Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục
Biên,
Quyển Hạ
Phần 1
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành nhân Minh Tiến & Huệ Trang
II. Tự
1. Lời tựa cho sách Vãn Hồi Thế Đạo Nhân Tâm Cùng Trị
Cả Gốc Lẫn Ngọn
(Mùa Đông năm Kỷ Mão (1939) thời Dân Quốc, khi ấy đã bảy mươi chín tuổi)
Lý
thế gian lẫn xuất thế gian chẳng ngoài hai chữ “tâm tánh”. Sự thế gian và xuất
thế gian chẳng ngoài hai chữ “nhân quả”. Lý tâm tánh nhỏ nhiệm, dẫu là thánh
nhân vẫn có điều không biết; sự nhân quả rành rành, dù ngu phu cũng có thể hiểu
đại khái. Thánh nhân muốn cho thiên hạ vĩnh viễn thái bình, nhân dân thường yên
vui, bèn đặc biệt soạn ra sách Đại Học để dạy pháp ấy. Vừa mở đầu sách, liền
nói: “Đại Học chi đạo, tại minh Minh Đức”
(đạo Đại Học nhằm làm sáng tỏ Đức Sáng). Minh Đức chính là điều ai nấy đều sẵn có,
nhưng do thiếu công phu khắc chế ý niệm, tự phản tỉnh, suy xét, nên Minh Đức bị
tư dục huyễn vọng che lấp chẳng thể hiển hiện để thụ dụng được! Cách để làm
sáng tỏ [Minh Đức] là “khắc chế ý niệm”. Thứ tự của công phu khắc chế ý niệm là
“tu thân, chánh tâm, thành ý, trí tri, cách vật”. “Vật” là gì? Chính là tư dục
huyễn vọng được sanh bởi cảnh, chẳng hợp thiên lý, chẳng thuận nhân tình, chứ
không phải là vật ở bên ngoài! Do những tư dục này kết chặt trong tâm nên tất cả
tri kiến đều xuôi theo tư dục, trở thành lệch lạc, tà vạy. Như kẻ tham danh tham
lợi chỉ biết có lợi, chẳng biết đến hại, kiệt lực lo toan, rất có thể đến nỗi
thân bại danh liệt! Kẻ yêu vợ thương con chỉ biết đến những điều tốt của vợ
con, chẳng biết đến những thói xấu của họ, nuôi thành mầm họa, sẽ có thể đến nỗi
bị tan nhà nát cửa. Đấy đều là do tư dục Tham và Ái sai khiến. Nếu trừ khử hết sạch
những thứ tư dục chẳng hợp tình hợp lý ấy thì vợ con đúng hay sai sẽ tự biết, đối
với đường lối để đạt được danh lợi sẽ chẳng cần phải đút lót hay mong cầu sai
trái nữa!
Trước hết, phải hiểu chữ Vật
này là tư dục huyễn vọng chẳng hợp tình hợp lý thì trừ khử nó sẽ là chuyện dễ
dàng! Nếu không, suốt đời dốc sức cũng chẳng làm gì được nó! Dẫu đọc trọn hết
sách vở thế gian cũng chỉ trở thành một loài dây leo sống bám vào cội cây [lớn],
trở thành một gã theo sóng đuổi sóng! Cái họa của món vật tư dục lớn lắm thay!
Nếu biết “vật” ấy là oán gia sanh tử của chúng ta, quyết chẳng để cho nó được tạm
tồn tại trong tâm ta thì chánh tri vốn sẵn có trong cái tâm này sẽ tự hiển hiện.
Chánh tri đã hiển hiện thì “ý thành, tâm chánh, thân tu” sẽ được hướng dẫn xuôi
dòng với khí thế như chẻ tre, chẳng mong cầu mà tự nhiên được như thế. Con người
ai cũng đều có thể là Nghiêu - Thuấn, ai cũng đều có thể thành Phật, vì hết thảy
mọi người ai nấy đều sẵn có Minh Đức, hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh. Những
kẻ chẳng thể là Nghiêu - Thuấn, chẳng thể làm Phật đều do bị tư dục bít chặt,
chẳng mạnh mẽ đổ công sức khắc chế ý niệm đến nỗi bị tư dục xoay chuyển, luân hồi
sáu nẻo từ kiếp này sang kiếp khác, trọn chẳng có lúc thoát ra, chẳng đáng buồn
sao? Những kẻ chuyên dạy “cách vật trí tri” mà chẳng dùng nhân quả để phụ giúp
cho sự hướng dẫn, chắc sẽ khó thể phát khởi đại tâm mạnh mẽ, dốc chí tu trì được!
Tôi thường nói: “Nhân quả là phương tiện lớn lao để thánh
nhân trị thiên hạ, để Phật độ thoát chúng sanh”. Luận theo Phật pháp, từ địa
vị phàm phu cho đến Phật Quả, tất cả các pháp
đều chẳng ra ngoài nhân quả. Luận theo thế gian, lẽ đâu riêng một pháp nào lại chẳng
như thế? Vì thế Khổng Tử khen ngợi Châu Dịch[1],
thoạt đầu liền nói: “Tích thiện chi gia,
tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (nhà tích thiện
sự vui mừng có thừa, nhà chất chứa điều bất thiện tai ương có thừa). “Tích thiện, tích bất thiện” là nhân, “dư khánh, dư ương” là quả. Hơn nữa, đã
có dư khánh, dư ương, lẽ đâu chẳng có bổn khánh, bổn ương? Bổn khánh, bổn ương
chính là quả báo sẽ đạt được trong đời kế tiếp hoặc trong những đời sau nữa của
người tích lũy điều thiện hay điều bất thiện, [những quả báo ấy] sẽ lớn lao hơn
dư khánh, dư ương mà con cháu được hưởng cả trăm ngàn vạn lần! Phàm phu chẳng
thấy được, há nên cho là không có ư? Ví như trong đêm tối om chẳng thấy được hết
thảy mọi vật, nhưng chẳng được nói hết thảy mọi vật đều bị tiêu diệt!
