Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên
Quyển 1
Phần 2
Chuyển ngữ: Bửu Quang tự đệ tử
Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ
Trang
34. Thư gởi cư sĩ Cao Hạc
Niên[1] (thư thứ nhất)
Quang thuở nhỏ thiếu học vấn, lớn lên
chẳng biết gì, chỉ do ở Phổ Đà lâu ngày thường được người khác sai bảo [viết
lách] thay cho họ nên ghi đại lược một hai chuyện để tự mình xem. Mùa Thu năm
ngoái được các hạ mang [những bài viết ấy] đến Thượng Hải, sao ra bốn bài luận cho
đăng trên [Phật Học] Tùng Báo. Trộm nghĩ: [Phật Học] Tùng Báo chính là do các vị
đại cư sĩ thổi ốc pháp lớn, đánh trống pháp lớn, nghĩa lý mênh mông, sâu xa như
trời cao đất dày, văn từ tuyệt diệu, đẹp đẽ như ngọc chạm vàng rung. Xếp văn của
Quang vào ấy khác gì ném ngói sạn vào rừng châu, rải gai góc nơi vườn quỳnh, chỉ
gai mắt nhã, chẳng ích gì cho tấm lòng [độc giả] tán thưởng, [cảm thấy] xấu hổ,
thẹn thùng. Thầy Căn Kỳ trở về, lại bảo viết luận, nhưng do sức khỏe yếu ớt,
nhãn mục quáng lòa, dẫu muốn, chẳng thể vâng mạng được, nhưng sợ phụ tấm thịnh
tình; do vậy đem những bản thảo cũ đã được viết theo lời sai khiến [của người
khác] chép lại cho rõ ràng thành năm bài. Thể tài, câu văn vụng về, kém tệ, các
hạ đọc đến sẽ bật cười! Nhưng đôi bên quen biết nhau, chắc chẳng đến nỗi quở
trách, chứ còn đem đăng báo chỉ sợ chuốc lấy tiếng cười chê của bậc đại thông
gia vậy! (ngày mồng Tám
tháng Tư)
Xét ra Ấn Quang đại sư ẩn cư tại Phổ Đà
Sơn, thoạt đầu không ai biết đến. Cư sĩ Cao Hạc Niên lên chơi núi, xin được bốn
bài luận văn: Một là Tịnh Độ Pháp Môn Phổ Bị Tam Căn Luận (luận về pháp môn Tịnh
Độ thích hợp trọn khắp ba căn), hai là Tông Giáo Bất Nghi Hỗn Lạm Luận (luận về
chuyện không nên lẫn lộn giữa Tông và Giáo), ba là Phật Giáo Dĩ Hiếu Vi Bổn Luận
(bàn về chuyện Phật giáo lấy đạo hiếu làm gốc), bốn là Như Lai Tùy Cơ Lợi Sanh
Thiển Cận Luận (lời bàn thiển cận về chuyện đức Như Lai tùy theo căn cơ mà lợi
lạc chúng sanh) đều được đăng trên tờ Phật Học Tùng Báo do cư sĩ Địch Bình Tử
sáng lập tại Thượng Hải. Bài luận thứ nhất ký tên là Thường Tàm, đăng trên Phật
Học Tùng Báo số chín, là số ra ngày Rằm tháng Hai Dương lịch năm Dân Quốc thứ ba
(1914), tức là ngày mồng Hai tháng Chín Âm Lịch năm Dân Quốc thứ hai (1913) (chữ
Âm Lịch và Dương Lịch ở đây không hiểu rõ, sợ bị chép lầm). Bài luận thứ hai cũng ký tên là Thường Tàm, bài luận thứ ba và thứ tư
thì ký tên là Phổ Đà Tăng. Ba bài này cùng đăng trong Phật Học Tùng Báo số thứ
mười.
Bốn bài luận văn này có thể gọi là “Ấn
Quang đại sư chuyển pháp luân lần đầu tiên”. Từ đấy, long thiên thúc đẩy, tỏa quang minh lớn lao! Được cư sĩ Hạc Niên cho xem lá thư trên đây, không
ghi rõ thời gian. Xét ra trong thư có nói: “Mùa Thu năm ngoái được các hạ mang
[những bài viết ấy] đến Thượng Hải, sao ra bốn bài luận đăng tải trên [Phật Học]
Tùng Báo”, quả thật lá thư trên đây được viết vào ngày mồng Tám tháng Tư Âm Lịch
năm Dân Quốc thứ ba (1914). Lá thư này rất có giá trị trong lịch sử Phật giáo,
chưa thấy đăng trong Văn Sao Chánh Biên lẫn Tục Biên, bèn xếp vào đây để công bố
cùng cõi đời.
Biên tập viên bán nguyệt san Giác Hữu Tình Trần Pháp Hương ghi.
35. Thư gởi cư sĩ Cao Hạc
Niên
(thư thứ hai)
Hai lần trước đến Thượng Hải đều được
ông chiếu cố, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Nay nhận được thư như được gặp mặt,
vui mừng, an ủi khôn sánh, biết cư sĩ chí mong lợi người, chẳng nề hà nhọc nhằn.
Vì thế được Tam Tôn[2]
gia bị, thân tâm thường được yên ổn, an vui. Từ bữa các hạ rời đi, Quang bàn với
hòa thượng Liễu Dư và ông Trần Tích Châu, nói không biết Chương Gia[3]
đến núi ngày nào, chỉ sợ có ông Tăng vô tri nào trong núi cứ chiếu theo lệ thường,
bảo [Chương Gia đại sư] quyên góp đôi chút thì rất mất thể thống, bảo Quang mau
trở về núi để đứng ra làm chủ tiếp đón; do vậy, Ninh Ba, Quán Tông đều chưa đến
được! Mồng Tám tháng Chín về đến núi, ngày hôm ấy biển sóng gió khá mạnh, Quang
say sẩm ói mửa trúng gió mười mấy ngày, không được khỏe lắm! Sau đấy lại bình
phục như thường. Nghe nói [các hạ] muốn đến Kê Túc[4],
trộm nghĩ không cần phải đi xa, chỉ cần chọn chỗ có thể an thân, tùy duyên niệm
Phật là được rồi! Đi đến núi Kê Túc, nếu theo đường biển rất tốn tiền; nếu theo
đường bộ thì khổ sở chẳng thể nói nổi! Sao bằng lật ngã cột phan ngay trước cửa[5],
tùy thời tùy xứ gặp gỡ tôn giả Ca Diếp thì hay hơn ư? Tiếc cho tinh thần có hạn,
lo liệu sự nghiệp cuối cùng [của một đời người] là chuyện khẩn yếu bậc nhất của
người cao tuổi vậy! (Ngày Rằm
tháng Mười năm Dân Quốc thứ bảy - 1918)
36. Thư trả lời cư sĩ
Cao Hạc Niên (thư thứ ba)
Cách biệt từ mùa Đông năm ngoái, nào
hay đã tròn một chu kỳ nóng lạnh! Quang âm vùn vụt thật đáng kinh sợ! Từ khi nhận
được thư vào tháng Giêng mùa Xuân năm nay, hoàn toàn chẳng biết tin tức đích
xác. Đến tháng Bảy, do sang Dương Châu khắc kinh, tìm đến thư cục ở Thượng Hải
để hỏi thăm, họ nói ông đã sang tu trong lều tranh trên Thái Sơn[6]
rồi. Quang đoán rằng đất Tần (Thiểm Tây) loạn lạc, chẳng thể sống yên được, đến
nỗi các hạ phải bỏ đi. Người Tần Xuyên từ đây trở đi không có ai dẫn dắt để được
tắm gội, thấm nhuần Phật pháp nữa, lòng hết sức xót xa! Nay nhận được thư, biết
ông đang ở Hoa Sơn, vẫn mong sau khi yên ổn, trở về Chung Nam[7],
khôn ngăn vì người đất Tần vui mừng sung sướng trước!
