được
lưu truyền trong cơi này] là sai hoàn toàn. Khởi lên ư niệm
ấy th́ sẽ sanh ḷng nghi đối với toàn bộ các
chú trong Đại Tạng, cho là không hợp ư Phật. Phải
biết người dịch kinh chẳng tầm thường,
sao lại v́ họ dịch khác nhau bèn liền xem thường?
Hơn ngàn năm qua người tŕ tụng [chú ấy]
đă được lợi ích, biết bao nhiêu mà kể,
há có phải là mọi người hơn ngàn năm qua
đều chẳng biết Phạn văn hay sao? Cố
nhiên là nên học nhưng chẳng được khởi ư
niệm hơn - kém, thua - trội, th́ lợi ích chẳng thể
nghĩ bàn được! Hơn nữa, một pháp tŕ chú
gần giống với khán thoại đầu. Do khán một
câu thoại đầu không có nghĩa ǵ nên dứt
được phàm t́nh phân biệt, chứng Chân Trí vốn
sẵn có. Tŕ chú chẳng biết được ư nghĩa
câu chú, chỉ chí thành khẩn thiết mà tŕ, dốc kiệt
tấm ḷng thành đến cùng cực, sẽ tự
được nghiệp tiêu trí rạng, chướng hết,
phước cao, lợi ích chẳng thể nào nghĩ bàn cho
thấu được!
Nghi thức lễ Phật đối
với người rất bận chẳng cần phải
lập riêng, chỉ cần chí thành khẩn thiết xưng
niệm Phật hiệu, thân lễ dưới chân Phật,
ắt phải thành kính như Phật đang hiện diện
là được rồi! Cơi đời đang nhằm lúc Kiếp
Trược, giết cướp lẫn nhau, chẳng có
đạo bùa nào để hộ thân, quyết khó thể
vĩnh viễn không bị họa hại. Cái gọi là “đạo bùa hộ thân” cũng
chỉ là chí thành lễ niệm A Di Đà Phật mà thôi!
Nhưng Quán Âm đại sĩ bi nguyện rộng sâu, theo
tiếng cứu khổ, hễ cảm liền ứng, hăy
nên ngoài lúc sáng tối lễ niệm Phật ra, hăy kèm thêm lễ
niệm Đại Sĩ th́ sẽ ngấm ngầm
được gia bị, tự có thể chuyển họa
thành phước, gặp nạn mà hóa ra lành, nhưng chẳng
tự biết! Đây chính là cách của kẻ ngờ nghệch
lánh ngoài cơi đời này dùng làm phương pháp v́ tri kỷ
cứu đời vậy. Có thể nói là khắp cơi đời
không ai chẳng thể cứu, chỉ có người chẳng
chịu hành theo pháp này th́ đành chẳng biết làm sao
được!
128. Trả lời
thư cư sĩ Trương Bá Nham
Thư ngừng chiến đọc
qua một lượt, có thể nói Giang Thần Đồng
quả là người phi thường, ôm chí hướng
phi thường, tính làm chuyện phi thường, làm cho khắp
thiên hạ nhân dân đạt được “đạo thường
hằng” phi thường, thật là thiên cổ hy hữu!Nếu
chẳng phải là thánh hiền tái thế th́ cũng là Bồ
Tát thị hiện thọ sanh, cuộc đời này chẳng
uổng phí vậy! Muôn nước trong khắp thiên hạ
trong đêm dài sẽ đều được lay tỉnh
bởi tiếng ngân của quả chuông to này. Do muốn
ḿnh được thành tựu bèn giúp người thành tựu,
ḿnh muốn thành đạt bèn khiến cho người thành
đạt, tự lợi, lợi tha, coi người khác
như chính ḿnh, cùng về trong cảnh giới vô ngă, cùng
hưởng ngọn gió đại đồng. Quang đă
già rồi, chỉ e không kịp thấy, chẳng ngại
ǵ không chúc mừng trước muôn nước.
Tuy nhiên, phương cách đă lập
ấy vẫn có chỗ không hợp thời, cơ, xứ.
Quang vô tri, vô thức, sao dám b́nh luận trước thuật
của ông Giang; nhưng trước mặt người tri
kỷ, chẳng ngại ǵ một phen bàn bạc, mong chẳng
bắt tội. Thế đạo nhân tâm hiện thời
hư hoại đến cực điểm, muốn cứu
văn mà chỉ dùng đạo đức của ngũ giáo[76]
thánh hiền để uốn nắn th́ cách ấy chỉ có
thể chuyển biến được người có bẩm
tánh cao sâu, c̣n đối với hàng trung hạ căn mặc
sức ông nói nát môi, cháy lưỡi, dù họ có lănh hội
cũng chẳng thấy ăn nhằm ǵ đến tâm họ,
huống ǵ kẻ không lănh hội được lại chiếm
hơn quá nửa, thành ra đổ sức nhiều mà hiệu
quả ít ỏi. Muốn cho vạn quốc cùng sốt sắng
thực hiện đề nghị này trừ phi người
trong vạn quốc đều là hạng thiên tư thượng
đẳng, muốn tận lực cầu lấy đạo
thánh hiền nhưng chưa rơ đường lối th́ mới
có lợi ích thật sự. Nếu không, dẫu ông có giảng
ra rả, người ta nghe lời ông nói bèn xem thường.
Vệ Vơ Công[77] đă sớm nói
như vậy từ hai ngàn năm trước rồi! Giang
Thần Đồng[78]
có thể nói là “biết Thể” nhưng chưa “biết Dụng”,
đắc Căn Bản Trí nhưng chưa khai Sai Biệt
Trí. Cách tổ chức hội nghị của ông ta lại
quá lớn, chỉ sợ không có món chi phí lớn lao như
thế, không thành chuyện bàn xuông th́ cũng hóa ra có đầu
không đuôi.
Hơn nữa, loại đại
hội như vậy há có nên lập riêng một đại
hội cho nữ giới? Lập ra đại hội nữ
giới sẽ khiến cho nữ nhân toàn quốc lầm lạc
ra sức tranh quyền, chuyện ǵ cũng đều phải
nghĩ nam nữ cùng một bản thể. Nếu
được như hai bà phi của đời Ngu, ba bà
Thái của nhà Châu, mới thật là may mắn lớn lao. Nếu
không, sẽ tệ hại không thể nào diễn tả
được! Trời sanh bậc kỳ nhân phi thường,
nhưng mở ra mối tệ này, quả thật Bất
Huệ tôi rất đau ḷng, tiếc nuối. Tôi nói “quyền trị quốc b́nh thiên
hạ, nữ nhân nắm giữ quá nửa!” Do giúp chồng
dạy con trong gia đ́nh sẽ khiến cho đứa con
nào có thiên tư liền mong thành thánh, thành hiền, gây dựng
đức nghiệp lớn lao; đứa không có thiên
tư cũng có thể thuận theo quy củ, làm một kẻ
lương dân. Nếu bỏ điều này không xét đến,
cứ muốn cho nữ nhân nắm quyền giống
như nam giới th́ chính là đại họa gây loạn
thiên hạ bậc nhất vậy. Sao ông Thần Đồng
không nghĩ đến điều này?
Bài văn ấy luận về Phật
giáo cũng có chỗ sai sót lớn. Nếu bậc thượng
đẳng nghe đến ắt sẽ gấp gáp cầu
nơi Giới - Định - Huệ - Không. Nếu kẻ hạ
đẳng nghe đến ắt sẽ rất có thể khiến
cho cái thói muốn lấy người ép người, đốt
sách của người ta liên tiếp khởi lên. Ngay trong
lúc sát kiếp lừng lẫy này, chẳng lấy ḷng Từ
trọn khắp, vô h́nh, tâm bi cứu bạt ba đời của
Phật làm nghĩa trọng yếu cứu nước cứu
dân bậc nhất để răn dạy, lại đề
xướng ư kiến cho Phật giáo là tà ngụy, nêu chứng
cớ là Phật giáo vứt bỏ luân thường, bàn chuyện
họa phước! Phàm nhân quả báo ứng chính là đại
phương tiện để b́nh trị thiên hạ, độ
thoát chúng sanh của thánh nhân thế gian lẫn xuất thế
gian. Ngay trong lúc tâm con người đắm ch́m này,
đúng là lúc nên đề xướng nhân quả, báo ứng.
Dẫu là kẻ trung hạ căn, tuy muốn làm ác nhưng
không dám, dẫu không muốn làm thiện nhưng chẳng thể.
