Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục
Biên,
Quyển Thượng
Phần 2
22. Thư trả lời cư sĩ Dương Huệ Xương (hai lá thư. Ông này vốn tên là Tự Xương)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
1)
Ông Lưu Hán Vân có thể nói là xưa đã có thiện căn, nhưng đã tin tưởng Phật pháp
nhiều năm, lẽ ra phải sớm ăn chay, sao lại đợi đến tuổi hoa giáp (sáu mươi) mới
phát tâm vậy? Do đây biết rằng: Thói quen thế tục chẳng dễ thay đổi! Nay đã đổi
được, cũng đáng gọi là có nghị lực mạnh mẽ. Ông ta đã thường xem Văn Sao thì cố
nhiên tâm đã hiểu rõ ràng phương pháp tu trì. Điều quan trọng nhất là phải quyết
định cầu đến khi lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Muốn sanh
Tây Phương thì thường ngày phải dốc sức nơi tin sâu, nguyện thiết, chí thành niệm
Phật, ưa thích sự tịnh diệu của Tịnh Độ, nhàm chán sự trược ác cõi Sa Bà. Tự
hành như thế mà dạy người cũng giống như thế. Chẳng được có một tâm niệm cầu
mong đời sau được hưởng phước báo nhân - thiên, ắt sẽ có thể cảm ứng đạo giao
cùng Phật, quyết định có thể cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, siêu
phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nay tôi đặt cho ông ta pháp danh là Huệ
Vân, nghĩa là dùng vầng mây đại trí huệ tuôn trận mưa pháp cam lộ để nhuần đượm
cả mình lẫn người (đấy chính là “huệ
vân pháp vũ”), tức là “thật vì sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tin sâu, nguyện thiết, trì danh
hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương”.
Ông ta lại từng thương xót
siêu độ những cô hồn chết vì băng huyết khi sanh nở. Nhưng đối với hết thảy nữ
nhân, cũng nên lập cách sao cho họ vĩnh viễn không bị băng huyết khi sanh nở,
khiến cho họ được lìa khổ hưởng vui ngay trong đời này. Cách đó ra sao? Phàm là
con gái thì từ bé hãy nên niệm Phật và niệm Quán Thế Âm để cầu tiêu trừ nghiệp
chướng, tăng trưởng phước thọ. Nếu bình thời thường niệm sẽ tự có thể tiêu diệt
được tai nạn trong khi sanh nở này. Như đang lúc sanh nở, vẫn nên chí thành khẩn
thiết niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”
chắc chắn sẽ dễ sanh, chẳng phải chịu khổ. Nếu lúc bình thường hoàn toàn chẳng
niệm Phật và niệm Quán Âm, nhưng lúc sanh nở chịu niệm thì cũng nhất định được sanh
nở bình an. Nếu có ai khó sanh, hãy dạy kẻ ấy niệm và những người săn sóc chung
quanh cùng nhau niệm cho người ấy, cũng quyết định liền được sanh nở bình an.
Chớ nói “đang khi sanh nở lõa
lồ, ô uế, niệm [danh hiệu Bồ Tát] sẽ bị tội!” Phải biết: Đấy là lúc liên quan đến
tánh mạng, chẳng thể dùng đạo lý lúc bình thường để luận định được. Lúc bình
thường, phàm là người niệm Phật nếu áo mũ không chỉnh tề, hoặc ngủ nghỉ, tắm giặt,
đại tiểu tiện v.v… chỉ nên niệm thầm trong tâm, chẳng nên niệm ra tiếng rõ ràng.
Còn khi sanh sản, chớ nên niệm thầm trong tâm, mà phải niệm ra tiếng rõ ràng, bởi
niệm thầm sức yếu, nếu trong tâm gắng sức sẽ rất có thể bị bệnh. Niệm rõ tiếng
thì hơi thở thông suốt, hết sức hữu ích, chớ nên nói “niệm sẽ mắc tội!” Phải biết:
Bồ Tát xem hết thảy chúng sanh đều giống như con ruột. Nếu con cái ngã vào nước
- lửa, cầu cứu cha mẹ, cha mẹ nghe thấy liền cứu ngay, quyết chẳng vì lý do áo
mũ không chỉnh tề, thân thể không sạch sẽ mà chẳng cứu! Nếu lúc bình thường
cũng niệm giống như khi [vì chẳng đặng đừng mà phải] lõa lồ ấy thì tội chẳng nhỏ.
Cần phải luận theo sự, đừng chấp chết cứng! Có kẻ chẳng hiểu lý, hễ trong nhà
có người sanh nở, họ bèn lánh đi nơi khác hơn cả tháng mới dám quay về, cho rằng
hễ bị huyết tanh xông nhằm thì những kinh, chú, Phật hiệu đã niệm từ trước đều trở
thành không có công đức gì! Những kẻ ngu ấy đáng thương xót tột bậc! Hãy nên
đem lời Quang bảo với khắp mọi người, ắt sẽ chẳng còn ai bị chết vì sanh sản nữa!
2)
Nội công (công phu tu hành bên trong) là tự tu; ngoại công là rộng hành các
phương tiện, như: giúp đỡ kẻ ngặt nghèo, cứu người khốn đốn, cứu giúp tai nạn
v.v… Đấy gọi là Trợ Đạo. Những điều này nên dựa theo sức lực, khả năng của
chính mình [mà làm]. Nếu không có sức thì hoặc dùng lời nói để chỉ điểm cho kẻ
mê, hoặc dùng lời lẽ khuyên lơn đại chúng, khiến cho mọi người đều thành tựu
chuyện của họ. Nếu do được người ta thỉnh mà niệm kinh, niệm Phật thì phần nào vẫn
là kẻ lười nhác, mang hành vi dựa dẫm vào Phật để kiếm sống. Sao ông lại chen lẫn
vào đó, chẳng sợ đánh mất phẩm cách của chính mình hay sao? Chỉ có một sự đáng
làm, nhưng ông đã có nghề nghiệp, nên cũng chẳng thuận tiện lắm; [tức là] hễ [gặp
lúc] có người thường ngày niệm Phật, hoặc con cháu người ấy tin Phật, khi người
ấy lâm chung, thỉnh các vị cư sĩ đến trợ niệm, lợi ích ấy rất lớn. Hãy xem sách
Sức Chung Tân Lương sẽ tự biết.
Người niệm Phật hãy thường đối
trước cha mẹ của chính mình và những quyến thuộc khác nói cho họ nghe [lợi ích
của sự trợ niệm], để đến khi có người mạng chung, quyến thuộc trong nhà đều
cùng niệm Phật thì người [sắp mất] ấy ắt nương theo Phật lực sanh về Tây
Phương. Dẫu chẳng sanh Tây Phương, ắt cũng sanh vào đường lành, có lợi ích rất
lớn, chẳng tổn thương mảy may! Nếu chẳng biết điều này, khi chưa chết đã lo tắm
rửa, thay quần áo sẵn, nếu do bị dời động mà đau đớn, sân tâm liền nổi lên. Dẫu
chẳng đến nỗi nổi sân, nhưng qua một phen dời động, tâm cũng chẳng được thanh tịnh.
