Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao
Quyển thứ hai
(Phần 5)
III. Sớ[1]
1. Sớ
trùng tu ao phóng sanh chùa Cực Lạc ở Nam Tầm[2]
Kiêng giết
phóng sanh về mặt Sự th́ nông cạn, dễ thấy;
nhưng về mặt Lư lại sâu xa, khó hiểu rơ. Nếu
chẳng hiểu rơ Lư, dù có làm chuyện này, trong tâm chắc
chắn chẳng chí thành, thương xót thiết tha,
phước điền lợi ích cũng do tâm lượng
mà trở thành nhỏ nhoi, nông cạn. Nếu gặp phải
kẻ vô tri ngăn trở, phỉ báng, [người phóng
sanh] sẽ bị kẻ đó xoay chuyển, khiến cho một
dạ thiện tâm v́ đó bị tiêu diệt chẳng c̣n.
Do vậy, chẳng ngại lắm lời giăi bày ư nghĩa,
để những loài vật đều được gội
từ ân, loài người đều được vun bồi
nền phước, ngơ hầu khẩn thiết động
đến ḷng nhân sâu xa, diệt được sát báo cho ta
lẫn người, cùng đều được về
cơi thọ, cùng vui tuổi trời. Lại nguyện đem
công đức này hồi hướng Tây Phương để
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, vượt thoát tam
giới, làm đệ tử Phật Di Đà, làm bạn tốt
trong hải chúng. May ra sẽ được người
đọc chú ư vậy! Nhất niệm tâm tánh của chúng
sanh sống trên đất hay dưới nước, vốn
quả thật chẳng hai, chẳng khác ǵ với tam thế
chư Phật; nhưng v́ sức ác nghiệp đời
trước chướng lấp nên diệu minh chẳng thể
hiển hiện, trầm luân trong dị loại, đến
nỗi sự hay biết hèn kém, ngoại trừ chuyện
t́m cái ăn, tránh cái chết ra, trọn chẳng biết
đến điều chi khác nữa!
Ví như tấm
gương đồng quư báu lớn, trải bao kiếp bị
bụi lấp, chẳng những không có mảy may quang minh
nào, ngay cả chất đồng của gương
cũng chẳng thể hiển hiện được,
khác ǵ phế vật! Chợt gặp được người
trí, biết là gương báu sẵn có đủ vô biên quang
minh chiếu trời soi đất, bèn ngày ngày chăm chú giồi
mài. Thoạt đầu bèn lộ chút chất gương, dần
dần tỏa ra ánh sáng. Mài đến cùng cực th́ ánh sáng
chiếu trời soi đất bèn hiển hiện toàn thể;
người vô trí mới bèn quư trọng, xem là vật quư báu
nhất. Phải biết: Ánh sáng ấy gương vốn
sẵn tự có, nào phải do mài mà có! Tuy là tự sẵn
có, nhưng nếu không có duyên giồi mài th́ từ kiếp
này sang kiếp khác cũng chẳng có ngày tỏa ra quang minh.
Tâm tánh của hết thảy trời - người chúng
sanh lục đạo đều giống như vậy. Do
Hoặc nghiệp từ vô thỉ đến nay che lấp
nên chẳng thể tỏ lộ diệu minh sẵn có, mê
trái chân tánh, tạo nghiệp sanh tử. Đức Đại
Giác Thế Tôn biết nhất niệm tâm tánh của các chúng
sanh bằng với chư Phật; do vậy, [dùng] đủ
mọi phương tiện tùy cơ thuyết pháp, khiến
cho khắp mọi loài đều tu đạo Giới -
Định - Huệ, ngơ hầu đoạn Hoặc chứng
Chân, khôi phục cái ḿnh sẵn có, trọn vẹn phước
huệ để chứng Pháp Thân.
Lại dạy người
đời phát tâm từ bi, kiêng giết, phóng sanh; ấy là
v́ ta và hết thảy chúng sanh đều ở trong luân hồi,
từ vô thỉ đến nay lần lượt sanh ra
nhau, xoay vần giết lẫn nhau. Bọn họ cố
nhiên là cha mẹ, anh em trai, chị em gái, con cái của ta, mà
ta cũng là cha mẹ, anh em trai, chị em gái, con cái của
mỗi một người trong bọn họ. Bọn họ
nhiều phen do ác nghiệp lực mà sanh trong loài người
hoặc sanh trong dị loại[3], bị
ta giết chóc; ta cũng nhiều phen do ác nghiệp lực
mà sanh trong loài người hoặc sanh trong dị loại,
bị họ giết chóc. Trải bao kiếp lâu xa, sanh ra
nhau, giết lẫn nhau, trọn không ngơi ngớt! Phàm
phu không biết, Như Lai thấy thấu suốt. Hễ
không nghĩ th́ thôi, nếu nghĩ đến ắt khôn
ngăn hổ thẹn, thương xót! Nay ta may nhờ
phước thiện đời trước, sanh trong loài
người, cố nhiên nên cởi gỡ mối oán kết,
kiêng giết, phóng sanh, khiến cho hết thảy những
loài có sanh mạng đều được yên ổn; lại
v́ họ niệm Phật hồi hướng Tịnh Độ,
khiến cho họ được độ thoát. Nếu họ
nghiệp nặng chưa thể văng sanh ngay, ta bèn nhờ
vào công đức từ thiện này, quyết cầu lâm
chung văng sanh Tây Phương. Đă văng sanh ắt sẽ siêu
phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn
thoát khỏi luân hồi, dần dần chứng được
Phật quả.
Vả nữa, yêu
thương loài vật, phóng sanh th́ bậc cổ thánh tiên
hiền đều làm chuyện này. V́ thế, kinh Thư có
đoạn văn chim, thú, cá, ba ba đều được
sống yên vui[4], Văn Vương
ân trạch thấm đến xương khô, huống chi
loài vật có tri giác. Như Giản Tử thả chim
cưu, Tử Sản[5]
nuôi cá, Tùy Hầu giúp rắn[6],
Dương Bảo cứu chim sẻ[7].
Đấy là tâm thánh hiền cùng dùng ḷng nhân đối
đăi với loài vật, dẫu họ không biết đến
những nghĩa lư: “Những
loài có tri giác, có cử động đều có Phật
tánh, lần lượt thăng lên, đọa xuống, làm
kẻ oán người thân lẫn nhau, và tương lai quyết
định thành Phật”. Đến khi đại giáo
truyền sang Đông, th́ nhân quả ba đời và lư “chúng sanh, Phật, tâm, ba thứ
b́nh đẳng không hai” sáng ḷa trong thế gian. Phàm là bậc
đại thánh đại hiền, không ai chẳng kiêng giết,
phóng sanh, nhằm văn hồi sát kiếp để vun bồi
quả phước, làm nền tảng để dứt nạn
binh đao, vui hưởng tuổi trời. Cổ nhân nói: “Dục tri thế thượng
đao binh kiếp, tu thính đồ môn bán dạ thanh” (tạm
dịch: “Muốn biết đao binh trong cơi thế, hăy nghe
ḷ mổ giữa đêm thanh”). Lại nói: “Muốn cho thế gian không c̣n nạn đao binh th́ trừ
phi chúng sanh không ăn thịt”. Do vậy, biết rằng:
Kiêng giết, phóng sanh chính là khuôn mẫu tốt đẹp để
nhổ rễ lấp nguồn [tai nạn], cứu đời.
V́ thế, Trí Giả
đại sư đời Trần mua hơn sáu
mươi chỗ ở Lâm Hải, Giang, Hỗ, Khê,
Lương, cả hơn bốn trăm dặm làm ao phóng
sanh, xin sắc chỉ lập bia cấm ngặt đánh cá.
Kẻ nào bắt trộm làm càn sẽ bị mắc vạ.
Đến niên hiệu Trinh Quán đời Đường
(triều vua Đường Thái Tông) vẫn c̣n như thế.
Đến năm Càn Nguyên thứ hai đời Đường
Túc Tông (759), vua hạ chiếu truyền các châu trong thiên hạ
lập ao phóng sanh, sai Nhan Chân Khanh[8] soạn
bài văn bia và viết bằng bút son; trong ấy có câu: “Đức vua ta lấy cả
thiên hạ làm ao, hết thảy [các loài] trong toàn cơi đều
nhờ phước, nương sức Đà La Ni gia tŕ, cạn
bờ mé phiền năo sanh tử; suy đến tận ngàn
xưa, chưa hề phảng phất giống được
như vậy”. Năm Thiên Hỷ nguyên niên (1017) đời
Tống Chân Tông, hạ chiếu truyền thiên hạ lập
ao phóng sanh, Tây Hồ ở Hàng Châu cũng trở thành ao
phóng sanh của vua Tống. Đời Minh, đại
sư Liên Tŕ lập ao phóng sanh ở hai nơi là Thượng
Phương và Trường Thọ. Bài Giới Sát Phóng Sanh
Văn của ngài lưu truyền khắp thiên hạ. Cho
đến nay đă hơn ba trăm năm, những người
thông hiểu trong hàng Tăng - tục đều ngưỡng
mộ cao phong, từ bi cứu tế loài vật không thể
tính kể.
Như có kẻ nói:
- Kẻ quan quả cô
độc[9], bần cùng hoạn
nạn đâu đâu cũng có, sao không châu cấp, lại gấp
rút lo lắng cho loài dị loại chẳng liên quan ǵ đến
ta? Đấy chẳng phải là điên đảo nơi
chuyện thong thả - gấp rút, nặng - nhẹ đó ư?
Đáp:
- Ông chưa biết
nguyên do đức Như Lai dạy người kiêng giết,
phóng sanh. Tuy người và vật khác nhau, nhưng Phật
tánh vốn đồng. Do ác nghiệp nên chúng bị trầm
luân trong dị loại, ta do thiện nghiệp may được
thân người. Nếu chẳng xót thương, giúp đỡ,
cứ mặc t́nh giết hại, ăn nuốt, th́ một
mai kia nếu phước ta hết rồi, tội của
chúng đă trả xong, khó tránh khỏi phải đền trả
từ đầu, [đem thân ḿnh] thỏa miệng bụng
của chúng. Phải biết đao binh đại kiếp
đều do sát nghiệp đời trước cảm
thành. Nếu không có sát nghiệp, dẫu thân gặp phải
giặc cướp, chúng cũng sẽ khởi ḷng lành, chẳng
giết hại ḿnh. Huống chi những tai nạn bất
ngờ như ôn dịch, nước, lửa th́ người
kiêng giết, phóng sanh rất ít gặp phải. Do vậy,
biết rằng: Che chở loài vật chính là tự che chở
ḿnh. Kiêng giết sẽ khỏi bị trời giết, quỷ
thần giết, trộm cướp giết, [khỏi bị]
oán - thân giết nhau báo thù trong tương lai. Những kẻ
quan quả cô độc bần cùng hoạn nạn cũng
nên tùy phần tùy lực châu cấp cho họ, chứ nào phải
người kiêng giết phóng sanh hoàn toàn chẳng hành những
điều công đức ấy! Tuy người quan quả
cô độc rất đáng thương, nhưng họ
chưa đến nỗi lâm vào tử địa, c̣n loài vật
nếu không bỏ tiền chuộc mạng, sẽ lập
tức phải lên chảo, thớt để thỏa bụng
miệng con người!
Lại có kẻ nói:
- Loài vật vô tận,
phóng sanh được mấy?
Đáp rằng:
- Phải biết chuyện
phóng sanh thật ra nhằm để phát khởi thiện
tâm tối thắng “bảo vệ sanh mạng mọi loài vật”
của mọi người, ngơ hầu lănh hội được
ư nghĩa của chữ “Phóng” (thả), trong tâm đă động
ḷng trắc ẩn, ắt chẳng nỡ ăn nuốt.
Đă không có người ăn nuốt th́ người
đánh bắt sẽ phải thôi, khiến cho hết thảy
loài vật dưới nước, trên mặt đất,
trên hư không đều tự tại bay, chạy, bơi
lội trong nơi sinh sống của chúng. Như vậy,
thành ra không phóng sanh mà hóa ra là phóng sanh khắp tất cả.
Đấy chẳng phải là “cả
thiên hạ biến thành một cái ao” ư? Dẫu không
phải ai cũng đều như vậy cả, nhưng
một người chẳng nỡ ăn thịt th́ vô
lượng sanh mạng trên đất liền, dưới
nước khỏi bị giết chóc; huống chi nào phải
chỉ có một người! Lại v́ hiện tại, vị
lai hết thảy đồng nhân đoạn trừ cái
nhân của quan quả, cô độc, hoạn nạn, bần
cùng, tạo cái duyên trường thọ, không bệnh, phú
quư, an lạc, cha con đoàn viên, vợ chồng giai lăo cho họ.
Đấy chính là làm chuyện châu cấp, cứu tế sẵn
để đời đời kiếp kiếp trong vị
lai măi măi chẳng bị những nỗi khổ quan quả
cô độc v.v… hưởng thụ dài lâu những niềm
vui sống lâu, giàu sang v.v… Đấy chẳng phải là “toàn nước được
hưởng phước” ư? Há có nên coi thường
gác bỏ? Ông hăy nghĩ kỹ đi, kiêng giết, phóng sanh
rốt ráo là khăng khăng v́ con người hay là khăng
khăng v́ loài vật, điên đảo nơi chuyện
thong thả - gấp rút, nhẹ - nặng vậy?
Phía ngoài chùa Cực Lạc ở Nam Tầm từ trước đă có ao phóng sanh, nhưng do bờ vách chưa xây nên bị sụp lở, lại thêm nhiều năm chưa được khơi vét, bùn lầy đầy ứ. Thường có những người lành phải ra sông phóng sanh, dù phát thiện tâm nhưng sanh vật khó được hưởng lợi ích. Sáng vừa được thả, chiều lại bị bắt, quá nửa là như vậy. Nếu gần sông to th́ dĩ nhiên nên thả xuống sông, nơi sông nhỏ trọn chớ nên thả xuống. Viên Lâm đại sư ḷng bất nhẫn, muốn đào sâu ao đó, phía ngoài đắp tường vây bọc bảo vệ để có chỗ phóng sanh mà kẻ bắt cá trộm cũng không làm ǵ được! Ư ấy cũng rất tốt lành, nhưng chưa tiến hành, đến khi Giác Tam đại sư từ Phổ Đà đến đó, vừa trông thấy liền hợp ư, trở về chùa bàn bạc chuyện ấy, nhưng tôi đă buông xuống vạn duyên, chuyên tu Tịnh nghiệp rồi [nên không thể cáng đáng việc ấy]. Thầy Giác Tam kế thừa đầu mối cũ, muốn sự ấy chóng thành, nhưng công tŕnh rộng lớn, sức một ḿnh Sư khó thể thành tựu, tính quyên mộ thiện tín toàn trấn cùng giúp cho việc thù thắng, xin tôi viết lời tự (phần sau lược đi).
2. Bài sớ
về ao phóng sanh chùa Pháp Vân ở sông Tam Xoa[10], Kim Lăng
Kim
Lăng[11] là đất
văn hiến, thường được gọi là Phật
Quốc. Người xứ ấy đa phần có căn
tánh Đại Thừa. Từ khi đại pháp truyền
sang Đông, hơn một trăm bảy mươi năm
chỉ ở phương Bắc. Đến năm Xích Ô thứ
tư (241) đời Tôn Quyền nhà Ngô, tôn giả Khang
Tăng Hội đến giáo hóa đất này, cảm
được xá-lợi Phật giáng lâm, Tôn Quyền bèn cho
dựng tháp lập chùa để hoằng pháp hóa. Đến
đời Tấn, ngài Phật Đà Bạt Đà La[12]
cũng dịch kinh Hoa Nghiêm ở nơi đây. Từ đời
Tống, Tề, Lương, Trần trở đi, dịch
kinh hoằng pháp có rất nhiều vị. Một là do thiện
căn xưa kia un đúc khiến thành ra như thế; hai
là núi cao, nước sâu, địa linh khiến thành ra
như vậy. Đến thời Đường Túc Tông, Lỗ
Công Nhan Chân Khanh trấn giữ đất này, vua hạ chiếu
truyền các châu trong thiên hạ đều lập ao phóng
sanh, sai Lỗ Công soạn bài văn, có câu: “Cả thiên hạ đều thành ao, trọn đất
nước đều nhờ phước, chứ nào phải
chỉ tính kế riêng cho loài vật mà thôi ư!” ấy
là muốn cho [người đọc đến] phải cảm
động vậy!
Đầm Ô Long dưới
núi Thanh Lương chính là ao phóng sanh do Lỗ Công tự lập.
Lỗ Công ḷng tinh trung ngời nhật nguyệt, văn bút
động gió mây, nhưng lại dốc ḷng tin tưởng
Phật pháp, cực lực bảo vệ sanh mạng loài vật.
Đức hạnh tốt đẹp, ḷng từ bao la ấy
một ngàn trăm năm sau không ai chẳng kính ngưỡng!
Gần đây, thế đạo nhân tâm suy kém đă đến
độ cùng cực, thiên tai, nhân họa xảy ra liên miên.
Người có ḷng lo lắng cho đời đều cho rằng
những nghiệp quả ấy đều do sát nghiệp tạo
ra. Nếu biết được loài vật chẳng nên giết,
chắc chắn không khi nào có người giết! Do vậy,
những người ôm ḷng từ thiện nâng đỡ lẫn
nhau, sẽ tự có thể thay đổi phong tục, chiêu
cảm được thiên ḥa. Do vậy, các vị cư
sĩ Phùng Mộng Lăo, Vương Ấu Nông, Bàng Tánh Tồn,
Ngụy Mai Tôn… tính lập ao phóng sanh để đề xướng
đạo “ngưng giết, hành từ”, ngơ hầu đề
cao phong tục “coi dân chúng như ruột thịt, coi loài vật
như chính ḿnh”.
Do nền cũ đầm
Ô Long của Lỗ Công không thông ra sông, nên họ t́m riêng một
cuộc đất rộng răi hơn một trăm mấy
mươi mẫu ở phía dưới bờ đập
nhà họ Phương ở sông Tam Xoa, đủ để
kiến lập đạo tràng, đào ao phóng sanh. May là chủ
cuộc đất ấy là ông Phương Tuấn Sanh vốn
là bậc quân tử thích làm lành, chỉ lấy nửa giá,
cũng có thể nói là công đức hy hữu vậy! Bàn bạc
vừa xong, nhằm đúng lúc tôi đến Kim Lăng, ông
Ngụy đem chuyện này bảo với tôi, nhờ viết
tờ sớ để xướng suất. Tôi thường
đau đớn trước nỗi thảm sát kiếp
trong thời gần đây, muốn văn hồi nhưng không
có sức. Nay do ông ta thỉnh, ḷng xúc động, trước
kia tôi từng soạn bài sớ cho ao phóng sanh chùa Cực Lạc
ở Nam Tầm, đă tŕnh bày đại lược chuyện
chúng ta cùng loài vật vốn có đủ chân tâm, do tùy theo
nghiệp mà thăng - trầm, cũng như quả báo do
sát sanh hay phóng sanh trong hiện tại - tương lai, nên ở
đây chỉ nói đại lược, không nhắc lại
nữa.
Kính mong chư vị
đàn-việt[13]
cùng phát thiện tâm, cùng bỏ ra tịnh tài khiến cho việc
này mau được thành công, ngơ hầu muôn vật loài nào
loài nấy sống yên; công đức lợi ích ấy vô
lượng, vô biên, há nào phải chỉ trong hiện đời
vạn họa băng tiêu, ngàn sự tốt lành nhóm đến
như mây, mà trong đời vị lai những người
đền ân báo đức cũng chẳng biết là bao
nhiêu ngàn vạn ức! Phải biết phóng sánh vốn là
kiêng giết, kiêng giết phải khởi đầu từ
việc ăn chay! Nếu ai nấy đều kiêng giết,
ai nấy đều ăn chay th́ nhà nhà tập thói từ
thiện, người người giữ trọn lễ
nghĩa, phong tục tốt đẹp tinh thuần, thời
thế ḥa b́nh, được mùa, nào đến nỗi có
chuyện đao binh kiếp khởi, đây - kia đánh lẫn
nhau! Đấy chính là chuyện trọng yếu, là “nguồn
trong gốc chánh” để văn hồi thiên tai nhân họa vậy!
Phàm những ai muốn cho cửa nhà yên ổn, thân tâm khỏe
mạnh, yên vui, thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc, xin hăy cầu
từ nơi kiêng giết phóng sanh, ăn chay, niệm Phật
th́ cầu ǵ mà chẳng được!
3. Bài sớ
[kêu gọi đóng góp] xây dựng viện mồ côi Phật
giáo chùa Pháp Vân ở sông Tam Xoa, Kim Lăng
Càn là
đại phụ, Khôn là đại mẫu. Dân là đồng
bào của chúng ta, loài vật và ta cũng giống như thế.
Do vậy, Khổng Tử lấy chuyện yên ổn người
già, lo lắng cho trẻ nhỏ làm chí, đức Như Lai
lấy việc phổ độ chúng sanh làm tâm. Do hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha
mẹ thân thuộc trong quá khứ của chúng ta, đều
sẽ thành Phật đạo trong đời tương
lai. Có những kẻ do nghiệp lực nên đọa trong
dị loại sống trên đất, dưới nước,
trên không trung, nhưng Phật tánh của họ chẳng bị
tổn hại chút nào. Cái tâm tham sống, sợ chết,
tránh khổ, cầu vui chẳng khác chúng ta chút nào! Do vậy,
ông Phùng Mộng Lăo mời các vị cư sĩ cùng chí
hướng đề xướng tạo dựng Pháp Vân Tự
làm đạo tràng niệm Phật phóng sanh. Mong hết thảy
thiện nhân cảm cái tâm của cha trời mẹ đất,
cùng mang ư niệm “dân là đồng bào, loài vật cũng
giống như ta”, dứt sát nghiệp cho cả người
lẫn ta, vun cội đạo Bồ Đề, chứ
nào phải chỉ chăm chú vào một đạo tràng nhỏ
bé mà thôi! Ấy là v́ muốn cho cả thiên hạ đều
cùng phát khởi cái tâm trắc ẩn không chi chẳng thấu.