Thế mà ông ta lại bài xích, đả
phá họa - phước là tà ngụy, là đáng đau hận,
há có phải thật sự hiểu biết Phật giáo hay
chăng? Nhưng bỏ qua luân thường, bàn về họa
- phước có bao giờ không ngụy, cũng như có bao
giờ chẳng là chân? Nếu đă nhất loạt coi là
ngụy th́ Thích Ca bèn thành kẻ tội lỗi đứng
đầu, những người thấp hơn Phật c̣n
đáng bàn nữa hay chăng? Nếu bảo các hiền nhân
chê trách [Phật giáo] chính là bằng cớ th́ là chưa biết
sự thật, tôi không bàn tới. Nếu bảo “chư hiền
chê trách là ngụy là do lỗi nơi Phật giáo, chứ chẳng
phải lỗi của chư hiền”, cho rằng câu nói “Phật
giáo là ngụy” không phải là diệt trừ Phật giáo,
chỉ giữ lại Giới - Định - Huệ - Không,
th́ chẳng thể được! Phàm Giới, Định,
Huệ, Không lúc Phật chưa xuất thế, pháp chưa
truyền sang Đông, nhưng đă ngập tràn vũ trụ,
không khiếm khuyết chút nào, nhưng các vị thánh như
Nghiêu, Thuấn, Châu Công, Khổng Tử cũng chưa giảng
rơ được, đến khi Phật giáo truyền sang
Đông mới biết chúng ta đang sống trong Giới -
Định - Huệ - Không, từ sống đến chết,
chẳng thể ra ngoài những điều này được!
Nhưng kẻ bỗng dưng đâm sợ cái đầu
chạy cuồng lên[79]
thật là đáng thương.
Thầy
thuốc trị bệnh, gấp th́ trị đằng ngọn,
thong thả bèn trị nơi gốc. Ví như có người
cổ họng ủng thũng, ăn uống khó trôi, hít thở
khó khăn, ắt phải làm tiêu chứng thũng trước,
rồi mới có thể dựa theo nguồn bệnh, điều
ḥa tạng phủ. Nếu chẳng tiêu trừ chứng
thũng trước, người ta đă chết mất,
dù có bài thuốc hay khéo trị tận gốc cũng không
sao thi thố được! Nhân quả chính là diệu pháp
để tiêu trừ chứng thũng hiện thời;
nhưng một pháp nhân quả trị chung cả đằng
ngọn lẫn đằng gốc! Kẻ sơ cơ
nương theo đó sẽ có thể cải ác tu thiện;
người thông hiểu nương vào đó sẽ có thể
đoạn Hoặc chứng Chân. Chính là pháp thông trên thấu
dưới, từ phàm phu sát đất cho đến viên
măn Phật quả đều chẳng thể ĺa pháp này
được, há nào phải chỉ để trị chứng
bịnh đằng ngọn mà thôi!
129. Thư gởi
cư sĩ Tạ Dung Thoát
Quê ông được biết
đến pháp môn Tịnh Độ là do ông Lâm Giới Sanh
thỉnh kinh sách Tịnh Độ. Nếu trong đời
trước các vị cư sĩ đối với pháp môn
này chưa từng gieo thiện căn, sao có thể lấy
cổ nhân làm thầy, vừa mới nghe bèn sanh ḷng tin, phát
nguyện, tự hành, dạy người, khiến chưa
đầy mười lăm năm, đạo ấy
đă được thạnh hành như thế? Quán thiên
tư, cảnh duyên của các hạ và pháp vận, thời
cơ hiện tại, tợ hồ nên giữ Ngũ Giới
hộ tŕ Tam Bảo, hoằng dương Tịnh Độ
để khuyên khắp mọi người văng sanh mới
chính là yếu nghĩa khế lư khế cơ bậc nhất.
V́ sao nói thế? Các hạ niên kỷ đă ngoài bốn
mươi, thiên tư chẳng phải là bậc thượng
đẳng, muốn nghiên cứu cùng tận kinh tạng,
tham phỏng tri thức th́ e rằng pháp môn vô lượng,
quang âm không nhiều, phải than thở dẫu muốn dùi
mài nhưng không thực hiện được!
Hơn nữa, hiện tại tuy
có tri thức, nhưng Tăng đa phần hỗn tạp,
thiếu người cùng hạnh (cùng hạnh c̣n gọi là “nội hộ”, tức
người có thể rèn giũa, nâng đỡ ḿnh tinh tấn
nơi đạo). Nếu chí hướng thượng bị suy bèn
xuôi theo lười nhác, biếng trễ, chẳng c̣n sốt
sắng nữa. Như Bất Huệ năm hai mươi
mốt tuổi, từ biệt cha mẹ đi tu, cũng có
thể nói là phát chân tâm lập hạnh dũng mănh, đến
nay năm mươi ba tuổi dù Tông hay Giáo đều chẳng
biết ǵ. Uổng công phụ ân cha mẹ, uổng làm Phật
tử, may là đối với một pháp Tịnh Độ,
khi xuất gia, lúc học kinh Di Đà đă sanh tín tâm, quả
thật chưa từng được một vị tri thức
nào khai thị, bởi nghiệp sư[80]
và các vị tri thức khi ấy đều chú trọng tham
cứu, bao nhiêu khai thị đều đả phá Tịnh
Độ. Tôi tự lượng sức ḿnh, chẳng bị
người khác lay chuyển, dẫu Phật, Tổ hiện
thân vẫn chẳng thay đổi, huống chi những lời
tri thức nói!
Thêm nữa, hiện nay pháp nhược
ma cường, muốn hộ tŕ Phật pháp, ở cơi tục
th́ dễ, làm Tăng lại khó. Nếu các hạ có thể
nghiêm tŕ Ngũ Giới, chuyên niệm Phật Di Đà, khắc
kỷ, giữ lễ, ngôn hạnh tương ứng; sau
đấy, thực hiện việc hóa độ người
khác một cách rộng răi, lợi khắp muôn loài, chớ nghĩ
ḿnh là thầy rồi tự cao, chớ nhận tiền tài
để tự lợi ích. Ở nhà v́ cả nhà diễn
thuyết, đối với đại chúng bèn tŕnh bày cặn
kẽ th́ mọi người đều ngưỡng mộ
đức, tin vào lời nói, đấy chính là không tự
truyền lệnh mà người hành theo, gió thổi qua cỏ
phải rạp! Lệnh lang không tin đạo này, cũng
chớ nên cưỡng bách. Cứ để đến khi
gặp cảnh chạm duyên, thiên cơ phát hiện, bèn chỉ
bảo cho, sẽ tự có cái thế cuồn cuộn không
thể chế ngự được!
Liên xă vừa mở, cần phải
có quy củ nhất định, cho nữ nhân tham dự th́
trọn chẳng thể được! Chẳng được
bắt chước cách của người ta luông tuồng
không ước thúc, khiến cho một pháp vừa lập,
trăm nghiệp tệ hại bèn nẩy sanh! Điều
này quan trọng lắm! Chẳng thể lễ xá-lợi, chẳng
thể thân cận tùng lâm, nào có thiếu sót ǵ đâu? Cứ
hễ thấy tượng Phật, liền nghĩ đó
là đức Phật thật, thấy kinh Phật, lời
Tổ, liền tưởng như Phật, Tổ đang
đối mặt dạy ḿnh, phải cung, phải kính,
không biếng nhác, không coi thường th́ chẳng phải
là suốt ngày thấy Phật, suốt ngày thân cận
chư Phật, Bồ Tát, tổ sư, thiện tri thức,
xá-lợi, tùng lâm hay sao?
Người xuất gia nếu chẳng
phải là chân tu th́ tập khí đầu đường xó
chợ c̣n quá kẻ tục. Nếu muốn xa ĺa, trước
hết phải hiểu rơ hết thảy các pháp trong thế
gian đều là khổ, là không, là vô thường, là vô ngă,
là bất tịnh th́ tham - sân - si ba độc không do đâu
khởi được! Nếu chưa ngưng dứt
được th́ hăy dùng trung hậu, tha thứ, nhẫn nhục
để đối trị, nó sẽ tự dứt. Nếu
vẫn không dứt, phải lập cách nghĩ đến
chữ Tử th́ tự nhiên vô biên nhiệt năo hóa thành thanh
lương. Kinh Báo Ân (tức kinh Đại Phương Tiện
Phật Báo Ân) dạy “theo thứ
tự thọ giới”; nay người xuất gia thọ
giới, trước hết cũng phải thọ Tam Quy,
rồi đến Ngũ Giới, tiếp đến Thập
Giới, rồi đến Cụ Túc Giới, rồi đến
Bồ Tát Giới. Nhưng thuở xưa, người thọ
giới là v́ phát tâm liễu sanh tử, người đời
nay thọ giới đa phần chỉ để
được làm đại Tăng cho thỏa thể diện,
chuyện đắc giới chưa hề thực hiện
hay nghĩ tưởng đến. V́ vậy, bọn lỗ
măng, phường hạ lưu bên ngoài không ai chẳng
được dự Tam Đàn Đại Giới[81] trở
thành Tăng.