Nếu là người bình thời niệm Phật cầu sanh Tây Phương, trải qua một phen như thế,
chắc chắn bị mất chánh niệm, chẳng được vãng sanh! Nếu chưa chết đã khóc lóc trước
khiến cho người [sắp mất] ấy sanh tâm ái luyến thì cũng là lôi kéo khiến cho
người ấy bị đọa lạc. Một cửa ải lâm chung khẩn yếu tột bậc, do vậy phải nên trợ
niệm. Người trợ niệm cần đọc kỹ sách Sức Chung Tân Lương, bảo con cái quyến thuộc
trong nhà đều tuân theo chỉ dạy của người trợ niệm, mới hòng chẳng đến nỗi do
tâm hiếu lại đâm ra làm cho cha mẹ phải chịu nỗi khổ đọa lạc! Ngoài việc trợ niệm
ra, mọi chuyện đều chẳng nên làm. Nếu phong cách này (tức cách ứng phó
này) được lưu hành thì chuyện thiện nam tín nữ
niệm Phật chẳng trở thành một nếp xử sự phổ biến hay sao? Người hiểu lý chọn lấy
chuyện tốt lành để làm, người không hiểu lý chỉ thấy lợi bèn theo, người có nghề
nghiệp lỡ làng công việc, kẻ lười nhác bèn dựa vào đó để chòng ghẹo, chẳng những
gây trở ngại cho Tăng chúng mà còn gây trở ngại cho chính tang gia.
23. Trả lời thư cư sĩ Thang Văn Huyên (hai lá thư)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hôm
qua thầy Minh Đạo đem thư ông tới. Đọc những lời ông phát lộ sám hối, có thể gọi
là bậc hữu chí, nhưng hằng ngày phải mở rộng [cái tâm sám hối ấy] ra, ngõ hầu chẳng
đến nỗi biến sức công đức Phật tánh thành căn cứ để tạo ác nghiệp chịu sự khổ
cùng cực. Tội lớn tầy trời chẳng thể cự lại một chữ Hối. “Thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế được niệm bèn thành thánh”.
Tâm Nghiêu, Thuấn, Phật, Bồ Tát và tâm chúng ta có cùng một giác thể; nhưng
do chúng ta nghịch tánh mà tu nên chìm đắm trong loài chúng sanh nghiệp khổ. Ông
đã biết sai, hãy nên tận lực sửa lỗi. Đối với mọi chuyện, đều có thể tận lực sửa
đổi sẽ đạt đến chỗ không còn lỗi lầm. Nếu chỉ sanh lòng hổ thẹn tạm thời, rồi cứ
lần chần chẳng tự tu trì thì vẫn lặn hụp trầm luân trong biển tội nghiệp y như
cũ, không thể thoát ra được! Xin hãy đọc cặn kẽ các sách thì sẽ lần lần đạt đến
chỗ khá hơn, ngõ hầu chẳng đến nỗi sống uổng chết phí, sống như gỗ, đá, cầm thú
trong vòng trời đất, sống đã vô ích cho người, mà lại còn có hại cho người!
Về chuyện quy y, hãy để thong
thả. Nếu ông vẫn chẳng thay đổi lề thói cũ thì quy y lại trở thành tội lỗi. Vì
sao vậy? Chẳng quy y thì khi tạo nghiệp chẳng mắc lỗi hoại pháp. Quy y xong vẫn
tạo nghiệp, ắt người ta sẽ dựa vào chuyện đã quy y rồi mà vẫn tạo nghiệp, do đó
họ sẽ phỉ báng Phật pháp là tệ hại. Hơn nữa, ông muốn quy y lại hoàn toàn chẳng
chịu nhún mình, làm sao thỏa mãn ý nguyện của ông cho được? Người đi đường hướng
về người khác hỏi lối, còn phải chắp tay để biểu thị ý cung kính. Nay muốn quy
y Tam Bảo vẫn chẳng chắp tay kính trọng, tức là tập khí tự cao tự đại vẫn chưa
chiết phục được mảy may nào, làm sao cho ông quy y được? Nếu đích thân đến xin
quy y, [pháp sư] lên tòa nói pháp quy y, [người xin quy y] phải dập đầu ba bốn
mươi lần, quỳ lâu chừng một giờ. Dẫu nói dễ dãi cũng phải dập đầu mười mấy cái!
Ai dám tự chuốc lấy tội khinh pháp để cho ông quy y? Quy y giống như bái sư
trong thế gian, há những kẻ bái sư trong đời cũng chẳng theo lễ nghi chắp tay
hay sao? Nếu luận từ đằng gốc thì hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá
khứ, là chư Phật trong vị lai, lễ bái, cúng dường còn chẳng xuể, nào dám trách ai
thiếu lễ! Nếu luận trên hình tích duy trì pháp đạo, phàm những kẻ chẳng chịu tự
nhún mình mà cứ cho họ quy y thì chính mình cũng mắc tội lỗi rất nặng!
2)
Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn, ai cũng đều có thể thành Phật. Những kẻ chẳng
thể là Nghiêu, Thuấn, chẳng thể thành Phật là vì chẳng lập chí mà ra. Không có
chí sẽ chẳng sanh hổ thẹn, yên phận phàm ngu, luân hồi trong tam đồ lục đạo cả
kiếp dài lâu, không thể thoát được! Ông đã phát lòng hổ thẹn, phát tâm mong
thành thánh, thành hiền, học Phật, học Tổ, cố nhiên là do thiện căn đời trước tạo
thành. Hãy nên “mỗi ngày một mới” để hoàn toàn vứt bỏ mọi ý nghĩ, hành vi chẳng
chánh đáng trước kia. Một nhát dao chặt đứt làm đôi, chớ có “dẫu lìa ngó ý còn
vương tơ lòng”, vương vấn, do dự, ắt đến nỗi chẳng mấy chốc lại quay về nẻo cũ,
vùi lấp trong mười thứ ác nghiệp y như cũ, khiến cho Phật tánh “sáng tỏ Minh Đức”
sẵn có đều bị chướng lấp chẳng thể hiển hiện, dùng tư cách thành thánh, thành
Phật để nằm tù Diêm La, đối diện ngục tốt[1],
chẳng đáng buồn ư?
Nay đặt pháp danh cho ông là
Huệ Chấn, nghĩa là dùng trí huệ đánh động, dẹp dứt, ngõ hầu mình lẫn người đều
siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, thoát khỏi đời ác ngũ trược, vượt lên
cõi sen chín phẩm. Những sách đã gởi lần trước đều có thể nương theo đó để tu
trì, nhưng Văn Sao, Gia Ngôn Lục là trọng yếu nhất. So với Văn Sao, Gia Ngôn Lục
đọc đỡ mất công hơn, xin hãy lắng lòng đọc thì phương pháp tu trì thế gian và
xuất thế gian sẽ đều hiểu trọn vẹn, ở đây không viết chi tiết nữa! Quang già rồi,
tinh thần chẳng đủ, chẳng nên thường gởi thư đến, hễ gởi đến sẽ chẳng phúc đáp.
Đại cương của pháp môn Tịnh Độ là ba món Tín - Nguyện - Hạnh, cốt lõi tu trì là
“nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”,
không cần phải nói nhiều. Nương theo đó tận lực thực hành sẽ đích thân đạt được
lợi ích. Nếu muốn làm một vị đại thông gia chắc sẽ đến nỗi gạt pháp liễu sanh
thoát tử ngay trong đời này qua một bên thì đáng thương xót lắm thay!
24. Thư trả lời cư sĩ Ngô Thương Châu (ba lá thư)
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
1)
Bệnh dịch đang lan truyền, vợ con đều mắc bệnh, hãy dạy bọn họ ai nấy đều chí
thành niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu ông có thể niệm chú Đại Bi thì hãy
gia trì nước Đại Bi cho họ uống, sẽ tự được lành bệnh, không cần phải miệt mài chữa
trị. Những điều ông nói tợ hồ nắm được đại ý, nhưng chỉ là nói xuông, hoàn toàn
chẳng dùng được mảy may gì! Phật pháp có vô lượng pháp môn, nhưng đều phải tu đến
khi nghiệp tận tình không thì mới có thể liễu sanh thoát tử! Nếu không, dù có sở
đắc, vẫn cứ y như cũ, chẳng làm gì được sanh tử! Như trong hiện thời, sợ rằng
khắp cõi đời cũng khó được một hai người đạt đến địa vị nghiệp tận tình không!
