Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên,
Quyển 1,
Phần 4
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang
78. Thư trả lời cư sĩ Thần Hiểu Viên
Thư
nhận được đầy đủ cả. Tuổi quá năm mươi, ngày tháng không còn nhiều; đúng là lúc
nên sốt sắng giữ vẹn luân thường, niệm Phật để mong “sống dự vào bậc hiền
thánh, mất trở về cõi Cực Lạc”. Nói đến chuyện “giữ vẹn luân thường”, sợ ông
chưa hiểu ý, nay tôi giải thích đại lược. Người đời phần nhiều chẳng biết ý
nghĩa “giữ vẹn luân thường” [có phạm vi] bao quát rất rộng, chỉ coi “hiếu thuận
với cha mẹ, kính trọng người bề trên” là giữ vẹn luân thường. Hiểu như vậy thì
cũng rất đúng, nhưng nhỏ nhoi lắm! Khéo dạy dỗ con cái, khiến cho chúng nó đều
là người hiền, mềm mỏng, nho nhã, quả thật là kẻ giữ vẹn luân thường lớn lao. Bởi
lẽ, con cái đã đều hiền thiện thì anh em trai, chị em gái, chị em dâu, con cháu
đều nhìn theo nhau làm lành. Từ đấy [đời nào cũng] nối tiếp nhau là người hiền
thì người hiền sẽ đông, kẻ xấu sẽ ít. [Do vậy] kẻ xấu cũng có thể bị cảm hóa trở
thành người hiền, người lành. Nền tảng khiến thiên hạ thái bình, nhân dân yên
vui đều nằm trong sự dạy dỗ con cái. Có thể hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng
người trên, và hết thảy những thứ bên ngoài đều tốt lành, nhưng chẳng khéo dạy dỗ
con cái thì người ấy cũng chưa đáng gọi là “bậc quân tử giữ vẹn luân thường!” Nếu
có thể hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng người trên và hết thảy [mọi mặt] đều
đúng như pháp, lại còn khéo dạy dỗ con cái thì người ấy sống ở trong nhà không
thi thố gì mà lại bồi đắp lớn lao cho nước nhà, cho xã hội vậy!
Hiện tại, cõi đời đã loạn đến
cùng cực; xét đến cội nguồn đều là vì cha mẹ phạm lỗi “chẳng khéo dạy dỗ con
cái”! Nếu ai nấy đều khéo dạy dỗ con cái, làm sao những thứ thảm kịch lại được
cực lực thực hiện, diễn ra cho được? Con cái ông đã lớn, chớ nên không nói
nguyên do với chúng, để sau này khi chúng nó làm cha làm mẹ người khác sẽ chẳng
đến nỗi chìm nổi theo thời thế, chỉ biết nuôi con chứ không biết dạy, khiến cho
đứa có thiên tư quen thói cuồng vọng, đứa không có thiên tư cam phận bướng bỉnh,
ngu độn. Do ông nói “đời đã loạn gần đến mức tận cùng”, nên tôi nói với ông
pháp môn căn bản để vãn hồi đời loạn. Xin chớ coi đây là lời nói thừa thãi thì
con ông, cháu nội ông, con rể ông, và những đứa cháu ngoại của ông đều có thể
trở thành người hiền, người thiện, khiến cho ông được nở mày rạng mặt khôn
cùng!
Cô con cả đã là góa phụ, đúng
là phải nên nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Cô con thứ đang chờ mai mối,
nếu có thể thường niệm Phật và niệm Quán Thế Âm thì túc nghiệp tiêu trừ, thiện
căn tăng trưởng, tự nhiên sẽ kiếm được người chồng hiền thiện, mà sau này khi sanh
con đẻ cái cũng không bị khổ vì sản nạn, những đứa con sanh ra đều là hiền thiện.
Con cái đi học khi được nghỉ, nên dạy chúng nó đọc kỹ Cảm Ứng Thiên, Âm Chất
Văn để hướng dẫn tiền đồ (tương lai). Ngay cả hai đứa con gái cũng phải đọc để
mong nhờ vào đây mà tự sửa mình và dạy dỗ người khác. Thiên hạ không yên, thất
phu có trách nhiệm! Đây quả thật là pháp căn bản để thất phu tạo bình trị cho
thiên hạ vậy!
Hơn nữa, hãy nên bảo con cái đọc đi đọc lại An Sĩ Toàn Thư, Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ và những thiện thư hữu ích cho thân tâm. Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Hiểu, nghĩa là dùng trí huệ để tự hành chuyện “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, niệm Phật, quyết định cầu sanh Tây Phương trong đời này”. Lại còn dùng những điều ấy để khuyên lơn con cái, thê thiếp… trong gia đình và thân thích bằng hữu, làng nước, xóm giềng bên ngoài, để họ cùng hiểu [những điều] lợi ích thật sự cho thế gian lẫn xuất thế gian này, ngõ hầu chẳng phụ lòng thành phát tâm quy y Phật pháp của ông! Đối với những cách tu trì niệm Phật thì trong Văn Sao đã nhắc tới nhiều lần, ở đây không viết cặn kẽ nữa! Nếu vô sự đừng gởi thư đến, Quang đã bảy mươi rồi, tinh thần chẳng đủ, lại còn phải lo những chuyện giảo chánh, in sách v.v… không rảnh rỗi để phúc đáp được đâu! (ngày Hai Mươi Sáu tháng Chín năm Dân Quốc 19 - 1930)
79. Thư trả lời cư sĩ Hứa Hoán Văn (thư thứ nhất)
Thư nhận được đủ cả, pháp danh viết riêng trong một tờ giấy khác. Do mục lực chẳng đủ nên chẳng thể viết khai thị tường tận được! Nay gởi cho ông hai gói kinh sách này nọ, mong hãy chí thành cung kính đọc sẽ tự biết cách tu và lợi ích. Ngoài ra, còn có Kỹ Lộ Chỉ Quy (chỉ đường về nơi ngõ rẽ), Sơ Cơ Tiên Đạo (hướng dẫn ban đầu cho kẻ sơ cơ), Vật Do Như Thử (loài vật còn như thế), Tọa Hoa Chí Quả (đợi hoa trổ thành quả), Một Lá Thư Trả Lời Khắp, mỗi thứ một gói để làm căn cứ tự lợi, lợi người. Đọc kinh sách nhà Phật, chớ nên giữ thái độ như nhà Nho đọc sách Nho. Những nhà Nho ngày nay hoàn toàn chẳng biết kính trọng sách, đến nỗi cõi đời không có chân Nho. Nếu dùng thái độ khinh mạn, chẳng cung kính ấy để đọc kinh Phật thì chưa được lợi ích mà đã mắc tội trước rồi! (ngày Mười Tám tháng Hai năm Dân Quốc 25 - 1936)
80. Thư trả lời cư sĩ Hứa Hoán Văn (thư thứ hai)
Khoản
tiền cứu trợ đã giao cho nơi lạc quyên tại Thượng Hải, nay tôi đem biên nhận gởi
lại. Quang già rồi, sẽ chết trong sáng tối, nào còn có tinh thần để lo chuyện lớn
ấy? Nhưng từ năm Dân Quốc thứ bảy (1918) đến nay, Quang lưu thông các kinh sách
đều vì nhiệm vụ cấp bách “ngăn ngừa để dứt tai họa”, chỉ không theo đuổi công
việc [thành lập] đội lạc quyên cứu trợ mà thôi! Lời ông nói chỉ là biết một phía,
chứ chẳng biết tới hai. Quang từ khi xuất gia đến nay phát nguyện chẳng Trụ Trì
chùa miếu, chẳng thế độ đồ đệ, chẳng dự vào các hội đoàn. Từ năm Dân Quốc thứ bảy
đến nay, các đoàn thể từ thiện các nơi đem sổ vàng gởi tới [cho Quang] từ một hoặc
mười cho đến mấy chục quyển, tôi đều để nguyên những cuốn sổ ấy, đem gởi trả lại
bằng thư bảo đảm, rồi tùy theo sức mình mà bỏ ra bao nhiêu đó (chẳng viết
[khoản tiền ấy] vào sổ để khỏi làm cho cuốn sổ ấy không sử dụng được nữa). Mỗi năm đều [quyên tặng] cả ngàn đồng trở lên. Nếu lại
đề xướng quyên mộ, sẽ chẳng thể nào không mệt nhọc đến chết!
