Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam
Biên
Quyển 2
Phần 1
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang
200. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ nhất)
Sáng
nay cả hai lá thư đều cùng nhận được đầy đủ. Văn Sao đã chia ra gần hết, nay lại
gởi [cho ông] bốn gói. Sau này nếu có ai muốn đọc, hãy thỉnh từ Thương Vụ Ấn
Thư Quán. Từ Bi Kính[1]
đã gởi đi rồi. Do ông sai Quang viết lời tựa, Quang chẳng ngại gì nói leo. Tuy [lời
tựa Quang viết] chẳng liên quan sát sao với đầu đề, miễn sao chẳng ra ngoài việc
đề xướng kiêng giết, ăn chay mà thôi. Châu Tử Tú thiên tư khá tốt, tiếc là chưa
biết Phật pháp, lầm lạc bảo luyện đan vận khí chính là Phật pháp, thật đáng cảm
khái sâu đậm. Tuy các hạ đã đem lá thư hủ bại và Văn Sao đưa cho [Tử Tú] xem, sợ
ông ta vẫn cho Quang là gã đứng ngoài cửa, Tấn Tô mới là bậc cao nhân đã đăng
đường nhập thất[2],
càng sanh lòng ngưỡng mộ. Cố nhiên Quang chẳng mang ý niệm hủy báng hay khen ngợi
người khác, nhưng vì quý hội[3]
đã gởi thư cho Quang trước, nên không thể không trọn hết tấm lòng ngu thành của
tôi để đáp tạ ý tưởng ban tặng [sách] của quý hội. Ngoài ra đều mặc cho người
khác làm sao thì làm, tôi nào dám vọng động mong cầu ư?
201. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ hai)
Nhận
được thư đầy đủ. Hương châu[4]
đã nhận được, cám ơn lắm. Ngày Hai Mươi Sáu tháng trước tôi đã bảo [người chịu
trách nhiệm phát hành kinh sách ở] Thượng Hải gởi đi hai mươi gói Văn Sao, chắc
ông đã nhận được rồi. Hãy ước lượng mà tặng những bộ Văn Sao ấy cho người khác
và lưu lại [vài bộ] ở phòng đọc kinh sách. Trước đây, Tử Tú gởi thư đến, nói
tiên sinh Tấn Tô là bậc đại triệt ngộ, chỉ dùng phép luyện đan làm phương tiện để
dẫn dắt kẻ sơ cơ, Quang đã phê phán đại lược, chẳng biết Tử Tú có chấp nhận là
đúng hay không? [Chắc ông ta] cũng từng đưa [thư ấy] cho các hạ xem rồi phải
không? Hai mươi gói Văn Sao nếu nhận được, xin hãy gởi thư cho biết để khỏi đến
nỗi tưởng lầm [đã bị thất lạc].
Chương trình của Cực Lạc Đoàn
nên chú trọng trợ niệm vào lúc người ta sắp mất và phải dạy người nhà [của người
sắp mất ấy] nương theo pháp môn Tịnh Độ, chớ nên chiếu theo thông lệ của tục
nhân vào lúc người ta sắp chết liền tắm rửa, thay quần áo sẵn v.v… [Làm như vậy]
còn tệ hơn đã té giếng còn bị quăng đá! Cách thức ấy trong Văn Sao đã nói đầy đủ,
ở đây chỉ nêu điều quan trọng nhất. Nếu chết rồi thì những chuyện tống táng, ma
chay v.v... đều chẳng phải là chuyện quan hệ khẩn yếu, đừng nên bày vẽ phô
trương mong sao cho dễ coi, biến Phật sự thành trò đùa! Hơn nữa, [trong chương
trình của Cực Lạc Đoàn quy định]: “Liên hữu
góp sẵn mười đồng. Nếu trong vòng một năm mà mất thì [người nhà] nhận được đúng
số tiền ấy. Nếu hơn một năm mới mất thì [người nhà] sẽ được lãnh món tiền giúp
đỡ chi phí ma chay là ba mươi đồng”. Khoản tiền ấy lấy đâu ra? Hơn nữa, mỗi
nhà giàu - nghèo khác nhau, sao lại nhất loạt giúp đỡ chi phí ma chay? Nhưng
chuyện ấy đã được đại chúng bàn bạc thông qua, chắc đã áp dụng rồi. Quang sợ một
khi đã áp dụng cách này, về sau sẽ khó thể duy trì vĩnh viễn được nên chẳng thể
không nhắc nhở trước!
Lại nữa, đang trong lúc này,
muốn chuyển biến lòng người mà chẳng chú trọng sự lý nhân quả, báo ứng, sanh tử,
luân hồi thì không thể được! Lại còn phải khuyên các liên hữu ai nấy khéo dạy dỗ
con cái, đấy chính là “gốc chánh, nguồn trong”, là nhiệm vụ cấp bách để cầu
nhân dân yên vui, thế đạo thái bình. Phật pháp tuy là pháp xuất thế gian, nhưng
thực sự thực hiện nơi pháp thế gian. Phàm ai là liên hữu đều nên khuyên họ tận
lực giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính mình, đừng làm
các điều ác, vâng làm các điều lành. Nếu được như thế sẽ đáng gọi là đệ tử thật
sự của đức Phật.
Hiện nay phong trào cầu cơ rất
thịnh hành, phàm là đệ tử Phật chớ nên ngả theo thói ấy, bởi tất cả [kẻ tự xưng
là] tiên hay chân nhân [giáng cơ] phần nhiều đều là linh quỷ giả mạo. Nếu chuyện
gì cũng tin, ắt sẽ có khi hỏng việc. Huống chi “Phật pháp” do bọn chúng giảng đa
số đều là chẳng biết gì mà cứ nói bừa! [Cứ tin mê muội vào cơ bút thì] muốn chẳng
hoại loạn Phật pháp, chẳng khiến cho chúng sanh bị lầm lạc, nghi ngờ, há có được
chăng?
Ông đã chẳng nghĩ Quang là hạng
vô tri, cứ muốn tôn làm thầy, bèn thuận theo ý hiện thời của ông. Nếu sau này
muốn bái vị cao minh nào khác làm thầy, cứ thủ tiêu danh nghĩa giả tạm này chẳng
sao cả! Nay đặt pháp danh cho ông là Trí Tù; do ai nấy đều có chánh trí, nhưng
bị vật dục lôi kéo, chánh trí ấy liền biến thành nhân dục (lòng ham muốn của
con người), như nước do gió đùa bèn mất tánh trong lặng, biến thành sóng trào.
Trí ấy chẳng thể gọi là Tù (遒), vì Tù nghĩa là mạnh mẽ, cứng
cỏi. Mạnh mẽ, cứng cỏi chính là tên gọi khác của chữ Cương (剛: cứng
rắn). Khổng Tử than thở vì chưa thấy được người nào cương nghị, có người thưa
Thân Tranh [là người được như vậy]. Khổng Tử bảo: “Tranh dã dục, yên đắc cương” (Tranh cũng là người tham dục, làm
sao là người cương nghị cho được)[5].
