Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao
Quyển thứ hai
(Phần 3)
158. Thư trả lời cư sĩ
Hoàng Ngọc Như ở Sùng Minh
Nhận được thư, khôn ngăn mừng
rỡ, an ủi. Pháp Tŕ Danh là pháp thích ứng căn cơ
nhất trong đời Mạt Pháp. Ngài Thiện Đạo
tuy sớ giải Quán Kinh, nhưng thật ra Ngài trọng nhất
hạnh Tŕ Danh. Chẳng thấy [đoạn văn Ngài viết]:
“Chúng sanh đời Mạt Pháp
thần thức chông chênh, tâm thô, cảnh tế, quán khó thành
tựu. Đại Thánh bi mẫn, riêng khuyên chuyên tŕ danh hiệu,
bởi xưng danh dễ dàng, [niệm Phật] liên tục
bèn được văng sanh” hay sao? Tuy có mười sáu hạnh
(pháp quán), nhưng hành giả tu tập phải hành từ
pháp dễ tu trước, hoặc là quán tướng Bạch
Hào[1] của
Như Lai, hoặc quán tưởng pháp Tạp Quán thứ
mười ba. Đến phần quán chín phẩm, chẳng
qua là để cho người ta biết nhân trước và
quả sau của hành nhân văng sanh mà thôi. Chỉ mong hiểu
rơ là được rồi, thật ra không cần phải
quán riêng phép này.
Quán
về mặt Lư không thể không biết, nhưng về mặt
Sự, phải từ từ hành. Nếu không hiểu rơ Lư,
quán cảnh chẳng rành, dùng cái tâm tháo động, bộp
chộp để tu rất có thể khởi lên ma sự. Khi
quán cảnh hiện tiền, nếu tâm lầm lạc nẩy
sanh ư niệm vui sướng, th́ cũng do vui sướng
mà thành chướng, rất có thể bị lui sụt công
tu tập từ trước. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm
nói: “Chẳng khởi tâm tưởng
là thánh [cảnh] th́ gọi là cảnh giới lành; nếu
tưởng là thánh cảnh bèn vướng vào các tà”. Mong
ông nhất tâm tŕ danh, bởi đây là hạnh ngàn vạn phần
ổn thỏa, thích đáng. Đợi đến khi tâm
đă quy nhất, tịnh cảnh sẽ tự hiện tiền.
Tứ Thiếp Sớ[2] bị
[in chép] sai ngoa rất nhiều; hai mươi năm trước,
Quang đă từng giảo chánh đại lược.
Năm ngoái, ḥa thượng Diệu Liên thuộc Quán Âm Am ở
ngơ Dương B́ tại Nam Kinh muốn khắc riêng bản
ấy, sang năm chắc sẽ ra sách, xin hăy thỉnh về
xem.
Tùy
Tự Ư tam-muội[3] là
hạnh cùng tu của ba căn thượng, trung, hạ.
Người niệm Phật tuy chẳng chuyên lấy pháp ấy
làm chủ, nhưng cũng không thể không biết. Biết
pháp này th́ tâm Bồ Đề niệm Phật càng thêm thù thắng,
bởi biết đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống,
nói năng, không lúc nào chẳng phải là lúc tự lợi,
lợi tha. Nhưng cần phải từ “không làm các điều ác, vâng làm các điều lành,
ăn chay, kiêng giết” mà khởi sự th́ mới là
người thật sự niệm Phật vậy.
159. Thư trả lời cư sĩ Hà
Huệ Chiêu
Nhận được thư, biết túc
căn rất sâu, hạnh hiện tại khá thuần, nên mới
có các cảnh tướng thù thắng hiển hiện,
nhưng người đời nay quá nửa là chuộng thể
diện, xây lầu gác trên không. Tuy chỉ có một phần,
nửa phần, lại nói là có trăm ngàn vạn phần.
Như trong cuốn sách của ông cư sĩ X… nọ, những
cảnh giới được thuật toàn là do ngọn
bút tạo ra, chẳng phải do tâm địa tạo thành.
Cố nhiên ông chẳng bịa chuyện, tôi thật chỉ
sợ ông có tập khí ấy th́ lỗi hại chẳng nhỏ.
Phật xếp vọng ngữ vào năm giới căn bản,
chính là để ngăn ngừa thói tệ này. Nếu như
thấy nói là không thấy, không thấy nói thấy th́ thuộc
vào hạng vọng ngữ. Nếu xây lầu gác trên không, bịa
nói cảnh giới thù thắng, chính là phạm vào giới đại
vọng ngữ; chưa đắc bèn nói là đă đắc,
chưa chứng nói đă chứng, tội ấy c̣n gấp
trăm ngàn vạn ức lần tội giết, trộm,
dâm! Người ấy nếu chẳng tận lực sám hối,
khi một hơi thở ra không hít vào được nữa
liền đọa địa ngục A Tỳ, bởi kẻ
ấy hoại loạn Phật pháp, gây lầm lạc, nghi
ngờ cho chúng sanh.
Ông
phải rất thận trọng; thấy cảnh chỉ có
một phân chẳng được nói lên một phân mốt,
cũng chẳng được nói chín ly chín. Nói quá lên
cũng là tội lỗi, mà nói giảm cũng là tội lỗi.
V́ sao vậy? Do hàng tri thức chưa đắc Tha Tâm
Đạo Nhăn, chỉ có thể dựa vào lời nói để
phán định. Đem cảnh giới ấy thưa cùng
tri thức để chứng minh tà - chánh, đúng - sai th́
không có lỗi ǵ. Nếu chẳng v́ để chứng minh,
chỉ muốn tự khoe khoang, cũng sẽ có lỗi. Nếu
hướng về hết thảy những người
khác nói ra th́ sẽ mắc lỗi! Ngoại trừ chuyện
cầu tri thức chứng minh ra, đều không được
nói. Hễ nói ra, sau này sẽ vĩnh viễn không thể đạt
được cảnh giới thù thắng ấy nữa.
Cái ải lớn nhất của người tu hành này trong
giáo thuyết tông Thiên Thai đă nhiều lần nói đến.
Sở dĩ gần đây những người tu hành phần
nhiều bị ma dựa, đều là do tâm tháo động,
vọng niệm, mong cầu cảnh giới thù thắng. Đừng
nói là cảnh ma, dẫu cho cảnh ấy là cảnh thù thắng,
vừa sanh tâm tham chấp, hoan hỷ v.v… bèn bị tổn hại,
chẳng được lợi ích, huống chi cảnh ấy
chưa đích xác là cảnh thù thắng ư? Nếu
người ấy có hàm dưỡng, không mang tâm bộp chộp,
vọng động, tâm không tham đắm, dù thấy các cảnh
giới cũng hệt như không thấy. Đă không sanh
tâm hoan hỷ, tham đắm, lại chẳng sanh tâm sợ
hăi, kinh nghi, th́ đừng nói là người ấy sẽ
được lợi ích khi cảnh thù thắng hiện, dẫu
là cảnh ma hiện cũng vẫn được lợi
ích. V́ sao vậy? Do chẳng bị ma chuyển nên có thể
tiến lên.
Lời
này tôi chẳng thường bảo cùng người khác, chỉ
v́ ông có chuyện ấy nên mới không thể không nói. H́nh
tượng Đại Sĩ ông thấy được khi
mới lễ Phật không đích xác, bởi nếu thật
sự là đúng th́ sẽ chẳng v́ ông nghĩ h́nh tượng
đó không phù hợp với Quán Kinh mà h́nh tượng ấy
bèn ẩn. Nhưng do đấy, tín tâm của ông càng tha thiết
nên đó cũng là nhân duyên tốt; tuy vậy, chớ nên
thường mong được thấy tượng, chỉ
nên chí thành lễ bái mà thôi, để khỏi phải lo lắng
chi khác! Lúc ngủ thấy trước mắt có ánh sáng trắng
và khi lễ Phật thấy tượng Phật đứng
lơ lửng trên hư không tuy thuộc về thiện cảnh,
nhưng chẳng nên tham đắm. Từ rày, chẳng lấy
đó làm điều mong mỏi nữa th́ sẽ có thể
không hiện. Trộm xem căn tánh của ông, tợ hồ
đời trước đă từng tu tập Thiền
Định, nên mới thường hay có tướng ấy.
Đời
Minh, ngài Ngu Thuần Hy bế tử quan[4] tịnh
tu trên ngọn núi cao của núi Thiên Mục[5],
lâu ngày, bèn có khả năng tiên tri, đoán trước
được trời sẽ âm u hay trong sáng, việc họa
- phước của người khác. Sư quy y với
Liên Tŕ Đại Sư, Đại Sư nghe chuyện, gởi
thư cực lực quở trách, bảo Sư đă lọt
vào rọ ma; về sau, Sư không biết nữa. Nên biết:
Người học đạo phải biết chuyện lớn;
nếu không, được điều ích nhỏ nhặt ắt
sẽ bị tổn hại lớn lao. Đừng kể
chi loại cảnh giới này, dẫu thật sự đắc
Ngũ Thông vẫn c̣n phải gác bỏ ra ngoài th́ mới
đạt được Lậu Tận Thông. Hễ tham
đắm sẽ khó thể tiến lên, rất có thể bị
lui sụt, không thể không biết!
Mộng
thấy vào Phật điện nhớ hai câu kinh văn cố
nhiên là thiện cảnh, nhưng hai câu kinh ấy lời lẽ
thật minh bạch: “Quay
lưng với hư, nương theo đường giác. Quy
chân, ngộ thường không”, ư nói: Con người lầm
tưởng các pháp thế gian là thật, cho nên mê muội
vào trong sanh tử. Nếu có thể xoay trở lại, quán
sát bản thể của pháp vốn là không th́ sẽ đi
theo con đường giác, xuất mê nhập ngộ, quy
Chân Đế, ngộ Chân Thường Chân Không Thật
Tướng. Cảnh ma và cảnh thù thắng phân biệt ở
chỗ nó có hợp với kinh giáo hay không. Nếu thật sự
là thánh cảnh sẽ khiến cho người ta vừa
trông thấy th́ ngay khi đó tâm địa thanh tịnh, trọn
không có cái tâm vọng động, chấp lấy. Nếu là
cảnh ma, trông thấy sẽ khiến cho tâm không thanh tịnh,
lại sanh khởi những tâm chấp trước, tháo
động, vọng niệm v.v… Hơn nữa, Phật
quang tuy cực sáng chói, nhưng chẳng lóa mắt. Nếu
ánh sáng làm chói mắt th́ không phải là đức Phật
thật.
Khi
Phật hiện, nếu dùng lư “phàm những ǵ có tướng
đều là hư vọng” để khám định sẽ
càng hiển hiện. Nếu dùng lư này để khám những
tướng do ma hiện, chúng sẽ ẩn mất. Đây
chính là ḷ nung luyện lớn để khám nghiệm chân - ngụy
vậy. Ban đêm thấy ánh sáng trắng và những cảnh
xanh trắng trên hư không th́ đó đều là do tâm tịnh
biến hiện, sao lại nghĩ là pháp giới nhất
tướng tịch chiếu bất nhị? Tự nghĩ
như thế sẽ thành “đem phàm lạm thánh”, lỗi ấy
thật chẳng nông cạn đâu! Hai câu kinh văn ấy
chưa thấy phát xuất từ đâu, có lẽ cũng
là văn được ghi nhớ từ đời trước,
chưa chắc đă là câu văn từ trong kinh. Người
tu Tịnh nghiệp chẳng coi các cảnh giới là quan trọng,
nên cũng chẳng thấy các cảnh giới phát sanh. Nếu
trong tâm cứ chuyên muốn thấy cảnh giới th́ cảnh
giới sẽ nhiều lắm. Nếu chẳng khéo dụng
tâm, rất có thể bị tổn hại, không thể không
biết!
Lời
nói của vị đầu-đà kia thuộc về đạo
lư Thiền gia. Ông ta không phá Tịnh Độ, ấy là
điểm hay; nhưng ông ta hoàn toàn chẳng biết tông chỉ
Tịnh Độ, v́ thế đem Thiền bàn luận [Tịnh
Độ]. Lời ông ta luận chú trọng nơi ánh sáng tốt
lành và cảnh thù thắng phải thật cân nhắc; nếu
không, sẽ khiến cho người khác lầm lạc chẳng
cạn. Lại nói chẳng được chấp trước,
bởi Phật pháp vô lượng, hễ chấp sẽ
thành hữu lượng nên chẳng thể nhập Phật
trí được. Nào phải chỉ chẳng thể nhập
Phật trí không thôi, c̣n rất có thể bị lạc vào ma
giới nữa! C̣n những điều ông ta nói về đức
Phật nơi mỗi người chính là lời luận
ước trên cái lư nơi tâm của nhà Thiền, chẳng
liên can ǵ đến Tịnh Độ! Ánh sáng trắng trong
sạch giữa hư không chỉ bằng chừng mảy
lông công đức của Như Lai, sao ông lại lầm
tưởng đấy chính là pháp giới nhất tướng
tịch - chiếu bất nhị? Thật ra, nó chính là cảnh
Định trong đời trước do tâm tịnh nên hiện
ra, cố nhiên chẳng thể coi là chuyện lạ lùng
đặc biệt được!
Pháp
môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh
làm tông. Có tín nguyện chẳng cần biết là hạnh
nhiều - ít, sâu - cạn, đều được văng
sanh. Không có tín - nguyện, dù có đạt đến mức
độ Năng - Sở cùng mất, thoát khỏi căn trần,
cũng khó được văng sanh. C̣n như người thật
sự chứng được Thật Lư “Năng - Sở đều mất, thoát khỏi
căn lẫn trần” bèn có thể dùng tự lực
để liễu sanh tử th́ chẳng cần phải bàn
đến nữa! Nếu chỉ có công phu thấy
được lư ấy, nhưng chưa thật chứng,
lại không có tín nguyện th́ cũng khó thể văng sanh. Thiền
gia nói đến Tịnh Độ bèn quy về Thiền
Tông, không nói đến tín - nguyện; nếu tu tập theo
đó th́ cũng có thể khai ngộ. Nhưng chưa đoạn
Hoặc nghiệp mà muốn liễu sanh tử th́ dù có nằm
mơ cũng chẳng mộng được! Bởi lẽ,
phàm phu văng sanh do tín nguyện cảm Phật, nên có thể cậy
vào Phật từ lực, đới nghiệp văng sanh. Nay
đă không sanh tín nguyện, lại đem mỗi lời Phật
nói quy hết về tự tâm th́ làm sao cảm Phật cho
được?
Cảm
và ứng chẳng phù hợp nhau th́ chúng sanh là chúng sanh, Phật
là Phật, biến pháp “hoành siêu” (vượt thoát tam giới
theo chiều ngang) thành “thụ xuất” (thoát ra theo chiều
dọc), được lợi ích ít, bị tổn hại
nhiều, không thể không biết! Được lợi
ích là nương theo lời đó cũng có thể khai ngộ;
c̣n bị tổn hại là đă bỏ tín nguyện th́ không
cách ǵ nương vào Phật từ lực cho được!
V́ thế, tôi nói: “Đối với
người thật sự tu Tịnh Độ, những
khai thị của nhà Thiền chẳng thể dùng
được; bởi lẽ pháp môn, tông chỉ bất
đồng”. Mong hăy sáng suốt suy xét. Nếu chẳng
chấp nhận như thế, xin hăy thỉnh cầu
nơi những bậc đại thông gia hầu có thể
phù hợp với tâm chí của ông, dĩ nhiên Quang chẳng
chấp trước!
160. Thư trả lời cư sĩ
Thang Xương Hoằng
Nhận được thư, khôn ngăn cảm
khái, hổ thẹn. Quang là hạng người như thế
nào làm sao kham nổi những lời khen ngợi quá mức
như thế? Tuy vậy, người cùng bệnh mến
nhau, nên chẳng thể không bày tỏ nỗi ḷng cùng nhau.
Nay những kẻ học thánh học hiền chỉ học
lấy văn ngôn mà thôi! Đối với những chỗ
v́ sao thánh hiền thành thánh hiền, họ đều coi
thường chẳng suy xét tới. Đấy là cái gốc
bệnh của mọi người học trong cả thế
gian này, chứ chẳng phải chỉ là căn bệnh của
một hai người như tôi, như ông đâu! Đă có
cái gốc ấy, chắc chắn sẽ chẳng thể
thuận theo địa vị mà hành, chắc chắn khi gặp
phải những cảnh phú quư, bần tiện, oai vũ ắt
sẽ thành dâm, di, khuất[6] vậy!
Đừng
nói ǵ người đời này, ngay những kẻ truyền
tâm pháp của thánh nhân trong Tống Nho, đối với
hai chữ “cách vật” vẫn
c̣n chưa thể hiểu rơ, huống ǵ người đời
sau! Muốn làm sáng tỏ Minh Đức (minh Minh Đức)
mà trước hết chẳng “cách
trừ” (trừ khử) “món vật” là sự ham muốn
trong tâm con người th́ chuyện làm sáng tỏ Minh Đức
trở thành nói xuông. Dù có học đến mức văn
chương trùm lấp cơi đời vẫn cứ quanh quẩn
trong ṿng ham muốn của con người, sao không bị
chuyển theo cảnh?
Như
ông nói “minh Minh Đức giống
như chứng Bồ Đề, Nho - Phật cố nhiên
không hai; học Khổng, học Phật, lư không ngoài những
ǵ đă nói trong một chương sách Đại Học” chính
là người minh bạch cưỡng làm hồ đồ,
ấy có phải là muốn thử xem Ấn Quang đối
với những chuyện đó có hiểu được phần
nào hay chăng? Nếu có th́ đủ chứng tỏ cái
nh́n sáng suốt của các hạ; nếu không th́ tôi muốn
phát huy ư nghĩa tột cùng về duyên do vậy. Nhưng
đă là đồng bệnh tương lân, nào ngại ǵ
nói lên t́nh huống khổ sở, ngơ hầu nhẹ bớt
nỗi uất ức mà thôi. Bản thể của Nho và Phật
cố nhiên không hai, nhưng công phu của Nho và Phật, nếu
luận một cách nông cạn th́ cũng khá tương
đồng; nhưng nếu bàn sâu xa hơn th́ khác biệt
như trời với đất. V́ sao nói thế? Nho lấy
Thành làm gốc, Phật lấy Giác làm tông. Thành chính là Minh
Đức, do Thành khởi Minh, do Minh đạt Thành, nên
Minh và Thành hợp nhất, ấy chính là “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ cái đức
sáng). Giác có Bổn Giác và Thỉ Giác[7];
do Bổn Giác khởi Thỉ Giác, do Thỉ Giác chứng
được Bổn Giác, Thỉ và Bổn hợp nhất
bèn thành Phật. Bổn Giác chính là Thành, Thỉ Giác chính là
Minh. Thuyết pháp như vậy th́ Nho và Phật trọn
chẳng hai.
Như
các hạ nói “học Khổng,
học Phật, lư chẳng ngoài một chương Đại
Học”, đấy chính là lời quyết định
không nghi, nhưng chỉ là lời biện luận ở mức
độ nông cạn! Đối với việc phát huy thứ
lớp công phu tu chứng sâu - cạn theo th́ gốc tuy đồng,
nhưng cái chứng được, cái đạt đến
khác biệt rất lớn! Nho gia làm sáng tỏ Minh Đức
há có giống được như nhà Phật đoạn
sạch hoàn toàn Tam Hoặc, nhị nghiêm (phước và trí)
toàn vẹn chăng? Có được như hàng Bồ Tát
chứng Pháp Thân phá từng phần vô minh, thấy
được từng phần Phật Tánh hay chăng? Có
được như Thanh Văn, Duyên Giác đoạn sạch
Kiến Tư hai Hoặc hay chăng? Trong ba hạng trên, chỉ
có Thanh Văn đoạn Kiến Tư Hoặc là thấp
kém nhất, nhưng đă lục thông tự tại. V́ vậy,
ngài Tử Bách[8] nói: “Nếu có thể quên ngay t́nh kiến th́ vách núi c̣n có
thể xuyên thẳng qua được!” Sơ Quả c̣n
phải bảy lần sanh lên trời, bảy lần sanh
vào nhân gian, nhưng đă có đạo lực tùy ư chẳng
phạm Sát Giới. Do vậy, họ đi đến
đâu, các loài trùng tự ĺa khỏi chỗ ấy. Nên mới
có câu: “Sơ Quả cày đất,
trùng tránh xa bốn tấc”, huống ǵ là hạng Nhị,
Tam, Tứ Quả ư?
