Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên
Quyển 1
Phần 3
Chuyển ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang
57.
Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ chín)
Quang túc nghiệp
rất sâu, có mắt như mù. Thường chuyên chú sám hối để tiêu trừ, nhưng nghiệp vẫn
như cũ. Có lẽ vì nhiều kiếp đến nay từng dựa vào ý kiến của chính mình để giảng
sai Phật pháp, làm hư pháp nhãn của người khác, gây lầm lạc cho chánh trí của
người ta mà ra. Vì thế, trong đời này chẳng dám vì tình cảm xấu - tốt đối với người
khác mà thốt lời bàn luận. Thà để cho người ta chán ghét, chửi bới, trọn chẳng
dám dò tìm những điều người khác ưa thích để khen ngợi hòng tự siểm nịnh, siểm
nịnh người! Từ mùa Hạ năm ngoái đến nay, trao đổi thư từ với các hạ đến gần một
vạn chữ, lòng ngu thành khăng khăng ấy ắt các hạ đã thấy tận gan ruột rồi!
Ngày Hai Mươi Bốn tháng này, cung kính nhận được cuốn Phật Học Chỉ
Phần Hạ Biên xét về đại thể cố nhiên là tốt đẹp, nhưng phần luận về
mười tông của cụ [Dương] Nhân Sơn, phần [giới thiệu] đại lược về Đại Tạng của
ông [Lê] Đoan Phủ đã từng đăng trong Phật Học Tùng Báo rồi! Nguyên bản sách Tam
Quốc Phật Giáo Lược Sử vốn rất sơ sài, đại lược, nay ông lại rút gọn hơn nữa
[thì càng bị sơ lược lắm]! Những điều khác đều giống như thế, cho đăng hay
không đều được cả! Trong những bài ấy, không phải là không có những tỳ vết nhỏ
nhặt, nhưng do chẳng quan hệ khẩn yếu, cũng như do [Quang] mục lực không đủ nên
chẳng nêu ra.
Trong các tác phẩm do các hạ biên soạn, chỉ có tác phẩm này là lợi
ích rộng lớn nhất; vì người căn cơ trung - hạ ắt phải do nhân quả báo ứng mà nhập
đạo thì mới có lợi ích thật sự. Nếu không, chỉ là ăn nói trơn tru ngoài miệng,
chẳng biết giữ lòng cung kính, cẩn thận để mong đích thân thật sự chứng được.
Những kẻ cuồng huệ trong cõi đời đều do lúc ban đầu chẳng uống thuốc nhân quả
báo ứng này, nên đối với lời nói “trực chỉ
nhân tâm, đương thể tức thị” của Phật, của Tổ, ngạo ngược hiểu lầm thành “mặc
tình tùy nghiệp”, [lấy đó làm] căn cứ để trọn chẳng kiêng dè, ác không cần đoạn,
thiện
chẳng cần tu. Dùng phàm tình để suy lường thánh trí, biến Đề-Hồ[1]
trở thành Tỳ Sương[2],
chẳng đáng buồn ư? Sách này được xuất hiện, ắt sẽ có kẻ ôm lòng run sợ, bồi hồi,
bất an; từ đấy chú trọng đạt được lợi ích thật sự, chú trọng xa lìa mối họa thật
sự. Từ một người cho đến nhiều người, từ một đời cho đến nhiều đời, được pháp lợi,
tắm gội Phật ân, vượt biển khổ, lên bờ giác liên tục chẳng tận. Kính cẩn dùng
điều này để chúc mừng các hạ.
Khi
xem tới phần thư mục ở cuối cùng, vẫn thấy nêu tên cuốn Pháp Hoa Kinh Lực của
ông Lưu Nhân Hàng (Diễn Tông). Mùa Đông năm ngoái,
các hạ đã trống lòng xin chỉ chỗ sai, tôi đã trình bày [lý do] chẳng thể lưu
thông sách ấy. Về sau, do bạn bè từ xa gởi thư đến, bảo Quang hãy thẳng thừng
bày tỏ lời pháp gián (lời can ngăn về mặt pháp), Quang lại thiết tha trình bày
những điểm sai lầm của sách ấy và chỉ rõ “lưu thông sách ấy sẽ bị người khác
bài xích!” Nếu Diễn Tông cố chấp không nghe, sao các hạ vẫn lưu thông giùm cho
ông ta vậy? Ấn Quang và Diễn Tông trọn chưa hề gặp mặt nhau, chưa nói với nhau
một lời nào. Hai lá thư lần trước đa phần là tính kế cho ông Nhân Hàng, và một
phần ít là tính kế cho các hạ. Nay thì chuyên vì các hạ tính kế.
Các hạ thông hiểu Phật pháp sâu xa, há chẳng biết “tự làm, dạy người
[khác làm], thấy nghe [người khác làm bèn] vui theo” đều cùng chịu một quả báo
do nghiệp thiện hoặc ác hay sao? Nhân Hàng là tự làm, các hạ thay ông ta lưu
thông chính là đủ cả những chuyện “tự làm, dạy người [khác làm], thấy nghe [người
khác làm bèn] vui theo”. Huống chi Quang hai lượt gởi thư tỏ bày lẽ lợi - hại
mà các hạ vẫn lưu thông ư? Chắc ý các hạ cho rằng [những lời lẽ] trong lá thư
thứ hai vẫn là do Quang nói thác ra, chứ thật sự chẳng có ai gởi thư bảo Quang
can gián!
Ông đâu biết đối với chuyện này, Quang phải tốn khá nhiều công đắn
đo; do bọn họ muốn Quang dựa theo từng điều [lập luận của Lưu Diễn Tông] để quở
trách, rồi cho ấn tống rộng rãi [những lời phê phán ấy] để mong sao ai nấy đều
cùng biết, chẳng bị mắc hại. Quang cho rằng: “Do tập khí, văn nhân thường mắc
phải thói tệ ‘tâm vẫn chưa còn hiểu rõ đã muốn nêu tỏ’. Ta nên khuyên ông ta
thiêu hủy sách, vĩnh viễn chẳng lưu thông là được rồi! Nào cần phải nói nhiều
gây lắm phiền nhiễu, làm chuyện tốn kém tiền tài!” Do vậy, bèn đem lá thư thứ
nhất và lá thư thứ hai cùng gởi đi, lại còn dặn đừng đưa thư Quang cho người
khác xem. Ông ta gởi thư trả lời, nói Quang muốn thủ tiêu một cách vô hình, đôi
bên ai nấy đều được lợi ích. Đọc xong khiến cho người ta ứa lệ.
