Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Quyển Hạ
Phần 6
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
10. Trả lời những câu hỏi của cư sĩ Khúc Thiên Tường (hai mươi bảy câu)
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
1)
Hỏi: Nguyên nhân khiến đệ tử tin Phật bắt nguồn từ việc nghiên cứu thuật Thôi Miên.
Xưa kia con đã nghe tục ngữ có câu: “Chín
lần tu làm thiên tử, mười lần tu làm Phật”, nghĩ rằng tu mười đời mới thành
tựu được, thường sợ bỏ dở giữa đường, phí sạch hết công lao [tu tập] từ trước.
Nếu sớm biết sẽ thành tựu ngay trong đời này thì đã sớm niệm Phật rồi. Tuổi con
đã hai mươi bảy, rất hối hận đã phát tâm trễ tràng.
Đáp:
“Chín lần tu làm thiên tử, mười lần tu
làm Phật” chính là lời nói nhảm của kẻ chẳng biết gì về Phật pháp. Người biết
Phật sẽ trọn chẳng nói câu đó. Pháp môn Tịnh Độ chính là cậy vào Phật lực để liễu
sanh tử, đều phải có đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, quyết định mong cầu
đến lúc lâm chung vãng sanh Tây Phương. Nếu chẳng cậy vào Phật lực mà muốn liễu
sanh tử thì ngàn đời vạn kiếp chẳng thể liễu thoát rất nhiều!
2)
Hỏi: Con tin tưởng tịnh tâm sẽ thành Phật, giống như trong thuật Thôi Miên ắt
phải trầm tĩnh rồi sau đấy mới có hiện tượng chẳng thể nghĩ bàn.
Đáp:
Tịnh tâm niệm Phật quán Phật sẽ dễ tương ứng với Phật. Nếu có lòng tin chân
thành, nguyện thiết tha, chắc chắn được vãng sanh, rồi sẽ dần dần tấn tu, ắt sẽ
thành Phật. Đừng nên nói “hiện tại tịnh tâm sẽ được thành Phật!”
3)
Hỏi: Con tin tưởng nhờ cậy vào Phật lực, như trong thuật Thôi Miên tự thôi miên
chính mình sẽ khó hơn bị người khác thôi miên. Vì thế biết là Tự Lực chẳng bằng
Tha Lực.
Đáp:
Hết thảy pháp môn đều phải cậy vào Tự Lực để đoạn Hoặc chứng Chân hầu liễu sanh
thoát tử, như người thọt chân tự đi, một ngày khó đi được trăm dặm. Pháp môn Tịnh
Độ nương vào sức Từ của Phật sẽ có thể đới nghiệp vãng sanh, giống như kẻ thọt
chân ngồi trên bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương, trong một ngày đến khắp
bốn châu, làm sao có thể lấy chuyện Thôi Miên để chứng minh cho được!
4)
Hỏi: Miệng niệm Phật, tâm tưởng Phật, [vậy thì] đức Phật được tưởng ấy có giống
như [đức Phật được tưởng trong] phép Quán thứ tám[1]
của Quán Kinh hay không?
Đáp:
Quán tưởng phải bắt đầu tu tập từ phép Quán thứ mười ba[2].
Nếu không, cảnh tế tâm thô, khó thể thành tựu, hoặc nếu như dụng tâm không
thích đáng sẽ dấy lên ma sự.
5)
Hỏi: Như khi gặp nguy hiểm, lâm vào tình thế chẳng thể cùng một lúc kiêm tụng
các chú thì hãy nên ứng dụng như thế nào?
Đáp:
Gặp phải tai nạn cực nguy hiểm, chỉ nên niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát là đỡ
tốn tâm lực nhất, [lại] có cảm ứng nhiều nhất.
6)
Hỏi: Nếu chuyên tụng Phật hiệu, hiệu lực so với thần chú như thế nào?
Đáp:
Phật hiệu và thần chú có công đức giống hệt như nhau, chỉ do lòng chí thành thì
mới có cảm ứng. Nếu trong tâm trước hết đã khởi lên ý niệm coi thường Phật hiệu
thì sẽ chẳng có lợi ích gì, vì đã không chí thành lại còn ngờ vực nên chẳng được
lợi ích chân thật.
7)
Hỏi: “Duy tâm Tịnh Độ tự tánh Di Đà” với “Tịnh Độ và đức Phật ở Tây Phương” là
một nhưng mà hai, là hai nhưng mà một phải không?
Đáp:
Có duy tâm Tịnh Độ thì mới sanh về Tây Phương Tịnh Độ. Nếu tự tâm chẳng tịnh, làm
sao vãng sanh được? Dẫu là kẻ tội nhân nghịch ác nhưng do niệm Phật mười tiếng
bèn được vãng sanh là vì tịnh tâm niệm Phật mà cảm được [quả báo] vãng sanh Tây
Phương Tịnh Độ. Trong đời lắm kẻ tưởng “duy tâm là không có cõi nước”, trở thành
tri kiến của tà ma, ngoại đạo! Loại tà kiến tựa hồ là đúng nhưng thật ra là sai
ấy chiếm hơn quá nửa đến nỗi người niệm Phật chẳng được lợi ích thật sự, mà vẫn
tưởng mình là cao minh, chẳng biết đấy là tà kiến “chấp lý phế sự, tự lầm, lầm
người!” Do tự tánh Di Đà nên phải niệm đức Di Đà ở Tây Phương để cầu vãng sanh
hòng tấn tu dần dần để có đích thân chứng được Di Đà nơi tự tánh. Nếu chỉ chấp
vào tự tánh Di Đà, chẳng niệm đức Di Đà ở Tây Phương, dẫu có ngộ thật sự vẫn
không thể liễu sanh tử được! Huống chi những kẻ nói lời ấy toàn là bọn chấp chặt
một bề, toàn là phường nói xuông! “Là một nhưng hai” là chuyện trước khi thành
Phật, “tuy hai nhưng một” là chuyện sau khi đã thành Phật.
8)
Hỏi: “Sanh thì quyết định sanh, đi thì chẳng
thật sự đi”, sanh và đi đều chỉ cho điều gì?
Đáp:
“Sanh thì quyết định sanh” là nói
theo mặt Sự. “Đi chẳng thật sự đi” là
nói theo mặt Lý. Chẳng biết cội nguồn của Sự - Lý thì tốt hơn là hãy chất phác
niệm Phật theo sự tướng. Nếu không, ắt sẽ trở thành bọn tà ma, ngoại đạo chấp
lý phế sự.
9)
Hỏi: Người tên X… nọ khi mạng chung chợt nói: “Tịnh Độ ngay trong góc sân”, vậy
cõi đất này là Tịnh Độ ư?
Đáp:
Đấy chính là nghĩa lý “duy tâm Tịnh Độ” phát hiện. “Duy tâm Tịnh Độ” chính là cảnh
của một mình người đó, ngoài ra đều là duy tâm uế độ. Há có nên dựa theo cái thấy
của người ấy để phán đoán ư?
10)
Tụng kinh có phải là để làm cho chính mình sanh tâm hoan hỷ, chán lìa, hay là
còn có tác dụng chi khác?
Đáp:
Ông tụng kinh chỉ biết cầu hoan hỷ cho chính mình, đáng tiếc là vô biên diệu
nghĩa bị ông xem chẳng đáng một đồng!
11)
Hỏi: Hiểu Đệ Nhất Nghĩa là như thế nào?
Đáp: Hiểu Đệ Nhất Nghĩa tức là
triệt ngộ diệu lý Thật Tướng, duy tâm tự tánh.
