Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên,
Quyển Hạ
Phần 4
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành
nhân Minh Tiến & Huệ Trang
III. Ký
1. Bi ký trình bày sự thần dị của suối Bát Công Đức thuộc
Tam Thánh Thiền Viện núi Phổ Đà
Quán Thế Âm Bồ
Tát tùy loại hiện thân trong mười phương thế giới, tầm thanh cứu khổ, nhưng vẫn
lấy Phổ Đà làm cuộc đất ứng hóa, [là vì] muốn cho hết thảy tứ chúng có chỗ để
gieo lòng thành. Sự từ bi linh cảm của Bồ Tát cố nhiên ai nấy đều biết rõ, ngay
cả một hòn đá, một giòng nước, không gì chẳng tỏ rõ dấu tích chẳng thể nghĩ bàn
của Bồ Tát. Những hòn đá kỳ lạ ở Phổ Đà cố nhiên nhiều lắm, nhưng chỉ có Bàn Đà
Thạch[1]
là bậc nhất. Người hiểu lý trông thấy tảng đá này thì thần thông, oai đức chẳng
thể nghĩ bàn của Bồ Tát chẳng cần phải đợi nói tường tận mà sẽ đều ngộ giải cả.
Những cuộc đất gần biển thì nước đều mặn chát, chẳng thể dùng để uống được; [vậy
mà] khắp núi Phổ Đà nước đều ngọt ngào, tuy là cuộc đất ở sát bên biển mà trọn
chẳng có nước mặn, nhưng con suối Bát Công Đức thật là bậc nhất!
Theo
Sơn Chí, vào thời Vạn Lịch nhà Minh, vị Tăng tên Đại Phương dựng lều tranh nơi
đây. Năm [Vạn Lịch] ba mươi (1602), nội giám[2]
Trương Tùy, Đảng Lễ vâng chiếu đốc thúc xây cất điện chứa kinh, nhàn du đến nơi
đây, uống nước thấy ngọt ngào, nghe [Tăng chúng] kể lại dẫu hạn hán hay lũ lụt,
[nước suối] vẫn không tăng, không giảm, hễ cầu mưa ắt lấy nước từ nơi đây, liền
quyên tiền dựng Tam Thánh Đường, đặt tên cho con suối ấy là Bát Công Đức. Ấy là
phỏng theo tên nước trong ao bảy báu nơi Cực Lạc thế giới. Suối Bát Công Đức do
Tam Thánh Đường mà được tên, Tam Thánh Đường do nước tám công đức mà khởi đầu; ấy
gọi là do thời tiết nhân duyên cho nên có chuyện chẳng mong cầu mà tự được!
Theo kinh Phật, nước [cõi Cực Lạc] có tám công đức là:
1) Trong trẻo: Khác
với [nước ở] phương này [thường] nhơ đục.
2) Sạch mát: Khác
[với phương này nước thường] lạnh hay nóng.
3)
Ngọt ngào: Khác [với phương này nước thường] mặn, nhạt, hay vị rất tệ.
4) Mềm nhẹ: Khác [với
phương này nước thường] nặng nề.
5) Trơn láng,
tươi tắn: Khác [với phương này nước thường] tù đọng, màu sắc ủ dột, bệch bạc.
6) An hòa: Khác [với
phương này nước thường] chảy xiết, dữ dội.
7) Trừ đói khát:
Khác [với phương này, nước thường] gây [cảm
giác] lạnh lẽo.
8) Trưởng dưỡng
các căn: Khác [với phương này nước] gây tổn hoại các căn và tạo ra tật dịch,
tăng thêm bệnh tật, chết chìm v.v…
Chúng sanh đời
trược nghiệp lực sâu nặng đến nỗi nước cõi này không có những công đức, lực dụng
ấy. So với những loại nước thông thường khác, nước suối Bát Công Đức có rất nhiều
công đức. Vì thế, đặc biệt nêu rõ để tỏ bày dấu tích chẳng thể nghĩ bàn của Bồ
Tát ngõ hầu những người sống trong núi và những ai đến núi chiêm bái sẽ từ mỗi
tảng đá, mỗi giòng nước đều có thể ngộ sâu xa thường lý viên thông, hòng lấy
tâm Bồ Tát làm tâm [của chính mình], lấy sự nghiệp của Bồ Tát làm sự nghiệp [của
chính mình] vậy!
2. Bài ký về chuyện xây dựng đại điện của đạo tràng chuyên
tu Tịnh nghiệp tại núi Linh Nham
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Kinh Hoa Nghiêm mầu
nhiệm lý sự viên dung, Lý do Sự hiển, Sự do Lý thành. Lý lẫn Sự đều đạt đến tột
cùng, viên chứng Tỳ Lô Pháp Thân. Vì thế, lúc đức Như Lai mới thành Chánh Giác
bèn cùng với các vị Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị là Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác nói các pháp môn và các pháp nhân quả
do đức Như Lai đã tự chứng. Nhân quả chính là Sự, pháp do đức Như Lai tự chứng
chính là Nhất Chân pháp giới[3],
Chân Như Phật Tánh tịch - chiếu viên dung, bất sanh, bất diệt, chẳng phải có,
chẳng phải không. Phật Tánh ấy nơi phàm chẳng giảm, tại thánh không tăng. Phật
do chứng rốt ráo nên thường hưởng pháp lạc Thường - Lạc - Ngã - Tịnh[4];
chúng sanh do triệt để mê nên hằng chịu nỗi khổ huyễn vọng sanh tử luân hồi. Ví
như tấm gương báu tròn lớn bị bụi phủ cả kiếp, tuy có ánh sáng chiếu trời soi đất
nhưng không do đâu tỏ lộ để thụ dụng được. Vì thế, nhờ vào các vị Bồ Tát cùng
nhau xướng đáp để nói ra các pháp môn Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi
Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác. Lại còn dùng mười đại nguyện vương hướng dẫn về Cực
Lạc để mong viên mãn Phật Quả. Đấy chính là đức Như Lai dùng nhân quả tự chứng
để làm một khuôn mẫu lớn lao hòng dạy khắp hết thảy chúng sanh, khiến cho ai nấy
đều đích thân chứng đắc. Kinh Hoa Nghiêm riêng thích hợp cho căn cơ Đại Thừa; chứ
Nhị Thừa, phàm phu chẳng thể vâng nhận được! Vì thế, trong hội Phương Đẳng, đức
Phật đặc biệt nói ra ba kinh Tịnh Độ để dù phàm hay thánh đều cùng chuyên chú
tu trì, ngõ hầu trong đời này thoát khỏi cõi Ngũ Trược đây, lên được cõi sen chín
phẩm kia.