Chỉ có một pháp Niệm Phật nếu đầy đủ tín chân, nguyện thiết, chí thành niệm Phật
cầu sanh Tây Phương, dù toàn thân là nghiệp lực, vẫn đều có thể cậy vào Phật từ
lực vãng sanh Tây Phương, ấy gọi là “đới nghiệp vãng sanh”. Hễ sanh về Tây
Phương thì liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Vì thế, thiện tri thức đời
Mạt phần nhiều đều chuyên chú Tịnh Độ; bởi lẽ Tịnh Độ thực hiện dễ, thành công
cao, dùng sức ít, đạt được hiệu quả nhanh chóng.
Thường có những kẻ thông minh,
hơi hiểu giáo nghĩa, hoặc biết đôi chút lẽ Thiền, bèn tự cho mình là bậc thông
suốt, miệt thị niệm Phật, cho niệm Phật là chuyện để bọn ngu phu, ngu phụ làm!
Đấy đều là những kẻ chẳng biết tự xét, là hạng cuồng đồ, cứ tưởng “hiểu nghĩa
lý theo văn tự chính là thật chứng”, chắc chắn là hạng “nói không, làm có”,
dùng thân báng pháp, tương lai ắt đọa tam ác đạo, được những ngu phu, ngu phụ
niệm Phật vãng sanh Tây Phương thương xót nhưng chẳng thể cứu vớt! Ông đã nguyện
quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Thương, ngụ ý: Đổi tên chẳng đổi thể[2],
nhưng chữ Thương trước kia (tức chữ Thương trong tên thật) có nghĩa là cả mình
lẫn người đều chìm đắm mênh mông, nay nương theo Phật pháp tu trì, liền trở
thành cả mình lẫn người đều được lợi lạc mênh mông. Tuy cùng [có nghĩa] là mênh
mông, nhưng sự khác biệt giữa nguyên do [của hai thứ] mênh mông ấy cố nhiên nào
phải chỉ giống như [sự khác biệt] giữa trời với vực!
Phương pháp tu trì niệm Phật
cùng với giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện v.v… thì Văn Sao, Gia Ngôn Lục đều đã nói
đầy đủ cả rồi, ở đây không viết cặn kẽ. Đã thấy hình chụp của ông, còn hình chụp
của Quang [dĩ nhiên là] chẳng có! Vì Quang một bề chẳng thích phô trương. Phàm
những chuyện trình diễn, phô phang sáo rỗng đều chẳng thích làm. Ông nói xưa
kia ở chỗ của Hám Sư Trưởng[3]
tìm được tiểu sử của Quang, lời ấy cũng chẳng phải là chuyện thật. Ông Hám cố
nhiên tin Phật, nhưng chưa từng hỏi Quang câu nào, e rằng ông ta nghe được mấy
câu từ nơi Trần Đại Tâm, nhưng Quang một mực chẳng kể cùng người khác những
chuyện trước kia. Những lời ông ta nói chắc là chuyện gần đây. Nếu là chuyện
trước khi xuất gia thì đều là thêm thắt. Gần đây, do phát chẩn[4]
[ông ta] đến thôn tôi thì những tiểu sử do người trong thôn chép lại cho ông ta
cũng không đích xác, bởi Quang rời nhà đã năm mươi hai năm, những kẻ hậu sinh nghe
nói lại chỉ biết được một hai chuyện. Ông ta bảo Quang bổ túc, Quang nại cớ kỳ
chết đã gần, chẳng muốn lưu tiếng xuông cho đời nên chẳng bổ túc. Về sau, ông
ta lại viết thư bảo bổ túc, Quang gởi cho ông ta một gói sách, nhưng vẫn chẳng
trả lời thư ấy. Tôi nói với ông điều này vì ông nói là ông biết tiểu sử của
Quang vậy.
2)
Quý quyến đều chịu niệm Phật, có thể nói là xưa đã có duyên với Phật, cho nên mới
được làm quyến thuộc với nhau. Ông nói chẳng bao lâu nữa sẽ cùng lệnh phu nhân
đến đất Tô, trộm cho rằng không cần thiết. Nếu có thể chí thành khẩn thiết niệm
Phật thì nào có thiếu sót gì! Dẫu không gặp Ấn Quang cũng hoàn toàn chẳng mất
mát gì cả! Dẫu gặp mặt, ngoài Văn Sao ra, há còn có diệu pháp “khẩu truyền, ngầm
trao” nào nữa ư? Nếu thật sự có diệu pháp “khẩu truyền, ngầm trao” thì kẻ ấy
chính là ma vương, ngoại đạo, nên tránh xa còn không kịp, huống là lại muốn cầu
pháp đó nơi kẻ ấy ư? Huống chi, nay đang lúc đói kém, nếu những người chủ chốt
trong nhà đều đi xa mấy ngày, rất có thể kẻ nhỏ nhen, tệ hại sẽ thừa cơ trộm cắp.
Nếu vạn nhất có chuyện ấy, chẳng những vợ chồng ông bị người ta chê là mê tín, mà
người ta còn nói Quang thiếu đức khiến cho người khác mắc họa!
Cư sĩ Triệu Vân Bằng quy y với
pháp sư Ứng Từ[5],
cực hay, cực tốt; cần gì phải quy y với Quang nữa? Nếu cứ nhất quyết muốn quy
y, nào có danh hay không danh để nói đây? Năm Dân Quốc thứ bảy (1918), ông Từ
Úy Như và Quang chưa từng gặp mặt lần nào, nhưng do trong năm đầu Dân Quốc
(1911) thấy Phật Học Tùng Báo đăng tải mấy bài của Thường Tàm (đây không
phải là tên tôi, chỉ là tên tùy tiện dùng vì chẳng muốn người khác biết tên vậy), chẳng biết là Tăng hay tục, nên thường nghe ngóng. Đến
năm Dân Quốc thứ năm (1916), đã nghe biết được rồi, bèn cậy bạn ngỏ lời muốn
thư từ qua lại thưa hỏi, Quang cự tuyệt không bằng lòng. Đến năm Dân Quốc thứ bảy
(1918), đem hơn hai mươi thiên văn sao in thành sách. Ông ta theo mẹ đến Phổ
Đà, xin quy y, Quang dạy ông ta quy y với ngài Đế Nhàn (ông ta rời núi,
bèn thỉnh pháp sư Đế Nhàn lên kinh đô giảng kinh).
Năm Dân Quốc 17 (1928) gởi thư đến nói: “Trước kia con muốn quy y, thầy dạy quy
y với ngài Đế Nhàn, mười năm qua trong lòng vẫn trọn cảm thấy không thỏa ý, vẫn
xin thầy chấp nhận cho con quy y”. Quang trả lời ông ta: “Ông quyết ý muốn quy
y, thôi thì cũng được, nhưng pháp danh thì vẫn dùng pháp danh do ngài Đế Nhàn
đã đặt[6],
cần gì phải đặt pháp danh khác?’