Quang không có chùa miếu, không đồ đệ; tất cả những khoản tiền được biếu tặng hễ có liền sử dụng ngay, trọn chẳng hướng về người khác mở miệng hóa duyên. Bởi lẽ, Tăng sĩ thường hay hóa duyên, Quang chẳng muốn giống như họ. Dẫu chê Quang thiếu từ bi, cũng chẳng đếm xỉa tới, cốt sao khỏi bị kẻ vô tri nói Quang mượn cớ này để cầu lợi! Nói đến chuyện con hổ của ông Trương X… được nuôi từ nhỏ, há có phải là Quang có đạo để khuất phục nó đâu? Ông ta giỏi vẽ hình hổ, nên nhiều lần nuôi hổ. Con hổ nuôi lần trước đã chết; năm trước lại mua được một con hổ bé mới vừa lọt lòng mẹ. Hằng ngày phải nuôi bằng thịt bò, một năm [hổ] ăn hơn hai con bò, đấy chính là do mê loài vật mà vùi lấp chí hướng! Lại còn cho hổ ăn [thịt] bò, quả thật là tạo sát nghiệp kể sao cho xiết? Quang nói với người bạn: “Hãy nên khuyên ông ta nuôi hổ bằng món chay, đừng cho nó ăn thịt bò”. Hơn nữa, ông ta hằng ngày vẽ hình hổ, ôm ấp hổ, sợ rằng đời sau sẽ đầu thai làm thân hổ thì đáng thương lắm! Ngày hôm ấy, người ấy và con ông ta với một con chó cùng đến. Chó còn dễ ngươi hổ, con cái đều có thể vuốt ve hổ. Khi đến [chỗ ông ta vào] năm ngoái, hổ chưa tròn một tuổi mà đã không kém phần to lớn. Lúc tới [chuồng hổ], họ cầm theo một cái vò sắt tây. Có lúc hổ không nghe theo mệnh lệnh thì hướng miệng cái vò sắt Tây về phía hổ, hổ liền thuận theo. Do miệng vò toác ngoác, hổ sợ bị ăn thịt! Quang một mực chẳng thích phô trương mù quáng, nên đối với con hổ được nuôi từ bé hoàn toàn chẳng để ý. Nếu bảo đấy là dùng đạo đức để khuất phục hổ thì còn đáng để ca ngợi, chứ chuyện này hoàn toàn chẳng có giá trị gì để kể lể cả! Sao lại không có chuyện gì mà bới chuyện ra vậy? (ngày Mười Sáu tháng Năm năm Dân Quốc 26 - 1937)
Dựa trên bài viết “Nhân duyên của tôi với Ấn
Quang đại sư” của cư sĩ Vương Vỹ thì: “Người bạn đã khuất của tôi là Trương Thiện
Tử nuôi một con hổ ở vườn Võng Sư. Ngẫu nhiên, tôi kể chuyện ấy với Sư, Sư cho
rằng cọp dã tánh khó thuần, sợ rằng cuối cùng nó sẽ giết người! Tôi xin Sư quy
y cho nó, Sư gật đầu bằng lòng, bèn cùng Thiện Tử dẫn hổ đến trước Sư để nói
Tam Quy, và ban pháp danh là Cách Tâm. Từ đấy, hổ bèn hiền hòa, ngoan ngoãn,
không lâu sau chết đi, cũng là một duyên lạ”. Cư sĩ Trần Hải Lượng bèn ghi thêm
lời nhận xét vào đoạn văn này: “Thiện Tử thích vẽ hình hổ, nuôi một con hổ để
làm vui. Sư trông thấy nói: ‘Con hổ này tâm hung bạo vẫn còn, hãy nên cẩn thận’.
Quy y không lâu sau hổ chết, ấy chính là nhờ từ lực của đại sư gia bị nên đã
thoát khỏi súc sanh đạo đấy chăng?” Có lẽ khi ấy cư sĩ Hoán Văn ở xa cũng nghe được chuyện này nên viết thư hỏi chuyện đại
sư. Thư đáp của đại sư là lời khai thị chất phác, trọn chẳng có ý tự khoe
khoang mảy may nào. Suốt đời đại sư chủ trương chẳng cần phải học theo thói kẻ
cả, đọc thư này càng thêm tin tưởng điều ấy.
Ngày Mười Sáu
tháng Mười Một, năm Dân Quốc 32 (1943) La Hồng Đào
81. Thư trả lời cư sĩ Châu Trọng Hoa (thư thứ nhất)
Nhận
được thư biết lệnh nghiêm[1]
đã qua đời vào ngày Hai Mươi Sáu tháng Mười Một (Thư báo tin buồn vẫn
chưa gởi đến. Cũng không cần phải đọc thư báo tin buồn đã có thể biết rõ cụ có
được sanh về Tây hay không). May là trước khi cụ
mất, đã thiết tha dặn dò các ông hãy tuân theo những gì Văn Sao, Gia Ngôn Lục
đã nói, nên cụ được chánh niệm vãng sanh. Tuy do túc căn hiển hiện trong đời
này chiêu cảm mà cha ông [được sự vãng sanh tốt lành như thế], nhưng cũng là vì
anh em trai, chị em gái của ông chẳng thuận theo phàm tình, tin sâu Phật pháp
và tuân theo lời cha dạy mà ra! May mắn chi hơn? Nói chung, tấm lòng của người
con là mong cha mẹ sống mãi trên đời, nhưng tướng thế gian vốn thuộc sanh diệt
chẳng trụ, há có thể còn mãi được ư?
Nay cụ đã mất rồi, chớ nên bi
ai quá mức, hãy nên sốt sắng niệm Phật để linh hồn của cha ta được hưởng lợi
ích thật sự! Nếu cụ chưa được vãng sanh thì cầu cho cụ được vãng sanh. Đã được
vãng sanh, ắt sẽ tăng cao phẩm vị. Đừng thuận theo thói tục hèn kém, biến chuyện
tang tóc thành dịp vui, bày vẽ mù quáng, phô trương hồ đồ, mắc tội với cha với
trời! Cha ông trước khi mất khiết tịnh, mất rồi vẫn khiết tịnh, điều ấy quả thật
đã biểu thị thân tâm thanh tịnh. Kẻ có nghiệp lực thì chẳng những không thể khiết
tịnh trong khi ấy, mà có kẻ còn tự ăn phân nhằm thể hiện tướng đọa lạc. Hết thảy
mọi chuyện trong đời người đều có thể giả vờ, chỉ có những tướng được biểu hiện
khi sắp chết và sau khi chết đều chẳng thể nào làm giả được! Con người sắp chết,
vẻ mặt liền biến đổi, huống chi chết đã hai ngày rồi lại càng thêm vui vẻ, hiện
vẻ mỉm cười, đấy chính là tướng biểu thị vãng sanh. Lại nữa, chết đã mấy ngày,
toàn thân đã lạnh, trán vẫn còn hơi ấm, đấy cũng là tướng biểu thị vãng sanh. Do
phàm phu khi chết, hơi nóng từ dưới dồn lên trên. Nếu đảnh môn lạnh đi sau
cùng, ắt là trở về thánh đạo, liễu sanh thoát tử. Ông chẳng biết rõ, nhưng cứ dựa
theo vẻ mặt [cha ông] sau khi mất và lúc lâm chung được mọi người trợ niệm,
thành tựu tịnh tâm, ắt được đức Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Cha ông đã
như thế thì mẹ ông cũng phải nên như thế. Phận làm con hành được đạo giúp đỡ
cha mẹ như thế khiến cho [cha mẹ] được siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử
thì tất cả sự hiếu trong thế gian chẳng thể nào sánh bằng!