12) Hỏi: Cái tánh còn lại sau
khi chết, [cái tánh đi] vãng sanh, và Phật tánh có những điểm giống nhau, khác
nhau như thế nào?
Đáp: Cái tánh của hết thảy
chúng sanh trước khi sanh ra sau khi chết đi, cái tánh vãng sanh và Phật tánh [ba
tánh ấy] đồng nhưng bất đồng, bất đồng nhưng đồng. Gọi là đồng vì bản thể của
tâm tánh không hai. Nói là bất đồng vì do mê hay ngộ nên sai khác vời vợi một
trời, một vực! Do có nghĩa này nên dạy người đoạn Hoặc chứng Chân để mong đích
thân chứng được tâm tánh vốn đồng ấy. Chỉ có Thể là đồng, nhưng do mê chưa chứng
nên bày ra đủ mọi pháp khiến cho họ bỏ vọng về với chân, trái trần hiệp giác hòng
đích thân chứng được. Cách tu rất nhiều, chỉ có niệm Phật cầu sanh Tây Phương
là dễ thực hiện nhất, dễ thành tựu nhất!
13) Hỏi: Phật dạy tu Quán
chính là vì chúng sanh đời sau ác trược chẳng lành bị năm thứ khổ bức bách mà lập
giáo. Nếu dùng Thôi Miên để bộc lộ Thiên Nhãn Thông ngõ hầu nói ra để chứng
minh thì hiển hiện cõi nước Cực Lạc cũng chẳng phải là chuyện khó. Huống chi rất
cần chứng minh cho việc niệm Phật, sao không khuyên người tu Quán mà lại bảo đó
là chuyện khó khăn?
Đáp: Thôi Miên là do sức [huyễn]
thuật, há phải là thật sự có Thiên Nhãn Thông ư? Người thật sự có Thiên Nhãn
Thông há chịu để cho người khác thôi miên! Ông nay đã học Phật, hãy nên chuyên
chí học Phật. [Muốn] hiện cõi Cực Lạc, chỉ dùng tịnh tâm mà niệm cho chuyên nhất
thì sẽ làm được. Ví như mài gương, mài đến cùng cực thì [gương] tự nhiên tỏa
sáng. Dùng thuật Thôi Miên để hiện thì trước hết tâm đã chẳng tịnh, niệm cũng
chẳng chuyên nhất, ví như dùng bột trắng xoa lên gương mà cứ mong gương tỏa
sáng, chẳng biết là đã phủ lấp tấm gương càng dầy vậy!
14) Hỏi: Tu Quán có phải là cậy
vào Phật lực hay không? Trong phép Quán thứ mười ba [của Quán Kinh] có nói: “Vô Lượng Thọ Phật thân lượng vô biên, tâm lực
của phàm phu chẳng thể thấu hiểu được, nhưng do sức túc nguyện của đức Như Lai ấy
nên có kẻ ức tưởng ắt được thành tựu”. Điểm khác biệt giữa phép Quán này và
tham Thiền là gì? So với tham Thiền có dễ hơn hay không?
Đáp: Tham Thiền chỉ cốt suy cứu
tự tâm, niệm Phật kiêm cậy vào Phật lực. Hai pháp đạt đến rốt ráo viên thành
thì hoàn toàn giống như nhau, nhưng dụng công trong lúc tu trì thì rất khác biệt.
Ví như đi đường ngồi thuyền hay ngồi xe khác nhau, nhưng về đến nhà thì giống
như nhau.
15) Hỏi: Tu Quán là tưởng hay
là quán, hay dùng cả quán lẫn tưởng? Lấy gần hay lấy xa?
Đáp: Hai chữ “quán tưởng” há
nên chia ra làm đôi! Nhiếp tâm để tưởng chính là quán. Ông nghĩ là hai tức là
trở thành chỉ biết [mười bằng] một nhân với mười, chẳng biết [con số mười ấy]
nó cũng là hai lần năm. Hơn nữa, quán tưởng sao có thể chia ra thành gần hay xa
cho được!
16) Hỏi: Mỗi phép Quán phải cần
[tu tập] tối thiểu bao nhiêu ngày?
Đáp: Ông cho rằng tu một phép Quán
này mấy ngày, rồi sẽ tu pháp Quán khác đó ư? Chẳng biết đức Phật tuy nói mười
sáu phép Quán nhưng thoạt đầu hãy nên thực hành phép Quán thứ mười ba thì mới
là tu khế lý khế cơ.
17) Hỏi: Thoạt đầu là tưởng tượng
thì chẳng phải là lan man ư?
Đáp: Đã biết như trên đã nói
thì cứ dựa theo đó mà suy.
18) Hỏi: Phép Quán đầu tiên là
nhất tâm tưởng mặt trời, hay là phải ngầm trì danh hiệu?
Đáp: Quán và Trì Danh vốn là một
chuyện, ông cho rằng khi quán thì chẳng thể trì danh, chẳng được trì danh hay
sao?
19) Hỏi: Khi ngồi thì tu Quán,
những lúc khác thì trì danh, so với chuyên trì một thứ thì là hơn hay kém?
Đáp: Có cái tâm trầm tĩnh, kín
đáo, thuần túy thì tu Quán cũng tốt mà trì danh cũng hay. Nếu không, so ra trì
danh ổn thỏa hơn, bởi tâm chí sôi động, hời hợt, vọng động mà tu Quán thì sẽ bị
nhiều ma sự.
20) Hỏi: Quán thấy cõi nước Cực
Lạc thì đấy có phải là Tịnh Độ thật sự hay là tướng giả hiện?
Đáp: Quán thấy Cực Lạc chính
là do duy tâm biến hiện, bảo đó là giả thì trở thành gã đứng ngoài cửa mất rồi!
21) Hỏi: Quán thấy cõi Cực Lạc
và được nghe pháp thì có phải là Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông hay không?
Đáp: Đấy chính là do sức Quán
tạo nên. Nếu là Thiên Nhãn, Thiên Nhĩ thì không cần quán cũng vẫn thấy nghe được.
22) Hỏi: Có người nói thấy Phật
chính là [thấy] vị Phật ở trong tâm chứ không phải là [thấy] vị Phật ở Tây
Phương. Nếu đúng như vậy thì khi vãng sanh, vị Phật trong tâm có hiện ra hay
không? Hay là A Di Đà Phật đến tiếp dẫn?
Đáp: Lâm chung thấy Phật chính
là đức Phật do tự tâm cảm thành, chớ nên quy hết về tự tâm rồi nói rằng “không
có chuyện Phật đến đón!”
23) Hỏi: Còn như khi tu phép Quán thứ mười
ba, lúc ấy có thể tùy ý vãng sanh hay không? Hay phải đợi đến khi lâm chung mới
có thể vãng sanh?
Đáp:
Nghiệp báo chưa tận, làm sao vãng sanh ngay được? Xưa kia cũng có người [làm được
như vậy], nhưng không thể áp dụng cho hết thảy mọi người được!
24)
Hỏi: Quán đến khi thấy Phật nghe pháp rồi, mỗi ngày lại quán có cần phải bắt đầu
quán từ phép Quán đầu tiên hay không?
Đáp: Quán tưởng thì chỉ cần
quán sao cho đắc lực, cần gì phải từ đầu đến đuôi, hằng ngày tập đi tập lại! Phật
nói ra mười sáu phép Quán thì những phép Quán đầu nhằm khiến cho con người biết
đến sự trang nghiêm của Cực Lạc, [các phép Quán] về chín phẩm vãng sanh ở phần sau
nhằm làm cho con người biết nhân quả của phép được tu. Mỗi phép Quán đã biết
thì qua một phép quán Phật sẽ có thể quán trọn vẹn các phép Quán kia.