Quang
không ra gì, đạo chẳng tăng trưởng, mắt ngày càng thêm lòa. Năm trước khuyên
ông Ưng Quý Trung bỏ tiền khắc in sách [Ngự Chế Giản Ma] Biện Dị Lục. Do cõi đời
chẳng thái bình nên chậm trễ đến mùa Thu năm nay mới tới Tàng Kinh Viện, nhờ cậy
chủ nhân viện ấy lo liệu. Trước hết khắc Giản Ma Biện Dị Lục (tổng cộng hơn hai trăm sáu mươi trang
giấy), rồi
khắc in Tam Thập Nhị Tổ Truyện (khoảng chừng sáu mươi trang). Hai cuốn sách này đều là di trước của [Thanh]
Thế Tông (Ung Chánh), đều do ông Ưng Quý Trung bỏ tiền thuê khắc [ván]. Tiếp đấy,
khắc in An Sĩ Toàn Thư (khoảng
sáu trăm sáu mươi, bảy mươi trang, trong ấy có tăng thêm mấy chục trang mới nữa). Sách ấy do ông Lưu Cần Phố thuộc thôn Lưu Môn,
Triều Ấp tỵ nạn đến đất Thân (Thượng Hải) phát tâm bỏ tiền ra in. Vị này khá
thuần hậu, thành thật, tiếc là còn kém duyên với Phật pháp, vào ngày Mười Chín
tháng Chín bèn tạ thế. Nếu sống thêm được mấy năm nữa thì thiện căn Tịnh Độ sẽ
được phát sanh, nẩy nở vậy. Nhưng nhờ vào công đức khắc in sách ấy, dẫu chẳng
thể vãng sanh thì quả báo trong đời sau cũng sẽ chẳng đến nỗi kém hơn đời này.
Đợi đến tháng Tư năm sau, tôi sẽ lại qua Dương Châu để trông nom, nếu sách đã
khắc xong bèn cho ấn tống, nếu chưa khắc xong sẽ giảo chánh, đối chiếu. Năm sau
nhất quyết phải hoàn tất chuyện ấn tống hai cuốn sách về Thiền ấy.
Quang
thấy biết hẹp hòi, học vấn quẩn quanh, do các hạ đa sự lôi kéo các ông Từ Úy
Như, Châu Mạnh Do, Trương Vân Lôi v.v… phô truyền vẻ xấu [của Quang], hết sức hổ
thẹn sâu xa. Mùa Thu năm ngoái, người cùng quê là ông Vương Ấu Nông đến núi,
trông thấy những bài viết hủ bại [của Quang] liền muốn bỏ tiền khắc ván. Quang
cho rằng những bài viết hủ bại ấy chẳng đáng lưu truyền trong cõi đời nên cố từ
chối. Mùa Xuân năm nay, Úy Như in ra năm trăm cuốn, hạ tuần tháng Ba lên núi, lại
cầm đi những bài viết hủ bại còn lại, biên tập, trình bày, đem khắc ván tại Bắc
Kinh, ước chừng cuối Hạ năm sau chắc sẽ in xong. Ấu Nông tuy biết Úy Như đã khắc,
vẫn muốn khắc in, sẽ chờ hai cuốn sách [nói trên] in xong sẽ cho khắc [Văn
Sao]. Tháng Năm năm nay, có người cầm bộ Văn Sao hủ bại do Úy Như đứng in đến
chùa Nghênh Giang ở An Huy, Giám Viện là thầy Trúc Am gởi thư nói muốn khắc ván
và muốn có những bản gốc còn lại. Quang bảo thầy ấy hãy để thong thả, chờ cho
sách được khắc ván hoàn tất tại Bắc Kinh vào năm sau, in xong sẽ gởi tới ngay.
Mấy
chục năm qua, Quang chẳng dám để lộ ra hai chữ Ấn Quang, vì các hạ đa sự đến nỗi
cái tên hèn hạ, tác phẩm kém cỏi nhức tai gai mắt khắp mọi người nhã, thẹn
thùng chi xiết! Năm ngoái, tôi vọng tưởng mong đích thân chứng được Niệm Phật
tam-muội, nhưng rồi toàn thể Niệm Phật tam-muội vẫn là nghiệp lực! Năm nay tự
biết hổ thẹn, giữa tháng Chín sẽ khởi thất tới cuối tháng Hai mùa Xuân năm sau
mới thôi. Niệm Phật tam-muội chẳng dám vói cao, chỉ mong sám hối cho sạch hết
túc nghiệp. Ai biết túc nghiệp rốt cuộc cùng với Chân Như Pháp Tánh đồng nhất bất
sanh bất diệt! Phật quang chiếu khắp pháp giới, nhưng tôi vì nghiệp chướng chẳng
thể thân cận được, khổ sở lắm thay! Biết làm sao đây? Viết ra những điều chính
mình ngu muội ôm ấp để mong người tri kỷ sẽ thay tôi chia sẻ nỗi buồn mà thôi! (Mồng Bốn tháng Chạp năm Dân Quốc thứ
tám - 1919)
Kính
cẩn xét rằng trong Vân Thê Di Cảo có bài kệ như sau:
Nhị
thập niên tiền sự khả nghi,
Tam
thiên lý ngoại ngộ hà kỳ?
Phần
hương trịch kích hồn như mộng,
Ma
Phật không tranh thị dữ phi,
(Hai
mươi năm trước sự hồ nghi,
Ngoài
ba ngàn dặm chuyện sao kỳ?
Thắp
hương, quăng kích dường như mộng,
Ma -
Phật tranh xuông thị lẫn phi)
Ngài
Hám Sơn nói: “Đây chính là bài kệ ngộ đạo của
Vân Thê lão nhân”. Nay đại sư đích thân thấy được túc nghiệp và Chân Như Pháp
Tánh đồng nhất bất sanh bất diệt, trộm cho rằng đây chính là ý nghĩa của bài kệ
ấy chăng?