Thân ta chính là di thể của
cha mẹ ta; giữ lấy di thể của cha mẹ, nào dám chẳng dè dặt, kinh sợ để mong đấng
sanh thành khỏi bị hổ thẹn ư? Do vậy, cần phải khăng khắng giữ vẹn luân thường,
nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính mình, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đánh
đổ điều ham muốn xằng bậy để khôi phục lễ nghĩa, chẳng làm các điều ác, vâng giữ
các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, yêu tiếc giấy chữ, ngũ cốc. Người
làm được như vậy đáng gọi là thiện nhân, đáng gọi là hiếu tử, đáng gọi là tôn
kính cha mẹ. Lại còn có thể y theo pháp môn Tịnh Độ tín nguyện niệm Phật cầu
sanh Tây Phương thì sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất đi trở về nước Cực Lạc,
may mắn chi hơn?
Hơn nữa, hiện thời thế đạo
nhân tâm đã bại hoại đến cùng cực. Thiên tai, nhân họa giáng xuống bất ngờ. Họa
hoạn xảy đến chẳng thể lường trước, trốn cũng không được, ngừa chẳng thể ngừa.
Nếu có thể y theo những gì Văn Sao, Gia Ngôn Lục đã nói, chí thành niệm Phật và
niệm Quán Thế Âm, ắt sẽ âm thầm được gia bị, hoặc chuyển biến thành không có
tai nạn gì, hoặc chuyển nặng thành nhẹ, quyết chẳng đến nỗi phải chịu tai ương giống
như người không niệm Phật! Cõi đời hiện nay chẳng giống như cõi đời mấy chục
năm trước kia. Muốn chuyển hồi thế đạo nhân tâm, muốn cho con cái trong gia
đình hiền thiện mà chẳng sốt sắng đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong
gia đình (tức những đạo lý làm người như cha từ, con hiếu v.v…) thì trọn chẳng có hy vọng gì! Giáo dục trong gia
đình, cần nhất phải chú trọng sao cho hai pháp nhân quả và báo ứng bổ trợ nhau,
bổ sung cho nhau thì mới có lợi ích thật sự.
Chớ nói “ông là một người xuất
gia sao cứ miệt mài đem những chuyện này nói với người khác?” Bởi lẽ, trong cõi
đời hiện thời, những học thuyết phế kinh điển, bỏ hiếu, phế luân thường, vứt bỏ
hổ thẹn… khiến lòng người bị ngu muội cứ nối tiếp nhau dấy lên. Nếu chẳng đem
nhân quả báo ứng và đạo làm người bàn giảng kỹ càng cho con cái từ thơ ấu thì
sau này muốn cho chúng nó chẳng bị những tà thuyết xoay chuyển sẽ khó lắm, hết
sức khó! Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm! [Nói như vậy có] nghĩa là
“khéo dạy dỗ con cái sao cho chúng nó trở thành hiền thiện” [sao cho] phong thái
này từ một làng, một ấp lan ra khắp thiên hạ. Tôi thường nói: “Dạy con là cái gốc để bình trị, nhưng dạy
con gái lại càng quan trọng thiết yếu hơn! Vì nữ nhân có quyền hạn giúp chồng dạy
con. Nếu con gái hiền thiện thì con rể và con cái chúng nó sẽ đều hiền thiện”.
Do vậy, lại nói: “Quyền trị gia bình
thiên hạ bọn nữ nhân chiếm quá nửa”, ấy
chính là chân ngữ, thật ngữ. Muốn cho cửa nhà hưng thịnh, con cháu hiền thiện,
hãy nên lấy lời tôi làm khuôn thước thì những điều mong cầu đều đạt được.
Lại nữa, đề xướng nhân quả báo ứng, không tốt gì bằng dạy người ta thọ trì Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, Văn Xương Âm Chất Văn, bởi những loại sách giảng về thiện - ác [người ta] vừa đọc liền hiểu rõ thì sẽ dễ được lợi ích. Bành Định Cầu[2] từ nhỏ hằng ngày đọc tụng hai bộ sách này, tới khi đỗ Trạng Nguyên làm Thượng Thư, vẫn hằng ngày tụng đọc. Lúc rảnh rỗi bèn cung kính chép lại tặng cho người khác, ghi là Nguyên Tể Tất Độc Thư (sách phải đọc của Trạng Nguyên, Tể Tướng). Lời Bạt viết: “Không phải là đọc sách này có thể làm Trạng Nguyên, Tể Tướng, mà là Trạng Nguyên, Tể Tướng quyết chẳng thể không đọc sách này!” Đủ biết tầm quan trọng của hai bộ sách ấy! Trong khóa tụng sáng tối, lúc hồi hướng, Quang sẽ đọc pháp danh của cha ông để hồi hướng suốt một thất cho trọn hết tình nghĩa thầy trò. Những điều khác xin ông hãy đọc kỹ trong Văn Sao, Gia Ngôn Lục, ở đây không viết đầy đủ (ngày Mười Ba tháng Mười Hai, viết dưới đèn)
82. Thư trả lời cư sĩ Châu Trọng Hoa (thư thứ hai)
Thư
nhận được đầy đủ. Biện pháp áp dụng trong đám tang như thế chẳng những hữu ích
cho người mất mà thật sự còn khiến cho cả nhà đều gieo thiện căn không chi lớn
bằng! Sau này, dẫu chẳng thể ăn chay trường thì cũng nên bớt ăn mặn, lập quy định
chẳng đích thân giết chóc trong nhà để đỡ kết sát nghiệp. Chị ông muốn chuyên
nhất niệm Phật thì vốn không có chương trình cố định. Nếu chiếu theo chương
trình niệm Phật bình thường, canh Năm dậy lễ Phật (bao nhiêu lễ tùy theo
mình lập). Lễ xong, niệm kinh Di Đà một biến,
Vãng Sanh Chú (ba biến hoặc bảy biến, hoặc hai mươi mốt biến) xong liền niệm kệ Tán Phật, nhiễu niệm bao nhiêu câu
đó, rồi mới tịnh tọa nửa tiếng, rồi lại niệm ra tiếng độ bao nhiêu câu, rồi quỳ
niệm Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát, mỗi danh hiệu ba lượt (nếu
muốn lễ bái thì trước hết lễ Phật bao nhiêu đó lạy, xưng danh hiệu Bồ Tát chín
lượt, rồi lễ chín lạy), niệm bài văn phát nguyện,
Tam Quy Y. Đấy là công khóa buổi sáng.
Ăn cơm sáng xong, tịnh tọa một
khắc, lại đến lúc niệm Phật thì lễ Phật ba lạy, hoặc lễ nhiều hơn xong liền niệm
kệ Tán Phật. Niệm xong, đi nhiễu và ngồi đều chiếu theo như trên; chỉ có điều niệm
Phật xong, không cần phải niệm bài văn phát nguyện dài, chỉ niệm bốn câu kệ “nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung…”
là được rồi, lễ bái lui ra. Hoặc buổi sáng hai thời, buổi chiều hai thời. Khóa chiều
giống như khóa sáng. Buổi tối lại niệm Phật một lần, vẫn chiếu theo chương
trình giống như sau khi ăn cơm sáng. Niệm xong phát nguyện, nên niệm bài văn
phát nguyện do tổ Liên Trì san định. Niệm xong, đọc bài Tam Quy Y.