Hăy
gác những người học theo Nho Giáo lại đă, chỉ
bàn đến những bậc thánh nhân. Những vị thánh
nhân ấy đa phần là bậc Đại Quyền thị
hiện, không bàn đến Bổn của họ, nếu chỉ
căn cứ theo Tích để luận th́ e rằng chưa
thể sánh bằng bậc đă đoạn sạch Kiến
Tư Hoặc, huống chi bốn mươi mốt địa
vị Pháp Thân đại sĩ phá vô minh, chứng pháp tánh! Cứ
cho là “làm sáng tỏ Minh Đức”
ngang vai bằng lứa với bậc đă phá vô minh đi
nữa, nhưng phá vô minh có bốn mươi mốt địa
vị, những kẻ đă làm “sáng
tỏ Minh Đức ấy” có bằng vai được
với Sơ Trụ là địa vị đầu tiên hay
không? Có bằng vai được với địa vị
tối hậu là Đẳng Giác hay không? Dẫu cho có bằng
vai với bậc tối hậu là Đẳng Giác đi nữa,
th́ Minh Đức vẫn chưa thể làm sáng tỏ đến
cùng cực, c̣n phải phá một phần vô minh nữa mới
có thể nói là Thành và Minh hợp nhất, Thỉ - Bổn
không hai vậy! V́ thế, tôi nói: “Về Thể tuy đồng, nhưng phát huy công phu chứng
đắc bất đồng!”
Người
đời nghe nói là “đồng” bèn cho rằng Nho Giáo hoàn
toàn bao trọn Phật giáo, nghe nói là “khác” bèn cho là Phật
giáo hoàn toàn chẳng phải là Nho Giáo, chẳng biết duyên
do “tuy đồng nhưng bất
đồng, bất đồng nhưng đồng” vậy.
Do đó, cứ tranh luận lung tung, ai nấy chia vạch
môn đ́nh, ai nấy đánh mất bản tâm yên đời,
độ người của Phật, Bồ Tát, thánh nhân,
chẳng đáng buồn sao? Trong tháng Sáu, ông Dương Lệ
Đường người xứ Hương Sơn, Quảng
Đông, từ Đàn Hương Sơn (Honolulu) trong Thái
B́nh Dương gởi thư cho Tạng Quán Thiền ở
Sơn Đông nhờ đem cuốn sách ḥa hội [những
giải thích về] Nho - Phật xưa nay do ông ta biên soạn,
đặt tên là Nho - Thích Nhất Quán, muốn dẫn dụ
Nho nhập Phật, lầm lẫn ủy thác Quán Thiền nhờ
Quang viết bài tựa. Quang thuở nhỏ không gắng sức,
đến già vô tri, v́ ông ta kèo nài, khó thể thoái thác, bèn nguệch
ngoạc hơn ngàn chữ cho xong trách nhiệm. Nay đem bản
thảo ấy gởi đi, xin hăy giảo chánh tỉ mỉ.
161. Thư gởi hội Phóng Sanh ở
Đại Đồng, Tuyền Châu
Phóng
sanh là lấy việc đề xướng kiêng giết, bảo
vệ sanh mạng làm gốc. Phàm những ai nhập hội
đều nên ăn chay th́ mới có thể đem lợi
ích của việc ăn chay bảo cùng hết thảy mọi
người. Dẫu không thể làm cho ai nấy đều
thuận theo, nhưng do các vị trong quư hội đều
là bậc quân tử đức dày, thật hành ăn chay,
nên người ta cũng tự nhiên ngầm bị cảm
hóa mà thay đổi, đều không c̣n sát sanh, không c̣n
ăn thịt nữa. Nếu cứ ăn thịt như
cũ th́ công đức phóng sanh vẫn chẳng thể
nghĩ bàn, nhưng vẫn tự mâu thuẫn với hạnh
ḿnh đang làm, vẫn là chẳng y theo đạo từ bi,
trung hậu, khoan thứ để thực hành vậy; huống
hồ là muốn cho những ai thấy nghe sẽ ngầm
được cảm hóa, thay đổi ư? Quang chẳng
có đạo đức, tài lực ǵ, chẳng thể giúp
ǵ cho nghĩa cử tốt lành của quư hội được,
kính dâng tấm ngu thành để bố thí.
Các
vị cư sĩ ở Thượng Hải lập ra
Thường Trai Hội (hội thường ăn chay).
Phàm ai gia nhập hội, bất luận quan, hôn, tang, tế
đều chẳng ăn mặn. Năm ngoái, cư sĩ
Quan Quưnh Chi yêu cầu Quang viết một bài tựa. Xem bài ấy
sẽ biết được đại khái. Muốn biết
tường tận th́ nên gởi thư cho cư sĩ Quan
Quưnh Chi ở đường Bạch Khắc, phố Hoài
An, Thượng Hải. Họ có chương tŕnh, hăy xin họ
gởi cho một bản. Trong bộ Văn Sao của Quang,
những văn tự khuyên người kiêng giết
cũng có hơn mười thiên; tuy văn chương vụng
về, chất phác, chẳng đáng lọt mắt người
tao nhă, nhưng ư nghĩa cố nhiên có những chỗ chấp
nhận được. Nếu chẳng chê là ô uế
đáng vứt bỏ th́ cũng đáng làm tṛ cười “đem
hạt bụi vun vào ḥn núi” vậy.
Thêm nữa, quư hội đề xướng học
Phật, lại suy tôn tiên sinh Tấn Tô chẳng tiếc sức.
Đă rộng thí Đạo Vị Lục, lại c̣n giới
thiệu người muốn học đạo, cầu ông
ta truyền thọ chân kinh diệu quyết ḥng đồng
lên được bờ Giác. Tâm chí ấy có thể nói là
thành khẩn, chân thực nỗ lực mong làm lợi
người khác, nhưng tiếc là chưa biết nguyên do
Phật pháp nên mới coi pháp trường sanh luyện
đan vận khí là Phật pháp! Nếu nói: “Phàm những ai
muốn cầu trường sinh và phép vệ sinh bèn giới
thiệu cho họ sách ấy” th́ cố nhiên không trở ngại
ǵ. Bởi cái lợi lớn của pháp luyện đan là có
thể kéo dài tuổi thọ, sống lâu, c̣n cái lợi nhỏ
là có thể bảo dưỡng sắc thân; quả thật
là pháp có ích cho con người. Nếu mù mờ gọi pháp ấy
là Đạo, rồi xui khiến đệ tử Phật
cầu cho được chân quyết (bí quyết chân thật)
th́ Danh và Thực mâu thuẫn lớn! V́ sao? Phật pháp có đầy
đủ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế
gian, chẳng sót mảy may điều thiện nào; chỉ
có mỗi một pháp luyện đan tuyệt nhiên chẳng
nhắc tới, lại c̣n cấm thật ngặt. Là v́
trong bước đầu nhập đạo, Phật dạy
con người tu Tứ Niệm Xứ Quán: Một là quán
thân bất tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm
vô thường, bốn là quán pháp vô ngă. Muốn thấy thấu
suốt cái thân tâm huyễn vọng này ngơ hầu ngộ chứng
chân tâm diệu tánh sẵn có. Luyện đan chỉ chăm
chú bảo dưỡng sắc thân, chẳng hợp với
tông chỉ của Phật. Nhưng ai tu pháp nấy, tùy mỗi
người tự đạt được lợi ích,
nên hai bên chẳng trở ngại lẫn nhau.
Xem
sách Đạo Vị Lục do tiên sinh Tấn Tô viết, đến
phần khẩu quyết luyện Hỏa Hầu cho rằng: “Đó là đạo liễu tánh mạng của Phật
môn, gộp Tam Giáo đồng quy, thường hằng vạn
cổ bất tuyệt. Ĺa khỏi đạo này chính là ngoại
đạo. Ra khỏi môn này bèn thành bàng môn. Đạo mạch
Tiên Thiên đời đời nhất quán truyền thừa,
từ lúc Đạt Ma Sơ Tổ từ trời Tây sang
Đông, cho đến Bạch Mă Thất Tổ, y bát truyền
trong nhà lửa” v.v… Đấy chính là mượn danh
nghĩa Phật giáo để truyền pháp luyện
đan, đâm ra hủy báng Phật pháp. Tháng trước,
ông ta đă gởi cho tôi hai bản. Quang thấy ông ta tự
phụ quá sâu, lẽ đâu chịu nghe theo Quang là kẻ bất
tài ư? Nên để đó chẳng bàn đến. Nay thấy
quư hội đề xướng Phật học, mà vẫn
không biết ông ta không phải là học Phật, cho nên không
thể không dốc hết ḷng ngu thành của tôi để
thưa tŕnh.
Nếu
cho Quang là đa sự, cho là Quang thấy biết lầm lạc,
chưa nghe đại đạo th́ cũng xin cứ tùy ư.
Chim cú giữ xác chuột rữa, phượng hoàng quyết
chẳng thể bảo nó đừng ăn. Nay gởi
đến một gói Văn Sao tổng cộng ba bộ,
mong mọi người trong quư hội hăy đọc, và gởi
cho cư sĩ Châu Tử Tú xem. Nếu cho là đúng th́
cũng chưa từng bao giờ không phải là điều
may mắn cho quư hội, nếu cho là sai th́ cũng mặc
t́nh bịt ṿ thay củi[9]. Từ
đấy gia công dụng hạnh khuếch trương
đạo luyện đan vận khí của tiên sinh Tấn
Tô, khiến cho người trong thiên hạ cùng được
trường sanh cũng tốt, nhưng nếu gọi
đó là Phật pháp th́ tuy chẳng báng Phật pháp, cũng
vẫn mắc lỗi hủy báng Phật pháp. Tôi trộm
cho rằng quư hội chưa phân biệt được
chánh - tà nên mới thành ra như thế. Đă coi Quang là
người trong pháp môn, nếu Quang cứ đối
đăi với quư hội như ông Tấn Tô th́ Quang đă phụ
ḷng quư hội, cho nên mới phải một phen đôi co
như thế.
162. Thư trả lời hiệu trưởng
Vạn An ở An Huy
Bốn câu của nhà trường quư vị: “Tận tánh học Phật, tận
nhân luân học Khổng, Đạo học làm thể, khoa học
làm Dụng”, quả thật là tông chỉ học đạo
không thay đổi. Từ khi nhà Nho chú trọng cái học từ
chương khiến cho pháp học đạo biến thành
học nghề khéo, đau tiếc khôn xiết! Cái học mới
mẻ ngày nay đa số bỏ gốc theo ngọn, nêu tông
chỉ như nhà trường quư vị thật là ít thấy.
Tận tánh học Phật th́ mới có thể tận hết
luân thường học Khổng. Tận hết luân thường
học Khổng th́ mới có thể tận tánh học Phật.
Thử xem những bậc đại trung đại hiếu
xưa nay cũng như những vị phát huy tâm pháp thánh hiền
Nho Giáo, không một ai chẳng nghiên cứu sâu xa kinh điển
nhà Phật, ngầm tu mật chứng.
Nho Giáo và Phật Giáo kết hợp lại th́ cả
hai cùng tốt đẹp, tách ra th́ cả hai cùng bị
thương tổn. Bởi lẽ trong cơi đời không một
ai chẳng thuộc trong luân thường, cũng không một
ai có thể vượt ngoài tâm tánh. Đầy đủ cả
luân thường lẫn tâm tánh th́ dùng “không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”
của nhà Phật để giúp cho “khắc kỷ, giữ lễ, dứt ḷng tà, giữ
ḷng thành, cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính”.
Do vậy cha con, anh em v.v… dắt d́u nhau tận hết luân
thường, tận hết tâm tánh để trừ khử
phiền hoặc huyễn vọng, khôi phục Phật tánh
sẵn có. Chẳng những Thể là một, mà Dụng
cũng chẳng có hai! Đấy là sự thực!
Nói “Phật hóa Nho
tông” chẳng qua chỉ nhằm biểu thị sự thật
mà thôi, lẽ đâu chẳng thể được?
Nhưng tại gia học Phật, ắt phải lấy tin
sâu nhân quả, tận hết bổn phận, kiêng giết,
cứu giúp sanh mạng, chí tâm niệm Phật làm cách tu tŕ
quyết định chẳng thay đổi! Nói “tận hết bổn phận”
chính là những điều từ, hiếu, nhường,
kính v.v… Thế nhưng, cơi đời loạn lạc,
nước thiếu người hiền, căn bản là
do gia đ́nh không khéo dạy dỗ mà ra! Nhưng giáo dục
gia đ́nh, trách nhiệm người mẹ càng nặng. V́
thế, Quang hay nói “dạy con
là cái gốc để trị quốc, b́nh thiên hạ,
nhưng dạy con gái lại càng trọng yếu hơn”
là v́ như vậy đó. Nếu thường đem điều
này bảo cùng học tṛ ngơ hầu chúng nó cùng đem điều
này đề xướng, chỉ dạy nhau, c̣n lo chi chẳng
thấy cơi đời b́nh trị nữa!
163. Thư trả lời cư sĩ Úc
Trí Lăng
Chuyện của Phước Tuấn theo
như lời ông kể lúc c̣n sống và sau khi đă mất,
nếu mọi điều đều thật th́ chắc chắn
là văng sanh! Do lúc sống đă thấy thấu suốt cái vỏ
thân xác này, điều này thuộc về sự lợi ích lớn
nhất, v́ nữ nhân thường hay lưu luyến huyễn
chất, hằng ngày lo trang điểm. Đă không có ư niệm
ấy, sẽ tự dễ dàng tương ứng với
pháp môn Tịnh Độ. Lâm chung gầy c̣m và bị bệnh
khổ chính là do nghiệp chướng nhiều kiếp. Do
v́ bà ta dốc ḷng tu Tịnh nghiệp nên mới chuyển hậu
báo nặng nề thành báo nhẹ trong hiện tại. Ông bảo:
“Do tu tŕ tinh tấn đến nỗi thân thể ngày càng yếu
ớt’; nói như vậy không hợp lẽ, lại c̣n mắc
lỗi khiến cho kẻ tín tâm nông cạn nhân đó bèn thoái
đọa.
Phải
biết: Người niệm Phật quyết định
tiêu trừ nghiệp chướng. Những người có
nghiệp chướng hiện tiền đều là chuyển
ác báo tam đồ trong tương lai thành bệnh khổ
hiện tại để giải quyết cho hết. Kinh
Kim Cang dạy người tŕ kinh Kim Cang do có nỗi nhục
nhỏ là bị người khác khinh rẻ, liền diệt
được nỗi khổ nhiều kiếp trong ác đạo.
Như vậy Phước Tuấn khi sắp sanh về Tây
Phương, do nỗi khổ nhỏ nhặt này sẽ giải
quyết sạch các ác báo trong vô lượng kiếp đến
nay, quả thật là may mắn lớn lao! Chớ nên học
theo kẻ chẳng biết sự việc, bảo là “do tu
tŕ nên thành bệnh, bị chết!”
Người
niệm Phật b́nh thời có ḷng tin chân thành, nguyện khẩn
thiết th́ không ai chẳng được văng sanh, huống
chi Phước Tuấn lâm chung chánh niệm rỡ ràng, hiện
các tướng xá bái, đảnh lễ v.v… Mất rồi
thân thể vẫn mềm mại, sạch sẽ, vẻ mặt
như c̣n sống, há có nên v́ công phu của bà ta c̣n ít ỏi
mà nghi ngờ hay chăng? Đối với Di Đà nguyện
vương, mười niệm c̣n được độ,
huống chi bà ta tinh tấn tu tŕ đă hai ba năm, há c̣n ngờ
ư? Trong đời có hạng người ư chí thấp
hèn, tuy thường niệm Phật, nhưng chẳng cầu
văng sanh, chỉ mong cầu phước báo nhân thiên; hạng
người như vậy dù có tu hành suốt đời
cũng chỉ được hưởng si phước
trong đời sau mà thôi! Người có chánh tín tự ḿnh
dùng tín nguyện cảm Phật, Phật do ḷng từ bi nhiếp
thọ, cảm ứng đạo giao, ắt có thể cậy
vào Phật từ lực, đới nghiệp văng sanh, cần
ǵ phải hỏi người ấy có thấy Phật hay
chăng rồi mới phán đoán được!
Ngay
như trước lúc lâm chung, nếu [người sắp
mất] tự tắm rửa, thay áo th́ rất hay! Nếu
người ấy không thể th́ trọn chớ nên tắm
rửa thay áo sẵn, khiến cho người ấy đau
đớn khó chịu đựng nổi đến nỗi
mất chánh niệm. Ông c̣n tiếc rằng lúc ấy bà ta c̣n
chưa mặc pháp y, chưa ngồi khoanh chân xếp bằng;
không biết lúc ấy, tốt nhất chỉ nên đồng
thanh niệm Phật, vàn muôn phần chẳng được
bày vẽ phô trương (như tắm rửa, thay
áo, bắt ngồi lên v.v…) Nếu phô
trương, bày vẽ sẽ thành ra như ḥn đá rớt
xuống giếng, hăy nhớ kỹ! Lệnh từ tuổi
đă cao, nếu Quang không nói lên mối tệ này, về sau,
ông do tấm ḷng tận hiếu sẽ gây trở ngại cho
sự văng sanh của mẹ, khiến mẹ phải lưu
chuyển trong sanh tử bao kiếp dài lâu, không thể thoát
ra được!
Chúng
ta chỉ nên giữ lấy cái thật, chớ chuộng cái
danh, bài kư của ông khá hay, chẳng cần phải nhờ
người viết văn để lưu truyền.
Đấy đều là những chuyện hư huyễn,
phù phiếm trong thế gian, chỉ nên chính ḿnh cùng người
nhà niệm Phật mong cùng sanh Tây Phương là được
rồi. Trong khóa tụng sáng tối mỗi ngày, lúc hồi
hướng Quang đều đọc kèm tên của Phước
Tuấn, hồi hướng một thất để tận
mối t́nh thầy tṛ. Hơn nữa, Phước Tuấn
sanh tử phen này có thể nói là chẳng sống thừa chết
phí, may mắn thay! C̣n như chuyện xương cốt
làm thành viên bột th́ rất tốt, nhưng chẳng
được hời hợt làm! Phải đem
xương nghiền thành bột mịn, dùng cái lưới
kín mắt rây kỹ, không khác ǵ bột ḿ th́ mới
được. Nếu thô tâm nghiền qua loa, khi ḥa với
bột ḿ làm thành viên, chỉ sợ loài cá nhỏ ăn vào sẽ
bị xương cứng xóc bụng. Quang sợ ông vô tâm,
không thể không nói!
164. Thư trả lời cư sĩ X…
Bệnh và ma đều do túc nghiệp mà ra. Ông
chỉ nên chí thành khẩn thiết niệm Phật th́ bệnh
sẽ tự lành, ma sẽ tự xa ĺa. Nếu tâm ông không
chí thành, hoặc khởi lên những ư niệm bất chánh,
tà dâm v.v… th́ toàn thể cái tâm ông đọa trong hắc ám.
Do vậy, ma quỷ khuấy nhiễu! Niệm Phật xong,
lúc hồi hướng, ông nên hồi hướng cho hết
thảy oán gia trong đời trước, khiến cho ai nấy
đều được hưởng lợi ích do việc
niệm Phật của ông, siêu sanh đường lành.
Ngoài ra, nhất loạt chẳng bận tâm đến chúng.
Nếu chúng phát ra tiếng, cũng chẳng quan tâm, đừng
sợ hăi. Chúng không phát ra tiếng, cũng đừng bận
tâm sanh ḷng hoan hỷ, cứ chí thành khẩn thiết niệm,
tự nhiên nghiệp chướng tiêu, phước lẫn
huệ đều được tăng trưởng.
Xem
kinh điển chớ bắt chước như người
đời nay đọc sách, trọn chẳng cung kính mảy
may nào! Ắt phải như đang đối trước
Phật, Tổ, thánh hiền giáng lâm th́ mới có ích thật
sự! Nếu ông làm được như thế th́ tâm
địa chánh đại quang minh, bọn tà quỷ, tà thần
kia sẽ không có chỗ nào để ở yên được.
Nếu tâm ông tà vạy trước th́ sẽ do tà chiêu tà, làm
sao có thể khiến cho bọn chúng xa ĺa không quấy nhiễu
cho được! Tuy quỷ thần có Tha Tâm Thông, nhưng
vừa nhỏ lại vừa gần; c̣n nếu là bậc
nghiệp tận t́nh không th́ như gương báu đặt
trên đài, có h́nh liền hiện bóng. Ông không chí tâm niệm
Phật, lại muốn nghiên cứu chân tướng ấy,
chẳng biết tâm ấy sẽ thành ma chủng. Ví như
gương báu, không có mảy may bụi nhơ, sẽ tự
có thể chiếu trời, chiếu đất. Tâm ông
đă bị bụi nhơ phủ kín dày chắc, mà muốn
được như thế, th́ cũng như tấm
gương bị bụi phủ dày kín mít, trọn chẳng
thể tỏa sáng. Nếu có phát sáng th́ cũng là ánh sáng yêu
quái, chứ không phải là ánh sánh của gương. Hăy nên
gác lại chuyện ấy, hăy niệm Phật như
đang mắc nạn lửa nước, như cứu
đầu đang bị cháy th́ không nghiệp nào, ma nào chẳng
tiêu!