37. Thư gởi cư sĩ Cao Hạc
Niên
(thư thứ tư)
Hôm qua nhận được thư vui mừng, an ủi
khôn sánh! Quang cho rằng giữa đường gặp chuyện trở ngại, nhưng cư sĩ một mực
mong mỏi, dũng mãnh tiến thẳng lên trước, trọn chẳng vướng mắc gì. Một đằng là
tâm lực chẳng thể nghĩ bàn, một đằng là người lành được trời giúp sẽ tự được
không chuyện gì chẳng thuận lợi, hâm mộ lắm! Cư sĩ Nhậm Tâm Bạch cũng gởi thư đến,
nói sau một tháng rưỡi nữa chắc chắn sách sẽ xin xong. Ở chỗ Quang là một trăm
hai mươi bộ, cũng đủ dùng rồi, không cần phải tiếp tục thỉnh nữa. Tôi sẽ sang
Dương Châu vào trung tuần tháng Bảy vì tập sách nêu duyên khởi khắc in Đại Tạng
Kinh vẫn chưa được khắc xong; hễ cuốn sách này khắc xong liền có thể qua đấy lo
liệu ấn loát. Cuốn sách này chỉ gồm năm mươi mấy trang, thuộc loại sách [biên
soạn vào] đời Minh [tập hợp] những bài tựa nêu duyên khởi quyên mộ khắc in Đại
Tạng Kinh. Nguyên văn chỉ gồm mười tám bài, Quang lại cho khắc thêm bài tựa phát
khởi đầu tiên của Tử Bách đại sư vào ấy, gồm hai thiên nữa. Vì sao trong nguyên
văn không có bài tựa phát khởi đầu tiên? Đấy là do trong bài văn ấy có những
câu nói đến chuyện thế đạo biến loạn, sợ chánh quyền căm ghét, nên [người biên
tập] chẳng sao lục vào đấy! Nay đã cách biệt thời ấy, trọn chẳng trở ngại gì!
Thiên Thai là đạo tràng hoằng pháp của ngài Trí Giả, núi ấy thường có La Hán cư
ngụ, Quang do sức khỏe mòn mỏi chẳng thể đến lễ bái được, hổ thẹn khôn cùng! Biên
nhận Văn Sao đã nhận được rồi, đừng lo!
38. Thư trả lời cư sĩ
Cao Hạc Niên (thư thứ năm)
Nhận được thư hôm Hai Mươi Ba như gặp
được bạn cũ, khôn ngăn vui mừng, an ủi. La Phù, Bôi Độ, Nhạn Đãng[8],
Thiên Thai là những cuộc đất danh thắng trong thiên hạ đều lọt vào tầm mắt của
cư sĩ, đúng là do đời trước vun bồi mà ra! Quang sức khỏe mòn mỏi chẳng thể đi
xa được, ngồi chết già trên hòn núi ngoài biển, chẳng thấy biết gì! Mỗi phen
nghĩ đến thẹn thùng, cảm khái không chi sánh ví được! Cư sĩ đã đến núi Bôi Độ ắt
phong cách, đức độ sẽ được phát khởi mạnh mẽ, an ủi lắm! Ngày Hai Mươi Bốn
tháng Chín, Quang về đến Pháp Vũ, đến hôm Hai Mươi Chín liền đem bài khai thị
cho vị phu nhân ở Hà Đông gởi qua Thượng Hải giao cho cư sĩ Cam Bích Sanh. Ngày
mồng Sáu tháng Mười, ông ta gởi thư đến nói: “Kính sao thành một bản để tự giữ,
đem nguyên bản của Quang gởi trả lại kèm theo thư”. Ngày mồng Hai tháng Mười Một,
lại gởi thư cho biết: “Đã đem pháp ngữ của Quang chép lại theo lối chữ Khải
thành hai bản, một bản gởi cho cư sĩ Chiếu Nam, một bản gởi cho vị phu nhân ở
Hà Đông, nhưng pháp ngữ đã gởi đi trước đó vẫn chưa thấy hồi âm. Nếu nhận được
hồi âm sẽ liền trình cho thầy biết”. Pháp ngữ gần hai ngàn chữ, khi khắc Văn
Sao sẽ đưa thêm bài ấy vào.
An
Sĩ Toàn Thư giao cho ba vị Vưu Tích Âm, Trương Vân Lôi, Đinh Phước Bảo lo liệu,
nhưng Tích Âm muốn cho sách ấy được lưu truyền khắp hai ngàn bốn mươi mốt huyện
trong cả nước. Bạn ông Tích Âm là Lưu Mộc Sĩ có cùng ý nguyện với ông Tích Âm,
tính kêu gọi những nhà buôn giàu có quen biết ở Nam Dương bỏ tiền giúp in. Một
nửa [số sách in được] sẽ gởi về Nam Dương, Tân Gia Ba, đảo Tân Lang (Penang), để
biếu tặng các thuộc địa của Hà Lan. Các trường học tại các đảo ở Nam Dương lấy
cuốn Dục Hải Hồi Cuồng làm tài liệu giảng dạy về sự tu thân. Một nửa [số sách ấy]
sẽ dùng để biếu tặng tại tổ quốc để cho ai nấy đều vun bồi đất nước quê hương.
Tâm chân thành, rộng lớn ấy có được thỏa nguyện hay chăng vẫn chưa thể biết chắc!
Gần
đây, [khoản tiền] do những người quyên tặng để ấn hành tại nước nhà đã đến con
số vạn, đợi đến mùa Xuân năm sau khi đem in, chắc là sẽ gom được hai ba vạn bộ!
Nếu Hoa Kiều ở Nam Dương chịu phát tâm giúp đỡ thì in được một hai chục vạn bộ
không chừng, tùy duyên mà làm vậy! Nếu người trong nước ta và người ở Nam Dương
xưa đã có thiện căn, được nghe đạo “tu chân trong cõi tục, tùy theo căn cơ có
thể nhập đạo” của Phật pháp thì trời - rồng sẽ cảm động, người có tâm lo cho thế
đạo sẽ ùa nhau dấy lên cùng khen ngợi thì phân phát cho các huyện trong cả nước,
mỗi huyện một trăm mười bộ cũng chẳng khó. Nếu quốc dân chẳng có pháp duyên này
tức là người ta cho Ấn Quang là kẻ không đạo, không đức, chẳng chịu tin tưởng để
cùng nhau cảm kích, phát khởi, chỉ đành dùng một hai vạn bộ đã quyên mộ được để
thỏa tâm sự này mà thôi!
Chuyện
này tuy là chuyện riêng, nhưng thật ra có quan hệ lớn với quốc kế dân sanh! Được
thành công lớn lao hay không đều có vận số nhất định. Quang cùng bốn vị cư sĩ
Vưu, Lưu, Trương, Đinh làm sao có thể chuyển kẻ vô duyên thành hữu duyên để [An
Sĩ Toàn Thư] được lưu truyền rộng khắp cho được? Nay tôi gởi cho ông một tờ
trình bày chương trình biện pháp để an ủi tấm lòng mong mỏi xa vời. Bài văn bia
cho Trinh Tiết Đường[9]
tôi chưa viết. Từ lúc về đến núi tới nay trọn chẳng được rảnh rỗi. Quang đính
chánh An Sĩ Toàn Thư (do bản
in rút nhỏ có các hạng mục đồ hình và mục lục, phải sắp xếp theo dạng riêng). Kế đó là giảo chánh, đối
chiếu An Sĩ Toàn Thư. Lại còn có các sách Dục Hải Hồi Cuồng, Vạn Thiện Tiên Tư
và Ấn Quang Văn Sao, Cách Ngôn Liên Bích v.v… từ Dương Châu không hẹn cùng gởi
tới, phải giảo chánh đối chiếu, cũng như phải trả lời thư tín gởi tới, gởi đi.
Buổi tối mắt không nhìn được, ban ngày quả thật không lúc nào được rảnh! May được
Tam Bảo gia bị, mắt vẫn còn nhìn được lúc ban ngày, thật là chuyện may mắn vạn
phần!
