Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên,
Quyển Hạ
Phần 3
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Hòa
Giảo Chánh: Tịnh nghiệp hành
nhân Minh Tiến & Huệ Trang
52. Lời tựa
trình bày duyên khởi của Tịnh Niệm Liên Xã tại trấn Hợp Hưng, thành phố Phụ
Ninh
(năm Dân Quốc 24 - 1935)
Pháp môn Tịnh Độ
chính là pháp môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai, thích hợp
khắp ba căn, hoàn toàn thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Bậc Đẳng Giác Bồ
Tát sắp thành Phật chẳng thể vượt ra ngoài pháp này được; tội nhân Ngũ Nghịch,
Thập Ác sắp đọa địa ngục cũng có thể dự vào trong ấy. Là con đường tắt để chúng
sanh lìa khổ, thỏa thích bản hoài xuất thế của Như Lai. Vì thế, [pháp này] được
vãng thánh tiền hiền, người người hướng về, ngàn kinh muôn luận chốn chốn chỉ
quy. Xét từ khi đại giáo truyền sang phương Đông, Viễn Công mở Liên Xã đầu
tiên, bậc cao Tăng, đại Nho dự hội gồm một trăm hai mươi ba người. Nếu xét trọn
cuộc đời Ngài, trong hơn ba mươi năm những người tham gia Liên Xã tu Tịnh nghiệp
được vãng sanh khi báo thân đã tận làm sao đếm xuể? Từ đấy trở đi, đời nào cũng
có cao nhân hoằng dương truyền bá rộng khắp trong nước, ngoài nước. Tri thức
các tông Luật, Giáo, Thiền, Mật hoặc chuyên chú ngầm tu, hoặc còn tán dương rõ
rệt, đều lấy Tịnh Độ làm chỗ quy túc, vì đây là pháp môn tổng trì thành thủy
thành chung để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo, dưới
hóa độ chúng sanh.
Gần
đây, thế đạo nhân tâm đắm chìm đến cùng cực, những vở tuồng xấu ác như phế kinh
điển, phế luân thường, phế hiếu, không thẹn, giành đất, tranh thành, tàn sát lẫn
nhau, mỗi mỗi đều diễn ra, đến nỗi thiên tai, nhân họa liên tiếp giáng xuống, vận
nước nguy ngập, dân không lẽ sống! Người có lòng lo cho thế đạo đua nhau đề xướng
Phật học, nêu tỏ nhân quả ba đời, chỉ rõ luân hồi lục đạo, chỉ ra Phật Tánh sẵn
có, tu Tịnh nghiệp niệm Phật để mong đẩy lùi cơn sóng cuồng loạn, khôi phục
phong hóa thuần phác, lập Cư Sĩ Lâm, Tịnh Nghiệp Xã v.v… ở các nơi để làm
phương cách cứu vãn. Nếu không, đạo làm người gần như bị diệt mất!
Cư
sĩ Thí Nguyên Lượng ở Hải Môn, ngụ cư[1]
ở Phụ Ninh, khai khẩn đất hoang, thương người đời muốn tu Tịnh nghiệp nhưng khổ
vì không có người biết pháp, rốt cuộc đi theo các thứ ngoại đạo luyện đan vận
khí để cầu trường sanh và thành Đại La thần tiên, ăn trộm những câu nói trong
kinh Phật để chứng tỏ đạo của chính mình là Phật pháp chân truyền, như kẻ ngu
coi mắt cá là chân châu, thật đáng thương xót! Nhưng Phật pháp mênh mông, chẳng
tranh với người. Nếu có thể tận lực tu trì chánh pháp, chắc chắn sẽ có ngày bọn
họ nghe biết thanh danh rồi dấy lòng cải tà theo chánh. Phàm những người tham dự
Liên Xã, ắt đều phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ
lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, dùng tín nguyện chân
thành trì danh hiệu Phật, quyết chí cầu sanh thế giới Cực Lạc. Dùng pháp này để
tự hành, lại đem giáo hóa người khác để trong là cha mẹ, anh em, vợ con, ngoài
là xóm giềng, thân thích, bè bạn đều cùng được gội [ân] Phật giáo hóa, đều cùng
tu Tịnh nghiệp, cùng trong đời này được nương theo Phật từ lực vãng sanh Tây
Phương, ngõ hầu chẳng phụ một phen thành tâm dự vào Liên Xã ngày hôm nay.
Phải
biết: Pháp môn Niệm Phật lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm Tông. Điều quan trọng
của Niệm Phật là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối”. Muốn “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” thì bất luận
đi - đứng - nằm - ngồi hãy thường niệm Phật hiệu, hoặc niệm ra tiếng, hoặc niệm
thầm, đều cần phải lắng nghe tiếng niệm Phật của chính mình. Nếu làm được như
thế thì nghiệp tiêu, trí rạng, chướng tận, phước cao, phàm làm bất cứ điều gì đều
thuận lợi. Đối với những nghề nghiệp sĩ - nông - công - thương chẳng những hoàn
toàn không trở ngại gì mà còn có thể khơi mở tâm linh nơi nghề nghiệp của chính
mình; do vì tâm không tán loạn sẽ tự chủ trong công việc. Như [đối trước] mọi lẽ
rối ren, nếu tâm thần ngưng lặng sẽ [giải quyết] dễ dàng; nếu tâm thần chao động
sẽ gặp khó khăn. Do vậy, những bậc lập đại công, dựng đại nghiệp thuở xưa, công
huân trùm bốn biển, ngôn hạnh lưu lại ngàn thu, đều là do học Phật đắc lực mà
ra!
53. Lời tựa
cho sách Niệm Phật Khẩn Từ
Pháp môn Niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa của đức
Như Lai, thích hợp khắp ba căn, bình đẳng nhiếp thọ phàm lẫn thánh. Trên là bậc
Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài, dưới là tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác
cũng có thể dự vào trong số ấy. Dạy dỗ không phân biệt, hễ ai sanh chánh tín đều
được lợi ích thật sự, hoàn thành ngay trong đời này. Kẻ trọn đủ Phiền Hoặc vẫn
dự vào dòng thánh. Dường như biển cả dung nạp khắp trăm sông, như thái hư chứa
khắp muôn hình tượng. Nếu Như Lai chẳng lập ra pháp này thì chúng sanh đời Mạt
ai có thể đoạn Phiền Hoặc để liễu sanh tử, thoát Ngũ Trược, vượt khỏi tam giới?
Ấy là vì hết thảy pháp môn đều phải nương vào đạo lực Giới - Định - Huệ để đoạn
Phiền Hoặc tham - sân - si. Nếu đạt đến mức có sức Định Huệ sâu, đoạn sạch được
Phiền Hoặc thì mới có phần liễu sanh tử! Nếu chưa thể đoạn sạch Phiền Hoặc, dẫu
cho anh có đại trí huệ, có đại biện tài, có đại thần thông, biết được quá khứ,
vị lai, muốn đi liền đi, muốn đến liền đến, vẫn chẳng thể liễu thoát được; huống
chi những kẻ kém cỏi hơn ư? Cậy vào tự lực để liễu sanh tử sẽ khó lắm, thật khó như lên trời vậy!