Ông Triệu đã quy y với sư Ứng Từ,
nếu vẫn muốn thờ Quang làm thầy thì hãy nên luận theo phương pháp tu trì Quang
đã nói, chứ đừng luận trên pháp danh! Pháp được thầy Ứng nói chính là pháp Đại
Thừa, còn pháp Quang đã nói chẳng phải Đại, chẳng phải Tiểu, vừa là Đại, vừa là
Tiểu, là pháp mà trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến phàm phu sát đất đều cùng
tu cùng chứng, cố nhiên phải nên chú trọng pháp này. Nếu hời hợt coi nó giống
như hết thảy các pháp Đại Thừa thì chuyện liễu sanh thoát tử chắc là lâu lắc lắm!
Ông nói “vứt bỏ hết để được độ thoát”, xét đến cùng là chỉ lợi ích cho một người,
là mặc kệ ba đứa con. Vì thế, hãy nên thong thả đã!
3)
Phàm phu chưa từng đích thân chứng được Phật Tánh, tất cả công đức của Tự Tánh
hoàn toàn chẳng được phát hiện và thọ dụng, nên hết thảy phải thuận theo nghiệp.
Cái sắc thân trong đời hiện tại gọi là Báo Thân, tức là quả báo của những điều
thiện hay ác đã tạo trong đời trước. Người niệm Phật tuy không còn tạo nghiệp
sanh tử nữa, nhưng túc nghiệp chưa hết, làm sao có thể được vãng sanh ngay lập
tức? Nếu tâm nhàm chán thế gian thiết tha, kiệt lòng thành, tận lòng kính,
chuyên chí niệm Phật, cầu Phật rủ lòng từ sớm đến tiếp dẫn thì cũng có người [sớm
được vãng sanh]! Nếu tự hủy hoại mạng sống để mong vãng sanh liền thành uổng tử
quỷ (quỷ chết oan)! Do người ấy công phu chưa đạt mà tự hủy mạng thì khi đang hủy
mạng, tâm đã mất chánh niệm, huống chi nỗi khổ do tự hủy mạng không thể thí dụ
được! Tâm mất chánh niệm thì làm sao tương ứng với Phật, được Phật tiếp dẫn? Thứ
tà kiến này tự lầm, lầm người, gây hại tột bực! Chớ nói lời ấy để kẻ vô tri khỏi
bị hại!
Người có quyền lực thì cứu người
cứu đời dễ dàng, mà hại người hại đời cũng dễ lắm! Nếu dùng quyền lực có được
do hại người hại đời để mong cứu người cứu đời thì dĩ nhiên chẳng bằng dốc lòng
từ thiện, tùy phận tùy sức để cứu người cứu đời, sẽ có ích, không bị tổn hại! Nếu
hâm mộ quyền lực, muốn có quyền lực để cứu người cứu đời, xin hãy suy xét kỹ: Có
thể nào đạt được quyền lực lớn lao ấy mà không phải trả giá hay chăng? Nếu tâm
chân thật tu hành, dù không có quyền lực vẫn có thể cứu người, cứu đời, chỉ
không thể rộng lớn như [người] có quyền lực mà thôi! Nếu có quyền lực lại có thể
làm chuyện cứu người, cứu đời, chỉ muốn chuyên chú nơi đạo, chẳng tạo ác nghiệp
thì hiện nay không có hạng người ấy đâu! Phú quý làm cho con người mê hoặc đáng
sợ vô cùng! Người bình thường nếu tiền chuyển giao qua tay, tuy còn chưa phải
là vật của chính mình, mà tâm niệm đã biến đổi, làm các điều ác, huống chi thật
sự có quyền lớn lao mà tâm chẳng thay đổi thì có được mấy ai? Chớ nên hiểu lầm
thì chính mình may mắn lắm, mà Phật pháp cũng may mắn lắm vậy!
25. Thư trả lời cư sĩ Ninh Đức Tấn
(năm Dân Quốc 20 - 1931, ông này vốn có tên là Chí Vũ)
Lễ Phật, Bồ Tát, trong tâm thầm niệm, hoặc
xưng niệm ra tiếng đều được. Niệm Tâm Kinh trước hay sau kinh Di Đà cũng đều được.
Vì mở đầu kinh bèn niệm “Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát” ba lượt cho nên niệm
kinh Di Đà, chú Vãng Sanh xong rồi mới niệm Tâm Kinh. Chữ Đỏa (埵) đọc giống chữ Đóa (朵), Hoạch (獲) là được.
Vô
Sanh Nhẫn là đối với hết thảy cảnh giới thiện - ác, phàm - thánh, trọn không có
một niệm “sanh tâm động niệm có tướng để đạt được”. Kinh Kim Cang dạy: “Tam tâm liễu bất khả đắc, tức thị Vô Sanh
Nhẫn” (ba tâm trọn chẳng thể được chính là Vô Sanh Nhẫn) chính là phần cước
chú cho Vô Sanh Nhẫn. Cũng đừng nói “đối với hết thảy cảnh giới trọn chẳng có một
niệm sanh tâm động niệm sẽ thành cây khô, tro lạnh”. [“Đối với hết thảy cảnh giới trọn chẳng có một niệm sanh tâm động niệm”]
hàm ý: Vắng lặng bất động, giống như gương sáng trống không chẳng có vật gì,
nhưng hễ cảm bèn thông, giống như gương sáng hễ có hình bèn hiện bóng. Ngay
trong lúc có hình bèn hiện bóng ấy vẫn rỗng rang không có vật gì. Chỉ vì “rỗng
rang không có vật gì” nên “hễ có hình liền hiện bóng”. Vô Sanh Nhẫn hơi giống
như vậy, mong ông hãy khéo hiểu. Chứng được điều này sẽ dự vào địa vị Đại Bồ
Tát, chẳng phải là điều ông và tôi có khả năng đạt được.
Nhiễu
Phật nên giống như mặt trời, mặt trăng từ phương Đông sang Nam, qua Tây, lên Bắc,
đừng từ Đông lên Bắc, qua Tây, xuống Nam, vì thuận nhiễu (nhiễu theo đúng chiều)
có công đức, nghịch nhiễu mắc tội lỗi. Tây Vực coi trọng nhất cách “vi nhiễu”
(đi nhiễu quanh), họ coi vi nhiễu tương đương với lễ bái, mang ý nghĩa tùy thuận
đức Phật. Lúc niệm Phật bèn niệm Quán Âm luôn, không cần phải bắt đầu niệm bài
Quán Âm Tán riêng. Niệm Phật hiệu xong liền niệm tiếp Quán Âm là được rồi. Đại
Sĩ[7]
chính là biệt hiệu của Bồ Tát, hết thảy Bồ Tát đều có thể gọi là Đại Sĩ, chứ
không riêng gì đức Quán Âm.
