Ấn Quang pháp sư Văn Sao
Tam Biên
Quyển 1
Phần 1
Chuyển
ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa
Giảo
chánh: Minh Tiến & Huệ Trang
Lời tựa cho lần ấn hành theo phương
pháp Ảnh Ấn
Văn
do chuyên chở đạo mà thường cùng tồn tại với đạo. Lý đáng nên như thế, nhưng Sự
lại không luôn như vậy. Văn chương trong các sách vở đáng coi là khuôn mẫu hoặc
những bài ca tụng cao nhã chẳng phải là chuyên chở đạo ư? Lửa Tần[1]
bốc lên, bèn bị diệt sạch cả, nhưng diệt là diệt những thẻ sách[2],
chứ chẳng diệt được sách vở cất giấu trong vách nhà[3]
hay trong lòng người. Vì thế khi nhà Hán hưng khởi, văn chương, kinh điển xưa
nay liền nối tiếp nhau xuất hiện trở lại; do vậy thấy được rằng “nếu đạo vẫn tồn tại thì văn cũng tồn tại!”
Văn
Sao của tổ Ấn Quang hoằng dương trọn vẹn Tam Tạng, dẫn chứng rộng rãi từ Ngũ
Kinh, ba căn nương theo sách ấy dấy lòng tin, theo những nẻo khác nhau cùng về
Tịnh Độ. Sách ấy chuyên chở đạo lý [là chuyện đương nhiên] cần gì phải nói nữa!
Do vậy, hai bộ Chánh Biên và Tục Biên phổ biến trong thiên hạ, bảy mươi năm qua
độ người vô số, nhưng bản thảo Tam Biên do họ La biên tập vừa xong liền bị giấu
kín cả mấy chục năm chẳng xuất hiện trong cõi đời, biết nói sao đây?
Tiên
sư Tuyết Lư lão nhân[4]
xưa kia từng phụng sự Tổ Sư, vâng mạng lệnh chuyên hoằng dương Tịnh pháp; núi
sông đổi sắc, vượt biển đến Đài Trung, sáng lập Liên Xã, y giáo phụng hành, Văn
Sao Chánh Biên và Tục Biên cùng với Gia Ngôn Lục, Tinh Hoa Lục[5]
nhiều lần được ấn hành biếu tặng, nhưng chẳng tìm được Tam Biên. Về sau do Phật
Giáo Thư Cục phát hành bộ Toàn Tập của Tổ Sư, trong ấy có Tam Biên do pháp sư
Quảng Định biên tập, và theo lời đồn đại bản Tam Biên do họ La biên tập vốn được
cất giữ tại Linh Nham Sơn Tự ở Tô Châu đã bị hủy hoại cùng với chùa miếu trong
cơn binh hỏa, đáng than vô cùng!
Ngóng
tin cách biển, nghe nói nguyên cảo [Tam Biên] may mắn thoát khỏi tai ương, lại
còn được khắc in. Về mặt Lý cố nhiên đáng tin, nhưng nơi mặt Sự vẫn còn hồ
nghi. Liên hữu Đài Trung liền cậy người sang Linh Nham chứng thực điều ấy, thỉnh
về Liên Xã. Đọc lời Bạt, mới biết Linh Nham sau cơn hỏa hoạn, nguyên cảo này được
cất tại Tàng Kinh Lâu, trong rương đựng bộ Càn Long Đại Tạng Kinh khắc vào đời
Thanh, hòa thượng Minh Học phát hiện, cho xuất bản. Năm Canh Ngọ (1990), gặp dịp
kỷ niệm tròn năm mươi năm Tổ Sư về Tây, [Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên] được
Quảng Hóa Tự ở Bồ Điền, Phước Kiến ấn hành. Tứ chúng hân hoan, khen là chuyện
hiếm có!
Chao
ôi! Văn của Tổ Sư giống như rồng vậy chăng? Hoặc ẩn, hoặc thấy, chẳng biết lúc
nào! Nay đã được thấy, ắt sẽ bay lên tận trời, tuôn mưa pháp lớn, thấm nhuần khắp
quần sanh. Ngay lập tức, Đài Trung Liên Xã liền cho in lại bằng phương pháp Ảnh
Ấn để lưu truyền hòng thỏa nguyện cũ, vui mừng vô lượng. Ngoài ra còn có bảy lá
thư [phúc đáp của đại sư Ấn Quang] để trong bọc hành lý của tiên sư đang được cất
giữ tại Tuyết Lư Kỷ Niệm Đường ở liên xã, người biên tập cũng cho in kèm theo [bộ
Tam Biên này] để khỏi bị thất lạc. Ấn hành cần phải có lời tựa, [do vậy tôi] kính
cẩn thuật nhân duyên Ảnh Ấn để tùy hỷ vậy.
Đài Trung, Mạnh
Đông năm Nhâm Thân
(Trung Hoa Dân
Quốc năm 81 - 1992),
Tịnh nghiệp
đệ tử Lô Giang Từ Tỉnh Dân kính đề
Lời tựa cho bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn
Sao Tam Biên
Linh Nham Ấn
Quang lão pháp sư nghiêm trì giới luật, hoằng dương Tịnh Độ, lời lẽ làm pháp tắc
cho cõi đời, hành vi làm khuôn mẫu cho đạo, dùng văn tự Bát Nhã rộng độ mọi loài,
mưa pháp tuôn khắp, tứ chúng suy tôn là vị Tổ thứ mười ba của Liên Tông. Từ thời
cận đại đến nay, [quả thật là một nhân vật] chưa từng có. Bản thân tôi từ thuở
nhược quan phát nguyện quy y đức Phật, tự xét thiện căn nhỏ nhoi, mỏng manh, cứ
lần khân mãi không thành tựu gì! Năm Dân Quốc 31 (1942), ngoại nhân khinh rẻ,
xâm lăng [Trung Hoa], sanh linh lầm than, các nỗi khổ chen nhau nung đốt không
thể nào dứt dẹp được, đọc lại Văn Sao, giật mình, tỉnh ngộ, bèn quy mạng, gieo
tấm lòng thành, niệm Phật, ăn chay, những điều này đều do Văn Sao ban cho vậy.
