Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Quyển Hạ
Phần 7
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
VI. Câu đối
Bắt nguồn từ đầu đời Tống, Thục Hậu Chúa Mạnh Sưởng[1]
[viết câu đối] mừng Xuân mới. Từ đấy, Tăng - tục đều [dùng câu đối] để tán tụng
công đức, nêu tỏ đạo nhiệm mầu, giãi bày những điều ấp ủ trong lòng, hoặc nhờ
đó để khuyên nhủ những người cùng hàng. Bộ Vân Thê Pháp Vựng[2]
từng chép những câu đối, nay noi theo dấu thơm để đổi lấy một trận cười.
Ấn Quang ghi.
1. Câu đối
tán dương Phật Thích Ca
a) Hạ Đâu Suất
nhi giáng thần, trụ thế bát thập kỳ niên, linh cửu giới chúng sanh triệt kiến bản
lai chân diện mục.
Đổ minh tinh
nhi ngộ đạo, đàm kinh tam bách dư hội, tỉ đại thiên Phật tử phục quy nguyên hữu
cựu gia hương
(Từ Đâu Suất giáng thần, trụ thế suốt tám mươi năm khiến
cả chín giới chúng sanh thấy tột cùng bản lai chân diện mục,
Thấy sao Mai ngộ đạo, giảng kinh hơn ba trăm hội hòng
Phật tử khắp cõi đại thiên trở về lại chốn quê hương sẵn có)
b) Phật ứng Tây
Càn, độ chúng sanh dĩ ngộ chứng Bồ Đề, cố cảm thiên long thường ủng hộ.
Pháp lưu Đông
Độ, khai văn hóa nhi chấn phát lung quý, trí linh hiền trí tận quy tông.
(Phật ứng hiện trời Tây, cứu độ chúng sanh, ngộ chứng
Bồ Đề, nên cảm trời - rồng thường ủng hộ.
Pháp truyền sang xứ Đông, mở mang văn hóa, rúng động
điếc - đui, khiến cho hiền - trí đều quy ngưỡng)
c) Tam Hoặc tận
nhi nhị tử vong, nhất trần bất lập,
Ngũ Uẩn không
nhi lục căn tịnh, vạn đức viên chương
(Tam Hoặc hết, nhị tử tiêu, mảy trần chẳng lập,
Ngũ Uẩn không, sáu căn sạch, muôn đức trọn bày)
d) Viên ngộ Tạng
tánh, triệt chứng tự tâm, đạo thông thiên địa hữu hình ngoại
Từ khởi vô
duyên, bi vận đồng thể, ân biến thánh phàm hàm thức trung.
(Viên ngộ Tạng tánh, chứng tột tự tâm, đạo thông trời -
đất, vượt khỏi hữu hình,
Khởi vô duyên từ, vận bi đồng thể, ân trùm thánh -
phàm, thấu cùng hàm thức).
e) Ký hữu tình cộng
chứng chân thường bản tịch diệt tâm, thuyết viên thông pháp,
Kỳ hàm thức đồng
đăng giác ngạn, y nhất thật đạo, khai phương tiện môn.
(Mong hữu tình cùng chứng tâm chân thường sẵn tịch diệt,
nói pháp viên thông,
Cầu hàm thức đều lên bến giác nương đạo nhất thật, mở
cửa phương tiện)
f) Hoa Nghiêm đốn
diễn viên tông, độc bị thượng căn, thượng vị tất phù xuất thế độ sanh chi hoằng
thệ,
Hạnh Nguyện đạo
quy Cực Lạc, toàn thâu cửu giới, phương kham đại sướng thành đạo lợi vật chi bản
hoài.
(Kinh Hoa Nghiêm giảng tông viên đốn, chỉ thích hợp
thượng căn, vẫn chưa khế hợp hoằng thệ “độ trọn chúng sanh”,
Phẩm Hạnh Nguyện dẫn về Cực Lạc, trọn bao trùm chín giới,
mới kham thỏa bản hoài thành đạo lợi muôn loài)
2. Câu đối
tán dương A Di Đà Phật
Mạc nhạ nhất
xưng siêu Thập Địa
Tu tri lục tự
quát tam thừa
(Chớ ngờ một câu siêu Thập Địa
Phải hay sáu chữ trọn tam thừa)
3. Câu đối
tán dương Phật Thích Ca
Hoa biểu viên
nhân, hiển Như Lai thành thủy thành chung chi đạo
Nghiêm chương
thật quả, thị chúng sanh tâm tác tâm thị chi môn.