Đối
với hết thảy những kẻ quan quả cô độc,
khốn khổ, lênh đênh, không nơi nương tựa,
không phải là chẳng muốn cứu giúp, nhưng do tài lực
khó khăn, nên bèn lập thêm một Viện Mồ Côi
nơi cuộc đất hẹp bên cạnh ao phóng sanh chùa
Pháp Vân, đem những cô nhi không cha, không mẹ, không cách sống
c̣n về nuôi dạy cho đến khi chúng thành tài tự lập,
để chúng khỏi bị đói lạnh mà chết vùi lấp
bên khe ng̣i, no ḷng quạ, chó; đến nỗi tổ tông
chúng không người thờ phụng, cũng như quốc
gia thiếu nhân dân. Tâm ấy có thể nói là chân thành khẩn
thiết, biết điều ǵ cần phải lo trước.
Ấy là v́ trẻ nhỏ hễ mất cha mẹ ắt phải
đến nỗi chết đi. Dẫu cho nó có thể xin
ăn được đôi chút, không đến nỗi chết
ngay, nhưng v́ không thể học hành, bất quá chỉ suốt
đời làm mướn, làm sao mở mang trí thức để
thấu đạt thiên tư sẵn có, giữ vẹn luân
lư ḥng chẳng trái đạo làm người cho được?
Hăy thử nghĩ: Ngài Đạo An đời Tấn, ngài
Nhất Hạnh đời Đường, ngài Diệu Phong
đời Minh[14]
đều là cô nhi. Do các vị được làm Tăng
nên đạo bèn truyền khắp thiên hạ, đức
phủ triệu dân. Ông Lă Văn Mục đời Tống lúc
hàn vi đọc sách, xin ăn nuôi thân; một vị Tăng
thương xót bèn giúp đỡ, ông đậu cao, tận
tụy với vua, thương yêu dân chúng. Do vậy, ông có
phát nguyện rằng: “Nguyện
con cháu đời đời ăn lộc, hộ tŕ Phật
pháp. Kẻ nào chẳng tin Tam Bảo đừng sanh vào nhà
ta”. Ấy là v́ ḷng cảm kích sâu xa. Do vậy, biết rằng
thần long c̣n bé thường hay bị cát đá gây khốn,
người có ḷng nhân đem nước chừng một
thưng, một đấu giúp cho, đợi đến
khi rồng đủ vây cánh, gió mây gặp hội, ắt có
thể rưới mưa ngọt khắp cả thiên hạ.
Dẫu những đứa thiên tư tầm thường,
không bản lănh ǵ, nhưng được nuôi dưỡng
lương năng lương tri khiến cho đứa
nào đứa nấy hiền lành th́ cũng có thể tạo
thành cái gốc làm cho thiên hạ thái b́nh. Huống hồ cô
nhi rất nhiều, trong ấy ắt có những đứa
tài năng xuất chúng, có thể thành đạo lập
đức, tán trợ quyền giáo hóa, dưỡng dục,
như các vị Đạo An, Nhất Hạnh, Diệu
Phong, Văn Mục vậy! Công đức nuôi dạy thành tựu
ấy há thể tính lường được ư?
Kính mong những bậc
quân tử nhân từ, hết thảy thiện tín, đều
khởi ḷng giúp đỡ trẻ nhỏ, đừng keo kiệt,
giúp đỡ nhỏ giọt. Phải biết bố thí là
cội phước, đạo trời sẽ đền
đáp tốt đẹp. Ḿnh đă giúp con côi của người
ta th́ con cháu ḿnh ắt sẽ có nhiều đứa tài
năng xuất chúng, làm chuyện lớn lao, quyết chẳng
đến nỗi khổ sở lênh đênh, không biết
kêu ca vào đâu! Phạm Văn Chánh Công (Phạm Trọng
Yêm) đời Tống chỉ chăm chú giúp đời, cứu
người. Con cháu ông cho đến tận bây giờ nhiều
người hiển đạt. Do vậy biết rằng
cứu giúp người bị tai ương th́ chính ḿnh và
con cháu ḿnh đời đời kiếp kiếp đều
chẳng đến nỗi bị tai ương phải
đợi người cứu giúp. Nếu có thể nhận
lănh lời bàn luận kém hèn, chẳng tiếc của báu
trong nhà, ngơ hầu sự việc này được thành tựu
mỹ măn, th́ há nào phải chỉ cô nhi được may mắn,
mà thật ra chính là thiên hạ quốc gia được
may mắn lớn lao vậy!
4. Sớ
phổ khuyến thí tiền khắc in Đại Tạng
Đại
Tạng chính là tùng lâm Bát Nhă, là kho tàng Chân Như, là biển
thẳm của hết thảy các pháp thế gian, xuất
thế gian. Toàn bộ đạo do chính đức Như
Lai rốt ráo chứng đắc, pháp sẵn có trong tâm của
chúng sanh và pháp rộng khắp mười phương thế
giới, tinh vi như nhân quả ba đời, cũng
như những đạo luân thường hiếu đễ
từ thiện thường ngày thảy đều xiển
dương, khen ngợi, chỉ dạy hoàn toàn chẳng sót
chút nào. Do vậy, bậc hoằng pháp đại sĩ không
ai chẳng lấy việc lưu thông Đại Tạng
làm nhiệm vụ cấp bách để hoằng pháp lợi
sanh.
Khắc Đại Tạng
Kinh khác với chỉ khắc một hai bộ kinh luận,
nhưng không được nói là công đức này lớn,
công đức kia nhỏ, pháp này thích đáng căn cơ,
pháp kia không thích đáng căn cơ. Ấy là v́ một Đại
Tạng giáo tuy có kinh, luật, luận, và những trước
thuật của Tây Trúc (Ấn Độ), phương này
(Trung Hoa), bộ loại khác biệt, số quyển vượt
quá vạn cuốn, nhưng đều là một bộ
Đại Tạng Kinh. Đă là một bộ sao có thể
chia xẻ cương vực, lầm lạc phân chia hơn
- kém? Ví như vạn con sông đổ vào biển cả
cùng một vị mặn, trăm hoa gom thành mật cùng một
vị ngọt. Cây cỏ tuy có lớn - nhỏ, nhưng ánh
nắng xuân trọn chẳng thiên vị; h́nh tướng
tuy rất khác biệt, nhưng gương sáng nào soi khác
nhau? Như xây tháp chín tầng, xếp gạch đá thành từng
bậc, công đức giống hệt như nhau. Như
đúc tượng Phật ngàn thước, nung vàng và đồng
trong cùng một ḷ, nào phân cao - thấp?
Chỉ nên do ngọn
t́m được gốc, há nên chấp nguồn bỏ gịng!
Bồ Tát độ sanh chẳng thấy tướng
người độ và kẻ được độ.
Bồ Tát hành bố thí chẳng chấp vào tướng Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. V́ thế, đắc nhất
tâm vô trụ, tam luân thể không, đạt được
phước đức bằng với mười
phương hư không, cùng một dạng rộng lớn
lâu dài. Giáo pháp Đại Tạng tuy có Đại, Tiểu,
Quyền, Thật, Thiên, Viên, Đốn, Tiệm, Hiển, Mật,
Chân, Tục, Thiền, Tịnh, Tánh, Tướng, đủ
mọi thứ bất đồng, nhưng tâm quang huyết
mạch cố nhiên đều dung hội quán thông, không một
điều ǵ trệ ngại. Ví như ngàn hạt châu
nơi cái lưới của Đế Thích, rọi bóng lẫn
nhau trùng trùng; như ngàn ngọn đèn trong điện Phật,
ánh sáng bao phủ lẫn nhau. Đàn-việt giúp khắc in
kinh chỉ [cần biết] là tiền bỏ ra chẳng uổng
phí, đừng hỏi khắc in những kinh ǵ, khiến
cho người đứng trông coi đỡ tốn tâm lực
và Đại Tạng mênh mông chóng được viên thành. Nếu
như có tâm phân biệt, lầm lạc sanh ḷng chọn lựa,
th́ ai nấy có ḷng ưa thích riêng, ắt đến nỗi
có loại được nhiều người nguyện khắc
trở thành trùng lặp, có loại th́ không ai phát tâm, thường
bị thiếu sót. Công đức tuy có, nhưng thong thả
hay gấp rút chẳng thích đáng, biết đến khi nào
toàn tạng mới được lưu thông?
Huống chi lúc này
người trông nom, giảo chánh, đối chiếu đều
đă có, duyên thù thắng ấy khó thể có lần nữa,
nỡ nào bỏ lỡ qua ư? Phải biết: V́ Thật
bày Quyền, Quyền ấy là Quyền đối với
Thật. Khai Quyền hiển Thật th́ Thật ấy là
Thật đối với Quyền vậy. Như Lai nói
kinh, Bồ Tát tạo luận, nếu không có chư tổ
sư Tây Trúc, phương này trước thuật, phụ
giúp khen ngợi th́ làm sao có thể lưu thông trong nước
ngoài nước măi cho đến nay chẳng suy phế
được?
Vả nữa, bậc
thế chủ trị quốc c̣n phải nhờ vào văn
vơ phù tá th́ mới được vạn dân ngưỡng mộ
đức, kiêng oai, nh́n vào gương sáng mà tự thay
đổi. Huống chi tam đức bí tạng do đức
Như Lai đă chứng, diệu lư Thật Tướng, nếu
bỏ đi những thứ phát huy tùy thuận cơ nghi của
cổ đức những ǵ tâm Phật đă chứng th́
chỉ có Phật và các vị Pháp Thân đại sĩ biết
được, c̣n những chúng sanh căn cơ kém cỏi
khác sẽ dựa vào đâu để biết được?
Nhờ vào đâu để chứng được? Do vậy,
biết rằng hơn một vạn quyển kinh trong
Đại Tạng đều là cùng một pháp, há có thể
phân biệt được sao? Mong rằng các đại
đàn-việt bỏ tiền của giúp khắc in đều
cùng dùng vô sở trụ để sanh tâm, chẳng trụ
vào pháp để hành bố thí th́ công đức chẳng thể
nghĩ bàn của Đại Tạng ai nấy đều
đạt được toàn phần. Như một vầng
trăng giữa trời hiện bóng khắp muôn sông, cùng một
tiết khí cả cơi đất đều là mùa Xuân.
5. Sớ
sáng lập chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân, tỉnh
Cát Lâm
Phật
pháp lưu thông, lợi ích vô lượng. Người căn
cơ thiên bẩm sâu sẽ đạt sâu xa, tức là có thể
minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng Chân. Người
căn cơ thiên bẩm nông cạn sẽ đạt
được nông cạn, cũng có thể cải ác tu thiện,
mong thành thánh, thành hiền. Ấy là do Như Lai lập giáo,
tuy chánh yếu v́ lẽ xuất thế, nhưng tùy thuận
cơ nghi nên khéo léo khuyên dụ dần dần. V́ thế,
đối với đạo xử thế cũng phát huy
trọn vẹn, chẳng sót mảy may điều ǵ. Gặp
cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh kính, em nhường,
chồng xướng, vợ theo. Phàm hết thảy đạo
luân thường hằng ngày trọn chẳng khác ǵ đạo
Nho đă dạy. Điểm khác biệt là trong mỗi pháp
đều dạy nhân quả ba đời, thiện ác báo ứng,
khiến cho con người giữ tấm ḷng kính sợ, chẳng
dám vượt phạm, dẫu ở trong nhà tối pḥng kín
vẫn thường như đối trước Phật,
trời. Dẫu là phường tham tàn bạo ác trọn
không có ḷng tin, nhưng do nghe chuyện nhân quả báo ứng
lâu ngày, tâm chúng cũng ngầm bị chế phục,
cũng chẳng đến nỗi mười phần tàn
khốc.
Xem thời
Liệt Quốc, giết người để tuẫn
táng, càng giết nhiều càng vinh. Đến khi Phật giáo
truyền sang Đông, phong tục này bèn bị diệt là
đủ thấy vậy! Thấm sâu vào con người, lợi
ích rộng lớn, ví như mặt trời sáng rực giữa
trời, dẫu kẻ mù từ lúc mới sanh vẫn đều
được an lạc; ánh dương xuân chiếu xuống
đất, mầm đă bị thiêu cũng được
sanh thành. Quả thật: “Nếu
Như Lai không xuất thế, vàn muôn đời như
đi trong đêm tối. Nếu Phật pháp lưu thông, trời
người đều có chỗ nương tựa”.
Giáo pháp truyền sang Đông Chấn[15] gần
hai ngàn năm, trong thời gian ấy những bậc thông
minh duệ trí, lập nên sự nghiệp ḷa trời rợp
đất, học thức thông trời thấu người,
tiết tháo át gió mây, không ai chẳng sùng phụng, hộ
tŕ, cực lực lưu thông, chẳng tiếc tiền của
lớn lao tạo dựng chùa tháp. Là v́ về mặt ngầm
th́ đạo Phật giúp cho việc trị đạo, về
mặt rơ ràng là làm cho dân t́nh được yên, khiến cho
dân ngày càng hướng về điều lành mà chẳng hay
biết duyên do. V́ thế, xưa nay những bậc lỗi
lạc không ai chẳng lưu thông Phật pháp để làm
nền tảng khiến thiên hạ thái b́nh, muôn nước
đều được yên ổn.
Thành phố Cáp Nhĩ
Tân tỉnh Cát Lâm hẻo lánh chốn biên thùy, xưa kia chỉ
là vùng đánh cá của Trung Hoa và Nga mà thôi! Từ khi
đường sắt được mở, bèn trở
thành một địa điểm giao thông trọng yếu
giữa Âu và Á, muôn thương nhân như mây tụ về,
các hăng la liệt như sao. So với Bắc Kinh, Thiên Tân,
Thượng Hải, Vũ Hán, không kém cạnh cho mấy!
Thế nhưng hoàn toàn chẳng có chùa, miếu, cao tăng
chẳng đến trụ tích[16],
kinh điển chưa lưu truyền, nhân dân không có duyên
để tu tập, bồi dưỡng. Cục trưởng
giám sát đường sắt Trung Đông là ông Trần Phi
Thanh, xưa đă gieo cội lành, dốc ḷng tin vào Phật
thừa, muốn khiến cho mọi người cùng sống
ở vùng Cáp Nhĩ Tân, Hắc Long Giang, đều
được tắm gội pháp hóa của Như Lai, nên bèn
hướng về cục quản trị đường
sắt Trung Đông, xin vài mẫu đất, muốn dựng
một tùng lâm thập phương, đặt tên là Cực
Lạc, ḥng hoằng truyền Phật pháp, giúp cho tín ngưỡng.
Những lănh tụ của hàng thân sĩ, thương nhân
như ông này, ông nọ, mấy mươi người không
ai chẳng có ḷng thành tựu cho ḿnh, thành tựu cho người,
dốc ḷng hành tự lợi, lợi tha, hiệp lực
giúp đỡ cho việc này mau được thành công. Quy
mô kiến trúc chùa đều phỏng theo quy cách những
ngôi đại tự trong nội địa. Pháp sư
Đàm Hư[17] bác học đa
văn, thông hiểu kinh giáo sâu xa, chí thiết tha hoằng
pháp lợi người, nên được mời làm Trụ
Tŕ. Mong sau khi chùa này được thành lập xong sẽ
giảng kinh suốt năm, ngơ hầu nhân sĩ đến
Cáp Nhĩ Tân đều biết đạo tu thân yên đời
và pháp liễu sanh thoát tử, kèm thêm mở liên xă, kế thừa
di phong của Lô Sơn, mở ra nơi chốn đọc
kinh, thấu hiểu tột cùng bí yếu tu tŕ.
Nhưng xây dựng từ
nơi đất trống và hoằng pháp lâu dài, sự thể
rất lớn, phí tổn rất nhiều. Do vậy, khẩn
thiết mong những bậc trưởng quan đang cai trị,
những phú thương, đại thân sĩ và hết thảy
hàng thiện tín, ai nấy đều phát Bồ Đề
tâm, hành phương tiện sự, mở kho báu, vun bồi
ruộng phước, quyên tiền góp gạo, lần lượt
khuyên bảo, quyên mộ, ngơ hầu điện báu mênh mông sớm
ngày thành tựu, măn nguyệt kim dung[18]
thường trụ bao kiếp, cao tăng đến
đây ở lại, kinh điển lưu thông, liên xă mở,
tông phong Tịnh Độ chấn hưng, kinh giáo được
tuyên giảng khiến cho thuyền bè [cứu độ] trong
biển khổ được tồn tại măi. Từ
đấy, con người cẩn thận tam nghiệp, nhà
nhà chăm lo Thập Thiện, đè nén hung tàn, bỏ giết
chóc, đồng chứng cảnh nhân từ, sống thọ,
tín nguyện niệm Phật, cùng sanh cơi Cực Lạc. Sẽ
thấy hàng thiện sĩ xuất tiền của thường
được Phật trời phù hộ, tai chướng ắt
băng tiêu, cát khánh (điều tốt lành, may mắn)
như mây nhóm, thân tâm yên vui, thanh thản, cửa nhà yên tịnh,
dư dật, sống lâu, mạnh khỏe, b́nh an, hiện
đời ngũ phước nườm nượp, chức
tước tăng cao, hậu duệ được hưởng
trăm điều lành như đă nói trong bài Y Huấn[19].
6. Sớ
duyên khởi thành lập liên xă chùa Di Đà tại Hàng Châu
Nhất niệm tâm tánh
của hết thảy chúng sanh và chư Phật
tương đồng, nhưng suy nghĩ, xử sự
hoàn toàn khác với chư Phật. Là do lẽ ǵ vậy? Ấy
là do mê tánh đức sẵn có, bèn lầm lạc xuôi theo trần
lao, khiến cho Giới - Định - Huệ không vướng
mắc vốn sẵn có trong tánh bị biến thành tham - sân
- si nhiễm ô nơi cảnh, tạo ra những chuyện
giết - trộm - dâm tranh chấp nơi sự. Do v́ lẽ
đó, luân hồi lục đạo, chịu các nỗi khổ
cùng cực trải kiếp dài lâu, không thể thoát
được. Đức Đại Giác Thế Tôn
thương xót, khởi Vô Duyên Từ, vận ḷng Bi Đồng
Thể, thị hiện sanh trong thế gian, thành Đẳng
Chánh Giác, thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng
kinh hơn ba trăm hội. Trong khoảng thời gian ấy,
do căn cơ [khác nhau] nên giáo pháp sai khác, pháp do duyên mà khác
biệt. Đại - Tiểu, Thiên - Viên, Quyền - Thật,
Tiệm - Đốn, khiến cho ai nấy tùy theo cơ nghi[20]
đều được lợi ích. Trong ấy, nếu cầu
lấy pháp độ khắp ba căn, gồm thâu lợi -
độn, hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít
được hiệu quả nhanh, chẳng đoạn Hoặc
nghiệp mà được dự vào Hải Hội, ngay
trong một đời này nhất định thoát khỏi
luân hồi, th́ không ǵ thù thắng siêu tuyệt bằng tín
nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Do vậy,
các kinh Đại Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v… các
đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền... các
đại tổ sư như Mă Minh, Long Thọ… đều
cực lực tán dương, khuyên khắp [mọi người]
văng sanh.
Đến khi đại
giáo truyền sang Đông, Viễn công đại sư ẩn
cư tại Lô Sơn, sáng lập Liên Xă, hoằng thông pháp
này. Thoạt đầu, lúc kết xă, cao tăng, đại
nho dự vào hội là một trăm hai mươi ba
người. Nếu tính suốt cuộc đời Ngài, th́
trong hơn ba mươi năm, những người gia nhập
liên xă niệm danh hiệu Phật được tiếp dẫn
văng sanh nhiều không biết bao nhiêu mà kể! Từ đấy
trở đi, đời đời có bậc cao nhân hoằng
dương Liên tông, dẫn dắt lợi lạc hàm thức.
Đầu đời Tống có Vĩnh Minh đại
sư trụ tŕ Tịnh Từ (chùa Tịnh Từ thoạt
đầu có tên là Vĩnh Minh), tu trọn
vạn thiện, riêng xưng tán Tịnh Độ. Ngài sợ
kẻ học chẳng biết cội nguồn của Phật
lực và tự lực bèn soạn Tứ Liệu Giản
để làm kim chỉ nam, ngơ hầu thượng trung hạ
căn dù thánh hay phàm đều có cái để noi theo. Nếu
không phải là Di Đà hóa thân, dễ đâu được
như vậy! Sau đấy có Tỉnh Thường pháp
sư, nhằm vào đời Tống Thái Tông và Tống Chân
Tông, trụ tŕ chùa Chiêu Khánh, hâm mộ di phong Lô Sơn, bèn kết
Tịnh Hạnh Liên Xă, mà ông Văn Chánh Công Vương
Đán là người quy y đầu tiên, trở thành
người đề xướng, hướng dẫn. Những
quan to chức cả, học sĩ, đại phu xưng là
đệ tử dự vào liên xă, hơn một trăm hai
mươi người. Hàng sa-môn có đến mấy ngàn,
c̣n những hạng thứ dân không thể ghi chép nổi.
Cuối đời
Minh, đại sư Liên Tŕ sau khi tham Thiền đại
ngộ, bèn tận lực tu Tịnh nghiệp, trùng hưng
chùa Vân Thê. Do pháp khế lư khế cơ không ǵ hơn được
Tịnh Độ nên Ngài bèn viết Di Đà Kinh Sớ Sao,
phát huy chỉ thú thật sâu. Tông phong Tịnh Độ
được chấn hưng lớn lao, suốt đời
Ngài bi kính song tu[21],
Sự - Lư bất nhị. Do vậy, gương cao đẹp
kiêng giết, phóng sanh, giúp kẻ côi cút, lợi lạc cơi âm
của Ngài được trong nước lẫn ngoài
nước kính ngưỡng suốt cả mấy trăm
năm. Trong thời Ung Chánh đời Thanh, Tỉnh Am pháp
sư trụ tŕ chùa Phạm Thiên[22],
hoằng dương xiển phát Tịnh Độ chẳng
tiếc sức. Bài Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn
của Ngài quả thật đă tranh sáng cùng nhật nguyệt,
thọ ngang với hư không.
