Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Quyển Hạ
Phần 7
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
VI. Câu đối
Bắt nguồn từ đầu đời Tống, Thục Hậu Chúa Mạnh Sưởng[1]
[viết câu đối] mừng Xuân mới. Từ đấy, Tăng - tục đều [dùng câu đối] để tán tụng
công đức, nêu tỏ đạo nhiệm mầu, giãi bày những điều ấp ủ trong lòng, hoặc nhờ
đó để khuyên nhủ những người cùng hàng. Bộ Vân Thê Pháp Vựng[2]
từng chép những câu đối, nay noi theo dấu thơm để đổi lấy một trận cười.
Ấn Quang ghi.
1. Câu đối
tán dương Phật Thích Ca
a) Hạ Đâu Suất
nhi giáng thần, trụ thế bát thập kỳ niên, linh cửu giới chúng sanh triệt kiến bản
lai chân diện mục.
Đổ minh tinh
nhi ngộ đạo, đàm kinh tam bách dư hội, tỉ đại thiên Phật tử phục quy nguyên hữu
cựu gia hương
(Từ Đâu Suất giáng thần, trụ thế suốt tám mươi năm khiến
cả chín giới chúng sanh thấy tột cùng bản lai chân diện mục,
Thấy sao Mai ngộ đạo, giảng kinh hơn ba trăm hội hòng
Phật tử khắp cõi đại thiên trở về lại chốn quê hương sẵn có)
b) Phật ứng Tây
Càn, độ chúng sanh dĩ ngộ chứng Bồ Đề, cố cảm thiên long thường ủng hộ.
Pháp lưu Đông
Độ, khai văn hóa nhi chấn phát lung quý, trí linh hiền trí tận quy tông.
(Phật ứng hiện trời Tây, cứu độ chúng sanh, ngộ chứng
Bồ Đề, nên cảm trời - rồng thường ủng hộ.
Pháp truyền sang xứ Đông, mở mang văn hóa, rúng động
điếc - đui, khiến cho hiền - trí đều quy ngưỡng)
c) Tam Hoặc tận
nhi nhị tử vong, nhất trần bất lập,
Ngũ Uẩn không
nhi lục căn tịnh, vạn đức viên chương
(Tam Hoặc hết, nhị tử tiêu, mảy trần chẳng lập,
Ngũ Uẩn không, sáu căn sạch, muôn đức trọn bày)
d) Viên ngộ Tạng
tánh, triệt chứng tự tâm, đạo thông thiên địa hữu hình ngoại
Từ khởi vô
duyên, bi vận đồng thể, ân biến thánh phàm hàm thức trung.
(Viên ngộ Tạng tánh, chứng tột tự tâm, đạo thông trời -
đất, vượt khỏi hữu hình,
Khởi vô duyên từ, vận bi đồng thể, ân trùm thánh -
phàm, thấu cùng hàm thức).
e) Ký hữu tình cộng
chứng chân thường bản tịch diệt tâm, thuyết viên thông pháp,
Kỳ hàm thức đồng
đăng giác ngạn, y nhất thật đạo, khai phương tiện môn.
(Mong hữu tình cùng chứng tâm chân thường sẵn tịch diệt,
nói pháp viên thông,
Cầu hàm thức đều lên bến giác nương đạo nhất thật, mở
cửa phương tiện)
f) Hoa Nghiêm đốn
diễn viên tông, độc bị thượng căn, thượng vị tất phù xuất thế độ sanh chi hoằng
thệ,
Hạnh Nguyện đạo
quy Cực Lạc, toàn thâu cửu giới, phương kham đại sướng thành đạo lợi vật chi bản
hoài.
(Kinh Hoa Nghiêm giảng tông viên đốn, chỉ thích hợp
thượng căn, vẫn chưa khế hợp hoằng thệ “độ trọn chúng sanh”,
Phẩm Hạnh Nguyện dẫn về Cực Lạc, trọn bao trùm chín giới,
mới kham thỏa bản hoài thành đạo lợi muôn loài)
2. Câu đối
tán dương A Di Đà Phật
Mạc nhạ nhất
xưng siêu Thập Địa
Tu tri lục tự
quát tam thừa
(Chớ ngờ một câu siêu Thập Địa
Phải hay sáu chữ trọn tam thừa)
3. Câu đối
tán dương Phật Thích Ca
Hoa biểu viên
nhân, hiển Như Lai thành thủy thành chung chi đạo
Nghiêm chương
thật quả, thị chúng sanh tâm tác tâm thị chi môn.
(Hoa biểu thị viên nhân, tỏ rõ đạo thành thủy thành
chung của Như Lai
Nghiêm trang bày thật quả, chỉ bày môn “tâm làm, tâm
là” nơi chúng sanh).
4. Câu đối
tán dương Phật Di Đà
a) Như Lai chửng
tế vô phương, quảng độ chúng sanh tu độ ngã
Ngô bối linh
bình một ký, bất niệm Di Đà cánh niệm thùy?
(Như Lai cứu vớt khôn ngằn, muốn rộng độ chúng sanh phải
độ ta [trước đã],
Bọn ta lênh đênh không nơi nương tựa, chẳng niệm Di Đà
còn biết niệm ai?)
b) Y hoằng thệ
nguyện, kiến chiết nhiếp chi pháp môn, đản khẳng nhất tâm trì danh, tự nhĩ tiềm
phù Thật Tướng, tỉ tứ thánh lục phàm đồng chứng chân thường, cố đắc cửu giới
hàm quy, thập phương cộng tán.
Dĩ đại từ bi,
lập yểm hân chi thắng hạnh, nhược năng sơ độ thác chất, hà nan đốn nhập Tịch
Quang, đạo tam thừa ngũ tánh tề đăng tịnh vực, nhân tư thiên kinh câu xiển, vạn
luận quân tuyên.
(Nương thệ nguyện rộng sâu, lập pháp môn chiết - nhiếp[3],
chỉ cần nhất tâm trì danh, từ đấy ngầm hợp Thật Tướng, khiến tứ thánh lục phàm cùng
chứng chân thường, nên được chín giới đều hướng về, mười phương cùng khen ngợi.
Dùng từ bi rộng lớn, tạo thắng hạnh ưa - chán, nếu được
sanh về Sơ Độ[4],
khó gì mau nhập Tịch Quang, dẫn tam thừa ngũ tánh đều lên cõi tịnh, do vậy ngàn
kinh cùng xiển dương, muôn luận đều tuyên nói)
c) Ưng đương
phát nguyện, nguyện vãng sanh, khách lộ khê sơn, thiết mạc tùng đầu tái quyến
luyến.
Tự thị bất
quy, quy tiện đắc, cố hương phong nguyệt, trực tu toàn thể tổng thân thừa.
(Hãy nên phát nguyện, nguyện vãng sanh, núi khe nẻo
khách, từ rày thôi quyến luyến.
Tự mình chẳng về, về liền được, gió trăng quê cũ, toàn
thể hãy tự vâng)
d) Thành tựu lục
bát đại nguyện, cư Tây Phương dĩ tác Phật, cử Hoa Tạng thế giới chư trang
nghiêm viên chương Tịnh Độ,
Mẫn niệm cửu
phẩm hàm linh, hướng Đông vực nhi thùy từ, dẫn Sa Bà quốc trung chúng nam nữ đồng
vãng liên bang.
(Thành tựu bốn mươi tám đại nguyện, làm Phật chốn Tây
Phương, toàn thể thế giới Hoa Tạng trang nghiêm trọn phô Tịnh Độ,
Nghĩ thương khắp chín phẩm hàm linh, rủ lòng Từ Đông độ,
dẫn khắp cõi nước Sa Bà nam nữ cùng đến liên bang)
e) Xả Tây quy tiệp
kính, cửu giới hữu tình thượng hà dĩ viên thành giác đạo?
Ly Tịnh Độ
pháp môn, thập phương chư Phật hạ bất năng phổ lợi quần manh
(Bỏ đường tắt Tây Phương, chín giới hữu tình trên lấy
gì để viên thành giác đạo?
Lìa pháp môn Tịnh Độ, mười phương chư Phật dưới chẳng
thể lợi khắp quần manh)
g) Ngũ trụ nhị
chấp, mông quang đốn viên phù tứ đức,
Tam thừa lục
đạo, khắc niệm định chứng ư Nhất Chân,
(Ngũ trụ nhị chấp[5],
nương quang nhanh chóng viên thành Tứ Đức,
Tam thừa lục đạo, quyết lòng chắc chắn chứng nhập Nhất
Chân)
h) Phật nguyện
hoằng thâm, thập phương cộng tán,
Sanh tâm khẩn
đáo, cửu giới đồng quy
(Nguyện đức Phật rộng sâu, mười phương cùng khen ngợi,
Tâm chúng sanh gấp tới, chín giới đều hướng về)
i) Thọ lượng vô
biên, thụ cùng tam tế,
Quang minh hữu
tượng, hoành biến thập phương.
(Thọ lượng không ngằn mé, theo chiều dọc tột cùng ba đời,
Quang minh hiện hình ảnh, theo chiều ngang trọn khắp
mười phương)
j) Khổ hải vô
biên, hồi đầu thị ngạn,
Lạc bang hữu
lộ, khởi tín tức sanh
(Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ,
Cõi vui có nẻo, tin tưởng liền sanh)
k) Duy kỳ Ngũ
Trược đốn không, nhậm tha hương vô nhân phần, địa vô nhân tảo,
Thảng đắc Nhất
Chân cộng chứng, tự nhĩ nguyện linh ngã mãn, tâm linh ngã an
(Chỉ mong mau không Ngũ Trược, nào quản hương không
người thắp, đất không người quét,
Nếu được cùng chứng Nhất Chân, từ đấy nguyện khiến ta
thỏa, tâm khiến ta an)
5. Câu đối
tán dương Phật Di Lặc
Bảo các phú
thập hư, uyển nhược không hàm vạn tượng,
Phân thân biến
trần sát, trực đồng nguyệt ấn thiên giang
(Gác báu rợp mười phương, giống hệt hư không chứa muôn
hình tượng,
Phân thân khắp cõi trần, nào khác vầng trăng in bóng
ngàn sông)
6. Câu đối
tán dương Phật Di Đà
a) Tế độ vô
phương, lân y thể nhất,
Tân lương
võng trắc, mẫn bỉ mê thâm.
(Tế độ khôn ngằn, xót chúng sanh vốn cùng một thể,
Bến bờ nào thấu, thương hữu tình mê muội sâu xa)
b) Thệ nguyện hoằng
thâm, thập phương cộng tán
Từ bi quảng đại,
cửu giới đồng quy
(Thệ nguyện rộng sâu, mười phương cùng khen ngợi,
Từ bi rộng lớn, chín giới đều nương về)
7. Câu đối
tán dương ngài Di Lặc
a) Thản phúc tiếu
dung nhiếp hải chúng,
Phân thân tán
ảnh thị thời nhân.
(Bụng rộng mặt cười nhiếp hải chúng,
Phân thân hiện bóng dạy người đời)
b) Yến tọa đẳng
nhân lai, dự nhiếp Long Hoa hội lý hữu duyên chi bối
Phùng cơ dĩ
tiếu ứng, viên chương đại đỗ bì trung vô sở bất dung
(Ngồi lặng đợi người đến, nhiếp sẵn hạng hữu duyên
trong hội Long Hoa,
Gặp căn cơ bèn cười, phô trọn bụng to đùng không gì chẳng
chứa)
c) Lâu các môn
khai, viên chương pháp giới tu nhân sự,
Từ bi nguyện
phổ, dự nhiếp Long Hoa chứng quả nhân
(Cửa lâu các mở, trọn bày sự tu nhân nơi pháp giới,
Từ bi nguyện khắp, nhiếp sẵn người chứng quả hội Long
Hoa)
8. Câu đối
tán dương đức Quán Âm
Hữu cảm tức
thông, thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vô cơ bất bị,
vạn lý vô vân vạn lý thiên.
(Có cảm gì liền thông, ngàn sông in bóng nước ngàn
trăng,
Không căn nào chẳng ứng, vạn dặm không mây vạn dặm trời)
9. Câu đối
tán dương đức Phật
Triệt chứng
Nhất Chân pháp giới, Tam Hoặc tận nhi nhị tử vong, đức siêu Thập Địa,
Phổ linh cửu loại
thánh phàm, Ngũ Uẩn không nhi lục độ cụ, đạo kế Đại Hùng.
(Chứng tột Nhất Chân pháp giới, Tam Hoặc hết, nhị tử[6]
tiêu, đức siêu việt hàng Thập Địa,
Khiến khắp chín loại thánh phàm, Ngũ Uẩn không, lục độ
trọn, đạo thừa kế đấng Đại Hùng)
10. Câu đối
tán dương Quán Âm Bồ Tát
a) Nhất trần bất
lập, đắc chân viên thông, hiện tùy loại trục hình chi thân, tầm thanh cứu khổ,
Ngũ uẩn giai
không, chứng đại tịch diệt, y tức tâm tự tánh chi đạo, thuyết pháp độ sanh.
(Mảy trần chẳng lập, đắc chân viên thông, tùy loại theo
hình hiện thân, tầm thanh cứu khổ,
Ngũ uẩn đều không, chứng đại tịch diệt, nương đạo tự
tánh nơi tâm, thuyết pháp độ sanh)
b) Vân khởi từ
môn, mẫn bỉ mê tình bất dị ngộ,
Ba đằng nguyện
hải, lân y Phật tánh liễu vô thù!
(Mây dấy cửa từ, thương lũ mê tình chưa dễ ngộ,
Sóng trào biển nguyện, xót thay Phật tánh khác chi
đâu)
c) Từ bi tâm thiết,
tuy cứu khổ dĩ tầm thanh, thường trụ Lăng Nghiêm đại định,
Dữ bạt tình
ân, túng đậu cơ nhi thuyết pháp, viên chương tịch diệt chân tông.
(Tâm từ bi tha thiết, tuy hay cứu khổ tầm thanh, vẫn
thường nhập Lăng Nghiêm đại định,
Lòng cứu vớt ân cần, dẫu thuận căn cơ thuyết pháp, cứ
trọn bày tịch diệt chân tông)
d) Chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, thuyết pháp độ sanh, thụ cùng tam tế
Chứng cực nhất
thừa thật tướng, tầm thanh cứu khổ, hoành biến thập phương
(Soi thấy năm uẩn đều không, thuyết pháp độ sanh, dọc
cùng tột ba đời,
Chứng cực nhất thừa thật tướng, tầm thanh cứu khổ,
ngang trọn khắp mười phương)
e) Thệ nguyện hoằng
thâm, xứ xứ hiện thân thuyết pháp
Từ bi quảng đại,
thời thời cứu khổ tầm thanh
(Thệ nguyện rộng sâu, chốn chốn hiện thân thuyết pháp
Từ bi rộng lớn, luôn luôn cứu khổ tầm thanh)
f) Pháp pháp
viên thông, cố danh Tự Tại
Đầu đầu hợp đạo,
nhân hiệu Phổ Môn
(Pháp nào cũng viên thông, cho nên tên Tự Tại,
Chuyện gì thảy hợp đạo, bởi vậy hiệu Phổ Môn)
g) Từ khởi vô
duyên, ân châu thứ loại,
Bi hưng đồng
thể, đạo khải đa môn
(Dấy lòng từ vô duyên, rộng ban ân muôn loại,
Vận lòng bi đồng thể, mở mối đạo nhiều môn)
11. Câu đối
tán dương Thế Chí Bồ Tát
a) Bổn nguyện bất
vi, nhiếp niệm Phật nhân quy Tịnh Độ,
Phân thân vô
lượng, cư Cực Lạc quốc biến thập phương
(Chẳng trái bổn nguyện, nhiếp người niệm Phật sanh về
Tịnh Độ,
Phân thân vô lượng, ngự cõi Cực Lạc trọn khắp mười
phương)
b) Đô nhiếp lục
căn, hoạch đại tịch diệt,
Đơn đề nhất
niệm, chứng chân viên thông.
(Nhiếp trọn sáu căn, đắc đại tịch diệt,
Chỉ khởi một niệm, chứng chân viên thông)
c) Dĩ trí huệ
quang, phổ chiếu nhất thiết,
Thừa viên
thông đạo, quảng độ chúng sanh.
(Dùng trí huệ quang chiếu khắp hết thảy,
Nương viên thông đạo rộng độ chúng sanh)
12. Câu đối
tán dương Bồ Tát
Chứng chư Phật
bổn diệu giác tâm, tùng tư an trụ Tịch Quang, hưởng chân thường chi pháp lạc,
Mẫn chúng
sanh mê Như Lai tạng, cố phục hiện thân trần sát, tác đắc độ chi nhân duyên
(Chứng tâm vốn diệu giác của chư Phật, từ đấy an trụ Tịch
Quang hưởng pháp lạc chân thường,
Thương chúng sanh mê tạng tánh Như Lai, nên lại hiện
thân trần sát làm nhân duyên đắc độ)
13. Câu đối
đề Phật điện
Minh hiển hàm
gia, ân du phụ mẫu
Thánh phàm phổ
lợi, đức mại khung thương
(Ngầm lẫn hiển đều gia hộ, ân hơn cha mẹ,
Thánh cùng phàm đều lợi khắp, đức quá trời cao)
14. Câu đối
tán dương đức Vi Đà hộ pháp
Bồ Tát hóa
thân, phụ chánh tồi tà hoằng thánh giáo,
Đồng chân nhập
đạo, an bang hộ quốc, độ quần mê.
(Bồ Tát hóa thân, giúp chánh dẹp tà, hoằng dương thánh
giáo,
Đồng chân nhập đạo[7],
yên cõi vững bờ, rộng độ quần mê)
15. Câu đối
tán dương Vi Đà Bồ Tát ở Phổ Đà
Hộ pháp an tăng,
tỉ hữu tình cộng nhập Phổ Môn, mãn Quán Âm nguyện,
Hàng ma chế
ngoại, linh hàm thức tề đăng giác ngạn, toại Thiện Thệ tâm
(Hộ pháp, giữ yên Tăng chúng, mong hữu tình cùng nhập
Phổ Môn, thỏa tâm đức Quán Âm,
Hàng ma, chế phục ngoại đạo, khiến hàm thức đều lên bờ
giác, toại lòng đấng Thiện Thệ[8])
16. Câu đối
tán dương Thiên Vương ở Phổ Đà
Xí từ vân phổ
phú trần hoàn, dĩ thiên vương thân tác Như Lai sứ,
Kỳ pháp vũ
quân triêm sa giới, hiện đại nhân tướng trấn viên thông tràng.
(Ngóng mây từ che khắp trần hoàn, dùng thân thiên
vương làm sứ giả Như Lai,
Mong mưa pháp thấm đều sa giới[9],
hiện tướng đại nhân trấn đạo tràng viên thông)
17. Câu đối
tán dương Quan Đế
Hạo khí xung
thiên, ngưỡng hiệu nghĩa thiên chi phú tý
Tinh trung
quán nhật, thường tùy Phật nhật dĩ chiêu chương
(Hạo khí ngút trời cao, kính học Nghĩa Thiên[10]
thường che chở,
Tinh trung lòa nhật nguyệt, thường nương Phật nhật rạng
phô bày)
18. Câu đối
đề Phật điện
Hạnh mãn quả
viên, đạo tam thừa dĩ tề thành giác đạo,
Bi thâm nguyện
trọng, chửng tứ sanh nhi cộng giới liên bang
(Hạnh mãn quả viên, dẫn tam thừa đều thành giác đạo,
Bi sâu nguyện nặng, độ tứ sanh cùng đến liên bang)
19. Câu đối
tán dương tượng Quán Âm được thờ tại giếng Tiên Nhân thuộc Phổ Đà
Bi nguyện hoằng
thâm, cố tùng cá lý dũng cam lộ,
Từ ân hạo
đãng, trí sử hoàn khu tận kiệt thành
(Bi nguyện rộng sâu, nên từ chốn này vọt lên cam lộ,
Từ ân lồng lộng, khiến khắp trần gian cạn tấc lòng
thành)
20. Câu đối
đề tại điện Phật
Giáo diễn
Thiên, Viên, thống cửu giới nhi tề độ,
Đức toàn phước
huệ, siêu Thập Địa dĩ độc tôn.
(Giáo giảng Thiên, Viên, độ trọn khắp chín giới,
Đức tròn phước huệ, độc tôn hơn Thập Địa)
21. Câu đối
tại Trí Tích Điện ở Linh Nham Sơn
Chứng Pháp
Hoa nhi lai Linh Sơn, truy tùy Đa Bảo tháp trung Phật
Hiện sắc thân
dĩ y Lục đệ, mẫn niệm Diêm Phù thế thượng nhân
(Để chứng minh pháp hội Pháp Hoa, đến Linh Sơn, theo hầu
Phật trong tháp Đa Bảo,
Hiện thân trị bệnh em tể tướng Lục Tượng Tiên, nghĩ
thương người đời cõi Diêm Phù)
22. Câu đối
tán dương ngài Trí Tích ở Linh Nham
a) Linh Nham
linh tích hữu vĩnh phù, túc hiển luân hồi khoáng viễn,
Trí Tích trí
mưu khải Lục tướng, dụng chương Phật đạo uyên thâm
(Linh Nham dấu thiêng hãy còn vĩnh viễn, đủ rõ luân hồi
xa vời,
Trí Tích khôn khéo khơi gợi Lục tướng[11],
nhằm phô Phật đạo thẳm sâu)
b) Thánh đức nan
tư, đặc hiện tượng thân thuyết pháp yếu,
Bi tâm vô ký,
vĩnh lưu bổn tự tác bình mông
(Thánh đức khó lường, riêng hiển hiện thân tượng nói
pháp yếu,
Bi tâm vô ký[12],
mãi lưu lại chùa này để chở che)
23. Câu đối
đề tại Tàng Kinh Các
Như Lai quảng
vận từ bi, sướng đàm tam tạng thậm thâm chi diệu điển, phổ sử chúng sanh khai
phát Bồ Đề, tiêu dung hoặc nghiệp, đãng hôn mê nhi phục thường tịch chiếu, nhiếp
quả giác nhi tổng tác nhân tâm, trực đồng lộ trích thương minh, tiện thị uông
dương đại hải, chân đào hóa dục, lợi ích nan danh, ngã bối hân phùng minh hối,
cảm bất tốt niên ngột ngột, y giáo tu hành, triệt để cùng nguyên, ẩm tư nhất vị,
tự thử khánh không hậu tế, đạo oán thân dĩ cộng xuất úy đồ, dụng ký ngưỡng thù
phù Phật lực.
Hoàng đế bất
vong phó chúc, ban bố ngũ thời bí mật chi chân thuyên, tất linh hàm thức văn
huân Bát Nhã thanh tịnh căn thân, liễu quái ngại hề hoạch bổn viên thông, tức
phàm tình hề toàn chương thánh trí, vô dị trần đầu hoa nhạc, đốn thành ngập
nghiệp cao sơn, hộ niệm bảo tuy, công huân võng trắc, ngô sài hạnh ngộ chỉ nam,
cố đương chung nhật càn càn, kiệt thành trì tụng, đăng phong tạo cực, quán bỉ
thái hư, do tư châu biến thập phương, phù bão dữ dĩ tề trăn đạo ngạn, vĩnh kỳ
thượng báo ư quân ân.