Cơ Tử[2]
trình bày Hồng Phạm, trong phần cuối cùng mới nói: “Hưởng dụng ngũ phước, oai dụng lục cực” (Thuận theo sẽ được năm điều
phước, trái nghịch sẽ bị sáu điều khốn khó). Ngũ Phước, Lục Cực là nói đến cái nhân
trong đời trước trở thành cái quả trong đời này. “Hưởng” (嚮)
là thuận theo, “dụng” (用) là “dĩ” (以) (thì, là), là đắc (得) (được). [Trong Ngũ
Phước], một là “thọ”, hai là “phú” (giàu có), ba là “khang ninh” (mạnh khỏe,
yên ổn), điều thứ năm là “khảo chung mạng” (hết tuổi thọ mới chết), đó chính là
quả cảm thành bởi tu đạo, tu đức trong đời trước; điều thứ tư là “du hảo đức”
(thường có đức tốt) chính là thói quen tu đạo tu đức từ đời trước. “Cực” (極)
có nghĩa là tai ách tột cùng. Nên hiểu nghĩa chữ Oai (威) là Vi (違)[3], [tức] trái nghịch; ý nói: Những gì đã làm trong đời
trước trái nghịch với đạo đức thì đến đời này sẽ bị: Một là xui xẻo chết ngang
và đoản thọ (xui xẻo và đoản thọ gộp thành điều thứ nhất); hai là thân bệnh tật chẳng được mạnh khỏe; ba là tâm
lo lắng không yên; bốn là nghèo cùng, chi dùng chẳng đủ; năm là diện mạo xấu xa;
sáu là thân yếu ớt, không có năng lực!
Nhà Nho mờ mịt nơi tiền nhân hậu
quả, nên chuyện gì cũng đều quy về sự cai trị của vua, gần như diệt thiên lý,
vu báng sự cai trị của nhà vua! Trẻ nhỏ sanh vào nhà phú quý bèn hưởng phước, sanh
vào nhà nghèo cùng sẽ chịu khổ, há có phải là do nhà vua cai trị có phân biệt khiến
nó phải sanh như vậy hay chăng? Vì thế, kinh dạy: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị; dục tri lai thế quả, kim
sanh tác giả thị” (Muốn biết cái nhân đời trước thì những gì phải chịu
trong đời này chính là nó đấy; muốn biết quả trong đời sau thì những gì đã làm
trong đời này chính là nó đấy). Hồng Phạm do vua Đại Vũ soạn ra, Cơ Tử trần thuật
[nội dung sách ấy] với Vũ Vương. Lời nói về Ngũ Phước, Lục Cực ở cuối [thiên
sách] ấy đã giảng rõ nghĩa “nhân quả ba đời” cực kỳ xác đáng, thiết thực.
Tống Nho cho rằng: “Phật nói
nhân quả ba đời, lục đạo luân hồi chính là chỗ dựa để lừa bịp ngu phu, ngu phụ
tuân phụng giáo pháp của Ngài, chứ thật ra chẳng hề có chuyện ấy”. Họ phán quyết:
“Con người sau khi chết đi, hình hài đã mục nát, thần hồn cũng phiêu tán. Dù có
chém - chặt - xay - giã, lấy chi để thực hiện? Thần hồn đã phiêu tán rồi, còn
ai để thọ sanh?” Họ quyết đoán “chắc chắn không có nhân quả”, vậy thì trong
Xuân Thu Truyện, Sử Ký, Hán Thư thường chép những kẻ bị giết oan quấy phá, kẻ
chịu ân báo đức, đủ mọi sự tích, chắc là tiền hiền đã tạo sẵn căn cứ cho Phật
giáo lừa phỉnh người khác đó chăng? Đã không có nhân quả, không có đời sau thì
Nghiêu hay Kiệt đều chết sạch cả rồi, ai chịu khăng khăng tu trì để cầu hư danh
sau khi chết nữa đây? Bởi lẽ cái Ta thật sự đã không có, hư danh có ích chi đâu?
Do vậy, thiện không có gì để khuyên, ác không có gì để trừng phạt. Lại còn
riêng xướng cao giọng dạy người “làm lành thì phải là không làm gì cả, hễ có
làm gì để làm lành tức là ác”. Thứ tà thuyết này gây lầm lạc, nguy hãm cho quốc
gia, xã hội chẳng cạn đâu!
Kẻ vô tri khâm phục [Châu -
Trình] cao minh, trọn chẳng có một niệm muốn làm lành. Người có trí đau xé tâm
can bởi [Tống Nho] hoàn toàn phế bỏ đạo “khuyên dụ dần dần làm lành” của thánh
nhân mà cứ mong con người có tư cách thánh nhân! Nhưng thánh nhân cũng chẳng phải
là hạng “chẳng làm gì mới là làm lành”! Khổng Tử đến năm bảy mươi tuổi vẫn muốn
trời cho sống thêm dăm mười năm nữa để học Dịch hòng tránh khỏi lỗi lớn. Một bộ
kinh Dịch không điều gì chẳng nhằm dạy con người về đạo “hướng lành, tránh dữ,
lo lắng dè dặt khắc chế ý niệm để tu trì”. Nếu đúng như họ (tức những nhà Tống
Nho) nói thì Phục Hy, Văn Vương, Châu Công, Khổng Tử đều trở thành những kẻ tội
lỗi đứng đầu, là cội gốc họa hại lầm lạc dạy người khác làm ác cả, có lẽ ấy hay
chăng?
Tình người như nước, nhân quả
như đê. Tống Nho cực lực bài bác nhân quả, cho đấy là chỗ dựa dẫm để Như Lai gạt
gẫm người ta tuân phụng giáo pháp của Ngài, nhưng lẽ nào nhân quả được nói
trong kinh điển đạo Nho chẳng phải là thật có ư? Họ muốn bác Phật để bảo vệ
Nho, rốt cuộc trở thành phế kinh, phế trừ luân thường, thực hành biến [con người]
thành loài thú. Vở tuồng xấu xa ấy đều do những kẻ cao giọng đề xướng ấy diễn
xuất, khiến cho đạo làm người hầu như diệt mất! Ông Phí Trí Nghiễm xưa kia từng
lậm phải chất độc của Trình - Châu rất sâu, đến lúc tuổi già, do sự lịch duyệt
sâu xa, nhân đời loạn mà biết được cái gốc họa; bởi vậy bèn quy y Tam Bảo, đọc
khắp các sách vở, đối với sự tích nhân quả ba đời và lục đạo luân hồi, đều sao
chép sơ lược đại khái, ngõ hầu người đọc bỏ được tà kiến Đoạn Diệt, tuân theo
quy củ lớn lao của đạo Nho và Thích. Nếu con người ai nấy đều hành theo thì cõi
đời sẽ trở lại thuở Đường Ngu, con người giữ vẹn lễ giáo, biến nghị lực tàn sát
lẫn nhau trở thành sự nghiệp lớn lao duy trì lẫn nhau. Do vậy, bèn đặt tên cho
sách này là Tập Sách Vãn Hồi Thế Đạo Nhân Tâm Cùng Trị Cả Gốc Lẫn Ngọn.
