Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên,
Quyển Hạ
Phần 5
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
IV. Tụng Tán
(phụ thêm phần kệ)
1. Phật Bảo
Tán
Phật bảo khen ngợi
khôn cùng,
Từ trần kiếp[1]
trước chứng Đại Hùng,
Thường trụ Tịch Quang bi tâm sâu,
Hóa hiện độ quần mông[2],
Thuyết pháp khế cơ cùng khế lý,
Chấn động điếc - đui trong chín cõi,
Linh Sơn pháp hội nguyện tương phùng,
Thọ ký, rạng tông phong.
2. Pháp Bảo
Tán
Ngợi
khen Pháp Bảo khó lường thay!
Không - Hữu thể - dụng thảy trọn bày,
Mảy trần chẳng lập muôn đức trội,
Vô trụ tâm quang tỏa rạng ngời,
Chân - Tục cùng còn, cùng diệt mất,
Thế nào mới có thể tán dương?
Chứng đến chỗ không gì để được,
Ắt đáng xưng là Pháp Trung Vương.
3. Tăng Bảo
Tán
Tăng Bảo thật chẳng
thể nghĩ bàn,
Bổn - Tích thánh - phàm há dễ hay!
Ngài Văn Thù thầy bảy đức Phật,
Còn hiện tướng Hàn Sơn si ngây.
Phàm tăng tận lực tu Tam Học (Giới - Định - Huệ)
Gánh vác đạo Bồ Đề Như Lai.
Do vậy, hai khuôn mẫu rộng lớn,
Pháp đạo phàm - thánh mãi truyền trì.
4. Tán dương
tượng Phật Dược Sư
Mười hai đại nguyện
đức khó lường,
Xưng danh liền được thoát khổ ương,
Đến khi nghiệp tận tình không ấy,
Đông - Tây cõi giác vốn chân thường!
5. Dược Sư
Phật kệ
Dược Sư Như Lai
Lưu Ly Quang,
Thệ nguyện rộng sâu đời khó lường!
Hiển: sanh điều lành, nhóm phước khánh.
Mật: khiến diệt ác, tiêu họa ương.
Dẹp khổ: cốt sao sạch nhị tử[3],
Ban vui: muôn đức ắt phô bày.
Pháp giới thánh - phàm đều quy mạng,
Gội ân mau chứng được chân thường.
6. Tán dương
tượng Phật A Di Đà
Bốn mươi tám nguyện
độ chúng sanh,
Nghịch ác hướng lòng cũng tiếp nghênh,
Xen trộn đúng - sai không chọn lựa,
Vì thương những kẻ Phật chưa thành.
7. Tán dương
kinh tháp Phật A Di Đà
Bảo tháp nguy nga
tột hư không,
Vô biên pháp tạng
chứa vào trong,
Cực Lạc trang
nghiêm đều hiện trọn,
Di Đà quang thọ vẹn
hình dung,
Sáu phương chư Phật
thường ca ngợi,
Chín giới chúng
sanh trọn hướng lòng,
Một câu sáu chữ hồng
danh gọn,
Quy căn kết đảnh thật mênh mông!
8. Tán dương
tượng Tây Phương Tam Thánh
Tam Thánh vô tâm đều
đã chứng,
Vô tâm ứng trọn hữu
tâm nhân,
Dẫn khắp chúng
sanh về Cực Lạc,
Thân - tâm trọn
không, chẳng dấu hằn.
9. Tán dương
tháp Đa Bảo
Đa Bảo Như Lai,
Vì thỏa nguyện xưa,
Hiển trọn Thật Tế,
Hiện tháp vọt lên.
Hiển Bổn để làm khuôn mẫu lớn,
Mọi kẻ thấy nghe lên bến kia.
10. Tán
dương tượng Quán Thế Âm Bồ Tát
Khắp trần sát cõi
thảy hiện thân,
Thương nhất Sa Bà
lũ thế nhân,
Hễ còn ai đó chưa
thành Phật,
Tầm thanh cứu khổ
chửa nguôi lòng.