1)
Trong núi Linh Thứu nước Ma Kiệt Đề, đức Phật nói đến nhân địa đầu tiên của đức
Phật A Di Đà: Bỏ nước xuất gia, phát ra bốn mươi tám nguyện, lại trải qua nhiều
kiếp dài lâu tu hành đúng như lời nguyện cho đến khi phước huệ viên mãn, được
thành Phật đạo, cảm được thế giới trang nghiêm, mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được,
mười phương chư Phật đều cùng tán thán. Mười phương Bồ Tát và hàng Nhị Thừa hồi
Tiểu hướng Đại lẫn phàm phu đầy dẫy Hoặc nghiệp đều được vãng sanh, được bình đẳng
nhiếp thọ. Đấy là Vô Lượng Thọ Kinh.
2)
Trong vương cung nước Ma Kiệt Đề, nói ba phước Tịnh nghiệp, mười sáu phép Quán
mầu nhiệm để hết thảy chúng sanh hiểu rõ những nghĩa “tâm này làm Phật, tâm này là Phật, biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ
tâm tưởng mà sanh. Tâm này làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh. Biển nghiệp
phiền não của chúng sanh từ tâm tưởng mà sanh” vượt ngoài ngôn ngữ. Nếu có
thể hiểu được sâu xa nghĩa này, ai chịu bị luân hồi oan uổng? Cuối kinh nói rõ những
nhân vãng sanh của chín phẩm ngõ hầu ai nấy đều tu Thượng Phẩm. Đó là Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh.
3)
Nơi vườn Cấp Cô Độc nước Xá Vệ, nói diệu quả y báo, chánh báo của Tịnh Độ để
[người nghe] sanh lòng tin, khuyên người nghe hãy nên phát nguyện cầu vãng
sanh, dạy hành giả lập hạnh chấp trì danh hiệu. Ba điều Tín - Nguyện - Hạnh là
cương tông của pháp môn Tịnh Độ. Đầy đủ ba pháp này rồi, hoặc suốt một đời chấp
trì đã đắc nhất tâm, hoặc lâm chung mới được nghe pháp này chỉ xưng mười tiếng,
đều được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Đấy là kinh A Di Đà.
Ba
kinh này chuyên nói về Tịnh Độ, nhưng kinh A Di Đà lời lẽ đơn giản, ý nghĩa
phong phú, nhiếp thọ căn cơ bậc nhất nên các tông Thiền, Giáo, Luật đều vâng
dùng làm kinh nhật tụng. Các kinh Đại Thừa nói kèm về Tịnh Độ nhiều không thể kể
xiết, nhưng chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm quả thật
là khai thị mầu nhiệm nhất về pháp Niệm Phật. Nếu có thể như con nhớ mẹ, nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối mà niệm, há chẳng trong hiện tại hay tương lai
nhất định thấy Phật, gần là chứng viên thông, xa là thành Phật đạo ư? Pháp môn
Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp suốt một đời đức Phật: Tuy
là phàm phu sát đất đầy dẫy Hoặc nghiệp, chỉ cần tín nguyện niệm Phật sẽ có thể
cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Dù là vị Bồ Tát đã chứng địa vị Đẳng
Giác cao cả vẫn phải hồi hướng vãng sanh thì mới viên mãn Phật quả được!
Do
vậy biết: Pháp môn Tịnh Độ lớn lao không gì ra ngoài được, thích hợp khắp ba
căn, thâu nhiếp hoàn toàn lợi căn lẫn độn căn. Chúng sanh trong chín giới bỏ
pháp này thì trên sẽ chẳng có gì để viên thành Phật đạo; mười phương chư Phật
lìa pháp này thì dưới chẳng có gì để phổ độ quần manh[5].
Hết thảy pháp môn không pháp nào chẳng lưu xuất từ pháp giới này, hết thảy hạnh
môn không hạnh nào chẳng trở về pháp giới này, bởi đây là pháp môn tổng trì
thành thủy thành chung để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật
đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Vì thế, được chín giới cùng hướng về, mười phương
cùng khen ngợi, ngàn kinh đều xiển dương, muôn luận đều tuyên nói.
Nhưng
pháp môn này do hai đức Thế Tôn hai cõi tạo lập, đức Thích Ca nơi Sa Bà dạy rõ
Tịnh Độ để đưa con người đi về [cõi Cực Lạc], đức Di Đà nơi Cực Lạc đợi lúc họ
lâm chung tiếp dẫn [từ Sa Bà] về tới [Cực Lạc]. Ấy là muốn cho chúng sanh thoát
được nỗi khổ sanh tử ngay trong đời này, chứng sự vui chân thường. Tâm thương
xót, che chở, bảo vệ ấy dẫu hết cả kiếp khó thể nói trọn. Có kẻ bảo: “Đã là đệ
tử Phật Thích Ca, hãy nên niệm Thích Ca Mâu Ni Phật cầu sanh Hoa Tạng thế giới
trong cõi này”, họ chẳng biết đức Thích Ca dạy niệm A Di Đà Phật là nhằm làm
cho hàng phàm phu sát đất nương vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương hòng siêu
phàm nhập thánh. Chỉ có bậc Đại Sĩ đã phá vô minh chứng Pháp Thân mới thấy được
Hoa Tạng thế giới của cõi này; phàm phu chỉ thấy uế độ, chẳng thấy được cõi Thật
Báo Trang Nghiêm, há nên mong tưởng quá phận! Huống chi Tây Phương cũng nằm
trong Hoa Tạng thế giới, mà trong hội Hoa Nghiêm hết thảy các vị Bồ Tát trong
Hoa Tạng thế giới hải đều dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh Tây
Phương để mong viên mãn Phật Quả. Ông là hạng người như thế nào mà dám chống đối
các vị ấy?
Kể
từ khi đại giáo được truyền sang phương Đông, Viễn Công lập Liên Xã đầu tiên, một
người xướng, trăm người hòa, không ai chẳng noi theo, thỏa thích bổn hoài của
Phật chỉ có mỗi một mình pháp môn này là bậc nhất! Từ đấy trở đi, đời nào cũng
có cao nhân, tục diệm truyền đăng[6],
rạng rỡ trong ngoài nước mãi cho đến tận hiện thời, tông phong chẳng suy sụp,
nhưng Trí Giả đại sư thuộc tông Thiên Thai, Thanh Lương quốc sư thuộc tông Hiền
Thủ, Khuy Cơ pháp sư thuộc tông Từ Ân, Bách Trượng thiền sư thuộc Thiền tông, Đại
Trí luật sư[7]
thuộc Luật tông, không vị nào chẳng giải thích kinh, soạn luận, khuyên khắp mọi
người tu trì. Những sự tích của họ đã được chép tường tận trong Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục. Do vậy biết những vị tri thức các tông Thiền, Giáo, Luật đều noi theo
Hoa Tạng hải hội, nhất trí tiến hành cầu sanh Cực Lạc, huống chi kẻ căn cơ cạn
mỏng đời Mạt Pháp ư? Nhân duyên Linh Nham sáng lập Tịnh Độ đạo tràng đã được
chép đầy đủ trong tấm bia [thuật duyên khởi] xây dựng Niệm Phật Đường trước kia.
Nay tu bổ đại điện, đặc biệt nêu rõ nguyên do của pháp môn Tịnh Độ để những bậc
thông sáng mai sau có cái để nương tựa, hướng về. Chi phí xây cất và phương
danh của người đã quyên tặng được ghi trong một tấm văn bia riêng, không ghi tường
tận nơi đây.