Thường
dạy bảo, trọn chẳng có ích gì! Thường có thể suy xét, thấu hiểu thì một câu
cũng lợi ích có thừa; không thể suy xét, thấu hiểu thì đem kinh giáo trong Đại
Tạng viết hết cả ra cũng vô ích! Tình thế bây giờ chẳng phải là tình thế như trước
tháng Sáu năm nay. Giang
26. Thư trả lời các cư sĩ
Lưu Hán Vân và Dương Huệ Xương
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Gặp phải lúc tai nạn lớn lao xảy ra
này, nên tùy theo sức mình lập cách cứu tế hòng trọn hết thiên chức của chính
mình thì lợi ích lớn lắm. Quang một mực chẳng làm gì, phàm tất cả những tiền của
được [người khác] bố thí đều đem in sách, hoặc dùng để cứu trợ tai ương. Tháng
Sáu năm nay, Hán Khẩu xảy ra thủy tai trước tiên, thầy Minh Đạo lên Thượng Hải,
thay mặt quyên tặng một trăm đồng. Về sau, nước càng dâng cao, lại quyên tặng một
trăm đồng nữa. Một đệ tử do vùng Vu Hồ bị thủy tai, gởi thư [xin Quang đứng ra
tổ chức] lạc quyên cứu trợ. Quang trả lời ông ta: Quang một mực không quyên mộ,
huống gì đang lúc bế quan, ông đã nguyện mỗi năm cho tôi hai trăm đồng để làm
tiền chi dụng, xin hãy đem món tiền ấy cứu trợ, sau này vĩnh viễn không cần phải
cho tiền tôi nữa! Tùy ông quyên tặng hai trăm cũng được, mà bốn trăm, sáu trăm,
tám trăm hay một ngàn cũng được hết. Sau đấy, một đệ tử là ông Tào Tung Kiều lên
Giang Bắc cứu trợ tai ương, đánh điện khuyên Quang đóng góp, Quang gởi một ngàn
tiền in sách để cứu trợ. Ông Cao Hạc Niên gởi thư xin cứu trợ tai nạn, Quang sai
người giao cho ông ta hai trăm ba mươi đồng. Năm nay đã đóng góp cứu trợ tai
ương như thế, Quang nói lời này không phải là tự khoe công, mà là muốn cho các
vị đều cùng phát tâm, tùy phận tùy sức cứu tế. Có sức ra sức, không có sức thì
dùng lời nói khuyên người có sức, đấy cũng là chuyện tốt lành.
Lại
nữa, nữ nhân hiện thời, đồ trang sức trên đầu, xuyến đeo tay, hoa tai, nhẫn đều
chớ nên đeo, hễ đeo sẽ chuốc họa. Nếu để lại cho con cái sẽ gieo họa cho con cái.
Nếu chết đi chôn theo ắt sẽ gặp nông nỗi đào mồ lộ thây, nhục lắm! Nếu chịu
[đem những món trang sức ấy] cứu trợ tai nạn thì chính là “đưa họa đi, đón phước
tới” vậy. Xin hãy bày tỏ ý nghĩa này với hết thảy mọi người. Nếu hàng phụ nữ chịu
bố thí như vậy thì khoản tiền ấy lớn lắm. Đừng cho lời tôi là viễn vông, mà đây
là lời chí lý chí tình. Những người giàu có ở Cao Bưu, Thiệu Bá[8]
trước kia có lúc nào chẳng nghĩ đến con cháu, chẳng chịu [bố thí] cứu tế chút
nào, nước lũ dâng lên, nhà cửa, đồ đạc, người nhà đều tan đàn xẻ nghé, mười phần
chẳng còn được một! Mỗi thôn mấy chục nhà tìm một cái nồi, một cái lò cũng
không ra. Ông Tào Tung Kiều ở Dương Châu mua nồi, bếp, gạo, củi, cứ mấy chục
nhà biếu một cái nồi, dùng thuyền to chở đến. Trong mỗi thôn dùng thuyền nhỏ để
đưa tới. Nói đến [chuyện này] khiến người ta rơi nước mắt. Có nhà chưa sập thì
rắn lẫn rết đều cuộn đầy bên trên, người ta có muốn vào nhà cũng chẳng dám vào.
Trên cây cũng vậy, đáng thương vô cùng! Nếu những phụ nữ vẫn muốn giữ những vật
chuốc họa, chẳng chịu dùng để cứu tế, e rằng đời sau họ cũng gặp phải tai họa
này, không có ai chịu cứu vớt!
27. Thư trả lời cư sĩ Lưu
Đức Hộ
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Lệnh chánh[9]
đã biết cầu Tăng niệm Phật hầu tăng tuổi thọ, hãy nên tự mình thường niệm Phật
để cầu vãng sanh. Nếu chỉ dựa vào người khác để cầu sống lâu, chẳng biết cầu A
Di Đà Phật để khi tuổi thọ của chính mình chấm dứt được tiếp dẫn vãng sanh thì
chính là “thấy điều nhỏ, đánh mất chuyện lớn”. Nếu chịu chí thành niệm Phật, cầu
sanh Tây Phương thì lúc còn sống và mất đi đều có lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
Hôm qua, một nữ đệ tử đến đây, đem giùm những thứ thức ăn của một nữ đệ tử họ
Uông [gởi biếu cho Quang], kể: Họ Uông hai tháng trước đây, một hôm mới vừa xẩm
tối, đột nhiên hơn hai chục tên cường đạo đều cầm súng đến cướp. Trong căn nhà
lầu ấy, tầng trên, tầng dưới có [tổng cộng] bảy gia đình cư ngụ. Họ [Uông] ở
trên lầu, do vậy, bèn tắt đèn điện đi, vợ chồng họ quỳ trước Phật cầu nguyện,
nhưng đèn thắp trước bàn Phật dường như có ai thổi tắt đi. Bọn cường đạo đập cửa
không mở được, bèn không đập nữa. Sáu nhà kia đều bị cướp, chỉ mình họ chẳng mất
vật gì. Đủ biết: Người niệm Phật lúc bình thường còn có thể gặp dữ hóa lành, huống
gì lúc lâm chung! Lợi ích vãng sanh Tây Phương so với chuyện này còn lớn lao gấp
bội lần, chẳng thể nói trọn hình tướng được. Nên khuyên bà ta thường niệm thì
may mắn lắm thay!
28. Thư trả lời một cư sĩ ở
Diêu Duy
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Mỗi người nhập đạo đều có nhân duyên.
Nếu duyên đã đến sẽ có sự cơ cảm mầu nhiệm không thể diễn tả được. Quang là một
ông Tăng vụng về, yên phận, chỉ biết cơm cháo, xuất gia từ năm Quang Tự thứ bảy
(1881) đến nay, chỉ muốn tự giải thoát mà thôi, trọn chẳng có một niệm dám có
lòng tạo điều lợi cho người. Từ năm Quang Tự thứ mười chín (1893) đến Phổ Đà chẳng
làm chuyện gì, chỉ làm một ông Tăng ăn cơm chùa Pháp Vũ. Nếu ngẫu nhiên được
sai khiến làm chuyện gì dính đến bút mực, trọn chẳng dùng hai chữ Ấn Quang.
Ngay cả chuyện do chính mình tự làm cũng dùng tên khác. Vì thế, hơn hai mươi
năm khá được yên vui, suốt năm không một ai đến thăm, không một lá thư nào gởi
đến.
Đến
năm đầu Dân Quốc (1911), ông Cao Hạc Niên đem mấy bản thảo đăng trên Phật Học
Tùng Báo, nhưng không dùng tên thật nên cũng không ai biết. Trong khoảng thời
gian ấy, có một hai kẻ đa sự nghe ngóng. Đến năm Dân Quốc thứ năm (1916), ông Từ
Úy Như đã biết tới, muốn gởi thư, cậy người bạn dọ ý, Quang chẳng bằng lòng. Đến
năm Dân Quốc thứ sáu (1917), [ông Từ] đem ba lá thư của Quang gởi cho bè bạn in
ra mấy ngàn bản để biếu tặng. Năm sau, lại sưu tập được hai ba chục lá thư, đem
in ở Bắc Kinh, đặt tên là Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao. Từ đấy, cái tên Ấn Quang
thường gai mắt trái tai người ta, hạnh phúc tự tại trước kia hoàn toàn bị mất
đi! Từ ấy, thư từ ngày một nhiều, thậm chí có tháng đến hơn trăm lá, nhưng
Quang một mực chẳng muốn nhờ vả người khác, cứ bóc ra, viết, bỏ vào phong bì,
dán lại, hoàn toàn tự làm. Huống chi lại còn chuyện tình nghĩa qua lại, cảm thấy
khá khổ sở. Vì thế, năm trước đã chấp thuận lời thỉnh của mấy đệ tử ở Hương Cảng,
quyết ý muốn đi qua đó, do ngôn ngữ chẳng thông, lánh mình nơi hải đảo hòng được
yên vui cho xong kiếp thừa! Do Phổ Đà Sơn Chí chưa được biên soạn hoàn thành, bạn
bè cực lực giữ lại, liền bế quan ở Tô Châu.