Nào ngờ năm nay các hạ vẫn ký tên lưu thông thì ra lá thư các hạ
trả lời Ấn Quang chính là mưu mẹo để dỗ cho đứa bé nín khóc, chứ không phải là
lời lẽ thể hiện sự vui mừng, kính phục từ trong tâm. Ấn Quang yêu mến các hạ
còn hơn các hạ yêu mến Quang, vì thế lại khóc oa oa. Nếu các hạ chịu rủ lòng
thương, bất luận Nhân Hàng nói trước tác của chính mình cao sâu đến đâu, [các hạ
sẽ bảo ông ta] “ông muốn lưu thông thì hãy tự lưu thông, dẫu dùng oai phước để
bức bách, tôi cũng chẳng chịu thay ông lưu thông”, Quang sẽ hết khóc liền. Nếu
không, Ấn Quang chỉ tự oán mình đời trước khẩu nghiệp quá sâu đến nỗi [đời này]
lời nói chẳng được ai tin. Mười pháp giới mặc người tự tạo, nào có liên can gì
đến ta? Tuy tâm thật sự chưa thể thỏa thích, vui sướng, nhưng cũng chẳng khóc nữa.
Vì sao? Vì vô ích cho người khác, gây tổn hại cho mình; sao bằng thôi đi, lẽ
đâu bắt chước chim cuốc (đỗ quyên) gào xuông vô dụng? Các hạ phát hoằng thệ
nguyện, muốn lợi khắp hết thảy chúng sanh, nhưng lại cực lực lưu thông sách có
hại cho huệ mạng của chúng sanh là vì pháp nhãn chưa thể thấy thấu triệt điều tệ
ấy hay chăng? Hay là vì tình cảm mà a dua điều người khác ưa thích đó chăng?
Quang chẳng thể nào biết được! Nếu vẫn cứ tiếp tục lưu thông sách ấy thì Quang
chẳng dám hướng về các hạ mở miệng nữa đâu!
Tháng Tám năm
ngoái, tiên sinh Trương Vân Lôi gởi thư đến, Quang gởi thư trả lời nói đại lược:
Thế đạo nhân tâm ngày càng đi xuống, ông chịu trách nhiệm chính ở tờ báo, đối với
những ngôn luận kiêng giết, phóng sanh v.v… và những sự tích nhân quả báo ứng
v.v…. mỗi ngày hãy nên đăng tải một hai điều, khiến cho người đọc thấy được tấm
gương rành rành, giữ lòng răn dè, cẩn thận, dần dần được giồi mài, dần dần được
tiêm nhiễm, ngày càng hướng về nơi bậc thánh bậc hiền mà chẳng tự biết. Ông ta
gởi thư trả lời cho biết sẽ dành riêng một cột báo, chuyên đăng tải những ngôn
luận nhà Phật. Quang đã bắt đầu Phật thất, cố nhiên chẳng trình bày nguyên do.
Ông ta cùng với Diệp Bá Cao, Ưng Quý Trung v.v… mười mấy người bàn định chương
trình, cho đăng tải hằng ngày. Họ cử ông Diệp Bá Cao chịu trách nhiệm duyệt
bài, đọc rồi mới được đăng báo. Đến tháng Chạp, họ đăng thông cáo về việc ấy, mới
biết đến biện pháp đó.
Kế đó, Châu Mạnh Do nhiều lượt gởi thư bảo Quang viết luận. Thoạt
đầu, Quang cật lực từ chối; tiếp đó, bất đắc dĩ phải ưng thuận, chỉ sao chép lại
bao nhiêu đó bài văn hủ bại của chính mình gởi đi. Nghe nói những bài được đăng
tải trong tháng Giêng đều là những văn từ hủ bại của Quang. Cũng có những bài
không do Quang gởi mà là thư của Quang gởi cho người khác, người ta tự gởi đến
tòa báo. Quang xin những đồ ăn thừa, giữ được những thứ cơm thừa, canh cặn ấy,
những vị danh nhân ấy nhận lấy, đem dâng lên tai mắt của mọi người, khôn ngăn hổ
thẹn đến chết người, nhưng cũng chẳng biết làm sao được? Chỉ đành để mặc mà
thôi! Viết ra những điều này để chuốc lấy một tiếng cười vậy! (ngày Hai Mươi
Lăm tháng Giêng năm Dân Quốc thứ bảy - 1918)
58.
Thư gởi cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười)
Đã lâu chưa nhận
được thư, khôn ngăn mong tưởng. Từ đầu Xuân đến nay, chắc là đứng ngồi đều hưởng
phước, các duyên như ý. Xin chúc mừng! Bộ Văn Sao hủ bại của Quang đã được xuất
bản. Vào mùa Đông năm ngoái, Quang đã báo cho ông Vân Lôi nhờ Thương Vụ Ấn Thư
Quán lúc sách được in ra, hãy gói mười hai bọc, tổng cộng là sáu mươi bộ, báo
tin cho người làm của các hạ đến nhận; sáu mươi lăm bộ kia gởi hết về cho
Quang. Ông ta đã cùng Quang tính toán: [Mỗi cuốn sách được tính giá] bớt đi ba
mươi phần trăm thì với năm mươi đồng sẽ thỉnh được một trăm hai mươi lăm bộ
sách. Nhưng thư cục non gan, sợ sách không bán được sẽ cụt vốn, chỉ in ra hai
ngàn bộ, đến khi sách được in ra, người thỉnh quá nhiều. Đối với số sách do
Quang yêu cầu, dù thúc giục họ cũng không giao. Vân Lôi nhiều lần thúc giục, họ
vẫn không giao. Chắc là họ giữ lại để bán ra theo giá thật sự trên thị trường,
đợi đến khi tái bản mới giao sách. Chắc là sáu mươi bộ của các hạ, e rằng họ
cũng chưa giao.
Tiếp đó, nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn, vì trong cuốn
Phật Học Tiệp Kính (Đường tắt trong Phật học) đã đem những lời lẽ hủ bại của
Quang xếp chung với ngôn luận của các vị đại tổ sư, các vị đại cư sĩ, càng thêm
xấu hổ không chỗ dung thân. Quang là một kẻ vô tri vô thức, đối với Phật học trọn
chẳng hiểu biết gì. Tuy đối với một pháp Tịnh Độ tin tưởng sâu xa,
nhưng nghiệp sâu huệ cạn, làm sao nêu tỏ cho được? Dẫu có một hai kẻ thấy Phật
kính Tăng hỏi đến thì cũng chỉ là lấy những thứ cơm thừa canh cặn để chính mình
tự nương cậy, tự giữ mạng sống, hay là những pháp gom cỏ nhóm lá [để đáp lời]
hòng khỏi bị quở trách; nào đáng được xếp chung với các ngôn luận của những vị
đại tổ sư, các vị đại cư sĩ! Trong bài Kiệt Thành Phương Hoạch Thật Ích Luận
(bài luận về cạn hết lòng thành mới đạt được lợi ích thật sự), tôi vốn muốn sưu
tập rộng rãi những câu chuyện chứng minh cho vấn đề phước hay tội vì kính trọng
hay khinh nhờn để làm khuôn phép răn nhắc lớn lao cho con người hiện thời,
nhưng vì mục lực không đủ nên chỉ sao chép được một hai câu chuyện mà thôi!
Sách
An Sĩ Toàn Thư trong Thế Đế bao gồm Phật pháp. Do vậy, tiên sinh Nhân Sơn cũng
đưa [tên sách ấy] vào trong cuốn Đại Tạng Tập Yếu[3].