11. Kệ tán
dương Quán Thế Âm Bồ Tát
Quán Âm thệ nguyện
diệu khôn lường,
Cảm ứng tùy cơ há
trễ tràng!
Cứu khổ tầm
thanh: từ hút sắt[4],
Hiện thân thuyết
pháp: nước in trăng,
Cứu vớt muôn sự
trần sát cõi,
Sa Bà càng nặng tấm
lòng Từ,
Ân sâu hết kiếp
khen sao trọn,
Che chở quần manh
khắp xót thương.
Quán Âm thệ nguyện
thật mênh mông,
Độ mọi chúng sanh
lìa cõi khổ,
Hưng khởi từ bi
khắp sát trần,
Phổ Môn mỗi mỗi đều
thâu nhiếp,
Nay ứng hiện khắp
băm hai thân,
Khiến chúng rốt
ráo chứng tâm Phật,
Cung kính thường
xưng niệm Quán Âm,
Cát khánh thường
hưởng, chướng dứt bặt.
12. Kệ hồi
hướng cho Quán Âm Thất
Nguyện do công đức
trì tụng này,
Liền cảm được Đại
Sĩ gia bị,
Tiêu trừ ta - người
nghiệp xưa nay,
Thiện căn ta - người
cùng tăng trưởng,
Bao kiếp giữ mãi
Đại Sĩ tâm,
Khắp cõi thường
hành Đại Sĩ sự,
Gây tạo lợi ích tột
vị lai,
Khiến mọi hữu
tình chẳng họa hại.
Nguyện do công đức
này,
Tiêu trừ nghiệp
xưa - nay,
Tăng trưởng mọi
phước huệ,
Viên thành thắng
thiện căn,
Tất cả đao binh
kiếp,
Cùng với nạn đói
khát,
Đều bị diệt trừ sạch,
Thế giới mãi
thanh bình,
Mưa gió thường
thuận hòa,
Nhân dân đều an ninh,
Pháp giới các hàm thức,
Cùng chứng vô thượng đạo.
13. Kệ khánh
chúc Quán Âm
Đoan tọa Phổ Đà
thường nhập Định,
Chúng sanh hễ cầu,
trọn rủ lòng,
Muốn biết nghĩa cảm
ứng huyền diệu,
Xin nhìn trăng rọi
khắp muôn sông.
14. Sửa đổi
cho đúng bài kệ tán dương đức Quán Âm thường được lưu truyền trong cõi đời
Quán Âm Bồ Tát đức
tối ưu,
Chánh Pháp Minh
Phật chứng đã lâu,
Ân sâu lồng lộng
trùm muôn cõi,
Kim Phật vòi vọi
ngự trên đầu,
Nước bình cam lộ
gột trần cấu,
Hễ trần sát cảm,
trần sát ứng,
Vầng trăng in
bóng trọn muôn sông.
15. Tán
dương tượng Đại Thế Chí Bồ Tát
Như con nhớ mẹ siêng
niệm Phật,
Nhiếp trọn sáu
căn tai lắng nghe,
Vâng theo lời Đại
Sĩ khai thị,
Quả giác ắt khế hợp
nhân tâm.
16. Kệ tán
dương Đại Thế Chí Bồ Tát
Thế Chí Bồ Tát đức
vô biên,
Phù tá Di Đà thả
từ thuyền,
Cứu khổ hệt như
Quán Tự Tại,
Dẫn dắt về Tây tợ
Phổ Hiền.
Tu nhân dùng trọn
căn - trần - thức,
Chứng quả đều đạt
viên thông thường,
Nhiếp người niệm
Phật về Tịnh Độ,
Ân này muôn kiếp dễ
đâu quên!
Đại Thế Chí lợi
sanh sâu rộng,
Chuyên chú trọng
pháp môn Niệm Phật.
Như con nhớ mẹ nhớ
Thế Tôn,
Liền được gội
ngay ân đức Phật,
Khế hợp quả giác
lẫn nhân tâm,
Lập tức trở về với nguồn cội,
Nhiếp trọn sáu căn diệu khó lường,
Nguyện khắp chín giới thường vâng giữ.