(Hoa biểu thị viên nhân, tỏ rõ đạo thành thủy thành
chung của Như Lai
Nghiêm trang bày thật quả, chỉ bày môn “tâm làm, tâm
là” nơi chúng sanh).
4. Câu đối
tán dương Phật Di Đà
a) Như Lai chửng
tế vô phương, quảng độ chúng sanh tu độ ngã
Ngô bối linh
bình một ký, bất niệm Di Đà cánh niệm thùy?
(Như Lai cứu vớt khôn ngằn, muốn rộng độ chúng sanh phải
độ ta [trước đã],
Bọn ta lênh đênh không nơi nương tựa, chẳng niệm Di Đà
còn biết niệm ai?)
b) Y hoằng thệ
nguyện, kiến chiết nhiếp chi pháp môn, đản khẳng nhất tâm trì danh, tự nhĩ tiềm
phù Thật Tướng, tỉ tứ thánh lục phàm đồng chứng chân thường, cố đắc cửu giới
hàm quy, thập phương cộng tán.
Dĩ đại từ bi,
lập yểm hân chi thắng hạnh, nhược năng sơ độ thác chất, hà nan đốn nhập Tịch
Quang, đạo tam thừa ngũ tánh tề đăng tịnh vực, nhân tư thiên kinh câu xiển, vạn
luận quân tuyên.
(Nương thệ nguyện rộng sâu, lập pháp môn chiết - nhiếp[3],
chỉ cần nhất tâm trì danh, từ đấy ngầm hợp Thật Tướng, khiến tứ thánh lục phàm cùng
chứng chân thường, nên được chín giới đều hướng về, mười phương cùng khen ngợi.
Dùng từ bi rộng lớn, tạo thắng hạnh ưa - chán, nếu được
sanh về Sơ Độ[4],
khó gì mau nhập Tịch Quang, dẫn tam thừa ngũ tánh đều lên cõi tịnh, do vậy ngàn
kinh cùng xiển dương, muôn luận đều tuyên nói)
c) Ưng đương
phát nguyện, nguyện vãng sanh, khách lộ khê sơn, thiết mạc tùng đầu tái quyến
luyến.
Tự thị bất
quy, quy tiện đắc, cố hương phong nguyệt, trực tu toàn thể tổng thân thừa.
(Hãy nên phát nguyện, nguyện vãng sanh, núi khe nẻo
khách, từ rày thôi quyến luyến.
Tự mình chẳng về, về liền được, gió trăng quê cũ, toàn
thể hãy tự vâng)
d) Thành tựu lục
bát đại nguyện, cư Tây Phương dĩ tác Phật, cử Hoa Tạng thế giới chư trang
nghiêm viên chương Tịnh Độ,
Mẫn niệm cửu
phẩm hàm linh, hướng Đông vực nhi thùy từ, dẫn Sa Bà quốc trung chúng nam nữ đồng
vãng liên bang.
(Thành tựu bốn mươi tám đại nguyện, làm Phật chốn Tây
Phương, toàn thể thế giới Hoa Tạng trang nghiêm trọn phô Tịnh Độ,
Nghĩ thương khắp chín phẩm hàm linh, rủ lòng Từ Đông độ,
dẫn khắp cõi nước Sa Bà nam nữ cùng đến liên bang)
e) Xả Tây quy tiệp
kính, cửu giới hữu tình thượng hà dĩ viên thành giác đạo?
Ly Tịnh Độ
pháp môn, thập phương chư Phật hạ bất năng phổ lợi quần manh
(Bỏ đường tắt Tây Phương, chín giới hữu tình trên lấy
gì để viên thành giác đạo?
Lìa pháp môn Tịnh Độ, mười phương chư Phật dưới chẳng
thể lợi khắp quần manh)
g) Ngũ trụ nhị
chấp, mông quang đốn viên phù tứ đức,
Tam thừa lục
đạo, khắc niệm định chứng ư Nhất Chân,
(Ngũ trụ nhị chấp[5],
nương quang nhanh chóng viên thành Tứ Đức,
Tam thừa lục đạo, quyết lòng chắc chắn chứng nhập Nhất
Chân)
h) Phật nguyện
hoằng thâm, thập phương cộng tán,
Sanh tâm khẩn
đáo, cửu giới đồng quy
(Nguyện đức Phật rộng sâu, mười phương cùng khen ngợi,
Tâm chúng sanh gấp tới, chín giới đều hướng về)
i) Thọ lượng vô
biên, thụ cùng tam tế,
Quang minh hữu
tượng, hoành biến thập phương.