3. Bi ký về việc chùa Linh Nham vĩnh viễn trở thành đạo
tràng thập phương chuyên tu Tịnh Độ và công đức xây dựng lần này
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Có được cuộc đất
tối thắng thì mới hoằng dương được đạo tối thắng. Tạo dựng chuyện phi thường ắt
phải đợi người phi thường. Tuy bỉ cực thái lai[8]
thuộc về vận trời, nhưng sửa cũ dựng mới thật sự phải nhờ vào con người thực hiện.
Núi Linh Nham là cuộc đất thánh đạo tràng trời tạo đất dựng. Ngô Vương Phù Sai
dựng cung Quán Oa nơi đây, chỉ chuộng dâm lạc, làm ô nhục núi này quá sức! Vì
thế, xây xong cung điện chưa được bao lâu liền bị nước tan, mạng mất, đúng là
nhân quả phù hợp nhau. Nếu ông ta lập đức thi thố lòng nhân noi theo phong cách
cai trị tốt đẹp của tổ tiên là Thái Vương, Thái Bá, Trọng Ung đã lưu lại, ắt sẽ
ngang ngửa với Văn Vương trên linh đài[9],
lúc sống được hưởng phước vòi vọi, khi mất để lại thanh danh vang dội, đâu đến
nỗi quỳ gối xin được sống cũng chẳng được, rốt cuộc che mặt tự vẫn[10],
gây nhục lây cho tổ tiên ư? Do vậy biết kẻ không có đức cao trội mà có cuộc đất
thù thắng, đâm ra lại là cái gốc họa! Nguyện những bậc quân tử đời sau đều lấy
Phù Sai làm gương thì lợi ích ấy chẳng thể nào
diễn tả được!
Đời
Tấn, Tư Không Lục Ngoạn sống tại núi này, do nghe Phật pháp bèn biến nhà thành
chùa, đấy chính là khởi đầu của đạo tràng Linh Nham vậy. Đến đời Lương lại càng
được phát triển. Đến đời Đường lại càng thêm trùng hưng. Trong khoảng thời gian
ấy, phần nhiều là do hình vẽ của Trí Tích Bồ Tát hiện thân, khơi gợi lòng tin
tưởng, ngưỡng mộ của mọi người, khiến cho đạo tràng Linh Nham đứng đầu đất Ngô.
Cung khuyết dâm lạc xưa kia nay trở thành cuộc đất thánh đạo tràng, cho thấy
các pháp tùy duyên, hễ có người tài giỏi ắt cuộc đất sẽ linh ứng! Những vị Trụ
Trì trong đời Tấn, đời Đường chẳng thể tra cứu được. Từ đời Tống cho đến đời
Thanh, ngôi Trụ Trì đều do Giáo hải lão long, Thiền quật cự sư[11],
đức hạnh đáng làm bậc thầy gương mẫu cho cả trời lẫn người, đạo tiếp nối được
huệ mạng của Phật, của Tổ. Đầu đời Thanh, sư Hoằng Trữ trụ nơi đây, mở mang giảng
tòa rộng lớn, điện đường, liêu xá mới mẻ rạng ngời. Thánh Tổ, Cao Tông (Khang
Hy, Càn Long) tuần du phương Nam đều nghỉ lại nơi đây, pháp môn hưng thịnh chói
ngời xưa nay.
Năm
Hàm Phong thứ 10 (1860), gặp cơn binh hỏa[12],
cháy tiêu gần hết. Trong thời Đồng Trị, vị Tăng tên Niệm Thành được ông Bành
Cung Bảo Ngọc Lân hộ trì những mong sẽ dần dần được phục hưng. Năm Quang Tự 18
(1892), vị Tăng tên Biến Ngọc đúc hồng chung, nhưng chưa xây lầu [chuông]. Năm
Tuyên Thống thứ ba (1911), vị Tăng tên Đạo Minh do bị mất y [ca-sa] đánh lầm kẻ
khả nghi, khiến cho dân chúng phẫn nộ, phải bỏ trốn. Chùa đã không có chủ, tất
cả đồ đạc không còn được một vật nào, ruộng đất cũng bị mất mát chẳng ít. Vị
hương thân vùng Mộc Độc là Nghiêm Lương Xán khải thỉnh hòa thượng Chân Đạt[13]
làm Trụ Trì. Cụ Chân bèn sai học trò là Minh Hú thay mặt trông coi, trước hết dựng
lầu chuông.
Đến
năm Dân Quốc 15 (1926), đất Ngạc (tỉnh Hồ Bắc) loạn lạc, pháp sư Giới Trần và học
trò xuống miền Nam, cụ Chân liền đem Linh Nham giao cho, biến thành đạo tràng
thập phương chuyên tu Tịnh nghiệp vĩnh viễn. Nhất loạt chẳng giảng kinh, truyền
giới, truyền pháp, thâu nhận đồ đệ, làm chuyện kinh sám thù tạc, [chỉ] quanh năm
niệm Phật, chương trình giống như phổ thông Phật thất. Huê lợi ruộng đất chỉ
thâu được tám chín trăm đồng, hạn định số người sống ở đây là hai mươi vị, nếu
chi phí không đủ, cụ Chân sẽ bù đắp, [chứ Linh Nham] cũng chẳng mộ duyên. Năm
Dân Quốc 17 (1928), thầy Giới đặc biệt sang Phổ Đà, cầu cụ Chân dựng thêm phòng
ốc, lấy năm sáu ngàn đồng làm chuẩn, cụ Chân bằng lòng. Thầy ấy trở về núi, liền
rời chùa, đi sang Vân Nam, ấy là để tránh nỗi phiền phức do xây dựng. Do vậy, mọi
việc trong chùa giao cho pháp sư Từ Châu[14].
Thầy
Từ Châu khí lực yếu ớt, không chịu đựng được khổ nhọc, liền mấy lượt sang Hán
Khẩu giảng kinh. Mùa Hạ năm ngoái lại nhận lời mời của Cổ Sơn, chẳng từ tạ, bỏ
đi. Hai ba năm gần đây, đàn-việt[15]
nhiều người biết đến đạo phong của Linh Nham, có người muốn cầu siêu cho tiên
vong, chúc thọ cho cha mẹ, xin đả thất. Số người ở lại đã trên bốn mươi vị,
phòng ốc chẳng chứa nổi, lại thêm hẹp nhỏ, trời mùa Hè rất nóng. Nay dựng năm
gian lầu cao, phía dưới làm Niệm Phật Đường, rộng rãi mát mẻ. Ngoài ra lại dựng
thêm hơn ba mươi gian nữa, chi phí ước chừng hơn năm vạn đồng. Cụ Chân bỏ ra
hơn hai vạn hai ngàn đồng, khoản còn lại [góp] từ số tiền chi dùng của Thường
Trụ còn dư và do đàn-việt vui vẻ giúp sức. Nay đã hoàn thành, thầy Diệu Chân
làm Đương Gia Sư. Do hai lần xây dựng, cụ Chân bỏ ra gần ba vạn, lần này cụ
cũng đứng ra xướng suất, công đức ấy và việc biến [ngôi chùa] này thành đạo
tràng thập phương đều đáng nên lập bia, [do vậy, tăng chúng Linh Nham] thỉnh
tôi lược thuật chuyện ấy để ghi chép công đức hòng bảo với mai sau; vì thế, bất
đắc dĩ chẳng thể từ tạ chuyện viết lách được! Thuở ban đầu đã lập năm điều quy
ước:
1) Trụ Trì bất luận
thuộc tông phái nào, chỉ cần lấy chuẩn mức là “tin tưởng Tịnh Độ sâu xa, giới hạnh
tinh nghiêm”. Chỉ truyền hiền, chẳng truyền pháp để dứt thói tệ pháp quyến
riêng tư.
