Tứ Thập Hoa
Nghiêm Kinh
Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm
Cát Tường Vân Tỳ
Kheo Chương
四十華嚴經
普賢行品
吉詳雲比丘章
Phần 1
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Địa điểm: Cảnh Mỹ
Hoa Tạng Đồ Thư Quán, Đài Loan,
Tháng Ba năm 1997
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang
Tập thứ nhất (
Xin mở
bản kinh[1], trang thứ nhất,
Cát Tường Vân Tỳ Kheo Chương.
Trước
khi giảng đến kinh văn, đại sư Thanh
Lương có mấy câu giải thích cũng rất quan trọng.
Chúng ta hăy đọc đoạn này một lượt.
(Sớ) Đại
văn đệ nhị: “Nhĩ thời, Thiện Tài đồng
tử tiệm thứ Nam hành” hạ.
(疏)大 文 第 二。爾
時 善 財 童 子 漸 次 南 行 下。
(Sớ: Đoạn lớn thứ hai
trong kinh văn, từ câu “lúc bấy giờ, Thiện Tài
đồng tử dần dần theo thứ tự đi về
phương Nam”).
Chữ “hạ” ở đây chỉ phần
kinh văn tiếp theo [câu nói ấy], chỉ cho phần kinh
văn [trong chương này].
(Sớ) Hữu
thập thiện hữu, kư Thập Trụ vị.
(疏)有 十 善 友,寄
十 住 位。
(Sớ:Có
mười vị bạn lành thuộc vào địa vị
Thập Trụ).
Ở chỗ
này, kể ra mười người, tức là mười
vị Bồ Tát [trong số năm mươi ba vị thiện
tri thức]. Tuy nói là tỳ-kheo, nhưng thật ra, họ
đều là Bồ Tát, tức hàng Pháp Thân đại
sĩ. Mười vị này “kư
Thập Trụ vị”, chữ Kư (寄) ở
đây là “kư thác” (gởi gắm).
Nếu chúng ta dùng thí dụ để nói th́ họ giống
như biểu diễn trên sân khấu vậy, họ
đóng vai tṛ Thập Trụ. Rất khó thể nói [đích
xác] bổn địa của họ là ǵ, có những vị
là cổ Phật tái lai; ở đây, ta hoàn toàn nh́n theo h́nh
tướng nơi mặt Tích của họ, tức là [nh́n
vào] h́nh tướng họ đă thị hiện; sẽ giống
như trong kinh Pháp Hoa đă nói: “Bổn
Tích nhân duyên”. Dưới đây là lời giải thích
cho chúng ta biết Thập Trụ là ǵ?
(Sớ) Vị
thỉ nhập Không giới, huệ trụ Không tánh, đắc
Vị Bất Thoái, cố danh vi Trụ.
(疏)謂 始 入 空 界,慧
住 空 性,得 位 不 退,故 名 為住。
(Sớ:
Nghĩa là vừa mới nhập Không giới, huệ trụ
nơi tánh Không, đạt được Vị Bất
Thoái, nên gọi là Trụ).
Trước
hết, [đại sư Thanh Lương] giảng cho chúng
ta biết ư nghĩa của chữ Trụ trong Thập Trụ.
Tại Trung Quốc, gần như mỗi một tông phái
đều công nhận Hoa Nghiêm là Đại Thừa Viên
Giáo, lại c̣n gọi bộ kinh này là “căn bản pháp luân”, [hàm ư] hết thảy các
kinh đều là quyến thuộc của Hoa Nghiêm. Giống
như một cái cây, Hoa Nghiêm là rễ, là gốc; hết thảy
các kinh khác đều là cành lá của cái cây ấy, đều
lưu xuất từ kinh này. Do điều này, có thể biết
được tánh chất quan trọng của kinh Hoa
Nghiêm. Ở đây, đại sư Thanh Lương bảo
cho chúng ta biết ư nghĩa của chữ Trụ: “Thỉ nhập Không giới”,
Thỉ là bắt đầu, “Không
giới” chẳng phải là mười pháp giới.
Mười pháp giới chẳng phải là Không, lục
đạo chẳng phải là Không, mười pháp giới
cũng chẳng phải là Không. Nói cách khác, bọn họ vừa
mới bắt đầu ĺa khỏi mười pháp giới,
“Không giới” chính là Nhất
Chân pháp giới.
“Huệ trụ Không tánh”: Bồ
Tát đạt đến địa vị này, trí huệ mở
mang, đây là trí huệ chân thật. Trí huệ chân thật,
trí huệ Bát Nhă nơi tự tánh hiện tiền, giống
như kinh Kim Cang đă dạy: “Tín
tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng”. Thật
Tướng Bát Nhă hiện tiền, vượt trỗi
mười pháp giới, đấy là “trụ Không tánh”. Nhập cảnh giới ấy sẽ
vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, chẳng c̣n lui sụt
vào mười pháp giới nữa, trừ phi vị ấy
thị hiện. [Sự thị hiện đó] được
gọi là “đảo giá từ
hàng” (thả chiếc bè Từ), hay “thừa nguyện
tái lai”, những vị như vậy rất nhiều. Nếu
không phải do chính vị ấy thừa nguyện tái lai th́
tuyệt đối sẽ chẳng phải là do nghiệp lực
kéo vị ấy trở lại; không có đạo lư ấy
đâu nhé! Do vậy, gọi là “Vị
Bất Thoái”. Danh từ Tam Bất Thoái này trong Đại
Thừa lẫn Tiểu Thừa đều có, nhưng cảnh
giới trong ấy sâu hay cạn khác nhau. Ở đây là cảnh
giới tối cao, nên gọi là Trụ. Đoạn sau ghi:
(Sớ) Trụ nghĩa đa
chủng, kư viên thuyết Thập.
(疏)住 義 多 種,寄
圓 說 十。
(Sớ: Ư nghĩa của
Trụ có nhiều thứ, do ngụ ư “viên măn” nên nói là Thập).
Ư nghĩa của chữ
Trụ rất nhiều, đức Phật muốn nói
cũng chẳng thể nói hết được. V́ thế,
đối với chúng ta là hạng người tŕnh độ
rất cạn, nghiệp chướng sâu nặng, chỉ
c̣n cách dùng phương pháp giới thiệu những điểm
đơn giản, trọng yếu nhất! Quy nạp rất
nhiều ư nghĩa lại, quy nạp thành mười điều,
bởi lẽ Thập cũng mang ư nghĩa viên măn. Con số
từ một đến mười chính là con số viên
măn, cho nên trong kinh Hoa Nghiêm chỗ nào cũng dùng chữ Thập
để tượng trưng sự viên măn, chứ Thập
hoàn toàn chẳng phải là con số. Đây là điều
chúng ta cần phải hiểu thật rơ ràng. Do gởi gắm
ư nghĩa “viên măn”, cho nên nói là mười thứ. Mỗi một
đề mục đều nói ra mười thứ, trong
kinh Hoa Nghiêm dùng chữ Thập để biểu thị
pháp.
(Sớ) Dĩ Bồ Đề tâm nhi vi kỳ Thể,
trực tâm thiên tăng, danh nhập Không giới
(疏)以 菩 提 心 而 為 其 體。直
心 偏 增,名 入 空 界。
(Sớ: Lấy Bồ
Đề tâm làm Thể, riêng chú trọng tăng trưởng
Trực Tâm, gọi là “nhập Không giới”).
Đây là
lời giải thích cho câu “thỉ
nhập Không giới, Huệ trụ Không tánh”. Do điều
này, ta biết được sự quan trọng của Bồ
Đề tâm. Bồ Đề tâm là A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề Tâm, trong chương trước tôi đă
giới thiệu cặn kẽ với mọi người
rồi, nhất định phải phát Bồ Đề
tâm! Trong Bồ Đề tâm, thường nói tới “Thể
- Dụng”, lại chia thành ba khoa. Thể của Bồ
Đề tâm là Trực Tâm, Mă Minh Bồ Tát đă nói điều
này trong Khởi Tín Luận. Nếu dựa theo Quán Kinh, tức
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh để nói, đức
Phật dạy chúng ta: Thể của Bồ Đề tâm
là Chí Thành Tâm, tức là chân thành đến mức cùng cực.
Nếu gộp hai cách giảng này lại để hiểu,
ta sẽ dễ dàng hiểu ư nghĩa [của Bồ Đề
tâm]. Thế nào là Trực Tâm? Chân thành đến mức cùng
cực, không có một mảy may hư vọng nào. Lũ
chúng ta cảm thấy chẳng dễ ǵ lănh hội
được, nói chung là v́ [tự cho rằng] tâm của chính
ḿnh rất chân thật, tôi đă chân thành đến mức
cùng cực rồi. Thật ra, nếu đem so với tiêu
chuẩn chân thành được giảng trong kinh Phật,
hăy c̣n cách biệt xa lắm!
Tiêu chuẩn
nằm ở chỗ nào? Trước hết, chúng tôi không
nói đến Phật pháp, mà hăy luận theo pháp thế gian trước
đă! Kể ra, tiên sinh Tăng Quốc Phiên sống không xa thời
chúng ta cho lắm, ông là người sống vào cuối triều
Thanh. Hậu duệ của ông ở Đài Loan cũng kha
khá; Tăng Bảo Sâm là người đời sau của
ông ta, tức hậu duệ. Tăng Quốc Phiên định
nghĩa chữ Thành như sau: “Một
niệm chẳng sanh là Thành”, lời giải thích này hết
sức phù hợp Phật pháp. Do đây biết rằng: “Hễ
anh khởi tâm động niệm, tâm anh chẳng chân thành!”
Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, chúng ta
thường nói: “Không phân biệt,
không chấp trước, không khởi tâm, không động
niệm, cái tâm ấy sẽ là tâm chân thành”. Đấy
chính là bản thể (Thể) của Bồ Đề tâm,
phải rèn luyện trong sinh hoạt hằng ngày. Luyện sao
cho không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt,
không chấp trước, lúc ấy sẽ là lúc sử dụng
chân tâm. Nếu có phân biệt, chấp trước, khởi
tâm, động niệm, quư vị đang dùng vọng tâm. Vọng
tâm ấy chính là Thức tâm, nói theo Pháp Tướng Duy Thức,
sẽ là “quư vị đang sử dụng năm mươi
mốt Tâm Sở của tám Thức”. Năm mươi mốt
tâm sở của tám Thức đều là pháp hữu vi, kinh
Kim Cang dạy: “Nhất thiết
hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” (Hết
thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng), những thứ ấy không thật. Do vậy, kể từ
Sơ Trụ Bồ Tát liền sử dụng chân tâm, cho nên
có cùng một cái tâm với Phật, Phật dùng chân tâm, lúc ấy,
Bồ Tát cũng dùng chân tâm.
“Trực tâm thiên tăng”: Bồ
Đề tâm khởi tác dụng, tức là chân tâm khởi
tác dụng. Nó có hai tác dụng: Một là Tự Thọ Dụng,
hai là Tha Thọ Dụng.
1) Tự Thọ Dụng
là niệm niệm hướng đến Vô Thượng Bồ
Đề, không có ư niệm thứ hai nào; đấy là nói đối
với chính ḿnh. Trong kinh Đại Thừa, thường
có một câu nói về từ ngữ “niệm niệm” này như sau: “Thú Tát Bà Nhă hải” (Tiến nhập biển Nhất
Thiết Chủng Trí). Trong các vị, cũng có người
thường đọc kinh đă thấy câu này rồi. Tát
Bà Nhă (Sarvajña) là
tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Nhất
Thiết Chủng Trí. Nhất Thiết Chủng Trí có cùng một
ư nghĩa với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. Do đây có thể biết: Từ nay trở
đi, đối với chính ḿnh, vị ấy không có một
niệm nào khác ngoài ư niệm muốn viên măn rốt ráo Phật
quả, vị ấy chỉ có một ư niệm này. Có thể
nói là đối với hết thảy các pháp thế gian
hay xuất thế gian vị ấy đều buông xuống
hết, không phân biệt, không chấp trước, vị ấy
cũng không có vọng tưởng, triệt để buông
xuống. Đấy gọi là “chân
tâm”.
2) Tha Thọ
Dụng là đại bi tâm. Đại bi tâm là thừa nguyện
tái lai, vào trong mười pháp giới. Chúng sanh cần họ
giúp ǵ, họ đều có thể giúp đỡ, giống như
ba mươi hai ứng thân của Quán Âm Bồ Tát vậy. Hễ
chúng sanh cảm, Ngài liền ứng đến, cảm ứng
đạo giao mà! Nên dùng thân Phật để độ
được, Ngài liền hiện thân Phật để
thuyết pháp cho quư vị. Nên dùng thân Bồ Tát để
độ được, Ngài bèn hiện thân Bồ Tát
để thuyết pháp cho quư vị. Ngài hiện thân vô
lượng vô biên, ba mươi hai ứng thân đă nói
trong phẩm Phổ Môn chính là ba mươi hai loại, tức
ba mươi hai loại lớn, trong mỗi một loại
có vô lượng vô biên [các tiểu loại]. Đấy là
đại bi tâm, trong Quán Kinh gọi [đại bi tâm] là “phát nguyện hồi hướng
tâm”. Ngài thật sự làm được điều ấy,
ở đây gọi là “trực
tâm thiên tăng”. Bởi lẽ, Sơ Trụ Bồ Tát vừa
mới nhập Không giới, chú trọng tới tự chứng
nhiều hơn, chứ chẳng phải là Ngài không hóa độ
người khác, chỉ là thiên trọng tự chứng. Do
vậy gọi là Trụ, nhập Không giới như vậy
đó!
(Sớ)
Ngữ kỳ tướng dă.
(疏)語 其 相 也。
(Sớ:
Nói đến tướng ấy).
Nh́n từ
tướng, nh́n từ h́nh dáng.
(Sớ) Dữ
ư pháp giới, hư không giới đẳng.
(疏)與 於 法 界 虛 空 界 等。
(Sớ:
Ngang bằng pháp giới, hư không giới).
Do tâm vị
ấy không phân biệt, không chấp trước, cho nên tâm lớn
như hư không pháp giới. Tâm đă như vậy th́
tướng cũng giống như vậy. Cho nên tận
hư không, trọn pháp giới, đều có thể tùy loại
hiện thân, đấy là cảnh giới chẳng thể
nghĩ bàn. Do vậy, đề mục của kinh này, chúng
ta luôn rút gọn đề mục của kinh này, chứ nếu
nói đầy đủ th́ sẽ là Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghị
Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm. Đấy mới là đề mục hoàn toàn,
đề mục hoàn chỉnh. Đề mục dài quá nên
chúng ta rút gọn. V́ thế, [những cảnh giới
được nói trong kinh này] là cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn. Nói thật ra, chúng ta học Phật là bắt
đầu học từ chỗ nào? Rất nhiều bước
để bắt đầu, nhưng bước bắt
đầu sau đây cũng hết sức quan trọng, tức
là mở rộng tâm lượng. Mở rộng tâm lượng
bằng cách nào? Đối với hết thảy mọi
người, hết thảy sự, hết thảy vật,
quư vị hăy luôn nhớ kỹ: “Đừng
phân biệt, đừng chấp trước, đừng
khởi tâm, đừng động niệm”, tâm lượng
của quư vị sẽ tự nhiên mở rộng. Hễ có
phân biệt, chấp trước, tâm lượng sẽ rất
nhỏ, biến thành tâm lượng phàm phu. Điều này
rất khẩn yếu.
(Sớ)
Thập
Trụ bất đồng, tức vi thập đoạn.
(疏)十 住 不 同,即
為 十 段。
(Sớ:
Do mười địa vị thuộc Thập Trụ
khác nhau, nên chia thành mười đoạn)
Kinh
văn được chia thành mười đoạn. Ở
đây, chúng ta gọi là “mười chương”. Hiện
thời, chúng ta coi mỗi một chương là một
đơn vị, in thành những tập sách nhỏ. Thập
Trụ bắt đầu từ cuốn này trở đi,
c̣n có chín cuốn nữa đều nói về Thập Trụ
Bồ Tát.
(Sớ)
Nhiên hạ chư hữu, cổ đức phán văn tùng
nhất chí thập, kim lược tự nhất nhị.
(疏)然 下 諸 友 , 古 德 判 文 從 一 至 十。今
略 敘 一 二。
(Sớ:
Nhưng đối với các vị thiện hữu [lần
lượt được chép] trong những phần sau, cổ
đức phán định kinh văn có từ một cách
cho đến mười cách, nay chỉ tŕnh bày đại
lược một hai cách).
Đây là
nói về sự phân khoa, phán giáo [trong khi chú giải kinh Hoa
Nghiêm]. Đối với chúng ta mà nói, [chuyện này] không
quan trọng lắm. Đối với người học
giảng kinh th́ bắt buộc phải tham khảo, chứ
đối với chúng ta mà nói, [những cách phân khoa khác
nhau] trọn chẳng quan trọng ǵ. Đoạn văn trên
đây giới thiệu cách phân đoạn như thế
nào. Ở chỗ này nói đến một đoạn lớn
(tức toàn bộ Cát Tường Vân Tỳ Kheo
Chương), chứ không phải là một tiểu đoạn.
Trong trang trước [chương này], chúng tôi có một biểu
đồ chỉ ra cách phân chia từng đoạn, phân chia
rất cặn kẽ, đấy gọi là Khoa Phán. Đối
với bộ kinh này, cổ nhân mỗi vị có cách nhận
định khác nhau, mỗi vị có một cách phân định
khác nhau, chẳng hạn như:
(Sớ)
Biện công phân tam.
(疏)辯 公 分 三。
(Sớ:
Ngài Thanh Biện chia thành ba đoạn)
Ngài chia kinh
văn thành ba đoạn. Đoạn thứ nhất:
(Sớ)
Văn
danh cầu mịch.
(疏)聞 名 求 覓。
(Sớ:
Nghe danh hiệu thiện tri thức, đi t́m kiếm)
Phần
này thuộc về…
(Sớ) Gia
Hạnh Vị. Nhị thọ kỳ sở thuyết, thị
Chánh Chứng Vị.
(疏)加 行 位。二 受 其
所 說,是 正 證
位。
(Sớ: Gia Hạnh Vị.
Đoạn thứ hai là nhận lănh lời giảng của
vị thiện tri thức ấy, thuộc về Chánh Chứng
Vị).
Đoạn
thứ ba [được nêu ra] trong trang sau:
(Sớ)
Ngưỡng thôi thắng tấn, thị Hậu Đắc
Vị.
(疏)仰 推 勝 進,是
後 得 位。
(Sớ:
Ngưỡng mộ, đề cao vị thiện tri thức
kế tiếp vượt trỗi bản thân ta, đấy
là Hậu Đắc Vị)
Đây là
cách phân đoạn của đại sư Thanh Biện.
Nhưng cũng có vị cổ đức chia thành năm phần,
tức là chia thành năm đoạn. Cách phân chia năm
đoạn như sau:
(Sớ)
Nhất cử pháp khuyến tu, nhị y giáo thú nhập, tam
kiến dĩ thỉnh kính, tứ chánh thị pháp giới,
ngũ ngưỡng thôi thắng tấn. Nhiên thượng
nhị nghĩa.
(疏)一 舉 法 勸 修。二
依 教 趣 入。三 見 已 請 敬。四正 示 法 界。五 仰 推 勝 進。然 上 二
義。
(Sớ:
Một là nêu ra pháp để khuyên tu; hai là vâng theo lời dạy
để đi tới nơi, ngộ nhập pháp ấy;
ba là gặp được thiện tri thức bèn thưa
thỉnh, tỏ ḷng kính trọng; bốn là phần chỉ
bày chánh yếu về pháp giới; năm là kính ngưỡng, đề cao vị thiện
tri thức khác vượt trỗi hơn ta để
người nghe tấn tu. Nhưng hai nghĩa trên đây...)
Hai cách
phân đoạn vừa được nêu ra trên đây.
(Sớ)
Tịnh ước vị thuyết.
(疏)並 約 位 說。
(Sớ:
Đều là ước theo địa vị để
nói)
Đều
là ước theo địa vị do Bồ Tát chứng
đắc [để phán định], giống như
Sơ Trụ, Nhị Trụ, Tam Trụ, đều là dựa
theo đây để nói.