(Thọ lượng không ngằn mé, theo chiều dọc tột cùng ba đời,
Quang minh hiện hình ảnh, theo chiều ngang trọn khắp
mười phương)
j) Khổ hải vô
biên, hồi đầu thị ngạn,
Lạc bang hữu
lộ, khởi tín tức sanh
(Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ,
Cõi vui có nẻo, tin tưởng liền sanh)
k) Duy kỳ Ngũ
Trược đốn không, nhậm tha hương vô nhân phần, địa vô nhân tảo,
Thảng đắc Nhất
Chân cộng chứng, tự nhĩ nguyện linh ngã mãn, tâm linh ngã an
(Chỉ mong mau không Ngũ Trược, nào quản hương không
người thắp, đất không người quét,
Nếu được cùng chứng Nhất Chân, từ đấy nguyện khiến ta
thỏa, tâm khiến ta an)
5. Câu đối
tán dương Phật Di Lặc
Bảo các phú
thập hư, uyển nhược không hàm vạn tượng,
Phân thân biến
trần sát, trực đồng nguyệt ấn thiên giang
(Gác báu rợp mười phương, giống hệt hư không chứa muôn
hình tượng,
Phân thân khắp cõi trần, nào khác vầng trăng in bóng
ngàn sông)
6. Câu đối
tán dương Phật Di Đà
a) Tế độ vô
phương, lân y thể nhất,
Tân lương
võng trắc, mẫn bỉ mê thâm.
(Tế độ khôn ngằn, xót chúng sanh vốn cùng một thể,
Bến bờ nào thấu, thương hữu tình mê muội sâu xa)
b) Thệ nguyện hoằng
thâm, thập phương cộng tán
Từ bi quảng đại,
cửu giới đồng quy
(Thệ nguyện rộng sâu, mười phương cùng khen ngợi,
Từ bi rộng lớn, chín giới đều nương về)
7. Câu đối
tán dương ngài Di Lặc
a) Thản phúc tiếu
dung nhiếp hải chúng,
Phân thân tán
ảnh thị thời nhân.
(Bụng rộng mặt cười nhiếp hải chúng,
Phân thân hiện bóng dạy người đời)
b) Yến tọa đẳng
nhân lai, dự nhiếp Long Hoa hội lý hữu duyên chi bối
Phùng cơ dĩ
tiếu ứng, viên chương đại đỗ bì trung vô sở bất dung
(Ngồi lặng đợi người đến, nhiếp sẵn hạng hữu duyên
trong hội Long Hoa,
Gặp căn cơ bèn cười, phô trọn bụng to đùng không gì chẳng
chứa)
c) Lâu các môn
khai, viên chương pháp giới tu nhân sự,
Từ bi nguyện
phổ, dự nhiếp Long Hoa chứng quả nhân
(Cửa lâu các mở, trọn bày sự tu nhân nơi pháp giới,
Từ bi nguyện khắp, nhiếp sẵn người chứng quả hội Long
Hoa)
8. Câu đối
tán dương đức Quán Âm
Hữu cảm tức
thông, thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vô cơ bất bị,
vạn lý vô vân vạn lý thiên.
(Có cảm gì liền thông, ngàn sông in bóng nước ngàn
trăng,
Không căn nào chẳng ứng, vạn dặm không mây vạn dặm trời)
9. Câu đối
tán dương đức Phật
Triệt chứng
Nhất Chân pháp giới, Tam Hoặc tận nhi nhị tử vong, đức siêu Thập Địa,
Phổ linh cửu loại
thánh phàm, Ngũ Uẩn không nhi lục độ cụ, đạo kế Đại Hùng.
(Chứng tột Nhất Chân pháp giới, Tam Hoặc hết, nhị tử[6]
tiêu, đức siêu việt hàng Thập Địa,
Khiến khắp chín loại thánh phàm, Ngũ Uẩn không, lục độ
trọn, đạo thừa kế đấng Đại Hùng)
10. Câu đối
tán dương Quán Âm Bồ Tát
a) Nhất trần bất
lập, đắc chân viên thông, hiện tùy loại trục hình chi thân, tầm thanh cứu khổ,
Ngũ uẩn giai
không, chứng đại tịch diệt, y tức tâm tự tánh chi đạo, thuyết pháp độ sanh.