Sau
này, ngẫu nhiên ở chỗ cư sĩ Đinh Phước Bảo, thấy được hơn hai mươi lá thư của
Sư đều là những lá thư chưa được sao chép, chưa đưa vào hai cuốn Văn Sao Chánh
Biên và Tục Biên. Do vậy, nghĩ di cảo chính là pháp nhũ được gởi gắm, há nên để
mặc cho thất lạc, bèn cẩn thận chép lại để giữ bản sao, đấy chính là bước khởi
đầu cho việc biên tập bộ sách này vậy. Sau khi Sư về Tây, Hoằng Hóa Nguyệt San[6]
trưng cầu di cảo, thư đáp lời trưng cầu nườm nượp gởi về, thu được thật phong
phú. Nhiều nhất là hòa thượng Diệu Chân[7]
ở Linh Nham, pháp sư Tu Luân ở Hàng Châu đều cho [chúng tôi] đọc những lá thư họ
giữ được. Các nơi gởi tặng bản gốc hoặc bản sao cũng chẳng dưới bốn năm chục
người. Thảm đạm sưu tập tìm tòi, tính ra được gần bảy trăm bức thư, một trăm ba
mươi bài tạp văn, những bài văn ấy chẳng kém gì những bài đã được đưa vào bộ
Tăng Quảng Văn Sao, [tôi biên tập thành sách] đặt tựa đề Văn Sao Đệ Tam Biên,
trân trọng thu gom cất giữ để đợi duyên thù thắng. Nếu sách được xuất hiện
trong cõi đời sẽ giúp đỡ lớn lao cho việc hoằng dương Tịnh tông và ủng hộ, duy
trì pháp môn. Sao chép suốt mấy năm, luôn khư khư một ý niệm nhỏ nhoi: “Nguyện ba ngàn cõi phương Đông, gieo sen
chín phẩm nơi trời Tây Phương”, cùng được thấm nhuần pháp ích, cùng lên được
bờ giác.
Mồng Bốn
tháng Mười Một năm Canh Dần (1950),
Kỷ niệm mười
năm ngày lão pháp sư viên tịch,
Tư thục đệ
tử[8]
Thượng Ngu La Ung Hồng Đào đảnh lễ cung kính viết lời tựa
GHI THÊM
Bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
Tam Biên được ấn hành lần này là bản duy nhất được cất giữ tại Linh Nham Sơn ở
Tô Châu, vốn là di cảo do cư sĩ La Hồng Đào biên tập, pháp sư Huệ Dung chép lại
thành bản cẩn thận, ghép thêm vào đó hai thiên Thượng Hải Hộ Quốc Tức Tai Pháp
Hội Pháp Ngữ và Đức Dục Khải Mông; do [hai bản này] đã sớm được lưu hành riêng
nên ông La không đưa vào bản thảo. Quy cách trình bày ấn loát nhất loạt lấy hai
bộ Văn Sao Sơ Biên và Tục Biên làm chuẩn. Do trình độ [hữu hạn] của những đồng
nhân làm công tác giảo chánh, đối chiếu, khó thể tránh được sai sót, ngưỡng
mong mười phương Tăng - tục, thầy, bạn chẳng tiếc công chỉ dạy để sửa đổi khi
tái bản, khôn ngăn tột bực tha thiết khẩn cầu.
Chùa Quảng Hóa tại Bồ Điền, Phước
Kiến kính bạch
(giữa
Đông năm 1990)
Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên
Quyển
1
1. Đại Sư tự
thuật
Mùa
Đông năm Dân Quốc 28 (1939), người ngoại quốc họ X… đến Linh Nham yết kiến đại
sư có lời thưa hỏi, cùng nhau dùng bút mực để trò chuyện, đại sư tự lược thuật cuộc
đời và hạnh nguyện như sau:
a) Cuộc đời:
Xuất gia năm Quang Tự thứ bảy (1881), thọ
giới năm Quang Tự thứ tám (1882). Năm Quang Tự 12 (1886) đến Hồng Loa Sơn ở Bắc
Kinh. Năm Quang Tự 17 (1891) dời sang chùa Viên Quảng tại Bắc Kinh. Năm Quang Tự
19 (1893) đến ăn nhờ ở đậu chùa Pháp Vũ thuộc Phổ Đà Sơn tỉnh Chiết Giang, suốt
ba mươi năm chẳng đảm nhiệm chuyện gì. Đến năm Dân Quốc 17 (1928) có đệ tử quy
y ở Quảng Đông tính thỉnh sang Hương Cảng, liền rời Phổ Đà, tạm ngụ tại chùa
Thái Bình tại Thượng Hải. Mùa Xuân năm Dân Quốc 18 (1929) tính rời đi nhưng vì
chuyện in sách chưa xong [phải ở lại]. Năm Dân Quốc 19 (1930) đến bế quan tại
chùa Báo Quốc ở Tô Châu. Tháng Mười năm Dân Quốc 26 (1937), tỵ nạn sang Linh
Nham đã tròn hai năm. Hiện thời đã sống buổi sáng không đảm bảo được buổi tối,
chờ chết mà thôi! Năm mươi chín năm từng trải như vậy đó. Suốt cả một đời chẳng
cùng ai kết xã, ngay đến cả hội Phật giáo Trung Quốc cũng chẳng ghi tên làm hội
viên.
b) Những việc
xảy ra gần đây:
Từ
khi đến Linh Nham, bất cứ danh lam thắng cảnh nào, tôi cũng đều chẳng tới xem,
bởi chí chỉ mong vãng sanh, chẳng bận tâm đến danh lam thắng cảnh.
c) Việc làm
Mỗi ngày lượng
theo sức mình niệm Phật và trì chú Đại Bi để làm căn cứ tự lợi, lợi tha. Suốt đời
chẳng thâu nhận một đệ tử xuất gia nào, chẳng nhận làm Trụ Trì chùa nào cả!
d) Chủ
nghĩa và giáo nghĩa niệm Phật
Đối với hết thảy
mọi người đều dùng “tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương” để khuyên nhủ, bất
luận xuất gia hay tại gia, ai nấy đều phải chú trọng trọn hết bổn phận con người,
gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ
nhân từ, tớ trung thành. Bất luận người sang hay kẻ hèn đều dùng những điều này
để bảo ban, khiến cho hết thảy mọi người trước hết làm một người hiền, người
lành trong thế gian, ngõ hầu cậy vào Phật từ lực siêu phàm nhập thánh, vãng
sanh Tây Phương! Trọn chẳng nói với người khác những lời lẽ lớn lao khiến họ
không thực hiện được, mặc cho người ta bảo mình là hạng Tăng chỉ biết cơm cháo,
trăm sự không làm được điều gì. Đại lược là như vậy đó!
2. Thư trả
lời đại sư Hoằng Nhất
Hôm qua, nhận được
thư và bản tụng văn cũ lẫn mới, không đọc thấy chỗ nào sai. Trong thư nhắc đến
tình huống dụng tâm quá độ, Quang đã sớm đoán biết chuyện này, do vậy đã viết một
lá thư khuyên Sư đừng làm như thế. Do Sư quá tỉ mỉ, thường có những chỗ không cần
phải thật dốc sức mà Sư vẫn chẳng chịu không dốc sức, đến nỗi bị thương tổn!