Do thầy thuốc trị bệnh, bệnh cấp
bách bèn trị nơi đằng ngọn (triệu chứng), bệnh tình hòa hoãn bèn trị nơi đằng gốc
(căn nguyên). Như người cổ họng sưng phồng, hai đường đại - tiểu tiện chẳng
thông, nếu trước hết chẳng dùng thuốc để tiêu chứng phù thũng và khai thông đại
tiểu tiện thì người ấy sẽ chết ngay, dẫu có cách trị tận gốc cũng trọn chẳng có
chỗ nào để áp dụng được! Vì thế, phải trị đằng ngọn trước. Với những chứng bệnh
thuộc đằng ngọn khác, chỉ cần điều hòa tạng phủ cho tốt lành thì những chứng đằng
ngọn không trị cũng sẽ tự mất! Sự lý “cách vật, trí tri, thận độc (cẩn thận, dè
dặt), khắc chế ý niệm, nhân quả ba đời, lục đạo luân hồi” từ địa vị phàm phu
cho đến khi thành thánh, thành Phật, đều chẳng thể lìa được! Khổng Tử lo âu vì “đức chẳng tu, học chẳng giảng, nghe điều nghĩa
chẳng thể noi theo, điều không tốt chẳng thể sửa đổi”; đức Như Lai giảng Tứ
Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, lục độ, vạn hạnh, mỗi mỗi đều là nhân quả. Nếu không
có nhân quả thì con người có khác gì cầm thú, há nên nói xằng ư?
2. Lời tựa tái bản Tịnh Độ Ngũ Kinh
(năm Dân Quốc 22 - 1933)
Pháp
môn Tịnh Độ lớn lao không gì ra ngoài được, thích hợp khắp ba căn, gồm thâu lợi
căn lẫn độn căn. Chúng sanh trong chín giới bỏ pháp này thì trên chẳng thể viên
thành Phật đạo, mười phương chư Phật rời khỏi pháp này thì dưới chẳng thể độ khắp
quần manh. Hết thảy pháp môn, không một pháp nào chẳng lưu xuất từ pháp giới này.
Hết thảy hạnh môn, không môn nào chẳng trở về pháp giới này. Nếu luận theo chỗ
thấy của bậc căn cơ Đại Thừa thì [pháp môn này] quả thật bắt nguồn từ kinh Hoa
Nghiêm, vì Thiện Tài tham học với khắp các tri thức, cuối cùng ở dưới tòa của đức
Phổ Hiền nhờ oai thần của Ngài gia bị, sở chứng bằng với đức Phổ Hiền và bằng với
chư Phật, trở thành bậc Đẳng Giác Bồ Tát. Ngài Phổ Hiền bèn đem mười đại nguyện
vương khuyến tấn Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng [tức là] hàng Pháp Thân đại sĩ
thuộc bốn mươi mốt địa vị đều hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để
mong viên mãn Phật Quả, đấy chính là pháp quy tông kết đảnh của kinh Hoa Nghiêm
vậy! Kinh Hoa Nghiêm dạy rõ pháp thành Phật trong một đời, nhưng quy tông[4]
nơi cầu sanh Tịnh Độ. Do đó, biết rằng: Một pháp Tịnh Độ chính là vô thượng đại pháp
thành thủy thành chung để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành
Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh vậy. Đấy chính là chỗ thấy của bậc căn
cơ Đại Thừa, hàng Nhị Thừa còn chưa được thấy nghe, huống là phàm phu đầy dẫy
triền phược ư?
Cho đến hội Phương Đẳng[5],
đức Phật đặc biệt chuyên nói ba kinh Tịnh Độ để hết thảy dù phàm hay thánh đều
cùng chăm chú tu trì ngõ hầu được thoát khỏi cõi Ngũ Trược đây, vượt lên cõi
sen chín phẩm kia ngay trong đời này. Tại núi Linh Thứu[6]
thuộc nước Ma Kiệt Đề, đức Phật nói ra nhân địa lúc ban đầu của A Di Đà Phật: Bỏ
nước xuất gia, phát ra bốn mươi tám nguyện. Lại trải kiếp dài lâu, tu hành theo
đúng lời nguyện, cho đến khi phước huệ viên mãn, được thành Phật đạo, cảm được
thế giới trang nghiêm mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được, mười phương chư Phật đều
cùng tán thán. Mười phương Bồ Tát và hàng Nhị Thừa hồi Tiểu hướng Đại lẫn phàm
phu trọn đủ Hoặc nghiệp đều được vãng sanh, đều được bình đẳng nhiếp thọ. Đấy
là kinh Vô Lượng Thọ.
Trong vương cung nước Ma Kiệt
Đề, nói ra ba phước Tịnh nghiệp, mười sáu phép quán mầu nhiệm để hết thảy chúng
sanh đều biết nghĩa lý “tâm này làm Phật,
tâm này là Phật, biển Chánh Biến Tri[7]
của chư Phật đều từ tâm tưởng sanh; tâm này là chúng sanh, tâm này làm chúng
sanh, biển nghiệp phiền não của chúng sanh từ tâm tưởng sanh” đã được nêu
rõ ràng. Nếu có thể hiểu sâu xa nghĩa này, ai chịu bị luân hồi oan uổng? Cuối
kinh nói rõ cái nhân của chín phẩm vãng sanh ngõ hầu ai nấy đều tu Thượng Phẩm.
Đấy là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh.
Tại nước Xá Vệ, trong vườn Cấp
Cô [Độc], nói diệu quả của y báo và chánh báo cõi Tịnh Độ để [thính chúng] sanh
lòng tin, khuyên những người nghe hãy nên phát nguyện cầu được vãng sanh. Lại dạy
các hành giả lập hạnh chấp trì danh hiệu. Ba điều Tín - Nguyện - Hạnh là cương
tông của pháp môn Tịnh Độ. Đầy đủ ba pháp này thì hoặc là suốt đời chấp trì đã
đắc nhất tâm, hoặc khi lâm chung mới được nghe, chỉ xưng danh mười niệm, đều được
Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Đấy là A Di Đà Kinh.