2)
Trụ Trì chỉ luận thứ số, chẳng luận theo thế hệ để bậc cao đức khỏi bị đứng sau
kẻ đức hạnh tầm thường.
3)
Chẳng truyền giới, chẳng giảng kinh để khỏi chèo kéo, xáo động, gây nhiễu loạn
chánh niệm. Trong chùa tuy hằng ngày thường giảng nhưng chẳng lôi kéo người
ngoài đến nghe.
4)
Chuyên nhất niệm Phật, ngoại trừ đả Phật thất ra, nhất loạt chẳng làm hết thảy các
Phật sự mang tính cách thù tạc.
5)
Bất luận là ai, chẳng được ở trong chùa mà thâu nhận đồ đệ xuất gia.
Ai
phạm một điều nào trong năm điều sẽ lập tức ra khỏi chùa. Đại sư Tử Bách đời
Minh một đời xây dựng hơn mười ngôi đại tùng lâm, nhưng chẳng làm Phương Trượng,
chẳng thâu nhận đồ đệ, hễ xong việc liền bỏ đi, gác bỏ mọi việc. Đại sư Diệu Phong
phàm những công trình chùa, tháp, cầu cống, đường sá người khác chẳng thể lo liệu
được, thỉnh Sư trông nom, hễ qua tay Sư đều thành công, hoàn tất xong liền cáo
từ. Trong lúc đang tu bổ hay xây dựng, có khi Sư sai học trò thay mình lo liệu,
công trình hoàn thành, trọn chẳng để lại đó một người nào của chính mình cả! Tấm
lòng Sư chánh đại quang minh, mấy trăm năm sau còn nghe tiếng, khiến cho mọi
người khâm phục khôn nguôi, đáng được vua tôi cung kính, long thiên ủng hộ, lúc
sống tiếng tăm vang dội, lúc mất chứng thánh quả. Người đời nay phần nhiều âm
mưu cướp đoạt đạo tràng của người khác, ai chịu đem những gì mình đã có nhường
cho người khác?
Cụ
Chân khẳng khái làm như vậy, tuy đạo còn kém xa Tử Bách, Diệu Phong, nhưng tấm
lòng sáng ngời không riêng tư cũng gần bằng các vị ấy, thật đáng khâm phục!
Nguyện những người làm Trụ Trì và giữ chức trách trong nhà chùa, cũng như những
người nhập chúng tu trì đều cùng giữ tấm lòng đại công vô tư, chuyên tinh tu tập,
ngõ hầu chẳng phụ ân Phật đã nói ra pháp môn Tịnh Độ hoành siêu và lịch đại tổ
tông hoằng pháp, ân cụ Chân Đạt tạo dựng cũng như một phen yêu thương, siêng
năng nhọc nhằn lo toan sâu đậm của thầy Diệu Chân.
4. Bi ký thuật công đức của phân hội Tô Châu Hội Cứu Giúp
Loài Vật Trung Quốc quyên tặng vĩnh viễn khu vườn ao phóng sinh cho Linh Nham
Sơn Tự để làm hạ viện
(năm Dân Quốc 25 - 1936)
Đức Đại Giác Thế
Tôn là đại sư của ba cõi, cha lành của bốn loài, xem hết thảy chúng sanh như
con một vì hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật, đều là cha
mẹ trong quá khứ, là chư Phật đời vị lai. Trong các kinh Đại Thừa, Phật đã
nghiêm cấm sát sanh ăn thịt ngõ hầu hết thảy chúng sanh đều được hưởng quả báo
gần là trường thọ yên vui, quả báo xa là cùng chứng giải thoát Niết Bàn. Đại sư
Trí Giả đề cao lòng từ bi của Phật, trong niên hiệu Đại Kiến (569-583) đời Trần
đã mua hơn sáu mươi chỗ thuộc Lâm, Hải, Giang, Hỗ, Khê, Lương, cả hơn ba trăm dặm
để làm ao phóng sanh, xin vua ban sắc chỉ, lập bia ngăn cấm đánh cá, kẻ nào bắt
trộm sẽ bị mắc họa. Đến niên hiệu Trinh Quán (627-649) đời Đường vẫn còn như thế.
Đấy chính là bi tâm phổ độ chúng sanh của Phật, Tổ vậy.
Càn
là đại phụ, Khôn là đại mẫu, dân là người ruột thịt của ta, loài vật giống như
ta[16].
Đấy chính là chí hướng thường hằng coi con người và loài vật bình đẳng như nhau
của nhà Nho vậy. Nghiêm cấm đọa thai phá trứng để chim, thú, cá, ba ba đều được
sống yên vui (“điểu thú ngư miết hàm nhược”: “Nhược” nghĩa là thuận. “Hàm
nhược” là đều được sống thuận lợi vậy). Đấy chính là sự cai trị bằng đức để
thắng tàn bạo, trừ giết chóc của bậc thánh vương. Ấy là vì đức lớn của trời đất
là Sanh, nỗi khổ lớn lao của con người lẫn loài vật chính là Sát. Thắng bạo tàn,
trừ giết chóc phải từ nhỏ đến lớn. Nhân từ với con người, yêu thương loài vật ắt
phải từ dễ đến khó. Nếu chẳng hàm dưỡng lòng nhân từ, khoan dung từ cội gốc, ắt
sẽ trở thành bỏ nhỏ lấy lớn, bỏ dễ lấy khó vậy! Hằng ngày làm chuyện tàn sát,
mà lầm lạc mong mỏi nhân từ với con người, yêu thương loài vật sẽ trở thành nói
xuông, chắc chắn khó thể thật hành được chuyện ấy! Vì sao nói vậy? Trẻ nhỏ, kẻ
bình thường đều có thể thật hành chuyện yêu thương loài vật, hành lâu ngày, bụng
dạ đầy ắp nhân từ, mai kia có địa vị, nắm quyền cai trị, sẽ có thể che chở dân
đen lớn lao. Dẫu ẩn cư trong một làng vẫn có thể lấy thân mình đốc thúc mọi người
thay đổi phong tục! Như vậy, đạo nhân từ với người khác phải được bồi đắp từ
lòng yêu thương loài vật thì mới có thể viên mãn trọn khắp, không có điều tệ vậy!