Tuy trong đây có lúc khởi lên
Phật hiệu, có lúc im lặng, nhưng trong tâm luôn giữ cho một câu Phật hiệu được
trì niệm chẳng gián đoạn. Đi - đứng - nằm - ngồi, mặc áo, ăn cơm, đại tiểu tiện,
trong tâm đều phải thầm nhớ Phật hiệu. Trong bảy ngày chẳng để khởi lên hết thảy
tạp niệm, như con nhớ mẹ không lúc nào quên. Khi niệm, cố nhiên là niệm [Phật],
lúc lặng tiếng không niệm thì trong tâm vẫn niệm, chỉ cầu tâm tương ứng với Phật
(tức “ngoài tâm không có Phật,
ngoài Phật không có tâm. Toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm”. Trong tâm trừ
sáu chữ hồng danh ra, không có hết thảy tạp niệm, vì thế gọi là “tương ứng”), chớ nên khởi cái tâm muốn thấy đức Phật ngay. Chỉ cầu
ngoài Phật hiệu ra, không có niệm thứ hai nào khác mà thôi! Nếu chẳng hiểu rõ
lý tánh, gấp muốn thấy Phật, phần nhiều chuốc phải ma sự, chẳng thể không cẩn
thận! Cũng đừng nhọc nhằn quá mức; quá mệt nhọc thì ngày hôm sau sẽ khó thể
thanh thản, sảng khoái đúng như pháp được! Hoặc là mỗi lần niệm Phật đều niệm A
Di Đà Kinh, Vãng Sanh Chú, nhưng sáng dậy phát nguyện thì niệm bài văn phát
nguyện dài, khóa tối cũng giống như thế, những lúc khác đều niệm bốn câu [kệ hồi
hướng] mà thôi. Hoặc là sáng dậy [niệm Phật] lần thứ nhất thì niệm A Di Đà
Kinh, Vãng Sanh Chú, từ đấy chỉ liên tục niệm A Di Đà Phật không ngừng, đến tối
niệm bài văn phát nguyện, Tam Quy Y.
Con người ở trong thế gian chẳng
thể siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử đều là vì vọng niệm gây nên. Nay
trong lúc niệm Phật, liền nghĩ như chính mình đã chết, chưa được vãng sanh,
trong mỗi một niệm đều gác bỏ tất cả hết thảy tình niệm thế gian ra ngoài. Trừ
một câu Phật hiệu ra, không có một niệm nào để được! Làm thế nào để niệm được
như thế? Là vì ta đã chết rồi, tất cả hết thảy vọng niệm đều chẳng vướng mắc nữa.
Niệm được như thế ắt sẽ có lợi ích lớn lao. Những kẻ tri kiến nhỏ nhoi hiện thời
hễ hơi có một chút cảnh giới tốt đẹp bèn tự mãn, tự cho là đủ, tưởng mình đã đắc
tam-muội rồi! Hạng người ấy mười người hết chín kẻ đều bị ma dựa phát cuồng vì
tâm niệm cách ngăn với Phật, phù hợp với ma, cho nên thành ra như vậy.
Mười đồng tiền hương kính đợi
sau này các sách được in ra sẽ dựa theo khoản tiền ấy gởi đi mấy gói sách. Hôm
Hai Mươi Ba, Quang xuống núi, đến chùa Thái Bình ở bến Trần Gia, Thượng Hải, để
lo liệu việc in sách. Tháng Sáu mới trở về núi, tháng Bảy lại xuống núi chẳng
trở về nữa. Tháng Tám, tháng Chín việc in sách xong xuôi, liền diệt hết tung
tích, ẩn náu lâu dài. Bởi lẽ trong những năm tháng vừa qua, chuyện thù tiếp
ngày một thêm nhiều, tinh thần ngày một giảm. Nếu chẳng làm theo một cách khác,
ắt sẽ mệt đến chết. Đã tổn hại cho chính mình mà còn vô ích cho người! Vì thế,
không thể nào chẳng làm như vậy được!
Thế đạo hiện thời là thế đạo đại hoạn nạn. Họa hoạn xảy đến không thể trốn tránh được! Chỉ có niệm Phật, niệm Quán Thế Âm thì mới chẳng gặp hoạn nạn. Dẫu bất hạnh gặp phải thì cũng có thể “gặp dữ hóa lành”. Gần đây, những kẻ do gặp hoạn nạn bèn niệm Phật, niệm Quán Âm được cảm ứng nhiều khôn kể xiết! Gia đình ông còn được coi là “có của ăn của để”, hãy nên dạy nam - nữ - lớn - bé trong nhà đều hằng ngày niệm Phật bao nhiêu đó câu, niệm Quán Âm bao nhiêu đó câu để làm kế dự phòng. Lúc vô sự niệm thì sẽ không có họa hoạn. Dẫu lúc đương đầu với hoạn nạn mà có thể chí tâm niệm thì công đức cũng chẳng thể nghĩ bàn. Người đời đều muốn yên vui, nhưng thường hay làm chuyện trái nghịch, đến nỗi trở thành vọng tưởng xuông, chẳng có lợi ích thật sự. Những điều vừa nói trên đây quả thật là những điều suy tính cho gia đình ông vừa sâu xa vừa thiết thực vậy! (viết vào lúc lên đèn ngày Hai Mươi Mốt tháng Hai)
83. Thư trả lời cư sĩ Châu Trí Trinh (thư thứ nhất)
Quang
đến đất Thân (Thượng Hải) từ hôm Hai Mươi Lăm tháng Bảy, đúng bữa nay trở về
núi thì nhận được thư ông từ núi chuyển đến, biết cha ông sắp qua đời. Cần biết
rằng: Người sống trăm tuổi cũng có ngày ra đi, chớ nên bi thương vô ích! Chỉ
nên khuyên cụ nhất tâm niệm Phật giống như đang ở trong lao ngục mong trở về
quê nhà, chớ nên có mảy may tâm lưu luyến. Ông và quyến thuộc trong nhà hãy nên
chia ban niệm Phật trước cụ để cụ lắng tai nghe cho rõ ràng. Đến lúc cụ sắp mất,
nếu cụ có thể tự tắm rửa, thay quần áo thì tốt lắm. Nếu không, đừng tắm rửa,
thay quần áo sẵn cho cụ để đến nỗi dời qua chuyển lại, thân tâm bất an, có thể
sanh lòng sân hận thì cái hại ấy chẳng nông cạn đâu! Dẫu chẳng khó chịu, nhưng
do bị dời động, tâm cũng chẳng thể thanh tịnh, sẽ khó cậy vào Phật từ lực vãng
sanh Tây Phương. Đang trong lúc ấy, quyến thuộc trong nhà đều cùng nên niệm Phật,
niệm mãi cho đến khi tắt hơi. Qua ba tiếng đồng hồ sau mới ngưng tiếng niệm Phật
để lau rửa, thay áo cho người đã mất. Nếu khớp tay đã cứng, mặc áo không tiện
thì dùng khăn bông thấm nước nóng đắp trên vai, cánh tay, khủy tay, không lâu
sau sẽ mềm ra, có thể mặc áo được!
Điều tối kỵ là chưa chết đã
khóc lóc khiến cho cụ sanh tâm bi luyến sẽ khó được vãng sanh. Những chuyện
này, Văn Sao, Gia Ngôn Lục đều đã nói tường tận, sợ ông chẳng lưu tâm nên nhắc
lại! Sau khi đã chết, chỉ nên niệm Phật, đừng làm đàn Thủy Lục, niệm kinh, bái
sám. Do những chuyện ấy đều là thực hiện bề ngoài, phô trương thanh thế rỗng tuếch,
có lợi ích thật sự rất ít! Hơn nữa, trong đám tang nhất loạt không dùng rượu thịt.
Cổ lễ của Nho gia nghiêm cấm rượu thịt trong đám tang. Nếu dùng, người ta sẽ
nghĩ [tang quyến] thất đức. Đời nay lễ nghĩa hoàn toàn bị chôn vùi, nên ăn thịt,
uống rượu, tấu nhạc, ca hát, diễn tuồng, không điều gì chẳng làm! Nhưng cha ông
đã quy y Phật pháp, ông cũng quy y Phật pháp, há có nên vẫn hành theo khuôn sáo
xấu ác của thế gian ư? Mong hãy nói nguyên do với các anh em của ông, đừng coi
chuyện đại bất hiếu là có hiếu.