(Như Lai rộng mở lòng từ bi, giảng thông suốt diệu điển
Tam Tạng rất sâu, khiến khắp chúng sanh khơi mở Bồ Đề, tiêu tan Hoặc nghiệp, gột
sạch hôn mê, khôi phục tịch chiếu thường hằng, nhiếp quả giác về trọn nội tâm, hệt
như giọt sương rơi vào biển thẳm bèn thành biển cả mênh mông, un đúc trưởng dưỡng,
lợi ích khôn nêu, bọn mình mừng gặp giáo huấn rạng ngời, dám chẳng quanh năm miệt
mài, y giáo tu hành, thấu đáy tột nguồn, uống một vị ấy, từ đấy rỗng toang hậu
tế[13],
dẫn oán thân cùng thoát nẻo đường kinh sợ, hòng cung kính đáp đền Phật lực.
Hoàng đế thường chẳng quên phó chúc[14],
ban bố lời chân thuyên năm thời bí mật, hòng mọi hàm thức nghe tập Bát Nhã,
thanh tịnh căn thân, trọn không vướng mắc, thấu đạt viên thông vốn sẵn, dùng
phàm tình trọn nêu thánh trí, khác gì hạt bụi vun vào Hoa sơn mau thành núi cao
ngất ngưởng, hộ niệm chở che, công huân chẳng xiết, lũ ta may gặp chỉ nam[15]
thông tỏ, ắt nên trọn buổi khăng khăng, kiệt thành trì tụng, tới ngọn lên đỉnh,
thấy thái hư kia, do đây trọn khắp mười phương, ôm giữ mọi loài cùng ta tới bến
đạo, mong vĩnh viễn báo đáp ơn vua)
24. Câu đối
đề pháp đường
Huệ diệm trùng trùng, thước phá thiên
niên chi ám thất,
Pháp nguyên cổn
cổn, tư sanh ngũ tánh chi linh miêu
(Lửa huệ trùng trùng, sáng bừng nhà tối ngàn năm,
Nguồn pháp cuồn cuộn, sanh thành mầm thiêng ngũ tánh)
25. Câu đối
đề Tàng Kinh Các
Pháp hải uông
dương, thâm thám triệt để chi nguyên, phương khả vị vô cô Phật hóa,
Nghĩa sơn
tiêu tuấn, trực thượng tuyệt cao chi đảnh, thỉ kham vân bất phụ kỷ linh
(Biển pháp mênh mông, dò tận đáy nguồn thăm thẳm, mới
dám bảo chẳng phụ ơn Phật giáo hóa,
Núi nghĩa vòi vọi, lên thẳng đảnh cao chót vót, mới
đáng nói không phụ bạc tánh mình)
26. Câu đối
đề tại Phật điện trong Tàng Kinh Các
Phật quang phổ
chiếu thập phương giới
Pháp vũ quân
tư ngũ tánh căn
(Phật quang chiếu khắp cõi nước mười phương,
Mưa pháp thấm đều căn cơ ngũ tánh)
27. Câu đối
đề Tàng Kinh Các
Ngũ thời ngôn
giáo, phi dị phi đồng, vị Thật thi Quyền, khai Quyền hiển Thật, hữu như hải dựng
bách xuyên, xuyên phó hải,
Tam thừa đế
lý, tức đa tức nhất, do tánh hiện tướng, nhiếp tướng quy tánh, trực tự không
hàm vạn tượng, tượng y không.
(Năm thời ngôn giáo, chẳng khác, chẳng đồng, vì Thật
bày Quyền, mở Quyền hiển Thật, dường biển cả chứa đựng trăm sông, sông xuôi về
biển,
Ba thừa đế lý, vừa nhiều vừa một, do tánh hiện tướng,
nhiếp tướng về tánh, hệt hư không bao hàm muôn tượng, tượng[16]
nương hư không)
28. Câu đối
đề giảng đường
Pháp hội hoằng
khai, giáo hạnh tịnh tấn, dục đắc thiên cơ phổ dục, lợi độn tề tu, thị cố lược
tư thông đồ, biến sùng đặc biệt, dĩ Hoa Nghiêm viên mãn Bồ Đề chi diệu nhân duy
tại đạo quy Tịnh Độ.
Giảng diên đại
khải, lý sự song thuyên, nghĩ cầu vạn phái triều tông, thánh phàm đẳng ích, do
tư giản khứ tự lực, chú trọng Phật gia, ký Sa Bà cụ túc Hoặc nghiệp chi hàm thức,
hiện sanh đồng phó liên trì
(Pháp hội mở rộng, giáo - hạnh cùng tiến, muốn lợi khắp
ngàn căn cơ, lợi - độn đều tu, vì thế, bỏ qua đường chung, trọn đề cao pháp đặc
biệt, bởi diệu nhân viên mãn Bồ Đề trong Hoa Nghiêm chỉ nhằm dẫn về Tịnh Độ
Giảng tòa khơi lớn, lý - sự cùng giảng, toan cầu trọn
muôn phái hướng về, thánh - phàm cùng ích, do vậy, lựa bỏ tự lực, chuyên chú trọng
Phật gia hộ, mong hàm thức đầy dẫy phiền nghiệp tại Sa Bà, đời này cùng đến
liên trì)
(Cậy vào tự lực gọi là pháp môn theo đường lối thông thường, cậy vào Phật lực gọi là pháp môn đặc biệt. Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xã khánh thành giảng đường, sai tôi soạn câu đối, do vậy bèn nêu bày tông chỉ)
29. Câu đối
tại Niệm Phật Đường
a) Hà tất vấn thị
thùy, thử đạo ư kim chiêu nhật nguyệt,
Đản năng thường
hệ niệm, Phật tâm vô xứ bất từ bi
(Cần gì hỏi là ai[17],
đạo này nay đã rạng ngời nhật nguyệt,
Chỉ cần thường hệ niệm, Phật tâm
không đâu chẳng từ bi)
b) Quyết chí cầu
sanh, hiệu tích hiền tương thác tựu thác,
Nhất tâm ức
niệm, chí kim nhật nhân vân diệc vân
(Quyết chí cầu sanh, phỏng người hiền thuở xưa đem lầm
đáp lạc,
Một lòng nghĩ nhớ, tới nay người nói sao ta cũng nói vậy)
c) Nhân Giới
sanh Định, Định - Huệ viên minh Bồ Đề bổn,
Do Giáo nhập
Tịnh, Tịnh - Thiền quán triệt giác đạo thành
(Bởi Giới sanh Định, Định - Huệ viên minh là cội Bồ Đề,
Do Giáo nhập Tịnh, Tịnh - Thiền quán triệt thành tựu
giác đạo)
d) Lực tu Giới Định
Huệ Không tắc vô ngã kiến,
Thường niệm Từ
Bi Hỷ Xả phương khế Phật tâm.
(Tận lực tu Giới - Định - Huệ - Không sẽ không ngã kiến,
Thường luôn niệm Từ - Bi - Hỷ - Xả mới hợp Phật tâm)
e) Liễu quân đại
sự duy tu tịnh
Sướng Phật bổn
hoài tại vãng sanh
(Xong đại sự của ông chỉ có tu tịnh,
Thỏa bổn hoài của Phật ở nơi vãng sanh)
f) Tam nghiệp
tương ứng, vãng sanh hữu phần,
Lục căn đô
nhiếp, kiến Phật vô nan
(Ba nghiệp tương ứng, vãng sanh có phần,
Sáu căn nhiếp trọn, thấy Phật chẳng khó)
g) Chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai không, viễn ly điên đảo mộng tưởng,
Đô nhiếp lục
căn tịnh niệm, thượng hợp bổn diệu giác tâm.
(Soi thấy năm uẩn đều không, xa lìa mộng tưởng điên đảo,
Nhiếp trọn sáu căn tịnh niệm, trên hợp giác tâm vốn mầu)
h) Ngũ uẩn giai
không, lục căn câu tịch,
Nhất trần bất
nhiễm, vạn đức viên chương
(Năm uẩn đều không, sáu căn đều lặng,
Mảy trần chẳng nhiễm, muôn đức trọn bày)
30. Câu đối
đề Tam Giáo Đường
Nho Thích bổn
đồng nguyên, đạo tịnh hành nhi bất bột,
Nội ngoại
nguyên nhất thể, lý giao hiển nhi di chương
(Nho - Thích vốn cùng nguồn, hai đạo cùng hành không
chống trái,
Trong - ngoài nguyên một thể, lý rọi lẫn nhau thêm rạng ngời)
31. Câu đối
đề tháp viện ngài Vĩnh Minh
Tông kính
viên chiếu, vạn thiện đồng quy, bổn giáo nghĩa nhi tục huệ mạng,
Pháp Hoa nhất
bộ, Phật sự bách bát, chấn đại cơ dĩ cảnh ngu ngoan.
(Tông kính chiếu trọn, vạn thiện đồng quy, bổn giáo
nghĩa nối tiếp huệ mạng,
Pháp Hoa một bộ, Phật sự trăm tám, dấy đại cơ nhắc nhở
bướng ngu)
32. Câu đối
đề Trí Giả Phường[18]
Giáo phán ngũ
thời, hóa nghi hóa pháp song thuyên, Linh Thứu thân thừa chư Thiện Thệ,
Phật minh lục
tức, tâm tác tâm thị tịnh xiển, Chi Na hoằng đạo vô nhị nhân.
(Phán định giáo pháp gồm năm thời, hóa nghi, hóa pháp[19]
cùng giảng, non Linh Thứu đích thân hầu chư Thiện Thệ,
Giải nghĩa chữ Phật bằng lục tức, “tâm làm, tâm là” đều
phô, cõi Trung Hoa hoằng đạo chẳng một ai bằng)
33. Câu đối
đề Khổng Thánh Điện
Kế vãng khai
lai, đạo thông thiên địa hữu hình ngoại,
Tổ Nghiêu thuật
Thuấn, ân biến phi tiềm dị loại trung.
(Kế thừa người trước, khơi lối kẻ sau, đạo thông trời
đất vượt ngoài hữu hình.
Sùng phụng đạo Nghiêu, noi giữ phép Thuấn, ân trùm bay
lặn trọn khắp muôn loài)
34. Câu đối
đề Như Ý Liêu[20]
Vạn đức hồng
danh thường ức niệm,
Bách ban huyễn
bệnh tự tiêu trừ
(Vạn đức hồng danh thường nghĩ nhớ,
Trăm cơn huyễn bệnh tự tiêu trừ)
35. Câu đối
đề Địa Tạng Đàn
Hồng nguyện
phát thời, sanh mông độ thoát,
Tôn kinh diễn
xứ, tội tự tiêu vong
(Nguyện lớn phát lên, chúng sanh được độ thoát,
Tôn kinh vừa giảng, tội chướng tự tiêu vong)
36. Câu đối
đề Pháp Hoa Đàn
Đại sự nhân
duyên, đoan quy Thật Tướng,
Nhất thừa
nguyên bổn, tại báo thân ân.
(Đại sự nhân duyên, đầu mối quy về Thật Tướng,
Cội nguồn Nhất Thừa tại nơi báo ân mẹ cha)
37. Câu đối
đề cửa Tam Quan
a) Kinh thừa Bắc
khuyết, Luật xiển Nam Sơn, tục huệ mạng ư tương lai, trực sử phổ thiên hàm thức
đốn minh tịch diệt chân tâm, thụ cùng tam tế
Đạo kế Tây
Càn, tông truyền Đông Chấn, khai Phật tri ư đương niệm, hàm linh pháp giới hữu
tình triệt ngộ viên thông diệu tánh, hoành biến thập phương.
(Kinh nương cửa Bắc, Luật hoằng non Nam, nối tiếp huệ
mạng tới tận tương lai, khiến hàm thức khắp trời mau tỏ chân tâm tịch diệt,
theo chiều dọc cùng tột ba đời.
Đạo nối trời Tây, tông truyền xứ Đông, mở bày Phật tri
kiến nơi đương niệm, khiến hữu tình pháp giới triệt ngộ diệu tánh viên thông,
theo chiều ngang trọn khắp mười phương)
b) Nghệ Bồ Đề
tràng, thú tịch diệt điện,
Đăng viên
thông lộ, nhập giải thoát môn.
(Đến Bồ Đề tràng, tới điện tịch diệt,
Lên đường viên thông, vào cửa giải thoát)
38. Câu đối
đề vườn rau
Địa tráng
thái căn thô, nhân chân quả chánh,
Phấn đa gia tử
đại, đức hậu phước long
(Đất phì nhiêu củ mập, nhân chân quả chánh,
Phân mùn nhiều cà to, đức dày phước thịnh)
39. Câu đối
đề sân khấu
a) Quyền chế bài
trường phù giáo hóa
Xảo thùy minh
huấn chấn cương thường
(Phương tiện lập sân khấu để giúp giáo hóa,
Khéo léo nêu minh huấn chấn hưng cương thường)
b) Ngụ bao biếm,
biệt thiện ác, khánh ương phước cực, báo bất sảng ư thục nặc hiền gian, phát
quý chấn lung, doãn tác thiên thu tảo giám,
Phù giáo hóa,
chấn cương thường, từ hiếu nhân trung, nghĩa các tận ư quân thần phụ tử, di
phong dịch tục, tuân vi vạn thế điển hình
(Ngụ ý khen - chê, phân biệt thiện ác, lành dữ, phước
xui, quả báo chẳng sai lành - dữ, hiền - gian,
chấn động kẻ đui người điếc, xứng làm gương soi ngàn thu.
Giúp đỡ giáo hóa, chấn chỉnh cương thường, từ hiếu,
nhân trung, tiết nghĩa trọn hết vua - tôi, cha - con, thay đổi nề nếp phong tục,
tuân theo điển hình muôn đời)
c) Điển hình thị
bỉ tương lai, tỉ cuồng phu khắc niệm tác thánh,
Gian du tru ư
dĩ vãng, thứ tiềm đức đại phát u quang
(Nêu bày gương mẫu cho tương lai khiến kẻ cuồng khắc
niệm thành thánh,
Giết lũ gian nịnh trong quá khứ hòng đức ngầm tỏa rạng
u quang)
40. Câu đối
tại cửa Tam Quan am Pháp Như
Pháp đạo u
thâm, trực nhập viên thông diệu cảnh,
Như môn quảng
đại, toàn chương tịch chiếu chân tông.
(Pháp đạo thẳm sâu, vào thẳng viên thông diệu cảnh,
Như môn rộng lớn, trọn bày tịch chiếu chân tông)
41. Câu đối
mừng lễ truyền giới
Trương giới
võng dĩ chấn tông phong, nhị đế viên minh, thành túc truy tung vãng triết,
Bố từ vân nhi
giáng pháp vũ, tam căn phổ bị, doãn kham di phạm hậu côn.
(Căng lưới giới để rạng tông phong, nhị đế[21]
viên minh, thật đáng noi dấu hiền nhân thuở trước,
Bủa mây từ hòng tưới mưa pháp, ba căn trọn độ, quả xứng
nêu gương hậu học mai sau)
42. Câu đối
về khóa giảng Thiền Lâm Bảo Huấn[22]
Lãm kính tri
tàm hoằng bảo huấn,
Quy kim sư cổ
chấn thiền lâm
(Soi gương biết thẹn hoằng dương bảo huấn,
Sửa nay noi cổ[23]
rạng rỡ thiền lâm)
43. Câu đối
viếng pháp sư
a) Dĩ cầu sanh đắc
cố hương chi phong nguyệt, sanh bổn vô sanh, vô sanh nhi sanh, sanh ư vô sanh
chi Tịnh Độ
Dĩ thị diệt
tác hiểm đạo chi đạo sư, diệt thật bất diệt, bất diệt nhi diệt, diệt ư bất diệt
chi uế bang
(Lấy cầu vãng sanh để được cảnh gió trăng quê cũ, sanh
vốn chẳng sanh, vô sanh nhưng lại sanh, sanh về nơi Tịnh Độ vô sanh,
Dùng hiện tịch diệt để làm đạo sư nơi đường hiểm, diệt
thật bất diệt, bất diệt mà vẫn diệt, diệt nơi cõi uế chẳng diệt)
b) Viên mãn Bồ Đề,
thường quang hiện xứ huyễn duyên diệt,
Trang nghiêm
Tịnh Độ, bổn hữu triệt thời chân trí sanh.
(Viên mãn Bồ Đề, thường quang hiển hiện, huyễn duyên
diệt,
Trang nghiêm Tịnh Độ, bổn hữu tỏ rồi, chân trí sanh)
44. Câu đối
mừng thọ năm mươi tuổi
Hiệu Bá Ngọc
chi tri phi, ngũ thập niên khiên vưu, tùng tư tận sám,
Sư Trọng Ni
chi lập mạng, bách thiên thế ý phạm, vĩnh dụng tuân hành
(Phỏng Cừ Bá Ngọc biết sai, tội lỗi suốt năm chục năm,
từ đây sám sạch,
Noi Khổng Trọng Ni lập mạng, hạnh đẹp cả trăm ngàn đời,
vĩnh viễn tuân hành)
45. Câu đối
viếng vị giảng sư chuyên giảng Lăng Nghiêm
Hội ấm nhập
giới nhi đầu đầu hợp đạo, sổ thập niên giáo nghĩa tông phong, đồ thành cảnh ngưỡng,
Mẫn căn trần
thức nhi pháp pháp quy chân, nhất sát na nhân viên quả mãn, vĩnh tác tân lương
(Gom ấm - nhập - giới, chuyện gì cũng đều hợp đạo, mấy
chục năm giáo nghĩa tông phong, thật đáng ngưỡng mộ,
Diệt căn - trần - thức, pháp nào tất thảy quy chân, một
sát-na nhân tròn quả mãn, mãi là cầu bến)
46. Câu đối
mừng thọ
Kỷ lập, lập
nhân, thị danh thượng thọ,
Tri phi, phi
đoạn, khả vị trưởng niên
(Tự lập, lập người, ấy là thượng thọ,
Biết sai, sai dứt, đáng gọi trưởng niên)
47. Câu đối
viếng người tu hành cao tuổi
Thiền tâm hư
tịch, tịnh nghiệp tinh thuần, mông Phật tiếp dẫn dĩ vãng sanh, bất uổng sổ thập
niên lai cư hải đảo,
Đạo mạo oai
lăng, thanh thần trác lạc, linh nhân kính úy nhi cảnh ngưỡng doãn kham thiên
bách thế hậu tác điển hình
(Tâm thiền trống lặng, tịnh nghiệp tinh thuần, được Phật
tiếp dẫn vãng sanh, chẳng uổng mấy chục năm sống ngoài hải đảo,
Dáng đạo oai nghiêm, lòng thanh siêu việt, khiến người
kiêng nể ngưỡng mộ, đáng cho trăm ngàn đời sau noi gương mẫu)
48. Câu đối
viếng hòa thượng Ký Thiền chùa Thiên Đồng
a) Truy ức niêm
đề, ý chỉ chiêu trước, tất linh nhận ảnh cuồng đồ tức thời hoàn đắc bổn đầu, khả
thán thiên bất giá niên, trí sử pháp môn vong chỉ trụ.
Mỗi ngâm kệ tụng,
thanh vận khanh tương, phổ tỉ phao gia lãng tử trực hạ đốn khai bảo tạng, kham
bi sự vị toại chí, cự giao hậu tấn thất quy thằng
(Chạnh nhớ niêm đề[24],
ý chỉ rành rành, đều khiến những gã cuồng lầm bóng[25]
tức thời nhận biết đầu mình, đáng than thay, trời không cho sống thêm, khiến
cho pháp môn mất đi cột trụ,
Thường ngâm kệ tụng, thanh vận réo rắt, khiến khắp bọn
lãng tử bỏ nhà lập tức mở ngay kho báu, buồn tiếc vậy, sự nghiệp chưa thỏa chí,
đến nỗi hậu học thiếu người uốn nắn)
(Câu đối này người quen biết, pháp tự hay vãn bối đều có thể dùng được)
b) Thập tải trụ
Thiên Đồng, hằng dĩ thi ca truyền mật ấn,
Nhất triêu
sanh Phật quốc, vĩnh tùy Quán Thế chứng viên thông
(Mười năm trụ Thiên Đồng, thường lấy thi ca truyền mật
ấn,
Một hôm sanh nước Phật, mãi theo Quán - Thế[26]
chứng viên thông)
49. Câu đối viếng
hòa thượng Ký Thiền
a) Giải đồng tễ
nguyệt phong quang, thượng kế Mật Vân chi pháp đạo, phương dục hoằng khai học hội,
tiếp dẫn hậu côn, khải liệu cánh sanh Cực Lạc khắc nhân khứ.
Thi đẳng kim
thanh ngọc chấn, vĩnh vi khổ hải chi từ hàng, thượng kỳ thân chứng viên thông,
truy tung tiên giác, cấp nghi phục nhập Sa Bà liễu nguyện lai
(Giải hệt trăng trong gió mát, kế thừa pháp đạo của Mật
Vân, vừa muốn rộng mở học hội tiếp dẫn đàn em, nào ngờ đã sanh về Cực Lạc để thỏa
cái nhân
Thơ như vàng gieo ngọc chạm, mãi là thuyền từ trong biển
khổ, vẫn mong tự chứng viên thông nối gót tiên giác, gấp nên quay trở lại Sa Bà
hòng thỏa chí nguyện)
b) Thống pháp đạo
chi thức vi, phúc uẩn kinh luân, chí đồ khôi phục, viện quan trưởng dĩ tác kim
thang, hà ý bán đồ nhi thệ,
Ký tông phong
chi phi chấn, tâm huyền tảo giám, khẩu thổ châu ky, xan cức lê dĩ phổ lưu bố,
khả vân vĩnh kiếp thường tồn
(Đau vì pháp đạo suy vi, bụng chứa kinh luân, chí mong
khôi phục, cậy nhờ quan chức để bảo vệ, nào hay nửa đường khuất bóng,
Mong cho tông phong rạng rỡ, lòng sáng gương trong, miệng
phun châu ngọc, gạt trừ gai góc hòng rộng truyền, đáng gọi muôn kiếp thường
còn)
50. Câu đối
viếng hòa thượng Lưu Vân Quán Nguyệt
Ngưỡng thừa
sư chí, sáng kiến thiền lâm, phổ linh tham thỉnh truy lưu đắc dĩ an thân lập mạng,
hạnh trị niên cao đức thiệu, thức phạm hậu côn, hà duyên nguyệt lạc thanh thiên
thủy đáo hải.
Thượng khấu đế
hôn, khất ban Long tạng, tất sử tông giáo khai sĩ nhân tư đạt bổn cùng nguyên,
ký kinh chất tạ thần thiên, thân thị đại giác, đương tất tâm minh lý địa đạo
phù không
(Kính vâng chí thầy, tạo dựng thiền lâm, khiến khắp
Tăng nhân tham thỉnh[27]
nhờ đó an thân lập mạng, may được tuổi cao đức trọng, răn nhắc đàn em, duyên
chi trăng khuất trời xanh, nước trôi ra biển?
Tới gõ cửa khuyết, xin ban Long tạng[28],
khiến mọi khai sĩ Thiền Giáo do đây hiểu nguồn tột đáy, đã đành thân trả hồn dời,
hầu hạ Đại Giác, ắt sẽ tâm mờ cõi lý, đạo hợp chân không)
51. Câu đối
viếng vị Tăng quen biết sống ở ngôi miếu nhỏ nơi chợ búa
Bản lai diện
mục, tức tục hằng chân, phủ hướng bích đàm quán dạ nguyệt,
Tất thế tháo
trì, tự thoái thật tấn, đảo kỵ lư tử thượng Lô Sơn,
(Bản lai diện mục, dẫu cõi tục vẫn luôn là chân, dõi
nhìn đầm biếc xem bóng trăng đêm,
Suốt đời tu dưỡng, tưởng là lùi thật ra luôn tiến, cưỡi
ngược chú lừa[29]
trèo lên Lô Sơn)
52. Câu đối
của ông Tăng viếng vị đại thương gia hộ pháp
Bạch thủ khởi
gia, cư triền vi chánh, sổ thập niên quảng hành từ tế, đại triển kinh luân, vô
biên tế thanh tháo cao phong, cự liệu đồ thành phù cảnh ngưỡng.