Do vậy, tâm quang của
chư Tổ tỏa sáng, nhân sĩ Hàng Châu đa phần
đều tin tưởng, hướng về. Lại do
nước non xinh đẹp, cao nhân nẩy sanh đông
đảo, con người tụ hội đông đúc, nên
nhiều bậc tri thức trong pháp môn cũng đến ở
lại. V́ thế, pháp hóa hưng thạnh, trỗi hơn mọi
xứ. Địa linh nhân kiệt, pháp nhờ vào duyên mà
hưng khởi, ḷng tin chẳng phải là nói xuông. Đến
đầu thời Quang Tự, Ngọc Phong pháp sư sáng lập
chùa Di Đà để làm đạo tràng Tịnh Độ,
khoét núi khắc kinh, hoằng dương Tịnh Độ.
Tuy đạo đức chẳng dám sánh bằng chư tổ
như Vĩnh Minh, nhưng thệ nguyện hoằng thâm, lời
lẽ thống thiết, chẳng thẹn là bậc tạo
ảnh hưởng, dắt d́u trong Tịnh Độ, là bậc
tri thức trong pháp môn. Kế thừa quá khứ, chỉ dạy
tương lai, quả thật công lao ấy chẳng cạn
nhỏ.
Về sau, đất
nước lắm nỗi gian truân, không người trụ
tŕ, đến nỗi suy sụp sát đất. Mấy
năm gần đây, tầm mắt của mọi giới
được rộng mở, phàm những ai có chí học
thánh, học hiền không ai chẳng nghiên cứu Phật học,
tu tŕ Tịnh nghiệp. Những vị cư sĩ như
ông X…. chẳng nỡ để đạo tràng bị ch́m lấp
măi, cùng suy cử Trí Huệ pháp sư làm trụ tŕ, ngơ hầu
đề xướng Liên tông, lợi lạc khắp hết
thảy. Thầy Trí Huệ có tâm tự lập, lập
người, tự lợi, lợi tha, ngửa trông theo đường
lối tu tŕ trước kia, đặc biệt mở ra
liên xă. Mỗi tháng, vào sáu ngày chay, cử hành một lần.
Người có tín tâm đồng đến niệm Phật.
Niệm xong được một chốc bèn cung thỉnh
thầy Trí Huệ, hoặc những bậc tri thức khác,
hoặc hàng cư sĩ thông hiểu Phật pháp thăng ṭa
diễn giảng hết thảy lư sự trong pháp môn Tịnh
Độ, để cho ai nấy đều khắc phục
tập khí, tăng trưởng tín tâm, quả thật là một
việc tốt đẹp. Quang và thầy Trí Huệ chí
đồng đạo hợp, nên thầy bèn ủy thác
Quang trần thuật duyên khởi để khuyên hết thảy
đại chúng.
Thiền sư Trường
Lô Trách đời Tống, hâm mộ Lô Sơn liên xă nên lập
ra Liên Hoa Thắng Hội, trong mộng cảm được
hai vị Bồ Tát Phổ Hiền, Phổ Huệ xin
được ghi danh. Do đó, biết rằng hội này
được gọi là hội pháp thí tối thắng.
Phàm những ai nhập hội, đều phải gắng
công. Vả nữa, con người gần đây đa phần
chuộng hư danh, chẳng tu thật hạnh. Miệng
tuy niệm Phật, tâm trái nghịch Phật. Ví như thuốc
và chất kỵ thuốc đều uống hết, làm sao
lành bệnh cho được! Ắt phải niệm niệm
khắc phục, đối trị tập khí của chính
ḿnh, tâm tâm ức niệm hồng danh Di Đà. Phàm có những
ư niệm chẳng phù hợp với Phật th́ phải tự
trách rằng: “Ngươi là người niệm Phật cầu
sanh Tây Phương, sao lại khởi lên ư niệm ấy?”
Chánh niệm vừa khởi th́ tà niệm tự tiêu, quyết
chẳng cho nó tồn tại trong khoảnh khắc, phải
làm sao cho trong tâm sạch sẽ không tỳ vết, không nhơ
bẩn như tịnh lưu ly, bên trong đựng bảo
nguyệt. Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, tín nguyện tŕ danh, quyết định cầu
sanh th́ mới là người thật sự tu Tịnh Độ.
Nếu tâm có một niệm cầu phước báo trời
người trong đời sau th́ tuy tu tŕ tinh thuần vẫn
gọi là “trái nghịch Phật giáo”. Tuy gieo thiện
căn, nhưng liễu sanh thoát tử vẫn c̣n dài lâu lắm,
chẳng đáng buồn ư? Tuy đoạn này chẳng
ăn nhập ǵ đến duyên khởi, nhưng quả thật
là nghĩa lư tu tŕ trọng yếu, nên viết lẫn vào
đây!
7. Sớ trùng tu bảo tháp của Vinh Quốc Thiền Tự ở Nam Cao Phong, Hàng Châu (viết thay cho thầy trụ tŕ Chấn Cơ)
Đấng
Đại Giác Thế Tôn thương các chúng sanh mê mất
diệu tâm vốn có, luân hồi sanh tử, nên thị hiện
sanh trong thế gian, thành Đẳng Chánh Giác, tùy theo căn
tánh của chúng sanh mà nói diệu pháp, khiến cho mọi
loài hữu t́nh đều được lợi lạc.
Đến khi xong việc, bèn thị hiện diệt độ.
Lại do bi tâm vô tận nên đặc biệt nát toàn thân
thành tám hộc bốn đấu xá-lợi, phân bố trong
cơi trời, nhân gian, để làm nhân duyên vô thượng chẳng
thể nghĩ bàn bậc nhất cho chúng sanh vị lai
được diệt tội gieo phước, thoát ly luân
hồi, vượt thoát sanh tử cho đến thành Phật.
Do vậy, những ai có được xá-lợi Phật
không ai chẳng dựng tháp báu cao vút để cất giữ,
khiến cho cả ḿnh lẫn người, u lẫn hiển
cùng được tiêu túc nghiệp, cùng gieo thiện
căn.
Nam Cao Phong là danh sơn
thuộc Tỉnh Hội - một thị trấn lớn của
tỉnh Chiết Giang. Từ chân núi lên đến đỉnh
hơn một ngàn sáu trăm trượng, lên đỉnh
nh́n ra xa, Trường Giang như một dải thắt
lưng, Tây Hồ như cái chén. Nh́n trọn vẹn vẻ đẹp
của hồ lẫn núi, bậc khoát đạt ưa thích.
Đứng sóng đôi cùng ngọn Bắc Cao Phong, cách nhau
hơn mười dặm. Thế núi trùng điệp, quanh
co uốn lượn. H́nh thế núi cao ngất, lại hay
có mưa, nên trên đỉnh thường có mây phủ. Núi
cao ngất lẫn vào trong mây, có lúc lộ ra hai chóp núi, trông
xa như được cắm vào mây. Do đó, được
gọi là Song Phong Sáp Vân (hai ngọn núi cắm vào mây), là một
trong mười cảnh của Tây Hồ.
Trong niên hiệu Thiên
Phước (936-942) của nhà Thạch Tấn[23]
thời Ngũ Đại; khi ấy, Chiết Giang thuộc
về xứ Ngô Việt, có Phạm tăng từ Tây Trúc
đến đây, lên ngọn Nam Cao Phong, trông xa không ngằn
mé, bèn vui vẻ nói: “Nơi
đây có thể lập làm chỗ biểu hiện h́nh
tướng của đấng Đại Giác Thế Tôn
khiến cho những người trong bốn phương
dơi nh́n cùng gieo thiện căn”. Do đó, Sư bỏ ra một
viên xá-lợi, gởi cho vị tăng có đạo đức
trọng vọng là Đạo Viên, bẩm với quốc
chúa xứ Ngô Việt là Văn Mục Vương[24] lập
bảo tháp, cao bảy tầng, rộng mười trượng,
quy mô kiểu cách tinh diệu tuyệt luân. Dưới chân
tháp lập một ngôi chùa, đặt tên là Vinh Quốc, coi
việc xá-lợi của Như Lai truyền đến là
điều vinh dự, vui mừng cho đất nước.
Trải các triều Hán, Châu[25],
Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho đến ngày nay, đă tṛn một
ngàn năm, sửa cũ xây mới không phải chỉ một
lần.
Hiện thời bảo
tháp hư nát, chỉ c̣n một tầng, tự viện
đổ nát gần hết, mấy gian nhà nát không che
được mưa gió. Vị trụ tŕ trước
đây không chịu nổi khổ đă bỏ đi. Gần
đây, Chấn Cơ tôi đến làm trụ tŕ, hầu hạ
nhang đèn. Trộm nghĩ tiền nhân dựng tháp vốn
là để gieo phước cho quốc dân, nay đă hư
nát gần hết, nỡ nào để cổ tích mất
đi, làm tổn hại thắng cảnh Tây Hồ, bỏ
hoang ruộng phước của chúng sanh ư? Mắt nh́n
ḷng đau, chẳng thể yên tâm được! Tính khởi
công sửa chữa, tận lực trùng tu. Lại do cách kiến
tạo của tiền nhân khó thể tồn tại lâu dài,
nay không thể không suy nghĩ dự pḥng cẩn thận từ
trước. Ấy là v́ cổ nhân dựng tháp nhằm
để chứa xá-lợi của Như Lai, khiến cho kẻ
ở xa ngưỡng vọng, người ở gần lễ
bái đều trồng thiện căn, cùng được
giải thoát, nên bên trong tháp lại tạo đường
đi quanh co, uốn ṿng từ thấp dần lên cao cho
đến tận đỉnh. Bốn mặt đều trổ
cửa sổ để nh́n ra bốn phương, không ǵ
chẳng nhằm làm cho chúng sanh hiểu rơ “muốn đạt được Phật Quả,
th́ phải giẫm trên Thật Địa[26]; đoạn ác
tu thiện từ phàm đến thánh tăng tiến theo từng
bậc”. Thân đă Đăng Địa (dự vào những
địa vị thuộc Thập Địa) th́ mới tự
có thể vĩnh viễn đoạn phàm t́nh. Do vậy, thấy
thấu suốt chân không, nào khó chứng ngay vào Diệu Giác.
Nhưng do chính giữa trống rỗng nên tháp không kiên cố,
chẳng tồn tại lâu dài.
Thêm nữa, người
vô tri không biết chỗ dụng ư của cổ nhân,
thường cứ thích lên cao để nh́n ra xa, thành ra
khinh nhờn thật sâu, mắc tội chẳng cạn. Nay
dự tính bên trong tháp không lập đường đi, làm
toàn bộ tháp kín chắc, chính giữa dựng trụ sắt
để làm cái lơi cứng. Một là để khỏi bị
gió lốc, động đất xô đổ; hai là khỏi
mắc tội lỗi lên cao vui chơi. Như vậy th́ chỉ
được lợi ích, không bị tổn hại. Ắt
sẽ được Phật, trời chấp thuận,
được thiện tín tán thành vậy! Nhưng do công
tŕnh lớn lao, nếu không có hơn ba vạn đồng sẽ
chẳng thể hoàn thành được! Do vậy, cung kính
vẽ h́nh tháp, kính cẩn giăi bày ḷng ngu thành, khẩn cầu
các đàn-việt mười phương cảm ân đức
Phật, phát Bồ Đề tâm, mở rộng kho báu, vun bồi
phước điền, khiến cho bảo tháp ṿi vọi
lại được chọc trời, chúng sanh đông
đảo lại được ngắm nh́n pháp tướng,
diệt tội nghiệp trong quá khứ, gieo thiện
căn cho tương lai. Chỉ thấy Phật, trời
như mây che chở, tai chướng băng tiêu, thân tâm yên
vui, cửa nhà đón tiếp chuyện lành, tiền tŕnh thuận
theo cơi ḷng được xa rộng, quyết định
đạt được những điềm giàu, thọ,
khỏe mạnh, yên ổn, những điều mừng vui
đều dồi dào, đức không ngằn mé, vĩnh viễn
hưởng phước quyền cao chức cả.
8. Sớ
mộ duyên làm đàn thủy lục vạn niên ở Phật
Đảnh Sơn
(Đây là phần dẫn khởi, phần sau tŕnh bày sự việc, lược đi, không sao lục)
Trộm
nghĩ ḷng Từ vô duyên mới độ được hạng
vô duyên, việc phi thường ắt phải đợi
người phi thường. Truy nguyên, duyên khởi Thủy
Lục là do đức Quán Âm hành phương tiện khéo,
hiện tướng Diện Nhiên để nhắc nhở
A Nan cầu xin đức Như Lai nói thần chú bí mật,
khiến cho tất cả kẻ đói khát đều
được no đủ, khiến cho tất cả loài
quỷ, hữu t́nh trong địa ngục đều
được sanh lên trời hay vào nhân gian. Đến khi
đại giáo từ phương Tây truyền sang,
Lương Vơ Đế lên ngôi vua, kiền thành tu tŕ trai giới,
cảm thông u minh, mộng thấy cô hồn đến cầu
xin cứu độ, bèn lập pháp để cầu siêu cứu
độ, rộng thỉnh cao tăng trong Thiền, Giáo,
xem khắp các áo điển Hiển - Mật, vận dụng
tài thi văn, soạn ra văn Thủy Lục, cậy vào
chân thuyên của Tam Thừa Tam Mật[27], nương
theo oai lực của vạn đức vạn linh để
tiêu tan Hoặc nghiệp, diệt trừ tội khiên.
Như sương mỏng phơi trước mặt trời
rạng rỡ, khác nào mảnh tuyết rớt vào ḷ to, lợi
ích khó nêu, công huân khôn lường. Những kẻ thiện
căn từ những kiếp trước [nay đă] chín muồi
liền bỏ cơi khổ mau siêu về lạc bang, dẫu
cho căn cơ từ đời trước hăy c̣n sống
sít vẫn được thăng lên cơi trời người,
vĩnh viễn ĺa khỏi địa ngục, ngạ quỷ.
Do vậy, đương thời cầu Phật chứng
minh, ngọn đuốc này tàn bèn tự nhiên có ngọn
đuốc khác tiếp nối. Đời sau, y theo khoa nghi
này làm khuôn phép để siêu tiến cha mẹ th́ cha mẹ
liền được độ thoát.
9. Sớ
quyên mộ tu bổ điện đường, tăng
pḥng và vét ao phóng sanh của chùa Di Đà, núi Thạch Kinh,
Hàng Châu
Danh lam thắng
cảnh trong thiên hạ được truyền rộng
trong vũ trụ th́ trước hết phải có chỗ,
rồi sau đó là có được người th́ tên tuổi
mới bắt đầu [nổi lên được]. Chỗ
đất thù thắng ấy, ngọn núi nổi tiếng ấy
thoạt đầu phải nhờ vào bậc cao nhân đủ
đức có thể làm gương cho hiện tại,
tương lai, khiến cho người ta mơ tưởng
tới, sanh ḷng kính ngưỡng. Như Lô Sơn nổi tiếng
nhờ Viễn Công, Vân Thê được trọng vọng
bởi ngài Liên Tŕ. Non nước Chiết Giang đứng
đầu thiên hạ, nơi ấy thường được
gọi là “Phật quốc”. Cao nhân, triết sĩ nối
tiếp nhau xuất hiện, đúng là “hễ địa linh ắt có nhân kiệt”.
Trong niên hiệu Đồng
Trị (1862-1874) đời Thanh, Diệu Nhiên pháp sư
chuyên tu Tịnh nghiệp. Do thấy kinh Di Đà độ
khắp ba căn, quả thật là nghĩa trọng yếu
quy túc của kinh Hoa Nghiêm, mà cũng là thuyền từ tối
thắng trong đời Mạt Pháp, nên Ngài tính tạc vào
đá núi để kinh được lưu truyền
vĩnh cửu, ngơ hầu những ai thấy nghe trong hiện
tại hoặc tương lai đều gieo căn lành, nẩy
sanh chánh tín, tu Tịnh nghiệp văng sanh Tây Phương. Nhân
thấy khoảnh đất trồng cây tùng phía Bắc
thành ấy, vách đá chót vót, chất đá cứng rắn,
bèn mua khu đất đó, thuê thợ đục chạm, mời
người viết chữ đẹp là cư sĩ Trầm
Thiện Đăng[28]
đến viết.
Cư sĩ bèn lên núi
Đặng Úy[29],
trước hết thỉnh bốn vị đạo hữu
phát Bồ Đề tâm ngày đêm niệm Phật để
gia tŕ, chính ḿnh buông xuống vạn duyên, trai giới, tắm
gội, kính cẩn viết. Cứ hễ viết một chữ
th́ trước đó lễ Phật ba lạy, tŕ Phật
hiệu 108 lần, kết ấn tŕ chú Uế Tích Kim Cang[30] bảy
lần, quỳ gối viết. Ngoài việc viết kinh ra,
chỉ lắng ḷng niệm Phật, chẳng bận tâm
đến chuyện ǵ khác. Do công đức Phật lực,
pháp lực gia tŕ này mong hết thảy mọi người
hiện tại hoặc trong vị lai nếu thấy hay
nghe đều phát đại tâm Bồ Đề, mau thoát
khỏi Sa Bà uế khổ. Năm mươi ba ngày như
thế, hơn một ngàn tám trăm chữ mới viết
xong. Chữ lớn độ mấy tấc, sắc sảo[31],
cứng cáp, tṛn đầy, tươi đẹp, thật
là hy hữu.
Thầy Diệu Nhiên
bèn cho khắc đá, đục sâu xuống tám phân, hằng
ngày tŕ Phật hiệu để gia tŕ. Việc c̣n chưa
xong, Sư bèn quy Tây, bạn của Sư là hai vị pháp
sư Ngọc Phong và Thành Phương vốn đă giúp
đỡ từ trước, đến nay bèn tận lực
lo liệu. Kinh khắc trên đá xong xuôi, dùng vàng trang hoàng.
Phàm những ai trông thấy, không ai không nghiêm trang cung kính,
sanh ư tưởng hy hữu nên công đức của toàn bản
kinh cố nhiên đă in vào trong tám thức điền, tạo
thành chủng tử văng sanh Tây Phương rốt ráo thành
Phật trong vị lai. Như vậy là lấy Phật lực,
pháp lực và tâm lực của ba vị pháp sư và Trầm
cư sĩ làm tăng thượng duyên để hiển
phát công đức sẵn có nơi tánh của người
thấy, kẻ nghe, khiến cho họ cuối cùng
được thọ dụng. Do vậy, các đàn-việt
thảy đều hoan hỷ, trước hết đua
nhau cúng vàng, nên Phật điện, pḥng Tăng mỗi mỗi
đều được hoàn chỉnh, nghiễm nhiên trở
thành một đại đạo tràng chuyên tu Tịnh nghiệp,
chẳng phải là “đất
do người tạo thành” hay sao? Ngoài cửa tam quan,
đào ao để thả các loài động vật thủy
tộc, kế thừa hạnh từ bi của các vị
Vân Thê, Thiên Thai, khiến cho những loài sắp phải vào
chảo vạc để thỏa bụng miệng con
người đều được bơi lội trong ấy,
được sống hết tuổi trời. Đấy
chính là sách lược tốt đẹp cao cả nhất
để dứt đao binh, ngưng sát kiếp vậy!
Từ khi kiến lập
cho đến nay đă hơn năm mươi năm đều
theo quy củ đă định, không tu sửa ǵ thêm. Mấy
năm gần đây, trụ tŕ tài lực bạc nhược,
khá khó khăn. Đă không có điền sản để
trang trải những nhu cầu của thường trụ,
lại không có đạo đức để cảm
đàn-việt tin tưởng cúng dường; đạo
tràng này gần như diệt mất. Các cư sĩ lo lắng,
mùa Thu năm ngoái ép pháp sư Trí Huệ làm trụ tŕ. Sư
riêng mở liên xă để nối nghiệp ngài Ngọc
Phong, mong cho tứ chúng cùng niệm Di Đà, cùng cầu văng
sanh. Lại c̣n chuyển hóa hết thảy đều cùng từ
tạ ngũ trược, cùng lên chín phẩm mới thôi.
Điện đường,
liêu xá đă hơn năm mươi năm chưa từng
tu bổ. Lại thêm, mùa Hạ năm nay có tai nạn gió lốc,
nhiều chỗ bị hư sụp, đổ nát. Nếu
không sửa ngay, lâu ngày sẽ khó đủ sức. Đă thế,
ao phóng sanh nhiều năm không nạo vét, bùn lầy đầy
ứ, gây trở ngại lớn cho việc phóng sanh nên tính
khơi đào, nạo vét cho rộng hơn. Phía ngoài dựng
lan can vây quanh để ǵn giữ, ngơ hầu có chỗ phóng
sanh, mà kẻ đánh bắt trộm cũng không làm ǵ
được, khiến cho ḷng từ bi bố thí của
Lưu Thủy[32],
Trí Giả, Từ Vân, Liên Tŕ vĩnh viễn không bị mất
đi. Đấy chẳng phải chỉ hoàn toàn v́ sanh mạng
loài vật mà quả thật là c̣n muốn khơi gợi
ḷng nhân từ trong đời.
Nếu như con
người ai nấy đều không giết, th́ thế
đạo chẳng thái b́nh hay sao? Nhưng do công tŕnh lớn
lao, phí tổn thật nhiều, nên cậy Quang viết sớ,
khẩn cầu khắp các đại đàn-việt, ai nấy
phát tâm Bồ Đề, cùng trồng nghiệp xuất thế,
bỏ ra một giọt nước trong biển báu, để
tạo thành cảnh phạm vũ trang nghiêm. Phải biết:
Vừa khởi công xây cất Kỳ Viên, cung điện
trên thiên giới đă hiện[33].
