Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên
Phần 3
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh:
Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
51. Thư gởi cư sĩ Cao Khế Lý
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Mẹ ông đã bảy
mươi mốt tuổi rồi, ngày tháng không còn nhiều nữa. Hãy nên bảo quyến thuộc
trong nhà: “Mọi người hằng ngày hãy thay phiên nhau niệm Phật trước mẹ”. Vì sao
vậy? Do bọn họ lúc thường ngày nếu không niệm Phật thì tới lúc mẹ ông sắp mất,
họ cũng sẽ chẳng chịu niệm. Lúc bình thường đã quen niệm, đến lúc ấy sẽ niệm được.
Phải thỉnh một cuốn Sức Chung Tân Lương gởi về nhà cho bọn họ đọc, ngõ hầu hiểu
được người đến lúc lâm chung phải nên [làm] như thế nào thì mới hữu ích, như thế
nào sẽ bị tổn hại. Đã biết những điều thế tục thường làm đều là chuyện “đã bị té xuống giếng còn bị quăng đá” sẽ
chẳng đến nỗi cứ nghĩ những chuyện ấy mới là hiếu, khiến cho mẹ chẳng được vãng
sanh, ngược lại càng bị đọa lạc hơn.
Nay
đặt pháp danh cho mẹ ông là Đức Siêu, nghĩa là: Do nhất tâm niệm Phật, liền có
thể siêu xuất tam giới, cao đăng chín phẩm sen báu. Hãy răn nhắc [bà cụ] đừng cầu
phước báo trời - người trong đời sau. Nếu có cái tâm mong cầu cho đời sau, chắc
chắn chẳng được vãng sanh Tây Phương! Chuyện này khẩn yếu tột bậc! Giúp cho cha
mẹ được vãng sanh thành công chính là giúp cho cha mẹ thành Phật! Công đức ấy cực
lớn, không thể sánh tầy! Nếu phá hoại chánh niệm của cha mẹ khiến cho họ chẳng
được vãng sanh thì tội lỗi ấy cũng cực lớn không thể sánh tầy! Ông hãy dốc chí
nhé!
52. Trả lời thư cư sĩ Lý Thọ Đường
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hôm trước, thư
ông được Bắc Bình Khắc Kinh Viện chuyển đến đây, [xem thư] biết ông khá có tín
tâm. Nay đặt cho ông pháp danh là Huệ Ấm, nghĩa là dùng trí huệ để bẩm thọ pháp
môn Niệm Phật của đức Như Lai hòng tự che chở, che chở cho người, khiến cho những
chúng sanh bị nhiệt não[1]
bức bách kia cùng được che rợp, được mát dịu trong đời hiện tại, liễu sanh
thoát tử ngay trong đời này. Chỉ y theo Gia Ngôn Lục tu trì, chắc chắn sẽ được
lợi ích rốt ráo. Đừng nên học theo những pháp luyện đan[2],
vận khí v.v… của ngoại đạo. Nếu trước kia đã từng học, hãy hoàn toàn bỏ đi thì
mới có lợi ích.
Lại
nên dạy bảo quyến thuộc trong nhà và hết thảy những kẻ hữu duyên bên ngoài khiến
cho họ đều chí thành niệm Phật. Nếu chịu chân thật niệm thì trong đời này ắt gặp
dữ hóa lành, lâm chung quyết định vãng sanh Tây Phương; lợi ích ấy làm sao diễn
tả được? Ai nấy lại cần phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng
tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, đề xướng nhân
quả ba đời, luân hồi lục đạo, khiến cho hết thảy mọi người đều giữ tấm lòng tốt
lành, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt lành. Người niệm Phật làm được như thế
thì là đệ tử thật sự của Phật. Ông từ mấy ngàn dặm gởi thư đến mà sao ghi địa
chỉ vẫn viết tháu, chẳng cẩn thận, đúng lề lối, có thể làm hỏng chuyện vậy? Chỉ
một chuyện này đủ biết ông làm việc phần nhiều chẳng nghiêm túc rồi!
53. Thư trả lời cư sĩ Phùng Thiên Tây và Trịnh Viên Oánh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Ba bốn hôm trước
nhận được thư và hối phiếu (money order) một trăm đồng, đã nhận rồi, đừng lo.
Ngay hôm ấy, Hoằng Hóa Xã đã gởi hơn ba chục bộ sách cho các vị, chắc là đã nhận
được rồi. Do bận bịu không rảnh rỗi nên chưa phúc đáp được. Trộm nghĩ: Chúng
sanh đời Mạt Pháp căn cơ cạn mỏng, nếu không cậy vào Phật lực, chắc chắc khó thể
liễu thoát. Do vậy, phải giữ chắc một môn “tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”
thì mới có thể thoát khỏi cõi Ngũ Trược này, lên cõi chín phẩm sen kia. Nếu lầm
lẫn cho mình là cao quý, muốn cậy vào sức chính mình để tu các pháp môn Thiền,
Giáo, Mật hòng liễu sanh tử thì phần nhiều sẽ là “có nhân, không quả”. Vì sao vậy?
Dù có thể triệt ngộ tự tâm, thâm nhập kinh tạng, nhưng chưa đoạn hết sạch Phiền
Hoặc, chắc chắn chẳng có phần liễu sanh tử, huống hồ kẻ chưa thể triệt ngộ tự
tâm và chưa thể thâm nhập ư? Mật Tông đề xướng “thành Phật ngay trong thân này”
cũng chẳng phải là điều ai cũng có thể làm được! Người học Mật Tông thường bị
ma dựa, đều là do chẳng biết tự lượng, lầm lạc muốn đắc thần thông và thành Phật
mà ra!
Quý
vị đã trọn đủ tín tâm, nên y theo pháp môn Tịnh Độ mà Quang đã nói để tu. Nên
biết: Pháp này chính là pháp được hoằng dương bởi chư Phật, chư Tổ, chư đại thiện
tri thức, Quang bất quá dựa theo ý nghĩa của lời chư Phật, chư Tổ, chư đại thiện
tri thức mà truyền thuật lại. Đừng nói: “Ông là hạng người gì mà dám bảo người
khác bỏ những pháp môn Thiền, Giáo, Mật do đức Phật đã nói để chuyên y theo lời
ông nói đó mà tu ư?” Nếu nói như vậy chính là chẳng y theo lời Phật dạy, bởi những
gì Quang đã nói chính là những gì mười phương ba đời chư Phật đều cùng nói. Há
có nên vì Quang bất tài mà chẳng tin tưởng ư? Hiện thời tà ma, ngoại đạo nhiều
khôn kể xiết, họ đều nói chính họ mới thật là bậc nhất. Quý vị chớ bị những loài
ma con ấy mê hoặc. Nếu trước kia đã từng dự vào môn hộ của chúng, hãy nên bỏ sạch
hết đi. Chớ nói “lúc nhập môn đã thề độc, sợ bỏ đi chắc sẽ mắc họa!” Phải biết:
Bỏ tà theo chánh, sao mắc họa được? Chẳng những không mắc họa, lại còn có công
đức. Những điều khác đã nói tường tận trong Văn Sao, ở đây không viết chi tiết.