Xét theo sắc lực của Sư, có lẽ nên lắng lòng chuyên nhất niệm Phật, những giáo
điển khác và những sách đang được lưu truyền hiện thời, nhất loạt đừng xem tới
để khỏi bị phân tâm, bị tổn hại vô ích. Người biết xử sự đúng thời phải hiểu thời
cơ, sự việc, Chuyện gì Sư với tôi chẳng thể gánh vác được thì hãy nên lánh mình
ra ngoài, để mặc đó đừng hỏi đến nữa, nhất tâm niệm Phật để mong mình lẫn người
đều được lợi ích thật sự, ấy mới là phương cách độc nhất vô nhị vậy!
3. Thư gởi
Chân Đạt lão hòa thượng
Ba bốn chục năm qua
Quang được huynh chiếu cố, chăm nom, khôn ngăn cảm kích. Sáng nay tinh thần uể
oải như sắp chết, do vậy, gần như đem tất cả những chuyện bận bịu tại Thượng Hải
giao hết cho pháp sư Đức Sâm. Qua hai tiếng sau lại cảm thấy chẳng sao cả, tuy
chưa chết ngay nhưng cũng khó tránh khỏi cái chết, chẳng ngại gì bàn soạn sẵn. Quang
khi sống tánh chẳng thích bày vẽ nhiều chuyện, chết rồi thì cũng [nên làm ma
chay] giống như một kẻ tầm thường chết. Nếu không, sẽ càng tăng thêm tội lỗi
cho Quang vậy!
4. Thư gởi
pháp sư Đức Sâm[9] (thư thứ
nhất)
Phần Phụ Lục do
ông đã gởi mãi đến sau hai giờ chiều ngày hôm qua mới giao tới, do phải trò
chuyện với khách [đến thăm] đã lâu, nên không còn tinh thần để xem được. Sáng
nay bèn đọc qua, gặp đúng lúc Mạnh Am tới đây bèn đưa cho xem, [ông ta] khen ngợi
không ngớt. Văn Sao Tục Biên cuốn Thượng đã sắp chữ xong, nếu cuốn Hạ lại đưa
thêm nhiều bài văn vào phần Phụ Lục thì hai cuốn sẽ dày - mỏng không đều, hãy
nên đem phần sách này ghép vào sau cuốn Thượng thì hai cuốn sẽ dày bằng nhau.
Phần Phụ Lục không nhất thiết phải đặt ở cuối cùng, đặt cuối cuốn Thượng thì cũng
là Phụ Lục, không nhất quyết phải đặt Phụ Lục ở cuối cuốn Hạ.
Hiện
thời khoản tiền thu được từ các nơi gần đến hai vạn, dùng loại giấy in báo thì
cũng in được cỡ chừng hai vạn cuốn là cùng. Nếu dùng loại giấy Mao Biên thì một
vạn đồng chỉ in được ba bốn ngàn bộ! Tấm lòng của Lạc cư sĩ có thể nói là tận
thiện, tiếc rằng [ông ta] chưa biết nên làm thế nào cho thích hợp thời thế. Từ
khi in sách đến nay, Quang chẳng dùng loại giấy Mao Biên, huống là loại giấy in
báo! Về sau, do loại giấy Mao Thái dòn gãy quá nhiều, in ra một vài năm đã biến
thành mớ giấy lộn để bán [ve chai], mà giá loại giấy ấy vẫn tính vào chi phí in
sách [khá đáng kể]. Huống chi những chỗ sản xuất giấy ở Phước Kiến, Giang Tây đều
gặp nạn chiến tranh, vì thế chỉ nên dùng giấy in báo. Ông Lạc trọn chẳng hiểu nỗi
lòng Quang, hơn một vạn bộ sách ở chỗ ấn loát cảm thấy rất nhiều, nhưng nếu
chia ra gởi đi, quả thật là quá ít!
Lời
bàn luận của ông Lạc thuộc về pháp tắc thông thường trong thời thế thái bình,
còn ý kiến của Quang thuộc phương pháp quyền biến trong thời thế đói kém, loạn
lạc. Không chấp nhất thì đôi đằng đều hợp lý, hễ chấp nhất thì đôi đằng đều chẳng
trọn vẹn. Nay tôi nói một thí dụ để làm sáng tỏ nghĩa này. Ví như người trong
lúc gạo châu củi quế đem mười vạn cứu đói. Do mười vạn có hạn, dân đói vô cùng,
hãy nên dùng lương thực giá rẻ hơn một chút ngõ hầu cứu giúp được lâu hơn và
giúp được nhiều dân nghèo hơn. Nếu dùng loại lương thực hạng nhất, tốt lành thì
hết sức tốt lành đấy, nhưng sau khi hết tiền thì làm như thế nào đây?
Văn
Sao khiến người ta cảm động, phát tâm không ít, chẳng phải là vì giấy in tốt. Trước
khi tròn sáu mươi tuổi, ông Trịnh Triết Hầu oán thù đức Phật; năm ông ta sáu
mươi tuổi đọc Văn Sao, từ đấy bỏ mặc những thuyết Hàn, Âu, Trình, Châu trước
kia, cực lực đề xướng Phật pháp. Đủ biết muốn thật sự làm lợi cho người khác,
hãy nên chú trọng chuyện lưu truyền rộng rãi. Có người bảo hễ nhiều sẽ bị người
ta coi thường, bị tổn hại vô ích. Phải biết rằng: Kinh Phật, sách Nho chẳng thể
nào hoàn toàn không có chuyện bị coi rẻ thì sách của bọn phàm phu nghiệp lực
chúng ta làm sao có thể trọn không bị coi rẻ cho được? Hiện thời, trong ngoài
nước người tin Phật đông đảo, cố nhiên chẳng cần phải lo xa như thế! Hãy nghĩ đến
chuyện bậc đại thông gia ở nhằm nơi không có Phật pháp vẫn bị khổ vì không biết
đến Phật pháp, như Tăng, Tả, Lý, Diêm (Diêm Đan Sơ là người ở Triều Ấp, từng làm Phó Tướng, con
người cực thuần hậu, không báng Phật, nhưng cũng trọn chẳng nghiên cứu) đều là những
người không báng Phật mà cũng chẳng biết đến Phật pháp, chẳng đáng buồn ư? Mong
hãy sáng suốt soi xét thì may mắn lắm thay! Những lời lẽ này đừng đưa vào Văn
Sao.