Phật niệm vừa phát khởi, hoa sen trong Tịnh
Độ liền mọc. Những con cá được
ngài Lưu Thủy cứu vớt, đă trở thành mười
ngàn vị thiên tử. Những con vật được
ngài Trí Giả thả, đa phần là vương thần
ngoài biển Đông. Xưa đă như thế, nay há chẳng
vậy? Do nhân như thế, cảm quả như thế.
Nếu chẳng tiếc của quư báu là tài sản chung của
năm nhà[34] để thành tựu
sự nghiệp thù thắng hưng long Tam Bảo, ắt thấy
đời này vĩnh viễn hưởng nhiều phước,
lâm chung cao đăng chín phẩm, ngơ hầu phô bày trọn
vẹn Phật tánh sẵn có, mau chứng Vô Thượng Bồ
Đề.
10. Sớ
quyên mộ xây bến thuyền cho Phổ Đà Sơn
Quán Âm
đại sĩ thệ nguyện hoằng thâm, tế độ
không ngằn mé, là chốn nương náu không lường,
trọn chẳng phan duyên mà ứng hóa đến với mọi
chúng sanh cơ cảm. Như một vầng trăng in bóng
khắp ngàn con sông, trụ trong Chân Tế nhưng ứng khắp
quần cơ, như ánh nắng Xuân tăng trưởng khắp
muôn cây cỏ. Vận ḷng Bi đồng thể, khởi ḷng
Từ vô duyên, theo tiếng cứu khổ, hiện thân ứng
hóa mọi chốn, tùy theo từng loài mà hiện h́nh, nơi
nơi làm bậc chỉ đường trong nẻo mê. Ân bủa
khắp muôn loài, thấm nhuần muôn dân, mong hàm thức tự
thấy được bầu trời chân tánh. V́ thế,
không cơi nào Ngài chẳng ứng hiện theo ḷng cảm. Bởi
muốn cho chúng sanh có chỗ gieo ḷng thành nên đặc biệt
ứng tích nơi Phổ Đà. Do vậy, bao triều đại
khâm kính, cả cơi đời tôn sùng. Điện Phật, lầu
kinh cao ngất tầng mây, văn chương trác tuyệt
huy hoàng trong chốn biển cả. Theo phẩm Nhập Pháp
Giới trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử
đi về Nam tham học [với vị thiện tri thức]
thứ hai mươi tám, tham học với Quán Thế Âm Bồ
Tát ở Bổ Đát Lạc Ca[35],
chính là núi này vậy.
Xưa kia, khi đại
giáo chưa truyền sang, đạo tràng chưa mở, tuy
phàm tục chưa đích thân thấy được từ
dung, nhưng chân tiên cố nhiên thường chiêm ngưỡng
Phật nhật. V́ thế, ông An Kỳ Sinh đời Tần,
ông Mai Tử Chân đời Hán, ông Cát Trĩ Xuyên đời
Tấn[36] đều sống
nhờ núi này để tu chân dưỡng đạo. Đến
đời Châu Lương[37] khai
sơn, tứ chúng mới biết quy hướng. Tâm báo
đức thiết tha, chẳng sợ nhọc nhằn trèo
núi, vượt biển. Do gieo ḷng thành ân cần, cho nên phải
thể hiện ḷng cung kính bằng cách chiêm ngưỡng
thánh tượng, lễ dưới chân Phật. Nhưng do
thuyền to chưa có bến, thường phải dùng thuyền
nhỏ để đón vào bờ, hễ hơi có chút sóng
gió bèn thành ra rất nguy hiểm. Người trẻ mạnh
c̣n được, chứ người già yếu, phụ nữ
thật rất đáng lo. Do vậy, không tu bổ bến
thuyền th́ quả thật là một chuyện đáng tiếc
lớn đối với tâm từ bi của Đại
Sĩ, mà cũng là chuyện thiếu sót lớn lao trong việc
báo đáp thiện tín.
Hễ gió lớn vừa
dậy th́ sóng dữ ào ạt, đá to mấy vạn cân
khác nào viên thuốc bị xoay vần. Nếu chẳng bỏ
vốn liếng lớn lao, quyết chẳng thể tồn
tại lâu dài, không bị hư hoại được! Do vậy,
gần đây nhiều người phát tâm nhưng vẫn
chưa thể thực hiện v́ phí tổn quá lớn lao, sợ
rằng chẳng tồn tại lâu dài th́ uổng phí tiền
của, uổng công nhọc nhằn tâm lực. Vị đại
hộ pháp là ông Chúc Lan Phưởng và con là Y Tài, nhiệt
tâm làm chuyện ích lợi chung, lại c̣n dốc ḷng tin
nơi Tam Bảo, thấy t́nh h́nh này ḷng thương xót,
phát Bồ Đề tâm, tuy biết chẳng dễ tạo
dựng, nhưng cứ muốn thực hiện chuyện
này. Nếu không mang ḷng tự lợi, lợi tha của
đức Như Lai, mang tâm tự lập, lập người
của Khổng Tử há có thể dũng mănh, kiên nghị
như vậy ư?
Nhưng công đức
này nào phải chỉ có mấy mươi vạn đồng
nên sức họ không lo liệu được hết.
Không những do sức ḿnh chẳng đủ, mà c̣n v́ muốn
cho người khác cùng làm lành nên mới ủy thác cho Quang
tŕnh bày duyên khởi. Quang sống ở núi này đă nhiều
năm biết rơ việc này khó khăn, lại may là ông Chúc có
chí làm lợi cho người, đứng ra đề
xướng, ắt sẽ có những người có tâm lực,
tài lực giống như ông Chúc đua nhau phụ họa. Mọi
người dốc chí sẽ thành, khó ǵ chẳng thành tựu?
Huống nữa khắp
tứ chúng cùng kết tâm báo ân chí thành, khế hợp nguyện
lực từ bi của Đại Sĩ, sẽ thấy Hải
Nhược, Phong Bá[38]
cũng trên là tuân theo thánh ư, dưới là thuận phàm t́nh nên
thường ủng hộ, khiến cho vĩnh viễn
không c̣n phải lo lắng nữa. Ngơ hầu sau này những
người đến lễ Đại Sĩ khỏi bị
lo lắng không đáng, yên ổn lên được bờ
kia. Kinh dạy: “Nếu làm cho
chúng sanh sanh tâm hoan hỷ th́ chính là làm cho hết thảy
Như Lai hoan hỷ”. V́ thế, biết rằng: Dùng một
câu, hoặc dùng một đồng tán thành chuyện này, th́
hết thảy chư Phật đều cùng hoan hỷ, huống
chi c̣n làm nhiều hơn nữa! Nếu chỉ luận về
công đức tối thiểu th́ ví như một giọt
nước, gieo vào trong biển cả, sẽ rộng sâu,
dài lâu hệt như biển cả. Nếu nhiều hơn
th́ cần ǵ phải luận nữa! Nay hăy dốc ḷng
đem tịnh tài gieo vào biển giác th́ biển khổ ắt
sẽ khô cạn, biển phước rộng sâu, cho đến
khi nào biển giác tṛn đầy, lặng trong mới thôi.
Khẩn cầu những người vào núi báu chớ trở
về tay không; người được tắm gội
nơi pháp phải dốc ḷng báo ân Phật!
11. Sớ
quyên mộ tu bổ điện Tam Thánh chùa Thượng
Phương Quảng núi Thiên Thai
Thiên Thai
là đệ nhất danh sơn vùng Đông Nam, Thượng
Phương Quảng chính là cổ tự khai sơn bậc
nhất của Thiên Thai. Truy nguyên, kể từ khi tôn giả
Đàm Du đời Tấn[39]
dùng thần thông đạo lực hàng phục sơn thần,
khai sơn dựng nên chùa này. Thoạt đầu chùa có tên
là Thạch Kiều Tự, do chùa ở gần bên cầu
đá. Qua khỏi cầu đá có chùa Phương Quảng,
tức là thánh tự của năm trăm bậc Ứng Chân
ở nhờ. Nếu không phải là bậc Ứng Chân gần
đạo sẽ không thể thấy được. Ngài
Đàm Du từng vào chùa này, thọ trai rồi ra, biết
đó là sự thị hiện vô ngại của các vị Ứng
Chân. Về sau, do hâm mộ thắng tích của những bậc
Ứng Chân bèn gọi chùa Thạch Kiều là Phương Quảng.
Chỗ cao nhất trong
chùa Phương Quảng là điện Tây Phương Tam
Thánh, trước kia là Niệm Phật Đường, ba
gian chánh điện thờ tượng Tam Thánh, để
làm chỗ lễ niệm. Hai gian hai bên dùng làm chỗ an trụ
cho những vị Tăng niệm Phật. Trộm nghĩ
pháp môn vô lượng, đều phải đoạn hết
Kiến Hoặc mới có thể liễu sanh thoát tử, chỉ
riêng pháp Niệm Phật chỉ cần đầy đủ
ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha th́ đều có thể
nương vào Phật từ lực văng sanh Tây
Phương. Do vậy, những bậc cao nhân lỗi lạc
xưa nay không vị nào chẳng chú trọng pháp này, tự
hành, dạy người, ngơ hầu hết thảy đồng
nhân đều được siêu phàm nhập thánh ngay trong
một đời này.
Điện Tam Thánh của
chùa Phương Quảng trải qua năm tháng lâu xa, rường
cột mục nát, lẽ ra phải trùng tu từ lâu, hiềm
rằng trụ tŕ không đủ tài lực, đành phải
đợi thời cơ. Đầu tháng Ba năm nay, có một
vị khách Tăng đến trụ nơi đó niệm
Phật, khá là siêng năng, khẩn thiết, đến
đêm mồng Bốn tháng Tư tự thiêu thân nơi
điện Tam Thánh. Đến khi mọi người trong
chùa biết được th́ ngọn lửa đă cháy to,
không cách ǵ cứu chữa được. Nhưng may là chỉ
cháy nơi ấy, những nơi khác không bị ảnh
hưởng. Không biết có phải là vị Tăng ấy
muốn sửa mới điện ấy nên làm như vậy?
Hay là những vị linh thiêng nơi núi ấy muốn tu bổ
chùa nên mới xui khiến vị Tăng ấy làm như vậy?
Hay là Phật, Bồ Tát, năm trăm vị Ứng Chân muốn
hoằng dương pháp môn Tịnh Độ lớn lao
để hết thảy các thiện tín bỏ tiền của
giúp trùng tu, cùng nhờ vào thiện căn này thoát khỏi cơi
khổ Sa Bà, sanh về Cực Lạc thế giới, mà xui
khiến vị Tăng ấy làm như thế?
Nay Trụ Tŕ muốn
trùng tu, nhờ Quang viết sớ, thuật chuyện khai
sơn dựng chùa và chuyện điện ấy đáng lẽ
phải được trùng tu từ lâu, gặp nhân duyên
này, bèn mong hết thảy đàn-việt nghĩ đến
chỗ mầu nhiệm khế lư khế cơ của pháp
môn Tịnh Độ, ḷng thành v́ pháp tổn thân của vị
Tăng ấy, ai nấy đều bỏ ra tịnh tài giúp
cho công việc thù thắng này. Công đức ấy chỉ
có Phật mới có thể biết được!
12. Sớ quyên mộ tu bổ đại điện Bán Sơn Am ở Phổ Đà Sơn (soạn giùm)
Viên Thông
đại sĩ lưu dấu nơi Phổ Đà, thệ
nguyện không ngằn mé, từ bi khôn lường, hoàn toàn
không phan duyên mà ứng hiện khắp cả, như một
vầng trăng in bóng nơi ngàn con sông, trụ nơi Chân Tế
nhưng ứng khắp quần cơ, như một trận
mưa thấm khắp vạn loài thảo mộc. Bán
Sơn Am là chùa phụ của chùa Pháp Vũ, là biệt viện
của Đại Sĩ. Trống khuya chuông sớm, tiếp
nối nhịp điệu trong trẻo của chùa Phổ
Tế, cầm cành hoa phe phẩy, ngưỡng thừa tông
phong chùa Pháp Vũ, phù tá hai chùa, hoằng xiển Nhất Thừa.
Do vậy, mới gọi tên là Bán Sơn (lưng chừng
núi). Kể từ khi sáng lập đến nay, trải
năm tháng đă lâu, sửa cũ dựng mới đời
nào cũng có người. Đến nay, mưa dầm, nắng
hun, sương ngấm, mây chưng, gần muốn sụp
đổ, cần phải sửa chữa gấp. Nạp
tăng xuất gia nơi viện ấy, tham phỏng khắp
các phương, một buổi nọ đi rách cả giày
cỏ, gót chân bết đất. Do vậy, biết mệt
quay về, quên duyên vui đạo, hưởng gió trăng
nơi cố hương, giữ ǵn môn đ́nh của Biệt
Am. Trông thấy h́nh thế của chùa nhức mắt
đau ḷng, thường sợ kim dung khuất sắc, không
tỏ lộ ánh sáng trong tam thiên. Phổ Môn cửa gài, khó thể
làm đường nẻo cho hai mươi lăm [pháp Viên
Thông].
Muốn triệt để
thay đổi để khôi phục diện mạo sẵn
có của chùa, hiềm rằng phí tổn lớn lao, bát rỗng,
túi không, toan giăi bày tấm ḷng thành hèn kém, quyên mộ khắp
các đàn-việt, khẩn khoản mong hăy phát Bồ Đề
tâm, hành phương tiện sự, bỏ ra của quư báu sẵn
có trong nhà để vun bồi công đức chẳng mục
nát. Lượng sức tùy duyên, thí tiền quyên thóc, ngơ hầu
điện báu thênh thang sớm có ngày thành tựu, măn nguyệt
kim dung thường trụ cả kiếp. Khiến cho hàng
truy tố nam tham[40],
phường Tăng tục đông thỉnh vào cửa quy mạng,
trông thấy h́nh tướng bèn phát tâm, hiểu rơ các tướng
ĺa tướng, đích thân chứng diệu tướng Thật
Tướng. Môn nào cũng đều là Phổ Môn, vào thẳng
pháp môn Vô Môn. Mở mang phong thái huyền diệu vượt
ngoài cả kiếp, giúp cho sự b́nh trị trong cả
vũ trụ. Công đức lợi ích ấy há có thể
h́nh dung bằng ngôn ngữ, văn tự được nổi
ư?
13. Sớ quyên mộ thiết lập đại đạo tràng Phổ Môn Vô Giá[41] Phổ Độ Thắng Hội (viết giùm)
Quán Âm Đại
Sĩ nương đại nguyện luân, độ thoát
chúng sanh, gọi là Phổ Môn v́ pháp nào, sự nào cũng đều
quy về Thật Tướng, [do từ] căn nào, trần
nào cũng đều chứng Viên Thông, chẳng có pháp nào
không thông Niết Bàn, do vậy gọi là Phổ Môn. Lại
khiến cho thượng trung hạ căn đều theo
đường trở về nhà, thiện, ác, hay trung dung[42],
không ai chẳng được b́nh đẳng nhiếp thọ.
Không một ai Bồ Tát chẳng rủ ḷng từ cứu vớt,
nên gọi là Phổ Môn. Nhưng do chúng sanh ở trong mê,
đối với những cảnh Căn, Trần v.v… lầm
lạc khởi Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp chịu
khổ, trải bao kiếp lâu xa, trọn chẳng có lúc ra.
Do vậy, thiên tai nhân họa càng ngày càng nổi lên, thủy,
hỏa, đao binh, liên tiếp xảy ra. Há phải đâu
trời đối xử hung cuồng, bạo ngược
với dân, mà là do nghiệp xưa của dân chiêu cảm!
Nếu không quy mạng
Đại Sĩ th́ khổ quả lại sanh ra khổ
nhân. Nếu khẩn cầu nơi ṭa sen th́ do thiện duyên
sẽ đạt thiện báo. Trộm nghĩ vùng chúng ta mấy
năm gần đây nhiều lượt bị ôn dịch,
lại trải qua nạn đao binh, lại gặp nạn
động đất, lụt lội, hạn hán, châu chấu,
sâu rầy th́nh ĺnh xảy ra. Do mấy lẽ ấy, người
nghèo túng đến nỗi phải chết đói thật rất
nhiều. Dẫu có kẻ may mắn tránh khỏi chưa bị
tổn thương, cũng vẫn hoảng sợ, kinh hăi,
như nuốt phải gai, như ngồi trên đệm kim,
ôm nỗi đau đớn, không cách nào than van.
Những vị tên X….
do vậy kính cẩn phát ḷng kiền thành, quy mạng Từ
Phụ, mong diệt được tội khiên quá khứ,
bồi đắp sẵn nền phước cho
tương lai. Tính trong năm đó, tháng đó, sẽ thiết
lập đại đạo tràng phổ độ thù thắng
Phổ Môn Vô Già bảy ngày bảy đêm tại Pháp Vũ
Thiền Tự ở Phổ Đà Sơn. Nhờ nhân tốt
đẹp ấy, người mất sẽ được
Phật tiếp dẫn, thần thức siêu sanh về cơi
trời Cực Lạc, người c̣n sống sẽ
được tắm gội oai lực của pháp, thân
hưởng phước khang ninh, túc nghiệp tiêu, đều
được giải thoát, mưu cầu mọi chuyện
thuận lợi hanh thông, chuyển phiền năo bức bách
thành tiêu dao tự tại, cha mẹ ông bà đă khuất ai nấy
đều được siêu thăng, con cháu đời
sau của mọi người thường hưởng cát
khánh. Chỉ v́ đạo tràng này phí tổn rất nhiều,
khẩn cầu những vị thiện tín trong ấp ta
cùng phát thiện tâm, cùng giúp cho sự thù thắng th́ công
đức vô lượng vậy.
14. Sớ
khuyên đóng góp cho viện tàn tật ở Thượng Hải
Hết
thảy chúng sanh tâm tánh vốn đồng, nhưng thân tâm
thọ dụng, khổ -vui khác biệt vời vợi là do
đời trước tu tŕ không giống nhau nên đến
đời này cảm báo khác biệt. V́ thế, kinh dạy:
“Dục tri tiền thế nhân,
kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả,
kim sanh tác giả thị” (Tạm dịch: Muốn biết
nhân đời trước th́ [hăy nh́n vào] những ǵ phải
hưởng trong đời này. Muốn biết quả
trong đời sau, hăy nh́n vào những ǵ đang làm trong
đời này). Sách Cảm Ứng Thiên nói: “Họa phước không cửa, chỉ do con người
tự chuốc lấy. Thiện báo, ác báo như bóng theo
h́nh. Do vậy, người quân tử vui theo mạng trời,
chẳng oán chẳng hờn, chỉ tu đức ḿnh. Chỉ
cầu nhiều phước để mong tiêu diệt nghiệp
cũ, vun bồi quả báo cho tương lai”.
Kẻ đáng
thương xót nhất trong cơi đời không ǵ bằng kẻ
bần cùng không cơm áo, mù ḷa, tàn tật. Cùng là con người,
người ta mắt sáng, thấy rơ hết thảy, c̣n những
kẻ ấy tuy cùng ở dưới ánh sáng mặt trời
rực rỡ, khác ǵ ở trong nhà tối, hang thẳm.
Người ta ai cũng tay chân vẹn toàn, tùy ư làm lụng,
c̣n họ chi thể tàn khuyết, chuyện ǵ cũng bất
tiện. Người như vậy lại c̣n không có gia
đ́nh để nương thân, không cơm áo để
nuôi mạng. Bọn họ cùng do cha trời mẹ đất
sanh ra, dĩ nhiên họ là ruột thịt của chúng ta.
Chúng ta may được cha trời mẹ đất che chở,
cảnh ngộ c̣n khá hơn một chút. Nếu chẳng lập
phương cách khiến cho thân họ có chỗ gởi gắm,
tâm có chỗ nương tựa, ngơ hầu túc nghiệp tiêu
diệt, quả báo đời sau thắng diệu, th́ là đă
đánh mất cái tâm sanh trưởng b́nh đẳng của
cha trời mẹ đất, lại c̣n phụ bạc ư niệm
cha trời mẹ đất đă ban phước lạc,
an vui cho chúng ta. Huống hồ rộng thí giúp đỡ mọi
người, yên già, lo trẻ, xem dân như người
thân, thi ân chẳng nói, cổ thánh tiên hiền không vị nào
chẳng đề xướng tận lực thực hành
để hậu thế noi theo. Há có nên chẳng thấu hiểu
tâm của thiên địa hiền thánh để hành cái
đạo “dùng ḷng nhân đối xử với mọi
người”, lại coi thường gạt qua một bên
ư?
Do vậy, Nhất Hanh
Vương cư sĩ riêng phát đại tâm, tụ họp
những người cùng chí hướng, lập ra viện
tàn tật ở vùng phụ cận trạm xe phía Nam Thượng
Hải, cho những người tàn tật không có nhà cửa
để quay về ấy được sống yên trong
đó, được chu cấp cơm áo cho đến hết
đời. Với những người chân tay chẳng vẹn
toàn, sẽ phái người chăm sóc. Những người
có mắt để nh́n, có tay làm lụng được,
bèn tùy theo khả năng của người ấy, cho làm
các nghề nghiệp để bù đắp đôi chút vào
chi phí. Lại thỉnh người thông đạt Phật
pháp, cách vài ngày đến đó v́ họ diễn nói pháp sửa
lỗi hướng thiện, dứt ḷng tà, giữ ḷng
thành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương, ngơ hầu bọn họ hiểu rơ tiền
nhân hậu quả, quyết tu đức ḿnh, nhất tâm niệm
Phật để cầu văng sanh ḥng vĩnh viễn ĺa khỏi
cái khổ sanh tử luân hồi trong Sa Bà, thường
hưởng niềm vui thường - lạc - ngă - tịnh
nơi Tịnh Độ. V́ những người ấy lo
toan có thể nói là khẩn thiết, châu đáo đến mức
cùng cực không chi hơn được nữa! Nhưng số
người th́ đông, chi phí quả thật rất nhiều,
hoàn toàn cậy vào những người giàu có cùng phát ḷng Bi Đồng
Thể, quyên ra vô tận bảo tạng giúp cho nỗi lo lắng
sanh thành dưỡng dục của thiên địa, bồi
đắp Pháp Thân trang nghiêm của chính ḿnh th́ thật là
may mắn lắm thay!