Xích thành hộ
pháp, tức tục tu chân, đương tư thời đốn khí huyễn khu, trực thăng An Dưỡng,
tuyệt đối đãi bổn quang thường thọ, tất tương triệt chứng ư duy tâm
(Tay trắng làm nên, sống trong chợ búa cầm quyền, mấy
chục năm rộng hành từ tế, rộng mở kinh luân, phong thái cao sạch nào có ngằn mé,
đâu mong cầu được ngưỡng mộ,
Lòng son hộ pháp, ngay nơi cõi tục tu chân, đúng lúc
này chợt bỏ huyễn thân, lên thẳng An Dưỡng, quang minh thọ lượng vốn bặt đối
đãi, ắt sẽ triệt chứng duy tâm)
53. Câu đối
nhân dịp huyện Định Hải làm lễ tống ôn
Kinh tuyên bí
tạng, tống ôn thần tức quy thiên phủ, khởi đồ nhất ấp an khang, túng thuộc lân
bang bất vi hác?
Chú tụng chân
thuyên, kỳ cát diệu thường chiếu hạ phương, ký tích hạp cảnh phước khánh, kiêm
linh thông quốc mộc dung quang.
(Kinh tuyên bí tạng, tiễn ôn thần về ngay thiên phủ,
nào chỉ một ấp an vui, còn thì lân bang chẳng được hưởng nhờ?
Chú tụng chân thuyên[30],
mong sao lành thường chiếu hạ phương, mong ban cả vùng phước khánh, kèm thêm cả
nước gội đẫm dung quang)
54. Câu đối
tống ôn
Hạ dân bối giác
hợp trần, chí sử thiên tai dĩ kiến cáo,
Đại sĩ tầm
thanh cứu khổ, nhân lân quỳ khổn chi thành cầu.
(Dân đen trái giác hợp trần, đến nỗi thiên tai thường
giáng xuống,
Đại Sĩ tầm thanh cứu khổ, do thương tha thiết[31]
chí thành cầu)
55. Câu đối
phúng điếu ông Tôn Truyền Phương (viết
thay)
Tâm khế chân
thường, phổ vị oán thân tu thánh đạo,
Thân thường
nghiệp trái, hồn vong nhân ngã quy liên bang
(Tâm hợp chân thường, khắp vì oán thân tu thánh đạo,
Thân đền nợ nghiệp, quên phăng nhân ngã về liên bang)
56. Câu đối
tống tiễn thần ôn dịch
Huệ nhật lệ
trung thiên, diệt tận ôn dịch chi sương lộ,
Từ vân phú đại
địa, tư vinh phước thọ chi căn miêu.
(Huệ nhật rạng giữa trời, trừ sạch sương móc ôn dịch,
Mây từ trùm cõi đất, tốt tươi rễ mầm phước thọ)
57. Câu đối
tự khích lệ
a) Tất tương
cách trí thành chánh thố kỷ cung, thị chân hào kiệt,
Bất dĩ thân
tâm tánh mạng trí độ ngoại, nãi đại trượng phu
(Tận lực thực hiện cách trí thành chánh[32],
thật đáng bậc hào kiệt,
Gác bỏ chẳng màng thân tâm tánh mạng, mới xứng đại trượng
phu)
b) Nhữ tương tử
khoái niệm Phật, tâm bất chuyên nhất, quyết đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thượng
nan cầu, vật vọng tưởng nhân thiên phước quả,
Nhữ tương tử
khoái niệm Phật, chí nhược chân thành, tiện dự liên trì, Thanh Văn, Duyên Giác
do phất trụ, định khắc chứng đẳng diệu viên thừa
(Ông sắp chết hãy mau niệm Phật, tâm chẳng chuyên nhất,
quyết đọa địa ngục, ngạ quỷ súc sanh còn khó mong cầu, chớ vọng tưởng quả phước
trời người,
Ông sắp chết hãy mau niệm Phật, chí nếu chân thành, liền
dự liên trì, Thanh Văn, Duyên Giác vẫn chẳng muốn trụ, chắc chắn chứng viên thừa
đẳng diệu[33])
c) Chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, tâm cảnh câu quyên, trực đồng hạo nguyệt cô viên, quang thốn
vạn tượng,
Chứng đáo nhất
trần bất lập, trí bi song vận, bất dị hạo thiên hạo đãng, thể phú quần luân
(Soi thấy năm uẩn đều không, tâm cảnh đều mất, hệt như
vầng trăng vằng vặc, ánh sáng rọi trùm muôn vật,
Chứng đến mảy trần chẳng lập, trí bi cùng vận, khác
nào mặt trời rực rỡ, thể tánh che khắp mọi loài)
d) Niệm Phật
phương năng tiêu túc nghiệp,
Kiệt thành tự
khả chuyển phàm tâm
(Niệm Phật mới hòng tiêu túc nghiệp,
Kiệt thành sẽ tự chuyển phàm tâm)
e) Bế hộ cự lai
nhân, thống niệm tử kỳ tương chí,
Chuyên tâm tu
tịnh nghiệp, thâm tàm đạo nghiệp vị thành
(Đóng cửa chẳng tiếp ai, xót nghĩ thân này sắp chết,
Chuyên tâm tu tịnh nghiệp, thẹn thay đạo nghiệp chưa
thành)
f) Trác lập bất
di, thường sư Khổng thánh,
Hữu phi tất cải,
nghi hiệu Cừ hiền
(Kiên quyết chẳng dời, thường tôn thờ Khổng thánh,
Có lỗi bèn sửa, hãy học hạnh Cừ hiền[34])
g) Chứng đạo
phương năng siêu lục đạo,
Minh tâm tự
khả liễu tam tâm
(Chứng đạo mới hòng siêu lục đạo,
Minh tâm sẽ tự rõ ba tâm)
h) Đạo nghiệp vị
thành, cảm sử thử tâm tán loạn,
Tử kỳ tương
chí, lực từ nhất thiết ứng thù
(Đạo nghiệp chưa thành, há dám để tâm này tán loạn,
Kỳ chết sắp đến, tận lực từ tạ mọi thù tạc)
i) Duyệt biến trần
hoàn nguyên thị huyễn,
Nghiên cùng
diệu tánh cấp quy chân
(Xem khắp trần gian đều huyễn ảo,
Xét cùng diệu tánh gấp quy chân)
j) Quả quá vị
năng vi ngã hám,
Cư tâm vô ngụy
nhậm nhân phi
(Bớt lỗi chưa xong, thường áy náy,
Giữ lòng không dối, mặc người sai)
k) Tri Phật tánh
thường, phấn khắc chứng chí,
Tư địa ngục
khổ, phát Bồ Đề tâm
(Biết Phật tánh thường hằng, quyết chí chứng đắc,
Nghĩ địa ngục khổ não, phát Bồ Đề tâm)
58. Câu đối
khi nhàn rỗi
a) Giải hạnh
toàn vô, cảm sung thiên điểu,
Căn thân vị tịnh,
miễn hiệu vân ngưu[35]
(Giải hạnh trọn không, nào dám như chim trời,
Căn thân chưa tịnh, gắng bắt chước trâu mây)
b) Vị học nhật
ích, vị đạo nhật tổn
Sư hiền tâm
thật, sư thánh tâm không
(Vì sự học ngày càng tăng thêm, vì đạo ngày càng bỏ bớt,
Noi theo người hiền tâm thành thật, noi bậc thánh tâm rỗng
không)
c) Tuy hữu châu
hải kim sơn, bất như tọa tấn thử đạo,
Túng linh
phong thiện bái quốc, hà nhược lập vãng Tây Phương
(Tuy có biển ngọc núi vàng, chẳng như tấn tu nơi đạo
này,
Dẫu cho lên ngôi dựng nước, nào bằng đứng sanh về Tây
Phương)
d) Sự sự lợi
nhân, xuất nhĩ phản nhĩ,
Tâm tâm tỉnh
kỷ, niệm tư tại tư
(Chuyện chuyện lợi người, ra từ đâu trở về đó,
Tâm tâm xét mình, niệm nơi này nghĩ tại đây)
e) Nhất chế phù
tâm thành thiết hán,
Tam giam kỳ
khẩu học kim nhân.
(Một phen chế phục tâm, thành gã sắt,
Ba lượt ngậm kín miệng, học người vàng)
59. Câu đối tán
dương Phật Dược Sư
Như Lai thệ
nguyện hoằng thâm, phổ lợi hữu tình, quả năng tâm vô sở trụ trì hồng danh, tự
khả tai biến tiêu tận lục đạo khổ,
Kinh chú oai
thần quảng đại, tề tư hàm thức, nhược khẳng niệm bất phân trì bẩm thánh giáo, định
nhiên thọ đắc diên cập Lưỡng Túc Tôn
(Như Lai thệ nguyện rộng sâu, lợi khắp hữu tình, nếu
tâm vô sở trụ trì hồng danh, sẽ tự tiêu sạch tai ương hết khổ lục đạo,
Kinh chú oai thần lớn rộng, giúp trọn hàm thức, nếu chịu
niệm chẳng rong ruổi tuân thánh giáo, chắc chắn hưởng tuổi thọ dài như đấng Lưỡng
Túc)
60. Câu đối
đề pháp đường
Vô ngã tướng,
vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng, tướng tướng ly tướng, nhi
vạn đức viên chương, cứu cánh thân chứng phù Thật Tướng
Sanh từ tâm,
sanh bi tâm, sanh hoan hỷ tâm, sanh đại xả tâm, tâm tâm ấn tâm, nhi nhất trần bất
lập, triệt để hiển hiện hồ Phật tâm
(Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô
thọ giả tướng, tướng tướng ly tướng, muôn đức trọn bày, rốt ráo tự chứng Thật Tướng,
Sanh từ tâm, sanh bi tâm, sanh hoan hỷ tâm, sanh đại xả
tâm, tâm tâm ấn tâm, mảy trần bất lập, triệt để hiển hiện Phật tâm)
61. Câu đối
về Quán Âm, Địa Tạng
Quán Thế Âm
hiện chúng thân dĩ thuyết diệu pháp, tùy trần sát cảm, biến trần sát ứng,
Địa Tạng
Vương không địa ngục nhi tận sanh giới, hành Như Lai sự, úy Như Lai tâm
(Quán Thế Âm hiện mọi thân để nói pháp mầu, trần sát cảm
bèn ứng khắp trần sát,
Địa Tạng Vương trống địa ngục hòng hết sanh giới[36],
làm chuyện Như Lai thỏa tâm Như Lai)
62. Câu đối
chúc mừng Công Đức Lâm
Nhục thực nhẫn
tâm chiêu kiếp vận,
Tố xan thiện
niệm trí thái bình
(Ăn thịt nhẫn tâm chuốc kiếp vận,
Dùng chay thiện niệm dẫn thái bình)
63. Câu đối
về Quán Âm, Địa Tạng
Biến pháp giới
tầm thanh cứu khổ, tùy loại hiện thân, thủ thôi Phổ Môn đại sĩ,
Cử minh dương
hưng từ vận bi, thường thời thùy thủ, mạc quá Địa Tạng nguyện vương
(Khắp pháp giới tầm thanh cứu khổ, tùy loại hiện thân,
phải nhường Phổ Môn đại sĩ,
Trọn âm dương hưng từ vận bi, thường luôn xòe tay, ai
hơn Địa Tạng nguyện vương)
64. Câu đối
chức mừng Công Đức Lâm
Thể càn phụ
khôn mẫu chi tâm, vĩnh trừ nhục thực,
Tồn dân bào vật
dữ chi niệm, đặc bị tố xan
(Thấu hiểu lòng cha trời mẹ đất, vĩnh viễn thôi ăn thịt,
Vâng giữ niệm dân bào vật dữ[37],
riêng sắp đặt món chay)
65. Câu đối
tán dương đức Địa Tạng
Chúng sanh độ
tận, phương chứng Bồ Đề, miễn dữ lạc bạt khổ chi tâm, cộng tam tế thập hư nhi mạc
ký,
Địa ngục dĩ
không, thỉ thị thành Phật, tố hưng từ vận bi chi niệm, cử ngũ thừa cửu giới nhi
vô di
(Chúng sanh độ hết, mới chứng Bồ Đề, tưởng tấm lòng
ban vui dẹp khổ, khắp ba đời mười phương vẫn chưa trọn,
Địa ngục không rồi, mới hiện thành Phật, nghĩ dấy niệm
hưng từ vận bi, cả năm thừa chín giới đều chẳng sót)
66. Câu đối về
các pháp sâu thẳm như biển
Phật nguyện hồng
thâm, phổ bị tam căn, nhân tư cửu giới đồng quy, thập phương cộng tán,
Pháp môn quảng
đại, bất di nhất vật, cố đắc thiên kinh tịnh xiển, vạn luận quân tuyên
(Phật nguyện rộng sâu, độ khắp ba căn, do vậy chín giới
cùng nương về, mười phương cùng khen ngợi,
Pháp môn bao la, chẳng sót một ai, nên được ngàn kinh
đều xiển dương, muôn luận đều tuyên nói)
67. Câu đối
giải thích đích xác [ý nghĩa từ ngữ] “cách vật trí tri”
Cách trừ huyễn
vọng tư dục vật,
Trí hiển
trung dung bỉnh di tri
(Trừ khử vật tư dục huyễn vọng,
Thấu tột luân thường giữ trung dung)
68. Câu đối
về ăn chay niệm Phật
Miễn Như Lai
mẫn niệm thù ân, thường trì hồng danh, ký lịch kiếp tội khiên do tư tức diệt,
Quán thế nhân
nhai xải tất báo, vĩnh đoạn nhục thực, dĩ sát thân oán hận quyết định nan tiêu
(Nghĩ đến ân đức Như Lai sâu xa thương tưởng, thường
trì hồng danh hòng diệt ngay tội khiên bao kiếp,
Ngó thấy quả báo người đời chớp mắt phải chịu, quyết
không ăn thịt để giải trừ hận giết khó tiêu)
69. Câu đối
đề chỗ ăn chay
Thôi ngô nhân
ố tử chi tâm, xảo hành cứu tế,
Thể thiên địa
hiếu sanh chi đức, vĩnh giới tàn thương
(Suy lòng lũ ta sợ chết, khéo hành cứu tế,
Hiểu đức trời đất hiếu sanh, mãi kiêng sát thương)
70. Câu đối
về ăn chay niệm Phật
Khẩu phúc ngộ
nhân, xuất nhĩ phản nhĩ kết oán đối,
Phật danh tế
thế, niệm tư tại tư dự thánh lưu
(Miệng bụng lầm người, từ đâu ra trở về đó, kết oán
thù,
Phật danh cứu đời, niệm từ đâu, nghĩ tại đấy, dự dòng
thánh)
VII. Phụ Lục
Cổ nhân nói: “Bá Di, Thúc Tề[38]
tuy hiền, nhưng do được Phu Tử [nhắc đến] mà thêm nổi tiếng; Nhan Uyên tuy chăm
học, nhưng do bám vào đuôi ngựa Ký[39]
mà hạnh thêm rạng”, Đức Sâm khổ não khôn xiết, hạnh lẫn học đều thiếu, nếu
không được Ấn lão nhân nhiếp thọ, nâng đỡ, quả thật chẳng biết sẽ đặt chân nơi
đâu, huống là bàn đến những chuyện chi khác! Mà cũng là nhờ các vị Tăng - tục để
lọt mắt xanh[40]
thương xót, chứ nào phải chỉ riêng mình lão nhân gia bị mà được như thế! Ngẫu
nhiên có ghi chép, viết lách thì quê kệch, không ra hồn, lời lẽ thiếu thứ tự,
nào kham lưu truyền trong cõi đời kẻo gai mắt nhã của người khác! Nhưng do cư
sĩ Tra Tân Thần gởi thư thuật tình huống sanh Tây của cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh, lão
nhân liền gởi thư bảo Đức Sâm ghi thuật chuyện ấy để đính kèm vào cuối bộ Văn
Sao Tục Biên. Do vậy, tuân theo mạng lệnh ấy, ghi lại đôi lời về những sự thật,
tình hình rõ ràng liên quan đến pháp yếu để tạo thành phần Phụ Lục, rồi trình
lên lão nhân giám định [đã được Ngài] chấp thuận mới dám bám vào đuôi ngựa Ký để
nhờ đó được lưu truyền rộng rãi. Nếu nói muốn nối gót lão nhân hoằng tuyên pháp
đạo thì tôi chẳng dám, chỉ là nương từ quang của lão nhân ngõ hầu những sự thực
được ghi chép sẽ truyền bá xa gần khiến cho người ta tin ngay chẳng ngờ mà
thôi!
Khổ Não tỳ-kheo Đức Sâm kính cẩn
viết.
1. Niệm Phật
nhiếp tâm kệ
(sao chép theo bài viết trên vách Vân Thủy Đường)
Sách
A Di Đà Kinh Yếu Giải của đại sư Ngẫu Ích có câu: “Nếu tín nguyện kiên cố thì lâm chung dù mười niệm hay một niệm cũng chắc
chắn được vãng sanh. Nếu không có tín nguyện, dù trì danh hiệu đến mức gió thổi
chẳng lọt, mưa táp chẳng ướt, hệt như tường bạc vách sắt cũng không lẽ nào được
vãng sanh!” Tổ sư cực lực nói toạc ra như thế, chính là lời thành thật phun
gan nhả mật, mổ tim vẩy máu dành cho bọn người dùng trì danh để đè nén vọng tưởng
chẳng biết cầu sanh vậy; kẻ tu tịnh nghiệp chẳng thể không biết [điều này].
Nhưng bọn ta đã biết sanh lòng tin phát nguyện quyết định cầu sanh, hiềm rằng vọng
tưởng tơi bời, miệng tuy niệm Phật, tâm hoàn toàn mê muội, tán loạn, đấy cũng
là điều chướng ngại vãng sanh. Nếu giống như Sâm là kẻ nghiệp chướng sâu nặng,
độn căn tệ nhất thì dẫu tuân chiếu theo mấy phương cách tốt lành của tiền nhân
vẫn cảm thấy tốn sức mà khó thể chế ngự tâm vào một chỗ.
Ở đây, tôi sao chép bài kệ Nhiếp
Tâm Niệm Phật của Vân Thủy Tăng viết trên vách để dường
như khơi gợi những gì tiền nhân chưa khơi gợi. Dùng cách ấy để điều phục
thân tâm, quả thật so ra hữu hiệu hơn những phương cách khác. Huống chi niệm niệm
còn nghĩ đến hoa sen, tức là an tâm nơi cảnh thù thắng cõi Tây Phương, tự nhiên
sẽ có ích cho tịnh hạnh, trọn chẳng có điều tệ nào, chẳng suy tính mà ngầm hợp
với pháp “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối” của đức Thế Chí, đem trình lên, có lẽ Ấn công lão nhân cũng khen
ngợi là tuyệt hay. Vì thế, dám đem chép kèm vào đây để những Tịnh nghiệp hành
nhân độn căn hèn kém như Sâm nương theo tu tập, kệ rằng:
Nếu hỏi pháp
Niệm Phật,
Nhiếp tâm tự
có cách,
Niệm mỗi một
câu Phật,
Miệng tỏa
hương hoa sen,
Do tâm ta
thanh tịnh,
Nên có mùi
hương này,
Hoa từ miệng
thoát ra,
Đóa đóa về trời
Tây
Mỗi câu Phật,
một đóa,
Có màu và
quang minh,
Niệm Phật hiệu
câu đầu,
Hoa xanh, tỏa
ánh xanh,
Niệm Phật hiệu
câu kế,
Hoa vàng, tỏa
ánh vàng,
Niệm Phật đến
câu ba
Hoa đỏ, tỏa ánh
đỏ,
Niệm Phật hiệu
câu bốn
Hoa trắng, tỏa
ánh trắng,
Xoay vần tưởng
như thế,
Niệm niệm chẳng
hề quên
Chẳng cần phải
nhớ số,
Chỉ tưởng sắc,
hương, quang,
Nếu tâm chẳng
tán loạn,
Quyết thấy Đại
Nguyện Vương
2. Bài ký và
bài tụng về chuyện cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh vãng sanh
Cư
sĩ tên là Nghiệp Hốt, người huyện Bành Trạch tỉnh Giang Tây, làm quan Hàn Lâm
năm Giáp Thìn (1904) đời Quang Tự nhà Thanh, làm quan tám năm, sau khi quang phục
(Trung Hoa Dân Quốc thành lập) liền ẩn cư. Năm Dân Quốc thứ hai (1912), hướng
lòng học Phật, đốc chí nơi Tịnh Độ. Tiếp đó, đọc Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, liền
biết lão nhân là bậc long tượng trong pháp môn, thật đúng là Thái Sơn, Bắc Đẩu
trong Tịnh tông. Rồi biết Quán Âm đại sĩ chính là vị phù tá bên trái Phật Di
Đà, là bậc hướng dẫn trí tuệ của cõi sen, liền khởi ý niệm triều bái Phổ Đà, lễ
Đại Sĩ, yết kiến cụ Ấn.
Năm Dân Quốc 11 (1922) đi triều
bái, lễ bái, chiêm ngưỡng xong, đem bài Sớ Lễ Quán Âm đã soạn trình lên (toàn
văn bài sớ này được chép ở đầu cuốn Quán Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng), trong ấy có câu “thực
Đình Chương chi vu, khắc nhật Tây hành” (ăn khoai Đình Chương[41],
hẹn ngày về Tây) lão nhân liền nghĩ ông ta còn chưa thôi ăn mặn, bèn hỏi: “Ông
đã ăn chay hay chưa?” Đáp: “Ăn chay theo kỳ”. Lão nhân nghiêm mặt quở trách: “Thật là tệ! Bậc đại thông gia như vậy mà vẫn chưa lấy
thân làm gương ăn chay thì làm sao cảm hóa được người khác?” Lớn tiếng
quát to, cư sĩ vui vẻ ưng chịu, chẳng những không một mảy may nào trái ý, mà thật
ra tâm còn vui sướng thành thật khâm phục. Hôm sau, dâng thư xin lão nhân tiếp
tục biên tập Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, tự nguyện sẽ giúp cho thành tựu. Gặp mặt
nhận lời quở trách từ bi mà biểu lộ muôn phần cảm kích, đáng khen “danh chẳng
hư truyền!” Lão nhân thấy cư sĩ tri kiến thuần chánh, văn bút siêu diệu, đúng
là lòng rỗng rang như hang núi, thật hiếm có trong đời Mạt, bèn thỉnh cư sĩ
biên tập Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng.
Từ đấy thư từ qua lại càng thêm mật thiết, nhưng vẫn giữ lễ đệ tử, xin được quy y với lão nhân, ban cho pháp danh. Lão nhân bèn đặt pháp danh là Chỉ Tịnh. Năm Dân Quốc 16, 17 (1927-1928), tỵ nạn tại Thượng Hải, cư sĩ Nhiếp Vân Đài thỉnh [ông Hứa] biên tập bộ Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ. Hai cuốn sách ấy lần lượt được lưu truyền, phàm những vị Tăng - tục có chánh tri kiến đều khen là Phật lý cao sâu, văn học tinh túy. Lão cư sĩ Phan Đối Phù lại thỉnh [ông Hứa] biên soạn Phật Học Cứu Kiếp Biên. Ba cuốn sách soạn xong đều được Ấn lão nhân lo liệu ấn hành, ngay cả việc ấn hành Sơn Chí của tứ đại danh sơn, cư sĩ cũng đều góp sức, trong lời tựa [những bộ Sơn Chí ấy] lão nhân cũng đã thuật đại khái. Năm Dân Quốc 25 (1936), tại chùa Báo Quốc, cư sĩ lại cầu lão nhân đích thân truyền Bồ Tát giới (do trước kia vâng theo lời lão nhân dạy đã tự thọ giới trước đức Phật).
