Tứ Thập Hoa
Nghiêm Kinh
Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm
Cát Tường Vân Tỳ
Kheo Chương
四十華嚴經
普賢行品
吉詳雲比丘章
Phần 3
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Địa điểm: Cảnh Mỹ
Hoa Tạng Đồ Thư Quán, Đài Loan, năm 1993
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang
Tập thứ năm (
Xin
mở quyển kinh, trang thứ mười hai, ḍng cuối
cùng, xem từ ḍng cuối cùng trở đi.
(Sớ) Nhược ước biểu
vị, thử trung chánh thị Phát Tâm Trụ thể. Dĩ
bổn giải tánh văn huân chi lực, linh khai phát cố,
danh quyết định giải.
(疏)若 約 表 位,此
中 正 是 發 心 住 體。以 本
解 性 聞 薰 之 力,令 開 發
故,名 決 定 解。
(Sớ: Nếu căn
cứ theo sự biểu thị địa vị [để
luận định] th́ chỗ này chỉ thẳng vào cái Thể
của địa vị Phát Tâm Trụ. Dùng sức Văn Huân
của tánh hiểu biết sẵn có để khiến cho
khai ngộ, phát tâm, nên gọi là “quyết định giải”).
Hôm qua v́
thời gian bó buộc, câu này chỉ giảng được
một nửa. Đây là câu thứ hai trong bốn câu. Dùng “trí quang chiếu diệu” (ánh
sáng trí huệ rực sáng) để giải thích ư nghĩa
của câu “quyết định
giải” trong phần trước. Đoạn cuối
cùng, nếu luận về sự biểu thị pháp; “nhược ước biểu
vị”, Nhược (若) là giả thiết (ví như), ví như
dùng sự biểu thị pháp để nói. “Vị” là năm mươi mốt địa vị
của bậc Bồ Tát, tỳ-kheo Cát Tường Vân là
đại biểu cho địa vị Sơ Trụ, tức
bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, Ngài đại
diện cho địa vị này. “Thử
trung chánh thị Phát Tâm Trụ thể”, câu này nhằm nói
tới “trí quang chiếu diệu”,
trí Quyết Định Giải chính là thể tướng
của [địa vị] Phát Tâm Trụ (Sơ Trụ). “Phát tâm” chính là phát Bồ Đề
tâm. Nếu không có trí huệ chân thật, sẽ không thể
khởi Bồ Đề tâm được! V́ thế, chỉ
cần Bồ Đề tâm thật sự phát khởi,
người ấy sẽ là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên
Giáo, trí huệ sẽ thấu lộ ra.
Hai câu kế
tiếp là để giải thích. “Dĩ bổn giải tánh”, “bổn giải” chính
là “trí quyết định giải”
đă nói trong phần trước. “Giải” là thấu hiểu điều ǵ? Nói
sơ sài, cạn cợt nhất, sẽ là chân tướng
của vũ trụ, nhân sinh, vị ấy đều hiểu
rơ, đều hiểu rành, một mảy may nghi hoặc
cũng không có. Đấy gọi là “quyết định giải”. Đấy là trí huệ
chân thật. Do trí huệ ấy hiện tiền, nên là
Sơ Trụ Bồ Tát. Do vậy, “dùng sức Văn Huân của tánh hiểu biết sẵn
có để khiến cho [Bồ Đề tâm] được
mở mang, phát khởi”, câu “bổn
giải tánh” (tánh hiểu biết sẵn có) rất ư vị.
Do đây, biết rằng: Trí huệ chẳng phải là từ
bên ngoài tới. Nếu do từ bên ngoài tới, sẽ chẳng
có năng lực ấy. “Bổn”
là vốn đă có sẵn, đă sẵn trọn đủ
trong tự tánh của chúng ta. Vốn sẵn trọn đủ,
v́ sao năng lực ấy chẳng hiện tiền nơi
chúng ta? Đấy là vấn đề của Văn Huân.
Chúng ta văn huân (huân tập do nghe pháp) không đủ, công phu Văn Huân chưa đến
mức. V́ thế, “bổn giải
tánh” chẳng tỏ lộ ra, cũng có nghĩa là trí huệ,
đức năng vốn sẵn có trong bổn tánh chẳng
thể hiện tiền. Nếu muốn cho nó được
hiện tiền, “hiện tiền”
là khởi tác dụng, nhất định phải dựa
vào Văn Huân. Văn là nghe pháp, Huân là huân tập. Chẳng
những chỉ gồm Văn (nghe), mà c̣n phải bao gồm
Tư, Tu, tức là Bồ Tát phải học Tam Huệ
Văn - Tư - Tu.
“Văn” là tiếp xúc, đối
với người mới học, nghe pháp hết sức
trọng yếu. Nếu như Văn Huân không trọng yếu
như thế, quư vị hăy suy nghĩ xem, lúc đức Thế
Tôn tại thế, cần ǵ đức Phật phải giảng
kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm? V́
sao chẳng lập Niệm Phật Đường, dạy
chúng ta thật thà niệm Phật? Hay lập Thiền
Đường dạy chúng ta tu Thiền thất? Từ
Đại Tạng Kinh, chúng ta thấy: Suốt một
đời, đức Thế Tôn không làm những chuyện
ấy. Mỗi ngày, Ngài giảng kinh thuyết pháp cho đại
chúng, nhưng trong số các đệ tử, chúng ta biết
Thường Tùy Chúng là hai ngàn năm trăm năm
mươi lăm vị. Những vị ấy chẳng rời
khỏi Phật, đức Phật đi đến
đâu, họ liền theo đến đó. Nói cách khác, mỗi
vị đều nghe kinh suốt mấy chục năm.
Ngày ngày nghe, nghe suốt mấy chục năm, Văn Huân
đấy! Cũng có người trong số quư vị
nghĩ họ có phước báo như thế, hằng ngày
được nghe pháp từ nơi Phật, chúng ta không có
phước. Thật ra, phước báo của con người
chúng ta hiện thời chẳng kém phước báo của
người thời ấy, có thể nói là c̣n lớn
hơn họ nữa kia!
Trước
kia, không có máy thâu âm, không có máy thâu h́nh, nghe một lượt
xong, không có cơ hội nghe lần thứ hai nữa. Suốt
một đời Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, thuyết
pháp, trừ Vô Lượng Thọ kinh ra, chưa hề giảng
[kinh nào] hai lần. V́ thế, Văn Huân đắc lực
thật sự là chuyện rất khó. Do vậy, họ nghe
quá nhiều, trọn chẳng chuyên nhất, hiệu quả
đắc lực kém hơn rất nhiều. Hiện thời,
chúng ta có công cụ khoa học, nếu ưa thích Hoa Nghiêm, mỗi
ngày quư vị nghe kinh Hoa Nghiêm. Quư vị nghe trên mười
năm hay tám năm, thâm nhập một môn so với những
vị theo Thích Ca Mâu Ni Phật suốt bốn mươi
chín năm, hiệu quả c̣n thù thắng hơn nhiều! Nếu
quư vị hỏi v́ sao ư? Những vị ấy đă nghe
nhiều quá, c̣n quư vị th́ chuyên ṛng một bộ. Nếu
quư vị nghe Vô Lượng Thọ Kinh, nghe Di Đà Kinh,
nghe hai trăm lượt, ba trăm lượt, sức
Văn Huân chẳng thể nghĩ bàn. Vấn đề là
chúng ta có làm được hay không? Có hiểu đạo lư
ấy hay không? Có chịu làm như thế hay không? Kinh Di
Đà gọi đó là “thiện
căn, phước báo, nhân duyên”.
Thiện
căn là hiểu rơ đạo lư này. Thông đạt hiểu
rơ là thiện căn, thật sự phát tâm là phước
đức, “duyên” là cơ hội.
Giống như trong ngôi đạo tràng nhỏ của chúng
ta hiện thời, mỗi ngày mở cửa cho mọi
người niệm Phật tại đây, trong hai
mươi bốn tiếng chẳng ngưng nghỉ. Đấy
là duyên, là cơ hội. Có cơ hội
để mọi người niệm Phật tại
đây, có cơ hội để mọi người hằng
ngày nghe kinh tại đây; đấy là nhân duyên. Thiện
căn, phước đức, nhân duyên, ba điều kiện
đều đầy đủ, đấy là đại
phước báo! Phước báo thù thắng khôn sánh! Quư vị
muốn thành tựu, không có lư nào chẳng thành tựu. Kinh
giảng đến chỗ này, đại sư Thanh
Lương dạy chúng ta: Vị Bồ Tát ấy chứng
được địa vị Sơ Trụ là nhờ sức
Văn Huân.
“Linh khai phát cố”: Chữ “khai phát” này là từ ngữ
dùng trong nhà Thiền. Trong Thiền Tông thường nói là “minh tâm kiến tánh, khai ngộ”.