Nếu
chẳng do lòng yêu thương loài vật thì tuy trong đời này chưa có gì đáng tiếc,
nhưng trong tương lai ắt sẽ phải lo lắng lớn lao, vì đã gieo cái nhân tàn hại
loài vật sẽ khó tránh được cái quả luân phiên báo đền [lẫn nhau]! Nguyện người
có lòng nhân với kẻ khác thường suy nghĩ cẩn thận vậy. Chuyện phóng sanh vốn nhằm
khơi dậy thiện tâm của con người trong hiện tại, vị lai, cốt sao họ kiêng giết,
ăn chay, khiến cho khắp mọi hàm thức đều được sống yên ổn, đều hưởng hết tuổi
thọ. Gần là dứt được cái nhân giết chóc, xa là diệt được quả báo do giết chóc,
nhỏ là khiến cho tâm chúng ta toàn thuần là lòng nhân, lớn là chấm dứt sát kiếp
cho toàn thế giới. Chớ nghĩ đây là chuyện chẳng cấp bách, rồi coi thường bỏ
qua.
[Nguồn
gốc] khu vườn ao phóng sanh tại cầu Hổ Khiếu (Hổ Gầm) của Hội Cứu Giúp Loài Vật
Trung Quốc phân hội Tô Châu [như sau]: Vào tháng Bảy năm Giáp Tý tức năm Dân Quốc
13 (1924), hội viên Hội Cứu Vớt Loài Vật tại Thượng Hải là ông Lục Duy Dung đến
đất Tô bàn bạc, mới biết những hội viên Hội Cứu Giúp Loài Vật phân hội Tô Châu
đã bàn tính chuyện thiết lập khu vườn ao phóng sanh bèn cực lực tỏ ý tán thành.
Ông cho biết: Khéo sao ông Trầm là người đất Tô có một khu đất rộng khoảng sáu
mẫu, đã quyên tặng cho Hội Cứu Vớt Loài Vật Thượng Hải, nay đem tặng lại cho
phân hội [Tô Châu] để làm cơ sở [tạo lập] khu vườn ao phóng sanh. Trong khu đất
ấy có một cái đầm, đào vét thành ao rất đỡ tốn công, tiếp đó ông ta đem bằng
khoán đất gởi xuống Tô Châu.
Đến
tháng Chín năm Dân Quốc 14 (1925), hội viên thuộc phân hội [Tô Châu] là ông
Dương Đạt Toàn giới thiệu ông Uông Cát Đình gia nhập phân hội, [ông Uông] đứng
ra ngỏ ý quyên tặng tiền để xây dựng, các hội viên lại đóng góp [thêm vào] được
hơn một vạn đồng, xây dựng liên tục, đào ao, dựng đình, sắp đặt hết thảy. Tuy
chẳng hoa mỹ, nhưng thanh nhã không phàm tục, đáng gọi là chốn “thế ngoại đào
nguyên” (chốn tiên bồng ngoài cõi tục). Đến tháng Chạp năm Dân Quốc 15 (1926),
công trình mới hoàn thành. Tháng Năm năm Dân Quốc 17 (1928), ông Viên Hiếu Cốc
tậu thêm một nền đất rộng bảy phân ở phía Nam, nhờ đó [khu vườn ao] càng thêm rộng
rãi, vẽ họa đồ, trình lên huyện, lập hồ sơ đầy đủ. Việc quản lý kinh phí trong
mấy năm đều do nhóm các ông Ngô Dĩnh Chi v.v… trước sau lo toan.
Mùa
Hạ năm ngoái, Giám Viện Linh Nham Sơn Tự là thầy Diệu Chân do thấy Linh Nham
không có hạ viện tại thành Tô Châu, sau này đến đất Tô cảm thấy khá bất tiện,
chú ý đến khu vườn ao phóng sanh tại cầu Hổ Khiếu, cậy Quang hỏi thăm tình hình
nơi ông Tào Tung Kiều, cũng như nhờ cậy ông ta thương lượng với mọi người trong
hội ấy. Nếu chịu thí tặng thì sự nghiệp phóng sanh càng được tiến hành mạnh mẽ
hơn; lại không cần phải phái người chuyên lo quản lý, đôi bên đều có lợi, đúng
là “một chấm thủy mặc, đôi bên đều thành
rồng”. Ông Tào đi hỏi, mọi người đều cùng tán thành, bảo rằng: “Linh Nham
sơn chưa đầy mười năm mà đạo phong đã nghe tiếng khắp xa gần, nghiễm nhiên trở
thành đạo tràng thanh tu bậc nhất của Ngô Huyện. Nếu biến khu vườn ao phóng
sanh thành Hạ Viện thì sau này sẽ phát đạt, an hòa nào kém Linh Nham?” Bèn bàn
bạc, ước định năm điều kiện ngõ hầu vĩnh viễn chẳng suy sụp:
1) Danh xưng khu
vườn ao phóng sanh thuộc hội Phật Giáo Cứu Vớt Loài Vật Trung Quốc phân hội Tô
Châu.
2) Điện thờ Tế
Công tổ sư.
3)
Bài vị của thầy Ngộ Căn.
4)
Tòa cát đình[17]
trên bờ ao.
5)
Mộ phần của chủ đất họ Trầm nằm ngoài tường bao quanh khu vườn.
Năm
thứ này phải được bảo tồn vĩnh viễn, chẳng được bỏ đi. Những thứ kiến trúc, mở
mang khác do Tăng chúng chùa Linh Nham tùy ý tiến hành. Duyên khởi ấy được khắc
vào bia, ghi vào sổ sách để lưu lại vĩnh viễn. Do vậy, đem tất cả khế ước, họa
đồ, hồ sơ, giấy tờ chứng minh [đã lập] từ trước kia đều giao ra hết. Có thể nói
là thành tựu cho Linh Nham Tịnh nghiệp đạo tràng, phát triển sự nghiệp phóng
sanh, công đức lớn nhất! Mong sao hội viên hội này và giám viện Linh Nham, mọi
người đồng tâm dốc sức đề xướng bảo vệ sanh mạng, ăn chay, để thành tựu chuyện “không
phóng sanh mà là phóng sanh lớn lao”, chí thành niệm Phật để được vãng sanh
hòng liễu sanh tử, dứt sát kiếp để vời thỉnh quyến thuộc cõi trời, vãn hồi thế
đạo, uốn nắn nhân tâm thì [công đức ấy] há văn tự, ngôn ngữ có thể hình dung được
ư?