Nếu niệm niệm đều nghĩ ngợi, suy lường thuận theo thiên lý, Phật tâm thì là
chánh trí, phù hợp với ý nghĩa của cái tên Trí Tù. Hễ có thiên lệch, riêng tư sẽ
thành “cương nghị theo kiểu Thân Tranh”, chẳng thể gọi là Trí, mà trở thành
“nhu ác” (mềm mỏng, hòa hoãn với điều ác[6])!
Ông hãy gắng lên.
Vợ ông pháp danh là Trí Giác.
Giác là trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều rành rẽ phân minh, chẳng bị chuyển
theo tình, chẳng bị ái ràng buộc, nghiêm túc trọn hết bổn phận giúp chồng dạy
con, chẳng nuông chiều mù quáng, khiến con cái đều thành hạng không ra gì. Dùng
điều này để tự giác, lại còn dùng điều này để giác người nhà và các thân hữu. Đấy
gọi là đệ tử thật sự của đức Phật, là thiện nữ nhân, sống làm gương mẫu cho
hàng khuê các, khi mất dự vào Liên Trì, ngõ hầu chẳng phụ bạc Phật tánh chính
mình sẵn có và lòng thành phát tâm quy y Tam Bảo ngày nay. Những điều khác như
pháp niệm Phật v.v… trong Văn Sao đã nói đầy đủ, không viết cặn kẽ ở đây.
Ông Trương Chuyết Tiên ở Vân
202. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ ba)
Ngày
Hai Mươi Sáu tháng Tám, Quang xuống núi đến đất Thân (Thượng Hải), đã nhận được
thư ông từ núi chuyển tới, nhưng do bận rộn với chuyện của người khác nên chẳng
trả lời được. Nay lại nhận được thư ông, kèm theo bưu phiếu mười đồng, tôi sẽ
dùng [món tiền này] để làm chi phí in cuốn Quán Âm Tụng. Quang xuống núi lần
này chính là vì lo liệu ấn hành cuốn tụng văn ấy. Nay tôi sẽ gởi cho ông mấy tờ
nói rõ biện pháp, một là để ông biết cặn kẽ nguyên do, lại còn mong ông sẽ thừa
cơ khuyên người khác đứng ra in. Sách này đối với thế đạo, nhân tâm lẫn Phật
pháp đều có mối quan hệ [mật thiết]. Hiện thời đã có người chịu đứng ra in năm
vạn bộ, Quang muốn in mấy chục vạn cuốn để lưu hành khắp trong ngoài nước, sợ
chẳng thể cảm ứng được như vậy! Sáu vạn bộ thì có thể in được.
Con người sống trong thế gian
trước hết phải có tâm lợi người. Người dì góa, người em dâu góa, đứa cháu mồ
côi v.v… của ông đáng thương, đáng xót, họ chính là chỗ ông để vun bồi ruộng phước,
chớ nên giữ ý niệm phiền oán thì chính là hành Bồ Tát đạo đấy! Nếu tâm có phiền
oán thì chẳng những không hợp với Bồ Tát đạo, mà còn chẳng hợp với thiên chức,
tánh phận của chính mình. Đối với chuyện chị em dâu bất hòa, hãy nên đối xử bằng
[thái độ] hết sức công bằng, hết sức độ lượng, thương họ thấy biết hẹp hòi mà
chỉ dạy, để họ đều cùng được thấm nhuần pháp trạch; đấy chính là thực hành Phật
pháp. Nếu coi đó là oán nghiệp, sẽ phải tiếc đau, oán hận. Đối với chuyện không
thể ngăn dứt được, hễ có lòng đau tiếc, oán hận thì công đức sẽ thuận theo tâm
lượng mà nhỏ bé đi. Trước đây, Tử Tú cũng có gởi thư đến, tôi phúc đáp sau đó
không lâu. Ông ta biết chính mình chẳng thể rốt ráo nương cậy, quy hướng Tịnh
nghiệp để tu trì được!
Thương Vụ Ấn Thư Quán in Văn
Sao bằng loại giấy có độ bóng, bán ở ngoài phố, chẳng in phần Thư Căn[8].
Đợi đến khi sắp chữ xong cuốn Quán Âm Tụng, tôi sẽ bảo Trung Hoa Thư Cục sắp chữ
thành bản khác, dùng loại giấy nội địa để lưu hành. Trí Khánh đã quy y Phật pháp,
bọn anh ta nhờ ông nuôi nấng, ông hãy trọn chớ nên tỏ ra vẻ [mình đã làm] chuyện
nhân đức trước mặt bọn anh ta. Hễ làm ra vẻ nhân đức thì người ta tuy chịu ân,
nhưng cái tâm cảm ân mỏng nhẹ lắm! “Có mà
giống như không, thực mà giống như giả, vô cớ bị xúc phạm mà chẳng báo thù”[9],
đấy chính là bí quyết mầu nhiệm để cư xử trong gia đình đấy! Ta đãi người bằng
thái độ khiêm tốn, ắt họ sẽ đối xử hòa hoãn với ta. Phần lớn những gia đình bất
hòa đều là do so đo những chuyện nhỏ nhặt không quan trọng mà ra. Buông được
cái tâm ta - người xuống thì bất hòa sẽ tự hòa vậy!
203. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ tư)
Thư
ngày Hai Mươi Chín tháng trước chắc ông đã nhận được rồi. Nói đến nạn hút sách
nghiện ngập thì không chỉ có nha phiến, thuốc lá cũng gây hại thật dữ dội.
Trong lúc đại chúng tụ tập, hãy nên đề xướng, khuyên họ đừng hút hay dùng những
thứ ấy. Người hút lâu ngày ắt sẽ đoản thọ. Phụ nữ hút thuốc nhiều sẽ không thể sanh
nở được. Điều này do một đệ tử của tôi (Triệu Nguyệt Tu vốn là một quan
võ đã sớm đổi nghề, trở thành thương nhân) đích
thân nghe thấy cô giáo ngoại quốc bảo với các nữ học sinh [như vậy]. Hiện thời,
Văn Sao đã sắp chữ bản khác, thêm vào mấy chục bài nữa, khoảng Xuân - Hè năm
sau sẽ in ra sách. Bản này sẽ để cho Thư Cục vĩnh viễn lưu thông. Bản đầu tiên
sẽ in một vạn cuốn, ngoại trừ ba bốn ngàn bộ Quang cần thiết, số còn lại đều để
cho họ định giá bán ra.
Trong lá thư hồi tháng Chín,
ông đã nói đến chuyện con gà, hơi giống như chuyện Dương Bảo cứu chim sẻ thời
Hán[10].