Những
sách đã gởi đến đó, cứ chiếu theo khả năng của người ta mà trao ra, đừng nhất định
phải trao sách theo đúng số tiền người ta đã trả. Nay tôi gởi một trang danh mục
sách của Hoằng Hóa Xã, nếu có ai thỉnh nhiều để tặng cho người khác hòng kết
duyên thì cứ dựa theo giá tiền trong danh sách mà thỉnh. Nếu có gởi tiền thì
trên bưu phiếu xin đề rõ là Bưu Cục ngõ Dưỡng Dục, Tô Châu sẽ đỡ mất công nhiều
lắm. Nếu chỉ viết là Tô Châu thì phải đưa về Tổng Cục [bưu điện], cách chùa Báo
Quốc khoảng bốn dặm, gởi đi giao về khá bất tiện. Sợ người đưa tiền ghi tên
[sách] không rõ ràng, xin hãy đem danh mục gởi lại kèm theo thư để khỏi đến nỗi
chẳng thỉnh được sách rồi đâm ra nghi ngờ!
54. Trả lời thư cư sĩ Trầm Di Sanh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Nói đến chuyện
làm câu đối để treo hai bên chữ “Phật” lớn, nay tôi soạn một cặp liễn, không biết
có dùng được hay không? “Mê ngộ tình
không chứng tự tánh. Thánh phàm kiến tận hiển duy tâm” (Mê, ngộ, tình
không, chứng tự tánh, thánh phàm Kiến[3]
hết tỏ duy tâm). Nếu viết theo lối tám chữ thì là “mê ngộ tình không, viên minh tự tánh; thánh phàm kiến tận, triệt chứng
duy tâm”. Lối văn tám chữ ý nghĩa cũng hay, tùy ý sử dụng. Phàm phu đang
mê, tam thừa tuy ngộ, nhưng chưa đạt đến địa vị “mê lẫn ngộ đều mất” cho nên
chưa thể chứng tự tánh rốt ráo viên mãn. Phàm phu có tình kiến phàm phu, thánh
nhân có tình kiến thánh nhân, chỉ có đức Phật không có cả hai thứ kiến ấy. Do vậy,
[đức Phật] triệt để tỏ lộ lý thể Duy Tâm.
Niệm
Phật nhắm mắt dễ bị hôn trầm. Nếu không khéo dụng tâm rất có thể gặp cảnh ma!
Chỉ buông hờ mí mắt (tức
là như mắt các tượng Phật vậy) thì tâm sẽ lặng xuống, chẳng sôi động, cũng chẳng bị hỏa bốc
lên đầu. Nếu ông niệm Phật mà trên đầu [dường như] có vật gì rờ đụng, hoặc lôi
kéo v.v… là vì suy tưởng trong lúc niệm Phật khiến cho sóng tâm thức dâng trào
đến nỗi tâm hỏa bốc lên. Nếu buông rủ mí mắt và hướng tâm suy tưởng xuống phía
dưới thì tâm hỏa chẳng bốc lên, bệnh ấy sẽ mất đi. Chớ nên lầm tưởng [hiện tượng]
ấy là công phu [đã đạt đến mức], cũng đừng sợ đấy là ma cảnh, chỉ chí thành nhiếp
tâm mà niệm, và tưởng bản thân đang ngồi hoặc đứng trên hoa sen, nhất tâm tưởng
ta đang ngồi hay đứng trên hoa sen thì hiện tượng ấy sẽ tự nhanh chóng biến mất
(Nếu chẳng dám
tưởng đang ngồi hay đứng trên hoa sen, sợ rằng có thể gặp ma sự, hãy chỉ nghĩ đến
phía dưới bàn chân thì tâm hỏa lẫn hơi nóng trên đầu đều chẳng phát sanh nữa). Hiện nay
tà ma ngoại đạo rất nhiều, chớ nên ôm lòng thăm dò, tu thử chút nào! Nếu có cái
tâm ấy, ắt sẽ bị chúng dụ dỗ. Hễ lọt vào tròng của chúng, ắt sẽ đến nỗi mất trí
phát cuồng. Nghe nói một vị pháp sư rất có tiếng tăm nay đã tự mình ăn thịt, dạy
người khác ăn thịt, lại còn dạy người khác hủy hoại tượng Phật, ông ta đã hiện rõ
tướng ma rồi đấy!
55. Thư trả lời cư sĩ Hoàng Hàm Chi
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Bài Tây Quy Tụng
của Tử Kiến Ông[4]
gồm một trăm sáu mươi chữ, ý nghĩa gần như chấp nhận được, nhưng văn từ còn vụng
về, thiếu lưu loát, chỉ làm cho xong chuyện mà thôi. Cư sĩ [Khuất] Văn Lục đã
ăn chay, trong khi tang ma, tế thần, đãi khách đều nên dùng đồ chay để khởi nguồn
phong hóa cho địa phương. Muôn phần chớ nên thuận theo tục cũ, phô trương bày vẽ,
sát sanh, tấu nhạc, biến đám ma thành tiệc tùng vui chơi, ngõ hầu đối với cha mẹ,
đối với chính mình, đối với khách khứa, đối với xóm giềng đều có lợi ích. Hiện
nay vận nước nguy ngập, bất luận là ai đều nên niệm Phật, niệm Quán Âm để làm kế
dự phòng. Ngoại trừ cách này ra, làm bất cứ cách nào, chẳng lay chuyển được
nghiệp nào, chỉ thành uổng công nhọc nhằn mà thôi. Mong hãy đem điều này nói với
hết thảy những người hữu duyên.
56. Thư trả lời cư sĩ Đàm Thiếu Phủ
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Nhận được tin cáo
phó lần trước, tính nói gốc - ngọn cùng ông ngõ hầu có ích cho cha mẹ, chẳng tổn
hại chính mình, nhưng vì bận bịu không rảnh rỗi, rốt cuộc chưa thể trả lời thư
được. Lần này nhận được thư ông là do Vi Nghiễm gởi từ chỗ anh ông ta tới, cũng
đã gần mười ngày rồi. Nên biết: Người trong thế gian chỉ biết chú ý đến thân
xác, đến nghi thức, chứ đối với hai phương diện tâm thức và lợi ích đều bỏ qua
không xét đến. Dường như là muốn làm chuyện lợi ích, nhưng thật ra chỉ là làm
chuyện sướng tai khoái mắt người đời, chẳng làm vì linh hồn của vong linh. Ông
đã quy y Phật pháp, hãy nên dốc cạn lòng thành niệm Phật, hồi hướng cho cha mẹ
và dạy quyến thuộc trong cả nhà đều nén đau thương niệm Phật thì đối với cha mẹ,
đối với chính mình đều có lợi ích lớn.