5. Thư gởi
pháp sư Đức Sâm (thư thứ hai)
Phàm tất cả những
khoản tiền ở Thượng Hải đều dùng để in Văn Sao, không cần phải báo rõ từng khoản.
Nói chung, Quang chẳng còn sống lâu nữa đâu, vì thế chuyện gì đã xong thì cho
xong luôn, chuyện gì chưa xong cũng coi như xong. Quang chết rồi, quyết chẳng
được [tổ chức tang lễ] giống như những vị Tăng hiện thời, bày vẽ mù quáng, gởi
cáo phó, thiết lễ phúng điếu, cầu [danh nhân] viết lời đề bạt, đắp cả đống phân
lên đầu coi là vinh dự. Dù sau này Quang chưa chết, bên ngoài có gởi thư đến,
Sư cũng chẳng cần phải gởi [tới tận nơi bế quan cho Quang] nữa. Thư gởi đến nếu
Sư bằng lòng kết duyên thì tùy ý phúc đáp. Nếu không, cứ để nguyên thư gởi lại.
Không cần phải viết thư sang Ngũ Đài nữa đâu, [hòa thượng] Pháp Độ vẫn chẳng
nghĩ như vậy là đúng. Có viết cũng tự chuốc lấy phiền não, hãy để mặc cho ông
ta minh tâm kiến tánh đi!
Kinh
Dược Sư hôm nay đã gởi đi, từ rày Sư nên thương lượng với ông ta, Quang chẳng hỏi
đến nữa! Từ năm Dân Quốc thứ sáu (1917) trở đi, Quang ngày càng bận hơn, bận
không thể tưởng tượng được! Chỉ bận bịu vì người khác chứ công phu của chính
mình hoàn toàn bê trễ. Nếu được A Di Đà Phật rủ lòng Từ tiếp dẫn thì là ngàn
muôn phần trọn đủ rồi, còn chuyện viết tiểu sử, soạn bài minh, soạn lời tán
dương, điếu văn, câu đối, Sư hãy bảo họ ngàn vạn phần đừng gom cả khối phân lớn
chất lên đầu Quang là đã ban tặng cho Quang nhiều lắm rồi, xin hãy sáng suốt
soi xét. Suốt mười chín năm Sư vất vả giúp đỡ Quang, khôn ngăn cảm tạ! Quang chết
rồi cũng không cần phải lên núi để khỏi bị đau lòng!
6. Thư gởi
pháp sư Đức Sâm (thư thứ ba)
Lúc này dường như
chẳng mệt mỏi như lúc sáng sớm, chắc là chưa đến nỗi chết ngay, nhưng cố nhiên
không tránh khỏi cái chết được. Hãy nên bảo những người quen biết: “Quang chết
rồi thì vẫn vì chính mình niệm Phật như thường lệ, chẳng cần phải niệm cho
Quang!” Vì sao vậy? Do nếu vẫn chẳng vì chính mình mà niệm, cứ niệm cho Quang thì
cũng chẳng giúp được gì! Nếu thật sự vì chính mình mà niệm, chẳng niệm cho
Quang, Quang hóa ra lại được lợi ích lớn lao. Vì thế bất luận người nào, chuyện
nào, đều phải sốt sắng thực hiện nơi chỗ có lợi ích lớn lao thì hết thảy những
chuyện sáo rỗng, những thứ giả vờ bên ngoài đều trở thành công đức chân thật,
người chân thật mới là đệ tử Phật. Quang thấy một vị đại lão chết đi, một người
viết bài tán dương di ảnh như sau: “Bậc đại
hùng cao cả xuất hiện trong thế gian”. Lại có một đệ tử viết tiểu sử cho thầy
là Ngọc Trụ có câu: “Hạnh Ngài bằng với hạnh
của ngài Vĩnh Minh, há chẳng phải là hậu thân của Vĩnh Minh ư?” Quang phê rằng:
“Đem phàm lạm thánh, tội chẳng thể tha!”
Sư
Ngọc Trụ tuy tốt đẹp, nhưng sao lại có thể tán dương như vậy được? Nếu sư Ngọc
Trụ biết, chắc sẽ đau lòng ứa lệ! Phật pháp tốt đẹp bị thói “ham danh ghét thật”
làm hư hỏng hết. Chúng ta chẳng thể uốn nắn thói tệ đương thời, nào dám theo mọi
người góp phần náo nhiệt gom lấy đống phân, khiến cho hết thảy mọi người vì mình
mà gom góp cho thật nhiều ư? Những tưởng để tiếng thơm trăm đời, nào ngờ quả thật
đã để lại tiếng xấu muôn năm! Quang không có thật đức, nếu ca tụng, tán dương
Quang tức là đã gom đống phân lớn đắp lên đầu Quang, mong hãy nói với hết thảy
những người hữu duyên vậy.
7. Thư gởi
pháp sư Đức Sâm (thư thứ tư)
Tháng Chạp năm ngoái đã
tính thôi không viết thư cho [hòa thượng Quảng Huệ] chùa Quảng Tế, nhưng vì Sư
kèo nài, nên sáng ngày Ba Mươi Tết bèn chiều ý viết thư. Thầy Diệu Chân trông
thấy, cho người sao lại, Quang vốn không có ý đưa thư ấy vào Tục Biên[10];
[vì lá thư đó] dài dòng lôi thôi đến năm ngàn chữ. Thoạt đầu nói tới thói tệ mở
hội trai tăng ngàn vị, sửa đổi theo quy cách khác. Trong thư nói đến chuyện
tham Thiền chẳng dễ gì được lợi ích, lấy Ngũ Tổ Giới để làm chứng. Ngũ Tổ Giới
là bậc phi thường nhưng vẫn chưa đoạn được Kiến Hoặc, huống là liễu sanh tử ư? Khi
Tô Đông Pha[11]
trấn giữ Hàng Châu, vẫn chẳng cự tuyệt kỹ nữ, đủ thấy ông ta vẫn là phàm phu đầy
dẫy triền phược. Sư hãy đọc kỹ, coi đưa vào sách được thì đưa vào, cũng chẳng cần
phải chấp chặt một bề.