(Sớ) Ư nghĩa thậm thiện.
(疏)於 義 甚 善。
(Sớ:
Xét về ư nghĩa rất hay)
Cách phân
đoạn này, luận về mặt ư nghĩa rất hay,
phân chia cũng khá lắm; nhưng luận theo kinh văn th́
chẳng thuận tiện. Bởi lẽ, trong thời đức
Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, Ngài trọn chẳng bảo
người khác phân đoạn. Phân đoạn là chuyện
của người đời sau. Trong thời đức
Phật giảng kinh, chẳng dùng tới cách thức ấy.
Do vậy, đối với phần kinh văn này, nếu
như chúng tôi giảng một chương tỳ-kheo Cát
Tường Vân này, để giới thiệu ngài Cát Tường
Vân cặn kẽ th́ phải nói lấn qua chương
trước, tức là chương giảng về Thập
Tín của đức Văn Thù. Chúng tôi giảng đơn
độc một chương này th́ quả thật không tiện
lắm, phải giảng lấn qua phần trước.
Đây là điều hiển nhiên.
(Sớ) Tại
văn bất tiện. Dĩ hậu hữu danh nghĩa tuy
thuộc hậu, tiền hội thuyết cố.
(疏)在 文 不 便。以
後 友 名 義 雖 屬 後,前 會 說 故。
(Sớ:
Nhưng đối với [sự giảng giải] kinh
văn th́ không thuận tiện. Bởi lẽ danh nghĩa của
vị thiện hữu kế tiếp tuy thuộc phần
sau nhưng đă được nói tới trong hội[2] trước)
Giống
như ngài Cát Tường Vân được nói ở
đây th́ ngài Cát Tường Vân đă được giới
thiệu trong phần trước, được giới
thiệu trong pháp hội của Văn Thù Bồ Tát, chứ
không phải là từ chỗ này trở đi mới
được giới thiệu.
(Sớ)
Kim y Ư công, cập Ngũ Đài Luận, ước hội
khoa chi, phân vi lục phần.
(疏)今 依 意 公,及
五 臺 論,約 會 科 之。分 為 六 分。
(Sớ:
Nay dựa theo Ư công và Ngũ Đài Luận, ước theo
hội này để phân khoa, chia thành sáu phần)
Ở
đây đại sư Thanh Lương đem kinh văn
chia thành sáu đoạn, từ đây trở đi, mỗi
một lần tham học trong năm mươi ba lần
tham học đều chia thành sáu đoạn lớn như
vậy. Sáu đoạn này tuy do Ngài phân chia, nhưng cũng
do người đời trước đă có ư tưởng
này, nên Ngài trọn chẳng kể công; ở đây Ngài
đều đem ư tưởng của cổ đức kể
hết ra. Do vậy, Ngài chia kinh văn thành sáu đoạn.
(Sớ) Nhi
danh tiểu dị.
(疏)而 名 小 異。
(Sớ:
Nhưng tên gọi hơi khác)
Tên gọi
của từng khoa hơi khác với cách gọi của
người đời trước.
(Sớ)
Nhất, y giáo thú cầu.
(疏)一 依 教 趣 求。
(Sớ:
Một là vâng theo lời dạy để tiến hướng,
cầu thỉnh)
Vâng theo lời
chỉ dạy, chỉ dẫn của vị thiện tri thức
trong phần trước: “Ông đến chỗ đó,
thưa hỏi vị đó”. Đoạn kinh văn ấy
chính là đoạn thứ nhất, vâng theo lời của vị
thiện tri thức trong phần trước. Ở đây,
chúng ta thấy vị thiện tri thức trong phần
trước chính là Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù Bồ Tát
dạy Thiện Tài đến thưa hỏi tỳ-kheo Cát
Tường Vân, “y giáo thú cầu”
[là như vậy đó].
(Sớ) Nhị, kiến kính tứ
vấn.
(疏)二 見 敬 諮 問。
(Sớ: Hai là gặp
mặt, thể hiện sự lễ kính, xin phép được
thưa hỏi)
Gặp mặt thiện
hữu rồi, đương nhiên phải hết sức
cung kính. Lễ tiết ấy chẳng thể bỏ
được, nhất định phải hướng về
vị ấy thỉnh giáo. Đây là một đoạn nữa.
(Sớ)
Tam, xưng tán, thọ pháp.
(疏)三 稱 讚 授 法。
(Sớ:
Ba là khen ngợi, truyền dạy giáo pháp).
Vị
thiện tri thức ấy thấy Thiện Tài đến
tham học, nhất định khen ngợi Thiện Tài, rồi
mới dạy dỗ, đem pháp môn do chính ḿnh đă học
được để truyền dạy cho Thiện Tài.
Phần kinh văn như vậy thuộc về đoạn
ba.
(Sớ)
Tứ, khiêm kỷ thôi thắng.
(疏)四 謙 己 推 勝。
(Sớ:
Bốn là tự ḿnh nhún nhường, đề cao người
khác)
Pháp môn của
Phật vô lượng vô biên. Quư vị thấy mỗi một
vị thiện tri thức tự ḿnh rất khiêm hư: “Trong
vô lượng pháp môn, tôi chỉ biết được một
pháp môn này, chẳng bằng những vị thiện tri thức
khác, họ hiểu biết nhiều, đều cao minh
hơn tôi!” Tự ḿnh khiêm hư, tán thán người khác. “Thôi” (推) là đề cao, [“thôi thắng”
là] đề cao người khác giỏi giang hơn ḿnh,
người khác đều giỏi hơn tôi. Không có vị
nào nói chính ta rất tuyệt vời, những kẻ khác
đều kém ta! Không có! T́m một vị như vậy
trong năm mươi ba lần tham học t́m không ra, vị
nào cũng đều khiêm hư. Đối với chỗ
này chúng ta phải lưu ư, phải chú tâm thấu hiểu; nếu
gặp một vị thiện tri thức nào tự nhận
[chính ḿnh] rất tuyệt vời: “Người khác đều
thua ta, ta là thiện tri thức thật sự!” Chắc chắn
kẻ ấy là giả trất, chắc chắn không phải
là thiện tri thức thật sự. V́ sao vậy? Do chẳng
tương ứng với pháp!
(Sớ)
Ngũ, chỉ thị hậu hữu.
(疏)五 指 示 後 友。
(Sớ:
Năm là chỉ bày vị thiện tri thức kế tiếp)
Nhất
định phải giới thiệu một vị thiện
tri thức khác cho Thiện Tài, “ông đến đó tham học”,
giới thiệu đến nơi đó. Đoạn cuối
cùng:
(Sớ) Luyến
đức, lễ từ
(疏)戀 德 禮 辭。
(Sớ:
Luyến mộ phẩm đức, lễ bái, từ tạ).
Phần
kinh văn này tuy rất ngắn, những ư nghĩa hết
sức sâu rộng. “Luyến
đức” là cảm kích, cảm kích sự dạy bảo
của thiện tri thức, thành tựu Định - Huệ
cho chính ḿnh, đấy là “luyến
đức”. “Lễ từ” nghĩa là ǵ? Trọn chẳng
có nghĩa là “tôi xin phép từ giă Ngài, tôi đi qua đó
thưa hỏi”. Khi quư vị hiểu như vậy th́ quư vị
dại lắm, quư vị học Phật si dại rồi! Quư
vị chẳng học được ǵ hết! Ư nghĩa
chân chánh của “lễ từ”
như sau: “Lễ” là cung kính
lễ bái; “Từ” là ǵ? Tôi
chẳng học pháp môn này! Tôi biết pháp môn này, tôi hiểu
rồi, nhưng tôi vẫn thật thà niệm Phật! Từ
đầu đến cuối Thiện Tài đồng tử
thật thà niệm Phật, một câu A Di Đà Phật niệm
đến tột cùng. Thế nhưng pháp môn nào Ngài cũng
đều hiểu, pháp môn nào cũng đều tiếp
xúc, pháp môn nào cũng đều thưa hỏi, thứ ǵ
cũng đều hiểu, nhưng vẫn như như bất
động! Từ trước đến nay không thay đổi
ư niệm, tôi muốn học cái này, muốn học cái kia,
không hề có! “Luyến đức
lễ từ” có ư vị ấy, có ư nghĩa này!
Nếu quư
vị không đi thưa hỏi, quư vị hiểu biết
ít ỏi, trí huệ của quư vị không viên măn, công phu trấn
định của quư vị không hiển hiện được.
Sau khi quư vị tiếp xúc, mới biết như như bất
động, phân minh rạch ṛi, mới hiển thị
được Định - Huệ chân thật của
chính ḿnh. Chính ḿnh vẫn thật thà niệm Phật, măi cho
tới khi đến chỗ vị thiện tri thức cuối
cùng là Phổ Hiền Bồ Tát, mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc. Do vậy, Thiện
Tài đồng tử viên măn thành Phật trong một đời,
thành Phật bằng cách nào? Niệm A Di Đà Phật mà
thành Phật! Vậy th́ năm mươi ba lần tham học
có ư nghĩa ǵ? Năm mươi ba lần tham học nhằm
dạy bảo quư vị về sinh hoạt thường nhật
trước khi được văng sanh. Do vậy, chúng tôi gọi
chung những điều này là “nghệ
thuật sống hiện đại”. Quư vị chưa
văng sanh, quư vị vẫn ở trong thế gian này, quư vị
vẫn có thân xác này, quư vị vẫn phải mặc áo,
ăn cơm, quư vị vẫn phải ứng xử với
hết thảy, mỗi ngày sáu căn tiếp xúc cảnh giới
sáu trần, đấy chính là năm mươi ba lần
tham học. Tuy tiếp xúc, pháp thế gian, pháp xuất thế
gian, pháp nào cũng đều có thể tiếp xúc, nhưng
trong tâm có chủ tể (tức tâm luôn giữ được
chủ ư), trong tâm như như bất động, cảnh
giới bên ngoài rành rẽ phân minh, một câu A Di Đà Phật
niệm tới cùng. Đấy gọi là “ Thiện Tài đồng tử”.
Quư vị
hiểu rơ đạo lư này th́ mới thật sự đạt
được Hoa Nghiêm tam-muội. Chứ chẳng phải
là bảo quư vị bữa nay đến chỗ này nghe vị
pháp sư này giảng, ngày mai đến chỗ vị thiền
sư kia, ngày mốt đi nghe vị thượng sư nọ.
Quư vị đến các nơi học loạn cào cào, quư vị
chẳng phải là Thiện Tài đồng tử đâu nhé!
Do vậy, kinh này rất có ư vị, kinh dạy chúng ta
phương cách sống như thế nào, dạy chúng ta làm
người ra sao, làm thế nào để trong đời
này, trong xă hội phức tạp này mà xuất thế gian,
thật sự thành tựu Định - Huệ của chính
ḿnh một cách viên măn lớn lao! Phần tiếp theo….
(Sớ)
Nhi
chư văn đa cụ.
(疏)而 諸 文 多 具。
(Sớ:
Nhưng trong các phần kinh văn, đa số đều
có đủ cả [sáu khoa])
“
(Sớ)
Cố tổng khoa chi.
(疏)故 總 科 之。
(Sớ:
Cho nên nêu chung các khoa ra).
Ở chỗ
này đặc biệt giới thiệu [sáu khoa ấy].
(Sớ) Tiểu
hữu tăng giảm, chí văn đương biện.
(疏)小 有 增 減,至
文 當 辨。
(Sớ:
Hễ có sai khác đôi chút th́ đến phần kinh văn ấy
sẽ biện định rơ).
Cũng
có lúc là có thể nhiều hơn một điều hay nhiều
hơn một đoạn, mà cũng có thể là ít hơn một
đoạn, nhưng trường hợp ấy rất hiếm.
Đại đa số kinh văn đều có đầy
đủ sáu đoạn lớn ấy. Do vậy, nếu gặp
trường hợp đặc biệt như thế,
đến lúc ấy sẽ lại giải thích.
(Sớ)
Cánh hữu đa phân, đản lục trung biệt
nghĩa hựu đa bất cụ, cố bất hiển
chi.
(疏)更 有 多 分。但
六 中 別 義 又 多 不 具,故 不 顯之。
(Sớ:
Lại có người chia ra nhiều hơn, nhưng những
nghĩa riêng biệt trong sáu phần trên đây đa số
lại không có đủ, cho nên không nêu ra).
Cũng
có những vị pháp sư khác chia đoạn này ra rất
nhiều đoạn nhỏ; nhưng nói thật ra, hoàn toàn
chẳng cần thiết cho lắm. Cách chia thành sáu đoạn
như thế này hết sức rơ ràng, hết sức dễ
hiểu. Do vậy, đại sư Thanh Lương bèn giới
thiệu ở đây trước khi giảng kinh. Chúng ta hiểu
được mỗi đoạn, [mỗi đoạn kinh
văn tường thuật] một lần Thiện Tài
đến tham phỏng đều có sáu đoạn này, cho
thấy Ngài là người rất ngăn nắp, rất
đúng thứ tự, rạch ṛi, không loạn xị, phù hợp
với tinh thần giới luật. Giới luật là quy củ,
cách phân đoạn này có quy củ, theo đúng thứ tự.
Trong phần
trước, sau khi Văn Thù Bồ Tát giới thiệu tỳ-kheo
Cát Tường Vân với Thiện Tài đồng tử, dặn
ḍ Thiện Tài đến nơi ấy tham học. Cuối
đoạn kinh văn ấy, đại sư Thanh
Lương nêu lên một câu hỏi để giải quyết
ḷng nghi. Đoạn ấy cũng hết sức quan trọng.
Ngài lập ra một đoạn vấn đáp: Văn Thù Bồ
Tát là vị trí huệ bậc nhất trong hàng Bồ Tát, huống
chi Văn Thù là “thất Phật
chi sư”, tức là thầy của bảy vị Phật.
Trong số học tṛ của Ngài đă có bảy vị
đều thành Phật, trí huệ của Ngài làm sao c̣n có vấn
đề cho được! V́ sao Ngài không dạy dỗ
Thiện Tài đồng tử mà phải bảo Thiện
Tài đồng tử đi tham phỏng? Qua chỗ khác tham phỏng,
chịu đựng nhọc nhằn như vậy để
làm ǵ? Chính ḿnh dạy bảo sẽ hay hơn chứ! Thiện
Tài thật sự có năng lực, sẵn đủ khả
năng tiếp nhận; v́ sao Văn Thù Bồ Tát chẳng dạy
cho Ngài, lại bảo đi tham phỏng? Quư vị có nghi vấn
như thế hay chăng? Quư vị thấy dạy học
theo pháp thế gian và xuất thế gian, đều bảo
chúng ta lúc mới học phải học theo lời dạy
của một vị mà thôi, thâm nhập một môn mà! Thiện
Tài tham dự pháp hội của ngài Văn Thù, tức là [học
theo] lời dạy của một vị, tiếp nhận lời
răn dạy của một vị thầy, đắc
Căn Bản Trí[3]! Nếu
nói như vậy th́ nếu Ngài tự muốn làm Phật
hay làm Tổ, sẽ thật sự có thể làm được.
Thế nhưng, nếu muốn hóa độ hết thảy
chúng sanh, phải theo như kinh này đă dạy, sau khi “nhập Trụ” (chứng các
địa vị trong Thập Trụ), không gian hoạt
động phải là tận hư không, trọn pháp giới,
chứ không phải là chỉ có một nơi này. Bởi lẽ
đó, học rộng nghe nhiều là điều tất yếu;
cho nên bảo quư vị phải đi thăm viếng các
nơi.
Do vậy,
đại sư Thanh Lương giải đáp nghi vấn
này cho chúng ta. Trong lời giải đáp có mười ư
nghĩa:
1. Ư nghĩa thứ nhất: Nêu
ra tổng tướng
(tướng trạng chung):
Nhằm làm gương
cho kẻ hậu học. Quả thật, Văn Thù Bồ
Tát có đủ khả năng dạy Thiện Tài, v́ sao bảo
Ngài đi tham học? Nhằm làm gương, làm mẫu, biểu
diễn cho hàng hậu học xem: Học sinh xin học hỏi
không lười nhác, dũng mănh, tinh tấn, không mệt mỏi,
chán ngán. Biểu diễn một chiêu ấy cho người
đời sau xem! Do vậy, phải t́m thầy hỏi
đạo. Luận về phía người làm thầy th́
đối với đứa học tṛ thật sự
đến cầu học, chắc chắn thầy không tiếc
pháp. Chính ḿnh biết được bao nhiêu, đều thật
sự dốc hết túi ra. Do vậy, [bảo Thiện Tài
đi tham học] chính là làm gương cho kẻ làm học
tṛ, mà cũng là làm gương cho những ai là thiện tri
thức hoặc là kẻ làm thầy. Đấy là ư
nghĩa thứ nhất của chuyện bảo Thiện Tài
đi tham học, dụng ư ở chỗ này!
2. Ư
nghĩa thứ hai là nhằm hiển thị hạnh duyên thù
thắng:
“Hạnh” là tu hành. Thiện
tri thức chân chánh tu học, chân thật phản tỉnh,
mà cũng có nghĩa là các Ngài thật sự thanh tịnh.
Trong thời đức Thế Tôn tại thế, trong
Tăng đoàn có nhóm Lục Quần Tỳ Kheo[4] mặt
dày, phá rối, không nghe lời. Đức Phật bảo họ
hướng về Đông, họ ngả sang Tây; bảo họ
làm lành, họ khư khư làm ác. Suốt ngày từ sáng
đến tối chuyên làm chuyện tréo ngoe, giống
như “tạo phản” trong Tăng đoàn vậy. Thật
ra, những vị này đều là Phật hay Bồ Tát thị
hiện, bọn họ thật sự thanh tịnh; ngay cả
những vị cư sĩ tại gia cũng là biểu diễn,
điều này là sự thật. Phàm phu chúng ta không biết
được đâu!
Ví như
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, ai nấy đều
đọc cả rồi. Vua A Xà Thế giết cha, hại
mẹ, đều là Phật, Bồ Tát diễn tuồng, biểu
diễn cho chúng ta xem, biểu diễn đấy nhé! Làm những
chuyện ác, Ngũ Nghịch, Thập Ác đều làm ráo. Về
sau, nhà vua gặp Kỳ Bà; Kỳ Bà là đại thần trợ
thủ đắc lực của vua. Kỳ Bà tới khuyên
vua: “Từ cổ đến
nay, nghe nói có những quốc vương v́ đoạt ngôi
vua mà giết cha, chứ chẳng nghe nói có vua nào hại mẹ!”
Ông ta nói: “Nếu bệ hạ
hại mẹ th́ bệ hạ là kẻ đại nghịch
bất đạo, chúng thần không theo bệ hạ nữa!”
Do vậy, vua A Xà Thế nghe theo lời ông ta khuyến
cáo; sau đấy, Kỳ Bà dẫn nhà vua đến gặp
Thích Ca Mâu Ni Phật, sám hối, sửa lỗi. Sau này, vua học
Phật, đều là biểu diễn hết! Mỗi một
người đều là chân thật phản tỉnh. Chúng
ta phải hiểu được điều này, chứ họ
không phải là kẻ ác thật sự. Chư Phật, Bồ
Tát ứng hóa trong thế gian này, hạng phàm phu mắt thịt
chúng ta làm sao biết được? Họ lại chẳng
nói cho quư vị biết: “Ta là vị Bồ Tát nào ứng
hóa”. Chẳng thể nào nói với quư vị được!
Kẻ nào nói ra đều là giả, chẳng phải là thật!
Hễ là thật th́ tuyệt đối chẳng nói với
người khác. Trước kia cũng có vị một khi
thân phận bị lộ ra bèn tịch ngay, vị ấy chẳng
thể trụ trong thế gian này nữa! Thân phận bộc
lộ mà vẫn chẳng tịch, vẫn ỷ vào đó chẳng
tịch, chắc chắn là đồ giả, không có đạo
lư ấy đâu nhé!