Cư sĩ tuy có học vấn đạo đức
người khác khó thể sánh kịp, nhưng tấm lòng rỗng rang, khiêm tốn, gặp Tăng ắt
vái chào, thấy Phật ắt lễ, toàn thân buông xuống, nghiêm ngặt giữ thân phận
hàng tại gia bạch y làm đệ tử quy y Tam Bảo, chẳng tơ hào kiêu căng, ngạo mạn, thật
là chuyện người hiện thời khó thể làm được! Hơn nữa, tuy pháp nào cũng dung
thông, nhưng tu trì cẩn trọng lại hoàn toàn giống như ngu phu ngu phụ thật thà
niệm Phật, nhất tâm cầu sanh Tây Phương chẳng mảy may đổi dời! May được Tam Bảo
gia bị, túc nghiệp lẫn tịnh hạnh đều cảm vời, chuyển quả báo nặng “ắt phải đời
đời kiếp kiếp đọa lạc tam đồ” trong đời sau do ác nghiệp “sát sanh ăn thịt, não
hại chúng sanh trong thuở trước” thành báo nhẹ trong hiện tại để liễu thoát
ngay trong đời này, nhanh chóng về Tây Phương. Vì thế, trong nhiều năm gần đây,
cư sĩ thường bị bệnh khổ (xin hãy coi tiểu sử hai vị cổ đức là Giới Hiền
và Huyền Trang sẽ tự tin tưởng lời nói này chẳng hư vọng). Do Sâm thường hầu cụ Ấn, lại có tình đồng hương với
cư sĩ, mỗi khi ít việc thường thông tin cho nhau, nên biết khá tường tận, nay
chỉ trình bày những chuyện chánh yếu, còn đối với hết thảy những chuyện nhỏ nhặt
như công khóa nhất định mỗi ngày, tinh tấn tu trì, và kiêm hành điều lành thế
gian, cạn hết lòng thành duy trì, hộ trì Tam Bảo đều chẳng rảnh rang để viết đầy
đủ được.
Đến tháng Năm năm Dân Quốc 27
(1938), cư sĩ tỵ nạn tại chùa Hoàng Long trên ngọn Cổ Lãnh, Lô Sơn, lại mắc bệnh
nặng. Đến tháng Bảy nhuận, bệnh đỡ hơn một
chút, nhưng vẫn nằm bẹp, không thể cầm bút được, bèn đọc thư, bảo cháu ngoại viết
thay, thuật diễn biến bệnh tình và thuật những ý như “từ nay trở đi gấp cầu giải
thoát, sớm được sanh về Tây, nhưng nghĩ Cửu Hoa Sơn Chí chưa xong, nếu như chưa
vãng sanh ngay, mong sẽ đọc trước cho lẹ” v.v… Sâm nghĩ cụ đã suy yếu đến mức ấy,
biết cụ sẽ chẳng còn là khách trọ lâu ngày trong cõi người nữa. Tháng Mười, nhận
được thư của thầy Phước Hải gởi đến, biết cụ đã về Tây. Khi ấy, cụ thọ sáu mươi
ba tuổi. Đến năm Dân Quốc 28 (1939), cư sĩ Tra Tân Thần sao lại lá thư của một vị
cư sĩ sống cùng chùa là cư sĩ Diêu Bán Tăng viết cho anh ông ta (anh ông
ta là Diêu Tiết Khanh, là môn sinh của cư sĩ) đem
gởi cho Sâm, nhờ đấy biết tường tận tình hình Hứa cư sĩ sanh Tây.
Thư nói: Ngày mồng Một tháng Chín (chỉ
ngày tháng Âm Lịch của năm 1938), gọi em đến trước
giường dặn dò hậu sự, tiếp đó, mỉm cười nói: “Sáng nay mộng thấy Phật đến, khắp
thân là chuỗi ngọc, tướng hảo, quang minh, hướng về tôi bảo: ‘Ta đến gặp ông’,
tôi liền lễ bái, trong khoảnh khắc liền tỉnh giấc, chẳng phải là đức Thế Tôn từ
bi, riêng đến an ủi tôi hay sao? Nếu lại được Ngài thị hiện tiếp dẫn khiến cho
tôi được đới nghiệp vãng sanh thì may mắn quá!” Nói xong, liền chắp tay nói: “Hẹn
gặp lại ở Tây Phương”, từ đấy, không còn nói năng gì nữa, chỉ chuyên tâm thầm
niệm Phật hiệu, đến bảy giờ sáng ngày mồng Ba, an tường về Tây. Toàn thân lạnh
hết, chỉ còn mình đảnh đầu vẫn ấm. Lúc nhập khám, toàn thân mềm mại như bông,
nghiễm nhiên giống như vị lão Tăng nhập định, sắc mặt tươi nhuận hơn lúc còn sống.
Đúng là các căn tươi vui, chánh niệm phân minh, xả báo an tường như nhập Thiền
Định. Tăng - tục thấy nghe khởi lòng kính nể sâu xa, khen là hy hữu. Giữ lại
chùa niệm Phật bảy ngày theo đúng Luật hỏa thiêu, tro xương vẫn giữ tại chùa
Hoàng Long. Sâm nói: “Do nhân như thế mà cảm được quả như thế, được như sở nguyện,
mãn Bồ Đề nguyện, nguyện người thấy nghe phát Bồ Đề tâm cùng niệm Phật hiệu,
cùng sanh Tây Phương, tương lai trong ao bảy báu sẽ được kề vai với cư sĩ cùng đi,
cùng là đệ tử của Phật Di Đà, nghe pháp chứng [Vô Sanh] nhẫn, cùng độ chúng
sanh Sa Bà”. Nhằm mãn nguyện của cư sĩ nên soạn bài ký, lại còn nói bài tụng rằng:
Than
ôi Tịnh công! Bậc kim thang cho pháp môn, đủ chánh tri kiến, an phận thủ thường,
nghiên cứu khắp kinh tạng, thâm nhập chỗ thẳm sâu của Phật, tổ, thị hiện [thân
phận] bạch y, giữ vững biên cương Kỳ Viên, thường than cuối đời Mạt, Tăng - tục
phần nhiều thiếu sót bổn phận, tận lực đề xướng liên xã, ắt phải cậy Tăng già
nêu kỷ cương, Tông lẫn thuyết đều thông, đáng xưng là bậc ngoại hộ vây cánh, giữ
cho tăng sống yên, bảo vệ đạo pháp, thật đáng khen là bậc long tượng vô song.
Pháp nào cũng viên dung, nhưng chỉ giữ mỗi giáo pháp Tịnh Độ khế cơ khế lý. Môn
nào cũng thấu đạt thông suốt, chỉ thẳng tới cõi Cực Lạc dễ hành, dễ đạt. Nay đã
dưa chín, cuống rơi, quả thật được Tây Phương giáo chủ tiếp dẫn, càng mong mau
chứng vô sanh, chẳng trái bổn nguyện, liền trở lại Sa Bà, hộ trì Tam Bảo, làm
thuyền Từ phổ độ chúng sanh.
2. So sánh sự
tổn hại và lợi ích giữa được và không được trợ niệm
Cư
sĩ Lưu Hiểu Ngu tên là Cảnh Liệt, người huyện Cám tỉnh Giang Tây, thuở trẻ du học
Đông Doanh (Nhật Bản), là bạn học với ông Thái Tùng Pha v.v… Sau khi quang phục,
từng làm Nghị Viên Quốc Hội khóa đầu tiên. Năm Dân Quốc thứ sáu, thứ bảy (1917-1918),
đảm nhiệm chức Ty Trưởng ty Chức Phương[42].
Do người anh họ là cư sĩ Hảo Ngu, tên [ngoài đời là] Cảnh Hy, vốn là một thân
sĩ tiếng tăm ở Cám Châu rất tôn sùng Phật học; cho nên từ thuở bé, đối với pháp
môn cư sĩ cũng chịu hộ trì. Ngôi chùa cổ Thọ Lượng trong thành bị bỏ hoang, sụp
nát từ lâu. Đầu thời Dân Quốc, người dân trong vùng tính mượn danh nghĩa lập
trường tiểu học cho quốc dân để che đậy ý đồ chiếm hết [cả chùa], chiếm đóng
nơi ấy. Về sau, do cư sĩ phát khởi, thỉnh hòa thượng Đại Xuân kiêm nhiệm Trụ
Trì, giúp sức bảo vệ. Đến năm Dân Quốc thứ tám, thứ chín (1919-1920), nhà chùa
cùng trường học dính vào chuyện thưa kiện, đều do cư sĩ đức cao trọng vọng mà một
người xướng, trăm người hòa, ngả rạp theo gió, phàm những vị chánh sĩ thuộc các
giới thân sĩ, thương nhân, giáo dục ở địa phương đều nhất trí chủ trương công đạo,
dời nhà trường khỏi chùa, bảo toàn được cơ sở nhà chùa và chuộc lại chừng đó ruộng
cho cấy rẽ.
Đến năm Dân Quốc 22 (1933), [chánh
quyền địa phương] phóng đường cái, nhà chùa nằm ngay trên tuyến đường được quy
định thiết lập đại lộ, hai bên đều biến thành trang trại nhỏ, [họ tính] phá sạch
cả chùa, muôn phần không còn cách gì bảo tồn được nữa! Hàng Tăng - tục đã đến
chỗ sơn cùng thủy tận rồi, biết Sâm khi xưa đã từng phụ giúp hòa thượng Đại
Xuân, có mối nhân duyên với chùa ấy; khi đó, Sâm đang hầu hạ cụ Ấn tại đất Tô, ắt
sẽ quen biết vị hộ pháp có thế lực, họ bèn gởi thư xin lập phương cách cứu vãn.
Khéo sao, cư sĩ cũng do tỵ nạn mà đến đất Tô, đã quy y với Ấn lão pháp sư, ăn
chay theo kỳ, tu Tịnh nghiệp, pháp danh là Đức Thành. Sâm vì tạo dựng tượng Đại
Sĩ bằng sắt cao hai mươi thước mà bôn tẩu hô hào, [nhà chùa] được giữ nguyên vẹn;
tiến hơn một mức nữa là lại được trùng hưng cũng nhờ công sức cư sĩ giúp đỡ
không ít. Đến năm Dân Quốc 25 (1936), cư sĩ trở về quê, chuyện duy trì nhà chùa
càng nhờ cậy cư sĩ nhiều hơn, nhưng do việc công chuyện tư bề bộn, tuy đã phát
tín tâm, nhưng khó chuyên thực hành được. Mỗi ngày bất quá thực hiện công khóa
chốc lát, tùy duyên tu tập mà thôi!
Đến cuối Thu năm Dân Quốc 27
(1938), do sát nghiệp trong đời trước đời này chiêu cảm, lại bị bệnh nặng (khi
chưa quy y Phật, cư sĩ thích bẫy chim lưới cá, sát hại rất nhiều sanh mạng. Năm
Dân Quốc mười mấy, từng bị chứng Đối Khẩu Sang[43],
bệnh tình rất nguy hiểm, đau khổ cùng cực, bèn phát nguyện đoạn trừ thói quen xấu
ác ấy. Do niệm Quán Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, chợt nghe trên hư không tỏa
hương, bệnh tình dần dần được bình phục), dây
dưa lâu ngày, đau khổ khó kham, sai con là Phát Trang đem món tiền mấy trăm đồng,
cậy Sâm cúng dường cho cụ Ấn và làm công đức thay cho mình. Sâm lo liệu xong,
viết thư phúc đáp khuyên cư sĩ nên ăn chay trường; nghe nói đến cuối năm [cư
sĩ] mới thực hành chuyện thôi ăn mặn. Cho đến tháng Ba năm Dân Quốc 28 (1939),
bệnh tình ngày càng thêm nặng. May nhờ thê thiếp, dâu, con đều là đệ tử quy y với
cụ Ấn, đều biết trợ niệm lúc lâm chung là chuyện khẩn yếu, bèn trong ngày Mười
Bảy thỉnh hai vị Tăng ở chùa Thọ Lượng đến trợ niệm.
Niệm đến sáng ngày Mười Chín,
cư sĩ tự biết sắp từ biệt trần thế, sai khiêng ra trước sân để đổi không khí, gọi
anh em dặn dò hậu sự, bảo người con cả là Phát Trang quỳ nghe di chúc. Nói
xong, mọi người thấy sắc mặt [cư sĩ] rất lạ, bèn khiêng trở vào phòng ngủ. Hai
vị Tăng và người nhà đồng thanh niệm Phật hiệu để trợ niệm. Phát Trang kính cẩn
nâng tượng A Di Đà Phật tiếp dẫn, thỉnh [cư sĩ] hãy nhìn xem. Do lúc mới phát bệnh
ngặt thì vẫn là chứng bệnh ở phía ngoài cổ (tức chứng Đối Khẩu Sang tái phát) khiến
cho tay trái rũ xuống mấy tháng không thể giở lên được; chính đang lúc hấp hối
vừa thấy tượng Phật, tay trái chợt hoạt động như thường, giơ lên chắp tay, liền
tỏ vẻ hoan hỷ hớn hở, niệm gấp A Di Đà Phật. Lúc ấy, chẳng có mảy may đau khổ
nào, an tường qua đời giữa tiếng niệm Phật của mọi người, thọ được sáu mươi mốt
tuổi, nhằm ngày Mười Chín tháng Ba năm Kỷ Mão (1939) Âm lịch.
Cư sĩ bệnh nặng mấy tháng, đau
khổ khó kham, quả thật là báo nặng trong đời sau do não hại chúng sanh đã chuyển
thành báo nhẹ trong hiện đời, đến khi lâm chung có được tướng lành ấy, có thể
nói là các căn tươi vui, chánh niệm phân minh, xả báo an tường như nhập Thiền Định,
chắc chắn sanh về Tây Phương không còn ngờ gì nữa! Việc ma chay, đãi khách nhất
nhất đều tuân theo lời cụ Ấn đã dạy trong thư: Nhất loạt dùng cỗ chay, mở ra đầu
mối đầu tiên theo đường lối Phật hóa ở miền Nam Cám Châu. Thiện lợi như vậy tuy
do chính thiện căn của chính cư sĩ chín muồi, nhưng quyến thuộc giúp sức đúng
pháp khéo trợ niệm vào lúc lâm chung cho nên cũng thật sự là một trợ duyên rất
lớn. Vì thế, cuối cùng, tôi mong tứ chúng Phật tử hãy sớm chú ý [điều này].
Bà
Đinh nhà họ Lý, pháp danh Đức Hoằng, từng làm vợ cả ông Lý X… ở Dương Châu. Do
chồng đã cưới vợ lẽ mà bà lại chưa từng sanh nở, khó sống yên trong nhà [chồng]
được, bèn đến sống nhờ nơi mẹ kế là cư sĩ Đinh Đức Nguyên. Bà mẹ kế cũng coi bà
Đinh như con ruột, nâng đỡ lẫn nhau, quây quần bên nhau gần suốt hai mươi năm mà
giống hệt như một ngày. Năm Dân Quốc 17 (1928) ở tại đất Thân (Thượng Hải), do
thân hữu dẫn đến gặp Ấn lão pháp sư, bèn cùng nhau cầu khẩn xin được nhiếp thọ,
quy y, xin ban pháp danh. Lão nhân cũng nghĩ tới lòng họ thành khẩn bèn từ bi
chấp thuận, và ghi cho pháp danh là Đức Nguyên, Đức Hoằng. Từ đấy, ăn chay trường,
thờ Phật, tu trì nghiêm cẩn, mẹ con nương tựa nhau, chuyển thành pháp lữ. Đau
đáu nghĩ tục duyên bạc phước, quyến thuộc thưa thớt, nay gặp Tịnh tông là cha mẹ
tốt lành hướng dẫn xuất thế, được nương tựa nơi thầy, cũng là may mắn muôn vàn.
Do vậy, đối với lão nhân tâm hiếu kính mười phần chân thật, thiết tha.
Luận về sự tin tưởng, tu trì
thường ngày thì hết thảy mọi mặt [cư sĩ Lý Đinh Đức Hoằng] đều trội hơn Lưu cư
sĩ, chỉ hận túc nghiệp ngăn chướng, nhân duyên khiếm khuyết! Mùa Hạ năm Dân Quốc
27 (1938), thấy Vũ Hán sắp lâm vào cảnh vây hãm, nguy ngập, bèn từ Hương Cảng đến
tỵ nạn tạm thời tại đất Hỗ (Thượng Hải). Do giá nhà quá cao, thuê mướn chẳng dễ
dàng, bèn ở tại khách sạn, vừa quá tốn kém vừa quá bất tiện. Cụ Chân Đạt chùa
Thái Bình biết mẹ con bà tin Phật chân thật, thiết tha, trong lúc đại kiếp này
lênh đênh không nơi nương tựa, quyến thuộc đìu hiu, thật đáng thương xót, nên trong
chùa có lập một tịnh thất cho năm người già trẻ cùng sống. Đến đầu tháng Ba năm
Dân Quốc 28 (1939), [Lý cư sĩ] đột nhiên mắc bệnh thương hàn, dây dưa tới tháng
Tư thuốc men không công hiệu, bệnh tình ngày càng nặng thêm, trong chùa Phật sự
bề bộn, phòng ốc lại ít, nếu chết tại chùa không cách chi xếp đặt ổn thỏa được,
bất đắc dĩ phải đưa vào bệnh viện. Quy định của bệnh viện là phải theo quy cách
Tây Phương, việc trợ niệm lúc lâm chung muôn phần khó thể thực hiện được. Nhập
viện hai ba ngày, những người biết Phật pháp chẳng thể đến thăm được, cư sĩ bèn
chết hồ đồ tại bệnh viện vào sáng ngày Mười Tám tháng Tư, thọ năm mươi tuổi.
Người có tín tâm tu trì như thế
nếu lâm chung được trợ niệm đúng pháp, sẽ hiện tướng lành vãng sanh chẳng kém
cư sĩ Lưu [Hiểu Ngu]; nhưng vì cơ duyên bị trở ngại, hoàn toàn chẳng được hưởng
lợi ích do trợ niệm, đến nỗi tín tâm hằng ngày chẳng thể thọ dụng được trong đời
này, chỉ thành nhân duyên đắc độ trong vị lai, thật đáng tiếc quá! So sánh những
chuyện này, biết đích xác trợ niệm lâm chung có quan hệ rất trọng yếu! Tuy
nhiên, công chẳng luống uổng, quả không bỏ phí! Cõi đời chẳng có quả nào không
có nhân, cũng như không có nhân nào chẳng kết thành quả. Lưu cư sĩ hưởng thiện
lợi như thế là do nhân gieo trong đời trước nay đã chín muồi, vì thế có được
thiện duyên quyến thuộc giúp cho thành tựu. Lý cư sĩ chịu cảnh ngang trái như
thế chắc là vì đời trước phá hoại chuyện thù thắng của người khác đến nỗi cảm lấy
đủ mọi thời tiết nhân duyên chẳng đúng pháp gây nên chướng nạn. Hết thảy thiện
hạnh do tín phụng Tam Bảo trong hiện tại chắc chắc sẽ tạo thành cái nhân đắc độ
trong vị lai, chẳng thể nghi ngờ, bàn bạc mảy may nào nữa, nhưng rốt cuộc chẳng
thẳng chóng bằng liễu thoát ngay trong đời này. Do vậy, lão nhân thường nói: “Lợi người tức là lợi mình, hại người còn
quá hại mình”. Nguyện những vị Tăng - tục cùng hàng có chí sanh Tây trong
nhất cử nhất động hãy chú ý nhân quả khiến cho mỗi bước mỗi chuyện đều tạo
thành duyên thù thắng để thành tựu vãng sanh, [đấy là điều] thiết yếu vậy!
3. Người tu
Tịnh nghiệp ăn chay niệm Phật trong xử sự thường nhật chuyện gì cũng phải rất
phù hợp với Tịnh hạnh thì mới có thể vãng sanh
Cư
sĩ Tào Á Bá người huyện Dương Tân tỉnh Hồ Bắc, thiên tư khá tốt, đến tuổi búi
tóc đi học, liền cùng với những vị tham gia cuộc khởi nghĩa Vũ Xương[44]
cực lực đề xướng cách mạng. Triều đình nhà Thanh nghiêm cấm, bèn liều mạng bỏ
ra nước ngoài, đi khắp Âu - Mỹ, cùng hoạt động chung với các vị như Tôn Tổng Lý[45].
Đến năm Dân Quốc 11 (1922), cư sĩ bèn chẳng muốn nghe đến chuyện quốc sự nữa, ẩn
cư tại Thượng Hải. Tiếp đó tậu sản nghiệp, dựng nhà tại Côn Sơn, rồi nghe theo
lời khuyên của cư sĩ Trương Thuần Nhất tin tưởng Phật pháp, đọc khắp những bộ
kinh luận nổi tiếng của Đại Thừa. Đến năm Dân Quốc 18, 19 (1929-1930), sau khi
thân cận cụ Ấn, cũng khá hợp tính với Sâm, hễ gặp người khác bèn đem Phật pháp
khuyên lơn, đề xướng tuyên truyền, khá có ảnh hưởng. Đối với chuyện thuộc pháp
môn, cư sĩ tận lực hộ trì, chẳng hề né tránh, kiêng dè, cũng là người làm được
những điều người khác khó thể làm. Sâm lo liệu những chuyện thuộc về tài sản nhà
chùa tại Giang Tây cũng được cư sĩ giúp sức không ít. Ông ta khinh tài trọng
nghĩa, thanh cao, thật thà, chẳng tranh quyền lợi với ai, cũng là hạng người hiếm
có trong thời này. Tiếc là chuyện gì cũng luông tuồng, chẳng tuân theo quy củ
đã định, đến nỗi phần nhiều những chuyện ông làm đều trở thành trò đùa! Vì thế,
chỉ gieo được cái nhân xa, chứ khó thể được lợi ích thật sự trong đời này.
Thường ngày, do thân lẫn tâm đều
mạnh mẽ, ông tự coi mình là anh hùng, mong có thể sống tới một trăm hai mươi tuổi!
Hiềm rằng thuở thiếu niên chơi bời bừa bãi (chuyện này ông ta thường tự
lớn tiếng nói cho người khác biết), trác táng
quá độ nên đã trở thành bề ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong thì khô héo; cho nên đến
tuổi xế chiều cũng thường sanh bệnh. Mùa Thu năm Dân Quốc 26 (1937), bị bệnh thổ
tả nhẹ, trị gần lành, vẫn gởi thư cho Sâm ước hẹn kỳ hạn đến đất Tô lễ bái,
thân cận cụ Ấn, nhân đấy bày tỏ nỗi lòng. Nào ngờ tối hôm trước ngày đã định,
cư sĩ mắc chứng dịch tả. Lần này những người bạn thân đã ước hẹn đồng hành đến
mời cư sĩ lên đường, thấy ông ta đã sắp mất, chưa đầy một tiếng đồng hồ đã
thiêm thiếp qua đời, thọ sáu mươi hai tuổi, chỉ được nửa số tuổi mong muốn, mất
đúng vào giữa trưa ngày Hai Mươi Lăm tháng Tám. Hết thảy các sự thế gian lẫn xuất
thế gian đã nói trước đây đều trở thành bánh vẽ. Đây chính là bằng chứng chắc
như sắt về chuyện đùa bỡn nơi pháp môn, khó được lợi ích thật sự trong đời này!