Nếu
nương theo pháp môn Niệm Phật, sanh lòng tin phát nguyện niệm thánh hiệu Phật cầu
sanh Tây Phương, bất luận xuất gia hay tại gia, sĩ, nông, công, thương, già, trẻ,
trai, gái, sang, hèn, hiền, ngu, chỉ cần nương theo giáo pháp tu trì, đều có thể
nương vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Hễ được vãng sanh thì Định - Huệ chẳng
mong được mà tự được, Phiền Hoặc chẳng mong đoạn mà tự đoạn. Thân cận Di Đà,
thánh chúng, vẫy vùng nơi đất vàng, ao báu. Nương theo duyên thù thắng ấy để trợ
thành đạo nghiệp, để những người đới nghiệp vãng sanh sẽ lên thẳng [địa vị] Bất
Thoái, những vị đã đoạn được Hoặc vãng sanh sẽ mau chứng Vô Sanh. Đấy toàn là cậy
vào đại bi nguyện lực của A Di Đà Phật và sức tín nguyện niệm Phật của chính
người ấy, cảm ứng đạo giao mà được lợi ích lớn lao ấy; so với kẻ chuyên cậy vào
tự lực thì khó - dễ khác biệt vời vợi như trời với đất.
Nhưng
thường có kẻ ngu cam phận kém hèn, chẳng dám gánh vác. Cũng có kẻ học đạo tự
xưng là Đại Thừa, nghĩ [pháp này] chẳng xứng để tu tập. Nếu biết kẻ Ngũ Nghịch,
Thập Ác khi lâm chung tướng địa ngục hiện, được bạn lành dạy Niệm Phật, chưa đủ
mười tiếng đã được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương thì kẻ cam phận kém hèn sẽ
dấy lòng [tu trì]. Kinh Hoa Nghiêm là vua cả Tam Tạng, trong chỗ quy tông cuối
cùng [của bộ kinh ấy], Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng
sanh Tây Phương, khuyên Thiện Tài và khắp Hoa Tạng hải chúng nhất trí tiến hành
cầu sanh Tây Phương để mong viên mãn Phật Quả. Sao lại dám coi pháp môn này là
Tiểu Thừa? Huống chi Thiện Tài đã chứng Đẳng Giác, hải hội [thánh chúng] đều chứng
Pháp Thân, các vị ấy còn cầu sanh, ta là hạng người nào mà [nghĩ pháp này] chẳng
xứng để tu tập? Chẳng những dựng cao tràng kiêu mạn mà còn là hủy báng kinh Hoa
Nghiêm. Muốn phô trương hư danh Đại Thừa, đích thân tạo cái họa báng pháp cùng
cực vậy!
Nếu
kẻ ấy một hơi thở ra không hít vào được nữa, cảnh giới Hoa Tạng thế giới chẳng
thể nghĩ bàn vốn thường mong mỏi đều biến thành cảnh khổ A Tỳ địa ngục, chịu đựng
đầy ắp [những hình phạt] để đền cái lỗi thuyết pháp trái nghịch kinh điển, tự lầm,
lầm người. Đến khi nghiệp báo sắp mãn, mới tỉnh ngộ, liền phát tâm niệm Phật,
liền được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Khổ thay! May mắn thay! Nguyện những
ai học Đại Thừa đều dự ghé vào Hoa Tạng hải hội thì tự lợi, lợi người cũng lớn
lắm. Phàm những ai tu pháp môn Niệm Phật thì phải chú trọng giữ vẹn luân thường,
trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ
các điều lành, thật sự vì sanh tử, phát Bồ Đề tâm, khuyên khắp những người cùng
hàng cầu sanh Cực Lạc. Nếu làm được như thế thì “vạn người tu, vạn người đến”, quyết chẳng sót một ai!
Ông
Trịnh Bá Thuần ở huyện Bảo Sơn tỉnh Vân Nam là bậc học rộng ngầm tu, thoạt đầu
nghiên cứu kinh Dịch để mong hiểu thấu gốc đạo của Nho giáo, tiếp đó nghiên cứu
cặn kẽ nguyên ủy kinh điển luyện đan để mong hiểu được bí quyết chân thật của
thuật bảo vệ tánh mạng. Sau đấy, lại bỏ đạo luyện đan để tham Thiền, biết tự lực
chẳng bằng Phật lực, cuối cùng chuyên tu pháp môn Niệm Phật, miệt mài lấy việc “mình
lẫn người đều cùng sanh Tây Phương” làm chí hướng, sự nghiệp, gởi thư xin quy
y, liền được pháp danh là Đức Thuần. Ấy là vì pháp môn Niệm Phật tuy nhiếp khắp
các pháp Thiền, Giáo, Luật, Mật, nhưng tu trì nơi địa vị phàm phu cố nhiên phải
lấy thuần nhất không tạp làm gốc. Ông ta còn phát khởi đại tâm mạnh mẽ, muốn lợi
lạc khắp những người cùng hàng, do vậy bèn soạn cuốn Niệm Phật Khẩn Từ để mong
trí hay ngu đều biết rõ. Lời lẽ tuy nông cạn, gần gũi, nhưng lý thật sâu xa,
như cái mốc chỉ lối cho người đi đường, như kim chỉ nam cho người đi biển;
nương theo đó mà hành sẽ có thể về đến quê cũ, lên được bờ kia. Do vậy, tôi bèn
trình bày duyên do Tự Lực và Phật Lực ngõ hầu những ai thấy - nghe đều tu trì vậy.
54. Lời tựa
cho tác phẩm Kỷ Văn Đạt[2]
Công Bút Ký Trích Yếu (Trích yếu bút ký của ông Kỷ Quân)
Nhân quả là phương
tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ
thoát chúng sanh. Nếu chẳng đề xướng nhân quả thì thiện chẳng có gì để khuyên,
ác không có gì để phạt. Chỉ có bậc đại hiền mới có thể giữ phận tuân đạo, những
kẻ khác ai có thể cam lòng chẳng phóng túng tình ý cho sướng khoái một đời ư?
Do đã không có “nhân trước, quả sau” thì hễ chết đi sẽ vĩnh viễn diệt mất,
Nghiêu hay Kiệt đều chết hết sạch, sao lại không dây tự buộc, khư khư theo lễ
giữ phận để đến nỗi mọi việc đều chẳng được tự tại ư? Trong kinh sử Nho Giáo, sự
lý nhân quả nhiều không xiết kể! Tiếc rằng những nhà Nho sau này chẳng chịu suy
xét sâu xa, thường thấy kinh Phật nói đến nhân quả tường tận, bèn muốn [ra vẻ] khác
biệt với tông chỉ nhà Phật, ngược ngạo bảo những gì đức Phật đã nói đều là hư vọng,
chẳng biết là đã trái nghịch thánh đạo, diệt thiên lý, chôn vùi cái gốc bình trị,
hưng khởi đầu mối loạn lạc, gây nghi ngờ, lầm lạc cho người đời sau, chôn vùi đạo
thể, [những chuyện ấy] đều là do những lời lẽ này tạo ra nền tảng vậy, chẳng
đáng buồn ư?
Từ
khi có nhà Thanh đến nay, trong số những người bác học đa văn thì tiên sinh
Giang Thận Tu là bậc nhất. Tiếp đó là ông Kỷ Văn Đạt, rồi đến ông Viên Tử Tài.
Họ Giang là bậc quân tử ẩn dật cùng lý tận tánh, tuy chưa nghiên cứu Phật học,
nhưng đối với Phật pháp cũng chẳng bài bác, lại còn tin sâu nhân quả báo ứng.
