ẤN QUANG ĐẠI SƯ KHAI THỊ

TẠI PHÁP HỘI HỘ QUỐC TỨC TAI

Ở THƯỢNG HẢI

(nguyên văn:Thượng Hải Hộ Quốc

Tức Tai Pháp Ngữ)

 

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Liên Hương

Giảo chánh và nhuận sắc: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang

 

DUYÊN KHỞI

 

Nhân đọc được cuốn sách nhỏ này vào năm 2002, chúng tôi thật cảm kích trước tấm ḷng ưu thời mẫn thế từ bi vô lượng của tổ Ấn Quang nên đă gắng gượng chuyển ngữ sang tiếng Việt vào tháng Tư năm 2003, như một món quà nhỏ dành riêng cho liên hữu Vạn Từ, ngơ hầu đáp tạ những khuyến tấn chí t́nh của anh dành cho mạt nhân trên những bước chập chững “uống mật gấu” bon chen chuyển ngữ những tác phẩm Tịnh Độ v́ ḷng tham pháp, tiếc pháp. Nguyên bản mạt nhân sử dụng khi ấy là ấn bản của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội. Trong tháng Mười năm 2006, qua một lần điện đàm cùng pháp sư Ngộ Sanh, sư cô cho biết pháp sư Ngộ Hạnh đang giảng tác phẩm này, và sư cô có nhă ư muốn in bản dịch này thành sách, đồng thời gởi tặng ấn bản mới nhất do Đài Nam Tịnh Tông Học Hội ấn hành. Nhân đó, mạt nhân so sánh hai ấn bản, nhận thấy tuy hai ấn bản có những chỗ đại đồng tiểu dị, nhưng lời văn trong bản Đài Nam Tịnh Tông Học Hội gọn gàng hơn, tinh xác hơn, văn phong cũng gần gũi với cách viết trong Ấn Quang Văn Sao hơn, nên mạt nhân đă sửa lại bản dịch cũ cho khớp với bản Đài Nam Tịnh Tông Học Hội (với hy vọng bản dịch này sẽ là phần tham khảo cho băng giảng của pháp sư Ngộ Hạnh); đồng thời sửa lỗi chánh tả, đính chính những sai sót, cũng như “diễn nôm” một số thuật ngữ Hán Việt không thông dụng và thêm một số chú thích (theo lời dạy của pháp sư Ngộ Sanh). Một hai đoạn bị lược bỏ trong ấn bản của Đài Nam Tịnh Tông Học Hội, nhưng theo ngu ư là rất quan trọng th́ chúng tôi vẫn giữ nguyên theo ấn bản của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội. Chúng tôi cũng tự tiện đưa thêm vào phần phụ lục bài văn khuyên phóng sanh của đại sư trích từ bộ Ấn Quang Tăng Quảng Chánh Biên Văn Sao nhằm bổ sung ư nghĩa lời giảng của đại sư trong ba ngày đầu tiên của pháp hội. Ngưỡng mong, tập sách dịch vụng về thô thiển này sẽ đem lại đôi chút lợi ích nhỏ nhoi cho những sơ cơ Tịnh nghiệp hành nhân như chúng tôi.

Trân trọng cảm tạ các đạo hữu Minh Tiến và Huệ Trang đă dành nhiều công sức giảo duyệt bản dịch này. Nếu việc làm tùy tiện, táo tợn này có chút phần công đức nào, đều xin hồi hướng về lịch đại phụ mẫu sư trưởng, hiện tiền phụ mẫu sư trưởng, cừu gia oán đối và các liên hữu cùng pháp giới chúng sanh đều được hội ngộ nơi cơi Cực Lạc thanh lương.

 

Ngày mồng Một tháng Mười Một năm 2006,

Bửu Quang Tự đệ tử Liên Hương kính ghi


LỜI TỰA TỰ ĐỀ

 

Ấn Quang tôi là một ông Tăng phàm tục ở Tây Tần[1] chỉ biết đến cơm cháo, trăm sự không làm được điều ǵ; túc nghiệp sâu nặng đến nỗi trời phải quở trách. Mới sanh được sáu tháng đă mắc bệnh mắt, trong suốt một trăm tám mươi ngày không mở nổi mắt. Ngoại trừ lúc ăn, ngủ ra, thường khóc suốt ngày đêm. Nhờ thiện lực xưa, may c̣n được thấy ánh mặt trời, cũng may mắn lắm! Đến tuổi thiếu niên[2] đọc sách, lại bị hăm vào vực xoáy báng Phật của Tŕnh, Chu, Âu, Hàn[3]. Từ đấy, hằng ngày chuyên chí bác Phật, nghiệp tướng lại hiện, bệnh tật triền miên. Tận lực nghĩ ngợi, suy xét cặn kẽ mới biết lỗi đó; năm hai mươi mốt tuổi, xuất gia làm Tăng. Nhân thấy Tăng chúng có kẻ chẳng như pháp nên phát nguyện chẳng trụ tŕ chùa miếu, chẳng thâu đồ đệ, chẳng hóa duyên[4], chẳng cùng ai kết xă lập hội. Hơn năm mươi năm chẳng đổi chí ban đầu, sống lẩn quất[5] gần Ngô Môn. Đầu tháng Chín, Lư Sự Trưởng (hội trưởng) hội Phật Giáo Trung Quốc là pháp sư Viên Anh, các vị lănh tụ của Bồ Đề Học Hội như cư sĩ Khuất Văn Lục v.v… thấy Quang tuổi cao, ngỡ tôi có chút tâm đắc, nào hay tôi chỉ biết húp cháo nuốt cơm, họ thỉnh tôi khi pháp hội Tức Tai Hộ Quốc khai mạc, sẽ đến đất Hỗ[6] diễn thuyết. Cố từ chẳng được, chỉ đành đem điều [ḿnh hiểu biết] lầm lạc bù đắp sự lầm lạc[7].