(Mảy trần chẳng lập, đắc chân viên thông, tùy loại theo
hình hiện thân, tầm thanh cứu khổ,
Ngũ uẩn đều không, chứng đại tịch diệt, nương đạo tự
tánh nơi tâm, thuyết pháp độ sanh)
b) Vân khởi từ
môn, mẫn bỉ mê tình bất dị ngộ,
Ba đằng nguyện
hải, lân y Phật tánh liễu vô thù!
(Mây dấy cửa từ, thương lũ mê tình chưa dễ ngộ,
Sóng trào biển nguyện, xót thay Phật tánh khác chi
đâu)
c) Từ bi tâm thiết,
tuy cứu khổ dĩ tầm thanh, thường trụ Lăng Nghiêm đại định,
Dữ bạt tình
ân, túng đậu cơ nhi thuyết pháp, viên chương tịch diệt chân tông.
(Tâm từ bi tha thiết, tuy hay cứu khổ tầm thanh, vẫn
thường nhập Lăng Nghiêm đại định,
Lòng cứu vớt ân cần, dẫu thuận căn cơ thuyết pháp, cứ
trọn bày tịch diệt chân tông)
d) Chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, thuyết pháp độ sanh, thụ cùng tam tế
Chứng cực nhất
thừa thật tướng, tầm thanh cứu khổ, hoành biến thập phương
(Soi thấy năm uẩn đều không, thuyết pháp độ sanh, dọc
cùng tột ba đời,
Chứng cực nhất thừa thật tướng, tầm thanh cứu khổ,
ngang trọn khắp mười phương)
e) Thệ nguyện hoằng
thâm, xứ xứ hiện thân thuyết pháp
Từ bi quảng đại,
thời thời cứu khổ tầm thanh
(Thệ nguyện rộng sâu, chốn chốn hiện thân thuyết pháp
Từ bi rộng lớn, luôn luôn cứu khổ tầm thanh)
f) Pháp pháp
viên thông, cố danh Tự Tại
Đầu đầu hợp đạo,
nhân hiệu Phổ Môn
(Pháp nào cũng viên thông, cho nên tên Tự Tại,
Chuyện gì thảy hợp đạo, bởi vậy hiệu Phổ Môn)
g) Từ khởi vô
duyên, ân châu thứ loại,
Bi hưng đồng
thể, đạo khải đa môn
(Dấy lòng từ vô duyên, rộng ban ân muôn loại,
Vận lòng bi đồng thể, mở mối đạo nhiều môn)
11. Câu đối
tán dương Thế Chí Bồ Tát
a) Bổn nguyện bất
vi, nhiếp niệm Phật nhân quy Tịnh Độ,
Phân thân vô
lượng, cư Cực Lạc quốc biến thập phương
(Chẳng trái bổn nguyện, nhiếp người niệm Phật sanh về
Tịnh Độ,
Phân thân vô lượng, ngự cõi Cực Lạc trọn khắp mười
phương)
b) Đô nhiếp lục
căn, hoạch đại tịch diệt,
Đơn đề nhất
niệm, chứng chân viên thông.
(Nhiếp trọn sáu căn, đắc đại tịch diệt,
Chỉ khởi một niệm, chứng chân viên thông)
c) Dĩ trí huệ
quang, phổ chiếu nhất thiết,
Thừa viên
thông đạo, quảng độ chúng sanh.
(Dùng trí huệ quang chiếu khắp hết thảy,
Nương viên thông đạo rộng độ chúng sanh)
12. Câu đối
tán dương Bồ Tát
Chứng chư Phật
bổn diệu giác tâm, tùng tư an trụ Tịch Quang, hưởng chân thường chi pháp lạc,
Mẫn chúng
sanh mê Như Lai tạng, cố phục hiện thân trần sát, tác đắc độ chi nhân duyên
(Chứng tâm vốn diệu giác của chư Phật, từ đấy an trụ Tịch
Quang hưởng pháp lạc chân thường,
Thương chúng sanh mê tạng tánh Như Lai, nên lại hiện
thân trần sát làm nhân duyên đắc độ)
13. Câu đối
đề Phật điện
Minh hiển hàm
gia, ân du phụ mẫu
Thánh phàm phổ
lợi, đức mại khung thương
(Ngầm lẫn hiển đều gia hộ, ân hơn cha mẹ,
Thánh cùng phàm đều lợi khắp, đức quá trời cao)
14. Câu đối
tán dương đức Vi Đà hộ pháp
Bồ Tát hóa
thân, phụ chánh tồi tà hoằng thánh giáo,
Đồng chân nhập
đạo, an bang hộ quốc, độ quần mê.