Các hạ soạn mục nói về sách ấy trong bộ [Phật Học] Đại Từ Điển sẽ có lợi ích lớn lao. Năm ngoái, [An Sĩ Toàn Thư] đã được khắc in lại
ở Vân
Huệ Mạng Kinh[4]
chính là sách của bọn ngoại đạo chuyên dùng Phật pháp để chứng minh cách luyện
đan, lại ngược ngạo lắm phen hủy báng Phật pháp. Các hạ là bậc cao minh, lại
còn cực lực hoằng dương [Phật pháp], sao lại đem sách ấy xếp vào Phật điển (những
kinh sách nhà Phật)? Chẳng những gây hiểu lầm cho độc giả, lại còn ảnh hưởng lớn
lao đến tiếng tăm nghiên cứu Phật học của các hạ! Người sáng mắt đọc đến ắt sẽ
cho rằng các hạ tà - chánh không phân, vẫn theo đuổi chuyện luyện đan!
Hơn nữa, nếu chỉ nói đến chuyện luyện đan thì cũng không gây hại lớn
lao chi lắm, nhưng sách ấy dẫn toàn kinh Phật, lời Tổ để làm chứng cho phép luyện
đan, biến chánh thành tà, khiến cho con người không phân biệt được. Nếu có chỗ
nào không thích hợp, ngoại đạo liền sửa đổi câu chữ. Như câu “Duy hữu nhất thừa pháp, dư nhị tắc phi
chân” (chỉ có pháp Nhất Thừa, hai pháp kia chẳng thật) trong kinh Pháp Hoa,
chúng liền giảng là “huệ mạng song tu!” Lại còn vẽ hình thận tạng, viết hai
bên, một bên thuộc Huệ, một bên thuộc Mạng, cho rằng “huệ mạng song tu thì mới có
thể thành đạo!” Dẫn đoạn văn ấy từ kinh Pháp Hoa để làm chứng, nhưng sửa chữ Dư
thành chữ Trừ (thành ra “duy hữu nhất thừa
pháp, trừ nhị tắc phi chân”) bảo rằng: “Ngoại trừ huệ mạng song tu ra thì
không có gì là thật hết!” Phàm những tông Thiền, Giáo, Luật, Tịnh, Mật và lục độ
vạn hạnh v.v… được nói trong kinh Phật không gì chẳng bị chúng đả phá, bài xích.
Cuốn sách ấy đều do những kẻ hèn kém vô tri tự ấn tống, lưu hành
riêng tư, tự truyền thọ riêng tư, bậc chánh nhân quân tử trông thấy đem đốt đi
còn không kịp! Nào ngờ các hạ lại đưa sách ấy vào trong từ điển, tai hại không
thể kể xiết! Mong rằng với những bản đã in ra hiện nay, hoặc dùng mực bôi đen
đi, hoặc dùng dao rạch bỏ [trang giấy đã in từ ngữ ấy] để người đọc chẳng bị lầm
lạc, cũng như bảo toàn được kiến địa của chính mình. Trong lần in sau này, hãy
đẽo bỏ [mục nói về sách ấy] khỏi ván in thì một nồi canh thơm ngon chẳng bị
phân chuột làm ô uế! Lúc Quang mới xuất gia từng thấy sách ấy. Tới Bắc Kinh
cũng nghe nói có hạng người như vậy. Xuống phương Nam tuy chưa thấy, nhưng tại
Hàng Châu Kinh Phường hiện đang lưu thông. Những người lưu thông kinh Phật ấy
chính là những kẻ được đức Phật gọi là “hạng người đáng thương xót”, nhưng hạng
người có thế lực chẳng [ra sức] ngăn cấm thì người sẵn có tín tâm sẽ nhập tà
pháp, rồi từ đấy chỗ nào cũng đều có. Thẹn mang tiếng tri tâm, nên nói thẳng
không giấu diếm, mong hãy rủ lòng tha thứ (ngày Hai Mươi Lăm tháng Giêng năm Dân Quốc thứ
bảy - 1918).
Pháp sư Ngọc
Phong tuy hành trì tốt đẹp, nhưng kiến giải về mặt lý nhiều chỗ thiên vị. Tu
theo những điều được nói trong các trước thuật của Ngài thì cũng được vãng sanh,
nhưng những lời thiên chấp chưa khỏi gây trở ngại lớn lao. Ngay như cuốn Niệm
Phật Tứ Đại Yếu Quyết của ngài, về ý thì cũng không có chỗ nào chẳng tốt đẹp,
nhưng dùng từ ngữ, lập luận thật mâu thuẫn với những bậc cổ đức. “Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu nhất tâm”
là đã trái nghịch, lầm lạc với toàn thể. Kinh dạy người ta nhất tâm, Sư lại dạy
người ta chẳng cầu. Chẳng trừ vọng tưởng mà có thể đạt được nhất tâm hay sao?
Chọn lấy pháp bậc thượng, chỉ đạt được bậc trung. Há có nên vì chẳng thể đạt được
mà chẳng giữ lấy pháp ấy hay sao? Nếu do chẳng đạt được mà dạy người khác chẳng
giữ lấy pháp ấy thì chính là dạy người khác học theo pháp bậc hạ vậy!
Đại Thế Chí Bồ Tát nói: “Nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Sư cực lực dạy người khác tán tâm niệm, chẳng
tán dương nhiếp tâm niệm. Niệm Phật tuy hết thảy vô ngại, nhưng muốn đích thân
chứng được tam-muội thì cố nhiên giữ tâm cho tịnh vẫn tốt hơn. Nếu chẳng thể tịnh
thì cũng không trở ngại gì, đấy chính là “ngay trong nơi động mà tịnh!” Sư một
mực coi tịnh là tà, cho rằng [cố giữ cho tâm tịnh] là trái nghịch rất lớn ý chỉ
“chấp trì danh hiệu, nhớ Phật, niệm Phật”, lỗi ấy không thể nào diễn tả được!
Hơn nữa, một pháp Niệm Phật bao gồm trọn vẹn hết thảy pháp môn
trong một đời [giáo hóa của đức Phật], mà một chữ Tịnh vẫn bị đặt ra bên ngoài
thì há có đáng gọi là vị chân thiện tri thức trong Tịnh tông hay chăng? Mong lần
sau tái bản hãy gạt bỏ [mục viết về sách] Tứ Đại Yếu Quyết ngõ hầu kẻ sơ cơ chẳng
đến nỗi mắc bệnh, mà người thông suốt cũng không do đâu mà chê cười được! Hoằng
pháp lợi sanh thật chẳng phải là chuyện dễ dàng! Hễ hơi thiên chấp, bao mối tệ
chen chúc nẩy sanh, chẳng thể không cẩn thận!
59. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo
(thư thứ mười một)
Cuốn Phật Học Chỉ
Nam do ông đã rộng lòng ban cho trước đây rất có ích cho kẻ học Phật và những kẻ
chẳng tin nhân quả, chẳng tin Phật pháp. Những lời nói của các bậc danh nhân được
dẫn trong ấy cũng có những câu chẳng thật đúng pháp lắm, nhưng vì mục lực không
đủ nên chẳng thể chỉ ra được. Tiếp đó, nghĩ các hạ dùng cuốn sách làm kim chỉ nam
để dẫn dắt [người khác] vào biển pháp; nếu cây kim ấy bị cong vẹo đôi chút vẫn
chưa chắc không khỏi đi sai hướng. Vì thế, nay nêu lên những điều tôi từng thấy
được (Quang
mục lực không đủ, chưa thể đọc trọn khắp. Ở đây chỉ nêu lên những gì mình thấy
được mà thôi). Đối với những điều chưa thấy được, cũng có thể
dựa vào đây để suy ra, để rồi các hạ sẽ sửa đổi đại lược lời văn, hoặc bình luận
ngay sau câu ấy khiến cho người thấy nghe không bị nghi ngờ, lầm lạc thì mới thỏa
thích được cái tâm hoằng pháp độ sanh của các hạ.
Hàng thứ sáu ở mặt
sau trang thứ mười bảy cuốn Thượng Biên, nay trong đoạn văn ấy chỉ viết là “ngày đó, tháng đó là trai kỳ Quán Âm”, ấy
chính là chẳng biết duyên do đức Phật rủ lòng tạo phương tiện khiến cho con người
từ tạm thời mà đạt đến thường hằng, do giảm dần mà đoạn dứt. Ở dưới đoạn đó,
hãy nên luận cặn kẽ rằng: Đức Phật chế ra cách ăn chay theo trai kỳ (ăn chay
theo ngày) vốn là pháp phương tiện để vĩnh viễn đoạn dứt sát nghiệp và thói ăn
thịt. Đọc những thiên sách do ông Kỷ (Kỷ Hiểu Lam) ghi chép, biết ông ta tin
nhân quả nhưng chưa biết Phật pháp. Phật pháp khó được nghe như thế đấy! Những
người được nghe là do đời trước vun bồi quả thật chẳng nông cạn đâu! (Nếu chẳng thêm
lời bàn thì chỉ nên ngừng ở chữ Tín nơi hàng thứ năm, những phần dưới đều lược
bỏ đi).
Thêm nữa, hàng thứ
tám nơi trang ba mươi, [dẫn lời Viên Tử Tài khen ngợi ông Hồ Bảo Tuyền]:“Ông một đời chẳng chịu vào miếu, thần Phật
trông thấy đều đứng dậy”. Viên Tử Tài thông hiểu rộng rãi mà vẫn lẫn lộn thần
với Phật, gọi thần là “thần Phật” do đây cũng biết rằng ông Viên chẳng biết gì
về Phật pháp! (Hàng thứ mười một ghi) “những vị khác như Như Lai, Tiên Tử, Quan Công, Tưởng Hầu[5]
đều chưa trông thấy”. Tưởng Hầu mà còn chưa trông thấy thì những vị đứng dậy
chính là những ông thần như Thành Hoàng, Thổ Địa, hoặc các thần trong năm đường,
đều gọi lẫn lộn là “thần Phật”, cũng chẳng phải là gây lầm lẫn cho người khác
quá đáng ư? (Hàng thứ mười ba) “Chỉ thần
Phật là chánh trực thông minh”, (hàng thứ tám) hãy nên ghi thành
“thần trông thấy đều đứng dậy”, (hàng thứ mười
ba) nên ghi là “chỉ có thần là
chánh trực thông minh” thì kẻ vô tri vô thức chẳng đến nỗi cho là Phật kính
trọng ông Hồ [Bảo Tuyền]!
Trong cuốn Thượng
Biên, từ hàng cuối trang thứ ba mươi ba cho đến hàng thứ sáu trang thứ ba mươi
bốn, hãy nên lược bỏ đi. Đoạn này nói về cách tu luyện của Đạo gia, chứ không
phải là Phật pháp. Đem dẫn vào bộ Chỉ Nam, chỉ sợ gây nghi ngờ, lầm lạc cho người
ta. Phật pháp chẳng để sót điều thiện nhỏ nhặt nào, nhưng chẳng chấp nhận học chuyện
ấy. Điều này khẩn yếu đến cùng cực vậy!
Chương thứ nhất
cuốn Hạ Biên, nơi hàng thứ bảy trang ba mươi lăm, nên ghi là: “Phu nhân[6]
đến vườn Tỳ Lam, thấy một cái cây to tên là Vô Ưu”. Viết như thế câu văn sẽ
trong sáng. Nơi chương thứ nhất, từ hàng mười ba của trang ba mươi lăm cho đến
hàng thứ tư nơi trang sau, phần này thuộc về chuyện oán gia đời trước đòi mạng
mà hiện ra hình tướng lạ lùng ấy. Do Văn Hiến Công oán ghét sự hiển đạt rạng rỡ
của Quân Ngọc mà chẳng biết nguyên do, cho đấy là Bồ Tát thị hiện, thoạt đầu đặt
tên là Phật Nô; tiếp đó, nó thiêu đốt ngôi tháp đã xây, trọn chẳng biết là oán
gia đời trước đòi mạng vợ chồng đứa con nuôi. “Phật pháp khó thể biết, tà - chánh khó thể rõ” là như vậy đó.
Thêm nữa, dòng thứ mười
bốn của mặt sau trang ba mươi lăm, “Quỷ Phương” chính là Tây Vực. Kinh Dịch
ghi: “Cao Tông phạt Quỷ Phương, tam niên
phất khắc” (Cao Tông đánh Quỷ Phương[7],
ba năm chẳng thắng) đủ để chứng minh điều này. Đời Thương gọi là Quỷ Phương, đời
Châu gọi là Hiểm Duẫn, đời Hán gọi là Hung Nô.
Cuốn Hạ Biên, nơi
dòng thứ tám thuộc mặt sau trang ba mươi tám, dưới câu “nhập Tam Ma Địa” nên ghi là: “Do
ta cúng dường Quán Âm Như Lai khiến cho thân ta thành được ba mươi hai thân ứng
hóa, tùy cơ thuyết pháp khiến cho các chúng sanh đạt được mười bốn thứ công đức
vô úy và bốn thứ vô tác diệu lực chẳng thể nghĩ bàn nơi thân tâm ta”. Như
thế mới chẳng trái nghịch ý nghĩa của kinh mà ngữ ý cũng được thông suốt. Nếu
chỉ ghi “ta cúng dường Quán Âm, khiến cho
mười phương chúng sanh xem thấy âm thanh” thì thành ra có đầu không đuôi,
ngữ ý không trọn vẹn.
Trong dòng kế tiếp
viết: “Kính xét: Phẩm vị của Bồ Tát vốn
thông với chư Phật”, nên viết là: “Phật
thuộc quả vị, Bồ Tát thuộc nhân vị. Dù quá khứ đã thành Phật đạo, nhưng lại hiện
làm [thân] Bồ Tát thì cũng chẳng nên gọi lẫn lộn là Phật”. Bồ Tát hiện hình
trong sáu đường, không thân nào chẳng hiện. Há nên chỉ dựa vào những thân đã hiện
để biện định phẩm vị ư? Các hạ chưa suy nghĩ sâu xa ý nghĩa của đoạn kinh văn vừa
dẫn nên mới phạm khuyết điểm này (Câu “lúc
ta làm Bồ Tát” chính là chỉ lúc trong quá khứ, ngài còn chưa thành Phật).