Đến kỳ, mỗi ngày ông Đặng Huệ Tải và hai ba vị cư sĩ ở Vô Tích đều dùng máy thu âm [thu lại], nghe băng chép ra, mang đến xin tôi giám định để ấn hành. Bản sao lục này [so với lời giảng] có vài điểm sai khác đôi chút. Nhưng bản sao của ông Đặng chép chữ to, nên tôi dựa theo đó, sửa đổi, tóm tắt lại. Cảo bản[8] này bậc thông huệ chẳng cần xem đến, c̣n ai ngu độn như Ấn Quang tôi mà lại muốn ngay trong đời này kết liễu đại sự sanh tử và muốn trị tâm, trị thân, trị gia, trị quốc, nhưng chẳng biết bắt đầu từ đâu, xem đến cảo bản này, họa chăng có điều bổ ích vậy.

 

Trọng Đông năm Bính Tư, Dân Quốc 25 (1936), Thích Ấn Quang đề

 

LỜI TỰA CHO TÁC PHẨM

ẤN QUANG ĐẠI SƯ KHAI THỊ LỤC[9]

 

Thế gian biến loạn do đâu? Nói gọn một lời: Do tâm tham - sân - si của chúng sanh tạo nên mà thôi. Tâm tham thuận theo sự hưởng thụ vật chất càng tăng trưởng mănh liệt, hễ có chút ǵ chẳng toại ư liền ganh đua ngay. Nếu vẫn chẳng toại ư liền có công kích, chiếm đoạt, đấu đá khiến cho tử vong, tai nạn đi theo. [Bởi đó] dịch lệ đói kém theo đó [xảy ra], hết thảy tai họa theo đó [phát khởi]. Lửa sân hừng hực, cả thế giới cháy sạch thành tro.

Chỉ ḿnh đức Như Lai ta xiển dương sự thật Khổ, Không để trị ḷng tham của chúng sanh, hoằng dương tông chỉ từ bi để trị ḷng sân của chúng sanh. Ngài lại dạy pháp môn Tịnh Độ để chỉ dạy chúng sanh con đường ĺa khổ hưởng vui, phương tiện vượt ngang ra khỏi tam giới. Là Phật tử, tin vào thể tánh b́nh đẳng của pháp giới, hiểu rơ tướng trạng nhân - quả, khổ - vui, biết công dụng tự - tha (ta - người), cảm - ứng, khởi vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, ngày nào nỗi khổ của chúng sanh chưa trừ th́ ngày đó trách nhiệm của kẻ thất phu chưa tận, nên trong ngày ấy, các sự nghiệp thỉnh pháp, tùy học, sám hối, cúng dường chưa thể ngưng nghỉ được. Tông chỉ kiến lập pháp hội Hộ Quốc Tức Tai của Bồ Đề Học Hội và các hội viên đă giống như thế, mà lăo pháp sư Ấn Quang phó hội diễn thuyết cũng do bổn hoài ấy. Đạo lư Hộ Quốc Tức Tai nào phải cầu nơi khác đâu!

Nếu ai nấy chẳng làm các điều ác th́ những sự tổn hại chúng sanh đều sẽ chẳng ai làm, tham - sân chẳng đủ để tạo thành tai họa vậy! Ai nấy có thể vâng làm các điều thiện th́ hết thảy những việc lợi ích chúng sanh không ǵ là chẳng làm, quốc gia ắt đạt đến cảnh b́nh trị vậy! Ai nấy có thể tu hạnh Tịnh Độ th́ sẽ tự tịnh ư ḿnh. Một niệm niệm Phật th́ một niệm tương ứng với bi tâm của đức Di Đà. Niệm niệm niệm Phật th́ niệm niệm tương ứng với bi tâm của đức Di Đà. Tịnh niệm tiếp nối, tham - sân tự trừ. Nếu thật sự được như thế th́ Sa Bà chính là Tịnh Độ, c̣n lo chi cơi nước chẳng yên, tai nạn chẳng dứt nữa ư? Yếu nghĩa trong những lời khai thị nhiều phen của Đại Sư chẳng ngoài điểm này. Nguyện ai đọc đến cuốn Ngữ Lục này sẽ tin nhận, vâng làm theo. Đọc rồi mới biết trong đạo lư Hộ Quốc Tức Tai, hễ buông bỏ pháp môn Tịnh Độ th́ c̣n pháp nào thích hợp nữa!