15. Sớ
quyên mộ tu bổ Cảnh Đức Thiền Tự núi
La Hán, Vĩnh Gia
Phật
pháp thâm diệu, phàm t́nh chẳng thể suy lường
được nổi. Nếu chẳng phải là thánh nhân
có đại trí huệ, đại biện tài, đại
thần thông mà muốn giáo hóa, dẫn dắt kẻ ngu tục
cùng hướng về chánh pháp, bỏ đi kiến giải
hèn kém, câu nệ, hư huyễn, mở mang chánh tri kiến
sẵn có nơi tánh th́ ai nấy đều bỏ tiền
của trong nhà để sáng lập phạm-sát ngơ hầu hoằng
Tông diễn Giáo, làm đèn sáng trong đêm dài, tập đạo
tu tâm, làm chiếc bè to trong biển khổ, thật chẳng
phải là chuyện dễ dàng! Chùa Cảnh Đức ở
núi La Hán tại Vĩnh Gia do tôn giả Đằng La[43] tạo
ra vào thời Đường. Theo tự chí, tôn giả chẳng
biết là người như thế nào, vào năm Hội
Xương thứ hai (842) đời Đường Vơ
Tông, cưỡi gỗ vượt biển đến
trước ty tuần giản[44] ở
Thụy An. Người trong ấp lấy làm lạ, mời
Sư lên bờ. Do vậy, dân chúng cả một vùng sùng tín,
kính ngưỡng như vị Phật sống. Do vậy,
Sư bèn tùy cơ chỉ dạy, khiến họ sanh chánh tín.
Sư biết trước chuyện Đường Vơ Tông
sẽ diệt pháp nên chuyện kiến lập phạm-sát
đều tiến hành thong thả, đến khi Trung Tông kế
vị, Phật nhật lại sáng, tôn giả mới giáo
hóa, chỉ dạy khắp những thôn ấp thuộc Ôn
Châu cùng xây dựng phạm-sát gồm mười tám chỗ,
có thể nói là đại hoằng pháp hóa, làm phước
điền cho chúng sanh. Chùa Cảnh Đức ở núi La
Hán là một trong số đó. Núi ấy quanh co, cao ngất,
đẹp đẽ, cảnh sắc thanh tịnh, u nhă, là
chỗ quan trọng đứng đầu của Vĩnh
Gia, là khu vực linh thiêng để tu đạo.
Chùa ấy từ đời
Đường đến nay đă hơn một ngàn một
trăm năm. Trong thời gian hoằng dương pháp hóa
đó, cảnh chùa được sửa sang cố nhiên không
biết bao lượt. Nay đă lâu chưa được sửa
chữa, Phật điện, tăng liêu đổ nát gần
hết. Thánh tích của tôn giả sắp bị tiêu mất.
Người trong ấp như các vị Phan Giám Tông, Ngô Bích
Hoa, Diệp Kiến Hùng v.v… mấy mươi người
lo lắng, cùng bàn tính cách phục hưng. Nhưng v́ thời
cuộc khó khăn, bèn rút nhỏ quy mô, tính lập năm
gian Phật điện, tiền điện ba gian, liêu xá
hai bên hơn mười gian để những người
đến lễ tụng nghỉ lại đều có
nơi chỗ. Mấy vị tỳ-kheo an trụ, cư sĩ
tinh tu Tịnh nghiệp thường sống nơi ấy,
chuyên tu Niệm Phật tam-muội để mong ḿnh lẫn
người cùng thoát Sa Bà, đồng sanh Tịnh Độ,
làm đệ tử Phật Di Đà, làm bạn bè tốt
nơi Hải Hội.
Nhưng do công tŕnh rộng
lớn, sức lực đơn độc khó thành, khẩn
cầu những vị thiện tín đàn-việt mười
phương phát ḷng Bồ Đề, hành phương tiện
sự, mở rộng bảo tạng, vun đắp phước
điền, khiến cho bảo điện mênh mông sớm
có ngày thành công, măn nguyệt kim dung thường trụ muôn
kiếp. Liên xă mở ra, người thấy kẻ nghe
đều được lợi ích, Tịnh tông được
xiển phát, Tăng - tục minh tâm, ắt thấy Phật
trời hộ tŕ như mây nhóm, cát khánh chen nhau đưa
đến. Giàu, thọ, khang, ninh, đời này được
ngũ phước kín dầy, quan cao tước cả, con
cháu được hưởng trăm điều tốt
lành như đă nói trong bài Y Huấn.
16. Sớ
thuật duyên khởi thành lập liên xă chùa Thanh Liên ở Lô
Sơn
Phật
pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như
hư không, nhưng toàn thể đại dụng đều
ở trong một niệm tâm của chúng sanh. Chỉ do mê
chưa ngộ, nên đến nỗi trong chỗ vốn
không có sanh tử lại lầm chịu nỗi khổ luân
hồi sanh tử. V́ thế, đức Thích Ca Thế Tôn ta
riêng rủ ḷng ai mẫn, thị hiện sanh trong thế
gian để cứu vớt. Khi đó, Ngài vứt bỏ
vinh hoa nơi cơi nước, xuất gia tu đạo, thành
Đẳng Chánh Giác dưới cội Bồ Đề, muốn
khiến cho hết thảy chúng sanh đều triệt chứng
tự tâm, viên thành Phật đạo. Do vậy, Phật
bèn tùy cơ thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc, để
những người thiện căn chín muồi mau chứng
Vô Dư Niết Bàn, người thiện căn chưa chín
muồi tùy phần đều được lợi ích.
Thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh
hơn ba trăm hội, tuy là Đại - Tiểu, Quyền
- Thật bất đồng, Thiên - Viên, Tiệm - Đốn
có khác, nhưng trong tâm Phật, không ǵ chẳng nhằm truyền
dạy thẳng vào giác đạo chính Ngài đă chứng. Chỉ
v́ căn cơ đa phần chẳng phù hợp, nên không thể
không uyển chuyển lập phương tiện để
nhiếp thọ, c̣n bổn hoài xuất thế chưa thể
nhanh chóng diễn bày.
Do vậy, ngoài những
giáo lư thông thường, Phật mở ra một pháp môn
đặc biệt, tức là niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, khiến cho chúng sanh dù thánh hay phàm, dù ngu hay trí,
đều cùng trong đời này thoát ĺa sanh tử, khiến
cho những người đă phá vô minh sẽ viên chứng
Pháp Thân, người c̣n đủ Kiến Hoặc cũng
lên Bất Thoái. Công huân lợi ích ấy vượt trỗi
hết thảy giáo pháp suốt cả một đời, thật
có thể gọi là “giáo ngoại biệt truyền chí viên
chí đốn”. Do vậy, trong hết thảy kinh Đại
Thừa không kinh nào chẳng hiển phát, xiển
dương, khen ngợi, chỉ dạy; hết thảy Bồ
Tát, tổ sư không vị nào chẳng y giáo phụng hành bởi
lẽ pháp này là đại đạo phổ độ
chúng sanh của tam thế chư Phật, là diệu pháp
để viên chứng Phật Quả của chúng sanh trong
chín giới.
Đến khi đại
pháp truyền sang Đông, Viễn Công đại sư hoằng
dương pháp này đầu tiên tại chùa Đông Lâm ở
Lô Sơn. Cao nhân Tăng - tục khi ấy đều
như mây nhóm lũ lượt kéo về Lô Sơn ghi danh,
pháp Tịnh Độ ai nấy đều kính ngưỡng
tu tŕ. Từ đấy về sau, tất cả Luật,
Giáo, Thiền, Mật không ai chẳng lấy việc cầu
sanh Tịnh Độ làm bước cuối cùng để
phản bổn hoàn nguyên. Do vậy, Liên phong thổi khắp
trong nước, ngoài nước, pháp lợi trọn khắp
cổ kim. Huống chi lúc này nhằm đúng thời Mạt
Pháp, con người căn tánh hèn tệ, càng phải nên
chuyên chú nơi pháp này để mong được liễu
thoát ngay trong đời này.
Cuộc đất tối
thắng ở Lô Sơn nhằm đúng ngay nền chùa Thanh
Liên. Chùa ngự cao trên đỉnh núi, h́nh thế giống
như một đóa sen tự nhiên. V́ thế, đại
sư Hoàng Cốc đời Tấn tiếp nối chí lớn
của Viễn Công, lập chùa nơi đây để xiển
dương Liên Tông. Từ đời Tấn đến
đời Thanh, hơn một ngàn năm trăm năm, do
cao nhân nối tiếp nhau trụ tŕ nên liên phong thường
được chấn hưng mạnh mẽ. Đến
cơn biến loạn Hồng Dương[45],
đều thành tro bụi. Pháp đạo suy vi, không người
khôi phục, đến nỗi đạo tràng tuyển Phật
suốt hơn một ngàn năm rốt cục biến
thành núi hoang, chẳng đáng buồn ư!
May c̣n có Diệu Bồi
đại sư là cao túc đệ tử của Vi Quân lăo
nhân, tận lực tuân theo lời thầy dạy, dốc
chí tu Tịnh nghiệp, riêng qua Hồng Loa tham học nhiều
năm. Mùa Xuân năm nay qua chơi Lô Sơn, đến chỗ
nền chùa, thấy h́nh dáng như đóa hoa sen, trước
mặt lại nh́n ra thác nước Tam Điệp, sau
lưng dựa vào ngọn núi Ngũ Lăo hùng vĩ, hai bên có
hai ngọn Sư Tử và Tượng Tỵ (ṿi voi) để
che chở. Đúng là chốn Tịnh Độ đạo
tràng trời xây đất dựng, chẳng nỡ để
bị ch́m đắm măi măi, nên phát nguyện khôi phục
để hoằng dương Liên Tông, bèn bàn bạc cùng các
đại cư sĩ ở Thượng Hải, trước
hết quyên được hơn một ngàn đồng
dùng để lập một ṭa Niệm Phật Đường,
vài gian tăng liêu [làm chỗ] an trú cho vài người chân
tâm tu đạo, sáu thời hành đạo, nối tiếp
khuôn phép thơm của Viễn Công. Đợi sau này có
đại công đức chủ sẽ tùy sức mở rộng
ra thêm. Do tài lực khó khăn, tu hành lại là chuyện gấp,
nên không thể không tùy phần tùy sức để mong tu
tŕ đạt được lợi ích, chẳng đến
nỗi gây trở ngại cho Tịnh nghiệp vậy.
Pháp kết xă th́ một
là tuân theo quy củ đă thành lập bởi tổ Huệ
Viễn, bất luận Tăng - tục đều phải
đầy đủ tín nguyện chân thành, quyết định
cầu sanh Tây Phương. Ai nấy lại phải giữ
trai giới, thanh tịnh thân - khẩu - ư nghiệp, khóa tụng
sáng chiều, ba thời niệm Phật, trừ khi có bệnh
và có việc chung ra, trọn chẳng được tránh né,
kiếm cớ thảnh thơi. Ngoài ra th́ tùy ư lễ tụng,
tọa thiền, cốt sao đạt được lợi
ích nơi đạo mà thôi. Chỉ có điều không
được học tập thi văn, xem lung tung sách vở
thế tục, cũng như chẳng được chuyện
tṛ tạp nhạp lúc rảnh rỗi kẻo uổng phí
quang âm! Xưa Viễn Công kết xă có một trăm hai
mươi ba người thảy đều là bậc rường
cột trong Phật môn, là Thái Sơn, Bắc Đẩu
trong làng Nho. Nay th́ căn tánh con người hèn tệ, kém xa
xưa kia, nhưng trong tâm vốn có Phật tánh, cố nhiên
pháp môn độ khắp ba căn xưa - nay chẳng khác.
Như vậy lư “tâm này làm Phật,
tâm này là Phật”, sự “nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” há chẳng
phải do tự ḿnh tu, tự ḿnh chứng hay sao? V́ thế,
kính cẩn soạn ra một chương đơn giản
để khuyên lơn những người cùng chí hướng.
Lại mong các đại
đàn-việt phát Bồ Đề tâm, cùng nhau hộ tŕ, bỏ
tiền, thí gạo, xoay vần khuyên bảo, quyên mộ, khiến
cho bảo điện thênh thang sớm có ngày được
thành tựu, măn nguyệt kim dung thường trụ muôn kiếp.
Liên xă hưng khởi, tông phong rạng rỡ, chánh pháp thạnh,
tai chướng ngầm tiêu, sẽ thấy Phật trời
hộ tŕ như mây nhóm, cát khánh tranh nhau đưa đến,
trong đời hiện tại sẽ hưởng ngũ
phước, lâm chung cao đăng chín phẩm. Như thế
có thể gọi là bậc đại trượng phu thật
sự, là đệ tử Phật thật sự, trên chẳng
phụ công giáo hóa của chư Phật, dưới chẳng
phụ linh tánh của chính ḿnh. Nguyện người thấy,
kẻ nghe cùng tu đạo này, để một truyền
mười, mười truyền thành trăm, cho đến
khắp pháp giới th́ thế giới thái b́nh, nhân dân an lạc,
khôn ngăn thơm thảo cầu chúc vậy.
17. Sớ
quyên mộ tu bổ điện Thiên Vương và lầu
trống chùa Pháp Vũ núi Phổ Đà
Phổ
Đà danh sơn là cơi đất thù thắng, nơi Đại
Sĩ ứng tích. Pháp Vũ Thiền Tự quả thật
là đạo tràng cầu phước cho quốc dân. Từ
khi được sáng lập đến nay đă trải
nhiều năm lâu xa, sửa cũ đổi mới đời
nào cũng có người. Hai phen được vua ban tiền[46]
[sửa chữa], vào đời Thanh trước kia
được hai phen sắc tu, quyên mộ khắp các
duyên. Sau cơn loạn lạc lại được tu tạo
một lần nữa, khổ là ở giữa biển cả,
hơi muối, gió táp, xói ṃn các vật. So với nội
địa càng bị hư mục nhanh hơn. Nay lầu trống,
điện Thiên Vương, kèo cột hư nát, chân cột
mục ruỗng. Nếu chẳng sớm lo liệu, ắt
sẽ thấy bị sụp đổ rất nhanh.
Tuy mang tên là Thiên
Vương Điện[47],
nhưng thật ra thờ pháp tướng của đức
Di Lặc. Từ tâm của ngài Di Lặc và Quán Âm phù hợp
nhau, tùy theo từng loài mà hiện h́nh, tầm thanh cứu khổ.
Ḷng Từ lừng lẫy khắp đời này, ḷng Bi thấu
đến mạt kiếp, làm chỗ nương tựa
cho đời hiện tại, làm Thế Tôn cho đời
tương lai. Lúc này, vừa nh́n mặt liền cười,
để kết duyên hệ châu[48];
trong tương lai ba hội Long Hoa cùng được thọ
kư Vô Sanh. Ngài Di Lặc có nhân duyên rất sâu với cơi đời.
Nếu chẳng tu bổ làm sao thỏa được ḷng
thành khẩn đối với bậc thánh linh, tiêu tai họa,
dịch lệ, tạo phước cho muôn dân? Nhưng v́
công tŕnh to lớn, sức lực đơn độc khó
thành; do vậy, giăi bày ḷng ngu thành, kính quyên mộ thập
phương đàn-việt, khẩn cầu hăy phát Bồ
Đề tâm, hành phương tiện sự, mở rộng
bảo tạng, vun trồng ruộng phước, khiến
cho bảo điện thênh thang sớm ngày thành công, măn nguyệt
kim dung thường trụ vĩnh kiếp. Ngơ hầu hết
thảy ai đến đây đều lên địa vị
Hoan Hỷ, vào trong cửa lâu các[49],
hiện đời khế hợp Phật tâm sâu xa,
tương lai cùng viên thành Chủng Trí, sẽ thấy Phật,
trời gia hộ như mây nhóm, cát khánh tranh nhau đưa tới,
đời này vĩnh viễn hưởng nhiều phước,
sự tốt lành thấu măi đến con cháu.
18. Sớ
thuật duyên khởi mở Niệm Phật Đường
chuyên tu Tịnh nghiệp tại chùa Chân Như ở Gia
Hưng[50]
Phật
pháp rộng sâu, khác nào biển cả, dẫu là bậc Pháp
Thân đại sĩ vẫn chẳng thể tột nguồn
thấu đáy được, huống ǵ hạng phàm phu
sát đất! Nhưng Như Lai do ḷng đại từ bi,
muốn cho hết thảy dù thánh hay phàm đều cùng trong
một đời này thoát ĺa sanh tử, nên đặc biệt
mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Như kẻ thọt chân yếu ớt, cả
ngày khó đi được vài dặm, nếu nương
theo Luân Bảo của Chuyển Luân Thánh Vương chưa
đầy nửa buổi liền có thể đến khắp
bốn đại bộ châu. Hai điều này nhanh - chậm
khác biệt một trời một vực!
Phàm phu chưa đoạn
Hoặc nghiệp, cố nhiên chẳng thể liễu sanh tử.
Nếu dùng tín nguyện niệm Phật, cảm Phật từ
bi nhiếp thọ liền ngay trong đời này văng sanh Tịnh
Độ, siêu phàm nhập thánh, vượt lên địa vị
Bất Thoái. So với những kẻ chỉ cậy vào tự
lực, tu Giới - Định - Huệ để mong nghiệp
tận t́nh không, liễu sanh thoát tử, th́ chẳng thể
nào thí dụ, diễn giải để h́nh dung cho
được! Do vậy, những bậc cao nhân Tăng - tục
các đời không vị nào chẳng dùng pháp này để tự
hành, dạy người, lấy pháp này làm môn trọng yếu
nhập đạo, làm đường tắt để
thành Phật.
Chân Như Thiền Tự
từ khi được sáng lập đến nay đă
hơn một ngàn mấy trăm năm, đời nào
cũng có người hoằng Tông diễn Giáo. Sau cơn
binh hỏa, chi dùng ngày càng thiếu hụt, đến nỗi
pháp luân gần như ngừng xoay. Do vậy, thầy trụ
tŕ là Niệm Huệ chí muốn khôi phục, nhưng do không
có tài lực, tạm thời muốn cho tám vị Tăng giữ
giới thanh tịnh được an trụ, suốt
năm ngoài hai thời khóa tụng ra, chuyên tŕ Phật hiệu
suốt ba cây hương. Ngoài ra th́ tùy ư lễ tụng, mỗi
người được cấp tiền chi dụng ba
đồng mỗi tháng, những chuyện kinh sám Phật sự
đều không làm. Nếu thí chủ đến chùa niệm
Phật và đả Phật thất th́ chẳng cự tuyệt.
Làm như vậy để nhất ư tinh tu, mau đạt
được lợi ích thật sự, mà cũng có thể
trên là báo bốn ân, giúp khắp tam hữu[51].
Lợi ích ấy cố nhiên hết thảy những cách tu
tŕ thông thường chẳng thể sánh bằng được!
Nhưng do tài sản của
chùa ít ỏi, của dành dụm chẳng đủ, nên khẩn
cầu những vị đàn-việt hộ tŕ có sức
hăy phát Bồ Đề tâm, thành tựu chuyện thù thắng
này, hoặc giúp cho gạo nước, hoặc giúp đỡ
đèn, dầu, ngơ hầu đạo tràng niệm Phật
này ngày càng mở rộng, khiến cho kẻ thấy người
nghe đều cùng hưng khởi, sẽ thấy Phật
trời gia hộ như mây nhóm, cát khánh đua nhau
đưa đến, lúc sống được hưởng
ngũ phước nườm nượp, mất đi dự
vào chín phẩm trong ao báu. Chỉ mong chẳng tiếc của
cải ngơ hầu ai nấy cùng được gội ân Phật.
19. Sớ
quyên mộ đúc chuông U Minh chùa Pháp Vân sông Tam Xoa, Nam Kinh
Thế
giới Sa Bà dùng âm thanh làm Phật sự, pháp khí chốn
tùng lâm chỉ có chuông lớn là bậc nhất. Bởi lẽ
[tiếng chuông] phát khởi kẻ mù, lay động kẻ
điếc, khơi động tai mắt của trời
người, thông cơi âm, thấu cơi dương, thật sự
cứu giúp cho [những người đang ở trong] đường
ác. Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Như
khi đánh chuông, nguyện cho các sự khổ trong hết
thảy ác đạo đều được ngưng nghỉ.
Nếu nghe tiếng chuông và kinh chú của Phật, sẽ trừ
được trọng tội trong năm trăm ức kiếp
sanh tử”. V́ thế, Phó Pháp Truyện[52]
có ghi vua Kế Nị Tra[53]
do sát hại quá nhiều, chết đi đọa làm con cá
có một ngàn đầu, có vầng kiếm xoay quanh thân, chặt
đứt đầu này lại mọc ra cái khác. Vị La Hán
làm Tăng Duy Na[54] đúng
giờ đánh chuông, hễ nghe tiếng chuông, vầng kiếm
bèn dừng trên không. Do vậy, cá nhắn lời xin đánh
chuông cho lâu, qua bảy ngày liền hết bị chịu khổ.
Sách Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập[55] lại
chép: Thời Nam Đường, ở huyện Thượng
Nguyên có một người dân chết bất ngờ, ba
ngày sau sống lại, kể:
- Chết rồi đi
vào cơi âm, thấy tiên chúa[56] bị
gông xiềng rất ngặt, bảo: “Ta bị Tống Tề
Khâu xui dại, giết những người ở Ḥa Châu ra
hàng hơn một ngàn người, họ oán hận tố
cáo nên bị tù ở đây. Hễ nghe tiếng chuông liền
tạm dứt khổ. Ngươi về bảo cùng tự
quân v́ ta đúc một cái chuông, gơ măi. Nếu nó chẳng tin,
lấy bức tượng Thiên Vương bằng ngọc
ta giấu ở gối trái tượng Phật chùa Ngơa Quan
không ai biết để làm bằng chứng.
