Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục
Biên,
Quyển Thượng
Phần 6
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến
& Huệ Trang
142. Trả lời thư cư sĩ Niệm Phật
(tức là cư sĩ X… ở Vĩnh Gia được nhắc đến trong Văn Sao Chánh Biên, [những lá thư này] được viết bắt đầu từ năm Dân Quốc 16 - 1927 đến năm Dân Quốc 26 - 1937. Sao lục đầy đủ)
Hôm
qua nhận được thư, khôn ngăn cảm khái, than thở. Đã biết căn bệnh, lại biết thuốc
chữa, chẳng chịu uống ngay, lại còn hỏi han thuốc men, há chẳng phải là vô sự
sanh sự? Còn như niệm Phật cũng được, niệm Quán Âm cũng được, cần gì phải lắm
phen so đo thừa thãi như vậy? Do nỗi khổ trong Mạt kiếp nặng nề, đức Quán Âm
lòng bi sâu xa, nên Quang thường khuyên người khác niệm kèm thêm [danh hiệu
Ngài] để mong mau được Ngài từ bi che chở. Niệm Phật cũng chẳng phải là không được
cảm thông, mà niệm Phật cũng không phải là chẳng thể niệm kèm [danh hiệu] Quán
Âm! Chuyên niệm hay kiêm niệm đều được, đức Phật cũng từng dạy con người niệm
[danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát]. Vì thế, biết là hoàn toàn chẳng trở ngại gì! Nếu
niệm Di Đà cầu sanh Tây Phương, lại niệm Dược Sư cầu sanh Đông phương thì không
được; còn Di Đà và Quán Âm là cùng một sự, nhưng đức Quán Âm bi sâu nguyện nặng
nên thường kiêm niệm để mong mau được cảm thông. Tất cả những thứ nghị luận thừa
thãi đều là chẳng cần thiết! Cổ nhân nói: “Tuân
kỳ sở văn, hành kỳ sở tri” (Tuân theo điều đã nghe, hành điều đã biết). Hai
câu ấy chính là khuôn phép để tu trì chân thật vậy!
Quán Âm chính là quá khứ Cổ Phật,
làm bậc phù tá đức Di Đà. Niệm Quán Âm cầu sanh Tây Phương vẫn có thể được như
nguyện, có gì là không được! So sánh những công đức niệm Quán Âm, Địa Tạng, Di
Đà v.v… chính là nhằm khiến cho người ta phát tâm quyết định niệm Phật, chẳng
có ý niệm đổi dời mà thôi! Nếu chấp chết cứng vào lời ấy, chẳng hiểu được ý, sẽ
trở thành oan uổng cho đức Phật. Hiện thời, mọi người đều đang trong cảnh hoạn
nạn, hãy nên nói với hết thảy mọi người “để giải trừ hoạn nạn chỉ có một cách
là sửa lỗi hướng thiện, đôn đốc luân thường, chí thành, khẩn thiết, xưng niệm
danh hiệu Quán Âm”, ấy là diệu pháp độc nhất vô nhị! Bất luận các sự nguy hiểm như
nước, lửa, đao, binh v.v… và bệnh tật do oán nghiệp, thuốc men chẳng thể trị được,
nếu chịu tuân theo những điều vừa nói trên đây, chắc chắn sẽ gặp dữ hóa lành, gặp
nguy thành an, và oán nghiệp tiêu diệt, không uống thuốc mà lành bệnh. Nhìn vào
thời cuộc hiện tại, nguy hiểm muôn phần, nếu chiến sự xảy ra, cả nước không một
chỗ nào yên vui cả! Dẫu là chỗ chưa bị chiến tranh lan đến thì cái họa thổ phỉ
so với chiến tranh còn khốc liệt hơn nữa! Hãy nên bảo hết thảy già trẻ, trai
gái đồng niệm “Nam-mô A Di Đà Phật” và “Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Ngoại trừ
cách này ra, không có cách tốt lành nào khác! Đối với tai nạn nhỏ thì sẽ gặp dữ
hóa lành. Dẫu cho mọi người đều cùng chết sạch, người niệm Phật sẽ nương theo
Phật lực, hoặc sanh về Tây Phương, hoặc sanh vào đường lành. Chớ nên nói “đã
không thể nào tránh khỏi cái chết thì niệm Phật vô ích!” Chẳng biết: Con người
được thọ sanh làm người đều do nhân duyên tội phước đã gây trong đời trước tạo
thành cái gốc [để quyết định] sanh vào nhà phú quý hay bần tiện. Người niệm Phật
có tín nguyện sẽ được vãng sanh; dẫu không có tín nguyện cũng chẳng đến nỗi đọa
vào ác đạo, há có nên chẳng niệm để tự mình lầm, lầm người ư?