Hãy nên niệm Phật cho thần thức của cha được yên vui thì mới là hiếu. Làm được như thế thì cha ông cố nhiên được lợi ích, mà anh em con cháu cũng đều được lợi ích. Đừng cho rằng “những lời Quang nói đều chẳng thể tuân theo được” thì kẻ sống lẫn người mất đều được lợi ích. Ông không hiểu sự quá mức, vì chuyện của cha ông mà thỉnh thầy khai thị, thế nhưng vẫn chẳng nói đảnh lễ, dập đầu v.v… chỉ nói là “chắp mười ngón tay”. Ông thử suy nghĩ xem: Chuyện trọng đại ấy mà chỉ chắp mười ngón tay là xong, chẳng phải là coi chuyện ấy hệt như chuyện chẳng khẩn yếu hay sao? Do ông không biết nên Quang mới nói với ông, chứ không phải là mong được ông cung kính đâu! (Mồng Một tháng Chạp, trước Ngọ liền về núi trong bữa ấy)
84. Thư trả lời cư sĩ Châu Trí Trinh (thư thứ hai)
Sao
ông chẳng biết sự vụ? Cứ không có chuyện gì lại bới ra chuyện, sai Thừa Tuân
hai lượt sang đất Hỗ (Thượng Hải) để hỏi về chuyện thọ giới. Hơn nữa, Văn Sao,
Gia Ngôn Lục tuy sâu, nhưng chẳng lẽ hoàn toàn không biết, lại cứ muốn Quang
khai thị cho ông những pháp thiển cận ư? Thiển cận thì đã có Di Đà Kinh Bạch
Thoại Chú Giải, há lẽ nào chẳng hiểu được lý ư? Quang chẳng ngại giảng cho ông
một pháp giản lược. Pháp môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm Tông,
cần phải thật sự vì liễu sanh thoát tử để phát đại Bồ Đề tâm “trên cầu Phật đạo,
dưới hóa độ chúng sanh”, dùng lòng tin sâu đậm, nguyện thiết tha để niệm Phật cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, Triệt Ngộ thiền sư nói: “Thật vì sanh tử phát Bồ Đề tâm, dùng tín
nguyện sâu, trì danh hiệu Phật”. Mười sáu chữ ấy là cương tông lớn lao của
pháp môn Niệm Phật. Đấy chính là yếu quyết giản tiện nhất.
Hơn nữa, khi niệm, ắt phải tâm,
miệng, tai từng câu từng chữ rành rẽ phân minh: Niệm cho rõ ràng, nghe cho rõ
ràng, tâm tự chẳng tán loạn. Tâm còn phải thường giữ chánh niệm, chẳng để cho hết
thảy những ý niệm tham -sân - si đủ mọi thứ bất chánh chớm sanh. Nếu chúng ngẫu
nhiên sanh khởi liền dùng Phật hiệu để chế ngự khiến cho chúng bị tiêu diệt.
Cha ông và ông đều cùng quy y, Thừa Tuân hai phen đến gặp, chỉ thấy khẽ vòng tay. Dẫu cho vái chào một cái thật sâu cũng chẳng chịu làm! Như vậy thì chẳng những khinh Tăng mà còn là khinh cha. Gặp thầy của cha, đến hỏi Phật pháp chẳng chịu tỏ lộ ý muốn cung kính chút nào, mà muốn được lợi ích nơi Phật pháp sẽ khó thể đạt được lắm! Quang đã quyết định ẩn giấu tung tích, nhưng muốn lợi người nên chẳng ngại nói với ông! (Mồng Chín tháng Tư, viết dưới đèn)
85. Thư trả lời cư sĩ Trần Vị Ân
Vừa
nhận được thư của Cung Tông Nguyên cho biết ông muốn quy y. Tôi muốn viết thư
cho Tông Nguyên, nhưng do Tông Nguyên là pháp danh, chẳng nhớ tên thật, lại
không có địa chỉ, sợ thư chẳng dễ giao được. Lại sợ ông ta ở Vô Tích, nên gởi
thư trực tiếp cho ông. Cần biết rằng: Phật pháp vốn chẳng khác gì với Nho giáo[3].
Phàm là đệ tử Phật ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà,
giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành. Muốn nương theo
Phật pháp để liễu sanh tử thì phải hành trọn luân thường thế gian để trở thành
người hiền, người lành. Nếu không, dẫu học Phật pháp cũng khó được lợi ích chân
thật vì đã thiếu căn bản sẽ khó thể hoàn toàn được lợi ích thật sự nơi Phật
pháp.
Cần biết rằng: Phật pháp là
pháp chung cho hết thảy chúng sanh, không một ai chẳng nên tu, mà cũng không có
một ai chẳng thể tu được. Bọn Lý Học dùng đủ mọi lời lẽ sai lầm để báng bổ Phật
pháp; đấy là những lời lẽ mê tâm trái lý, chứ không phải là những lời bàn luận
hết mực công chánh. Họ bảo Phật pháp dùng nhân quả luân hồi để làm căn cứ gạt gẫm
ngu phu ngu phụ, đấy là những chuyện bịa đặt không căn cứ, chứ thật ra không có
chuyện ấy. Do vậy, bọn chúng đã khơi ra đầu mối khiến thiên hạ đời sau trọn chẳng
kiêng sợ, ồ ạt [làm càn] cho tới nay bèn biến hiện thành những cảnh tượng thê
thảm: phế kinh điển, phế luân thường, chôn vùi lòng Nhân, chôn vùi đạo đức. Học
thuyết lầm người cùng cực đến thế!
Nay phải nên cực lực đề xướng
nhân quả báo ứng để mong vãn hồi phong tục suy đồi, nhất là phải nên chí thành
niệm Phật, niệm Quán Thế Âm để mong khi sống thì tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng
thiện căn, lúc mất cậy vào Phật từ lực, vãng sanh Tây Phương. Lại còn dùng những
điều này để trong là khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ, dâu, con cái,
ngoài là khuyên xóm giềng, làng nước, thân thích, bằng hữu để hết thảy mọi người
đều cùng được gội Phật ân. Dùng công đức ấy để làm tư lương vãng sanh cho ta, ắt
sẽ mau lên Thượng Phẩm.
Nay đặt pháp danh cho ông là Tông Pháp. Tông là chủ, là tột bậc. Nghĩa là lấy Phật pháp làm cái gốc chủ yếu để hành trọn vẹn luân thường thế gian ngõ hầu siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nếu có các sách Tịnh Độ thì tốt lắm. Nếu không, cứ chiếu theo danh sách mà thỉnh từ Hoằng Hóa Xã để đọc thì nguyên do của pháp môn và các pháp tu trì sẽ đều hiểu rõ ràng. Quang già rồi, mục lực, tinh thần, công phu đều chẳng đủ, chớ nên thường gởi thư đến. Chịu lắng lòng đọc Văn Sao, Gia Ngôn Lục, Tịnh Độ Thập Yếu, Phật Học Cứu Kiếp Biên, Chánh Tín Lục thì không cần phải gởi thư hỏi han. Nếu không chú ý, tuy hằng ngày viết thư thưa hỏi vẫn vô ích! Hơn nữa, Một Lá Thư Gởi Khắp quả thật là bài viết đáng cho hết thảy mọi người trân trọng gìn giữ để tu trì. Văn chương tuy chẳng hay, nhưng nghĩa đầy đủ mọi lẽ, càng phải nên hành theo đó (ngày Mười Hai tháng Ba năm Dân Quốc 22 - 1933)
86. Thư trả lời cư sĩ Hà Hy Tịnh
Người
tu Tịnh nghiệp lấy lòng tin chân thành, nguyện thiết tha làm gốc. Nếu niệm đến
mức nhất tâm bất loạn thì rất tốt. Chớ nên nghĩ rằng “chưa đạt được nhất tâm bất
loạn sẽ chẳng thể vãng sanh!” Nếu thường giữ ý tưởng ấy, đắc [nhất tâm] thì được.
Nếu không đắc thì do thường giữ ý nghĩ chẳng được vãng sanh nên chẳng tương ứng
với Phật! (Đây là căn bệnh lớn “biến khéo thành vụng”). Cầu siêu cho cha mẹ, chỉ mong [cha mẹ] được vãng
sanh Tây Phương, sao lại hỏi “sẽ đọa lạc trong đường nào?” Ý ấy dường như tốt đẹp,
nhưng quả thật đã gây ra chướng ngại, vì thần thức của con người bị nghiệp chuyển.