25) Hỏi: Từ phép Quán thứ mười
bốn trở đi chính là [quán] các phẩm vãng sanh. Đã không có cảnh để hiện mà dạy
quán, nghĩa là làm sao?
Đáp: Nghĩa này đã nói rồi. Hãy
xem những điều đã nói ở phần trên.
26) Hỏi: Những người vãng sanh
trên đây dường như chẳng phải là những vị do tu Quán mà vãng sanh, chẳng biết
nên tưởng sự vãng sanh của người tu Quán như thế nào?
Đáp: Phẩm vị của người vãng
sanh muôn sai ngàn khác, trong kinh chỉ dùng chín phẩm để nói tóm gọn, sao ông
biết những người vãng sanh trên đây chẳng do tu Quán mà được vãng sanh? Phải biết:
Căn tánh con người bất đồng, dẫu chỉ [cùng là] một pháp mà vẫn có cao - thấp rất
khác nhau, há nên câu nệ nơi pháp được tu ư? Ấy là do khả năng trong tâm địa của
mỗi người, ông cho rằng các vị như Văn Thù, Phổ Hiền… chẳng tu Quán ư?
27)
Hỏi: Nhớ số niệm Phật: Hít vào niệm sáu câu, thở ra niệm bốn câu là như thế
nào? Tâm đã nhớ số lại niệm Phật, rồi lại phải tưởng Phật nữa ư?
Đáp:
Niệm Phật nhớ số là từ một đến ba, từ bốn đến sáu, từ bảy đến mười, sao lại hạn
định trong hơi thở? Ông là kẻ học luyện đan vận khí nên mới thấy một hai chữ
hơi tương tự, liền nói đó là công phu của họ. Cách niệm Phật nhớ số là vì kẻ vọng
tâm khó chế ngự mà đặt ra. Niệm được như thế, ghi nhớ như thế, lắng nghe như thế,
chắc chắn tâm sẽ dần dần điều phục. Ở đây có ai dạy ông thêm vào hai chữ “tưởng
Phật” đâu? Ở đây là tùy tiện niệm, nào phải bận tâm thở ra hay hít vào? Nếu hít
thở như thế lâu ngày sẽ bị tổn khí mắc bệnh, chẳng thể không biết [điều này]!
11. Pháp ngữ dạy nữ cư sĩ Châu Dư Chí Liên
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Bà
đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, chẳng bao lâu nữa sẽ phải chết. Hiện thời phải
nhanh chóng thu xếp hết thảy mọi việc cho tốt đẹp, trong tâm ngoại trừ niệm Phật
ra, không để vướng mắc bất cứ chuyện gì khác thì khi lâm chung mới có thể không
vướng mắc, không ngăn ngại. Nếu bây giờ cứ vẫn chuyện gì cũng không buông xuống
được như thế, vẫn nhìn không thông suốt, khi lâm chung tất cả những tâm tham
luyến y phục, đồ trang sức trên đầu, nhà cửa, con cháu sẽ đều hiện ra hết, như
thế thì làm sao có thể vãng sanh Tây Phương cho được? Đã không thể vãng sanh được
thì bà một đời thủ tiết niệm Phật và làm đủ mọi chuyện hữu ích sẽ hoàn toàn trở
thành phước báo! Hiện thời bà vẫn chưa có trí huệ, tuy thường tinh tấn niệm Phật,
trong tâm vẫn chưa quyết định cầu sanh Tây Phương, đến đời sau trong lúc hưởng
phước chắc chắn bị phước mê hoặc, sẽ tạo các ác nghiệp. Đã tạo ác nghiệp, chắc
chắn phải đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chịu khổ! Nỗi khổ lớn lao ấy đều
là do đời này niệm Phật chẳng biết quyết định cầu sanh Tây Phương chiêu cảm.
Quang thương xót bà, sợ bà mai sau có thể lâm vào tình huống ấy cho nên lập sẵn
cách cho bà. Nếu bà chịu nghe theo lời tôi, sẽ chẳng do phước mà mắc họa.
Hiện thời tuy bà rất mạnh khỏe
nhưng phải nghĩ mình sắp chết. Bây giờ cần mặc những thứ quần áo nào thì giữ lại
để mặc, phàm những thứ y phục quý trọng như lượt, là, áo da v.v… đều chia cho
cháu, cho dâu. Những thứ cài đầu, xuyến đeo tay, hoa tai, vàng, bạc, phỉ thúy[3]
v.v… đều dùng để cứu giúp dân chúng bị tai nạn. Dùng công đức ấy để hồi hướng
vãng sanh. Nếu trong tâm thấy biết nhỏ nhoi, chẳng thể đem cứu vớt tai nạn thì
cũng nên chia cho con gái, cháu dâu, cháu gái v.v… Bên thân mình quyết chẳng được
giữ lại những thứ khiến cho con người dấy lòng tham luyến ấy. Tất cả những khoản
tiền dành dụm để phòng khi dưỡng già cũng nên giao hết cho con cháu, dù là khế
ước, sổ sách ruộng đất v.v… đi nữa cũng nên giao hết sạch [cho người khác]. Trong
tâm bà trừ chuyện niệm Phật, chẳng để cho có một chút ý niệm nào khác! Ngay cả
cái thân của bà cũng chẳng tính toán sẵn sau khi chết đi sẽ nên an bài ra sao.
Ngay cả với cháu, chắt cũng đều nên coi như người không quen biết, mặc kệ chúng
nó hay dở ra sao, ta chỉ quan tâm niệm đức Phật của ta, nhất tâm mong chờ đức
Phật đến tiếp dẫn ta vãng sanh Tây Phương.
Bà làm theo đúng như lời tôi
nói, hết thảy mọi sự đều buông xuống hết, đến lúc lâm chung tự nhiên cảm được
Phật đích thân rủ lòng tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Nếu vẫn cứ tham luyến hết
thảy những vật tốt đẹp, tiền bạc, ruộng đất, nhà cửa, đồ cài đầu, quần áo và
con cái, cháu chắt v.v… y như cũ thì vàn muôn phần chẳng thể vãng sanh Tây
Phương được! Đã không sanh về Tây Phương được thì đời sau chắc chắn có si phước
để hưởng, do hưởng phước sẽ tạo nghiệp, chắc chắn khi một hơi thở ra không hít
vào được nữa sẽ đọa lạc trong tam đồ vì ác nghiệp ngăn lấp vậy! Tâm thức chẳng
rõ, dẫu có một vị Phật sống đến cứu bà cũng chẳng cứu được, há chẳng đáng
thương đáng xót lắm ư? Xin bà hãy tin lời tôi nói thì thật là may mắn không chi
hơn được!
12. Pháp ngữ khai thị cho cư sĩ Phùng Hữu Thư lúc lâm
chung
Bệnh
ông đã nặng, chỉ nên nhất tâm niệm Phật cầu Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương.