Mọi chuyện phải khéo suy nghĩ,
chớ nên mặc tình làm bừa. Ngay như hành vi bố thí thường
là chuyện lành, nhưng đối với kẻ chẳng biết hổ thẹn lại biến thành chướng ngại,
cố nhiên hãy từ chối, không chấp nhận! Nếu kẻ [như vậy] đến xin, chỉ cho một
chút, hắn sẽ tự chẳng đến nữa, cũng chẳng đến nỗi nổi nóng phát cáu, chỉ có
cách mặc kệ hắn là hay nhất. Gia Ngôn (lời dạy trong gia đình) của ông
[Nhiếp] Vân Đài khá hay, muốn giúp cho [tác phẩm ấy được] lưu truyền, có lẽ hãy
nên giúp tiền cho ông ấy để tùy ông ta làm sao cho đôi bên đều không bị ngăn ngại!
Mua con vật đem phóng sanh cũng
giống như bố thí: Đều cần phải khéo lập cách, đừng định kỳ hạn nhất định, đừng bắt
buộc ở một nơi cố định, đừng bàn bạc phải thả một loài vật nhất định, hãy tùy
duyên mua rồi đem phóng sanh thì sẽ được lợi ích thật sự. Nếu lập kỳ hạn nhất định,
chọn nơi nhất định, thả một loài vật nhất định, sẽ thúc đẩy người khác săn bắt
nhiều [loại đó]. Mua trâu, dê, lợn đều phải có khoản tiền cỏ, tiền thức ăn
quanh năm; đấy là một khoản tiền lớn. Nhưng mỗi lần có người thả, nếu họ chẳng
đóng khoản tiền ấy thì người lo liệu phải mua giùm. Có lẽ nên đem tiền giao cho
người trông nom để họ tùy ý: Hoặc mua sinh vật, hoặc mua cỏ, thức ăn cho thích
hợp! Bài văn khuyên người khác phóng sanh của Sư Thọ rất hay, nhưng nên chú trọng
khuyên người ta kiêng giết, ăn chay, che chở, yêu tiếc sanh mạng loài vật thì
chẳng tốn tiền tài, chẳng tạo thành chuyện đánh bắt nhiều, công đức ấy rất lớn!
Trước tượng Tây Phương Tam
Thánh không cần phải đắp tượng Phật Thích Ca. Phàm những thứ đeo giắt trên thân
như chú Lăng Nghiêm v.v… khi nằm nghỉ, lúc đại tiểu tiện nên cởi ra. Chỉ khi gặp
cảnh nguy hiểm cùng cực là có thể không cần tháo ra. Nếu lúc bình thường không
nguy hiểm vẫn không bỏ ra, sẽ thành cái tội khinh nhờn không thể kể xiết được! [Nếu]
trong phòng có kinh tượng thì hãy nên hết sức kính trọng! Hàn Sơn và Thập Đắc[1]
là do Văn Thù và Phổ Hiền hiện ra, vì thế phải thường giữ lòng kiêng sợ, chẳng
dám phóng túng mới nên!
Đồ chay nơi những quán cơm
không sạch sẽ, người ăn chay nên vĩnh viễn đoạn trừ những thứ ăn uống giao tế ấy.
Nếu người ta mời, bèn viện cớ chẳng thanh khiết để từ chối, vừa khỏi bị người
ta mời vừa chẳng bị phí tiền oan uổng mời lại người ta! Người ta dùng cái lễ vô
lý để mời, không đi đâu có sao!
Dạy trẻ nhỏ nên dạy cặn kẽ làm
người phải tự lập chí hướng, đừng nên quở trách nghiêm khắc ! Bởi lẽ, những học
thuyết hiện thời thường đả phá quy củ cũ, nếu quở trách nghiêm ngặt, [con cái] sẽ
có thể bị kẻ vô tri dụ dỗ, mê hoặc, sẽ từ ân biến thành oán. Tuổi nó đã mười
lăm, nếu có thể đem lẽ lợi - hại nói với nó, ắt sẽ chẳng đến nỗi nó không cảm động
mảy may nào! [Làm] như thế mà chẳng cảm động tức là giống như gỗ, đá vô tri; nếu
nghiêm khắc, đâm ra càng biến thành phản đối. Những kẻ giết cha tự khoe công để
được khen thưởng đều là do từng bị trói buộc, muốn phát tiết nỗi hận một phen,
chẳng biết sẽ vĩnh viễn bị hãm trong súc sanh, địa ngục chẳng thể thoát ra!