17. Tán
dương tượng Địa Tạng Bồ Tát
Cao cả thay Đại Sĩ! Thệ nguyện rộng sâu, nghĩ thương
chúng sanh luân hồi kiếp dài lâu, vận lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên,
thường ở trong địa ngục để mong cứu kẻ bị treo ngược[5].
Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ Đề, địa ngục chưa trống thề chẳng muốn thành Phật. Do nhân duyên ấy, chư Phật ngợi
khen. Huống chi những kẻ đang trong lục đạo há nên chẳng bi luyến? Hư không có
cùng tận, nhưng thệ nguyện vô cùng. Muốn báo ân sâu, riêng in tôn kinh. Nguyện
kẻ thấy nghe đều cùng sanh tịnh tín, lần lượt lưu truyền, lợi ích vô tận.
18. Kệ tán
dương Địa Tạng Bồ Tát
Đại Sĩ thệ nguyện
há thể lường,
Lòng bi trọn khắp
cõi vô ương,
Chúng sanh độ hết
mới xong thệ,
Địa ngục trống rồi
nguyện mới thôi.
Giáo hóa nhiều
người thành Phật đạo,
Tự thân vẫn hiện
tướng Thanh Văn,
Chúng sanh và Phật
tánh vốn một,
Cùng muốn ta người
chứng Pháp Vương[6].
Địa Tạng Bồ Tát đại
từ bi,
Thệ nguyện vĩnh
viễn chẳng hề hết,
Giáo hóa thành Phật
số khôn xiết,
Vẫn hiện oai nghi
bậc Thanh Văn,
Đến khi địa ngục
độ hết sạch,
Mới chịu thị hiện
chứng Bồ Đề,
Khẩn nguyện ban
ân khắp u - hiển,
Cùng theo hải hội
dự liên trì.
19. Kệ tán
dương Di Lặc Bồ Tát
Đấng
Bổ Xứ Từ Vô Năng Thắng[7]
Thường ngự Đâu Suất
diễn viên âm,
Hiện thân trần
sát nào ai biết?
Tâm cùng pháp giới
tự dung thông,
Dốc cạn kho tàng trong đãy vải,
Tươi cười bình đẳng ban thế nhân,
Nguyện cùng Di Đà thương tiếp dẫn,
Khéo trong ba hội[8]
chứng Nhất Chân.
20. Kệ tán
dương Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Văn Thù Bồ Tát đức
khôn lường,
Thành Phật Long
Chủng Thượng Pháp Vương,
Do thương chúng
sanh mê tự tánh,
Riêng giúp Thích
Ca mở đạo mầu,
Thầy bảy vị Phật
thể khôn thấu,
Mẹ chư Bồ Tát dụng
khôn ngằn,
Thường trụ Tịch
Quang ứng mọi cảm,
Muôn sông khắp hiện
bóng muôn trăng.
(Long Chủng Thượng Phật chính là danh hiệu khi ngài Văn Thù đã thành Phật trong kiếp quá khứ, hãy nên biết là vị Long Chủng Thượng Tôn Phật được nói trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội là vị khác).
Văn Thù phù tá
Pháp Vương,
Trí huệ chỉ Phật
suy lường được thôi,
Chấn hưng Viên Đốn
đạo huyền,
Người nghe tình
kiến bỗng nhiên mất liền,
Bồ Đề tràng hiểu
cội nguồn,
Ân quang nguyện gội
giống như Thiện Tài,
Rốt ráo chứng được
chân thường.
21. Kệ tán
dương Phổ Hiền Bồ Tát
Bồ Tát từ bi khó thuật
trần,
Thánh - phàm đều được chứng viên nhân,
Nhất tâm chẳng trụ, siêu các vị,
Mười nguyện dẫn về, nối Năng Nhân[9],
Tam thừa đều được khế quả giác,
Quần manh mau được thoát phiền trần,
Khăng khắng tuân lời răn thanh tịnh,
Chắc chắn đời này thấu bổn chân.