Mùa Đông năm Bính Tư, Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xă kính đề tựa

 

TRIỆT NGỘ ĐẠI SƯ KHAI THỊ

 

Một là tin hễ có sanh ắt có tử, khắp cả thiên hạ từ xưa đến nay chưa hề có ai tránh khỏi.

Hai là tin nhân mạng vô thường, hơi thở ra tuy c̣n, hơi hít vào khó giữ, một hơi thở hít chẳng vào th́ đă thành đời sau.

Ba là tin đường luân hồi hiểm trở, một niệm lầm lạc liền đọa nẻo ác. Được thân người như đất đọng trên móng tay, mất thân người như đất trong đại địa.

Bốn là tin nẻo khổ dài lâu, một phen chịu báo trong tam đồ là cả năm ngàn kiếp, biết khi nào mới ló đầu ra nổi!

Năm là tin lời Phật chẳng hư dối, vầng mặt trời, mặt trăng đây làm cho c̣n rơi rụng được, núi chúa Diệu Cao c̣n làm cho khuynh động được, chứ lời chư Phật chẳng hề sai khác.

Sáu là tin thật có Tịnh Độ giống hệt như Sa Bà hiện tại, hiện hữu rành rành.

Bảy là tín - nguyện liền sanh, nay ḿnh đă nguyện th́ nay ḿnh sẽ sanh. Kinh đă giảng rơ, nào dối ta đâu!

Tám là tin [văng] sanh rồi sẽ chẳng thoái, cảnh thù thắng, duyên mạnh mẽ, tâm thoái chuyển chẳng khởi.

Chín là tin một đời thành Phật, thọ mạng vô lượng, việc ǵ chẳng xong!

Mười là tin pháp vốn duy tâm. Duy tâm có hai nghĩa: cụ (có đủ tất cả) và tạo (tạo ra tất cả). Các pháp [vừa nói] như trên tâm ta sẵn đủ, đều do tâm ta tạo ra.

Do tin lời Phật th́ tạo thành bốn pháp sau (tức là từ điều 5 đến điều 8); chẳng tin lời Phật chỉ tạo ra bốn điều trước (điều 1 đến điều 4). V́ thế tin sâu lời Phật là tin sâu tự tâm; tu Tịnh nghiệp, đầy đủ mười thứ tín tâm này th́ sanh về Lạc Độ như đưa bằng khoán lấy về vật xưa, nào khó khăn ǵ!

 

Tháng 7 năm Giáp Tư, Nột Đường Đạo Nhân viết.

 


THƯỢNG HẢI HỘ QUỐC TỨC TAI PHÁP HỘI PHÁP NGỮ

Ấn Quang pháp sư giảng giải,

Đặng Huệ Tải thuộc Phật Giáo Nhật Báo ghi chép

 

Ngày thứ nhất:

Niệm Phật, ăn chay là căn bản để hộ quốc tức tai

 

Ấn Quang vốn là một ông Tăng tầm thường, vô tri, vô thức, chỉ biết đến cơm cháo, chỉ biết niệm Phật dăm câu, tuy sống uổng thời gian hơn bảy mươi năm, nhưng tuyệt chẳng hề triệt để nghiên cứu Phật pháp. Pháp hội Hộ Quốc Tức Tai lần này, các vị kèo nài tham gia, v́ t́nh nghĩa chẳng từ khước được. Vả lại, đây là chuyện quan hệ đến phước lợi quốc gia mà cũng là trách nhiệm tôi phải tận lực nên tôi chẳng nề ḿnh hiểu biết sơ sài vụng về đến dự pháp hội này. Điều tôi giảng hôm nay trọn chẳng phải là lư luận cao sâu ǵ, chỉ là thuật lại phương pháp căn bản để “hộ quốc tức tai”. C̣n về ư nghĩa quan trọng của pháp hội lần này, ngày mai sẽ bàn đến.