Hãy nên đọc toàn bộ Tứ Thư.
Kinh Thư văn lẫn lý rất hay, cũng nên đọc toàn bộ. Đại đạo nơi kinh Dịch có thể
để thong thả! Muốn thành học vấn càng phải dốc sức vào nguyên lý “từ hiện tượng biết được pháp tắc”. Phần
Đại Tượng[2]
thuộc sáu mươi bốn quẻ của kinh Dịch có thể gom thành một thiên, khắc thành bài
minh đặt bên chỗ ngồi, [nội dung bài minh ấy] cực rõ ràng, rộng lớn, cực thân
thiết. Chẳng biết tri kiến lãnh hội của những kẻ phế kinh như thế nào? Kinh Thi
có thể để từ từ, bởi nếu không phải là người có tư cách đại thông minh sẽ chẳng
thể khéo hiểu được ý nghĩa! Lễ Ký[3]
và Tả Truyện[4]
nên chọn đọc những phần có ích cho thân tâm và quan hệ lớn lao đến sự giáo hóa
trong cõi đời.
Trẻ nhỏ thích ăn cắp đồ vật của
người khác thì hãy nên hằng ngày bảo nó: “Con người chẳng thể làm chuyện gì khiến
lòng áy náy! Nếu làm chuyện khiến lòng phải áy náy, dẫu cho người khác từ đầu đến
cuối chẳng hay biết, nhưng trong tâm chính mình luôn ôm nỗi thẹn thùng. Huống chi
thiên địa, quỷ thần, Phật, Bồ Tát, không một vị nào chẳng biết ư? Sao ngươi chẳng
biết tự gắng sức, làm chuyện hạ lưu như vậy? Từ rày, nếu vẫn còn ăn trộm đồ của
người ta, chắc chắn ta sẽ dẫn ngươi đến trước người ta rập đầu thú tội, trả lại
đồ cho người ta. Ngay cả vật chẳng đáng một đồng cũng phải làm như vậy! Lại còn
yêu cầu người ta nếu có chuyện [ngươi] lấy trộm đồ thì phải tận lực đánh đòn,
đe nẹt, chớ nên vì thể diện của ta mà chẳng chịu nói, đến nỗi ngươi ngày càng cảm
thấy ăn trộm đồ vật chẳng quan trọng, khẩn yếu chi, thường mong tưởng ăn trộm!
Ngươi hãy suy nghĩ xem: Ví như
con người làm việc gì, nếu có ai khen người đó giỏi, hắn sẽ vui vẻ; chê hắn dở,
hắn không vui. Sao ngươi lại làm ra sự thể khiến cho người ta phải thóa mạ,
khinh bỉ? Nếu ta giấu diếm, che chở cho ngươi, tức là ta dạy ngươi làm giặc. Sau
này, chắc chắn ngươi hoàn toàn chẳng thể thành người được! Vì vậy, ta bảo với
ngươi, từ rày trở đi, nếu ngươi ăn trộm đồ của ta, ta nhất định phải đánh
ngươi! Nếu ăn trộm đồ của người khác, ta nhất định đem ngươi tới chỗ người ấy rập
đầu thú tội và đem đồ vật trả lại cho người ta. Chẳng những ngươi mất mặt mà thật
ra ta còn khó chịu hơn ngươi nữa! Do mong ngươi thành người, bất đắc dĩ ta phải
kiềm chế ngươi như vậy. Ngươi biết lỗi phải sửa đi, gắng sức học cho giỏi để ai
nấy đều kính trọng ngươi; do vậy sẽ kính trọng tổ tông, cha mẹ ngươi! Nếu ngươi
vẫn không chịu sửa đổi thì cũng giống như ngươi hằng ngày tự chửi bới tổ tông,
cha mẹ vậy! Sấm sẽ đánh ngươi! Đây là chỗ ta đại từ đại bi yêu thương ngươi, nếu
ngươi biết tốt - xấu như vậy thì may ra có hiệu quả”.
Đối với chuyện của đứa con gái
lớn, chỉ nên khuyên nó sốt sắng niệm Phật, những điều khác chẳng đáng bận tâm đến.