Nếu tâm ấy chân thành, ắt sẽ được mãn nguyện. Còn đối với tất cả tội nghiệp, chớ
nên lấy đó làm điều lo lắng. Vì nếu có thể cực lực chí tâm cầu sanh Tây Phương
thì sẽ có thể cậy vào Từ lực của đức Phật để đới nghiệp vãng sanh. Ví như tảng
đá to bỏ lên thuyền liền có thể từ bờ biển này sang được bờ kia. Cần biết rằng:
Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, tự tánh công đức lực
chẳng thể nghĩ bàn. Ba thứ chẳng thể nghĩ bàn ấy nếu không có cái tâm chí thành
tín nguyện niệm Phật sẽ không có cách gì hiển hiện được. Có lòng chí thành cầu
sanh Tây Phương thì ba thứ thần lực oai đức lớn lao chẳng thể nghĩ bàn ấy sẽ liền
được hiển hiện. Như ngồi trên chiếc tàu thủy lớn lại được xuôi gió, chẳng lìa ý
niệm trong hiện tại đây mà liền sanh về Tây Phương. Ông chỉ nên tin tưởng sâu
xa lời tôi, tự nhiên ông sẽ được mãn nguyện. Nay tôi đặt pháp danh cho ông là
Huệ Thoát, nghĩa là dùng trí huệ, tín nguyện niệm Phật liền được vãng sanh Tây
Phương, thoát ly sanh tử vậy.
13. Lời thông cáo nhún nhường của hội Phật giáo Ngô
huyện tỉnh Giang Tô dành cho Tăng chúng các tự viện
(năm Dân Quốc 23 - 1934)
Đức
Đại Giác Thế Tôn nương theo bi nguyện thị hiện giáng sanh, vốn thuận theo tâm
con người mà lập giáo để kẻ mê nhận lầm hình bóng cái đầu sẽ đích thân thấy được
bản lai diện mục, kẻ ôm của báu mà chịu cùng quẫn sẽ mau chóng có được của cải trân
bảo sẵn có trong nhà. Vì thế, Tam Thừa chóng chứng Bồ Đề, lục phàm cùng lên bờ giác.
Đấy chính là nguyên do khiến đạo này được truyền rộng rãi khắp trên trời dưới đất,
giáo pháp lan truyền khắp cõi tam thiên đại thiên. Ấy là vì Phật pháp là tâm
pháp. Tâm pháp ấy chúng sanh và Phật đều cùng có, phàm - thánh giống hệt như
nhau, nơi phàm chẳng giảm, tại thánh không tăng. Phật do ngộ chứng rốt ráo nên
phước lẫn huệ đều cùng trọn đủ, Phiền Hoặc vĩnh viễn mất, hưởng pháp lạc chân
thường, thí đại giáo tùy thuận căn cơ. Chúng sanh do triệt để mê trái nên Phiền
Hoặc vĩnh viễn hừng hực, luân hồi chẳng ngơi, như chạm phải của báu trong nhà tối,
đâm ra lại bị tổn thương. Các giáo trong thế gian đều là nói quyền biến, chỉ có
mình Phật giáo khế lý lẫn khế cơ. Vì thế, từ đời Hán đến nay, khi giáo pháp được
truyền sang Đông Độ, bao đời đều khâm kính, cả cõi đời thảy tôn sùng.
Nếu [Phật pháp] không tỏ rõ
nhân để chỉ quả khiến cho người đời giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận hòng
giúp cho đạo cai trị, hiểu tâm thấu gốc khiến cho người học đoạn Hoặc chứng
Chân để dự vào dòng thánh thì làm sao có thể kéo dài đến tận ngày nay mà mối đạo
vẫn chẳng bị suy sụp cho được? Huống chi từng bị ba vua Vũ[4]
bạo ngược, bọn Nho sĩ câu nệ như Hàn Dũ, Âu Dương Tu và lũ Trình - Châu trong
lòng sùng phụng, bề ngoài chống trái bài xích mà vẫn được chấn hưng [tiếp tục tồn
tại] trong cõi đời, là do được hàng vua quan có thế lực lớn lao hộ vệ, do bậc đại
đức cao tăng hoằng dương. Cuối đời Thanh, phong hóa cõi đời ngày một đi xuống,
nước nhà không rảnh rỗi để đề xướng, Tăng chúng phần nhiều biếng nhác tu trì, đến
nỗi kẻ không có chánh tri kiến ai nấy đều ôm giữ ý niệm “đuổi Tăng, chiếm đoạt
tài sản”. Nhưng do cõi đời ngày càng loạn đến cùng cực, những người có lòng liền
đua nhau dấy lên học Phật, cho nên [cõi đời] vẫn chưa đến nỗi bị khốn khổ ách nạn
lớn lao.
Những người cùng sắc áo với
tôi hãy thường nghĩ “ta là đệ tử Phật phải nên hoằng dương sự giáo hóa của đức Phật,
giáo hóa chúng sanh để làm cầu bến cho cõi đời, báo ân đức của Phật”. Nếu chính
mình vẫn chẳng tự gắng sức thì hóa ra đã tạo căn cứ cho những kẻ đuổi Tăng chiếm
đoạt tài sản [biện minh cho hành động của chúng], bị kẻ tại gia chuyên ròng tu
hành coi thường, há chẳng phải là tự mình chuốc lấy nỗi lo hay sao? Con người
ai mà không mong được người khác tung hô, nếu chẳng gắng sức tu trì thì chính
là tự chuốc lấy sự chán ghét. Phật pháp chẳng thể bị bại hoại bởi thiên ma, ngoại
đạo mà chỉ bị bại hoại bởi tăng sĩ chẳng tuân phụng giáo pháp, giới luật của đức Phật! Ví như trùng trên thân
sư tử tự ăn thịt sư tử. Chỉ vì thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được
ý niệm bèn thành thánh, con người ai cũng có thể là Nghiêu - Thuấn, ai cũng có
thể thành Phật, điều đáng quý là tự gắng sức vậy!
Cuối đời Minh, Ngẫu Ích đại sư
là con nhà họ Chung ở Mộc Độc, thiên tư thông minh, mẫn tiệp, lúc nhỏ theo mẹ
ăn chay lễ tụng, lên bảy tuổi đi học, coi thánh học (Nho học) là trách nhiệm của
chính mình, thề diệt Thích - Lão, bắt đầu ăn mặn, uống rượu, viết mấy chục bài
luận báng Phật. Năm mười bảy tuổi, đọc bài tựa cho cuốn Tự Tri Lục của Liên Trì
đại sư và Trúc Song Tùy Bút bèn chẳng báng Phật. Sau đấy bèn cực lực nghiên cứu,
năm hai mươi bốn tuổi bèn xuất gia, triệt ngộ tự tâm, thâm nhập kinh tạng, một
đời trước thuật mấy chục tác phẩm đều là những thứ xưa nay hiếm thấy.
Hiện thời có ông Đặng Trịnh
Khôn ở Tứ Xuyên là sinh viên tốt nghiệp trường Pháp Luật Chánh Trị hết sức cuồng
ngạo, chống đối. Đầu thời Dân Quốc, ông ta chuyên môn hủy hoại Phật giáo, bất
luận miếu thờ thần hay chùa thờ Phật đều suất lãnh đồ đảng phá hủy. Sau đấy, chợt
biết là sai, tận lực cải hối, đến Phổ Đà xin quy y, ở Thượng Hải Cư Sĩ Lâm tám
năm, tinh tấn tu trì. Năm trước, chiến tranh nổ ra tại đất Hỗ (Thượng Hải), ông
ta ở trong Cư Sĩ Lâm chẳng kinh sợ, chẳng dời động, trước - sau - trái - phải
Cư Sĩ Lâm đều biến thành vùng đất tan hoang, bom đạn lớn nhỏ rớt vào trong Lâm nhưng
chẳng nổ một trái nào. Đủ thấy con người sửa lỗi hướng thiện, Phật, Bồ Tát liền
ban thưởng trọng hậu, che chở cho. Dẫu chúng ta chẳng được như ngài Ngẫu Ích,
há cũng chẳng bằng được ông Trịnh Khôn ư? Trịnh Khôn là người mang tội ác cực lớn
lao còn được cảm ứng như thế, chúng ta há nên lần khân cho qua ngày, chẳng thêm
gắng sức, giống như lên núi báu mà trở về tay không ư?