165. Thư trả lời tiên sinh
Trương Quư Trực
Quang chỉ là một ông Tăng tầm thường
vô tri vô thức, chỉ biết cơm cháo. Do ông Từ Úy
Như lầm lẫn bốn lần đem bản cảo dở
tệ của Quang ra ấn hành, đến nỗi làm bẩn
mắt xanh. Ông không những không chê bỏ là ô uế, trái lại,
c̣n khen là Nho - Thích dung thông, có Thể, có Dụng. Đúng là
chí tại kính Phật nên quên mất sự hèn kém, tầm
thường của ông Tăng. Cảm thấy hết sức
xấu hổ! Dịch Viên và Quang đă có túc duyên, thường
muốn lôi kéo các hạ cùng về Tây Phương để
thiện căn, phước đức đă vun bồi từ
vô lượng kiếp đến nay cũng như trong
đời hiện tại đều quy về Thật Tế.
Quang hết sức bội phục! Bởi lẽ các hạ
là bậc văn chương lỗi lạc đương
thời, c̣n Quang là một ông Tăng sống nhờ ăn
bám[10]
vô tri vô thức, nên chẳng dám tuân theo lời mời dự
vào ban tu thư của Dịch Viên.
Nay
nhận được tờ hoa, nét mực của các hạ,
thấy ông đă từng xem kinh, chẳng biết Thiền
như thế nào, chỉ giác Tịnh mà thôi, khôn ngăn vui mừng,
an ủi! Đủ biết các hạ đă gieo chủng tử
Bát Nhă chẳng phải chỉ ở chỗ một, hai, ba,
bốn, năm đức Phật. Phàm Thiền đến
mức chẳng biết nó là ǵ th́ mới là chân Thiền, bởi
thấy - nghe - hay - biết đều là chuyện thuộc
về ư thức, chỉ không biết th́ mới có thể
linh quang riêng chiếu, vượt thoát căn trần, thể
lộ chân thường, chính là Như Như Phật[11] vậy!
Tịnh đến mức chỉ giác th́ toàn tâm là Phật,
toàn Phật là tâm, tâm - Phật chẳng hai, tâm - Phật
như một. Nếu không, sao gọi là Giác cho được?
Các hạ kiến giải như thế, đă là vượt
trỗi vàn muôn lần những kẻ học Phật trong
thời gần đây. Nếu lại có thể sanh ḷng tin,
phát nguyện, hồi hướng văng sanh th́ đài sen
thượng phẩm sẽ tự độc chiếm. Chỉ
sợ các hạ đối với duyên do của Thiền
và Tịnh, Phật lực và tự lực, lớn - nhỏ,
khó - dễ c̣n chưa biết sâu xa; cho rằng “đă ngộ tự tâm th́ ngay
nơi này chính là Tây Phương, chẳng cần cầu
văng sanh” th́ nỗi sai lầm ấy chẳng cạn
đâu!
V́
sao vậy? Do phàm phu dù có thể ngộ đến cùng cực,
nhưng nếu c̣n có tập khí phiền năo từ vô thỉ
đến nay chưa thể nhanh chóng đoạn được
th́ hễ c̣n có mảy may phiền năo tập khí sẽ chẳng
thể siêu xuất ra ngoài sanh tử luân hồi được!
Đây chính là sự khó khăn của việc cậy vào tự
lực để liễu sanh tử. Pháp môn Niệm Phật
chỉ cần đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện
thiết tha, bất luận công phu cạn hay sâu, công đức
lớn hay nhỏ, đều có thể cậy vào Phật từ
lực, đới nghiệp văng sanh. Chúng sanh đời Mạt
muốn liễu sanh tử mà chẳng y vào pháp này sẽ khó
khăn chẳng thể sánh ví được nổi! Mong
hăy đọc kỹ sách Tịnh Độ Thập Yếu,
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, ắt sẽ tự
biết Quang nói không sai. Nếu chẳng cho lời Quang là
sai lầm, lại không rảnh rỗi nhiều, chỉ cần
lắng ḷng đọc Văn Sao sẽ tự biết hết.
166. Thư tuyên ngôn kết xă niệm Phật
của chùa Thanh Liên ở Lô Sơn
Đại Giác Thế Tôn thương các chúng
sanh mê trái tự tâm, luân hồi sáu nẻo trải nhiều
kiếp lâu xa, không thể thoát ra. Do vậy, khởi ḷng Vô
Duyên Từ, vận dụng ḷng Bi đồng thể, thị
hiện sanh trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy thuận
cơ nghi rộng giảng các pháp. Nói bao quát đại
cương th́ gồm có năm tông, năm tông là như thế
nào? Chính là Luật, Giáo, Thiền, Mật và Tịnh. Luật
là Phật thân, Giáo là Phật ngữ, Thiền là Phật
tâm. Phật sở dĩ thành Phật chỉ do ba pháp này, Phật
sở dĩ độ sanh cũng chỉ có ba pháp này. Nếu
chúng sanh thật sự có thể nương theo Luật,
Giáo, Thiền của Phật để tu tŕ th́ ba nghiệp
của chúng sanh sẽ chuyển thành ba nghiệp của
chư Phật. Ba nghiệp đă chuyển th́ phiền năo
chính là Bồ Đề, sanh tử chính là Niết Bàn. Lại
sợ kẻ túc nghiệp sâu nặng ắt chẳng dễ
chuyển, nên dùng sức gia tŕ Đà La Ni tam mật[12]
để un đúc. Như ṭ ṿ bảo con nhộng: “Giống
ta, giống ta”, bảy ngày sau sẽ biến thành ṭ ṿ[13].
Lại sợ kẻ căn khí kém hèn, chưa được
giải thoát, thọ sanh lần nữa, khó tránh khỏi mê mất;
do vậy, đặc biệt mở ra một môn “tín nguyện
niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” để
dù thánh hay phàm cùng trong đời này được văng sanh Tây
Phương. Thánh sẽ mau chứng Vô Thượng Bồ
Đề, phàm th́ vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử buộc
ràng. Do cậy vào Phật từ lực, nên công đức lợi
ích chẳng thể nghĩ bàn.
Phải biết: Luật chính là nền tảng
của Giáo, Thiền, Mật, Tịnh. Nếu chẳng
nghiêm tŕ cấm giới sẽ chẳng thể đạt
được lợi ích thật sự nơi Giáo, Thiền,
Mật, Tịnh. Giống như xây lầu cao vạn
trượng nếu nền móng không vững th́ chưa xây
xong đă sụp. Tịnh là chỗ quy túc của Luật,
Giáo, Thiền, Mật, như trăm sông vạn ḍng đều
đổ vào biển cả. Bởi lẽ pháp môn Tịnh
Độ chính là pháp môn “trên
thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh,
thành thủy, thành chung” của mười phương tam
thế chư Phật. V́ vậy, trong phẩm Nhập Pháp
Giới của kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài được Phổ
Hiền Bồ Tát gia bị, khai thị, đă chứng
Đẳng Giác, ngài Phổ Hiền bèn dạy phát mười
đại nguyện vương, hồi hướng văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để
mong viên thành Phật Quả, lại dùng mười nguyện
ấy khuyên khắp Hoa Tạng hải chúng. Trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ, chương Hạ Phẩm Hạ Sanh,
dẫu là kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác sắp đọa
A Tỳ địa ngục, được thiện tri thức
dạy cho niệm Phật hoặc niệm mười tiếng,
hoặc chỉ mấy tiếng rồi liền mạng
chung, cũng được đức Phật tiếp dẫn
văng sanh Tây Phương.
Xem
đó th́ trên từ Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể
ra ngoài pháp này; dưới đến tội nhân Ngũ Nghịch
Thập Ác cũng có thể vào trong pháp này. Công đức lợi
ích ấy vượt trỗi hết thảy [các pháp khác] trong
giáo pháp cả một đời đức Phật, bởi
những giáo pháp trong cả một đời Ngài đều
cậy vào tự lực để thoát sanh tử; c̣n pháp
môn Tịnh Độ, kẻ chưa đoạn Hoặc, cậy
vào Phật từ lực, liền có thể đới nghiệp
văng sanh. Người đă đoạn Hoặc cậy vào Phật
từ lực bèn mau chứng lên bậc Địa Thượng
Bồ Tát[14]. Đây chính là pháp
môn đặc biệt trong giáo pháp cả một đời
đức Phật, chẳng thể dùng những giáo pháp
theo đường lối thông thường để bàn
luận được. V́ thế, các kinh Đại Thừa
như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v… các vị đại Bồ Tát
như Văn Thù, Phổ Hiền v.v…, các đại tổ
sư như Mă Minh, Long Thọ v.v… thảy đều xiển
dương, khen ngợi, chỉ dạy, khuyên khắp chúng
sanh văng sanh.
Đến
khi đại giáo truyền sang Đông, Viễn Công đại
sư (sơ tổ Huệ Viễn) bèn dùng pháp này lập
tông. Thoạt đầu, Ngài muốn cùng đồng học
là Huệ Vĩnh[15]
qua La Phù, nhưng bị pháp sư Đạo An[16]
lưu lại, sư Huệ Vĩnh bèn đi một ḿnh
trước. Đến Tầm Dương, thứ sử
Đào Phạm ngưỡng mộ đạo phong, bèn lập
chùa Tây Lâm cho Ngài ở. Thời gian ấy nhằm năm
Đinh Sửu tức năm Thái Nguyên thứ hai (377) đời
Tấn Hiếu Vơ Đế. Đến năm Giáp Thân, tức
năm Thái Nguyên thứ chín (384), Viễn Công mới đến
Lô Sơn. Thoạt đầu ở tại chùa Tây Lâm, do học
tṛ tụ họp đông đảo, Tây Lâm chật hẹp
không chứa hết nổi, thứ sử Hoàn Y bèn lập
chùa ở phía Đông núi, đặt tên là Đông Lâm. Đến
năm Canh Dần, tức năm Thái Nguyên thứ mười
lăm (390), ngày hai mươi tám tháng Bảy, Viễn Công
bèn cùng Tăng - tục một trăm hai mươi ba
người kết liên xă niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, sai ông Lưu Di Dân làm bài văn khắc vào
đá để minh thị lời thề, Huệ Vĩnh
pháp sư cũng dự vào liên xă này. Vĩnh Công (ngài Huệ
Vĩnh) sống ở Tây Lâm, kết riêng một lều
tranh trên đỉnh núi để thường lên đó thiền
tư. Đến bên thất ấy bèn nghe mùi hương lạ;
do vậy, người ta gọi là Hương Cốc (hang
thơm), cứ suy nghĩ sẽ biết Ngài là người
như thế nào!
Lúc
Viễn Công kết xă, bèn có một trăm hai mươi ba
người, đều thuộc hàng long tượng[17]
trong pháp môn, là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong làng Nho; do
đạo phong của Viễn Công lan tỏa nên đều
ùa nhau kéo đến. Nhưng trong suốt đời Ngài,
trong hơn ba mươi năm, những người dự
vào liên xă tu Tịnh nghiệp được tiếp dẫn
văng sanh nhiều khó thể biết được!
Sau
đấy, như các vị Đàm Loan, Trí Giả, Đạo
Xước, Thiện Đạo, Thanh Lương, Vĩnh
Minh, không vị nào chẳng dùng pháp này để tự hành,
hóa độ người. Ngài Đàm Loan viết Văng Sanh Luận
Chú, diệu tuyệt cổ kim. Ngài Trí Giả viết Thập
Nghi Luận, chỉ bày tột cùng lẽ được - mất;
ngài soạn Quán Kinh Sớ chỉ bày sâu xa pháp quán Tam Đế[18].
Ngài Đạo Xước giảng ba kinh Tịnh Độ
gần hai trăm lượt. Ngài Thiện Đạo sớ
giải ba kinh Tịnh Độ, cực lực khuyên chuyên
tu. Ngài Thanh Lương sớ giải Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm, phát huy đạo rốt ráo thành Phật.
Tổ Vĩnh Minh nói bài Tứ Liệu Giản chỉ thẳng
pháp liễu thoát ngay trong đời này. Từ xưa, những
bậc cao nhân các tông, không ai chẳng quy tâm Tịnh Độ,
chỉ có các sư Thiền Tông là chuyên chăm chú ngầm
tu, ít vị nào chịu xiển dương rơ ràng.
Từ
sau khi ngài Vĩnh Minh xướng suất, ai nấy đều
để lại ngôn giáo rơ rệt, thiết tha khuyên tu tŕ.
V́ thế, bài Khuyến Tu Tịnh Độ Văn của Tử
Tâm Tân thiền sư[19]
có câu: “Di Đà thật dễ
niệm, Tịnh Độ thật dễ sanh”, lại
viết: “Người tham Thiền
tốt nhất nên niệm Phật, nếu căn cơ
độn chỉ sợ chẳng thể đại ngộ
trong đời này, hăy nhờ vào nguyện lực tiếp dẫn
văng sanh của đức Di Đà”. Lại nói: “Nếu ông niệm Phật chẳng
sanh Tịnh Độ th́ lăo tăng sẽ đọa trong
địa ngục Bạt Thiệt (kéo lưỡi)”. Bài
Tịnh Độ Thuyết của Chân Hiết Liễu thiền
sư[20] có
câu: “Trong tông Tào Động
đều chăm chú ngầm tu là do nguyên nhân nào vậy? Ấy
là do pháp môn Niệm Phật là đường tắt tu
hành, căn cứ theo Đại Tạng th́ pháp này để
tiếp độ căn khí thượng thượng, tiếp
dẫn kèm thêm căn cơ trung hạ”. Lại nói: “Những bậc đại
tượng trong Tông Môn đă ngộ pháp bất không bất
hữu bèn dốc chí khăng khăng nơi Tịnh nghiệp,
chẳng phải v́ tịnh nghiệp thấy Phật đơn
giản, dễ dàng hơn Tông môn nhiều lắm hay sao?”
Lại nói: “Dù Phật hay Tổ,
dù Giáo hay Thiền, đều tu Tịnh nghiệp, đồng
quy một nguồn. Nhập được môn này th́ vô
lượng pháp môn thảy đều chứng nhập”.
Trường Lô Trách thiền sư kết liên hoa thắng hội,
khuyên khắp Tăng, tục niệm Phật văng sanh, cảm
được hai vị Phổ Hiền, Phổ Huệ Bồ
Tát xin được tham dự vào hội thù thắng ấy
trong giấc mộng, bèn ghi tên hai vị đứng đầu
trong hội. Đủ thấy pháp này khế lư, khế
cơ, chư thánh ngầm tán dương vậy!
Trong
đời Tống Thái Tông - Tống Chân Tông, pháp sư Tỉnh
Thường[21]
trụ tŕ chùa Chiêu Khánh ở Chiết Giang hâm mộ đạo
phong của ngài Lô Sơn Viễn Công bèn kết Tịnh Hạnh
Xă, Vương Văn Chánh Công Đán quy y đầu tiên, làm
người đề xướng. Phàm là bậc tể phụ
đại thần, học sĩ đại phu xưng là
đệ tử dự vào Tịnh Hạnh Xă hơn một
trăm hai mươi người, sa-môn số đến mấy
ngàn, c̣n dân thường chẳng biết là bao nhiêu. Sau này có
Lộ Công Văn Ngạn Bác làm quan suốt bốn triều
Nhân Tông, Anh Tông, Thần Tông, Triết Tông, ra vào làm quan cao chức
cả hơn năm mươi năm, làm đến chức
Thái Sư, được phong là Lộ Quốc Công. B́nh sinh
ông dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, tuổi già càng dốc
sức làm lợi cho đạo, chuyên niệm A Di Đà Phật.
Sáng - tối, đi - ngồi chưa từng biếng nhác.
Ông cùng với pháp sư Tịnh Nghiêm ở kinh đô kết
xă gồm hơn mười vạn người cầu sanh
Tịnh Độ. Các vị sĩ đại phu thời ấy
đa phần chịu sự giáo hóa của ông; có bài tụng
rằng:
Tri quân đảm
khí đại như thiên,
Nguyện
kết Tây Phương nhất vạn duyên,
Bất vị
tự thân cầu hoạt kế,
Đại
gia tề thượng độ đầu thuyền.
(Tạm
dịch:
Biết
ông gan lớn bằng trời,
Tây
phương xin hăy kết mười ngh́n duyên,
Sống
c̣n chẳng tính kế riêng,
Mọi
người ai nấy đă lên thuyền rồi!)
Ông thọ đến chín mươi hai tuổi,
niệm Phật qua đời. Trong đời Nguyên - Minh
th́ có các ngài Trung Phong, Thiên Như, Sở Thạch, Diệu
Hiệp hoặc là sáng tác thi ca, hoặc là biện luận,
không vị nào chẳng cực lực xiển dương
pháp “khế lư khế cơ, thông trên thấu dưới” này;
nhưng các vị Liên Tŕ, U Khê, Ngẫu Ích là thiết tha,
thành khẩn nhất. Đời Thanh có các ngài Phạm Thiên
Tư Tề[22], Hồng Loa Triệt
Ngộ, cũng dốc sức hoằng dương đạo
này. Bài Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn của ngài
Phạm Thiên, bài Thị Chúng Pháp Ngữ của ngài Triệt
Ngộ đều có thể kế tục các vị thánh
đời trước, khai ngộ cho hàng hậu học. Kinh
trời đất, động quỷ thần! Người
học nếu có thể hành theo đó th́ nào có ai không từ
tạ Sa Bà, cao đăng Cực Lạc, làm đệ tử
Phật Di Đà, làm bạn tốt trong hải hội!
Kể
từ sau đó, vận nước ngày càng suy, chẳng ai
đề xướng, pháp vận cũng suy sụp theo.
Đến thời Hàm Phong - Đồng Trị, binh lửa
bốn mặt nổi lên, bậc triết nhân ngày càng hiếm
hoi, bọn kém cỏi ngày càng đông đúc. Nhà Nho chỉ
sùng phụng những thuyết báng Phật của Âu,
Dương, Tŕnh, Châu, cho là danh ngôn chí lư, chẳng biết
Phật pháp bao quát cái đạo tân truyền[23] của
các thánh, phát minh tâm tánh của đương nhân; nghĩa mầu
nhiệm, lời lẽ tinh vi, công đức lợi ích ấy
chẳng thể h́nh dung bằng ngôn ngữ, văn tự
được. Do vậy, họ dốc chí hủy diệt
Phật pháp, chẳng chịu đọc tụng, thọ
tŕ, bảo vệ, lưu truyền, khiến cho Phật pháp
bại hoại sát đất. Ví như trẻ nhỏ thấy
châu ma-ni chẳng những không trân trọng, ǵn giữ, lại
c̣n muốn phá hủy, vứt đi.
Đến
cuối đời Quang Tự, phế trừ cử nghiệp,
khởi đầu du học rộng răi, phàm những kẻ
có thiên tư cao, đều lấy chuyện đọc nhiều
làm trọng, tất cả các học thuyết lư luận
đều chẳng đủ thỏa măn tâm họ, chỉ
có ḿnh Phật học sâu xa, lớn lao, mênh mông, không hay khéo
nào chẳng đầy đủ, chân - tục hỗ trợ
nhau, Không - Hữu viên dung. Từ đấy, họ xúm vào
nghiên cứu, tu tập. Lễ Kinh nói: “Tuy có thức ăn ngon, không ăn sẽ không biết
được vị ngon. Tuy có đạo chí lư, không học
sẽ chẳng biết là hay”. Nay đă biết ư chỉ,
biết cái hay, há nhường cho cổ nhân riêng hưởng
vô thượng tâm pháp này, c̣n chính ḿnh và hết thảy những
đồng nhân chẳng hưởng được ǵ
ư? Do vậy, Nghiên Cứu Hội, Cư Sĩ Lâm, Niệm
Phật Xă, Hội Ăn Chay lập ra khắp nơi. Những
người kiêng giết, cứu vật, ăn chay, niệm
Phật ngày thấy càng nhiều. Ví như đứa con
nghèo khó, tự mê mất quê nhà, một ngày nọ được
người khác chỉ dạy bèn thẳng hướng cầu
đường về, trọn chẳng chịu đi
ăn xin quẩn quanh, lẻ loi tha phương như
cũ.
Chùa
Thanh Liên từ khi Hoàng Cốc pháp sư khai sơn đến
nay đă là một đạo tràng Tịnh Độ lớn,
h́nh thế hùng vĩ, quả thật là chốn thù thắng
bậc nhất của Lô Sơn. Do vậy, một ngàn mấy
trăm năm qua, đạo phong chẳng suy, qua nạn Hồng
Dương[24], đều thành tro
tàn. Do pháp môn suy vi, không người khôi phục nên thành núi
hoang. Diệu Bồi đại sư từ khi xuất gia
trở đi bèn lấy Tịnh Độ làm tông, toan
đem pháp “liễu thoát ngay trong một đời này” lợi
khắp đồng nhân nên bèn đến Hồng Loa tu tập
mấy năm. Mùa Xuân năm nay sang chơi Lô Sơn, cảm
khái sâu xa “đạo của Viễn
Công không người chấn hưng, khiến cho thế
đạo nhân tâm mất nhiều lợi ích”. Khi đến
nền cũ của chùa Thanh Liên, thấy h́nh thế giống
như một đóa sen, chắn trước mặt là ḍng
thác Tam Điệp, sau lưng dựa vào ngọn núi Ngũ
Lăo hùng vĩ, hai bên là ngọn Sư Tử và Mũi Voi che chở.