“Khai” là khai ngộ, “phát” là phát tâm. Hễ khai ngộ,
sẽ phát Vô Thượng Bồ Đề tâm. A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm; đấy là nhập
địa vị Sơ Trụ. Ư nghĩa này được
gọi là “quyết định
giải”. Do vậy, dùng từ ngữ “trí quang chiếu diệu” để giải thích
chữ “quyết định giải”.
(Sớ) Tam,
phổ nhăn minh triệt giả,
(疏)三 普 眼 明
徹 者。
(Sớ:
Ba, phổ nhăn minh triệt).
Đây là
câu giải thích.
(Sớ) Thích
quán cảnh tự tại nghĩa, vô cảnh bất quán, cố
vân phổ nhăn.
(疏)釋 觀 境 自
在 義。無 境 不 觀,故 云
普 眼。
(Sớ:
Giải thích ư nghĩa “quán cảnh tự tại”, không cảnh
nào chẳng quán, nên gọi là “phổ nhăn”)
“Phổ” là phổ biến,
trong ấy có những ư nghĩa thanh tịnh, b́nh đẳng.
Nếu như tâm không thanh tịnh, tâm chẳng b́nh đẳng,
sẽ chẳng thể phổ biến được. Do vậy,
tựa đề của phẩm kinh này là Phổ Hiền Bồ
Tát, chữ Phổ này bao hàm những ư nghĩa thanh tịnh
và b́nh đẳng một cách viên măn. “Vô cảnh bất quán”, cảnh giới thù thắng
của chư Phật Như Lai là Nhất Chân pháp giới.
Thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật, thế
giới Cực Lạc của A Di Đà Phật đều
là Nhất Chân pháp giới. Từ Nhất Chân pháp giới trở
xuống có mười pháp giới, trong hết thảy các
cơi Phật đều có mười pháp giới. Các vị
Bồ Tát thuộc địa vị này có năng lực phổ
quán, không cảnh nào chẳng quán. Như trong phần trước
đă nói, vị ấy muốn thấy cảnh giới nào,
cảnh giới ấy liền hiện tiền; chẳng muốn
thấy th́ thế giới ấy sẽ không hiện nữa.
Trong phần trên, tôi đă nói: Ví như chúng ta coi TV, muốn
coi đài nào th́ vặn sang băng tần (channel) ấy, màn
h́nh liền hiện ra. Ở nơi đây, chúng ta muốn
chọn một đài nào th́ phải vặn sang băng tần
ấy, c̣n các Ngài chẳng cần, chẳng mất công như
thế, khởi tâm động niệm, cảnh giới liền
hiện tiền. Dưới đây, [ngài Thanh Lương]
nêu một thí dụ, trong mười pháp giới nêu ra một
thí dụ, lấy Phật [để dẫn chứng].
(Sớ)
Dĩ
như vi Phật, vô pháp bất như.
(疏)以 如 為 佛,無 法
不 如。
(Sớ:
Bởi Như là Phật, không pháp nào chẳng như)
“Như” là Chân Như, là tự
tánh. Bản tánh của Chân Như có thể hiện, có thể
biến. Hết thảy các cảnh giới đều
được biến. Nếu nói theo Phật pháp giới,
“không pháp nào chẳng như”.
(Sớ) Tắc
vô phi Phật hỹ.
(疏)則 無 非 佛
矣。
(Sớ:
Cho nên không ǵ chẳng phải là Phật vậy)
Chính là
như kinh Hoa Nghiêm đă dạy: “Một
tức hết thảy, hết thảy chính là một”.
Đây là Phổ Nhăn. Nhập Phật pháp giới th́ có pháp
nào chẳng phải là Phật? Pháp nào cũng đều là
Phật. V́ thế, cổ đại đức bảo
chúng ta, nếu mỗi người chúng ta thành Phật, th́
khi người ấy thành Phật, sẽ thấy tận
hư không, trọn pháp giới, hữu t́nh lẫn vô t́nh
đều là Phật. Lời này cũng được nói
trong kinh Hoa Nghiêm: “T́nh dữ vô
t́nh, đồng viên Chủng Trí” (Hữu t́nh lẫn vô
t́nh đều cùng viên măn Chủng Trí). Chủng Trí là Nhất
Thiết Chủng Trí, tức là điều đă được
chứng đắc bởi Như Lai. “Viên” là viên măn. Hữu
t́nh và vô t́nh cùng viên măn Nhất Thiết Chủng Trí, đấy
là thành Phật. Nếu bảo “coi
Như là Bồ Tát, th́ không pháp nào chẳng phải là Bồ
Tát” th́ hết thảy pháp t́nh và vô t́nh đều là Bồ
Tát! Nói thật ra, đây cũng là quan niệm, trong ṿng một
niệm! V́ sao chúng ta không có cảnh giới ấy? Khi sáu
căn của chúng ta tiếp xúc với cảnh giới sáu
trần bên ngoài, liền phân biệt, chấp trước, khởi
vọng tưởng, khởi chấp trước. Do vậy,
ư niệm hết sức hỗn loạn.
Chư Phật,
Bồ Tát ư niệm rất thanh tịnh; do thanh tịnh nên cảnh
giới được hiện chỉ là một cảnh giới.
Nếu quán thấy cảnh giới ấy là do Phật hiện
th́ là cảnh giới Phật, quán thấy cảnh giới ấy
là do Bồ Tát hiện th́ là cảnh giới Bồ Tát. Các Ngài
hiện một cảnh giới, nhưng nay chúng ta thấy
sắc, nghe tiếng, cảnh giới ấy lộn xộn,
lung tung. V́ sao có hiện tượng ấy? Chứng tỏ
tâm tư quư vị rất loạn, tâm quư vị không thanh tịnh,
chẳng phải là do cảnh giới bên ngoài gây loạn, mà
do là chính cái tâm của quư vị loạn. Đấy là
như kinh luận Đại Thừa thường bảo:
“Tướng tùy tâm chuyển”
(Tướng chuyển biến theo tâm). Do vậy Như,
Như là bản tánh Chân Như, là chân tâm. Nếu chân tâm của
quư vị là Phật, sẽ thấy tất cả cảnh
giới đều là Phật. Nếu tâm
quư vị là tâm của Bồ Tát, sẽ thấy hết thảy cảnh
giới đều là Bồ Tát. Hiện thời, tâm chúng ta
thứ ǵ cũng đều trật; do vậy, thấy hết
thảy pháp loạn xạ, lung tung. Đạo lư là như vậy
đó.
Xă hội
phức tạp như thế, xă hội hỗn loạn
như thế, chúng ta điều chỉnh bằng cách nào? Người
biết điều chỉnh, sẽ điều chỉnh từ
tự tánh, sao quư vị lại điều chỉnh từ
bên ngoài? Chẳng thể được! Thưa với quư
vị, đó gọi là “cầu
pháp ở ngoài tâm”, chẳng thể điều chỉnh
được! Cách điều chỉnh ra sao? Điều
chỉnh từ nơi tự tánh. Quư vị điều chỉnh
tự tánh, cảnh giới bên ngoài sẽ tự nhiên chuyển
biến theo. Nhất định phải tin chư Phật,
Bồ Tát là những vị đă từng trải, những
ǵ các Ngài đă nói chính là tường thuật kinh nghiệm.
Đấy là “tâm có thể chuyển
cảnh”; muôn phần chớ để cho tâm bị cảnh
chuyển. Tâm bị cảnh chuyển là hỏng rồi! Cảnh
giới đă phức tạp như thế, tâm chúng ta thuận
theo cảnh giới, sẽ càng phức tạp thêm, vọng
niệm càng nhiều hơn. Phân biệt, chấp trước
càng lúc càng nhiều, cảnh giới bên ngoài càng ngày càng
nghiêm trọng, [đâm ra] chỉ chú trọng phát triển
nơi phương diện phụ, chẳng thể chú trọng
phát triển nơi phương diện chánh! Nếu muốn
đem phương diện phụ quy về phương diện
chánh, phải hoàn toàn dốc sức nơi tâm địa. Có
như vậy th́ mới có thể tự cứu ḿnh, cứu
chúng sanh, mới có thể biến đổi xă hội thành
tốt đẹp hơn, thanh tịnh hóa ḷng người.
Lại xem tiếp câu thứ ba.
(Sớ) Dĩ giác vi Phật, vô tâm phi
giác, tâm giai Phật hỹ.
(疏)以 覺 為 佛,無 心
非 覺,心 皆 佛 矣。
(Sớ: Coi giác là
Phật, không tâm nào chẳng phải là giác, tâm đều là
Phật vậy)
Chữ “Phật” này là phiên âm tiếng Phạn, có ư
nghĩa là Giác. Nếu “coi Giác là Phật” th́ sao? “Không tâm nào chẳng phải là
giác”. Sáu căn đối với sáu thứ cảnh giới,
không có ǵ chẳng phải là giác, giác chính là Phật. V́ vậy,
“tâm đều là Phật”. Chúng
ta thường gọi điều này là “Phật tâm”, trong Pháp Tướng tông nói “chuyển Thức thành Trí”
chính là ư nghĩa này. Chuyển A Lại Da thành Đại
Viên Kính Trí, chuyển Mạt Na Thức thành B́nh Đẳng
Tánh Trí, chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí,
chuyển năm Thức trước thành Thành Sở Tác Trí.