(Bồ Tát hóa thân, giúp chánh dẹp tà, hoằng dương thánh
giáo,
Đồng chân nhập đạo[7],
yên cõi vững bờ, rộng độ quần mê)
15. Câu đối
tán dương Vi Đà Bồ Tát ở Phổ Đà
Hộ pháp an tăng,
tỉ hữu tình cộng nhập Phổ Môn, mãn Quán Âm nguyện,
Hàng ma chế
ngoại, linh hàm thức tề đăng giác ngạn, toại Thiện Thệ tâm
(Hộ pháp, giữ yên Tăng chúng, mong hữu tình cùng nhập
Phổ Môn, thỏa tâm đức Quán Âm,
Hàng ma, chế phục ngoại đạo, khiến hàm thức đều lên bờ
giác, toại lòng đấng Thiện Thệ[8])
16. Câu đối
tán dương Thiên Vương ở Phổ Đà
Xí từ vân phổ
phú trần hoàn, dĩ thiên vương thân tác Như Lai sứ,
Kỳ pháp vũ
quân triêm sa giới, hiện đại nhân tướng trấn viên thông tràng.
(Ngóng mây từ che khắp trần hoàn, dùng thân thiên
vương làm sứ giả Như Lai,
Mong mưa pháp thấm đều sa giới[9],
hiện tướng đại nhân trấn đạo tràng viên thông)
17. Câu đối
tán dương Quan Đế
Hạo khí xung
thiên, ngưỡng hiệu nghĩa thiên chi phú tý
Tinh trung
quán nhật, thường tùy Phật nhật dĩ chiêu chương
(Hạo khí ngút trời cao, kính học Nghĩa Thiên[10]
thường che chở,
Tinh trung lòa nhật nguyệt, thường nương Phật nhật rạng
phô bày)
18. Câu đối
đề Phật điện
Hạnh mãn quả
viên, đạo tam thừa dĩ tề thành giác đạo,
Bi thâm nguyện
trọng, chửng tứ sanh nhi cộng giới liên bang
(Hạnh mãn quả viên, dẫn tam thừa đều thành giác đạo,
Bi sâu nguyện nặng, độ tứ sanh cùng đến liên bang)
19. Câu đối
tán dương tượng Quán Âm được thờ tại giếng Tiên Nhân thuộc Phổ Đà
Bi nguyện hoằng
thâm, cố tùng cá lý dũng cam lộ,
Từ ân hạo
đãng, trí sử hoàn khu tận kiệt thành
(Bi nguyện rộng sâu, nên từ chốn này vọt lên cam lộ,
Từ ân lồng lộng, khiến khắp trần gian cạn tấc lòng
thành)
20. Câu đối
đề tại điện Phật
Giáo diễn
Thiên, Viên, thống cửu giới nhi tề độ,
Đức toàn phước
huệ, siêu Thập Địa dĩ độc tôn.