Mối tệ này là do Thanh Thế Tổ
(Thuận Trị) băi lệ thí Tăng, miễn độ
điệp, cũng như v́ những vị sư trong thời
gần đây tham lợi danh, thích quyến thuộc đông
đảo mà nên nỗi! Tôi chỉ sợ chư Tăng ở
chỗ ông chẳng biết đến nghĩa này, tưởng
độ người xuất gia là chuyện tốt bậc
nhất, đến nỗi kẻ giặc trà trộn trong
pháp, pháp bị diệt theo. V́ thế, chẳng nề hà phiền
phức, bao lượt bàn ra. Phải biết một pháp Tịnh
Độ chính là pháp môn tối huyền, tối diệu,
chí viên chí đốn trong giáo pháp của cả một đời
Như Lai (một
pháp trọn đủ hết thảy pháp nên gọi là Viên,
tu trong đời này liền được văng sanh ngay trong
đời này nên gọi là Đốn). Hạng phàm phu
lè tè sát đất cũng có thể dự vào trong pháp này,
Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thể vượt
ra ngoài pháp này được! Quả là một con đường
tắt để thượng thánh hạ phàm mau thành Phật
đạo, là một chiếc thuyền từ để
chư Phật, chư Tổ phổ độ chúng sanh. Chẳng
có ḷng tin nơi pháp này hoặc tin không chân thành, khẩn thiết,
tức là nghiệp sâu chướng nặng, chẳng hợp
liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, muôn đời
muôn kiếp ở trong thế gian này thường xoay vần
trong lục đạo, không có lúc nào ra. Dù có được
làm trời - người, nhưng thời gian thật ngắn
ngủi như người khách ở trọ, một phen
đọa tam đồ thời gian rất dài như ở
yên nơi quê nhà. Mỗi phen nghĩ đến, lông tóc dựng
cả lên. Chẳng sợ rát họng khẩn khoản bảo
cùng đồng nhân.
Nay tôi v́ các hạ dẫn một
chuyện chứng minh ngơ hầu khơi gợi mạnh mẽ
cái tâm tín nguyện, cổ vũ sức tán dương rộng
răi vậy! Pháp môn này chỉ có kinh A Di Đà, kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật, kinh Vô Lượng Thọ
chuyên nói. Trong hết thảy các kinh Đại Thừa khác
không kinh nào chẳng giảng rơ chuyện này. Khỏi cần
nói đến kinh nào khác, một kinh Hoa Nghiêm chính là lúc đức
Phật mới thành đạo, v́ hàng Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa,
Đẳng Giác, bốn mươi mốt địa vị
Pháp Thân đại sĩ giảng thẳng vào đại
pháp vượt khỏi các giới, chẳng chung cùng phàm
phu, Nhị Thừa. Cuối cùng là phẩm Nhập Pháp Giới,
Thiện Tài đồng tử (“đồng tử” là tiếng
xưng tụng người đoạn Hoặc chứng
Chân, phá vô minh, khôi phục bổn tánh, chứ không phải
như tượng đắp thường tạc h́nh một
đứa bé nhỏ mới là đồng tử đâu nhé!
Trong kinh Hoa Nghiêm có chỗ gọi Văn Thù Bồ Tát là
Văn Thù đồng tử, các kinh khác cũng chỗ gọi
Ngài bằng danh xưng này) tuân lời ngài Văn Thù dạy,
tham học khắp các tri thức, đầu tiên gặp
Đức Vân, liền được Ngài dạy pháp môn Niệm
Phật, bèn chứng Sơ Trụ. Từ đấy, hễ
tham học bèn chứng, đến vị thứ năm
mươi ba là Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền
dùng sức oai thần gia bị, khiến cho Thiện Tài
được chứng ngang bằng với Phổ Hiền,
ngang với chư Phật (đây gọi là Đẳng Giác Bồ
Tát). Sau
đấy, ngài Phổ Hiền dạy Thiện Tài cùng Hoa Tạng
hải chúng hết thảy các đại Bồ Tát phát
mười đại nguyện vương. Đem công
đức của mười đại nguyện
vương hồi hướng văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, mong được viên măn Phật
quả.
Lại như kinh Quán Vô Lượng
Thọ, chương Hạ Phẩm Hạ Sanh, hạ phẩm
hạ sanh là nếu có chúng sanh gây nghiệp bất thiện,
Ngũ Nghịch, Thập Ác, đủ mọi điều bất
thiện, kẻ ngu như thế đáng phải đọa
vào ác đạo trải qua nhiều kiếp, chịu khổ
vô cùng. Lúc mạng sắp dứt, gặp thiện tri thức
dạy xưng danh hiệu Phật, đủ mười
tiếng xong, diệt tội văng sanh. Trong Long Thư Tịnh
Độ Văn có kể chuyện các ông Trương Thiện
Ḥa, Trương Chung Quỳ v.v… đều là người
như thế. Trên th́ như ngài Văn Thù (Văn Thù Bồ Tát có kinh phát
nguyện),
Phổ Hiền, là những bậc đại Bồ Tát
đă thành Phật đạo từ lâu, dưới th́
như kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác là những chúng
sanh sắp đọa địa ngục, đều
nương sức tiếp dẫn của A Di Đà Phật,
đều là căn cơ được nhiếp thọ bởi
Tịnh Độ. Có thể thấy là pháp môn này lớn
lao, trọn chẳng phải là thứ bỏ đi, Phật
nguyện rộng sâu, coi chúng sanh đều b́nh đẳng.
Tôi thường có câu liễn rằng:
Xả
Tây Phương tiệp kính, cửu giới chúng sanh thượng
hà dĩ viên thành Phật đạo,
Ly Tịnh Độ pháp môn, thập
phương chư Phật hạ bất năng phổ lợi
quần manh.
(Bỏ đường tắt
Tây Phương, cửu giới chúng sanh trên dùng ǵ viên thành
Phật đạo?
Ĺa pháp môn Tịnh Độ,
mười phương chư Phật dưới chẳng
thể lợi khắp quần manh)
Các hạ nên phát đại
dũng mănh, đại tinh tấn gánh vác pháp này. Đem những
ngôn luận hoằng dương Tịnh Độ thích hợp
căn cơ của cổ nhân để đề xướng
trong làng xóm, sống trong cơi trần chẳng nhiễm, tu
chân ngay trong cơi tục, mới hợp ư nghĩa đặt
tên là Dung Thoát, bởi Dung Thoát là ḥa quang nhưng chẳng
đồng trần vậy. Ư kiến hèn tệ của tôi
như vậy đó, không biết các hạ nghĩ như thế
nào? Mong hăy tự suy xét!
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao,
Quyển
thứ hai
(phần
1 hết)
[1] Nguyên văn là “sô nghị” (lời nghị luận
của kẻ tiều phu), ư nói chẳng phải là cao kiến
ǵ nên tạm dịch là “lời
nghị luận ngô nghê”.
[2] Thông Châu: tên đất
cũ, có hai nơi:
1) Ở tỉnh Hà Bắc, nay đổi thành Thông Huyện.
2) Tại tỉnh Giang Tô, nay đổi thành huyện
Nam Thông.
Không rơ Thông Châu nói ở đây là Thông Châu thuộc tỉnh
nào; nhưng trong những lá thư sau Tổ có nói là Bắc
Thông Châu, nên chúng tôi đoán Thông Châu nói ở đây thuộc
tỉnh Hà Bắc.
[3] Phiên Đài chức quan
tương đương với Bố Chánh của ta, lo
việc trị an trong một tỉnh.