“Thiên định giả thắng nhân, nhân định giả
thắng thiên”. Thật ra, khổ - vui, hên - xui mà người đời gặp phải, quá nửa
là do người ấy đã tạo! Có mấy ai một bề giữ nguyên số mạng? Nói chung, người
làm ác [cuộc đời] chẳng thể [tốt đẹp] đúng như số mạng thì nhiều, người tu thiện
biến đổi số mạng [xấu hèn] thành tốt đẹp thì ít! Hai loại người này đều là “nhân định thắng thiên”. Người đời mỗi
khi có ý niệm thiện liền có thể chuyển được họa thành phước, chuyển dữ thành
lành; huống gì suốt đời ăn chay, niệm hồng danh vạn đức của Như Lai mà chẳng thể
xoay chuyển tạo hóa ư? Chỉ cần dạy họ thường giữ lòng kính sợ, phát tâm Bồ Đề
thì những điều ấy còn có thể làm [phương tiện] dẫn đường để siêu phàm nhập
thánh, huống hồ những chuyện phước nhỏ nhặt khác mà chẳng thể đạt được ư? Phước
và họa dựa dẫm lẫn nhau, muốn thuần được phước chẳng mắc họa thì cũng chỉ do
chính mình nỗ lực tu trì! Hôn sự của con gái ông, người nhà đã không bằng lòng,
hãy nên châm chước, và hỏi con gái ông có ý kiến quyết định hay không? Nếu con
gái ông có ý kiến quyết định thì chẳng trở ngại gì. Còn như con gái ông không
có ý kiến quyết định, sau này có thể vì chán ghét nghèo cùng, ghét bị trói buộc,
lại bị những kẻ ghét nghèo chê bai, oán thán, chắc sẽ chẳng tốt lành gì! Chẳng
thể không tính sẵn điều này! Trước hết, hãy nên hỏi con gái ông rồi hỏi Phật để
quyết định.
Người thế gian tính toán cho
con cái phần nhiều đều mưu tính trên gia tài, chứ không tính trên nhân phẩm.
Con em nhà giàu chẳng được mấy năm liền bị đói lạnh chết đi, nào có hạn lượng?
Kẻ nghèo trắng tay nhẵn nhụi, thành gia lập nghiệp được cả nước tôn sùng, há lại
có hạn lượng ư? (Đây là nói theo giới thương nghiệp, bọn quân phiệt
không tính vào đây). Do ông đã nhắc đến, nên chẳng
thể không bảo cùng ông biện pháp thận trọng. Con gái ông gặp được người thuộc
gia đình tốt đẹp như vậy thật là may mắn lớn lao! Gặp năm tháng chẳng vừa ý là
tại trời, nhưng tu trì là tại ta, mạng tự ta lập! Nếu có thể thường giữ lòng
kính sợ, nhất tâm niệm Phật và niệm Quán Âm thì không nghiệp nào chẳng tiêu,
không phước nào chẳng đưa tới, đây chính là ý nghĩa lớn lao “nhân định thắng thiên” vậy! Nếu cô ta
lười nhác, biếng trễ, trong tâm không đặt nặng chuyện năm tháng không vừa ý, sẽ
thành ra “thiên định thắng nhân”. Xin
hãy đem ý nghĩa “lập mạng tu thân” lớn lao này nói với cô ta, ắt cô ta sẽ rửa
lòng gột ý, dè dặt, chăm chú tu trì, siêu phàm nhập thánh hãy còn dư, huống hồ
khuyết điểm năm tháng nhỏ nhặt ư?
Cô con gái thứ hai nếu chưa hứa
gả cho ai, hãy nên chọn một gia đình tin Phật để cho cô ta được xuất giá sớm
hòng nhẹ trách nhiệm, khỏi phải lo lắng. Hãy nên bảo cô ta: Hiện thời lòng người
chẳng được như xưa, người ta càng phú quý càng nguy hiểm, chớ nên không hiểu việc,
cứ muốn chọn gia đình [giàu có] để mong hưởng phú quý dài lâu! [Tuy] nhà [người
ta] nghèo, chỉ cốt sao giữ bổn phận là được rồi; nếu thời cuộc biến động, cũng
chẳng đến nỗi quá thê thảm! Nếu là nhà phú quý, rất có thể cả thân lẫn mạng đều
chẳng giữ được! Ai nấy đều có điều ưa thích, kẻ chuộng danh xuông ắt sẽ chẳng
chú trọng lợi ích thật sự.