Người dân thuật
chuyện đầy đủ, kiểm nghiệm đúng thực,
vua bèn tạo một quả chuông đặt ở chùa Thanh
Lương, khắc bài văn rằng: “Cầu cho liệt
tổ Hiếu Cao Hoàng Đế thoát chốn tối
tăm, khỏi khổ”. Đấy là duyên do đánh chuông U
Minh vậy.
Huống chi chùa Pháp Vân
phỏng theo cách thức ngài Vân Thê, niệm Phật, phóng
sanh, nuôi dạy cô nhi, là đạo tràng từ thiện bậc
nhất ở Giang Nam. Gần đây, sát kiếp quá thảm,
hăng Ḥa Kư của người Tây Dương ở Nam Kinh lại
giết hết thảy những loài trâu, dê, những con vật
bay chạy không biết là bao nhiêu. Do vậy, các cư sĩ
Phùng Mộng Lăo, Ngụy Mai Tôn v.v… nhóm họp mấy vị
Tăng tục đề xướng kiêng giết phóng sanh,
ăn chay niệm Phật ḥng văn hồi kiếp vận, bèn
mua bốn trăm bốn mươi mẫu đất bên
sông Tam Xoa, mở ra ao phóng sanh chín khu, chiếm hơn một
trăm mẫu. Lại c̣n lập viện mồ côi nuôi dạy
cô nhi, nay đă nuôi được sáu mươi trẻ.
Cư sĩ Đặng Phác Quân quyên mộ bốn
mươi tám nguyện để dựng đại điện,
mỗi nguyện là một ngàn đồng, hiện đă sắp
tṛn nguyện. Sang năm sẽ kiến tạo. Đại
điện dựng xong, sẽ dựa vào tiền bạc sẵn
có mà an trụ Tăng chúng, chuyên tu Tịnh nghiệp kiêm giảng
diễn. Cư sĩ Thôi Ích Vinh phát tâm quyên mộ đúc hồng
chung, tùy ḷng tùy sức mỗi người bố thí, một
ngàn, một trăm, mười đồng hay một đồng
đều được! Nhưng chuông này thường gơ
suốt ngày đêm, cho nên phải dùng loại đồng có
tiếng vang, cần tối thiểu ba ngàn cân. Loại
đồng có tiếng vang khá mắc, mỗi cân giá hơn một
đồng. Tính ra vật liệu và công xá phải đến
bốn, năm ngàn đồng. Nếu tiền quyên mộ
có dư sẽ dùng để đúc báo chung, đại
khánh, hô bản[57] mỗi
loại một cái. Những thứ này chẳng thể thiếu
để làm Phật sự.
Phải biết: Pháp
Vân Tự vừa dựng lên, hăng Ḥa Kư của người
Tây Dương bèn ngừng sát nghiệp, chỉ c̣n là hăng sản
xuất trứng. Mối quan hệ thật chẳng phải
nông cạn. Ấy là do tâm thành của mọi người,
cảm Tam Bảo ngấm ngầm gia bị nên mới
được như thế. Mong rằng các đại
đàn-việt thiện tín đều cùng phát thiện tâm,
thành tựu việc này. Tất cả công đức có thể
dùng để siêu tiến cho tổ tiên đă khuất đều
được sanh về Liên Bang, che chở cho quyến thuộc
hiện tại ai nấy đều hưởng phước
khánh. Tên những người bỏ tiền ra đều
được khắc vào một bài vị lớn đặt
ở dưới chuông. Quanh thân chuông khắc mọi kinh
chú, chỉ ghi tổng cộng có bao nhiêu người thí tiền,
thí tất cả bao nhiêu tiền mà thôi! Ví như một giọt
gieo vào biển cả cũng liền sâu rộng như biển
cả. Nếu ai do ḷng tịnh tín hoan hỷ bố thí, liền
sẽ khế hợp cùng biển pháp đại giác của
Như Lai, công đức ấy há có thể nêu được
ư?
20. Sớ quyên mộ thiếp vàng tượng La Hán chùa Pháp Vũ (viết thay)
Đấng
Đại Giác Pháp Vương xuất hiện trong thế
gian, tùy cơ thuyết pháp, độ thoát chúng sanh, ắt phải
có Bồ Tát, Thanh Văn phụ giúp giáo hóa th́ mới có thể
độ khắp mọi loài, khiến đều
được lợi ích. Ví như một người ngự
trên ngôi báu, trăm quan giúp cai trị, mới có thể rủ
áo khoanh tay, ngồi hưởng thái b́nh. V́ thế, khi có bậc
vượt trỗi Thập Địa, đức bằng
Đẳng Giác xuất thế th́ phải có bậc tam kỳ
quả măn, vạn đức nhân tṛn đầy ẩn giấu
thật đức, quyền biến thị hiện Tiểu
Quả, như kinh Pháp Hoa nói các vị A La Hán bên trong đều
ngầm tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh
Văn, nếu chưa đạt đến địa vị
Phật nào ai có thể suy lường được nổi!
Hơn nữa, Phật
sắc truyền các A La Hán thường trụ thế gian,
nhận sự cúng dường của trời người
để làm phước điền cho đời như
năm trăm vị đại A La Hán. Mười tám vị
La Hán[58]
là thủ lănh của họ. Do vậy, tùng lâm, Phật
điện đều đắp h́nh tượng để
người chiêm lễ diệt tội tăng phước.
Pháp Vũ thường trụ chính là đạo tràng viên
thông của Quán Âm Đại Sĩ, được bao triều
đại sắc kiến[59],
được cả cơi đời tôn sùng. Do vậy, dựng
điện bèn tạo tượng chín con rồng quấn
quanh, tượng thánh th́ đắp h́nh tượng từ
bi của Đại Sĩ. Mười tám vị La Hán chia
ra ngồi hai bên, như các ngôi sao chầu về Bắc
Đẩu, phụ giúp sự giáo hóa từ bi.
Nhưng do năm tháng
đă lâu, sắc vàng tróc rớt, chẳng những là khó coi,
mà quả thật c̣n khó thỏa thánh linh. Lăo nạp muốn
thếp vàng lại kim thân ngơ hầu được chiếu
rọi tam thiên măi măi, nếu không nhiều lần kêu gọi
góp của làm sao có thể hoàn thành được một
hai phần. Dùng lời sớ này để giăi bày trọn vẹn
ḷng ngu thành, mong cầu thập phương thiện tín tùy
duyên vui vẻ giúp cho vàng, tiền, để thánh tượng
tự phóng quang minh sáng ngời. Sẽ thấy do nhân như
thế, cảm được quả như thế, vị
lai cũng sẽ chứng kim sắc thân, làm phước
điền cho đời. C̣n như trong đời này tai
chướng tiêu diệt, phước thọ tăng cao, tiền
tŕnh xa lớn, hậu duệ dài lâu chỉ là chuyện nhỏ
nhặt mà thôi!
21. Sớ
quyên mộ xây dựng Như Ư Liêu chùa Pháp Vũ (viết thay)
Sanh - lăo -
bệnh - tử ai nấy đều có. Như Lai thuyết
pháp, đầu tiên là tŕnh bày những điều này. Ấy
là muốn cho chúng sanh ngộ được đạo trọng
yếu để thoát khổ, chứng Phật tánh vốn
sẵn đủ; do vậy, vĩnh viễn ĺa huyễn khổ,
thường hưởng chân lạc. Nhưng trong tứ khổ,
bệnh - tử là nặng nề nhất. Tại gia th́ có
quyến thuộc trông nom, săn sóc; xuất gia chỉ trơ
trọi một thân, không nơi nương tựa. V́ thế,
từ xưa, cổ đức thể hội ḷng từ của
Phật, lập ra liêu xá, tuyển người chăm sóc,
khiến cho ăn uống, thuốc thang, thảy đều
như ư, không kém ngoài đời cho mấy. Đấy chính
là cội nguồn của Như Ư Liêu vậy.
Phổ Đà là danh
sơn bậc nhất trong thiên hạ, bổn tự lại
là một trong ba đại tùng lâm của núi này. V́ thế,
nạp tăng mười phương qua lại không ngớt,
những người ở lại lâu không đi số
đến cả trăm. Thế nhưng Như Ư Liêu chật
chội, tù túng, lại thêm sản nghiệp thường trụ
ít ỏi, chẳng đủ để phù hợp với thân
tâm người bệnh. Lại không đủ sức cung ứng
thuốc thang cho người bệnh. Liêu tên Như Ư,
nhưng nghĩa chưa tṛn!
Kể từ khi lăo nạp
mới tiếp nhận trụ tŕ, đă coi chuyện này là
nhiệm vụ cấp bách, muốn tạo dựng bảy
gian tinh xá riêng, gian giữa thờ thánh tượng Như
Lai, gian sau thờ bài vị của những vị Tăng
đă mất, khiến cho người bệnh có chỗ lễ
tụng, quán cảm dễ khởi. Hai bên phân làm mười
hai gian, trừ pḥng hương đăng ra, đều
dùng làm chốn dưỡng bệnh. Ít th́ mỗi người
một liêu, nhiều th́ hai người ở chung một
liêu. Hai bên cách biệt để không sợ bị truyền
nhiễm, thân tâm vui sướng, dễ được lành
bệnh không cần đến thuốc. Hết bệnh th́
mặc t́nh đi hay ở, mất th́ sẽ chôn cất, khiến
cho người đến th́ sống có chỗ y chỉ, mất
th́ có chỗ quy túc. Lại để riêng một trăm mẫu
ruộng để sau này chi dùng vào quan quách, thuốc men, khắc
bia thông cáo rơ, khiến cho vị trụ tŕ nhậm chức trong
tương lai chẳng dám phế bỏ, sửa đổi
chuyện này. Khẩn cầu các vị đại hộ
pháp, vui vẻ chia hạc bổng, bỏ ra phù nang[60]
khiến cho chuyện này chóng được viên thành, ngơ hầu
phước báo vĩnh viễn không thiếu sót, sẽ thấy
Phật trời gia hộ như mây nhóm, cát khánh đua nhau xảy
đến, ngũ phước ùn ùn, điều tốt lành
lan đến tận hậu duệ.
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Quyển
thứ hai hết
(Phần
5 hết)
[1] Sớ: Theo từ điển Từ Hải, chữ Sớ có hai nghĩa:
1) Tŕnh bày rơ ràng từng điểm một.
2) Chú thích ư nghĩa của sách vở.
Ngoài ra, Sớ c̣n được dùng để chỉ những công văn hoặc tờ tŕnh lên thượng cấp, lên vua. Do vậy, những bài văn được tuyên đọc trong khi tụng kinh với mục đích cầu đảo, giăi bày ư nghĩa của pháp hội đang làm cũng được gọi là Sớ. Ở đây, chữ Sớ được dùng theo nghĩa thứ nhất. Những bài Sớ trong phần này được viết nhằm tŕnh bày rơ ư nghĩa sự việc để cổ động mọi người tham gia, ủng hộ.
[2] Thị trấn Nam Tầm thuộc thành phố Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang.
[3] Dị loại: Khác chủng loại. Do loài vật không thuộc loài người nên thường được gọi là Dị Loại.
[4] Nguyên văn: “Điểu,
thú, ngư, miết hàm nhược”. Trong bài tựa cho cuốn
Vệ Sinh Tập, Tổ đă giải thích: “Nhược là thuận. Hàm
Nhược có nghĩa là đều được thuận
theo thiên tánh, chẳng vướng mắc nỗi khổ bị
sát hại”. Ở đây, chúng tôi chỉ dịch tóm gọn
là “chim, thú, cá, ba ba đều
được sống yên vui”.
[5] Tử Sản (không rơ năm sinh -522
trước Công nguyên), tên thật là Công Tôn Kiều, tự
Tử Sản, hiệu là Tử Khương, sống vào thời
Xuân Thu, người nước Trịnh. Ông chính là ḍng dơi của
Trịnh Mục Công, nổi tiếng thông minh từ nhỏ,
rất giỏi về cai trị, làm chức Khanh đời
Trịnh Giản Công, chấp chính suốt hai mươi ba
năm, rất nhân từ. Ông tiến hành nhiều cải
cách quan trọng, chỉnh đốn quyền tư hữu
ruộng đất của quư tộc để nông dân có ruộng
làm, định lại sắc thuế cho hợp lư hơn.
Ông là người đầu tiên cho biên soạn h́nh luật
và cho khắc tân luật lên một cái đỉnh to đặt
trong cung vua để mọi người đều
được biết luật. Ông chủ trương thuyết
Nhân Bản, và cũng được coi là một trong những
Nho Gia điển h́nh trước thời Khổng Tử.
Không rơ chuyện nuôi cá của ông ta được trích từ
điển tích nào.
[6] Đời Xuân Thu,
Tùy Hầu (vua nước Tùy) đi ra ngoài chơi thấy một
con rắn bị người ta đánh gần chết, vứt
trên vệ đường, động ḷng thương xót,
liền sai tùy tùng đem thuốc cứu rắn, rồi
đem thả đi. Ít lâu sau, rắn từ sông ngoi lên, nhả
tặng vua một viên minh châu để báo ân cứu mạng.
Do vậy, viên ngọc ấy thường được gọi
là Tùy Hầu Châu, hoặc Linh Xà Châu. Sách Sưu Thần Kư mô
tả viên ngọc ấy được như sau: “Kích thước tṛn trặn chừng
một tấc, trắng muốt, ban đêm tỏa ánh sáng,
có thể soi sáng cả gian pḥng”.
[7] Có lần Dương Bảo vào Hoa
Sơn thấy con chim sẻ bị thương rơi xuống
đất, máu me bê bết, cảm thương ông liền
đem về băng bó, chăm sóc, khi chim lành bèn thả
đi. Chim tha đến bốn cái chén ngọc, lại nói:
“Mong con cháu ông sẽ trắng trong, tinh thuần như bạch
ngọc”. Đêm ấy, ông mộng thấy một vị trời
mặc áo vàng đến bảo: “Tôi là con chim sẻ vàng
được ông cứu mạng. Tôi vốn là sứ giả
của Tây Vương Mẫu, bị thương giữa
đường. May được ông cứu giúp, nay
được trở về Nam Hải nên đến
đáp tạ”. Về sau, con cháu ông đều nổi tiếng
đức hạnh, hiển đạt.
[8] Nhan Chân Khanh (707-784), tự Thanh Thần, thường được gọi là Lỗ Công (v́ ông được phong chức Lỗ Quận Khai Quốc Công), là một thư pháp gia nổi tiếng thời Đường. Tuy cũng là thi nhân, thơ ông không nổi tiếng như các nhà thơ khác thời Thịnh Đường. Tài thư pháp của ông được người đương thời b́nh luận: “Phóng khoáng nhưng không buông tuồng, dễ dăi nhưng không vụng về, đặt bút viết xuống là được ngay”. Lối viết Khải Thư của ông được coi là mẫu mực cho mọi hành giả viết chữ Khải Thư về sau. Ông c̣n được coi là truyền nhân của Trương Húc về lối chữ Thảo.
[9] Quan quả cô độc: Quan là góa vợ, quả là góa chồng, cô là mất cha mẹ, độc là không con cái.
[10] Sông Tam Xoa nằm phía Nam Kim Lăng, do sông hợp nhánh cùng với sông Tần Hoài ở phía Đông và Thanh Giang tại phía Nam cùng đổ ra biển, có h́nh dáng giống như cái chĩa ba nên có tên như vậy.
[11] Kim Lăng là tên cũ của Nam Kinh. Nam
Kinh c̣n có tên khác là Giang Ninh. Đây là kinh đô của nhiều
triều đại trong lịch sử, thường
được biết đến dưới tên gọi Lục
Triều Cổ Đô. Theo truyền thuyết, vua Phù Sai
nước Ngô đă xây Dă Thành tại đây. Sau khi Câu Tiễn
diệt Ngô, phá hủy Dă Thành, và Phạm Lăi đă cho xây thành
mới mang tên Việt Thành ở đây. Năm 333 trước
Công Nguyên, Sở Oai Vương (Hùng Duệ) diệt nước
Việt, tin theo lời thuật sĩ, chôn vàng để trấn
áp vương khí nước Việt và lập ấp Kim
Lăng ở núi Thạch Đầu (nay là núi Thanh
Lương). Tên Kim Lăng bắt đầu có từ đấy.
Tần Thủy Hoàng đổi tên ấp này thành huyện Mạt
Lăng, trực thuộc quận Cối Kê. Đến
năm 211, Tôn Quyền nhà Đông Ngô xây Thạch Đầu
Thành tại ấp Kim Lăng. Năm 229, Tôn Quyền dựng
kinh đô nơi này, đổi tên là Kiến Nghiệp.
Đến khi nhà Đông Ngô bị Tấn diệt, nhằm
năm Kiến Hưng nguyên niên (313), v́ kỵ húy Tư Mă
Nghiệp nên đổi thành Kiến Khang. Thời Ngũ Hồ
Loạn Hoa, nhà Tây Tấn diệt vong, vào năm 317, Tư Mă
Duệ lập nhà Đông Tấn, lại chọn Kiến
Khang làm kinh đô. Các nhà Hậu Tống (420-479), Tề
(479-502), Lương (502-557), Tùy (557-589) đều chọn
Kiến Khang làm kinh đô. Năm 589, nhà Tùy diệt vong, Trần
Hậu Chủ phá hủy thành quách nơi này. Đời
Đường, vùng này bị đổi thành Giang Ninh Quận,
rồi thành Thăng Châu. Cuối cùng, lại đổi
thành Kim Lăng Phủ. Nhà
[12] Phật Đà Bạt Đà La (359-429), tiếng Phạn là Buddhabhadra, dịch nghĩa là Giác Hiền hoặc Phật Hiền. Ngài là vị cao tăng, người thành Na Ha Lợi, Bắc Ấn, là hậu duệ của Cam Lộ Phạn Vương thành Ca Tỳ La Vệ. Xuất gia năm mười bảy tuổi, tu hành tinh tấn, đọc rộng các kinh sách, tinh thông Thiền, Luật. Sau Ngài cùng đồng học là Tăng Già Đạt Đa qua Kế Tân học Thiền với ngài Phật Đại Tiên. Rồi ngài nhận lời thỉnh của sư Trí Nghiêm, đến Trường An vào năm Hoằng Thỉ thứ 10 (408) nhà Hậu Tần để hoằng truyền Thiền học. Do không quen tập tục ở Trường An, lại không hợp với ngài Cưu Ma La Thập nên cùng những đệ tử như Huệ Quán v.v… hơn 40 người rời Trường An, sang cư ngụ ở Lô Sơn với ngài Huệ Viễn mấy năm, dịch kinh Đạt Ma Đa La Thiền Kinh. Năm Nghĩa Hy thứ 11 (415), Sư đến Kiến Khang, nay là Nam Kinh, ở lại chùa Đạo Tràng, chuyên chú dịch thuật. Ngài cùng đại sư Pháp Hiển hợp dịch Ma Ha Tăng Kỳ Luật, Đại Bát Nê Hoàn Kinh, lại dịch bộ Hoa Nghiêm sáu mươi quyển một ḿnh. Ngài tịch diệt năm Nguyên Gia thứ sáu nhà Lưu Tống, thọ 71 tuổi. Đời gọi Ngài là Thiên Trúc Thiền Sư.
[13] Đàn-việt (danapati): Thí chủ, người đứng ra bố thí.
[14] Về ngài Đạo An, xin xem chú thích ở
phần thứ ba, quyển hai.
Nhất Hạnh
(683-727), thường được xưng tụng là Nhất
Hạnh A Xà Lê, là một cao tăng bên Mật Tông, đồng
thời là một nhà thiên văn lịch số nổi tiếng.
Ngài sống vào thời Đường, quê ở Cự Lộc
(nay thuộc huyện Cự Lộc, tỉnh Hà Bắc). Xuất
thân từ nhà quyền quư, tánh ưa thích kinh sử, xuất
gia với ngài Cảnh thiền sư ở Kinh Châu, sau học
Thiền với ngài Phổ Tịch thiền sư ở
Tung Sơn, rồi lại học Luật với ngài
Đương Dương Chân Toản. Ngài gom góp những
đoạn kinh văn trọng yếu trong các kinh luận
soạn thành bộ Nhiếp Điều Phục Tạng,
mười quyển. Sư c̣n theo học với các vị
Thiện Vô Úy, Kim Cang Trí, cùng với ngài Thiện Vô Úy dịch
bộ kinh căn bản quan trọng nhất của Mật
Tông là kinh Đại Nhật. Sư được ngài Kim
Cang Trí truyền thọ Bí Mật Quán Đảnh. Năm
Khai Nguyên thứ chín (721), vua xuống chiếu sai Sư hiệu
đính lịch pháp. Sư soạn thành bộ Đại
Diên Lịch gồm 52 quyển (lịch pháp này đến
nay vẫn được người Nhật sử dụng).
Ngài c̣n cùng với ông Lương Lệnh Toản chế ra
dụng cụ thiên văn gọi là Hoàng Đạo Du Nghi
để trắc định vị trí của hơn 150 hằng
tinh, cũng như tính ra kinh độ của các ngôi sao ấy.
Tác phẩm quan trọng của Sư là bộ Đại Nhật
Kinh Sớ gồm 20 quyển, được coi là tác phẩm
kinh điển trọng yếu, có thẩm quyền nhất
trong các sớ giải của Mật giáo. Ngài tịch diệt
năm Khai Nguyên 15, thọ 45 tuổi, thụy hiệu là
Đại Huệ Thiền Sư. Ngài c̣n soạn những
tác phẩm nổi tiếng khác là Tú Diệu Nghi Quỹ, Phạm
Thiên Hỏa La Nghi Quỹ, Thất Diệu Tinh Thần Biệt
Hành Pháp, Dược Sư Lưu Ly Như Lai Tiêu Tai Trừ
Nạn Niệm Tụng Nghi Quỹ. Ngoài ra, c̣n có bộ Hoa
Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Sám Nghi bốn
mươi hai quyển soạn chung với đệ tử
là Huệ Giác.