Hiện
thời, vận đời nguy ngập, nếu có thể chí thành niệm Phật, chắc chắn sẽ gặp dữ
hóa lành. Nếu không, họa hại trong hiện thời khác hẳn khi trước, đúng là [muốn]
tránh né nhưng không thể nào tránh né được, [muốn] ngăn ngừa nhưng không thể nào
phòng ngừa được, cuộc sống người dân lúc này đáng thương đến cùng cực. Hãy nên
nói cặn kẽ với quyến thuộc thì người còn lẫn kẻ mất đều hưởng lợi ích. Chùa miếu
ở Quảng Châu đều bị hủy bỏ, mà cũng chẳng có Tăng chúng rất chân thật tu hành;
gần đây càng thêm điêu linh thì chẳng có cách nào tìm được chân tăng! Chỉ có
chính mình đem lòng chí thành niệm Phật, so với việc thỉnh tăng sĩ ăn thịt uống
rượu đến niệm kinh, bái sám, công đức lớn hơn nhiều lắm! Niệm Phật là chuyện
quan trọng nhất trong đời người, không phải là vì cha mẹ mất rồi mới niệm, còn
lúc bình thường chẳng niệm! Làm đám tang cho cha mẹ [thoạt trông thì dường như
chỉ] vì cha mẹ, nhưng thật ra, chính do cái chết của cha mẹ đã dẫn khởi các ông
cùng chứng đại sự “muôn kiếp chẳng chết” vậy. Phải biết cảm ơn, hãy sốt sắng niệm
Phật để báo ân.
57. Thư trả lời cư sĩ Trương Vân Lôi
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Trong lúc cõi đời
loạn lạc này, mọi việc nên đơn giản là hay nhất. Nếu bày thêm chuyện phụ thuộc
thừa thãi “có cũng được mà không cũng chẳng sao” thì sẽ gây phiền phức lớn lắm.
Quán Âm Linh Thiêm[5]
rất hay, nhưng nên cầu nơi chính mình. Nếu chân thành, thiết tha, không dối trá
sẽ tự được Bồ Tát gia bị. Nếu cái tâm cầu nơi chính mình không chân thành, Bồ
Tát cũng khó gia bị được. Sách Lịch Sử Thống Kỷ tôi đã bảo thầy Minh Đạo chiếu
theo [thư yêu cầu] gởi đi, lại còn bảo gởi hai bộ Phổ Đà Chí, tổng cộng là bốn
bộ. Một bộ ông tự giữ, một bộ đưa cho Hồ Phụng Trần, hai bộ kia tùy theo cơ
duyên mà tặng.
Sanh
con không khó, dạy con rất khó. Rất nhiều kẻ chẳng hiểu việc, không có con bèn
cầu Bồ Tát, đến khi có con chỉ biết quý báu; do đấy nuôi thành hạng hư hỏng nhiều
lắm. Ví như trồng lúa, chỉ biết tìm hạt giống tốt và ươm cho lên mạ rồi thôi, tất
cả những chuyện trừ cỏ dại, bón, tưới v.v… đều nhất loạt chẳng ngó ngàng tới.
Giống lúa ấy tuy tốt, còn mong chi thâu hoạch được chăng? Như Quang hiểu biết,
đến chín mươi chín phần trăm những kẻ không con và đông con đều là loại kết quả
này. Chỉ có mình cha của Diêm Đan Sơ (Kính Minh) là người thương yêu con bậc nhất từ xưa đến nay. Cho nên
nhờ các vị hương thân trưởng thượng [kềm cặp] khiến cho con ông được bổ vào Hàn
Lâm, rồi làm quan to. Ông dạy con nghiêm ngặt cũng là thiên hạ xưa nay chưa hề
có. Một mặt vun bồi đức hạnh, một mặt tận lực dạy dỗ. Nguyên do là vì yêu
thương con thật sự. Lòng thương yêu của những kẻ khác thường là còn tệ hơn giết
con, bởi giết con thì chỉ có một người chết. Đứa con không dạy dỗ sẽ chẳng nghiệp
gì không làm, vĩnh viễn đọa trong tam đồ ác đạo. So với nỗi thảm khốc của một lần
chết nào phải chỉ khác biệt như trời với vực! Sợ ông chẳng tránh khỏi [như vậy]
nên tôi phải nói toạc ra trước để đề phòng!
58. Thư trả lời cư sĩ Từ Thư Dung
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Nhận được thư
ông, biết đạo tâm chưa lui sụt, chí hướng vẫn cao, khôn ngăn mừng rỡ, an ủi. Hãy
nên biết: Học thánh, học Phật đều lấy “giữ
vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các
điều ác, vâng giữ các điều lành” làm gốc. Lại còn phải giữ phận khiêm nhường,
ẩn giấu tài năng, noi theo cổ nhân, tận tụy dõi theo đường lối thực tiễn. Làm
được như vậy thì học vấn lẫn phẩm hạnh đều vượt trỗi những kẻ tầm thường. Thông
thường những kẻ thông minh đều kiêu căng, khoe khoang, phô tài, chua ngoa, khắc
bạc, tâm hoàn toàn thiếu sự hàm dưỡng. Kẻ ấy nếu không suốt đời trắc trở, ắt sẽ
chết yểu lúc trẻ! Ông đời trước nhiều may mắn, vun bồi được thiện căn này, hãy
nên dốc hết sức vun bồi ngõ hầu có thành tựu.
Kẻ
thông minh dễ phạm nhất chỉ có sắc dục, nên thường giữ tâm kiêng sợ, đừng để nẩy
sanh chút tà vọng nào. Nếu như ngẫu nhiên khởi lên ý niệm ấy, liền tưởng: Mỗi một
cử động của chúng ta, thiên địa, quỷ thần, chư Phật, Bồ Tát không vị nào chẳng
biết hết, thấy hết! Trước mặt người khác còn chẳng dám làm quấy, huống gì là đối
trước chỗ Phật, trời nghiêm túc cẩn mật, lại dám ôm giữ ý niệm tà vạy tệ hại và
làm chuyện tà vạy tệ hại ư? Mạnh Tử nói: “Sự
thục vi đại? Sự thân vi đại. Thủ thục vi đại? Thủ thân vi đại” (Thờ ai là chuyện
lớn? Thờ cha mẹ là chuyện lớn. Giữ gì là chuyện lớn? Giữ cái thân là chuyện lớn).
Nếu không giữ được cái thân, dù có phụng dưỡng cha mẹ cũng chỉ là hình thức bề
ngoài mà thôi, chứ thật ra là coi rẻ di thể nhận từ cha mẹ, đấy chính là bất hiếu
lớn lắm! Do vậy, Tăng Tử lúc sắp mất, mới nói: “Phóng tâm vô lự” (tâm thảnh thơi không lo lắng). Kinh Thi chép: “Chiến chiến cạnh cạnh, như lâm thâm uyên, như lý bạc băng, nhi kim,
nhi hậu, ngô tri miễn phù” (Dè dặt, đề phòng, như vào vực sâu, đi trên băng
mỏng, hiện thời, mai sau, ta biết tránh khỏi). Chưa đến lúc ấy vẫn phải giữ
lòng dè dặt, Tăng Tử còn như vậy, huống gì là lũ phàm tục, tầm thường chúng ta
ư?