Đúng là một đạo tràng Tịnh Độ trời
xây đất dựng, chẳng nỡ để vùi lấp,
bèn phát nguyện khôi phục nhằm hoằng dương
Liên Tông, nên thương nghị cùng các đại cư
sĩ Thượng Hải, may đều được họ
bày tỏ đồng tâm. Do vậy, trước hết xây
cất vài gian điện đường làm chỗ tu tŕ.
C̣n như chuyện xây cất hoàn bị ngôi chùa phải
đợi long thiên cảm ứng, không phải là chuyện
cấp bách hiện thời.
Chuyện cấp bách bây giờ là mở liên xă hành đạo. Nếu bảo niệm Phật văng sanh Tây Phương là được rồi, cần ǵ phải kết xă, tức là chẳng biết thế gian muôn sự cần phải có các duyên giúp đỡ mới ḥng thành tựu được, huống chi là học vô thượng diệu pháp liễu sanh thoát tử! Kinh Dịch nói: “Lệ Trạch Đoài; Quân tử dĩ bằng hữu giảng tập”.[25] Ấy là lấy ư nghĩa hai cái đầm cùng tồn tại, hai bên giúp ích cho nhau. Hơn nữa, thánh nhân liệt bằng hữu vào Ngũ Luân là v́ khuyên làm lành, vạch điều lỗi, có nghĩa như hai vầng trăng cùng chiếu[26], giúp đỡ trong khi nguy, ǵn giữ trong khi yên; như hai tay giúp đỡ nhau (chữ Hữu 友, viết theo lối cổ lại có nghĩa là tay).
Thói
thường con người nếu không có ǵ để
nương tựa, đa phần sẽ vướng vào
thói tệ biếng nhác, coi thường. Đại chúng ở
cùng nhau, công khóa nhất định, dẫu muốn biếng
nhác cũng không thể được! Ngoài công khóa ra, những
người mạnh mẽ tinh tấn cũng có thể thúc
đẩy những người biếng nhác gắng sức
tu hành. Ai nấy đều tiến lên, có ai đành chịu
tụt hậu? Đây kia giúp đỡ nhau, nên hạnh dễ
thành. Nếu có nghi ngờ và có kiến giải ǵ bèn có thể
quyết trạch cho nhau. Mỗi ngày lúc rảnh, thỉnh
các bậc kỳ túc chỉ bày đại lược
cương yếu Tịnh Tông th́ chuyện bỏ tà, giữ
chánh sẽ rành mạch phân minh. Có những lợi ích như
vậy nên cổ nhân đều đề xướng chuyện
kết xă.
Nếu
thân mang chức vụ, chẳng thể đích thân tham dự,
chỉ tu tŕ theo chương tŕnh của liên xă, đợi
ngày Khai Hội hoặc đích thân đến, hoặc gởi
thư báo, thuật rơ ḿnh tu tŕ siêng hay lười, lợi
ích lớn - nhỏ cũng chẳng khác ǵ như đă tham dự
tu tập tại liên xă. Do tâm mong đua chen cùng liên hữu sẽ
chẳng dám biếng nhác, bỏ bê! Phải biết Phật
pháp vốn chẳng ĺa pháp thế gian, phàm các xă hữu[27]
ai nấy phải tận hết bổn phận, như cha
từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng,
vợ theo, chủ nhân từ, tôi tớ trung thành v.v… Lại
phải đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, kiêng giết, cứu mạng, chẳng ăn mặn,
chẳng uống rượu, ngăn ḷng tà, giữ ḷng
thành, khắc kỷ, giữ lễ, tự lợi, lợi
tha, lấy đó làm trách nhiệm. Như thế chính là nền
tảng vững vàng, ngay ngắn, đáng được nhuần
thấm bởi pháp. Nếu quả thật đầy đủ
ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, ắt sẽ văng sanh
thượng phẩm.
Người
ngu trong cơi đời thường chẳng tu hành chân thật,
cứ muốn được cái hư danh là bậc chân tu,
nên bày ra đủ mọi cách bôi son trát phấn, thành ra dáng
vẻ giống như thật nhưng chẳng phải thật,
cốt sao người khác ca ngợi mà thôi. Tâm hạnh
đă ô trược chẳng kham nổi, dù có tu tŕ th́
cũng v́ tâm đă nhơ bẩn nên chắc chắn khó thể
đạt được lợi ích chân thật! Đấy
gọi là “ham danh ghét thật”, là điều đại kỵ
bậc nhất cho chuyện tu hành. Nếu đầy đủ
những điều nên làm như trong phần trước,
không có những điều đáng kỵ như đă nói ở
phần sau th́ trong thế gian là hiền nhân, trong Phật
pháp là bậc Khai Sĩ[28].
Dùng thân ḿnh làm gương cho người khác từ nhà
đến làng, từ làng đến ấp, cho đến
toàn quốc và khắp thiên hạ th́ lễ nghĩa hưng
thạnh, can qua vĩnh viễn dứt bặt, từ thiện
khởi, tai họa chẳng sanh, thiên hạ thái b́nh, nhân dân
an lạc. Nguyện người thấy kẻ nghe đều
cùng phát khởi, đề xướng th́ may mắn lắm
thay! Chương tŕnh đơn giản sẽ ghi trong phần
sau.
167. Thư trả lời ông Dương
Minh Trai, Phó Tư Lệnh Đệ Ngũ Quân ở Hà
Nói tu hành ở chốn công môn không chỉ có
nghĩa là tụng kinh, tŕ chú, niệm Phật mà thôi, mà c̣n
phải tận hết chức phận của ḿnh, trừ
kẻ bạo, giữ yên cho người lành, cũng như
binh lính thuộc quyền ḿnh cai quản ai nấy đều
dốc chí trừ kẻ bạo, giữ yên cho người
lành, bảo vệ nhân dân th́ địa phương ấy
được hưởng phước, mà chủ tướng,
quân lính sẽ ngầm cùng được nghiệp chướng
tiêu trừ, tăng trưởng phước thọ. Nếu
chẳng coi trọng chuyện này, dùng tấm ḷng khẩn
thiết chí thành để khuyến khích binh sĩ, th́ quân
đi đến đâu, nơi ấy phải chịu nỗi
thảm cướp bóc bừa băi chẳng thể nào kể
xiết; huống hồ thậm chí có kẻ c̣n hủy hoại
nhà cửa, giết người để thị uy!
Nếu
cư sĩ quả thật làm được như thế
này: Dùng cái tâm chí thành dạy binh sĩ coi dân địa
phương như người nhà của chính ḿnh, chẳng
để họ phải chịu bức bách, đè nén khổ
sở vô lối th́ công đức lớn lắm. Làm
được như vậy, lại thêm tụng kinh, tŕ
chú, niệm danh hiệu Phật th́ sẽ được Phật,
trời che chở, hộ tŕ. Khi vô sự th́ quân oai lan xa, kẻ
đớn hèn khuất phục. Khi hữu sự sẽ
nương sức Phật, trời, đánh thắng quân
địch, trở thành hộ quốc tướng quân,
thành bậc Bồ Tát cứu thế vậy. Quang vốn thiếu
đức, há kham làm thầy, nhưng nếu coi tượng
đất nặn, gỗ khắc như Phật, kính trọng
như đức Phật thật th́ sẽ được
lợi ích chẳng khác ǵ kính trọng đức Phật thật.
V́ thế, tôi thuận theo chí ông, chịu làm thầy. Nếu
ông kính Phật trọng Tăng th́ cũng từ nơi ông Tăng
tầm thường, chỉ biết cơm cháo này, ắt
cũng chẳng đến nỗi không thể nhờ
đó được siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát
tử.
Nếu
chỉ đ̣i hỏi Quang có đủ đạo đức
th́ Quang sẽ phụ ḷng mong mỏi, chẳng thà không quy y
c̣n tốt hơn. Nay tôi đặt pháp danh cho ông là Trí Nghị.
Do bởi có trí mạnh mẽ, kiên nghị, nên trong có thể
tu thánh đạo đoạn Kiến Hoặc, ngoài có thể
giữ nước yên dân. Ông nghĩ tưởng đến
ư nghĩa của cái tên ấy sẽ có lợi cho cả quốc
gia lẫn xă hội, chứ nào phải riêng một ḿnh ông
đâu! Đối với chuyện tụng kinh, tŕ chú, niệm
Phật, một mực dùng ḷng chí thành, cung kính để thọ
tŕ là được rồi, bất tất phải lấy
chuyện mong mau hiểu được ư nghĩa làm trọng.
Nếu thọ tŕ được như vậy th́ lâu ngày
nghiệp chướng tiêu trừ, trí huệ phát hiện,
c̣n chứng được lợi ích thật sự nơi
kinh, huống ǵ văn nghĩa! Trong Văn Sao đă từng
nhiều lần đề cập đến chuyện này,
nên chẳng nói nhiều. Xin hăy đọc kỹ Văn Sao, ấy
chính là thường gặp gỡ lẫn nhau, chứ nào phải
chỉ một hai lá thư mà thôi!
168. Trả lời thư anh em ông Châu Mạnh
Do
Mẹ các ông tuổi đă cao, đối với
pháp Tịnh Độ c̣n chưa thể nỗ lực tu
tŕ, hăy nên thường kể cùng bà cụ nỗi khổ
luân hồi sáu nẻo, sự vui trong thế giới Cực
Lạc. Con người sống trong thế gian, siêu
thăng rất khó, đọa lạc thật dễ. Nếu
không văng sanh Tây Phương, đừng nói chi nhân đạo
chẳng đáng tin tưởng, dù sanh lên trời phước
thọ thật dài lâu, hễ phước lực hết vẫn
bị đọa lạc trong nhân gian y như cũ, cũng
như phải chịu khổ trong Tam Đồ ác đạo!
Nếu không biết Phật pháp th́ chẳng biết làm sao,
nay đă hiểu đại khái Phật pháp, há nhường
một mối đại lợi ích này cho người khác,
c̣n chính ḿnh đành ḷng luân hồi trong sáu nẻo, thoạt
ch́m thoạt nổi, vĩnh viễn không có ngày thoát khỏi
ư? Nói như vậy sẽ có thể làm cho thiện
căn đời trước của cụ được
phát khởi bèn tin nhận phụng hành! Bồ Tát độ
sanh tùy thuận cơ nghi, trước hết dùng Dục
để lôi kéo, sau mới dạy cho nhập Phật trí.
Ông tận lực tu tập hiếu hữu[29]
và đem pháp môn Tịnh Độ khuyên dạy quyến thuộc
của chính ḿnh cùng hết thảy kẻ hữu duyên đồng
làm người trong hội Liên Tŕ th́ công đức lớn
lắm!
Người
đời có bệnh và có những chuyện tai nạn, nguy
hiểm v.v… nhưng chẳng biết niệm Phật, tu thiện,
cứ lầm lạc muốn cầu đảo quỷ thần,
bèn giết hại sanh mạng, nghiệp chồng thêm nghiệp,
thật là đáng thương! Con người sống trong
thế gian phàm có cảnh duyên đa phần do túc nghiệp.
Đă mắc bệnh khổ th́ phải niệm Phật tu
thiện, sám hối nghiệp cũ, hễ nghiệp tiêu, bệnh
liền lành! Những quỷ thần kia c̣n đang ở
trong biển nghiệp, làm sao có thể tiêu nghiệp cho
người khác được? Dẫu là vị chánh thần
có đại oai lực th́ oai lực của vị ấy
sánh với oai lực của Phật, Bồ Tát khác nào lửa
đom đóm sánh với ánh sáng mặt trời! Đệ tử
Phật chẳng hướng về Phật, Bồ Tát cầu
đảo lại hướng về quỷ thần cầu
đảo. Đấy chính là tà kiến, chính là trái nghịch
lời Phật dạy, không thể không biết!
Lại
nữa, hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá
khứ, là vị lai chư Phật, lẽ ra phải nên
kiêng giết, cứu mạng, yêu tiếc sanh mạng loài vật,
chớ thuận theo tri kiến thế tục, cho là phải
cung phụng miếng ngon vật lạ cho cha mẹ mới
là hiếu. Những kẻ chưa nghe được Phật
pháp đó chẳng biết sự lư luân hồi lục đạo,
lầm tưởng như vậy là hiếu, c̣n tha thứ
được. Chớ nếu là người đă nghe biết
Phật pháp, lại giết cha mẹ, thân thuộc quá khứ
để phụng dưỡng cha mẹ hiện tại
cũng như để ma chay, cúng giỗ v.v… th́ chẳng
những không phải là hiếu đạo mà c̣n trở
thành ngỗ nghịch nữa! V́ vậy, những bậc
thông đạt do nghe được chân thật nghĩa
đế của Phật pháp bèn chẳng chịu hành theo những
pháp quyền biến của thế gian, bởi những
pháp quyền biến ấy đều là thuận theo t́nh kiến
mê muội của thế tục mà lập, chứ không phải
là đạo thấy thông suốt nhân quả ba đời
của đức Như Lai. Nếu muốn hiểu sâu
hơn, hăy đọc những bài văn khuyên kiêng giết
trong bộ Văn Sao và bài Phổ Khuyến Giới Sát Văn Kiếp
Văn (văn khuyên khắp mọi người kiêng giết
để văn hồi kiếp vận) trong bộ Quán Âm Tụng
ắt sẽ tự biết.
Người niệm Phật nếu mắc bệnh
hăy nên một dạ đợi chết. Nếu tuổi thọ
chưa hết sẽ chóng lành bệnh, v́ toàn thân buông xuống
niệm Phật có thể tiêu được nghiệp
chướng mạnh nhất. Nghiệp tiêu, bệnh sẽ
lành. Nếu không buông xuống được, cứ muốn
cầu lành bệnh th́ vẫn chưa thể lành bệnh
được, mà cũng chắc chắn không cách ǵ văng
sanh được v́ chẳng nguyện văng sanh! Nếu
không hiểu rơ những đạo lư này, há c̣n có thể cậy
vào Phật từ lực được ư? Đối với
bệnh của mẹ ông, hăy khuyên bà cụ nên buông xuống,
cầu văng sanh. Nếu tuổi thọ chưa hết, đâm
ra sẽ ra mau lành bệnh, v́ tâm chí thành nên được
Phật từ gia bị. Mong ông hăy uyển chuyển khuyên mẹ,
đừng bắt chước kẻ si nói lời ngây ngô!
Hôm qua nhận được thư Thủ Lương,
biết mẹ ông chưa thật sự phát tâm cầu sanh.
Mẹ đang bệnh đừng nhắc đến chuyện
đó, chỉ khuyên mẹ chí tâm niệm Phật sẽ
được Phật gia bị khiến cho thân tâm an lạc.
Đợi khi nào cụ khỏe hẳn, hăy khéo léo khuyên chỉ,
khiến cho cụ cầu sanh th́ lợi ích lớn lắm.
Cũng mong ông đối trước cụ, thay tôi hỏi
thăm sức khỏe, cũng như bảo cụ rằng
Quang khuyên cụ nên buông xuống hết thảy, nhất
tâm niệm Phật, lấy đó làm chuyện trọng yếu
cho chính ḿnh, mọi chuyện khác đều phó cho con cháu lo
lắng để khỏi gây trở ngại cho lợi ích
niệm Phật của chính ḿnh.
Quần
Tranh hăy nên biết rơ: Mẹ ông hiện đang có bệnh, mẹ
chưa lành bệnh trọn chẳng thể bỏ đi.
Nhưng Quang xem ra mẹ ông e rằng khó sống lâu, hăy nên
cùng Mạnh Do và Trí Chiêu v.v… hằng ngày thay phiên nhau niệm
Phật bên mẹ, khiến cụ niệm theo. Chẳng niệm
được th́ lặng lẽ nghe. Nếu tuổi thọ
đă hết, hành như thế, sẽ quyết định
văng sanh. Nếu tuổi thọ chưa hết, cũng sẽ
tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng thiện
căn. Nếu ông nhất quyết muốn lên núi, chỉ
đành bàn bạc như thế này cùng ông, ngơ hầu hai
đằng đều không trở ngại: Hiện nay mẹ
ông bệnh chưa khỏi, quyết chẳng thể phát cái
tâm ấy. Nếu phát th́ cả thế gian lẫn xuất
thế gian hai đằng đều trái nghịch. Con
người lâm chung được trợ niệm quyết
có thể văng sanh. Không được trợ niệm, hoặc
lại v́ khóc lóc, chuyển dời, khiến t́nh yêu mến
hay ḷng sân hận dấy động th́ sẽ khó tránh khỏi
bị đọa lạc, nguy hiểm lắm thay! Ông thành tựu
được sự văng sanh cho mẹ th́ cũng chính là
chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật,
ấy là “hành Phật sự
ngay trong trần lao”, công đức thù thắng vạn
phần hơn những chuyện tầm thường khác!
Xin hăy bảo cùng Mạnh Do cách trợ niệm này và khuyên mẹ
hăy nghe theo lời Quang. V́ mẹ diễn bày Phật pháp cố
nhiên là đại thiện, nhưng chuyện thăm hỏi
vỗ về cũng càng phải đặc biệt lưu
ư th́ may mắn lắm!
Mẹ ông phát nguyện gởi tiền cho Quang
để tùy ư làm công đức và giúp in bộ Văn Sao hủ
bại. Theo cái nh́n hèn tệ của Quang, hễ làm công đức
th́ phải coi việc khai phát trí thức cho con người
là trọng yếu nhất. Quang tính dùng khoản tiền này
in Quán Âm Tụng để thí khắp gần xa khiến cho
hết thảy mọi người cùng biết Quán Âm Đại
Sĩ là bậc nương cậy cho chúng sanh trong pháp giới,
tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu khổ, lại
c̣n phù tá Phật Di Đà tiếp dẫn chúng sanh. Huống
chi thế nhân hiện thời hằng ngày ở trong hoạn
nạn, không cách chi ngăn ngừa, ǵn giữ được.
Nếu ai nấy thấy được sách này, biết ân
đức Đại Sĩ, không ai chẳng muốn cậy
vào oai lực Ngài để tránh khỏi tai họa.
Đă
phát tâm quy y, tin tưởng, nương tựa Đại
Sĩ th́ tự nhiên sẽ giữ ḷng từ thiện, tu sửa
lỗi cũ ḥng chẳng trái nghịch Đại Sĩ
để được che chở, ǵn giữ, ban phước.
Cơi đời loạn lạc là v́ ḷng người hiểm
ác. Nếu ai nấy đều ngưỡng mộ ḷng từ
bi của Đại Sĩ, ắt có ngày tự đến
được chốn lành. Do vậy, lưu thông sách này lợi
lạc vô cùng, so với in những thứ lợi ích tạm
thời khác quả thật cách xa một trời một vực!
Do chuyện này mẹ ông sẽ tăng phước huệ,
tiêu trừ tội khiên, ắt sống được an lạc,
mất về Liên Bang. C̣n như bộ Văn Sao hủ bại,
người trông thấy phát tâm tu thiện niệm Phật
rất nhiều, ở đây không viết tường tận.
V́ sao mẹ ông bệnh chẳng thấy lành? Ấy
là do túc nghiệp mà ra! Là do báo nặng đời sau chuyển
thành báo nhẹ trong hiện tại để giải quyết
cho xong ngay lúc này đó vậy! Huyền Trang pháp sư lúc lâm
chung cũng có chút bệnh khổ, tâm nghi ngờ những
kinh ḿnh dịch có bị sai lầm ǵ chăng, có một vị
Bồ Tát an ủi Ngài: “Do sự
khổ nhỏ này, tội báo của Sư trong những kiếp
trước đều tiêu cả, chớ hoài nghi!” Hăy
nên đem ư này an ủi mẹ ông, khuyên cụ sanh ḷng hoan hỷ,
đừng sanh ḷng oán hận th́ quyết định
được Phật gia bị. Thọ mạng chưa hết
sẽ chóng lành, đă hết sẽ văng sanh. Phàm nhân trong lúc
bệnh khổ nếu nghĩ thoái lui một bước
th́ an lạc vô lượng.