Ngài Diệu Phong sống
vào thời Minh, tên là Phước Đăng, người
B́nh Dương, Sơn Tây, họ Tục, hậu duệ của
Tục Cúc Cư thời Xuân Thu. Sanh ra đă có tướng
mạo kỳ lạ: Môi trớt, răng vẩu, mũi huếch,
cổ lộ hầu. Bảy tuổi mồ côi, phải
đi chăn dê cho người ta. Năm 12 tuổi xin vào tu
tại một ngôi chùa gần đó, bị Tăng nhân đối
xử tàn tệ, phải trốn sang Bồ Bản, xin
ăn ở chợ, đêm ngủ nhờ ở Văn
Xương Các tại phía Đông quận ấy. Gác ấy
do Sơn Âm Vương xây để mời Lương Công
chùa Vạn Thọ ở. Một bữa, Sơn Âm
Vương trông thấy bèn bảo Lương Công: “Đứa
bé này ngũ quan đều lộ, nhưng thần trí
ngưng lặng, xương cứng cỏi, ắt ngày sau
thành đại khí, nên thâu làm đồ đệ, đối
đăi tử tế”. Ít lâu sau, có động đất lớn,
những chỗ dân chúng cư ngụ bị sụp đổ
hết, Sư bị đè ở dưới nhưng không bị
thương. Vương càng lấy làm lạ, bèn cho sửa
Lâu Nham Lan Nhă trong Điều Sơn, bảo Sư bế
quan chuyên tu Thiền Quán, đêm ngày đứng sừng sững
suốt ba năm. Bế quan không lâu đă có chỗ ngộ,
Vương bảo: “Đứa bé này kiến giải đă
như thế, nếu không chiết phục ắt về
sau phát cuồng”. Bèn lấy một miếng đế giầy
rách, viết bài kệ rằng:
“Đế giày hôi thối này, gói lại gởi cho
ngươi, đừng làm chuyện chi khác, hăy chuyên chú ngâm
thơ”. Gói lại, gởi cho Sư. Sư nhận
được, lễ Phật, lấy vải trùm đầu,
từ đấy im lặng không nói năng ǵ nữa. Ba
năm bế quan xong, đến gặp Vương đă
thông tỏ bổn phận. Vương rất mừng, bảo
đi nghe giảng kinh Lăng Nghiêm, thọ Cụ Túc. Sư
tham học với khắp các tri thức. Sư triều bái
Phổ Đà, do không quen phong thổ, bị ghẻ khắp
người, bèn phát nguyện thếp vàng ba tượng
Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm Đại Sĩ, tạo
khám thờ bằng đồng gởi đến Ngũ
Đài, Nga Mi, Phổ Đà để cúng dường
vĩnh viễn. Khi trở về Ninh Ba, Sư mắc bệnh
thời khí, gần chết. Đêm đi đường,
t́m không ra một giọt nước, bèn lấy tay vốc
nước từ trong một cái chậu tắm, uống
vào ngọt ngào vô cùng. Sáng ra thấy nước ấy
dơ quá, ói mật xanh mật vàng, liền ngộ: “Uống
vào thật ngon, trông thấy thật dơ. Dơ sạch do
tâm, chẳng liên quan đến vật bên ngoài”, toàn thân
đổ mồ hôi bèn lành bệnh, nhưng vẫn c̣n ghẻ.
Đến chùa Đại Báo Ân ở Nam Kinh, nghe Vô Cực
pháp sư giảng Hoa Nghiêm Huyền Đàm, ngài Hám Sơn làm
phó giảng. Sư xin làm chức Tịnh Đầu (trông
coi nhà tiêu) để dưỡng bệnh nghe kinh. Mỗi ngày
đại chúng ăn trưa xong, nghỉ ngơi, Sư bèn
quét dọn nhà xí cho thật sạch sẽ. Ngài Hám Sơn biết
vị Tịnh Đầu ắt là một cao tăng, bèn
đến thăm riêng, ước hẹn làm bạn đồng
tham. Không lâu sau, nhà xí không sạch nữa, Hám Sơn đoán
vị Tịnh Đầu đă bỏ đi, bèn đi t́m.
Sư sau khi bỏ đi, t́m chỗ sâu nhất trong núi ở
Bồ Châu, kết tranh làm am, không ăn cơm suốt ba
năm, được đại ngộ. Sơn Âm
Vương dựng chùa ở Nam Sơn, mời Sư về
ở, lại nhờ lên Bắc Kinh thỉnh Tạng kinh.
Sư gặp Hám Sơn ở giữa chợ tại kinh
đô, kinh cũng đă thỉnh xong, bèn cùng nhau về Bồ
Châu. Năm sau, cùng đến Ngũ Đài, ở nhờ
nơi am Diệu Đức thuộc Long Môn dưới chân
ngọn Bắc Đài. Ba năm sau, mỗi vị đều
trích máu từ lưỡi ḥa vàng chép kinh Hoa Nghiêm. Vàng và giấy
do Từ Thánh Thái Hậu ban tặng. Chép kinh xong, Sư tổ
chức Vô Già Đại Hội hai mươi ngày. Thái Hậu
sai quan đến xin Sư cầu hoàng tự (người
nối ḍng cho hoàng triều), họ bèn đem công đức
ấy hồi hướng cho việc ấy. Mười
tháng sau, sanh được hoàng nam, tức Thái Xương.
Thấy quá nổi tiếng, không thể ở lâu được,
hai vị bèn xuống núi ẩn cư. Sư vào núi Lô Nha, kết
am tu. Thái hậu sai người t́m được, bèn cho cất
chùa Hoa Nghiêm nơi ấy. Từ đó, suốt hai
mươi năm, xây dựng tùng lâm, sửa cầu cống,
đắp đường trong núi, phàm những công tŕnh lớn,
người khác không hoàn thành được thỉnh Sư
trông coi, chẳng lâu sau đều hoàn thành. Việc xong liền
đi, không bận tâm đến nữa. Sư ngồi viên
tịch, thọ 73 tuổi, tăng lạp 49 năm.
[15] Theo Tiên Thiên Bát Quái của Văn Vương, quẻ Chấn thuộc phương Đông, Trung Hoa ở phương Đông của Ấn Độ nên cũng thường được gọi là Đông Chấn. Có người giải thích: V́ người Trung Hoa nghĩ Ấn Độ ở phía Tây Bắc Trung Hoa (do thời xưa, các vị tổ sư thường theo con đường Tơ Lụa ở phía Tây Bắc Trung Hoa vào Trung Nguyên, người Tàu thường nghĩ Ấn Độ nằm về phía Tây Bắc Trung Hoa) nên gọi là Tây Càn (quẻ Càn ở phía Tây Bắc trong Tiên Thiên Bát Quái đồ). Xin ghi lại lời giải thích này như một vấn đề tồn nghi.
[16] Trụ tích: Vị tăng trụ lại một nơi nào gọi là trụ tích, tích ở đây là tích trượng.
[17] Đàm Hư (1875-1963), cao tăng thời
cận đại. Sư họ Vương, tên Phước
Đ́nh, pháp tự Long Hàm, pháp hiệu Đàm Hư, người
Ninh Hà, tỉnh Hà Bắc. Năm 17 tuổi, vâng lệnh cha lập
gia đ́nh, sanh được năm người con.
Trước kia, Sư làm nghề nông và buôn bán, sau theo nghề
y. Năm 40 tuổi, nhân nghe kinh Pháp Hoa, liền phát chí xuất
gia. Năm 1917, Sư xin xuất gia với ngài Ấn Khôi tại
chùa Cao Minh. Rồi về
[18] Măn nguyệt kim dung: Khuôn mặt đức Phật được ví như vầng trăng đầy viên măn, thân Phật sắc vàng ṛng nên gọi là kim dung.
[19] Y Huấn là một đoạn văn nhỏ trong kinh Thư, ghi lại lời khuyên dạy của Y Doăn, trong đó có câu: “Tác thiện giáng bách tường, tác bất thiện giáng bách ương” (Làm lành trăm điều tốt đẹp giáng xuống, làm điều chẳng lành, trăm tai ương giáng xuống).
[20] Cơ là căn cơ, Nghi là thích đáng.
Ư nói chúng sanh có thiện căn, muốn giáo hóa th́ phải
thuận theo căn cơ lập ra giáo pháp thích nghi. Pháp Hoa
Huyền Nghĩa quyển 1, có câu: “Giáo vốn ứng cơ, cơ nghi bất đồng
nên bộ loại khác biệt!”
[21] Bi kính song tu: Tu bi điền và kính điền đồng thời. Bi điền là thương xót giúp đỡ chúng sanh, kính điền lễ kính Tam Bảo, chăm tu pháp yếu.
[22] Chùa Phạm Thiên thuộc huyện Đồng
An, tỉnh Phước Kiến, nằm vào phía Đông Bắc
ngọn núi chính của rặng Đại Luân Sơn. Chùa
được dựng vào đời Tùy, thoạt đầu
có tên là chùa Hưng Quốc, vốn là chùa thập
phương. Đời đời có các thiền sư nổi
tiếng trụ tŕ, Tổ Sư Hoàng Bá cũng từng ngộ
đạo tại đây.
[23] Gọi là Thạch Tấn v́ triều đại này do Thạch Kính Đường thành lập, chỉ truyền được hai đời (936-946). Sử c̣n gọi triều đại này là Hậu Tấn để phân biệt với nhà Tiền Tấn do Tư Mă Viêm sáng lập.
[24] Văn Mục Vương tên thật là
Tiền Nguyên Quyền, con của Tiền Mục, theo cha
chinh chiến, lập nhiều chiến công, từng làm Thanh
Hải Quân Tiết Độ Sứ, Trấn Đông Quân Tiết
Độ Sứ. Vào thời Ngũ Đại, Trung Hoa bị
chia nát thành từng tiểu quốc. Các Tiết Độ Sứ
đua nhau chiếm cứ, lập quốc tự xưng
vương. Tiền Mục chiếm Chiết Giang, lập
nước Ngô Việt. Khi Tiền Mục chết, Tiền
Nguyên Quyền lên thay. Về sau Tiền Nguyên Quyền thần
phục nhà Nam Đường, dùng niên hiệu Nam Đường.
Văn Mục Vương xây dựng quá nhiều cung điện,
sưu thuế nặng nề khiến dân chúng oán thán.
Năm 914, kinh thành Hàng Châu bị phát hỏa. Vua hoảng sợ,
chạy tới đâu, lửa cháy theo tới đó. Đấy
là do ḷng dân quá phẫn uất, cố ư phóng hỏa trả
thù. Do vậy, vua kinh hăi, sanh bệnh, chết vào tháng Chín
năm đó.
[25] Hai triều đại Hán, Châu được nói ở đây nhằm thời Ngũ Đại, tức là nhà Hậu Hán do Lưu Trí Viễn sáng lập chỉ tồn tại được năm năm (946-950), nhà Hậu Châu do Quách Oai sáng lập chỉ tồn tại được gần mười năm (951-960).
[26] Ư nói phải thật sự tu hành, chứ không thể nói lư xuông, phô phang ngoài miệng được.
[27] Tam Mật: Thân mật, ngữ mật, ư mật.
[28] Trầm Thiện Đăng, tên thật
là Trầm Cốc Thành, pháp hiệu Giác Trần, giữ chức
Hàn Lâm Viện Thứ Cát Sĩ cuối đời Thanh. Ông
chủ tŕ việc viết kinh Di Đà để khắc
lên vách núi vào năm Quang Tự thứ 4 (1878). Tác phẩm nổi
tiếng nhất của ông là Báo Ân Luận.
[29] Núi Đặng Úy cách Tô Châu ba mươi dặm, nh́n xuống Thái Hồ, tương truyền, thái úy Đặng Vũ thời Đông Hán ẩn cư tại đây nên có tên như thế. Đây là một thắng cảnh về hoa mai nổi tiếng của vùng Tô - Hàng.
[30] Uế Tích Kim Cang: Uế Tích Kim Cang (Ucchushma), c̣n phiên là Ô Xu Sa Ma, hoặc Ô Sô Sa Ma Minh Vương, dịch nghĩa là Bất Tịnh Khiết, Trừ Uế Phần Thiêu, Uế Ác, Uế Tích Kim Cang, Thọ Xúc Kim Cang, Hỏa Đầu Kim Cang, Bất Tịnh Kim Cang. Ngài là một vị Phẫn Nộ Tôn được tôn thờ trong Mật Tông và các tự viện Thiền Tông. Ngài là giáo lệnh luân thân của Bắc Phương Yết Ma Bộ. Trong Mật Tông có nhiều cách giải thích về vị này. Có thuyết coi Ngài đồng thể với Kim Cang Dạ Xoa (tức là giáo lệnh thân luân của Bất Không Thành Tựu Như Lai). Theo thuyết này, Ngài là một trong năm vị đại Minh Vương. Có thuyết lại nói Ngài chính là các thân hóa hiện của những vị Thích Ca, Phổ Hiền, Bất Động, Kim Cang Thủ v.v… Nói chung, tánh đức của Ngài là chuyển bất tịnh thành thanh tịnh. Ngài đại bi sâu xa, chẳng nề hà nhơ uế, dùng đại oai quang như ngọn lửa hừng hực, thiêu trừ cái tâm vọng kiến, phân biệt, nhơ sạch, sanh diệt của chúng sanh. Do vậy, Ngài được gọi là Trừ Uế Kim Cang. Ngài thường được tạc với h́nh dáng phẫn nộ, khắp lỗ chân lông tỏa ra ngọn lửa hừng hực, có bốn tay, tay phải phía trên cầm kiếm, tay phải phía dưới cầm dây quyến sách, tay trái cầm gậy, tay tiếp đó cầm chĩa ba. Mỗi món khí giới đều bốc lửa. Ở đây với mục đích khiết tịnh thân tâm, cơi đất, cư sĩ Trầm Thiện Đăng tŕ Mật chú của Ngài trước khi viết kinh.
[31] Nguyên văn “thiết hoạch ngân câu”: Ư nói chữ viết sắc sảo, đẹp đẽ, từng nét vạch như khắc bằng sắt, từng nét móc như được chạm bằng bạc.
[32] Lưu Thủy là tiền thân của Phật
Thích Ca lúc c̣n hành đạo Bồ Tát. Theo phẩm thứ
tư “Lưu Thủy Trưởng Giả Tử” trong kinh
Kim Quang Minh th́ vị trưởng giả này cùng hai con là Thủy
Không, Thủy Tạng đi chơi đến một thôn
xóm, thấy trong vùng đồng lầy có một cái ao,
nước ao đă cạn, những con cá trong ấy sắp
bị nắng thiêu chết, bị chim thú chầu chực
chờ ăn. Trưởng giả thương xót, bèn lấy
nhánh cây che đậy, rồi mượn hai con voi lớn
chở nước sông đổ đầy ao cho cá
được sống. Lại c̣n thí thức ăn cho cá,
nói cho chúng nghe danh hiệu Phật và Phật pháp. Sau đó,
khi ông quay về nhà, đang cùng khách khứa ăn uống,
chợt thấy đại địa chấn động,
mười ngàn con cá cùng mạng chung trong ngày ấy, cùng
sanh lên trời Đao Lợi. Khi ấy, trưởng giả
say rượu nằm ngủ trên lầu, thấy mười
ngàn thiên tử đem vô số trân châu, anh lạc xếp
quanh bốn phía, lại rải hoa trời để báo ân.
Phật bảo Lưu Thủy khi ấy chính là thân ta, Thủy
Không là La Hầu La, Thủy Tạng là A Nan. Mười ngàn
con cá khi ấy chính là mười ngàn vị thiên tử
đang hiện diện trong pháp hội Kim Quang Minh.
[33] Khi trưởng giả Cấp Cô Độc vừa khởi công xây dựng tinh xá Kỳ Viên, trên thiên giới đă cung điện hóa hiện sẵn chờ khi ông hết tuổi thọ trong nhân gian sẽ sanh về trong ấy.
[34] Ư nói tài vật thế gian là tài sản
chung của năm nhà: Vua, giặc cướp, lửa,
nước, con cháu ngỗ nghịch. Gọi là “của chung
của năm nhà” v́ năm loại trên sẽ cướp mất
tài sản của ta bất cứ lúc nào.
[35] Bổ Đát Lạc Ca (Potalaka) c̣n
được phiên âm là Phổ Đà Lạc Già, hay gọi
tắt là Phổ Đà. Núi Phổ Đà thuộc quần
đảo Châu Sơn trong biển Đông, huyện Định
Hải, tỉnh Chiết Giang. Núi này trước kia có tên là
Mai Sầm Sơn. Tương truyền trong niên hiệu
Đại Trung đời Đường (847-860), có một
vị tăng Ấn Độ đến đây đốt
mười ngón tay, đích thân thấy Quán Thế Âm Bồ
Tát hiện thân thuyết pháp, trao cho ḥn đá báu bảy màu,
nên nơi đây được coi là thánh địa của
Quán Âm. Trong năm Trinh Minh thứ hai (916) đời Hậu
Lương, sư Huệ Ngạc người Nhật lén
đem tượng Quán Thế Âm từ Ngũ Đài Sơn
trốn về nước, thuyền đi đến
đây không tiến được nữa, bèn dựng chùa Bảo
Đà ở nơi này để thờ tượng Ngài. Do
trụ xứ của Quán Thế Âm Bồ Tát ở Ấn
Độ tên là Bổ Đát Lạc Ca, nên bèn đặt cho
ḥn đảo này tên là Phổ Đà. C̣n núi Bổ Đà Lạc
Già ở Ấn Độ (dịch nghĩa là Tiểu Hoa Thụ,
Tiểu Bạch Hoa, Tiểu Thụ Man Trang Nghiêm, Hải
Đảo, Quang Minh) nằm ngoài biển Nam Ấn Độ,
phía Đông núi Malaya. Theo kinh Hoa Nghiêm, núi này do các báu hợp
thành, hết sức thanh tịnh, bên trong có cung điện
trời bằng đá của Bồ Tát Quán Thế Âm.
[36] An Kỳ Sinh theo truyền thuyết là một
tiên nhân sống vào thời Tần Hán, họ Trịnh, tên là
An Kỳ, được Đạo Giáo coi là một trong
tám vị Chân Tiên thuộc Thượng Thanh. Tương
truyền, ông già đánh rớt giày dưới chân cầu bắt
Trương Lương ba lần lượm lên,
Trương Lương vẫn kiên nhẫn nhặt, nên
được truyền cho binh thư, phù chú, chính là An Kỳ
Sinh. Tại Trung Hoa có rất nhiều nơi được
coi là chỗ tu luyện của An Kỳ Sinh, nhất là các
đảo ngoài biển Đông, hai nơi nổi tiếng
nhất là Phổ Đà và đảo Đào Hoa (sau gọi
là Bạch Vân Sơn) thuộc quần đảo Châu Sơn
ở miền Nam Trung Hoa. Người Việt cho rằng
núi Yên Tử ở Đông Triều, Việt
Theo Hán Thư, Mai
Phước Truyện th́ Mai Tử Chân tên thật là Mai
Phước, người huyện Thọ Xuân, Cửu Giang,
thông hiểu sách vở, đặc biệt sùng bái Nho Học.
Do chán ghét thời cuộc hỗn loạn sau khi Vương
Măng cướp ngôi nhà Hán bèn đem vợ con về ẩn
cư tại Hồng Nhai. Sau ông ngao du khắp vùng Mân Việt,
tu tiên.
Cát Trĩ Xuyên, tên thật
là Cát Hồng, hiệu là Băo Phác Tử, người huyện
Cú Dung, Đơn Dương (nay thuộc Giang Tô). Ông sanh ra
trong khoảng niên hiệu Thái Khang đời Tấn, mất
vào năm Hưng Ninh nguyên niên (363). Về già, ẩn cư tại
núi La Phù vùng Quảng Đông. Chuyên nghiên cứu luyện
đan, làm thuốc. Tác phẩm quan trọng nhất của
ông là bộ Băo Phác Tử, được chia thành Nội
Thiên (gồm hai mươi quyển) và Ngoại Thiên (năm
mươi quyển). Nội Thiên dạy cách luyện thuốc
tiên (kim đan), sự biến hóa của quỷ thần,
cách dưỡng sanh kéo dài tuổi thọ. Những
chương Kim Đan, Tiên Dược, Hoàng Bạch trong ấy
được coi là thánh điển cho những kẻ luyện
đan. Ngoại Thiên bàn về lẽ được mất
trong nhân gian, thế đạo tốt xấu v.v… Ngoài ra ông
ta c̣n soạn sách y học như Kim Quỹ Dược
Phương (100 quyển), Thần Tiên Phục Dược
Phương (10 quyển), Phục Dược Phương
(4 quyển), Ngọc Hàm Tiễn Phương (năm quyển).
Những bài kim đan của ông ta thường chứa những
chất độc như thủy ngân, ch́ v.v… Rất nhiều
đạo sĩ, vua chúa luyện kim đan xong, uống vào
hộc máu chết tươi!
[37] Châu Lương là nhà Lương thuộc đời Ngũ Đại do Châu Ôn sáng lập, lập ra năm 907. Gọi là Châu Lương hay Hậu Lương để phân biệt với nhà Lương của Tiêu Diễn (Lương Vơ Đế). Ngài Huệ Ngạc khai sơn Phổ Đà vào thời Châu Lương.
[38] Hải Nhược: Theo truyền thuyết xưa, thần biển có tên là Nhược. Phong Bá là thần gió.