Mục
lực của Quang càng yếu thì thư từ càng nhiều, do vậy trong ngày Lập Xuân tháng
Chạp năm ngoái, nói với thầy Diệu Chân: “Nếu thường trụ chịu lo liệu, Quang sẽ
chẳng hỏi đến nữa. Nếu không, cứ nhất loạt gởi trả lại”. Thầy Diệu Chân sai người
lo giùm, phàm những thư xin quy y, thư gởi xuông thì nhiều, cũng có những thư gởi
tiền hương kính. Hai năm trước đây, phàm những người đến chùa quy y, tiền hương
kính và những khoản tiền đặc biệt gởi cho Quang đều đưa hết cho thường trụ, còn
[tiền kèm theo] thư gởi đến thì giao cho Quang. Nay thì khoản tiền đặc biệt gởi
đến [cho Quang] liền đưa trả về cho Quang, còn tiền hương kính của người đến
núi quy y và tiền hương kính gởi kèm theo thơ đều giao hết cho thường trụ. Ở
Thượng Hải có ai xin pháp danh, Sư hãy thay mặt Quang viết thư cho họ, tiền
hương kính cũng để cho Sư tiêu vặt. Chuyện ấn hành Văn Sao Tục Biên, Quang chẳng
hỏi đến, tùy Sư liệu định. Nếu [thư của] người ở Thượng Hải xin pháp danh chuyển
đến thì Sư cũng thay mặt Quang viết thư cho họ, cần gì cứ phải không có chuyện
gì lại bới ra chuyện như vậy?
Ông
Phí Phước Thuần có một bài viết, ông Hà Phước Hà cũng có một trang viết nói đại
lược về lợi ích của sự tiết dục: Sanh hai con đều sống được mười mấy ngày rồi
chết, do lúc ấy ông ta không tiết dục, nên tiên thiên chẳng đủ mà ra! Những hạng
thanh niên ấy coi dục là vui, lại muốn sanh ra con cái mạnh khỏe phước thọ, đạt
được kết quả trái ngược, chẳng đáng buồn ư? Tháng Chạp năm ngoái, Phương Huệ
Uyên có gởi thư đến, nói ông Thang bị bệnh nhiều lần, lại chẳng chịu kiêng những
thứ sống sít, lạnh lẽo. Những kẻ thường cứ ăn những món chẳng nên ăn sẽ đổ bệnh,
trong khi bị bệnh lại thường nghĩ đến vợ con, có nghĩ cũng vô ích. Đủ biết những
người ấy do nghiệp lực nên rốt cuộc trở thành điên đảo.
Quang
tuy chưa chết nhưng vẫn nghĩ mình đã chết; vì thế hết thảy mọi chuyện nếu đã chẳng
thể lo liệu được thì chẳng hỏi đến nữa, từ rày tùy Sư quyết định. Tiền tài tại
Thượng Hải Quang đều chẳng cần đến. Có sức thì in nhiều, không có sức thì in
ít, nếu không có sức thì đừng in, đều tùy theo tài lực mà làm chuẩn, chớ nên vay
mượn đến nỗi bó tay nhọc lòng! Xin hãy từ bi thứ lỗi! Phàm đối với những ai có
lòng tin hãy nên dạy họ nhất tâm niệm Phật, chẳng cần phải niệm cho Quang, cũng
đừng bỏ công đến thăm để khỏi phí tiền, phí thời gian, trọn chẳng có ích chi!
8. Thư trả
lời sư Như Sầm hỏi thay cho bạn
Trả
lời đại lược câu hỏi, chẳng thể trình bày chi tiết.
1) Đã có Phật đường
thì cần gì phải thờ Phật trong liêu phòng nữa? Con người hiện thời quá nửa là
vô ý, hời hợt, nơi điện đường còn phóng túng không kiêng dè, ngay đang trong
lúc niệm tụng lễ bái còn dám phóng trung tiện thì trong liêu phòng càng phóng
túng chẳng thể nói được. Nếu thờ Phật trong liêu phòng hãy tưởng như Đại Hùng bảo
điện, may ra mới đỡ chuốc lấy tội lỗi! Nếu không, công rất ít, tội lỗi vô lượng!
Thường thấy bậc pháp sư ở vào địa vị cao trọng vẫn chẳng nghĩ đánh trung tiện
là phạm tội, trong lúc niệm tụng vẫn dám phạm, huống chi hàng học nhân hờ hững,
hời hợt ư? Lời nói của tọa hạ chính là do không có cách nào khác được bèn tạo
phương tiện cho ông ta, hãy bảo ông ta lễ bái trong chánh điện chính là phương
pháp bậc nhất để khỏi chuốc lấy tội lỗi đấy!
2) Pháp Quán Tưởng
cũng chẳng hoàn toàn dựa vào tướng bên ngoài. Nếu chú trọng vào tướng bên ngoài
thì Báo Thân và Hóa Thân vốn là một thể, sao lại có vướng mắc nơi Báo Thân và
Hóa Thân? Ví như đứa con thấy cha mẹ mặc quần áo trịnh trọng và thấy cha mẹ mặc
thường phục trọn chẳng nghĩ lúc này là đúng, lúc kia là sai, hoặc lúc kia là
đúng, lúc này là sai! Người ấy quán Phật có cái Thấy chấp tướng như vậy, nếu chẳng
phải là tự khoe công phu, ắt là cố chấp chẳng thông suốt! Hạng người ấy lâu
ngày chắc sẽ bị ma dựa, chứ không phải là bậc tu hành chân thật đâu!
3) Hình tượng có
thể để thờ hoặc cất giữ thì hãy thờ hoặc cất giữ. Nếu chẳng thể thờ hoặc chẳng
giữ được nữa thì hãy thiêu hóa đi. “Hủy tượng đốt kinh tội cực sâu nặng” là nói
về những thứ kinh tượng có thể để thờ hoặc cất giữ được. Nếu chẳng thể để thờ
hoặc để giữ được mà vẫn cứ chấp vào nghĩa này sẽ trở thành khinh nhờn! Ví như đứa
con trong lúc cha mẹ còn sống, ắt phải tìm cách sao cho cha mẹ được an toàn.
Cha mẹ mất rồi, ắt phải tính cách mai táng. Nếu là kẻ ngu chẳng hiểu lý, thấy
người khác mai táng cha mẹ được coi là thực hiện lòng hiếu bèn muốn đem cha mẹ
còn đang sống sờ sờ chôn đi cho trọn hiếu, hoặc thấy người khác phụng dưỡng cha
mẹ là hiếu, bèn đối với cha mẹ đã chết vẫn theo quy cách phụng dưỡng thường nhật
mà phụng dưỡng. Hai loại người này đều chẳng phải là chân hiếu!