Người tu Tịnh nghiệp đối với hết thảy những chuyện chẳng tuân theo quy củ đã định
phải thống thiết răn ngừa vậy!
Cư sĩ Bành Thủ Chuyết người huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây, năm Dân Quốc 18 (1929), đặc biệt sang đất Hỗ chọn đầu bếp chuyên nấu món chay về Nam Xương trông coi tiệm đồ chay. Nhân đó, đến chùa Thái Bình lễ cụ Ấn nên mới bắt đầu quen biết Sâm. Về sau, ông lại trông coi Phật Kinh Lưu Thông Xứ tại chùa Hựu Dân. Do làm việc nghiêm túc, ông được các cư sĩ tín nhiệm, cho nên công việc cả hai nơi đều giao cho ông chăm sóc. Đối với chuyện trong pháp môn, ông luôn ủng hộ các vị Tăng - tục, cũng như dốc cạn tâm lực hộ trì đề xướng. Sâm phải lo chuyện tài sản nhà chùa ở vùng Nam Cám, được ông lập nhiều cách giúp đỡ, hưởng lợi ích cũng sâu đậm lắm. Nhưng vì ông đông con quá, trong nhà chẳng có của cải gì, duy trì sanh kế cho gia đình khá vất vả. Công khóa tự tu tuy chưa thể không gián đoạn, nhưng cũng chẳng chịu bỏ luống. Khi ngoài năm mươi tuổi, do lao lực chất chứa, thân suy nhược, đến nỗi thường đổ bệnh. Đến khoảng tháng Bảy năm Dân Quốc 27 (1938), biết trước lúc mất, đã định sẵn kỳ hạn với người nhà. Khi ấy, người nhà vây quanh trợ niệm Phật hiệu, cư sĩ cũng chánh niệm phân minh, an tường về Tây giữa tiếng niệm Phật của đại chúng. Do ông ta cung kính Tam Bảo, chuyện gì cũng học theo ông Hứa Chỉ Tịnh, nghe nói tướng lành lúc vãng sanh cũng gần giống như vậy (nhưng lúc nghe còn chưa ghi lại, nên vẫn còn nhiều chuyện chưa thể tường tận được).
Cư
sĩ Tra Tân Thần, người huyện Cửu Giang tỉnh Giang Tây, năm Dân Quốc 24 (1935), làm
nghề buôn bán, gia đạo cũng dư dả đôi chút, nhiệt tâm làm chuyện công ích, ưa
làm lành, thích bố thí. Những chuyện từ thiện trong địa phương đều khảng khái
giúp cho thành tựu, làm phó xã trưởng của Cửu Giang Liên Xã. Năm Dân Quốc 24
(1935), Sâm qua Cửu Giang vừa gặp mặt lần đầu liền được ông đặc biệt ưu đãi.
Năm Dân Quốc 25 (1936), triều bái Phổ Đà, đến đất Tô, càng thêm quen biết đậm
đà hơn. Mùa Xuân năm Dân Quốc 28 (1939), do tỵ nạn về sống tại Cám Châu, tuy phải
lênh đênh trôi nổi, vẫn cứ nhất tâm thờ Phật, mấy lần gởi thư cho Sâm để bàn bạc
chuyện trong pháp môn. Đến tháng Giêng năm Dân Quốc 29 (1940), chẳng may phi cơ
oanh tạc Cám Thản, bom rớt xuống gần nơi [cư sĩ] cư ngụ, bị kinh hãi trúng
phong, tiếp đó bị chứng bệnh viêm màng não cấp tính, qua đời vào giờ Thân ngày
Hai Mươi Mốt tháng Hai. Do bình nhật tin tưởng Tịnh Độ sâu xa, thật sự có tu
trì, lại thêm quyến thuộc cũng hơi biết về ý nghĩa quan trọng của sự giúp sức
trong lúc lâm chung, nên tuy bị mất vì bệnh ngặt, tâm vẫn giữ được chánh niệm,
trọn chẳng có hiện tượng hôn mê, vướng mắc, xưng niệm A Di Đà Phật liên tiếp,
nhắm mắt, an nhiên qua đời. Dựa theo kinh giáo, người mất như vậy có khá đầy đủ
tướng lành sanh về Tây, cũng là do chuyện gì cũng đều tuân theo quy củ đã định,
phần nhiều phù hợp với Tịnh Độ mà cảm vời ra.
Xét
ra, ba vị cư sĩ này đều quy y dưới tòa của Ấn lão nhân, giữ lễ đệ tử, đối với
cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh không ai chẳng đồng thanh tán dương, nhưng hết thảy hành vi
của hai vị Bành - Tra phần nhiều lấy hai vị lão nhân (tức tổ Ấn Quang và ông Hứa
Chỉ Tịnh) làm khuôn mẫu để phỏng theo; nếu có chỗ nào sức không kham nổi thì
cũng tự biết hổ thẹn, chẳng dám buông lung, do vậy kết quả cũng chẳng thua kém
cho mấy! Tào cư sĩ xưng tụng ngoài miệng, có thực hành, nhưng không có gì tới
nơi tới chốn, chỉ tự mình hành động, phần nhiều gần như là làm quấy quá, chứ thật
ít khi thực hiện thật sự! Hơn nữa, hoàn toàn chẳng có công khóa nhất định để lễ
bái, trì tụng đúng pháp, lại còn thuận theo tâm hạnh của chính mình, nên mang
tiếng là niệm Phật nhưng kết quả cũng hoàn toàn chẳng có ảnh hưởng gì! Đủ chứng
tỏ Phật pháp quý nơi thật hành, chứ không phải chỉ nói xuông là có thể giải quyết
xong việc. Công chẳng lãng phí, quả chẳng phí uổng. Sâm viết bài này để tự răn
mà cũng để răn nhắc hết thảy những ai cùng bệnh vậy!
4. Thư trả lời
cư sĩ Hoàng Hiểu Phố, viện trưởng Ân Thí Pháp Viện
(đính kèm nguyên văn thư gởi đến, [Hoàng cư sĩ có] pháp danh là Đức Hoằng)
Sau tiết Đoan Ngọ hai bữa, lời chỉ dạy của thầy
được gởi đến, để mãi cho đến hôm nhằm tiết Đại Thử mới cung kính mở ra đọc,
tính ra đã ba mươi mốt ngày[46].
Giao thông bất tiện như thế này, nhằm vào lúc chẳng bình thường, hết thảy mọi
việc đều phải xem xét theo quy cách chẳng bình thường thì mới được trời cao đất
rộng vậy! Tự nghĩ nghiệt nặng chướng sâu, may giữ được cái mạng tàn để thưa hỏi
cùng thầy đều là do sức Phật, Bồ Tát thầm gia hộ vậy! Ngày Hai Mươi tháng Tư Âm
lịch, máy bay Nhật ném bom huyện thành Ân Thí, khi ấy nhằm đầu giờ Dậu, Đức Hoằng
từ pháp viện (tòa án) trở về chỗ ở; còi báo động hú lên, hai đứa con gái và đứa
tớ gái ẵm bé Phước Châu chạy vào hang núi [trú ẩn], cô tiểu thiếp ẵm bé Phước Bị
ở lại với Hoằng, không chạy đi. Còi hụ báo động khẩn cấp rú lên từng hồi, Hoằng
đối trước Phật niệm Quán Âm Bồ Tát, máy bay chao qua lượn lại gầm rít ầm ĩ. Trước
Phật tòa có một cái bàn vuông, bên trên phủ vải bông, người tiểu thiếp nép dưới
gầm, chợt kéo áo Hoằng, Hoằng cúi đầu nhìn xuống. Đầu Hoằng vừa rúc xuống gầm
bàn, bom đạn liên tiếp nổ rền, nhưng không quá dữ dội. Bé Phước Bị khóc thét,
lưng Hoằng bị miểng văng trúng, trầy nhẹ, đứng lên xem thử, nhà cửa bị rung sụp, Phật tòa cũng bị nghiêng lệch, tro bụi phủ đầy
nhà. Dưới chân có bức tượng Quán Âm nhỏ bằng sứ, bèn vội nhặt lấy ôm vào lòng (năm ngoái, phòng ngủ ở Pháp Viện bị tàn
phá, tượng sứ ấy bị vùi trong đống gạch ngói, chẳng bị hư hao mảy may nào). Tường đã ngã
xiêu ra phía ngoài. Tôi cùng với người tiểu thiếp ra khỏi cửa xem mới biết hai
dãy phố trước và sau đều bị trúng bom, kèo gãy rui sụp. Nhà hàng xóm ở dãy phố
phía sau lại trúng phải đạn lưu huỳnh bốc cháy, họ thảng thốt chạy ra khỏi chỗ ẩn
núp có kèo gỗ chống đỡ nơi dãy phố phía trước. Người tiểu thiếp và cô bé hàng
xóm chạy tránh đến chỗ an toàn.
Hoằng tính vớt vát quần áo, đồ đạc, nên quay trở lại cổng ngõ nơi trú
ngụ, một mình không ai giúp tay, chẳng dám chui vào một mình. Đang trong lúc ngần
ngừ, chẳng ngờ bốn mặt lửa bốc lên nghẽn lối, phải gấp tránh né, vội nằm nép
mình trong cái rãnh bùn lầy phía trong tường, nhắm mắt niệm Phật. Trên, dưới,
trái, phải, tàn lửa rụng như mưa, lấy tay phủi liền tắt. Ngọn lửa cách đầu chưa
đầy một trượng, hơi nóng vô cùng khó chịu đựng được; bùn trong rãnh đã
trở thành nước nóng, quần áo đã bén lửa một hai chỗ, trong tâm vẫn không sợ
hãi, chỉ tự trách chớ nên tham luyến quần áo, đồ đạc để rồi bị hãm trong tuyệt
địa, lặng lẽ chờ Phật, Bồ Tát tiếp cứu mà thôi! Một hồi lâu sau, thế lửa ở phía
Nam giảm đi, nhờ gót giày bị bùn lầy thấm ướt, liền cố sức đạp lửa xông qua, đi
xa được mười trượng, rốt cuộc được an toàn, không bị thương tổn mảy may; bất
quá da thịt bị lửa hun đã lâu, ông mập đã trở thành chàng gầy nhom! Tất cả quần
áo, đồ đạc, sách vở, và nhật ký, bản thảo thơ văn mười mấy năm qua đã mất sạch
không còn gì. Những hồ sơ, vật dụng trong pháp viện cũng tiêu sạch. Cũng may là
các bộ phận hành chánh, tài chánh đều do viện trưởng phân viện thứ ba thuộc Tối
Cao Pháp Viện đảm nhiệm. Ngày hôm qua theo lệnh của Bộ, các chức vụ viện trưởng,
chủ tịch phân viện đều bị bãi trừ.
Trong tương lai, tuy Hoằng bị kỷ luật, nhưng chắc là chén cơm cũng
không bị trở ngại. Pháp viện dời về khu vực tạm trú Đông Hương, Hoằng bèn thuê
một gian nhà tranh ở vùng phụ cận, mượn của bạn bè một hai bộ quần áo. Đồng
hương tặng cho mấy đứa trẻ mấy bộ, hai đứa con gái, hai thằng con trai có áo
không có quần. Phần lớn những tiệm buôn trong thành bị bom phá hủy, ở trong
làng muốn ra chợ [mua sắm] vải vóc rất khó, sống cuộc đời dân tỵ nạn gần hai
tháng trời. Nghĩ đến minh đản bát tuần của tiên khảo[47],
không có sức làm chay, chỉ dâng lên năm đồng, cầu xin thầy chuyển lời thỉnh đến
đạo tràng Một Trăm Lẻ Tám Phật Thất làm lễ cầu siêu, lại xin mua giùm một “món
đồ câu cơm” (tức Lục Pháp Toàn Thư[48]).
Đứa con thứ vốn tên là Phước Bị, chẳng ngờ Ấn lão pháp sư khi đặt tên liền dùng
ngay hai chữ ấy, Phật pháp cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hoằng từ sau khi thoát
ra khỏi cơn nạn lửa, thề suốt đời trì chú Đại Bi, đi, đứng, nằm, ngồi trong tâm
đều thầm tụng để cầu thế giới hòa bình, chỉ quan tâm đến chuyện cày bừa, chẳng
hỏi đến chuyện thâu hoạch, thầy có cho là đúng hay không? Sanh con lẫn nuôi dạy đều quan trọng,
người tiểu thiếp răn dạy rất nghiêm, lúc cấp bách cũng biết niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát, bé Phước Châu cũng biết lạy Phật. Con thưa gởi những gì nghĩ biết, rất
mong thầy gởi thư răn dạy về lý nhân quả trong lần bị nạn lửa này. Phiền thầy
cho con gởi lời vấn an trước tòa lão pháp sư.
Ngày
hôm qua nhận được thư gởi tới bằng đường tàu, ông trải qua một phen nguy hiểm kinh
sợ này khác nào được sống sót từ nơi miệng cọp, đúng là khiến cho người khác chẳng
rét mà run! Phật, Bồ Tát hữu cầu tất ứng, tầm thanh cứu khổ, cảm thông chẳng thể
nghĩ bàn, [nay đã] có [thêm] chứng cớ để càng thêm tin tưởng. Sâm tính soạn một
bài ký về sự linh cảm đăng trên những tờ báo như Phật Học Bán Nguyệt San v.v… để
tuyên dương nhằm khơi gợi lòng tin tưởng của mọi người, mà thiện căn của cư sĩ
cũng ngày càng được tăng thêm. Gặp phen cư sĩ mắc đại kiếp về quần áo, vật dụng
lần này, Sâm ở xa ngoài mấy ngàn dặm, quả thật chỉ ôm lòng thương cảm nhưng
không cách nào giúp đỡ được. May là cả nhà lớn bé đều được thoát hiểm không hề
hấn gì. Chỉ có thân hình bị lửa dữ hun lâu nên chàng mập biến thành gã ròm chứ
không bị tổn thương chi khác thì cử động lại càng thêm thoải mái, cũng không trở
ngại chi!
Còn như trong lúc chưa thoát
khỏi hang lửa, đang trong lúc nguy hiểm nhất vẫn có thể tâm không sợ hãi, đấy
chính là chỗ biểu hiện một dạ tu trì vậy, nhưng chỉ biết lặng lẽ chờ Phật, Bồ
Tát đến cứu giúp, chẳng biết nghĩ đến chuyện đã lâm vào cảnh hãm tuyệt, đang
trong lúc muôn phần không còn lẽ sống, càng phải nên chuyên niệm Nam Mô A Di Đà
Phật hoặc Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (niệm danh hiệu nào cũng đều được), nhất tâm mong mỏi Phật, Bồ Tát rủ lòng từ. Nếu chẳng
thể thoát hiểm tìm ra lẽ sống, liền chuyên mong được tiếp dẫn vãng sanh. Chẳng
biết suy nghĩ như thế thì chưa phải là triệt để rốt ráo, may là được thoát hiểm,
nếu không, sợ rằng đã chôn thân trong hầm lửa, chẳng được lợi lành vãng sanh
thì lầm lẫn lớn quá rồi! Chú tâm tưởng Phật, Bồ Tát tiếp dẫn vãng sanh, nếu như
chưa đến lúc thì cũng cảm được Phật, Bồ Tát cứu giúp, che chở thoát hiểm. Rất mong
hãy “đầu sào trăm thước, tiến thêm bước nữa”
thì lợi ích lớn lao mới là triệt để.
Còn như luận về lý nhân quả
trong lần này thì bọn ta từ vô thỉ đến nay không oan nghiệt nào chẳng tạo, chỉ
cần nhân duyên hội ngộ ắt sẽ chịu quả báo. Ngay như hết thảy tâm hạnh hiểm ác của
những kẻ ngay trong hiện thời khiến cho chúng ta mắc phải đại kiếp này [đều là
vì] bọn ta xưa kia khi mê muội chẳng biết giác chiếu [đã trót mang những tâm hạnh
hiểm ác ấy], dẫu có nặng - nhẹ, mạnh - yếu khác biệt thì cũng không gì chẳng phải
là “chỉ mong sao ta sống, chẳng sợ người khác chết, cậy năm mươi bước cười kẻ một
trăm bước” mà thôi! Cõi đời không quả nào chẳng có nhân mà cũng không nhân nào
chẳng có quả! Tương lai rốt cuộc sẽ phải đền bù ra sao, hoặc ngấm ngầm hoặc rõ
rệt, sẽ tự có giá trị tương đương, chúng ta chỉ nên tin tưởng sâu xa nhân quả
chẳng sai tơ tóc là được rồi! Nếu nói rốt ráo là như thế nào thì chính tôi là hạng
tăng phàm tục chỉ biết cơm cháo chẳng thể nào phân tích được!
Về minh thọ tám mươi tuổi của
lệnh tiên nghiêm lão nhân, tôi đã gởi thư cho đạo tràng Một Trăm Lẻ Tám Phật Thất
lập bài vị cầu siêu. “Bộ đồ câu cơm” Lục Pháp Toàn Thư đã cậy bạn bè mua giùm,
gởi giùm rồi. Tôi gởi kèm theo thư này thư trả lời của người bạn ấy để ông biết
đầu đuôi. Còn ý nguyện cao quý suốt đời trì chú Đại Bi để cầu nguyện thế giới
hòa bình của ông cố nhiên rất tốt, nhưng đang trong lúc muôn phần không có lẽ sống,
đối với kiếp sống thừa sau cơn tai kiếp, quang âm hữu hạn này, càng phải nên niệm
Nam Mô A Di Đà Phật cho nhiều và đem hết thảy công đức hồi hướng cho khắp mọi
chúng sanh cùng cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, để mình lẫn người đều
được lợi ích rốt ráo liễu sanh thoát tử thật sự, ngõ hầu chẳng phụ Phật, Bồ Tát
từ bi cứu vớt lần này vậy!
5. Lời bạt
ghi sau bài ký về chuyện bà Phó Trâu Nhân Hiển niệm Phật cảm được cọp thả con lợn
[mà nó đã bắt]
(đính
kèm nguyên văn bài ký được gởi đến)
1) Bài ký:
Phó Trâu Nhân Hiển, người thôn
Đông Quách, huyện Thanh Giang, tỉnh Giang Tây, là vợ cư sĩ Phó Xuân Phố (chuyện
sanh về Tây của ông Phó Xuân Phố chồng bà ta xin xem ở cuối phần Phụ Lục này), là người nhân từ, mềm mỏng, thành thật, khắc khổ, tự
gắng sức, tin thờ Tam Bảo, niệm Phật chẳng lười nhác. Phó cư sĩ khuất núi, bà
lênh đênh cô khổ, trơ trọi một thân, mất nơi nương tựa, nhiều lần bàn tính với
bạn bè của cư sĩ Xuân Phố về chuyện ăn ở, gặp phải nhiều nghịch cảnh. Giữa
tháng Năm năm Dân Quốc 28 (1939), được người ta đưa đến cư trú tại Thanh Tịnh
Am ở làng Thạch Pha cách trấn Chương Thụ mười mấy dặm. Bà Nhân Hiển niệm tụng
siêng ròng, chăm chỉ, lúc rảnh lên núi đẵn củi về bán để đổi lấy thưng thóc đấu
gạo. Người trong làng đại đa số không nghe đến danh hiệu Phật, thấy Nhân Hiển
tu trì như vậy đều thân cận. Có ai mắc bệnh thì Nhân Hiển bèn vì người ấy tụng
kinh, cho thuốc (thuốc do cư sĩ Dư Kính Tây chế tạo gởi đến), liền có công hiệu lạ thường, trong mười trường hợp có
tới tám chín người lành bệnh.
Một ngày nọ sau khóa tụng buổi
sáng, [bà Nhân Hiển] theo lệ thường lên núi đẵn củi. Củi đã bó chặt xong, đặt lên
vai gánh đi, dõi mắt thấy ở phía trước chừng một trượng, trong đám lau lách có
con vật gì to như con trâu, đúng lúc ấy có hai con lợn trong thôn chạy qua chỗ
đất ấy, con vật đó liền chụp lấy một con lợn, ra vẻ sắp ăn thịt. Bà Nhân Hiển
thấy vậy, liền lớn tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Nào ngờ con vật ấy buông con
lợn ra, mặc cho nó trốn chạy. Con vật ấy hai mắt sáng quắc, chăm chú nhìn Nhân
Hiển, Nhân Hiển nhìn kỹ mới biết là hổ. Lúc ấy, tuy niệm Phật không ngớt nhưng
gần như niệm không ra tiếng, kinh hoảng luống cuống, chẳng giở chân lên được.
Phía dưới núi mấy chục bước chân có nông dân đang cày ruộng, trong lúc hổ đến -
đi những người nông dân ấy đều trông thấy, bà Nhân Hiển niệm Phật những người ấy
cũng nghe rõ. Con lợn bỏ chạy về nhà, chạy đúng ngang qua khoảnh ruộng đó, máu
tươi đầm đìa, những người nông dân đều kinh dị, đều bảo “con lợn ấy có thể đào
thoát khỏi miệng hổ quả là một sự kỳ lạ lớn, nhưng người niệm Phật có thể gặp bất
trắc!” Đương trong lúc phân vân suy tính, nghe tiếng niệm Phật đứt nối vẫn thoảng
bên tai, ùa nhau lần theo tiếng niệm đi đến, thấy bà Nhân Hiển đứng ngây như
con gà gỗ, nhưng vẫn niệm Phật như cũ. Mọi người ùa tới hỏi han, Nhân Hiển mới
trở lại dáng vẻ bình thường, kể lể đầu đuôi, bỏ củi quay về. Do câu chuyện lạ gặp
hổ niệm Phật giải thoát tai ách cho con lợn này, người dân làng Thạch Pha mới
biết Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, người tin tưởng do vậy ngày càng đông đảo, đàn-na
tín thí cũng chẳng thiếu người. Người bố thí đầu tiên chính là chủ nhân con lợn
thoát miệng hổ. Con lợn ấy nay vẫn mập mạnh như thường.