Đức Phổ Hiền hạnh nguyện sâu thẳm,
Khuyên người phát Bồ Đề đại tâm,
Dạy cho Tam Hiền, Thập Địa thánh,
Đều cùng được thấy Di Đà Tôn,
Mười đại nguyện vương nếu tuân giữ,
Lợi ích chỉ Phật kham tuyên bày,
Quả giác, nhân tâm cùng lặng bặt,
Pháp Thân thanh tịnh chứng lên ngay.
22. Kệ tán
dương Trí Tích Bồ Tát
Lâu xa hầu Đa Bảo,
Đến lễ Thích Ca
Tôn[10],
Dạo khắp sát trần
Phật quốc độ,
Riêng thương chúng
sanh cõi Sa Bà,
Tượng vẽ hiện oai
thần.
Xiển dương Phật hóa đời Lương,
Muốn cho tể tướng triều Đường kính tin.
Hiện
thân Sư trị bệnh người,
Đại điện được
bóng tháp ngời rợp che,
Bí tạng của đức Như Lai,
Ai lên nơi đó tức thời hiểu ra,
Giếng đào trên đỉnh non xa,
Uống vào Bát Nhã đạo huyền đều thông.
Tranh ngài vẽ tướng đang ngồi,
Dợm mình như thể sắp dời chân đi.
Trực chỉ pháp Bất Nhị,
Tuy chẳng phải
đích tổ[11],
Truyền tâm chùa
Linh Nham,
Quả thật là khách
quý,
Trong biển khổ độ
sanh.
23. Tán
dương Trí Tích Bồ Tát
(năm Dân Quốc 23 - 1934)
Xét nghĩ Bồ Tát,
bi trí rộng sâu, ở phương dưới thường hầu Đa Bảo Phật, thị hiện dấu tích khắp
trần sát, hiện thân nơi tượng vẽ, Linh Nham đạo trường tồn.
24. Tán
dương Tịnh Độ Tổ Đường
(năm Dân Quốc 27 - 1938)
Một tông Tịnh Độ khởi nguồn từ đức Phổ Hiền, Viễn công
nối tiếp nguồn pháp ở Chấn Đán, trong - ngoài rộng lưu truyền, khiến cho khắp mọi
phàm - thánh chứng Niết Bàn ngay trong đời này.
25. Tán
dương tượng Viễn Công đại sư
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Xét nghĩ Viễn
Công, thừa nguyện tái lai, sáng lập Liên Tông, thỏa Phật bổn hoài, khiến các
phàm - thánh nhớ niệm Phật danh, cậy Phật từ lực
đới nghiệp vãng sanh. Bậc đã đoạn Hoặc liền chứng Vô Sanh. Bậc chứng Vô Sanh
mau tròn Phật quả. Dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm, cảm ứng đạo giao lợi ích
thật sâu. Chưa thấy kinh Niết Bàn đã tuyên giảng [Phật tánh] thường trụ, chưa đọc
phẩm Hạnh Nguyện đã khuyên khắp mọi người về Tây, lập ra được pháp ngầm hợp ý
kinh. Bậc hộ pháp Bồ Tát thể hiện sự đại giác của chính mình. La Thập dâng kinh
càng thêm tán thán sâu đậm. Tăng sĩ Tây Vực sanh
lòng ngưỡng mộ, tâm hương liền dâng. Hơn ngàn năm qua, chẳng được nghe viên âm.
May còn di giáo để hòng noi theo. Kính nguyện thầy ta, sẽ lại thị hiện giáng
sanh, dẫn khắp quần luân cùng lên cõi Ngũ Thanh[12].
In di cảo của Ngài để mô tả chân dung đạo pháp của Ngài, hòng kẻ thông sáng mai
sau sẽ bắt chước theo.
26. Tán tụng
mười hai vị Tổ của Liên Tông
1) Sơ Tổ
Đông Lâm Lô Sơn Huệ Viễn đại sư đời Tấn
Dùng pháp đặc biệt
vĩnh viễn làm khuôn phép cho đời, ý chỉ ngầm hợp với phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện,
lưu thông khắp trong ngoài nước, khiến cho kẻ tầm thường lẫn bậc cao nhã giải quyết đại sự xong xuôi ngay trong đời này.