Vì thế, đối với những quả báo do bảo vệ sanh mạng hay sát sanh, ông đều ghi
chép hết để mong khơi gợi thiện niệm, dứt cơ duyên giết chóc. [Từ những điều
này] có thể biết được cách suy nghĩ của ông ta. Viên Tử Tài thoạt đầu báng Phật,
nhưng từ tuổi trung niên trở đi, do lịch duyệt ngày càng sâu, liền sanh lòng
chân tín đối với Phật pháp. Chỉ vì cuồng vọng tự đại, lười nhác, biếng trễ,
không chịu thân cận cao nhân, lắng lòng nghiên cứu, tuy những sự tích cảm ứng
trong Phật pháp ông ta đều sao chép, nhưng những gì ông ta bàn luận khó thể hợp
lý, thích đáng được! Ông Kỷ Văn Đạt từ bé đến già dốc lòng tin tưởng nhân quả, hễ
được thấy nghe những sự tích nhân quả nào đều ghi chép hết, trình bày cặn kẽ,
sáng sủa, văn bút thông suốt. Do ông ta hoàn toàn chưa từng nghiên cứu Phật
pháp nhưng cứ thường muốn bàn bạc thông suốt lý sâu nên có khi bị mâu thuẫn thật
nghĩa.
Phật
nói “thế trí biện thông, khó thể nhập đạo”,
ba ông Giang, Kỷ, Viên học rộng mà vẫn chẳng biết “Phật pháp chính là tâm pháp
nơi chính mình” để rồi chuyên tinh nghiên cứu, hòng đích thân chứng được, chẳng
đáng tiếc quá ư? Nếu họ bỏ chút thời gian rảnh rỗi, nghiên cứu đại lược, lẽ đâu
chẳng phát đại Bồ Đề tâm, chuyên tinh dốc sức, hoằng dương đại pháp để mong ta
lẫn người đều cùng thoát khổ luân, đều cùng thành giác đạo, lẽ nào chỉ ghi chép
sự tích nhân quả để mở ra một con đường hướng thiện cho người đời mà thôi!
Nhưng những sao chép ấy thật sự có lợi ích lớn lao. Vì thế, cư sĩ Trần Địch
Châu trích lục một trăm thiên từ bộ Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký[3],
tính in ra để phổ biến lưu thông hòng làm tấm gương xét soi cho những kẻ không
biết nhân quả trong cõi đời.
Nhân
quả giống như bóng theo hình, tiếng vọng đi theo âm thanh. Chưa hề có hình mà
không có bóng, có âm thanh mà chẳng có tiếng vọng vậy. Vì thế, kinh Thư nói: “Huệ địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng”.
(Thuận theo đạo lý thì tốt, trái nghịch thì xấu, giống như bóng theo hình, như tiếng
vọng đi theo âm thanh vậy). Những kẻ bàn chuyện cao xa, cho nhân quả là hư huyễn,
khác gì chấp rằng “mẹ quyết chẳng thể sanh được con, con quyết chẳng phải do mẹ
sanh ra” ư? Trong đời nếu có kẻ như vậy, ắt bị người ta coi là điên khùng! Rất
lạ là nhà Nho đọc sách thánh hiền, chẳng lấy ngôn luận của thánh hiền làm chuẩn,
chẳng lấy sự thật xưa nay làm chuẩn, cứ lấy sự thiên chấp, cái nhìn lầm lạc của
chính mình làm chuẩn! Một người xướng, mọi người hùa theo, kẻ mù dẫn lũ đui kéo
nhau vào lửa, đến nỗi thế đạo nhân tâm ngày một đi xuống, đến nỗi phế kinh điển,
phế luân thường, phế hiếu, không hổ thẹn, giành đất, tranh thành, tàn sát lẫn
nhau mà vẫn nhơn nhơn tự đắc, cho là ta chú trọng quay về đại đạo, chẳng bắt
chước bọn hủ bại đời trước cứ luôn luôn câu nệ, trói buộc, khiến cho con người
suốt đời chẳng thể tùy ý làm được gì, [nay] ai nấy đều được tự tại! Từ nay trở
đi chúng ta cùng được hưởng hạnh phúc, tự do, nghĩ đến điều gì đều làm được cả!
Cõi đời may sao có bọn ta cải cách, con người may sao được sống cùng thời bọn
ta! Tà thuyết như vậy đều do những kẻ bài xích nhân quả ươm thành!
Nếu
như lý nhân quả được nhà nhà khuyên dạy, giảng giải, cha mẹ dùng đó để dạy con
cái, sư trưởng dùng đó để giáo huấn học trò thì có ai chịu diệt lý, rối luân
thường, hiện dáng vẻ xấu xí trước gương sáng nữa ư? Chỉ vì bậc đại Nho trong cõi
đời thường hay bài xích, kẻ tiểu Nho dẫu biết là sai mười mươi đi nữa, cũng chỉ
đành người ta nói sao ta cũng ừ vậy, để khỏi bị mọi người chõ miệng chê bai,
khích bác! Nơi trường học đã như vậy thì trong gia đình càng không có lý do gì để
bàn đến. Rốt cuộc đến nỗi những kẻ theo tân học hoàn toàn vứt bỏ nhân luân, diệt
thiên lý, muốn cho [con người] hoàn toàn chẳng khác gì cầm thú! Mối họa ấy chẳng
quy vào những kẻ bài xích nhân quả thì còn quy vào ai đây? Lành thay lời nói của
tiên sinh Châu An Sĩ: “Người người đều biết
nhân quả, đấy là đạo để bình trị lớn lao; ai ai cũng chẳng biết nhân quả, đấy
là con đường đưa đến đại loạn”. Tôi thường thương cõi đời rối ren, nhưng
không sức cứu vãn, do lời thỉnh của Trần cư sĩ bèn trình bày đại lược cội nguồn
lợi - hại như thế đó.
55. Lời tựa
lưu thông sách Lịch Triều Danh Họa Quán Âm Thánh Tượng Kha La Bản Ấn
(năm Dân Quốc 27 - 1938)
Quán Thế Âm Bồ
Tát thành Phật đã lâu trong vô lượng kiếp trước, hiệu là Chánh Pháp Minh, an trụ
trong Tịch Quang Tịnh Độ, thường hưởng pháp lạc chân thường, nhưng do Bi tâm vô
tận, Từ thệ chẳng cùng, lòng cứu khổ ân cần, niệm độ sanh tha thiết, nên lại chẳng
lìa Tịch Quang, hiện hình trong chín giới. Trong các cõi Phật nhiều như số vi
trần trong mười phương, hiện khắp các sắc thân, tầm thanh cứu khổ; nhưng đối với
thế giới Sa Bà, càng thương xót sâu đậm hơn. Có những kẻ nào thiện căn chưa
gieo, chưa chín muồi, chưa độ thoát, liền dạy họ gieo, khiến cho chín muồi, khiến
cho độ thoát, nên dùng thân nào để độ được, bèn hiện thân ấy thuyết pháp. Những
thân đã hiện, những pháp Ngài đã nói mỗi mỗi tùy thuận cơ nghi, trọn chẳng nhất
định, nhưng hiện tiền được lìa mọi khổ, tương lai thường hưởng chân lạc thì đều
giống hệt. Nhiều năm gần đây, thế đạo nhân tâm càng ngày càng đi xuống, giành đất,
tranh thành, tàn sát lẫn nhau, nhân họa đã khốc liệt, thiên tai lại xảy đến, lũ
lụt, hạn hán, sâu rầy, ôn dịch cùng lúc giáng xuống. Những tai họa ấy đều do những
ác nghiệp của mọi người trong đời trước hoặc đời này chiêu cảm.