“Tận tàng độ hóa Diệu
Nghiêm” (Giấu thật kín thân phận để hóa độ
vua Diệu Trang Nghiêm), đây là một câu chuyện trong kinh
Pháp Hoa, tức là một câu chuyện trong phẩm Diệu
Trang Nghiêm Vương Bổn Sự, cũng là chuyện Phật,
Bồ Tát thị hiện. Chớ nên thấy những chuyện
họ làm đều là chuyện ác, họ đều giả
vờ, nhằm biển diễn cho chúng ta xem. Quư vị thấy
người ta làm ác, về sau hồi đầu, hướng
thiện, đấy là dụng ư giáo hóa, hết sức sâu
xa, dạy chúng ta điều ǵ? Chúng ta là phàm phu, chẳng phải
là Phật, Bồ Tát tái lai. Phật, Bồ Tát thị hiện
như vậy, chúng ta làm ác, tuy làm ác vẫn được
cứu. Quư vị thấy họ làm ác, cuối cùng họ học
Phật vẫn được cứu, vậy là ta cũng
được cứu. Chỉ ra một con đường
sáng sủa cho những kẻ làm ác! Trót làm ác, đừng sợ!
Chỉ cần quư vị có thể quay đầu, quay đầu
là bờ!
Đặc
biệt là pháp môn Tịnh Độ, quư vị cả đời
làm ác, đến cuối cùng lâm chung gặp được
bạn lành khuyên dạy quư vị, niệm Phật mười
niệm đều quyết định văng sanh. Quư vị
c̣n ǵ để nói nữa đây? Trước kia, khi tôi mới
học Phật, có người bàn nói trí huệ viên măn, thần
thông rộng lớn của đức Phật, chúng tôi lập
ra một câu hỏi giả thiết: “Nếu kẻ ấy
không điều ác nào chẳng làm, ngay lập tức phải
đọa vào địa ngục A Tỳ, đức Phật
có khả năng làm cho kẻ đó lập tức thành Phật
được hay không? Nếu đức Phật không có
năng lực ấy, [th́ nói] ‘Phật vạn đức vạn
năng’ là giả, là khen ngợi đó thôi, không phải là
thật!” Hiện thời chúng tôi hiểu được
đấy là sự thật, đức Phật thật sự
có năng lực ấy, vấn đề là đối
phương có chịu tiếp nhận hay chăng? Đối
phương không tiếp nhận, dẫu có năng lực,
đức Phật cũng không có cách nào hết. Vấn
đề là quư vị phải chịu tiếp nhận. Hiện
thời, chúng tôi đọc Vô Lượng Thọ Kinh đă
hiểu rơ rồi, suốt đời làm ác đa đoan,
lâm chung được bạn lành khuyên dạy, lập tức
tiếp nhận, do một câu Phật hiệu liền
được văng sanh, mới biết trí huệ, đức
năng của đức Phật đúng là viên măn. Do vậy,
điều này cũng nhằm cảnh cáo chúng ta: Đối
với những kẻ làm ác trong thế gian, chớ nên khinh
mạn họ, chớ nên coi rẻ họ! Cũng có nhiều
người lúc lâm chung gặp được bạn lành liền
về Tây Phương làm Phật, c̣n chúng ta vẫn tiếp
tục luân hồi trong sáu đường, thua xa họ!
V́ thế,
trong kinh điển, Phật, Bồ Tát biểu diễn
chiêu này để cho những kẻ làm ác trông thấy, chứ
không phải là dạy quư vị làm ác, lâm chung mới quay
đầu. Nếu quư vị hiểu như vậy, sẽ
không văng sanh được đâu! Đấy là quư vị
đă hoàn toàn cầu may, lầm mất rồi! Quư vị phải
thấu hiểu ư nghĩa này.
3. Điều
thứ ba là phá chấp trước:
Đối với thầy,
đừng nên chấp trước quá mức, chớ nên ỷ
lại quá mức. Ỷ vào một vị thầy, ỷ lại
quá mức, tức là quư vị đă có phân biệt, có chấp
trước, lại sai mất rồi! Như vậy là dạy
quư vị điều ǵ? Chính ḿnh phải khiêm hư, phải
trống ḷng. Đến các nơi cầu học, ai cũng
đều là bạn lành, ai cũng đều có thể
thành tựu Định Huệ cho quư vị. Phá phân biệt,
phá chấp trước đấy! Đem tấm ḷng cung
kính thầy của quư vị để đối đăi khắp
hết thảy mọi người. Do vậy, dụng ư này
hết sức tốt đẹp.
4. Điều
thứ tư, phá trừ ngạo mạn:
Nếu quư vị ở
giữa hết thảy đại chúng, trong hết thảy
đại chúng có nam, nữ, già, trẻ, có hiền, ngu khác
nhau, có người rất có trí huệ, cũng có kẻ rất
ngu si. Quư vị đừng thấy người ta rất
ngu si. Người rất ngu si cũng có ưu điểm,
cũng có những chỗ quư vị không thể bằng
được. Phá trừ thành kiến ngạo mạn của
quư vị, dùng tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm không thẹn
để hỏi han [kẻ kém cỏi hơn ḿnh], như vậy
th́ mới có thể thực hiện sự “lễ kính chư Phật” của Phổ Hiền
Bồ Tát, chính ḿnh mới thật sự trọn đủ
[sự “lễ kính chư Phật”
của Phổ Hiền Bồ Tát].
5. Ư
nghĩa thứ năm là phá trừ chấp trước
thiên Không:
Do có những người
căn tánh bậc nhất, sau khi nhập Không giới bèn cảm
thấy chẳng có ǵ đáng để mong mỏi nữa,
chẳng cần phải cầu nữa! Ở đây, Bồ
Tát thị hiện, trong sự vô cầu, chúng ta vẫn phải
cầu. Ư nghĩa này rất sâu! Bởi lẽ, quư vị chấp
vào Không, [tức là đă] thiên chấp vào một bên. Chấp
vào Có, cũng là lệch sang một bên. Trong “vô sở cầu” (không có ǵ để mong cầu),
ta vẫn phải đoạn ác tu thiện, vẫn phải
cầu pháp tinh tấn! Hai bên Không và Có đều chẳng
trụ, hiển thị Trung Đạo Đệ Nhất
Nghĩa Đế. Đây chẳng phải là một câu nói
suông, trong sinh hoạt thường ngày, vẫn cứ y
như cũ! Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa
Đế nằm trong sinh hoạt thường ngày, chẳng
hề tách rời cuộc sống!
6. Ư
nghĩa thứ sáu là biểu diễn cho chúng ta thấy hết
thảy mọi chuyện đều là tu hành, tu hành ở ngay
nơi Sự:
Mặc áo, ăn cơm
là tu hành, quư vị làm việc mỗi ngày là tu hành, không có ǵ chẳng
phải là tu hành! Tu cái hạnh nào? Thập Độ, Thập
Nguyện. Mặc áo là Thập Độ, Thập Nguyện,
ăn cơm cũng là Thập Độ,
Thập Nguyện. Quư vị phải thấu hiểu chỗ
này. Do vậy, đại sư nói: “Thà là nghe ít mà vẫn có thể chứng nhập. Chứ
không phải là nghe nhiều mà chẳng hành, chẳng chứng”.
Đấy là nói về tu hành chứng quả. Nói đích
xác, một môn là đủ rồi. Nghe nhiều, nhưng quư
vị chẳng thể hành nhiều được, chẳng
thể chứng nhiều được, vẫn là vô dụng!
7. Ư nghĩa thứ bảy là
phá [thành kiến] thuyết pháp:
Vị thầy thuyết
pháp thường có thành kiến “ta là thầy, ngươi
là học tṛ của ta”. Đối với pháp thế gian,
điều này không sai, nhưng trong tâm quư vị có ư niệm
ấy, tức là quư vị đă có phân biệt, có chấp
trước rồi! Do vậy, bảo người ta đi
sang nơi khác tham học th́ những phân biệt, chấp
trước ấy sẽ không c̣n nữa.
8. Ư nghĩa thứ tám là hiển
thị tấn tu ở ngay nơi địa vị ấy,
biểu diễn cho mọi người xem:
Tu học pháp thế
gian hay xuất thế gian đều có thứ tự, chia
theo từng loại để học, chớ nên học nhảy
lớp, cứ tiến dần dần. Mỗi một vị
thiện tri thức nhất định giới thiệu
cho quư vị một vị thiện tri thức kế tiếp,
nhằm ư nghĩa nhắc quư vị hăy dần dần nâng
cao cảnh giới của chính ḿnh ḥng tiến bộ, đừng
ở lỳ nơi đây. Ở lỳ nơi đây, quư vị
sẽ chẳng thể tiến bộ được
đâu! Do vậy, “luyến
đức lễ từ”, giới thiệu vị thiện
tri thức kế tiếp là có dụng ư như vậy.
9. Ư
nghĩa thứ chín là hiển thị Phật pháp sâu rộng
vô tận:
Quư vị hầu hạ,
cung kính trọn khắp các thiện tri thức, tham học
trọn khắp cũng chẳng có cách nào trọn hết
các duyên được, [điều này] cho thấy Phật
pháp vừa sâu vừa rộng. Thiện hữu chân thật đều
tự ḿnh khiêm hư, khen ngợi người khác vượt
trỗi chính ḿnh. Nếu là phàm phu, khi trí huệ chưa hiện
tiền, làm sao để nhận biết được?
10. Trong điều cuối
cùng, đại sư Thanh Lương giảng:
Cho thấy rơ Thiện Tài và thiện hữu có duyên khế hợp
nhau
Ư nghĩa này giống như điều thường
được các vị cổ đức của Trung Quốc
đề cập, tức là: “Sư tư đạo hợp” (Thầy
tṛ hợp đạo). Thầy giúp đỡ tṛ, tṛ cũng
giúp đỡ thầy, đôi bên giúp đỡ nhau thành tựu.
Thiện Tài có năng lực,
có nguyện vọng đến cầu học, dẫn khởi
thiện tri thức dạy dỗ. Thiện tri thức có
trí huệ, có năng lực chỉ dạy, giúp cho Thiện
Tài đồng tử chứng nhập; do vậy đôi bên ảnh
hưởng lẫn nhau, Năng và Sở[5]
như một. Đấy là điều chúng tôi thường
hay nói: “Giáo học tương
trưởng” (Dạy học làm cho đôi bên cùng
được tăng trưởng). Quư vị muốn
thành tựu trí huệ, quư vị phải có nhiệt tâm dạy
dỗ người khác. Quư vị dạy dỗ người
khác th́ mới thành tựu trí huệ được. B́nh
thường giảng kinh cũng giống như thế,
qua một buổi giảng, trong một tiếng rưỡi
ấy, nếu không có ai hỏi, giảng xong coi như hết
chuyện, tưởng chừng rất viên măn. Nếu có ai
nêu ra mấy câu hỏi, [người giảng mới nhận
biết] quả thật là [lời giảng của chính
ḿnh] vẫn chưa được viên măn. Trong ấy, vẫn
c̣n có thắc mắc, không nhận biết được! [Thính
chúng] hỏi câu ấy, [những vấn đề ấy] mới
lộ ra; khi không hỏi th́ không nghĩ tới. Khi
được hỏi, lập tức nghĩ tới; rồi
tới khi phân tích, trí huệ liền hiện tiền. Đấy
là giúp đỡ lẫn nhau thành tựu vậy!
Do vậy, sau khi quư vị
đă hiểu rơ, [sẽ biết] Thiện Tài và thiện hữu
là một chứ không phải là hai, đúng như trong kinh
Hoa Nghiêm đă nói: “Một tức
hết thảy, hết thảy chính là một”. Thiện
Tài lưu ư, chiếu theo thứ tự thuận này, đạt
rốt ráo viên măn bốn mươi mốt địa vị.
Không có Thiện Tài th́ cũng không có thiện hữu. Không có
thiện hữu, cũng chẳng có Thiện Tài! Nói cách khác,
không có tṛ, làm sao có thầy? Không có thầy, cũng chẳng
có tṛ! Quan hệ thầy tṛ nhất định phải là
xin học và dạy học hỗ tương mới thành lập
được; tách rời một phía th́ đôi bên đều
không có! Do vậy, mười ư nghĩa trên đây không
điều nào chẳng nhằm giảng rơ quan hệ thầy
tṛ, giảng rơ mô h́nh dạy học. Chúng ta phải hiểu
ư nghĩa sâu xa này. V́ sao Văn Thù Bồ Tát chẳng dạy?
Có ư nghĩa như vậy đó!
Cùng một đạo
lư ấy, chúng tôi giảng kinh suốt ba mươi bảy,
ba mươi tám năm; trong quá khứ, khi lăo cư sĩ
Hoàng Niệm Tổ c̣n sống, chúng tôi gặp gỡ mấy
lần, cũng thường gởi thư cho nhau. Lăo nhân
gia khuyên tôi, cụ nói: “Ông biết giảng kinh, giảng nhiều
năm như vậy, không cần phải giảng nữa,
cũng không cần phải bôn ba khắp nơi. Ông hăy nên
buông xuống hết thảy để chuyên tâm bồi
dưỡng nhân tài”. Cụ nói: “Phật pháp không có người
kế tục, vấn đề này nghiêm trọng lắm!”
Vấn đề ấy tôi nghĩ người nào cũng
đều biết, xuất gia hay tại gia cư sĩ
đều hiểu Phật pháp không có người kế thừa
th́ làm sao được! Do vậy, cụ dạy tôi, cụ
nói: “Trong tuổi già, ông có hai chuyện [phải lo], một
là bồi dưỡng nhân tài, mặt khác là viết sách”. Tôi
thưa với cụ, tôi nói: “Tôi hiểu chứ, tôi biết
chứ, nhưng duyên chưa chín muồi!” Tôi phát tâm dạy,
ai học với tôi? Tôi trọn chẳng thể t́m
được người để nói như thế này:
“Anh đến học với tôi!” có đạo lư ấy hay
chăng? “Cầu học” là đến để xin học,
tôi đến đâu để t́m ra được người
như vậy? Chiêu sinh ư? Hiện thời có người
chiêu sinh; quư vị xem trong kinh điển, có thấy Thích Ca
Mâu Ni Phật, chư Phật, Bồ Tát, có vị nào chiêu
sinh hay chăng? Không có vị nào chiêu sinh cả! V́ sao các Ngài
không chiêu sinh? Luôn tự cảm thấy chính ḿnh chưa
đúng, làm sao dám chiêu sinh? Vậy th́ khi chiêu sinh, tôi có mặt
mũi nào nh́n người ta? Người ta t́m đến học,
họ t́m đến th́ không có cách nào hết, tôi chỉ
đành dạy họ! Do vậy, chiêu sinh tức là cảm
thấy cống cao ngă mạn, tự cho ta là đúng!
Quư vị
thấy năm mươi ba vị thiện tri thức này
đều là do người khác giới thiệu [học
sinh] đến học, không có vị nào tự t́m [học
tṛ]! Đức Phật cũng không chiêu sinh; quư vị đọc
Đại Tạng Kinh, đức Phật chiêu sinh vào lúc
nào? Không chỉ là trong nhà Phật không chiêu sinh, mà những vị
thầy Trung Quốc thời cổ cũng chẳng hề
chiêu sinh. Chiêu sinh là học từ đâu? Học từ ngoại
quốc! Trong văn hóa Trung Quốc, không có chiêu sinh. Quư vị
chiêu sinh, phát thiếp quảng cáo ra, người ấy to
gan, người ấy có nhiều môn đại học vấn,
nhiều đức hạnh lớn lao hay chăng? Ngay cả
Thích Ca Mâu Ni Phật, Khổng lăo phu tử, cũng đều
chẳng dám chiêu sinh, quư vị cả gan chiêu sinh th́ có nên hay
chăng? V́ tôi hiểu đạo lư này, tôi cũng hy vọng
làm như vậy [tức là làm như cụ Hoàng đă đề
nghị], nhưng duyên chưa chín muồi, không có ai đến
học. Khi tôi đi khắp nơi là đến khắp mọi
chỗ nhằm kết pháp duyên với người ta. Bởi
lẽ, hết thảy các duyên của tôi chưa chín muồi,
nếu ở một chỗ th́ ở chỗ nào đây? Duyên
chưa chín muồi, cho nên đi khắp nơi kết pháp
duyên. Đợi đến khi nhân duyên chín muồi, tôi nói:
“Tôi nhất định làm được!”
Không ngờ
vào đầu năm ngoái, nhóm ông Lư Mộc Nguyên ở Tân Gia
Ba tổ chức một khóa học bồi dưỡng huấn
luyện, mời tôi sang dạy. Mời tôi sang dạy, chuyện
ấy th́ được, không phải do tôi chiêu sinh. Ông ta
đi t́m học sinh, mời tôi đến dạy, như vậy
th́ được. Sau khi ổn định, hiện thời
có không ít đồng tu giúp đỡ tôi, đem những
băng ghi âm, băng ghi h́nh những điều tôi đă giảng
trong quá khứ, chỉnh lư thành văn tự; nhưng sau khi
chỉnh lư xong, tôi nhất định phải coi lại một
lượt, có nhiều chỗ không thỏa đáng, phải
sửa chữa, phải thêm bớt. Coi như vậy xong
th́ những bài ấy mới được xuất bản,
mới có thể lưu thông. Hiện thời, những thứ
đăng tải trên Internet, phần lớn tôi đă xem
qua; những ǵ tôi không đọc qua, không thể
đăng lên Internet, không thể xuất bản được!
V́ thế,
vào lúc tuổi già, tôi chuyên môn làm công tác này, nhưng công tác ấy
cũng chính là nguyện vọng của Quán Trưởng. Hai
điều đầu trong nguyện vọng của Quán
Trưởng chính là do ư nghĩa này. Bà ta mong tôi giảng kinh
Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm cần phải được giảng.
Trước khi bà ta khải thỉnh, pháp sư Khai Tâm ở
Đài
Do vậy,
từ lần này trở đi, tôi dùng phương pháp sau
đây: Coi mỗi chương như một đơn vị.
Sau này, tại hải ngoại hoặc trong nước,
địa phương nào thỉnh tôi giảng kinh, tôi bèn
giảng mấy đơn vị; sau đấy mới tổng
hợp lại th́ sẽ thành một bộ kinh Hoa Nghiêm hoàn
chỉnh. Chỉ có dùng phương pháp này th́ mới giảng
xong được. Nếu không, theo cách giảng của tôi
trong hiện thời để giảng bộ kinh này, mỗi
ngày giảng một tiếng rưỡi, mỗi ngày đều
giảng không gián đoạn, cũng có thể tạm nghỉ,
mỗi một tuần nghỉ một ngày, [mỗi tuần]
giảng sáu lần, phải mất bao lâu mới giảng
xong? Tôi phỏng tính tối thiểu là bảy năm. Giảng
mỗi ngày, mỗi tuần giảng sáu ngày, không bỏ dở
giữa chừng, phải giảng bảy năm mới có
thể hoàn thành. Kinh thật sự lớn quá! Trong quá khứ,
đại sư Thanh Lương giảng bộ kinh này, Ngài
cũng giảng mỗi năm một lượt, mỗi
ngày Ngài giảng tám tiếng; do vậy, có thể hoàn thành
trong một năm. Hiện thời, chúng tôi giảng mỗi
ngày một tiếng rưỡi, nếu sáu ngày muốn nghỉ
một ngày th́ tối thiểu là phải bảy năm mới
có thể hoàn thành. V́ thế, đây là chuyện rất khó
có, cũng rất hiếm có, tôi mong sẽ hoàn thành công tác
này. Trên đây là phần giới thiệu, chúng tôi nói đến
đây thôi. Nay chúng ta xem kinh văn. Trang thứ hai, ḍng thứ
tư:
(Sớ) Kim
thử Cát Tường Vân tỳ-kheo kư Phát Tâm Trụ, vị
duyên Phật thập lực, nhi phát chí cầu, khởi
đại bi tâm, hạ hóa hàm thức, Bi Trí tương
đạo, Chủng Trí tương ứng, danh Phát Tâm Trụ.
Văn cụ lục đoạn.