Mở nguồn Liên
Tông khiến Trung Hoa được phước, thỏa thích bổn hoài của Phật, lập phương tiện,
viên âm vừa được xiển dương, sĩ phu đều về với Lô Sơn, đại pháp sắp hoằng khai,
[sơn thần hiển thần thông chuyển vật liệu xây dựng] Thần Vận Điện, hết thảy
pháp môn lưu xuất từ đây, hết thảy hạnh môn được thực hiện từ đây, khiến cho
các tông đều quy hướng, muôn sông đổ về biển, nương theo hạnh nguyện.
2) Nhị Tổ
Trường An Quang Minh Thiện Đạo đại sư đời Đường
Sư sống vào đầu đời
Đường, các tông đều hưng thịnh, đề xướng Tịnh Độ thỏa lòng mọi người, Phật lực ai
dám sánh bằng? Nếu chịu gieo lòng thành, Tây Phương quyết định vãng sanh.
Đời truyền tụng Sư là
Phật A Di Đà thị hiện, đề xướng giáo nghĩa niệm Phật trọn vẹn, phong phú, thiết
tha răn người học phải khiêm nhường, cũng như phải cực lực ưa - chán[13];
về mặt Giải phải thông thạo hết thảy pháp, nhưng về Hạnh chỉ chọn lấy một pháp
vừa khế cơ khế lý. Niệm Phật tỏa hào quang khích lệ đại chúng, hãy nên xem lời
Ngài như do chính đức Phật nói.
3) Tam Tổ
Thân gầy mặt bẩn,
hầu bên Di Đà. Thần thức ngài Pháp Chiếu du hành [đến cõi Cực Lạc] vãng cãnh[14],
Phật chỉ ngôi đình ghi danh ngài [Thừa Viễn], môn đình từ đấy được kế tục, tâm
pháp vĩnh viễn truyền dương.
Ban Châu[15]
khổ hạnh đời khó thể chịu đựng được, nhịn cơm dùng bùn đất làm món ăn, thường
đem những điều trọng yếu trong kinh và danh hiệu Phật ghi khắp trên các lối
ngõ, đá núi. Niệm Phật, Phật dạy pháp đặc biệt, kẻ đến học dùng pháp ấy để an
cái tâm, thiên tử nghe tên hướng về Nam vọng bái, vì thế đạo phong lưu truyền bốn
biển.
4) Tứ Tổ Ngũ
Đài Trúc Lâm Pháp Chiếu đại sư đời Đường
Xét nghĩ Tứ Tổ đức
cao đẹp đáng khâm phục, được Phật, thầy chỉ dạy cõi Cực Lạc, đức Văn Thù dạy
túc nhân, khiến cho khắp mọi người thấu đạt bổn chân ngay trong đời này.
Tại Hành Châu[16]
thấy được thánh cảnh trong bát, mỗi điều đều đích thân tạo dựng nơi non Ngũ
Đài. Nơi Tịnh Độ được thấy sư Thừa Viễn. Tại Trúc Lâm[17]
cung kính nhận lãnh lời ngài Văn Thù dạy dỗ. Tiếng niệm Phật vang khắp ngã đường
Tinh Châu. [Đường] Đại Tông sai sứ dâng chiếu thỉnh: “Niệm Phật rốt ráo mầu nhiệm
như thế nào?” [Sư đáp]: “Khiến được mau
thành đạo Bồ Đề”.
5) Ngũ Tổ
Tân Định Ô Long Thiếu Khang đại sư đời Đường
Tránh bàn đến thế
đế, nên đã bảy tuổi vẫn chưa nói. Thốt lời bèn kinh động trời người. Rộng kết
duyên Tịnh Độ, cho tiền trẻ nhỏ, ai nấy đều gieo chín phẩm sen.
Lên bảy tuổi trọn
chẳng thốt một lời, thốt lời liền xưng danh hiệu Thế Tôn. Vừa đọc bài Tây
Phương Văn của ngài Thiện Đạo liền biết Tịnh Độ là nơi đáng nương tựa, đem tiền
dụ trẻ niệm Di Đà, chưa lâu sau tiếng niệm Phật vang khắp nẻo đường. Niệm Phật,
tượng Phật từ miệng bay ra, có ai thấy nghe chẳng tuân theo lời dạy?