Nay
gởi cho ông một bộ Lịch Sử Thống Kỷ, hai cuốn Thọ Khang Bảo Giám, ba cuốn Gia
Ngôn Lục. Thống Kỷ thì ông tự giữ để biết [cõi đời] bình trị hay loạn lạc, biết
gương nhân quả. Thường xem Thọ Khang Bảo Giám thì chẳng đến nỗi phạm tà dâm và
thủ dâm v.v... tự hại cuộc đời, tự hao phước thọ, chẳng bị tàn phế và chết
chóc. Hãy nên tặng một cuốn sách này cho ông Lý Hồng Nghiệp, còn Gia Ngôn Lục
thì ông với ông Cổ, ông Lý, mỗi người một cuốn. Y theo đó tu trì thì pháp thế
gian lẫn pháp xuất thế gian đều biết được cương lãnh trọng yếu.
Cổ
Vệ Sanh, Lý Hồng Nghiệp đã muốn quy y thì nay đặt pháp danh cho Vệ Sanh là Huệ
Sanh, nghĩa là dùng trí huệ cầu sanh Tây Phương, vĩnh viễn chứng đạo bất sanh bất
diệt để tự bảo vệ mình, bảo vệ người, cùng được bất tử. Đặt pháp danh cho Hồng
Nghiệp là Huệ Nghiệp, nghĩa là dùng trí huệ để đoạn trừ ác nghiệp thế gian, tu
trì Tịnh nghiệp vãng sanh Tây Phương. Sự nghiệp như thế mới là “hồng nghiệp” (sự
nghiệp vĩ đại). Tu thân lập nghiệp cho đến thành thánh, thành hiền trong thế
gian nếu đem so với sự nghiệp vãng sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử thì nhỏ
bé vô cùng! Xin hãy đem đoạn thư này chép lại cho hai người ấy đọc, hoặc đem cả
lá thư chép lại cho họ xem. Dẫu họ đã đến tuổi hoa giáp (sáu mươi) cũng được lợi
ích, huống chi họ là hàng hậu sinh vừa mới qua tuổi đôi mươi!
59. Thư trả lời cư sĩ Kim Thiện Sanh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Trong đời trước,
con người nghiệp nào chẳng tạo? May mắn được nghe Phật pháp, hãy nên sốt sắng
tu trì để mong tiêu trừ túc nghiệp, siêu độ oan gia. Tất cả oan gia tuy khó cởi
gỡ nhưng nếu chịu phát tâm Bồ Đề và thành tâm siêu độ sẽ không có [mối oán kết
nào] chẳng cởi gỡ được! Ông niệm Phật bị nghẹn hơi chẳng phải vì thân thể yếu
đuối mà là do nghiệp chướng tạo ra, ông chỉ nên khẩn thiết, chí thành niệm. Nếu
niệm không được thì tâm hãy thường tưởng nhớ. Nếu niệm được thì vẫn cần phải
dùng miệng để niệm, không thể niệm được thì chỉ tâm chuyển, tâm nhớ, lâu ngày
nghiệp ấy sẽ tiêu. Từ rày, phàm khởi tâm làm việc đều phải hướng theo phương diện
ăn ở cho có tình nghĩa nồng hậu mà làm. Ăn ở trọn vẹn tình nghĩa thì thêm phước,
ăn ở bạc bẽo thì chẳng đạt được phước gì! Nếu lại còn khắc nghiệt, hiểm độc,
gian xảo thì giống như đảnh núi chót vót, mưa đẫm cách nào cũng không nhận được,
bất cứ cây cỏ gì cũng không mọc được!
60. Thư trả lời cư sĩ Cát Chí Lượng
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Hôm
trước nhận được thư, khôn ngăn mừng - thẹn đến cùng cực. Vui là vì dường như cư
sĩ đã có cơ chuyển biến, chẳng còn cậy mình thông minh như trước, nói bừa đạo
lý, tôn sùng khoa học, miệt thị Phật pháp. Thẹn là vì tôi là một ông Tăng vô
tri vô thức, tầm thường chỉ biết cơm cháo, nếu ai học theo tôi đều thành thân
phận ngu phu ngu phụ. Muốn làm bậc đại thông gia, hãy nên bái một vị đại pháp
sư dựng cao tràng pháp để khỏi uổng cái tâm quy y. Nếu thờ Quang làm thầy, sau
này do Quang vô tri vô thức sẽ hối hận, bỏ đi, hóa ra là một phen làm chuyện vô
ích! Nhưng Quang là kẻ thẳng tánh, ăn nói thẳng tuột, ông đã lầm lẫn gởi thư
cho Quang, cố nhiên Quang không dám chấp nhận, nhưng cũng chẳng ngại trao đổi mấy
câu để giúp cho việc lập thân hành đạo, liễu sanh thoát tử mai sau. Như kẻ
không chân chỉ đường, dẫu chẳng thể đi được một bước, nhưng chẳng ngại gì hỏi tới
để nhờ đấy mà về được nhà.
Những
gì ông nói đều toàn là cậy vào ý kiến của chính mình, chẳng lấy thật lý, thật sự
làm chuẩn. Nay ông đã biết sai, ắt phải cực lực đối trị tập khí ấy. Không trừ
được tập khí ấy thì mỗi một cử động đều có thể tổn phước, chuốc họa. Câu nghi vấn
đầu tiên của ông chính là lời hủy báng, chứ tuyệt đối chẳng phải là nghi vấn! [Dùng
chữ] “nghi vấn” chính là chơi chữ để che đậy. So với chuyện nói thẳng thừng là không
tin, lỗi lầm ấy còn lớn hơn nữa. Nếu vẫn cứ giữ thói ấy, chẳng biết sửa đổi ắt sẽ
có ngày bị ma dựa phát cuồng! Thuốc hay đắng miệng, không biết cư sĩ có chịu uống
hay không?
61. Thư trả lời cư sĩ Vương Tâm Thiền
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Mẹ ông đã có thể niệm
Phật thì hãy nên bảo các cô con dâu cùng bầu bạn niệm Phật với mẹ. Lại nên
khuyên cụ ăn chay trường để trợ thành đạo nghiệp cho mẹ, đó là hiếu. Nếu chỉ
nghĩ “đừng niệm Phật, sợ nhọc nhằn tâm lực; đừng ăn chay, sợ rằng chẳng hợp
phép dinh dưỡng” là hiếu thì lòng hiếu ấy giống như La Sát nữ yêu thương con
người vậy. Lòng hiếu ấy phá hoại đạo nghiệp của mẹ, khiến cho cụ vốn có thể liễu
sanh thoát tử lại đâm ra ở mãi trong sanh tử. Lòng hiếu ấy chính là lòng hiếu
“đã xô xuống giếng, lại còn quăng đá”, khiến cho mẹ ông chẳng được siêu sanh, đọa
lạc suốt kiếp. Hiếu thì có hiếu đấy, nhưng chẳng biết [hiếu như vậy] hóa ra là
ngỗ nghịch! Ông đã làm công chức, về mặt hình tích chẳng cần phải thể hiện vẻ
tu trì, nhưng trong tâm địa há chẳng thể thường ức niệm ư? Giống như ông nhớ mẹ,
ai cấm ông trong tâm thường nhớ nghĩ mẹ? Ông nêu ra những sự trở ngại ấy, hoàn
toàn là luận trên hình tích, chứ không phải luận trên tâm địa!