5. Bi ký về việc chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai thành lập
ao phóng sanh
(năm Dân Quốc 23 - 1934)
Đức Đại Giác Thế
Tôn... (cho đến) coi thường
bỏ qua (phần
này giống hệt như trong bài bi ký ở trên nên lược đi). Chùa Quốc
Thanh là ngôi chùa hàng đầu của núi Thiên Thai. Hòa Thượng Khả Hưng cực lực
khôi phục, lại thỉnh pháp sư Tĩnh Quyền phụ trợ, muốn mở rộng lòng từ bi của Phật,
Tổ để khơi gợi thiện niệm cho người đời, do đó bèn lập ao phóng sanh nơi vườn
rau phía Tây của Tam Môn. Dòng Khê Thủy từ Tây Sơn đổ vào nơi đó, nước chảy vào
chảy ra cuồn cuộn, là chỗ thích hợp nhất để nuôi cá. Mùa Thu, mùa Hạ, nhằm buổi
trời trong, đêm trăng, tiết Xuân, tiết Đông thì sau giờ Ngọ, trước lúc xế chiều,
đại chúng đến đây niệm Phật hiệu vang vang, nhiễu quanh ao ba vòng hồi hướng Tịnh
Độ để những loài thủy tộc ấy đều gieo thiện căn xuất thế cũng như khiến cho đại
chúng đều phỏng theo bi nguyện của Phật, của Tổ. Do muốn tỏ rõ ý nghĩa “do phóng
sanh mà đạt được lợi ích”, [chùa Quốc Thanh] sai Quang viết bài ký để thưa cùng
bậc sáng suốt mai sau.
Trộm
nghĩ: Phóng sanh vốn là để đề xướng kiêng giết, ăn chay. Nếu con người suốt đời
ăn chay sẽ trở thành không phóng sanh mà phóng sanh lớn lao vậy. Nay tôi chép lại
bài thơ răn đừng ăn thịt của cư sĩ Hoàng Sơn Cốc[18]
đời Tống để mong mọi người lúc ăn thịt hãy suy nghĩ đôi ba phen, ắt chẳng nỡ ăn
và tâm chẳng dám ăn nữa sẽ bừng bừng dấy lên. Bài thơ ấy như sau:
Ngã nhục, chúng sanh nhục,
Danh
thù, thể bất thù,
Bổn
thị nhất chủng tánh,
Chỉ
vi biệt hình khu,
Khổ
não tùng tha thụ,
Phì
cam vi ngã nhu,
Mạc
giao Diêm Quân đoán,
Tự
sủy ứng hà như?
(Thịt ta, thịt
chúng sanh,
Danh khác, thể vốn
đồng,
Vốn cùng một chủng
tánh,
Chỉ hình hài khác
nhau!
Khổ não chúng hứng
chịu,
Béo ngon ta hưởng
riêng,
Chớ đợi Diêm La xử
Tự
suy sẽ biết mà!)
Bài
thơ ấy có ý nghĩa lắm thay! Trung hậu, khoan dung cách đạo chẳng xa, điều gì chẳng
muốn [người khác] làm cho chính mình thì chớ làm cho người khác. Lòng nhân với
con người, yêu thương loài vật ấy [chính là] đại kinh đại pháp thành thủy thành
chung, chẳng cần phải nói tường tận về ý nghĩa nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo
sâu xa! Nguyện những ai thấy nghe đều suy nghĩ sâu đậm.
6. Bi ký về việc chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai sáng lập ba
viện dưỡng lão, dưỡng bệnh và trợ niệm
(năm Dân Quốc 23 - 1934)
Sa Bà là cõi khổ
sở cùng cực, vì thế cõi này thuộc về quán trọ trên đường lữ thứ; An Dưỡng là chốn
vui sướng tột bậc, vốn là quê nhà sẵn có. Nhưng do chúng sanh mê muội chưa ngộ,
bèn cứ khăng khăng coi quán trọ là quê nhà, chẳng biết có trụ xứ thanh tịnh an ổn
tột bậc do cha ông đã tạo dựng. Do vậy, khởi tham - sân - si, tạo giết - trộm -
dâm, luân hồi trong sáu nẻo, chìm đắm trong tam đồ từ kiếp này sang kiếp khác,
không cách nào thoát ra. Đức Đại Giác Thế Tôn thương xót, thị hiện sanh trong
thế gian, tùy thuận căn cơ thuyết pháp để các chúng sanh bỏ mê về với ngộ, theo
đường về nhà. Do chúng sanh căn cơ chẳng phải chỉ có một, nên mỗi pháp đức Như
Lai nói ra đều khác biệt. Nhưng các pháp ấy đều phải cậy vào tự lực, chỉ bậc
thượng căn cao nhất mới có thể hoàn thành được ngay trong đời này. Nếu là kẻ
kém hơn thì sẽ hai đời, ba đời mới giải quyết xong. Những kẻ trải kiếp dài lâu
vẫn chưa thể giải quyết xong vẫn chiếm đa số! Lòng Như Lai phổ độ chúng sanh
chan chứa nhưng chưa thỏa mãn được; do vậy, bèn đặc biệt mở ra một pháp tín
nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, để thượng thánh hạ phàm đều cùng trong đời
này thoát cõi Sa Bà đây lên cõi An Dưỡng kia. Bậc thánh sẽ mau thành Phật đạo,
kẻ phàm sẽ dần dần chứng được Bồ Đề. Phổ độ chúng sanh cô đơn quạnh quẽ không
nơi nương tựa, thỏa thích lớn lao bổn hoài xuất thế của đức Như Lai. Trên là
Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, dưới là tội nhân Ngũ Nghịch, Thập Ác cực
nặng đều là căn cơ được thâu nhiếp bởi pháp này. Chúng ta trên chẳng bằng được
các vị như Văn Thù v.v… dưới chưa đến nỗi giống như hàng Ngũ Nghịch, Thập Ác,
há lẽ đâu chẳng mạnh mẽ phát ra đại chí ngõ hầu vượt ngang ra khỏi tam giới ư?
Xét
từ khi đại giáo được truyền sang phương Đông, tuy có môn đình Thiền, Giáo, Luật,
Mật, Tịnh bất đồng, nhưng không một môn nào chẳng lấy vãng sanh Tịnh Độ làm chỗ
quy túc! Núi Thiên Thai là đạo tràng của Trí Giả đại sư. Đại sư dùng Ngũ Thời Bát
Giáo[19]
để phán thích[20]
giáo pháp cả một đời đức Như Lai nhưng vẫn chú trọng nơi một môn Tịnh Độ. Tuy
chưa thấy được phần kinh văn quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm nhưng đã lập
pháp ngầm hợp, đủ thấy Phật và Tổ vốn [thở] cùng một lỗ mũi! Chùa Quốc Thanh là
ngôi chùa được xây trên nền đất [ngôi chùa] lúc Đại Sư sắp nhập Diệt Định[21].
Đến nay đã một ngàn ba trăm mấy chục năm, tuy trải qua nhiều lượt biển dâu, có
khi hưng, khi phế, nhưng nhờ được cao nhân làm Trụ Trì, cho đến hiện thời đạo
phong vẫn chẳng suy sụp.