Kinh
chẳng thể đọc được, tượng chẳng thể thờ được nữa, lẽ đương nhiên nên thiêu đi,
nhưng chớ nên làm giống như thiêu giấy chữ bình thường, mà phải tạo ra đồ để
thiêu riêng, giữ gìn nghiêm ngặt chẳng để cho tro bay sang chỗ khác. Đem tro ấy
đựng trong túi vải may thật kín, lại bỏ thêm cát sạch hoặc đá sạch để hễ bỏ xuống
nước sẽ chìm ngay, chẳng đến nỗi giạt vào hai bờ. Nếu có ai ra biển, đến chỗ
sâu bỏ xuống giữa biển, hoặc nơi sâu trong sông to thì được, chớ bỏ xuống ngòi
nhỏ, rạch nhỏ. Người làm được như vậy là làm đúng pháp. Nếu chẳng bỏ thêm cát,
đá, chắc chắn sẽ bị trôi giạt vào hai bờ, vẫn trở thành tội khinh nhờn. Tội ấy
chẳng nhỏ đâu, nhưng chớ nên dùng đá dơ, ngói dơ!
4)
Bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật lẽ đâu chẳng có chuyện cứu khổ ách? Quán
Âm Bồ Tát tùy cơ chỉ dạy, há lẽ nào chẳng tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương? Người
niệm Phật lâm chung thấy Phật và thánh chúng đích thân đến tiếp dẫn, há nên chấp
chết cứng như thế? Nếu đúng là như vậy thì Phật cũng chẳng đáng gọi là Phật, Bồ
Tát cũng chẳng đáng gọi là Bồ Tát! Sanh về Tây hãy nên lấy tín nguyện làm gốc,
nếu gặp nguy hiểm bèn niệm Quán Âm. Có tín nguyện thì khi mạng chung quyết định
sanh về Tây Phương, hoặc chỉ chuyên nhất niệm A Di Đà thì gặp khổ ách cũng được
giải thoát. Những điều [cảm ứng như vậy được] sách cổ ghi chép càng khó tính kể.
Nay trong trần lao thì chuyện gì cũng viên thông, nhưng trong tu trì thì chuyện
gì cũng chấp chết cứng, chẳng đáng viên thông mà lại lầm lạc viên thông, chẳng
đáng chấp trước mà cứ chấp trước chết cứng! Do điều này mà biển khổ sóng dậy liên
tục, luân hồi không ngừng nghỉ vậy. Người có kiến giải như vậy khác nào trẻ
nít, con người như vậy nào đáng để cùng bàn luận nữa!
9. Thư trả
lời pháp sư Như Sầm
Nhận được thư
xong, lại nhận được Tư Quy Tập, khôn ngăn cảm thán! Do tọa hạ đề xướng pháp môn
Tịnh Độ mà Quang mục lực lẫn tinh thần cả hai đều chẳng đủ, chẳng thể phụ giúp,
thật là thiếu sót, tiếc nuối! Do vậy bèn đọc các điều được đề xướng và những điều
đã bàn định. Trong những điều được bàn định, những chữ tôi khoanh một vòng tròn
nhỏ bên cạnh là tán thành, hoặc có phê đại lược một hai câu, xin hãy châm chước
thêm. Chỉ có phần nói về cách niệm truy đảnh[12]
của sư [Hán Nguyệt] Pháp Tạng thì trong chỗ lợi người có ẩn tàng cái họa gây lầm
lạc cho người, vàn muôn phần chớ nên sao lục. Dẫu bài thơ ấy hay, cũng xin nên
gạt bỏ đi.
Ông
ta (tức Hán Nguyệt Pháp Tạng) là kẻ oán đối trong nhà Phật, lúc đầu thân cận tổ
Mật Vân [Viên] Ngộ chùa Thiên Đồng, ngộ được đôi chút, bèn muốn làm bậc đệ nhất
cao nhân muôn đời, tự nói mình không có thầy mà tự ngộ. Ngài Mật Vân muốn phó
chúc pháp của mình cho ông ta, ông ta không chịu tiếp nhận bỏ đi. Mật Vân đuổi
theo, đuổi đến chỗ nọ thì bắt kịp, ông ta vẫn không chịu nhận. Mật Vân ép buộc,
ông ta bèn dùng Tam Huyền, Tam Yếu[13]
buộc Mật Vân đáp lời rồi mới miễn cưỡng tiếp nhận dòng pháp. Những chuyện ông
ta nói đều là xằng bậy bịa ra, nhưng bọn sĩ đại phu lại tin thờ như Phật sống;
kẻ nào bàn đến những chỗ phá hoại của Pháp Tạng ắt sẽ mắc đại họa! Vì thế trong
ngữ lục của ông ta cũng như trong ngữ lục của bọn học trò là Hoằng Nhẫn, Cụ Đức
toàn là những lời nói nhăng nói cuội đề cao thầy, miệt thị tổ, được lưu truyền
cho đến thời Khang Hy bèn được ghép thêm vào Minh Tạng[14]
(Đại Tạng Kinh bản đời Minh).
Đến
năm Ung Chánh 11 (1733), [vua Ung Chánh] soạn các ngữ lục, hiểu rõ [ngữ lục của
bọn Pháp Tạng, Hoằng Nhẫn, Cụ Đức] là sai lầm, xằng bậy, liền hạ lệnh hủy bản
khắc và cấm ngặt lén lút cất giữ, lưu truyền. Vua chép lại những lời bịa đặt xằng
bậy nghịch lý, trái đạo, trái luân thường của Pháp Tạng, Hoằng Nhẫn, Cụ Đức gồm
hơn tám mươi đoạn, mỗi mỗi đều quở trách [tạo thành một cuốn sách] đặt tên là
Giản Ma Biện Dị Lục, gồm bốn quyển, hơn hai trăm trang. Văn ấy phàm những ai đọc
sách xem đến đều tăng trưởng học thức lớn lao không chi hơn được, đối với người
tham Thiền lại càng hữu ích (nay
những Thiền giả phần nhiều chẳng hiểu lời nói của cổ nhân, cứ hiểu theo kiểu
chia chẻ mặt chữ thì khí vị nhà Thiền còn chưa được nghe nữa là!) Đến năm
Ung Chánh 13 (1735) mới hoàn thành bản thảo. Vua truyền dụ đưa bản ấy nhập tạng
để lưu thông, nhưng chưa bao lâu đã lên làm khách cõi trời. Càn Long kế vị,
chưa thể đích thân lo liệu được, liền sai [người khác] chép lại cho rõ ràng để
khắc ván.