(Bài ký này thu thập từ những điều được lược thuật trong những lá thư do cư sĩ Dư Kính Tây nhiều lượt gởi đến)
2) Lời bạt:
Phó Trâu Nhân Hiển, năm Dân Quốc… đã cầu được truyền Tam Quy dưới tòa hòa thượng Định Hằng ở Nam Xương. Mùa Thu năm Dân Quốc 24 (1935), Sâm trở về đất Cám khi đi ngang qua trấn Chương Thụ, bà ta theo chồng là Xuân Phố xin Sâm truyền thụ Ngũ Giới. Từ đấy, ăn chay niệm Phật, tinh tấn chẳng lười nhác. Tới khi Xuân Phố về Tây vào năm ngoái, mắt thấy tướng lành hiện rõ, mọi người khen là hy hữu, nhân đấy tín tâm càng thêm vững chắc. Đã thế, trên không cha mẹ, dưới không con cái, lại chẳng có miếng đất cắm dùi, cô quạnh, khổ sở, không nơi nương tựa, tâm nhàm chán Sa Bà, cầu sanh Cực Lạc càng thêm thiết tha. Hiềm rằng túc nghiệp chướng ngăn, tuy có những bạn già của chồng như cư sĩ Tạ Song Hồ v.v… đôi phen giúp đỡ, rốt cuộc do nhân duyên chướng cách, khó sống yên được. Nhìn vào những nỗi khốn khổ bà đã trải qua, quả thật là ách nạn bị đói rét bức bách, không lối nào cầu xin được! May là bà có tâm tin Phật chuyên nhất, thiện niệm chân thật, thiết tha, gặp phải chướng ngại vẫn luôn “thà tự mình chịu khổ, chẳng muốn gây khó khăn cho người khác!” Khổ, vui, an, nguy trong cuộc đời này đều không bận tâm đến, một dạ dốc chí niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Do lòng chân thiện ấy nên được cảm ứng như vậy, đủ diệt được túc nghiệp nặng nề. Những nghịch cảnh bà đã phải trải qua trước đây quả thật đã bị lòng chân thiện ấy cảm ứng mà bị trừ sạch, chuyển quả báo nặng nề chẳng thể tưởng tượng được trong đời sau thành quả báo nhẹ nhàng trong đời hiện tại. Vốn là bà góa đói khát khổ sở, không cách gì lo liệu được ba món ăn, mặc, ở, nay do chẳng mảy may tham cầu mà tự nhiên có cái ăn, cái mặc, chỗ ở. Tuy do các thiện sĩ thương xót, giúp đỡ thành tựu cho, nhưng nếu không được lòng Từ của đức Phật gia bị, làm sao có thể đạt được như vậy? (Xét rằng: Hổ là con vật cực ác, vốn bắt chim chóc, gia súc làm thức ăn, nhưng vừa được nghe Phật hiệu nhân đấy tánh hung ác tiêu ngay, tâm từ thiện nẩy sanh, liền thả đi con lợn đã ngoạm vào miệng. Nhưng điều chưa từng được nghe qua [là hổ] ra khỏi rừng thấy người niệm Phật, đến khi [hổ thấy] bà Nhân Hiển kinh hãi, hổ liền lánh đi. Sáu chữ hồng danh oai thần thật chẳng thể nghĩ bàn! Hổ còn như thế, con người là “vạn vật chi linh”, nghe rồi rốt cuộc sẽ như thế nào? Nay người trong cả làng ấy nhân chuyện này bèn cảm động, sanh lòng tin. Do vậy, con hổ ấy là hộ pháp của Nhân Hiển, là đạo sư (người hướng dẫn) cho người làng vậy. Kinh dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, con hổ là một chứng minh càng rõ rệt vậy. Nguyện khắp những người cùng hàng mang bẩm tánh tối linh hãy dũng mãnh thức tỉnh, giác ngộ để khỏi bị chê trách người thua kém hổ)
Nhưng Nhân Hiển nay đã được
như vậy, nếu đột nhiên sanh tâm tự mãn, tự cho là đủ, tự cậy là ta có công hạnh,
hoặc xen tạp vọng niệm tham cầu không biết đủ sẽ khó khỏi chọc giận hộ pháp
long thiên, tương lai sẽ bị tai ách y như cũ. Chỉ mong bà ta biết mình vốn là
bà góa khốn khổ, chắc chắn trở thành người đói khát, nay được ba thứ ăn - mặc -
ở để có thể sống qua ngày thì càng phải sanh lòng hổ thẹn sâu đậm, biết đủ, biết
ngừng, khẩn thiết sám hối, chuyên ròng niệm Phật, ác niệm tham - sân - si v.v…đều
mong nhổ sạch cội rễ, phát khởi Bồ Đề đại tâm, tự độ, độ người, đối với những
tài vật được đàn-việt thí cho, trừ những thứ sử dụng tiết kiệm chánh đáng cho
chính mình ra, tất cả những gì còn dư đều nên thí lại cho người cô đơn nghèo
túng. Suốt đời hành như thế thì sanh Tây sẽ là điều đoán biết được, ngõ hầu khỏi
uổng dịp gặp gỡ được Phật, Bồ Tát linh cảm gia bị này, mà công đức của các vị
đàn-việt hộ trì cũng được thành tựu viên mãn.
6. Qua thư của
Thôi cư sĩ trả lời Du cư sĩ, nhân tiện dâng lên lời phúc đáp cư sĩ Giang Dịch
Viên
Cư
sĩ Giang Dịch Viên vốn là một đại văn nhân có túc căn, có học vấn, tuy đối với
đế lý tinh áo của Phật pháp còn chưa thâm nhập (xem phần luận về Tam
Quán trong cuốn Diễn Giảng Lục của ông ta thì người có đầy đủ con mắt sẽ tự biết
được trình độ Phật pháp của ông ta). Do về thế đế,
ông ta thông minh hơn người nên đối với [những nghĩa lý] Phật pháp thông tục có
thể nêu tỏ rực rỡ, lớn lao. Lại còn là con người chẳng câu nệ, hẹp hòi, [luôn] hòa
nhã, khiêm hư, thật chẳng giống như những kẻ cuồng ngạo tự cao, lầm lạc nghĩ
mình cao quý, lớn lao, coi rẻ hết thảy. Vì thế, Sâm nghe tiếng ông ta, xem văn
của ông ta (chỉ cho bài Tam Tự Tụng và tập đầu bộ Dương Phúc Trai Thi Kệ) liền khát ngưỡng, hâm mộ khôn nguôi. Đến khi gặp mặt
trò chuyện, càng cảm thấy yêu mến, rất mong mỏi ông ta sẽ cùng với các vị cư sĩ
Hứa Chỉ Tịnh, Từ Úy Như, Nhiếp Vân Đài, Phạm Cổ Nông v.v… làm kim thang đuổi tà
giúp chánh cho pháp môn (ở đây là nói đến những vị ngoại hộ còn có thể
hoằng pháp lợi sanh. Nếu chỉ làm ngoại hộ thì có nhiều người lắm). Hiềm rằng do nghiệp cảm của chúng sanh, ông Từ, ông Hứa
nối nhau quy Tây, ông Vân bệnh nặng, ông Cổ thân thể cũng suy yếu, chỉ còn ông
Dịch là mạnh khỏe. Về mọi mặt, [ông Giang Dịch Viên] đều khá, chỉ vì tâm hiếu kỳ
nặng nề, đến nỗi bị bút gỗ, mâm cát[49]
mê hoặc. Lại do những kẻ khéo tâng bốc người khác đến mức thành phường giảo quyệt
mượn sức linh quỷ để bợ đỡ hòng làm mồi nhử, [khiến cho người say mê cầu cơ bị
những tà thuyết ấy] thâm nhập tận tạng phủ, đến nỗi hễ mê rồi chẳng quay lại được!
Ngay như vị được ông ta thường sùng bái, tín phụng nhất là Ấn Quang pháp sư ra
sức quạt gió huệ, cực lực quét sạch cũng chẳng thể lay động được màn sương mê.
Sâm tự xét mình học thức hẹp hòi, chẳng cần phải nói nữa.
Vì thế, ông ta lầm lẫn coi đám
mây mê của những lời giáng cơ và vầng mây từ Phật pháp giống hệt như nhau, từng
gởi thư cầu khẩn cụ Chân và Sâm xin cụ Ấn cho lưu thông hòng trừ bỏ màng ngăn khiến
cho đôi bên đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu với nhau! Sâm cũng muốn
phúc đáp gấp ngõ hầu ông ta ra khỏi hang tối, lên được cây to. Một phen suy
nghĩ kỹ lại, thấy mình người hèn lời nhẹ, thật khó ra tay.
May sao có cư sĩ Thôi Chú Bình
vốn theo hầu ông Dịch lâu ngày (Diễn Giảng Lục của ông Dịch phần lớn do
ông Thôi ghi lại), [ông Thôi là người] vẫn còn
có thể phân biệt tà - chánh, chân - ngụy, chẳng đến nỗi bị làn sương mê phủ
kín. Xem thư ông ta trả lời cư sĩ [Du] Hữu Duy xót lòng đơn độc chỉ bảo[50],
nói thẳng khuyên can, ngăn đón, đáng gọi là đã cảm nhận trước tấm lòng tôi, vì
thế liền nhờ vào nhân duyên này để giảm bớt công bút mực giãi bày, bèn dâng lời
thưa trung thực, thành khẩn nhất đáp lời ông Dịch, không chừng ông ta nghe lọt
tai. Ông Dịch làm thơ rằng: “Tạp niên Nho
Phật phả trầm tư, Phật quỷ thiên uyên khởi vị tri” (Ba chục năm ròng nghĩ
Phật - nho, Phật quỷ trời - vực vẫn chưa tường). Niệm Phật trì trai mà gọi là
“quỷ giáo” (lời dạy của quỷ) thì lời lẽ ấy có khác gì báng Phật A Di Đà! Do điều
này càng biết ông Dịch còn thiếu con mắt chọn lựa pháp. Vì sao vậy? Kinh Lăng
Nghiêm, quyển thứ chín, trong phần giảng về Tưởng Ấm gồm mười loại Ấm Ma, mỗi
đoạn đều nói thiên ma thừa dịp thuận tiện, loài phi tinh[51]
dựa vào con người, [khiến cho người ấy] miệng nói kinh pháp, [nhưng] người ấy
chẳng biết là ma dựa, tự nói đã đắc vô thượng Niết Bàn, điều này có thể làm chứng
cớ sắt đanh để vạch trần ông Dịch đã nhận lầm phương hướng. Do không biết điều
này nên chẳng lạ gì đã mê rồi không trở lại được nữa!
Huống chi lúc này lòng người
chẳng bằng thời xưa, chuyên chú trọng đầu cơ trục lợi, xin ông Dịch hãy đọc kỹ
Lăng Nghiêm, nghiên cứu tinh ròng nghĩa kinh cho đến khi hiểu sâu xa tỉ mỉ ma sự
hiểm ác mới thôi! Nếu vẫn cứ coi bút gỗ, mâm cát có thể thay thế cho sự tuyên
nói, giáo hóa của đức Phật thì sẽ có lỗi với lời khuyên dạy của những vị như cụ
Ấn [chẳng hạn], [những vị ấy là] bậc đầy đủ chánh tri kiến, hạnh giải tương ứng,
rát miệng xót lòng, trong ngoài như một; nếu không phải là hạng người giống như
Điều Đạt[52]
thì chẳng biết còn là loại người nào khác nữa! Sao lại nghĩ lời khuyên niệm Phật
ăn chay và những bậc thiện tri thức hiện thời là chẳng đáng tin tưởng, cứ nhất
định tin chắc vào những lời nhận được từ nơi bút gỗ, mâm cát vậy? Nay tôi giãi
bày lôi thôi như thế, chính là vì ông Dịch là người cao thượng bất phàm, mong
hãy vứt bỏ bút gỗ, mâm cát, chuyên dùng đạo niệm Phật ăn chay để tự hành, dạy
người thì chẳng những pháp môn may mắn mà thật ra chúng sanh trong cả đại địa
cũng may mắn lắm đấy! Khăng khăng một lòng ngu thành, kính mong lượng thứ!
7. Thư trả lời
cư sĩ Châu Quần Tranh
Thư
ông gởi đến có những câu như: “Đang trong
lúc Mạt Pháp, ma đảng tà kiến thân thể thường mạnh khỏe, còn bậc chánh tín đâm
ra lại nhiều bệnh, lắm nỗi khổ não. Nếu chẳng phải là định nghiệp khiến cho như
vậy làm cho con người phải than dài sườn sượt chẳng ngớt” v.v.. Sâm rất
không đồng ý. Vì sao? Một là do định nghiệp trong đời trước xui khiến [thành ra
như vậy]. Hơn nữa nhân quả phức tạp, bọn ta là phàm phu mắt thịt chẳng thể hiểu
rõ rốt ráo được! Luận sư Giới Hiền, pháp sư Huyền Trang đã gieo nhân trong quá
khứ, nay [quả báo] hiện hành, thiện căn phước đức rốt cuộc như thế nào mà vẫn
phải chịu bệnh khổ nặng nề? Trả sạch sát nghiệp xa xưa mới được sanh lên Đâu Suất
Nội Viện, lần lượt tấn tu, viên mãn Bồ Đề. Bọn ta nghiệp chướng sâu nặng, luận
về chánh tín, công hạnh, phước đức, trí huệ đều chẳng thể mong sánh bằng các vị
cổ đức như Giới Hiền, Huyền Trang, huống chi thân ác tuy ít, ý ác quả thật rất
nhiều (Đây là Sâm tự thuật tâm hạnh, chứ nơi miệng vẫn thường phạm lỗi.
Mỗi phen đọc bài ký Du Tịnh Công gặp Táo Thần, khôn ngăn rét run tận xương lông!) dẫu có phát tâm cũng khó chân thật, thiết tha.
Nay muốn nương theo pháp môn Tịnh
Độ hoành siêu hoàn toàn cậy vào Phật lực để đới nghiệp vãng sanh, liền cảm được
Phật từ gia bị, hòng quả báo nặng nề “trầm luân nơi tam đồ hết sức khổ sở” trong
đời sau sẽ chuyển thành quả báo nhẹ nhàng là “bệnh tật triền miên” trong đời hiện
tại ngõ hầu trong một đời này giải quyết xong đại sự sanh tử chẳng dễ giải quyết
trong trăm ngàn vạn kiếp. Đấy chính là Phật từ nhiếp thọ, hữu cầu tất ứng, có cảm
liền thông (Đối với Bồ Đề tâm và hết thảy sự thực hành của hai vị cư sĩ
Hứa Chỉ Tịnh, Nhiếp Vân Đài, Sâm thường cảm thấy hổ thẹn không bằng, nhưng hai
vị ấy bệnh khổ triền miên quả thật hơn bọn ta nhiều lắm. Sâm suy nghĩ kỹ lưỡng
hồi lâu, lại dùng lòng người và sự thật trong xã hội để chứng minh thì mới biết
“gây nghiệp dễ dàng, đền trả thật khó!” Mới tin rằng hai vị ấy bị bệnh khổ quả
thật là do nghiệp nặng chuyển thành báo nhẹ để được lợi ích thù thắng là siêu
phàm nhập thánh. Còn bọn tà ma mạnh khỏe thì một là trong đời này có lẽ ác quả
chưa chín muồi, còn cậy vào túc phước, hai là có thể là vì ác tâm dữ dội, đạo
trời khéo léo, mầu nhiệm, hậu đãi bọn tánh tình hung ác cho chúng nó mau vào
tam đồ. Bất luận như thế nào, dẫu là khổ quả trong tương lai, chúng ta cũng quyết
chẳng muốn nhận lãnh. Cõi đời chẳng có quả nào không có nhân, mà cũng không có
nhân nào chẳng kết thành quả! Nhưng báo ứng rõ ràng hay ngấm ngầm, nhanh hay chậm,
quả thật do nhân quả phức tạp gây nên, chúng ta là phàm phu mắt thịt chẳng dễ
phân biệt rõ ràng được, chớ nên hiểu lầm). Suy
nghĩ sâu xa như vậy thì tuy ma bệnh khuấy nhiễu triền miên, đau khổ nhiều năm,
thân dù khó chịu đựng được, tâm thật mừng vui, sung sướng, chẳng hề có ý oán
trách than vãn mảy may! Chỉ thuận theo “tùy duyên tiêu nghiệp chướng, chẳng tạo
thêm ương họa mới”, ắt mong món nợ nặng phải đền trả nhẹ, oán gia trái chủ mỗi
mỗi đều khoan dung, tha thứ để cùng vãng sanh mới thôi! Ngu kiến như vậy đó, chẳng
biết bậc cao minh nghĩ như thế nào?
8. Tờ kêu gọi
quyên mộ của Thiên Hoa Thiền Viện ở Phổ Đà Sơn [để có đủ chi phí] tiếp nhận chủ
quyền am Sùng Ninh tại Thượng Hải
Quán
Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, tầm thanh cứu khổ. Bài kệ trong phẩm Phổ Môn
kinh Pháp Hoa có câu: “Hoặc trôi giạt biển
lớn, cá, rồng các nạn quỷ, do sức niệm Quán Âm, sóng mòi chẳng chìm được”.
Đấy chính là đoạn văn sáng tỏ ghi chép lời thành thật thốt từ miệng vàng của đức
Thích Ca Thế Tôn ta từ ba ngàn năm trước qua lời kệ đáp cho Vô Tận Ý Bồ Tát. Chuyện
linh cảm như thế được sử sách ghi chép, đâu đâu cũng tra cứu được. Ở ngay trước
mắt, càng có những sự thật để chứng minh, quả thật là lòng tin có chứng cớ vậy!
Trụ Trì Thiên Hoa Thiền Viện núi
Phổ Đà là đại sư Tu Điền. Năm Dân Quốc 15, 16 (1926-1927), khi Sâm ở tại chùa
Pháp Vũ giúp Ấn lão pháp sư giảo chánh bộ Văn Sao, giảo chánh, sửa lỗi Sơn Chí,
liền cùng ở một chỗ [với sư Tu Điền], Sâm khuyên Sư nên niệm Phật, niệm Quán
Âm, Sư liền sanh lòng tin tưởng. Đến năm nay, do ảnh hưởng thời cuộc, lương thực
thiếu hụt, Sư đặc biệt ngồi thuyền từ Phổ Đà sang đất Thân (Thượng Hải) quyên mộ,
đáp đúng tàu của hãng Hoa Dân. Bởi đã lâu năm, thuyền mục nát, nước tràn vào
khoang, tại vùng biển Châu Sơn (thuộc tỉnh Chiết Giang) đụng phải đá ngầm, thuyền
chìm. Khi ấy nhằm lúc trời tối đen, chẳng biết phương hướng, khách ngồi thuyền
mấy trăm người kinh hoàng cuống quít, xúm nhau kêu cứu mạng. Do đại sư biết đức
Quán Âm linh cảm, liền khuyên mọi người đồng niệm thánh hiệu để cầu Ngài cứu
giúp. Do tai họa cấp bách như lửa cháy mày, đông đảo người tin tưởng cùng niệm
theo. Gần hai trăm người trong đêm tối trong lúc muôn
phần vạn phần chết chắc đã nắm được một sợi dây đõi, lần lượt ven theo
kè đá, vịn bò lên núi; gần hơn một trăm người khác táng thân vào bụng cá. Chuyện
này đã sớm thấy đăng tin trên báo, nào biết đại sư cũng là một trong những người
vẫn còn sống sót sau cơn tai kiếp!
Đến khi đại sư đổi thuyền đến
được đất Hỗ, gặp đúng lúc am Sùng Ninh ở cửa lớn phía Đông trong thành đang bàn
bạc chuyện sang nhượng chủ quyền. Do vậy, Sư nghĩ mỗi năm phải đi kêu gọi quyên
mộ như thế này, cảm thấy thật khó khăn. Nếu lập cách sang lại chủ quyền am này,
biến nó trở thành Hạ Viện của chùa Thiên Hoa thì tăng chúng Thiên Hoa qua lại đôi
bên, đem phần thâu nhập còn dư thừa của Sùng Ninh bù đắp cho cơm gạo chùa Thiên
Hoa; đấy chính là kế nhọc nhằn một phen, an nhàn vĩnh viễn, mà cũng tốt lành,
thỏa đáng vậy. Bàn bạc với các vị thiện tín hộ pháp, cũng được nhiều người tỏ ý
tán đồng; hiềm rằng chi phí mua lại chủ quyền và tu bổ cần đến mấy ngàn đồng,
do vậy bèn bảo Sâm lược thuật duyên khởi để tiện kêu gọi quyên mộ. Sâm bèn đem
kinh nghiệm linh cảm của đại sư do tin niệm đức Quán Âm mà được may mắn sống
sót tường thuật đại lược. Chỉ mong hộ pháp tể quan thiện nam tín nữ nghe sự
tích Đại Sĩ linh cảm tầm thanh cứu khổ này đều cùng phát tín tâm, gặp được nhân
duyên đặc biệt sùng phụng Tam Bảo này đều vui vẻ giúp cho thành tựu, phát lòng
bi đồng thể, quyên ra vô tận bảo tạng thì công đức đã làm ấy chỉ có đức Phật chứng
biết. Do vậy, bèn làm tờ khải[53].
9. Trả lời
cư sĩ Tăng Di Chi (bốn bài)
1)
Phật thất ở Linh Nham phần nhiều hồi hướng một lần (những nơi khác phần
lớn cũng làm như thế), tức là mỗi ngày trước lúc
giữa trưa, cúng Phật xong, liền đến trước bài vị cúng cơm (dẫu là Phật
thất cầu sống lâu mà kèm thêm lễ cúng cơm cho các bài vị tổ tiên cũng không trở
ngại gì) thì cũng là một lần hồi hướng. Mỗi ngày
trừ công khóa sáng chiều hết sáu cây hương[54]
ra, sau cây hương thứ hai và sau khi cúng Phật, cúng cơm cho người đã khuất
xong, tạm nghỉ giây lát rồi dùng cơm trưa.
2)
Công khóa sáng tối vì vong nhân xưng danh hồi hướng, Sâm chiếu theo công khóa
phổ thông chốn tùng lâm, mỗi lần xong khóa sáng vào mồng Một hay Rằm, lúc lễ Tổ
gần xong, liền đọc câu “Mỗi người hãy vì
cha mẹ sanh thành, lễ Phật ba lạy cầu sanh Tịnh Độ”. Vì thế, mỗi ngày Rằm
hay mồng Một, dù chỉ có một người tụng niệm khóa sáng xong cũng chiếu theo lệ
thường lễ Tổ (chỗ này lúc hành lễ cùng đại chúng thì có phần đầy đủ hơn).
Lễ xong, liền xưng danh lễ Phật một lần, coi như
hồi hướng. Nếu như hồi hướng cho cha mẹ thì trong tâm thầm niệm quán tưởng rằng:
“Thay cho cha mẹ sanh thành lễ Phật ba lạy”
(nếu lễ một lạy thì đọc “một lạy”), sám hối
nghiệp chướng, giải trừ vô biên tội nghiệp, tiêu tan, tháo gỡ oan khiên, tội lỗi,
thoát lìa đường khổ, cầu Phật từ bi xót thương nhiếp thọ, sớm được tiếp dẫn
vãng sanh Tịnh Độ (vừa lạy vừa thầm niệm, trong tâm nghĩ tưởng hình dáng
cha mẹ cùng ở trước đức Phật lễ bái với ta. Một lạy tưởng như thế, mỗi lạy cũng
đều như thế). Đối với cha mẹ làm như vậy mà đối
với những người khác cũng tưởng như vậy. Thậm chí oán thân bình đẳng cho đến hết
thảy chúng sanh trong pháp giới lần lượt khắp vì họ xưng danh lễ Phật hồi hướng.
Dẫu chẳng phải mồng Một, ngày Rằm, trong công khóa sáng tối, khi đọc Tam Quy Y
xong, nếu chẳng lễ Tổ thì cũng nên thay cho cha mẹ sanh thành và những ân nhân
có liên quan (hoặc có nhân duyên đặc biệt, như thân hữu mới vừa qua đời
v.v…) đều hồi hướng như thế. Điều này Sâm chẳng
được truyền dạy, hoàn toàn dựa theo ý kiến của chính mình để làm (ở Linh
Nham mỗi tối đại hồi hướng cũng có ba lạy), chuẩn
theo lý thì đương nhiên không trở ngại gì. Hồi hướng xong, hoặc liền lễ Phật ba
lạy lui ra thì cũng được. Sâm còn thực hiện khóa lễ Quán Thế Âm Bồ Tát, trì chú
Đại Bi, Vãng Sanh v.v... để cầu thế giới hòa bình, ta người cùng thoát khỏi ách
nạn v.v… (Công khóa của Linh Nham được gọi là Linh Nham Niệm Phật Nghi
Quy, mùa Hạ năm nay đã sớm xuất bản rồi, tiếc rằng lúc này không gởi được. Đợi
khi có thể gởi được sẽ gởi mấy bản thì ông sẽ biết).