Bà nội kế của ông tuy có mấy
chục năm tu trì nhưng vẫn là một kẻ phàm tục, đối với việc vãng sanh sợ rằng
càng khó khăn hơn nữa. Nhưng cũng có thể coi điều này như một mũi kim đâm vào đỉnh
đầu người niệm Phật: Cần phải buông xuống hoàn toàn sự ham chuộng thể diện tốt
đẹp thì mới là người thật sự niệm Phật. Quang cũng chẳng phải là bậc thánh nhân
[có đủ] thần thông, chỉ có thể chí thành hồi hướng cho cụ, chẳng thể làm cho cụ
quyết định được vãng sanh! Bà nội kế của ông hành trì đã quy về thuần nhất,
nhưng trong lúc ấy, nói đến sự lợi ích cầu sanh Tây Phương [thì cụ] vẫn hơi hàm
hồ, càng khó vãng sanh. Do có chút phước tu hành, chắc chắn đời sau bị phước
làm mê, sẽ rộng tạo ác nghiệp. Đã tạo ác nghiệp, chắc chắn bị đọa mãi trong tam
đồ ác đạo. Biết sự lợi - hại này rồi, hãy chớ si tâm vọng tưởng, luyến tiếc trần
cảnh thế gian, chẳng nguyện vãng sanh. Cụ thành tựu được sự vãng sanh sẽ có lợi
ích rất lớn cho ông và quyến thuộc.
Cư sĩ Chí Liên đã ngoài bảy
mươi tuổi, tháng ngày không còn mấy; hãy nên khuyên cụ chuyên tâm dốc chí cầu
được vãng sanh; muôn phần chẳng được có chút ý niệm cầu phước báo nhân thiên
trong đời sau, ngõ hầu cụ quyết định được vãng sanh. Thêm nữa, lúc cụ lâm
chung, càng phải khéo giúp đỡ, giữ gìn, đừng để vì không khéo lo liệu mà cụ bị
phá hoại tịnh niệm, sự mất mát sẽ chẳng nhỏ nhoi đâu! Thành tựu một người vãng
sanh Tây Phương chính là thành tựu một chúng sanh thành Phật. Vốn có thể vãng
sanh, nhưng vì chẳng khéo lo liệu, đến nỗi do bị đau đớn, sân tâm nổi lên, hoặc
vì đau thương mà dấy tâm yêu mến. Tâm sân hay tâm ái vừa khởi lên, tịnh niệm liền
bị vẩn đục, dao động, chuyện mong cầu vãng sanh kể như khỏi tính nữa! Từ công đức
thành tựu [một người vãng sanh] mà nghĩ đến lỗi phá hoại [sự vãng sanh của người
khác], thật đáng sợ hãi lớn lao thay! Mạng sống của con người trong thế gian chớp
mắt đã qua, một hơi thở ra không hít vào được nữa, chẳng biết lại đi về đâu! Nếu
chẳng biết chắc chắn một pháp Tịnh Độ, thật đáng sợ hãi đến cùng cực!
Ông Tào Tung Kiều kể: Khi cha
ông ta đi học, một bạn học là con nhà phú ông, hết sức đần độn. Thầy giáo dạy
cho hắn, hắn còn chưa hiểu, cha ông Tào vừa nghe liền thuộc được ngay. Gã con
phú ông ấy chết sớm, về sau thấy hắn đến [nhà ông Tào], rồi chợt chẳng thấy nữa;
Tào Tung Kiều bèn sanh được một gái, nay đã ba mươi mốt tuổi, cực thông minh, học
hành hoàn toàn chẳng phải tốn công. Thoạt đầu là con trai phú ông, [đời] sau làm
cháu nội gái của người bạn học. Con người luân hồi, thật đáng sợ thay! Đây chỉ
là thay đổi hình tướng nam - nữ, chứ kẻ biến đổi toàn thể thì trong mười người đã
hết tám, chín. Buồn thay!
Tu hành chẳng si ngốc[5],
quyết khó thể thành tựu! Nhất tâm niệm Phật chính là chánh niệm Chân Như lớn
lao. Khi chuyện chẳng ngờ trước xảy đến, dẫu là chuyện chẳng thể thoái thác được,
hãy nên bình tâm hòa khí, suy xét cẩn thận, đấy chính là “xét lời nói, xem vẻ mặt”
hết sức kỹ càng. Tâm gấp rút chính là chướng ngại lớn cho người tu hành. Buông
được cái tâm này xuống thì đương thể sẽ thanh lương. Trong lúc cõi đời rối loạn
này, tuổi ông đã gần năm mươi rồi, nếu chẳng chịu chết lòng niệm Phật, do đọc
sách có chỗ không biết bèn muốn học Giáo. Suy tính kiểu ấy, nếu đem hỏi vị pháp
sư khác, chắc [vị ấy sẽ bảo là] rất tốt. Nếu đem hỏi Quang, [Quang sẽ bảo] đấy
chính là suy tính chẳng tuân giữ bổn phận! Kẻ ngu một chữ không biết kia còn được
vãng sanh Tây Phương, nhưng bậc đại thông gia thông Tông thông Giáo sâu xa vẫn
không được hưởng lợi ích ấy! Sao ông lại xem đó là điều tiếc nuối? Những cảnh
tượng ông đã thấy trong mộng rất tốt, hãy nên nỗ lực. Lâu dần sẽ tự được không
chướng ngại. Loại hiện tượng ấy cố nhiên chẳng dễ dàng đạt được, nhưng chớ nên
vạch đất [tự giới hạn] không tiến nữa; nếu không do những chuyện ấy mà kiêu
căng, khoe khoang, ắt sẽ có lợi ích thật sự.