Khi
ấy, bọn ngoại hộ của Pháp Tạng rất đông, Tăng tục không dám bàn đến, vì thế [Giản
Ma Biện Dị Lục] chưa được nhập tạng; chỉ đem lời thượng dụ [của Ung Chánh] đặt
vào đầu sách để làm lời tựa, nhưng chuyện triều đình chẳng sai khiến tới mình,
đâu ai dám lạm bàn, mà người sao chép lại không hiểu rõ [ý nghĩa] lắm, [cho
nên] gạn lọc không rõ ràng đến nỗi lời văn mâu thuẫn lý, hoặc có chỗ [trong
nguyên cảo] viết tắt nhưng không xét kỹ nên chép thành sai ngoa. Như theo lối
chữ Thảo, chữ Vị (謂:
nói) được viết thành Vi (為:
làm), rốt cuộc hơn một trăm chữ Vị đều bị khắc thành chữ Vi cả! Những kinh sách
của Thế Tông đã được khắc in đều giảo chánh đích xác, chỉ có mình sách này bị
sai lầm chẳng thể đếm xiết. Ván in đã khắc hoàn chỉnh rồi, in ra bao nhiêu đó bộ,
ban cho những vị đại thần mang tước vương và các cao tăng. Nhưng do bọn ngoại hộ
của Pháp Tạng thế lực mạnh mẽ, Tăng chúng sợ mang họa, đều chẳng dám lưu truyền,
đến nỗi hàng Tăng - tục học rộng nghe nhiều đời sau đều chẳng biết đến tên sách
ấy!
Năm Quang Tự 30 (1904), ngài Đế Nhàn thỉnh tạng kinh, sai Quang đi
theo trông nom. Kinh đã in xong, còn phải chờ mấy ngày mới đi được; do vậy, tôi
đến viếng các tiệm sách ở Lưu Ly Xưởng[15],
thấy trong một tiệm có hai bộ đều thỉnh hết, đem một bộ tặng cho ngài Đế Nhàn
mong Ngài sẽ lưu thông, một bộ tự giữ. Năm Quang Tự 31 (1905), tới chỗ ông
Dương [Nhân Sơn] cư ngụ tại Nam Kinh, biết Hoằng Giáo Thư Viện của Nhật Bản đang
ấn hành Đại Tạng Kinh, bèn cậy tiên sinh [Dương] Nhân Sơn đem bộ của Quang gởi
sang Nhật Bản. Năm Dân Quốc thứ ba (1914), ông Địch Sở Thanh đến Phổ Đà, Quang
khuyên ông ta lưu thông sách này, bảo ông ta nên xin bộ sách ấy từ chỗ ngài Đế
Nhàn. Ông ta thưa: “Con có!” Hỏi do đâu mà có, ông ta cho biết mua được từ tiệm
ve chai ở Bắc Kinh. Ông ta trở về đất Thân (Thượng Hải), liền giao cho nhà in,
chiếu theo cách trình bày của sách ấy in ra một ngàn bộ theo lối thạch bản, gởi
cho Quang tám bộ, giữ lại hai bộ, còn bao nhiêu tặng cho người hữu duyên. Quang
bèn lắng lòng dựa theo ý nghĩa câu văn để giảo chánh.
Năm Dân Quốc thứ bảy (1918), cho khắc ván tại Dương Châu Tàng Kinh
Viện, in ra ba trăm bộ tặng cho người khác. Nếu như khi đường bưu điện thông suốt
thì sẽ thỉnh thêm sách ấy mấy bộ nữa để tặng cho những vị Tăng - tục có đủ
chánh kiến. Đọc sách ấy sẽ biết Pháp Tạng là người như thế nào và lời lẽ của bọn
pháp đồ ông ta phần nhiều là đặt điều bịa chuyện. Quang cho rằng tọa hạ chẳng
biết ông ta là chân hay ngụy, nên mới đưa [trước tác của ông ta] vào trong Tư
Quy Tập, đời sau sẽ lại hoằng dương rộng lớn pháp của ông ta, sẽ gây tổn thất lớn
lao cho cả Thiền lẫn Tịnh! Nay tôi cũng chẳng nói đến hành vi của ông ta, nhưng
dù không nhắc đến, nếu đọc Giản Ma Biện Dị Lục ai nấy sẽ biết rõ liền! Bưu phiếu
đã quên mất số, xin gởi trả lại để giảm bớt lỗi của tôi!
Trong bản thảo Tư Quy Tập, những đoạn sao
lục được viết theo lối chữ thông tục (Tục Thể) quá nhiều, chẳng thể nêu trọn. Nhưng
chữ Đoạn (段)
tương truyền phần nhiều bị viết sai thành 叚,
ở đây cần phải sửa cho đúng, chữ 叚
tức là chữ Giả (假).
Phàm những lối chữ Tục Thể, Phá Thể, Thiếp Thể, Cổ Thể[16]
đem dùng vào kinh sách cảm thấy rất không cung kính, khiến cho hàng sĩ đại phu
có học thức khinh mạn người viết, người in, chẳng phải là chuyện nhỏ nhặt đâu!
Cái tên “Ngũ Thập Tam Tham” (năm mươi
ba lần tham học) quyết chẳng nên dùng vì coi đức Thế Tôn hai cõi ngang hàng phàm
phu đời Mạt, đánh mất tôn ty quá lớn. Những lời nguyện được sao lục dưới tên đức
A Di Đà Phật hãy nên đánh số thứ tự là nguyện thứ mấy, mỗi nguyện đều như thế,
xin hãy chú ý! Pháp Ngũ Hội Niệm Phật của Tứ Tổ[17]
chưa hề thấy nghe, ngờ là do người đời sau ngụy tạo. Ông Trương Quán Bổn cho rằng
pháp này có thể khiến cho Tịnh tông hưng thịnh, Quang trọn chẳng cho như vậy là
đúng. Mong hãy châm chước cẩn thận để quyết định giữ hay bỏ. Tôi vốn chẳng thể
soạn lời tựa cho sách này vì không có tinh thần làm sao nêu tỏ được nghĩa lý mầu
nhiệm của Tịnh Độ? Kế đó, sợ tọa hạ quở trách, chỉ viết những gì Quang tin tưởng
để mong khỏi bị trách mắng, cho nên khác với những điều đã nói trong thư.
10. Thư trả lời đại sư Ứng Thoát
(thư thứ nhất)
Ông tuổi mới vừa nhược quan (hai mươi)
hãy nên tham học trước, chớ nên bày thói lạ, lộ vẻ kỳ, ra dáng hành hạnh Đầu
Đà. Có lẽ nên đến chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai thân cận pháp sư Tĩnh Quyền.