Ông dùng tâm chí thành niệm Phật cho mẹ, do cậy vào Phật lực nên mẹ liền được
vãng sanh. Hỏi chỗ đọa lạc tức là nghĩ [mẹ] chưa được vãng sanh. Ông đã đọc Văn
Sao, Thập Yếu, cố nhiên chẳng cần xin Quang khai thị nữa! Con người hiện thời
thường chuộng hư danh, chẳng tu thật hạnh, đấy là một chướng ngại lớn cho sự học
đạo. Nếu chẳng làm giả thì mỗi một giọt mưa sẽ là một giọt thấm; hễ làm giả sẽ như
ăn cơm trong mộng, vô ích cho cái bụng rỗng!
Những sách ông muốn thỉnh hiện thời chẳng thể gởi được. Do nhu cầu quân sự và dân bị nạn rất đông, bưu điện không nhận tất cả những bưu kiện, chẳng biết khi nào mới kết thúc! Hãy nên khuyên mọi người chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu [chiến tranh] sớm kết thúc và làm kế dự phòng. Hiện thời Quang không đủ trí nhớ, sau khi yên ổn hãy nên gởi thư khác để thỉnh thì được. Nếu không, Quang vừa xem qua mắt liền quên ngay trong bữa ấy. Mong hãy sáng suốt soi xét! Hy Giác bệnh chưa lành, ông thường bị đau đầu, hãy đều nên niệm Quán Âm để làm phương cách chữa trị, chắc chắn mau được lành bệnh! (ngày Hai Mươi Ba tháng Bảy năm Dân Quốc 26 - 1937)
87. Thư trả lời cư sĩ Trương Bội Phân Mộ Lan
Gần
đây các tai nạn chiến tranh, giặc giã nối tiếp nhau xảy ra, căn bản là do gia
đình thiếu giáo dục mà nên nỗi! Người học Phật ai nấy ắt phải trọn hết bổn phận.
Nói “trọn hết bổn phận” chính là phải chăm chú “cha từ, con hiếu, anh nhường,
em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành”. Tám sự này mỗi một
người đều có đủ. Trên có cha mẹ thì là mang bổn phận làm con. Dưới có con cái
thì là mang bổn phận làm cha. Tự mình dùng người thì mang bổn phận làm chủ. Làm
việc cho người khác tức là mang bổn phận tớ. Những chức phận khác đều có thể
làm trọn, chỉ có mỗi chức phận cha mẹ là khó thể trọn hết được! Thật ra, trọn hết
[chức phận làm cha mẹ] không khó, chỉ vì cả cõi đời không ai đề xướng, mọi người
chỉ biết nuông chiều [con cái] mà chẳng biết giáo dục, đến nỗi nuôi thành phường
bại hoại, tàn sát lẫn nhau, khiến cho nước chẳng ra nước, dân chẳng thành dân.
Nói đến giáo dục thì từ lúc trẻ
nhỏ bắt đầu hiểu biết liền nói với nó về nhân quả báo ứng và đạo lý làm người, ắt
phải làm sao cho tâm nó biết sợ ác báo, hâm mộ thiện báo, sẽ chẳng đến nỗi phạm
thượng, chẳng chịu làm theo lời dạy. Lúc bé đã như thế, tập quen thành tánh, dưỡng
thành thiên tư lương thiện. Đó gọi là Dục (育).
Dục là dưỡng. Nếu chẳng biết điều này thì sẽ dưỡng thành tánh chất hung ác, nhẹ
thì ngỗ nghịch bất hiếu, nặng thì giết cha giết mẹ. Xét đến nguồn cội, đều là
do cha mẹ chúng chẳng chịu dạy dỗ thuở nhỏ mà ra.
Tôi thường nói: “Công đức lớn nhất trong thế gian không gì bằng khéo dạy dỗ con cái. Tội lỗi lớn nhất trong thế gian không gì bằng chẳng dạy dỗ con cái. Ai nấy đều khéo dạy dỗ con cái thì thiên hạ tự nhiên thái bình. Ai nấy chẳng dạy bảo con cái thì thiên hạ chắc chắn tang tóc, loạn lạc”. Vì vậy nói: “Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm”. Lời này cả cõi đời không ai nói, nên tôi nói đại lược với các ông. Đối với chuyện ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương thì đã có trong các sách được gởi đến. Quang đã bảy mươi chín tuổi rồi, sáng chẳng đảm bảo được tối. Từ nay chớ nên gởi thư đến nữa, cũng đừng giới thiệu ai khác đến quy y vì không có mục lực, tinh thần để thù tiếp vậy! (ngày Hai Mươi Tám tháng Giêng năm Dân Quốc 28 - 1939)
88. Thư trả lời cư sĩ Vương Chiếu Ly (thư thứ nhất)
Nhận
được lá thư trước và món tiền sáu trăm đồng, liền gởi thư phúc đáp ngay. Đem một
trăm đồng cậy người bạn giao cho Kim Lăng Lưu Thông Xứ. Ông ta có gởi thư cho
ông, chắc đã nhận được rồi. Mấy hôm gần đây lại nhận được ba trăm bốn mươi bốn
đồng, Văn Sao, An Sĩ [Toàn Thư], Gia Ngôn, Bảo Giám, bốn loại sách và bưu phí đều
đã thanh toán xong xuôi. Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú, Cảm Ứng Thiên Trực Giảng,
chẳng bao lâu nữa sẽ được gởi đến. Lại còn có sách Học Phật Thiển Thuyết khá
thích hợp sơ cơ, năm nay cho in hai lần, mỗi lần hai vạn cuốn. Lại tính cho in [sách
ấy] với khổ chữ Tam Hiệu Tự cho to hơn. Trong năm nay hoặc vào tháng Giêng năm
tới sẽ in xong. Nếu ông cần, xin báo cho biết.
Thêm nữa, lần sau nếu chuyển tiền
xin hãy gởi qua Giao Thông Ngân Hàng. Giao Thông Ngân Hàng nhận được thư, liền
giao thư và tiền cùng một lúc, khá thuận tiện! Trung Quốc Ngân Hàng nhận được
thư bèn gởi thư và phiếu giao tiền đến trước, yêu cầu ký tên xác nhận, lại còn
phải có ngân hàng khác bảo đảm. Ý họ làm ra vẻ thận trọng, nhưng sự thật là muốn
kéo dài thời gian để kiếm tiền lời, đáng ghét tới cùng cực! Cố nhiên Quang
không bị trở ngại gì, nhưng những người yếu thế không được bảo chứng như thế sẽ
bị họ chèn ép không ít. Thủ đoạn mượn tiếng thận trọng ấy để đặc biệt kéo dài
thời gian đúng là tệ ác đến cùng cực. Nếu [ở chỗ ông] không có [chi nhánh ngân
hàng] Giao Thông thì dùng ngân hàng Trung Quốc cũng được. Nếu không, chẳng cần
phải nhờ họ chuyển tiền.
Trong khoảng tháng Tám, tháng
Chín, Quang bảo Đại Trung Thư Cục gởi (bằng thư bảo đảm) ba mươi gói An Sĩ Toàn Thư (tức một trăm hai
mươi bộ) để đền bù cho những sách bị nước ngấm ướt,
đã nhận được hay chưa? Mấy lần thư từ đều không thấy nói tới. Dẫu không tính
vào chi phí, nếu nhận được cũng nên báo cho biết để [người gởi] khỏi bận tâm!
Tôi tính gởi Chỉ Bản sang Tân Gia Ba và quý đường[4].