Chúng ta chỉ nên giữ tấm lòng phóng sanh, đừng vương vấn ý niệm mong được hưởng
quả báo Tam Công[11].
Dẫu có quả báo Tam Công, cũng nên đem hết công đức ấy hồi hướng chín phẩm [vãng
sanh] thì mới là chân chánh lợi mình lợi vật vậy!
Tăng Bính bị mắc bệnh là do
túc nghiệp, khi lâm chung chịu niệm Phật là do túc thiện (điều thiện đã làm
trong đời trước). Đã có thể tự niệm, lại được mọi người trợ niệm, chết rồi sắc
mặt rạng rỡ. Có được ba điều ấy chắc được vãng sanh Tây Phương, sao lại nói là
sẽ đọa vào chỗ nào? Đời người gặp phải các cảnh thiện - ác, mỗi mỗi đều có túc
nhân. Đời trước có oán thù, thấy nhau liền ôm lòng giận. Đời trước có ân, thấy
nhau liền sanh lòng yêu mến. Phụ nữ vô tri quen tánh buông lung đến nỗi chẳng
thể chuyển oán thành thân để tiêu trừ túc nghiệp. Người hiểu rõ lý đã biết “[kẻ]
vừa trông thấy liền nổi nóng [là do đời trước có oán thù]” sẽ đối trị sự sân hận
này, càng thêm đối đãi bằng lòng từ ái thì túc nghiệp sẽ được tiêu trừ bởi hiện
nghiệp (nghiệp trong hiện tại) (thiện tâm cũng gọi là nghiệp).
Nếu có thể chí thành khẩn thiết
trì niệm Quán Thế Âm Bồ Tát thì không chỉ được lành bệnh mà thôi! Nếu có thể
chí thành đến cùng cực thì còn có thể liễu sanh thoát tử, cho đến thành Phật.
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Cầu vợ được vợ
(cầu vợ là mong có được vợ hiền thục, trí huệ), cầu con được con, cầu trường thọ
được trường thọ, cầu tam-muội được tam-muội, như thế cho đến cầu Đại Niết Bàn đắc
Đại Niết Bàn”. Đại Niết Bàn chính là cực quả rốt ráo được chứng bởi đức Phật.
Nhưng người đời do lòng tin lẫn sự chí thành trì tụng đều chưa thể đạt tới mức
cùng cực nên tùy theo lòng Thành của kẻ ấy mà được các thứ lợi ích nhỏ nhoi, đừng
nói là [lợi ích] chỉ có thế mà thôi! Hãy nên với trong là người thân trong nhà,
ngoài là hết thảy mọi người, đều đem những chuyện chính mình chứng nghiệm và những
chuyện cảm ứng được thuật trong bộ Quán Âm Tụng để khuyên bảo, ngõ hầu ai nấy đều
được Bồ Tát từ bi che chở, gia bị trong lúc tình thế hoạn nạn này. Đấy chính là
cách dự phòng mầu nhiệm nhất!
204. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ năm)
Hai
lượt thư gởi đến tôi đều nhận được đầy đủ. Lệnh tổ đáng gọi là người đọc sách
thật sự, chẳng phụ sở học. Người đời nay đọc sách thánh hiền nhưng làm chuyện cầm
thú nhiều khôn xiết! Đấy đáng gọi là thái độ của kép hát, đáng xót, đáng than!
Tờ truyền đơn [khuyên mến] tiếc [kính trọng sách vở hay giấy viết] chữ nên đưa tặng
những người có nhiệt tâm thông hiểu văn lý để họ sẽ thúc đẩy, khuyên chỉ [người
khác]. Văn Sao, [Thọ Khang] Bảo Giám nay đã gởi đến rồi. Đêm Hai Mươi Bốn tháng
Chạp năm ngoái, công ty ấn loát bị chập điện, đồ đạc, nhà cửa thuộc căn nhà chánh
ở phía trước đều cháy sạch trơn, sổ sách đều chưa thể đem ra được, may là không
có ai bị thương. Quang bị tổn thất đến hơn hai ngàn đồng do họ ôm lòng gian dối,
chỉ in năm ngàn cuốn (ấn định một vạn)
Văn Sao, hai ngàn cuốn Bảo Giám (ấn định ba ngàn), nhưng họ nói đã in hết cho Quang rồi, đã giao được một nửa. Giá thành
lớn quá, phải trả thêm tiền, đợi cho tiền vào tay họ rồi mới gởi hóa đơn tới,
chỉ giao ra ba ngàn mấy cuốn Văn Sao, một vạn ba ngàn
mấy cuốn Bảo Giám[12].
Tiền đã xài hơn một ngàn mấy, họ nói mùa Xuân năm sau sẽ in. Nào ngờ thiên địa
quỷ thần chẳng dung, hôm trước họ gởi hóa đơn tới, hôm sau liền bị hỏa tai.
Chuyện
này phó mặc cho lương tâm của họ. Sách của Quang có cuốn để ở chỗ đóng bìa, có
cuốn được cất trong căn nhà nhỏ ở phía sau, đều không bị cháy, nhưng bọn họ ôm
lòng gian trá, há không thể nào chẳng mượn cớ bị tai nạn để lươn lẹo, chỉ đành
mặc cho họ làm sao thì làm! Trong tháng nhuận tôi sẽ qua Thượng Hải tiếp tục
in. Phàm những ai đã bỏ tiền in sẽ chiếu theo số tiền mà giao đủ, chẳng thiếu một
đồng nào. Chuyện kết duyên chỉ đành giảm bớt khả năng mà thôi! Xin hãy khuyên mẹ
và vợ ông phải sốt sắng niệm Phật cầu sanh Tây Phương ngõ hầu “thoát được thế
giới khổ sở này, trở thành con người tự tại”.
205. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ sáu)
Thư
ngày Hai Mươi Mốt đã nhận được rồi. Trong tờ truyền đơn [khuyên mến] tiếc [kính
trọng sách vở, giấy viết] chữ, [đối với câu văn] trước câu“Hiếu - đễ - trung - tín - lễ - nghĩa - liêm - sỉ, nếu chẳng ra sức tận
tụy thực hiện tức là đã quên mất tám chữ”; há nên đem sửa chữ “Tự”[13]
(chữ) thành “tiểu tử” thì lời lẽ ấy đã trở thành giọng điệu đầu đường xó chợ chửi
người khác rồi, mà tám chữ tiếp theo (tức tám chữ “hiếu - đễ - trung - tín - lễ
- nghĩa - liêm - sỉ”) cũng đã chẳng phù hợp, nối tiếp [ý câu trên] được nữa! Phàm
văn tự trong Phật pháp có liên quan đến thế đạo và đại thể, quyết chớ nên tùy ý
[sửa đổi] mà cũng chớ nên hoàn toàn đăng y chang theo bản thảo gởi đến. Ngay
như [bài tường thuật buổi] khai thị [của Ấn Quang] ở Nam Viên, toàn là những [lời
lẽ] không hiểu sự việc của am chủ Vô Úy, thật giống như báng Tăng vậy; thế mà
quý báo, Tịnh Nghiệp Nguyệt San, tờ Lâm San của Thiên Tân Cư Sĩ Lâm đều cứ đăng
y nguyên như vậy, đáng than quá sức!