Ba kinh này là những kinh
chuyên giảng về Tịnh Độ, nhưng A Di Đà Kinh thâu nhiếp căn cơ phổ biến nhất. Vì
thế, các tông Thiền, Giáo, Luật đều cùng vâng dùng làm kinh nhật tụng. Các kinh
Đại Thừa nói kèm về Tịnh Độ nhiều không đếm xuể, nhưng chương Đại Thế Chí Niệm
Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm quả thật là khai thị mầu nhiệm nhất về pháp
Niệm Phật. Nếu chúng sanh có thể nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối mà niệm,
há có ai chẳng thể trong hiện tại hay tương lai nhất định thấy Phật, gần là chứng
Viên Thông, xa là thành Phật đạo ư? Vì thế đem chương này xếp vào sau ba kinh; nối
theo sau Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm để thành một đại duyên khởi cho pháp môn Tịnh
Độ khiến cho những người đọc sẽ biết pháp này tỏ bày thông suốt rộng lớn bản
hoài của đức Phật, so với các pháp cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng Chân hòng
liễu sanh tử thì sự khó - dễ khác xa một trời, một vực! Do vậy, chín giới cùng
hướng về, mười phương chung khen ngợi, ngàn kinh đều xiển dương, vạn luận đều
tuyên thuyết. Bản khắc Tịnh Độ Tứ Kinh ở Kim Lăng đã bị mờ nét, người tu Tịnh
nghiệp khổ vì không có bản rõ ràng nhất để đọc. Vì thế, cho đúc bản kẽm, ghép
Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương vào sau ba kinh Tịnh Độ [và phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện], gọi là Tịnh Độ Ngũ Kinh. Nếu luận trên duyên khởi của pháp môn nên để
kinh Vô Lượng Thọ đứng đầu, [nhưng] nay để thuận tiện cho việc đọc tụng nên đặt
kinh A Di Đà lên đầu, [mong] người đọc lượng thứ.
3. Lời tựa trình bày duyên khởi của việc in kèm phẩm Tịnh
Hạnh của kinh Hoa Nghiêm vào sau Tịnh Độ Ngũ Kinh
(năm
Dân Quốc 23 - 1934)
Bộ
kinh Hoa Nghiêm mầu nhiệm sự lý viên dung, Lý là do Sự mà hiển, Sự là do Lý mà
thành, Lý lẫn Sự đều đạt đến tột cùng, viên chứng Tỳ Lô Pháp Thân. Vì thế, đức
Như Lai khi mới thành Chánh Giác bèn cùng các Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn mươi mốt
địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác nói ra các pháp
nhân quả của những pháp môn do đức Như Lai tự chứng. Nhân quả chính là Sự, pháp
do đức Như Lai tự chứng chính là Nhất Chân Pháp Giới, là Chân Như Phật Tánh tịch
chiếu viên dung, bất sanh, bất diệt, chẳng phải có, chẳng phải không. Phật Tánh
ấy nơi phàm chẳng giảm, tại thánh chẳng tăng. Đức Phật do đã chứng rốt ráo nên
thường hưởng pháp lạc Thường - Lạc - Ngã - Tịnh; chúng sanh do triệt để mê nên luôn
chịu nỗi khổ sanh tử luân hồi hư vọng. Ví như tấm gương báu tròn lớn bị bụi
đóng cả kiếp, dẫu có ánh sáng chiếu trời soi đất vẫn chẳng có cách nào tỏ lộ để
thụ dụng được! Vì thế, phải nhờ đến các vị Bồ Tát hỏi đáp với nhau để nói ra những
pháp môn Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác. Lại
dùng mười đại nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc hòng viên mãn Phật Quả. Đấy là
Như Lai đem nhân quả do Ngài tự chứng dạy cho khắp hết thảy chúng sanh, khiến
cho ai nấy đều đích thân chứng được khuôn phép lớn lao. Những người thuộc Tín vị
(tức những người thuộc địa vị Thập Tín) thì dùng phẩm Tịnh Hạnh làm Nhân Địa
Tâm (cái tâm trong lúc tu nhân) để trên là hợp với hoằng thệ đại nguyện về Quả
Giác. Dù có vượt lên những bậc cao sâu hơn như Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác, nhưng trong mỗi địa vị vẫn phải dùng một trăm bốn mươi mốt
nguyện này[8]
để làm căn cứ tấn tu.
Do vậy, biết rằng phẩm kinh
này giữ một vai trò quan trọng rất lớn, nó chẳng những là cơ sở đầu tiên để nhập
[cảnh giới] Phật, mà thật sự còn đáng gọi là cội gốc lớn lao để thành Phật! Chúng
sanh đời Mạt căn cơ kém mỏng, nếu có thể tâm tâm niệm niệm thường tụng kinh văn
này, thường phát những nguyện này thì tam nghiệp sẽ mau được thanh tịnh, niệm
niệm trên khế hợp tâm Phật, lâm chung lên thẳng Thượng Phẩm, công đức [của phẩm
này] cùng [công đức thọ trì] phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện soi rọi lẫn nhau, chẳng
hề kém sút. Vì thế, pháp sư Tỉnh Thường đầu đời Tống hâm mộ phong thái của Lô
Sơn Viễn Công (tổ Huệ Viễn), đề xướng pháp môn Tịnh Độ, trích máu chép phẩm
này. Lại dùng chữ Tịnh Hạnh để đặt tên cho liên xã. Liên tông được chấn hưng,
nguyên do là vì dốc sức sâu xa nơi lời lẽ, hành vi thường ngày đều hợp với giác
đạo vô thượng của Như Lai vậy!
Một đệ tử là Dương Huệ Đạo
tính muốn in gộp chung phẩm Tịnh Hạnh và phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện để lưu
thông, Quang nói: “Muốn cho kẻ sơ cơ lắng
lòng niệm Phật, hãy nên dùng Tịnh Độ Ngũ Kinh để dẫn đường, chẳng nên chỉ chọn một
mình phẩm Hạnh Nguyện trong Ngũ Kinh, hãy nên làm sao cho họ được đọc trọn khắp
năm kinh, lại còn dùng phẩm Tịnh Hạnh để răn nhắc trong hết thảy thời, hết thảy
chỗ thì họ sẽ tự hớn hở nơi đạo vậy!” Than ôi! Đời bây giờ là đời gì vậy?
[Chính là] lúc vứt bỏ cương thường luân lý, chuyên đề cao mưu mẹo dối trá, tàn
sát lẫn nhau. Nếu chẳng lấy tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương để hướng dẫn
thì sợ rằng đời sau làm người đối với những tên gọi “cương thường, luân lý” do
thánh nhân đời trước đã lập còn chẳng thể được nghe! Vì thế, phàm là người có đủ
chánh tri kiến, chánh tín tâm đều lấy sự tu trì tịnh nghiệp làm chí hướng, sự
nghiệp. Do vậy, ở đây tôi riêng thuật duyên khởi ghép [phẩm này] vào sau kinh
văn để người đọc sau này không nghi ngờ vậy!