Mục đích của pháp hội lần này là hộ quốc tức tai[10]. Làm sao mới đạt được mục đích này? Tôi cho rằng phương pháp căn bản là Niệm Phật v́ sát kiếp và hết thảy tai nạn đều do ác nghiệp của chúng sanh chiêu cảm. Nếu tất cả mọi người đều niệm Phật th́ nghiệp này sẽ xoay chuyển được. Nếu chỉ có một ít người niệm Phật th́ nghiệp ấy cũng có thể giảm nhẹ. Pháp môn Niệm Phật tuy là v́ cầu sanh Tịnh Độ, liễu thoát sanh tử mà lập ra, nhưng sức tiêu trừ nghiệp chướng của nó quả thật cũng cực kỳ lớn lao. Người chân chánh niệm Phật trước hết ắt phải giữ vẹn đạo nghĩa, tận hết bổn phận, ngăn dứt ḷng tà, giữ ḷng thành[11], đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Cần nhất là phải hiểu rơ nhân quả, tự hành, dạy người hành. Hiện tại không thánh, không hiếu, khinh miệt đạo, phế luân thường, giết cha, chung vợ v.v… bao tà thuyết đều là do bọn Tống Nho bài bác nhân quả - luân hồi đến nỗi sanh ra ác quả này. Nếu như ai cũng hiểu rơ đạo lư nhân quả th́ chẳng một ai dám xướng lên những thuyết sai lầm ấy cả. Trong thế gian, người tốt hoàn toàn chẳng biến đổi rất ít, kẻ xấu hoàn toàn chẳng biến đổi cũng rất ít; đa số là kẻ lúc thượng, lúc hạ, khi tốt, khi xấu, cho nên giáo hóa là điều khẩn yếu nhất vậy. Khổng Tử nói: “Duy hạ trí dữ hạ ngu bất di” (Chỉ bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là chẳng thay đổi). Chỉ cần ra sức giáo hóa th́ không một ai là chẳng thể khiến họ đổi ác theo lành, buông dao đồ tể, ngay lập tức thành Phật. Chỉ là do nơi con người tin tưởng, nghĩ nhớ, tận lực mà hành thôi. Ngày nay xă hội Trung Quốc sở dĩ loạn lạc rối ren đến như thế này chính là do không được giáo hóa; nhưng giáo hóa phải bắt đầu từ lúc c̣n nhỏ, như hay nói: “Giáo phụ sơ lai, giáo nhi anh hài” (Dạy con từ thuở c̣n thơ, dạy vợ từ thuở ban sơ mới về). Nếu lúc nhỏ chẳng dạy, đến lúc lớn khó ḷng lay chuyển. V́ sao? Tập tánh (thói quen) đă thành, không cách chi thay đổi được. V́ thế, người niệm Phật cần phải chú ư giáo dục con cái ḿnh trở thành người tốt, giữ tấm ḷng tốt, nói lời tốt, làm việc tốt. Nếu ai cũng làm được như thế th́ tai nạn tự tiêu, quốc gia cũng giữ được hưởng phước b́nh trị dài lâu[12].

Chân lư mầu nhiệm căn bản của pháp môn Niệm Phật nằm trong ba kinh Tịnh Độ. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm đă dạy: [Niệm Phật] chính là hạnh nguyện căn bản chẳng thể thiếu khuyết. V́ Thiện Tài đă viên măn tâm Thập Tín[13], tham học với tỳ-kheo Đức Vân, được Ngài dạy cho pháp môn Niệm Phật, liền nhập vào Sơ Trụ[14], phần chứng Pháp Thân. Từ đấy, ông tham học với hơn năm mươi vị thiện tri thức, hễ nghe xong liền chứng, từ Nhị Trụ đạt đến Thập Địa là bốn mươi địa vị. Tối hậu, ở chỗ Phổ Hiền Bồ Tát, được nghe Ngài khai thị, được sức oai thần gia bị, sở chứng ngang với ngài Phổ Hiền, ngang với chư Phật, liền thành Đẳng Giác Bồ Tát. Sau đó, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn dắt quy hướng Cực Lạc, khuyến khích, cổ vũ Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng nhất trí tinh tấn hành tŕ, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới hầu mong viên măn Phật Quả. V́ thế, biết rằng: Pháp môn Niệm Phật, tự phàm phu thuở ban đầu cũng có thể chứng nhập được, mà rốt cục đến bậc Đẳng Giác cũng chẳng thể vượt ra ngoài nổi. Thật là pháp môn Tổng Tŕ trên thành Phật đạo, dưới giáo hóa chúng sanh, thành thỉ, thành chung[15] của mười phương tam thế hết thảy chư Phật. V́ thế, pháp môn này được chín giới cùng hướng về, mười phương chung tán thán, ngàn kinh cùng xiển dương, vạn luận đều tuyên thuyết.

Phàm là người học Phật th́ có một việc nên chú ư là rất cần kiêng ăn mặn v́ ăn mặn sẽ tăng trưởng cơ duyên giết hại. Con người cùng hết thảy động vật cùng sanh trong ṿng trời đất, tâm tánh vốn là b́nh đẳng, chỉ v́ nhân duyên ác nghiệp đến nỗi h́nh thể sai khác quá xa. Nếu đời này quư vị ăn thịt chúng nó, đời mai sau chúng nó sẽ ăn thịt quư vị. Oan oan tương báo (oán hờn báo đền măi), cơ duyên giết chóc đời đời chẳng có lúc nào kết thúc. Nếu như ai ai cũng ăn chay được th́ sẽ vun bồi tâm từ bi của chính ḿnh, tránh khỏi cơ duyên giết hại. Nếu không, dù cho niệm Phật, nhưng chỉ lo sướng miệng, vui bụng, ăn đẫy thức tanh hôi, có được lợi ích thật sự nhờ học Phật đâu[16]!