Hiện thời giảng sư có khá nhiều vị, nhưng Quang chỉ biết mỗi vị này, nên mới
nói như thế; những vị khác Quang không biết nên chẳng dám bảo bừa ông đến thân
cận họ! Pháp danh của bà nội và mẹ ông đã đính kèm trong thư gởi đến, mong ông
hãy khuyên họ nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì sẽ phù hợp với [pháp
danh] Đức Thuần và Đức Nhất vậy. Từ rày chớ nên gởi thư đến nữa, gởi đến quyết
không trả lời, cũng đừng đến đất Tô vì không thể ở chùa Báo Quốc được thì đất
Tô sẽ không có chùa nào ở được! Huống chi mười tám món đồ[18]
của ông khá cồng kềnh, tới - lui chẳng dễ dàng! Học Giáo ở chùa Quốc Thanh núi
Thiên Thai dẫu chẳng thể trở thành bậc đại thông gia thì quyết cũng chẳng đến nỗi
nhiễm theo thói đời bây giờ. Vì thế, kẻ mới phát tâm hãy nên suy xét cẩn thận rồi
mới làm vậy.
11. Thư trả lời đại sư Ứng Thoát
(thư thứ hai)
Quang là ông Tăng tầm thường chỉ biết
cơm cháo, suốt đời ăn nhờ ở đậu chùa người khác, há nên khen ngợi quá mức như
thế? Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ; tháng Mười Một năm
ngoái đã đăng [thông cáo] trên hai tờ báo ở Thượng Hải, cự tuyệt hết thảy thư
tín. Tọa hạ phát Bồ Đề tâm, sắm sửa đủ mười tám món vật, muốn hành hạnh Đầu Đà,
quả thật là hành hạnh khó hành, nhưng Quang trộm chẳng cho như vậy là đúng! Bởi
lẽ, thời cuộc nguy hiểm, các nơi tai ương, đói kém, liều mình du hành vào nơi
hoạn nạn, kinh Phạm Võng không chấp nhận đâu! Do vậy, hãy nên tìm một nơi chân
thật tu đạo, giữ tâm khiêm hạ, chết sạch những vọng động, tu trì Tịnh nghiệp,
so ra có ích hơn hằng ngày du hành, bôn ba nhọc nhằn! Phong tục ở nước ta chẳng
giống như thời đức Phật tại thế, thuận theo thời tiết mà lượng định oai nghi mới
là người thông suốt. Nếu ông vẫn nhất quyết chẳng chịu thay đổi chương trình đã
định, Quang cũng không ép! Nhưng sau này chớ nên gởi tới một chữ nào nữa, gởi đến
quyết không trả lời! Ông đi đường ông, tôi giữ chí tôi! Huống chi Quang sẽ chết
trong sớm - tối, nào còn dám xen vào chuyện người khác! Vì sao biết tượng Đại
Bi Chú[19]
là ngụy tạo? Bởi lẽ chú có vô lượng nghĩa lý, sao có thể lấy một tượng làm chuẩn
được? Chú ấy do đức Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Phật[20]
nói ra trong vô lượng kiếp trước, sao lại cũng nhắc tới đệ tử của Phật Thích Ca
là A Nan? Sao lại còn nhắc đến Mã Minh, Long Thọ là những vị chỉ xuất hiện sau
khi đức Phật Thích Ca đã nhập diệt? Đại Bi Sám Nghi của Tứ Minh Pháp Trí đại sư[21]
người ta không thấu hiểu được, cứ thường coi trọng hình tượng, đủ thấy Tăng sĩ
đời sau phần nhiều không hiểu rõ giáo lý!
Ông
đã coi trọng trì luật thì hãy nên đọc phần nói về mười tám món vật trong các bản
chú sớ kinh Phạm Võng, cần gì Quang phải nói tường tận từng món nữa đây? Ông soạn
bài kệ rất hay, nhưng có chỗ hơi không thích đáng lắm, tôi sửa đổi đôi chút. Hãy
nên lấy những lời lẽ sám hối của cổ nhân làm chuẩn, bởi những thứ do con người
hiện thời soạn ra từ ngữ lẫn lý lẽ hoàn toàn chẳng được châu đáo như cổ nhân.
Ông đi hành cước há nên gởi tiền cho Quang! Tính gởi sách cho ông, lại sợ ông
đã khởi đơn[22]
không có chỗ nhất định, không biết gởi sách về đâu, cũng như do ông du hành
mang vác vất vả nên chẳng gởi nữa!
12. Thư trả lời đại sư Ứng Thoát
(thư thứ ba)
Nam-mô
A Di Đà Phật chính là danh hiệu đức giáo chủ Tây Phương Cực Lạc thế giới. Gã ma
con tên X… bèn y theo cách giải thích của gã ma con trước kia để phô trương ầm
ĩ, muốn cho hết thảy những kẻ mù lòa khen hắn là bậc đại ngộ, nên mới tạo ra thứ
ma thuyết ấy. Người mắt sáng trông thấy biết hắn bị ma dựa, mất trí điên cuồng,
chẳng y theo những gì kinh Phật đã dạy, xằng bậy thêm thắt lời ma.
Sao
ông chẳng biết A Di Đà kinh đã dạy: “Xá Lợi
Phất! Ý ông nghĩ sao? Đức Phật ấy vì sao hiệu là A Di Đà? Này Xá Lợi Phất! Đức
Phật ấy quang minh vô lượng chiếu mười phương cõi không bị chướng ngại nên hiệu
là A Di Đà. Lại này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài thọ mạng vô
lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp nên tên là A Di Đà”. Đấy là những lời đức Phật
Thích Ca đã nói, gã ma tử X… chẳng noi theo [lời Phật] mà dựa theo lời gã ma
con trước kia đã nói, há chẳng phải là quyến thuộc của ma vương, thật sự là
báng pháp ư? Nếu gởi những câu nói ấy cho người khác thì đời sau chẳng đọa địa
ngục cũng sẽ mù mắt! Nếu ông chẳng hủy diệt sách ấy thì cũng sẽ mù mắt!
Nay
tôi giải thích đại lược cho ông, sáu chữ “Nam-mô A Di Đà Phật” đều là tiếng Phạn.
Nam Mô cũng có khi viết là Nẵng Mồ, trong kinh thường dùng chữ Nam Mô, ở đây dịch
là “cung kính, quy mạng, đảnh lễ” v.v… Hai chữ ấy nhằm biểu thị trực tiếp ý
nghĩa cung kính quy y. A Di Đà Phật cõi này dịch là Vô Lượng Thọ, còn dịch là
Vô Lượng Quang, ý nói đức Phật này quang minh lẫn thọ lượng đều vô lượng. Gã ma
con tên X… nọ chẳng dựa theo lời của Phật, Bồ Tát, tổ sư đã nói, ngược ngạo y
theo lời gã ma con kia nói, gã ấy còn chưa đáng là bậc chánh nhân quân tử, huống
hồ đáng gọi là thiện tri thức ư?