(Giáo giảng Thiên, Viên, độ trọn khắp chín giới,
Đức tròn phước huệ, độc tôn hơn Thập Địa)
21. Câu đối
tại Trí Tích Điện ở Linh Nham Sơn
Chứng Pháp
Hoa nhi lai Linh Sơn, truy tùy Đa Bảo tháp trung Phật
Hiện sắc thân
dĩ y Lục đệ, mẫn niệm Diêm Phù thế thượng nhân
(Để chứng minh pháp hội Pháp Hoa, đến Linh Sơn, theo hầu
Phật trong tháp Đa Bảo,
Hiện thân trị bệnh em tể tướng Lục Tượng Tiên, nghĩ
thương người đời cõi Diêm Phù)
22. Câu đối
tán dương ngài Trí Tích ở Linh Nham
a) Linh Nham
linh tích hữu vĩnh phù, túc hiển luân hồi khoáng viễn,
Trí Tích trí
mưu khải Lục tướng, dụng chương Phật đạo uyên thâm
(Linh Nham dấu thiêng hãy còn vĩnh viễn, đủ rõ luân hồi
xa vời,
Trí Tích khôn khéo khơi gợi Lục tướng[11],
nhằm phô Phật đạo thẳm sâu)
b) Thánh đức nan
tư, đặc hiện tượng thân thuyết pháp yếu,
Bi tâm vô ký,
vĩnh lưu bổn tự tác bình mông
(Thánh đức khó lường, riêng hiển hiện thân tượng nói
pháp yếu,
Bi tâm vô ký[12],
mãi lưu lại chùa này để chở che)
23. Câu đối
đề tại Tàng Kinh Các
Như Lai quảng
vận từ bi, sướng đàm tam tạng thậm thâm chi diệu điển, phổ sử chúng sanh khai
phát Bồ Đề, tiêu dung hoặc nghiệp, đãng hôn mê nhi phục thường tịch chiếu, nhiếp
quả giác nhi tổng tác nhân tâm, trực đồng lộ trích thương minh, tiện thị uông
dương đại hải, chân đào hóa dục, lợi ích nan danh, ngã bối hân phùng minh hối,
cảm bất tốt niên ngột ngột, y giáo tu hành, triệt để cùng nguyên, ẩm tư nhất vị,
tự thử khánh không hậu tế, đạo oán thân dĩ cộng xuất úy đồ, dụng ký ngưỡng thù
phù Phật lực.
Hoàng đế bất
vong phó chúc, ban bố ngũ thời bí mật chi chân thuyên, tất linh hàm thức văn
huân Bát Nhã thanh tịnh căn thân, liễu quái ngại hề hoạch bổn viên thông, tức
phàm tình hề toàn chương thánh trí, vô dị trần đầu hoa nhạc, đốn thành ngập
nghiệp cao sơn, hộ niệm bảo tuy, công huân võng trắc, ngô sài hạnh ngộ chỉ nam,
cố đương chung nhật càn càn, kiệt thành trì tụng, đăng phong tạo cực, quán bỉ
thái hư, do tư châu biến thập phương, phù bão dữ dĩ tề trăn đạo ngạn, vĩnh kỳ
thượng báo ư quân ân.
(Như Lai rộng mở lòng từ bi, giảng thông suốt diệu điển
Tam Tạng rất sâu, khiến khắp chúng sanh khơi mở Bồ Đề, tiêu tan Hoặc nghiệp, gột
sạch hôn mê, khôi phục tịch chiếu thường hằng, nhiếp quả giác về trọn nội tâm, hệt
như giọt sương rơi vào biển thẳm bèn thành biển cả mênh mông, un đúc trưởng dưỡng,
lợi ích khôn nêu, bọn mình mừng gặp giáo huấn rạng ngời, dám chẳng quanh năm miệt
mài, y giáo tu hành, thấu đáy tột nguồn, uống một vị ấy, từ đấy rỗng toang hậu
tế[13],
dẫn oán thân cùng thoát nẻo đường kinh sợ, hòng cung kính đáp đền Phật lực.
Hoàng đế thường chẳng quên phó chúc[14],
ban bố lời chân thuyên năm thời bí mật, hòng mọi hàm thức nghe tập Bát Nhã,
thanh tịnh căn thân, trọn không vướng mắc, thấu đạt viên thông vốn sẵn, dùng
phàm tình trọn nêu thánh trí, khác gì hạt bụi vun vào Hoa sơn mau thành núi cao
ngất ngưởng, hộ niệm chở che, công huân chẳng xiết, lũ ta may gặp chỉ nam[15]
thông tỏ, ắt nên trọn buổi khăng khăng, kiệt thành trì tụng, tới ngọn lên đỉnh,
thấy thái hư kia, do đây trọn khắp mười phương, ôm giữ mọi loài cùng ta tới bến
đạo, mong vĩnh viễn báo đáp ơn vua)
24. Câu đối
đề pháp đường
Huệ diệm trùng trùng, thước phá thiên
niên chi ám thất,
Pháp nguyên cổn
cổn, tư sanh ngũ tánh chi linh miêu
(Lửa huệ trùng trùng, sáng bừng nhà tối ngàn năm,
Nguồn pháp cuồn cuộn, sanh thành mầm thiêng ngũ tánh)
25. Câu đối
đề Tàng Kinh Các
Pháp hải uông
dương, thâm thám triệt để chi nguyên, phương khả vị vô cô Phật hóa,
Nghĩa sơn
tiêu tuấn, trực thượng tuyệt cao chi đảnh, thỉ kham vân bất phụ kỷ linh
(Biển pháp mênh mông, dò tận đáy nguồn thăm thẳm, mới
dám bảo chẳng phụ ơn Phật giáo hóa,
Núi nghĩa vòi vọi, lên thẳng đảnh cao chót vót, mới
đáng nói không phụ bạc tánh mình)
26. Câu đối
đề tại Phật điện trong Tàng Kinh Các
Phật quang phổ
chiếu thập phương giới
Pháp vũ quân
tư ngũ tánh căn
(Phật quang chiếu khắp cõi nước mười phương,
Mưa pháp thấm đều căn cơ ngũ tánh)
27. Câu đối
đề Tàng Kinh Các
Ngũ thời ngôn
giáo, phi dị phi đồng, vị Thật thi Quyền, khai Quyền hiển Thật, hữu như hải dựng
bách xuyên, xuyên phó hải,
Tam thừa đế
lý, tức đa tức nhất, do tánh hiện tướng, nhiếp tướng quy tánh, trực tự không
hàm vạn tượng, tượng y không.