Niệm Phật tu trì giống như uống
thuốc. Nếu hiểu rõ giáo lý, giống như biết cặn kẽ nguồn gốc căn bệnh, dược
tánh, mạch lý, rồi sẽ uống thuốc thì có thể gọi là “tự lợi, lợi tha”, không chi
tốt lành bằng! Nếu không được như thế, trước hết chỉ chịu uống thuốc A Già Đà[6]
đã được [đức Phật] thay ta bào chế sẵn thì bệnh cũng được lành. Cũng có thể đem
thuốc này cho hết thảy mọi người uống để được lành bệnh. Chỉ mong sao lành bệnh,
không cần phải buồn lòng vì chẳng biết nguồn gốc căn bệnh, dược tánh, mạch lý!
Đoạn trừ dâm niệm, sân niệm thật chẳng dễ dàng gì. Nếu chẳng có sở chứng, quyết
chẳng thể rốt ráo thanh tịnh! Như mười hai câu trong sách Cảm Ứng Thiên, “kiến nhân chi đắc, như kỷ chi đắc” (thấy
người khác đạt được điều gì, giống như chính mình đạt được) v.v… nếu có thể đối
với mỗi chuyện đều có thể xét soi tự tâm, dẫu [tâm] chưa thể thuần ngay, vẫn có
thể thường được như vậy. Nhan Tử (Nhan Uyên) ba tháng chẳng trái nghịch điều
nhân, nhưng vẫn hơi bị gián đoạn, chưa thể hoàn toàn hòa lẫn thành một khối với
lòng nhân được. Mong thành thánh thành hiền là do con người tự gắng sức. Nếu
phóng túng thì sẽ chẳng thể nào diễn tả được, giống như những kẻ “vì nước vì
dân” hiện thời vậy! Chẳng đáng buồn ư?
Người tu hành tâm chớ nên lệch
lạc. Nếu lệch lạc chắc sẽ mắc bệnh. Thân thể yếu đuối hãy nên lắng lòng chánh
niệm để tâm thần chẳng rong ruổi theo bên ngoài, tâm tự quy nhất thì thân cũng
dần dần được yên ổn, khỏe mạnh. Nếu muốn được vãng sanh mà tâm này kết chặt chẳng
cởi gỡ được, chắc sẽ dấy lên ma sự. Mặc cho nghiệp đến - đi, chính mình tự trấn
định. Nếu muốn được [thành tựu] ngay, sẽ như dưa chưa chín đã hái trước, há còn
dùng được nữa hay chăng? Ông bạn X… nọ thần kinh suy nhược, một là do tham sắc,
hai là do quá mức vọng tưởng muốn làm chuyện sức mình không thể làm được mà ra.
Nếu cởi gỡ được hai điều này, bệnh sẽ tự lành. Nếu không, sau này bị mất trí
phát cuồng cũng chẳng biết chừng!
Căn bệnh của Huệ Tịnh càng sâu
nặng hơn, đáng than hết sức! Người xưa nói: “Ninh
khả thiên sanh bất ngộ, vật giao nhất thời trước ma” (Thà cho ngàn đời chẳng
ngộ, chẳng để ma dựa một lúc). Người thông minh tự kiêu, đa phần phạm phải căn
bệnh này. Do trước đó tự tâm đã chứa sẵn chí khí phô trương, sai trái, hung
hăng này, ma bèn thừa cơ xen vào. Nếu chẳng nông nổi, bộp chộp, tự kiêu, ma sẽ
lánh xa! Ông ta còn biết cầu Quán Âm, cầu cứu Quang. Đức Quán Âm đại từ đại bi,
ông ta sẽ được Ngài từ bi che chở, Quang là nghiệp lực phàm phu chỉ có thể khấn
nguyện, hồi hướng cho ông ta, đâu có thể như bậc thánh nhân thần thông chữa cho
ông ta lành bệnh từ xa được? Nay tính kế cho ông ta, đem năm mươi đồng [ông ta
đã cúng] gởi sang Linh Nham Sơn Tự để họ lập một bài vị Trường Sanh Liên Vị[7]
cho ông ta (sanh tử đều vô ngại, Trường Sanh Lộc Vị chỉ thích hợp cho
người sống), thờ trong Niệm Phật Đường. Lại vì
ông ta trì chú Đại Bi hai ngày, mong cậy vào Phật lực, Pháp lực, chúng Tăng lực,
ắt sẽ được lành bệnh.