Trước đây, tôi đã nhận được thư của một đệ tử ở Tân Gia Ba cho biết: So với Thượng
Hải thì tiền công thợ và giá giấy ở chỗ ông ta đắt gấp mấy lần, ngàn vạn phần đừng
gởi sang, chẳng biết chỗ ông như thế nào? Nếu thuận tiện, tôi liền đem Chỉ Bản
gởi sang. Nếu ở chỗ ông giá còn cao hơn nữa thì cần gì phải làm chuyện thua thiệt
ấy? Sẽ in ở Thượng Hải rồi đem gởi đi, so ra thuận tiện hơn! Lời này quả thật
là vì Tân Gia Ba mà nói, chỉ sợ [nếu người ở Tân Gia Ba đứng ra in] sẽ đâm ra bị
thiệt thòi, chứ không phải là vì không bỏ được Chỉ Bản.
Hiện tại, tôi tính tìm cách đem Văn Sao, An Sĩ Toàn Thư, Quán Âm Tụng, Thọ Khang Bảo Giám chế ra bốn bức Chỉ Bản nữa vì vốn chỉ có hai bức. Năm ngoái bị cháy mất một bức, chỉ còn giữ được một bức. Tuy Trung Hoa Thư Cục có hai bức, nhưng họ chẳng chịu cho mượn dùng; giá in sách của họ còn đắt hơn những thư cục khác. Do vậy, Quang lại muốn bỏ ra một ngàn đồng để chế thành mấy bức Chỉ Bản để tạo duyên cho người sau này có được sách. Hiện thời Gia Ngôn Lục, Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú, Cảm Ứng Thiên Trực Giảng, Học Phật Thiển Thuyết, Gia Đình Bảo Giám, Kỷ Văn Đạt Bút Ký Trích Yếu, Giang Thận Tu Phóng Sanh Sát Sanh Hiện Báo Lục, Liên Trì Phóng Sanh Văn Hợp San, Long Thư Tịnh Độ Văn, Hộ Pháp Luận, chín loại này đều phải chế ra bốn bức Chỉ Bản [cho mỗi cuốn] để người mai sau dễ lưu thông. Quang làm người trọn chẳng có tâm riêng tư, vì thế suốt đời chẳng thâu nhận đồ đệ, chẳng lập môn đình, chẳng kết xã lập hội. Được ai tặng tiền, nếu Quang chẳng dùng để in sách thì liền dùng để cứu trợ tai nạn, chẳng để nghiệp của chính mình bị tăng trưởng vì tiền của người khác. Huống chi nay đã sáu mươi tám tuổi rồi, tháng ngày chẳng còn nhiều, đúng là lúc [chỉ nên] tạo duyên vãng sanh Tây Phương cho chính mình và người khác mà thôi! (ngày Mười Bốn tháng Mười năm Dân Quốc 17 - 1928, viết dưới đèn)
89. Thư trả lời cư sĩ Vương Chiếu Ly (thư thứ hai)
Thư
ngày mồng Chín chắc ông đã nhận được rồi, hôm nay gởi hai mươi lăm gói sách
Khuê Phạm, [tổng cộng] năm mươi bộ (bốn mươi bốn đồng). Mỗi bộ tám cắc tám xu. Cảm Ứng Thiên Trực Giảng sáu
mươi ba gói, tức một ngàn lẻ tám cuốn (một ngàn cuốn là một trăm hai
mươi đồng). Mỗi cuốn là một cắc hai xu. Bưu phí (mười
ba đồng hai cắc, tổng cộng một trăm bảy mươi bảy đồng hai cắc. Còn tám cuốn bỏ
thêm không tính). Tổng cộng là tám mươi tám gói.
Khoản tiền ấy hễ tính là biết ngay. Khoản tiền này hãy nên gởi thẳng về chùa
Thái Bình ở bến Trần Gia, Thượng Hải, giao cho Minh Đạo đại sư thâu nhận thì
không sợ bị sai sót. Hễ nhận được, Sư sẽ gởi biên nhận ngay.
Cảm Ứng Thiên Trực Giảng in ra hai vạn bộ. Một ngàn bộ này vốn là những sách gởi trước vì Quang không lâu nữa sẽ về Phổ Đà. Thoạt đầu lúc in sách Khuê Phạm, không có mấy người đứng ra chịu trách nhiệm [bỏ tiền in], Trần Chánh nhận lo một ngàn bộ, những cuốn còn lại do Quang ứng ra. Sau cùng đảm nhiệm ba ngàn bộ đã xong; vì thế; Quang gộp khoản tiền năm trăm đồng của ông Chánh với hai trăm đồng của sư Chân Đạt và ông Tôn Thái Thừa để kết duyên vụn vặt[5] và cho người khác thỉnh. Năm sau nếu thời cuộc yên ổn, chắc sẽ tái bản được! Nếu ông muốn đứng ra chịu tiền in thì hãy nên thông báo trước. Sách này tám cắc tám xu một cuốn, vốn là tự mua giấy, tự đem in theo lối thạch bản, tự đóng sách. Nếu không, chẳng tốn tới một đồng hai cắc [cho mỗi cuốn] sẽ chẳng thể in được (Đại Trung Thư Cục tính một đồng hai cắc, Trung Hoa Thư Cục tính giá một đồng năm cắc hai xu) mà giấy vẫn khó được tốt như vậy. Hiện thời lòng ham muốn của con người tung hoành, nếu chẳng lấy khuôn mẫu tốt đẹp của cổ nhân để giữ yên tai mắt, chấn chỉnh chí khí thì họ sẽ hùa nhau chìm đắm[6] theo những tà thuyết kia hết, buồn thay! (ngày Mười Bảy tháng Mười Một, viết lúc đã thắp đèn).
90. Thư trả lời cư sĩ Cảnh Chánh Luân
Nhận được thư, cũng nhận được khoản tiền của ông Trần Phi Thanh. Cách làm như vậy rất hay. Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú (mỗi cuốn một cắc sáu xu), năm trăm cuốn, đã sớm gởi đi, chắc nay ông đã nhận được rồi. Học Phật Thiển Thuyết năm trăm cuốn (mỗi cuốn hai xu một chinh, mỗi gói tính thêm hai xu cước phí nữa), không lâu nữa sẽ được gởi tới. Cảm Ứng Thiên Trực Giảng một ngàn cuốn (mỗi cuốn một cắc hai xu, mỗi gói là mười sáu cuốn) còn phải đợi ba mươi mấy ngày nữa! Phóng Sanh Sát Sanh Hiện Báo Lục (cuốn này chưa in xong, chưa thể định giá được) đã cho sắp chữ riêng. Nhằm thực hiện biện pháp đỡ tốn giấy, sẽ đem những bài như văn phóng sanh của tổ Liên Trì in kèm vào đấy thành một tập, thực là dễ coi. Mùa Xuân năm sau sẽ in sách này một vạn cuốn. In xong sẽ gởi [cho ông] một ngàn cuốn. Kỷ Văn Đạt Bút Ký Trích Yếu vẫn chưa in, Gia Đình Bảo Giám đã xong, cần phải đợi đến mùa Xuân năm sau mới quyết định chuyện ấn hành. Từ rày, nếu gởi tiền, hãy chuyển giao cho Minh Đạo đại sư chùa Thái Bình ở bến Trần Gia tại Thượng Hải là ổn thỏa. Đầu tháng Ba năm sau, Quang sẽ đến Thượng Hải lo liệu ấn loát các sách (Ngày Hai Mươi Chín tháng Mười Một, viết dưới đèn).