(Năm thời ngôn giáo, chẳng khác, chẳng đồng, vì Thật
bày Quyền, mở Quyền hiển Thật, dường biển cả chứa đựng trăm sông, sông xuôi về
biển,
Ba thừa đế lý, vừa nhiều vừa một, do tánh hiện tướng,
nhiếp tướng về tánh, hệt hư không bao hàm muôn tượng, tượng[16]
nương hư không)
28. Câu đối
đề giảng đường
Pháp hội hoằng
khai, giáo hạnh tịnh tấn, dục đắc thiên cơ phổ dục, lợi độn tề tu, thị cố lược
tư thông đồ, biến sùng đặc biệt, dĩ Hoa Nghiêm viên mãn Bồ Đề chi diệu nhân duy
tại đạo quy Tịnh Độ.
Giảng diên đại
khải, lý sự song thuyên, nghĩ cầu vạn phái triều tông, thánh phàm đẳng ích, do
tư giản khứ tự lực, chú trọng Phật gia, ký Sa Bà cụ túc Hoặc nghiệp chi hàm thức,
hiện sanh đồng phó liên trì
(Pháp hội mở rộng, giáo - hạnh cùng tiến, muốn lợi khắp
ngàn căn cơ, lợi - độn đều tu, vì thế, bỏ qua đường chung, trọn đề cao pháp đặc
biệt, bởi diệu nhân viên mãn Bồ Đề trong Hoa Nghiêm chỉ nhằm dẫn về Tịnh Độ
Giảng tòa khơi lớn, lý - sự cùng giảng, toan cầu trọn
muôn phái hướng về, thánh - phàm cùng ích, do vậy, lựa bỏ tự lực, chuyên chú trọng
Phật gia hộ, mong hàm thức đầy dẫy phiền nghiệp tại Sa Bà, đời này cùng đến
liên trì)
(Cậy vào tự lực gọi là pháp môn theo đường lối thông thường, cậy vào Phật lực gọi là pháp môn đặc biệt. Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xã khánh thành giảng đường, sai tôi soạn câu đối, do vậy bèn nêu bày tông chỉ)
29. Câu đối
tại Niệm Phật Đường
a) Hà tất vấn thị
thùy, thử đạo ư kim chiêu nhật nguyệt,
Đản năng thường
hệ niệm, Phật tâm vô xứ bất từ bi
(Cần gì hỏi là ai[17],
đạo này nay đã rạng ngời nhật nguyệt,
Chỉ cần thường hệ niệm, Phật tâm
không đâu chẳng từ bi)
b) Quyết chí cầu
sanh, hiệu tích hiền tương thác tựu thác,
Nhất tâm ức
niệm, chí kim nhật nhân vân diệc vân
(Quyết chí cầu sanh, phỏng người hiền thuở xưa đem lầm
đáp lạc,
Một lòng nghĩ nhớ, tới nay người nói sao ta cũng nói vậy)
c) Nhân Giới
sanh Định, Định - Huệ viên minh Bồ Đề bổn,
Do Giáo nhập
Tịnh, Tịnh - Thiền quán triệt giác đạo thành
(Bởi Giới sanh Định, Định - Huệ viên minh là cội Bồ Đề,
Do Giáo nhập Tịnh, Tịnh - Thiền quán triệt thành tựu
giác đạo)
d) Lực tu Giới Định
Huệ Không tắc vô ngã kiến,
Thường niệm Từ
Bi Hỷ Xả phương khế Phật tâm.