Mặt sau trang bảy mươi chín, dòng thứ sáu: “Mổ con trai được La Hán, được Quán Âm”, từ dòng thứ tám là “từ trong con trai thấy được tượng Phật, hay
tượng Bồ Tát”, những ghi chép thường được lược bớt giống như thế. Hơn nữa,
xưa kia có kẻ chẻ đầu lợn tìm được nhục thân Phật nơi răng hàm. Giết dê nấu
chân giò mãi không chín, chẻ ra thấy có tượng Phật bằng đồng. Giết trâu cắt lấy
thận, mổ ra tìm được tượng Phật bằng thịt. Bắt được con trai to, cạy ra không
được, ý muốn bỏ mặc đó cho nó tự há miệng, thấy trong con trai có một vị Phật bằng
ngọc trai. Đấy đều là vì Phật, Bồ Tát đại từ bi hiện thân trong dị loại, rốt cuộc
hiện Bổn, khiến cho các chúng sanh kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, biết rõ “hết
thảy chúng sanh do mê trái bổn tánh nên đọa lạc trong ác đạo, nhưng cội nguồn tâm
tánh trọn chẳng khác gì Phật!” Nếu ta chẳng sớm giác ngộ, tương lai cũng đọa
vào trong những loài ấy; đâu dám chẳng tự thương mình, xót người, lớn tiếng đau
đớn kêu gào cùng làm cho mọi người mau lên bờ giác ư?
Còn như vỏ con trai ở Phổ Đà có hình Phật là do kẻ gian ngụy tạo, được
bán quanh năm ở các tiệm đã mấy chục năm rồi! Họ cắt đôi vỏ trai ra, bỏ tượng
Phật bằng đồng vào trong ấy rồi ghép lại. Có người nói [kẻ làm giả] bắt con
trai còn sống, mổ ra nhét [tượng đồng vào] rồi nuôi trai trong nước, đợi khi
chúng lành vết thương bèn bắt ra đem bán. Cách chế biến sống hay chết như thế
nào, rốt cuộc không hiểu rõ, nhưng ngụy tạo là chuyện hết sức đích xác! Ôi! Kẻ
gian mang tâm cầu lợi, cũng có thể nói là trí trá đến cùng cực, nhưng họ đã che
mắt người ta được thì sẽ thường do đấy mà bán được, chẳng đáng buồn sao? (Đối với chuyện
vỏ trai ở Phổ Đà hãy lược bỏ một đoạn, bỏ đoạn ngụy tạo giữ lại đoạn nói về sự
thật. Nếu chẳng lược đi thì người ta ắt sẽ đua nhau mua, chắc sẽ đến nỗi do thứ
ngụy tạo mà nghi ngờ thứ thật, không thể không cẩn thận).
Dòng mười trang tám mươi ba, “xét
ra chú Đại Bi phát xuất từ kinh Đại Bi Đà La Ni thuộc Mật Bộ. Quán Thế Âm Bồ
Tát nói chú này xong, mặt đất chấn động sáu cách, trời mưa xuống bốn loại hoa,
chư Phật hoan hỷ, chúng hội đều được lợi ích. Đại Phạm thiên vương thưa hỏi tướng
mạo của chú này”, Bồ Tát nói “tâm đại
từ bi là [tướng mạo của chú này]” cho đến câu thứ mười “vô thượng Bồ Đề tâm là [tướng mạo của chú này]”. Hãy nên viết như
thế thì văn tuy đại lược nhưng lai lịch rõ ràng. Ông Lương (Lương Khải Siêu[8])
chẳng nêu bày lai lịch khiến cho cả mười câu đều hỏng.
Dòng thứ bốn thuộc mặt sau trang tám mươi ba, gồm hơn hai mươi điều.
Dòng thứ bảy, dùng vị Hộ Pháp Kim Cang để giải thích chữ Kim Cang trong [tựa đề
kinh Kim Cang] Bát Nhã[9].
Ông nói là tìm chữ tương đồng để gạt bỏ chỗ sai khác, chẳng đoái hoài về lý là
đúng hay sai, sao mà cũng chẳng hiểu nghĩa kinh đến mức cùng cực như thế? Ông
Đàm Khê biên soạn nhiều năm mà cũng nói như vậy, Lương Cung Thần[10]
thuận theo cách hiểu của cha nên ghi như vậy. Đủ thấy Đàm Khê và cha con họ
Lương đều là hạng tin Phật nhưng chẳng biết Phật pháp! Nói chung là vì đời trước
thiện căn chẳng chân thật, cho nên đời này suốt đời thọ trì đại pháp của Như
Lai mà rốt cuộc vẫn là kẻ đứng ngoài cửa! Hãy nên ghi: “Tiên sinh thường nói kinh Kim Cang nghĩa lý sâu xa, uyên áo, tam thế
chư Phật đều do kinh này mà ra. Nếu có thể chí thành biên chép, đọc tụng thì
không phước nào chẳng đưa đến, không họa nào chẳng diệt. Vì thế, kinh dạy:
“Kinh này nghĩa chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn”.
Dòng thứ mười một
nơi mặt sau trang tám mươi ba, từ trang chín mươi trở
đi cho đến câu “Phật chẳng đáp [lễ] ta”,
hãy nên lược bỏ đi. Ông Viên Tử Tài học rộng, thông đạt, mà trong phần truyện
ông Hồ Bảo Tuyền[11]
ở cuốn Thượng Biên đã gọi lẫn lộn thần là “thần Phật”, bảo “thần Phật” thấy ông
Hồ đều đứng dậy. Trong ấy lại ghi là “các
vị khác như Như Lai, Tiên Tử, Quan Công, Tưởng Hầu đều chưa thấy”, phần cuối
lại ghi: “Chỉ thần Phật là chánh trực
thông minh”, cho nên biết rằng vì [ông Hồ Bảo Tuyền] là quý nhân, chánh
nhân (con người chánh trực) mà [thần thánh] kính trọng. Tài tử là tài tử, đối với
chuyện soạn văn ghi chép sự việc, sao lại hồ đồ cùng cực như thế?
Còn trong chương này thuật chuyện ông Dương lạy Phật, tượng Phật
liền đứng dậy lạy trả. Đấy chính là do sức ác nghiệp đời trước mà oán gia trái
chủ huyễn hiện cảnh ấy, cốt sao ông ta sanh lòng hoan hỷ lớn lao, tưởng mình đắc
đạo liền bị ma dựa phát cuồng, phá hoại công phu từ trước để báo oán. May là ông
ta có sức công đức sâu nên chưa bị tổn hoại, rốt cuộc được chánh niệm vãng
sanh. Ông Tử Tài và bà nội ông ta tưởng đó là chuyện thật, chẳng đáng buồn sao?