Năm
ngoái, lo in riêng Lịch Sử Thống Kỷ bản Tăng Tu, nay đã in xong, chắc là ông đã
thỉnh được rồi. Phổ Đà [Sơn] Chí sắp được in, khoảng chừng tháng Mười sẽ in
xong. Hiện thời có sách Chánh Tín Lục đã in xong. Sách này đả phá tà kiến hẹp
hòi, câu nệ. Nay lại còn in nguyên văn Tịnh Độ Thập Yếu, so với bản trích tuyển
của Thành Thời đại sư[10]
nhiều hơn hai phần năm, lại còn kèm thêm mấy bài văn quan trọng để bổ túc cho
Thập Yếu rất nhiều. Ước chừng mùa Xuân năm sau sẽ in xong.
Quang
bình sinh chất phác, giữ phận ngu, trọn chẳng dám ăn nói lớn lối phô trương rỗng
tuếch để lầm mình, lầm người. Những gì được nói trong Văn Sao đều là những điều
ai cũng có thể làm được, lại còn tự được lợi ích thật sự ngay trong đời này. Nếu
ai chê Quang vô tri vô thức, chỉ đem chuyện ngu phu, ngu phụ [có thể] làm được
để dạy người thì cũng chẳng tiếc! Nhưng có người cho là hợp với cơ nghi của
chính mình, do đây sanh lòng tin tu trì, [những người như vậy] cũng chẳng thiếu.
Phải
biết: Trong Phật pháp, pháp môn vô lượng, muốn nương theo [những pháp môn ấy] để
tu trì hòng liễu sanh thoát tử, ắt phải đạt đến địa vị “nghiệp tận, tình không”
thì mới được. Nếu không, có mộng cũng mộng chẳng được! Chỉ có pháp môn Tịnh Độ,
nếu đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, lại thêm chí thành khẩn thiết
niệm Phật bèn có thể nương theo Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Hễ được vãng
sanh là đã liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Nếu chẳng nương vào pháp
này, tu những pháp môn khác thì chắc chắn khó thể liễu sanh thoát tử ngay trong
đời này. Đời này đã gặp được pháp này mà chẳng chú ý, tương lai há thể lại được
gặp pháp này để liền chú ý tu trì hay sao? Do vậy, hãy nên sớm chú ý nơi pháp
này.
Pháp
môn Tịnh Độ chẳng trở ngại hết thảy sự vụ thế gian, chỉ cần ai nấy tận hết bổn
phận, như cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân
từ, tôi tớ trung thành là được rồi! Ông là kẻ tại gia, tu hành rất hợp, thường
giữ tấm lòng “trừ bạo an lương” (trừ khử kẻ bạo tàn, khiến cho người lương thiện
được an vui), coi nhân dân như người nhà của chính mình, coi binh sĩ như anh em
của chính mình, ắt sẽ mong mỏi anh em bảo vệ người nhà. Hễ đi đến đâu đều răn
nhắc binh sĩ giữ tấm lòng trung hậu, khoan thứ, chẳng được cướp bóc, gian dâm
chút nào. Dẫu con người không biết, nhưng thiên địa quỷ thần ghi công chép tội!
Hoặc trong đời này, hoặc trong đời sau, quyết định phải chịu quả báo thiện hay ác,
quyết định chẳng thể “có nhân, không quả”!
Năm
Dân Quốc thứ tám, thứ chín (1919-1920), một quân nhân họ Dương là người hết sức
trung hậu, ưa điều thiện, làm sĩ quan trong quân đội trấn giữ Tung Huyện của đất
Thiểm Tây, ăn chay trường, tụng thuộc lòng kinh Kim Cang, mỗi ngày niệm mấy biến.
Trong quân ngũ mười năm, giao tranh hơn bốn trăm trận, khắp thân chưa hề mang một
vết thương lớn hay nhỏ. Thoạt đầu, ông ta muốn xin giải ngũ; do Lưu Trấn Hoa,
Hám Ngọc Côn đều là đồng hương, chẳng cho ông ta giải ngũ. Một năm nọ, do kéo
quân sang Hà Nam đánh nhau với Triệu Thích[11],
ông ta bèn đào ngũ. Từ đó triều bái Ngũ Đài, Nga Mi, Cửu Hoa, Phổ Đà. Đến Phổ
Đà, ở chùa Pháp Vũ, trò chuyện cùng Quang về tâm hạnh của ông ta, tiếc là thiếu
học vấn, chưa thể xiển dương đại pháp, tùy cơ lợi người.
Pháp
niệm Phật thì trong Văn Sao đã có [giảng] cặn kẽ, ở đây không viết chi tiết nữa.
Với quyến thuộc trong nhà đều nên dạy họ chí thành niệm Phật, lợi ích ấy lớn lắm.
Đời có kẻ ngu chẳng biết vì sao Phật là Phật, thường chấp chết cứng lẽ cung
kính, chẳng biết biến - thông, [chẳng hạn] như ăn mặn thì chẳng dám niệm. Lại
như nữ nhân khi có kinh nguyệt hoặc sanh nở bèn chẳng dám niệm. Phải biết: Ăn
chay là tốt nhất, nhưng ăn mặn cũng vẫn niệm được. Có kinh nguyệt thì thường rửa
ráy sạch sẽ, đừng dùng tay bẩn chưa rửa chạm vào kinh, tượng và thắp hương v.v…
Hễ rửa ráy sạch sẽ thì chẳng ngại gì. Nữ nhân khi sanh nở phải niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” ra tiếng, chắc
chắn chẳng đến nỗi bị sanh khó. Dẫu bị sanh khó mà chịu chí thành niệm cũng chắc
chắn sanh ngay. Điều này trước kia Quang không nói, sau này nghe rất nhiều người
hoặc mấy ngày mới sanh được, hoặc phải mổ, hoặc do sanh nở mà chết, nên thường
nói với hết thảy mọi người: Nếu khi sanh nở mà niệm thì không ai bị khó sanh!
Lúc
bình thường ắt phải cung kính, khiết tịnh; lúc ấy lõa lồ bất tịnh vốn là chuyện
bất đắc dĩ, [là chuyện] có liên quan đến tánh mạng. Chỉ cần trong tâm chí
thành, chẳng cần phải luận trên hình tướng bề ngoài. Nếu là lúc bình thường, ắt
cần phải mũ áo tề chỉnh, tay lẫn mặt đều sạch sẽ thì mới được niệm ra tiếng. Nếu
không, chỉ niệm thầm trong tâm thì công đức vẫn giống hệt như vậy. Vì thế, lúc
ngủ nghỉ, tắm rửa, tiêu tiểu, hoặc đến chỗ không sạch sẽ, đều niệm thầm trong
tâm. Chỉ khi nữ nhân đang sanh nở thì cần phải niệm ra tiếng vì niệm trong tâm
thì sức yếu, khó thể cảm thông. Nếu lại gắng sức, sợ bị thương tổn. Vì thế, nên
niệm ra tiếng. Ông đã muốn quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Tông Từ. Tông là
chủ, lấy tâm từ bi làm chủ để làm chuyện tự lợi, lợi tha thì mới không uổng kiếp
sống này, chẳng phí dịp gặp gỡ này.