Chúng
sanh đời Mạt Pháp phần nhiều đều chẳng biết nhân quả, Phật kinh sâu thẳm, huyền
áo, dẫu đọc cũng chẳng thể lãnh hội được, nên mới thành ra hiện tượng như ngày
nay. Quang thường nói: “Nhân quả là
phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian bình trị thiên hạ,
chuyển phàm thành thánh”. Cõi đời hiện nay chẳng khiến cho nhân quả được
sáng tỏ, phổ biến, mà muốn cho thế đạo thái bình, Phật pháp hưng thịnh thì chẳng
thể nào đạt được đâu! (năm
Dân Quốc thứ chín - 1920).
39. Thư trả lời cư sĩ
Cao Hạc Niên (thư thứ sáu)
Đã lâu rồi chưa được gặp gỡ các hạ,
cũng như chẳng biết hành tung của các hạ, do vậy chưa từng gởi thư. Trước đây,
cư sĩ Trương Thụy Tăng gởi thư đến nói “do có chuyện nọ, ông ta được cư sĩ yêu
mến nồng hậu xoay sở [cho vẹn toàn], chẳng đến nỗi bị kẻ xấu gây rắc rối; vì thế,
muốn đến đất Hỗ (Thượng Hải) để tỏ lòng cảm tạ”. Do vậy, Quang bèn gởi thư kèm
theo để thăm hỏi. Rồi nhận được thư của ông Mai Tôn nói cư sĩ và cư sĩ Bá Nông
sẽ đến Ninh Ba vào ngày Mười Tám, vừa trông thấy hình thế của chùa Pháp Vân đã
xác định [chỗ đặt] nền đại điện; rồi lại hứa khi nào xây dựng đại điện sẽ trở lại,
khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Nay nhận được thư mới biết ông vẫn còn đang nghe kinh
tại Nam Viên.
Nói
đến chuyện đem tràng hạt hổ phách[10]
cúng dường Bồ Tát, quả thật đã xả được thứ khó xả, công đức không gì lớn hơn!
Nhưng chùa ấy là nơi cúng bái nhộn nhịp, người lui tới rất tạp, chớ nên đeo
[chuỗi ngọc ấy] vào cổ Bồ Tát, chỉ nên cất trong phòng chứa y bát hay giữ trong
kho. Những món bảo vật ấy đã chẳng thể dùng được, mà sau này ắt sẽ khiến cho kẻ
thiếu hiểu biết lấy trộm, nên chưa có lợi ích thật sự, lại còn khiến cho kẻ ăn
trộm ấy bị tổn hại oan uổng, chẳng thà xin lại từ chỗ hòa thượng Chân Đạt, hoặc
tặng cho người khác, hoặc bán đi để làm công đức thì mới có ích thật sự vậy. [Quang
có] ý kiến tệ lậu như vậy đó, chẳng biết cư sĩ có cho là đúng hay chăng?
40. Thư trả lời cư sĩ
Cao Hạc Niên (thư thứ bảy)
Miễn cưỡng soạn bài văn bia hơn chín
trăm chữ[11],
lời lẽ chất phác, vụng về, ý nghĩa hời hợt, nông cạn, sợ chẳng đáng khắc vào
đá, xin hãy thỉnh vị cao minh nào đấy soạn [bài khác]. Nếu chỉ mong đỡ tốn sức,
vẫn xin [cư sĩ] hãy bỏ công sức sửa chữa, gọt giũa, để khỏi đến nỗi bị người
khác chê cười. Hơn nữa, quy củ [của Trinh Tiết Viện đã nêu] trong [bài văn bia]
ấy chẳng qua là phỏng đoán, đại khái, cần phải châm chước cho ổn thỏa, thích
đáng rồi hãy sửa đổi những gì đã định.
41. Thư trả lời cư sĩ
Cao Hạc Niên (thư thứ tám)
Xưa kia Tử Bách đại sư sau khi đại ngộ
đã dạo khắp các danh sơn để mở rộng kiến thức. Phàm tất cả những danh sơn,
thánh đạo tràng trong Trung Quốc, không chỗ nào Ngài chẳng đích thân đến tận
nơi là do thể lực Ngài mạnh mẽ, mỗi ngày đi được hơn ba trăm dặm. Sau này chưa
nghe nói ai có thể đi được như vậy. Trong đời gần đây, đa số là hạng lười nhác
sống ăn bám vào Phật, Thiền, Giáo, Luật, Tịnh chẳng hề phụng sự một tông nào,
chỉ bôn ba Nam - Bắc mua bán những món đồ vặt vãnh để cầu chút lợi hòng thỏa
lòng ham muốn. Tuy đến danh sơn, thánh đạo tràng, trọn chẳng có một tâm niệm hổ
thẹn, ngưỡng mộ!
Cư
sĩ tu chân ngay trong cõi tục, tùy duyên tấn đạo, giữ gìn một câu Di Đà làm bổn
mạng nguyên thần, ôm ấp hai chữ “hổ thẹn” dùng làm bậc thang nhập đạo. Chẳng
chán nhiều phen trèo lên thánh địa, sao chép những tông tích để mở rộng tai mắt
cho người khác. Vị Tăng [Tri Khách] thuở ấy (tức thuở ngài Tử Bách đi thăm khắp
các danh sơn) nếu tiếp kiến, sẽ thay mặt [vị Trụ Trì] nói lời chống giữ môn
đình nhà Phật. Tìm một vị Tăng chân thật thiết tha, chí thành như thế trong đời
Mạt quả thật chẳng được mấy người; huống là một vị đại phương gia (người thông
suốt giáo lý) đã ăn thịt đẫy bụng đến tìm Tăng nhân nói chuyện Thiền ư? Mùa Thu
năm ngoái, sau khi tôn giá đã rời đi, thường nghĩ cư sĩ vì môn đình nhà Phật mà
nhọc nhằn thành bệnh, không lâu nữa sẽ đến Thiểm Tây, ở yên nơi cuộc đất đức
Quán Âm đã hàng phục rồng (tức
đại thảo am ở Nam Ngũ Đài), nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, “xoay cái niệm lại để niệm tự tánh, tánh thành vô thượng đạo”. Sự
vui sướng ấy chẳng thể nào ví dụ được! Đến mồng Bảy tháng Giêng nhận được thư,
mới biết năm ngoái ông vẫn du hành khắp các tỉnh Hàng, Hoán (An Huy) v.v… muốn
đến Bắc Kinh, do trời lạnh bị bệnh nên đành phải trở lui. Thật có thể nói là cư
sĩ đã “vì pháp quên mình”, nhưng
trong sự thấy biết ngu muội của Quang thì có lẽ nên dừng bước nghỉ ngơi, nếu vẫn
muốn du hành rộng khắp thì hãy nên dùng thần thức để du hành, chẳng cần phải
dùng thân.
Ba
kinh Di Đà, một bộ Hoa Nghiêm dùng làm lộ trình để du hành, tham phỏng, ngồi
yên trong ao bảy báu mà dạo khắp thế giới Hoa Tạng thì thần thức càng dạo đi,
thân càng mạnh mẽ, niệm càng trọn khắp mà tâm càng chuyên nhất. Tịch thì một niệm
cũng chẳng thể được, mà Chiếu thì vạn đức cũng vốn sẵn đủ, Tịch - Chiếu viên
dung, Chân - Tục chẳng hai. Mười đời xưa nay hiện trong đương niệm, vô biên sát
hải[12]
nhiếp về tự tâm. So với chuyện khoác sao đội trăng, xông mưa đột gió, kinh sợ
khi vào chốn vực sâu, hãi hùng trong cảnh nguy hiểm thì còn gấp mấy lần [sự sai
khác] giữa một ngày và cả kiếp! Tôi thấy biết hèn tệ như thế đó, chẳng biết cư
sĩ nghĩ sao?