(疏)此 吉 祥 雲 比 丘 寄 發 心 住。謂
緣 佛 十 力,而 發 志 求。起 大 悲 心,下 化 含 識。悲 智 相 導,種 智相 應,名 發 心 住。文 具 六 段。
(Sớ:
Nay tỳ-kheo Cát Tường Vân gởi thân nơi địa
vị Phát Tâm Trụ, nghĩa là duyên theo mười lực
của Phật để phát khởi chí hướng mong cầu,
khởi tâm đại bi, dưới là hóa độ hàm thức,
Bi và Trí hướng dẫn lẫn nhau, tương ứng
với Chủng Trí th́ gọi là Phát Tâm Trụ. Kinh văn có
đủ cả sáu đoạn).
Sáu đoạn
này đă được nói trong phần trước.
Trước hết, phải giới thiệu tỳ-kheo Cát
Tường Vân, chúng tôi giới thiệu
vị này. “Cát Tường” theo lời chú giải của
ngài Thanh Lương th́ phải có đầy đủ bốn
đức mới được gọi là Cát Tường.
Đức thứ nhất là có Định, đức thứ
hai là có Phước, đức thứ ba là có ḷng Bi, đức
thứ tư là có Trí. Chính là như ở chỗ này nói Ngài
có Định, Phước, Bi, Trí, có đầy đủ
bốn đức, đương nhiên là Cát Tường (tốt
lành). Sau chữ Cát Tường dùng chữ Vân. Trong kinh Phật
sử dụng chữ Vân hết sức nhiều. Như
trong kinh Địa Tạng nói “đại
viên măn quang minh vân” (vầng mây quang minh lớn viên măn),
mười hai thứ quang minh đều dùng chữ Vân
để tỷ dụ. Trong kinh này, đại sư Thanh
Lương nói chữ Vân có bốn ư nghĩa: Ư nghĩa thứ
nhất là “phổ biến”, ư nghĩa thứ hai là “nhuận
trạch”, ư nghĩa thứ ba là “phước
âm” (tiếng ân phước), ư nghĩa thứ tư là “chứa
đựng mưa”, tức là trong mây có chứa lượng
mưa, có thể tuôn mưa. Bốn cách nói này đều là
dựa theo Tướng để nói.
Trong quá khứ,
chúng tôi đă giảng không ít lần, trong kinh điển
Đại Thừa, phải từ ư nghĩa biểu thị
pháp để nói: Mây biểu thị có Tướng,
nhưng không có Thể. Điều này con người chúng
ta hiện thời đều hiểu rất rơ ràng. Hiện
thời, quư vị đáp phi cơ, bay lên tầng mây, chẳng
có một chút chướng ngại nào. Nh́n từ dưới
lên, mây đóng thành tầng rất dầy, nhưng bay tới
đó rồi, trọn chẳng có chướng ngại ǵ hết!
Thể (bản thể) là không tịch, tượng
trưng cho có Tướng, có tác dụng (Dụng), nhưng
Thể không có. Mây biểu thị ư nghĩa này! Như vậy
th́ Cát Tường Vân được nói ở đây
cũng nhằm biểu thị ư nghĩa này. Định, Phước,
Bi, Trí cũng là “Tướng
có, Thể không”, cho nên dùng Mây để tỷ dụ.
Vậy
th́ rơ ràng vị này là Pháp Thân đại sĩ, Ngài đă
vượt trỗi mười pháp giới, đă chứng
được Nhất Chân pháp giới, phá một phẩm
vô minh, chứng một phần Pháp Thân. V́ sao vẫn gọi
Ngài là tỳ-kheo? Tỳ-kheo là người xuất gia; ở
đây, dùng chữ “tỳ-kheo”
nhằm cho biết Ngài là người xuất gia. Ngài ra khỏi
cái nhà nào? Nhà mười pháp giới. V́ thế, thông thường
chúng ta nói đến “nhà”, người ta thường bảo:
Anh rời khỏi cái nhà “cha mẹ, vợ con, ruộng
nương, nhà cửa”. Không đúng! Đấy là h́nh thức,
không kể tới! Có người nói: “Lục đạo là
nhà”. Quư vị rời ĺa lục đạo mới tính là xuất
gia, đấy là xuất gia trong Tiểu Thừa. Xuất
gia trong Đại Thừa là “thoát khỏi mười pháp
giới”. Như vậy, [xuất gia] ở đây là thoát khỏi
mười pháp giới; vừa mới ra khỏi mười
pháp giới, tuy là Pháp Thân đại sĩ, vẫn gọi Ngài
là “tỳ-kheo”. Dùng [chữ “tỳ-kheo”]
theo ư nghĩa này, chứ không phải Ngài thật sự là tỳ-kheo.
“Kư phát tâm trụ”: Phát Tâm Trụ
là Sơ Trụ, tức Sơ Trụ Bồ Tát. “Phát” là phát tâm, tức phát Bồ
Đề tâm. Do đây có thể biết: Thật sự
phát Bồ Đề tâm, hễ phát được Bồ
Đề tâm, sẽ thuộc về địa vị này.
Chúng ta hằng ngày thường nói: “Phát Bồ Đề tâm! Phát Bồ Đề tâm”.
Đấy là hô khẩu hiệu, vô ích! Một khi thật sự
phát Bồ Đề tâm, quư vị liền thoát khỏi tam
giới. Trong kinh Vô Lượng Thọ, phát Bồ Đề
tâm cũng rất quan trọng. Quư vị thấy “Tam Bối Văng Sanh”, trong mỗi
một Bối (bậc), đức Phật đều dạy
chúng ta: “Phát Bồ Đề
tâm, một mực chuyên niệm”. Nếu quư vị không
phát Bồ Đề tâm, sẽ không thể thoát lục
đạo được, không thể thoát tam giới
được! Do vậy, nhất định phải “phát Bồ Đề tâm, một
mực chuyên niệm” nhằm văng sanh Tịnh Độ.
Bởi lẽ, thế giới Tây Phương cũng là Nhất
Chân pháp giới, cho nên không phát Bồ Đề tâm, sẽ
không thể đến được. Do đây hiểu
được sự trọng yếu của phát Bồ
Đề tâm. Trong bốn mươi tám nguyện, nguyện
thứ mười tám là “mười
niệm ắt được văng sanh”, nguyện thứ
mười chín là “phát Bồ
Đề tâm”. Do vậy, hai nguyện này hết sức
trọng yếu!
Nếu
bàn về khuôn mẫu để phát Bồ Đề tâm,
Đại Thừa Khởi Tín Luận chính là khuôn mẫu
cho kẻ mới phát tâm. V́ thế gọi là Đại Thừa
Khởi Tín. “Khởi” có phải
là vừa mới bắt đầu hay không? Những lư luận,
phương pháp được giảng trong Đại Thừa
Khởi Tín Luận nếu quư vị đều làm
được hết th́ quư vị là bậc Phát Tâm Trụ
Bồ Tát. Lại thưa cùng quư vị, những lư luận,
phương pháp được giảng trong kinh Kim Cang nếu
quư vị đều làm được hết th́ cũng là
bậc Phát Tâm Trụ Bồ Tát. Trong hết thảy mọi
người, hết thảy sự, hết thảy vật,
quư vị sẽ thật sự thực hiện “chẳng chấp lấy tướng,
như như bất động”. “Chẳng chấp lấy
tướng” là bên ngoài đều buông xuống hết,
chẳng chấp trước mảy may nào. Trong tâm tự tại,
“như như bất động”,
biết hết thảy các pháp là mộng, huyễn, bọt,
bóng, như sương, cũng giống như ánh chớp.
Đấy chính là quư vị đă hiểu rơ, thấu suốt
chân tướng của hết thảy các pháp. Địa vị
nào vậy? Phát Tâm Trụ Bồ Tát đấy!
C̣n có những
vị đồng tu ưa thích kinh Lăng Nghiêm, c̣n có
người yêu cầu tôi giảng kinh Lăng Nghiêm. Hiện
tại, tôi không giảng Lăng Nghiêm, chứ trong quá khứ
tôi đă giảng nhiều lần. Hai mươi lăm
chương Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm chính là sự biểu
diễn của hai mươi lăm vị Bồ Tát, các Ngài
đều là Phát Tâm Trụ. V́ thế trong kinh Lăng Nghiêm,
Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là Phát Tâm Trụ, tức Sơ
Trụ Bồ Tát; Đại Thế Chí Bồ Tát cũng là
Sơ Trụ Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát có ba bộ
kinh: Trong kinh Hoa Nghiêm, Ngài là Đệ Thất Hồi Hướng
Bồ Tát; trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa, Ngài là Đẳng
Giác Bồ Tát; trong hội Lăng Nghiêm, Ngài là Sơ Trụ
Bồ Tát. Như vậy là địa vị của Quán Thế
Âm Bồ Tát [trong mỗi kinh] khác nhau, công phu tu hành có cạn
hay sâu khác nhau. Đấy chính là điều chúng ta phải
biết. Do vậy, Ngài là bậc “gởi
thân nơi Phát Tâm Trụ”.
Tiếp
đó là lời giải thích, thế nào là Phát Tâm Trụ? “Duyên Phật thập lực”:
Ở đây, chúng tôi lược bớt, không cần giảng
cặn kẽ về mười loại lực của
đức Phật. Khi giảng cặn kẽ, sẽ phải
tốn thời gian rất lâu. Trong quá khứ, tôi đă giảng
[Thập Lực] rất nhiều lần. Nếu chưa hiểu
rơ, hăy tra trong Phật Học Từ Điển và sách Giáo Thừa
Pháp Số đều có. Nơi quả địa Như Lai,
có mười thứ năng lực thù thắng, Bồ Tát
đều chẳng bằng được; Nhị Thừa,
phàm phu hoàn toàn không có. Bồ Tát cũng có mười lực,
danh xưng giống như mười lực của
Như Lai, nhưng cảnh giới, công phu chẳng sánh bằng
Phật. V́ vậy, nói: “Duyên Phật
thập lực, nhi phát chí cầu”. Đây chính là phát nguyện
mong làm Phật, giống như bên Thiền Tông, Lục Tổ
đại sư đă kể trong Đàn Kinh. Ngài đến
núi Hoàng Mai tham lễ Ngũ Tổ, Ngũ Tổ hỏi Ngài:
“Ông đến làm ǵ?” Ngài thưa: “Con đến làm Phật”. Ngài muốn đến
làm Phật, chí hướng ấy rất lớn! Quư vị
thấy mọi người đến đây, quư vị hỏi:
“Các vị đến đây làm ǵ?” “Tôi đến để
tiêu tai, tôi đến làm một chút công đức”. Họ
đến làm những chuyện đó. Chúng tôi chưa hề
nghe nói có một ai muốn đến làm Phật cả!
Chưa từng nghe nói tới! Quư vị đều không có ư
niệm ấy, làm sao quư vị có thể làm Phật cho được?
Chí hướng quan trọng lắm! Bởi vậy, Lục
Tổ mới có thể thành tựu, mở miệng ra
đă khác hẳn kẻ khác, Ngài muốn làm Phật! “Nhi phát chí cầu” (Bèn phát khởi
chí hướng mong cầu), phát ra cái tâm ấy, Ngài thật
sự có cái tâm ấy, thật sự có sự hành tŕ ấy.
“Khởi đại bi tâm, hạ
hóa hàm thức”: Ngài thật sự có thể thượng
cầu, hạ hóa. Quư vị thấy trong thời ấy, tuy
Lục Tổ c̣n chưa xuống tóc, vẫn c̣n mang thân phận
cư sĩ, tuổi lại c̣n rất trẻ. Khi Ngũ Tổ
truyền y bát cho Ngài, Ngài chỉ mới hai mươi bốn
tuổi. Người ta cầu đạo với Ngài, Ngài
đều giảng rơ tường tận cho người
ta, không bỏn xẻn một chút pháp nào! V́ thế, chúng ta quan
sát cặn kẽ sự hành tŕ, phát tâm của Ngài sẽ thấy
những điều ấy đều phù hợp với những
điều được giảng trong kinh.
“Bi Trí tương đạo”
(Bi và Trí hướng dẫn lẫn nhau), Bi khơi gợi
trí huệ, trí huệ mở rộng tâm đại bi. “Chủng Trí tương ứng”:
Chủng Trí là Nhất Thiết Chủng Trí, là trí huệ
nơi quả địa Như Lai, là trí huệ
tương ứng với Bát Nhă sẵn có trong tự tánh.
Trí huệ ấy thường hiện tiền, giống
như Lục Tổ đă nói. Ngài thưa với Ngũ Tổ:
“Trong tâm đệ tử
thường sanh trí huệ”. Thường sanh trí huệ
như vậy chính là “Bi Trí
tương đạo, Chủng Trí tương ứng”.
Địa vị ấy chính là Phát Tâm Trụ, là h́nh trạng
của Sơ Phát Tâm, tướng ấy tốt lành. Quư vị
phải hiểu: Trong tâm thường sanh trí huệ, tức
là chẳng sanh phiền năo. Cái tâm này của chúng ta suốt
ngày từ sáng đến tối khởi tâm động niệm
toàn là ǵ? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
không có trí huệ! Nếu quư vị suốt ngày từ sáng
đến tối vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước thảy đều không có, tâm quư vị sẽ thường
sanh trí huệ, sẽ có tương ứng.
Nếu chúng
ta hiểu được đạo lư này th́ chân tướng
sự thật cũng dần dần hiểu được
mấy phần. Vấn đề là chúng ta có thật sự
muốn làm hay không? V́ sao chẳng làm được? Quư vị
quá coi trọng thế duyên (duyên trong cơi đời), quư vị
không biết hết thảy các pháp thế gian hay xuất thế
gian đều là mộng, huyễn, bọt, bóng, quư vị
không biết! Nếu quư vị hiểu được rằng:
Nói “hết thảy các pháp đều
là mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương,
cũng giống như tia chớp” là nói thời gian tồn
tại ngắn ngủi, tạm thời. Nếu quư vị
thấy thấu suốt được chân tướng sự
thật ấy, lẽ nào chẳng bỏ được? Tự
nhiên sẽ buông xuống, buông xuống những ǵ? Buông xuống
hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước; sau đấy, quư vị sẽ sanh trí huệ,
quư vị vượt thoát lục đạo, vượt
thoát mười pháp giới. Sau khi đă vượt thoát,
không gian hoạt động của quư vị sẽ là tận
hư không, trọn pháp giới. Phải tích cực học!
Quư vị buông xuống một phần, được tự
tại một phần; buông xuống hai phần, được
tự tại hai phần. Quư vị không chịu buông xuống,
đấy gọi là nghiệp chướng. Nếu nói khó
nghe hơn, th́ sự thật đều là tội nghiệp.
Tội nghiệp đấy!
Quư vị
có tiền, có tiền nhưng không buông xuống được,
hễ buông xuống không được, sẽ là tội
nghiệp. Tôi có tiền cất trong ngân hàng, không buông xuống,
tôi tạo tội ǵ? Bao nhiêu người khốn khổ trong
thế gian thiếu hụt tiền bạc, quư vị không bố
thí, quư vị chẳng tạo tội nghiệp th́ ai tạo
tội nghiệp đây? Vậy là quư vị tạo tội
nghiệp. Người ta thường không hiểu
được điều này, cứ cho là không có tội lỗi.
Trong tương lai, sau khi chết, đến chỗ vua
Diêm La tra xét, mỗi một điều bày ra cho quư vị thấy;
lúc ấy, quư vị có hối hận đă không kịp nữa
rồi! V́ thế, điều ǵ cũng phải xả, có xả
th́ mới có thể đạt được. Quư vị
xem đó, Cát Tường Vân biết xả, nên Ngài đạt
được ǵ? Ngài đắc Phát Tâm Trụ, Ngài đạt
được điều này. Ngài đă đạt
được, Ngài vượt khỏi mười pháp giới,
Ngài đạt được điều ấy. Do vậy,
sau khi xả, nhất định có đạt được.
Bỏ nhiều, được nhiều, chẳng thể
nghĩ bàn! Đức Phật xả sạch sành sanh; v́ thế,
Ngài đạt được viên măn! Đẳng Giác Bồ
Tát vẫn c̣n một phẩm Sanh Tướng Vô Minh[6]
chưa thể bỏ được, nên Ngài vẫn chưa
đạt được viên măn như Phật. Nếu bỏ
được một phẩm Sanh Tướng Vô Minh ấy,
Ngài sẽ viên măn, Ngài sẽ đạt được viên
măn. Do vậy, phải nhớ kỹ “xả đắc”.
Gần
như là sau khi tôi thấy được điều ấy,
tôi cho khắc cái ấn chương (huy hiệu) này. Tôi khắc
ở Tân Gia Ba, khắc chữ “xả
đắc” rồi phóng to lên; bọn họ đem in,
đặt ở ngoài [giảng đường] để
tặng [cho mọi người]. Quư vị cầm về
nhà xem, thường xuyên xem tới, phải xả! Hễ xả,
sẽ đạt được. Nếu quư vị không xả
th́ hỏng bét! Không xả th́ lục đạo luân hồi
không ra được đâu, có tội th́ phải chịu
mà! V́ thế, phải xả, đem những thứ ấy
bỏ hết đi, nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật,
quư vị sẽ đạt được Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Quư vị muốn ở
nơi này để làm ǵ? Nói thật ra, cho tôi trọn cả
thế giới, tôi cũng không ham! Mời tôi lên cơi trời
Đại Phạm làm thiên vương, tôi cũng chẳng
làm. Tôi biết nơi đó là chỗ lừa gạt, là hầm
bẫy; quyết định muốn tới thế giới
Cực Lạc, tới thế giới Cực Lạc để
thành tựu. So với năm mươi ba lần tham học,
càng thù thắng hơn, không có cách ǵ so sánh được! [Ngài
Thanh Lương] giới thiệu về Phát Tâm Trụ
[như vậy]. “Văn cụ
lục đoạn” (Kinh văn có đầy đủ
sáu đoạn): Trong phần kinh văn tiếp theo của
chương này, có đủ cả sáu đoạn lớn
như phần trên đă nói. Mỗi một chương
đều theo cách chia đoạn này. Hôm nay thời gian
đă hết rồi, chúng tôi giảng tới đây.
Tập thứ hai (
Xin mở
quyển kinh, trang thứ hai, ḍng thứ sáu. Xin đọc
kinh văn:
(Kinh) Nhĩ thời Thiện
Tài đồng tử tiệm thứ Nam hành, văng Thắng Lạc
quốc, đăng Diệu Phong sơn. Ư kỳ sơn
thượng, Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy, thượng,
hạ, châu biến cầu mịch, kinh vu thất nhật,
cánh bất năng kiến. Do vị cần cầu thiện
tri thức cố, quyên xả thân mạng, vô cơ khát
tưởng, chánh niệm quán sát, tâm an vô thoái.
(經)爾 時 善 財 童 子 漸 次 南 行,往
勝 樂 國,登 妙 峰 山。於 其 山 上,東 西 南 北,四 維 上 下,周 遍 求覓。經 于 七 日,竟 不 能 見。由 為 勤 求 善 知 識 故,捐 捨 身 命,無 飢 渴 想,正 念 觀 察,心 安 無 退。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Thiện Tài đồng tử theo thứ
tự đi dần về phương Nam, tới nước
Thắng Lạc, lên núi Diệu Phong. Ở trên núi, t́m ṭi trọn
khắp Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng,
trên, dưới trải qua bảy ngày, vẫn chẳng thể
thấy [tỳ-kheo Cát Tường Vân]. Do v́ siêng cầu thiện
tri thức, ĺa bỏ thân mạng, nên không có ư tưởng
đói khát, chánh niệm quán sát, tâm yên ổn, không lui sụt).
Đây
là một tiểu đoạn. “Nhĩ
thời” chỉ cho lúc Thiện Tài đồng tử mới
đến đạo tràng của tỳ-kheo Cát Tường
Vân. Trong lời chú giải, đại sư Thanh
Lương dạy chúng ta đoạn thứ nhất là:
(Sớ) Y giáo thú cầu.
(疏)依 教 趣 求。
(Sớ: Vâng theo lời
dạy, đi tới nơi ấy, t́m cầu)
Thông
thường trong t́nh huống này, kinh văn thường
có đoạn ghi Thiện Tài đồng tử nghĩ
đến lời chỉ dạy, dạy
bảo của vị thiện tri thức trước,
rồi mới đến đoạn này[7].
(Sớ)
Thú cầu hậu hữu.