Hiện
nay thời cuộc nguy ngập như thế, nếu vẫn chẳng chịu thầm niệm Phật trong tâm,
chuyện tương lai rốt cuộc chẳng biết giải quyết ra sao? Ông đọc Văn Sao, Gia
Ngôn Lục, những gì nói trong ấy chẳng đủ để giải quyết mối nghi [của ông], cứ cần
phải có một lá thư vài trăm chữ mới thỏa lòng mong ngóng, đều là do thường ngày
chẳng chịu thể hội, quán sát mà ra. Hãy nên dùng lòng chân hiếu để khuyên lơn
các nàng dâu, và thường xuyên tự hành mật niệm (niệm thầm) thì lợi ích lớn lắm!
62. Thư trả lời cư sĩ Ngô Huệ Di và La Huệ Chú
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Pháp môn Tịnh Độ
chú trọng nơi Tín - Nguyện, có kẻ chẳng biết cho nên hoặc cầu phước báo nhân
thiên, hoặc cầu đời sau làm Tăng để hoằng dương Phật pháp, độ thoát chúng sanh.
Những loại tâm niệm ấy đều phải trừ khử sạch sẽ; nếu có mảy may sẽ chẳng thể
vãng sanh! Vãng sanh là siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Không vãng
sanh thì tuy một đời, hai đời chẳng mê, chắc chắn khó lòng vĩnh viễn chẳng mê.
Hễ mê thì do có phước tu trì, bèn tạo nghiệp đáng sợ lắm! Ác nghiệp đã tạo, ác
báo tự xảy đến, cầu thoát tam đồ chỉ sợ chẳng có ngày đâu!
Lại
nữa, người niệm Phật phải nên khuyên quyến thuộc trong nhà cùng sanh tín tâm,
cùng thường niệm Phật để chuẩn bị cho cha mẹ và các quyến thuộc trong nhà người
ấy hễ có ai mạng chung liền trợ niệm cho. Nếu không, chẳng những không thể giúp
cho [người sắp chết giữ được] chánh niệm, mà trái lại còn làm cho [người ấy]
sanh khởi những tâm sân hận, ái luyến v.v… (tắm rửa sẵn, thay áo làm mất chánh niệm. Nếu dời động khiến
cho [người sắp mất] bị đau đớn bèn sanh sân hận. Sân hận thì có thể đọa vào
loài độc trùng. Nếu đối trước [người sắp mất] khóc lóc, người ấy liền sanh ái
luyến. [Những chuyện này] đều làm mất chánh niệm, vĩnh viễn không mong chi được
vãng sanh, buồn thay!) Người không niệm Phật còn chẳng đến nỗi bị tổn hại lớn, chứ
người niệm Phật hễ bị phá hoại, chánh niệm mất sạch, muốn được vãng sanh trọn
không thể được! Từ đấy luân hồi trong lục đạo suốt kiếp dài lâu, đều là do bị bọn
quyến thuộc ấy gây nên.
Nếu
bọn họ chẳng phát tâm thì nên đem chuyện thời cuộc nguy hiểm, hễ chí thành niệm
Phật chắc chắc gặp dữ hóa lành ra khuyên lơn. Nếu là nữ nhân mà chịu niệm Phật
thì chắc chắn không bị đau khổ trong khi sanh nở. Nếu nữ nhân lúc bình thường
chẳng biết niệm Phật, khi sanh nở hết sức đau khổ mà chịu chí thành niệm “nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát”, chắc chắn lập tức an nhiên sanh nở. Điều này linh cảm tột
bậc, hãy nên nói với hết thảy bạn bè và những người quen biết, khiến cho họ ai
nấy đều được sanh con tốt lành, lại còn làm cho cả mẹ lẫn con đều được yên vui,
cùng gieo thiện căn. Có kẻ ít hiểu biết cho rằng lúc sanh nở lõa lồ bất tịnh, hễ
niệm sẽ bị tội, chẳng biết đây là chuyện liên quan đến tánh mạng, chớ nên đem
nghi thức lúc bình thường vô sự mà bàn. Ví như con cái té trong lửa, nước, vừa
gọi cha mẹ, cha mẹ liền đến cứu giúp ngay, chắc chắn chẳng vì [con cái] mũ áo
không tề chỉnh, thân thể chẳng sạch sẽ mà không cứu! Nếu do vậy mà chẳng cứu
thì cũng chẳng đáng gọi là Phật, Bồ Tát! Nếu là lúc bình thường, cố nhiên nên cạn
lòng thành, tận lòng kính, chẳng được lấy chuyện trong khi sanh nở làm lệ.
Con
người chẳng có ai không yêu thương con cái, nếu dạy con cái niệm Phật, niệm
Quán Âm từ nhỏ, sẽ tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn mà chẳng
hay chẳng biết. Huống chi kẻ tự mình thường niệm Phật, lúc lâm chung ắt càng chẳng
nên khuấy rối, càng phải dùng niệm Phật để giúp đỡ ngõ hầu [người ấy] quyết định
vãng sanh Tây Phương. Trong hiện thời, niệm Phật, niệm Quán Âm, gặp dữ hóa lành
là điều chắc chắn. Quang già rồi, tinh thần chẳng đủ, chỉ nên đọc kỹ Văn Sao, y
theo đó tu hành sẽ liền được lợi ích, đừng nên thường xuyên gởi thư để khỏi tự
phiền, phiền người!
63. Thư trả lời cư sĩ Thang Huệ Chấn
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Người đang độ thiếu
niên nếu chẳng gặp được thầy lành bạn tốt, ngày ngày qua lại với lũ bạn nhậu nhẹt,
tà vạy sẽ nguy hiểm muôn phần. Nặng thì không bao lâu sẽ chết, nhẹ thì cũng
thành yếu ớt, hoặc thành tàn phế. Xét đến nguyên do, đều là do chúng cứ nghĩ
tìm hoa hỏi liễu là vui, chẳng biết là chuyện thảm khốc, hoặc giống như giết
người, hoặc giống như giết hại con cháu đời đời. Những kẻ ham ăn chơi thường mắc
bệnh phong tình, con cái sanh ra lúc nhỏ còn chưa thấy gì, đến khi mười hai, mười
ba tuổi, tới lúc dậy thì sẽ thấy rõ. Con lại truyền cho con, cháu truyền cho
cháu, chẳng đáng buồn ư? Chẳng đáng đau đớn ư? Cha ông là Châu Tử Quyền bán
thân bất toại sợ rằng cũng là do tham sắc mà ra. Chớ nên tham tà sắc, dẫu vợ chồng
sống với nhau cũng chớ nên tham đắm. Hễ tham thì sẽ bị một bề mất mạng hay sanh
bệnh!