Đầu
thời Càn Long nhà Thanh, Bảo Lâm Trân Công trùng hưng, điện đường, liêu xá mới
toanh rạng ngời, nhưng còn ba viện chưa đủ sức để thành lập. Một là Dưỡng Lão
vì bậc danh đức các phương, bậc kỳ cựu trong chùa, tuổi già lắng lòng chuyên lo
tu tập đạo nghiệp của chính mình nhưng chưa có một tòa viện chuyên biệt thì làm
sao giúp cho Tịnh nghiệp được? Hai là Dưỡng Bệnh: Thập phương tăng lữ cô quạnh
một thân, đã đến chùa này nương tựa thì chính là người ruột thịt, hễ bị bệnh tật
chẳng thể theo đại chúng, bèn dời đến nơi này để an dưỡng mong cho chóng lành.
Nếu tuổi thọ sắp hết sẽ đưa sang Trợ Niệm Đường. Ba là Trợ Niệm, phàm người bệnh
nặng sắp mất, sẽ chuyển sang viện này. Thường Trụ liền phái người luân phiên trợ
niệm. Trụ Trì hay người trưởng ban sẽ khai thị, hướng dẫn người [sắp mất] ấy, để
người ấy toàn thân buông xuống hết, nhất tâm niệm Phật. Trước mặt người ấy nên
thờ tượng Phật tiếp dẫn, để người ấy tâm niệm, miệng niệm, tai nghe, mắt nhìn,
trừ đức Phật ra, không còn nghĩ gì khác nữa, ngõ hầu chánh niệm rạng rỡ, theo
Phật vãng sanh. Đây chính là một đại sự khẩn yếu tột bậc của chốn tùng lâm hoằng
pháp lẫn người xuất gia tu hành.
Người
làm Trụ Trì và những vị có chức trách hãy nên coi người khác già - bệnh - chết
giống như chính mình già - bịnh - chết, ắt sẽ lo liệu ổn thỏa, chắc chắn chẳng
chịu quấy quá cho xong chuyện thì đạo đức hiện tại sẽ ngày một cao quý, phẩm
sen vãng sanh càng thù thắng vậy! Huống chi cổ nhân tạo dựng tùng lâm vốn là vì
người già kẻ bệnh mà lập, cũng như khiến cho tăng chúng đông đảo có chỗ nương tựa,
người học ùn ùn có nơi để tham học, thừa sự. Có ai chẳng già? Có ai không bệnh?
Ai mà không chết? Nếu chẳng đặc biệt lập ra một viện thì người già, người bệnh,
thân tâm khó yên. Thân tâm đã chẳng yên thì niệm Phật cầu vãng sanh sẽ bị chướng
ngại. Đấy chính là nguyên do thành lập riêng hai tòa điện đường Dưỡng Lão và Dưỡng
Bệnh. Nhưng già và bệnh còn có thể tạm để đó, chứ lâm chung chắc chắn khó thể
coi thường, trì hoãn được! Nếu công phu chưa sâu, Phật niệm chưa thuần, lại
thêm bệnh khổ trầm trọng, chẳng có tri thức khai thị, hướng dẫn, Tịnh lữ trợ niệm,
sẽ trở vào luân hồi, trọn chẳng có hy vọng gì được liễu thoát! Nếu là người
công phu đã sâu, Phật niệm đã thuần, lại có sức trợ niệm của đại chúng, há chẳng
mau chóng thấy Phật, nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn ư?
Do
vậy biết chuyện trợ niệm quan hệ rất lớn. Đang trong lúc tánh mạng sắp chấm dứt
ấy, nhằm lúc phán định thăng - trầm, mà đã có người khai thị, hướng dẫn, trợ niệm,
ví như kẻ khiếp nhược tránh giặc tính ngồi thuyền trốn xa, được mọi người nâng
đỡ, liền có thể vọt lên thuyền, liền được ngồi yên ổn đến tận bờ kia. Nếu là
người không được khai thị, hướng dẫn, trợ niệm, ắt sẽ mắc cái họa phá hoại
chánh niệm, đừng nói người công phu chưa sâu chẳng thể liễu thoát, dẫu là người
Phật niệm đã thuần vẫn khó vãng sanh! Ví như dũng sĩ phá vòng vây lọt ra, tính
ngồi thuyền thoát đi, bị mọi người chèo kéo, ngay lập tức té xuống vực sâu. Siêu
phàm nhập thánh hay vẫn luân hồi y như cũ chỉ trong một hơi thở này! Lẽ được - mất
quá nửa nằm trong tay vị Trụ Trì, một phần ít nằm trong tay những người giữ chức
trách. Nếu vị Trụ Trì hay những vị có chức trách thấy người khác chết giống như
cha mẹ, thầy, bạn của chính mình chết ắt sẽ cực lực trợ niệm đúng pháp, thành tựu
vãng sanh. Đã được vãng sanh, lâu dần ắt sẽ viên thành Phật đạo. Thành tựu một
người vãng sanh chính là thành tựu một chúng sanh thành Phật; công đức ấy há thể
diễn tả được ư?
Đến
năm Dân Quốc 17, 18, do không kiếm được người Trụ Trì nên [Quốc Thanh Tự] lâm
vào cảnh suy bại sát đất. Năm Dân Quốc 19 (1930), những bậc kỳ lão trong núi và
các vị hương thân cung thỉnh hòa thượng Khả Hưng là bậc đã xin thôi chức Trụ
Trì về hưu trước kia trở lại làm Trụ Trì để mong khôi phục [nhà chùa]. Cụ Hưng
bèn mời người bạn thân là pháp sư Tĩnh Quyền giúp sức. Do vậy, đặc biệt mở học
xã để hoằng dương xiển phát tông Thiên Thai, hưng khởi điều lợi, trừ thói tệ,
tiến hành đầy đủ trăm chuyện đã bị phế bỏ. Nay lại tính lập ra ba viện này, mỗi
viện gồm năm gian, vị trí ở gần nhà bếp để tiện cung cấp những thứ thức ăn,
trà, nước cho những vị già cả, bệnh tật. Mỗi viện đều cử người trông nom, đều lập
quy ước. Trụ Trì và những vị có chức trách thường đi xem xét, chẳng để cho những
người chăm sóc lười nhác, coi thường. Dụng tâm cẩn thận, sát sao đáng cho người
khác khâm phục! [Hòa thượng Khả Hưng] sai Quang soạn bài ký. Do vui đẹp trước tấm
lòng thành vì pháp vì người [của chùa Quốc Thanh] nên [Quang] quên mình hèn tệ,
viết những ý chính. Nguyện từ nay trở đi, Trụ Trì và những vị có chức trách
chùa Quốc Thanh cũng như Trụ Trì và những vị có chức trách các nơi trong hiện tại
lẫn tương lai ai nấy đều chú ý sâu xa.