Gần
đây, binh lửa liên miên, may sao chúng ta chưa mắc phải
nạn ấy. Tuy có bệnh khổ, nhưng vẫn c̣n có thể
dùng đó làm lời cảnh tỉnh, răn nhắc thoát khổ,
phải nên cảm kích, tinh chuyên tu tập th́ sẽ tự
được lợi ích. Nếu không, oán trời hận
người, chẳng những không tiêu được túc
nghiệp, lại c̣n đèo thêm cái nghiệp oán trời trách
người! Hăy bảo cùng mẹ ông như thế. Nếu
có thể chẳng oán trời trách người, tịnh tâm
niệm Phật th́ tiêu được nghiệp như
nước sôi tan tuyết. Từ khi Quang trở về núi,
lúc hồi hướng trong khóa tụng hằng ngày đều
hồi hướng cho mẹ ông, cầu Tam Bảo gia bị
mạng chưa tận sẽ chóng lành, tuổi thọ
đă hết sẽ mau được văng sanh Tây
Phương.
Nhận được
thư biết mẹ ông đă niệm Phật văng sanh bữa
mồng Hai, khôn ngăn thương cảm, than thở! Tuy
nhiên, các ông đă biết Phật pháp, nên y theo Phật pháp,
chăm chú tạo lợi ích cho thần thức của cụ
bà, chớ đừng buồn thương vô ích, khiến
cho kẻ c̣n lẫn người mất chẳng được
lợi ích ǵ. Trong lúc ma chay, toàn dùng đồ chay, đừng
bị thế tục xoay chuyển. Dẫu bị kẻ chẳng
hiểu thời thế chê là không đúng, cũng cứ mặc
cho họ cười chê. Tang ma, chôn cất, chớ nên bày vẽ
phô trương quá mức. Làm Phật sự chỉ nên niệm
Phật, đừng làm Phật sự ǵ khác, cũng như
bảo cả nhà đều khẩn thiết niệm Phật
th́ đối với mẹ ông, đối với quyến
thuộc các ông và thân thích, bằng hữu đều có lợi
ích thật sự. Có tài lực th́ làm nhiều công đức.
Nếu tiền chi tiêu cho tang sự không dư dả th́
chuyên lo tang sự là được rồi, đừng gắng
gượng bày vẽ, đến nỗi thiếu hụt,
để rồi sau này túng quẫn, không nên!
Nhận
được thư, biết mẹ ông qua đời rất
an lành. Ấy là do mẹ ông xưa kia tích chứa thiện
căn cũng như do thiện nguyện trong hiện tại,
mà cũng là kết quả của việc các ông giúp cho mẹ
được thành tựu. Con người suốt cả
một đời chuyện ǵ cũng có thể giả vờ
được, chỉ có lúc sắp chết là không thể
giả dối được! Huống chi cụ không có
t́nh ái luyến, vẻ mặt vui tươi, ngồi yên qua
đời. Nếu không phải là Tịnh nghiệp thành thục,
làm sao được như thế? Chỉ cần nh́n vào
anh em ông và gia đ́nh quyến thuộc tích cực v́ mẹ
niệm Phật, chẳng những bà cụ được
lợi ích, mà thật ra so với công đức niệm Phật
cho chính ḿnh lại càng lớn hơn. Do vậy, đức
Phật dạy con người phàm tụng kinh, tŕ chú, niệm
Phật, làm các công đức đều hồi hướng
cho pháp giới chúng sanh. B́nh thời c̣n hồi hướng
cho chúng sanh không liên hệ ǵ với ḿnh, huống ǵ lúc mẹ
mất lại chẳng chí tâm v́ mẹ niệm Phật hay
sao? Do hồi hướng cho hết thảy chúng sanh chính là
phù hợp với thệ nguyện Bồ Đề của
Phật, như một giọt nước gieo vào biển cả
cũng trở thành sâu rộng như biển cả. Nếu
chưa đến được biển, đừng nói
chi là một giọt nước, dẫu trường giang,
sông lớn hiển nhiên vẫn thua xa biển cả như
trời với đất. Do vậy, biết rằng phàm
thí cho mẹ và hết thảy mọi người đều
chính là tự vun bồi phước cho ḿnh!
Biết
được nghĩa này th́ người có ḷng hiếu sẽ
càng tăng trưởng ḷng hiếu; kẻ không có ḷng hiếu
cũng sẽ phát khởi tâm hiếu. Thỉnh Tăng niệm
Phật suốt bốn mươi chín ngày rất tốt. Lúc
niệm th́ anh em ông phải có người hiện diện
niệm theo, phụ nữ bất tất phải ngồi
sau Tăng. Bởi lẽ, niệm nhiều ngày, ắt quen
biết nhau, dễ khiến người ta khởi hiềm
nghi! Nên lập riêng một chỗ cho phụ nữ, hoặc
cho họ ngồi sau màn, ra vào theo cửa riêng, hai bên chẳng
thấy nhau để làm gương cho làng ấp, mở
đầu khuôn phép nghi thức tốt đẹp. Nếu
tràn lan không giới hạn th́ rất có thể người
khác bắt chước theo, lâu ngày nẩy sanh thói tệ.
Người xưa lập pháp dẫu là thượng
thượng nhân cũng phải tuân thủ khuôn phép dành cho
kẻ hạ hạ, cho nên không thể có tệ hại.
Anh
em ông v́ mẹ có thể niệm Phật như thế lại
c̣n v́ mẹ in tặng Quán Âm Tụng, Văn Sao v.v… có thiện
tâm, tư lương thanh tịnh, và chuyện công đức
lợi người như thế há chẳng riêng ǵ mẹ
ông phẩm sen được tăng cao, chắc rằng tổ
phụ, tổ mẫu, phụ thân ông và tổ tiên nhiều
đời cùng được thấm nhuần pháp lợi,
cùng được văng sanh. Những ǵ Quang nói vốn có lư
có t́nh, chứ không phải là nói lan man để làm đẹp
ḷng vui dạ các ông. Con em nhà phú quư đa phần chẳng
thành tṛ trống ǵ, vốn là do chẳng biết cách
thương yêu, hoặc là thiên về cho con tiền tài, hoặc
là thiên về cho con ăn mặc sang trọng, mặc sức
dùng tiền, ắt đến nỗi ăn bậy thành bệnh.
Nếu cho một đứa nào giữ tiền của
để kiếm lời, những đứa khác không
được sẽ sanh tâm oán cha mẹ, sanh ḷng đố
kỵ với những anh em, chị em được giữ
tiền. Đấy đều chẳng phải là cách dạy
con hiếu đễ.
Nếu
con gái có tiền, khi lấy chồng sẽ cậy tiền
tự kiêu, hoặc khinh thường chồng, hoặc không
hiểu việc, đem tiền giúp chồng làm chuyện
trái pháp. Muốn con cái thành hiền nhân th́ hăy nên vun bồi
phước, chẳng nên tích cóp tiền tài. Tài là gốc họa,
các ông thấy bao kẻ tay trắng làm nên đều là do
không tiền nhưng siêng năng mà được, c̣n những
nhà giàu to không ít kẻ chẳng bao lâu gia sản trống rỗng.
Cổ nhân nói: “Để cho con
một rương đầy vàng, không bằng dạy con một
bộ kinh”. Học được th́ học, không học
được th́ hoặc làm ruộng, làm thợ, buôn bán, mỗi
đứa một nghề để làm cái vốn lập
thân nuôi gia đ́nh. Nếu con gái có tiền, hiểu biết
đạo lư th́ tiền sẽ thành cái gốc để
giúp cho đạo. Nếu không hiểu đạo lư th́ sẽ
hại cả con lẫn rể, hại lây đến cháu
trai, cháu gái.
Mẹ
ông khéo kinh doanh, may là tổ đức nhà ông sâu dầy nên
anh em trai, chị em gái đều hiền lành, ḥa thuận.
Dù mẹ có thương yêu một đứa con nào hơn
những đứa khác, cũng chẳng đến nỗi
so b́ lẫn nhau. Nhưng chẳng thể coi đó là cách hay,
phải làm sao cho con cái vĩnh viễn không so đo, nẩy
sanh hiềm khích, cũng như không sanh trưởng ư niệm
ỷ lại, kiêu căng, ngơ hầu gia đạo hưng
thịnh, con cháu đều tuân thủ quy củ. Quang
thường hay có cái tánh dài ḍng; do anh em ông coi Quang là thầy,
chỉ sợ rằng sau này con cái các ông bị mắc hại
nên mới lắm lời. Nếu không coi những ǵ tôi
đă nói là không có nguyên nhân, không xem là lời thừa th́ may
mắn thay! Chỉ mong anh em ông tích cực niệm Phật,
đấy chính là báo ân mẹ mà cũng là báo ân Phật vậy.
Cách
hỏa táng khi Phật pháp hưng thạnh vào thời
Đường - Tống, người tại gia thường
dùng. Nhưng hăy nên thuận theo thói đời chôn cất,
v́ sợ kẻ chấp trước câu nệ sẽ lầm
lạc nói ra nói vào, chứ thật ra thiêu sẽ dễ dàng
gọn gàng hơn. Qua bốn mươi chín ngày hăy thiêu là ổn
thỏa. Chôn lâu ngày rất có thể xương cốt bị
phơi bày. Chuyện để tang ba năm không dùng đến
lễ nhạc, cố nhiên nên tuân thủ. Đời Thanh
trước kia, hễ là quan văn th́ phải xin nghỉ
cư tang, quan vơ không cần phải cư tang do việc
quân chẳng thể thiếu sót được, nên chẳng
lấy đó làm lệ. Nay th́ những thói “phế bỏ
luân thường, bất hiếu” nhao nhao khởi lên, chuyện
vâng giữ tang chế theo kỳ hạn há c̣n đáng để
nhắc tới hay chăng? Chúng ta nên dựa theo cổ lễ,
châm chước mà hành, chớ nên biến đổi hết,
nhưng cũng bất tất phải câu nệ!
Những
thuyết “đảnh thánh nhăn
thiên”[30] quả thật
có chứng cứ, nhưng Quang sợ kẻ vô tri chỉ
chăm chú thăm ḍ chỗ nóng - lạnh, ư tôi cho rằng: “Hễ có tín nguyện và lúc lâm
chung chánh niệm phân minh bèn được văng sanh, chẳng
cần phải chuyên thăm ḍ nóng - lạnh để làm chứng
cứ”, nên mới nói cũng đừng theo lệ ấy
v́ sợ rằng thăm ḍ quá nhiều lần đến nỗi
hỏng việc. Không thể không biết [điều này]!
Trong
pháp hội Vô Lượng Thọ Như Lai của kinh Đại
Bảo Tích[31] có nói những kẻ
nghi ngờ hối hận th́ gọi là Thai Sanh, cũng có chỗ
gọi là Nghi Thành; tức là ước theo chướng ngại,
che lấp, ngăn cách, trở ngại cho nên gọi là Thai
Sanh, là Nghi Thành. Đó là v́ ở trong hoa sen năm trăm
năm chẳng thấy Phật, nghe pháp. Sao lại hiểu
nghĩa theo kiểu chấp chết cứng vào văn tự,
không kể những người ấy vào loại chín phẩm
văng sanh? Phải biết: Tây Phương không có Thai Sanh,
cũng không có thành quách. Nói Thai Sanh hay Nghi Thành là ước
trên ư nghĩa “chẳng vượt ra khỏi hoa sen và bị
ngăn cách với Phật”, nên ví như thai, như thành! Ông
chấp chặt vào từ ngữ, cho rằng những
người ấy không thuộc vào phẩm sen.
Hạ
Phẩm Trung Sanh là sáu kiếp [hoa mới nở], Hạ Phẩm
Hạ Sanh là mười hai kiếp; như vậy thành ấy,
thai ấy lại càng dày, càng xa. Mười hai kiếp c̣n gộp
trong chín phẩm, sao chỉ năm trăm năm lại lọt
ra ngoài? Sao lại không thấy tám chữ “ở trong hoa sen chẳng thể xuất hiện”,
hoa sen ấy chẳng phải là sen trong chín phẩm hay sao? Phật
pháp vốn chẳng thể nói được, hễ chấp
chết vào điều ǵ th́ là vô sự bèn sanh sự, phí hết
bút mực vậy! Nói chung, do ḿnh nghi nên bèn [ví như] ở
trong thai, ở trong thành, dày c̣n hơn Thiết Vi. Nếu
ngay đó bèn hiểu rơ th́ đại địa phẳng
phiu, Thiết Vi trọn chẳng c̣n có nữa. Mạnh Tử
nói: “Do ư nghịch chí, cho nên bèn
có”[32]. Chỉ một
chữ Nghịch ấy cũng là nghi thành. Nếu biết
là nghịch sẽ phù hợp cùng ư, Nghi Thành hóa ra không c̣n nữa!
Do vậy, những gă chấp chết cứng suốt ngày
giảng nói nhưng suốt ngày nghi ngờ, trái nghịch,
đều là v́ cái gốc bệnh chấp chết cứng
này chưa tiêu được cho nên khó thể đạt
được lợi ích thật sự!
169. Thư trả lời cư sĩ
Phùng Bất Cửu
Nếu muốn giáo hóa người th́ chính ḿnh
phải thật sự làm, người ta sẽ tự tin.
Quang nói “thật sự làm”
không chỉ có nghĩa là niệm Phật mà thôi! Phàm người
phát tâm học Phật th́ việc làm phải cao trỗi
hơn người b́nh thường. Nói “cao trỗi” có nghĩa là phải tận lực giữ
vẹn luân thường, tận hết bổn phận, cha
từ, con hiếu là những điều phải nên làm.
Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ chăm
chú giữ ḷng chân thật, phàm khởi tâm động niệm
làm việc ǵ đều phải “đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Phàm
có ai mê chẳng tin tưởng th́ phải dùng thành ư chân thật
để tuyên nói những sự lư nhân quả ḿnh biết.
Nếu không biết, chớ nên cưỡng nói. Chúng sanh
đang mê như sanh ra đă mù, mê nhưng vốn có nhà, muốn
quay về phải nhờ vào người dẫn th́ mới
khỏi va tường đụng vách, sa hầm xảy hố.
Người được dẫn dắt phải hoàn toàn
tuân theo lời người dẫn đường, chẳng
được nẩy sanh chút chống trái nào. Nếu chống
trái th́ chẳng những không thể về đến nhà, e
rằng c̣n bị mất cả thân mạng. Pháp môn Tịnh
Độ do đức Phật đă nói chính là vị thầy
dẫn đường cho hết thảy chúng sanh trong tam
giới. Chúng sanh tuân theo ngôn giáo của Phật mà tu hành quyết
sẽ đến được Tây Phương Cực Lạc
thế giới, tức là quê nhà ḿnh sẵn có, hưởng
thụ an lạc. Chỉ v́ dùng phàm t́nh không hiểu
được thánh trí nên lại tự cho ḿnh thông minh, rồi
lầm lạc cật vấn, bắt bẻ, thật
đáng xót thương! Nay tôi sẽ lần lượt
đáp từng điều:
1) “Vật đạt đến cùng cực sẽ
xoay ngược lại, vui quá hóa buồn” chính là lư chung,
nguyên tắc chung thường hằng cổ kim, thông suốt
khắp thiên hạ, trọn chẳng thể thay đổi
mảy may nào. Tây Phương mang tên là Cực Lạc,
như vậy cũng sẽ hóa thành buồn ư?
Đáp: Trong thế gian, tất cả căn
thân (căn chính là cái thân chúng ta)
hay thế giới (tức là trời đất ḿnh
đang sống) đều là đồng
nghiệp (thế giới) và biệt
nghiệp (căn thân) được
cảm thành trong cái tâm sanh diệt của chúng sanh, đều
có thành - hoại, đều chẳng lâu bền. Thân có sanh -
lăo - bệnh - tử, thế giới có thành - trụ - hoại
- không. Nói “vật đạt
đến cùng cực ắt xoay ngược lại, vui quá
hóa buồn” chính là ư này. Bởi lẽ nhân đă là sanh diệt
th́ quả không thể nào không sanh diệt! Cực Lạc thế
giới là do A Di Đà Phật chứng triệt để
Phật Tánh sẵn có trong tự tâm, tùy tâm hiện ra thế
giới xứng tánh trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn. Do
vậy, sự vui không có thời kỳ cùng tận. Ví
như hư không rộng răi lớn lao, bao hàm hết thảy
sâm la vạn tượng. Tuy thế giới bao lượt
thành, bao phen hoại, nhưng hư không rốt ráo chẳng
tăng - giảm.
Ông
dùng sự vui thế gian để cật vấn sự vui
nơi Cực Lạc. Ông chưa thể thấy được
sự vui nơi Cực Lạc; tuy ông chưa thể thấy
hư không hoàn toàn, nhưng hư không trong ṿng trời đất
ông đă từng thấy qua, nó có biến đổi hay
chăng? Phải biết hết thảy chúng sanh đều
sẵn có Phật Tánh; v́ thế, đức Phật (chỉ
Thích Ca Mâu Ni Phật) dạy người
niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Do nương
vào đại từ bi nguyện lực của Phật A Di
Đà nên cũng được hưởng sự vui bất
sanh bất diệt ấy. Bởi lẽ căn thân là liên
hoa hóa sanh nên không có nỗi khổ sanh - già - bệnh - chết;
c̣n thế giới do công đức xứng tánh biến hiện
nên không có những sự biến đổi thành - trụ -
hoại - không! Dẫu là thánh nhân cũng c̣n có những
điều không biết, há có nên do pháp thế gian sanh - diệt
mà nghi ngờ ư?
2) “Nhất Âm nhất
Dương gọi là Đạo”. Đời đồn
đại tiên sinh Giang Thận Tu[33] ở
một ḿnh trong núi thẳm, làm ra thiên, địa, nhật,
nguyệt, tinh tú đều thành h́nh, nhưng chúng đều
đứng yên không vận chuyển được, đến
khi chúng được hưởng khí Âm của đứa
tớ gái mới vận hành được! Tây
Phương không có thân nữ, riêng có một ḿnh
Dương, làm sao sanh trưởng cho được?
Đáp: Giang Thận Tu là một bậc quân tử
ẩn dật đời Thanh, đối với tâm pháp
thánh hiền, thiên văn, địa lư, không ǵ chẳng thông
đạt, quả là trong thế gian hiếm được
mấy kẻ! Tiên sinh chưa từng nghiên cứu Phật
pháp, nhưng đối với chuyện kiêng giết, phóng
sanh v.v… lại suốt đời khen ngợi (Quang từng
viết lời tựa cho sách và bản Niên Phổ của
tiên sinh, cùng cho lưu truyền).
Đối với pháp thiển cận nhất của Phật
pháp, tiên sinh c̣n như thế; nếu khi đó được
bậc cao nhân thông suốt Phật pháp hóa độ, ắt
sẽ thâm nhập pháp tạng, triệt chứng tự tâm.
C̣n như nói “ông ta làm ra thiên, địa, nhật, nguyệt,
tinh tú đều thành h́nh, nhưng chúng chỉ đứng
yên không vận chuyển được, phải đợi
đến khi có Âm Khí của đứa tớ gái mới
xoay vần được” th́ đấy chính là lời
đơm đặt, đồn thổi của bọn hạ
lưu luyện đan, nhằm lôi kéo những kẻ vô thức
làm chuyện tà bậy, nên mượn chuyện ông Thận
Tu làm ra thiên địa ḥng chứng minh “Âm Dương ḥa hợp
chính là Đạo”. Đấy là chuyện cực ác, trái
pháp, vô luân lư, vô liêm sỉ, dẫn con người sa vào lời
ma, tà kiến cầm thú. Kẻ vô tri tưởng là diệu
đạo, chẳng đáng buồn ư? “Nhất Âm nhất Dương gọi là Đạo”
chính là lời Khổng Tử khen ngợi kinh Dịch. Dịch
lấy Âm Dương làm gốc nên Khổng Tử nói
như thế. Người đời sau không biết đạo,
liền hiểu sơ sài hai chữ “Âm Dương” có
nghĩa là khí Âm, khí Dương; kẻ tà kiến lại hiểu
lệch lạc Âm Dương là nam nữ, đúng là “két học tiếng người,
trọn chẳng biết chuyện người”.
Nay chẳng nài phiền toái, chỉ
bày đại lược ngơ hầu chẳng đến nỗi
khiến cho lời dạy đạo của thánh nhân bị
kẻ vô tri hiểu lầm tạo thành ác nghiệp vĩnh
viễn đọa trong tam đồ. “Nhất” không phải là “một” như trong “nhất, nhị” (một,
hai), mà có nghĩa là “hỗn hợp,
không gián đoạn”. Dương chính là Minh Đức; Minh
Đức này ai ai cũng có. Do bị món vật là ḷng ham muốn
của con người ngăn lấp nên Minh Đức sẵn
có chẳng thể hiển hiện được! Nếu “cách trừ” (trừ khử)
được “món vật” (tức “cách vật”) là ḷng Dục
th́ Minh Đức sẽ tự hiển lộ, đó gọi
là “minh Minh Đức” (làm sáng
tỏ đức sáng). Dương là Minh Đức, c̣n Âm
là công dụng làm sáng tỏ Minh Đức. Sách Trung Dung nói
là “thành minh”. Thành chính là Minh
Đức, Minh chính là sự sáng tỏ của việc “minh Minh Đức”. Thành và
Minh hợp nhất chính là “minh Minh
Đức”. Đấy chính là đạo được
truyền bởi các vị Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn,
Vũ (vua Đại Vũ), Thang (vua Thành Thang), Văn (tức
Châu Văn Vương), Vũ (tức Châu Vũ
Vương), Châu Công, Khổng Tử.