Nhưng tâm đã tạo được nghiệp thì tâm sẽ chuyển được nghiệp. Đang
trong lúc thiên tai nhân họa đồng thời xảy ra này, nếu có thể phát tâm chí
thành, niệm thánh hiệu “Nam-mô Quán Thế
Âm Bồ Tát”, thệ nguyện từ nay trở đi giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận,
dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì
chắc chắn sẽ được Ngài rủ lòng từ che chở, gặp dữ hóa lành, trong các hoạn nạn
chẳng bị nguy hiểm, ấy là dùng biệt nghiệp niệm thánh hiệu Bồ Tát trong hiện tại
để chuyển cộng nghiệp[4]
đã tạo trong đời trước hoặc đời này. Vì thế thường được tốt lành. Chư Phật, Bồ
Tát coi hết thảy chúng sanh trong lục đạo như con ruột, thường muốn cho họ được
lìa khổ hưởng vui. Hiềm rằng chúng sanh mê muội chẳng sanh lòng tin tưởng, đến
nỗi uổng phí Từ tâm, chẳng thể được lợi ích. Ví như mặt trời rạng rỡ giữa trời
chiếu khắp muôn phương, kẻ đội chậu dù có đứng ngay dưới đó cũng chẳng được chiếu.
Lỗi do đội chậu, chứ mặt trời đâu có lỗi!
Gần
đây sát kiếp ngập tràn, nhân dân tử vong, lưu lạc, tan tác, khổ chẳng nói nổi!
Cư sĩ Phí Huệ Mậu ở Nam Thông muốn bày cách cứu vãn từ lâu, nên đặc biệt sưu tầm
những thánh tượng Quán Thế Âm do những nhà danh họa thuộc năm triều Đường, Tống,
Nguyên, Minh, Thanh đã vẽ, được một trăm bốn mươi hai bức, dùng loại giấy Tuyên[5]
tốt nhất, in theo lối Kha La Bản[6]
một ngàn bộ, ngõ hầu người thấy nghe đều cùng sanh chánh tín, cùng niệm thánh
hiệu, cùng tiêu trừ ác nghiệp trong đời trước và đời này, cùng gieo thiện căn Bồ
Đề.
Phải
biết: Bồ Tát vô tâm, lấy tâm của chúng sanh làm tâm, Bồ Tát không cảnh, lấy cảnh
của chúng sanh làm cảnh, vì thế hễ cảm liền thông, chẳng phải suy nghĩ để ứng. Ấy
là vì bản thể của tâm chúng sanh và bản thể của tâm Bồ Tát tương thông khít
khao, do chúng sanh trái giác hiệp trần nên thành ra hiện tượng “tuy thông mà
chẳng thông”. Nếu chúng sanh một niệm sanh lòng tin, kiền thành trì thánh hiệu,
trái trần hiệp giác, bỏ mê về với ngộ, sẽ lại biến thành hiện tượng “chẳng
thông mà thông”. Vì thế, hễ gặp phải hiểm nạn cực lớn, vừa niệm liền được cảm ứng.
Lại nữa, Bồ Tát hiện thân chẳng chuyên hiện thân hữu tình. Ngay như núi, sông,
cây cối, cầu, bến, thuyền, bè, lầu, đài, nhà cửa, tường, vách, thôn, xóm cũng đều
tùy cơ mà hiện, ắt đều khiến cho kẻ đã lâm vào tuyệt địa lại gặp đường thông,
không chỗ trốn tránh lại được nơi che đậy lớn lao. Đủ mọi loại cứu vớt, che chở,
khó thể tuyên nói trọn!
Hãy
nên đọc Quán Âm Bổn Tích Tụng, Quán Âm Linh Cảm Lục, Quán Âm Từ Lâm Tập sẽ biết
được đại lược. Đang trong lúc thiên tai, nhân họa liên tiếp giáng xuống này, nếu
chẳng sửa ác tu lành, thường niệm thánh hiệu Quán Âm để được nương cậy thì muốn
được yên vui sẽ là chuyện khó khăn nhất trong mọi điều khó! Dẫu hoàn toàn chẳng
có tai nạn gì, cũng nên thường niệm, ngõ hầu sống sẽ hưởng Ngũ Phước, dự vào địa
vị Thánh Hiền cao cả, thác sẽ lên chín phẩm, triệt chứng tâm Đại Giác. Người
làm được như thế thì mới an ủi được tâm Bồ Tát cứu khổ. Do Bồ Tát phổ thí vô úy
(ban cho khắp tất cả mọi loài sự không sợ hãi) nên [chúng sanh được] viên mãn Bồ
Đề rồi thì tâm đại từ bi thí vô úy [của Bồ Tát] mới thôi! Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có chúng sanh nhiều dâm dục, nóng giận,
ngu si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền được lìa dục, lìa sân,
lìa si”. Nguyện người thấy nghe đều thường niệm!
56. Lời tựa
cho bộ Phóng Sanh Trưng Tín Lục của chùa Pháp Vân
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Xem khắp cổ kim,
thời bình trị thì ít, thời loạn lạc lại nhiều. Dẫu cho thịnh trị thì bất quá chỉ
được một trăm mấy chục năm mà thôi. Nguyên do vì đâu? Ấy là do cái nghiệp đời
trước sát sanh ăn thịt kết thành và do cái tâm tự tư tự lợi trong đời này mà
ra! Kết quả của sát nghiệp chỉ có ăn thịt là dữ dội nhất. Cả một đời người chẳng
biết ăn thịt mấy trăm ngàn vạn sanh mạng, chỉ mong thỏa thích bụng miệng ta, bất
kể nỗi thống khổ của chúng! Tuy là cậy mạnh nuốt yếu mặc sức ta làm, nhưng chất
độc oán hận kết lại trong tám thức điền, đời đời kiếp kiếp giết chóc lẫn nhau,
chẳng nhổ bỏ cái gốc ấy, khó chuyển được sát kiếp! Huống chi kẻ có trí thức nhưng
chẳng biết thật sự thật lý “nhân quả ba đời, luân hồi sáu nẻo”, bèn coi chuyện
“tự lập, lập người, tự đạt, làm cho người khác đạt” là viễn vông, sai lầm, chỉ
muốn đoạt hết của cải người khác về tay ta. Do vậy, tranh thành, giành đất, dẫu
giết người ngập thành, ngập đồng vẫn chẳng đoái hoài. Ý họ muốn mở rộng cương
thổ của ta, tăng lớn thế lực của ta, để con cháu ta hưởng phước vĩnh viễn! Chẳng
biết trời đất lấy hiếu sanh làm đức, đã sống trong khoảng trời đất hiếu sanh
ghét giết, sao lại khiến cho con cháu hưởng cái phước nghịch trời trái lý đạt
được bởi sự giết người vô lượng ấy? Chính họ khi một hơi thở ra không hít vào
được nữa, sẽ vĩnh viễn đọa trong tam đồ ác đạo, sao lại đáng thương như vậy?
Con cháu nếu chẳng phải là những người bị ta chiếm đoạt [tài sản trong đời trước
nay] đến [sanh vào nhà ta] thì sẽ tuyệt diệt đến hết sạch, trọn chẳng sót một
ai!