Người
ấy đã phát tâm muốn quy y, hãy nên chí thành niệm thánh hiệu “nam-mô A Di Đà Phật”
và “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, hết thảy tạp niệm trong tâm nhất loạt chẳng cho
khởi lên, sửa lỗi hướng thiện, và kiêng giết, ăn chay. Cần phải vĩnh viễn dứt bỏ
chuyện ăn nằm; nếu chưa phải là khi bệnh tình đã bình phục hơn một năm, muôn
vàn chẳng được gần gũi phụ nữ! Nếu không, muôn phần khó lành bệnh được! Lại nên
dạy vợ con ông ta cũng nên niệm Phật và niệm Quán Âm cho ông ta. Nếu thật sự
chí thành sẽ mau được lành bệnh. Nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Thoát,
nghĩa là dùng trí huệ để thoát trừ những tập khí xấu trước kia, lại do niệm Phật
cầu sanh Tây Phương, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ sanh tử luân hồi, thường hưởng
sự vui chân thường vô lậu, thì do cơn bệnh ngặt này mà được lợi ích lớn lao, vợ
con người ấy cũng nhờ đây mà cùng được thoát khổ hưởng vui, may mắn lắm thay!
Ông
ta đã không thể cử động được thì suốt ngày dùng tâm chí thành niệm Phật, hoặc
niệm lớn tiếng, hoặc niệm nhỏ tiếng, hoặc niệm thầm trong tâm đều được. Niệm ra
tiếng thì có thể niệm sáu chữ, chứ niệm thầm trong tâm thì nhiều chữ quá sẽ khó
niệm, nên niệm bốn chữ. Bất luận niệm lớn tiếng hay nhỏ tiếng, đều phải trong
tâm niệm cho rõ ràng rành rẽ, miệng niệm cho rõ ràng rành rẽ, tai nghe cho rõ
ràng rành rẽ. Tuy chẳng thể lễ bái, trong tâm thường phải giữ lòng cung kính như
đối trước Phật, như té vào lửa - nước cầu xin cứu giúp, trọn chẳng dám khởi một
tâm niệm không chánh đáng. Từ sáng đến tối, ngủ thì để mặc đó, thức dậy lại niệm
tiếp. Lấy niệm Phật làm bổn mạng nguyên thần của chính mình thì sẽ có thể tiêu
trừ nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn, có thể hy vọng lành bệnh yên thân.
Lành bệnh rồi vẫn chẳng được buông bỏ, [cứ tiếp tục niệm Phật] ngõ hầu siêu
phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vãng sanh Tây Phương.
Hiện
thời là tình thế hoạn nạn, nếu chịu chí thành niệm Phật liền có thể gặp dữ hóa
lành. Hàng nữ nhân trong nhà nếu chịu niệm Phật chắc chắn chẳng mắc họa sanh
khó. Dẫu là người lúc bình thường chẳng niệm Phật, đến khi sanh nở, sanh không
được, chịu chí thành niệm “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” chắc chắn sẽ tức khắc an
nhiên sanh nở. Chớ nên nói “lõa lồ bất tịnh, niệm sẽ mắc tội!” Trong lúc bình
thường thì cần phải cung kính, sạch sẽ. Nếu mũ áo không tề chỉnh, thân thể chẳng
sạch sẽ, hoặc đang tắm rửa, tiêu tiểu, và khi ngủ nghỉ, đều nên niệm thầm trong
tâm, chớ nên niệm ra tiếng. Chỉ khi sanh nở, nên niệm ra tiếng, đừng nên niệm
thầm. Những người săn sóc chung quanh cũng niệm giúp cho người ấy thì đôi bên đều
có công đức lợi ích. Nên đưa thư này cho ông ta xem và làm cho hết thảy mọi người
đều biết thì mới có lợi ích cho ông ta được!
64. Thư trả lời sư Hựu Chân và cư sĩ Giác Tam
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Người niệm Phật hãy
nên cung kính, chí thành, từng câu từng chữ trong tâm niệm cho rõ ràng, rành mạch,
miệng niệm cho rõ ràng rành mạch. Nếu làm được như thế, dẫu chẳng thể hoàn toàn
không có vọng niệm, nhưng cũng chẳng đến nỗi quá đáng. Có lắm kẻ chỉ mong lẹ,
mong nhiều, thuận miệng niệm ào ào, cho nên không có hiệu quả! Nếu có thể nhiếp
tâm thì mới gọi là người niệm Phật thật sự. Đại Thế Chí Bồ Tát đã ví dụ “như
con nhớ mẹ”, trong tâm con chỉ nghĩ đến mẹ, những cảnh khác đều chẳng phải là
chuyện trong tâm chính mình. Vì thế có thể cảm ứng đạo giao. Lại nói: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc
Tam Ma Địa[6],
tư vi đệ nhất” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam Ma Địa (tức
tam-muội), ấy là bậc nhất). Nói “khiến
cho tâm, miệng, tai đều được rõ ràng” chính là pháp tắc nhiếp trọn sáu căn
vậy (Tâm là Ý
Căn, miệng là Thiệt Căn). Tâm và miệng niệm hợp cùng tai nghe thì mắt, mũi quyết định
chẳng đến nỗi rong ruổi theo bên ngoài, thân cũng chẳng đến nỗi láo xược, phóng
túng. Người đời nay niệm Phật phần nhiều đều chẳng chịu nỗ lực nên không có hiệu
quả gì.
Lại
nữa, khi không niệm Phật, vọng tưởng tuy nhiều nhưng không cách nào biết được,
chứ không phải là lúc không niệm thì không có vọng tưởng! Ví như đối với hư
không trong nhà, dẫu mắt cực tốt cũng không thể thấy được bụi bặm. Nếu từ khe cửa
sổ soi vào một tia nắng, sẽ thấy bụi bặm trong tia nắng chao lên đảo xuống
không khi nào ngừng, khi ánh sáng chưa chiếu đến nơi, vẫn chẳng thấy có bụi bặm!
Vì thế, biết rằng: Khi niệm Phật mà nhận biết có vọng tưởng thì đấy vẫn là cái
hay của việc niệm Phật. Lúc không niệm Phật, hoàn toàn bị vùi lấp trong vọng tưởng
cho nên không biết!
Lại
nữa, pháp Niệm Phật khẩn yếu nhất là có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha. Hễ
có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu chưa đạt đến nhất tâm bất loạn vẫn
có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Nếu không có tín - nguyện, dẫu
tâm không có vọng niệm thì vẫn chỉ là phước báo nhân thiên vì chẳng tương ứng với
Phật. Do vậy, đương nhiên phải chú trọng nơi tín - nguyện cầu sanh Tây Phương.
Thật sự có tín - nguyện, vọng sẽ tự hết. Nếu lúc bình thường có vọng tưởng quá
mức, muốn đắc thần thông, được danh dự, được duyên pháp, đắc đạo v.v… hoàn toàn
lấy vọng tưởng làm bản tâm của chính mình như vậy thì càng tinh tấn, dũng mãnh,
những thứ vọng tưởng ấy càng nhiều càng lớn! Nếu chẳng giác chiếu để dứt trừ vĩnh
viễn những vọng tưởng ấy thì sau này vẫn bị ma dựa phát cuồng, há nào phải chỉ
có vọng tưởng mà thôi ư? Vì thế, phải miệt mài đoạn dứt những thứ vọng tưởng
quá mức ấy.