Trong
sách Đại Học, Khổng Tử gọi thẳng là “minh Minh Đức”, c̣n trong
Trung Dung, Tử Tư gọi là “thành
minh”. Sách Châu Dịch chính là sách thánh nhân xem xét h́nh tượng
để sánh ví đạo nhằm dạy người, nên
bảo “nhất Âm nhất
Dương là Đạo”. Đời sau trí thức nông
cạn, hèn kém, hiểu chết cứng chữ “Âm
Dương”, rốt cuộc hiểu thành nam nữ, rồi
tà nhân dùng đó làm chứng cứ để gạt gẫm
người vô tri làm chuyện tà bậy. Cái tội vu báng,
miệt thị Khổng Tử, phá hoại Dịch lư, gây
nghi ngờ lầm lạc cho hậu thế há cùng cực
được ư? Tôi nói như vậy, sợ ông không
tin. Hăy xem phần Tượng Truyện nói về những
con rồng trong sáu hào[34] của
quẻ Thuần Càn ắt tự biết rơ, cũng chẳng
cần phải nghiên cứu toàn bộ sáu mươi bốn
quẻ. Kẻ kia cho Âm Dương hợp nhau là Đạo,
trong núi sâu há lẽ chẳng có khí Âm Dương, cần chi
cứ phải dùng đến khí Âm Dương của con
người? Khí Âm Dương của con người là cái
gốc để sanh con cái, nào phải là cái gốc của
thiên, địa, nhật, nguyệt, tinh tú? Loại tà kiến
này xú uế đến cùng cực, chẳng đáng nhắc
đến. Kẻ ấy vẫn cho đó là đạo,
đúng là “dùng phân người
để làm chiên-đàn[35]”, chính là hạng
người chẳng biết thơm - thối! Buồn
thay!
3)
Do tham Thiền điều thần dưỡng khí nên tin là
có ích, c̣n niệm Phật nói nhiều tổn khí, há cũng
có ích chăng? Vả nữa, nếu có kẻ nào đó suốt
ngày ở bên cạnh ông, réo tên ông không ngừng, ông chẳng
chán ghét hay sao?
Đáp:
Nói “Thiền là tịnh tọa, dưỡng khí, điều
thần” th́ cũng là lời lẽ của kẻ chẳng
biết Thiền, chỉ thấy được da lông của
Thiền, chẳng biết nguồn cội Thiền. Thiền
giả tuy ngồi nhưng tham cứu bản lai diện mục,
chứ không phải nhằm dưỡng khí điều thần.
Niệm Phật cũng là pháp dưỡng khí điều thần,
mà cũng là pháp tham cứu bản lai diện mục! V́ sao
nói thế? Cái tâm của chúng ta thường luôn rối loạn,
nếu chí thành niệm Phật th́ sẽ thấy hết thảy
tạp niệm vọng tưởng dần dần tiêu diệt.
Hễ vọng tưởng tiêu diệt th́ tâm quy về một
mối, quy về một mối th́ thần khí tự nhiên
sung măn, thông suốt.
Ông
không biết niệm Phật là dứt vọng. Cứ thử
niệm đi sẽ nhận thấy đủ mọi vọng
niệm trong tâm đều hiện. Nếu niệm lâu ngày sẽ
tự chẳng c̣n những vọng niệm ấy. Thoạt
đầu biết có vọng niệm, do niệm Phật
nên mới hiển lộ được những vọng
niệm trong tâm, không niệm th́ chẳng hiển. Ví như
trong nhà thanh tịnh không bụi, nhưng một tia nắng
lọt qua khe cửa sổ sẽ thấy không biết bao
nhiêu là bụi! Bụi trong nhà do ánh nắng thấy rơ, vọng
trong tâm cũng do niệm Phật mà hiện rơ. Nếu
thường niệm Phật, tự tâm thanh tịnh. Khổng
Tử hâm mộ đạo của Nghiêu, Thuấn, Châu Công
niệm niệm chẳng quên, nên thấy vua Nghiêu trong canh,
thấy vua Thuấn nơi tường, thấy Châu Công
trong mộng! Đấy là do thường luôn nghĩ nhớ,
có khác ǵ niệm Phật!
Do
tâm miệng của chúng sanh bị phiền năo, Hoặc nghiệp
nhiễm ô nên Phật dạy dùng tâm miệng xưng niệm
hồng danh thánh hiệu “nam-mô
A Di Đà Phật”. Như người nhiễm
hương, thân có mùi thơm. Niệm lâu ngày, nghiệp tiêu
trí rạng, chướng tận, phước cao, Phật
tánh sẵn có nơi tự tâm sẽ tự hiển hiện.
Sao lại lấy chuyện người thế gian réo tên
để so sánh vậy? Nếu như vậy th́ Khổng Tử
thường niệm Nghiêu, Thuấn, Châu Công cũng là chẳng
đúng. Nếu cho niệm niệm nghĩ đến,
ngưỡng mộ là đúng, th́ sao lại coi mỗi tiếng
luôn niệm Phật là sai? Huống chi niệm Phật chính
là diệu pháp để chuyển phàm thành thánh, pháp thế
gian há thể sánh bằng được ư?
4) Bệnh
của con người là do trong thân thể có nhiều trùng,
dùng thuốc để trị th́ là giết trùng. C̣n bỏ
thuốc th́ là ngồi nh́n người khác chết. Hai đằng
phải làm sao đây?
Đáp:
Bệnh th́ có bệnh trị được, có bệnh
không trị được! Bệnh trị được
là bệnh ngoại cảm nội thương, c̣n nếu
là bệnh do oán nghiệp th́ thần tiên cũng chẳng thể
trị được! Niệm Phật bèn có thể khiến
cho oán gia đời trước cậy vào Phật từ lực
siêu sanh thiện đạo. V́ vậy, khi mối oán thù
được cởi bỏ, bệnh liền lành mạnh.
Ngoại cảm nội thương niệm Phật
cũng rất hữu ích, không phải chỉ có bệnh do
oán nghiệp mới có ích. Ông Giang Dịch Viên làm hiệu
trưởng, do tận lực dạy dỗ học tṛ, dụng
tâm quá độ nên mắc bệnh trầm trọng (khi
đó, ông ta ở Thượng Hải), thuốc Tây, thuốc Tàu đều vô hiệu. Ông ta
vốn không biết Phật pháp, ông Giang Vị Nông[36]
đến thăm, nói: “Thuốc
đă không công hiệu th́ không cần dùng đến thuốc
nữa, hăy nên chí tâm niệm Phật liền có thể khỏi
bệnh”. Dịch Viên tin theo, bệnh liền khỏi. Do
vậy, ông ta cực lực khuyên người khác niệm
Phật. Sau ông về nhà, có một người thân thích tuổi
gần bảy mươi, hai mắt ḷa cả, Dịch Viên
khuyên cụ nên niệm Phật, chưa đầy một năm,
mắt bèn sáng lại. Mùa Hạ năm nay, vùng eo sông Vụ
Nguyên hạn hán, Dịch Viên khuyên mọi người niệm
Phật cầu mưa, chưa đầy bảy ngày liền
mưa to; dân một vùng mừng rỡ, hớn hở!
Dịch
Viên liền lập Phật Quang Xă, dạy hết thảy
nam nữ, già trẻ đều niệm Phật, cũng lôi
kéo Quang làm hội trưởng. Đủ thấy một
pháp Niệm Phật với bất cứ chuyện ǵ
cũng đều có thể thành tựu, nhưng chẳng
thể dùng Niệm Phật để thành tựu việc
ác. Nếu muốn làm việc ác, niệm Phật cầu
thành tựu sẽ bị sét đánh, sợ kẻ ngu không biết
nên phải nêu rơ! Lợi ích của việc niệm Phật
xưa nay không biết là bao nhiêu, nay chỉ đem chuyện
thấy được, có thể hỏi được ra
nói để không c̣n nghi ngờ ǵ nữa! Người ta
nói “bỏ thuốc niệm Phật, ngồi nh́n người
khác chết” ư? Thử hỏi: Dịch Viên dùng thuốc
sao không lành, niệm Phật lại lành bệnh? Đấy
chỉ là lợi ích nhỏ, c̣n lợi ích lớn là văng sanh
Tây Phương, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập
thánh, thậm chí thành Phật. Kẻ ếch ngồi đáy
giếng kia làm sao biết được nổi sự rộng
sâu của biển cả Phật pháp, nên mới nói những
lời nhảm nhí, hồ đồ như thế, càng lộ
rơ sự thiếu hiểu biết của chính ḿnh!
5)
Như gà ăn trùng, nuôi gà chính là giết trùng. Bảo vệ
trùng ắt phải giết gà. Vậy phải làm sao?
Đáp:
Phật đại từ bi khiến cho hết thảy mọi
loài được sống. Gà cũng do con người nuôi,
nếu chẳng lập cách cho nó sống th́ chúng sẽ chết
mất, chúng không được như loài tự nuôi sống.
Gà ăn trùng là v́ nó đói. Nếu không đói sẽ chẳng
ăn, không nhất định cứ phải ăn trùng! Nếu
như ông nói “giết gà chính là cứu trùng” th́ do con người
ăn hết thảy mạng loài vật, cũng nên giết
đi để cứu hết thảy tánh mạng loài vật,
có nên hay không? Trí nhỏ chẳng biết lư lớn, lầm
lạc đem ư kiến ngu muội của chính ḿnh để
ngăn trở thiện sự kiêng giết, phóng sanh của
người khác. Về sau, làm thân con vật, quyết định
chẳng gặp được người phóng sanh cứu
mạng. Cái khổ khi ấy chính là do tà trí ngày nay vun bồi
thành.
6)
Phật cho vạn pháp đều là không, sao lại có Tây
Phương Cực Lạc thế giới?
Đáp:
Vạn pháp đều không chính là những cảnh do Hoặc
nghiệp của phàm phu cảm thành, sao lại đem sánh với
thế giới Cực Lạc là cảnh do phước huệ
của đức Như Lai cảm thành. Kẻ kia cho Tây
Phương cũng giống hệt như thế giới
này chẳng khác ǵ ư? Dùng phàm t́nh suy lường thánh cảnh,
khác nào kẻ thọt nghi “bậc thánh nhân Lục Thông trong một
niệm có thể đến khắp hết thảy thế
giới, ắt sẽ mệt đến chết!” Lại
khác ǵ kẻ ngu cho một vầng trăng in bóng khắp
ngàn ḍng sông sẽ nhọc nhằn khôn xiết! Phật gọi
đó là Thế Trí Biện Thông, không thể nhập đạo.
Những kẻ nói như vậy, chính là người bị
Phật quở là ngu si mà vẫn nhơn nhơn tự
xưng là trí, há chẳng đáng đau buồn quá đỗi
ư? Muốn nói cặn kẽ chuyện này, rất tốn
bút mực. Đọc kỹ bộ Văn Sao th́ không mối
nghi nào chẳng được cởi gỡ!
170. Thư trả lời cư sĩ Mă
Thuấn Khanh
Nhận được thư biết tâm cư
sĩ vui đạo hết sức chân thành, tha thiết. C̣n
những lời khen ngợi Bất Huệ chưa thoát khỏi
thói quen thế tục. Quang là một ông Tăng tầm
thường, chỉ biết học theo ngu phu ngu phụ
chuyên niệm danh hiệu Phật, sao lại khen ngợi quá
mức như thế? Như ông quyên góp in bộ An Sĩ
Toàn Thư, thật đúng là pháp chí thành tu [thân] tề [gia]
trị [quốc] b́nh [thiên hạ] và đoạn Hoặc chứng
chân liễu sanh thoát tử, mỗi mỗi đều đầy
đủ. Tùy mỗi người thấy biết nông - sâu
mà ai nấy đều được lợi ích. Những
bộ Quang chịu trách nhiệm đă gởi đi xong hết
cả rồi, nay đem một bộ do bạn bè kết
duyên ấn tống c̣n sót lại đem gởi đi, xin hăy
đọc kỹ, ắt sẽ có niềm vui tay vỗ chân
giậm vậy.
Thêm nữa, Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao do Từ
Úy Như ba bốn lượt in ra, đă gởi đi hết.
Nếu tháng Chín đến Thượng Hải sẽ thỉnh
một bộ từ Thương Vụ Ấn Thư Quán gởi
cho ông. Nếu ông xem kỹ th́ nguyên do cũng như giới
hạn giữa Thiền và Tịnh, Phật lực, tự
lực, lớn - nhỏ, khó - dễ, lợi - hại,
được - mất sẽ rơ ràng như nh́n vào ngọn
lửa, sẽ vĩnh viễn không c̣n lo ngờ nữa! Nhưng
văn chương chẳng đáng coi, chỉ thích hợp
cho người sơ cơ nhập đạo mà thôi! Nếu
dùng khuôn mẫu trước tác của cổ nhân để
giám định th́ vứt đi c̣n chẳng kịp, nào
đáng để nghiên cứu! Thoạt tiên dùng bộ sách
này để nhập đạo th́ sẽ biết
được đường lối, rồi lại xem
những trước tác của cổ nhân sẽ dễ dàng
hiểu rơ. Đá nơi núi khác có thể coi là ngọc [cho
chính ḿnh]. Người tàn phế không chân ở giữa
đường chỉ lối, trao ngọc cho hành nhân, chớ
nên v́ [kẻ ấy] thô tệ, tàn phế mà vứt bỏ vậy!
Ngày
13 nhận được thư và hai bộ sách ghi chép lời
giáng cơ liền đưa cho người ngoài đời.
Tôi vốn muốn trả lời thư ngay, nhưng công việc
đa đoan, chẳng rảnh rỗi. Đến ngày 21 lại
nhận được thư và những lời lẽ có
được do cầu cơ v.v… Về ư tứ, cố
nhiên cũng muốn cho con người cải ác tùng thiện.
Chịu cải ác tùng thiện th́ lợi ích c̣n ǵ lớn
hơn! Nếu bảo đó là do thầy Minh Ấn đến
núi Phổ Đà được Đại Sĩ giáng cơ
chỉ dạy th́ chính là vu báng, miệt thị Phổ
Đà và Đại Sĩ. Quang ở Phổ Đà đă tṛn
ba mươi năm, chưa từng thấy nghe có chuyện
phù cơ[37]. Minh Ấn đă là
bậc cao tăng, nên đem những sự lư nhân quả
báo ứng trong Phật giáo và pháp tắc tu tŕ Tịnh Độ
để phát huy chỉ dạy người, sao lại mạo
danh Đại Sĩ để tạo lời bịa đặt,
tuy cũng có cái lợi là khuyên người, nhưng chính
ḿnh trước hết đă hăm trong cái tội cuồng vọng!
C̣n
như Cứu Kiếp Tiên Phương lại càng thô tệ
chẳng kham nổi, đấy chính là do kẻ thiêu đốt
lưu ly đặt ra, trọn chẳng hề biết Quán
Âm là người như thế nào, Ngọc Đế là
người như thế nào. Cư sĩ xem kỹ cuốn
đầu bộ An Sĩ Toàn Thư, ắt trời sẽ
ban tưới phước cho cư sĩ; cũng như
xem bài văn luận về trời, Phật, Bồ Tát trong
cuốn ba sách Dục Hải Hồi Cuồng sẽ chẳng
bị những lời lẽ tào lao, hồ đồ này mê
hoặc! Tuy cư sĩ tín tâm thiết tha, hiềm rằng
chưa từng được Phật pháp thấm đẫm,
nên một bề tôn trọng những lời giáng cơ mạo
danh tiên Phật của các linh quỷ!
Hai
bộ sách nói trên (tức hai bộ sách giáng cơ, mà Cứu
Kiếp Tiên Phương là một cuốn) là văn khuyên
đời, hơi có lợi ích thiết thực cho thế
đạo nhân tâm, nhưng tạp nhạp, lộn xộn
chẳng thành chương đoạn. Huống chi Phật
pháp được nói trong ấy đa phần không đúng
pháp. Thiện nhân tại gia nên nhận lấy những lời
khuyên răn trong ấy, nhưng không cần phải học
theo những lời dạy về tu hành trong đó, ắt sẽ
có lợi ích lớn, không tệ hại ǵ! C̣n như Cảm
Ứng Thiên, Âm Chất Văn, Giác Thế Kinh[38]
đều là những bộ bảo giám dạy người
khắc kỷ, giữ lễ, cố nhiên chẳng nên
đem so với những lời cơ bút vớ vẩn, phù
phiếm, coi cùng một giuộc như nhau! Đạo cầu
cơ quả thật có thần tiên giáng lâm, nhưng trong
trăm lần, không có đến hai ba lần [thần tiên
thật sự giáng]. Nếu cứ nhất loạt cho là
chân tiên th́ chính là dân thường xưng bừa là đế
vương. Những kẻ giáng đàn đa phần là linh
quỷ. Nếu là linh quỷ có học thức th́ lời lẽ
c̣n hơi khả quan, nhưng bàn đến Phật pháp là
điều họ chẳng biết nên đa số thường
nói sai bét, bậy bạ! Những kẻ vô tri vô thức bèn
tưởng là chân Phật, chân Bồ Tát, những chỗ
sai lạc trong lời lẽ của bọn họ hại
người thật sâu. Cư sĩ hăy nên lắng ḷng đọc
An Sĩ Toàn Thư và Ấn Quang Văn Sao. Nếu thâm nhập
được, hăy nghiên cứu thêm các kinh Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm, sẽ biết rơ như xem ngọn lửa vậy.
Nhận
được thư khôn ngăn cảm thương cho
đời, hơn mười năm nay, thiên tai nhân họa
liên tiếp giáng xuống, toàn là do không biết nhân quả
ba đời, chỉ mong tự lợi, chẳng hề
đoái hoài chuyện sát sanh hại mạng cũng như hại
người mà nên nỗi! Muốn văn hồi kiếp vận,
nếu không đề xướng nhân quả ba đời,
sanh tử, luân hồi, cùng kiêng giết, cứu vật,
ăn chay, niệm Phật sẽ không thể được!
Cơi đời hiện tại thường trong hoạn nạn,
chỉ có A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát là
nương cậy được, hăy nên thường tŕ
thánh hiệu, trong âm thầm sẽ tự có sự chuyển
dời chẳng thể nghĩ bàn. Lại mong ông đối
với quyến thuộc, thân hữu, làng xóm đều
đề xướng, chỉ dạy điều này th́ có
lợi lớn lắm! Cách đề xướng chỉ dạy
th́ nên lấy An Sĩ Toàn Thư và Ấn Quang Văn Sao làm gốc,
ngơ hầu chẳng đến nỗi họ đi vào pháp tà
kiến của ngoại đạo.
Tháp
Lôi Phong[39] bị đổ,
kinh trong ấy bị phá hoại khôn xiết, kẻ hiếu
sự ra giá cao t́m mua, ư họ thật ra chẳng phải là
trọng kinh mà là chuộng đồ cổ. Nếu như họ
quư trọng những bản kinh hoàn chỉnh hiện thời
như những kinh [cổ bị hư nát ấy] th́ công
đức lợi ích chỉ có Phật mới có thể biết
được! Bọn họ cho đó là thứ do cổ
nhân cất giữ, chẳng nghĩ rằng những bản
kinh hoàn bị [hiện thời] há chẳng phải do cổ
nhân truyền lại hay sao? Quư trọng những kinh ấy cố
nhiên có công đức, nhưng chỉ cho đồ cổ
là quư, chẳng coi kinh là quư, nên thành ra vứt gốc theo ngọn
vậy!
Kinh
Kim Cang chú giải rất nhiều. Người tại gia nếu
chưa nghiên cứu cùng tận giáo lư quả thật sẽ
chẳng dễ ǵ lănh hội được! Chỉ có bản
chú giải kinh Kim Cang của Lă Tổ, trước hết
chú thích ư nghĩa, rồi dùng lời lẽ để giải
thích kinh văn là dễ hiểu rơ. Các hạ có tâm cứu
văn kiếp vận th́ hăy nên cực lực đề xướng
nhân quả báo ứng, cùng kiêng giết, cứu vật, ăn
chay, niệm Phật, đừng làm các điều ác, vâng
làm các điều thiện, tận lực giữ vẹn
luân thường, ai nấy trọn hết bổn phận
th́ sẽ có lợi ích thật sự. Nếu không, chỉ
là nói xuông, quyết chẳng có hiệu quả thật sự
ǵ!
Nhận
được thư khôn ngăn cảm khái, thẹn thùng.