7. Bi ký về chuyện Hương Quang Liên Xã thuộc Hương Sơn Thảo
Am ở Ngô Huyện xây dựng Tam Thánh Điện
(năm Dân Quốc 23 - 1934)
Đức Đại Giác Thế
Tôn khéo trị những căn bệnh nơi thân nơi tâm chúng sanh, khéo làm cho thiên hạ
thái bình, nhân dân yên vui. Tâm bệnh có những thứ nào? Chính là tham - sân -
si. Đã có những bệnh ấy, tâm chẳng thể chánh được, những ý niệm thuận theo tình
kiến, trái nghịch lý sẽ ồ ạt dấy lên. Những niệm ấy đã khởi, ắt sẽ muốn thỏa
lòng ham muốn của chính mình, cái tâm hèn tệ giết - trộm - dâm sẽ ngay lập tức
biến thành sự thực. Đấy gọi là “do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp chuốc khổ trải trần
điểm kiếp[22]
chẳng thuở nào xong!” Đức Như Lai thương xót, tùy theo từng căn bệnh của chúng
sanh mà ban thuốc, bảo họ: “Tâm tham -
sân - si chẳng phải là cái tâm vốn có của các ngươi, tâm các ngươi vốn viên
minh tịnh diệu như tấm gương sáng sạch, trọn chẳng có một vật nào! Hễ có vật ở
trước gương thì không vật nào chẳng được soi trọn vẹn. Vật đến chẳng cự tuyệt,
vật đi chẳng lưu giữ. Giữ được tánh thiên chân của ta, chẳng bị chuyển theo vật.
Mê tâm đuổi theo cảnh thì gọi là ngu phu. Trái trần hợp giác liền dự vào dòng
thánh”. Nếu con người biết được điều này, tâm bệnh sẽ lành. Tâm bệnh đã
lành, thân bệnh chẳng có cội gốc nữa, dẫu cảm xúc lạnh - nóng cũng chẳng bị
nguy hiểm. Tâm đã chánh thì thân sẽ chánh theo. Do đã không có tình niệm tham -
sân - si, sẽ do đâu mà có những hạnh hèn tệ giết - trộm - dâm cho được? Ai nấy
đều như thế thì dân là đồng bào, loài vật giống như ta, đối đãi bình đẳng, nào
còn có chuyện tranh đất, giành thành, tàn sát lẫn nhau nữa ư?
Vì
thế, những bậc vua quan thông minh duệ trí thời xưa không vị nào chẳng sùng phụng,
hộ trì, bởi [Phật pháp] giữ yên đất nước khi chưa loạn, bảo vệ đất nước khi
chưa nguy, nên đạt đến thái bình mà chẳng hay chẳng biết, chẳng tỏ lộ dấu vết vậy!
Tiếc cho những nhà Nho đời sau tâm lượng hẹp hòi, nhỏ nhen, lấy diệu nghĩa từ
kinh Phật để giúp cho những chuyện bàn xuông của bọn họ, nhưng bài xích thật lý
do đức Phật đã nói, bảo là bịa đặt! Sự lý nhân quả ba đời, luân hồi sáu nẻo
chính là đại kinh đại pháp khiến cho người hiền mau lên cảnh thánh, kẻ ngu gắng
sức làm người dân lương thiện, [thế mà] bọn chúng bảo “thật ra chẳng có chuyện
nhân quả báo ứng, con người chết đi, thần hồn đã diệt, còn ai để chịu tội và
thác sanh?” Từ đấy, thiện không có gì để khuyên, ác không có gì để trừng phạt,
đến nỗi hùa nhau phế kinh điển, phế luân thường, phế hiếu, bỏ thẹn, chẳng hề xấu
hổ, ngược ngạo coi đó là vinh, đều là do những thứ học thuyết ấy ươm thành! Cõi
đời đã loạn đến cùng cực, ai nấy đều lo sợ, muốn cứu vãn thì chẳng thể không
noi theo đại pháp của đức Như Lai. Do vậy, các nơi đều lập Tịnh nghiệp xã hoặc
Cư Sĩ Lâm để đề xướng nhân quả, chuyên tu Tịnh nghiệp.
Trụ
Trì Hương Sơn Thảo Am ở Ngô Huyện là đại sư Thanh Thiền và các cư sĩ tại địa
phương đã sáng lập Hương Quang Liên Xã từ lâu, nay đặc biệt xây cất năm gian
Tây Phương Tam Thánh Điện ở phía Đông thảo am. Những tăng nhân sống trong am suốt
năm tu tập, Tăng - tục tham dự liên xã định kỳ cử hành, sắm sửa đầy đủ kinh
sách Tịnh tông để mọi người đọc tụng. Ngày Rằm mỗi tháng mọi người đều tụ lại,
niệm Phật một ngày, hễ thuận tiện bèn giảng diễn tông chỉ của pháp môn Tịnh Độ
ngõ hầu những người tu trì hiểu thấu triệt tự tâm, chẳng đến nỗi miệng nói cầu
sanh Tây Phương mà lòng vẫn nhớ tưởng cõi này đến nỗi công phu sắp thành nhưng
vì mắc lỗi hiểu lầm [đến nỗi] mong thoát sanh tử mà vẫn đọa luân hồi! Lại còn
chỉ dạy cặn kẽ nhân quả, thuật đủ tội phước.
Phàm
những ai tham dự liên xã đều phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt
lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng hành các điều thiện, giữ
gìn tám đức “hiếu, đễ, lễ, nghĩa, trung, tín, liêm, sỉ”, dốc chí nơi tám sự “cách
vật, trí tri, thành ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, ắt
sẽ khiến cho Nho tông nhờ Phật pháp mà được phục hưng, sự giáo hóa của Phật do
hàng Nho sĩ mà được truyền rộng rãi, bù đắp thiên kiến “trong lòng sùng phụng,
ngoài mặt chống trái”, tự lầm, lầm người của tiền nhân, dạy đời sau quy củ rộng
lớn “sống trong cõi trần học đạo, tự lập, lập người”. Ba người cùng đi ắt có
[người] là thầy ta; một ấp mười nhà, ắt có [nhà] trung tín. Ai cũng đều có thể
là Nghiêu - Thuấn, ai cũng đều có thể thành Phật. Người ta là trượng phu, mình
cũng là trượng phu, chớ nên tự khinh rồi cam phận lui sụt, ngõ hầu chẳng cô phụ
Phật tánh sẵn có nơi tâm mình và đại pháp liễu thoát ngay trong đời này! Nguyện
khắp những người đến [với liên xã này] đều ghi nhớ chớ quên thì may mắn lắm
thay!
8. Bi ký thuật duyên khởi của Tây Phương Điện tại Vô Tích
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp suốt cả một đời đức Phật, là cội nguồn của các pháp, cả phàm lẫn thánh đều được độ, thích hợp khắp ba căn thượng, trung, hạ; Thiền, Giáo, Luật cùng hướng về một đạo, thực hiện dễ, thành công cao, dùng sức ít nhưng đạt hiệu quả nhanh chóng. Quả thật là con đường tắt cho chúng sanh trong chín pháp giới trở về lẽ chân, thỏa thích bản hoài xuất thế của đức Bổn Sư Thích Ca. Xét từ khi pháp được truyền sang Đông Chấn (Trung Hoa), Viễn công mở Liên Xã đầu tiên, từ đấy những bậc cao nhân chí hâm mộ Tây Phương ai nấy vâng theo tông phong, sự gi&aac