Linh Nham cách thành Tô Châu
hơn hai mươi dặm, là một đạo tràng cổ; hai mươi năm trước, giao về tay hòa thượng
Chân Đạt, gần đây đổi thành [đạo tràng] thập phương, ba mươi vị sống ở đó
chuyên tâm tu tập, niệm Phật suốt năm. Cũng không có chuyện [khách thập phương
lui tới] cúng bái, cũng chẳng làm Phật sự, cũng không truyền giới, công khóa rất
nghiêm mật, cả tỉnh Giang Tô không có đạo tràng nào như vậy! Huê lợi mỗi năm chẳng
quá một ngàn đồng, lập chương trình: [Nếu chi dụng] cho hai mươi người sống ở
đó không đủ, hòa thượng Chân Đạt sẽ bù thêm. Hai năm gần đây, do có người đả Phật
thất, nên số người cũng đông hơn, nhưng vẫn vừa đủ chi dụng. Phật thất vừa nói
đó [mỗi lần cử hành] đều viết thư thông báo, nhưng số người trong vùng đến dự
mười phần chưa được một! [Chùa Linh Nham] chỉ niệm Phật, ngay cả Diệm Khẩu cũng
không thực hiện.
Đu đủ trừ được phong thấp. Nếu
muốn cho ấm, chẳng ngại gì mua đu đủ tươi, rồi tạo cách giữ cho nóng bằng cách
buộc trên đùi, loại tươi có tác dụng mạnh nhất. Quang do sợ lạnh, nên dùng loại
đu đủ khô cắt thành miếng. Cháu ngoại gái của ông thiếu sữa hãy nên dùng sữa
bò. Con dâu trưởng của ông Vương Ấu Nông mất, cháu nội là Tích Quan chưa đầy
năm, liền cho bú bằng sữa bò, chưa hề phải mướn nhũ mẫu. Phàm mọi chuyện nên định
lượng lợi - hại, được - mất từ trên căn bản, hãy cân nhắc nặng - nhẹ để chọn
cách thực hiện.
Bệnh lác[8]
thật khó trị nhất, dễ truyền nhiễm nhất. Thuốc cao Thương Nhĩ[9]
hiện thời quả thật trừ khử được họa hại, tăng phước lợi lớn nhất cho xã hội.
Tuy chẳng thể tránh khỏi tổn thương đến sanh mạng loài trùng, nhưng [thuốc ấy
có] lợi ích lớn lao. Huống chi Quang còn bảo kẻ chế thuốc cao và người uống đều
niệm Quán Âm nữa ư? Nếu theo như ý ông, cứ dẫn lời ông Đào Ẩn Cư (viết
sai là Quân) để rồi kiêng kỵ, sẽ làm hại người bị
bệnh lác, mặc cho người ấy cứ mắc bệnh mãi để rồi thường truyền nhiễm ư? Mong
hãy dứt khoát bỏ đi ý nghĩ ấy!
Nói đến căn bệnh của người bạn
tên X… nọ, chẳng biết ông ta có cho [những lời Quang nhận định] như vậy là đúng
hay không? Lúc này đúng nhằm lúc thời cuộc từ ngàn xưa chưa hề có, nhưng ngay trong
lúc này, ông ta vẫn cứ buồn vì đã năm mươi tuổi mà chưa có con, chẳng biết đoạn
nghiệp chủng ấy để mai sau chẳng đến nỗi rộng tạo ác nghiệp, di hại cho xã hội,
con cháu, điếm nhục tổ tông, cha mẹ thì may mắn chi hơn?
Về sách Nhân Phổ, trước kia
ông Minh Đạo chỉ đem đến một cuốn Nhân Phổ Loại Ký[10],
nói ông Đậu Tồn Ngã muốn ấn hành, lưu thông, xin tôi khuyên, điểm câu văn[11]
cho dễ đọc. Đến cuối tháng, Minh Đạo và Tồn Ngã đến cầm theo hai bộ sách trọn vẹn,
một bộ in theo lối chữ to, một bộ in thạch bản chữ nhỏ. Như vậy là Nhân Phổ
Chánh Biên một quyển, chỉ gồm hơn một trang, và Nhân Phổ Tục Biên quyển một và
quyển hai, tổng cộng là mười tám, mười chín trang[12].