(疏)趣 求 後
友。
(Sớ:
Đến nơi đó, t́m cầu vị thiện hữu kế
tiếp).
Ở chỗ
này, kinh văn thiếu một tiểu đoạn, chỉ
có “thú cầu hậu hữu”,
không có [đoạn sau đây]:
(Sớ)
Niệm tiền hữu giáo.
(疏)念 前 友 教。
(Sớ:
Nghĩ đến lời dạy của vị thiện hữu
trước)
Không có phần
văn tự này. Ư đại sư cho rằng:
(Sớ) Kim
lược vô sơ nghĩa, hoặc tiền vị nhập
vị, cố bất thuyết nhĩ.
(疏)今 略 無 初 義。或 前 未 入 位,故 不 說 耳。
(Sớ:
Nay lược đi v́ không có nghĩa trước, hoặc
vị thiện tri thức trong phần trước chưa
chứng nhập địa vị nên không nói tới)
Cách giải
thích này cũng rất có lư. Giống như đi học,
người ấy chẳng hề có học vị. Giống
như hiện thời chúng ta đi học, ở Trung Học
không có học vị, đến Đại Học mới
có học vị. Trong pháp hội của Văn Thù Bồ
Tát, trong hội Thập Tín không có học vị. Đến
Trụ địa (những địa vị thuộc Thập
Trụ) mới có địa vị, mới có học vị.
V́ thế, không nói tới [pháp của vị thiện tri thức
trong phần trước]. Từ đây trở đi, nói
chung, kinh văn đều có ư nghĩa này. Thế nhưng
chúng ta thấy kinh văn đều luôn nói “Thiện Tài đồng tử tiệm thứ
(Sớ) Tổng
hiển Gia Hạnh.
(疏)總 顯 加 行。
(Sớ:
Đều nhằm chỉ rơ Gia Hạnh)
Phương
“Đăng Diệu Phong sơn”
(Lên núi Diệu Phong): Núi này cũng nhằm biểu thị
pháp, chứ không nhất định là thật sự có quả
núi ấy. Núi có hai ư nghĩa:
1. Ư
nghĩa thứ nhất, biểu hiện tịch tĩnh, bất
động, ngụ ư: Người tu học khế nhập
cảnh giới này, sáu căn tiếp xúc sáu trần bên ngoài
có thể “như như bất động”. Tâm vị ấy
định như núi, giống như một quả núi,
dùng ư nghĩa này.
2. Ư
nghĩa thứ hai là núi cao. Ở trên đỉnh núi là lên
cao, nh́n ra xa, chỗ rất xa quư vị đều thấy
được. Điều này biểu thị chứng
đắc địa vị Sơ Trụ, trí huệ mở
mang. Phần trên có nói “mở
mang trí huệ trong tự tánh”. Do vậy, đối với
vạn sự, vạn vật, nhất định là người
ấy (tức người chứng địa vị
Sơ Trụ) quan sát thù thắng hơn Thập Tín Bồ
Tát rất nhiều. Do vậy, dùng núi để tỷ dụ,
đều là tỷ dụ công đức Định - Huệ
của Sơ Trụ Bồ Tát vượt trỗi hàng Thập
Tín Bồ Tát. Thập Tín không có địa vị, nguyên nhân
là trong Tín vị (các địa vị thuộc Thập Tín)
thường có thoái chuyển, tiến tiến, lùi lùi. Nhập
Sơ Trụ sẽ không lùi nữa.
Trong Tịnh
Tông chúng ta có nói ba thứ Bất Thoái (Tam Bất Thoái). Nói thật
ra, các vị Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đều
chứng đắc ba thứ Bất Thoái này, chứ không chỉ
là Vị Bất Thoái! Trong phần trước, chúng tôi
đă giải thích rồi, Vị Bất Thoái là tỷ dụ.
Chứ trên thực tế, các vị ấy là Hạnh Bất
Thoái và Niệm Bất Thoái. “Niệm”
là niệm niệm lưu nhập biển Tát Bà Nhă. Tuy chứng
đắc ba thứ Bất Thoái, nhưng chưa hoàn toàn
viên măn. Quư vị nhất định phải hiểu ư nghĩa
này. Trong bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân
đại sĩ, ai chứng đắc viên măn ba thứ Bất
Thoái? Theo cách nói thông thường, sẽ là Pháp Vân Địa
Bồ Tát, tức Thập Địa, tức Bồ Tát thuộc
về địa vị thứ mười trong Thập
Địa, tu trọn ba đại A Tăng Kỳ kiếp,
mới gọi là Viên. Từ Cửu Địa đến
Thập Địa c̣n chưa Viên, hăy c̣n thiếu một phần.
Do vậy, viên chứng Tam Bất Thoái là Tịnh Độ.
Văng sanh Tịnh Độ, dẫu cho là Hạ Hạ phẩm
văng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, hễ sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới, đều
là viên chứng ba thứ Bất Thoái. V́ thế, quư vị mới
biết bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân
đại sĩ trong kinh Hoa Nghiêm chẳng thể bằng
người văng sanh Tịnh Độ. Nhất định
phải biết điều này, mới thấy rơ Tịnh
Độ thù thắng khôn sánh. Nếu hiểu rơ đạo
lư này, hiểu rơ chân tướng sự thật này, nói thật
ra, điều ǵ quư vị cũng buông xuống được,
suốt ngày từ sáng đến tối một câu A Di
Đà Phật là đủ rồi, đâu cần phải
lăng xăng nơi bộ kinh Hoa Nghiêm lớn như thế
này nữa! Tịnh Độ thật sự thù thắng
khôn sánh. Quư vị không đọc Hoa Nghiêm, không biết Niệm
Phật thù thắng; đọc Hoa Nghiêm xong mới biết
Niệm Phật là thù thắng.
Như vậy là Thiện
Tài đến núi này, đến núi Diệu Phong, đến
nơi ấy để t́m thiện hữu, tức là đi
t́m tỳ-kheo Cát Tường Vân. Ngài t́m suốt bảy ngày,
t́m không ra. Tuy bảy ngày không gặp được, Ngài trọn
chẳng ngă ḷng. “Vị cần
cầu thiện tri thức cố, quyên xả thân mạng,
vô cơ khát tưởng” (Do v́ siêng cầu thiện tri thức,
ĺa bỏ thân mạng, nên không có ư tưởng đói khát).
Ba câu này dạy chúng ta thái độ cầu học, phải
nên có thái độ đến cầu học như vậy.
“Chánh niệm quán sát, tâm an vô thoái”
(Chánh niệm quán sát, tâm yên ổn, không lui sụt). Chúng ta
xem lời giải thích của đại sư Thanh
Lương từ trang thứ ba trở đi. Mọi
người hăy giở qua, từ trang thứ ba, ta đọc
thấy:
(Sớ) Kiến tâm trắc vị,
cố viết đăng sơn.
(疏)見 心 陟 位,故
曰 登 山。
(Sớ: Thấy tâm,
đạt đến địa vị, nên gọi là “lên
núi”).
Ư nghĩa biểu thị
thật sự của “đăng
sơn” không phải là bảo quư vị trèo lên núi. “Kiến tâm” là minh tâm kiến
tánh như trong nhà Thiền hay nói. Thiền Tông nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật”; kiến tánh là thành Phật rồi. Ở
chỗ này, chính là Sơ Trụ Bồ Tát, tức Sơ Trụ
Bồ Tát đă thành Phật. Đây là chân Phật, không phải
là giả Phật, kiến tánh sẽ thành Phật. Trong phẩm
Phổ Môn có nói Bồ Tát muốn sang thế giới ở
phương khác để giáo hóa chúng sanh, hễ nên dùng thân
Phật để độ được, Ngài liền hiện
thân Phật để thuyết pháp. Sơ Trụ Bồ Tát
có năng lực hiện thân Phật. Quư vị niệm Vô
Lượng Thọ Kinh rất thuần thục, trong phẩm
thứ hai của Vô Lượng Thọ Kinh, [đoạn
nói về] Bồ Tát hoằng nguyện độ sanh, trong
các thứ thị hiện, đă nêu ra một thí dụ, tức
là “tám tướng thành đạo”.
“Tám tướng thành đạo” là hạng người
nào? Bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đă có
năng lực này, có tư cách thị hiện tám tướng
thành đạo. Gặp được kẻ có duyên phận,
đáng nên dùng thân Phật để độ được,
[Bồ Tát] bèn thị hiện tám tướng thành đạo.
Đấy chính là “kiến tâm,
trắc vị” (thấy được tâm, đạt
đến địa vị), dùng chuyện lên núi để
tỷ dụ.
(Sớ) Trí giám vị hạnh,
vi biến quán sát.
(疏)智 鑒 位 行,為
遍 觀 察。
(Sớ: Trí soi thấu
địa vị và hạnh, đấy là “quán sát trọn
khắp”).
Ngài ở trên núi, Ngài muốn
t́m kiếm thiện tri thức, quán sát bốn phía. Ư
nghĩa của chữ “quán sát”
chính là [vận dụng] trí huệ của Ngài, trí huệ có
[khả năng] chiếu soi. Chữ “kiến” ở đây có nghĩa là “chiếu”, tức “chiếu
kiến” (soi thấy). Năm mươi mốt địa
vị của Bồ Tát từ Sơ Phát Tâm đến khi
viên măn thành Phật, Ngài đều thấy rơ ràng, rành mạch.
Đấy chính là ư nghĩa của chữ “biến quán sát”.
(Sớ) T́nh hoài đắc chỉ,
danh vi tầm cầu.
(疏)情 懷 得 旨,名
為 尋 求。
(Sớ: Ḷng mong lănh hội
tông chỉ th́ gọi là “tầm cầu”).
Ư nghĩa của việc
Ngài t́m cầu thiện tri thức là ở chỗ này. “Chỉ” (旨) là tông chỉ. Tông chỉ là Tánh Đức, trong Tánh
Đức sẵn có đức năng, trí huệ. Do
đây biết rằng: Phật pháp xưng là nội học,
“nội” là hướng
đến tự tánh để t́m cầu, chứ không bảo
quư vị cầu pháp ngoài tâm. Trong kinh Đại Thừa, đức
Phật gọi “cầu pháp ngoài tâm” là ngoại đạo.
V́ thế, chữ “ngoại
đạo” không phải là khinh thường người
khác, cũng không phải là chửi người ta. Ngoại
đạo là cầu pháp ở ngoài tâm th́ gọi là ngoại
đạo; mang ư nghĩa phân biệt với nội học.
Từ Sơ Trụ trở đi đều là t́m cầu
trong tâm tánh, tuyệt đối chẳng phải là t́m cầu
nơi cảnh giới, không thể được! Tiếp
xúc cảnh giới th́ sẽ từ nơi cảnh giới
mà quay đầu, cầu nơi tự tánh. Giống như
trong hội Lăng Nghiêm, Quán Thế Âm Bồ Tát đă dạy
chúng ta, Ngài bảo phương pháp tu hành của Ngài là “phản văn văn tự tánh,
tánh thành vô thượng đạo” (Xoay cái Nghe trở lại
nghe nơi tự tánh, tánh trở thành vô thượng đạo).
Bồ Tát mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, sáu căn
đều đụng chạm cảnh giới bên ngoài,
nhưng Ngài dụng tâm, Ngài trông thấy bên ngoài, bèn có thể
hồi quang phản chiếu, Ngài có thể quay về nơi
tự tánh. Đấy là công phu tuyệt vời của Ngài.
Ngài chẳng nắm níu cảnh bên ngoài, Ngài hướng vào
bên trong để quán chiếu. Quán Thế Âm Bồ Tát tu
hành thành tựu là do dùng phương pháp này, “phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng
đạo”. “Tầm cầu”
có nghĩa là “ḷng mong lănh hội được tông chỉ”.
(Sớ) Thất Giác Trợ
đạo, vân kinh thất nhật.
(疏)七 覺 助 道,云
經 七 日。
(Sớ: Thất Giác
Trợ đạo gọi là “qua bảy ngày”)
Trải qua bảy ngày,
Ngài không thấy được [vị thiện tri thức].
Con số bảy ấy biểu thị Thất Giác Chi trong
ba mươi bảy đạo phẩm. Nói chung, ba
mươi bảy đạo phẩm được chia
thành bảy khoa, tức là bảy loại lớn. Ở
đây là loại thứ sáu, tức là Thất Bồ Đề
Phần. Loại thứ tám là Bát Thánh Đạo. Ở
đây, bảy ngày tượng trưng cho Thất Giác Chi.
Thất Giác Chi trợ đạo nên nói là “bảy ngày”.
(Sớ) Pháp vô sở đắc,
vi cánh bất kiến.
(疏)法 無 所 得,為
竟 不 見。
(Sớ: Không có pháp nào
để đắc, là “trọn chẳng thấy”)
Thấy được
hay không? Quyết định không thấy được. Nếu
thấy được th́ đâu phải là tâm tánh! Tâm tánh
không có dấu vết, h́nh tượng. Không thấy chính là
chân chánh thấy được. Nếu quư vị thật sự
có thấy, quư vị đă sai mất rồi. “Không có pháp nào để
được” th́ gọi là “chẳng
thấy”.
(Sớ) Yếu tu vong hoài, vi
tuyệt chư tưởng.
(疏)要 須 忘 懷,為
絕 諸 想。
(Sớ: Cần phải
bỏ những điều ôm giữ là “dứt tuyệt các
điều suy tưởng”)
Từ đây trở
đi, [kinh văn] đều dạy chúng ta về
phương pháp dụng công. Bởi vậy, đọc Hoa
Nghiêm hết sức khó khăn; nếu chẳng hiểu
được những nghĩa bao hàm trong ấy, tức
là như người ta thường nói [nghe được]
“âm thanh nằm ngoài dây đàn”,
quư vị đọc kinh Hoa Nghiêm như đọc tiểu
thuyết hoặc đọc chuyện cổ tích, tưởng
là Thiện Tài đồng tử thật sự trèo lên núi
t́m kiếm thiện tri thức. Đâu biết rằng trong
từng câu từng chữ đều chứa đựng
nhiều ư nghĩa trong ấy, làm sao quư vị hiểu
được? Bởi vậy, kinh Hoa Nghiêm khó khăn là ở
chỗ này. “Nếu không có ai giảng
Phật pháp, dẫu có trí vẫn chẳng thể hiểu
được”. Quư vị đă hiểu lầm ư
nghĩa, thuận theo vọng tưởng của chính ḿnh
để suy tưởng kinh văn, hoàn toàn lầm mất
rồi!
(Sớ) Tịch bất thất
chiếu, vi chánh quán sát.
(疏)寂 不 失 照,為
正 觀 察。
(Sớ: Vắng lặng
nhưng chẳng mất công năng quán chiếu, đấy
là quán sát đúng đắn).
Điều này rất
quan trọng, chúng ta đang là phàm phu không làm được.
Chúng ta có Tịch liền không có Chiếu, hễ Chiếu
bèn chẳng Tịch, rất ít người thực hiện
được “Tịch - Chiếu
đồng thời”. Tịch là ǵ? Tịch là tâm thanh tịnh.
Chiếu là hiểu rơ ràng, rành rẽ hết thảy mọi
cảnh giới. Tịch Chiếu phải đồng thời,
Tịch mà thường Chiếu, Chiếu nhưng thường
Tịch. Cảnh giới của bậc Bồ Tát trong Viên
Giáo từ Sơ Trụ trở lên là lục căn của họ
tiếp xúc cảnh giới sáu trần nhưng Tịch Chiếu
đồng thời. Họ thấy rơ ràng rành mạch,
nhưng trong tâm như như bất động; như
như bất động là Tịch, rơ ràng rành mạch là
Chiếu. Đấy gọi là “Tịch
Chiếu đẳng tŕ” (giữ cân bằng Tịch và
Chiếu). Tịch là Định, Chiếu là Huệ, Định
- Huệ đồng thời, đấy mới là dụng
tâm của chư Phật, Bồ Tát.
(Sớ) Hy ly khinh mao, tâm an bất
động.
(疏)希 離 輕 毛,心
安 不 動。
(Sớ: Rời bỏ
hết thảy những mong mỏi, xem nhẹ như sợi
lông, tâm sẽ an ổn, bất động)
Ở đây, “khinh mao” là nói tỷ dụ. “Ly” là ĺa hết thảy vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, th́ tâm quư vị
mới an, quư vị mới bất động. Bất
động th́ Tịch Chiếu mới có thể hiện tiền.
“Khinh mao” (Sợi lông nhẹ
tênh) là tỷ dụ hết thảy các pháp thế gian lẫn
xuất thế gian chẳng đáng để vướng
mắc, chẳng đáng để lưu luyến, chẳng
đáng để chấp trước, hăy buông xuống hết
thảy! Buông xuống th́ tâm quư vị mới an, quư vị mới
có thể chứng được cảnh giới “tâm an, bất động”. Khi
ấy, chân tâm sẽ hiện tiền. Đại sư Thanh
Lương giảng rơ cho chúng ta biết ư nghĩa ẩn chứa
trong đoạn kinh văn này. Ấy chính là ư nằm ngoài lời,
đây là chỗ khó khăn trong Phật pháp, đặc biệt
là kinh Đại Thừa. Nếu hiểu ư nghĩa theo lời
văn là hỏng rồi. Cổ nhân thường nói: “Y văn giải nghĩa, tam thế
Phật oan”; ba đời chư Phật đều kêu
oan uổng, ư Phật không phải là như vậy, quư vị
hoàn toàn hiểu lầm mất rồi!
Trong đoạn kinh
văn tiếp theo đó, đại sư đặc biệt
nói rơ cho chúng ta biết nguyên tắc giải thích kinh điển:
(Sớ) Nhiên tiên đức
thích kinh, thông hữu tứ lệ.
(疏)然 先 德 釋 經,通
有 四 例。
(Sớ: Nhưng cổ
đức giải thích kinh điển, thường theo bốn
lối).
“Tiên đức” là bậc
tiền bối. Cổ nhân giải thích kinh điển thông
thường có bốn phương cách, cũng có bốn
nguyên tắc.
(Sớ) Nhất tùy tướng
tiêu văn, nhị dĩ giáo giản biệt, tam bổn tích
dung hội, tứ quán tâm hư cầu. Nhất văn, nhất
nghĩa, vơng bất giai nhĩ.
(疏)一 隨 相 消 文。二
以 教 揀 別。三 本 跡 融 會。四觀 心 虛 求。一 文 一 義,罔 不 皆 爾。
(Sớ: Một là dựa
theo văn tự để giải thích ư nghĩa, hai là dùng
giáo để phân biệt, chọn lựa, ba là dung hội
giữa Bổn và Tích, bốn là quán tâm, chẳng có ḷng mong cầu.
Mỗi một chữ, mỗi một nghĩa, không ǵ chẳng
đều là như vậy).
“Nhất văn” là một
chữ, mỗi một chữ, mỗi một câu đều
dùng bốn phương pháp này để giải thích. Bọn
phàm phu chúng ta thường chỉ có một loại đầu
là “tùy tướng tiêu văn”,
những loại sau đều không có. “Tùy tướng tiêu văn” là dựa theo văn tự
để hiểu nghĩa. Cách này dễ nói, rất nông cạn,
nói như thế, mọi người đều rất dễ
hiểu, không có vấn đề ǵ! Bốn nguyên tắc giải
thích kinh văn này được vận dụng rất sống
động, trọn chẳng phải là chấp chặt, hẹp
ḥi. Phải thấy được nghĩa thú của kinh
văn, có những phần kinh văn rất sâu, có phần
trọn chẳng có ư nghĩa sâu xa ǵ, chứ không phải là
câu nào cũng đều có ư nghĩa sâu xa. Do vậy, trong
văn tự ấy có Khách, có Chủ. Phần ư nghĩa
được chứa đựng trong phần Chủ rất
sâu, phần Khách là kèm thêm, nông cạn hơn. V́ thế, vận
dụng những nguyên tắc này phải biết lấy và
bỏ.
(Sớ) Kim thông dụng chi, tùy
tiện thủ xả, khoan văn dụng sơ nghĩa.