(Tận lực tu Giới - Định - Huệ - Không sẽ không ngã kiến,
Thường luôn niệm Từ - Bi - Hỷ - Xả mới hợp Phật tâm)
e) Liễu quân đại
sự duy tu tịnh
Sướng Phật bổn
hoài tại vãng sanh
(Xong đại sự của ông chỉ có tu tịnh,
Thỏa bổn hoài của Phật ở nơi vãng sanh)
f) Tam nghiệp
tương ứng, vãng sanh hữu phần,
Lục căn đô
nhiếp, kiến Phật vô nan
(Ba nghiệp tương ứng, vãng sanh có phần,
Sáu căn nhiếp trọn, thấy Phật chẳng khó)
g) Chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai không, viễn ly điên đảo mộng tưởng,
Đô nhiếp lục
căn tịnh niệm, thượng hợp bổn diệu giác tâm.
(Soi thấy năm uẩn đều không, xa lìa mộng tưởng điên đảo,
Nhiếp trọn sáu căn tịnh niệm, trên hợp giác tâm vốn mầu)
h) Ngũ uẩn giai
không, lục căn câu tịch,
Nhất trần bất
nhiễm, vạn đức viên chương
(Năm uẩn đều không, sáu căn đều lặng,
Mảy trần chẳng nhiễm, muôn đức trọn bày)
30. Câu đối
đề Tam Giáo Đường
Nho Thích bổn
đồng nguyên, đạo tịnh hành nhi bất bột,
Nội ngoại
nguyên nhất thể, lý giao hiển nhi di chương
(Nho - Thích vốn cùng nguồn, hai đạo cùng hành không
chống trái,
Trong - ngoài nguyên một thể, lý rọi lẫn nhau thêm rạng ngời)
31. Câu đối
đề tháp viện ngài Vĩnh Minh
Tông kính
viên chiếu, vạn thiện đồng quy, bổn giáo nghĩa nhi tục huệ mạng,
Pháp Hoa nhất
bộ, Phật sự bách bát, chấn đại cơ dĩ cảnh ngu ngoan.
(Tông kính chiếu trọn, vạn thiện đồng quy, bổn giáo
nghĩa nối tiếp huệ mạng,
Pháp Hoa một bộ, Phật sự trăm tám, dấy đại cơ nhắc nhở
bướng ngu)
32. Câu đối
đề Trí Giả Phường[18]
Giáo phán ngũ
thời, hóa nghi hóa pháp song thuyên, Linh Thứu thân thừa chư Thiện Thệ,
Phật minh lục
tức, tâm tác tâm thị tịnh xiển, Chi Na hoằng đạo vô nhị nhân.
(Phán định giáo pháp gồm năm thời, hóa nghi, hóa pháp[19]
cùng giảng, non Linh Thứu đích thân hầu chư Thiện Thệ,
Giải nghĩa chữ Phật bằng lục tức, “tâm làm, tâm là” đều
phô, cõi Trung Hoa hoằng đạo chẳng một ai bằng)
33. Câu đối
đề Khổng Thánh Điện
Kế vãng khai
lai, đạo thông thiên địa hữu hình ngoại,
Tổ Nghiêu thuật
Thuấn, ân biến phi tiềm dị loại trung.
(Kế thừa người trước, khơi lối kẻ sau, đạo thông trời
đất vượt ngoài hữu hình.
Sùng phụng đạo Nghiêu, noi giữ phép Thuấn, ân trùm bay
lặn trọn khắp muôn loài)
34. Câu đối
đề Như Ý Liêu[20]
Vạn đức hồng
danh thường ức niệm,
Bách ban huyễn
bệnh tự tiêu trừ
(Vạn đức hồng danh thường nghĩ nhớ,
Trăm cơn huyễn bệnh tự tiêu trừ)
35. Câu đối
đề Địa Tạng Đàn
Hồng nguyện
phát thời, sanh mông độ thoát,
Tôn kinh diễn
xứ, tội tự tiêu vong
(Nguyện lớn phát lên, chúng sanh được độ thoát,
Tôn kinh vừa giảng, tội chướng tự tiêu vong)