Lời tựa mở đầu sách ấy đúng là đả phá bài xích nhân quả báo ứng đến tột cùng. Văn
tự của họ Hàn, họ Âu dẫu nhiều đến đâu đi nữa cũng chẳng quyết liệt bằng bài tựa
gần được bốn trăm chữ này! Độc tánh của bài tựa ấy ắt sẽ khiến cho kẻ khác giết
cha hại mẹ chẳng hề do dự, run sợ mảy may nào, xui khiến cho con người trong cả
đời đều biến thành cầm thú hết mới thôi!
Cung cách giảng về chánh tâm
thành ý của những tiên sinh bên Lý Học như thế chính là đả phá, bài xích cội
nguồn của chánh tâm thành ý chẳng tiếc sức chút nào. Họ chỉ muốn làm cho con
người tận nghĩa, tận phận, nhưng chẳng biết: Đã phá bỏ nhân quả thì thiện không
có gì để khuyên, ác không có gì để trừng phạt, phóng túng không kiêng dè, không
điều ác nào chẳng làm, chẳng đáng buồn ư? Chất độc khiến cho đất nước thoi
thóp, dân không lẽ sống hiện thời đều là do những vị tiên sinh Lý Học này đã hạ
độc từ trước, đến nay mới bắt đầu phát tác mạnh mẽ. Do vậy, tôi bèn bảo ông Tồn
Ngã: “Muôn vàn chớ nên lưu thông sách
này. Chỗ tốt của nó thì các thiện thư đều có, còn chỗ sai lầm của nó đúng là móc
bỏ chánh nhãn của người đời sau trong thiên hạ. Vì thế, hãy nên bỏ đi ý định ấn
hành. Những sách chú thích Công Quá Cách cũng chẳng phải là sách thích hợp căn
cơ, vì con người hiện thời phần nhiều chán nghe những chuyện nhân quả, luân thường,
chỉ có người chân tâm tu trì mới chịu đọc mà thôi! Sách Lịch Sử Thống Kỷ bất luận
là người tin Phật hay báng Phật đều chịu xem, bởi đó là những chuyện được chép
trong sách sử. Dẫu kẻ coi nhân quả là hư vọng, phô phang trống rỗng, ưa tỏ vẻ
là bậc đại thông gia trước mặt người khác, nếu đọc sách này, chẳng khỏi bị cảm
hóa! So với hết thảy các thiện thư thì sách này là thiết yếu nhất để đạt được lợi
ích thật sự”. Tiếc cho con người chẳng để ý. Nếu để ý, kẻ ngu liền thành
trí, kẻ cuồng bèn thành thánh vậy.
Họ Trầm tâm cực thành khẩn, nhưng
lời lẽ phần nhiều thiên chấp, tri thức cũng khó ngửi giống như Ngọc Phong; trước
đây, tôi đã nói với ông Úy Như [như thế]. Còn như lưu thông hay không, cứ mặc
cho người ta làm, không đả phá mà cũng chẳng tán thành, tôi cũng chẳng dính vào
hai chuyện ấy. Ông Hứa Chỉ Tịnh lại còn sửa chữa, bổ sung đại lược sách Lịch Sử
Cảm Ứng Thống Kỷ, những điều được [ông ta] thêm vào tuy đại lược nhưng có tầm
quan hệ lớn lao, nói chung [thêm vào] hơn một vạn chữ. Cư sĩ Lý Kỳ Khanh tính bỏ
ra hai ngàn đồng để khắc in mộc bản, phỏng chừng phải mất hai năm mới in thành
sách hoàn chỉnh. Thượng Hải lại cho tái bản, hiện đã giao cho Quốc Quang Thư Cục
đúc bản kẽm mới, sẽ giao cho nhà in trong khoảng tháng Tám, chắc có thể in
thành sách trong năm nay. Hiện thời pháp diệt, Nho và Thích đều như nhau; không
có loại sách này thì chẳng có gì để uốn nắn lòng người cho ngay thẳng, duy trì
thế đạo được. Vì thế, Quang vẫn còn phải lo toan đôi chút. Đối với việc giảo
chánh, đối chiếu v.v... ở Giang Tây có một vị Tăng tên là Đức Sâm tánh khá tỉ mỉ,
chịu khó, hiện đang trụ tại chùa Báo Quốc, giảo chánh kỹ càng.
Muốn tụng Quán Âm Viên Thông Chương[13], hãy nên niệm trọn bài văn tiếp theo đó. Tuy [phần kinh văn ấy] chẳng chuyên nói về phép Viên Thông của đức Quán Âm, nhưng văn lẫn nghĩa thấu lý tột cùng, viên diệu không gì bằng đ