Thực
hiện công khóa thì nên y theo chương trình của công khóa. Khi [đi kinh hành] niệm
Phật xong trở về chỗ, niệm thêm [danh hiệu] hai vị Phật Thích Ca, Dược Sư cũng
không ngại gì. Luận theo mặt lý thì lễ Phật trước khi chưa niệm chính là lễ Phật
Thích Ca. Người đời phần nhiều xử sự theo tình cảm, không ai chẳng cầu tiêu
tai, tăng tuổi thọ; vì thế, niệm thêm Phật Dược Sư. Thật ra, oai thần công đức
của A Di Đà Phật bằng với oai thần công đức của mười phương ba đời hết thảy chư
Phật, chứ không phải là niệm A Di Đà Phật chẳng thể tiêu tai, tăng tuổi thọ!
65. Thư trả lời cư sĩ Trần Kỳ Xương
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Xem bài văn phát
nguyện đã tu chỉnh, có thể nói là “đại nguyện”. Đối trước Phật phát nguyện hãy nên
bày tỏ giản lược. Bài văn [phát nguyện] do các hạ đã soạn chính là lời phát biểu
trước người khác và lời đề xướng, hướng dẫn, sao có thể gọi là bài văn sánh bằng
bài văn [phát nguyện] của ngài Liên Trì, nào có hữu ích chi đâu? Hiện thời rõ
ràng là một ông Tăng phàm phu đối trước Phật phát nguyện mà vẫn dùng hai chữ “thượng
- hạ”[7]
thì thật là thất lễ quá sức! Công khóa [do các hạ] đã lập ra nếu tuyệt đối
không có chuyện gì thì còn có thể thực hiện được, chứ nếu có cha, mẹ, vợ, con,
lại còn phải chữa trị khắp các chứng bệnh, không ai mời mà từ chối được; chỉ nội
một chuyện này đã khó thể ứng phó được, huống gì là công khóa sớm, trưa, chiều
ư? Các hạ và Quang hoàn toàn khác đường, Quang một bề giản lược, các hạ một mực
phô trương, xin đừng lui tới tốt hơn!
Sách
Long Thư [Tịnh Độ] Văn dạy niệm ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm
trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật, chuyện này nên luận trên phương diện dụng
công, chớ nên luận theo phương diện nhiều hay ít! [Nếu đem so sánh] một câu này
(tức câu niệm “ba mươi sáu vạn ức mười một
vạn chín ngàn năm trăm đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật”) với chuyện chỉ niệm
sáu chữ Phật hiệu thì tuy mỗi ngày niệm được mười vạn câu, niệm suốt trăm năm, vẫn
chẳng bằng được số lượng [đức Phật trong] một câu này. [Tức là số lượng đức Phật
được niệm bởi] kẻ niệm sáu chữ niệm suốt một đời chẳng bằng [số lượng đức Phật
được] niệm [bởi] một câu này. Nhưng kẻ niệm một câu này dẫu có tín nguyện vẫn chưa
chắc có thể được vãng sanh[8],
còn kẻ niệm [sáu chữ] suốt đời nhưng có tín nguyện thì chắc chắn có thể vãng
sanh! Nên y theo quy định do chư Tổ đã thành lập mà niệm sáu chữ danh hiệu, đừng
tính toán nhiều hay ít! Phải biết: A Di Đà Phật là Pháp Giới Tạng Thân, tức là
một danh hiệu [A Di Đà Phật] này gồm trọn danh hiệu của mười phương tam thế hết
thảy chư Phật, nào phải chỉ có ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm
trăm mà thôi ư? Ai nấy đều có tâm, có hạnh, có chí [khác biệt]. Đã hỏi đến bèn chẳng
ngại gì nói thẳng. Đã khác đường lối, ắt chẳng nên gặp gỡ. Quang là kẻ vô tri
vô thức, nào đáng gọi là bậc tông tượng[9]
của Tịnh Độ! Há chẳng khiến cho người ta hổ thẹn không chốn dung thân ư?
66. Thư gởi cư sĩ Nguyễn Hòa Khanh
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Trước kia, ông Trần
Dự Đường gởi thư đến cho biết có sáu người thiện nữ xin quy y, nhờ gởi thư về
cho các hạ để chia ra giao [cho những người ấy]. Lại nói: bà Thích nhà họ Nguyễn
quy y lần trước, pháp danh Đức Chánh chính là phu nhân của các hạ. Biết cư sĩ học
Phật nhiều năm, người nhà đều được cảm hóa, thật đáng bội phục. Chẳng biết cư
sĩ có tin tưởng chắc chắn nơi pháp Tịnh Độ hoành siêu hay chăng? Nay đã có nhân
duyên này, chẳng ngại bày tỏ đại lược nỗi lòng. Suốt một đời đức Như Lai đã nói
ra vô lượng vô biên pháp môn, tìm lấy pháp trực tiếp, nhanh chóng nhất thì không
gì hơn được tham Thiền. Nếu là bậc thượng căn, nghe một ngộ được cả ngàn, đắc Đại
Tổng Trì[10],
nhưng đấy vẫn còn là ngộ chứ chưa phải là chứng! Người có thể thật sự đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh thì trong đời Mạt quả thật chẳng thấy được mấy ai!
Những kẻ khác phần nhiều đều là nhận lầm tin tức. Cái được gọi là Ngộ đó, phần
nhiều đều là “thác ngộ” (lầm lẫn), ít có kẻ ngộ thật sự! Dẫu thật sự ngộ thì vẫn
còn cách xa chuyện liễu sanh tử nhiều lắm! Vì tuy được khai ngộ, vẫn cần phải
dùng đủ mọi phương tiện để đối trị phiền não tập khí từ bao kiếp đến nay khiến
cho hết sạch không còn sót thì mới có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập
thánh. Nếu phiền não đã đoạn được chừng bao nhiêu đó, nhưng vẫn còn mảy may
chưa đoạn hết thì vẫn cứ sanh tử y như cũ, không thoát ra được!
Nếu
chỉ nghĩ “hiểu được tự tâm chính là đạo”, ngoài ra không tu trì gì cả thì sự hiểu
lầm ấy chẳng nhỏ đâu! Nếu hiểu biết, [nhưng không thấy] có phiền não nào để được
cả, thì có thể gọi là “đắc đạo”, người như vậy đã có thể chém đứt căn bản sanh
tử cho nên có thể liễu sanh thoát tử. Nếu tuy hiểu biết, nhưng phiền não chưa
đoạn thì làm sao có thể liễu sanh thoát tử cho được? So với kẻ chẳng nhận biết,
tuy người ấy cao trỗi hơn nhiều lắm, nhưng sanh tử chẳng liễu thì lại phải thọ
sanh, hoặc đâm ra mê muội, đáng sợ vô cùng! Đó là nói về người thật sự khai ngộ
đấy nhé, còn những kẻ tưởng lầm là ngộ, càng khỏi cần phải nói đến nữa! Ấy là
vì pháp Tham Thiền chính là pháp môn cậy vào Tự Lực, cho nên đem so với pháp
môn Niệm Phật về mặt lợi ích thì thật chẳng khác nào một trời, một vực!