4. Lời tựa tái bản lưu thông sách Tâm Kinh Thiêm Túc
(năm Dân Quốc 19 - 1930)
Tâm
Kinh dạy rõ về Bồ Đề, Niết Bàn được chứng bởi tam thế chư Phật và hết thảy
chúng sanh sẵn có Chân Như Phật Tánh. [Kinh này] là đạo trọng yếu để độ sanh của
mười phương Như Lai, là khuôn mẫu tốt lành cho cả hằng trăm hành nhân thành Phật.
Văn giản dị, nghĩa phong phú, từ ngữ ngắn gọn nhưng lý uyên thâm, khiến cho khắp
mọi thượng trung hạ căn hễ khởi công [tu tập] đều cùng được vào thẳng địa vị của
Như Lai, trong các kinh thật là bậc nhất! Tuy chỉ gồm hai trăm sáu mươi chữ,
nhưng nghĩa lý sâu thẳm của sáu trăm quyển kinh Đại Bát Nhã đều được bao trùm sạch
sành sanh.
Ấy là vì đức Như Lai trí huệ tự
tại vô ngại, tùy theo đương cơ [nghe pháp] mà nói rộng hay nói đại lược cho phù
hợp. Nói rộng thì tuy trọn hết biển mực cũng chẳng thể [viết trọn] hết được,
nói đại lược thì kiếm một chữ cũng không ra, khiến cho người nghe ai nấy đều được
lợi ích thật sự. Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn thường trì kinh này, y theo
đó tu tập, sẽ tự được Ngũ Uẩn rỗng không, chứng Thật Tướng của các pháp, lìa
điên đảo, đạt được Niết Bàn rốt ráo. Vì thế, [trong số] các danh nhân thời cổ
thường có những vị tụng đến mấy trăm vạn biến, bởi kinh này là pháp môn Tổng
Trì của các pháp.
Con trai thứ của cư sĩ Hạ Huệ
Hoa là Thúc Quỳ bẩm tánh thông minh, mẫn tiệp, nhiệt tâm làm chuyện công ích,
luôn ôm ấp chí hướng “chẳng làm lương tướng
ắt làm lương y”, làm Hội Trưởng Hội Sinh Viên trường thuốc Hiệp Hòa tại Bắc
Bình (Bắc Kinh). Năm Dân Quốc 15 (1926), tuổi tròn hai mươi bảy, bị bệnh rất nặng,
khi sắp chết, hỏi cha rằng: “Nên giải nói [ý nghĩa] bất sanh bất diệt của Tâm
Kinh như thế nào?” Cư sĩ dạy: “Đấy chính là nói về bản thể của cái tâm bọn ta,
giống như thái hư không, không tướng, không hình, chẳng phải không, chẳng phải
có, tại phàm chẳng giảm, nơi thánh chẳng tăng, ở trong sanh tử chẳng nhơ, chứng
Niết Bàn chẳng sạch, tướng sanh còn chẳng có, làm sao có tướng diệt cho được?
Ngộ được lý ấy, mới xứng danh là Phật Tử. Tuy nhiên, nói thì dễ dàng làm sao! Con
hãy nên nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương đợi đến khi hoa nở thấy Phật chứng
Vô Sanh Nhẫn thì mới phần chứng được tâm thể bất sanh bất diệt này! Từ đấy tấn
tu mãi cho đến khi ba Hoặc đều hết sạch, hai thứ tử (biến dịch và phần đoạn) đều
vĩnh viễn mất, viên mãn Bồ Đề, trở về chỗ không có gì để đạt được nữa thì mới
là rốt ráo chứng được tâm thể bất sanh bất diệt ấy! Chớ nên nghĩ ‘nghe tên là
đích thân chứng’, chẳng cầu vãng sanh, để đến nỗi trầm luân cả kiếp dài lâu,
không cách nào thoát khỏi được!” Không lâu sau, người con liền mất, lúc sống đối
với Phật pháp anh ta hoàn toàn chưa từng bận tâm, lâm chung lại hỏi đến chuyện
này, chẳng phải là có túc căn hay sao? Được cư sĩ khai thị, nếu không vãng sanh
cũng có thể trở thành duyên nhập đạo cho đời sau, so với những kẻ cho đến hết đời
chẳng được nghe đến, khác biệt hệt như một trời một vực!
Nhân đó, cư sĩ muốn lưu thông
bản chú giải Tâm Kinh rõ ràng, rộng rãi, cặn kẽ nhất ngõ hầu hàng sơ cơ đều có
thể lãnh hội được; cư sĩ Phạm Cổ Nông khuyên nên in cuốn Tâm Kinh Thiêm Túc của
pháp sư Hoằng Tán đời Minh, lại còn [đích thân] giảo chánh câu chữ. Do vậy, bèn
cho in ra chừng đó quyển để tặng các tịnh lữ hòng kết pháp duyên để siêu tiến,
giữ lại hai bản in để tái bản mãi mãi. Mong những ai thấy nghe, thọ trì, đều
dùng Quán Trí rất sâu soi thấy Ngũ Uẩn đều không, đích thân chứng được tâm thể
bất sanh bất diệt này để vượt qua hết thảy khổ ách!
5. Lời tựa lưu thông kinh Địa Tạng in theo lối thạch bản
(năm Dân Quốc 17 - 1928)
Tâm
chúng sanh và tâm Phật không hai. Kẻ chẳng thể làm Phật, thường làm chúng sanh là
vì chính họ chẳng có huệ lực, chẳng thể giác ngộ, lại không có thiện tri thức
chỉ dạy. Do vậy, diệu tâm sẵn có Phật Tánh trở thành căn bản để khởi Hoặc tạo
nghiệp đến nỗi luân hồi cả kiếp dài lâu, trọn chẳng có thuở thoát ra, chẳng
đáng buồn ư? Vì thế, lúc mới thành Chánh Giác, đức Thế Tôn ta bèn lên cung trời
Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ, vì muốn cho hết thảy chúng sanh đều cùng mong báo
ơn cha mẹ, nên đặc biệt dạy rõ Địa Tạng Bồ Tát trong những kiếp xưa do cứu mẹ đã
rộng phát thệ nguyện Bồ Đề để làm thuyền bè cho chúng sanh trong tương lai được
thoát biển khổ.
Toàn
bộ kinh văn [kinh Địa Tạng Bổn Nguyện] dạy cặn kẽ cả sự lẫn lý, văn từ rõ ràng,
thoáng đạt, nêu tỏ trọn vẹn những nghĩa lý “tâm
này làm Phật, tâm này là Phật; tâm này làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh” và “tâm có thể tạo nghiệp thì tâm có thể chuyển
nghiệp, tâm chẳng chuyển được nghiệp thì nghiệp sẽ trói buộc tâm” v.v… Hai
câu chuyện đức Địa Tạng trong kiếp xưa cứu mẹ càng nêu thật sát sao, rõ ràng ý
nghĩa này; thật có thể gọi là “người dẫn
đường nơi lối hiểm, đuốc huệ nơi đường tối, kho báu cho kẻ nghèo thiếu, gạo
thóc cho năm đói kém” khiến cho hết thảy chúng sanh mê muội mau được giác
ngộ, hết thảy những đứa con hiếu thuận có được sư thừa[9].