Gần
đây, người ta thường ưa ham cao chuộng xa, hơi thông minh bèn học Thiền Tông,
Tướng Tông[12],
Mật Tông, phần nhiều coi niệm Phật là vô dụng. Họ chỉ biết sự huyền diệu của cơ
ngữ[13]
nhà Thiền, sự tinh vi của pháp tướng trong Tướng Tông, oai thần rộng lớn của Mật
Tông, nhưng chẳng biết: Thiền dẫu đạt đến địa vị đại triệt đại ngộ, nhưng nếu
chưa hết sạch Phiền Hoặc thì vẫn sanh tử y như cũ, chẳng thể liễu thoát được! Với
Tướng Tông thì nếu không phá sạch Ngã Chấp và Pháp Chấp, dù có hiểu rành rẽ đủ
mọi danh tướng[14],
cũng giống như “kể chuyện ăn, đếm của báu”, rốt cuộc có ích gì đâu! Với Mật
Tông thì tuy nói là có thể “thành Phật ngay nơi thân hiện tại”, nhưng quyết chẳng
phải là chuyện của hạng phàm phu sát đất có thể thành tựu được! Phàm phu lầm
sanh ý tưởng ấy bèn bị ma dựa phát cuồng, mười người hết tám chín người [bị như
vậy]. Do vậy, hãy nên chuyên chí vào một môn Niệm Phật là pháp tắc vô thượng bậc
nhất ngàn phần ổn thỏa, vạn phần thích đáng vậy!
29. Thư trả lời cư sĩ
Vương Hiểu Hy
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Thủy tai năm nay từ xưa đến nay chưa hề
nghe thấy. Tiền đồ nguy hiểm vạn phần, nếu ông đắc thần thông của Đại Lạt Ma
thì chẳng cần phải lo. Nếu không, hãy nên chí thành niệm Phật và niệm Quán Thế
Âm để làm kế dự phòng. Một pháp Mật Tông thật sự chẳng thể nghĩ bàn, nhưng tiểu
trượng phu dùng đến chưa chắc được lợi ích mà sẽ bị tổn hại trước. Xin đừng vói
quá cao, may ra sẽ tự được lợi ích thật sự. Nếu không, hơi bị nguy hiểm đấy! Sư
Hiển Ấm[15]
được chân truyền của Mật Tông, lại thông hiểu [giáo nghĩa] tông Thiên Thai, đã
là bậc Quán Đảnh Đại A-xà-lê hiển mật viên thông[16].
Phàm ai được thọ quán đảnh từ nơi sư đều có thể thành Phật ngay trong thân này,
nhưng Hiển Ấm khi mất rất hồ đồ (Sư chết tại Cư Sĩ Lâm, một đệ tử đích thân chứng kiến), chú cũng chẳng niệm được,
mà Phật cũng chẳng thể niệm, cho nên biết: Pháp ấy chẳng bằng pháp Niệm Phật ổn
thỏa, thích đáng hơn nhiều!
30. Thư trả lời cư sĩ Mẫn
Tông Kinh
(năm Dân Quốc 20 - 1931. Ông này vốn có tên
là Vĩnh Liêm)
Đọc
thư ông gởi cho thầy Minh Đạo, biết rõ tấm lòng vì dân, vì pháp, khôn ngăn mừng
rỡ, an ủi. Phàm khi phán xử kẻ phạm pháp, nên chiếu theo tội trạng và phải cân
nhắc khả năng của hắn. Nếu hắn không có tài lực, phạt quá nặng thì hắn do trót sa
chân sẽ vĩnh viễn không ngoi lên được[17],
cũng chưa khỏi thương tổn đạo nghĩa [của một người] “làm cha mẹ của dân”. [Kẻ
phạm tội] có tài lực thì [có thể phạt nặng] được, không có tài lực thì răn đe
mà thôi, sao cho ổn thỏa đôi đàng. Còn về chuyện xoay hướng cửa chùa, dựng điện
thờ khác, tượng đá của đức Bổn Sư trong điện cũ chẳng dời được, cần gì phải lo
nghĩ? Chánh điện đã thờ Bổn Sư thì điện phụ há chẳng thể thờ Bổn Sư nữa hay
sao? Cố nhiên, chẳng cần quá lo nghĩ về chuyện này! Ông đã từ chức, nếu cấp
trên không bằng lòng thì cố nhiên nên sửa sang theo lề lối cũ, chỉ cần giữ sao
cho giản dị, chất phác, đừng chuộng hoa mỹ. Chỉ mong mọi người thật lòng tin tưởng
thật sự tu hành, chẳng cần phải lập bất cứ kiến trúc, hay bầy vẽ bất cứ quang cảnh
nào.
Một
pháp Tịnh Độ ai ai cũng tu được, hễ tu đều có cảm ứng. Người thời nay phần đông
ham cao chuộng xa, đến nỗi có thể là vì bầy vẽ bề ngoài mà đâm ra gây trở ngại
cho lợi ích thật sự. Con người bây giờ hễ ra công [tu hành] liền nói đến chuyện
xây dựng trước, chẳng biết duyên do của Tịnh Độ, lại muốn nghiên cứu rộng khắp
kinh luận Đại Thừa, hoặc hâm mộ sự huyền diệu của Thiền Tông, hoặc hâm mộ sự
tinh vi của Tướng Tông, hoặc hâm mộ thần thông của Mật Tông, xem pháp “cậy vào
Phật lực để liễu sanh tử” như chuyện vô ích. Thiền Tông dù có ngộ, nhưng ai đạt
đến địa vị nghiệp tận tình không? Tướng Tông dẫu có thể nhớ rõ ràng danh tướng,
nhưng ai có thể thật sự phá được Ngã Chấp và Pháp Chấp? Thần thông của Mật Tông
và “hiện thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này) thì quả thật cũng có
chuyện ấy, nhưng chẳng phải là chuyện để hạng căn tánh như ông và tôi mong mỏi
được. Nếu muốn được thần thông, muốn được thành Phật ngay, thì do đấy bị ma dựa
phát cuồng rất nhiều! Sư Hiển Ấm đã thông hiểu [giáo nghĩa] tông Thiên Thai lại
được chân truyền của Mật Tông, đã là bậc Quán Đảnh Đại A-xà-lê. Phàm ai được
ông ta quán đảnh đều có thể thành Phật ngay trong thân này. Đến lúc ông ta chết
thì chú cũng chẳng niệm được, mà Phật cũng không niệm được. Trong lúc bình thường,
qua ý tứ của những lời Sư nói, trong lòng Sư thường nghĩ ta là bậc Pháp Thân Đại
Sĩ. Đến lúc lâm chung, còn thua bà cụ già một chữ không biết nhưng thật thà niệm
Phật có thể an nhiên niệm Phật qua đời nhiều lắm!
Ở
Thành Đô có Lưu X… lầm tưởng một người nữ đã chứng quả nên chỉ nghe lời một
mình người nữ ấy. Hễ ai bài bác, liền tuyệt giao không gởi thư nữa. Một lạt-ma[18]
ở Trùng Khánh nói là nương theo pháp của ông ta trong bảy ngày sẽ được vãng
sanh. Hễ vãng sanh liền thành Phật, trọn chẳng cần phải tu tập nữa. Những thứ
tri thức ấy nên kính nhi viễn chi, đừng thân cận ngõ hầu khỏi đến nỗi chưa được
lợi ích ấy mà đã bị tổn hại trước! Nếu không, chỗ bị tổn hại là điều chắc chắn,
còn chỗ lợi ích sợ rằng tại năm nảo năm nao! Nếu năm sau là năm nảo năm nao thì
cũng còn may mắn lắm, sợ rằng năm sau cũng vẫn chưa phải, chắc sẽ đến nỗi tuyệt
vọng!