Gần đây chánh phủ thường ra lệnh
rõ ràng cho Tổng Hội Phật Giáo Trung Quốc, buộc Hội phải nhắc nhở răn đe Tăng
Già ai nấy tận lực giữ Thanh Quy. Phải biết rằng: Tăng Già là bậc thầy khuôn mẫu
cho trời người, chánh phủ ban lệnh đốc thúc tức là [Tăng Già] đã mất thể thống.
Nếu vẫn cứ như đang nằm mộng thì sợ rằng sau này khó tránh được nạn Tăng sĩ bị xua
đuổi, tài sản bị chiếm đoạt! Hiện thời hội Phật giáo của huyện nhà đã được
thành lập, mọi người đều nên nhất trí tiến hành duy trì đại cuộc cho Phật giáo,
chớ nên chỉ mong tu tập cho riêng mình. Nếu hội Phật giáo không có cách gì để
duy trì thì muốn tự tu tập cũng chẳng thể tu tập được đâu! Vì thế, ai nấy đều
phải nghiêm túc tu trì, tự tôn trọng lấy mình. Hiện thời cư sĩ tại gia ai nấy đều
chuyên chú tu tập tinh ròng và nghiên cứu, nỡ nào đường đường là một bậc tỳ-kheo
lại đâm ra thua kém hàng cư sĩ ư? Người có hào khí hãy nên phát khởi mạnh mẽ,
cũng như ai nấy đều nên góp phần tài lực để hỗ trợ cho công việc của hội. Công
việc của hội có liên quan đến sự an - nguy của chính mình, ví như hai tay hai
chân sử dụng lẫn cho nhau. Thứ này chẳng giúp đỡ thứ kia sẽ khó thể sống được.
Quang là một ông Tăng tầm thường
chỉ biết cơm cháo, đang đợi chết, sống uổng phí cả một đời, hổ thẹn sám hối còn
chẳng kịp, sao dám khoe xấu trước mặt những vị thiện tri thức các chùa. Do Chủ Tịch
là hòa thượng Đạo Hằng thấy Quang già cả, nói ra chắc người ta sẽ nghe theo,
bèn cậy tôi soạn lời tuyên cáo. Tuy biết mình thiếu đạo đức để khiến người khác
cảm phục, nhưng một phen giãi lòng thành tính toán lo liệu cho pháp môn ắt sẽ
có người đồng ý. Do vậy, đem tình hình Phật giáo đã trải qua và tình hình trong
thời gần đây trình bày đại lược. Phàm những vị cùng một sắc áo với tôi, ai nấy
hãy mạnh mẽ phát khởi đại tâm để mong trên là tiếp nối huệ mạng của Phật của Tổ,
dưới làm phước điền cho chúng sanh, ngõ hầu Phật pháp được hưng thịnh trở lại trong
buổi nguy ngập, suy vong, nhân dân đều được hưởng lợi ích pháp hóa thì may mắn
chi hơn?
14. Đôi lời đề tựa cho cuốn A Di Đà Kinh của nữ sĩ
Vương Tông Ý
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Các
pháp thế gian và xuất thế gian không gì chẳng lấy lòng Thành làm gốc. Những người
tu hành càng phải nên chí thành. Hễ có lòng Thành thì nghiệp chướng tiêu trừ,
thiện căn tăng trưởng. Phàm lúc tụng kinh ắt phải dứt bặt lo nghĩ, vọng duyên,
nhất tâm tịnh niệm như đối trước thánh dung, đích thân nghe viên âm, chẳng dám
manh nha chút niệm lười nhác, coi thường! Lâu ngày chầy tháng sẽ tự ngầm thông
Phật trí, thầm hợp đạo mầu. Ví như ánh nắng Xuân vừa chiếu đến, băng cứng tự
tiêu tan. Lòng Thành đến mức cùng cực sẽ hoát nhiên thông suốt. Đấy chính là
cách hay nhất để xem kinh, niệm Phật. Bà có thể suốt đời hành theo cách này thì
lợi ích sẽ chẳng thể nào diễn tả được! Tông Ý hãy ghi nhớ nhé!
15. Lời răn dạy khích lệ các học trò ghi sau cuốn Quy
Ước của Cô Nhi Viện Phật giáo chùa Pháp Vân
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Chuyện
trong thiên hạ đều lấy lòng Thành làm căn bản. Lòng Thành đến mức cùng cực thì
đá - vàng cũng phải nứt. Thành tích, hiệu quả thật sự đều cậy vào lòng Thành.
Cô Nhi Viện từ thuở được đề xướng, thành lập dến nay, các vị quản trị đều thật
lòng cứu người nghèo, giúp đỡ trẻ mồ côi, cạn hết tinh lực để lo toan khiến cho
cô nhi nghèo khổ đều thành tựu chánh khí, thành gia lập nghiệp, vận dụng phong
thái đại đồng bác ái rộng lớn hòng cứu vãn thế đạo nhân tâm [đang trong lúc ai
nấy] đối xử với nhau bằng thái độ khinh dễ, tranh chấp mới thôi. Các vị quản trị
đều có tấm lòng thành ấy, vì thế cảm được Lưu viện trưởng chẳng quản già yếu,
đích thân lo liệu việc trong viện, mỗi một việc dù to lớn hay nhỏ nhặt đều lo
liệu thích nghi. Do vậy, các vị giáo viên đều cùng hết lòng dạy dỗ.
Các trò trong viện được ăn no
mặc ấm, sống yên nơi đây, ắt phải chú trọng dấy lòng cảm kích, nỗ lực học chữ học
nghề, ngõ hầu khỏi phụ một phen hết lòng của viện trưởng, giáo viên, quản trị
và những vị thiện sĩ đã giúp đỡ tiền bạc. Nếu có được cái tâm ấy thì gốc đã lập,
đạo sẽ sanh, sau này thành gia lập nghiệp, phẩm cao hạnh trỗi, được xã hội khâm
phục ngưỡng mộ sẽ là điều có thể đoán trước được! Nhưng muốn mai sau được thành
tựu thì phải lập chí hành sự từ ngay bây giờ, cần phải trung hậu, siêng năng, cẩn
thận, khiêm cung, hòa thuận, tâm và miệng như một, những gì biểu lộ ra ngoài và
những gì ẩn kín trong lòng chẳng hai, thường giữ lòng hổ thẹn, đừng tự kiêu
căng, sáng - tối chí thành niệm Phật để mong tiêu trừ túc nghiệp, tăng trưởng
thiện căn, chuyện gì cũng lấy lòng thành làm gốc, niệm niệm thường tự soi xét tự
tâm thì sự thành tựu của các trò đều chẳng thể lường được! Vì sao vậy? Do có căn
bản vậy! Nếu hiện tại chẳng dấy lòng Thành cảm kích, hổ thẹn, sốt sắng, dũng
mãnh siêng học, chỉ mong cho xong việc sao cho qua ngày đoạn tháng thì hóa ra đã
cô phụ tấm lòng thiết tha của viện trưởng và các vị [ân nhân]. Do không có lòng
Thành nên dẫu chẳng bị tổn phước giảm thọ, chết yểu, thì cũng là thây đi thịt
chạy, là hạng người cả cõi đời đều chán ghét, vứt bỏ! Các trò phải biết tốt - xấu,
ai nấy gắng sức lên thì may mắn lắm thay!