Hơn nữa, người đời nay ưa nói Thiền Tịnh Song Tu. Xét đến cùng cái gọi là Song Tu đó chỉ là khán câu “người niệm Phật là ai?” Đấy là chú trọng tham cứu, chẳng ăn nhập ǵ đến việc sanh Tín phát nguyện cầu văng sanh của Tịnh Độ cả, rơ ràng là hai chuyện [khác biệt]! Thêm nữa, Thiền Tông nói: “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” là nói đến đương nhân đích thân thấy được chính nơi tâm vốn sẵn đủ Phật tánh. Mật Tông nói: “Ngay thân này thành Phật” (tức thân thành Phật) tức là ngay thân này được giải thoát sanh tử th́ đó là “thành Phật”. Nếu vội hiểu những lời đó có nghĩa là [ngay chính nơi thân này] có thể thành tựu được vị Phật vạn đức đầy đủ, phước huệ viên măn th́ lầm to, lầm to mất rồi!

Bởi lẽ, “kiến tánh thành Phật” của Thiền Gia là [sở chứng] của địa vị đại triệt, đại ngộ. Nếu đoạn được Kiến Hoặc và Tư Hoặc[17] trong tam giới mới có thể liễu sanh thoát tử. “Tức thân thành Phật” của Mật Tông chẳng qua là nói về địa vị mới liễu thoát sanh tử. Địa vị đó là bậc A La Hán trong Tiểu Thừa đă liễu sanh tử, bậc Sơ Tín trong Viên Giáo đă đoạn Kiến Hoặc, bậc Thất Tín đoạn Tư Hoặc rồi mới giải quyết xong sanh tử. Bậc Thất Tín và A La Hán tuy cùng liễu sanh tử nhưng thần thông, đạo lực khác xa nhau vời vợi. Bát Tín, Cửu Tín, Thập Tín phá được Trần Sa Hoặc[18], cho đến Thập Tín Hậu Tâm phá một phẩm Vô Minh, chứng một phẩm Tam Đức bí tạng[19], nhập vào Sơ Trụ, thành bậc Pháp Thân Đại Sĩ. Trải qua Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác là bốn mươi mốt địa vị rồi mới chứng nhập địa vị Phật. Lịch tŕnh c̣n lâu xa như thế đó, làm sao mà một bước vọt đến nơi ngay cho được? Người tu Tịnh Độ đă sanh về Tây Phương liền liễu sanh tử th́ cũng là “tức thân thành Phật”, nhưng Tịnh Tông chẳng nêu cái thuyết tiếm phận[20] ấy. Đem so với việc thuần cậy vào tự lực của nhà Thiền th́ sự khó - dễ thật là sai khác một trời một vực. Kính mong các vị dự hội suy nghĩ chín chắn điều này[21].

 

Ngày thứ hai:

Bàn về nhân quả báo ứng và sự giáo dục trong gia đ́nh

 

Ngày hôm qua giảng về pháp môn Tịnh Độ, hôm nay giảng về ư nghĩa của pháp hội Hộ Quốc Tức Tai. Muốn nói đến “hộ quốc tức tai” th́ trước hết phải biết là “hộ quốc” (giữ ǵn đất nước) như thế nào? “Tức tai” (dứt trừ tai nạn) như thế nào? Là v́ muốn đạt đến mục đích[22] ấy, có hai biện pháp: Một là lâm thời, hai là b́nh thời. Nếu lúc b́nh thường có thể ăn chay niệm Phật để cầu hộ quốc tức tai th́ cố nhiên có công đức vô hạn; mà lúc lâm thời, dốc ḷng thành kính cầu nguyện giữ yên đất nước, dứt bặt tai nạn cũng có hiệu lực tương đương; nhưng vẫn chẳng bằng lúc b́nh thời mọi người hộ quốc tức tai th́ hay hơn. Bởi lẽ, nếu b́nh thời mọi người ăn chay niệm Phật, do nguyện lực tiếp nối nên tà khí tiêu trừ, chánh khí tăng trưởng, ai nấy giữ tấm ḷng tốt, nói lời tốt, làm việc tốt th́ tự nhiên quốc gia được bảo vệ, tai ương tự tiêu vậy.

Sách xưa có ghi: “Thánh nhân bất trị dĩ bệnh, trị vị bệnh; bất trị dĩ loạn, trị vị loạn” (Thánh nhân chẳng trị lúc đă bệnh, trị lúc chưa bệnh; chẳng trị lúc đă loạn, trị từ lúc chưa loạn). Bởi lẽ, đă loạn th́ trị khó ổn, trị từ lúc chưa loạn th́ dễ an. Phàm trị quốc giống như trị bịnh, có cách trị nơi ngọn, có cách trị nơi gốc. Trị bệnh là trị khi đă loạn. Nếu cầu lấy hiệu quả nhanh chóng, tức là đau đầu trị bệnh đầu, đau đùi trị bệnh đùi, [tức là] trị cái ngọn vậy[23]. Cái ngọn đă lành, sau đấy mới lại trị cái gốc khiến cho khí huyết lưu thông trọn khắp, khỏe khoắn, sảng khoái. Gốc đă lành bệnh th́ tự nhiên tinh thần phấn chấn, mới có thể hăng hái ra sức.