3)
Chuyện trà-tỳ (hỏa thiêu) thì Tăng hay Tục đều không trở ngại gì. Người Tây Vực
chết rồi có bốn cách mai táng: Một là thả trôi trong nước, tức bỏ xuống các
sông rạch để no lòng cá rùa (cách này cần phải ở gần sông rạch lớn mới
được. Nếu ở tại con suối nhỏ nơi vách núi thì chẳng thích hợp). Hai là hỏa thiêu, tức dùng lửa đốt xác hòng phá Ngã
Chấp (cách này chỗ nào cũng thực hiện được).
Ba là chôn xuống đất, đào đất chôn vùi để khỏi bị bộc lộ (cách này cũng
phổ biến). Bốn là lâm thi, tức bỏ trong rừng cho
chim thú ăn (cách này phải ở trong rừng sâu, chằm lớn mới được, rốt cuộc
chẳng ổn thỏa bằng ba cách trước). Nước ta xưa
nay chủ yếu là chôn dưới đất (đọc thiên sách của Mạnh Tử nói “trong đời
thường có kẻ chẳng chôn cất cha mẹ” sẽ biết nguyên do), thật ra vẫn chẳng mỹ mãn bằng hỏa thiêu. Khi Phật pháp truyền sang
phương Đông, Tăng chúng đều hỏa thiêu với ý nghĩa phá trừ Ngã Chấp. Con người bị
phiền não sanh tử hoàn toàn là do Ngã Chấp, Thân Kiến làm căn bản, ngay như cả
họa hoạn lớn lao như dâm dục v.v… cũng do Ngã Chấp, Thân Kiến mà sanh. Nếu Thân
Kiến, Ngã Chấp đã phá thì dâm dục còn do đâu mà sanh? Vì thế, vào thời Đường,
thời Tống, những vị cao nhân đạt sĩ thông hiểu sâu xa Phật pháp tuy chưa xuất
gia cũng thường chú trọng hỏa thiêu. Đời sau phần nhiều chẳng thích theo gương ấy
chính là giữ chặt Thân Kiến, Ngã Chấp! Thân Kiến quá nặng chính là một chướng
ngại lớn cho việc tu hành.
Trong thư ông gởi đến, có câu:
“Cư sĩ phần nhiều chưa đoạn dục, sắc thân chẳng thanh khiết, chớ nên hỏa thiêu”
thì cũng không phải là lời bàn luận thông suốt! Cái thân của hạng phàm phu sát
đất là do Tứ Đại giả hòa hợp, chưa đạt đến địa vị nghiệp tận tình không thì chẳng
cần biết là Tăng hay Tục, đều là do máu thịt tanh tưởi, hôi thối, bẩn thỉu hợp
thành. Nếu dựa theo tình kiến thiển cận của kẻ phàm ngu mà luận thì tuy cái thân
đoạn dục so với kẻ tham dục dường như thanh khiết hơn, nhưng tâm dục chưa sạch
thì ô uế vẫn còn! Nếu luận theo đế lý cao sâu thì Tứ Đại vốn không, Ngũ Uẩn chẳng
có, các pháp nhân duyên đều không có tự tánh. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật ở
trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh; một niệm hồi quang liền giống như vốn
đã đắc, diệu thể Tỳ Lô Giá Na phô bày trọn vẹn khắp các giới. Vốn chẳng có
sanh, diệt, tăng giảm sai khác, sao lại có tăng, tục, nhơ, sạch khác biệt? Vì
thế, Tâm Kinh nói: “Bất sanh, bất diệt, bất
cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm” chính là chỉ cho bản thể Thật Tướng Chân
Như của ba pháp tâm, Phật, chúng sanh không sai biệt. Chúng ta mê chân đuổi
theo vọng, trái giác hiệp trần đến nỗi trôi giạt sanh tử trọn chẳng có thuở
thoát ra! Nay muốn bỏ vọng về với chân, trái trần hiệp giác, liễu sanh thoát tử,
siêu phàm nhập thánh thì phá trừ Thân Kiến, Ngã Chấp phải là công phu cần thực
hiện trước hết!
Do điều này, phàm là người học
Phật nếu biết cầu cho thần thức được yên vui thì chẳng nệ là Tăng hay tục đều
nên hỏa thiêu, chẳng những không trở ngại gì mà còn có ích thật sự (đối
với hoàn cảnh hiện thời và mai sau, hỏa táng rất thích hợp vì do đường sắt cắt
ngang, phần nhiều những ngôi mộ bị phơi thây lộ xương. Nếu ở nơi đô hội thì
quan tài giá mắc, kiếm đất chôn rất khó, e rằng dẫu chẳng phải là đệ tử Phật
cũng phải làm theo cách này! Nhưng điều quan trọng là cần phải tìm cho được
cách thức hỏa thiêu tốt đẹp). Nếu như quyến thuộc
chẳng nỡ lòng hỏa táng thì cũng là vì chẳng biết những ý nghĩa “chú trọng đến sự
yên vui của thần thức” và “họa hại của Thân Kiến, Ngã Chấp” mà ra! Nếu hơi hiểu
biết thì chỉ sợ người trong cuộc chẳng làm cho nhanh ấy chứ! Hàng quyến thuộc
cũng nên khéo thấu hiểu tấm lòng người thân, há nên sanh chút lưu luyến nào!
4)
Về chuyện áo mũ dùng để nhập liệm cho hai chúng tại gia, do đã biết là “cần phải
phá trừ Thân Kiến, Ngã Chấp” thì áo mũ miễn sao thuận tiện là được rồi, chẳng cần
phải nói nữa! Cái sắc thân suốt cả một đời phải nhờ vả nó để làm hết thảy mọi
chuyện mà còn bỏ được như đồ thừa thì áo mũ là thứ bao bọc bên ngoài huyễn thân
nào còn đáng để coi trọng! (Đối với người còn sống trên đời, Khổng Tử
còn chẳng coi áo xấu, thức ăn dở là điều đáng thẹn, huống chi là những thứ dùng
để nhập liệm gán theo cái xác đã hư nát sau khi con người đã chết). Theo ngu kiến, ắt phải tiết kiệm, giản lược là hay
nhất. Thà giảm bớt chi phí chế tạo áo mũ mới [rồi dùng khoản tiền dôi ra đó] để
hoằng pháp lợi sanh và làm những sự nghiệp từ thiện như cứu tế kẻ đói rét khốn
khổ hòng giúp ích cho thần thức người đã khuất được yên vui. So với chuyện tốn
kém để khâm liệm cho trọng hậu thì chuyện được - mất như một trời một vực, nhưng
cần phải thuận theo tình cảm thế tục của kẻ làm con đôi chút, đừng vì chú trọng
thần thức mà bỏ sạch những lễ nghi.
Tùy theo tâm nguyện của người
đã khuất mà mặc Tăng phục hay y phục thế gian đều chẳng sao cả, nói chung là chớ
nên tốn kém quá. Nếu như do chính người đã khuất chủ trương đồ khâm liệm gần đến
mức quá tốn kém, rườm rà thì cũng nên khéo léo giải thích để người ấy chẳng chấp
vào Thân Kiến là được. Nếu thuận theo lòng tham đắm của người ấy rồi khâm liệm
trọng hậu để giúp cho Thân Kiến, Ngã Chấp của người ấy [được thỏa mãn] thì sẽ
gây chướng cho sự vãng sanh, đấy chính là điều không nên vậy! Nếu người đã khuất
chủ trương khâm liệm đạm bạc tức là không bị vướng mắc nơi Thân Kiến, thì tăng
phục hay y phục thế gian đều chẳng trở ngại gì! Ngu kiến như vậy đó, chẳng biết
bậc cao minh nghĩ thế nào?
10. Bài ký về
sự sanh Tây của cư sĩ Phó Xuân Phố
(viết vào tháng Chín năm Dân Quốc 27 - 1938)
Dư Ngẫu Sinh và Trần Triển Tây cùng ghi
Cư
sĩ húy là Xuyên, hiệu Xuân Phố, người thôn Đông Quách, huyện Thanh Giang, tỉnh
Giang Tây, mồ côi cha từ bé, mẹ là Nhiếp thái phu nhân nhọc nhằn, tiết kiệm
nuôi dạy, theo học trường Pháp Chánh Tuần Cảnh, từng được bổ nhiệm những chức vụ
viên chức văn phòng huyện lỵ huyện Thanh Giang, sở trưởng sở Cảnh Sát tại trấn
Châu Đàm thuộc huyện Vạn Tải, hiệu trưởng trường Nghĩa Vụ thuộc trấn Chương Thụ
v.v… Sống tại huyện thành nhiều năm, tham dự đủ loại công vụ, được quan chức,
thân sĩ tin cậy, hễ có chuyện nghi nan lớn lao nào thường bàn bạc, quyết định với
ông ta.
Nhiếp thái phu nhân thờ Quán
Âm đại sĩ đã lâu, ăn chay niệm Phật. Năm Dân Quốc 17 (1928), thái phu nhân mắc
bệnh, cư sĩ phát nguyện triều bái Phổ Đà, cụ không uống thuốc mà lành bệnh.
Tháng Chín năm Dân Quốc 20 (1931), bèn đến Phổ Đà hoàn nguyện, lễ Phạm Âm động,
cảm được Bồ Tát thị hiện dưới hình dạng áo trắng, cầm tịnh bình với cành dương.
Lại cầu được biết rõ túc mạng, thấy một vị đầu-đà y phục lam lũ bèn ngộ luân hồi
chẳng phải hư huyễn, ý niệm cầu thoát lìa Sa Bà càng thêm khẩn thiết. Do pháp
sư Minh Tịnh gởi thư giới thiệu, bèn yết kiến Ấn Quang pháp sư và thầy Đức Sâm
tại chùa Báo Quốc ở Tô Châu, [lúc ấy] mới được nghe pháp yếu của Tịnh tông. Từ
đấy trở đi, những sách vở do Hoằng Hóa Xã xuất bản đều thỉnh cả; do vậy, tín giải
càng tăng, bèn gởi thư khẩn cầu quy y. Thầy Đức Sâm bèn đặt pháp danh là Thiền
Xuyên, tự là Hàng Tây, lại nhân lúc thầy Đức Sâm đi qua Chương Thụ, bèn xin thọ
giới Ưu Bà Tắc. Ông ta tín nguyện niệm Phật, tinh tấn không lười nhác phần lớn
là nhờ sự khơi gợi chỉ vẽ của thầy Đức Sâm.
Năm Dân Quốc 22 (1933), ông được
cử làm người chuyên trách tuyên giảng tại Lộc Giang Niệm Phật Lâm, khuyên dụ chỉ
dẫn, từ đấy [Niệm Phật Lâm] rất đông. Cư sĩ gia cảnh nghèo nàn, thân yếu lắm bệnh,
thường muốn xuất gia, nhưng khổ vì không có chùa chiền để nương náu, thường đến
khám bệnh tại nhà Ngẫu Sinh. Ngẫu Sinh nói đến chuyện thời tiết nhân duyên chẳng
thể cưỡng cầu được, nhưng cái tâm “chán trược, ưa tịnh” đã sâu, ý nguyện giảm
thọ cầu được vãng sanh càng thiết tha, lễ bái, quán tưởng, đều mong sớm được tiếp
dẫn, chóng đến liên trì. Mùa Xuân năm nay, ông mộng thấy Quán Âm Bồ Tát thị hiện,
báo cho biết kỳ hẹn là tháng Bảy. Đến sau hội Vu Lan Bồn, ông bèn ngã bệnh, nhất
tâm niệm Phật quên cả khổ sở. Ngày Hai Mươi Ba, thân thích, bạn bè trợ niệm, đã
nằm bằn bặt hồi lâu rồi tỉnh lại, mời thầy Đại Nhân ở Đại Bảo Điện thuộc Vĩnh
Thái đến nhờ cậy chuyện trà-tỳ. Ngày Hai Mươi Sáu lại thiêm thiếp, người nhà
khóc lóc, cư sĩ cười ngăn lại, bảo: “Ta sẽ về Tây vào ngày thánh đản Địa Tạng Bồ
Tát”, đến ngày ấy, ngồi ngay ngắn trên ghế dựa, kết ấn Di Đà[55],
mắt đăm đăm nhìn tượng Phật, an nhiên về Tây, khắp thân đã lạnh, chỉ còn đỉnh đầu
vẫn ấm, sắc mặt tươi đẹp còn hơn lúc sống. Mồng Hai tháng Bảy nhuần, trụ trì
chùa Thông Huệ ở Chương Thụ là hòa thượng Đại Tùng và thầy Đại Nhân đều tới, lo
liệu việc nhập khám. Ông ngồi xếp bằng chắp tay hệt như người còn sống. Bữa hôm
trước trời nổi cơn mưa gió to, đến giờ Tý nổi lửa, trời chợt sáng sủa, mùi
hương lạ ngào ngạt, chẳng phải là mùi thơm của Chiên Đàn hay hoa lan, một tia
sáng trắng từ khám tỏa ra xẹt về phía Tây. Đang lúc đầu Thu, khí trời nóng bức,
chết đã ba bốn hôm mà xác chẳng thối nát, lại còn tỏa mùi thơm lạ, nếu chẳng phải
do Phật pháp linh dị làm sao được như vậy? Người thấy kẻ nghe đều tán thán, khởi
lòng cung kính, xưng tụng Phật pháp thật chẳng thể nghĩ bàn. Xuân thu được bốn
mươi tám tuổi.
Ngẫu Sinh nói: Đời Mạt, người niệm Phật
thì nhiều nhưng thành tựu lại ít là vì không có lòng tin chân thật, nguyện thiết
tha vậy! Mạnh Tử luận về đại trượng phu phải nên “phú quý chẳng dâm lạc, nghèo
hèn chẳng đổi dời [chí khí], chẳng khuất phục trước oai quyền, sức mạnh”. Pháp
thế gian còn như thế, huống gì là Phật pháp cầu sanh Tịnh Độ siêu phàm nhập
thánh ư? Cư sĩ bị vướng bận vì nghèo, bệnh, gia đình, nhưng nhất loạt chẳng
quan tâm tới, khăng khăng, miệt mài chỉ lo niệm Phật, bị chê bai, nhục mạ, gặp
trắc trở, trăm nỗi khó khăn chẳng xoay chuyển được, lúc mất biết trước ngày giờ,
tướng lành rạng rỡ, đủ làm chứng cớ chứng tỏ đã sanh Tây. Bi tâm triệt để của đức
Như Lai, pháp môn Tịnh Độ không ai hỏi mà tự nói, quả thật là con đường tắt cho
chúng sanh trong đời Mạt thoát khổ, chỉ cần chịu dốc lòng, quyết chẳng giả dối,
cổ nhân thật chẳng dối ta! Ngẫu Sinh do giao du với cư sĩ mà thật sự được un
đúc, dấy lên lòng tin. Vui nhìn bước chân nhanh nhẹn của người trước, gắng đè
nén nỗi đau nhân cầm[56],
lưu truyền [sự tích vãng sanh của Phó cư sĩ] để khuyến khích người đời mà cũng
là để tự cảnh tỉnh mình.
11. Bài ký về
sự sanh Tây của cư sĩ Nhiếp Vân Sanh
Trần Triển Tây ghi
Cư
sĩ húy Truyền Tăng, hiệu Vân Sanh, người huyện Thanh Giang, tỉnh Giang Tây, mồ
côi cha từ bé, được mẹ nuôi dạy, tánh tình đoan nghiêm, trang trọng, ham học, đậu
Tiến Sĩ năm Giáp Thìn (1904) thời Quang Tự, làm quan tại Hồ Bắc, người anh họ mất,
bèn trở về quê, về sau được bầu làm ủy viên hội đồng cố vấn tỉnh Giang Tây. Vào
thời Dân Quốc, ông làm nghị viên hội đồng tỉnh, luôn tận hết trách nhiệm, giữ lời
hứa, chẳng quanh co, lật lọng. Vào thời Trù An Hội[57]
[dùng phương cách] hối lộ để khuyên dụ các đại biểu [bỏ phiếu tán thành Viên Thế
Khải làm hoàng đế], hễ bỏ phiếu [ưng thuận] sẽ được ngay một ngàn đồng, chống đối
sẽ đem quân bắt giữ. Cư sĩ phất tay áo quay về, giữ gìn khí tiết như thế. Cư sĩ
ưa thích viết văn chương theo lối cổ, nhưng những thứ chẳng có quan hệ bảo vệ lớn
lao cho thế đạo bèn chẳng cẩu thả viết ra. Trong hai mươi năm tuổi xế chiều, dốc
lòng nơi kinh sách nhà Phật, xoay vần trì tụng các kinh Đại Thừa như Pháp Hoa,
Lăng Nghiêm, Kim Cang, Viên Giác, nhưng quy túc nơi Tịnh Độ Ngũ Kinh, ăn chay
trường, niệm Phật có thời khóa nhất định. Đọc Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, hận
chưa được thân cận [đại sư Ấn Quang].
Năm Đinh Sửu (1937) cầu mưa được
thỏa nguyện, bèn thành lập Cao Vũ Niệm Phật Lâm, thường đến diễn giảng tại Lộc Giang
Niệm Phật Lâm tại trấn Chương Thụ, cảm hóa rất nhiều người. Mùa Hạ năm Kỷ Mão
(1939), nhiều lần mắc bệnh đi tả, tự mình dốc chí quy Tây, chẳng còn muốn tìm
thuốc men linh nghiệm để chữa trị nữa! Vào tháng Mười bệnh tình nguy ngập đến tột
cùng, nhiều lần mộng thấy Phật, Bồ Tát thị hiện, tự biết đã đến lúc, miệng dặn
dò di chúc, mời tăng lữ, thân thích, bạn bè suất lãnh con cháu niệm Phật. Tới
lúc hấp hối, hơi thở dần dần nhẹ đi giống như Kim Cang niệm, chẳng đau khổ mảy
may gì, chánh niệm phân minh, nhất tâm bất loạn xả báo an tường như nhập Thiền
Định, toàn thân mềm mại, đỉnh đầu lạnh đi sau cùng, vẻ mặt tươi tắn, vui sướng,
uy nghi như hãy còn sống. Các tướng lành phù hợp khít khao với chứng cớ vãng
sanh, xét theo Quán Kinh phẩm sen ắt cao! Ấy là vì pháp môn Tịnh Độ dùng tự lực
để cảm Phật lực, cho nên có thể hoàn tất ngay trong đời này. Cư sĩ sanh vào năm
Kỷ Tỵ tức năm Đồng Trị thứ tám (1869) đời Thanh, về Tây ngày mồng Một tháng Mười
Một năm Kỷ Mão, tức năm Dân Quốc 28 (1939), hưởng thọ bảy mươi mốt tuổi, biên
soạn bộ Tư Phụ Đường Thi Văn Nhật Chí phần nhiều xiển dương rõ giáo nghĩa Tịnh
tông được cất giữ tại nhà.
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên,
Quyển Hạ hết
(Trọn Bộ)
Hồi Hướng
Nếu việc dịch thuật này có chút công đức nào đều xin hồi hướng cho lịch
đại phụ mẫu, sư trưởng, họ hàng, quyến thuộc, pháp giới chúng sanh đều cùng được
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nguyện cùng thân cận đức Di Đà, Quán Âm,
Thế Chí, chứng ngộ Vô Sanh, trở lại Sa Bà, hóa độ muôn loài cùng sanh Cực Lạc.
Nguyện những ai thấy nghe dù tin tưởng hay phỉ báng đều cùng được vãng sanh Cực
Lạc.
Chân thành cảm tạ đạo hữu Minh Tiến và Huệ Trang đã tốn nhiều công sức
giảo chánh, nhuận văn cũng như liên tục khuyến khích giúp cho mạt nhân có đủ
nghị lực theo đuổi việc chuyển ngữ này. Nguyện Tam Bảo thường gia hộ khiến cho
nhị vị đạo hữu tín tâm kiên cố, đạo lực kiên cường, phẩm sen cao cả, cùng nhau
hội ngộ nơi Cực Lạc, thân cận từ phụ Di Đà.
[1] Mạnh Sưởng (919-965) vốn tên là Nhân Tán, tự Bảo Nguyên, là con thứ ba của Cao Tổ (Mạnh Tri Tường) nhà Hậu Thục (nước Hậu Thục nằm lọt giữa các tỉnh Cam Túc và Thiểm Tây hiện thời. Tiết Độ Sứ Tây Xuyên là Mạnh Tri Tường nhân dịp nhà Hậu Đường diệt Tiền Thục, đất nước loạn lạc, bèn chiếm Tây Xuyên và Đông Xuyên, xưng đế, lập ra nước Thục). Lúc mới lên ngôi, Mạnh Sưởng chăm lo việc nước, khiến nước Hậu Thục hùng mạnh, bờ cõi mở rộng đến tận Trường An. Về sau, vua đam mê dục lạc, rượu chè be bét, hoang dâm vô độ, xa xỉ vô cùng, ngay cả bô đi tiểu cũng chế bằng ngọc quý, do vậy triều chánh nát bét, cuối cùng nước Hậu Thục bị nhà Bắc Tống diệt vong. Nhà Tống đem Mạnh Sưởng về giam lỏng tại Biện Kinh, phong tước Tần Quốc Công. Mạnh Sưởng mất năm Càn Đức thứ ba (965) đời Bắc Tống. Có thuyết nói Mạnh Sưởng bị Tống Thái Tổ đầu độc chết.
[2] Vân Thê Pháp Vựng là một tác phẩm tổng hợp các trước tác của đại sư Vân Thê Liên Trì Châu Hoằng, bao gồm ba mươi mốt tác phẩm. Công trình biên tập này khởi sự từ năm Thiên Khải thứ tư (1624) với sự tham gia của mười bảy vị danh tăng như Đại Hiền, Đại Văn, Đại Sâm… và mười sáu vị danh sĩ như Vương Vũ Xuân, Trâu Uông Minh v.v… biên tập, giảo đính, in khắc ròng rã suốt mười năm mới hoàn thành. Năm Quang Tự 25 (1891), bộ Vân Thê Pháp Vựng được khắc in lại, bổ sung thêm những cuốn Vân Thê Di Cảo, Vân Thê Quy Ước, Vân Thê Tháp Kệ Tán v.v…
[3] Chiết nhiếp: Chiết phục và nhiếp thọ.
[4] Tức Phàm Thánh Đồng Cư Độ.
[5] Ngũ Trụ, gọi đủ là Ngũ Trụ Phiền Não, tức năm thứ căn bản làm nơi nương tựa cho hết thảy phiền não, gồm:
1) Kiến Nhất Thiết Xứ Trụ Địa: gồm những Kiến Hoặc trong tam giới như Thân Kiến v.v…
2) Dục Ái Trụ Địa: tức những phiền não trong Dục Giới, nhưng không kể Vô Minh và Kiến, bao gồm những phiền não liên quan đến ngũ dục bên ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
3) Sắc Ái Trụ Địa: gồm những phiền não trong Sắc Giới, nhưng không kể Kiến Hoặc và Vô Minh, tức những phiền não do đã lìa bỏ Ngũ Dục nhưng vẫn chấp trước mê đắm nơi sắc thân của chính mình.
4) Hữu Ái Trụ Địa: gồm hết thảy vô minh trong Vô Sắc Giới, không tính Kiến Hoặc và Vô Minh, tức những phiền não do đã lìa bỏ tham sắc nhưng vẫn chấp trước mê đắm nơi sắc thân của chính mình.
5) Vô Minh Trụ Địa: gồm hết thảy những thứ vô minh.
Nhị Chấp là Ngã Chấp và Pháp Chấp.
[6] Nhị tử: Phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử.