16. Khuyên khắp mọi người kính tiếc giấy có chữ và tôn
kính kinh sách
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Con
người sống trong thế gian được thành tài đạt đức, dựng công lập nghiệp, cho đến
có được một tài một nghề để nuôi bản thân lẫn gia đình đều nhờ vào sức chủ trì
của văn tự. Chữ là thứ quý báu nhất trong thế gian, có thể khiến cho kẻ phàm trở
thành thánh, kẻ ngu thành trí, kẻ bần tiện trở thành phú quý, kẻ tật bệnh trở
thành mạnh khỏe, đạo mạch thánh hiền được lưu truyền muôn đời, lo toan cho bản
thân gia đình, truyền lại cho con cháu, không gì chẳng cậy vào sức văn tự. Nếu
cõi đời không có chữ thì hết thảy mọi sự lý đều chẳng thành lập được, con người
khác gì cầm thú đâu! Đã có công sức như thế, cố nhiên phải nên trân trọng, mến
tiếc. Trộm thấy người thời nay mặc tình khinh nhờn, làm nhơ bẩn, đúng là coi vật
quý báu nhất hệt như phân đất vậy, há chẳng khỏi đời này tổn phước giảm thọ, đời
sau vô tri vô thức ư? Hơn nữa, không chỉ chẳng nên khinh nhờn, làm dơ, vứt bỏ
chữ hữu hình mà đối với chữ vô hình lại càng chẳng nên khinh nhờn, làm bẩn, vứt
bỏ! Nếu chẳng tận lực thực hiện “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ” tức
là đã quên mất tám chữ vậy. Đã quên tám chữ ấy thì sống là loài cầm thú đội mũ
mặc áo, chết đọa trong tam đồ ác đạo, chẳng đáng buồn ư?
Chữ là thứ quý báu nhất trong
thế gian; vàng, bạc, châu ngọc, tước vị chẳng thể sánh bằng, vì vàng, bạc, châu
ngọc, tước vị đều do chữ mà có. Nếu thế gian không có chữ thì vàng, bạc, châu
ngọc, tước vị cũng không có cách gì để đạt được cả! Ân đức của chữ nói chẳng thể
tận. Kính tiếc chữ viết phước báo rất lớn. Cha của ông Vương Văn Chánh đời Tống
hết sức kính tiếc giấy có chữ, về sau mộng thấy Khổng Phu Tử dùng tay xoa lưng
bảo: “Ông dốc lòng tiếc chữ của ta như thế
nên ta sẽ sai Tăng Sâm sanh vào nhà ông hòng làm rạng rỡ môn hộ”. Do vậy, về
sau sanh con bèn đặt tên là Vương Tăng[5],
đỗ đầu liên tiếp ba kỳ thi, được phong làm Tể Tướng, khi mất được đặt thụy hiệu
là Văn Chánh Công, tước phong Nghi Quốc Công. Hậu duệ đỗ đạt liên miên, con
cháu hiền thiện đều do đời trước kính trọng sách vở và giấy có viết chữ mà ra.
Gần đây, gió Âu dần dần thổi
sang phương Đông, chẳng những kẻ bình dân chẳng biết kính tiếc sách vở, giấy có
chữ, ngay cả Nho sĩ đọc sách cũng chẳng cung kính sách vở và giấy có chữ, hoặc
bỏ sách trên sập ngồi, hoặc dùng sách để gối đầu, hoặc giận dữ bèn quăng sách
xuống đất, hoặc đi tiêu tiểu vẫn xem thi thư. Chẳng những đại tiểu tiện xong nhất
loạt chẳng rửa tay, mà ngay cả đêm nằm ngủ với vợ, sáng dậy đọc sách cũng chẳng
rửa tay. Thường dùng giấy có chữ viết để lau chùi đồ đạc, rồi vẫn [giả vờ] giữ tiếng
là kính trọng giấy có chữ bèn đốt [những mảnh giấy đã dùng để lau chùi đồ đạc ấy].
Vì thế, khiến cho những kẻ bình dân không có gì để học theo, nên trong thùng
rác, trong nhà tiêu, đầu đường cuối ngõ, không đâu chẳng là giấy có chữ [la liệt]
khắp đất. Người đi tàu, ngồi xe thường dùng giấy báo để lót chỗ ngồi, phụ nữ đi
ra ngoài đều dùng giấy báo để bọc giày, vớ. Đủ mọi nỗi khinh nhờn chẳng thể nêu
trọn. Vì thế, thiên tai nhân họa liên tiếp giáng xuống đều là vì khinh nhờn vật
quý báu nhất trong trời đất mà ra. Chẳng biết trong những tờ giấy có chữ ấy đều
có những chữ “thiên, địa, nhật, nguyệt”, có những câu văn trích từ kinh sách của
thánh hiền. Coi vật trân bảo tôn quý tột bậc ấy như phân, như đất, há lẽ nào chẳng
giảm phước tổn thọ, hiện tại gánh lấy tai ương, gây nên quả báo con cháu ngu
hèn ư?
Bài văn ở phía trên của thầy ta đã bao quát những nét chánh yếu, nhưng tôi vẫn sợ “nêu ra một điều chưa chắc [người đọc] đã suy nghĩ đến ba”, cho nên tôi lại chọn lựa những điều con người dễ coi thường để nhắc thêm, ngõ hầu người có lòng lo cho thế đạo nhân tâm sẽ xoay vần khuyên chỉ, để ai nấy đều cùng mến tiếc giấy có chữ viết thì sẽ giàu, thọ, mạnh khỏe, bình yên, thân hiện tại được hưởng năm điều phước như Cơ Tử đã luận, thông minh sáng suốt, hậu duệ sẽ nhận lãnh trăm điều tốt lành như trong bài giáo huấn của Y Doãn (Trần Tiên Thiện viết)
17. Luận về tên gọi của Tam Dư Đức Đường
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Ông
Ninh Đức Tấn xin khai thị về tên gọi Tam Dư Đường của chính mình, mong sao đối
với pháp thế gian liền hiểu thông suốt Phật pháp, ngõ hầu con cháu đời sau ai nấy
đều vâng giữ đạo “trọn vẹn luân thường, tu tâm” hòng làm chuyện lợi mình, lợi
người. Tôi nói: Hai chữ Tam Dư[6]
bất quá để khuyên răn siêng năng, tận lực học hành, đừng bỏ phí thời gian, một
khắc ngàn vàng, hễ đã mất không cách nào tìm lại được. Hãy nên thêm vào một chữ
Đức thì ý nghĩa sẽ sâu xa hơn. Dư là như câu “tích thiện dư khánh, tích bất thiện dư uơng” trong kinh Dịch, mang
ý nghĩa dài lâu chẳng ngơi, lưu truyền mãi mãi chẳng hư nát vậy. Không một pháp
thế gian nào thường còn mãi, chỉ riêng có người lập đức, lập công, lập ngôn thì
mới có thể vĩnh viễn truyền lại cho đời sau và thường còn lâu dài; nhưng tạo lập
được đức nghiệp ấy, nói dễ dàng sao? Nay dạy cho ông cách thực hiện dễ mà thành
công cao, dùng sức ít mà được hiệu quả nhanh chóng, dẫu chẳng có bản lãnh tạo dựng
ấy nhưng lợi ích sẽ lớn lao hơn nhiều.