[39] Theo Cao Tăng Truyện, Đàm Du (c̣n có
tên là Pháp Du, Bạch Đạo Du), người xứ
Đôn Hoàng, bỏ nhà xuất gia năm 20 tuổi. Sau Ngài xuống
miền Giang Đông, trụ tại núi Thạch Thành, khất
thực tu hành. Sau Ngài dời đến núi Xích Thành. Ngài vào
núi Thiên Thai trong niên hiệu Hưng Ninh (363-365) thời
Đông Tấn chuyên tu Thiền Định. Khi Ngài tụng
kinh trong hang núi, khoảng mười mấy con hổ vây
quanh hang, gầm rú, Sư vẫn an tường tụng
kinh. Từng con cọp nằm phục trước hang,
Sư cứ tụng kinh măi không ngừng, mặt trời dần
dần xế bóng, cọp ngủ gục trước hang.
Sư cầm cây như ư gơ nhẹ vào đầu cọp quở:
“Nghiệt chướng! Sao chẳng chịu nghe kinh?” Cọp
chồm dậy, Sư lại tụng kinh tiếp. Không lâu
sau, từng đàn rắn lớn ḅ tới quấn quanh cửa
hang, ngẩng cổ nh́n. Nghe măi rắn mệt cũng từ
từ bỏ đi. Đến ngày thứ hai, sơn thần
hiện thân thưa hỏi:
- Pháp sư oai nghi,
phong thái nghiêm túc, đức hạnh khác người, đă
đến nơi đây, đệ tử xin dâng nhà cửa!
Sư nói:
- Bần tăng ở
nhờ núi này, chỉ xin một miếng đất chừng
một trượng vuông. Ông đến khiến tôi vui lắm,
sao không ở lại?
- Con th́ không nói làm ǵ,
nhưng thuộc hạ chưa được đại
pháp thuần hóa, rất khó cai quản, Ngài là người từ
xa đến, đi ra ngoài khó tránh khỏi bị chúng xâm phạm.
Thần và người không cùng một đường,
đệ tử không thể thường ở bên thầy
được!
- Ông là thần
phương nào? Trụ nơi đâu bao lâu rồi? Sẽ dời
đi
đâu?
- Con vốn là con trai của
Hạ Đế, đă sống ở đây hơn hai ngàn năm rồi.
Núi Hàn Thạch là chỗ cậu con ở, con sẽ dời
sang đó.
Nói xong, thần triệu tập thuộc hạ bay lên mây bỏ
đi. Không lâu sau, tiếng tăm Sư lan rộng, người
học Thiền t́m đến. Trong
núi có cây cầu đá, rêu phủ đầy vừa trơn
vừa ướt, v́ thế từ không ai dám trèo lên. Sư
đến gần khu vực có cầu đá, chợt nghe
trên không có tiếng nói: “Biết ngươi ḷng tin tưởng
kiền thành, chuyên dốc, nhưng hiện thời
ngươi chưa qua được, 10 năm nữa hăy lại
đến đây!” Lúc đó, trời đă tối, Sư
nghỉ lại qua đêm, mơ hồ nghe thấy những
âm thanh giống như đang có pháp sự tụng niệm
cử hành. Sáng ra, Sư ḍ dẫm lên đường, đi
nửa đường gặp một ông lăo tóc lẫn lông
mày trắng muốt, hỏi Sư đang đi đâu.
Sư thuật đầu đuôi, ông lăo nói: “Thầy là
người có thân thể hữu sanh hữu tử. Đi
tiếp chẳng phải là đón nhận cái chết ư?
Ta là sơn thần đến khuyên ngăn thầy!” Đàm
Du đành quay về, giữa đường thấy một
cái hang đá, bèn vào nghỉ trong ấy, chợt chim ở
đâu tụ lại trong hang nhiều vô kể, kêu la ầm
ĩ. Sư vẫn thản nhiên, không sợ hăi. Ngày hôm sau,
có một người đầu bịt khăn, mặc áo
đơn, đến bảo: “Đây là chỗ ở của
bỉ nhân, ngày hôm qua vắng nhà khiến thầy bị khuấy
nhiễu, thật thẹn hăi sâu xa!” Đàm Du bảo: “Nếu
đây là nhà ông, xin hăy dọn đi nơi khác”. Thần nói:
“Con đă dọn rồi, xin Sư cứ ở!” Đàm Du ở
lại đó mấy ngày. Sư trai giới thanh tịnh mấy
ngày, rồi lại đến bên cầu đá, chợt thấy
thạch động nứt ra, thấy tinh xá Phương
Quảng và các thần tăng, liền tiến đến
dâng hương, được họ đăi ăn. Ăn
xong, thần tăng bảo: “Mười năm nữa, ông
sẽ tự nhiên đến được nơi đây.
Bây giờ chưa thể lưu lại được, hăy
về đi!” Sư trở ra, nh́n lại đă thành chốn
hoang vu như cũ. Năm trăm vị Ứng Chân chính là
năm trăm vị La Hán trong ngôi chùa nơi cầu đá.
[40] Nam tham là nhắc đến điển tích Thiện Tài đồng tử từ Phước Thành đi về phía Nam lần lượt tham học với 53 vị thiện tri thức, không rơ Đông Thỉnh muốn nhắc đến điển tích nào, nhưng theo mạch văn đều cùng có nghĩa là đi tham học. Truy là áo có màu thâm, tức là Tăng chúng, Tố là áo trắng, tức người tại gia (xưa kia, cư sĩ tại gia Ấn Độ hay mặc áo trắng).
[41] Vô Giá (c̣n đọc là Vô Già) Thắng Hội
(Pañcavārsika Maha), c̣n được phiên âm là Bát Giá Vu Sắt
Hội. Gọi là Vô Giá (không ngăn trở) với ngụ
ư đây là một pháp hội khoan dung, không ngăn ngại,
chẳng phân biệt hiền thánh, đạo tục, quư tiện,
b́nh đẳng bố thí tài thí lẫn pháp thí. Thời cổ,
các vua chúa thường cứ năm năm cử hành một
lần nên c̣n gọi là Ngũ Niên Đại Hội. Phong tục
này có nguồn gốc từ thời vua A Dục. Ngài Huyền
Trang từng tham dự một đại hội Vô Giá tại
Khúc Nữ Thành do vua Giới Nhật tổ chức vào thế
kỷ thứ 7. Lương Vơ Đế từng tổ chức
hội Vô Giá tại chùa Đồng Thái vào năm Đại
Thông thứ năm (529), quy tụ năm vạn Tăng, tục.
[42] Trung dung ở đây là không thiện, không ác, hay thiện ác xen lẫn.
[43] Sách Thích Thị Kê Cổ Lược chỉ nói đại khái Ngài tên Vô Dịch, nhằm thời Đường Vơ Đế phá hoại Phật pháp, Sư vào ẩn cư trong sơn cốc, kết am tranh thiền định cả mười mấy năm, dây mây quấn kín am Ngài vẫn nghiễm nhiên Thiền Định nên dân chúng gọi là Đằng La Tôn Giả (tôn giả bị dây mây quấn). Sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển 3 chép hơi khác: Vào cuối thời Đường, tôn giả cưỡi cây gỗ nổi từ ngoài biển vào Thụy An, Ôn Châu (nay là Chiết Giang), kết am tu Thiền Định cả mấy năm trong núi sâu, dây mây phủ kín bốn bề. Một ngày nọ có người thợ săn dẫn chó đi săn, chó chui vào bụi dây mây măi không ra, bèn dùng ŕu chặt mây, thấy bầy chó đang phủ phục trước Sư, chợt kính ngưỡng, xin xuống tóc. Từ đó, lập thành chùa Bản Tịch. Do tôn giả bị dây mây quấn quanh thảo am, nên gọi là Đằng La Tôn Giả.
[44] Tuần giản:
Cơ quan giữ nhiệm vụ kiểm soát đường
thủy. Thụy An nay là một thị trấn trọng yếu
vùng Đông
[45] Tức loạn Thái B́nh Thiên Quốc
(1851-1864), quân phiến loạn do Hồng Tú Toàn và
Dương Tú Thanh cầm đầu nên gọi là loạn Hồng
Dương. Hồng Tú Toàn (1812-1864) là người cuối
đời Thanh, vốn là người huyện Hoa, tỉnh
Quảng Đông. Năm Đạo Quang 23 (1843), Hồng Tú
Toàn cùng Phùng Vân Sơn lập đạo tại huyện
Hoa, Quảng Đông, tự xưng ḿnh được
Thượng Đế mặc khải, gọi chúa Jesus là
anh cả, vay mượn giáo nghĩa Thiên Chúa Giáo, pha trộn
với những mê tín dân gian để truyền đạo
với danh xưng Bái Thượng Đế Hội.
Năm sau, sang Quảng Tây truyền giáo, tích cực tuyên truyền
quyến rũ nông dân. Mùa Xuân năm 1848, Phùng Vân Sơn bị
quan nhà Thanh bắt giam. Tháng Bảy năm 1850, Hồng Tú
Toàn hô hào dân chúng đứng lên làm loạn, bọn thảo
khấu, vô lại tham dự lên đến hai vạn
người. Ngày 11 tháng 1 năm 1851, nhân dịp sinh nhật
của chính ḿnh, Hồng Tú Toàn tự xưng là Thiên
Vương, ra sắc lệnh thiết lập Thái B́nh Thiên
Quốc, phong cho Dương Tú Thanh làm quân sư, rồi lại
phong họ Dương làm Đông Vương. Phùng Vân
Sơn tích cực thiết lập quân chế, lễ nghi và
tổ chức quân đội cho Thái B́nh Thiên Quốc, đặt
ra lịch pháp mới. Năm 1852, từ Quảng Đông,
quân Thái B́nh Thiên Quốc đánh lên Hồ
[46] Nguyên văn “lưỡng ban nội noa” (hai phen được vua ban tiền). “Nội noa” chính là tiền bạc trong kho riêng của nhà vua, chứ không phải tiền lấy từ quốc khố.
[47] Gọi là điện Thiên Vương v́ chính giữa thờ tượng Di Lặc Bồ Tát có bốn vị đại thiên vương hộ thế đứng hầu.
[48] Hệ châu: là buộc
viên châu. Đây chính là một
thí dụ trong kinh Pháp Hoa: Người cùng tử được
người bạn buộc viên châu vào trong chéo áo, nhưng
người đó không biết, cứ phải làm thuê làm
mướn kiếm ăn khổ cực, sau gặp lại
người bạn chỉ cho viên châu trong chéo áo mới biết
thụ hưởng. Kết duyên hệ châu chính là kết
duyên được Phật Di Lặc tiếp độ
trong tương lai.
[49] Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử được Bồ Tát Di Lặc dẫn vào trong Tỳ Lô Giá Na Lâu Các của Ngài. Thiện Tài nhờ quan sát những cảnh tượng trong ấy bèn chứng Đẳng Giác.
[50] Gia Hưng là một thành phố thuộc tỉnh Chiết Giang.
[51] Tam hữu: Ba cơi tức Dục Giới,
Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Hữu có nghĩa là hữu
sanh tử, hữu nhân quả báo ứng. Có tam hữu, tứ
hữu, thất hữu, cửu hữu, nhị thập
ngũ hữu sai khác; nhưng kinh chỉ thường nói
đến tam hữu (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc
Giới) và cửu hữu. Cửu Hữu tức là từ
tam hữu, phân ra thành chín cơi. Hữu có nghĩa là y báo của
chúng sanh trong thế giới.
Từ A Tỳ địa
ngục lên đến tầng trời Tha Hóa Tự Tại
thuộc về Dục Giới, c̣n gọi là Ngũ Thú Tạp
Cư địa; tức là gồm năm đường:
trời, người, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.
Mười tám tầng
trời thuộc Sắc Giới chia làm bốn loại:
a) Ba tầng trời
thuộc Sơ Thiền, gọi là Ly Sanh Hoan Hỷ Địa,
bởi họ đă khỏi phải tái sanh trong Dục Giới,
tâm rất vui mừng, sung sướng.
b) Ba tầng trời
thuộc Nhị Thiền, gọi là Định Sanh Hoan Hỷ
Địa, bởi họ do Thiền Định mà sanh về
cơi này.
c) Ba tầng trời
thuộc Tam Thiền, gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc
Địa, bởi họ đă ĺa khỏi những tướng
tâm hoan hỷ thô tháp, tâm niệm hoan hỷ rất vi diệu.
d) Chín tầng trời
thuộc Tứ Thiền, gọi là Xả Niệm Thanh Tịnh
Địa, đă bỏ những tâm niệm vui sướng
của ba tầng Thiền Thiên ở dưới, tâm niệm
rất thanh tịnh.
Bốn tầng trời
thuộc Vô Sắc Giới, chia thành bốn loại:
a) Không Vô Biên Xứ
Thiên, c̣n gọi là Không Biên Xứ Địa
b) Thức Vô Biên Xứ
Thiên.
c) Vô Sở Hữu Xứ
Thiên.
d) Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng Xứ Thiên.
Như vậy Dục
Giới có một hữu, Sắc Giới có bốn hữu,
Vô Sắc Giới có bốn hữu, tổng cộng là chín hữu.
[52] Gọi đủ là Phó Pháp Tạng Nhân
Duyên Truyện, do ngài Cát Ca Dạ và Đàm Diệu cùng dịch
vào thời Nguyên Ngụy. Tác phẩm này c̣n có tên gọi khác
là Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Kinh, Phó Pháp Tạng Truyện hay
Phó Pháp Tạng Kinh. Sách ghi chép sự tích phó chúc pháp, truyền
pháp của hai mươi ba vị tổ Ấn Độ kể
từ ngài Ca Diếp trở đi. Vị Tổ cuối
cùng là Sư Tử tôn giả bị vua nước Kế
Tân là Di La Quật giết hại, nên việc phó pháp bị
đoạn tuyệt. Truyền thống Trung Hoa thường
nói đến Tây Thiên Tứ Thất (23 vị tổ Ấn
Độ), tức là căn cứ theo sách này. Tổ Trí Khải
kể thêm vị tổ thứ 24 là ngài Ma Điền Đề.
Ngài Đạo Nguyên trong Cảnh Đức Truyền
Đăng Lục, kể thêm năm vị Bà Tu Mật, Bà
Xá Tư Đa, Bất Như Mật Đa, Bát Nhă Đa La, Bồ
Đề Đạt Ma, trở thành 28 vị Tổ Ấn
Độ của Thiền Tông. Truyền thống Trung Hoa
thường theo thuyết của ngài Đạo Nguyên.
[53] Tức vua Ca Sắc Nị Ca (Kaniska), c̣n
phiên âm là Đàn Kế Nị Tra, hay Cát Ni Thi Cát, Ca Nị Sắt
Tra v.v… Ông là vua nước Kiền Đà La (Gandhara), tức
đời vua thứ ba của vương triều Quư
Sương (Kushana). Niên đại của ông có nhiều
thuyết khác nhau, nhưng nay đa phần công nhận ông sống
nhằm thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Đế quốc
của ông rất lớn, chiếm trọn miền Bắc Ấn
Độ. Trong sử Phật giáo, ông cùng với vua A Dục
được gọi là hai vị đại vương hộ
tŕ Phật pháp. Thoạt đầu, vua tôn thờ Tỏa La
A Tư Đức giáo (Bái Hỏa Giáo), không tin tội
phước, khinh nhục Phật pháp. Về sau được
Mă Minh Bồ Tát cảm hóa bèn quy hướng Phật pháp, cực
lực hộ tŕ Phật pháp, kiến lập tự viện.
Vua chiêu tập năm trăm vị thánh giả như các vị
Hiếp Tôn Giả, Thế Hữu, Pháp Cứu, Giác Thiên v.v…
kết tập Tam Tạng tại thành Ca Thấp Di La (
[54] Hai chữ Duy Na vốn là hợp dịch
của tiếng Phạn và tiếng Hán. Duy là giềng mối,
quản trị, coi sóc. Na là lược âm từ tiếng Phạn
Karma-dàna. Karma-dàna có nghĩa là chấp sự, hàm nghĩa
người phân phối mọi việc cho đại chúng.
Như vậy, Duy Na là người quản trị tăng
chúng trong chùa. Theo Thập Tụng Luật, do xưa kia Phật
ở Xá Vệ quốc, muốn cho Tăng chúng lần
lượt lo liệu mọi việc trong chùa nên lập ra
chức Duy Na. Sách Tứ Phần Luật San Phiền Bổ
Khuyết Sao giảng: “Thập
Tụng Luật nói trong Tăng phường có người
biết thời hạn, đến giờ xướng tụng
bèn đánh kiền chùy. Lại do không có người quét
tước, dọn dẹp giảng đường, nhà
ăn, không ai liên tục trông nom giường ṭa, dạy
người khác làm sạch trùng kiến khỏi trái cây, thức
ăn. Lúc ăn uống không có ai lo nước nôi, lúc đại
chúng nói chuyện lung tung không có ai khảy ngón tay [nhắc nhở]
v.v… nên Phật lập ra chức Duy Na. Thanh Luận phiên là
Thứ Đệ, nghĩa là biết thứ tự các việc,
c̣n gọi là Duyệt Chúng (làm cho chúng vui đẹp)”.
Như vậy, Duy Na là chức vụ do Phật chế
định để cai quản tạp sự trong Tăng
chúng. Xưa nay, các đại tự viện lập ra Tam
Cương tức Thượng Tọa, Trụ Tŕ, Duy Na.
Trong nhà Thiền, Duy Na là một trong sáu chức tri sự,
là chức vụ trọng yếu quản lư oai nghi tăng
chúng. Trong các tông phái khác, Duy Na thường là người
hướng dẫn, nhắc nhở đại chúng tu hành
pháp yếu, kiêm nhiệm việc dẫn xướng trong
khi tụng niệm, hồi hướng. Nay chữ Duy Na
thường bị hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là
người giữ chuông, xướng giọng dẫn lễ
trong các buổi tụng kinh. Tuy Duyệt Chúng là dịch
nghĩa của chữ Duy Na, nhưng nay chữ Duyệt
Chúng lại thường được hiểu là người
giữ mơ trong khi tụng kinh.
[55] Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập là một bộ từ điển Phạn Hán do ngài Pháp Vân soạn vào đời Tống. Từ năm Thiệu Hưng 13 (1143) đời Tống Cao Tông, Sư thâu thập tài liệu suốt 20 năm, qua nhiều phen chỉnh lư mới hoàn thành. Bộ sách này chú giải 2.040 từ ngữ trọng yếu trong kinh Phật, chia làm 64 thiên theo bộ loại. Với mỗi từ ngữ, nêu đại ư và liệt kê những cách dịch khác nhau cũng như xuất xứ của những từ ngữ ấy.
[56] Tiên chúa: vua đă mất. Tự quân: vua nối ngôi.
[57] Báo chung: Chuông nhỏ thường treo trong thiền
đường, hay tăng xá dùng để báo giờ ngồi
Thiền, tụng kinh, niệm Phật, hoặc triệu tập
đại chúng. Hô bản: Theo Sắc Tu Bách Trượng
Thanh Quy, Bản có h́nh dạng gần như một tấm
gỗ phẳng, có nhiều thứ, tùy theo công dụng mà làm
bằng gỗ hay kim loại. Trong các Đường có loại
gọi là Báo Danh Bản (khi ḥa thượng trụ tŕ vào
thiền đường, trực nhật tăng sẽ
đánh một tiếng cho đại chúng biết. Khi khách
viếng thăm, bước vào khách đường
đánh hai tiếng. Vị đứng đầu Đường
ấy vào Đường th́ đánh ba tiếng). Trong mỗi
Đường loại có các loại bản khác như bản
để đánh khi chạy hương, bản để
đánh khi thắp hương v.v… Mộc Dục Bản
treo trong nhà tắm, được đánh lên khi nước
nóng đă sẵn sàng. Các loại này đều bằng gỗ.
Hô Bản được nói ở đây là loại bản
đúc bằng đồng hay sắt treo trước cửa
nhà bếp, được đánh lên để báo giờ
cơm đă bắt đầu. Đại khánh là chuông gia
tŕ, tức chuông để gơ trong khi tụng kinh.
[58] Thập Bát La Hán thật ra chỉ có 16 vị La Hán.
Theo Pháp Trụ Kư của tôn giả Khánh Hữu, lúc đức
Phật sắp nhập Niết Bàn, đă phó chúc việc hoằng
dương Phật pháp lại cho 16 vị La Hán. Từ
đời Đường, người Trung Quốc đă
thêm vào hai vị tôn giả, thành ra 18 vị. Tạng truyền
Phật giáo lại ghép hai vị cư sĩ Đạt Ma
Đa La và Bố Đại Ḥa Thượng vào số 16 vị
La Hán kể trên thành 18 vị. Hiện thời, danh tánh của
18 vị La Hán (theo quy định từ thời Càn Long)
như sau: Tân Đầu La Phả La Đọa Xà
(Pindola-Bharadvaja), Ca Nặc Ca Phạt Sa (Kanakavatsa), Ca Nặc
Ca Bạt La Đọa Xà (Kanaka-bharadvaja ), Tô Tần Đà
(Suvinda), Nặc Cự La (Nakula), Bạt Đà La (Bhadra), Ca Lư
Ca (Karika), Phạt Xà La Phất Đa La (Vajraputra), Thú Bác Ca
(Svaka), Bán Tra Ca (Panthaka), La Hỗ La (Rahula), Na Già Tê Na
(Nagasena), Nhân Yết Đà (Ingata), Phạt Ba Bà Tư
(Vanavasin), A Thị Đa (Ajita), Chú Đồ Bán Tra Ca (Cuda
Panthaka), Ca Diếp tôn giả và Di Lặc tôn giả
[59] Vua hạ chiếu sai người xây dựng, tu bổ th́ gọi là “sắc kiến” hay “sắc tạo”. Chùa được vua công nhận là quốc tự th́ gọi là Sắc Tứ.
[60] Theo từ điển Từ Hải, “hạc bổng” là bổng lộc của quan chức, phù là một loại côn trùng, vừa có nghĩa là đồng tiền. Như vậy, “phù nang” là túi đựng tiền.