Thanh Lương Sơn Chí
chép: Vào đời Tùy, Triệu Lương Tướng ở Đại Châu giàu nứt đố đổ vách, có hai đứa
con, trưởng tên là Mạnh, thứ tên là Doanh. Doanh mạnh mẽ, Mạnh yếu đuối. Lúc sắp
mất, Lương Tướng chia tài sản ra làm hai phần, Mạnh được phần hơn. Đến khi
Lương Tướng mất rồi, Doanh cướp đoạt sạch, chỉ để lại cho Mạnh một rẻo vườn,
nhà. Mạnh làm thuê kiếm sống. Sau đó, Doanh chết đi làm con của Mạnh tên là
Hoàn. Mạnh chết đi, đầu thai làm cháu của Doanh tên là Tiên. Hoàn lớn lên làm đầy
tớ cho Tiên, lòng hận Doanh cướp đoạt sản nghiệp. Đúng dịp Tiên muốn đi triều
bái Ngũ Đài sai Hoàn theo hầu. Vào trong núi, đến chỗ đồng trống không người, [Hoàn]
rút dao nói: “Ông nội mày đoạt gia nghiệp của tao, tao sẽ giết mày!” Tiên chạy
lẹ, Hoàn đuổi theo. Tiên chạy vào một am tranh, một vị lão tăng ngăn họ lại,
trao cho mỗi người một chén trà thuốc. Uống xong, như mộng vừa tỉnh, biết rõ
chuyện trước kia, cảm thấy hổ thẹn đau xót. Lão tăng nói: “Doanh là tiền thân của
Hoàn, cướp đoạt sản nghiệp của người khác chính là tự vứt bỏ sản nghiệp của
chính mình. Tiên là Mạnh đầu thai trở lại để hưởng sản nghiệp trước kia. Lời
cha vẫn còn đó!” Hai người bèn xuất gia tu đạo tại Ngũ Đài. Hai người này đời
trước có thiện căn nên được Bồ Tát điểm hóa, được kết quả như thế đó. Nay [người
đời] coi giết người là vui, quả báo về sau sẽ khó lòng tưởng tượng được!
Năm
Dân Quốc 11 (1922), các vị thiện sĩ Phùng Mộng Hoa, Ngụy Mai Tôn, Vương Ấu Nông
v.v… do thấy sát kiếp tràn lan, nghĩ cách cứu vãn, bèn tậu đất bên sông Tam
Xoa, lập chùa Pháp Vân làm đạo tràng niệm Phật phóng sanh. Đến năm Dân Quốc 12
(1923), đào chín cái ao sâu để phóng sanh theo từng loài. Năm Dân Quốc 13
(1924) liền bắt đầu lo phóng sanh, hoặc chính mình mua về thả, hoặc có thiện sĩ
mua đến thả. Tám năm qua, [số lượng loài vật] do chính hội ấy mua về phóng sanh
tính ra tổng cộng là ba trăm sáu mươi, bảy mươi gánh, tiền chi phí tổng cộng là
bốn ngàn sáu trăm mấy chục đồng, đều do các thiện sĩ nối tiếp nhau thực hiện.
Nay đem [số lượng] những con vật được thả và khoản tiền chi dụng trong tám năm lập
thành báo cáo, ngõ hầu ai nấy đều biết rõ. Suốt chín năm nay, vị thường sống ở nơi
ấy chịu đựng nhọc nhằn, chẳng nề gian khổ, chính là Hòa Thượng Tâm Tịnh. Những
người khác tuy cũng tận lực duy trì, nhưng chưa ai chuyên dốc sức vào đấy bằng
sư Tâm Tịnh.
Xét
ra, hành động phóng sanh vốn nhằm phát khởi cái tâm kiêng giết ăn chay của những
người cùng hàng. Nếu có thể kiêng giết, ăn chay thì sát nghiệp chẳng tạo, sát
báo sẽ tự dứt. Đối với những nghiệp đã tạo từ trước thì dùng sự kiệt lực tu thiện,
chí thành niệm Phật để tiêu diệt. Phải biết: Chùa Pháp Vân phóng sanh quả thật đã
đi tiên phong dẫn đường cho hết thảy những người cùng hàng kiêng giết ăn chay vậy.
Người có tâm do nghe được chuyện ấy sẽ dấy lòng, cùng sanh tâm từ bi, rộng lòng
trắc ẩn, cùng hành đạo nhân từ với người khác, yêu thương loài vật, sẽ thấy lòng
người chuyển biến, quyến thuộc trời thường giáng xuống, mưa nắng đúng thời, ngũ
cốc sung túc, lễ nghĩa, nhân nhượng hưng thịnh, chiến tranh tiêu diệt, trong
ngoài hiệp hòa, thiên hạ thái bình. Đấy chính là điều các vị như ông Phùng vốn
dốc chí qua việc tạo dựng chùa Pháp Vân, đề xướng phóng sanh vậy.
57. Lời tựa
cho bài Ca Tụng Kinh Vô Lượng Thọ
(năm
Dân Quốc 25 -1936)
Pháp môn Tịnh Độ
lớn lao không gì ra ngoài, toàn thể sự chính là lý, toàn thể tu chính là tánh,
hạnh cực bình thường, lợi ích cực thù thắng. Ấy là vì dùng Quả Địa Giác làm
Nhân Địa Tâm, nên được nhân trùm biển quả, quả tột nguồn nhân. Hết thảy pháp
môn không gì chẳng lưu xuất từ pháp giới này, hết thảy hạnh môn không môn nào
chẳng trở về pháp giới này. Thích hợp khắp ba căn, gồm thâu trọn vẹn lợi căn lẫn
độn căn. Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài được, tội nhân Ngũ Nghịch Thập
Ác cũng có thể dự vào trong ấy. Thống nhiếp các tông Luật, Giáo, Thiền, Mật, xuyên
suốt các giáo Quyền, Thật, Đốn, Tiệm. Trong cả một đời giáo hóa của đức Phật,
riêng một pháp môn này là đặc biệt. Chớ nên dùng giáo nghĩa theo đường lối
thông thường để phân định nhân quả tu chứng của pháp này.
Xưa
nay có nhiều kẻ thâm nhập kinh tạng, triệt ngộ tự tâm, nhưng chẳng sanh lòng
tin tưởng đối với pháp môn này vì chấp chặt vào giáo nghĩa “cậy vào tự lực” của
đường lối thông thường để luận định nhân quả đặc biệt “cậy vào Phật lực” mà nên
nỗi! Nếu biết nghĩa này thì tấm lòng tin tưởng, tu trì ngay đến cả đức Phật
cũng chẳng thể ngăn trở được, vì pháp môn này chính là pháp môn tổng trì thành
thủy thành chung để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo,
dưới hóa độ chúng sanh. Bởi thế, [pháp này] được chín giới cùng quay về, mười
phương cùng khen ngợi, ngàn kinh cùng xiển dương, muôn luận đều tuyên nói.
Xét
đến chỗ phát khởi pháp này thì quả thật từ cuối hội Hoa Nghiêm, Thiện Tài tham
học khắp các tri thức, đến chỗ Phổ Hiền Bồ Tát được oai thần của đức Phổ Hiền
gia bị, sở chứng bằng với Phổ Hiền, ngang với chư Phật, trở thành Đẳng Giác Bồ
Tát. Phổ Hiền bèn xưng tán công đức Như Lai thù thắng nhiệm mầu, khuyến tấn Thiện
Tài và Hoa Tạng hải chúng đều cùng dùng công đức của mười đại nguyện vương hồi
hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để mong viên mãn Phật Quả. Do Hoa Tạng
hải chúng đều là các Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị: Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác. [Do các vị ấy] đi trọn khắp các cõi
Phật số nhiều như vi trần, nên thệ nguyện Di Đà, cảnh duyên Cực Lạc, nhân quả
vãng sanh, mỗi mỗi đều hiểu rõ, không cần phải nói nữa. Nhưng trong hội Hoa
Nghiêm, trọn chẳng có ai là phàm phu Nhị Thừa và Quyền Vị Bồ Tát[7];
do vậy, tuy hoằng dương lớn lao pháp này, nhưng phàm phu, tiểu căn không cách
chi vâng nhận được!