Ấy chính là dốc lòng tu “giữ vẹn
luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều
ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, mến tiếc sanh mạng
loài vật, rộng hành phương tiện, tạo lợi ích cho hết thảy, thật sự vì sanh tử
phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật, quyết định cầu sanh Cực
Lạc thế giới”. Dùng điều này để tự hành, lại còn dùng đó để dạy người. Phàm
trong là cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, ngoài là làng nước, xóm giềng, thân
thích, bạn bè, đều lấy chuyện giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận và niệm Phật
cầu vãng sanh để khuyên lơn sao cho bọn họ đều cùng trong đời này vượt trỗi, dự
vào bậc thánh hiền, đến khi lâm chung cao đăng cõi Cực Lạc. Luận về phương diện
sự nghiệp, thành tích thì những người kia (tức những người lập đức, lập công, lập
ngôn) to lớn hơn những người này nhiều lắm, nhưng luận về lợi ích thì những người
này trội hơn những người kia thật sâu. Ấy là vì một đằng thì chuyên chú vào
pháp thế gian, một đằng còn chú trọng thêm nơi pháp xuất thế. Một đằng chỉ hữu
ích cho sắc thân, một đằng thì kèm thêm lợi ích cho huệ mạng nữa. Đấy chính là
ba dư đức cho pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Đến khi vãng sanh Tây
Phương thấy Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn thì Pháp Thân, Bát Nhã, Giải Thoát
tam đức bí tạng sẽ từ Phần Chứng mà đạt đến chỗ Viên Chứng rốt ráo, thì mới là
rốt ráo ba dư đức vậy! Ba đức ấy theo chiều dọc cùng tột ba đời, theo chiều
ngang trọn khắp mười phương, hằng cổ hằng kim, chẳng dời, chẳng biến, nơi phàm
chẳng giảm, tại thánh không tăng, nhưng do mê chưa ngộ nên chẳng thể thụ dụng
được.
“Pháp Thân Đức” chính là bản
tánh bất sanh bất diệt của chúng ta, “Bát Nhã Đức” chính là chánh trí lìa niệm
thường hiểu biết của chúng ta, “Giải Thoát Đức” chính là tịnh hạnh trong sạch
không tỳ vết của chúng ta. Ba Đức ấy chẳng tách rời nhau, ước trên mặt nghĩa lý
thì chia thành ba, chứ thật ra, một còn chẳng lập, huống là có ba! Vì thế gọi
là “ba dư đức rốt ráo”. Nếu không gieo thiện căn trong đời trước, dẫu hết kiếp
cũng chẳng nghe được nghĩa này. Dùng ngay những pháp thế gian như luân thường,
hiếu, đễ v.v… để tu Phật pháp, dùng ngay pháp xuất thế liễu sanh tử để hướng dẫn
những pháp luân thường, hiếu đễ v.v… khác nào dựng tháp trên đỉnh núi và đào giếng
nơi đất thấp, tuy cùng đạt được những cái giống nhau, nhưng dụng công có hình
tướng khó - dễ khác biệt vô cùng. Nếu có thể y theo đó để tu thì lợi ích lớn
lao thay!
18. Luận về cái tên Tông Đạo
(năm Dân Quốc 19 - 1930)
Đứa
con chưa sanh ra có pháp danh là Tông Đạo, cái tên ấy dùng để xưng hô suốt cả một
đời, chẳng cần phải đặt ra nhũ danh, quan danh, tự và hiệu[7].
Vì sao vậy? Muốn cho nó thấy cái tên mà nghĩ đến ý nghĩa để tự giữ bản thân cho
tốt lành lại còn nêu gương cho hết thảy nữa. Tông là gốc, là chủ. Đạo là cái
tánh bọn ta đều cùng sẵn có và là pháp phải nên trọn hết, phải nên hành vậy.
Tánh tức là Phật tánh, do mê chưa ngộ bèn thành chúng sanh. Nay lấy tánh ấy làm
tông tức là giành được quyền làm chủ, tất cả những vọng niệm tham - sân - si sẽ
chẳng tới mức tự buông lung, ào ạt đến nỗi lấn chủ gây họa. Những pháp “phải nên
trọn vẹn hết, phải nên hành” chính là “cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính,
chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành”. Tám điều ấy tuy thuộc vào
tám đối tượng, nhưng thật ra không một ai chẳng đều trọn đủ [tám vai trò ấy]. Hễ
đã có chức trách thì phải tận hết bổn phận, ắt sẽ chẳng phải lo gia đình không
yên vui, con cái không được dạy dỗ. Lại cần phải “ngăn giận, chặn dục, dứt lòng
tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện” thì sẽ làm
gương cho làng xóm, khiến cho ai nấy đều dõi theo nhau, [bắt chước nhau] mà làm
lành. Lại còn phải chí thành niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tự hành, dạy người
cùng sanh về Tịnh Độ, đích thân chứng được Phật tánh vốn có thì cái tên Tông Đạo
mới có thực chất. Xin hãy thường dùng những điều này để dạy bảo nó.
19. Sớ quyên mộ nạo vét ao hoa sen chùa Phổ Tế núi Phổ
Đà
(năm Dân Quốc 20 - 1931, viết thay)
Phổ
Đà danh sơn chính là cuộc đất thù thắng thị hiện dấu tích của Đại Sĩ. Phổ Tế
Thiền Tự quả thật là đạo tràng cầu phước cho quốc dân. Do vậy, các triều đại
khâm kính, cả cõi đời tôn sùng. Phật điện, lầu kinh chót vót tận trời thẳm, lời
văn của hoàng đế, bia ngự huy hoàng trong chốn biển Đông. Thiện tín vì gội ân
toan báo đức mà chẳng sợ trèo núi vượt biển nhọc nhằn, những bậc mong thành chánh
giác, mong chứng Chân trong ngoài nước ai nấy đều muốn giãi bày tấm lòng kiệt
thành tận kính. Nhưng do điện vũ rộng lớn, mà tài sản nhà chùa đạm bạc, hằng
năm cần phải chi tiêu rất nhiều, lương thực cho Tăng chúng [tốn kém] rất lớn,
chỉ chuyên lo đối phó với chuyện ấy, nên chưa rảnh rang để lo đến ao sen. Ao
chính giữa sen còn mọc đầy, nhưng bùn sâu nước cạn, cũng khó thể là kế lâu dài
được! Ao ở phía Tây đã từng là vườn rau, rồi lại đào thành ao. Ao ở phía Đông lớn
nhất, ước chừng mười mẫu, bùn lầy tràn ngập, khác nào chằm cỏ.
Bất Huệ thay mặt vị Trụ Trì,
thẹn thiếu tài đức, trộm nghĩ tiền nhân đào ao đâu phải chỉ nhằm mục đích mỹ
quan, mà chính là vì muốn biểu thị cảnh tượng Tây Phương ngõ hầu những người tạm
đến đây hoặc thường trụ khi đi kinh hành bên bờ ao hoa sen, thần thức sẽ dạo
chơi Cực Lạc. Nếu có thể tịnh niệm tiếp nối, chắc chắn lâm chung sẽ vãng sanh.