Hơn
nữa, trong thư ông gởi đến đã dạy: “Quang
âm vùn vụt, còn hơn nước xoáy qua tảng đá Diễm Dự ở Cù Đường[13]”,
đúng là như vậy đó! Cổ nhân đã dạy rằng: “Người
chứng Vô Sanh mới thấy được sát-na[14]”.
Cư sĩ nói lời ấy sẽ thấy được sát-na chẳng lâu nữa đâu, an ủi tấm lòng lắm, xin
chúc mừng! Cư sĩ lại nói những lời lẽ hủ bại của Bất Huệ là pháp thích hợp cho
căn cơ hiện tại, vừa mở sách ra đã khiến cho người ta như ngư phủ lạc bước chốn
Đào Nguyên[15]
v.v… sao mà nói quá lố thế? Ông muốn dẫn Bất Huệ tiến lên, nhưng Bất Huệ tuy thân
chưa già mà tâm lực đã sớm suy, mắt nhìn ngày càng kém, khó tiến được trong
gang tấc! Ông lại còn đem trình với Lê công (cư sĩ Lê Đoan Phủ), được Ngài
thương cho lòng ngu thành, cho sao chép giữ lại để đem in, càng làm cho Quang cảm
thấy hổ thẹn không chốn [ẩn mình]! Nếu làm như vậy chính là đem cỏ mục chất vào
núi báu, đem canh thừa để lẫn trong cỗ vua, trái tai gai mắt người khác, khiến
tôi sượng mặt, bị người đọc chán ghét, làm nhơ pháp đạo!
Huống
chi ba bài luận đầu vốn là do hòa thượng Khai Như sai Quang viết vào mùa Đông
năm ngoái để làm bản nháp cho buổi diễn thuyết tại Thượng Hiền Đường. Bài luận
về pháp môn Niệm Phật thích hợp khắp ba căn đã được chép vào trong Kỷ Yếu của
tòa điện đường [do Ngài quản thủ], còn hai bài luận kia có dùng hay không thì
không biết. Nếu bảo là văn tuy hèn tệ, vụng về, nhưng ý thật đáng thương thì
nên đề tên tác giả ba bài luận ấy là Thích Khai Như. Bài “luận về Tông và Giáo
chẳng nên xen tạp” thì đề tên Thích Thường Tàm, ngàn lần xin chớ đề hai chữ Ấn
Quang.
Thêm
nữa, cái hại của giấy Tây còn quá nước lũ, mãnh thú: Khiến cho đất nước khốn
cùng, làm dân kém cỏi, đoạn diệt thánh giáo đạo Nho, đạo Thích, mối họa ấy chẳng
có cùng tận! Hôm mồng Bốn tôi đã thưa đại khái điều này với Lê công, mong cư sĩ
chẳng tiếc sức từ bi, nói với khắp các cư sĩ. Nay lập một chương trình: Phàm là
kinh luận của Phật, của Tổ, nhất loạt chẳng in bằng thứ giấy ấy! Lại cần phải
báo cho các chỗ khắc kinh để họ đều cùng biết rõ, ngõ hầu chẳng đến nỗi do lưu
thông mà trở thành mau chóng diệt mất! Đây là điều Bất Huệ đau lòng nhức óc
không lối kêu van vậy. Nay muốn nhờ cư sĩ giới thiệu để khẩn cầu các đại cư sĩ
ai nấy phát Bồ Đề tâm, hiện tướng lưỡi rộng dài ngăn cấm thói quen này để pháp
đạo được [tồn tại] vĩnh viễn, đều thương xót cho lòng ngu thành của tôi mà bảo
ban rộng khắp.
Cuốn
báo đăng tải lời lẽ hủ bại đáng hổ thẹn của Quang đã đưa cho hòa thượng Khai
Như. Bức họa Ngũ Thập Tam Tham (năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử)
do trước kia đã được thầy Dẫn Duyên tặng cho bức họa thầy ấy nhận được, nên đem
bức họa nhận được lần này tặng cho hòa thượng Liễu Nhất vì cư sĩ đã từng nói với
Ngài về chuyện ấy, nhưng về sau quên khuấy đi! Đãy chú Lăng Nghiêm của Quang
đem tặng cho thầy Liễu Thanh để thầy ấy đem tới Quảng Đông hòng kết pháp duyên.
Những thứ khác đều chiếu theo danh sách mà trao ra. Thầy Ngộ Khai đã mất vào giờ
Mùi ngày Hai Mươi Hai tháng Mười Một năm ngoái. Quang cảnh lúc thầy ấy mất đã
thuật rõ trong thư gởi cho Lê cư sĩ, nay không viết chi tiết nữa. Trường An tuy
tốt, nhưng mọi chuyện gian nan, nếu không gặp trở ngại lớn lao hãy nên chuyên
tu Tịnh nghiệp, hộ trì pháp đạo ở phương Nam. So với phương Bắc thì giảm bớt một
nửa công sức mà công lại gấp bội. Cớ gì cố gượng đặt tấm thân suy lão vào nơi
khốn khổ rồi mới tu đạo được vậy?
42. Thư trả lời cư sĩ
Diệp Ngọc Phủ
Nhận được thư khôn ngăn cảm động, hổ thẹn.
Quang là hạng người nào mà dám nói những lời ấy? Nhưng các hạ đã bảo Quang nói,
nếu chẳng nói sẽ có lỗi! Trộm nghĩ: Các hạ muốn khuông phò, cứu giúp thời thế,
nhưng chẳng thể thỏa lòng được thì hãy buông ý niệm ấy xuống, gắng sức cầu tự độ.
Hãy nên dùng học thức của chính mình để xướng suất, hướng dẫn những người cùng
hàng, khiến cho hết thảy mọi người tin tưởng Phật pháp biết rõ nhân quả ba đời,
thậm chí khiến cho hết thảy những kẻ chẳng tin Phật pháp cũng đều biết tới nhân
quả ba đời. Hễ biết nhân quả báo ứng thì cái tâm tự tư tự lợi sẽ dần dần tiêu
diệt. Hơn nữa, cõi đời ít có người lành là do trong gia đình không khéo dạy dỗ,
nhưng trong một gia đình khéo dạy dỗ thì sự dạy dỗ của mẹ quan trọng nhất. Bởi
lẽ, con người lúc bé hằng ngày ở bên mẹ, được hun đúc tánh tình nhiều nhất từ
nơi mẹ! Do vậy, thiên chức của phụ nữ là giúp chồng dạy con. Nếu không có hiền
nữ, làm sao có hiền thê, hiền mẫu cho được? Vì thế, nói rằng: Khéo dạy cho con
cái biết nhân quả ba đời chính là cái đạo “gốc chánh nguồn trong” để bình trị
thiên hạ vậy! Hiện thời nam nữ tin Phật ở Thượng Hải rất nhiều, dùng danh vọng
học thức của các hạ để bước lên cao hô hào thì mọi người sẽ hùa nhau bắt chước
theo. Nếu phong thái ấy được thực hiện rộng rãi thì thế đạo tự nhiên thái bình.