Đến
hội Phương Đẳng, đức Phật vì khắp hết thảy trời, người, phàm, thánh, nói kinh
Vô Lượng Thọ, chỉ rõ nhân hạnh quả đức xưa kia của Phật A Di Đà, cảnh duyên Cực
Lạc đủ mọi thứ thù thắng, nhiệm mầu, nhân quả, phẩm vị tu chứng của hành nhân.
Kinh này chính là chỗ quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm vậy. Tuy được nói trong
thời Phương Đẳng, nhưng giáo nghĩa quả thật thuộc thời Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm
chỉ hạn cuộc nơi Pháp Thân đại sĩ, nhưng kinh này nhiếp trọn khắp thánh - phàm
trong chín giới. Dẫu dùng thời Hoa Nghiêm để luận thì kinh này vẫn là đặc biệt,
huống là các thời khác ư? Nếu đức Như Lai chẳng mở ra pháp này, chúng sanh đời
Mạt không một ai có thể liễu sanh tử! Do lòng đại từ, đức Phật rất sợ chúng
sanh chẳng thuận tiện thọ trì được, bèn lại nói kinh A Di Đà, ngõ hầu họ thường
đọc tụng hằng ngày. Lại nói kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật để y báo, chánh báo
trang nghiêm cõi Tây Phương thường hiện hữu trong tâm mục của các hành nhân.
Ba
kinh này tuy kinh văn tuy rộng - lược khác nhau, nhưng lý chẳng hề khác biệt.
Người học đời Mạt Pháp nếu trí lực sung mãn, chẳng ngại gì tu trọn vạn hạnh, hồi
hướng vãng sanh. Nếu không, đương nhiên nên chuyên tu Tịnh nghiệp, để mong
nương vào Phật từ lực vượt ngang ra khỏi tam giới, lên thẳng chín phẩm sen.
Kinh Vô Lượng Thọ có rất nhiều bản chú giải cổ, gần như đều bị thất lạc hết,
còn sót lại chẳng được mấy! Đại sư Đạo Truyền đọc tụng kinh này, cảm niệm sâu
xa ơn Phật, soạn bài tụng để tán dương. Tuy chưa thể nêu tỏ, giãi bày trọn vẹn
ý nghĩa kinh và tâm Phật, nhưng cũng có thể phụ trợ tín nguyện cho bọn ta là hạng
không có sức đoạn Hoặc chứng Chân, khiến cho hùng tâm kiên quyết vãng sanh được
mạnh mẽ. Vì thế, cho ấn hành lưu thông vậy.
58. Lời tựa
cho bài ký “Địa Tạng Bồ Tát cứu mẹ trong kiếp xưa”
(năm Dân Quốc 17 - 1928)
Tâm chúng sanh và
tâm Phật chẳng hai. Kẻ chẳng thể làm Phật thường làm chúng sanh là vì chính họ
không có huệ lực, chẳng thể giác ngộ, lại không được thiện tri thức chỉ dạy. Do
vậy, dùng diệu tâm sẵn có Phật tánh để làm căn bản khởi Hoặc tạo nghiệp, đến nỗi
trải vô lượng kiếp luân hồi lục đạo, trọn chẳng có thuở thoát ra, chẳng đáng buồn
ư? Vì thế, đức Thế Tôn ta lúc mới thành Chánh Giác, lên cung trời Đao Lợi, vì mẹ
thuyết pháp, muốn khiến cho hết thảy chúng sanh đều mong báo ân cha mẹ, liền đặc
biệt nêu rõ chuyện Địa Tạng Bồ Tát trong kiếp xưa do cứu mẹ nên rộng phát thệ
nguyện Bồ Đề làm thuyền bè vượt biển khổ cho chúng sanh đời vị lai. Trọn bộ
kinh văn lý sự rõ ràng, tường tận, văn từ thoáng đạt, rõ rệt. Hai chuyện ngài Địa
Tạng cứu mẹ trong ấy càng cho thấy rõ những nghĩa lý “tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Tâm này làm chúng sanh, tâm này là
chúng sanh” và “tâm tạo được nghiệp
thì tâm chuyển được nghiệp. Tâm chẳng thể chuyển được nghiệp thì nghiệp sẽ trói
buộc tâm”. Thật có thể nói là người dẫn đường nơi nẻo hiểm, là đuốc huệ nơi
ngõ tối, là kho báu cho kẻ nghèo thiếu, là thóc gạo trong năm đói kém, khiến
cho hết thảy chúng sanh mê muội mau được giác ngộ, hết thảy những đứa con hiếu
thuận có được sư thừa. Lợi ích của kinh chẳng thể tuyên nói được!
Từ
khi đức Phật nói kinh này xong, phàm tại Tây Thiên, Đông Độ, những người đọc
kinh này tâm được hưng khởi kể sao cho xiết! Cư sĩ Phụng Trì xót mình chưa thể
hiếu dưỡng với mẹ, truy niệm ân đức, ôm hận suốt đời, nguyện khắp những kẻ làm
con trong thế gian tùy thời, tùy sự để trọn đạo hiếu, nghĩ đến ân sâu cù lao, ắt
sẽ làm sao cho cha mẹ ta được rốt ráo yên ổn nơi bảo sở mới thôi! Do vậy, dùng
tâm chí thành niệm thánh hiệu Phật, kiêm dùng lòng cung kính giữ vẹn luân thường,
tận hết thiên chức của chính mình, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
dùng công đức ấy để giúp cho cha mẹ ta được lợi ích, quyết mong sao cha mẹ còn
sống thì nghiệp chướng tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, phước thọ tăng cao, trí
huệ mở mang, khi khuất núi thì thần thức siêu thăng cõi tịnh, nghiệp trả lại trần
lao, chứng Vô Sanh Nhẫn, lên địa vị Bất Thoái. Lại phải biết: Hết thảy chúng
sanh đều là cha mẹ quá khứ, là chư Phật vị lai, hãy nên dùng tâm Đại Bồ Đề tùy
thuận cơ nghi vì họ tuyên nói và cứu vớt, ngõ hầu trên khế hợp tâm Phật, dưới
phù hợp nguyện của chính mình. Gió Từ vừa dấy, sát nghiệp liền tiêu, sẽ thấy lễ
nghĩa, nhân nhượng hưng thịnh, can qua dứt bặt vĩnh viễn, phong tục tốt đẹp,
thiên hạ hòa bình.
59. Lời tựa
cho nghi thức niệm tụng của đạo tràng chuyên tu Tịnh Độ Linh Nham Sơn Tự
(năm Dân Quốc 27 - 1938)
Nghe Di Đà thệ
nguyện, dạy chúng sanh phương hướng “tâm
làm, tâm là” thích hợp khắp chín giới. Pháp môn Tịnh Độ là đạo thành thủy
thành chung của Như Lai, thỏa thích lớn lao bản hoài của Phật. Phật, Tổ xuất thế
đều lập pháp thuận theo cơ nghi. Kẻ độn căn đời Mạt nên chọn lấy pháp vừa khế
lý lại vừa khế cơ để chuyên ròng dốc sức, ngõ hầu nương theo Phật từ lực, vượt
ngang ra khỏi tam giới, ngay trong một đời này giải quyết xong xuôi đại sự sanh
tử chẳng thể dễ dàng giải quyết trong trăm ngàn vạn kiếp. Linh Nham là ngôi
chùa cổ được khai sáng từ thời Đông Tấn, trải các đời Tống, Tề, Lương, Trần,
Tùy, Đường, bao lượt được sắc tu[8].