Quang là hạng người ǵ mà dám nhận lời khen ngợi
ấy. Thuyết pháp trong các nhà tù là do các cư sĩ ở
Thượng Hải đề xướng, nhưng những
người thường đi đến các huyện thuyết
pháp đều là đệ tử quy y của Quang, do vậy
họ để tên Quang làm hội trưởng danh dự;
chỉ v́ họ thỉnh cầu nên gần đây mới
đến nhà tù số hai để chỉ dạy. Quán Âm
Đại Sĩ Tụng là cuốn sách do Quang thỉnh một
vị cư sĩ đại văn học ở Giang Tây soạn
ra, năm ngoái mới hoàn tất bản thảo. Do chiến
tranh nổ ra, chưa thể khắc in được, mùa
Thu năm nay đến Thượng Hải ấn loát, sang
năm sẽ ra sách. Cuốn sách này có quan hệ lớn lao
đối với thế đạo nhân tâm, Quang muốn in
đến hơn mấy chục vạn cuốn để
truyền bá rộng khắp trong ngoài nước, chỉ sợ
rằng con người đức mỏng, không cách nào cảm
hóa được. [In] hơn mười vạn bộ là
chuyện có thể thực hiện được, nay đă
in xong hơn năm vạn cuốn. Quyển sách này chính là
quyển đầu của bộ Phổ Đà Sơn Chí,
do [Sơn Chí] số quyển quá nhiều nên in riêng cuốn
này.
Sơn
Chí bản mới soạn đă hoàn tất bản thảo,
nhưng c̣n đợi Quang giảo chánh rồi mới ấn
hành. Quang do bận rộn công việc, sợ rằng
năm sau mới giao cho thợ in được! Sách in ra sẽ
gởi tặng ông một hai bộ. C̣n nói về những
chỗ dị - đồng giữa các giáo th́ con người
thường hay thiên chấp. Nếu ai chấp là khác th́
người ấy không thấy biết được cái
gốc của đạo; nếu chấp là đồng th́
chẳng biết tướng trạng phát huy, tu chứng
sâu - cạn giữa các giáo khác biệt nhau rất lớn.
Các hạ đừng bàn đến chuyện đồng - dị
nữa. Nếu chẳng cho Phật pháp là sai th́ hăy lắng
ḷng nghiên cứu tu tŕ, lâu ngày sẽ tự biết nguyên do
đạo thể, đạo dụng tuy đồng
nhưng chẳng giống hệt nhau, tuy dị (khác)
nhưng chẳng thể tách rời nhau được. Phật
pháp uyên áo, sâu xa, người đại thông minh tận hết
tâm lực cả một đời c̣n chẳng thể
nghiên cứu tường tận được! Nhưng Phật
pháp tùy cơ ban giáo, nếu muốn được lợi
ích thật sự, hăy nên nghiên cứu, tu tŕ từ nơi
pháp môn đặc biệt siêu việt, lạ lùng là pháp Tịnh
Độ th́ sẽ bớt nhọc nhằn tâm lực, quả
thật là đạo tối trọng yếu.
Các
hạ sống trong lưới đời, lại khổ
v́ không có tri thức để thỉnh giáo. Nếu chẳng
v́ văn tự của Quang chất phác, vụng về mà vứt
bỏ th́ xin hăy đọc kỹ bộ Văn Sao, tu tŕ theo
những điều nói trong đó sẽ được lợi
ích chẳng thể nghĩ bàn. Tuy văn chương của
Quang khá gai mắt, nhưng dẫn nhiều kinh luận
để viết thành, hoặc nêu bật ư nghĩa kinh luận,
cho nên phải tận ḷng thành, cạn ḷng kính mà đọc
th́ mới ḥng đạt được lợi ích. Sách Luận
Ngữ nói: “Chẳng hạ ḿnh
trước người thật sâu sẽ chẳng thể
đạt được sự thật”. Cung kính tượng
Phật bằng đất nặn, gỗ khắc như
đức Phật thật th́ lợi nhỏ là sẽ tiêu
tai tăng phước, c̣n lợi lớn là siêu phàm nhập
thánh, những lợi ích ấy là do chính ḿnh có thành kính hay
không, chứ chẳng phải v́ tượng Phật là thật
hay giả! Nếu các hạ quả thật có thể thuận
theo ư này, ư lặng, tâm tịnh, đọc rồi tận lực
thực hành th́ sẽ là bạn bè tốt lành trong pháp môn [Niệm
Phật cầu sanh] Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Xin hăy gắng lên, chớ phụ ḷng mong mỏi này th́ may mắn
thay!
171. Thư trả lời cư sĩ Cừu
Bội Khanh (thư thứ nhất)
Nói đến sân tâm th́ nó chính là tập tánh từ
túc nghiệp. Nay đă biết sân là tổn hại vô ích th́
đối với mọi chuyện trước mắt, hăy
nên dùng tâm lượng biển rộng trời cao để
dung nạp, tập tánh rộng răi sẽ chuyển biến
được tập tánh hẹp ḥi trong đời trước.
Nếu chẳng ra sức đối trị th́ thói sân càng
tăng, cái hại chẳng cạn. Đối với việc
niệm Phật, phải án theo tinh thần, khí lực của
chính ḿnh để chọn lựa niệm lớn tiếng,
nhỏ tiếng, hay niệm thầm, hoặc kim cang niệm
(tức là niệm có tiếng, nhưng người
khác không nghe thấy được. Những người
tŕ chú gọi đó là kim cang niệm),
sao lại niệm quá mạnh mẽ đến nỗi thành
bệnh? Cái tâm quá mạnh mẽ ấy cũng là v́ cái bệnh
muốn cho lẹ. Nay đă chẳng thể niệm ra tiếng,
nhưng chẳng lẽ trong tâm cũng không niệm thầm
được hay sao, cớ ǵ chỉ hạn định
trong Thập Niệm?
Huống
chi người bệnh nằm trên giường, trong tâm trống
rỗng như bị rửa sạch, trọn chẳng có niệm
ǵ. Nếu nghĩ đến chuyện khác sao bằng niệm
danh hiệu Phật chẳng tốt hơn ư? Nên đem
những sự vụ quan trọng, cần gấp giao cho
người nhà, luôn nghĩ ḿnh sắp chết, nghĩ sắp
đọa địa ngục, trong tâm chẳng để ư
đến chuyện ǵ. Dùng cái tâm thanh tịnh ấy
nghĩ tưởng h́nh tượng Phật, và thầm niệm
danh hiệu Phật, cũng như h́nh tượng và danh hiệu
Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu làm được như vậy,
chắc chắn nghiệp chướng tiêu trừ, thiện
căn tăng trưởng, tật bệnh khỏi hẳn,
thân tâm khỏe mạnh. Bệnh của các hạ vốn do
túc nghiệp, do niệm Phật quá mạnh mẽ làm duyên
nên bệnh mới phát hiện, chứ không phải chỉ
hoàn toàn do v́ niệm Phật quá mạnh mẽ mà có. Nếu
không niệm Phật, cũng sẽ do nhân duyên khác mà bị
bệnh. Trong đời, người không niệm Phật
rất nhiều, nhưng nào có ai không bị bệnh, sống
lâu, khỏe mạnh măi măi ư? Hiểu rơ điều này
th́ chính ḿnh không lầm lạc, cho là “niệm Phật sanh bệnh,
chỉ tổn hại, vô ích!” Quang và các hạ chưa từng
gặp mặt, nhưng v́ các hạ tính kế, thật chẳng
khác nào cha mẹ, anh em của chính ḿnh vậy! Do v́ đức
Phật vốn từ bi, muốn cho hết thảy những
ai hữu duyên đều cùng được văng sanh ngay
trong đời này. Nếu chưa hiểu rành pháp môn Niệm
Phật th́ mỗi ngày hăy xem qua vài thiên Văn Sao để
t́m sự hướng dẫn cho bước tiền đồ,
mới khỏi phí một phen qua lại, bàn bạc, giăi bày
vậy!
172. Thư trả lời cư sĩ Cừu
Bội Khanh (thư thứ hai)
Các hạ đă tin tưởng Quang th́ hăy nên làm
theo lời Quang mới ḥng được lợi ích thật
sự. Nếu không, dẫu có tín tâm nhưng cũng chỉ
là gieo thiện căn trong đời tương lai mà thôi.
Chúng ta đă ở bao kiếp dài lâu trong sanh tử luân hồi,
đă tạo ác nghiệp vô lượng vô biên. Nếu cậy
vào tự lực để tu tŕ ḥng diệt sạch Hoặc
nghiệp phiền năo để liễu sanh thoát tử th́
c̣n khó hơn lên trời! Nếu có thể tin vào pháp môn Tịnh
Độ do đức Phật đă nói, dùng ḷng tin chân
thành, nguyện thiết tha, niệm danh hiệu Phật A Di
Đà, cầu sanh Tây Phương th́ bất luận nghiệp
lực lớn hay nhỏ đều có thể cậy vào Phật
từ lực, văng sanh Tây Phương. Ví như một hạt
cát bỏ vào nước liền ch́m; nhưng khối đá
mấy ngàn, mấy vạn cân đặt trên một chiếc
đại hỏa luân thuyền[40]
chẳng những không ch́m, c̣n chuyển sang được
nơi khác để tùy ư sử dụng. Đá ví như nghiệp
lực sâu nặng của chúng sanh, đại hỏa luân
thuyền ví như Di Đà nguyện lực rộng lớn.
Nếu
không niệm Phật, cậy vào sức tu tŕ của chính
ḿnh để mong liễu sanh tử th́ phải đạt
đến địa vị nghiệp tận t́nh không mới
được. Nếu không, dù cho đoạn được
phiền năo Hoặc nghiệp chỉ c̣n sót lại một
tí xíu th́ cũng chẳng thể liễu được. Ví
như một hạt cát cực bé cũng phải ch́m trong
nước, quyết chẳng thể tự ḿnh vượt
ra ngoài nước được! Các hạ chỉ nên sanh
ḷng tin, niệm Phật cầu sanh Tây Phương, đừng
nghĩ ǵ khác nữa. Nếu làm được như thế
th́ tuổi thọ chưa tận sẽ liền mau
được lành bệnh; v́ công đức chuyên nhất,
chí thành niệm Phật có thể diệt trừ được
ác nghiệp đời trước. Ví như mặt trời
đă mọc lên, tuyết sương bèn tan mất. Tuổi
thọ đă tận th́ liền văng sanh. Do tâm không có ư niệm
khác nên bèn được cảm ứng đạo giao cùng
Phật; v́ thế, được Phật từ tiếp dẫn
văng sanh. Nếu các hạ tin được lời này th́ sống
cũng được đại lợi ích mà thác cũng
được đại lợi ích.
Sân
tâm chính là tập tánh từ đời trước, nay
nghĩ ḿnh đă chết, mặc kệ người ta dao cắt
hay hương bôi, chẳng ăn nhập ǵ đến ḿnh.
Đối với tất cả những cảnh trái ư, cứ
nghĩ như ḿnh đă chết, ắt sẽ chẳng khởi
tâm sân được nữa! Đấy chính là tam-muội
pháp thủy do đức Như Lai đă truyền để
rửa sạch khắp các kết nghiệp của hết
thảy chúng sanh, Quang riêng v́ các hạ tŕnh bày, chứ không
phải là Quang tự ư bịa ra đâu nhé! Nếu không niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, dù có sanh vào chỗ cực
tôn quư là Phi Phi Tưởng Thiên, khi phước trời hết
sẽ lại luân hồi lục đạo. Nếu có đủ
ḷng chí thành khẩn thiết niệm Phật, dù có đọa
vào A Tỳ địa ngục cũng được Phật
tiếp dẫn, văng sanh Tây Phương.
Vàn
muôn chớ đặt ḿnh vào chỗ hèn kém, cho là ḿnh nghiệp
nặng, sợ rằng không thể văng sanh. Nếu suy
nghĩ như thế, chắc chắn sẽ không thể
văng sanh. V́ sao? Do tâm không có ḷng tin chân thật, không nguyện
thiết tha, không cách ǵ cảm Phật được! Quán
Âm Bồ Tát thành Phật đă lâu, do tâm từ bi thiết
tha bèn hiện thân trong chín pháp giới, dùng đủ mọi
phương tiện độ thoát chúng sanh (chín pháp giới
chính là Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người,
A Tu La, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ). Trong pháp giới con người, Ngài lại
hiện đủ mọi thân, hoặc hiện làm thân đế
vương, tể quan, hoặc làm thứ dân ẩn dật,
hoặc làm phụ nữ, hoặc làm ăn mày, trọn không
nhất định. Nhưng v́ h́nh tượng Bồ Tát vi
diệu trang nghiêm người đời chẳng thể
h́nh dung được, cho nên đa phần tạc tượng
Ngài là nữ nhân, chứ không phải Bồ Tát thật sự
mang thân nữ.
Muốn
cúng dường Ngài hăy nên thỉnh h́nh Tây Phương Tam
Thánh in theo lối thạch ấn (lithography) của Phật
Kinh Lưu Thông Xứ ở ngơ Trường Khang, đường
Bắc Kinh. Loại h́nh lồng gương đẹp
đẽ nơi đó cũng có. Như vậy là Di Đà,
Quán Âm, Thế Chí đều đầy đủ. Nếu
pḥng ngủ không thanh khiết, hăy nên thờ tượng Phật
nơi tịnh thất, mỗi ngày đến nh́n kỹ một
hai lần th́ trong tâm sẽ có thể ức niệm
được. Niệm Phật tuy quư tại chí thành thanh
khiết, nhưng người bệnh không thể làm
được th́ chỉ cốt sao giữ ḷng chí thành thầm
niệm, hoặc niệm ra tiếng, công đức vẫn
giống hệt nhau. Do Phật từ rộng lớn,
như con trong lúc bệnh khổ, cha mẹ chẳng tính theo
cách thức lúc b́nh thường để quở trách con, lại
c̣n vỗ về xoa nắn thân thể, tẩy rửa gột
trừ ô uế cho con. Nếu con cái đă lành bệnh, mà vẫn
đối xử với cha mẹ như lúc ḿnh c̣n đang
bệnh th́ sẽ bị sét đánh. Sao các hạ lại
nghĩ ḿnh đang nằm trên giường niệm thầm
là có tội vậy? Nếu người không có bệnh, lúc
ngủ c̣n nên thầm niệm, huống chi là bệnh nhân!
173. Thư gởi cư sĩ
Phương Thánh Dận
Nghe ông mắc bệnh, mong có ngày được
lành bệnh. Người chẳng hiểu lư trong thế
gian, mỗi khi mắc bệnh nếu không oán trời trách
người cũng bèn cầu thần vái quỷ, uổng
công tăng thêm nghiệp chướng, chỉ tổn hại
vô ích! Các hạ hoàn toàn tu Tịnh nghiệp, vợ ông lo
chăm sóc mọi chuyện trong nhà. Vợ hiền, con hiếu,
trong tâm trọn chẳng phải lo âu ǵ, hăy nên đem hết
thảy gia sự và sắc thân của chính ḿnh toàn thân buông
trọn xuống. Dùng cái tâm chẳng nhiễm mảy trần
để tŕ thánh hiệu vạn đức hồng danh,
coi ḿnh như đă chết, ngoại trừ niệm Phật
cầu tiếp dẫn ra, chẳng khởi một tạp
niệm nào. Làm được như thế th́ quyết
định văng sanh Tây Phương, siêu phàm nhập thánh. Tuổi
thọ chưa hết th́ quyết định nghiệp
tiêu, bệnh lành, huệ rạng, phước cao. Nếu
không thể niệm như thế, cứ si dại cầu
chóng được lành bệnh th́ chẳng những không thể
chóng lành, trái lại bệnh c̣n nặng thêm! Nếu mạng
đă hết, chắc chắn phải trôi nổi theo nghiệp,
vĩnh viễn không có lúc thoát khỏi cơi khổ Sa Bà này.
Mong hăy sáng suốt suy xét th́ may mắn lắm!
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Quyển thứ hai
(Phần 3 hết)
[1] Bạch Hào (ūrna laksana): C̣n gọi là
hào tướng, mi gian bạch hào tướng, bạch hào
trang nghiêm tướng, mi gian bạch hào nhuyễn bạch
đâu-la-miên tướng. Đây là một trong 32 tướng
hảo của đức Như Lai. Tức là khoảng giữa
hai mày Phật có một sợi lông mềm mại, trắng,
sạch, cuộn tṛn, kéo ra dài đến một Tầm (có
kinh nói lúc sơ sanh dài năm thước Tàu, lúc thành đạo
dài một trượng sáu), buông tay ra liền uyển chuyển
xoay về phía hữu, trông như một con ốc trắng,
bên trong rỗng, lóng lánh như ống lưu ly. Bạch Hào
trông xa như một viên minh châu giữa trán, tỏa quang
minh chói ngời, quang minh ấy gọi là “bạch hào quang”.
Chúng sanh được quang minh ấy chạm vào bèn tiêu trừ
túc nghiệp, thân tâm yên vui. Tướng này do trong lúc tu nhân,
Như Lai luôn tán dương tùy hỷ những người
tu tập Giới - Định - Huệ. Theo kinh Quán Phật
Tam Muội Hải, tướng Bạch Hào là tướng
thù thắng nhất trong vô lượng tướng của
Như Lai (theo kinh này, ba mươi hai tướng đại
nhân chỉ là ba mươi hai tướng tiêu biểu, dễ
thấy nhất trong vô lượng tướng của
Như Lai).
[2] Tứ Thiếp Sớ chính là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ của ngài Thiện Đạo trước tác. Do tác phẩm này được chia thành bốn quyển nên c̣n gọi là Tứ Thiếp Sớ.
[3] Theo Ma Ha Chỉ Quán, quyển 2, Tùy Tự
Ư tam-muội là một trong bốn loại tam-muội của
tông Thiên Thai, c̣n gọi là “phi
hành phi tọa tam-muội”. Gọi là Tùy Tự Ư với
ngụ ư: Hễ khởi ư liền tu tập Thiền Định,
chẳng hạn cuộc là đi, đứng, hay nằm, ngồi.
Kinh Đại Phẩm Bát Nhă gọi cách tu này là Giác Ư tam-muội,
ngài Nam Nhạc Huệ Tư gọi là Tùy Tự Ư tam-muội,
với thâm ư: Trong hết thảy thời, hết thảy sự,
tùy ư dụng quán, hễ niệm khởi bèn giác, hễ ư khởi
bèn tu tam-muội.
[4] Bế quan suốt đời không ra khỏi nơi ấy nữa th́ gọi là tử quan.
[5] Núi Thiên Mục ở huyện Lâm An, tỉnh
Chiết Giang, tiếp giáp ranh giới tỉnh An Huy. Tên cổ
là núi Phù Ngọc. Chia làm hai ngọn: Đông Thiên Mục dài
đến 290 km, cao 1.520 m, gồm các ngọn Đại
Sơn, Tướng Quân, Bảo Châu v.v... Tây Thiên Mục lấn
sang địa phận huyện Tiềm dài 216 km, cao 1.547 m.
Ngọn núi này từ cổ đă nổi tiếng v́ các
đạo tràng đạo Phật, đạo Lăo. Ngài Trung
Phong Minh Bổn cũng từng tu ở núi này.
[6] Nho giáo có câu: “Phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, oai vũ bất năng khuất” (Phú quư chẳng phóng đăng, nghèo khó chẳng đổi dời, oai vũ chẳng khuất phục)
[7] Bổn Giác là giác tánh sẵn có. Theo giáo nghĩa Thiên Thai, thông qua tu tập, từ từ nhận biết, khơi mở được tâm nguyên sẵn có, đó gọi là Thỉ Giác. C̣n bản tánh sẵn có thường hằng không hề bị nhiễm ô bởi phiền năo, trần cảnh, th́ gọi là Bổn Giác. Thành Phật Đạo chính là từ Thỉ Giác ngộ được Bổn Giác, Bổn Giác và Thỉ Giác hợp nhất.