31. Thư trả lời sư Truyền
Đức
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hiện thời là lúc tình thế nguy hiểm nhất.
Ông phát tâm bế quan, nhưng theo tôi thấy, chẳng bằng không bế quan hay hơn!
Ông ở trong quan phòng chẳng thể lo liệu việc bên ngoài. Nếu có cường đạo đến
trộm hoặc cướp, ông làm như thế nào đây? Nay các nơi lụt lội, dân bị thiên tai
lưu lạc bốn phương, không biết là bao nhiêu (nỗi nguy hiểm sau này nào phải chỉ có thế, sợ rằng sẽ còn có cuộc chiến
tranh lớn nữa). Bên trong có bọn giặc thì khó tránh khỏi có thứ hành vi sai trái ấy. Nếu bế
quan, gặp phải chuyện ấy, sẽ dàn xếp như thế nào đây? Ví như lại do bế quan cho
nên mời mọc thí chủ đến [dự lễ] khóa cửa quan phòng, một cổng lại khóa nhiều lần,
bọn cướp ắt cho là hòa thượng đang bế quan này có tiền, ắt sẽ nẩy sanh ý niệm bất
lương. Các ổ khóa ở cánh cổng quan phòng chính là căn cứ để chuốc họa đấy!
Ông đã thiếu học vấn, chỉ nên chí thành
khẩn thiết, sáng chiều tụng niệm. Ngoài ra, lập ra mấy thời niệm kinh (tùy theo khả năng của chính mình). Đối với việc niệm Phật, có
thể chiếu theo thời mà niệm cũng được. Nếu không, suốt ngày thừa dịp thuận tiện
[mà niệm], chẳng luận đi - đứng - ngồi - nằm (hễ nằm thì nên niệm thầm, chớ nên niệm ra tiếng). Nói chung, lấy niệm Phật
làm chánh. Nhưng cần phải sanh lòng tin, phát nguyện, cầu sanh Tây Phương, vạn
phần chớ nên cầu phước báo đời sau. Nếu cầu phước báo đời sau thì chính là phá
giới trái pháp, vì pháp môn niệm Phật chính là pháp môn dạy người cầu sanh Tây
Phương. Ông đã niệm Phật, chẳng cầu sanh Tây Phương, lại muốn cầu đời sau, tức
là chẳng tuân lời Phật dạy. Đấy là pháp Phật dạy người như thế, phải nhất định
tuân theo, ông chẳng chịu tuân theo, nên gọi là “phá giới, trái pháp”. Nếu đời
này còn có tu trì, đời sau chắc chắn có phước thế gian để hưởng. Hễ hưởng phước,
chắc chắn phải tạo ác nghiệp (nay
cõi đời loạn lạc đến như thế, quá nửa là do những kẻ đời trước tu si phước ươm
thành). Đã tạo
ác nghiệp thì khổ báo về sau chẳng nỡ nói ra. Quang nói như vậy, nghe theo hay
không tùy ông. Sau này đừng gởi thư đến nữa vì Quang già rồi, chẳng thể thù tiếp
được!
32. Trả lời thư cư sĩ Ninh
Đức Hằng và Ninh Đức Phục
(năm Dân Quốc 20 - 1931. Hai người này đều
là em trai ông Đức Tấn)
Thế đạo nhân tâm hiện thời bại hoại đến
cùng cực. Phàm đạo đức, nhân nghĩa, hiếu, từ, liêm khiết, tiết nghĩa do thánh
hiền truyền thuật đều bị vứt bỏ. Phàm những chuyện xưa kia chẳng nỡ thấy nghe,
chẳng chịu nhắc đến, [bây giờ] đều cực lực đề xướng, mong sao nhất trí tiến
hành. Những nơi chốn hay nhà trường để cho nam nữ tự do luyến ái, lõa thể ôm
nhau khiêu vũ chẳng biết nổi con số! Trong trường đại học vẽ hình lõa thể để
mong mỹ thuật tiến bộ. Mỹ thuật cố nhiên tiến bộ, nhưng hoàn toàn chẳng lo nhân
đạo thụt lùi, súc sanh đạo tiến bộ ư? Các con đều đang độ tuổi thiếu niên, phải
biết tốt - xấu, chớ trúng phải độc khí của những thứ tà thuyết diệt luân diệt
lý ấy, thì sau này còn có thể tự lập trong vòng trời đất, không hổ thẹn. Nếu
không, dẫu tài cao học rộng, đối với mình, đối với người nào có ích chi?
Các
con phải biết nhân quả báo ứng trọn không sai xẩy. Tuy nhất thời chưa thể thấy
được, nhưng sau mấy chục năm, chắc chắc không gì chẳng thấy! Huống chi chết đi,
đời sau và những đời kế tiếp phàm phu có biết được hay chăng? Ngày nay thế đạo
bại hoại là vì Nho gia phần nhiều chẳng tin nhân quả báo ứng và sanh tử luân hồi.
Những nhà Lý Học ấy trộm lấy ý nghĩa trọng yếu trong kinh Phật để hoằng dương
Nho tông, ngược ngạo coi đạo phổ độ chúng sanh của đức Phật là mê hoặc ngu xuẩn
bọn phàm tục ngu ngốc, chê bai, bài bác đến nỗi hễ là nhà Nho thì chẳng chịu
dùng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi để khuyên dạy, mọi người đều cho là
[nhân quả, luân hồi] dường như có, dường như không. Vì vậy, thế đạo ngày càng tệ
bạc! Những kẻ trọn đủ khí khái đội trời đạp đất chẳng bị xoay chuyển bởi thói
phàm tục thì chẳng được mấy người. Một cơn gió Âu vừa thổi tới, hùa nhau theo
gió biến đổi tận gốc càng dữ dội hơn. Bởi vậy, thế đạo ngày nay, tình người như
nước, lễ pháp như đê; bỏ cái đê lễ pháp đi há ngăn được lòng ham muốn của con
người hoành hành?
Lòng
ham muốn của con người đã tung hoành thì sẽ ra sức trừ bỏ lễ pháp. Do vậy, [lòng
ham muốn dữ dội của con người] cảm vời nước lũ dâng khắp nơi, đê đập trên sông
ngòi nơi nơi bị vỡ, biết bao nhân dân bị chết chìm. Những kẻ chưa chết thì
không áo, cơm, chỗ ở, than lạnh, rên đói, chẳng nỡ thấy nghe! Dẫu có bậc chuộng
điều thiện ra sức quyên góp, nhưng vì người đông, khoản đóng góp ít, khó thể
giúp trọn khắp được! Nhưng càng phải nên quyên góp nhiều hơn để tu bổ đê đập
trên sông ngòi. Nếu không tu bổ thì từ nhỏ sẽ thành lớn, nước tràn dâng khắp
cùng. Nếu tu bổ thì thật sự không có được tài lực ấy. Huống chi giặc cướp bạo
tàn, Nam - Bắc thù nghịch, nước ngoài ngang ngược lấn hiếp. Người dân trong lúc
này thật có thể nói là đáng thương xót quá, nhưng không biết kêu gào vào đâu!