Hiện thời, quốc gia nguy nan đă đến mức ngàn cân treo sợi tóc. Tôi cho rằng hiện tại trị quốc th́ phải trị cả ngọn lẫn gốc. Cách kiêm trị không chi tốt bằng niệm Phật, ăn chay, kiêng giết, phóng sanh và hiểu sâu xa lư nhân quả trong ba đời. Kiếp vận hiện tại của thế giới, những tai nạn chúng ta phải chịu đựng đều là do ác nghiệp quá khứ chiêu cảm đến nỗi nhận lấy khổ quả hiện thời. Do đó, biết rằng: Những ác nghiệp này là do ác nhân trong quá khứ tạo thành; muốn tránh khổ quả phải dứt khổ nhân. Quá khứ đă gieo khổ nhân th́ chỉ niệm Phật, sám hối mới có thể tiêu trừ được nổi. Hiện tại nếu chẳng gieo khổ nhân nữa th́ tương lai sẽ khỏi phải chịu khổ quả. Khổ nhân là ǵ? Là ba độc tham, sân, si. Thiện nhân là ǵ? Giúp vật lợi người. Nếu ai nấy hiểu rơ lẽ nhân quả th́ chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tai họa sẽ chẳng từ đâu mà khởi lên được nữa! Chỉ v́ người đời nay chẳng hiểu lư nhân quả nên lắm mối tư dục (ham muốn được sở hữu riêng tư) đầy ắp dạ, không điều ác nào chẳng làm, chỉ biết có ta, chẳng biết có ai khác. Nào biết lợi người chính là lợi ḿnh, hại người c̣n tệ hơn hại ḿnh!

V́ thế, hằng ngày, tôi thường bảo: “Nhân quả là đại căn bản để thánh nhân trị thiên hạ, để Như Lai độ chúng sanh. Bỏ nhân quả mà bàn đến chuyện trị quốc b́nh thiên hạ khác ǵ níu cây t́m cá, tôi chưa từng thấy ai có thể t́m được cả!” Phật dạy: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Muốn biết nhân đời trước, xem quả báo đời này. Muốn biết quả mai sau, xem việc làm đời này). Nếu như những điều ḿnh tạo tác đời này đều là việc ác, đời sau chắc chắn bị quả ác! Nếu những hành vi đời này đều là việc lành th́ đời sau nhất định hưởng thiện quả!

Kinh Dịch chép: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà chất chứa điều chẳng lành, tai ương ắt có thừa). Kinh Thư chép: “Tác thiện, giáng chi bách tường. Tác bất thiện, giáng chi bách ương” (Làm lành, trăm điều tốt lành giáng xuống. Làm việc chẳng lành, trăm tai ương đổ xuống). Lư ấy hệt như lư nhân quả của đức Phật ta đă giảng. Chữ “dư” đă nói đó chính là tàn dư của chánh báo, chứ không phải là chánh báo. Chính người ấy trong đời sau tự ḿnh hưởng thụ, nên gọi là “bổn khánh, bổn ương” (điều vui mừng hay tai ương chính), c̣n dư báo lan qua con cháu. Dư báo, dư ương đều là do tổ phụ tích chứa mà thành vậy!

Người đời chẳng biết nhân quả, thường nói sau khi chết đi là đă giải thoát hoàn toàn, không nghĩ rằng sẽ lại có quả báo thiện - ác nữa. Đây chính là tà kiến về đời sau sai lầm nhất của thiên hạ vậy. Cần biết là: Người đă chết đi rồi, thần thức chẳng bị diệt. Nếu ai nấy biết thần thức chẳng diệt th́ ắt sẽ thích làm lành. Nếu không biết thần thức chẳng diệt sẽ mặc t́nh phóng túng, chung của cải, chung vợ, giết cha, giết mẹ, đủ thứ tội ác, do đấy mà sanh, không điều ác ǵ chẳng làm. Hành vi nghịch ác tột bực ấy đều là kết quả của tà kiến đoạn diệt mà ra! Nếu hết thảy mọi người thật sự có thể chẳng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành th́ thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc. Nhưng đấy vẫn chưa phải là biện pháp rốt ráo. Thế nào mới là biện pháp rốt ráo? Chính là niệm Phật cầu sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử, và phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, ngăn chặn điều tà, giữ ḷng thành th́ chuyển được vận nước, tiêu trừ được tai nạn. Bởi lẽ, tai nạn ngày nay đều là do cộng nghiệp của mọi người chiêu cảm.

Nếu ai nấy đều có thể niệm Phật, làm lành th́ chuyển được cộng nghiệp, tiêu được kiếp vận. Ngay trong lúc chiến cuộc nổ ra ở đất Hỗ vào ngày Hai Mươi Tám tháng Giêng[24], những người niệm Phật được linh cảm rất nhiều. Bọn họ chỉ tu một ḿnh mà c̣n đạt được sự linh cảm như thế, huống là ai nấy cùng tu! V́ thế, biết rằng: Do đại chúng chí thành khẩn thiết niệm Phật cũng có thể văn hồi được tai nạn của đất nước. Lại như đức Quán Thế Âm Bồ Tát dùng ba mươi hai ứng thân vào trong các cơi nước, theo tiếng cứu khổ. Nếu như có thể chí thành tụng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm th́ sẽ tự được cảm ứng. Những chuyện linh cảm xưa nay xem trong các sách vở có ghi chép rất nhiều, các vị có thể tự t́m đọc lấy. Ngoài những thân đă thuật trong phẩm Phổ Môn “[Bồ Tát] thấy nên dùng thân nào để độ được th́ liền hiện thân đó cứu độ” ra, nếu [Bồ Tát thấy] nên dùng thân núi, sông, đại địa, cầu bến, đường sá để hóa độ được th́ Ngài cũng hiện các thân núi, sông, đại địa, cầu bến, đường sá… để cứu độ.