Quả thật là duyên trợ đạo thù thắng, thực sự là nhiệm vụ cấp bách để hoằng
pháp, tính cho khơi vét cả hai ao chánh giữa và ao phía Đông, dùng đá be bờ ao
phía Đông, phía trên xây lan can bằng xi-măng để bảo vệ và tạo vẻ mỹ quan. Như
vậy thì cái ao vuông mười mẫu mênh mông như tấm gương, có được nguồn nước lưu
chuyển sẽ soi bóng mây và ánh sáng mặt trời khiến cho bậc thượng sĩ Nam tham, bậc
cao nhân Đông thỉnh[8]
kinh hành trên những tầng cấp ở bốn phía sẽ khế ngộ “nhất niệm tịnh tâm”. Mối
quan hệ ấy há nông cạn, nhỏ nhoi ư? Nhưng bát [rỗng tuếch] như chiếc khánh treo
cậy tay người đẽo gọt, khẩn cầu các vị đại hộ pháp cùng phát thâm tâm thành tựu
sự tốt đẹp, ai nấy quyên ra của báu tốt đẹp vô tận để do tài thí mà thành pháp
thí, chỉ làm một chuyện mà được lợi ích đôi bề, công đức ấy há thể diễn tả được
ư?
20. Sớ thuật bày duyên khởi trùng hưng chùa Thọ Lượng
tại Cám Châu (tỉnh Giang Tây)
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Thật
Tế lý địa trải trần kiếp chẳng biến, chẳng dời, nhưng trên phương diện Phật sự
thì theo nhân duyên mà có hưng vượng hay suy bại. Tuy “bỉ cực thái lai” vốn thuộc
vận trời, nhưng sửa cũ dựng mới quả thật phải nhờ vào con người thực hiện. Xưa
kia khi đức Thế Tôn sắp nhập Niết Bàn đã đem pháp đạo phó chúc cho quốc vương,
đại thần, dạy họ hộ trì, lưu thông. Ấy vì Ngài đã thấy trước đời sau pháp yếu
ma mạnh, nếu không cậy vào hạng vĩ nhân có quyền lực bảo vệ bình yên, ngăn chặn
kẻ khinh lấn, thì tròng mắt của trời người, huệ mạng của Như Lai chắc sẽ gần
như bị diệt mất. Chùa Thọ Lượng là một đạo tràng cổ đã lâu một ngàn năm trăm
năm của Cám Châu. Nhằm thời Tiêu Lương[9],
Phòng Ngự Sứ[10]
là Lô Quang Đảo vì sư Đạo Thành mà dựng chùa này. Thoạt đầu đặt tên là Lô Hưng
Diên Thọ, rồi đổi thành Thánh Thọ, đến niên hiệu Tường Phù đời Tống, vua Chân
Tông đặc biệt sắc tứ cho chùa cái tên hiện thời. Trong những đời Nguyên, Minh,
Thanh, đời nào cũng hưng vượng, đến thời Quang Tự nhà Thanh, đột nhiên bị suy
vi. Năm Dân Quốc thứ 4 (1915), lại bị lụt lớn, đến nỗi ngôi chùa Phật trang
nghiêm trọn thành gò hoang, chỉ có mình tượng Quán Âm cao một trượng sáu đúc bằng
sắt là còn nguyên vẹn không bị hư hại. Những vị thân sĩ trong vùng thỉnh hòa
thượng Đại Xuân chùa Quang Hiếu kiêm nhiệm Trụ Trì. Hòa Thượng bèn cùng với đại
sư Đức Sâm – là vị Tăng trụ ở đấy – cạn sức lo liệu, dựng Quán Âm Điện.
Sau này, cụ Đại Xuân qua đời,
thầy Đức Sâm rời đất Cám, tìm người kế nhiệm Trụ Trì không ra, đến nỗi tòa thị
chánh coi là đất bỏ hoang, tính sửa thành chợ rau, mở đường sá. Những hàng Tăng
- tục trong vùng báo cho thầy Đức Sâm biết, do vậy thầy bèn gởi thư đến những bậc
tai to mặt lớn các giới lần lượt khẩn cầu bảo vệ. May sao được Tưởng Ủy Viên
Trưởng thuộc Quân Sự Uỷ Viên Hội và Trần Tổng Tư Lệnh tỉnh Quảng Đông cùng Từ
Quân Trưởng đều đánh điện cho vị Sư Trưởng đang đóng quân ở đất Cám là tiên
sinh Lý Toàn Không lập cách bảo vệ. Hội Phật Giáo Trung Quốc cũng lại gởi thư, đánh
điện cầu xin Lý Sư Trưởng duy trì cũng như tuyển lựa người thích hợp qua lại phụ
trách, quy hoạch, chỉnh lý. Ông Lý bèn hạ lệnh bãi bỏ đề nghị trước kia, lại
còn bằng lòng duy trì cho [nhà chùa] mau được khôi phục. Những vị quan viên, thân
sĩ trong vùng như ông Lưu Cấp Phủ v.v… tận lực đảm nhiệm vai trò trung gian và nguyện
làm hậu thuẫn giúp cho ngôi chùa được khôi phục. Ấy là vì pháp đạo được hưng thịnh
đều do có nhân duyên, chẳng qua cơn sóng gió này thì ngôi chùa này sẽ gần như
biến mất.
Chỉ vì hiện thời đang nhằm thuở
Mạt Pháp, con người căn tánh kém hèn, nếu không cậy sức đại thệ nguyện của Phật
Di Đà để vãng sanh Tây Phương thì ai có thể đoạn sạch Phiền Hoặc, liễu sanh
thoát tử ngay trong đời này? Do vậy, khôi phục lần này sẽ chuyên tu pháp môn Tịnh
Độ và lập thêm Cư Sĩ Lâm, lưu thông xứ (phòng phát hành kinh sách), để các nhân
sĩ trong vùng đều biết đạo trọng yếu hòng
thoát Ngũ Trược lên chín phẩm và biết khuôn mẫu tốt lành để giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, biết nhân quả, tu trì cẩn thận. Như thế thì do Liên Xã được
mở mang mà tông phong chấn hưng, lễ giáo hưng khởi, vận nước tốt đẹp, sáng sủa,
ngõ hầu xứng với ý nghĩa lập chùa đặt tên của cổ nhân, cũng như để an ủi một
phen nhiệt tâm bảo vệ duy trì của các vị.
Nhưng do nhà chùa không có hằng
sản, tăng không tích trữ, bèn cậy Bất Huệ viết lời sớ dẫn giải hòng khẩn cầu
các vị đại hộ pháp và các thiện tín phát tâm Bồ Đề hành phương tiện sự, chở
vàng, chở gạo, xoay vần khuyên bảo quyên mộ, khiến cho điện báu thênh thang sớm
có ngày thành công, mãn nguyệt kim dung thường trụ suốt kiếp. Tịnh tông được thịnh
hành, con người đều biết đạo thoát khổ, nhân quả phô tỏ rõ ràng, mọi người cùng
nhau đi theo con đường mong trở thành thánh, sẽ thấy Phật, trời bảo vệ như mây
nhóm, tốt lành, mừng vui đua nhau đưa đến, cửa nhà yên vui, quyến thuộc bình
an, giàu, thọ, khỏe mạnh, bình yên, thân hiện tại được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử
đã luận, lan quế[11]
ngào ngạt, hậu duệ nhận lãnh trăm điều tốt lành như đã nói trong bài giáo huấn
của Y Doãn, chỉ mong ai nấy đều phát lòng tùy hỷ, đều cùng được tiếng thơm.
21. Sớ quyên mộ tu bổ điện vũ và thánh tượng chùa Quán Âm ở Triệu Gia Thôn thuộc Đông Hương, huyện Cáp Dương