Tác giả bài viết ấy nói Quang
lễ Phật xong bèn hướng về hai phía Đông -Tây hòa-nam. “Hòa-nam” (Vandana) chính
là dập đầu [đảnh lễ]. Há có vị pháp sư nào sắp nói khai thị mà trước hết lại hướng
về kẻ nam người nữ ở phía Đông, phía Tây rập đầu lễ ư? Do Quang lễ Phật xong bèn
hướng về phía Đông, phía Tây chắp tay [tỏ vẻ chào hỏi], người ấy liền nói là
Quang hòa-nam! Thêm nữa, lúc lên tòa ngồi rồi, do [người nghe] ở phía dưới đang
lễ bái, còn chưa ngồi xếp bằng, Quang liền khom mình chắp tay tỏ vẻ cung kính, tác
giả bài viết ấy bèn nói là Quang đứng cạnh tòa rạp mình lạy trả! Nói như vậy
tuy không quá đáng, nhưng cũng rất mất thể thống. Lại còn nói Quang đeo kính
lão, chuyện này không ghi cũng đâu có ảnh hưởng gì? Nếu không có chuyện gì [cần
thiết], Quang một mực chẳng đeo kính lão. Lần này do giảng đoạn thứ nhất và đoạn
thứ ba trong Mộng Đông Ngữ Lục cho đại chúng nên không thể chẳng đeo kính lão
vì mắt quáng chẳng đọc được chữ.
Vị am chủ Vô Úy này (e
rằng người này là Tạ Ngâm Tuyết, vốn là nữ nhân mới xuất gia, ngày hôm ấy bà ta
cũng đến dự pháp hội) quá chuộng thể diện, chỉ sợ
người khác chẳng biết bà ta viết bài văn ấy, chứ chẳng biết bài văn ấy có khuyết
điểm sai lầm! Giống như bài Ấn Quang Pháp Sư Truyện do Mã Khế Tây soạn, đúng là
bịa chuyện mù quáng, đem phàm lạm thánh. Báo Hải Triều Âm vừa đăng tải, ông
Phan Đối Phù bèn cho in một ngàn bản chữ son. Tờ báo của Phật Quang Xã ở An Huy
cũng tính đăng tải, do họ đem bản cảo gởi tới cho Quang, mới chấm dứt được chuyện
ấy, nhưng tờ Phật Giáo Tuần San của Thiểm Tây cũng đã đăng rồi! Những loại văn
chương vừa chẳng ăn nhập gì, lại vừa phá hoại đại thể ấy, đăng tải có ích gì
đâu? Hãy nên xem hai lá thư gởi cho Phan Đối Phù và Mã Khế Tây trong Văn Sao
quyển một sẽ tự biết. Không phải là Quang quá phiền phức, chỉ là mong sao chẳng
bị người khác chê cười mà thôi!
206. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ bảy)
Nhận
được thư và hương châu, cảm ơn. Loại châu này để lâu sẽ nứt vỡ. Năm Quang Tự 30
(1904), Quang đã từng mua rồi, chưa được hơn một tháng đã nứt. Thương nhân chỉ
cầu lợi, há nên để bị họ lừa gạt! Năm ngoái ông đã gởi rồi và những chuỗi ông nhờ
gởi cho người khác tôi cũng đã chuyển giao rồi, lại còn nói chuỗi để lâu sẽ bị
nứt vỡ để người ta khỏi bực mình. Người cháu dâu là Thuần Cô đáng gọi bậc trượng
phu trong nữ giới. Nếu có thể tận hết lòng hiếu, uyển chuyển khuyên ông nội, bố
mẹ chồng khiến cho họ tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, sẽ đáng gọi là đệ
tử thật sự của đức Phật. Nay tôi đặt pháp danh cho cô ta là Huệ Thuần. Nếu có
thể làm được như tôi đã nói (đã viết tường tận trong Văn Sao) thì sẽ là khách quý cõi Cực Lạc, là đạo sư trong cõi
Sa Bà, nhưng do tôi đang ở chỗ tạm ngụ, bận bịu, chẳng thể nói tường tận được. Hãy
bảo cô ta đọc kỹ Văn Sao thì sẽ chẳng khác gì tôi đã nói chi tiết với cô ta. Hãy
noi theo pháp tắc của hai bà phi thuở Đường Ngu, ba bà Thái đời Châu và bà mạng
phụ Thái Cô (chữ 大家 phải đọc là Thái Cô 太姑), xin hãy đưa thư này cho cô ta đọc.
207. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ tám)
Đã
nhận được hai lá thư, nhưng do bận việc bên ngoài chẳng được rảnh rỗi, nên chưa
trả lời. Sách Từ Bi Kính đã gởi đến Phổ Đà, chưa từng chuyển đi, đừng lo. Nay lại
nhận được thư của hãng Càn Mậu ở Ninh Ba cho biết ông đã gởi món tiền mười sáu
đồng. Từ nay về sau, hễ gởi tiền nên gởi thẳng cho hòa thượng Chân Đạt ở chùa
Thái Bình, bến Trần Gia, Thượng Hải thì không phải qua thủ tục chuyển đi nữa,
sao không làm theo cách đã nói trước đây? Nay tôi gởi cho ông mười gói Văn Sao.
Sách Thọ Khang Bảo Giám ở Thượng Hải không có nhiều, đợi khi nào sách ở Hàng
Châu in xong sẽ lại gởi. Lệnh chánh, lệnh lang[14]
đã có thiện căn từ đời trước, hãy nên làm cho họ phát tâm dài lâu, ngõ hầu đích
thân được hưởng lợi ích thật sự. Thế đạo hiện thời nguy hiểm đến cùng cực, nếu
chẳng niệm Phật và niệm Quán Âm sẽ không nương tựa vào đâu được!
208. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ chín)
Do
sách Quán Âm Tụng ấn loát chậm trễ, tôi đã sang đất Thân (Thượng Hải) vào mồng
Một tháng Tám để đốc thúc ấn hành. Quang chẳng mong muốn hết thảy điều gì, chỉ mong
các vị nhất tâm niệm Phật, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện mà
thôi! Hôm Hai Mươi Ba trở về núi, do nhọc nhằn bên ngoài, mắt hơi bị bốc hỏa,
nhưng vì mọi việc dồn lại, mỗi ngày vẫn gắng gượng trả lời dăm ba bức thư. Muốn
cho mắt mau lành bèn bôi thuốc ba bốn lượt, gần như suốt hai mươi ngày chẳng thể
xem văn tự được! Bản sắp chữ thử của bộ Văn Sao dồn lại hơn một trăm trang [phải
giảo duyệt], đủ mọi thứ bận bịu, hằng ngày không được rảnh rỗi, tuy đã nhận được
thư ông nhưng không trả lời. Mẹ và chị dâu ông (đối với mẹ ông lại càng
nên uyển chuyển khuyên cụ sanh lòng tin, phát nguyện thì cách thể hiện lòng hiếu
trong thế gian chẳng thể nào sánh bằng được) đã
đều phát lòng tin; hãy nên thường dựa theo những gì Văn Sao đã nói để kể với họ.
Lần này tôi không rảnh rỗi để khai thị. Văn Sao chính là một bộ khai thị lớn đấy!
Quán Âm Tụng in sáu vạn bộ
trong năm nay, phàm [sách của] những người bỏ tiền ra in và [sách] cần cho chính
mình, đều giao sạch hết rồi. Lại có một người bảo Quang kết duyên một vạn sáu bảy
ngàn bộ, năm sau sẽ in ra để kết duyên từ từ. Văn Sao năm sau mới có thể in được.
Lại còn in sách Bất Khả Lục cùng một lúc. Quán Âm Tụng đã cho khắc ván, ước chừng
mùa Thu năm sau sẽ xong. Phí tổn khoảng năm trăm đồng do chỉ riêng một cư sĩ
phát tâm để đáp ứng [nhu cầu của những ai] thỉnh sách lặt vặt về đọc sau này.
Thế đạo hiện thời đúng là thế
đạo hoạn nạn, mọi người đều ở trong cảnh hoạn nạn, may mắn được nghe Phật pháp
hãy nên sốt sắng niệm Phật, ngõ hầu cậy vào Phật từ lực để hễ sống sẽ gặp nguy
thành an, nếu chết sẽ vượt thẳng khỏi biển khổ, về ngay Liên Trì. Sự tích [được
ông kể] trong lá thư trước, tôi cũng không rảnh rỗi để bàn cặn kẽ. Nay viết thẳng pháp danh đã đặt vào đơn xin
quy y, đem gởi lại. Hãy dạy họ ai nấy đều nỗ lực giác ngộ, phản tỉnh. Bảo Cô
càng phải nên nỗ lực, vì chúng sanh đang mê thì phải thường giác chiếu, ngõ hầu
chẳng đến nỗi bị trần tình (những tình niệm trong cõi trần) phá hoại tiết tháo
trong sạch. Ngày nào còn chưa chết, ngày ấy chớ nên buông lung, thì mới có thể
nhận lãnh trọn vẹn, trở về trọn vẹn. Vì thế, khi lâm chung Tăng Tử bảo các đệ tử:
“Kinh Thi viết: Dè dặt kinh sợ như vào vực
sâu, đi trên băng mỏng, từ nay trở đi, ta biết thoát khỏi”. Hết thảy mọi
người đều nên như thế, mà quả phụ, trinh nữ càng phải nên gắng sức ngõ hầu trở
thành bậc thầy gương mẫu cho nữ giới, giữ vững khuê khổn (chốn khuê các) vậy!
209. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười)
Sách
Tân Sanh Cơ Hiệt Yếu (trích yếu cơ hội sống mới) cũng có thể dùng để dứt trừ giết
chóc dần dần, nhưng há nên sao lục những lời phê bình nếp sống cũ vào đấy? Tác
giả chỉ thấy cái xấu của lối sống cũ, [chẳng thấy] nam nữ theo lối mới tự do
luyến ái, đả đảo luân thường, đả đảo liêm sỉ, con giết cha vẫn được khen thưởng!
Trường học Mỹ Thuật bảo mấy đứa con gái trần truồng, mấy chục thằng học trò xúm
quanh, tùy theo nhìn từ góc độ nào mà vẽ vời, coi như một môn học. Những phụ nữ
vô liêm sỉ ấy còn được coi như giáo viên, mỗi tháng được trả lương bao nhiêu
đó. Mới mẻ kiểu đó há có ích gì cho thế đạo nhân tâm? Muốn vãn hồi thế đạo nhân
tâm há nên đăng tải những thứ ngôn luận ấy, cũng chẳng đoái hoài đến tông chỉ của
mình. Sau này, phàm những lời lẽ ma mị, mù quáng, nhiễu loạn chớ nên đăng tải,
để khỏi bị người sáng mắt chê cười.
[Tác giả bài viết] Tịnh Nghiệp
Xã Ký chẳng hiểu sự vụ, nói bừa đạo lý, [người ta] chắp tay mà bảo là
“hòa-nam”, ngồi xuống chưa xếp bằng liền bảo đứng trước tòa. Quang chán nhất là
văn tự ghi chép của người khác, bởi kẻ ghi chép quá nửa chẳng đúng pháp. Thư
hôm trước chưa gởi tới, cũng chẳng cần phải gởi nữa. Quang bận rộn quá sức,
không rảnh rỗi để xem. Ông yêu cầu gởi năm gói Văn Sao và ba gói Thọ Khang Bảo
Giám, đóng sách cẩn thận xong liền gởi đi ngay.
210. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười một)
Mồng
Năm tháng nhuận Quang xuống núi, mồng Bảy tới đất Thân. Khoản tiền mua cá ở Tây
Hồ như đã nói thì lúc này không cần chi ra nữa. Lúc này, khoản tiền cần gấp nhất
là tiền [mua thức ăn để] nuôi chó, do chánh quyền thành phố Hàng Châu sai người
đi bắt chó hoang trên đường phố rồi giết bằng cách quăng xuống sông Tiền Đường.
Đã dìm chết một trăm mấy chục con rồi! Hội Phật Giáo xin họ giao cho hội Phật
Giáo, nay đã gần đến hai ngàn con. Mỗi ngày tiền thức ăn cho một con chó ăn là
một xu năm chinh[15],
hai ngàn con thì mỗi ngày cần đến ba chục đồng; lại còn phải cử người trông
nom, [những con chết rồi] còn phải tốn tiền hỏa thiêu v.v… Quang cũng quyên tặng
một trăm đồng, lại kêu gọi bạn bè quyên tặng được bốn năm trăm đồng. Quý hội muốn
giúp cho khoản này, hãy nên gởi về Công Đức Lâm ở cầu Long Tường, Chợ Mới, Hàng
Châu, giao cho cư sĩ Chung Khang Hầu. Ông ta nhận được tiền sẽ gởi biên lai thông
báo.