Pháp
môn Niệm Phật chính là pháp môn đặc biệt trong những pháp môn [đã được giảng]
trong suốt một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, gồm thâu lợi - độn. Bậc Thượng
Thượng Căn như các vị đại Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền chẳng thể vượt ra ngoài pháp
này, kẻ Hạ Hạ Căn như phường đại tội nhân Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng có thể dự
vào trong ấy. Chỉ cần có đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha thì đều có thể
cậy vào Phật từ lực, đới nghiệp vãng sanh. Nếu đã đắc tam-muội và đã đoạn dứt
phiền não, hễ được vãng sanh sẽ liền dự vào địa vị đại Bồ Tát. Hết thảy pháp
môn đều lưu xuất từ pháp môn này, hết thảy pháp môn đều quy hoàn pháp môn này (gọi là “vãng sanh Tây Phương để mong viên mãn Phật quả”). Dường như
nông cạn nhưng sâu chẳng thể lường, tợ hồ nhỏ nhoi nhưng lớn lao không gì chẳng
bao trùm. Mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ
chúng sanh không vị nào chẳng cậy vào đạo thành thủy thành chung này.
Sợ cư sĩ chưa gặp được người thật sự biết
Tịnh Độ, chắc sẽ coi pháp này là thiển cận, bèn chuyên dốc sức nơi pháp Thiền
minh tâm kiến tánh, cho rằng “hiểu biết được tự tâm là đã giải quyết xong rồi”.
Bởi thế, khôn ngăn dông dài một phen. Nếu lời Quang chẳng đáng tin, xin hãy đọc
kỹ Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và bộ Văn Sao của Quang sẽ chẳng
nghĩ Quang sai lầm, bịa đặt. Nếu thật sự biết sự hơn - kém giữa Phật lực và tự
lực, chắc chắn chẳng đến nỗi vẫn còn chấp vào chuyện chỉ suy xét tự tâm, cho rằng
“hiểu được [cái tâm] chính là đạo, chẳng cần phải niệm Phật cầu sanh Tây Phương”.
Cổ nhân như sư Viên Quán[11]
biết được quá khứ - vị lai vẫn chẳng thể liễu thoát. Sở ngộ về Thiền của Ngũ Tổ
Giới, Thảo Đường Thanh, người đời nay há có bén gót được chăng, nhưng họ vẫn phải
thọ sanh trở lại! Do vậy, biết: Phàm phu quyết định phải tu pháp môn đặc biệt
do đức Phật khai thị thì bất luận căn tánh như thế nào đều có thể liễu sanh
thoát tử do cậy vào Phật lực vậy. Nếu cậy vào Tự Lực, sợ rằng có mộng cũng mộng
không được! Chẳng biết cư sĩ có chịu tin lời này hay chăng?
67. Thư trả lời cư sĩ Trầm Thọ Nhân
(năm Dân Quốc 20 - 1931)
Nhận được thư ông
từ ba hôm trước, biết lệnh lang[12]
là Hà Sanh đã niệm Phật vãng sanh. Tuy về Thế Đế, tựa hồ [đó là] chuyện bất hạnh,
nhưng vãng sanh là đã siêu phàm nhập thánh, quả thật là may mắn lớn lao. Nên luận
theo Thật Tế, đừng chấp vào tướng thế gian rồi sanh bi cảm. Nay những kẻ mù
quáng, khuấy rối đều do cha mẹ họ mong mỏi họ sẽ hưng gia lập nghiệp, vẻ vang tổ
tông, nhưng chẳng biết cách nuôi dạy, nên đều trở thành những kẻ ác tự hại, hại
người, hại đời. Do vậy, con người phải mở rộng tầm mắt để nhìn thì trong tâm sẽ
thản nhiên, không lo lắng.
Chùa
Báo Quốc có tất cả bốn mươi hai vị Tăng, ai nấy đều có chức trách, chẳng thể
làm Phật sự. [Với số tiền] một trăm đồng ông đã gởi, tôi bảo chùa Linh Nham lập
một bài vị trong Niệm Phật Đường. Chùa Linh Nham niệm Phật có thể coi là bậc nhất
trong vùng Giang - Chiết, công khóa mỗi ngày chẳng khác gì khi đả Phật thất! Khi
đả thất chỉ thêm ba lượt hồi hướng sáng, trưa, tối. Chùa này thuộc địa phương của
Hòa Thượng Chân Đạt chùa Thái Bình, gần đây đã đổi thành [đạo tràng] thập
phương, chuyên môn niệm Phật. Phàm những chuyện như niệm kinh, bái sám, Phóng
Diệm Khẩu, làm đàn Thủy Lục, giảng kinh, truyền giới, thâu nhận đồ đệ, truyền
pháp v.v… đều chẳng làm. Quanh năm niệm Phật, những tháng mùa Hạ nếu thuận tiện
sẽ giảng pháp môn Tịnh Độ, chẳng chèo kéo người ngoài đến nghe.
Nhận
được thư ông thì trong ngày hôm sau tôi đã bảo Hoằng Hóa Xã đem những sách đã
in trong một hai năm qua gởi đi mỗi loại một cuốn, chắc là ông đã nhận được rồi.
Lại thêm do người ta thường nhân dịp nghỉ Tết đến thăm nhiều lắm, hiện thời
không rảnh rang, đợi đến tháng Giêng năm sau sẽ vì Hà Sanh niệm Phật suốt ba
ngày hầu thỏa tâm nguyện của ông. Mười đồng ông đã gởi sẽ dùng vào chi phí in
sách.
68. Thư trả lời cư sĩ Lý Đức Minh (hai lá
thư)
(năm Dân Quốc 24 - 1935, ông
này vốn có tên là Bỉnh Nam[13])
1) Ngạn ngữ có câu: “Thiên hạ bổn thái bình, duy nhân tự nhiễu chi” (thiên hạ vốn thái bình, chỉ có con người tự khuấy rối). Người trí dùng trí để khuấy, kẻ ngu dùng dục để quậy. Mối họa do lòng dục khuấy nhiễu tuy khốc liệt, nhưng người ta còn biết được. Sự khuấy nhiễu của trí nếu chẳng phải là bậc tri kiến vượt trội sẽ chẳng thể biết được! Đã chẳng biết là khuấy nhiễu, lại ngược ngạo coi đó là đức. Đấy chính là cội nguồn gây nên đại loạn cho nước ta từ thuở mới có trời đất đến nay! Học thuyết gây lầm lạc cho con người thật đáng sợ sâu xa. Văn Vương ân trạch thấm đến xương khô không biết mấy trăm năm, nhưng phong tục giết người để tuẫn táng[14] phổ biến khắp thiên hạ, Mục Công là vua hiền của nước Tần còn giết một trăm bảy mươi bảy người để tuẫn táng. Ba vị họ Tử Xa