[4] Thai giáo: Dạy con từ khi
con c̣n nằm trong bụng mẹ. Người mẹ khi mang
thai phải tập tánh hiền lành, ăn nói khoan thai, từ
tốn, không nói lời thô ác, không làm những cử chỉ
hung bạo, xem kinh sách của thánh hiền v.v…
[5] Vương Quư
là sáng tổ nhà Châu. Châu Công tên thật là Cơ Đán, là con
thứ của Châu Văn Vương, em của Châu Vũ
Vương, từng phù tá Vũ Vương diệt nhà Ân
Thương. Khi Vũ Vương chết, con là Thành
Vương c̣n bé, ông nắm quyền nhiếp chính, tận
lực bảo vệ vương quyền nhà Châu.
Tương truyền, phần Tượng trong kinh Dịch
do ông viết. V́ thế sau này, có rất nhiều tác phẩm
bói toán được gán cho ông làm tác giả, như cuốn
Châu Công Giải Mộng chẳng hạn.
[6] Tống Nho là Nho Học theo
quan điểm diễn dịch của Tŕnh Hạo, Tŕnh Di,
Châu Hy đề xướng (thường được
gọi là Lư Học). Họ vay mượn, xuyên tạc những
khái niệm nhà Phật để biện minh cho Nho Học,
rồi cực lực đả kích Phật pháp.
[7] Tống Cát Phồn: Người
quê ở Trừng Giang, tuổi trẻ đă đỗ
đạt. Theo truyện kư, có một viên quan lên kinh đô
t́m mua hia, thấy một đôi hia rất to, nhận ra
đó là đôi hia đă chôn theo cha ḿnh, bèn hỏi người
thợ sửa hia do đâu mà có? Người đó bảo
do một viên quan mang đến sửa và hứa sẽ trở
lại lấy. Viên quan ấy bèn chờ, quả nhiên thấy
cha ḿnh, trả tiền lấy hia. Người con lạy
cha, cha chẳng thèm ngó tới, thót lên ngựa, phóng đi.
Người con đuổi theo hai ba dặm vẫn không
đuổi kịp, gào lên: “Đă là cha con một thuở với
nhau, sao chẳng nói một lời?” Cha bảo: “Hăy học
theo Tống Cát Phồn”. Người con bèn t́m hỏi, mới
biết Cát Phồn đang làm thái thú Trấn Giang. Hỏi
nguyên do v́ sao ông được người cơi âm nể trọng,
họ Tống đáp: “Tôi thoạt đầu mỗi ngày
làm một chuyện lợi người, rồi tăng dần
lên cho đến mười chuyện. Suốt bốn
mươi năm nay, chưa từng bỏ phế ngày nào”.
Lại hỏi: “Lợi người bằng cách nào?” Cát Phồn
chỉ xuống cái ghế kê chân: “Nếu như vật này
không ngay, tôi kê lại cho ngay. Nếu người ta đang
khát, tôi cho họ chén nước, cũng là chuyện lợi
người vậy. Hễ gặp chuyện ǵ có lợi cho
người bèn làm”. Cát Phồn làm quan ở đâu cũng lập
một gian tịnh thất để thờ Phật. Có lần
ông vào thất lễ tụng, cảm được xá-lợi
giáng xuống. Ông thường khuyên người khác niệm
Phật, cảm hóa được rất nhiều người,
trong định từng dạo chơi Cực Lạc. Về
già, không bệnh tật ǵ, ngồi ngay ngắn hướng
mặt về Tây mà mất (theo Long Thư Tịnh Độ
Văn và Tây Quy Trực Chỉ).
[8] Triệu Duyệt Đạo
làm quan Ngự Sử thời Tống Nhân Tông, chí công vô
tư, được người đời xưng tụng
là Thiết Diện Ngự Sử (Ngự Sử mặt sắt).
[9] Nhũ danh: tên sữa, tên
đặt lúc mới sanh ra, ta thường gọi là “tên
hèm” (“hèm” là kiêng kỵ, không nhắc đến) hoặc “tên
húy”. Đến khi lớn lên lại đặt tên tự và
hiệu. Khi xưng hô với nhau chỉ dùng tên tự hoặc
hiệu. Khi chết, căn cứ vào đức hạnh của
người ấy khi c̣n sống lại đặt cho một
cái tên gọi là “thụy hiệu” dùng để đọc
trong văn tế khi cúng giỗ. Chẳng hạn
[10] Khuê khổn: Chỗ ở của
nữ nhân gọi là khuê khổn, hoặc khuê pḥng.
[11] Trong chuyện ngụ ngôn Tàu
có câu chuyện một anh chàng đang cầm vàng đi thấy
bên đường có một đống sợi gai to. Thấy
đống gai to bèn tối mắt, vứt vàng đi để
cặm cụi gánh gai về.
[12] Chân Như Triết:
Húy là Mộ Triết, quê ở Lâu Xuyên, theo học với
ngài Vĩnh An Viên Giác Luật Sư ở Kiến
Xương, thọ tŕ giới luật tinh nghiêm. Khi Thúy Nham
Chân Thiền Sư du phương, Sư đến cầu
học, Ngài bảo ba bốn mươi năm sau, Chân
Như Triết sẽ làm Phật sự lớn lao. Khi Chân
Thiền Sư mất, Ngài y chỉ Tổ Hoàng Bá, chấn
hưng tông phong.
Đoạn
Nhai Nghĩa: Trong vạn người cầu pháp với
Nguyên Diệu đại thiền sư ở Thiên Mục
Sơn, chỉ có ngài Đoạn Nhai và Trung Phong Minh Bổn
đắc pháp. Không rơ hành tích của Ngài, chỉ biết
trong Thiền Quan Sách Tấn, Tổ Liên Tŕ có ghi lại một
đoạn pháp ngữ của Sư: “Muốn siêu phàm nhập thánh, vĩnh viễn thoát khỏi
trần lao, th́ phải thay da đổi xương, chết
đi sống lại, như tro lạnh sanh lửa, như
cây khô tươi tốt lại. Há nên nghĩ là dễ dàng”.
[13] Ngài Ngẫu Ích sanh năm 1599
(năm Vạn Lịch thứ 27 đời Minh), mất
năm 1655 (nhằm năm Thuận Trị thứ 12 nhà
Thanh). Dẫu nhà Thanh đă chiếm được Trung Hoa,
nhưng con cháu nhà Minh vẫn chiếm cứ một số
vùng ở Nam Trung Hoa, xưng là Nam Minh, như Phước
Vương (Châu Do Tung), Đường Vương (Châu Duật
Kiện) và Quế Vương (Châu Do Lang). Măi đến
năm Khang Hy thứ hai (1663), nhà Thanh mới hoàn toàn diệt
được con cháu nhà Minh, b́nh định được
Trung Hoa. Dư đảng di thần nhà Minh một số
theo Trịnh Thành Công chạy ra Đài Loan tiếp tục
phù Minh phản Thanh.
[14] Sùng Trinh là vua cuối đời
Minh. Trước khi quân Măn Châu chiếm Trung Hoa, Lư Tự
Thành đă nổi loạn lật đổ nhà Minh, xưng
quốc hiệu là Đại Thuận, làm vua được
hai năm (1644-1645).
[15] Tướng Tông
Bát Yếu: Tên gọi đầy đủ của tác phẩm
này là Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải, là một
tác phẩm chú thích của ngài Ngẫu Ích cho tám tác phẩm
trọng yếu của tông Pháp Tướng (Duy Thức).
Tám tác phẩm ấy là: 1. Bách Pháp Minh Môn Luận của ngài
Thế Thân 2. Duy Thức Tam Thập Luận cũng của
ngài Thế Thân 3. Quán Sở Duyên Duyên Luận của ngài Trần
Na 4. Lục Ly Hợp Thích Pháp Thức của ngài Trừng
Quán (cuốn này trích từ bộ Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn
Nghĩa Sao) 5. Quán Sở Duyên Duyên Luận Thích của ngài Hộ
Pháp 6. Nhân Minh Nhập Chánh Lư Luận của ngài
Thương Yết La Chủ 7. Tam Chi Tỷ Lượng của
ngài Huyền Trang và 8. Bát Thức Quy Củ Tụng cũng của
ngài Huyền Trang.
[16] Đây là tác phẩm chú giải
bộ Đại Thừa Chỉ Quán của ngài Huệ
Tư (thầy ngài Trí Khải).