Cái đạo “gốc chánh nguồn trong” như vừa mới nói đó cố nhiên ở nơi ấy chứ không ở
đâu khác!
Các hạ đã chẳng thể vãn hồi thế đạo
ngay lập tức, sao chẳng trông mong nơi bọn hiền tài sẽ dấy lên đông đảo vào mười
năm, hai mươi năm sau? Quang thường nói: “Nhân
quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian bình trị
thiên hạ, độ thoát chúng sanh”. Lại nói: “Dạy dỗ con cái là căn bản để bình trị thiên hạ, nhưng dạy con gái lại
càng thiết yếu”. Bởi lẽ, những kẻ làm quan hoặc giặc cướp hiện thời chuyên
trọng vũ lực, chẳng đoái hoài đạo nghĩa đều là vì thuở ban đầu chẳng được cha mẹ
hiền dùng nhân quả báo ứng để khéo dạy dỗ mà ra! Nếu thuở bé đã được nghe những
lời dạy tốt lành thì thà chết cũng chẳng dám làm những chuyện thảm khốc trọn
chưa hề có ấy! Tội lỗi ấy quả thật do cha mẹ bọn chúng khởi đầu, chứ không phải
chỉ riêng mình bọn chúng! Trong cõi đời lúc này, nếu chẳng đề xướng những sự lý
nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi v.v… mà muốn thế đạo thái bình, dẫu Phật, Bồ
Tát, thánh hiền đều cùng xuất hiện trong cõi đời cũng không làm sao được!
Vì
vậy, vào năm Dân Quốc thứ mười (1921) Quang in bộ An Sĩ Toàn Thư, tính quyên mộ
để in ra mấy chục vạn bản, nhưng chỉ được bốn vạn; hiện nay đã in được năm vạn
bốn năm ngàn bộ theo lối khắc ván. Nay đang in bộ Đại Sĩ Tụng, sang năm sau nữa
sẽ in Nhị Thập Tứ Sử Cảm Ứng Lục đều là vì muốn cho người ta biết tới nhân quả.
Biết nhân quả sẽ chẳng dám tổn người lợi mình, thương thiên hại lý! Những kẻ cường
bạo trong cõi đời nếu nói đến chuyện đạo đức nhân nghĩa với bọn họ, chắc họ trọn
chẳng động tâm; nhưng đem nhân quả báo ứng nói với họ, đừng nói đến [trường hợp]
người nghe tin tưởng ngay lập tức, dẫu cho chẳng tin cũng sẽ kinh hãi sợ sệt.
Các hạ có địa vị, chẳng thể vãn hồi con sóng cuồng loạn ngay được, sao chẳng hiện
thân cư sĩ dùng chuyện này để làm kế vãn hồi cho tương lai ư? Dùng điều này để
độ người tức là tự độ, há chẳng thích hợp hơn đi tới nước lạ để tìm tòi những bản
kinh chưa hề thấy, lễ di tích của đức Phật để tự độ hay sao?
Con
người hiện thời đa số tánh tình có phần mang thói ưa khoe khoang, lớn lối; [chẳng
hạn như] chưa hoằng pháp nhưng trước hết đã cầu tìm kinh điển chưa được dịch [sang
tiếng Hán] ở ngoại quốc; vậy thì đối với những kinh đã được dịch trong nước, có
từng nghiên cứu mỗi một kinh cho đến tột cùng hay chưa? Huống chi nếu đã nhận
hiểu được một hai nghĩa lý trong kinh Phật sẽ liền có thể thượng hoằng hạ hóa!
Huống nữa, [kinh Phật đã được dịch sang tiếng Hán] dẫu nhiều đến mấy ngàn quyển
vẫn [cho rằng] chẳng đủ dùng, cứ muốn tìm tòi tại các nước thuộc Ấn Độ ư? Phàm
với những kiểu đề xướng như vậy, Quang đều chẳng cho là đúng! Những ý kiến như
vậy đều xuất phát từ thói ham cao, chuộng xa, thấy khác lạ, nghĩ đi tận đâu đâu,
hòng khiến cho mình được nổi bật lên giữa mọi người; nếu người ta nói sao mình
cũng nói hệt như vậy thì chẳng đáng gọi là kỳ lạ, đâu thể hiện được bản lãnh của
ta!
Luận
về tài năng của các hạ, hãy nên theo như những gì Quang đã nói thì lợi ích sẽ lớn
lắm. Nếu không, hãy chọn lấy một chỗ vắng lặng kín đáo để tận lực tu Tịnh nghiệp,
đem học vấn, văn chương đã đạt được trước kia vứt ra ngoài Đông Dương đại hải, nghĩ
mình vốn là một kẻ vô tri vô thức, trong tâm chẳng sanh phân biệt, ngày đêm sáu
thời chuyên trì một câu hồng danh thánh hiệu. Nếu có thể chết sạch được cái tâm
mong ngóng, ắt sẽ đích thân thấy được bản lai diện mục! Từ đấy, dựng cao pháp tràng,
khiến cho hết thảy mọi người đều cùng trở về biển pháp Tịnh Độ, sống làm bậc
thánh bậc hiền, chết dự vào hội Liên Trì thì mới chẳng phụ sở học ấy, mới là bậc
đại trượng phu chân Phật tử vậy! Còn chuyện viễn du Ấn Độ, chẳng qua nhằm mở rộng
tầm mắt, mở rộng tri kiến mà thôi; chứ đối với phương diện sanh tử, muốn được tự
độ thì [tự độ] ở chính nơi đây, nào phải ở nơi kia! Huống chi đường sá xa xôi,
tốn kém không ít, thể lực của các hạ cũng chẳng mạnh mẽ cho lắm, gặp phải cảnh
bôn ba nhọc nhằn ấy thì tổn hại rất nhiều, lợi ích thật ít, Quang trọn chẳng
tán thành. Nay dẫn một chứng cứ; Khổng Tử nói: “Mạnh Công Xước vi Triệu Ngụy lão tắc ưu, bất khả dĩ vi Đằng Tiết đại
phu[16]”
(Mạnh Công Xước làm gia thần cho họ Triệu, họ Ngụy là hai khanh đại phu của nước
Tấn thì tài năng có thừa, nhưng làm đại phu cho nước Đằng, nước Tiết thì không
thể được). Hai câu nói [trên đây] của Quang chính là “Triệu Ngụy lão” vậy, chuyện viễn du Ấn Độ chính là “Đằng Tiết đại phu” vậy. Các hạ thử xét
kỹ xem, chắc sẽ chẳng cho lời Quang là sai lầm!