[7] Đồng chân nhập đạo: xuất gia từ lúc còn thơ ấu.
[8] Thiện Thệ (Sugata), đôi khi còn phiên âm là Tu Già Đà, Tô Yết Đa, hoặc dịch nghĩa là Thiện Khứ, Thiện Giải, Thiện Thuyết Vô Hoạn, Thuyết Hảo, Hảo Khứ, là một trong mười hiệu chung của chư Phật. Danh hiệu này tán dương đức Phật khéo nhập đủ mọi thứ Chánh Định rất sâu, có vô lượng trí huệ. Danh hiệu Hảo Thuyết hàm nghĩa đức Phật khéo nói các pháp dựa theo Thật Tướng, chẳng chấp trước pháp ái, khéo quán biết sức trí huệ của đệ tử để giảng pháp khế cơ, khế lý. Khi dịch là Thiện Thệ thì có nghĩa là “đúng như thật đến được bờ bên kia (bờ giải thoát), chẳng còn nổi trôi trong biển sanh tử”. Nói chung, danh hiệu này nhằm tán dương sự tự tại giải thoát của Phật Quả cũng như công năng thuyết pháp mầu nhiệm phát lộ từ Phật tánh.
[9] Sa giới: Các thế giới số lượng nhiều như cát.
[10] Nghĩa Thiên: nói đầy đủ là Đệ Nhất Nghĩa Thiên, hay Đệ Nhất Nghĩa Tịnh Thiên, danh xưng để chỉ những vị Phật, hay nói rộng hơn là các vị Bồ Tát đã trụ Đại Niết Bàn, hoặc hiểu rộng hơn nữa là các vị Bồ Tát từ Thập Trụ trở lên. Do các vị ấy đã khéo hiểu các nghĩa, nên ví diệu lý Đệ Nhất Nghĩa như Thiên (theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 4).
[11] Lục tướng: Tể tướng Lục Tượng Tiên.
[12] Vô ký: Không thiện, không ác.
[13] Hậu tế là một trong Tam Tế, tức Tiền Tế (hay Sơ Tế),
Trung Tế, Hậu Tế (chặng đầu, chặng giữa, chặng sau).
[14] Ở đây Tổ nhắc lại chuyện khi Phật sắp nhập Niết Bàn
đã phó chúc các hoàng đế hộ trì lưu thông Phật pháp.
[15] Tức kim chỉ nam.
[16] Tượng ở đây là hình bóng, sắc cảnh.
[17] Thiền gia thường dạy tham cứu câu “niệm Phật thị
thùy” (người niệm Phật là ai?)
[18] Trí Giả Phường: Đình kỷ niệm tổ sư Trí Giả, tức Trí
Khải đại sư.
[19] Đây là hai thuật ngữ của tông Thiên Thai. Theo Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập quyển thượng và Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 1, Hóa Nghi là những hình thức, phương pháp nhằm hướng dẫn, chỉ dạy chúng sanh nhập đạo, Hóa Pháp là nội dung của kinh điển, giáo pháp... Như vậy Hóa Pháp giống như dược tánh, còn Hóa Nghi giống như các món thuốc. Tổ Trí Giả lập ra thuyết Hóa Nghi Tứ Giáo (Đốn, Tiệm, Bí Mật, Bất Định) và Hóa Pháp Tứ Giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên).
[20]
Như Ý Liêu chính là tòa nhà dành cho các vị Tăng nằm dưỡng bệnh ở chùa Pháp Vũ.
Xin xem ‘Sớ quyên mộ xây dựng Như Ý
Liêu chùa Pháp Vũ’ trong Ấn Quang Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên, quyển 2.
[21] Nhị Đế: Chân Đế và Tục Đế.
[22] Thiền Lâm Bảo Huấn, còn có tên là Thiền Môn Bảo Huấn, hoặc Thiền Môn Bảo Huấn Tập, là một tác phẩm do sư Tịnh Thiện biên soạn vào đời Nam Tống, ghi chép các giáo huấn của chư tổ sư nhà Thiền đời Tống từ ngài Hoàng Long Huệ Nam đến Phật Chiếu Chuyết Am, gồm hơn 300 thiên, mỗi thiên đều ghi rõ xuất xứ. Cuốn sách này vốn do hai vị Diệu Hỷ Thiện Giác và Trúc Am Sĩ Khuê chùa Vân Môn tỉnh Giang Tây biên soạn, trải qua nhiều năm bị thất lạc phần lớn. Vào niên hiệu Thuần Hy (1174-1189), ngài Tịnh Thiện bèn biên tập chỉnh lý thành bộ Thiền Lâm Bảo Huấn như hiện thời.
[23] Noi gương người xưa để sửa đổi chính mình trong hiện
tại.
[24] Niêm Đề: là một thuật ngữ Thiền Tông, còn gọi là Niêm Cổ, hoặc Niêm Tắc, có nghĩa là “niêm bình cổ tắc” (chọn ra một câu chuyện cũ để bình giảng). Trong cách thuyết pháp của Thiền lâm, vị giảng sư nêu lên một câu chuyện xưa, hoặc một công án để khơi mở tâm địa, chỉ dạy yếu chỉ tông môn cho người học. Tuy gọi là “bình giảng” nhưng lời giảng thường khiến cho người nghe hoang mang nhiều hơn, với mục đích thúc đẩy nghi tình để người nghe tự lãnh ngộ ý chỉ, chứ không dựa theo tri kiến văn tự để giải thích công án.
[25] Chỉ chàng cuồng Diễn Nhã Đạt Đa trong kinh Lăng
Nghiêm, anh ta soi gương thấy hình bóng cái đầu của mình hiện trong gương, đâm
ra hoảng sợ phát cuồng.
[26] Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.
[27] Tham thỉnh: tham vấn, thỉnh đạo.
[28] Càn Long Đại Tạng Kinh.
[29] Cưỡi ngược chú lừa (Đảo kỵ lư): Ở đây, Tổ nhắc đến điển tích Trương Quả Lão. Trương Quả Lão không rõ năm sinh và mất, là một trong Bát Tiên, sống vào thời Đường (vào khoảng đời Đường Cao Tông đến Đường Huyền Tông), là một đạo sĩ nổi tiếng về thuật luyện đan. Theo thần thoại, ông ta thường cỡi một con lừa trắng, nhưng ngồi ngược hướng, tức là quay mặt về phía đuôi lừa. Con lừa ấy mỗi ngày đi được ngàn dặm, không cần ăn uống, khi cần nghỉ ngơi, chỉ cần vỗ nhẹ vào nó, lừa liền xẹp xuống như một tấm da lừa, khi cần đi chỉ thổi hơi vào nó lại biến thành con lừa sống như cũ. Do vậy, dân gian hay dùng tích “cưỡi lừa ngược” để chỉ người thung dung tự tại không bị ràng buộc trong cõi trần. Ở đây, Tổ dùng điển tích này để khen ngợi vị sư ấy sống nơi đô hội, chợ búa, vẫn thong dong tu Tịnh nghiệp khác nào Trương Quả Lão cỡi ngược con lừa dạo chơi khắp chốn.
[30] “Thuyên” có nghĩa là rõ ràng. Do vậy, trong nhà Phật
gọi những câu nói giảng giải chân lý là Chân Thuyên.
[31] Nguyên văn “Quỳ khổn” (tấm lòng tha thiết của hoa Quỳ).
Do hoa Quỳ (còn gọi là hoa Hướng Dương) thường xoay theo hướng mặt trời nên cổ
văn thường dùng từ ngữ này để chỉ lòng tha thiết ngưỡng vọng. Do âm vận bó buộc,
chúng tôi đành tạm dịch gọn là “tha thiết” tuy không đủ ý.
[32] Cách vật, trí tri, chánh tâm, thành ý.
[33] Bình đẳng, vi diệu.
[34] Tức Cừ Bá Ngọc, người sống cùng thời Khổng Tử, nổi tiếng
với câu nói “đến năm tròn năm mươi tuổi,
biết bốn mươi chín năm trước đều sai”.
[35] Vân Ngưu là một loài vật tưởng tượng. Cổ nhân thường
tạc tượng Vân Ngưu có hình dáng một con trâu hay bò mập mạp, chân ngắn, sừng
cong ngắn, cổ bạnh, khắp mình có những xoáy tròn như mây cuộn, bốn chân có những
đám mây nhỏ. Vân Ngưu tượng trưng cho sự cần cù, kiên quyết.
[36] Sanh giới chính là chúng sanh giới.
[37] Dân bào vật dữ: Nói gọn của câu “Dân thị ngô bào, vật thị ngô dữ” (dân là kẻ ruột thịt của ta, loài
vật giống như ta).
[38] Bá Di và Thúc Tề đều là con vua nước Cô Trúc (nay thuộc thành phố Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc) cuối đời Thương. Bá Di là con cả, Thúc Tề là con trai thứ ba. Lúc vua Cô Trúc còn sống, tính truyền ngôi cho Thúc Tề. Sau khi cha chết, Thúc Tề lại nhường ngôi cho anh, Bá Di không chịu, bỏ nước trốn đi. Thúc Tề cũng không chịu làm vua, trốn theo anh sang đất nhà Châu dưỡng lão. Khi Châu Vũ Vương (Cơ Phát) hưng binh diệt Trụ, Bá Di và Thúc Tề ra cản đầu ngựa để khuyên can, nhưng Vũ Vương không nghe. Sau khi Trụ Vương tự vẫn, Bá Di lẫn Thúc Tề thề không ăn gạo thóc của nhà Châu, sống ẩn dật trong núi Thủ Dương, hái rau rừng để ăn. Sau có người bảo rau rừng mọc trên đất Châu thì cũng là tài sản của nhà Châu, họ liền nhịn đói đến chết.
[39] Ký là thiên lý mã, tức giống ngựa theo truyền thuyết
một ngày đi được ngàn dặm.
[40] Theo Tấn Thư, Nguyễn Tịch có cặp mắt đặc biệt, khi nể
trọng ai thì nhìn bằng cặp mắt xanh, khi khinh rẻ ai thì nhìn bằng cặp mắt trắng.
Do đó cổ văn thường dùng chữ “thùy thanh” (để lọt mắt xanh) với ngụ ý đặc biệt
tôn trọng.
[41] Cư sĩ Châu Đình Chương, hiệu là Sở Phong. Theo Cư Sĩ Truyện, cư sĩ Châu Đình Chương người tỉnh Vân Nam, sống vào khoảng niên hiệu Chánh Đức - Gia Tĩnh đời Minh, tánh tình thuần phác, gia cảnh nghèo hèn. Ai mắng nhiếc, chửi bới gì cũng cười mà thôi. Một lòng tin tưởng Phật pháp, mỗi sáng đều tụng kinh Kim Cang, Di Đà, Quán Âm mỗi thứ một biến. Một hôm vào tiết Thanh Minh, từ biệt cha và vợ nói: “Tôi sắp đi đây, Di Đà đến đón tôi, Quán Âm cũng đã đến”, rồi lại nói: “Đức Quán Âm bảo tôi phải thôi ăn mặn trong năm ngày thì mới về Tây được”, bèn mỗi ngày ăn một bữa cháo, một bữa rau. Đến thời hạn, liền tắm gội đội mũ, bảo con em tụng danh hiệu của bảy đức Như Lai, tụng kinh xong bèn ngồi ngay ngắn qua đời, đến hôm sau thân vẫn còn tỏa mùi thơm, vẻ mặt như lúc sống. Do Đình Chương lúc sắp mất mới ăn chay, nên khi Tổ Ấn Quang thấy ông Hứa Chỉ Tịnh nguyện “ăn khoai Đình Chương” liền biết ngay ông ta hãy còn ăn mặn.
[42] Đây là một trong sáu ty trực thuộc Bộ Nội Vụ của
Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1912 tại Nam Kinh. Thoạt đầu sáu ty
này có tên gọi là Dân Trị (coi về hành chính trị an), Cảnh Vụ (công an, cảnh
sát), Lễ Giáo (trông coi giáo dục và thuần phong mỹ tục), Thổ Mộc (trông coi về
xây dựng, thiết kế những công trình công cộng) và Biên Lý (quản trị biên cương,
quy hoạch bản đồ lãnh thổ quốc gia). Khi chính quyền Dân Quốc chiếm được Bắc
Kinh, dời kinh đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh, ty Biên Lý được đổi tên thành ty Chức
Phương (dựa theo ý nghĩa xưa của chữ Chức Phương là bản đồ).
[43] Đối Khẩu Sang, còn gọi là Não Thư, Khẩu Thư, Khẩu Đinh, Lạc Đầu Thư, hay Đại Thư, là một chứng bệnh lở loét ở phía trên phần cổ, giáp ót. Sang và Thư đều có nghĩa là lở loét. Bệnh nhân mọc một cái nhọt độc lớn ở phần sau cổ, lở loét mãi không lành miệng, thường có mủ, khiến bệnh nhân hay bị sốt cao, rất đau đớn. Nếu không chữa trị đúng lúc, bệnh nhân bị hôn mê rồi chết.
[44] Tức cuộc Cách Mạng Tân Hợi (1911), xảy ra vào ngày 10
tháng 10 năm Tân Hợi, bắt đầu từ Vũ Xương, lật đổ nhà Thanh, lập ra Dân Quốc.
Thoạt đầu, Tào Á Bá là một trong những lãnh tụ của nhóm thanh niên chủ trương
cách mạng, canh tân Trung Hoa.
[45] Tức Tôn Văn (tự Dật Tiên, hiệu Trung Sơn), quốc phụ của
Trung Hoa Dân Quốc.
[46] Đoan Ngọ (ngày Mồng Năm Tháng Năm), gọi đủ là Đoan Ngọ Tiết, còn gọi là Đoan Dương Tiết, Ngọ Nhật Tiết, Ngũ Nguyệt Tiết, Ngũ Nhật Tiết, Ngải Tiết, Trùng Ngọ, Hạ Tiết v.v… Thoạt đầu, theo mê tín, đây là ngày thạnh dương nên sâu bọ sanh sôi, ôn dịch dễ xảy ra, nên có nhiều tập tục như uống rượu pha hùng hoàng, dùng lá ngải vò nát xoa vào móng tay để giết sâu bọ trong bụng v.v… Ngoài ra, vào thời cổ, ở phương Nam Trung Quốc, đại khái vùng Chiết Giang, có một sắc dân thiểu số được coi là hậu duệ của loài rồng, thường tế lễ thần Đồ Đằng để cầu mưa thuận gió hòa vào ngày mồng Năm tháng Năm. Về sau do Khuất Nguyên, quan đại phu nước Sở, do can vua không được đã đâm đầu xuống sông Mịch La nhằm tiết Đoan Ngọ, nên người ta cũng dùng ngày này để kỷ niệm một vị ái quốc.
Đại Thử là một tiết khí trong hai mươi bốn tiết khí của một năm, kéo dài từ Hai Mươi Hai tháng Bảy đến ngày mồng Tám tháng Tám Dương lịch. Theo Nguyệt Lệnh Thất Thập Nhị Hầu Tập Giải, sở dĩ gọi là Đại Thử vì lúc ấy khí hậu nóng nhất trong năm.
Ở đây, ông Hoàng đã tính sai ngày, sau Đoan Ngọ hai ngày (tức mồng Bảy tháng Năm) cho đến ngày đầu tiên của tiết Đại Thử (Hai Mươi Hai tháng Bảy) là 75 ngày, chứ không phải 31 ngày.
[47] Cha đã mất gọi là tiên khảo, minh đản (hay còn gọi là
minh thọ) bát tuần là ngày sinh nhật tám mươi tuổi của người đã khuất.
[48] Lục Pháp Toàn Thư là một bộ sách tổng hợp tất cả những dữ liệu, thông tin cần thiết về luật pháp được áp dụng tại Trung Hoa Dân Quốc và Nhật Bản. Nội dung bao gồm sáu thể loại luật pháp:
1. Hiến pháp
2. Dân pháp: gồm những điều luật dân sự, chẳng hạn khai sanh, khai tử, đăng bộ nhà, xe, ruộng vườn v.v…
3. Dân sự tố tụng pháp: những điều luật về thưa kiện dân sự, chẳng hạn ly hôn, ly thân, tranh chấp gia sản, điền sản v.v…
4. Hình pháp: những điều luật về tội phạm.
5. Hình sự tố tụng pháp: những điều luật quy định về sự tranh cãi kiện tụng liên quan đến những tội hình sự.
6. Hành chánh pháp và Hành chánh tố tụng pháp: những điều luật, quy định về biện pháp xử lý hành chánh và thưa kiện trong lãnh vực hành chánh.
Do tài liệu này vô cùng cần thiết cho nghề nghiệp của một quan tòa nên ông Hoàng gọi đùa nó là “món đồ câu cơm”.
[49] Thời ấy, để cầu cơ người ta làm lễ thỉnh tiên, rồi
hai đồng tử (người hầu cơ) vịn cơ bút (cơ bút thường có hình dáng như một cái
giỏ, có vành để cầm được, một đầu giỏ có cái bút gỗ hình chim loan có mỏ nhọn)
để viết chữ xuống một cái mâm đầy cát hay gạo. Lối cầu cơ ấy gọi là “phù loan”
(thường đọc trại thành “phò loan”). Ngoài ra, còn có loại cơ bút mang hình dáng
như một cái bút gỗ có hai cái cán dài được nối vào đuôi bút. Hai đồng tử hầu cơ
sẽ cầm hai cái cán ấy nâng lên hạ xuống cho bút viết chữ xuống mâm cát, nhóm
ông Giang Dịch Viên cầu cơ theo lối này nên mới nói là “bút gỗ, mâm cát”.
[50] Sở dĩ bảo là “đơn độc chỉ bảo” (cô chỉ) là vì khi ấy
các môn sinh của Giang Dịch Viên đều mê man cầu cơ giống như thầy, tin mê muội
vào những lời cơ bút, riêng mình ông Thôi Chú Bình là tỉnh táo, cực lực khuyên
lơn các bạn đồng môn.
[51] Phi tinh là danh từ chỉ chung những loài quỷ thần có
thần túc, có thể di chuyển rất lẹ làng giữa các nơi, chẳng hạn như loài quỷ Dạ
Xoa (thường có tên là Tiệp Tật Quỷ)
[52] Điều Đạt là gọi tắt của chữ Đề Bà Đạt Đa (Devadatta).
Đề Bà Đạt Đa là em họ của Phật, do ganh ghét nên đã lập cách phá hoại Tăng
đoàn, mưu hãm hại đức Phật nhiều lần.
[53] Khải là một thể văn của các quan dùng để tâu trình
lên thượng cấp. Ở đây, thầy Đức Sâm dùng chữ khải với ý nghĩa khiêm nhượng, tâu
trình lên thiện nam tín nữ chuyện quyên mộ của am Sùng Ninh.
[54] Theo quy định của Phật thất phổ thông, thời gian công
phu niệm Phật mỗi ngày bằng sáu cây hương (mỗi cây hương ở đây tức là thời gian
tàn hết một cây hương dài làm theo lối xưa, mỗi cây hương cháy được khoảng một
tiếng rưỡi. Công phu sáng là một cây hương, sau đó niệm Phật buổi sáng hai cây
hương, buổi chiều hai cây hương, buổi tối niệm Phật và đại hồi hướng một cây
hương, tổng cộng là sáu cây hương).
[55] Thoạt đầu, ấn Di Đà chính là Thiền Định Ấn, tức hai
bàn tay xòe thẳng, đặt trên lòng, tay phải đặt trên tay trái, đầu hai ngón cái
giao với nhau như thường thấy trong các tượng Thích Ca Mâu Ni Phật. Tuy thế, về
sau, dưới ảnh hưởng của Mật giáo, khi tượng A Di Đà Phật được tạc với tư thế ngồi,
nếu tay Phật không cầm hoa sen sẽ kết ấn Di Đà, tức là ấn Thiền Định bị biến đổi
hơi khác: Tay phải vẫn đặt trên tay trái, các ngón xòe thẳng, nhưng trong mỗi
bàn tay ngón trỏ cong lên chạm đầu ngón cái, giống như hai cái vòng giáp lưng
vào nhau, đầu hai ngón cái chạm vào nhau.
[56] Đây là điển tích “nhân cầm câu vong” (người lẫn đàn cùng mất). Đại thư pháp gia Vương Hy Chi đời Tấn có bảy người con, trong số đó Huy Chi (tự Tử Do) và Hiến Chi (tự Tử Kính) là hai người nhân phẩm cao nhất, tính tình khoáng đạt, thích văn chương, coi thường danh lợi, thường đàm luận thi văn với nhau rất tâm đắc. Tuy là hai anh em nhưng coi nhau như bạn tri kỷ, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Huy Chi ưa đánh đàn, Hiến Chi thường gõ phách hòa theo. Về sau, hai anh em cùng bị bệnh nặng, Hiến Chi mất trước. Huy Chi im lặng, không nhỏ giọt nước mắt nào, gượng bệnh, bắt người nhà đưa đến trước linh sàng của em, ngồi ngơ ngẩn hồi lâu rồi ôm đàn toan gảy một khúc diễn tả nỗi đau thương; nhưng do nội tâm quá bi thương không thể gảy thành xoang điệu nào, liền quăng đàn hét lớn: “Tử Kính, Tử Kính nay thì người lẫn đàn đều mất cả rồi ư!” Hét xong, ngã lăn ra đất hôn mê bất tỉnh. Hơn một tháng sau, Huy Chi cũng qua đời.
[57] Trù An Hội (Hội mưu tính an định cho đất nước) là một tổ chức do Viên Thế Khải đạo diễn nhằm tuyên truyền, cổ xúy quốc dân ủng hộ Viên Thế Khải tái lập đế chế trong khi chánh quyền Dân Quốc còn non trẻ, các tướng lãnh quân phiệt nổi lên chiếm cứ các nơi, chánh quyền trung ương chưa thể kiểm soát toàn bộ đất nước. Vào ngày 14 tháng Tám năm 1915, bọn Dương Độ, Tôn Dục Quân, Lý Tiếp Hòa, Hồ Anh, Lưu Sư Bội và Nghiêm Phục cùng ra tuyên cáo thành lập Trù An Hội, Dương Độ ra thông cáo với lời lẽ mị dân: “Chúng ta làm thân người dân Trung Quốc, quốc gia còn hay mất chính là chuyện liên quan đến sự sống chết của bản thân và gia đình, há nỡ ngồi yên ngó lơ chờ chết? Do vậy, tập hợp những người cùng chí hướng tổ chức thành hội này hòng mưu tính sự an định cho đất nước… Vào thời Cách Mạng Tân Hợi, nhân dân Trung Quốc tình cảm sôi sục nhưng do bị vấn đề chủng tộc gây chướng ngại, bèn lập ra nền Cộng Hòa, nhưng chưa hề suy nghĩ kỹ Cộng Hòa có thích hợp với tình hình đất nước hay không? Một khi đã đề xướng, ai dám bắt bẻ, người thông hiểu sâu xa tuy biết rõ chủ trương ấy ẩn chứa mối họa hoạn, nhưng vẫn phải miễn cưỡng thuận theo hầu tránh khỏi mối họa nguy vong một chốc. Do vậy, nhà Thanh thoái vị, Dân Quốc sáng lập, chánh quyền lâm thời gặp nhiều lúng túng, quốc gia gặp cơn nguy hiểm, nhân dân khốn khổ…”. Họ ra nhiều thông cáo, tuyên bố để cổ vũ tái lập đế chế, suy cử Viên Thế Khải lên ngôi hoàng đế. Để đạt mục đích, hội đã dùng những biện pháp bẩn thỉu nhằm đe dọa, ép buộc các nghị viên bỏ phiếu tán thành đế chế.