(疏)今 通 用 之,隨
便 取 捨。寬 文 用 初 義。
(Sớ: Nay đều
áp dụng cả bốn cách ấy, tùy tiện lấy hay bỏ,
đối với phần kinh văn giải nói rộng răi
th́ áp dụng nghĩa thứ nhất)
Chữ “khoan” ở đây là đối với phần
văn tự nhằm giải thích th́ sử dụng ư
nghĩa thứ nhất tức là giải thích rộng răi ư
nghĩa.
(Sớ) Nghĩa hàm dụng
đệ nhị.
(疏)義 含 用 第 二。
(Sớ: Với những
phần kinh văn chứa đựng nhiều ư nghĩa
th́ dùng cách thứ hai).
Trong phần này chứa
đựng nhiều ư nghĩa rất sâu, vậy th́ phải
dùng Giáo để phân biệt, chọn lựa. Trong Giáo có
Lư, Hạnh, Quả. Giáo tướng của Phật có bốn
loại: Giáo, Lư, Hạnh, Quả. Giáo là ngôn ngữ, văn tự.
Trong ngôn ngữ, văn tự có nói đến đạo
lư, có lư luận, trừ lư luận ra, c̣n có phương pháp
tu hành. Chiếu theo phương pháp ấy để tu hành,
sẽ có thể nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, sẽ
chứng quả. Do vậy, dùng phương pháp ấy để
nói rơ những ư nghĩa được chứa đựng
trong đoạn kinh văn ấy.
(Sớ) Ư lạm dụng đệ
tam.
(疏)意 濫 用 第 三。
(Sớ: Ư nghĩa mênh
mông quá th́ dùng cách thứ ba).
Chữ “lạm” ở đây là nói nhiều. [Nếu kinh
văn] lắm ư nghĩa quá, rộng quá, th́ dùng cách thứ
ba, tức là dùng cách dung hội Bổn và Tích. Giống như
kinh Pháp Hoa có nhiều đoạn giống như vậy nhất, mỗi một
chữ, mỗi một câu không chỉ có một ư nghĩa,
mà c̣n chứa đựng rất nhiều ư nghĩa, vậy
th́ phải áp dụng nguyên tắc thứ ba. Ư nghĩa thứ
tư là:
(Sớ) Tự lạm sư
tâm.
(疏)似 濫 師 心。
(Sớ: Dường
như có ư kiến vượt trỗi hơn thầy)
Đây là
ư nghĩa thứ tư. Chúng ta không thể học theo nguyên
tắc thứ tư được. V́ sao vậy? Nếu
chúng ta học theo sẽ đổ bệnh, nhất định
sẽ giảng sai kinh! Nói thật ra, ngày nay chúng ta giảng
kinh chỉ có thể dùng được hai cách đầu
th́ đă coi như là khá lắm rồi, quư vị đă là một
kẻ giỏi giang rồi đấy! Đối với
hai điều sau, nếu chính ḿnh chưa chứng nhập
cảnh giới, chắc chắn là sẽ không thể làm
được. Đặc biệt là điều cuối
cùng, điều cuối cùng giống như cách “phát huy nghị
luận” mà hiện thời chúng ta thường nói. “Phát huy nghị luận” là ǵ?
Là ư kiến của chính ḿnh, kiến giải độc
đáo của chính ḿnh. Kiến giải ấy của quư vị
có phải là kiến giải của Phật hay chăng, hay
vẫn là ư kiến của chính quư vị? Nếu đúng ư
Phật th́ không sao! Quư vị giảng kinh sẽ không giảng
trật. Nếu là ư kiến của chính quư vị, quư vị
đă giảng kinh trật mất rồi, phải gánh chịu
trách nhiệm nhân quả đấy nhé!
“Tự lạm sư tâm” là tâm [có
những kiến giải, suy nghĩ] vượt ra ngoài [những
điều đă được nói rơ trong] pháp của thầy,
điều này chỉ có bậc đại Bồ Tát mới
có thể làm được! Chẳng hạn như trong bộ
Đại Trí Độ Luận của Long Thọ Bồ
Tát, Ngài phát huy rất nhiều điều, những điều
được Ngài phát huy quả thật là ư Phật, không
sai chạy! Trong bộ Du Già Sư Địa Luận của
Di Lặc Bồ Tát, cũng có rất nhiều điều
được phát huy. Ngài Di Lặc là Đẳng Giác Bồ
Tát, những điều Ngài nói ra quả thật là ư Phật;
cho nên chú giải của Ngài được gọi là Luận.
Nếu chẳng phải là địa vị như vậy,
phát huy nghị luận phải hết sức chú tâm cẩn
thận, chỉ sợ trái nghịch ư nghĩa kinh điển,
trái nghịch ư Phật, phải gánh lấy trách nhiệm
nhân quả quá to!
(Sớ)
Đắc thử nhất môn,
phi sổ tha bảo.
(疏)得 此 一 門,非
數 他 寶。
(Sớ:
Đạt được một môn này, sẽ không đếm
vật báu của người khác).
Nếu quư
vị đạt được ư nghĩa thứ tư
này, quư vị đă minh tâm kiến tánh rồi. Do vậy, kiến
giải của quư vị rất gần với kiến giải
của Phật, rất tương tự, những ǵ quư vị
nói sẽ là tự tánh Hoa Nghiêm, những ǵ quư vị giảng
sẽ là tự tánh Hoa Nghiêm, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng Hoa Nghiêm không hai, không khác. Do vậy, sẽ “không đếm vật báu của
người khác” nữa. Thế nhưng, điều này
nhất định là phải kiến tánh rồi th́ mới
có thể làm được. Long Thọ là Sơ Địa
Bồ Tát, trong kinh, đức Phật đă từng thọ
kư cho Ngài. Di Lặc Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát,
đương nhiên không có vấn đề ǵ! Chúng ta phải
đặc biệt lưu ư điều này. Nếu chưa
chứng được địa vị ấy, tâm chúng ta
vẫn c̣n có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước; nếu muốn học theo cách hành tŕ ấy của
hàng Bồ Tát, sẽ không thể nào chẳng tạo nghiệp
được. Đoạn tiếp theo viết:
(Sớ) Thác
sự hiển pháp, kinh văn thậm đa, khinh thử nhất
môn, giải thoát du viễn.
(疏)託 事 顯 法,經 文 甚 多,輕 此 一 門,解 脫 逾 遠。
(Sớ:
Nhờ vào sự để làm rơ pháp, có rất nhiều
đoạn kinh văn như vậy. Coi thường một
môn này th́ sự giải thoát sẽ càng xa)
Câu này nhằm
bảo với chúng ta: Đối với bộ kinh này,
điều cần phải lưu ư là hết thảy những
sự được nói tới trong bộ kinh này đều
nhằm giảng Phật pháp, đều nhằm hiển thị
vô thượng diệu pháp. Trong kinh văn, quả thật
có rất nhiều [chỗ như vậy], chúng ta phải
chú ư. Nếu không chú ư, chúng ta sẽ chẳng đạt
được lợi ích, công đức, quư vị sẽ
càng ngày càng cách xa đạo giải thoát. Nếu quư vị
thấu hiểu được, khế nhập được,
chắc chắn kinh này sẽ ban cho quư vị pháp hỷ sung
măn.
(Sớ)
Cố hạ thích hữu y chánh
đẳng pháp, đa dụng thử môn. Nhược ước
sự tướng, tướng đa dị liễu.
(疏)故 下 釋 友 依 正 等 法,多 用 此 門。若 約 事 相,相 多 易 了。
(Sớ:
V́ thế trong phần tiếp theo, khi giải thích những
pháp như y báo, chánh báo của các vị thiện hữu, phần
nhiều áp dụng môn này. Nếu noi theo sự tướng
th́ tướng nhiều sẽ dễ hiểu).
Do vậy,
đại sư Thanh Lương chú giải bộ kinh này,
đặc biệt chú trọng khía cạnh này. Nếu
như trong kinh văn có những sự tướng, mọi
người vừa đọc liền hiểu rơ, chẳng
cần phải giải thích chi nữa! Chúng ta xem đoạn
kinh văn tiếp theo:
(Kinh) Quá thất nhật
dĩ, kiến bỉ tỳ-kheo tại biệt sơn
thượng, từ bộ kinh hành.
(經)過 七 日 已,見
彼 比 丘 在 別 山 上,徐 步 經 行。
(Kinh: Sau bảy ngày,
thấy vị tỳ-kheo ấy ở trên ngọn núi khác,
đi kinh hành thong thả).
Qua bảy ngày rồi mới
thấy được, Thiện Tài đồng tử thấy
được thiện tri thức. Thấy thiện tri thức
không ở trên núi này mà ở trên đỉnh núi khác, thấy
vị ấy đi kinh hành thong thả ở nơi đó. “Từ bộ” là tản bộ,
đi chầm chậm, giống như khi chúng ta niệm Phật,
nhiễu Phật. Nhiễu Phật chính là “từ bộ kinh hành”. Nói thật ra, Ngài thật sự
đang niệm Phật. Xem ra kinh văn rất dễ hiểu;
chúng ta đọc lời chú giải của đại
sư Thanh Lương càng khó hiểu, càng xem càng thấy
khó. Lời chú giải ấy mới thật sự có ư vị.
Xin hăy đọc đoạn chú giải thứ nhất.
Đây là đoạn thứ hai trong sáu đoạn lớn;
đoạn thứ hai là:
(Sớ) Kiến kính, tứ vấn.
(疏)見 敬 諮 問。
(Sớ: Trông thấy,
lễ kính, xin thưa hỏi).
Trong đoạn thứ
hai có ba chuyện. Từ chữ “qua
bảy ngày” trở đi, đoạn kinh văn này là “kiến kính tứ vấn”. Ở
nơi đây lại chia thành ba đoạn nhỏ.
(Sớ) Sơ kiến, thứ
kính.
(疏)初 見。次
敬。
(Sớ: Thoạt
đầu là thấy, kế tiếp là kính).
Đoạn thứ hai
là kính, đoạn thứ ba là Ngài (tức Thiện Tài đồng
tử) muốn nêu ra câu hỏi.
(Sớ) Hạ đa lệ thử.
(疏)下 多 例 此。
(Sớ: Những
phần sau đa số theo lệ này).
Từ đây trở
đi, đa số những phần kinh văn nói về thiện
hữu đều được chia đoạn theo cách
này, nay giảng đoạn thứ nhất: Sau bảy ngày.
(Sớ) Ly Thất Giác tướng.
(疏)離 七 覺 相。
(Sớ:Ĺa tướng
trạng của Thất Giác Chi).
Ở đây, chúng tôi giảng
đơn giản về Thất Giác. Những vị đồng
tu lâu năm ắt sẽ đều rất quen thuộc
[khái niệm] này, nó chính là Thất Giác Chi trong ba mươi
bảy Đạo Phẩm.
1) Thứ nhất là Trạch
Pháp, Trạch (擇) là chọn lựa. [Trạch Pháp] là chọn
lựa pháp môn, phải chọn lựa pháp thích hợp với
căn tánh của chính ḿnh, thích hợp với tŕnh độ
của chính ḿnh, thích hợp với hoàn cảnh sống của
chính ḿnh. Quư vị chọn lựa pháp môn như thế
để tu học, sẽ cảm thấy rất dễ dàng.
Nếu chọn lựa pháp môn không hợp với tŕnh độ
của chính ḿnh, gây trở ngại cho cuộc sống của
chính ḿnh, quư vị tu học rất khó khăn, không dễ
dàng. Do vậy, điều thứ nhất là Trạch Pháp.
2) Điều thứ
hai là phải tinh tấn. Sau khi chọn lựa, quư vị
thâm nhập một môn. “Tinh”
là tinh thuần không tạp, “Tấn”
là tiến lên không lùi.
3) Điều thứ
ba là Hỷ Giác Chi, tức là pháp hỷ sung măn. Quư vị tu học
vui sướng, chẳng cảm thấy “ta học Phật
khổ quá chừng!” “Học khổ quá” tức là quư vị
học sai mất rồi! Người học Phật nhất
định học rất sung sướng, như vậy
là đúng pháp, công phu đắc lực!
4) Điều thứ
tư là Khinh An. Khinh An nh́n từ chỗ nào? Nh́n từ tinh
thần và thể lực của quư vị, nhất định
quư vị cảm thấy được điều tốt
đẹp này. Điều này giống như điều
được con người hiện nay gọi là “cải biến thể chất”.
Nếu học Phật công phu đắc lực, dung mạo
sẽ biến đổi, thể chất cũng biến
đổi. Những kẻ coi tướng, tiên đoán số
mạng, đều hiểu chuyện “tướng chuyển theo tâm”.
Tâm người ấy thanh tịnh, mỗi ngày càng thanh tịnh
hơn, phiền năo nhẹ dần, phiền năo ít đi. Phiền
năo nhiều, người ấy tỏ ra nặng nề, vụng
về, chuyện ǵ cũng đều thấy rất nặng
nề, vụng về, trong tâm dường như chịu
áp lực nặng nề, cảm thấy rất nặng
gánh. Thân thể cũng giống như thế, hành động
rất vụng về, nặng nề! Nếu như công phu
đắc lực, trong tâm ít phiền năo. Phiền năo ít th́
lo sầu ít, vọng niệm ít, tâm người ấy
cũng thanh tịnh. Khi đó, tâm thanh tịnh, thân cũng
nhẹ nhàng, đi đứng nhẹ nhàng, nhanh nhẹn khác
hẳn, quả thật là khác biệt. V́ vậy, Khinh An nói
theo cách hiện thời là “cải biến thể chất”,
thay đổi dung mạo. Dung mạo là tướng chuyển
theo tâm, càng ngày càng thanh tịnh, càng ngày càng từ bi.
5) Điều thứ
năm và điều thứ sáu là vấn đề công phu.
Điều thứ năm là Niệm, điều thứ sáu
là Định. Đây là nói về công phu.
Điều thứ bảy
nói tới Hành Xả. Hành Xả là buông xuống. Có thể
nói là Bồ Tát đạo từ Sơ Phát Tâm cho đến
tận địa vị Như Lai không có ǵ khác cả,
đều phải buông xuống, phải bỏ được!
Đấy là Thất
Giác Chi, ở đây tôi chỉ nói đại ư.
“Ly Thất Giác tướng”, Ngài có tu Thất Giác hay không? Ngài có tu; tuy tu, nhưng đă
không c̣n chấp vào tướng tu hành. Chúng ta gọi là “tu mà vô tu, vô tu mà tu”. “Vô tu” không
phải là chẳng tu ǵ hết, Ngài thật sự tu. Tuy tu,
nhưng không chấp tướng; cho nên nói: Vô tu và tu đồng
thời, không có trước - sau, không có sai biệt, chúng
đồng thời viên măn. Đấy gọi là “ĺa tướng trạng Thất
Giác là qua bảy ngày”. Từ ngữ “qua bảy ngày” nhằm biểu thị ư nghĩa
này!
(Sớ) Vong sở trụ vị,
phương vi đắc chỉ.
(疏)忘 所 住 位,方 為 得 旨。
(Sớ: Quên địa
vị đă trụ th́ mới là đạt được
tông chỉ).
Ngài hiện đang là
Sơ Trụ Bồ Tát, nếu tự ḿnh cảm thấy
“nay ta đă đắc Sơ Trụ Bồ Tát”, quư vị
nghĩ xem, vị ấy đă chứng được
Sơ Trụ hay chưa? Chưa chứng được, vẫn
là phàm phu! V́ sao là phàm phu? V́ vị ấy vẫn c̣n phân biệt,
vẫn c̣n chấp trước. Chứng được
địa vị ấy rồi th́ cũng quên sự chứng
đắc ấy luôn, cũng có nghĩa là những phân biệt,
chấp trước ấy đều không c̣n nữa. Nói vị
ấy là Sơ Trụ Bồ Tát là do người khác nói, chứ
tự vị ấy không hề bảo ḿnh là Sơ Trụ Bồ
Tát. Trong tương lai, vị ấy chứng nhập
Sơ Địa Bồ Tát, chính vị ấy cũng trọn
chẳng hề cảm thấy chính ḿnh là Sơ Địa
Bồ Tát. Thành Phật rồi, vị ấy cũng chẳng
cảm thấy chính ḿnh là Phật. Nếu vị ấy cảm
thấy “chính ḿnh đă thành Phật”, thưa cùng quư vị, vị
ấy chẳng khác ǵ chúng ta cả, vẫn c̣n có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước! Do vậy, từ
đây trở đi, vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước đều hoàn toàn ĺa bỏ, không giống
như những người trong mười pháp giới. Trong
mười pháp giới, vẫn c̣n có phân biệt.
(Sớ) Vong
sở trụ vị.
(疏)忘 所 住 位。
(Sớ: Quên địa
vị đă trụ).
Tâm Ngài thật sự
thanh tịnh th́ mới gọi là “đắc
chỉ”. “Chỉ” ở đây là tự tánh công đức,
[tâm thật sự thanh tịnh] th́ điều này mới hiện
tiền. Hễ có một chút xíu phân biệt, chấp trước
th́ tự tánh bị chướng ngại, chẳng thể
hiện tiền được! Đại Thừa Bồ
Tát tu hành không có ǵ khác cả, chỉ là tu điều này. Vậy
th́ chúng ta đọc kinh này, cảm thấy hết sức
hổ thẹn. Chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, sáu
căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, vẫn phân biệt,
chấp trước. Không chỉ là phân biệt, chấp
trước, mà c̣n nghiêm trọng nữa, ngày nào mới thành
tựu được đây? Chúng ta nhất định phải
cảnh giác điều này. Nói cách khác, tuy chúng ta chưa
đạt đến cảnh giới Bồ Tát th́ tối
thiểu cũng phải là điều ǵ có thể không phân
biệt th́ đừng phân biệt nữa, điều ǵ có
thể không chấp trước th́ đừng chấp
trước nữa. Những ǵ có thể không phân biệt,
không chấp trước? Chuyện của
người khác! Chuyện của người khác mà
chúng ta cũng phân biệt, chấp trước, quư vị
chẳng kêu oan uổng hay sao? Phân biệt, chấp trước
chuyện của chính ḿnh th́ c̣n tha thứ được,
chứ chuyện của người ta không ăn nhập
ǵ đến ḿnh mà ta cũng phân biệt, chấp trước,
lầm lẫn quá lớn rồi! Trước hết, phải
học đừng bận tâm đến những chuyện
thừa thăi, tức những chuyện của người
ta không liên can đến ḿnh, hăy học từ chỗ này. Dần
dần sẽ làm cho cái tâm của ta thanh tịnh, an định,
quyết định sẽ có ích, có chỗ tốt đẹp
cho sự tu hành của chúng ta. Tiếp theo là:
(Sớ) Cố kiến tại
biệt sơn, kiến tức Định Huệ song lưu.
(疏)故 見 在 別 山。見 即 定 慧 雙 流。
(Sớ: Cho nên thấy
ở ngọn núi khác, “thấy” chính là Định và Huệ
cùng lưu xuất).
B́nh đẳng ǵn giữ
Định lẫn Huệ!
(Sớ) Vi kinh hành từ bộ.
(疏)為 經 行 徐 步。
(Sớ: Là đi kinh
hành từ từ).
Dùng từ ngữ “kinh hành từ bộ” để
h́nh dung. Phần tiếp theo nói với chúng ta:
(Sớ) Từ
tức thị Chỉ, bất trụ loạn tưởng.
(疏)徐 即 是 止,不
住 亂 想。
(Sớ: Từ chính là
Chỉ, chẳng trụ trong loạn tưởng).
Đây chính là ĺa phân biệt, chấp
trước. Dùng chữ “từ
bộ” để tỷ dụ sự ĺa phân biệt, chấp
trước.
(Sớ) Hành tức thị
Quán, bất trụ tĩnh tâm.
(疏)行 即 是 觀,不
住 靜 心。
(Sớ: Hành chính là
Quán, chẳng trụ vào tâm vắng lặng).
Nếu quư vị trụ
vào cái tâm vắng lặng, trụ vào cảnh giới thanh tịnh,
quư vị lại lầm mất rồi, quư vị biến
thành A La Hán, Bích Chi Phật, biến thành Tiểu Thừa! Hai
bên đều chẳng trụ! Từ nay trở đi,
đây là cơ sở tu hành của bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ. Phần tiếp
theo là:
(Sớ) Nhược ước
sự tướng, tức chánh tu tập Ban Châu tam-muội.