Đại Sĩ Tụng ước chừng sẽ in trước hai
ngàn bộ trong năm nay để gởi cho những người đã đặt mua trước, nhưng cho đến
nay vẫn chưa sắp chữ được một nửa, sợ khó thể bắt đầu in trong năm nay được! Nay
tôi gởi kèm theo một trang thuyết minh biện pháp, ông đọc sẽ tự biết. Bốn trăm
đồng của các hạ sẽ in được một ngàn hai trăm bộ sách, xin hãy cho biết phải gởi
sách ấy về đâu hoặc [muốn chúng tôi] thay mặt [các hạ] gởi đến cho ai để chúng
tôi thực hiện đúng như thế. Bộ Nhị Thập Tứ Sử Cảm Ứng Lục được phát khởi là do
ông Ngụy Mai Tôn ở Nam Kinh muốn vãn hồi sát kiếp, Quang bảo ông ta hãy sưu tập
rộng khắp những chuyện nhân quả trong hai mươi bốn bộ sử[17]
để chúng được lưu truyền rộng rãi trong cõi đời thì sẽ có hy vọng [thế đạo thái
bình]. Do vậy, Quang đem bộ sách [Nhị Thập Nhị Sử Cảm Ứng Lục] của Bành Hy Tốc
biên soạn gởi đi, bảo ông ta hãy mở rộng bộ sách ấy. Ông ta nghĩ Quang nói
đúng, gắng hết sức sưu tập, chia thành từng môn, từng loại. Dưới mỗi đoạn lại
còn ghi rõ xuất phát từ sách nào, tập nào, quyển nào, trang nào. Có lẽ trong
năm sau sách sẽ hoàn thành, tôi sẽ ra sức đề xướng mạnh mẽ cho sách được lưu
truyền rộng khắp để giúp cho thế đạo nhân tâm trong tương lai. Tôi nghĩ các hạ
cũng tỏ lòng đồng tình đề xướng vậy (chuyện này ông Ngụy chưa thực hiện được, nhưng tạo thành duyên khởi
cho ông Hứa Chỉ Tịnh biên tập bộ Lịch
Sử Cảm Ứng Thống Kỷ. Xin hãy đọc bài tựa của tổ Ấn Quang viết cho bộ Thống Kỷ sẽ
tự biết nguyên do).
43. Thư gởi cư sĩ Quan
Quýnh Chi
(thư thứ nhất)
Quang vô tri vô thức, được ông lầm để
lọt mắt xanh, khôn ngăn cảm kích, xấu hổ. Hôm trước đã tặng một trăm đồng để in
bộ Văn Sao, quả thật là nhiệm vụ cấp bách. Một người bạn Quang tên là Hoàng Ấu
Hy cả nhà đều thuần thiện, nhưng bị chướng duyên đời trước trói buộc, khốn khổ
vì vừa nghèo vừa bệnh. Trước đây, Quang từng đến đó, thương ông ta gặp cảnh khổ
sở, biếu ông ta hai khúc vải Tây do ông Tôn Tam Nguyệt đã biếu cho Quang. Đêm
Mười Chín khi nghỉ tại Tịnh Nghiệp Xã, nghe cư sĩ Giang Vị Nông nói ông ta đã bị
bệnh thật ngặt nghèo, nay đã có chuyển biến; nếu từ rày lành bệnh thì cũng cần
phải dưỡng sức hai ba tháng mới có thể lành lặn để làm việc tại xưởng in. Ông
ta đi làm việc ăn lương mà còn khó thể trang trải, huống chi mấy tháng ngồi không,
biết phải làm sao đây, mong mọi người giúp đỡ. Quang nghe xong xót xa, cũng muốn
đề xướng, bèn giao mười đồng cho ông Vị Nông. Nay tính đem món tiền một trăm đồng
của các hạ dùng làm khoản tiền cứu giúp kẻ ngặt; ông ta có được món tiền một
trăm đồng này sẽ chống chọi được một tháng. Lợi ích ấy tuy chẳng lớn lao bằng
in Văn Sao, nhưng ân đức sâu đậm hơn in Văn Sao nhiều lắm; vì chuyện ấy còn có
thể để thong thả được, chứ cảnh này hết sức nguy cấp. Quang vốn biết các hạ đại
từ ban vui, đại bi cứu khổ, nên chẳng thưa trình trước [mà đã đem khoản tiền ấy
biếu tặng rồi!]
44. Thư gởi cư sĩ Quan
Quýnh Chi
(thư thứ hai)
Nửa năm chưa gặp gỡ mà giang sơn mấy độ
gấm vóc, nhân dân giàu mạnh đều trở thành điêu tàn khốn khổ, [lâm vào] tình huống
chẳng nỡ nhìn được! Do vậy càng thêm tin tưởng “tướng cõi đời vô thường, tam giới như nhà lửa”. Các hạ nương sức
túc nguyện tận lực hoằng dương Tịnh nghiệp, đúng là nên mượn dịp này để làm một
mũi kim đâm xuống đảnh đầu đại chúng tu trì Tịnh nghiệp, ngõ hầu ai nấy đều chết
sạch cái tâm mong ngóng “lại được sanh trong cõi trời, cõi người để hưởng thụ
si phước” thì lợi ích càng lớn vậy!
Thiên
Vương Điện của chùa Pháp Vũ kèo cột đã mục, lâm vào thế khó thể duy trì được
lâu. Hòa Thượng [Trụ Trì] ngay từ lúc mới nhận chức đã bàn đến chuyện xây lại
toàn bộ. Hiềm rằng hai năm qua có khi mùa màng thất bát, hoặc do chiến tranh
liên miên, đến nỗi chỉ quyên được ba bốn ngàn đồng, còn thiếu rất nhiều, tính
sai người sang các xứ Tân Gia Ba, Tân Lang v.v… để mộ duyên. Do những nơi ấy có
đại sư Quảng Thông thuộc Hạc Minh Am trụ trì đạo tràng cả hai nơi, người nơi ấy
trọn chẳng đến nỗi nghi là giả mạo! Tháng Sáu năm ngoái, Sư đã tận mặt cầu khẩn
các hạ, đã được chấp thuận. Nay phái hai thầy Minh Đức, Hàm Nghiệp sang đó trước,
sai Quang viết thư cho các hạ, mong các hạ sẽ xin thông hành, giấy nhập cảnh, hộ
chiếu sang các nước ngoại quốc từ văn phòng giao thiệp thuộc Bộ Ngoại Giao và
Lãnh Sự Quán để khỏi bị trở ngại. Nếu việc quyên góp được trọn vẹn để khởi công
trùng tu điện ấy thì quả thật là do các hạ đã ban cho vậy.
Lẽ
ra Hòa Thượng phải viết thư này, lại sai Quang viết vì ngài chưa rõ lòng thành
hộ pháp của các hạ, nhưng để thành toàn cho đạo tràng của Bồ Tát thì chẳng nên
sanh lòng so đo nơi tình người thân hay sơ. Quang được dính dáng vào chuyện
công đức này thì cũng được lợi ích nên chẳng chối từ, kính cẩn trình lên, mong
các hạ chẳng tiếc công sức khiến cho sở nguyện ấy được thỏa mãn thì may mắn lắm
thay!
45. Thư gởi cư sĩ Quan
Quýnh Chi
(thư thứ ba)
Chắc hai lá thư trước đây ông đã nhận
được rồi. Hiện thời vận đời đổi mới, những kẻ vô tri lầm lạc đề xướng thuyết hủy
diệt Phật pháp trong lúc này, thật nguy hiểm quá! Đạo pháp chẳng bị diệt vong
ngay lập tức là nhờ vào các hạ và các đại cư sĩ nhiều cách ra sức duy trì. Nếu
không, huệ mạng của Như Lai vĩnh viễn đoạn diệt từ đây, đông đảo chúng sanh trọn
chẳng mong chi thoát khổ, nguy hiểm đến cùng cực! Ngày hôm qua, hòa thượng Diệu
Liên ở Nam Kinh gởi đến một bức thư vốn là thư của Tôn Đại Tổng Thống (Tôn Văn)
trả lời các cư sĩ thuộc hội Phật giáo vào năm Dân Quốc thứ nhất (1911). Lá thư ấy
được đăng tải trong cuốn Phật Học Tùng Báo số thứ nhất, chẳng biết các hạ và
các đại cư sĩ đã từng đọc qua hay chưa? Hòa thượng nói là bài viết ấy được đăng
tải trong tháng Ba, có lẽ không đích xác, tôi sẽ kiếm trong những số Phật Học
Tùng Báo còn giữ được để kiểm chứng.