[8] Tử Bách đại sư (1543-1603): Húy
là Chân Khả, pháp tự Đạt Quan, hiệu là Tử
Bách Lăo Nhân, là người ở Ngô Giang, sống vào thời
Minh. Sư tánh t́nh mạnh mẽ, quyết đoán, thân thể
khôi vĩ, thuở nhỏ thích đi đó đây làm việc
nghĩa hiệp. Năm mười bảy tuổi, xin xuống
tóc với ngài Minh Giác ở núi Hổ Khâu, thường
đóng cửa đọc sách, trọn chẳng ra ngoài phạm
vi nơi ấy suốt cả nửa năm. Hễ thấy
người xuất gia uống rượu, ăn mặn,
Sư quở: “Người xuất gia như vậy
đáng giết đi!” Sau khi thọ Cụ Túc Giới,
Sư bế quan suốt ba năm tại chùa Cảnh Đức
ở Vũ Đường. Hạn kỳ măn, bèn tham học
các nơi. Nghe tụng bài kệ của Trương Chuyết:
“Đoạn trừ vọng
tưởng càng thêm bệnh, hướng đến Chân
Như cũng chỉ tà” càng ôm mối nghi t́nh lớn. Một
ngày nọ thọ trai xong, đang uống nước bỗng
đại ngộ, nói: “Nếu
ta thuộc tông Lâm Tế, ở dưới ṭa ngài Đức
Sơn, vỗ một cái liền tỉnh”. Ngài lên kinh
đô, y chỉ với Biến Dung đại lăo suốt
chín năm. Cùng với Hám Sơn Đại Sư, ngài Tử
Bách san nhuận tu bổ bộ Đại Minh Truyền
Đăng Lục. Năm Vạn Lịch 28 (1600), triều
đ́nh đặt ra thuế má nặng nề, quan lại
thừa cơ ḅn rút dân chúng tàn tệ, Sư phẫn nộ,
lên kinh đô kháng nghị. Sẵn có vụ án yêu thư yêu
ngôn phát sinh, bọn tham quan vu cáo Sư chủ xướng
nên Sư bị hạ ngục. Đến năm 1603, dẫu
không bằng chứng, Sư vẫn bị kết tội tử
h́nh. Nghe kết án, Sư thản nhiên nói: “Đời đă
đến thế, ở lâu nơi đời làm ǵ?” Sư
tắm gội, đọc kệ, dặn ḍ thị giả
rồi ngồi ngay ngắn qua đời, thọ sáu
mươi mốt tuổi. Sư để lại các tác phẩm:
Bát Nhă Tâm Kinh Thuyết, Bát Nhă Tâm Kinh Yếu Luận, Bát Nhă
Tâm Kinh Lược Đàm, Tử Bách Lăo Nhân Tập (15 quyển),
Tử Bách Lăo Nhân Biệt Tập (4 quyển).
[9] Nguyên văn: “Phú phẫu đại tân”
(bịt ṿ, thay củi). Lấy tích từ chuyện
Dương Hùng đời Hán soạn sách Thái Huyền chú giải
kinh Dịch muốn lưu danh hậu thế. Lưu Hâm
đọc xong quở: “Học
giả trong thiên hạ c̣n không hiểu kinh Dịch, sao ông
dám diễn giải Thái Huyền? Chỉ sợ người
đời sau đem sách này để bịt ṿ tương
mà thôi”. Do đó, có thành ngữ “phú phẫu đại
tân” (bịt ṿ thay củi) với ngụ ư văn
chương không đáng trọng, chỉ đáng dùng giấy
ấy để bịt miệng ṿ tương hay đốt
thay củi mà thôi!
[10] Nguyên văn Quải Đáp, c̣n gọi là
Quải Đơn, Quải Tích, Quải Bát, nghĩa là một
vị Tăng du phương hành cước, ôm y bát, hành lư
vào ở nhờ trong Tăng Đường một tự
viện nào đó. Nếu vị trụ tŕ đồng ư cho
vị du Tăng ấy nhập chúng ở lại th́ gọi
là “hứa quải đáp”. Ở đây, Tổ dùng chữ
này với ư nghĩa ḿnh chỉ là sống nhờ ở
đậu nơi Phổ Đà.
[11] Như Như Trí là Chân Như Diệu Trí, vốn sẵn thanh tịnh, không bị vô minh che lấp, không bị phiền năo nhiễm ô, chiếu trọn các pháp, b́nh đẳng bất nhị. Chứng được Như Như Trí th́ gọi là Như Như Phật
[12] Tam mật là thân mật, khẩu mật, tâm mật.
[13] Đây là truyền thuyết nói về sự biến thái từ ấu trùng thành ṭ ṿ. Ở đây, Tổ chỉ mượn truyền thuyết của dân gian Trung Quốc để nói cho dễ hiểu tác dụng của chú ngữ.
[14] Địa Thượng Bồ Tát: Từ địa vị Sơ Địa trong trở lên.
[15] Huệ Vĩnh (332-414), cao tăng đời
Tấn, người xứ Hà Nội, họ Phan, xuất
gia năm 20 tuổi, thờ ngài Trúc Đàm Hiện làm thầy,
sau theo ngài Huệ Viễn qua học với ngài Đạo
An. Khi ngài biệt cư ở Đông Lâm tại một cḥi
tranh trên đỉnh núi để tu tập, thất ngài ở
thường tỏa mùi thơm lạ, nên người đời
gọi là Hương Cốc. Có một con hổ quẩn
quanh gần đấy, hễ ai đến, Ngài xua hổ
chạy lên đỉnh núi. Người đi rồi, hổ
lại về nằm phục bên lều. Ngài thông thạo
kinh điển, khéo thuyết giảng, khi nói thường
hay mỉm cười. Suốt đời cơm rau, áo vải
thô, siêng năng tu hành không mệt mỏi. Năm Nghĩa Hy
thứ mười Sư bị bệnh nhưng vẫn tŕ
giới tinh chuyên. Lâm chung, tự đắp y, chắp tay, bảo
đại chúng: “Phật đến rồi!” Nói xong, an
tường qua đời, thọ 83 tuổi. Tăng tục
ở trên núi ấy đều ngửi thấy mùi
hương lạ, bảy ngày sau mới tan. Đường
Huyền Tông truy tặng vua thụy hiệu Giác Tịch
Đại Sư.
[16] Ngài Thích Đạo An sống nhằm thời
Đông Tấn, là một trong những vị đóng vai tṛ
đặc biệt quan trọng trong việc phát triển Phật
giáo thời sơ kỳ ở Trung Quốc. Sư người
huyện Thường Sơn, nay thuộc tỉnh Hà Bắc.
Họ Vệ, sanh nhằm năm Vĩnh Gia thứ sáu nhà
Đông Tấn (312), có thuyết nói là năm Kiến Hưng
thứ hai (314). Ngài cực thông minh, mẫn tiệp, nối
pháp của đại sư Phật Đồ Trừng. Sau
phương Bắc Trung Hoa đại loạn, thầy tṛ
hai vị phải lưu lạc khắp các nơi, giảng
pháp, giáo hóa suốt 15 năm trong vùng Hồ Bắc,
Tương Dương. Sau Phù Kiên nhà Tiền Tần, nghe
danh đại sư, đem binh công hăm Tương
Dương, đón ngài Đạo An về Trường An,
cho sống ở chùa Ngũ Trùng, dùng lễ đăi Ngài
như thầy. Ngài khuyên Phù Kiên nên thỉnh pháp sư Cưu
Ma La Thập sang Tần. Chính ngài Đạo An đă khởi
xướng việc đặt pháp danh và dùng chữ Thích trước
tên họ Tăng chúng, với ngụ ư: Tăng chúng là con
cháu nối tiếp pháp của Phật Thích Ca. Ngài chế
định tăng y, nghi thức, oai nghi, quy củ của
Tăng chúng cho nhất quán. Ngài c̣n chỉnh lư kinh luận
Hán dịch, biên tập Tổng Lư Chúng Kinh Mục Lục (một
loại thư mục kinh điển đầu tiên của
Trung Hoa). Thư mục này nay không c̣n, nhưng bản Xuất
Tam Kư Tập được biên soạn dựa trên thư mục
này. Chính ngài Đạo An cũng là người đầu
tiên đề xướng phân chia kinh Phật thành ba phần
Tự Phần, Chánh Tông và Lưu Thông Phần để chú
giải. Ngài tinh thông nhiều giáo thuyết Đại Tiểu
Thừa, đặc biệt là Tánh tông. Chính sơ tổ Tịnh
Tông là ngài Huệ Viễn nghe đại sư Đạo An
giảng kinh Bát Nhă bèn cảm thán: “Chín phái Nho - Đạo đều là tấm cám”, rồi
bèn xuất gia, hầu dưới ṭa. Ngài tịch năm
Thái Ḥa thứ 10 (385).
[17] Thông thường, “long tượng” vốn
để chỉ con voi mạnh mẽ nhất trong loài voi,
nên thường được dùng để ví cho hàng Bồ
Tát có năng lực oai mănh. Ngài Cát Tạng cho rằng con vật
nào giỏi nhất, tốt nhất th́ dùng chữ Long để
biểu thị, như ngựa quư sẽ gọi là “long mă”.
Kinh Đại Bát Niết Bàn gọi hàng Bồ Tát đă
đoạn trừ các kết lậu Hoặc là Đại
Long Tượng Bồ Tát. Kinh Hoa Nghiêm lại nói “long tượng”
để ví cho hàng Bồ Tát oai nghi tốt đẹp khôn
sánh. Có thuyết nói “long tượng” là rồng và voi, hai
loài có thế lực mạnh mẽ nhất trên cạn lẫn
dưới nước, nên đời sau thường gọi
người có sức Thiền Định mạnh mẽ tối
thắng là bậc “long tượng”.
[18] Tức quán Chân Đế, Tục Đế và Đệ Nhất Nghĩa Đế.
[19] Tử Tâm Tân Thiền Sư chính là ngài Ngộ
Tân (1044-1115), cao Tăng đời Tống, thuộc pháp hệ
Hoàng Long trong tông Lâm Tế, đệ tử của ngài Hoàng
Long Tổ Tâm, không rơ hành trạng. Ngài dốc ḷng chuyên tu Tịnh
Độ, tự xưng là Tử Tâm Tẩu (ông già ḷng
đă chết), c̣n lưu lại ngữ lục là Tử Tâm
Ngộ Tân Thiền Sư Ngữ Lục, được xếp
trong quyển 12 của Vạn Tục Tạng.
[20] Ngài Chân Hiết, húy Thanh Liễu
(1089-1151) là một vị cao tăng thuộc tông Tào Động,
nối pháp ngài Đan Hà Tử Thuần, người An
Xương (tỉnh Tứ Xuyên), họ Ung. Xuất gia
năm 11 tuổi với ngài Thanh Tuấn chùa Thánh Quả,
thoạt đầu học Pháp Hoa. Ngài từng tham học
khắp Nga Mi, Ngũ Đài. Sau đến Đặng Châu
(Hà
[21] Ngài Tỉnh Thường (959-1020) là vị
Tổ thứ bảy của tông Tịnh Độ, sống
vào đời Tống, người huyện Tiền
Đường, tỉnh Chiết Giang, họ Nhan. Ngài xuất
gia từ năm bảy tuổi, thọ Cụ Túc Giới
năm 17 tuổi. Sau trụ tŕ chùa Chiêu Khánh ở Tây Hồ,
Hàng Châu. Ngài hâm mộ di phong của tổ Lô Sơn Huệ
Viễn, nên lập Bạch Liên Xă ở Tây Hồ, sau đổi
thành Tịnh Hạnh Xă, lấy ư từ phẩm Tịnh Hạnh
của kinh Hoa Nghiêm. Tể tướng Vương Đán
làm xă chủ. Ngài tịch năm 62 tuổi, nhục thân
được táng ở núi Linh Ẩn gần phần mộ
của Ô Khoa thiền sư, đời gọi Ngài là Tiền
Đường Bạch Liên Xă Chủ, được phong
hiệu là Chiêu Khánh Viên Tịnh Pháp Sư. Do ông Vương
Đán có tước phong là Văn Chánh Công nên tổ Ấn
Quang gọi là Vương Văn Chánh Công Đán.
[22] Phạm Thiên Tư Tề (1686-1734), tức
tổ Thật Hiền, Tổ mười một của
tông Tịnh Độ, người xứ Thường Thục,
Giang Tô, Ngài có pháp tự là Tư Tề, pháp hiệu là Tỉnh
Am, thuộc gia đ́nh đời đời học Nho. Xuất
gia năm 15 tuổi, kinh điển đọc qua không bao
giờ quên. Năm 24 tuổi thọ Cụ Túc Giới,
nghiêm tŕ giới luật, chẳng ĺa y bát, ngày chỉ ăn
một bữa, không hề đặt ḿnh xuống giường.
Sau ngài tham yết sư Thiệu Đàm, nghe giảng Duy Thức,
Lăng Nghiêm, Ma Ha Chỉ Quán, thông đạt giáo nghĩa
Thiên Thai, Pháp Tướng v.v… nối tiếp pháp của ngài
Thiệu Đàm thuộc Thiên Thai Chánh Tông, pháp phái Linh Phong.
Ngài yểm quan ba năm tại núi Chân Tịch, đọc hết
Đại Tạng, sáng chiều tŕ danh hiệu Phật. Sau
ứng lời thỉnh của mười phương tùng
lâm, giảng kinh hơn mười năm, tăng tục
vùng Giang Tây quy y đông đảo. Tuổi già, ngài cự
tuyệt mọi duyên, kết liên xă, chuyên tu Tịnh nghiệp,
người đời xưng tụng là Vĩnh Minh Tái Lai.
Năm Ung Chánh 11 (1733), Sư báo trước ngày mất, suốt
ngày đêm niệm Phật đến hơn 10 vạn tiếng,
đến tháng Tư năm sau bèn thị tịch, thọ
49 tuổi. Ngài c̣n để lại 108 bài thơ Tịnh Độ,
Tây Phương Phát Nguyện Văn Chú, Tục Văng Sanh Truyện,
Niết Bàn Sám, nhưng bài Khuyến Phát Bồ Đề Tâm
Văn của Ngài nổi tiếng hơn cả và được
đặc biệt coi trọng trong mọi tông phái.
[23] Tân truyền: tức là nói gọn của thành ngữ “tân tận hỏa truyền” (củi hết nhưng lửa c̣n) ngụ ư đạo được truyền thừa từ thầy sang tṛ.
[24] Tức nạn Thái
B́nh Thiên Quốc (1851-1864).
Hồng Tú Toàn và Dương Tú Thanh là hai lănh tụ của
đám loạn tặc này đă đốt phá rất nhiều
chùa miếu ở Hoa
[25] Trong Kinh Dịch Phổ
Thông (nxb Văn Hóa Thông Tin, tháng 07, 1997), nơi trang 383, tác giả
Bùi Hạnh Cẩn dịch:
“Nước chằm chan chứa, giao lưu, vui mừng.
Quân tử cần vui cùng bè bạn, giảng giải đạo
lư, trao đổi học thuật”.
[26] Bằng 朋 (bạn) gồm hai chữ Nguyệt (mặt trăng) ghép lại.
[27] Xă hữu: Người dự vào liên xă.
[28] Khai Sĩ là một danh xưng khác của Bồ Tát.
[29] Hiếu kính cha mẹ, ḥa thuận,
thương yêu anh em.
[30] Đảnh thánh, nhăn sanh thiên: Đây là một
bài kệ thời cổ luận về sự văng sanh, nguyên
văn như sau:
Đảnh
thánh, nhăn thiên sanh
Nhân
tâm, ngạ quỷ phúc
Súc
sanh tất cái ly,
Địa
ngục cước phản xuất
Ư nói: Khi người chết tắt hơi, toàn thân đă lạnh, chỉ c̣n đảnh đầu nóng th́ ắt đă siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nếu mắt cùng trán c̣n nóng th́ sanh trong thiên đạo. Chỗ ngực c̣n ấm th́ sanh nhân đạo. Riêng bụng c̣n nóng th́ sanh ngạ quỷ. Riêng đầu gối c̣n nóng th́ sanh làm súc sanh. Riêng bàn chân c̣n nóng th́ sanh địa ngục.
[31] Kinh Đại Bảo Tích (Mahā-Ratnakūta-Sūtra) gồm 120 quyển, thật ra là bộ tổng tập các kinh liên quan đến những phương pháp tu hành, thọ kư, thành Phật của các Bồ Tát. Bảo Tích có nghĩa là tích tập pháp bảo. Do pháp Đại Thừa sâu mầu nên gọi là Bảo, tích tập vô lượng pháp môn nên gọi là Tích. Toàn kinh chia thành 49 hội. Trong số ấy, những bản dịch kinh cùng nội dung nhưng khác tên của các nhà dịch kinh trong thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy, Đường gồm hơn 28 hội, gọi là phần Cựu Dịch. Ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch mới hai mươi sáu hội nữa, gọi là bản Tân Dịch. Bản kinh Bảo Tích hiện thời là tổng hợp của hai phần này. Như vậy, mỗi một pháp hội là một bộ kinh. Bản kinh này đă được tập thành tại Ấn Độ, khi ngài Huyền Trang về lại Trung Hoa có mang theo Phạn bản. Theo Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện, quyển 10, sau khi dịch xong bộ Đại Bát Nhă 600 quyển, pháp sư Huyền Trang thuận theo lời cầu thỉnh của chư sơn cao đức, dịch kinh này, nhưng tinh lực đă tận, nên chỉ dịch vài trang rồi ngưng. Bản kinh này đă được ḥa thượng Trí Tịnh chuyển dịch sang Việt Văn.
[32] Theo Tứ Thư Bạch Thoại Dị Giải, câu này có nghĩa là “dùng ư kiến ức đoán của chính ḿnh suy lường nên bị trở ngại, vướng mắc”.
[33] Giang Thận Tu là người huyện Hấp, tỉnh
An Huy, thích nghiên cứu, rất tinh thông thuật bói toán. Tác
phẩm nổi tiếng nhất của ông là Châu Dịch
Thích Nghĩa gồm mười sáu quyển, vẫn c̣n
được phổ biến măi đến tận ngày
nay. Ông đề ra những kiến giải đặc biệt,
tân kỳ và tinh xác về thuật Dịch Học, nhất
là Hà Đồ và Lạc Thư. Ông c̣n nghiên cứu rộng
răi nhiều học thuật, triết học
đương thời, nên được coi là bậc
đại học giả cuối đời Thanh.
[34] Quẻ Thuần Càn gồm sáu hào Dương (tức sáu vạch liền), mỗi vạch đều được giảng bằng chữ Long, từ hào thứ nhất (sơ cửu) là Tiềm Long Vật Dụng, hào thứ hai là Hiện (Kiến) Long Tại Điền, cho đến hào thứ sáu (thượng cửu) là Kháng Long Hữu Hối.
[35] Chiên Đàn (gośīrṣa-candana): Thường được gọi
đủ là Ngưu Đầu Chiên Đàn, hay Ngưu
Đàn Hương là một loại gỗ trầm
hương (sandalwood), tương truyền lấy từ rặng
núi Ngưu Đầu. Người Ấn Độ tin rằng
bôi loại hương này lên thân sẽ ngăn được
lửa, trị lành vết thương. Có nhiều loại
chiên đàn, kinh Pháp Hoa nói có loại Hải Ngạn Chiên
Đàn, một Thù của loại hương này giá trị
bằng cả tam thiên đại thiên thế giới.
[36] Giang Vị Nông (1873-1938), người xứ Ninh Ba, tỉnh Giang Tô, sống ở Hồ Bắc. Ông tên thật là Trung Nghiệp, tên tự là Vị Nông, pháp danh Diệu Hy. Từ nhỏ đă theo cha tŕ tụng kinh Kim Cang. Tuổi trung niên vợ mất, ngộ thế sự vô thường. Năm 1918, lễ ngài Vi Quân thiền sư làm thầy, thọ Bồ Tát Giới. Cuốn sách Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của ông được đánh giá rất cao, lưu truyền hết sức rộng răi.
[37] Do các đàn cầu cơ thường dùng cơ bút có h́nh cái giỏ, đầu giỏ có một cái mỏ nhọn, đôi khi khắc h́nh chim loan. Khi cầu cơ, hai người hầu cơ (thường gọi là đồng tử hay thanh đồng) nâng hai bên thành giỏ, hướng mũi chim loan xuống mâm cát hay mâm gạo viết thành chữ, nên thường gọi là “phù cơ” hay “phù (pḥ) loan”.
[38] Giác Thế Kinh chính là Quan Thánh Đế Quân Giác Thế Chân Kinh (tương truyền do Quan Thánh Đế Quân, tức Quan Công giáng cơ) có nội dung khuyến thiện, nêu lẽ nhân quả nên cũng rất được Phật môn Trung Hoa coi trọng.
[39] Tháp Lôi Phong ở Tây Hồ thuộc huyện
Hàng, tỉnh Chiết Giang, là thắng cảnh bậc nhất
ở Tây Hồ. Tháp do bà vương phi họ Hoàng của
vua nước Ngô Việt thời Ngũ Đại xây dựng
để cất giữ mớ tóc xoắn ốc của
đức Phật. Ngô Việt Vương Tiền Thục
từng sai chép tám vạn bổn ngàn bản kinh cất trong
tháp này. Tháp có tám cạnh, mỗi chiều rộng 18 bộ,
trang hoàng rực rỡ. Thời Nguyên - Minh, tháp chỉ lại
chỉ c̣n năm tầng, c̣n lại tám cửa. Do nền
tháp bằng đá đỏ, trên xây bằng gạch hồng,
lợp ngói vàng, trông rất rực rỡ trong nắng chiều.
Năm Dân Quốc 14 (1925) đột nhiên sụp đổ,
mới phát hiện gạch xây tháp toàn là khắc kinh Bảo
Khiếp Ấn vào thời Ngũ Đại, nét chữ khắc
rất tinh vi nên rất được giới yêu văn
chương trân quư, tranh nhau sưu tập.
[40] Thời xưa gọi tàu chạy bằng hơi nước, có bánh xe để đẩy nước ở phía sau tàu là “đại hỏa luân thuyền”.