Con người hiện tại, kẻ dấy được ḷng tin ít lắm, kẻ không phát khởi ḷng tin rất nhiều. Nếu ai nấy phát được ḷng tin, lại c̣n có thể hành thiện th́ có tai vạ nào mà chẳng thể tiêu diệt được? Nhưng ḷng tin của con người cần phải vun bồi từ nhỏ. Phàm là người làm cha mẹ, khi con cái c̣n thơ ấu, hăy nên dạy con cái lẽ nhân quả báo ứng, đạo lư giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận. Nếu đợi đến lúc trưởng thành, tập tánh đă thành, khó có tác dụng ǵ! Điều quan trọng nhất là “thai giáo” (dạy từ trong thai). Nếu phụ nữ mang thai có thể ăn chay, niệm Phật, làm lành, bỏ ác, mắt chẳng nh́n sắc ác, tai chẳng nghe tiếng ác, thân chẳng làm việc ác, miệng chẳng thốt lời ác, khiến cho đứa trẻ c̣n trong thai đă bẩm thọ[25] chánh khí khiến cho thiên tánh tinh thuần. Sanh ra, lại giáo hóa thêm th́ không đứa nào lại chẳng trở thành thiện nhân.

Xưa kia, các bà Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự đức hạnh hiền thục, cao đẹp, giúp chồng dạy con, nên tạo nền móng cho vương nghiệp nhà Chu cả tám trăm năm. Ấn Quang thường bảo: “Quyền trị quốc, b́nh thiên hạ, hàng nữ nhân chiếm hơn quá nửa”. Bởi lẽ, trong gia đ́nh, người chủ tŕ việc nhà đa phần là phụ nữ, đàn ông thường hay lo việc ngoài. Nếu mẹ hiền th́ những điều lọt vào tai, đập vào mắt của con cái trong nhà đều là những điều dạy dỗ của mẹ, chịu ảnh hưởng của mẹ, lợi ích ấy chẳng nông cạn. Nếu lúc nhỏ để mặc cho chúng tánh t́nh quen thói kiêu căng, cho chúng nó tự do, tuyệt chẳng lấy chuyện hiếu đễ, trung tín, nhân quả báo ứng để giáo huấn th́ [đến khi] khôn lớn lại càng có thể trở thành quyến thuộc của Ma Vương giết cha giết mẹ, chung của cải, chung vợ! V́ thế, cần phải nuôi dưỡng tâm lành của con cái từ lúc thơ ấu, kềm cặp nghiêm ngặt.

Phải biết: Bọn sát nhân, phóng hỏa, không điều ác ǵ chẳng làm hiện tại đa phần là do cha mẹ quen thói nuông chiều kiêu căng mà ra! Thầy Mạnh (Mạnh Tử) dẫu hiền cũng cần phải do bà mẹ ba lần đổi chỗ ở, nghiêm ngặt quản thúc mà thành, huống hồ là bọn phàm phu, tầm thường ư? Hiện tại, ai nấy đề xướng nam nữ b́nh quyền, cho đó là nâng cao nhân cách của nữ giới. Chẳng biết nam nữ thể chất không giống nhau, trách nhiệm mỗi giới mỗi khác. Thánh nhân cho rằng vị trí chính đáng của nam giới là ở ngoài, vị trí chính đáng của nữ giới là ở bên trong. Vị trí chính đáng ở bên trong tức là chăm lo những việc bếp núc, canh cửi, giúp chồng dạy con v.v… Hiện nay nữ nhân đổi sang đảm nhiệm chuyện của nam giới nên những chuyện thuộc vị trí chính đáng của ḿnh bị bỏ phế. Tuy mang tiếng là nâng cao nhân cách của nữ giới, thật ra là xô đổ nhân cách phụ nữ. Xin những bậc anh hiền của nữ giới ai nấy nhận thức rơ nhân cách của chính ḿnh ở tại đâu, ngơ hầu con cái trong gia đ́nh đều thành hiền thiện, thiên hạ lẽ đâu chẳng thái b́nh!

Do đạo trọng yếu để trị quốc, b́nh thiên hạ ở tại việc giáo dục trong gia đ́nh, mà việc giáo dục trong gia đ́nh người mẹ đảm nhiệm quá nửa. Bởi lúc trong thai, con cái đă bẩm thụ khí chất của mẹ, lúc sanh ra lại nh́n theo oai nghi của mẹ, nhận sự dạy răn của mẹ, nên trở thành hiền thiện. Điều này tuy chẳng hiện h́nh tích[26] nhưng lại là việc trọng yếu để đạt đến thái b́nh. Tiếc rằng vĩ nhân các giới đa số chưa thấy rơ điều này. Nguyện những bậc anh hiền trong nữ giới kể từ nay hăy chú ư lời này.