Lợi ích của kinh không thể nào tuyên nói được! Tây Thiên, Đông Độ, những người
đọc kinh này bèn khởi chí chẳng thể nào đếm xuể! Hòa Thượng Chân Đạt muốn báo
ân võng cực[10],
tính mời người viết chữ đẹp cung kính chép kinh này để in theo lối thạch bản
thí tặng, gặp đúng lúc cư sĩ Trí Chuẩn Lỗ Chỉ Nam đem bản kinh Kim Cang do
chính ông ta tự viết xin Hòa Thượng giảo chánh. Sư thấy cư sĩ vì muốn báo ân
cha mẹ liền đích thân cung kính chép kinh [Kim Cang] để thường trì tụng, ắt cũng
sẽ vui sướng chép kinh này, nên bèn khẩn khoản nhờ chép, liền được [cư sĩ] nhận
lời. [Hòa Thượng] sai Quang viết lời tựa phơi bày trọn vẹn sự lợi ích của kinh,
hòng phát khởi tấm lòng hiếu thảo của những kẻ làm con trong thế gian, mong họ
sẽ tùy thời, tùy việc trọn hết đạo hiếu.
Nghĩ đến ân sâu cù lao[11],
ắt sẽ [thực hiện] cho đến khi cha mẹ ta được rốt ráo an ổn nơi bảo sở mới thôi.
Do vậy, dùng tâm chí thành, niệm thánh hiệu Phật, kèm thêm kính cẩn giữ vẹn luân
thường, trọn hết thiên chức của chính mình, đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều thiện, dùng công đức này để giúp cho cha mẹ ta, mong cho cha mẹ còn sống sẽ
được nghiệp chướng tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, phước thọ tăng cao, trí huệ
khơi mở, đã khuất bóng thì thần hồn siêu thăng cõi tịnh, nghiệp trả lại trần
lao, chứng Vô Sanh Nhẫn, ở vào địa vị Bất Thoái, ngõ hầu hơi trọn được tấm lòng
riêng của quạ[12],
chẳng làm đấng sanh thành phải thẹn. Lại còn phải biết: Hết thảy chúng sanh đều
là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, hãy nên dùng tâm Đại Bồ Đề
tùy thuận cơ nghi vì họ tuyên nói và cứu giúp hòng khế hợp Phật tâm, phù hợp
cái nguyện của chính mình, quạt gió Từ dập tắt ác nghiệp, sẽ thấy lễ nghĩa,
nhân nhượng được hưng khởi, can qua dứt bặt mãi mãi, phong tục tốt đẹp, thiên hạ
hòa bình!
6. Lời tựa cho sách Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Tập Chứng
(năm Dân Quốc 17 - 1928)
Kinh
Phạm Võng là đại pháp để đức Như Lai nung luyện hết thảy dù thánh hay phàm, ngõ
hầu họ sẽ rốt ráo đoạn trừ ba Hoặc, đích thân chứng được ba đức, khôi phục Phật
Tánh sẵn có, thành Phật Quả vô thượng. Ấy là vì đối với Chân Như diệu tánh thì chúng
sanh và Phật cùng một thể, nơi phàm chẳng giảm, tại thánh chẳng tăng, nhưng từ
vô thủy đến nay cứ mê chẳng ngộ, như vàng còn trong quặng chẳng thụ dụng được!
Đức Như Lai thương xót hết thảy chúng sanh mê mất minh châu trong chéo áo, uổng
công rong ruổi hướng ra ngoài tìm tòi. Do vậy, khởi tham - sân - si, tạo giết -
trộm - dâm đến nỗi luân hồi lục đạo trọn chẳng có thuở ra! Dù có người đoạn được
những Hoặc trong tam giới, thoát lìa sanh tử, nhưng vẫn còn cách địa vị Phật quá xa! Bởi thế,
khi mới thành Chánh Giác, Phật liền lập tức vì hết thảy thánh - phàm giảng đại
pháp này, trước hết làm cho họ liễu ngộ tự tâm vốn là Phật tâm, nên mới nói: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh, các
ông là Phật sẽ thành, ta là Phật đã thành”.
Tin được như thế, chắc chắn sẽ
chẳng đến nỗi đề cao thánh cảnh nhưng tự cam phận phàm ngu, trên là cô phụ sự
giáo hóa của Phật, dưới là phụ bạc tánh linh của chính mình! Cho nên mới nói: “Thường tin tưởng như thế thì giới phẩm đã đầy
đủ!” Rồi đối với những lời ăn tiếng nói, hành vi thường ngày, khởi tâm từ
bi, tâm hiếu thuận, dẹp lòng tà, giữ lòng thành, đánh đổ cái ham muốn xằng bậy
của chính mình để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng làm những điều
thiện, sao cho luôn đúng chừng mực, không phải hổ thẹn chút nào, nơi ba nghiệp
vĩnh viễn trọn chẳng có tỳ vết thì hai thứ đại thể đại dụng “tự lập, lập người,
tự lợi, lợi tha” đều đầy đủ. Giữ tấm lòng thanh khiết xông tận trời thẳm, khác
nào hư không mênh mông chứa khắp muôn hình tượng trọn chẳng chướng ngại gì! Xử
sự chánh đại quang minh như mặt trời chói lọi chiếu khắp muôn phương, nhưng trọn
chẳng hề chọn lựa. Do vậy, Tứ Nhiếp cùng được thực hiện, Tứ Hoằng[13]
phổ độ, đáng gọi là “tiên dĩ dục câu
khiên, hậu linh nhập Phật trí” (trước hết dùng dục[14]
để lôi kéo, sau làm cho nhập Phật trí), hư không dẫu có tận, nguyện tôi vẫn vô
cùng.
Làm được như thế, nào còn có
cái tâm ta - người, đúng - sai, tự tư tự lợi chi nữa, huống là có chuyện phá
trai, phạm giới và tổn người, lợi mình, lật đổ, tàn hại lẫn nhau nữa ư? Do vậy
biết: Kinh này dẫu thuộc về đại pháp xuất thế, nhưng quả thật là mưu lược tốt
lành để giữ yên cõi đời. Vì thế, hết thảy quốc vương, đại thần và tứ chúng xuất
gia, bốn chúng tại gia cùng các quỷ thần đều nên thọ trì! Nếu có thể thọ trì sẽ
như nước rửa sạch đồ đựng, liền khôi phục sự sạch sẽ sẵn có; như hương xông áo,
sẽ mau chóng thêm thơm ngát hơn. Trong lúc Kiếp Trược này, muốn vãn hồi mà bỏ
pháp này, làm sao yên được?