Những vị Trụ Trì xưa kia phần nhiều chẳng thể tra cứu được; còn những vị Trụ
Trì đời Tống phần lớn là bậc đại lão nhà Thiền, vì thế đạo phong đứng đầu miền
Giang - Chiết. Sau đấy mãi đến tận đầu đời Thanh vẫn cứ như vậy, [lịch sử truyền
thừa của nhà chùa] đã được ghi chép trong sách vở, ở đây không cần phải ghi cặn
kẽ.
Gặp
loạn Hồng Dương, chùa cháy tan hoang, vị Tăng tên Niệm Thành ở trong tháp báu,
gặp đúng lúc ông Bành Cương Trực lên chơi núi,
chuyện trò hợp ý, bèn tra xét rõ ràng ruộng đất. Nhân đấy, dựng hơn mười gian
điện đường, nhưng vẫn chưa sắp xếp Tăng sĩ tu hành [nơi đây]. Đến đời Tuyên Thống,
vị Tăng sống ở đấy do bị mất y, đánh lầm người lui tới. Người dưới núi bèn kéo
nhau đến [hỏi tội], ông Tăng liền bỏ trốn. Tất cả đồ đạc trong chùa đều bị những
kẻ kéo đến dọn sạch. Vị hương thân là Nghiêm Lương Xán do thấy danh sơn vô chủ,
bèn bảo vị Tăng chùa Bảo Tạng là Minh Hú thỉnh thầy vị Tăng ấy là Hòa Thượng
Chân Đạt đến tiếp nhận. Hòa Thượng Chân Đạt phát nguyện sau này tìm được người
thích hợp sẽ giao cho người ấy chuyên tu pháp môn Tịnh Độ. Lập ra cách thức chẳng
giống với những nơi khác, chuyên nhất niệm Phật, nhất loạt chẳng thực hiện hết
thảy Phật sự mang tính cách thù tiếp. Bắt đầu từ năm Dân Quốc 15 (1926), hơn mười năm qua, nghiễm nhiên trở
thành một đạo tràng lớn mà chẳng cầm sổ hóa duyên.
Mỗi
ngày tu trì chẳng khác gì đả Phật thất. Khi mở Phật thất chỉ thêm lễ cúng dường
Phật, hồi hướng trước bàn linh mà thôi. Bất luận [thí chủ] thỉnh bao nhiêu vị [Tăng
tham dự niệm Phật] đều là cả chùa cùng niệm, nhưng đem số tiền cúng dường của
thí chủ [với ý định] mời bao nhiêu vị [tham dự niệm Phật] chia đều cho cả chùa.
Vì thế chẳng lập danh sách [những vị Tăng được mời tham dự Phật thất], do không
lập danh sách nên không bị tỵ nạnh “ghi tên người ta mà chẳng ghi tên tôi!” Nếu
làm Phật sự thù tiếp các nơi thì chánh khóa (khóa tụng chánh yếu) của chùa ắt bị
gián đoạn. Khi Linh Nham đả Phật thất, công khóa chỉ có tăng thêm chứ không giảm.
Vì thế, tuy công khóa nghiêm ngặt, nhưng mỗi kỳ Phật thất số người đến ghi danh
thường là ba bốn chục, chỉ có mấy người bỏ đi mà thôi. Ăn uống giống hệt nhau,
không phân biệt chủ, khách, hay người làm công. Chùa này đúng là chùa thập
phương:
1.
Trụ Trì bất luận là Thiên Thai, Hiền Thủ, Lâm Tế, Tào Động, chỉ lấy “giới hạnh
tinh nghiêm, tin sâu pháp môn Tịnh Độ” làm chuẩn. Chỉ truyền hiền, chẳng truyền
pháp[9]
để dứt thói tệ pháp quyến riêng tư.
2. Truyền thừa Trụ
Trì luận theo thứ tự, chẳng luận theo thế hệ, để tránh thói tệ bậc cao đức phải
ở dưới kẻ đức hạnh tầm thường.
3. Không truyền
giới, không giảng kinh, để khỏi bị chèo kéo, dao động, nhiễu loạn chánh niệm.
Trong chùa tuy hằng ngày thường giảng, nhưng chẳng thăng tòa và níu kéo người
ngoài đến nghe.
4. Chuyên nhất niệm
Phật, trừ đả Phật thất ra, nhất loạt không làm hết thảy Phật sự thù tiếp.
5. Bất luận là ai
chẳng được thâu nhận, thế độ đồ đệ trong chùa.
Trong năm điều hễ
trái một điều nào, lập tức ra khỏi chùa. Khóa tụng sớm tối phần lớn giống như
công khóa thông thường, nhưng cũng có chỗ khác biệt. Người mới đến nếu không có
kinh sách để xem, chắc là sẽ hiểu lầm. Vì thế, Giám Viện là Diệu Chân đại sư
tính sắp xếp, ấn hành, cậy tôi viết lời tựa. Do vậy, tôi lược thuật duyên khởi
như vậy đó.
60. Lời tựa
cho cuốn Vạn Niên Bạ[10]
của Linh Nham Sơn Tự
(năm Dân Quốc 21 - 1932)
Chùa Linh Nham do
ngài Bảo Chí Thiền Sư[11]
đời Lương khai sơn, Trí Tích Bồ Tát[12]
trùng hưng, là cuộc đất đạo tràng thù thắng được nhiều đời cao tăng thuộc các
tông Thiền, Giáo, Luật trụ trì. Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thù thắng vừa Tiểu
vừa Đại, vừa cạn vừa sâu, hết sức bình thường, nhưng hết sức đặc biệt, lạ lùng:
Thoát khỏi sanh tử ngay trong một đời này! Cách tu dễ dàng nhất, lợi ích sâu rộng
nhất. Nơi cuộc đất tối thắng này, tu pháp mầu nhiệm nhất này, nếu không phải
nhiều kiếp vun bồi há được gặp gỡ ư? Nhưng muốn tu hạnh thù thắng, ắt phải nhờ
vào các món vật cần dùng. Vì thế, trên là kinh tượng và các món đồ vật, mỗi mỗi
phải sắm sửa đầy đủ thì mới có thể thẳng đường tu tập không trở ngại. Nhưng đạo
tràng tồn tại vĩnh viễn muôn đời, người thì mấy chục năm đã đổi thay. Tất cả những
thứ có được này, nếu không ghi chép vào sổ, lâu ngày có thể bị mất mát. Hơn nữa,
qua bao lần thay đổi, cũng không thể truy xét được nguồn gốc ban đầu.