Phật là tam giới đại sư, Đẳng Giác Bồ Tát lễ bái mà Phật còn chẳng ngăn trở, huống
là đáp lễ họ Dương ư? Chánh nhãn chưa mở, chẳng biết cảnh ma. Tử Tài mà còn như
thế huống gì những kẻ khác! (Ngày Hai Mươi Tám tháng Giêng năm Dân Quốc thứ bảy - 1918).
60.
Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười hai)
Vừa nhận được thư
khôn ngăn hổ thẹn. Quang mặc sức nói càn, nào đáng coi như khuôn phép? Nhưng một
niệm ngu thành, các hạ đã thương xót sâu xa mà chấp nhận. Đối với sách Phật Học
Chỉ Nam, Quang chỉ mới đọc kỹ phần bàn luận thêm của Thượng Biên và Hạ Biên, những
phần khác chưa thể đọc trọn hết. Do tiện đâu thấy đấy nên chẳng theo thứ tự
nào, nêu lên lôi thôi một hai điều. Gần đây mục lực càng thêm suy kém, nếu đọc
hết cả bộ sách chắc là rất phí sức, thật khó thể vâng mạng được (chuyện viết lời
tựa thì Quang học thức ở ngoài da, nông cạn, bút mực nhạt nhẽo. Mấy chục năm
qua, hết thảy những người tri giao chưa có một ai bày ra chuyện này, xin hãy rộng
lòng tha thứ).
Tòa báo Thời Sự cũng bảo đem những phần bàn luận thêm của Thượng
Biên và Hạ Biên cho đăng báo từng kỳ một, còn phần chánh văn của Hạ Biên họ chỉ
nói đã đăng trong Phật Học Tùng Báo, có lẽ phần sao lục chi tiết từ sách Tam Quốc
Phật Giáo Lược Sử không cần phải đăng (Quang lại bảo ông Vân Lôi: Tác phẩm Thiếu Niên
Tấn Đức Lục của ông Đinh chính là khuôn mẫu cho bọn thiếu niên, hữu ích lớn lao
cho thế đạo nhân tâm, ngoài chuyên mục Phật học, hãy nên đăng tải đầy đủ tác phẩm
này để giúp cho công cuộc vãn hồi thế đạo nhân tâm).
Vì sao biết bài Đại Tạng Đại Lược là thủ bút của ông Đoan Phủ? Khi
tờ Phật Học Tùng Báo đăng bài văn này, ông Đoan Phủ đang chịu trách nhiệm biên
tập [cho tờ Tùng Báo]; hơn nữa, ông ta đã chấp thuận lời mời của Tần Già Hoa
Viên hơn nửa năm rồi! Đoan Phủ học thức cao minh, bút mực siêu diệu, Tăng - tục
thời gần đây hiếm ai sánh bằng!
Trích lục những câu danh ngôn để phụ trợ giáo lý, dẫu chẳng ghi
tên [người nói những câu ấy] cũng chẳng phải là cướp đoạt cái hay của [người
khác]. Nếu mạo nhận đề tên chính mình thì mới nói như vậy được, chứ chưa đề tên
mình thì cần gì phải quá khiêm tốn? Nhân quả báo ứng là phương tiện đầu tiên để
nhập đạo của Nho giáo lẫn Phật giáo, mà cũng là cương tông để chứng đạo của Nho
giáo lẫn Phật giáo. Người đời thường coi nhân quả báo ứng là chuyện thiển cận,
đến nỗi bao nhiêu kẻ chẳng thể vượt khỏi Thường Kiến và Đoạn Kiến. Nếu chẳng
theo gót bọn Xiển Đề thì cũng là phường “kể chuyện ăn, đếm của báu”! Sách [Pháp
Hoa Kinh Lực] của ông Lưu [Diễn Tông] đã sớm bỏ đi rồi, công đức vô lượng! Cái
hại của sách ấy chẳng thể nào nói tường tận được! Tuy khen ngợi Pháp Hoa nhưng
chẳng khen ngợi được đạo của Pháp Hoa. Cái tội trái nghịch Pháp Hoa đã đáng
thiêu hủy rồi! Huống chi phá hoại pháp môn Tịnh Độ “rốt ráo thích hợp khắp ba
căn khiến cho ai nấy được liễu thoát ngay trong đời này” của tam thế chư Phật
ư? Bạn bè đau lòng buốt óc, nuốt lệ bảo với Quang, cho nên Quang mới hai lượt
giãi bày lẽ lợi - hại. Nếu chẳng tin, xin hãy tới Phổ Đà, sẽ đưa những lá thư gốc
và thư họ trả lời Quang cho ông đọc, ắt sẽ tự biết Quang chẳng nói dối. Quang
vô học, vô đức, vì bất đắc dĩ, chỉ đành bắt chước dấu tích “gom chữ, quét lá” để
đáp ứng, chỉ mong tắc trách cho xong chuyện, nào đáng khen ngợi quá mức? Hổ thẹn,
sợ hãi khôn ngằn!
Cư sĩ hiện đang là người cực lực hoằng dương Phật pháp bậc nhất, để
dạy người thì chính mình phải hành, cố nhiên nên ăn chay trường. Ngay cả vợ
con, bạn bè, cũng nên bảo họ ăn chay trường. Dẫu nhập đạo chưa sâu, chẳng thể
hoàn toàn dứt [ăn mặn được], cũng nên dạy họ do giảm dần mà đoạn được, đấy
chính là nghĩa trọng yếu. Người đời chẳng biết loài vật đều do nghiệp lực mà
có, tưởng “trời sanh ra những loài ấy vốn để nuôi con người!” Nếu biết được lý
sâu “hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai”,
ắt sẽ có chuyện ăn vào chẳng thể nuốt xuống được! Cố nhiên cư sĩ hãy nên đem
thân làm gương cho người khác, hãy nên vĩnh viễn dứt bỏ chuyện ăn thịt. Dẫu cho
ăn rau bên cạnh thịt[12]
cũng chẳng cần phải bắt chước hình tích của bậc Đại Sĩ thuở trước do người hoằng
pháp cần phải hiểu thời cơ. Thời bây giờ chẳng giống như thời cổ, nhằm buổi giọt
nước đã đông thành băng thì trọn chẳng thể dạy người khác ăn mặc như trong tiết
Hè để đến nỗi làm hại tánh mạng của người ta.
Ông thành lập Bần Dân Giáo Dục Xã (hội giáo dục dân nghèo) đủ chứng
tỏ tấm lòng đau đáu chân thật, thiết tha, tiếc rằng Quang nghèo trơ nghèo trất,
chẳng thể tùy hỷ được, thiếu sót vô cùng. Tuy chưa xem Phật Học Tiểu Từ Điển,
nhưng đọc qua lời tựa, biết có khảo chứng, tra cứu, có ích lớn lao cho đồng luân.