Hiện thời gió mây biến huyễn,
sáng - tối khác nhau, không có chuyện gì cần thiết đừng đến. Nếu có chuyện gì cần
đến, xin hãy sang chùa Thái Bình ở bến Trần Gia, Thượng Hải hỏi thăm; nếu Quang
chưa về núi sẽ có thể gặp mặt ở đất Thân. Năm ngoái, công ty ấn loát Chiết
Giang bị cháy, nay đã giao cho Đại Trung Thư Cục ở Thượng Hải in năm ngàn bộ Văn
Sao (mỗi bộ bảy cắc), sáu ngàn bộ An Sĩ
Toàn Thư (mỗi bộ năm cắc chín xu), [xưởng
in] Hàng Châu bồi thường chi phí một ngàn sáu trăm đồng, [tôi đem khoản tiền ấy]
in hai vạn cuốn Thọ Khang Bảo Giám. [Xưởng in thuộc] nhà giam Tào Hà Kính in Di
Đà Kinh Bạch Thoại Giải hai vạn cuốn (mỗi cuốn một cắc năm xu), hai vạn cuốn Gia Ngôn Lục (mỗi cuốn một cắc bảy
xu năm chinh), in một vạn cuốn Cảm Ứng Thiên Trực
Giảng (mới cho sắp chữ, ước chừng năm chục trang). Nếu các sách này xong xuôi, năm sau Quang sẽ ẩn lánh ở
nơi không có đường bưu điện để chuyên tu Tịnh nghiệp, ngõ hầu khỏi đến nỗi lâm
chung chân tay cuống quýt, gây nhục cho pháp môn!
211. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười hai)
Món
tiền quyên tặng bốn trăm đồng gởi đến chùa Thái Bình hôm trước, ngày hôm sau
tôi giao cho cư sĩ Ngụy Mai Tôn làm chi phí cứu trợ đất Lỗ (Sơn Đông). Ngày hôm
sau nữa, ông Mai Tôn liền đưa biên nhận đến. Do ông nói là đến cuối tháng mới
trở về; lúc về còn muốn ghé qua nên tôi giữ [biên nhận ở đây] để chờ ông. Đến
nay ông chưa tới nên tôi nghĩ ông đã về rồi. Vì thế, đem [biên nhận] gởi đi để
trong hội khỏi có chuyện hiềm nghi. Ước chừng đến Rằm Quang sẽ về núi, tháng Bảy
lại sang đất Hỗ (Thượng Hải) để lo chuyện thỉnh sách, in sách. Di Đà Kinh Bạch
Thoại, Gia Ngôn Lục lần này chẳng còn được mấy, đợi đến đợt in lần sau sẽ gởi
cho ông. Lần này nếu Văn Sao còn dư sẽ gởi cho ông mấy gói. Di Đà Kinh Bạch Thoại
Chú, Gia Ngôn Lục gởi nhiều lắm là một gói.
212. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười
ba)
Nhận
được thư vào ngày Rằm tháng Năm, biết ông do qua lại mệt nhọc, hư hỏa bốc lên,
chắc là bệnh mắt đã lành từ lâu rồi. Nếu vẫn còn chưa lành, hãy nên chí tâm niệm
thánh hiệu Quán Âm, ắt sẽ có công hiệu ngay. Biên nhận khoản tiền quyên tặng bốn
trăm đồng tôi đã gởi qua bưu điện hôm mồng Bảy tháng Năm, chắc đã nhận được rồi.
Thoạt đầu vì ông nói sẽ trở lại nên tôi đợi. Đến hôm mồng Bảy, biết đã [đến lúc
Quang] phải về rồi, nên [đem biên nhận] gởi qua bưu điện. Những người nắm quyền
hiện thời hệt như đổ từ một khuôn, đối với việc uốn nắn nhân tâm, uốn nắn phong
tục v.v… đều bỏ mặc không hỏi tới, phàm những biện pháp chuẩn bị sẵn để đuổi Tăng,
đoạt tài sản đều coi như nhiệm vụ quan trọng, không chi lớn bằng, phải thiết thực
tiến hành. Đang trong lúc chớ nên thõng tay thờ ơ đứng nhìn này, pháp sư Viên
Anh vẫn còn đang ở Tuyền Châu chắc đang tính toán cứu vãn, có lẽ chẳng đến nỗi
khốc liệt quá đáng!
213. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười bốn)
Thư
tôi viết hôm mồng Năm tháng Sáu chắc ông đã nhận được rồi. Nay nhận được thư
ông đề ngày Hai Mươi Mốt tháng Năm, cho biết bệnh mắt vẫn chưa lành, nhưng khí
trời nóng bức không chỗ nào tránh né được, lại còn bị dịch thời khí[16].
Đấy là do ác nghiệp đồng phận của chúng sanh chiêu cảm, xin hãy bảo khắp người
làng cùng kiêng sát sanh, niệm thánh hiệu Quán Thế Âm, để mong tật dịch tiêu diệt.
Nếu có thể khẩn thiết chí thành, chắc chắn có hiệu nghiệm lớn lao. Ngay như bệnh
mắt của ông cũng sẽ do tuyên nói rộng rãi lời này mà được lành bệnh. Biển khổ rộng
mênh mông, Quán Âm là bậc cứu độ. Nếu ai nấy chí thành trì tụng mà bị chết vì tật
dịch thì trời đất cũng sẽ đổi ngôi, mặt trời, mặt trăng cũng sẽ xoay ngược! Nếu
hời hợt, hờ hững niệm thầm một hai câu mà muốn được hiệu quả khởi tử hồi sanh
ngay, tuy Bồ Tát đại từ [cũng chẳng làm sao được]! Chẳng phải là Ngài không chịu
cứu tế, nhưng vì tâm kẻ ấy chẳng chân thật, thiết tha, quyết khó thể cảm thông
được! Mong hãy nói cặn kẽ [những điều này] với người làng thì may mắn lắm thay!
214. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười
lăm)
[Qua
thư ông], biết ông đã nhận được biên lai lần trước rồi, nay lại nhận được đầy đủ
cả nguyệt san lẫn báo cáo phóng sanh. Thánh hiệu Quán Âm chính là chỗ nương tựa
lớn lao cho hiện thời, hãy nên khuyên hết thảy mọi người cùng niệm. Nếu là người
tu Tịnh nghiệp, hãy nên chuyên niệm [thánh hiệu Quán Thế Âm] ngoài những lúc niệm
Phật. Đối với kẻ chưa phát tâm hãy dạy họ chuyên niệm vì họ dốc chí mong được Đại
Sĩ che chở, gia bị ngõ hầu tiêu diệt tai họa. Đợi cho đến khi họ đã sanh được
lòng tin, lại dạy họ lấy niệm Phật làm chuyện chánh, niệm Quán Âm để phụ trợ.
Nhưng niệm Quán Âm để cầu sanh Tây Phương thì cũng được như nguyện.
215. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười
sáu)
Năm
ngoái đã hai lần nhận được thư của ông, nhưng vì bận bịu chưa trả lời được. Hạ
tuần tháng Hai năm nay, tôi sẽ sang Thượng Hải lo toan việc in sách, tháng Sáu vẫn
trở về núi. Tháng Bảy xuống núi sẽ chẳng quay về nữa. Tháng Tám, tháng Chín, in
sách xong xuôi, sẽ giấu kín tung tích, ẩn lánh ở nơi không một ai biết đến để
mong sống hết những năm còn sót lại này ngõ hầu chuyên tu Tịnh nghiệp. Nếu
không, cứ suốt ngày bận bịu vì người khác, ắt sẽ hỏng đại sự vãng sanh Tây
Phương của chính mình. Gần đây, tinh thần ngày một giảm, chuyện thù tiếp ngày
càng nhiều. Nếu chẳng lánh đi, sau này sẽ càng khó thể chống chọi được nữa! Người
trong Phật pháp đều cùng mơ màng, chẳng xét đến đại thể, chỉ mong thuận tiện
cho chính mình, đến nỗi pháp đạo ngày một suy, kẻ lấn hiếp bên ngoài ngày một
đông. May là có những vị cư sĩ hộ vệ, nên còn chưa bị diệt ngay. Nếu không,
danh xưng Phật pháp đã sớm chẳng còn được nghe trong cõi đời hiện tại rồi! Gần
đây, lòng người bại hoại, bại hoại đến tột cùng, nhưng người có tu trì được cảm
ứng khá nhiều, nên vẫn còn duy trì được phần nào. Nếu không, Phật pháp sẽ bị mất
tích từ nay, buồn thay!
216. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười bảy)
Thư
nhận được đầy đủ. Phong trào hủy Phật chỗ nào cũng có. Nếu không có người chống
đỡ, Phật pháp sẽ bị đoạn diệt. Với mười đồng ông đã gởi, tôi sẽ gởi mười bộ
Khuê Phạm, mỗi bộ [cộng chung] tiền giấy và tiền công in là tám cắc tám xu. Kèm
thêm trong gói sách là hai cuốn Âm Chất Văn Đồ Chứng và hai gói Quán Âm Tụng để
kết duyên. Trường nữ sinh Nam Hoa nếu có được sách này để làm khuôn mẫu tốt đẹp
thì tất cả nữ sinh sẽ đều có thể trở thành những tấm gương đẹp đẽ trong chốn
khuê các, tạo điển hình cho nữ giới. Năm ngoái đã in ba ngàn bộ, năm nay vốn muốn
in nhiều hơn, nhưng do thời cuộc không yên, chỉ in được hai ngàn năm trăm cuốn.
Trong tháng Chín, Quang nhất định
ẩn kín tung tích, tất cả những sách có Chỉ Bản đều giao cho Cư Sĩ Lâm trông coi.
Hễ có ai phát tâm đứng ra in với số lượng lớn thì chẳng ngại gì trao đổi với họ.
Khuê Phạm được in bằng lối Thạch Bản, chẳng tiện ấn loát. Nếu có ai in với số
lượng lớn như hai ba ngàn cuốn thì phải hỏi Cư Sĩ Lâm xem họ có đảm nhiệm được
hay không? Thơ ông Uông và thơ của ông đều hay, nhưng Quang trọn chẳng hiểu
thơ, lại còn bận bịu cùng cực, nay đem gởi trả lại kèm theo thư. Không có chuyện
gì quan trọng, đừng nên gởi thư đến. Nếu đến tháng Chín thì muôn phần đừng gởi
thư tới nữa để khỏi bị hỏng việc.
217. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười
tám)
Ông
nói lúc Quang sắp ẩn dật hãy ban cho ông một lá thư để làm khuôn phép, vậy thì
một bộ Văn Sao đều là lời lẽ thừa thãi ư? Ông Trình nói: “Tuân sở văn, hành sở tri, hà tất cập môn cầu ngô tai?” (Tuân theo
những điều đã nghe, hành theo những điều đã biết, cần gì phải đến trước cửa cầu
ta nữa?) Nay tôi chỉ nói “đôn luân tận phận,
nhàn tà tồn thành, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, chân vị sanh tử,
phát Bồ Đề tâm, dĩ thâm tín nguyện, trì danh hiệu Phật” (giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận; dứt lòng tà, giữ lòng thành; đừng làm các điều ác, vâng giữ
các điều lành, thật vì sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu, trì danh
hiệu Phật). Nếu có thể y theo tám câu ấy mà hành thì làm bậc hiền thánh, liễu
sanh thoát tử đều có dư.
Điều quan trọng mầu nhiệm
trong Phật pháp chỉ là ở lòng Thành! Ông giữ được lòng Thành từ đầu đến cuối
thì không có gì để nói nữa. Hãy nên vứt ra ngoài Đông Dương đại hải [những
thói] bàn luận điều huyền lẽ diệu, khua môi múa mép, cầu thần thông, thì mới có
thể đích thân đạt được lợi ích thật sự, huống là những kẻ vẫn coi luyện đan vận
khí là đạo ư? Ba bà thủ tiết ấy đều có thể ăn chay, niệm Phật, hãy nên dạy họ
quyết định cầu sanh Tây Phương, đừng nên cầu phước báo trời người, ngõ hầu chẳng
phụ mấy chục năm giữ tiết tháo băng khiết. Trần Đức Phương pháp danh là Trí Đức,
Trương Phổ Đường pháp danh là Trí Phổ, Châu Duyệt Thiền pháp danh là Trí Thiền.
Bọn họ đã đều sống trong chùa miếu, hãy nên chí thành cung kính, lễ bái, trì tụng,
đừng xen tạp luyện đan, vận khí, hoặc nhập thần phụ quỷ (lên đồng, hầu bóng) v.v…
để chèo kéo kẻ vô tri cung kính, cúng dường. Nếu được như thế sẽ đúng là đệ tử
Phật thật sự, quyết định sẽ có thể thoát khỏi cõi Sa Bà này, sanh sang cõi Cực
Lạc kia ngay trong đời này. Tôi sợ bọn họ không thông hiểu văn lý cho lắm, xin
ông hãy phương tiện diễn nói với họ, khiến cho họ hiểu Phật pháp vốn tự sẵn có
đạo lý chân thật. Trí Giác hành trì đáng gọi là khó có. Đấy gọi là “bầu bạn trong pháp môn, bạn bè xuất thế, tại
gia học đạo”. Những người này có thể thay đổi phong tục, may mắn chi hơn?
218. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ mười
chín)
Đã
nhận được mười sáu đồng rồi, đừng lo, sẽ dùng làm chi phí gởi sách. Đã nhận được
Khai Sĩ Truyện rồi. Hiện thời đang trong tình thế hoạn nạn, trừ Đại Sĩ ra, còn
biết nương tựa vào đâu? Nếu có thể chí thành khẩn thiết, quyết định được Ngài
ngầm gia bị. Do vậy biết tâm Bồ Tát và tâm chúng sanh về bản thể giống hệt nhau
không khác. Chỉ vì chúng sanh mê trái nên đến nỗi cách ngăn; nếu vì gặp lúc hoạn
nạn, chuyên tâm ức niệm, sẽ tự có thể lập tức thấy cảm ứng. Ví như kẻ đội chậu úp
thường chẳng thấy được mặt trời. Nếu bỏ [cái chậu] che úp ấy đi, cố nhiên mặt
trời ở ngay trên đỉnh đầu. Xin hãy nói với hết thảy mọi người về sự linh cảm của
Bồ Tát để ai nấy thường niệm. So với những kẻ bàn huyền luận diệu có ích hơn rất
nhiều!
219. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ hai
mươi)
Quang
vốn tính đến cuối tháng Chín sẽ ẩn mình, nhưng vì nhân duyên ấn hành bộ Lịch Sử
Cảm Ứng Thống Kỷ mà chần chừ. [Các đệ tử ở] Hương Cảng đã sớm gởi thư, đánh điện
thôi thúc, tháng Giêng năm sau sẽ đi. Chuyện sang sống nhờ ở Hạ Môn thôi đừng
bàn tới nữa! Mấy bữa nữa sẽ gởi cho ông mấy gói Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ. Sách
này có thể dùng làm căn cứ để vãn hồi thế đạo nhân tâm. Lần này tôi bảo họ làm
thành hai bộ Chỉ Bản để mỗi bản sẽ in được hai vạn bộ.
220. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ hai
mươi mốt)
Lệnh
từ[17]
và Trí Giác khốn khổ bởi Tỳ Ngược[18]
đã lâu, may đã lành bệnh. Nay tôi gởi cho một toa thuốc thần diệu chữa bệnh sốt
rét, xin hãy ấn tống để mọi người cùng hàng đều được thoát khỏi nỗi khổ này.
* Toa thuốc
thần diệu trị bệnh sốt rét
Ô mai (hai quả), hồng táo (hai quả), hồ đậu (một tuổi là một hạt, như người một tuổi liền viết một hạt, mười tuổi liền viết mười hạt, chiếu theo đây mà suy)
Dùng
một tờ giấy trắng viết ba thứ này. [Số lượng] ô mai và hồng táo đều cố định, chỉ
có hồ đậu là dựa theo số tuổi [của bệnh nhân] mà viết. Viết xong, gấp lại, xếp
thành lớp; trước khi lên cơn một tiếng đồng hồ, buộc chặt vào cổ tay (tức
khoảng giữa phần trên bàn tay, phía dưới khủy tay),
bệnh sẽ không phát ra nữa. Cũng chẳng cần phải mua ba thứ ấy, chỉ cần viết những
chữ ấy là được rồi. Toa thuốc này linh nghiệm chẳng thể nghĩ bàn. Lúc buộc đừng
nói cho ai biết, chỉ cần phân biệt nam [buộc] bên trái, nữ [buộc] bên phải.
Ông
Tào Tung Kiều ở Tô Châu năm ngoái đã đem toa thuốc này in ra rất nhiều. Ông ta
xuống làng thu tô đã bảo họ chia nhau đem tặng. Dân quê dốt nát không biết chữ
bèn đem tờ giấy đã in [toa thuốc] ấy quấn vào tay chứ chẳng viết gì khác thì bệnh
cũng không phát. Ông chẳng chú ý, bài thuốc này đã chép ở cuối bộ An Sĩ Toàn
Thư, hiềm rằng chữ quá nhỏ, người ta không để ý. Hãy nên in ra để biếu tặng rộng
rãi thì thật là lợi ích không chi lớn bằng. Tụng kinh Pháp Hoa cũng cần phải
đem công đức ấy hồi hướng vãng sanh Tây Phương thì mới chẳng khác gì công đức
niệm Phật. Nếu chẳng hồi hướng Tây Phương thì chính là tự phân tâm, niệm chẳng
quy nhất, lâm chung sẽ khó chắc chắn được vãng sanh. Đây quả thật là điều trọng
yếu nhất!
221. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ hai
mươi hai)
Nhận
được thư, biết mấy năm gần đây cả nhà yên vui, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Mười
đồng ông đã tặng sẽ dùng làm chi phí in sách. Gần đây, Quang mục lực lẫn tinh
thần đều không đủ. Mười mấy ngày gần đây bận bịu giảo chánh đối chiếu cho người
khác, thư từ chất lại hai mươi mấy bức đều chưa trả lời. Đã cự tuyệt thư từ vào
mùa Đông năm ngoái, phàm hễ ai gởi thư đến đều nói “từ nay về sau đừng gởi thư
đến nữa. Gởi đến quyết không trả lời”, nhưng thư vẫn cứ cuồn cuộn gởi tới y như
cũ do giao thông quá thuận tiện.
222. Thư trả
lời cư sĩ Châu Bá Tù (thư thứ hai
mươi ba)
Thư
nhận được đầy đủ. Kinh tế khó khăn, hãy nên sống đơn giản, chất phác, chớ nên gắng
gượng chống giữ thể diện. Xin hãy bỏ chuyện sang Nam Dương đi. Từ năm Dân Quốc
17 (1928), quá nửa số thương gia ở Nam Dương bị phá sản. Có người sang Nam
Dương quyên mộ, đều chẳng xin được đủ lộ phí [để trở về]! Nam Dương coi mủ
cao-su là sản phẩm xuất cảng bậc nhất, chánh phủ Anh nghiêm cấm bán rẻ [sản phẩm
này]. Mỗi gánh [mủ cao-su] giá một trăm sáu mươi mấy đồng. Năm Dân Quốc 17
(1928) bị người nước nọ lừa gạt, nói: “Nếu không bán rẻ thì chưa đầy hai năm, cây
[cao-su] trong nước tôi đủ lớn sẽ không ai mua hàng hóa của các ông nữa đâu!” Họ
bèn lén lút bán, một nhà bán rồi cả thành phố bán, chưa đầy một tháng có tới mấy
chục đại thương gia vỡ nợ, hiện thời giá [mủ cao-su] càng rẻ không thể tưởng tượng
được. Một đệ tử của Quang kể với Quang tình cảnh ấy.
Vì thế, thầy Tu Viên, đệ tử
hòa thượng Hư Vân chùa Vân Thê ở Vân Nam, thấy chùa Vân Thê thiếu hụt, muốn
sang Nam Dương hóa duyên, Quang khuyên đừng đi, [thầy ấy] không nghe. Về sau
Vân Nam phải gởi tiền sang, [thầy ấy] mới về nước được! Tiền hóa duyên được ở
Nam Dương còn chưa đủ trả tiền tàu xe! Quang gần đây mục lực quá yếu, không có
chuyện gì mười phần quan trọng đừng gởi thư tới nhé!
223. Thư trả
lời cư sĩ Tạ Tử Hậu