[17] Duyệt Tạng
Tri Tân gồm bốn mươi tám quyển, là một loại
sách tổng mục, phân định 1.773 bộ kinh sách trong
Đại Tạng thành bốn loại Kinh, Luật, Luận
và Tạp. Đối với mỗi tác phẩm đều
có những lời giải thích thiết yếu. Nội dung
gồm:
1) Kinh Tạng: gồm
976 bộ kinh Đại Thừa (căn cứ theo tiêu chuẩn
ngũ thời phán giáo của tông Thiên Thai) và 211 bộ kinh
Tiểu Thừa.
2) Luật Tạng
gồm 30 bộ Luật Đại Thừa và 61 bộ Luật
Tiểu Thừa.
3) Luận Tạng
gồm luận Đại Thừa, chia thành 71 bộ Thích
Kinh Luận (luận nhằm giải thích kinh theo từng
đoạn kinh) và 117 bộ Tông Kinh Luận (giải thích
giáo nghĩa chánh yếu của một kinh), 32 bộ Chư
Luận Thích (chú giải các bộ luận)) và 47 bộ luận
Tiểu Thừa.
4) Tạp Tạng
gồm các thể loại: Tây Phương (những kinh
điển của ngoại đạo hoặc bị nghi
ngờ là ngụy tạo của Ấn Độ, gồm
48 bộ) và Thử Độ (những nghi thức sám hối,
các trước tác Tịnh Độ, Thiên Thai, Thiền
Tông, Hiền Thủ Tông, Từ Ân Tông, Mật Tông, Luật
Tông, truyện kư, hộ pháp, âm nghĩa, mục lục, bài tựa,
bài tán, pháp sự v.v… của Trung Hoa, tổng cộng 176 bộ).
[18] Thuở xưa, in sách bằng
ván gỗ (thường gọi là in mộc bản). Trước
hết phải nhờ người chữ tốt chép lại
bản sách ấy rơ ràng, rồi đưa bản chép ấy
cho thợ khắc gỗ khắc ngược những chữ
ấy lên ván gỗ. Nhà in sẽ dùng những ván gỗ ấy,
phết mực lên, áp xuống giấy trắng để
in thành sách.
[19] Bộ sách này gồm
tám quyển, biên soạn vào năm Ung Chánh thứ 11 (1733).
Nguyên khởi là do sư Hán Nguyệt Pháp Tạng thuộc
ḍng Thiền Lâm Tế soạn cuốn Ngũ Tông Nguyên, môn
nhân của Sư là Đàm Cát Hoằng Nhẫn cũng soạn
cuốn Ngũ Tông Cứu để đả kích giáo
nghĩa ḍng Thiền Tào Động lúc ấy, gây nên tranh luận
ồn ào trong chốn Thiền lâm bấy giờ, cho đến
tận đời Thanh vẫn c̣n chưa dứt. Thanh Thế
Tông bèn soạn tác phẩm này, phán định chủ
trương của Hán Nguyệt và Hoằng Nhẫn là tà ma
dị thuyết, phê phán những cuốn Ngữ Lục của
hai vị này. Vua c̣n chê trách môn nhân của hai vị trên
ăn thịt, uống rượu, hủy phá giới luật,
gây nguy hại cho Phật giáo rất lớn, cần phải
phế trừ.
[20] Viên Minh là một biệt hiệu
khác của Ung Chánh. Tác phẩm này có tên là Viên Minh Bách Vấn,
trích ra từ quyển thứ 12 của bộ Ung Chánh Ngự
Soạn Ngữ Lục. Tác phẩm này gồm một
trăm đoạn văn ngắn biện định về
Thiền Tông.
[21] Tức sư Hán Nguyệt
Pháp Tạng. Đệ tử tại gia của môn nhân ngài
Hán Nguyệt Pháp Tạng là những kẻ đương nắm
giữ quyền chức thời ấy nên họ t́m cách
ngăn không cho cuốn Giản Ma Biện Dị Lục
được nhập tạng.
[22] Thiền ḥa: Gọi tắt của
“thiền ḥa tử” hoặc “thiền ḥa giả”, là tiếng
để chỉ những người tham Thiền.
[23] Tức Dương Châu, tự
Tử Cư, người nước Vệ, sống vào thời
Chiến Quốc, chủ trương Vị Ngă, nhổ một
cái lông mà có lợi cho người khác cũng không làm.
[24] Ở đây, xin đừng
hiểu lầm ư Tổ. Tổ nói quở trách người
thâm nhập một môn là người chấp khăng
khăng vào pháp môn của chính ḿnh, bài xích các pháp môn khác, không
chịu học hỏi kinh điển nhà Phật, chứ không
hề dạy tu tập tràn lan, pháp nào cũng tu, pháp nào
cũng học, không biết lượng sức. V́ thế,
chư Tổ Tịnh Độ thường đề
xướng “thâm nhập một
môn, trường thời huân tu”. Đọc kỹ những
lời giáo huấn của Tổ, sẽ thấy Tổ quở
trách chuyện học tràn lan không chuyên nhất. Ư của Tổ
ở đây nhằm quở trách những kẻ chỉ cho
niệm Phật là đủ, không bận tâm tu tập các trợ
hạnh khác để hỗ trợ chánh hạnh Niệm Phật.
[25] Mạnh Do là anh ruột của
Châu Quần Tranh.
[26] Pháp khí: Chỉ
những người có thể tu hành Phật đạo.
Sách Sơn Đường Tứ Khảo chép: “Nhị Tổ Huệ Khả thờ
ngài Đạt Ma đă lâu, chưa được nghe giáo huấn,
bèn chặt tay cầu pháp, Sư biết là pháp khí, bèn trao cho
y bát”.
[27] Chính là ông Vương Nhật
Hưu, tác giả bộ Long Thư Tịnh Độ
Văn.
[28] Nguyên văn “đương
đầu bổng hát”: Tông Lâm Tế dùng gậy đánh, tiếng
hét để khai ngộ. Nên “đương đầu bổng
hát” cũng có nghĩa là nhân duyên, cảnh tượng giúp
ḿnh tỉnh giác.
[29] Âu Giang: Con sông lớn thứ
hai của tỉnh Chiết Giang, phát nguyên từ núi Đồng
Cung, chảy theo hướng về Đông
[30] Họ Đinh ở đây là ông Đinh Phước Bảo, trong lá thư trả lời cư sĩ
Ninh Đức Tấn, Tổ có nói: “Cuốn Phật Học Đại Từ Điển do ông Đinh Phước Bảo biên soạn, danh
tướng thật rộng, nhưng khảo cứu chưa thật tường tận. Nói chung,
cứ ba mươi điều có một điều bị sai lạc, chỉ có bậc thông gia mới phân biệt được, nếu không rất có thể do đó bị lầm”.
[31] Họ Viên ở đây là ông Viên Tử Tài (1716-1797). Lời tựa
cuốn Kỷ Văn Đạt Công Bút Kư Trích Yếu có chép: “Từ đời Thanh đến
nay, người bác học đa văn th́ tiên sinh Giang Thận
Tu là bậc nhất, kế đến là Kỷ Văn Đạt
rồi đến là ông Viên Tử Tài… Viên Tử Tài thoạt
đầu bài bác Phật, đến tuổi trung niên trở
đi, lịch duyệt ngày càng sau, bèn sanh ḷng tin chân thật
đối với Phật pháp, chỉ v́ cuồng vọng,
tự đại, lười nhác, biếng trễ, chẳng
chịu thân cận cao nhân, lắng
ḷng nghiên cứu…”. Qua lời nhận định này, có
thể đoan chắc họ Viên nói ở đây là ông Viên Tử
Tài. Ông tên thật là Viên Mai, tự
Tử Tài, hiệu Tùy Viên Lăo Nhân, là người Hàng Châu, tỉnh
Chiết Giang, đỗ tiến sĩ dưới đời
vua Gia Khánh, từng làm tri huyện bốn lần. Về
sau, từ quan sống ở Tiểu Thương Sơn tại
Nam Kinh, dựng Tùy Viên để hưởng nhàn, chuyên tâm
viết lách, nghiên cứu nghệ thuật ẩm thực.
Ngoài danh hiệu lư luận gia lừng danh, ông cũng là một
nhà văn nổi tiếng biết thưởng thức món
ăn ngon. Thi văn của ông trang nhă, bóng bẩy, t́nh tứ.
Bộ Tùy Viên Thực Đơn của ông nổi tiếng
đến nỗi được xuất bản ngay trong
đời Thanh, và được phiên dịch sang tiếng
Nhật. Năm 1983, Quảng Đông Khoa Kỹ Xuất Bản
Xă đă tái bản cuốn sách này.