Đấy chính là “không tâm nào chẳng
phải là giác, tâm đều là Phật vậy”. Đó gọi
là Tứ Trí Bồ Đề. Mấy câu tiếp theo đó hết
sức trọng yếu. Nếu chúng ta muốn học, muốn
dụng công, phải nhớ kỹ nguyên tắc này.
(Sớ) Dĩ hư tâm chi giác,
khế duy như chi cảnh.
(疏)以 虛 心 之 覺, 契
唯 如 之 境。
(Sớ: Dùng sự
giác ngộ bởi cái tâm rỗng rang để khế nhập
cảnh chỉ là Như).
Hai câu này là cương
lănh, là nguyên tắc tu hành trọng yếu. Do vậy, tâm phải
trống, phải rỗng, trong tâm chẳng thể chứa thứ
ǵ. Trong tâm vẫn c̣n có những vật ǵ th́ sẽ mê, trong
tâm không có ǵ th́ là giác. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ
Tát đă giảng cho chúng ta biết: “Bổn giác bổn hữu” (Bổn giác vốn sẵn
có). Ngài lại dạy chúng ta: “Bất
giác bổn vô” (Bất giác vốn không có). Giác vốn là
có, v́ sao nay chúng ta không có cái giác tâm ấy? Là v́ tâm quư vị
không rỗng rang, tâm quư vị có thứ này, thứ nọ, cho
nên tự tánh giác của quư vị bị chướng ngại.
Thưa quư vị, chẳng phải là người khác gây trở
ngại cho quư vị, mà chính quư vị tự chướng
ngại ḿnh! Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước của chính quư vị đă chướng ngại
tự tánh giác. Tự tánh Giác là Phật, tự tánh Chánh là Pháp,
tự tánh Tịnh là Tăng, gọi là Tự Tánh Tam Bảo.
Bởi tâm quư vị có thứ này thứ nọ, nên Tự Tánh
Tam Bảo của quư vị chẳng thể hiện tiền.
Sơ Trụ Bồ Tát
đạt được tâm rỗng rang, đoạn
được Kiến Tư phiền năo. Kiến Tư phiền
năo là chấp trước, Trần Sa phiền năo cũng
đoạn. Trần Sa phiền năo là phân biệt. Trong hết
thảy pháp, Ngài cũng chẳng khởi phân biệt, chẳng
c̣n chấp trước, phân biệt; vĩnh viễn không có
chấp trước. Vô minh cũng phá được một
phẩm, tâm Ngài rỗng rang, tâm trống không. Do rỗng
không, cho nên “linh” (靈), [thường được gọi bằng danh từ]
“không linh” (giác tánh rỗng
rang). “Linh” là ǵ? Linh là giác, tự
tánh giác hiện tiền. Giác tánh hiện tiền, sẽ khế
hợp cảnh “duy Như”
(chỉ có Như), tức là ngoài Như ra, tất cả những
cảnh giới đều không có! Như là ǵ? Như là Chân
Như. Pháp nào cũng đều là Như, không có pháp nào chẳng
như, đây là cảnh giới chứng đắc bởi
chư Phật Như Lai, không có một pháp nào chẳng
như. Phải hiểu ư nghĩa này! Cổ nhân có một tỷ
dụ. Cổ nhân dùng vàng ṛng [làm tỷ dụ], tức là
nói “dùng vàng làm đồ vật,
món nào cũng đều là vàng”, tỷ dụ này dễ
hiểu. Các Ngài đem vàng ví với Như, đem pháp ví với
các món vật, “không pháp nào chẳng
phải là Như” chính là món vật nào cũng đều
là vàng. Trong tâm ắt phải rỗng không, tách ĺa hết thảy
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tự
tánh giác sẽ hiện tiền. Sau đấy mới [thấy
thấu suốt] pháp thế gian lẫn xuất thế gian
trong tận hư không, trọn pháp giới, không có một
pháp nào chẳng Như.
(Sớ) Tắc bất động
pháp giới, cùng hồ tịch chiếu chi nguyên.
(疏)則 不 動 法 界,窮
乎 寂 照 之 原。
(Sớ: Chính là pháp
giới bất động, tột cùng nguồn tịch chiếu).
Nay chúng ta thấy cảnh
giới bên ngoài là động, các Ngài thấy cảnh giới
bên ngoài bất động. Đấy là đạo lư ǵ vậy?
Vẫn là như phần trước đă nói, “cảnh chuyển theo tâm”. Tâm các
Ngài chẳng động, v́ thế, thấy cảnh giới
bên ngoài là bất động. Tâm chúng ta động, một
niệm diệt, niệm sau sẽ sanh, sanh diệt, diệt
sanh với tốc độ nhanh chóng [đến nỗi]
phàm phu chúng ta chẳng thể tưởng tượng
được. V́ thế, tâm của phàm phu là vọng tâm, vọng
tâm là tâm bị động, chân tâm là bất động. Chân
tâm là tướng tĩnh, tịch tĩnh; vọng tâm là vọng
động. Do tâm động, nên trông thấy tướng
cảnh giới bên ngoài đều là động, đều
là sanh diệt. Bồ Tát vào trong cảnh giới này, tâm bất
động, do vậy, thấy hết thảy vạn pháp
đều là tướng tịch diệt, hiển thị “pháp giới bất động tột
cùng nguồn tịch chiếu”. Tịch là Thể, Chiếu
là Dụng, Tịch là thanh tịnh tâm, Chiếu chính là “trí quang chiếu diệu” như
đă nói trong phần trước. Tâm thanh tịnh khởi
tác dụng chính là “trí quang chiếu
diệu”. Tiếp theo đây, [đại sư] nói về
nhập cảnh giới. Cảnh giới đẹp đẽ,
cảnh giới tốt lành không có ǵ ḥng sánh bằng
được.
(Sớ) Tắc tâm cảnh giai
Phật, Năng, Sở câu mẫn
(疏)則 心 境 皆 佛,能
所 俱 泯。
(Sớ: Tâm lẫn
cảnh đều là Phật, Năng và Sở đều diệt
mất).
Nếu có Năng, có Sở,
th́ vẫn là hai thứ. Đến khi ấy, Năng và Sở
dung hợp thành một khối; trong ấy, không có giới
hạn, trong tâm và cảnh không có giới hạn. Trong phần
sau cuốn Niệm Phật Luận của đại
sư Đàm Hư, chúng tôi có đính kèm những lời Ngài
khai thị trong Phật Thất. Trong ấy, Ngài có kể một
câu chuyện. Trước kia, Ngài dạy học tại chùa
Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân, miền Đông Bắc. Nơi
ấy không có người xuất gia, thầy giáo, học
tṛ đều là người tại gia. Ngài thỉnh một
vị họ Trương, tức Trương tiên sinh làm hiệu
trưởng. Trương tiên sinh cũng niệm Phật rất
siêng. Có một ngày, ông ta hỏi lăo ḥa thượng: “Con niệm
Phật có nghi hoặc”. Lăo ḥa thượng hỏi ông ta:
“Ông nghi hoặc điều ǵ?” Ông ta thưa: “Con thấy
trong kinh nói: ‘Duy tâm Tịnh
Độ, tự tánh Di Đà’ – ông ta nói – Duy tâm Tịnh
Độ th́ tâm ta là Tịnh Độ, con c̣n phải cầu
sanh Tịnh Độ làm ǵ? Tự tánh của ta là Di Đà,
sao con c̣n phải niệm Di Đà?” Lăo ḥa thượng nghe
xong gật đầu: “Ông hỏi rất có lư!” Nếu không
giải quyết nghi vấn ấy th́ ông ta niệm Phật
sẽ bị chướng ngại, ông ta không niệm nữa.
Lăo ḥa thượng có
trí huệ, hỏi ngược lại ông ta: “Giới hạn giữa tự tánh
Di Đà và đức Di Đà ở Tây Phương là ở
chỗ nào? Biên giới ở chỗ nào? Giới hạn giữa
duy tâm Tịnh Độ của ông và Tây Phương Tịnh
Độ lại ở chỗ nào?” Câu hỏi ấy rất
hay! Vị hiệu trưởng ấy rốt cuộc là
người có học, cũng rất thông minh, có ngộ
tánh đôi chút, ông ta nghĩ rất lâu, thưa: “Không có biên
giới!” Không có biên giới th́ Năng lẫn Sở đều
mất. Đúng quá! Không có biên giới, niệm A Di Đà Phật
là niệm tự tánh Di Đà, cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ là cầu sanh về duy tâm Tịnh Độ, tín
tâm của quư vị mới định được, quư
vị quyết định nắm chắc văng sanh, v́ sao vậy?
Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ là của ta, sao
ta không thể văng sanh? Quư vị nói xem, quư vị dựa vào
đâu mà có thể văng sanh? Dựa vào đấy! V́ thế,
sau khi thấu triệt đạo lư, quư vị kiên định
tín nguyện, tuyệt đối chẳng bị dao động,
chẳng hoài nghi: “Phật cao chót vót, làm sao
ta vói tới?” Không có ư niệm ấy, tự tánh Di
Đà mà! Nhưng nếu không giải quyết được,
nghi vấn ấy sẽ biến thành chướng ngại;
quư vị suốt đời niệm Phật, vẫn chẳng
có cơ hội văng sanh. Khi vấn đề được
giải quyết, tín nguyện liền kiên định. Sau
này, Trương hiệu trưởng văng sanh, biết
trước lúc mất, thật sự chẳng thể
nghĩ bàn!
(Sớ)
Năng Sở câu mẫn, khởi phi phổ tai?
(疏)能 所 俱 泯,豈
非 普 哉。
(Sớ:
Năng lẫn Sở
đều mất, há chẳng phải là Phổ ư?)
Đây
chính là ư nghĩa của chữ Phổ. Có Năng, có Sở
th́ c̣n là Phổ được sao? Bất luận cảnh
giới sâu đến đâu, rộng đến mấy, vẫn
chẳng thể cự lại được chữ Phổ
này, ắt biên giới ấy phải tiêu tan. V́ thế, “vàng tức là đồ vật,
đồ vật tức là vàng”, không có biên giới.
(Sớ)
Như thử chân nhăn, phương vi minh triệt.
(疏)如 此 真 眼,方
為 明 徹。
(Sớ:
Chân nhăn như thế th́ mới là sáng suốt, thấu
triệt)
Mắt
thấy chân tướng của vũ trụ nhân sinh mới
gọi là Minh, mới gọi là Triệt. Minh là hiểu rơ,
Triệt là rốt ráo triệt để, là sở đắc
của Bồ Tát. Điều cuối cùng là:
(Sớ)
Cụ thanh tịnh hạnh.
(疏)具 清 淨 行。
(Sớ:
Đầy đủ hạnh thanh tịnh).
Câu này nhằm
giải thích ư nghĩa của chữ Lực trong phần
trước.
(Sớ)
Phi duy tịnh tín, nhược Trầm, nhược Cử,
chư Cái, chư Thủ, chư tam-muội chướng,
giai tất bất sanh. Cố vân thanh tịnh.
(疏)非 唯 淨 信。若
沈 若 舉,諸 蓋 諸 取,諸
三 昧 障,皆 悉 不 生。故
云 清 淨。
(Sớ:
Chẳng phải chỉ
là tịnh tín, dù hôn trầm hay trạo cử, các Cái, các Thủ,
các tam-muội chướng đều chẳng sanh. Cho nên gọi
là “thanh tịnh”).
Trước
hết, giảng đại lược ư nghĩa của
hai chữ này. “Trầm” là
hôn trầm, tinh thần không khởi lên được. Đặc
biệt là khi niệm Phật, niệm Phật vào lúc nào? Khi
chỉ tịnh, tức là khi quư vị ngồi xuống, chúng
ta thường nhận thấy cũng có lắm khi chúng ta
vừa ngồi xuống chưa được mấy phút là
đă gật gù rồi. Đấy là hôn trầm, mệt mỏi,
tinh thần không phấn chấn được. “Cử” là trạo cử (lao
chao), là hiện tượng hoàn toàn trái ngược với
hôn trầm. Người ta vừa ngồi xuống, trong tâm
ư niệm, vọng tưởng này tiếp nối vọng
tưởng kia, có nhiều sức ép không đè nén
được, gọi là “vọng tưởng tơi bời”,
gọi là “trạo cử”. Hai
hiện tượng này hoàn toàn bất đồng, khi chúng
ta dụng công, bất luận chúng ta tu hành pháp môn nào, hai thứ
ấy đều là chướng ngại, nhưng gần
như mỗi cá nhân đều gặp phải chướng
ngại này. V́ thế, gặp phải t́nh h́nh ấy đừng
sợ, đừng nghĩ “chính ḿnh nghiệp chướng
rất nặng, ta không thể niệm Phật được”.
Nghĩ vậy là lầm rồi! Nhất định là phải
khắc phục; muốn khắc phục, phải chọn
lựa phương pháp.
Chẳng
hạn như, hễ hiện tượng hôn trầm nổi
lên, chúng ta đừng ngồi nữa! Chúng ta nhiễu Phật,
vừa nhiễu vừa niệm, hoặc chúng ta lễ Phật,
lễ mấy chục lạy, lễ một hai trăm lạy,
hôn trầm sẽ không c̣n nữa. Đổi phương thức,
nhưng không thể đổi pháp môn. Chúng ta vẫn niệm
Phật, một câu Phật hiệu cứ niệm tiếp.
Khi ta ngồi niệm [mà bị hôn trầm], bèn đổi
thành vừa đi kinh hành vừa niệm, đổi thành vừa
lạy vừa niệm. Khi bị trạo cử th́ ngược
lại, chúng ta chọn cách tĩnh tọa niệm Phật.
Thân, tâm, thế giới hết thảy đều buông xuống,
nhất tâm nhất ư nghe Phật hiệu, nhất tâm nhất
ư quán Phật. Dùng phương pháp này để đối
trị trạo cử. Đây là chuyện thường gặp
nhất, bất luận tu học theo pháp môn nào. Hai thứ
chướng ngại ấy đều là do tâm không thanh tịnh;
trong tâm đă thanh tịnh, làm sao có những thứ ấy
cho được?
“Chư Cái, chư Thủ”: Cái (蓋) là nói tỷ dụ, ngăn che trí huệ
đức năng trong tự tánh của chúng ta. “Cái” có nghĩa là chướng,
tức là chướng ngại, ngăn trở. Trong kinh
thường nói có năm thứ, chẳng hạn như nói
đến ngủ nghê. Trong năm thứ ấy, mỗi
người hễ đi ngủ th́ công phu sẽ gián đoạn,
tức là bị ngăn trở rồi. V́ vậy, Ban Châu
tam-muội, tức môn Ban Châu tam-muội mà tỳ-kheo Cát
Tường Vân tu tập, chín mươi ngày không ngủ nhằm
phá trừ chướng ngại ấy. Ai có thể trong suốt
chín mươi ngày không ngủ th́ công phu khá lắm, trong tâm
phải thanh tịnh lắm mới làm được. V́ thế,
ngủ nghê không phải là chuyện tốt. “Tài, sắc, danh, thực, thùy” gọi là Ngũ Dục,
người thật sự có công phu đều có thể
tách ĺa năm thứ ấy. Nhưng đối với
đại đa số mọi người, chúng ta tách ĺa Tài
vẫn không sao, Tài có thể bỏ được. Sắc
là nam nữ sắc dục, cũng có thể gạt bỏ
được, Danh cũng có thể bỏ được,
ăn th́ không được! Một ngày vẫn phải
ăn ba bữa, ngoài ba bữa ra c̣n phải ăn điểm
tâm, ngủ chẳng thể bỏ được! Nói cách
khác, trong năm thứ chướng ngại ấy, quư vị
chẳng bỏ được hai thứ, vậy là công phu
của chính ḿnh không trọn đủ. Khi công phu trọn
đủ, sẽ làm được!
Người
tu Định hiện thời như nhiều vị đồng
tu đă biết, đầu thời Dân Quốc, lăo ḥa
thượng Hư Vân công phu khá lắm. Qua Niên Phổ, chúng
ta thấy Ngài thường nhập Định một, hai
tuần lễ, thậm chí đến một hai tháng, ngồi
bất động ngay nơi đó. Ngài nhập Định
có phải là ngủ hay không? Không! Ngài chẳng ngủ. Ngủ
nghê sẽ không thể duy tŕ nổi tư thế ấy. Hễ
ngủ, sẽ gục xuống; đă gục xuống th́
làm sao ngồi thẳng lưng được? Ngài không ngủ nghê. Ngài không có ngủ nghê, Ngài
tỉnh táo, Ngài ở trong cảnh giới Định.
Do vậy, khi Ngài nhập Định, quư vị thấy Ngài
không ngủ nghê, Ngài cũng không cần ăn uống. Giả
sử Ngài nhập Định một tháng th́ khi Ngài xuất
Định, tinh thần vẫn sung măn, Ngài cũng không cảm
thấy cả một tháng nay ta không ăn ǵ hết, phải
ăn thôi! Không có! Tuyệt đối không có, nhưng khi Ngài
xuất Định, thường cảm thấy thời
gian nhập Định rất ngắn, “tôi mới ngồi
chưa được bao lâu”, nhưng
thật sự là đă qua rất nhiều ngày rồi!