Có
lẽ nên cho đăng [lá thư ấy] trong những tờ báo lớn để những kẻ xướng xuất bừa
bãi, tiến hành bừa bãi biết Tôn Đại Tổng Thống đã làm chuyện hoằng dương, bảo vệ
Phật giáo như vậy. Nếu đăng báo nên ghi là “công
hàm bảo vệ Phật giáo của Tôn Đại Tổng Thống”, phía dưới ghi chú bằng hàng
chữ nhỏ rằng “trích từ Phật Học Tùng Báo
số thứ nhất”, hoặc ghi “do phân hội
Phật Giáo Giang Tô sao chép gởi tới”, mong ông hãy cân nhắc.
46. Thư gởi cư sĩ Quan
Quýnh Chi
(thư thứ tư)
Đã lâu chưa được gặp mặt, khôn ngăn
mong tưởng. Cư sĩ phát tâm Bồ Tát, lấy chốn đô thị làm đạo tràng, lấy những người
cùng hàng làm pháp lữ. Thân tuy tại gia, hạnh giống như vị Đầu Đà, sẽ thấy sự
giáo hóa từ bi được thấu khắp hết thảy những người cùng hàng dù thiện hay ác, sẽ
do vậy mà thoát khỏi cõi Sa Bà này sanh về cõi Cực Lạc kia, để trên là an ủi ý
niệm từ bi của Thích Ca, Di Đà, Quán Thế Âm, khôn ngăn vui mừng, an ủi tột bậc!
Ngày hôm qua, tôi nhận được thư của một người bạn là cư sĩ Trương Thụy Tăng cho
biết: Trong tháng trước, do bị mất chi phiếu đã phải cùng người ta thưa kiện
nơi tòa án, kẻ bị cáo cậy thế lực lớn gần như tố ngược lại, [may mà ông Trương]
được cư sĩ có lòng yêu mến ngấm ngầm xoay chuyển giúp nên chưa đến nỗi bị kẻ ác
gây khốn đốn lớn lao! Quang nghe xong mừng rỡ khôn cầm, khác nào chính mình được
giúp đỡ, cảm tạ khôn xiết. Vốn tính gởi thư này thẳng đến chỗ ông ở, nhưng do địa
chỉ, tên đường, số nhà đều không biết, chẳng thể giao cho bưu điện được. Vì thế,
nhờ cư sĩ Thụy Tăng đem qua Thượng Hải thay mặt Quang trình lên, mong hãy rủ
lòng từ bi thứ lỗi!
47. Thư trả lời cư sĩ
Quan Quýnh Chi (thư thứ năm)
Nhận được thư khôn ngăn cảm kích. Đang
trong lúc cuối thời pháp yếu ma mạnh, tổ đạo điêu linh này, may được các hạ và
các vị cư sĩ cực lực cứu vãn, [Phật pháp] chẳng đến nỗi bị diệt vong ngay lập tức,
nếu chẳng phải là nương theo nguyện để sanh trở lại, há có được như thế hay
chăng? May nhờ vào đại lực mà thành lập được các hội Phật hóa, nên [Phật giáo] chẳng
đến nỗi bị xô liền đổ nhào ngay, không cách nào vực dậy được! Điều đáng lo là
trong giới Tăng sĩ, hàng tri thức kém cỏi chẳng dễ khiến cho người khác sanh
lòng tin. May là vẫn còn có các cư sĩ tuyên dương khiến cho người hiểu lý biết
Phật là bậc đại thánh nhân, giáo pháp của Ngài là chuyện chẳng thể nghĩ bàn, quả
thật là may mắn lớn lao! Lá thư hôm mồng Hai là thư gởi chung cho ông và cư sĩ
Nhất Đình được gởi bằng thư bảo đảm, dẫu ông chưa nhận được cũng không sao. Những
điều được nói trong ấy cũng chỉ là những ý cầu xin che chở mà thôi!
48. Thư gởi hai vị cư
sĩ Quan Quýnh Chi và Vương Nhất Đình
Hôm qua nhận được thư của ông Hứa Chỉ
Tịnh mới biết do Cư Sĩ Lâm bị lính đóng, hai vị đã thỉnh cầu chánh phủ, được
[chánh phủ] chấp thuận duy trì, lại còn chấp thuận bảo vệ danh sơn vùng Chiết
Giang, khôn ngăn cảm kích. Hiện thời Phật pháp suy tàn, nếu không có bậc đại lực
ngoại hộ thừa nguyện tái lai thì sẽ bị diệt vong. Hai vị đáng gọi là bậc Bồ Tát
hộ pháp hộ đời, đã ra tay đẩy lùi con sóng cuồng, kéo trở lại mặt trời sắp lặn.
Chẳng những người trong pháp môn được che chở mà còn khiến cho chúng sanh đời
tương lai được nghe Phật thừa. Công đức ấy chỉ đức Phật mới biết được. Khi hồi
hướng sau mỗi khóa tụng, Quang đều hồi hướng cho hai vị và tất cả những vị có
công huân với Phật pháp. Quang đã thiếu tài trí, lại chẳng có tinh thần, chẳng
thể vì pháp môn ra sức. Chỉ mong hai vị dốc sức duy trì thì may mắn lắm thay!
49. Thư trả lời cư sĩ
Đinh Phước Bảo (thư thứ nhất)
Vừa nhận được thư gởi đến khôn ngăn thẹn thùng, sợ hãi. Ấn Quang là ông Tăng ở đậu, chỉ biết cơm cháo, do bất đắc dĩ nên mới bày ra khá nhiều thứ canh thừa, cơm sót cho xong trách nhiệm, mùi vị chua hôi, hình chất vữa nát, nhờm gớm mắt pháp của người khác, nhưng Úy Như vui thích cho là có ích cho kẻ đói nên đem truyền bá. Nếu các hạ muốn dẫn dắt cho những kẻ đói được ăn no cỗ vua mà trước đó đã dùng những món này để giữ hơi thở cho họ, chính là đã rủ lòng biệt đãi Quang quá mức rồi; há nên suy tôn Quang là người bậc nhất sau ngài Tỉnh Am? Dẫu Quang đáng xách dép cho ngài Tỉnh Am[18] cũng chẳng nên thốt ra lời nói quá phận ấy, huống là nói văn chương của Quang trội hơn ngài Tỉnh Am ư? Làm người thì phải theo đúng luân thường, tuy các hạ yêu mến Quang rất sâu đậm, nhưng [nói như vậy] thì cũng giống như chính mình đã lỡ lời đó thôi! Ông nên biết rằng: Sau ngài Tỉnh Am có những vị đại cao nhân, họ có hơn ngài Tỉnh Am hay chăng, chẳng dám dùng phàm tình để đoán bừa! Vị đáng xếp vào hàng có thể sát cánh kề vai [ngài Tỉnh Am] vì học vấn, kiến địa, tu dưỡng, đạo