Hành giả Diệu Lãng xưa đã có
linh căn, dốc lòng tu Tịnh nghiệp, thường đọc kinh này, ngưỡng mộ khôn xiết,
phát nguyện lưu thông để lợi khắp hết thảy. Lại thường đối với những ý nghĩa trì
giới trọng yếu đã được khai thị trong các kinh Tiểu Thừa, Đại Thừa và các truyện
ký mà chính mình đã đọc đều trích lục, ghi vào đằng sau [chánh kinh] để làm
pháp răn dạy cho mình lẫn người cùng tu trì, ngõ hầu người đọc biết được lợi
ích do trì giới: Gần là ba nghiệp thanh tịnh, Tam Học (Giới - Định - Huệ) viên
minh, xa là sạch hết ba Hoặc, ba đức trọn bày. Họa hoạn do phạm giới thì gần là
ba nghiệp ô trược, vĩnh viễn đọa trong tam đồ; xa là ba chướng[15]
thường hiện diện, chẳng thoát được tam giới! Phật do chính ta làm, địa ngục do
chính ta tạo, như đến trước gương báu, tốt - xấu hiện rành rành, ai lại chịu tự
chuốc lấy mối lo, bỏ lợi ích để nhận lấy họa hoạn cơ chứ?
Người chị dâu [của Diệu Lãng] là
Phương Tỉnh, vâng theo di mạng của bà mẹ chồng đã quá cố, nguyện bỏ ra tịnh tài
để giúp in một vạn cuốn hòng thành tựu chí nguyện này, ngõ hầu kính tặng các Phật
tử tại gia và xuất gia. Do công đức này, mong cửa nhà bình yên, may mắn, quyến
thuộc yên ổn, mạnh khỏe, đời này được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử đã luận, con
cháu được hưởng trăm điều tốt lành như trong bài huấn dụ của Y Doãn[16].
Lại cầu thời thế hòa bình, mùa màng sung túc, dân giàu, vật mạnh, lễ nghĩa,
nhân nhượng hưng khởi, can qua vĩnh viễn chấm dứt, pháp vận thông suốt, thiên hạ
thái bình. Do vậy, bèn tụng rằng:
Đức Thế Tôn ta,
Là vua các pháp,
Khiến khắp chín
giới,
Cùng chứng chân
thường,
Các pháp nói ra,
Đều tùy cơ nghi,
Chỉ giới pháp
này,
Phàm - thánh cùng
nương,
Đẳng Giác Bồ Tát,
Quần manh sáu đường,
Không có một ai,
Chẳng nên hành
trì!
Do tâm chúng
sanh,
Chẳng khác tâm Phật,
Do bởi Hoặc nghiệp,
Trở thành khác
xa,
Về tướng tuy
khác,
Nhưng tánh vốn đồng,
Nên nói kinh này,
Hòng chứng Đại
Hùng[17],
Đã biết chúng
sanh,
Đều có Phật Tánh,
Phật là đã thành,
Ta thật sẽ chứng,
Ví như cùng tử[18],
Được kho báu xưa,
Được, vốn chẳng
được,
Hoan hỷ vô lượng,
Đã ngộ Phật Tánh,
Phải hành Phật Hạnh,
Nghiêm tịnh Tỳ Ni[19],
Cẩn thận bóng áo[20],
Phát tâm từ bi,
Và tâm hiếu thuận,
Tự lợi, lợi tha,
Cùng thoát vòng
khổ,
Người được như thế,
Là chân Phật tử,
Những gì Phật đắc,
Ta sẽ giống thế,
Phải biết kinh
này:
Khuôn lành đúc Phật,
Tận lực tu theo,
Liền chứng Vô Dư[21],
Nguyện người thấy nghe,
Cùng chăm thọ
trì,
Tiêu trừ Hoặc
nghiệp,
Viên mãn Bồ Đề.
7. Lời tựa cho sách Phổ Môn Phẩm Giảng Nghĩa
(năm Dân Quốc 18 - 1929)
Quán
Thế Âm Bồ Tát trong vô lượng kiếp trước đã sớm thành Chánh Giác, hiệu là Chánh
Pháp Minh[22],
nhưng do thệ nguyện rộng sâu, từ bi rộng lớn, chẳng lìa cõi Tịch Quang, hiện
hình trong chín giới, tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu khổ. Nên dùng thân nào
để độ được liền hiện thân ấy để thuyết pháp, nguyện cho hết thảy chúng sanh
trong hết thảy thế giới đều được lìa khỏi nỗi khổ huyễn vọng trong hiện tại, hưởng
pháp lạc chân thường, nhưng Ngài lại thương xót thế giới Sa Bà nhất. Do vậy, trong
hội Pháp Hoa, Thích Ca Thế Tôn muốn cho chúng sanh cõi Sa Bà luôn được che chở,
bèn đặc biệt nhân lời hỏi của Vô Tận Ý Bồ Tát[23]
mà trình bày rõ ràng thệ nguyện từ bi, công đức, oai thần của đức Quán Âm để hết
thảy chúng sanh trong chín giới đều được nương tựa.
Cho đến khi [Phật] pháp được
truyền sang xứ này, đến đời Tấn, pháp sư La Thập riêng dịch kinh Pháp Hoa, [mọi
người] mới biết đức Quán Âm dù Bổn địa hay Tích môn đều khó nghĩ lường! Trong hội
Lăng Nghiêm, đức Quán Âm tự thuật pháp Viên Thông; trong hội Hoa Nghiêm, đức Quán
Âm chỉ dạy Thiện Tài, đều phù hợp khít khao với ý chỉ Pháp Hoa. Do vậy, biết: Đại
Sĩ vô tâm, lấy tâm chúng sanh làm tâm [của chính mình], cho nên hễ cảm liền ứng,
trọn chẳng sai chạy! Vào cuối đời Tấn, Thư Cừ Mông Tốn[24]
nhà Bắc Lương bị bệnh, ngài Đàm Vô Sấm[25]
dạy tụng phẩm Phổ Môn, [Mông Tốn] liền được lành bệnh. Do vậy, phẩm này được
lưu truyền riêng. Đời Tùy - Trần, đại sư Trí Giả chú giải kinh Pháp Hoa, đặc biệt
giải thích cặn kẽ phẩm này. Đủ thấy tâm của Phật, Bồ Tát, tổ sư chỉ mong cho hết
thảy chúng sanh lìa hết thảy khổ, được hưởng hết thảy vui.