Nhưng sách được in trên giấy có độ bóng, nếu [mực in] bỏ ít chất nước thuốc,
sách chỉ giữ được mười mấy năm, hiếm sách nào giữ được hơn hai mươi năm. Nếu [mực
in] bỏ nhiều chất thuốc thì mấy năm liền phai nét. Quang đã từng thử nhiều lần
rồi. Trước đây, Quang từng đặc biệt vì chuyện này mà gởi thư cho Phật Học Tùng
Báo và nhân tiện, thưa trình chín điều. Năm trước, tôi đã vì ông Châu Mạnh Do,
giao cho chú tiểu ở Pháp Vũ sao lục [lá thư ấy]; chú ta vì làm biếng viết chữ
nên đã lược đi ba điều trước đó và ba điều sau trong bức thư. Tôi cũng đem ý
này thưa với ông Đoan Phủ, được đăng tải trong báo Thời Sự. [Xin đọc bài ấy] sẽ
biết được nỗi lo canh cánh hèn tệ của Quang.
Cố nhiên, đối với bọn thương nhân chỉ cầu lợi, chẳng thể nào nói với
họ về chuyện này được. Các hạ chỉ muốn hoằng pháp lợi sanh, ắt cần [những sách
vở in ra giữ được] rất lâu chẳng bị phai nét chữ thì mới có lợi ích thật sự và
đạt được lợi ích rộng lớn. Nếu [mau] phai nét thì chỉ phí tiền của, đến nỗi
đánh mất lợi ích thật sự. Dám thỉnh các hạ phát lòng từ bi lớn lao, hết thảy những
sách hữu ích cho thế đạo nhân tâm đều đừng dùng loại giấy ấy. Chỉ những loại đọc
xong liền bỏ đi thì dùng [loại giấy ấy để in] cũng không sao. Quang không có sức
làm công đức, tính dùng lời nói này coi như là thí kinh sách cho hàng Phật tử
tín tâm khắp thiên hạ trong đời sau. Không chừng nhờ đây mà tiêu nghiệp lụy, được
vãng sanh.
Tòa báo Thời Sự
cũng đăng tải một trang nêu ra những thiếu sót, giống như thư gởi cho các hạ,
nên không cần phải sao chép lại để gởi đi. Cuốn Giáo Dục Sô Nghĩa (những ý
nghĩa quê mùa về giáo dục), văn lẫn lý đều hay, nhưng trong đoạn cuối cùng, dường
như mắc khuyết điểm khơi gợi con người khinh miệt tam giáo. Phàm là người trong
giáo hội, ai có thể cư xử vượt ra ngoài tam giáo, ai có thể tự lập một giáo ở
ngoài tam giáo để đối kháng [tam giáo]? Dẫu nhiệt tâm đến tột bực, cũng chỉ
tuân theo ý thánh nhân tam giáo để cực lực phụng hành mà thôi. Dẫu cho các tôn
giáo ở ngoại quốc và Hồi giáo chẳng tin tưởng tam giáo, nhưng quả vị trong các
giáo ấy có vượt ra ngoài quả vị của tam giáo được hay chăng? Những tôn giáo ấy
chẳng bao gồm những đạo lý như trời che đất chở trong tam giáo hay chăng? Bất
quá, thánh nhân tùy mỗi nơi mà thể hiện hình tích lập giáo, hơi có chút khác biệt.
Dùng ngu kiến để xét, có lẽ nên nói: “Thánh giáo nước ta, gồm ba tông lớn là Nho, Phật và Đạo. Nho mang hoài
bão tự lập, lập người, Phật chuyên theo đuổi tự giác, giác tha; Đạo tuy điềm
tĩnh, ẩn dật, nhưng xét về đại thể thì giống như Nho. Nhưng người tu luyện phải
lấy chuyện tích đức chứa công, giúp đời, cứu dân làm nhiệm vụ trọng yếu. Nay những
người trong giáo hội thấu hiểu tấm lòng ‘đối đãi bình đẳng với mọi người, thiên
hạ là của chung’, phát khởi tấm lòng giúp già, an trẻ, không chỉ thương yêu
riêng người thân của chính mình, không chỉ lo chăm chút con cái của chính mình.
Lòng son nhiệt tâm thật sự lấp trời đất, lòa nhật nguyệt. Nếu người trong cả nước
đều cùng phát cái tâm này, cùng làm chuyện này thì không một ai chẳng được yên
vui, cõi đời đại đồng sẽ lại được thấy trong ngày nay. Lợi ích ấy lớn lao thay! Tôi nguyện ai nấy đều suy xét” (tiếp đó, ghi
đúng như nguyên văn).
Những trước thuật của con người gần đây
thường đề cao quá đáng [những pháp đang được mình đề xướng] với dụng ý muốn cho
người khác tin chắc vào pháp của mình, thói tệ miệt thị cổ nhân phá pháp cũng bắt
nguồn từ đây. Khổng Tử đã nói: “Nhất ngôn
nhi hưng bang, nhất ngôn nhi táng bang” (một lời hưng thịnh nước nhà, một lời
vùi lấp nước nhà). Một đằng gây nên ích lợi về sau, một đằng gây nên họa hoạn về
sau. Viết những sách thông thường chẳng có quan hệ khẩn yếu còn không nên như
thế, huống là viết những sách hoằng pháp lợi sanh ư? Cổ đức nói: “Chuyện ấy như cái nạo bằng kim cang để gọt
mộng mắt, hơi có chút gì không đúng liền lập tức hư mắt”, há chẳng cẩn thận
ư? Ông Kỷ Văn Đạt nói: “Đọc khắp các sách
được cất giữ bí mật, biết trước thuật của người đời sau kém xa tiền nhân”.
Dẫu có vẻ tinh vi hơn, nhưng vẫn là thoát thai từ màu lam gốc[13]
của tiền nhân, mà dám tự phụ là bậc nhất xưa nay không ai sánh bằng, cũng như
nói tiền nhân đều sai lầm hay sao? Các hạ lòng dạ rỗng rang vì pháp, nên tôi mới
dám hiến lời bàn luận thẳng thừng này!
Đối với chuyện
giáo dục, nhà trường, Ấn Quang vốn là kẻ đứng ngoài, chỉ vì cảm tấm lòng công
bình chánh trực “muốn cho thiên hạ đều dùng thiện pháp để lập pháp”, nên nhân đây
dâng lên ý kiến ngu muội để ngài xét rõ. Giáo dục trẻ em nghèo thì có lẽ chỉ đối
với những đứa có thiên tư cao mai sau ắt sẽ trở thành quan chức, thân sĩ, giúp
nước giúp dân [là có thể] chuyên dùng cách giáo dục trong nhà trường bình thường
để dạy dỗ. Chứ những đứa chỉ có thể làm thợ, làm con buôn để tự kiếm ăn bằng sức
lực của chúng thì có lẽ nên dạy chữ lẫn dạy nghề giống như chương trình của các
Cô Nhi Viện gần đây, chắc sẽ giảm được chi phí cho nhà trường mà trẻ nghèo cũng
được lợi ích thật sâu. Quang thấy phương pháp của Cô Nhi Viện thuộc hội Phật
giáo Ninh Ba là: Hễ cô nhi đã có thể tự mặc áo, ăn cơm, không cần có người khác
săn sóc thì mới cho vào viện. Cách dạy là đọc sách, viết chữ, học làm toán, học
vẽ, bện giày cỏ, bện những thứ chiếu, gối, mũ dùng cho mùa hè, in đá, kiểm
sách, may vá v.v… đều nhất loạt học hết. Đợi đến năm mười lăm tuổi khi rời khỏi
viện liền có thể tự lực kiếm sống. Dẫu có đi học nghề hay học buôn bán cũng dễ
dàng.