(疏)若 約 事 相,即
正 修 習 般 舟 三 昧。
(Sớ: Nếu ước
theo sự tướng, chính là đang tu tập Ban Châu tam-muội)
Tu tập điều
ǵ? Tỳ-kheo Cát Tường Vân tu tập điều ǵ? Từ
kinh văn, chúng ta không thấy được, chúng ta thấy
không ra. Tới khi tổ sư giảng giải, chúng ta hiểu
rơ. Ngài đi kinh hành thong thả, chính là đang tu tập Ban
Châu tam-muội. Ban Châu tam-muội là ǵ? Người niệm
Phật chúng ta phải biết! Ban Châu (Pratyutpanna) là tiếng
Phạn, dịch sang tiếng Hán có nghĩa là “Phật lập” (佛立)。Lập (立) là
chữ Lập trong kiến lập (建立), Phật
lập (kiến lập ngôi vị Phật). Trong đây, có
ba ư nghĩa:
- Thứ
nhất là oai lực của Phật. Nói thật ra là sức
bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật, mà cũng
là oai lực của mười phương hết thảy
chư Phật Như Lai đều cùng gia tŕ quư vị.
- Thứ
hai là tam-muội lực, tam-muội là sức mạnh của
pháp quư vị đang tu.
- Thứ
ba sức công đức của chính người tu hành.
Ba thứ
sức này kết hợp lại th́ gọi là Ban Châu Tam Muội,
là một trong bốn thứ tam-muội.
Trong những kinh giảng
[tam-muội này] rất rơ ràng th́ có Ban Châu Tam Muội Kinh.
Người tu loại tam-muội này có thể thấy
được chư Phật hiện tiền. Thế
nhưng, nghi quỹ tu hành rất nghiêm ngặt, lấy chín
mươi ngày làm kỳ hạn, đấy là một giai
đoạn. Ba tháng chín mươi ngày là một giai đoạn.
Trong chín mươi ngày đó, thân thường đi, không
nghỉ ngơi. Đấy là [lư do v́ sao] tỳ-kheo Cát
Tường Vân thường đi kinh hành thong thả. Trong
chín mươi ngày ấy, quư vị chẳng được
nằm xuống để ngủ nghê, quư vị cũng chẳng
thể ngồi xuống nghỉ, mà phải đi kinh hành,
đi kinh hành thong thả. Trong chín mươi ngày thân thường
đi, không nghỉ ngơi. Miệng th́ sao? Niệm A Di
Đà Phật. Trong chín mươi ngày niệm A Di Đà Phật,
không nghỉ ngơi. Trong tâm quán tưởng A Di Đà Phật,
trong tâm tưởng Phật không nghỉ ngơi. Đấy
là phương pháp tu hành Ban Châu tam-muội, một kỳ là
chín mươi ngày.
Thời cổ, có
người tu Ban Châu tam-muội, chứ con người hiện
thời sợ rằng không ai có được thể lực
ấy. Dù có cơ hội này, thân thể quư vị duy tŕ
không được, đấy là sự thật. Do đây
biết rằng Ban Châu là chuyên môn niệm A Di Đà Phật;
bởi lẽ, công đức niệm A Di Đà Phật giống
hệt như công đức niệm mười
phương hết thảy chư Phật. Ban Châu tam-muội
lấy niệm A Di Đà Phật làm chủ, từng bước,
từng tiếng, tâm tâm niệm niệm đều hệ
niệm nơi A Di Đà Phật. Trong số những vị
cổ đức, cũng có vị chú giải Ban Châu Tam Muội
Kinh. Trong chú giải cũng có nói, giải thích ư nghĩa từ
ngữ “Ban Châu tam-muội”. Trong
chú giải cũng dịch [Ban Châu] là “thường hành đạo” (thường đi
kinh hành), thường đi không ngừng. Vị ấy
không nằm xuống, cũng chẳng ngồi xuống. Thế
nhưng, trong lời chú giải đă nêu ra cho chúng ta một
nguyên tắc rất trọng yếu: Thời gian gồm bảy
ngày. Trong kinh nói lấy chín mươi ngày làm hạn. Bảy
ngày dễ thực hiện hơn nhiều. Trong bảy ngày,
chắc chắn phải chiếu theo cách này [để tu tập].
Trong bảy ngày ấy,
không ngủ suốt bảy ngày sợ là rất khó thể
làm được, chín mươi ngày sẽ làm không
được. Có người kể với tôi người
ấy tu Ban Châu tam-muội, bế quan tu Ban Châu tam-muội,
tôi không tin. Quư vị rất tin tưởng, rất tán thán,
chứ tôi không tin. Người ấy nói với tôi, tôi tuyệt
đối không tin tưởng. Đừng nói là người
ấy kể với tôi là tu chín mươi ngày tôi sẽ
không tin, dẫu bảo với tôi là tu bảy ngày, tôi vẫn
không tin. V́ sao vậy? Tu rồi mà tôi thấy quư vị không
thay đổi chi cả, vẫn là vọng tưởng cả
đống, vẫn là thị phi, nhân ngă, không giống
như vậy! Dẫu trong chín mươi ngày quư vị thật
sự tu đúng như pháp, nhưng khi quư vị tu không có
thành tích, trên bảng thành tích của quư vị là con số
không th́ có ích ǵ đâu? Sau khi tu pháp này, hễ tu thật sự
th́ khí chất của con người sẽ biến đổi,
khác hẳn! Do vậy, chúng ta hiểu cách nói bảy ngày của
cổ đức nếu nh́n theo căn tánh của lũ
chúng sanh chúng ta trong thời đại này, quả thật
là làm không được! Chúng ta nghiệp chướng nặng
quá, không có tinh thần ấy, không có thể lực ấy!
Đă có thể nói là bảy
ngày th́ chúng ta cũng có thể rút gọn thành một ngày; một
ngày trong suốt hai mươi bốn tiếng đồng
hồ vẫn không đơn giản đâu nhé! Nếu trong
hai mươi bốn tiếng đồng hồ có thể
làm như vậy, hết sức khó có! Nói thật ra, sợ
rằng vẫn chưa làm được! Đúng là trong một
vạn người, khó có được một hai người!
Quư vị có thể làm được trong hai mươi bốn
tiếng đồng hồ; trong hai mươi bốn tiếng
đồng hồ tản bộ, niệm Phật, trong tâm
tưởng Phật, không có tạp niệm, không hoài nghi,
không xen tạp, không gián đoạn. Hai mươi bốn
tiếng đồng hồ, không dễ dàng đâu nhé! Đấy
là thật sự tu tập Ban Châu tam-muội. Những
người như vậy không có vấn đề ǵ, họ
là Bồ Tát minh tâm kiến tánh, bất luận làm ǵ đều
không chán mỏi, cho nên họ có thể làm được.
Do đây biết rằng: Khi nào mới có thể tu phép Ban
Châu tam-muội như đức Phật đă dạy?
Đợi đến khi chúng ta chứng tới Sơ Trụ
Bồ Tát, khi ấy, quư vị niệm Phật sẽ là Ban
Châu tam-muội niệm Phật, chứ không phải là niệm
Phật b́nh thường!
Trong các vị tổ
sư đại đức thuở trước, đại
sư Hành Sách cũng là tổ sư Tịnh Độ của
chúng ta. Trong quá khứ, tôi từng nghĩ tới một
phương pháp Niệm Phật. Tôi có ư niệm này rất
sớm, Niệm Phật Đường chuyên môn niệm Phật,
bởi lẽ [t́m được] những đồng tham
đạo hữu chân chánh cũng chẳng dễ dàng cho lắm!
Nhất là những vị sống trong đạo tràng hiện
thời không nhiều, chẳng giống như trong tùng lâm tự
viện thuở trước, có mấy trăm vị xuất
gia ở trong ấy, thậm chí một hai ngàn vị xuất
gia, thực hiện chuyện này dễ dàng, đông người
dễ thực hiện. Hiện thời, số người
trụ trong đạo tràng rất ít, đều là trụ
mấy vị; do vậy, suất lănh đại chúng
cũng khá khó khăn. May sao hiện nay đă phát minh ra máy Niệm
Phật, tốt lắm, phát minh ra máy Niệm Phật quá
hay! Nếu chúng ta đem thu một cuốn băng mới cho
máy Niệm Phật, âm thanh hiện thời của máy Niệm
Phật này có chỗ lờ mờ không rơ ràng, bốn chữ
A Di Đà Phật niệm không rơ. Hơn nữa, tiếng dẫn
khánh nhất định phải gơ ở chữ Đà. Hiện
thời, trong đạo tràng chúng ta, mọi người
đều gơ khánh đúng nhịp. A Di Đà Phật, dẫn
khánh gơ đúng vào chữ Đà, chỉ đánh một tiếng
dẫn khánh [cho mỗi câu niệm] là được rồi!
Chúng ta có thể thu
băng ghi âm khác cho máy Niệm Phật rồi chế ra máy Niệm
Phật mới để cung cấp cho Niệm Phật Đường
chuyên sử dụng. Như vậy th́ trong Niệm Phật
Đường chẳng cần phải có người
xướng giọng lănh chúng, cũng chẳng cần phải
có người gơ dẫn khánh. Những âm thanh ấy máy Niệm
Phật đều có, không cần phải gơ, có thể bớt
được rất nhiều chuyện. Mà người niệm
Phật nhiều hay ít đều không sao cả, dăm ba
người đều có thể niệm Phật. Khi ấy,
tôi nghĩ nếu dùng máy Niệm Phật th́ không cần những
người lănh chúng; nhưng tới Niệm Phật
Đường chẳng được nói năng, hết
thảy đều buông xuống, nhất tâm niệm Phật.
Trong Niệm Phật Đường, chia thành ba khu, khu chính
giữa có tượng Phật để lễ Phật,
hai bên dành cho chỉ tịnh. Tức là khi quư vị niệm
đă mệt rồi, quư vị có thể đến đó
ngồi xuống. Ngồi xuống không cần phải niệm
ra tiếng, niệm thầm trong tâm là được rồi,
cốt để dưỡng sức. Ngoài ra th́ có lúc nhiễu
Phật, đi kinh hành. Kinh hành, nhiễu Phật th́ phải
niệm ra tiếng. Nhiễu Phật phải niệm ra tiếng,
chỉ tịnh th́ không niệm ra tiếng. Lễ Phật chớ
nên niệm ra tiếng, lễ Phật niệm ra tiếng sẽ
gây tổn thương cho thân thể. V́ thế, khi lễ
Phật, niệm Phật trong tâm là được rồi!
Một Phật đường chia thành ba khu, quư vị
thích nhiễu Phật th́ nhiễu Phật, quư vị thích lễ
Phật th́ lễ Phật. Lễ mệt rồi liền vui
vẻ sang bên cạnh ngồi xuống, quư vị ngồi xuống,
không ai cấm quư vị hết!
Trong quá khứ, tôi từng
nhắc đến phương pháp này rất nhiều lần,
nhưng măi vẫn chưa thực hiện được.
Về sau, tôi đọc Ngữ Lục của ngài Hành Sách,
cuối sách cũng có phương pháp ấy. Ngài sống
trước thời tôi, nhưng [thuở ấy] Ngài không có
máy Niệm Phật. Ngài nghĩ giống như tôi, chia
người niệm Phật thành ba ban, mỗi một ban có
bốn người xuất gia lănh chúng, gơ pháp khí để
lănh chúng. Một ban nhiễu Phật, hai ban chỉ tịnh,
luân lưu, ban này niệm mệt, khi chỉ tịnh, ban thứ
hai lại đi nhiễu Phật. Khi ấy, tâm địa
mọi người rất thanh tịnh, thân thể cảm
thấy thoải mái, có thể duy tŕ lâu dài, duy tŕ lâu dài trong
Niệm Phật Đường. Ngài chia thành ba ban, mỗi
một ban có bốn người xuất gia, c̣n chúng ta hiện
thời nhân số không đủ th́ dùng máy Niệm Phật.
Phương pháp này của tôi so với phương pháp của
Ngài c̣n thuận tiện hơn, bởi lẽ, cách của Ngài
là tới lui đều phải theo đoàn thể, c̣n trong cách
của tôi, chẳng lui tới theo đoàn thể. Cá nhân quư
vị ngồi nơi đó, ngồi lâu thấy mệt th́ cần
phải vận động, quư vị bèn nhiễu Phật.
Nhiễu Phật th́ mở miệng niệm, hoặc trước
hết quư vị lạy Phật, quư vị đến khu
chính giữa lạy Phật.
Có thể tạo dựng
một Niệm Phật Đường như thế, bên
ngoài có người hộ tŕ, giống như
trong Phật Thất có người hộ thất bên ngoài,
chăm sóc quư vị, chăm sóc
người niệm Phật. Các vị cần nước
trà, người ấy chuẩn bị cho quư vị; quư vị
cần ăn thứ ǵ, người ấy cũng chuẩn
bị từng phần cho quư vị. Quư vị muốn
ăn ǵ, khi đói bụng, quư vị đừng gọi
người khác: “Đi ăn cơm nghe!” A Di Đà Phật,
A Di Đà Phật, trong ấy xen vô “đi ăn cơm nghe!”
không hay chút nào! Do vậy, nếu quư vị cảm thấy
phải đi ăn, tự quư vị đi ăn, đừng
bận tâm tới người khác. Nếu có chuyện ǵ cần
phải đi ra, quư vị niệm xong cũng đi ra, không
cần kêu réo người khác. Quư vị ở trong Niệm
Phật Đường, tâm vĩnh viễn thanh tịnh,
công phu niệm Phật ấy thật sự đắc lực.
Thuở trước, tôi từng nghĩ tới
phương pháp này, hiện thời giống như đạo
tràng
Từ kinh này, chúng ta thấy
được rằng: Kinh này khải thị cho chúng ta rất
lớn. Thiện Tài đồng tử tách rời khỏi
thầy, đi tham học, vị thứ nhất do thầy
ḿnh giới thiệu. Thầy đă giới thiệu th́
đương nhiên là thầy có dụng ư đặc biệt,
chẳng phải là giới thiệu tùy tiện. Vị thứ
nhất là tỳ-kheo Cát Tường Vân chuyên tu pháp môn niệm
A Di Đà Phật. Gặp một vị nào trước hết
th́ [pháp môn của vị ấy] sẽ là Chủ (chánh yếu).
[Pháp tu của vị ấy] sẽ biến thành pháp môn tu tập
chánh yếu của Thiện Tài đồng tử. Đến
cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Quư vị
thấy đó, Ngài từ đầu đến cuối
như một; sau đấy, quư vị mới suy nghĩ,
Thiện Tài đồng tử học pháp môn ǵ? Pháp môn Niệm
Phật đấy nhé! Một câu A Di Đà Phật niệm
đến tột cùng! V́ sao Văn Thù Bồ Tát giới thiệu
cho Ngài pháp môn này? Chính Văn Thù Bồ Tát đă tu pháp môn này,
Phổ Hiền Bồ Tát cũng tu pháp môn này. Trong phần
trước của bộ kinh bốn mươi quyển
này, không nằm trong quyển bốn mươi mà là trong quyển
ba mươi chín trong số bốn mươi quyển,
chúng ta thấy Văn Thù, Phổ Hiền phát nguyện cầu
sanh Tây Phương Tịnh Độ, mới biết chính
các Ngài đă tu pháp môn này. Văn Thù trí huệ bậc nhất
trong các vị Bồ Tát, trong phần trước, chúng tôi
đă nói tới việc chọn lựa pháp th́ bậc trí huệ
đệ nhất đương nhiên chọn lựa pháp
môn thù thắng nhất. Như vậy th́ pháp môn Niệm Phật
được Văn Thù Bồ Tát tuyển chọn,
được Phổ Hiền Bồ Tát tuyển chọn,
là pháp môn được các vị ấy tuyển chọn.
Thiện Tài là học sinh đắc ư của họ, họ
có dạy Thiện Tài pháp môn nào khác hay chăng?
Nói như vậy, v́ sao
Văn Thù không tự dạy cho Thiện Tài, mà lại phải
bảo tỳ-kheo Cát Tường Vân dạy? Ở đây,
có một đạo lư rất sâu! Có những khi, đối
với thầy, tṛ vẫn c̣n có chút thành kiến, vẫn
hoàn toàn chưa thể khẳng định. Tôi là một
trường hợp như vậy! Khi tôi theo học với
thầy Lư, thầy Lư dạy tôi tu pháp môn Niệm Phật,
tuy tôi không hoài nghi, nhưng tôi trọn chẳng chấp nhận
hoàn toàn. Tôi nghĩ bụng: “Kinh giáo Đại Thừa nhiều
như vậy, dường như pháp môn này dành cho những
bà cụ già học!” Chúng tôi vẫn c̣n có một chút không cam
ḷng, không ưng chịu. T́m người thứ ba để
biểu diễn, khai thị lần nữa cho học tṛ thấy.
[Học tṛ] bèn suy nghĩ lại, thầy ḿnh cũng học
pháp này, tâm học tṛ bèn định lại. Đấy là mẹo
dạy học, là phương tiện thiện xảo vậy!
Tôi hoàn toàn tiếp nhận,
chịu chấp nhận pháp môn Niệm Phật là do giảng
kinh Hoa Nghiêm. Từ năm Dân Quốc 60 (1971), tôi bắt
đầu giảng bộ kinh này, lúc giảng, lúc ngừng
suốt mười bảy năm, kinh Hoa Nghiêm giảng
được một nửa, giảng Tứ Thập Hoa
Nghiêm cũng được một nửa, Bát Thập Hoa
Nghiêm cũng giảng được một nửa. Sau
đấy thường đi ra nước ngoài, kinh này bỏ
lửng, không giảng thêm nữa. Khi ấy, chưa có
băng ghi âm, những ǵ giảng ra cũng không lưu lại
được. Do vậy, lần này có máy thâu âm, giảng lại
một lượt, mong sẽ thâu lại thành bộ
băng hoàn chỉnh để mọi người tham khảo,
dụng ư hết sức sâu xa. Chúng ta xem đoạn kinh
văn tiếp theo. Đoạn trước là Thiện Tài
thấy tỳ-kheo Cát Tường Vân, đấy là Kiến.
(Kinh) Tức tiền văng nghệ,
đảnh lễ song túc, hữu nhiễu tam táp, hợp
chưởng nhi trụ.
(經)即 前 往 詣,頂
禮 雙 足,右 繞 三 匝,合 掌 而 住。
(Kinh: Liền tiến
tới trước, đảnh lễ dưới hai chân,
nhiễu theo chiều phải ba ṿng, rồi đứng chắp
tay).
Đây là đoạn thứ
hai, tức Kính. [Lời chú giải của đại sư
Thanh Lương cho] đoạn thứ hai như sau:
(Sớ) Minh thiết kính nghi,
trọng nhân pháp cố.
(疏)明 設 敬 儀。重
人 法 故。
(Sớ: Nêu rơ cách tỏ
bày ḷng cung kính v́ kính trọng người và pháp).
V́ sao tôn kính thầy? Do
tôn trọng vị ấy, tôn trọng pháp. Cho nên, trông thấy
[thiện tri thức] bèn vội tiến sang đó, thấy
mặt liền làm lễ. “Đảnh
lễ song túc”: Đối đăi với vị ấy giống
hệt như Phật. Sau đấy “hữu nhiễu tam táp”, đây là lễ tiết
tôn kính nhất ở Ấn Độ vào thời cổ. Sau
khi lạy ba lạy, lại c̣n nhiễu quanh ba ṿng. “Hợp chưởng nhi trụ”
(đứng chắp tay), Trụ là đứng ở một
chỗ nào đó. Phần kinh văn tiếp theo:
(Kinh) Bạch ngôn: - Thánh giả!
Ngă dĩ tiên phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
tâm.
(經)白 言,聖
者,我 已 先 發 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提 心。
(Kinh: Bạch rằng:
- Thưa thánh giả! Trước đây con đă phát tâm Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Đây là tiểu đoạn
thứ ba trong đoạn thứ hai.