Trong Niên
Phổ có chép một mẫu chuyện nhỏ. Đại
khái là trong dịp Tết, Ngài ở trong am tranh trên núi, lăo
ḥa thượng luộc một nồi khoai. Sau khi đốt
lửa lên, đang luộc khoai, luộc khoai
đương nhiên là cần phải chờ đợi một
lát, Ngài ngồi bên cạnh liền nhập định. Cũng
chẳng biết là nhập định bao lâu, qua năm mới
rồi, [những vị sư trụ trong ngôi] miếu ở
gần đó nhận thấy đă lâu không thấy lăo ḥa
thượng, chẳng biết Ngài ra sao, đến am tranh
của Ngài t́m. Khi tới am tranh, họ thấy Ngài đang
tĩnh tọa nơi đó. Lúc ấy, vị xuất gia đó
bèn dùng dẫn khánh gơ bên tai Ngài để nhắc Ngài xuất
định. Gơ xong, Ngài liền xuất định. Trông thấy
hai người bọn họ, Ngài nói: “Đến kịp
lúc đấy, tôi đang luộc khoai, muốn mời các vị
ăn khoai”. Kết quả là lúc mở nồi ra, khoai đă
phủ mốc dày, trong nồi đều bị mốc hết
rồi. Hơn hai mươi ngày, Ngài nói: “Tôi cảm thấy
mới ngồi mấy phút”. Điều này cho thấy
ăn uống và ngủ nghê đều có thể ĺa khỏi
được!
Trong kinh
Phật thường nói tới tới tam giới: Đối
với Dục Giới th́ trong Dục Giới có ăn uống,
có nam nữ, ẩm thực, cơi trời Sắc Giới từ
Sơ Thiền trở lên không có nữa, họ lấy Thiền
Duyệt làm thức ăn. Quư vị hiểu rơ đạo
lư này, sẽ hiểu được lẽ dưỡng
sinh. Hiện thời, những kẻ giàu có ở Đài
Loan, có rất nhiều người ăn thực phẩm bổ
dưỡng để tẩm bổ, mà đồ bổ đó
là ǵ? Toàn chứa chất độc gây bệnh, chẳng phải
là thứ tốt lành, bồi bổ cho những chứng bệnh
kỳ quái phát sanh. Phật pháp từng dạy chúng ta thứ
ǵ bổ dưỡng tốt nhất cho thân thể? Tâm thanh
tịnh! Trong tâm quư vị không một tạp niệm nào nẩy
sanh, sẽ khỏe mạnh nhất, bổ dưỡng nhất.
V́ sao người trong cơi trời Sắc Giới chẳng cần
phải ăn? V́ tâm họ thanh tịnh. Tâm thanh tịnh sanh
ra hoan hỷ. Đấy là từ, bi, hỷ, xả, pháp hỷ
sung măn. Do đây có thể biết được rằng:
Hết thảy những thứ ngăn lấp cũng là do
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sanh
ra, chứ không phải là vốn có, chẳng phải là thật,
cho nên có thể tách ĺa được.
“Thủ” (取) lại càng hư vọng hơn, Thủ
chính là “thủ xả” (lấy,
bỏ). Có thể nói là kinh Bát Nhă, tức bộ Bát Nhă gồm
sáu trăm quyển có thể quy nạp tới mức cuối
cùng thành một câu “bất khả
đắc” (chẳng thể được). Hết thảy
pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng thể
được. Kinh Kim Cang nói rất rơ ràng: “Tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện
tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng
thể được”. Tâm ấy có công năng giữ lấy,
nhưng cái tâm có khả năng lưu giữ ấy th́ lại
không thể được, cái bị giữ lấy chính là
các pháp. Đức Phật nói càng rơ hơn: “Các pháp do duyên sanh, bản thể của chúng đều
là Không, trọn chẳng thể được”. Năng
Thủ, Sở Thủ đều không thể được.
Quư vị giữ lấy những ǵ? Quư vị hiểu được
đạo lư này, sẽ thật sự buông xuống
được. Được - mất,
lấy - bỏ đều buông xuống hết, tâm quư vị
sẽ được tự tại.
“
(Sớ)
Tâm tạo chân cảnh, cố danh vi Hạnh, tức nhất
hạnh dă.
(疏)心 造 真 境,故
名 為 行。即 一 行 也。
(Sớ:
Tâm tạo ra cảnh thật,
nên gọi là Hạnh, tức là Nhất Hạnh vậy).
Đây là
một câu giảng về từ ngữ “cụ thanh tịnh hạnh” (đầy đủ
hạnh thanh tịnh). Hạnh ấy là ǵ? “Tâm tạo chân cảnh”. Chữ “tạo” này có nghĩa là xuất hiện, hoặc
hiển hiện. Trong cái tâm thanh tịnh, hiển hiện cảnh
giới, bất luận là thánh hay phàm, chỉ là thanh tịnh
giống hệt như nhau. Mười pháp giới, không một
pháp giới nào chẳng phải là Phật pháp giới, pháp
nào cũng đều là Phật, đấy gọi là Hạnh.
Hạnh là hành động, Hạnh là tác dụng, Nhất Hạnh.
Nhất Hạnh là ǵ? “Nhất”
chẳng phải là con số, nếu quư vị hiểu nó là
con số th́ quư vị đă lầm mất rồi! Giống
như trong phẩm Phổ Môn nói ba mươi hai ứng
thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, trong kinh ấy là “ba
mươi hai”, v́ sao [ở đây] lại là một? Quư vị
phải hiểu “ba mươi
hai chính là một, một chính là ba mươi hai, một tức
là nhiều, nhiều tức là một”. Nhiều là v́ ứng
theo căn cơ, chúng sanh có cảm, Ngài liền ứng, ứng
theo căn cơ mà! “Nhất”
là bất động, như như bất động th́ Ngài
mới có thể ứng hết thảy căn cơ. Tuy ứng
hết thảy các căn cơ, Ngài vẫn tịch diệt
bất động. V́ thế, đối với chính Ngài
th́ nói là Nhất Hạnh; dựa theo mặt ứng cơ
để nói, th́ là vô lượng vô biên hạnh. Đây chính
là “một và nhiều chẳng
hai”, là cảnh giới “Năng
lẫn Sở đều mất”, đó gọi là Nhất
Hạnh. Nhưng chẳng nhập cảnh giới ấy,
chắc chắn sẽ chẳng có Nhất Hạnh! Bồ
Tát chứng đắc cảnh giới này; Thiện Tài
đồng tử đến tham học, Ngài bèn đem
điều chính ḿnh đă tu, đă chứng để dạy
cho Thiện Tài. Dạy ǵ vậy? Niệm Phật, [tức
là dạy về] cảnh giới của người niệm
Phật, Niệm Phật thù thắng. Đoạn tiếp
theo:
(Sớ)
Biện kỳ thắng dụng.
(疏)辨 其 勝 用。
(Sớ:
Biện định tác dụng
thù thắng).
Ngài cho biết đắc pháp ấy
có những công dụng ǵ. Xin hăy đọc kinh văn.
(Kinh)
Huệ
nhăn biến quán nhất thiết cảnh giới, thiện
xảo phương tiện, ly nhất thiết chướng.
(經) 慧 眼 遍 觀
一 切 境 界。善 巧 方 便,離
一 切 障。
(Kinh:
Huệ nhăn quán khắp hết thảy cảnh giới, phương
tiện hay khéo, ĺa hết thảy chướng).
Đây là
đoạn thứ hai, “biện
kỳ thắng dụng”. Đoạn kinh văn này rất
dài, nhưng dễ hiểu, chẳng giống như đoạn
trước. Đoạn kinh văn trong phần trước
rất ngắn, ư nghĩa rất sâu, chẳng dễ hiểu,
chỗ này dễ hiểu. Chúng ta hăy đọc lời chú giải:
(Sớ)
Đệ nhị, huệ nhăn biến quán hạ, biện kỳ
thắng dụng.
(疏)第 二 慧 眼 遍 觀 下,辨
其 勝 用。
(Sớ:
Thứ hai, từ chữ “huệ nhăn biến quán” trở
đi là biện định về tác dụng thù thắng).
Đây là
biện định về tác dụng lớn lao thù thắng.
(Sớ)
Tiền minh tức Dụng chi Thể, Nhất Hạnh
tam-muội.
(疏)前 明 即 用 之 體,一
行 三 昧。
(Sớ:
Những điều được nói trong phần
trước chính là bản thể của Dụng, tức là
Nhất Hạnh tam-muội)
Những
điều được nói trong phần kinh văn bên
trên chính là “bản thể của
Dụng”. Nếu dựa theo Thể để nói th́ Thể
là Nhất Hạnh tam-muội. C̣n đoạn này là giảng
về:
(Sớ)
Kim minh tức Thể chi Dụng.
(疏)今 明 即 體
之 用。
(Sớ:
Nay phần được
nói ở đây là luận về tác dụng của Thể).
Phần
trước là nói về bản thể của Dụng, khác
hẳn! C̣n hiện thời là luận về tác dụng của
Thể.
(Sớ)
Dụng vô bất cùng.
(疏)用 無 不 窮。
(Sớ:
Dụng th́ không ǵ chẳng
cùng tột).
Tức
là “Thể của Dụng là Nhất Hạnh tam-muội”. Từ
Thể khởi Dụng, Dụng ấy rộng lớn vô
biên, Dụng không có cùng tột.