Người đời đều gọi phụ nữ là Thái Thái. Phải biết ư nghĩa của hai chữ “thái thái” rất cao quư, to lớn. Xét ra, cội nguồn sâu thẳm của hai chữ ấy bắt nguồn từ tận đời Chu. Do Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự đều là bậc thánh nhân trong nữ giới, đều có thể giúp chồng dạy con. Bà Thái Khương sanh ra ba vị thánh nhân là Thái Bá, Trọng Ung và Quư Lịch. Bà Thái Nhậm sanh Văn Vương. Bà Thái Tự đẻ ra Vũ Vương và Chu Công. Ba đời bà cháu nữ thánh sanh ra ba đời ông cháu mấy vị thánh nhân tạo thành thời thịnh trị tốt đẹp nhất ngàn đời. Người đời sau gọi phụ nữ là “thái thái” tức là muốn đem so các bà ấy với ba bà Thái. Do đấy, hăy ngẫm xem: Thái Thái là danh hiệu cao quư nhất không ǵ hơn được nữa để xưng hô [phụ nữ]. Nữ giới cần phải có đức hạnh của ba bà Thái th́ mới chẳng phụ bạc sự tôn xưng ấy. Rất mong những người nữ anh hiền hiện tại thực hiện chuyện giúp chồng dạy con, khiến cho con cái ḿnh sanh ra đều thành hiền thiện. Có thế mới chẳng phụ cái danh xưng tốt đẹp trên đây!

Kế tiếp, cần phải nỗ lực ăn chay. Con người và hết thảy động vật vốn là b́nh đẳng, nỡ nào giết hại tánh mạng chúng để thỏa măn miệng, bụng ḿnh. Thân ta dao vừa cắt phải một chút liền cảm thấy đau khổ. Mới nói hoặc nghĩ đến đó, tim gan đau buốt, nỡ nào giết chúng ăn thịt? Huống nữa kẻ sát sanh ăn thịt, dễ khởi cơ duyên giết hại. Tai kiếp đao binh trong đời này đều là do đây mà phát khởi. Cổ nhân nói: “Dục tri thế thượng đao binh kiếp; đản thính đồ môn dạ bán thanh” (Mun biết đao binh trong cơi thế, hăy nghe ḷ m giữa đêm trường). Thế gian khá nhiều kẻ tuy hiểu rơ đạo lư Phật pháp mà vẫn thấy kiêng giết, ăn chay là chuyện khó làm.

Năm Dân Quốc thứ mười (1921), tôi đến Nam Kinh thăm một người bạn. Ông ta mời ông Ngụy Mai Tôn đến gặp tôi. Ông Ngụy tin Phật, niệm Phật, nhưng bảo là chưa thể ăn chay. Tôi dặn ông hăy đọc kỹ Bài Văn Kêu Gọi Tu Bổ Ao Phóng Sanh của chùa Cực Lạc ở Nam Tầm đăng trong bộ Văn Sao mấy chục lượt sẽ ăn chay được. Bởi lẽ, trong bài văn đó, trước hết nói chúng sanh và Phật tâm tánh chẳng hai. Tiếp đó, nói đến bao kiếp làm cha, mẹ, anh, em, vợ, con, quyến thuộc, sanh ra lẫn nhau, làm oan gia đối đầu của nhau, giết chóc lẫn nhau. Tiếp đó, dẫn kinh văn Phạm Vơng, Lăng Nghiêm, Lăng Già làm chứng. Đọc sâu nghĩ chín, chẳng những chẳng nỡ ăn mà c̣n chẳng dám ăn nữa kia! Chưa đầy hai tháng sau, Ngụy cư sĩ liền trọn không ăn thịt nữa.

Lại nữa, bà mẹ của cư sĩ Hoàng Hàm ở Thượng Hải chưa thể ăn chay lại c̣n chẳng tin ăn chay là chuyện trọng yếu trong việc học Phật. Ông Hoàng Hàm gởi thư hỏi cách [khuyên cho mẹ tin], tôi bảo ông sớm tối thay mẹ đối trước Phật sám hối nghiệp chướng. Do mẹ con thiên tánh tương quan[27], nếu thật sự chí thành ắt có cảm ứng. Ông Hàm làm theo, hơn tháng sau, mẹ ông liền có thể ăn chay trường. Lúc đó bà đă tám mươi mốt tuổi, công khóa hằng ngày là hai vạn câu Phật hiệu, sống đến năm chín mươi ba tuổi mới mất. Tôi mong từ hôm nay trở đi, hết thảy đại chúng chú ư kiêng giết, ăn chay và khuyên cha mẹ, con cái và thân hữu của chính ḿnh cùng nhau ăn chay. Phải biết đây cũng là phương pháp căn bản để hộ quốc tức tai. Những điều tôi giảng hôm nay là ư nghĩa của hộ quốc tức tai, mà phương pháp để thực hành hộ quốc tức tai chính là niệm Phật, ăn chay; mong quư vị chẳng coi là thiển cận rồi chẳng thèm để ư.