[32] Ông Kỷ ở đây là Kỷ Văn Đạt (1724-1805) tên thật là Kỷ Quân, tự Hiểu Lam, tên thụy là Văn Đạt. Người huyện Hiến, tỉnh Hà Bắc, làm quan đến chức thượng thư bộ Lễ, Hiệp Biện Đại Học Sĩ, từng đảm nhiệm việc biên tập tác phẩm đồ sộ Tứ Khố Toàn Thư dưới thời Càn Long.
[33] Phương ngoại có
nghĩa là thế ngoại (ở ngoài cơi đời).
Tăng sĩ kết bạn với tục gia đệ tử
thường xưng là “phương ngoại hữu”, tức
là người bạn ở ngoài cơi đời. Trong Thiền
Lâm, khi một vị tăng đảm nhiệm mới
đến đảm nhiệm trụ tŕ một ngôi chùa,
các vị thân sĩ viết bài văn chúc mừng, bài văn
ấy cũng gọi là Phương Ngoại Sớ.
[34] Ḥa quang đồng sự,
c̣n gọi là ḥa quang đồng trần: Sống chung với
chúng sanh, sanh hoạt, xử sự giống như chúng sanh
để dễ bề giáo hóa.
[35] Truy tiến: Làm các pháp sự
hoặc thiện sự để hồi hướng cầu
cho người đă mất được siêu sanh Tịnh
Độ.
[36] Tiên vong: Những người
đă mất.
[37] Thời ấy in bằng mộc
bản (chữ khắc trực tiếp trên ván) nên nếu
khắc chữ nhỏ quá, khi bôi mực lên ván rồi ép xuống
giấy in thành sách, bị ép nhiều, chữ sẽ bị
vỡ, phải khắc bản gỗ mới.
[38] Đại Minh Nhân Hiếu Hoàng hậu chính là hoàng hậu
Từ Nghi Hoa của vua Minh Thành Tổ, bà vốn là con gái của
Khai Quốc Công Thần Từ Đạt của nhà Minh,
sanh năm 1361. Năm 1376 lấy Châu Lệ, được
sách phong Yên Vương Phi, rồi được phong Hoàng
Hậu khi Châu Lệ lên ngôi. Bà mất năm 1497, hưởng
thọ 46 tuổi. Bản kinh bà mộng thấy mang tên
Đại Minh Nhân Hiếu Hoàng Hậu Mộng Cảm Phật
Thuyết Đệ Nhất Hy Hữu Đại Công Đức
Kinh, là bản kinh số 10, tập X01 của Vạn Tục
Tạng.
[39] Nghi ngụy: là kinh bị coi
là do người đời bịa đặt ra, không phải
là kinh Phật thật sự.
[40] Cáp Nhĩ Tân (Harbin) là thủ
phủ của tỉnh Hắc Long Giang, tỉnh cực Bắc
của Trung Quốc (Vùng Măn Châu khi xưa nay được
chia thành ba tỉnh Cát Lâm, Liêu Ninh và Hắc Long Giang). Thành phố
này nằm ở phía
[41] Ư nói tu tập, tác pháp đă được
đôi chút cảm ứng, hảo tướng đă hiện.
[42] Trong Mật Tông, khi tŕ chú, tác pháp thường
cầu những hảo tướng như mộng thấy
thân ḿnh bay lên hư không, được Bổn Tôn cho ăn
sữa và những thức ăn màu trắng, thấy pháp
khí tỏa sáng, tràng phan lay động v.v… để cầu
ấn chứng pháp ḿnh đang tu đă được hành
tŕ đúng cách. Rất nhiều hành giả Mật Tông thấy
những tướng trạng ấy tưởng ḿnh đă
thành tựu, dự vào hàng Thánh, nên gọi là “lầm nhận
tin tức”.
[43] Gia Tường Đại
Sư tức ngài Cát Tạng (549-623), người đời
Tùy, họ An, húy là Thế, sanh tại tỉnh An Huy, vốn
là người Hồ, sau dời đến Kim Lăng (Nam
Kinh), nên c̣n được gọi là An Cát Tạng hoặc Hồ
Cát Tạng. Năm lên bốn tuổi, theo cha mẹ đến
yết kiến pháp sư Chân Đế nên được
đặt pháp danh là Cát Tạng. Về sau, cha ngài xuất
gia, ngài thường theo cha đến chùa Hưng Hoàng nghe
ngài Pháp Lăng giảng Tam Luận. Năm bảy tuổi (có
thuyết nói là 13 tuổi), xuất gia với ngài Pháp Lăng. Do
ngài Pháp Lăng là truyền thừa của ngài La Thập về
giáo học Tam Luận Tông, nên ngài Cát Tường chuyên học
các bộ Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận.
Đến năm 19 tuổi, đại sư lên giảng
kinh. Năm 21 tuổi thọ Đại Giới. Năm 581,
sư Pháp Lăng thị tịch, Ngài bèn qua Giang Đông, đến
chùa Gia Tường ở Cối Kê, tỉnh Chiết Giang,
chuyên tâm giảng thuyết trước tác. Phần nhiều
những chú sớ Tam Luận được hoàn thành tại
chùa này, nên Sư thường được gọi là Gia
Tường đại sư. Ngoài Tam Luận, đại
sư c̣n hết sức uyên thâm giáo nghĩa các kinh Pháp Hoa, Niết
Bàn. Ngài cũng từng gởi thơ cho đại sư
Trí Giả để học thêm về giáo nghĩa Thiên Thai
Tông. Ngài chuyên chú phục hưng Tam Luận Tông, nên
được coi là một vị tổ sư của Tông
này. Đại sư c̣n tự tay chép được hai ngàn
bộ Pháp Hoa. Năm Vũ Đức thứ sáu đời
Đường (623), Sư tắm gội thanh tịnh,
đốt hương niệm Phật, viết bài luận
“Chết Không Sợ Hăi” rồi nhập diệt, thọ 75
tuổi. B́nh sinh đại sư giảng kinh thật nhiều,
chẳng hạn như giảng Tam Luận hơn trăm lần,
giảng kinh Pháp Hoa hơn ba trăm lần, viết rất
nhiều chú sớ cho các kinh Đại Thừa. Bản Quán
Kinh Nghĩa Sớ này cũng được đưa vào
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
[44] Thập Nhất Diện Sớ
là bản chú giải kinh Phật Thuyết Thập Nhất
Diện Quán Âm Tâm Chú kinh.
[45] Núi Hồng Loa thuộc tỉnh
Liêu Ninh, có chùa Tư Phước là đạo tràng tu tập
của tổ Triệt Ngộ.
[46] Tức kinh Xuân Thu, đây là một
bộ cổ sử do Khổng Tử san định. Khổng
Tử được coi như kỳ lân trong loài người
(theo truyền thuyết khi sắp sinh ra Ngài, thân mẫu mộng
thấy kỳ lân. Khi hiệu đính bộ sử này, Ngài
nghe tin ngoài đồng bắt được kỳ lân bèn
ngưng không viết tiếp), nên bộ sử do Ngài san
định được gọi là Lân Kinh.
[47] Ô Khoa Đạo Lâm (741-824),
người đời Đường, thuộc ḍng Thiền
Ngưu Đầu, họ Phan (có thuyết nói là họ Ông),
tên lúc nhỏ là Hương Quang. Xuất gia năm chín tuổi,
năm 21 tuổi đến Kinh Châu (tỉnh Hồ Bắc)
thọ Cụ Túc Giới ở chùa Quả Nguyện. Sau qua
theo học kinh Hoa Nghiêm, Đại Thừa Khởi Tín Luận
với Phục Lễ pháp sư ở chùa Tây Minh tại
Trường An. Sau Ngài khế ngộ tâm yếu nơi pháp
sư Đạo Khâm rồi quay về Nam, thấy núi Tần
Vọng có cây tùng mọc um tùm như cái tàn, bèn sống ở
đó. Người thời ấy bèn gọi Ngài là Ô Khoa thiền
sư (Khoa là cái ổ, sách Thuyết Văn Giải Tự giảng:
“Hang ổ gọi là Khoa, tổ chim gọi là Sào”). Do có
nhiều loại quạ làm tổ nơi ấy, nên Ngài c̣n
được gọi là Ô Sào thiền sư. Ông Bạch
Cư Dị hỏi đạo nơi Ngài, tâm phục khẩu
phục, bèn dựng căn gác bằng trúc cho Ngài ở để
tiện hỏi đạo, nơi đây về sau thành chùa
Quảng Hóa. C̣n có truyền thuyết nói lúc Ngài sanh ra bị
cha mẹ bỏ rơi, được quạ nuôi nên gọi
là Ô Sào thiền sư. Đây có lẽ là lời đồn
bịa đặt v́ không thấy Cảnh Đức Truyền
Đăng Lục chép như vậy.