(Sớ)
Lược hữu nhị dụng.
(疏)略 有 二 用。
(Sớ:
Nói đại lược
th́ có hai loại Dụng).
Tác dụng
ấy rất nhiều, vô lượng vô biên, chẳng thể
nói trọn! Do vậy, đức Phật vận dụng
cách nói quy nạp những công dụng ấy thành hai loại
lớn.
(Sớ)
Nhất giả nội dụng, nhị giả ngoại dụng.
(疏)一 者 內 用。二
者 外 用。
(Sớ:
Một là nội dụng,
hai là ngoại dụng).
Trước
hết nói đến Nội Dụng. Tiểu đoạn
chúng ta mới vừa đọc chính là Nội Dụng.
(Sớ)
Kim sơ, nhị cú nhi hữu tam dụng.
(疏)今 初。二
句 而 有 三 用。
(Sớ:
Nay, điều thứ nhất
là trong hai câu [đầu tiên], có đến ba công dụng).
Đây
chính là Nội Dụng.
(Sớ)
Huệ nhăn biến quán nhất thiết cảnh giới, thị
phổ nhăn dụng.
(疏)慧 眼 遍 觀
一 切 境 界,是 普 眼 用。
(Sớ: Huệ nhăn quán trọn khắp
hết thảy cảnh giới là công dụng của Phổ
Nhăn)
Trong phần
trên đă nói Phổ Nhăn khởi tác dụng quán trọn khắp
hết thảy cảnh giới. Muốn thấy cảnh giới
nào, cảnh giới ấy liền hiện tiền; chẳng
muốn thấy, cảnh giới ấy sẽ không c̣n nữa.
Đây là tác dụng thuộc về chính ḿnh, tức là Tự
Thọ Dụng.
(Sớ)
Thiện
xảo phương tiện thị trí quang chiếu diệu
dụng.
(疏)善 巧 方 便,是
智 光 照 曜 用。
(Sớ:
Phương tiện hay khéo là tác dụng trí quang chiếu rạng)
Bốn
chữ “thiện xảo
phương tiện” thường xuất hiện trong
kinh luận. Ư nghĩa có sâu, cạn, rộng, hẹp khác
nhau. Đối với người mới học như
chúng ta mà nói, dùng cách nói gần gũi, rơ ràng nhất, “thiện” là hợp với
pháp tắc, phù hợp chừng mực, hợp quy củ,
đấy là Thiện. Xảo là ǵ? Xảo là xảo diệu
(hay khéo), thuận theo ḷng muốn là xảo đấy! Trong
Luận Ngữ, Khổng lăo phu tử vào năm bảy
mươi tuổi, đă nói:
“Tùy tâm sở dục, nhi bất du củ” (Thuận theo
ḷng mong muốn, nhưng chẳng trái vượt quy củ),
đấy chính là thiện xảo! “Tùy tâm sở dục” là Xảo, “bất du củ” là chẳng vượt khỏi
quy củ, rất hợp quy củ, rất hợp với lễ
pháp, đấy chính là Thiện. V́ thế, phương tiện
phải đạt đến thiện xảo, đấy
chính là trí huệ cao độ, nay chúng ta gọi là “nghệ thuật cao độ”,
vừa khéo léo, lại vừa hợp quy củ. Xảo mà chẳng
hợp quy củ là không được. Rất giữ quy củ,
giữ khư khư quy củ, chẳng khéo léo th́ cũng chẳng
tốt đẹp! Nhưng nói thật ra, trong hai thứ ấy,
nếu Xảo mà chẳng Thiện th́ chẳng thà Thiện
mà không Xảo. V́ sao vậy? Thiện th́ ai nấy đều
giữ pháp tắc, xă hội sẽ có trật tự. Do vậy,
trong hai chữ này, Thiện là trọng yếu, cho nên đặt
Thiện ra trước, tức Thiện Xảo, chứ
không nói Xảo Thiện. Phương tiện phải lấy
thiện xảo làm tiêu chuẩn. Đấy chính là “tác dụng của trí quang chiếu
rạng”. Có thể thấy rằng, trí quang chính là trí huệ
cao độ, là nghệ thuật cao độ.
(Sớ)
Ly nhất thiết chướng thị thanh tịnh hạnh
dụng.
(疏)離 一 切 障,是
清 淨 行 用。
(Sớ:
Ĺa hết thảy chướng
là tác dụng của hạnh thanh tịnh).
Ư
nghĩa này rất dễ hiểu, trong phần trước
tôi đă nói cặn kẽ rồi. Tất cả hết thảy
nghiệp chướng đều ĺa hết, cho nên không sợ
nghiệp chướng. Đừng nói là nghiệp chướng
đă tạo trong một đời này, tạo rất nhiều
tội nghiệp, tội nghiệp chất chứa trong vô
lượng kiếp quá khứ. Trong kinh, đức Phật
thường nói: “Nếu
như tội nghiệp ấy có h́nh tướng, dẫu
cho h́nh tướng ấy nhỏ như h́nh tướng của
vi trần, khắp cả hư không cũng không thể chứa
được hết tội nghiệp do chúng ta đă tạo
trong vô lượng kiếp!” Lời này là thật đấy,
chẳng phải là giả, đức Phật chẳng nói
dối! Điều may mắn là những tội nghiệp
đă tạo ấy không có dấu tích, không có h́nh tướng.
Tuy đă tạo rất sâu, rất rộng, nhưng phá trừ
lại trọn chẳng khó khăn. Đức Phật nêu
lên một tỷ dụ, ví như nhà tối ngàn năm: Chúng
ta vào trong một cái động hoang trên núi, mấy ngàn năm
luôn tối om om, là chỗ tối tăm trước nay
chưa hề có ánh đèn chiếu sáng. Đây là tỷ dụ
cho tội nghiệp đă tạo của một người
vừa sâu vừa rộng, thời gian tích lũy rất
dài, nhưng một ngọn đèn liền xóa tan! Quư vị
thắp một ngọn đèn trong căn nhà tối, nhà
không c̣n tối nữa. Ngọn đèn ấy do tự tánh
trí huệ mà có, nghiệp chướng liền tiêu!
Thế
nhưng, quư vị phải hiểu rằng: Để khởi
lên tự tánh trí huệ, nhất định là phải có
tâm thanh tịnh. Kinh Kim Cang dạy: “Tín tâm thanh tịnh th́ sanh Thật Tướng”. Thật
Tướng là do tự tánh Bát Nhă tỏ lộ ra. Tâm quư vị
không thanh tịnh là không được, nghiệp chướng
của quư vị chẳng thể tiêu được! Tiêu
nghiệp chướng không có cách nào khác cả, phải tu
cái tâm thanh tịnh! Niệm Phật là trực tiếp tu cái
tâm thanh tịnh, dùng một câu Phật hiệu để trừ
sạch vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
của chúng ta. Trong mười hai thời, niệm tại
đâu, nghĩ tại đó. Chỉ cần chế ngự
được nghiệp chướng ấy không cho nó khởi
tác dụng, chỉ có một câu Phật hiệu này khởi
tác dụng, có như vậy th́ mới ḥng đới nghiệp
văng sanh. Sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới, thấy A Di Đà Phật, được Phật
lực gia tŕ, công đức, trí huệ trong tự tánh của
chúng ta sẽ hiện tiền, nghiệp chướng hoàn
toàn tiêu trừ. Đấy chính là chỗ chẳng thể
nghĩ bàn của pháp môn Tịnh Tông. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm
đề cao pháp môn Niệm Phật; Cát Tường Vân là vị
[thiện tri thức] thứ nhất dạy chúng ta Ban Châu
tam-muội.
Đoạn văn dài
dưới đây là đoạn kinh văn nói về Ngoại
Dụng. Trong phần Ngoại Dụng có ba đoạn. Quư
vị hăy mở phần chú giải, trong chú giải có
đoạn nói:
(Sớ) Nhị, dĩ thanh tịnh
thân hạ, minh kỳ ngoại dụng. Thắng giải ấn
tŕ, tùy tâm khứ trụ.
(疏)二 以 清 淨
身 下,明 其 外 用。勝 解
印 持,隨 心去 住。
(Sớ)
Thứ hai, từ “dùng
thân thanh tịnh” trở đi là nói về ngoại dụng.
Thắng giải ấn tŕ, tùy tâm mà đi hay trụ).
Đây là
nói tổng quát, trong phần này chia thành ba đoạn.
Đoạn thứ nhất:
(Sớ)
Minh bất động nhi văng. Nhị dĩ tín giải lực
hạ, bất niệm nhi tŕ. Tam dĩ trí huệ nhăn hạ.
(疏)明 不 動 而
往。二 以 信 解 力 下,不
念 而 持。三以 智 慧 眼 下。
(Sớ)
Nói rơ tuy bất động
nhưng có đi qua. Hai là từ chữ “tín giải lực”
trở đi, tuy không niệm nhưng tŕ. Ba là từ “trí huệ
nhăn” trở đi)
Đây là
phần kinh văn [được chú giải gọi là]:
(Sớ)
Bất văng nhi kiến.