91. Thư trả lời cư sĩ Thái Tích Đỉnh (thư thứ nhất)
Mẹ ông đã sáu mươi bảy tuổi, tháng ngày không còn nhiều, hãy nên tận lực khuyên cụ sanh lòng tin phát nguyện, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương, đấy là hành hiếu chân thật! Nay đặt pháp danh cho mẹ ông là Đức Thành, nghĩa là dùng lòng Thành niệm Phật, ắt được Phật từ tiếp dẫn. Vợ ông là Kim Địa đã chịu ăn chay, sao chẳng chịu niệm Phật? Niệm Phật mà mắc cỡ thì đáng gọi là “chẳng biết tốt - xấu đến cùng cực!” Nay đặt pháp danh cho bà ta là Đức Thanh, nghĩa là có thể nhất tâm niệm Phật thì nghiệp lực tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, tự biết tốt - xấu. Dẫu đối trước muôn người vẫn chẳng sợ hãi mà niệm rõ ràng, khiến cho những người nghe [tiếng niệm Phật] ấy đều cùng gieo thiện căn, cùng được thanh tịnh tam nghiệp vãng sanh Tây Phương. Ngộ Hạnh pháp danh là Đức Ý, Học Hạnh pháp danh Đức Thục. Hai đứa con gái này đều ăn chay từ trong thai, chính là người tu hành trong đời trước, sao không dạy chúng niệm Phật? Đấy chính là vì ông không hiểu sự việc! Đã có túc căn, lại chẳng dạy niệm Phật, ví như ruộng tốt lại không cày cấy, gieo trồng, cũng chẳng gặt hái được gì! Tuy có túc căn tốt đẹp mà chẳng được lợi ích tốt đẹp thật sự! Hiện nay đàn cầu cơ của ngoại đạo lập ra ở các nơi nhiều như rừng. Đã quy y Tam Bảo chớ nên vẫn tu theo công phu của ngoại đạo, tham gia cầu cơ! Pháp danh của bà Trần Chiếu Tây nhà họ Từ và con dâu là Vân Hà được viết trong một tờ giấy khác, xin hãy giao lại cho họ. Những điều khác đã được nói tường tận trong bức thư dài (tức Một Bức Thư Trả Lời Khắp), ở đây không viết chi tiết nữa! (ngày mồng Chín tháng Mười Một)
92. Thư trả lời cư sĩ Thái Tích Đỉnh (thư thứ hai)
Vợ
và con của ông Tiết X…. đời trước có kẻ oán thù lớn. Vì thế, [kẻ oán thù] cố ý
[trả thù, khiến bà ta bị sanh khó] cho thỏa dạ. Nhưng [bỏ] công [niệm Quán Âm] ba
ngày, sản phụ vẫn không sao, há chẳng phải là do niệm danh hiệu Đại Sĩ mà được
cảm ứng đấy ư? Phàm phu chẳng biết “nhân trước, quả sau”, hễ không hiệu nghiệm
liền ngã lòng tin tưởng. Nào biết [oan gia] trong đời trước oán thù sâu đậm,
nhiều đời lắm kiếp đều mong báo thù, dẫu có nương nhờ hồng danh của Đại Sĩ mà vẫn
chưa thấy hiệu quả. Nếu chẳng niệm hồng danh Đại Sĩ, há sản phụ vẫn được vô sự hay
sao? Những kẻ lúc sanh nở niệm Quán Âm liền thấy hiệu nghiệm có tới trăm ngàn vạn
người. Há nên vì một sự không linh liền lui sụt lòng tin ư? Hãy nên trọn đủ
lòng không sợ hãi, nói với người khác để cho hết thảy mọi người đều được yên
vui. Lại còn nên khuyên họ đừng kết oán nghiệp. Nếu oán nghiệp nặng nề, Phật lực
cũng khó cứu độ! Điều này đúng là có thể giúp cho việc khuyên lơn người khác biết
“nhân trước, quả sau”. Chính ông chẳng hiểu rõ lý nên đối với điều này bèn chẳng
thể quyết đoán được! [Lẽ ra] ông Tiết X… kia sẽ do điều này mà càng sanh lòng tin,
nhưng lại ngược ngạo lui sụt lòng tin thì sợ rằng sau này sẽ lại xảy ra đại họa
do túc oán gây nên.
Khi lâm chung có thể dùng cách trợ niệm, nhưng khi sanh nở thì không cần dùng cách trợ niệm. Chỉ cần bảo người nhà cùng những người săn sóc trong phòng sanh và chính sản phụ đều cùng niệm là được rồi! Sau này chẳng cần phải suất lãnh đại chúng trợ niệm. Niệm danh hiệu Quán Âm lớn tiếng thì có cảm ứng lớn, niệm nhỏ tiếng thì có cảm ứng nhỏ, chứ trọn chẳng có lẽ nào không ứng! Quan trọng là can đảm nói với mọi người, những kẻ chẳng thấy cảm ứng thì cũng chẳng phải là không hề có cảm ứng! (ngày Mười Sáu tháng Chạp)
93. Thư trả lời cư sĩ Thái Tích Đỉnh (thư thứ ba)
Ngọc Hoàng Kinh là kinh do bọn
đạo sĩ ăn trộm nghĩa lý trong kinh Phật ngụy tạo ra. Ông chẳng biết kinh ấy là
ngụy, nên tưởng là đã thành Phật rồi mới làm Ngọc Đế. Ngọc Đế chính là Đao Lợi
Thiên Vương[7],
tức là vua tầng trời thứ hai trong Dục Giới (tầng trời phía dưới đó là Tứ
Thiên Vương Thiên), phía trên còn có bốn tầng trời
nữa. Sáu tầng trời này thuộc Dục Giới. Lên trên nữa là ba tầng trời thuộc Sơ
Thiền, lên trên nữa là ba tầng trời thuộc Nhị Thiền, lên trên nữa là ba tầng trời
thuộc Tam Thiền. Lên trên nữa là chín tầng trời thuộc Tứ Thiền. Mười tám tầng
trời này là Sắc Giới. Lên trên nữa là bốn tầng trời thuộc Vô Sắc Giới. Phi Phi
Tưởng Thiên chính là tầng trời thứ tư [trong Vô Sắc Giới], phước thọ tám vạn đại
kiếp, nhưng hết tuổi thọ vẫn phải đọa lạc xuống những cõi dưới, hoặc đọa thẳng
vào ba ác đạo. Vì thế nói: “Nhiêu quân bát
vạn kiếp, chung thị lạc không vong” (Dẫu thọ tám vạn kiếp, rốt cuộc đọa
không vong), huống là Ngọc Đế ở tầng trời thứ hai của Dục Giới ư?
Ông thấy Ngọc Hoàng Kinh nói cực
cao, cực sâu, nhưng chẳng biết là kinh do kẻ dối trá ngụy tạo! Ông chỉ trì giới
thanh tịnh. Nếu vì sanh con mà phải ân ái thì hãy nên tắm gội sạch sẽ, chớ nên
thường ăn nằm. Người tụng kinh phải giữ cho thanh khiết. Nếu dâm dục khởi lên là
đã ô uế rồi! Bất quá vì sanh con nên chẳng ngại làm chuyện đó một lần mỗi năm
hoặc mỗi quý (ba tháng). Tiết dục được như thế thì đứa con sanh ra nhất định
thông minh, phước thọ, chớ nên nói “vì mong có con mà không thể không thường ăn
nằm!” Cần biết rằng: Thường ăn nằm thì ngược lại càng khó sanh con. Dẫu sanh được
con cũng khó sống lâu vì “Tiên Thiên bất túc” vậy! Nữ nhân thọ thai rồi vĩnh viễn
dứt chuyện ân ái thì đứa con sanh ra không những tướng mạo đoan chánh, tâm hạnh
thuần thành, chuyên dốc, mà còn chẳng bị hết thảy những bệnh thai độc, lên đậu,
lên sởi v.v… Ngay cả khi sanh cũng dễ sanh. Nếu thọ thai rồi mà ăn nằm một lần
thì bọc thai dầy thêm một lần, cho nên khi sanh nở sẽ bị khó sanh, lại còn bị
các thứ thai độc v.v…
Do một người bạn cậy Quang in giùm cuốn Đạt Sanh Thiên, phải giảo duyệt [cho ông ta], nên đem những nghĩa trọng yếu trong thiên sách ấy nói với ông để mong con cháu ông đều thành hiền thiện, thông minh, trí huệ. Đừng nói Quang là người xuất gia mà bàn chuyện ăn nằm của người ta! Chẳng biết chuyện ấy chính là chuyện sanh tử mấu chốt bậc nhất của thế gian, đúng là phải nên cứu giúp để chính mọi người và hết thảy con cháu họ đều được phước thọ, khỏe mạnh, bình yên thì vui sướng chi hơn! (ngày mồng Bảy tháng Chạp).
94. Thư trả lời cư sĩ Lưu Đức Huệ