[48] Bành Hy Tốc, tự Lạc Viên, hiệu Lan Đài, người xứ Nguyên Ḥa ở Tô Châu, vốn là cháu ông Bành Tế Thanh. Cùng với Bành Tế Thanh, ông đảm nhiệm việc tu đính bộ Văng Sanh Tập của ngài Vân Thê, tạo thành bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Năm Càn Long 58, ông vừa bị bệnh sốt rét, vừa bị kiết lỵ, bèn đến chỗ mẹ ở, tuyệt không nhắc đến việc nhà, chỉ tận lực khuyên mẹ niệm Phật, bảo: “Ngày nọ tướng hảo Tây Phương đă hiện”. Trước hôm mất ba bữa, ông thỉnh Trừng Cốc ḥa thượng đến trước giường bệnh, lập bàn thờ thọ Tam Quy Ngũ Giới, sám hối phát nguyện, càng thêm khẩn thiết. Sáng ngày Ba Mươi, ông bảo người nhà treo tượng Phật, dời giường hướng về Tây, thưa với ḥa thượng: “Phiền thầy niệm Phật cho con!” Đến tối, miệng niệm Phật râm ran, nằm trên hông phải qua đời, mùi hương lạ ngập thất, thọ 33 tuổi. Vợ ông là Cố Thị, cực thông minh, giúp chồng rất lớn trong việc biên tập, trước đó đă niệm Phật qua đời vào năm bà 29 tuổi
[49] Hai mươi bốn bộ sử gồm Sử Kư,
Hán Thư, Hậu Hán Thư, Tam Quốc Chí, Tấn Thư, Tống
Thư, Nam Tề Thư, Lương Thư, Trần Thư,
Ngụy Thư, Bắc Tề Thư, Châu Thư, Nam Sử,
Bắc Sử, Tùy Thư, Cựu Đường Thư, Tân
Đường Thư, Cựu Ngũ Đại Sử, Tân
Ngũ Đại Sử, Tống Sử, Liêu Sử, Kim Sử,
Nguyên Sử và Minh Sử. Thời Càn Long, hai mươi bốn
bộ sử này được chỉnh lư, nhuận sắc
và hợp thành một bộ lớn gọi chung là Nhị Thập
Tứ Sử.
[50] Gồm ba mươi sáu quyển,
do ngài Viên Cực Cư Đảnh soạn vào đời
Minh để tiếp theo bộ Cảnh Đức Truyền
Đăng Lục, chép phổ hệ truyền thừa của
nhà Thiền từ môn nhân đời thứ 10 của tổ
Huệ Năng đến đời thứ 20, chú trọng
ghi lại những câu thoại đầu, chỉ chép
sơ sài sự tích, tổng cộng gồm 1.203 vị. Sự
tích các vị này lấy từ các sách Ngũ Đăng Hội
Nguyên, Phật Tổ Huệ Mạng, Tăng Bảo Truyện,
Thiền Môn Tông Phái Đồ, Chư Tổ Ngữ Lục
v.v...
[51] Phú Trịnh Công là thừa tướng Phú Bật đời Tống, Tư Mă Ôn Công chính là Tư Mă Quang, ông này cũng từng làm tể tướng thời Tống, từng chống đối Vương An Thạch.
[52] Thông công: tức là ngài Thông
Trí Tầm Nguyên.
[53] Nguyên văn “khánh khái”. Tiếng
đằng hắng là một trong mười thần lực
Phật thị hiện trong kinh Pháp Hoa. Khánh khái có nghĩa
là trước khi muốn nói, bèn đằng hắng cho cổ
họng thông suốt. Theo Pháp Hoa Văn Cú, “khánh khái” có hai
nghĩa:
1) Khánh khái để tỏ ư sự việc đă
xong, tức là hơn bốn mươi năm thuyết
pháp, ẩn giấu sự thật, nay trong hội Pháp Hoa
khai Quyền hiển Thật, bèn được diễn tả
thông suốt, trọn không ngăn trệ. V́ thế, trước
khi cất tiếng diễn bày thông suốt đại sự
bèn đằng hắng.
2) Khánh khái phó chúc, nghĩa là Phật muốn đem
pháp này giao phó cho các vị Bồ Tát để các Ngài chỉ
dạy lại cho chúng sanh đời sau, nên bèn đằng
hắng.
Ở đây, Khánh Khái là một cách diễn tả tôn
trọng, ư nói may được Ḥa Thượng
thương tưởng đến ban cho pháp ngữ.
[54] Nguyên văn là “hoa hàn”: Hoa là
hoa tiên, một thứ giấy đẹp để viết
thư, Hàn là bút mực. Cổ văn hay dùng chữ này để
tôn xưng thư từ, giấy tờ viết lách của
người khác.
[55] Nguyên văn: “Nhược phù lược huyền hoàng nhi thủ
thần tuấn, tu đăi đắc ư vong ngôn chi nhân, ngoạn
đồ tượng nhi bố chân long, mỗi đa tầm
sổ hàng mặc” (nếu lược bỏ những
con ngựa sắc đen vàng xen tạp, chọn lấy con
ngựa hay, phải đợi người được
ư quên lời, c̣n kẻ thích chơi tranh ảnh, lại sợ
rồng thật, chỉ có thể thường đọc
ḍ theo câu văn). “Tầm sổ hàng mặc” là một thành
ngữ, ư nói chỉ biết đọc thông mặt chữ,
không lănh hội được ư nghĩa. Ở đây, Tổ
tự khiêm ḿnh tài hèn sức kém, không làm công việc nhuận
sắc, biên tập được.
[56] Trọng Ni là tên tự của
Khổng Tử, Khổng Tử húy là Khâu (Khưu).
[57] Lư Đại Phật Đảnh:
Chỉ những giáo lư của kinh Lăng Nghiêm, kinh Lăng
Nghiêm có tên gọi đầy đủ Đại Phật
Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu
Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng
Nghiêm Kinh.
[58] Phương Sơn chính là Trưởng
Giả Lư Thông Huyền, tác giả bộ Hoa Nghiêm Hợp Luận.
Ông ẩn cư tại Phương Sơn vào thời Khai
Nguyên thời Đường. C̣n Vô Vi chính là Dương Kiệt
đời Tống, tự Thứ Công, hiệu Vô Vi Tử,
đắc pháp với ngài Thiên Y Hoài Nghĩa. Sau do cưu
tang mẹ, duyệt Đại Tạng kinh, ngộ pháp môn Tịnh
Độ thù thắng, bèn tận lực tu tŕ dạy
người. Lâm chung nói kệ, nghiễm nhiên qua đời.
[59] Nguyên văn là “quốc môn” tức
cái cửa chánh nơi đền vua, chúng tôi dịch là Ngọ
Môn, theo cách gọi cửa chánh vào cung điện Huế. Ở
đây nhắc đến chuyện ngài Huyền Trang khi sang
Tây Thiên thỉnh kinh, nhằm năm Ngài 41 tuổi, vua Giới
Nhật mở đại hội Vô Giá ở thành Khúc Nữ,
mời toàn bộ các luận sư Đại Tiểu Thừa
và hàng Bà La Môn ở mười tám tiểu quốc của Ấn
Độ đến dự, cùng nhau biện luận về
Phật pháp. Đại sư nhận lời vua thỉnh,
làm chủ tọa đại hội, xưng dương
Đại Thừa, Ngài soạn bản luận Chân Duy Thức
Lượng treo ngoài cửa quốc thành suốt cả
mười tám ngày. Vua Giới Nhật truyền lệnh ai
sửa được một chữ sẽ thưởng
ngàn vàng. Không ai bắt bẻ được một chữ
nào!
[60] Duy Ma (Vimakirti): Gọi đủ
là Duy Ma Cật, dịch nghĩa là Tịnh Danh. Ngài là một
vị đại Bồ Tát hiện thân cư sĩ thời
đức Phật. Những lời Ngài giảng về pháp
môn Bất Nhị được ghi trong kinh Duy Ma Cật Sở
Thuyết Kinh.