(疏)不 往 而 見。
(Sớ:
Không đi qua đó mà thấy).
À! Nay
chúng ta xem kinh, phần kinh văn này tuy dài, nhưng dễ hiểu!
(Kinh)
Dĩ
thanh tịnh thân phổ nghệ thập phương nhất
thiết quốc độ, cung kính cúng dường nhất
thiết chư Phật.
(經)以 清 淨 身
普 詣 十 方 一 切 國 土,恭
敬 供 養 一切 諸 佛。
(Kinh:
Dùng thân thanh tịnh đến
khắp hết thảy các cơi nước trong mười
phương, cung kính cúng dường hết thảy chư
Phật).
Đây là
đoạn thứ nhất trong phần Ngoại Dụng. “Bất động nhi văng” (Bất
động nhưng đi qua đó). Nếu giảng ư
nghĩa này ở những nơi khác sẽ khó khăn
hơn, nhưng nay chúng tôi giảng tại đạo tràng
này, tôi nghĩ rất dễ dàng, v́ sao vậy? Mọi
người đều niệm A Di Đà Phật, đều
niệm Vô Lượng Thọ Kinh, niệm A Di Đà Kinh. Người
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới mỗi
ngày đến mười phương thế giới cúng
dường mười vạn ức Phật, họ
đi bằng cách nào? “Bất
động nhi khứ” (không động mà đến).
Mười vạn ức! Nếu đến thăm viếng
từng vị một, sẽ chẳng đủ thời
gian! Làm sao thăm viếng mười vạn ức Phật
cho được? Hóa thân, đi cùng một lúc! Cùng một
lúc cúng dường hết thảy chư Phật, nghe hết
thảy chư Phật thuyết pháp, sau đấy trở
về, cái thân này bất động mà đi qua đó, bởi
lẽ, thân thanh tịnh. Người trong thế giới
Tây Phương có năng lực ấy. Nếu quư vị hỏi
đến tŕnh độ nào th́ mới có năng lực ấy
ư? Chỉ cần văng sanh, sẽ có được
năng lực ấy. Dẫu văng sanh Hạ Hạ phẩm
trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, cũng trọn
đủ năng lực như vậy.
Ở
đây, chúng ta thấy không phải chỉ là mười vạn
ức cơi Phật, người dịch kinh dịch thành “mười vạn ức cơi Phật”
là có dụng ư đặc biệt, dụng ư ở chỗ
nào? Thế giới Cực Lạc cách thế giới Sa Bà
mười vạn ức cơi Phật! Dụng ư là quư vị
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
muốn trở về thăm [Sa Bà], sẽ rất dễ
dàng, dụng ư là ở chỗ này. Thật ra, năng lực
không phải chỉ có vậy, mà là tận hư không, trọn
pháp giới, vô lượng vô biên các cơi Phật đều
có thể đồng thời hóa thân đến cúng Phật,
nghe pháp, độ sanh. Chính người ấy không hề ĺa
khỏi A Di Đà Phật, vẫn ngồi nghe kinh trong pháp hội
của A Di Đà Phật, nhưng hóa thân của người
ấy đến khắp mười phương thế
giới để cúng Phật, nghe pháp, độ sanh. Ngoại
Dụng có năng lực ấy. Từ điều này, ta có
thể thấy được rằng bậc Sơ Trụ
Bồ Tát trong Viên Giáo có năng lực ấy. Lại xem tiếp
câu dưới đó.
(Kinh)
Dĩ
tín giải lực thường niệm thập
phương nhất thiết chư Phật, dĩ tổng
tŕ lực thọ tŕ thập phương nhất thiết
Phật pháp.
(經)以 信 解 力
常 念 十 方 一 切 諸 佛,以
總 持 力 受持 十 方 一 切
佛 法。
(Kinh: Dùng sức
tín giải thường niệm hết thảy chư Phật
trong mười phương, dùng sức tổng tŕ để
thọ tŕ hết thảy Phật pháp trong mười
phương).
Hai câu này
thuộc đoạn thứ hai. Đoạn thứ hai là “chẳng niệm mà tŕ”. Đấy
gọi là “niệm mà vô niệm,
vô niệm mà niệm”. Ngài dùng ǵ để niệm? Dùng sức
tín giải, tin tưởng sâu đậm không nghi, thấu
hiểu triệt để. Trong tâm thường có hết
thảy chư Phật, đấy chính là niệm Phật.
Hết thảy cảnh giới không ǵ chẳng phải là cảnh
giới Phật, đấy là niệm Phật. Tuy chúng ta
chưa nhập cảnh giới ấy, nhưng nếu có thể
thường quán như vậy, sẽ có ích rất lớn cho
chúng ta. Kiểu niệm Phật này gọi là “Lư niệm”. Niệm Phật
có Sự niệm và Lư niệm, cho nên có Sự nhất tâm và Lư
nhất tâm.
Câu tiếp
theo: “Dĩ tổng tŕ lực
thọ tŕ thập phương nhất thiết Phật
pháp” (Dùng sức tổng tŕ để thọ tŕ hết
thảy Phật pháp trong mười phương). “Tổng tŕ” là cương yếu,
cương lănh. Nắm được tổng cương
lănh th́ tất cả hết thảy pháp đều nằm
trong ấy; đấy gọi là “tổng
tŕ lực”. Kinh Hoa Nghiêm là tổng tŕ của hết thảy
kinh, cổ nhân dạy chúng ta, kinh Hoa Nghiêm giống như
vua của các kinh, xưng tụng [kinh Hoa Nghiêm] là căn bản
pháp luân, dùng một cái cây để sánh ví. Kinh Hoa Nghiêm là ǵ?
Kinh Hoa Nghiêm là rễ, là gốc, gốc là thân cây chánh; c̣n hết
thảy các kinh do đức Phật đă nói trong suốt bốn
mươi chín năm chính là cành, nhánh, lá, hoa, quả của
cái cây ấy, đều chẳng tách rời căn bản.
Nếu tách ĺa căn bản, cái ǵ cũng chẳng có! Do vậy,
cổ đại đức nói: Nếu quư vị thông đạt
Hoa Nghiêm th́ tất cả hết thảy Tông môn, Giáo Hạ
sẽ đều thông đạt toàn bộ, căn bản
pháp luân mà! Hết thảy các kinh chính là quyến thuộc của
Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm là chủ nhân!
Nhưng
Hoa Nghiêm quá lớn, chúng tôi giảng một lần cũng
chẳng thể xong trong một thời gian ngắn, có tổng
tŕ lực nào tốt hơn hay chăng? Có chứ! Vô Lượng
Thọ Kinh đấy! So với Hoa Nghiêm, Vô Lượng Thọ
Kinh ngắn hơn rất nhiều, nhưng những
nghĩa lư trong Vô Lượng Thọ Kinh hoàn toàn là Hoa Nghiêm.
Nói cách khác, bản rút gọn của kinh Hoa Nghiêm, tinh hoa của
Hoa Nghiêm chính là Vô Lượng Thọ Kinh. Chúng ta có thể
nói Hoa Nghiêm Kinh là chú giải của Vô Lượng Thọ
Kinh. V́ thế, quư vị thông hiểu kinh Hoa Nghiêm th́ mới
giảng Vô Lượng Thọ Kinh thật hay được,
mới giảng có ư vị được. Nếu quư vị
không thông hiểu Hoa Nghiêm, tuyệt đối chẳng thể
giảng Vô Lượng Thọ Kinh viên măn. Nói chung là sẽ bị
thiếu sót.
Cổ
nhân từng “giảo lượng”,
tức là so sánh, đến cuối cùng t́m ra được
tổng cương lănh [của kinh Hoa Nghiêm] th́ thấy nó
chính là nguyện thứ mười tám trong bốn
mươi tám nguyện của Vô Lượng Thọ Kinh!
Nguyện thứ mười tám là ǵ? “Mười niệm ắt sanh”, quy kết thành một
câu Phật hiệu, Nam Mô A Di Đà Phật. V́ vậy, sáu chữ
“Nam-mô A Di Đà Phật” chính
là sức tổng tŕ, vô lượng vô biên pháp môn được
giảng bởi mười phương tam thế hết
thảy chư Phật đều chẳng vượt thoát
phạm vi của danh hiệu này. Danh hiệu này có công đức
chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, tỳ-kheo Cát Tường
Vân niệm A Di Đà Phật, phương pháp Niệm Phật
của Ngài là vừa niệm vừa nhiễu Phật. Ban
Châu tam-muội là đứng chứ không ngồi, cho nên [tỳ-kheo
Cát Tường Vân nói riêng và hành nhân tu môn tam-muội này nói
chung] đứng hay đi, chứ không ngồi xuống.
Đấy chính là “chẳng niệm
mà tŕ”, tŕ hết thảy pháp, chẳng phải là một
pháp. Tiếp theo là ư nghĩa thứ ba “bất văng nhi kiến” (không qua tới đó mà thấy).