(Sớ) Tứ vấn yếu
pháp.
(疏)諮 問 法 要。
(Sớ: Xin cho đệ
tử được hỏi pháp trọng yếu).
Hướng về vị
thiện tri thức thỉnh giáo. Đoạn này kinh văn
khá dài, lại phải chia ra thành các tiểu đoạn, cho
nên lại chia thành ba tiểu đoạn. Đây là đoạn
thứ nhất.
(Sớ) Tự
trần phát tâm, minh hữu pháp khí.
(疏)自 陳 發 心,明
有 法 器。
(Sớ:
Trần thuật [chính ḿnh] đă phát tâm, nói rơ ḿnh có đủ
tư cách để lănh nhận pháp).
Trước
hết, “bạch” là từ
ngữ tôn kính của kẻ dưới đối với
người trên. “Bạch ngôn”
(thưa rằng), chứ không thể nói: “Tôi bảo ông”. “Bảo
ông” là người trên nói với kẻ dưới. Đức
Phật nói với người khác, tức là Phật nói với
ai, đức Phật bảo ban người đó, chính là
người trên đối với kẻ dưới, nên
dùng chữ “cáo”. Kẻ
dưới đối với người trên th́ dùng chữ
“bạch”, đây là từ ngữ
tỏ vẻ tôn kính. “Thánh giả”
là tiếng để gọi tỳ-kheo Cát Tường Vân,
bởi vị tỳ-kheo ấy chẳng phải là tỳ-kheo
tầm thường, chẳng thể gọi vị tỳ-kheo
thông thường là “thánh giả”
được. Đây chính là ư nghĩa được chứa
đựng trong chữ “tỳ-kheo”,
ngụ ư vị ấy mới vượt thoát mười
pháp giới, đấy là ư nghĩa của chữ “xuất gia”: Mười pháp
giới là nhà, ra khỏi cái nhà ấy. Do vậy, các vị ấy
là đại thánh, đại Bồ Tát. Nói ḿnh trước
đấy đă từng phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tâm, tức là đă phát Bồ Đề
tâm. Nếu chẳng phát Bồ Đề tâm, Bồ Tát sẽ
chẳng dạy quư vị, Bồ Tát không có cách nào dạy quư
vị được! Quư vị đă từng phát ra cái tâm ấy,
chính ḿnh nói toạc ra: “Tôi có tư cách tu học pháp Đại
Thừa”. Cơ sở của pháp Đại Thừa là Bồ
Đề tâm, tôi đă phát Bồ Đề tâm rồi!
“Minh hữu pháp khí”, chữ “pháp khí” ở đây là nói tỷ
dụ. Giống như tôi khát, mong rằng quư vị sẽ
cho tôi nước. Cho tôi nước th́ tôi có chén đựng.
Cái chén ấy là “pháp khí”. Tôi
xách chén đến, tôi có chén đây, quư vị có thể cho
tôi, ư nghĩa là như vậy. Quư vị có thể truyền
pháp cho tôi, tôi là pháp khí, có tư cách để tiếp nhận.
Đây là một ư nghĩa. [Người đă] phát Bồ
Đề tâm th́ là pháp khí, câu này hết sức trọng yếu.
Lại xem tiếp:
(Kinh)
Nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? Vân hà
tu Bồ Tát hạnh? Vân hà khởi Bồ Tát hạnh? Vân hà
hành Bồ Tát hạnh? Năi chí vân hà ư Phổ Hiền Hạnh
tật đắc viên măn?
(經)而 未 知 菩 薩 云 何 學 菩 薩 行。云
何 修 菩 薩 行。云 何 起 菩 薩 行。云 何 行 菩 薩 行。乃 至 云 何於 普 賢 行 疾 得 圓 滿。
(Kinh:
Nhưng chưa biết Bồ
Tát học Bồ Tát hạnh như thế nào? Tu Bồ Tát hạnh
như thế nào? Hành Bồ Tát hạnh như thế nào? Cho
đến làm sao để hạnh Phổ Hiền mau
được viên măn?)
Đây là
tiểu đoạn thứ hai. Tiểu đoạn thứ
hai là:
(Sớ) Chánh
trần sở vấn.
(疏)正 陳 所 問。
(Sớ: Nêu thẳng câu hỏi).
Ngài nêu ra
những câu hỏi, những nghi vấn của chính ḿnh
để cầu xin thiện tri thức dạy bảo. “Con đă phát Bồ Đề
tâm, nhưng chẳng biết học Bồ Tát hạnh ra
sao?” “Học” là mong
được hiểu. Câu thứ hai “vân hà tu Bồ Tát hạnh”: Câu này nói về Hạnh.
Hai câu này là hai môn Giải và Hạnh, là tổng cương
lănh. Trong một chương trước, chúng tôi đă từng
nói rồi, trong chương trước có tổng cộng
mười ba câu hỏi. Ở chỗ này giản lược,
lẽ ra có đủ cả mười ba câu, nhưng bị
lược đi. Chúng ta xem Chú Giải, ư nghĩa này đă
được nói trong phần trước rồi. Trong chú
giải viết:
(Sớ)
Thứ.
(疏)次。
(Sớ:
Kế đến).
“Thứ” là đoạn thứ
hai, tức tiểu đoạn thứ hai.
(Sớ) Nhi “vị
tri” hạ.
(疏)而 未 知 下。
(Sớ:
Từ chữ “nhưng chưa biết” trở đi).
Đây là
nói về đoạn kinh văn này.
(Sớ)
Chánh trần sở vấn.
(疏)正 陳 所 問。
(Sớ:
Nêu thẳng câu hỏi).
Đây chính là phần
tŕnh bày những điều Thiện Tài muốn hỏi.
(Sớ) Hiển vị pháp lai.
(疏)顯 為 法 來。
(Sớ:Nêu rơ [chính ḿnh] v́ pháp mà đến).
Tỏ rơ Thiện Tài v́
pháp mà đến, chứ không v́ điều chi khác, v́ pháp mà
đến cầu thiện tri thức chỉ dạy.
(Sớ) Vấn trung lược giả.
(疏)問 中 略 者。
(Sớ: Lời hỏi ở đây
được [người phiên dịch] rút gọn).
Những điều
được hỏi ở đây chúng ta đă từng thấy
trong phần trước có tổng cộng mười ba
câu, nhưng ở đây chỉ có năm câu, nói rút gọn! “Rút gọn” không phải là do
nguyên văn rút gọn mà do người phiên dịch rút gọn,
chứ nguyên văn th́ có.
(Sớ) Nhược Thiện Tài lược,
hữu vân hà tri.
(疏)若 善 財 略,友
云 何 知。
(Sớ: Nếu Thiện Tài rút gọn
th́ thiện hữu làm sao biết được).
Nếu Thiện Tài chỉ
nói năm câu này th́ thiện hữu khai thị cho Ngài
cũng chỉ có năm điểm này, làm sao có thể giảng
viên măn cho được? Những lời giảng trong phần
sau rất viên măn; đối với cả mười ba
câu hỏi, đều giảng rất viên măn. Do đây có thể
biết: Ở chỗ này, [câu hỏi bị giản lược]
là do người phiên dịch rút gọn. Người phiên dịch
rút gọn cũng là có nguyên nhân, bởi lẽ, người
Hoa thích đơn giản. Ở đây, tôi nói về người
Hoa thuở xưa. Người Hoa thời cổ ngôn ngữ,
văn tự đều thích đơn giản, đều
chẳng thích nói rườm rà. Do vậy, họ thấy
trong kinh Phật có nhiều chỗ lặp đi lặp lại,
khi dịch kinh bèn rút gọn lại. V́ thế, câu tiếp
theo [trong lời chú giải] là:
(Sớ)
Hạ
hữu bất ưng biến điệp tiền vấn.
(疏)下 友 不 應 遍 牒 前 問。
(Sớ: Th́ vị thiện hữu kế
tiếp lẽ ra chẳng thể trả lời hoàn toàn khớp
với các câu hỏi trong phần trước).
“Biến điệp” là mỗi
một điều do Ngài (tức Thiện Tài đồng tử)
nói ra, tỳ-kheo Cát Tường Vân đều giải
đáp hết, cho thấy lời hỏi của Ngài là viên
măn, chứ không phải chỉ có năm câu, mà phải là
mười ba câu. Lại xem tiếp đoạn kinh văn
kế đó:
(Kinh) Ngă văn thánh giả thiện
năng dụ hối, duy nguyện từ ai, vị ngă tuyên
thuyết. Vân hà Bồ Tát tốc đắc thành tựu A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề?
(經)我 聞 聖 者 善 能 誘 誨。唯
願 慈 哀,為 我 宣 說,云 何 菩 薩 速 得 成 就 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提。
(Kinh: Con nghe thánh giả
có thể khéo khuyên dụ, dạy dỗ, xin Ngài xót
thương tuyên nói cho con: “Làm thế nào để Bồ
Tát mau được thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác?”)
Kinh
văn đến chỗ này là đă thuật xong lời thỉnh
giáo của Thiện Tài đồng tử đối với
thiện tri thức. Đây là tiểu đoạn thứ ba,
tiểu đoạn thứ ba là thỉnh giáo. Những chỗ
giống như thế này, chúng ta đều nên học tập.
Nếu chúng ta thân cận một vị thiện tri thức,
hướng về vị ấy thỉnh giáo, phải tỏ
ra lễ phép, lời lẽ phải có chừng mực, chẳng
thể bộp chộp suồng să nêu câu hỏi, một tí lễ
kính cũng không biết, người ta chẳng nói cho quư vị
đâu nhé! Nếu quư vị đối với mọi chuyện
đều biết lễ, biết giữ chừng mực,
người ta chẳng thể không giảng cho quư vị.
Người ta không giảng cho quư vị, sẽ thấy khó
xử, quư vị thật sự v́ pháp mà t́m đến! Vậy
th́ sau khi chính ḿnh đă nêu câu hỏi, lại phải khen ngợi
thiện tri thức, rồi mới thỉnh vị ấy
tuyên nói. Do vậy, “con nghe thánh
giả có thể khéo khuyên dụ, dạy dỗ”. Câu này
nhằm tán thán vị ấy. Lời chú giải giảng về
đoạn này như sau:
(Sớ)
Hậu.
(疏)後。
(Sớ: Sau đó).
Chữ “hậu” ở đây chỉ
tiểu đoạn thứ ba.
(Sớ)
“Ngă
văn thánh giả” hạ, thán đức thỉnh thuyết,
hy thùy bạt tế.
(疏)我 聞 聖 者 下,歎
德 請 說,希 垂 拔 濟。
(Sớ: Từ chữ “ngă văn thánh giả”
trở đi là khen ngợi đức, thỉnh nói ra, mong
[thiện tri thức] sẽ rủ ḷng cứu giúp).
Mong thiện
tri thức giúp đỡ Ngài. “Bạt”
là “bạt khổ” (dẹp
khổ), “tế” là “cứu tế” (cứu vớt).
Mong mỏi thiện hữu giúp đỡ, giúp cho Ngài phá mê
khai ngộ.
(Sớ)
Vị
hữu trí thiện năng, hữu từ vô lận, cố
ưng vị thuyết.
(疏)謂 有 智 善 能,有
慈 無 吝,故 應 為 說。
(Sớ: Ư nói vị ấy có trí huệ,
sẽ có năng lực hay khéo, có ḷng Từ nên không bỏn
xẻn, cho nên sẽ nói).
Thiện
hữu có trí huệ. Hễ vị ấy có trí huệ, đương
nhiên là sẽ có thiện xảo phương tiện, vị
ấy có thể ứng cơ thuyết pháp. Thiện hữu
lại có ḷng từ bi, có ḷng từ bi, cho nên chắc chắn
chẳng tiếc pháp, nhất định sẽ rất hoan
hỷ chỉ dạy. Do vậy, vị ấy nhất định
sẽ nói. Tiếp theo là phần giải thích về chữ
“dụ hối” (răn dạy).
(Sớ)
Dụ
vị dụ dụ, tức thị giáo thọ dĩ thành tiền
giải.
(疏)誘 謂 誘 喻,即
是 教 授 以 成 前 解。
(Sớ: Dụ có nghĩa khuyên dụ, tức là truyền dạy
cho thành tựu phần Giải như đă nói trong phần
trên).
Nếu
dùng cách nói hiện thời để giảng, chữ Dụ
(誘) này là phương tiện. Khuyên dụ
người ta, dùng các thứ phương tiện thiện
xảo để khuyên dụ, hướng dẫn người
ta, không nhất định phải là lời lẽ. Ngoài
ngôn từ ra, có thể nói là nhất cử, nhất động,
một lời nói, một nụ cười, đều có
công năng khuyên dụ, hướng dẫn. “Hối” (誨) là dạy dỗ.
(Sớ) Hối
vị hối thị, tức thị giáo giới dĩ thành
tiền hạnh.
(疏)誨 謂 誨 示,即
是 教 誡 以 成 前 行。
(Sớ: “Hối” là chỉ dạy, tức
là dạy răn để thành tựu được phần
Hạnh như đă nói trong phần trên).
“Dụ” là giúp cho người ấy
thấu hiểu, Hối là dạy người ấy làm
như thế nào, tu ra sao? Từ đây
trở đi thường gặp hai chữ này; bởi lẽ,
Thiện Tài đồng tử hễ gặp thiện
tri thức đều dùng cách tán thán như sau: “Con nghe thánh giả có thể khéo
khuyên nhủ, dạy dỗ”. Ư nghĩa đều giống
hệt.
(Sớ)
Tiền
tuy quảng vấn.
(疏)前 雖 廣 問。
(Sớ: Trong phần trước tuy lời
hỏi rộng răi).
Trong phần
trước có hỏi mười ba câu, những câu hỏi
này được rút gọn [trong kinh văn], đấy là
những câu hỏi rộng răi, nhưng trong câu kết thúc
cuối cùng [của lời hỏi]...
(Sớ)
Đản
chí nhân viên.
(疏)但 至 因 圓。
(Sớ: Chỉ nhằm đạt tới
tu nhân viên măn).
Chỉ nhằm
nêu câu hỏi tổng kết: Làm như thế nào sẽ khiến
cho Bồ Tát thành tựu Vô Thượng Bồ Đề rất
mau chóng? Đây là lời tổng kết.
(Sớ)
Thử
trung kết thỉnh, kỳ ư quả măn.
(疏)此 中 結 請,期
於 果 滿。
(Sớ: Câu tổng kết lời thỉnh
vấn ở đây nhằm mong viên măn quả).
Do đây
có thể biết: Thiện Tài cầu học chẳng phải
là đạt đến giai đoạn này bèn chấm dứt.
Không phải vậy! Ngài c̣n muốn đạt đến
viên măn rốt ráo, có vậy mới thỏa măn được
nguyện vọng của Ngài.
(Sớ)
Song
kết phát tâm vấn hành ư cố.
(疏)雙 結 發 心 問 行 意 故。
(Sớ: Kết thúc cả hai ư phát tâm và
hỏi về cách tu hành).
Trong
đoạn thỉnh giáo này, oai nghi, lời nói, lễ mạo
đều hết sức viên măn, chúng ta phải học tập
theo. Phần tiếp theo là tỳ-kheo Cát Tường Vân khai
thị cho Thiện Tài, trả lời những câu hỏi của
Ngài. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây.
Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh
Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm
Cát Tường Vân Tỳ Kheo
Chương
Phần 1 hết
[1] Phần kinh văn ở đây thuộc
bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm, tức bản kinh Hoa Nghiêm
được dịch vào niên hiệu Trinh Nguyên đời
Đường. Tứ Thập Hoa Nghiêm là bản kinh gồm
bốn mươi quyển, chỉ gồm một phẩm,
tức phẩm Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh
Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm
(tương ứng với phẩm Nhập Pháp Giới
trong Bát Thập Hoa Nghiêm nhưng chi tiết hơn, phẩm
Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong Tịnh Độ
Ngũ Kinh chỉ là quyển cuối, tức quyển 40 của
Tứ Thập Hoa Nghiêm). Khi quốc vương Ô Trà dâng bản
Tứ Thập Hoa Nghiêm, đại sư Thanh Lương
tham dự dịch trường và Ngài đă viết riêng một
bản sớ giải cho bản này, đặt tựa
đề Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Sớ, c̣n gọi
là Trinh Nguyên Hoa Nghiêm Kinh Sớ để phân biệt với
bản Hoa Nghiêm Kinh Sớ viết trước đó dành cho
bộ Bát Thập Hoa Nghiêm. Tỳ-kheo Cát Tường Vân
chính là tỳ-kheo Đức Vân trong bộ Bát Thập Hoa
Nghiêm.
[2] Chữ “hội”
ở đây chỉ cho một lần gặp gỡ thiện
tri thức, nghe dạy dỗ. Chẳng hạn, Thiện Tài
từ Phước Thành đến gặp Văn Thù Bồ
Tát cùng sáu ngàn vị tỳ-kheo do Ngài giáo hóa, được
nghe giảng về pháp Thập Tín; chú giải gọi phần
kinh văn đó là Thập Tín Hội, hoặc Văn Thù Hội.
Tới khi Thiện Tài gặp ngài Cát Tường Vân th́ gọi
là Cát Tường Vân Hội, hoặc Sơ Trụ Hội.
[3] Căn Bản Trí (Mūlajñāna), c̣n gọi là Căn Bản Vô Phân Biệt Trí, Như Lư Trí hay Thật Trí, chính là cội gốc của các trí, nó có thể khế nhập diệu lư Chân Như, b́nh đẳng như thật, không sai biệt, xa ĺa các thứ hiểu biết do t́m cầu, suy lường. Đây chính là bản thể thật sự của chân trí.
[4] Lục Quần Tỳ Kheo chỉ sáu tỳ-kheo ác kết thành bè đảng, không giữ luật nghi, làm nhiều chuyện ác. Đa số những giới luật do Phật chế ra là v́ các tỳ-kheo này vi phạm. Theo Tứ Phần Luật, quyển hai mươi hai, sáu vị tỳ-kheo ấy tên là Nan Đà (Nanda), Bạt Nan Đà (Upananda), Ca Lưu Đà Di (Kālodāyin), Xiển Na (Chanda, c̣n phiên âm là Xa Nặc), A Thuyết Na (Aśvaka, c̣n phiên là A Thấp Bà), Phất Na Bạt (Punarvasu).
[5] Năng là chủ thể, Sở là đối
tượng thụ động. Ở đây, Năng là
người dạy, Sở là người học.
[6] Sanh Tướng Vô Minh (Mulavidya), c̣n gọi là Vô Thủy Vô Minh, Nguyên Phẩm Vô Minh hoặc Căn Bản Vô Minh, là căn bản của hết thảy phiền năo, tức là cái tâm c̣n mê chưa hoàn toàn giác ngộ, là một ư niệm khởi lên trước hết trong biển Chân Như. Do chưa thấu hiểu lư b́nh đẳng của pháp giới, lầm lạc ngăn cách với lư tánh b́nh đẳng, nên gọi là Vô Minh. Y theo Vô Minh ấy, lầm lạc sanh khởi đủ mọi phiền năo, tạo đủ mọi nghiệp, chịu đủ mọi quả báo nên gọi là Sanh Tướng.
[7] Để minh họa cho ư này, chúng tôi xin
trích đoạn kinh văn nói về sự suy gẫm của
Thiện Tài đồng tử khi giă từ tỳ-kheo Cát
Tường Vân để đến chỗ tỳ-kheo Hải
Vân (dẫn theo bản dịch Bát Thập Hoa Nghiêm của
Ḥa Thượng Trí Tịnh): “Thiện
Tài đồng tử nhất tâm suy gẫm lời dạy của
thiện tri thức, chánh niệm quán sát trí huệ quang minh
môn, Bồ Tát giải thoát môn, Bồ Tát tam-muội môn, Bồ
Tát đại hải môn, chư Phật hiện tiền
môn, chư Phật phương sở môn, chư Phật quỹ
tắc môn, chư Phật đẳng hư không giới
môn, chư Phật xuất hiện thứ đệ môn,
chư Phật sở nhập Pháp Thân môn”. Đoạn này
được đại sư Thanh Lương gọi là “niệm tiền hữu giáo”.