[61] Tức ḥa thượng Tịch
Sơn ở chùa Vạn Thọ vừa được nhắc
đến trong lá thư trước.
[62] Dương Thứ Công chính là Dương Kiệt, hiệu là Thứ Công, tức Vô Vi Tử trong chú thích ở phần trên.
[63] Tác gia: Chữ “tác gia” thoạt
đầu là chỉ người giỏi soạn thơ
văn. Do Thiền Giả cũng thường dùng thơ
văn để tŕnh bày yếu chỉ nhà Thiền nên nếu
ai khéo lănh hội nghĩa Thiền, khéo độ được
người cũng được gọi là tác gia.
[64] Nhất Thừa Bộc: cư sĩ Bộc Đại Phàm, một trong những người biên tập tờ Phật Học Tùng Báo.
[65] Ngũ tộc: năm sắc
dân chính của Trung Hoa là Hán, Tây Tạng, Mông Cổ, Hồi,
Măn Châu.
[66] Nguyên văn “Vũ điện”:
Điện là lănh thổ cai trị. Vũ là vua Đại
Vũ, khai sáng nhà Hạ.
[67] Ngũ phước phát
xuất từ thiên Hồng Phạm trong sách Thượng
Thư gồm: thọ, phú, khang ninh, tố hảo đức,
khảo mạng chung (sống
lâu, giàu có, mạnh khỏe b́nh yên, làm điều đức
hạnh tốt, chết yên lành). Tương truyền
tác giả là Cơ Tử.
Tam đa: đa phước, đa thọ, đa tử (phước nhiều, sống lâu, lắm con) Theo sách Hoa Nhạc Chí, quyển 1 đời Thanh, di chỉ Hoa Phong ở phía Đông Bắc Hoa Sơn. Cũng theo sách Hoa Dương Huyện Chí, thiên Cổ Tích, có chép một đoạn đối thoại giữa vua Nghiêu và dân vùng này: “Đào Đường Đế đến Hoa Sơn, dân Hoa Phong thưa: ‘A! Xin chúc thánh nhân lắm phước, lắm thọ, lắm con cái’. Vua nói: ‘Thôi đi! Lắm con th́ lo nhiều, lắm phước ắt lắm chuyện, lắm thọ càng lắm nhục”. V́ thế, mới có điển tích “Hoa Phong tam đa”.
[68] Ư nói kể từ đầu
triều đại nhà Thanh.
[69] Nguyên văn “thúy hoa nam hạnh”:
[70] Một rặng núi lớn ở
Tây Nam Trung Quốc, bắt nguồn từ cao nguyên Pamir
đến tận tỉnh Tứ Xuyên, toàn bộ rặng
núi dài đến 2.500 km. Theo truyền thuyết, đây là
nơi cư ngụ của các vị tiên và có nhiều ngọc
quư.
[71] Đây là chuyện Biện
Ḥa thời Chiến Quốc, biết trong tảng đá có
ngọc quyết dâng lên vua, bị gièm pha đến nỗi
bị chặt chân, cứ ôm tảng đá ngồi khóc ngoài
đồng. Sau có người thương t́nh tâu lên vua, vua
sai chẻ tảng đá ra, quả thật có ngọc quư vô
giá, thường gọi là “ngọc liên thành”. Sau Tần Thủy
Hoàng cướp ngọc ấy, cho khắc thành ấn truyền
quốc.
[72] Kim Thang: Chữ Kim chỉ tường thành chế tạo bằng kim loại; Thang chỉ sông hào bảo vệ vây quanh thành. Ư nói phương tiện bảo vệ kiên cố.
[73] Theo quy chế thời ấy,
quan vơ phẩm trật kém hơn quan văn, không được
sử dụng ấn vuông.
[74] Lương Nhậm Công chính là Lương Khải Siêu (1873-1929), tự là Trác Như, hiệu Nhậm Công, c̣n có biệt hiệu là Băng Thất Chủ Nhân. Người xứ Tân Hội, Quảng Đông, sanh vào thời Đồng Trị. Ông là một nhà tư tưởng lẫy lừng thời cận đại, đồng thời là một nhà nghiên cứu Phật giáo. Cùng với Khang Hữu Vi mưu giúp vua Quang Tự lật đổ Từ Hy Thái Hậu nhưng thất bại, ông phải lưu vong một thời gian.
[75] Kính Trung Kính Hựu Kính: là tác phẩm của
Trương Sư Thành thời Minh. Trương Sư Thành
tự là Tâm Hữu, hiệu Lan Chử, người Quy An, Hồ
Châu. Cha mộng thấy mặt trời chiếu vào cửa
sổ, tỉnh dậy th́ thấy Sư Thành được
sanh ra. Ông thờ cha hiếu có tiếng, đỗ đạt
từ lúc nhỏ, đảm nhiệm việc trấn giữ
biên cương. Khi làm tuần vũ tỉnh Giang Tô, thấy
người địa phương sát nghiệp nên nhiều
lần ban cáo thị khuyên kiêng sát sanh, nghiêm cấm bắt
cá. Trong dinh ông không tiệc tùng, không sát sanh. Ông trường
trai thờ Phật, dốc ḷng nơi Tịnh Độ, tự
lấy hiệu là Nhất Tây Cư Sĩ. Cuốn Kính Trung
Kính Hựu Kính của ông được đưa vào Vạn
Tục Tạng kinh, tập 62, đánh số 1185.
[76] Ngũ giáo: Phật Giáo, Khổng Giáo, Đạo Giáo, Thiên Chúa Giáo và Y Tư Lan Giáo (Islam).
[77] Vệ Vơ Công, tên là Cơ Ḥa, người
xứ Triều Ca, là con của Vệ Ly Hầu, ở ngôi
vua từ 812 đến 758 trước Công Nguyên. Năm 771
trước Công Nguyên, quân Khuyển Nhung giết Châu U
Vương. Vệ Vơ Công cùng chư hầu hợp binh giúp
nhà Châu dẹp loạn có công, được Châu B́nh
Vương phong tước Công. Vua chăm lo chánh sự, lo
cho dân giàu nước mạnh, rất được dân
chúng hai nước Châu, Vệ kính trọng.
[78] Không rơ Giang Thần Đồng ở
đây là ai? Nhưng trong thư gởi cho cư sĩ Sái Khế
Thành năm 1923, Tổ Ấn Quang có viết: “Giang Thần Đồng là quỷ
thần dựa vào thân mà có năng lực ấy, chứ
không phải thật sự là thần đồng. Năm
trước, bạn tôi là ông Trương Chi Minh đem bài
Thư Đ́nh Chiến của Giang Thần Đồng
đưa cho Quang xem, nhờ phê b́nh những chỗ không
thích hợp để xem có nên lưu truyền hay không.
Đến khi Quang chỉ ra những khuyết điểm,
người bạn ấy nhất loạt không đề cập
đến nữa. Tôn Giáo Đại Đồng Hội là
ǵ? Thích Ca Hóa Thân là ǵ? Người có trí thức nghe đến
liền biết hắn ta là ma vương hiện chuyện
lạ lùng để mê hoặc con người, cần ǵ phải
hỏi ai nữa?” Căn cứ vào đoạn văn
trên, Giang Thần Đồng phải là một đứa
bé nổi tiếng thần đồng thời ấy.
[79] Kinh Lăng Nghiêm có nhắc
đến chàng Diễn Nhă soi gương thấy cái đầu
ḿnh đâm ra hoảng sợ, phát cuồng!
[80] Vị thầy độ cho
ḿnh đi xuất gia gọi là nghiệp sư.
[81] Tam Đàn Đại Giới:
Quy củ truyền thọ giới pháp, chia làm ba giai đoạn:
sơ đàn, nhị đàn và tam đàn. Sơ đàn truyền
Sa Di, Sa Di Ni giới, nhị đàn truyền Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni giới, tam đàn truyền Bồ Tát giới. Khi
Sơ Đàn và Nhị Đàn đă xong, Phật tử tại
gia mới được dự Tam Đàn cùng thọ Bồ
Tát Giới. Một đàn truyền đại giới phải
hội đủ tam sư (Đắc Giới Ḥa Thượng,
Yết Ma A Xà Lê, Giáo Thọ) và bảy vị tôn chứng A
Xà Lê đóng vai tṛ chứng minh. Thông thường đàn truyền
giới được cử hành trong ba ngày liên tiếp.