Pháp sư Đế Nhàn tận lực hoằng
dương tông Thiên Thai, kiêm tu Tịnh Độ. Mùa Hạ này, Sư hoằng giới (diễn giảng về
giới luật) tại Cáp Nhĩ Tân (Harbin), trở về đi ngang qua Đại Liên, các cư sĩ
Phan Đối Phù, Thi Tỉnh Chi v.v… thỉnh Sư giảng diễn kinh này. Lại sợ tiếng địa
phương Nam - Bắc không thông, nhân đấy bèn đem những nghĩa đã giảng trước đó,
in ra năm trăm bản, tặng cho mọi thính giả để họ đều được tận mắt thấy lời dạy;
nhưng do thời gian vội vã, chẳng tránh khỏi sai sót. Cư sĩ Phan Đối Phù muốn
[bài giảng ấy] được lưu truyền rộng rãi trong cõi đời; do vậy, bèn gởi cho tôi
một bản và cậy viết lời tựa.
Trộm nghĩ kinh tạng Pháp Hoa sâu
thẳm u viễn, không ai có thể thấu đạt được, chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu
triệt rốt ráo, Quang là một ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo, làm sao có
thể nêu tỏ đến mức tột bậc cho được? Đành lược thuật Bổn - Tích[26]
của đức Quán Âm và lai lịch lưu thông, chú thích kinh này cho xong trách nhiệm.
Nguyện khắp các đồng nhân thường niệm thánh hiệu Quán Âm. Nếu đạt đến mức “niệm
cực tình vong”, tâm lẫn cảnh cùng vắng lặng thì hằng sa công đức, vô lượng diệu
nghĩa sẽ tự hiển hiện trọn vẹn trong một niệm. Do vậy, chẳng cần phải trình bày
rườm rà chi nữa!
8. Lời tựa cho [ấn bản] Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Kinh được viết theo lối chữ Khải để tặng đại chúng đọc tụng
Như
Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh chúng sanh và Phật cùng sẵn đủ, trọn chẳng hề tăng -
giảm. Phật do rốt ráo chứng nên an trụ Tịch Quang, thụ hưởng pháp lạc Thường - Lạc
- Ngã - Tịnh. Chúng sanh do triệt để mê nên khởi Hoặc tạo nghiệp, chịu nỗi khổ
sanh tử luân hồi huyễn vọng. Tuy là tịnh - nhiễm bất đồng, khổ - vui sai khác, nhưng
tánh Chân Như mầu nhiệm sẵn có vẫn tự chẳng tăng, chẳng giảm! Chúng sanh chỉ có
Tánh Đức, trọn chẳng có Tu Đức, nên chẳng thể thụ dụng được, ngược ngạo nương
theo sức công đức của diệu tánh ấy để tạo ra cái nhân sanh tử, chịu quả luân hồi.
Do nhân duyên ấy cảm Phật dấy lòng từ bi, thị hiện sanh trong thế gian, tùy cơ
thuyết pháp, khiến cho ai nấy đều theo đường về nhà, biết lấy hạt châu trong
chéo áo, ngõ hầu chẳng đến nỗi cô quạnh, lênh đênh, không nơi nương tựa.
Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Kinh chính là nhân bí mật để viên mãn Bồ Đề của tam thế chư Phật, là diệu hạnh
để tiến về giác đạo của hết thảy Bồ Tát, cho nên gọi là Thủ Lăng Nghiêm (Śūrangama). Tiếng Phạn Thủ Lăng
Nghiêm, tiếng Hán là Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên Cố (hết thảy sự rốt ráo cứng
chắc). Nhất Thiết Sự là gì? Chính là hai pháp tâm và cảnh; nói rộng ra là Ngũ Ấm,
Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất Đại. Nhất Thiết Sự (hết thảy mọi sự)
này đều là toàn thể đại dụng của Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh, vốn tự cứng
chắc, trọn chẳng có các tướng sanh, diệt, sạch, nhơ, tăng, giảm, nhưng chúng sanh
mê chân đuổi theo vọng, trái giác hợp trần, dù tâm hay cảnh đều thành huyễn vọng,
đều là sanh diệt, đều chẳng cứng chắc!
Vì thế, do ngài A Nan thưa hỏi
phương tiện ban đầu để mười phương Như Lai thành tựu Bồ Đề, Xa Ma Tha, Tam Ma[27],
Thiền Na mầu nhiệm, Như Lai liền gạn hỏi cái tâm, chỉ rõ cái Thấy, lần lượt [giảng
về] Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất Đại để hiển thị “mỗi mỗi
đều là Như Lai Tạng, thuận theo tâm chúng sanh, thuận theo nghiệp mà tỏ lộ” khiến
cho họ khai ngộ. Kế đó, hai mươi lăm vị thánh nhân, mỗi vị chứng [một pháp] Viên
Thông [riêng biệt] trong hai mươi lăm pháp, [mỗi vị tường thuật pháp Viên Thông
do chính mình đã chứng] nhằm chứng thực lời giảng ấy. Kinh này nhằm thích ứng với
[năng lực] đa văn của A Nan và căn cơ “tánh nghe nhạy bén nhất” của cõi Sa Bà.
Do vậy, đức Văn Thù chọn lựa [pháp Viên Thông] bèn chỉ chọn [phápViên Thông của]
Quán Âm.
Pháp môn Tịnh Độ Niệm Phật thích hợp trọn khắp căn cơ của hết thảy chúng sanh trong mười phương ba đời; do vậy, được kể sau pháp [Viên Thông] của ngài Di Lặc, trước [pháp Viên Thông của đức] Quán Âm, nhằm ngầm nêu ý nghĩa thích hợp khắp mọi căn cơ! Nếu không, sẽ kể pháp này sau pháp của ngài Hư Không Tạng[28], trước pháp của ngài Di Lặc. Luận sát sao về những pháp môn thông thường thì phải đoạn sạch Phiền Hoặc mới có thể liễu sanh thoát tử, chỉ có bậc thượng thượng lợi căn nhất mới có thể giải quyết xong ngay trong đời này! Nếu chẳng phải là loại căn tánh ấy thì hoặc hai, ba, bốn, năm đời, hoặc hai, ba, bốn, năm kiếp, hoặc thậm chí từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo, [kẻ như vậy] nhiều lắm! Bởi cậy vào sức Giới - Định - Huệ của chính mình để đoạn sạch Hoặc nghiệp phiền não tham - sân - si cho nên khó khăn. Huống chi