Trường học bình thường thì bảy ngày nghỉ một ngày và nghỉ lễ, nghỉ
cuối năm, nghỉ hè. Trong một năm, trừ những kỳ nghỉ ra, chỉ còn được hơn sáu
tháng. Huống chi trong một ngày, tám giờ vào học, bốn giờ tan học, thời gian ấy
chỉ gồm bảy tiếng đồng hồ, lại có thời gian rảnh rỗi. Nếu chẳng phải là đứa
thiên tư vẹn mười thì học được cái gì đâu, chỉ là uổng phí thời gian, uổng phí
một phen khổ tâm của những người lo liệu. Nhưng trường học trong thiên hạ đều
theo lệ đó, chỉ lợi cho giáo viên, nhưng bất lợi cho học sinh trong nhà trường,
thật đáng than thở, cảm khái! Trong Cô Nhi Viện, chẳng lập kỳ nghỉ, thời khắc học
hành hằng ngày cũng kéo dài hơn vì đã kèm thêm thời gian học nghề; nếu thời
gian học ngắn ngủi sẽ chẳng thể thực hiện được điều nào! Đối với những sản phẩm
chế tạo được, ngoài những món để tự sử dụng, đều đem bán ra ngoài. Tiền lời kiếm
được cũng có thể giúp đỡ đôi chút cho chi phí nhà trường. Trẻ nghèo, trẻ mồ côi
đâu khác nhau cho lắm!
Thật sự muốn cho trẻ dù thượng trung hạ căn đều có thể tự lập thì
có lẽ phương pháp này thích hợp nhất. Nhưng người đứng trông coi phải là người
thật sự lo liệu; nếu không, chỉ có hư danh, chẳng thành được chuyện gì. Đấy là
thói tệ chung của những kẻ làm việc công từ trước đến nay ở nước ta. Nếu dốc
toàn bộ cái tâm độ người của Phật, Bồ Tát, tâm kinh bang tế thế của thánh hiền
vào việc này thì nước ta được hưng thịnh sẽ trông cậy vào đây, chứ nào phải chỉ
dân nghèo được lợi ích!
61.
Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười ba)
Vừa nhận được
thư, ông khiêm tốn, khen ngợi [Quang] quá đáng khiến Quang hổ thẹn không chốn
nương thân. Những điều Quang đã đọc chỉ là những chỗ bàn luận thêm của Thượng
Biên và Hạ Biên, những chỗ khác đều chưa đọc tới. Những điểm nêu ra chỉ là những
điều Quang đã đọc được. Lời nói chẳng thành văn, nào đáng khắc vào đầu quyển? Nếu
chẳng chê bỏ, xin hãy đợi Quang thong thả đọc kỹ Hạ Biên một lượt, rồi sẽ sửa
sai, nêu riêng từng điều một để mọi người thương lượng. Nếu chịu nghe theo,
Quang sẽ nhân lúc được rảnh rang mà rườm lời mấy câu nhằm làm lời Bạt cho ngọn
đuốc lớn. Còn như những lời lẽ nhờ cậy Quang chỉ bày để sửa sai trọn chẳng cần
phải nhắc tới nữa. Nhưng mắt Quang quả thật chẳng kham sử dụng được, sẽ phải mất
mấy chục ngày nữa mới có thể phúc đáp được (ngày mồng Bảy tháng Hai năm Dân Quốc thứ bảy -
1918)
Nếu cả bộ sách được
sửa chữa thì xin hãy bảo tòa báo đăng trọn vẹn bộ sách ấy. Do trước kia trong
sách ấy có nhiều chỗ chẳng thích hợp lắm, sợ gây hiểu lầm cho người khác nên bảo
họ chỉ đăng những phần bàn luận thêm thuộc hai cuốn Thượng Biên và Hạ Biên mà
thôi. Nay được thấy mấy phen nhã ý của các hạ, chắc là đã nghe theo ngu kiến của
Quang. Trước hết hãy nên nêu đại ý sách ấy, chẳng ngại gì cùng mọi người cân nhắc.
Nhưng Quang do tâm mục suy đồi, gần đây lại bận bịu đủ mọi chuyện, khắc hơn một
ngàn trang sách thì đối với hơn một nửa số trang đã khắc xong đều chưa giảo duyệt
được. Lại do phải trao đổi thư từ thuận theo tình cảm, chẳng thể chuyên tâm làm
việc ấy được, cho nên phải chậm trễ. Tôi sẽ sang Dương Châu vào khoảng tháng
Năm hay tháng Sáu, đến đấy liền sửa đổi bản khắc chữ để cho in ra biếu tặng. Lại
còn những sách được tái bản, phải đợi tới sang năm mới lo liệu được! (tái bút)
62.
Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ mười bốn)
Hôm qua nhận được
thư và lời tựa của các hạ dành cho tác phẩm Cú Giải lớn lao, khôn ngăn cảm
kích. Bộ kinh Pháp Hoa mầu nhiệm có được một bản hoàn chỉnh, ấn loát lưu thông,
quả thật là may mắn lớn. Nhưng theo như những gì các hạ đã nêu ra, cũng có chỗ
tự cắt thịt thành vết thương vậy. Cố nhiên Quang chẳng thể trình bày cặn kẽ từng
điều một được.
Trong phẩm Phương Tiện, chữ Vĩ (茟) trong câu “nhược
thảo mộc cập vĩ” (nếu dùng ngọn cỏ cây), chữ Vĩ (茟) có
khi bị viết thành Bút (筆).
Trong bộ Chánh Ngoa Tập (sửa đổi cho đúng những điều sai lạc), ngài Vân Thê giải
thích chữ Vĩ (茟) âm đọc như chữ Vĩ (緯),
có nghĩa là cây hay hoa vừa mới nhú. Nếu xét kỹ ý nghĩa, chưa chắc đã là chữ Bút,
bởi lẽ trẻ nhỏ đùa bỡn kiếm được loại cây cỏ và búp hoa của các loại cây cỏ nào
đều dùng móng tay để vạch lên đó. Vì thế, vẽ kiểu này trọn chẳng phải là như vẽ
trên giấy hay lụa, mà là vẽ trên mặt đất, trên vách, hay trên đồ vật. Sách Tự Vị
và Tự Điển[14]
đều có thể dẫn làm chứng cứ, chắc không cần phải chèn ép ngài Vân Thê để khoe
ra sự hiểu biết.
Chữ Trà (茶), trong kinh của Nhật Bản đều viết thành chữ Đồ (荼), chứ không phải chỉ mình chữ Cưu Bàn Trà (