Do
vậy, mỗi món đều được ghi lại để phàm những ai sống trong chùa này và làm Trụ
Trì, làm Giám Viện, thấy những vật này, tâm liền tự suy nghĩ: “Những vật này là
những vật cần dùng để giúp chúng ta tu trì pháp môn Tịnh Độ ngõ hầu tự lợi, lợi
tha, để cùng sanh về thế giới Cực Lạc, phải yêu mến như thịt nơi thân mình, giữ
gìn như tròng mắt. Chẳng phải là keo tiếc các vật mà chính là kính trọng tấm
lòng thành trợ đạo của thí chủ để mong ít cần, bớt dùng, đạo nghiệp sẽ dễ thành
tựu. Hết thảy pháp môn nếu chẳng đoạn sạch Phiền Hoặc sẽ chẳng thể thoát lìa
sanh tử, chỉ có pháp Tịnh Độ này chỉ cần đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết
tha, liền có thể dự vào cảnh giới Phật. Có được đạo tràng tối thắng này, lại tu
pháp môn tối thắng này, há chẳng nên càng thêm mến tiếc, giữ gìn, quý trọng những
vật cần dùng này ư? Nếu chẳng càng thêm giữ gìn, quý trọng tức là phung phí vật
của trời, phụ ân thí chủ. Dẫu có tu trì, cũng khó được tương ứng cùng Phật, vì
sao? Do kẻ ấy chỉ cốt sao mình được yên ổn, thảnh thơi, mặc kệ công sức người
khác chế tạo, người xưa sắp đặt, lo liệu, đủ mọi nỗi khó khăn. Nguyên do sắm sửa
những thứ ấy là để cho ta tu đạo hòng liễu sanh tử. Đã coi thường những vật
này, chẳng biết mến tiếc, tâm hạnh ấy hoàn toàn chẳng tương ứng với đạo, làm
sao cảm được Phật xót thương nhiếp thọ để được thoát ngay khỏi biển khổ sanh tử!”
Phàm những người chân thật tu hành ắt phải nhẫn được những điều người khác chẳng
thể nhẫn, hành được những điều người khác chẳng thể hành, chịu nhọc nhằn thay
cho người, thành tựu điều tốt đẹp cho người. Được như thế thì tương ứng với đạo,
tương ứng với Phật! Nguyện những người sống trong chùa này ai nấy đều cố gắng.
61. Lời tựa
cho Linh Nham Khai Thị Pháp Ngữ
(năm Dân Quốc 25 - 1936)
Linh Nham chính
là cuộc đất thánh đạo tràng trời tạo đất dựng. Ngô Vương Phù Sai thiếu đức, chẳng
tuân theo đạo “chánh tâm thành ý, siêng năng việc nước, yêu dân” của các vị tổ
là Thái Vương, Thái Bá, Trọng Ung[13], chỉ chuộng dâm lạc,
bèn dựng cung Quán Oa[14] nơi này, mắc tội với
trời đất và tổ tông cũng lớn lắm. Cung điện xây xong được mấy năm, nước mất,
thân chết, chẳng đáng buồn ư? Đến đời Tấn, Tư Không Lục Ngoạn[15] xây nhà trên đó, sau
nghe Phật pháp, bèn biến nhà thành chùa, đấy chính là duyên khởi khai sơn đầu
tiên của Linh Nham vậy. Đến đời Lương, ngài Bảo Chí Công cầu xin Vũ Đế, chùa lại
được trùng hưng. Trí Tích Bồ Tát nhiều lượt hiện thân tượng vẽ[16],
hiển thị đạo nhiệm mầu, dẫn dắt kẻ tục còn đang mê. Đến đời Đường, em trai Tể Tướng
Lục Tượng Tiên[17]
(người Tô Châu) mắc bệnh ở
kinh đô, ngự y bó tay. Một vị Tăng xin gặp, nói có thể trị được bệnh, bảo lấy một
chén nước sạch, hướng vào đó niệm chú mấy câu, ngậm nước phun ra, lập tức khỏi
hẳn bệnh. Đem mọi vật đáp tạ Sư đều không nhận, nói: “Tôi tên là Trí Tích. Sau
này ông trở về Tô Châu, nên đến núi Linh Nham gặp gỡ tôi”. Về sau, người ấy đến
núi hỏi thăm, không có ai tên là Trí Tích cả, tâm rất buồn bã, xem khắp các điện
đường, thấy hình vẽ trên vách chính là vị Tăng đã trị
bệnh cho mình. Vì thế, đặc biệt dựng điện Trí Tích, chùa lại được trung hưng.
Từ đời Tấn đến đời Đường, [danh tánh] tất cả Trụ Trì đều chẳng thể tra cứu được.
Đến
đời Tống, phàm những vị Trụ Trì núi này đều là bậc đại lão lỗi lạc trong Tông
môn, đạo tràng Linh Nham bèn trở thành đứng đầu Giang Tô; do đất thiêng nên mới
có người tài giỏi, do người tài giỏi nên đất mới thiêng. Cuối đời Minh, đầu đời
Thanh, chùa lại hưng khởi mạnh mẽ, hai đời vua Thánh Tổ (Khang Hy) và Cao Tông
(Càn Long), mấy lần tuần du phương Nam, đều nghỉ tại hành cung[18] trên núi. Trong cơn
loạn Hồng Dương, chùa bị đốt cháy gần như hết sạch. Về sau, đại sư Niệm Thành
trụ trong lòng tháp, nhằm đúng khi ông Bành Cung Bảo Ngọc Lân đi chơi núi gặp gỡ,
bèn tra xét ruộng đất [chuộc lại] hơn sáu trăm mẫu, dựng hơn mười gian điện đường,
nhà cửa.
Đến năm Tuyên Thống thứ ba (1911), trụ trì là Đạo Minh vốn là quân nhân xuất gia, tánh tình thô bạo, do mất y [ca-sa] mà đánh đập người tới chùa quá đáng, người dưới núi vùng lên đánh đuổi, Đạo Minh bỏ trốn. Đồ đạc trong chùa đều bị khuân sạch, trở thành một ngôi chùa không ai ở. Đây chính là cơ hội để đạo tràng Linh Nham được phục hưng. Nếu không, giả sử như ông ta tận lực vâng giữ Thanh Quy, chắc chắn chùa chẳng thể trở thành đạo tràng Tịnh Nghiệp duy nhất trong cả nước được! Họa - phước dựa dẫm lẫn nhau, chỉ do con người khéo dụng tâm hay không mà thôi. Bắt nguồn từ việc thân sĩ vùng Mộc Độc là ông Nghiêm Lương Xán bảo nhà sư chùa Bảo Tạng là Minh Hú thỉnh thầy của vị sư ấy là hòa thượng Chân Đạt tiếp nhận trông nom chùa. Ngài Chân Đạt bèn phái người đến tiếp nhận, lại sai Minh Hú đứng trông nom tạm thời, ý muốn có người thích hợp sẽ biến chùa thành đạo tràng thập phương chuyên tu Tịnh Độ. Năm Dân Quốc mười lăm (1926), pháp sư Giới Trần[19] đến đây, bèn giao cho Ngài làm Trụ Trì. Tăng chúng thường trụ lấy hai mươi người làm hạn, trừ số tiền huê lợi mấy trăm đồng ra, hễ [chi tiêu] không đủ thì ngài Chân Đạt sẽ bù cho. Chẳng quyên mộ, chẳng làm pháp hội, chẳng truyền pháp, chẳng thâu đồ đệ, chẳng giảng kinh, chẳng truyền giới, chẳng làm chuyện kinh sám thù tạc[20], chuyên nhất niệm Phật. Khóa tụng mỗi ngày đều giống như trong khi cử hành Phật thất thông thường. Trụ trì bất luận Thiên Thai, Hiền Thủ, Lâm Tế, Tào Động đều được, chỉ quan tâm đến thứ tự, không quan tâm đến thế hệ truyền thừa