6) Lục Tổ
Hàng Châu Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đời Tống
Một bộ Pháp Hoa, một
trăm lẻ tám Phật sự, bốn thứ liệu giản lợi lạc kẻ ngu lẫn người thông sáng,
muôn điều thiện xét suy, mong siêu bạt trọn khắp, vãng sanh cõi Cực Lạc.
Thấy các chúng
sanh đều là Phật, chỉ nghĩ cứu sanh mạng quên luật nước. Bị giải ra chợ [hành
hình] tâm vui vẻ[18],
sắc mặt chẳng đổi, được xá tội liền thỏa nguyện xuất gia. Công khóa mỗi ngày là
“một trăm lẻ tám Phật sự, tụng một bộ Pháp Hoa, niệm Phật mười vạn tiếng”. Nếu
chẳng phải là bậc Đại Quyền thị hiện trong thế gian, ai có thể dựng được pháp
tràng như thế?
7) Thất Tổ
Hàng Châu Chiêu Khánh Tỉnh Thường đại sư đời Tống
Hâm mộ đạo Lô
Sơn, nối gót liên xã, trích máu biên chép phẩm Tịnh Hạnh, tể tướng [Vương Đán] theo
về dưới tòa. Một trăm hai mươi vị chí hướng lớn lao, cao nhã, nguyện phỏng theo
các ngài Long - Mã (Long Thọ, Mã Minh) [vãng
sanh].
Hâm mộ đạo phong Lô Sơn lập tịnh xã, do vì đời sau ít
người thực hành, liền tùy theo sự việc mà phát thệ một trăm bốn mươi mốt nguyện
để ai nấy đều được an trụ nơi Bồ Đề. Tể tướng Vương Đán đã quy y, công khanh một
trăm hai mươi người được un đúc. Tuy trong Diêm Phù phò tá cơ đồ nhà vua, vẫn
chẳng bằng vãng sanh cõi Cực Lạc hưởng phước nhà Phật.
8) Bát Tổ
Hàng Châu Vân Thê Châu Hoằng đại sư đời Minh
Vừa trụ tại Vân
Thê đã chấm dứt được nạn hổ. Lúc hạn hán, [dân chúng] cầu thỉnh, [Sư] niệm Phật
mưa liền tuôn xuống thỏa lòng dân mong mỏi. Thôn dân đều cảm thán, sắm gỗ lo liệu,
đạo tràng được trùng hưng.
Thuở nhỏ nghe niệm
Phật ý đã quyết, về sau răn môn đồ đừng làm trò quái gở[19],
hạnh là khuôn mẫu cho thế gian, lời lẽ là pháp tắc cho cõi đời. Chú trọng Tịnh
Độ và quy giới. Chống đỡ sóng cuồng thật khế lý, khế cơ. Xiển minh Phật tâm, đuổi
ong, rết. Khiến cho khắp mọi phàm phu đầy dẫy triền phược cậy vào Phật từ lực,
lên cõi sen.
9) Cửu Tổ Bắc
Thiên Mục Linh Phong Trí Húc đại sư đời Thanh
Ngay từ nhỏ đã
tin Phật, theo mẹ lễ tụng, đến lúc đi học theo đạo Nho liền phóng túng, đọc bộ
Trúc Song Tùy Bút[20]
bèn tự trách, tận lực hoằng dương Đại Thừa, mong cho mọi người cùng thoát khỏi
hầm bẫy.
Tông thừa giáo nghĩa thảy dung thông. Sở ngộ giống hệt như Phật chẳng khác biệt. Hoặc nghiệp chưa đoạn thì [giống như] bát đĩa [chưa nung], gặp mưa liền rã, uổng công lao đã [tu tập] từ trước. Do vậy, tận lực tu hạnh Niệm Phật. Quyết muốn trong đời này thoát khỏi bẫy lồng. Rát miệng thiết tha khuyên người học đạo