(Kinh)
Dĩ
trí huệ nhăn, thường kiến thập phương nhất
thiết chư Phật.
(經)以 智 慧 眼 常 見 十
方 一 切 諸 佛。
(Kinh:
Dùng mắt trí huệ,
thường thấy mười phương hết thảy
chư Phật).
“Thường kiến” là
thường xuyên thấy, chẳng phải là ngẫu nhiên
thấy, thường thấy mười phương hết
thảy chư Phật. V́ sao vị ấy có thể thấy
được? Do có trí huệ nhăn. Do đoạn kinh
văn này dài, nên chia thành ba tiểu đoạn, câu này là nói
tổng quát: Vị ấy thấy hết thảy chư Phật.
Sau đây là những điều được nói riêng biệt,
vị ấy thấy hết thảy chư Phật, thấy
những vị Phật nào? Chúng ta xem kinh văn.
(Kinh)
Sở
vị, kiến ư Đông phương nhất Phật.
(經)所 謂 見 於
東 方 一 佛。
(Kinh:
Chẳng hạn như thấy
một vị Phật ở phương Đông).
Đây là
nêu ra một thí dụ. Trong mười phương, nêu ra một
phương, thấy một vị Phật ở
phương Đông.
(Kinh)
Nhị
Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, bách
thiên Phật, ức Phật, bách ức Phật, thiên ức
Phật, bách thiên ức Phật, na-do-tha ức Phật, bách
na-do-tha-ức Phật, thiên na-do-tha ức Phật, bách thiên na-do-tha
ức Phật, năi chí kiến vô số, vô lượng, vô
biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả
xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất
khả thuyết, bất khả thuyết bất khả
thuyết Phật.
(經)二 佛,十
佛,百 佛,千 佛,百 千
佛,億 佛,百 億佛,千
億 佛,百 千 億 佛,那 由
他 億 佛,百 那 由 他億 佛,千
那 由 他 億 佛,百 千 那 由
他 億 佛,乃 至見 無 數 無
量 無 邊 無 等 不 可 數 不
可 稱 不 可 思不 可 量 不
可 說 不 可 說 不 可 說 佛。
(Kinh:
Hai Phật, mười Phật,
trăm Phật, ngàn Phật, trăm ngàn Phật, ức Phật,
trăm ức Phật, ngàn ức Phật, trăm ngàn ức
Phật, na-do-tha ức Phật, trăm na-do-tha ức Phật,
ngàn na-do-tha ức Phật, trăm ngàn na-do-tha ức Phật,
cho đến thấy vô số, vô lượng, vô biên, vô
đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất
khả tư, bất khả lượng, bất khả
thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết
Phật).
Những
con số này tôi không cần giải thích từng số một,
những con số trong phần sau đoạn này là những
con số thiên văn, quá lớn! Nếu quư vị muốn
hiểu, hăy tra trong Phật Học Từ Điển, sẽ
thấy những con số ấy đều có. Con số
thiên văn quá sức là lớn, không có cách ǵ tính toán
được! Đối với những vị Phật
do vị ấy thấy, chúng ta thường nói là Ngài thấy
“vô lượng vô biên chư Phật”.
Đấy là phương Đông. Xem phần tiếp theo.
(Kinh)
Năi
chí kiến Diêm Phù Đề cực vi trần số Phật.
(經)乃 至 見 閻
浮 提 極 微 塵 數 佛。
(Kinh:
Thậm chí thấy Phật
nhiều như số lượng cực vi trần trong
cơi Diêm Phù Đề).
Phạm
vi Diêm Phù Đề nhỏ nhoi, nhỏ gần như một
quả địa cầu của chúng ta. Trong Phật pháp gọi
địa cầu là Diêm Phù Đề Châu, rất nhỏ!
Trong hoàn cảnh nhỏ nhoi này, trông thấy chư Phật
nhiều như số cực vi trần, [tức là] thấy chư Phật nhiều như số
cực vi trần của cơi Diêm Phù Đề.
(Kinh)
Tứ
thiên hạ cực vi trần số Phật.
(經)四 天 下 極
微 塵 數 佛。
(Kinh:
Phật nhiều như số
lượng của cực vi trần trong một tứ
thiên hạ).
Diêm Phù
Đề là một châu, bốn châu hợp thành một
đơn vị thế giới, trong kinh Phật giảng:
Một quả núi Tu Di, bốn phía có bốn đại châu,
đấy gọi là một đơn vị thế giới
(tức là một “tứ thiên hạ”). “Phật nhiều như số lượng của cực
vi trần trong tứ thiên hạ”.
(Kinh)
Tiểu
thiên thế giới cực vi trần số Phật.
(經) 小 千 世 界
極 微 塵 數 佛。
(Kinh:
Phật nhiều như số
lượng cực vi trần trong một tiểu thiên thế
giới).
Đây là
nói số lượng nhiều, không cách nào tính đếm
được. Một ngàn đơn vị thế giới
hợp lại th́ gọi là một tiểu thiên thế giới,
một ngàn tiểu thiên thế giới hợp lại gọi
là một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế
giới hợp lại gọi là một đại thiên thế
giới.
(Kinh)
Tiểu
thiên thế giới cực vi trần số Phật, trung
thiên thế giới cực vi trần số Phật, đại
thiên thế giới cực vi trần số Phật.
(經)小 千 世 界
極 微 塵 數 佛,中 千 世 界
極 微 塵 數佛,大 千 世 界
極 微 塵 數 佛。
(Kinh:
Phật nhiều như số
lượng cực vi trần trong một tiểu thiên thế
giới, Phật nhiều như số lượng cực
vi trần trong một trung thiên thế giới, Phật nhiều
như số lượng cực vi trần trong một
đại thiên thế giới).
Một
đại thiên thế giới là khu vực giáo hóa của một
đức Phật.
(Kinh) Thập Phật sát cực vi trần
số Phật.
(經)十 佛 剎 極 微 塵 數
佛。
(Kinh: Phật
nhiều như số lượng cực vi trần trong mười
cơi Phật).
Một “Phật sát” là một đại thiên thế giới,
mười Phật sát là mười đại thiên thế
giới. Trăm Phật sát là một trăm đại
thiên thế giới. Một ngàn Phật sát là một ngàn
đại thiên thế giới, trăm ngàn Phật sát là
trăm ngàn đại thiên thế giới.
(Kinh)
Ức
Phật sát, bách ức Phật sát, thiên ức Phật sát,
bách thiên ức Phật sát cực vi trần số Phật,
na-do-tha ức Phật sát cực vi trần số Phật,
năi chí kiến bất khả thuyết bất khả thuyết
Phật sát cực vi trần số Phật.
(經)億 佛 剎、百
億 佛 剎、千 億 佛 剎,百
千 億 佛 剎極 微 塵 數 佛,那
由 他 億 佛 剎 極 微 塵 數
佛,乃 至 見 不 可 說 不 可
說 佛 剎 極 微 塵 數 佛。
(Kinh:
Phật nhiều như số
lượng cực vi trần trong trăm cơi Phật,
trăm ức cơi Phật, ngàn ức cơi Phật, trăm ngàn
ức cơi Phật, na-do-tha ức cơi Phật, cho đến
thấy bất khả thuyết bất khả thuyết Phật
sát cực vi trần số Phật).
Đoạn
này nói vị ấy thấy rất nhiều Phật. Văn
tự trong đoạn này nhằm h́nh dung tột bậc vị
ấy thấy được Như Lai chẳng thể
nghĩ bàn, chẳng có cách nào tính đếm được!
(Kinh)
Như
kiến Đông phương nhất thiết chư Phật,
Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng, hạ
sở kiến chư Phật diệc phục như thị.
(經)如 見 東 方
一 切 諸 佛,南 西 北 方 四
維 上 下 所見 諸 佛 亦 復
如 是。
(Kinh:
Như chư Phật thấy
nơi phương Đông, thấy chư Phật trong
phương Nam, Tây, Bắc, bốn phương bàng, trên,
dưới cũng giống như thế).
Trong phương
Đông đă nói chi tiết th́ chín phương khác chẳng
cần phải nói chi tiết, cứ dựa theo đó mà
suy. Chúng ta biết rằng bậc Sơ Trụ Bồ Tát
trong Viên Giáo có huệ nhăn và thiên nhăn chẳng thể nghĩ
bàn như thế ấy. Như Lai có ngũ nhăn, Bồ Tát
cũng có ngũ nhăn, nhưng ngũ nhăn của Bồ Tát
không viên măn như Như Lai. Vị Sơ Trụ Bồ Tát
này có ngũ nhăn, ở đây, chúng ta thấy đă chẳng
thể nghĩ bàn rồi, huống hồ quả địa
Như Lai ư? Xem đoạn kinh văn tiếp theo:
(Kinh)
Tùy
kỳ sở kiến nhất nhất phương trung sở
hữu chư Phật.
(經)隨 其 所 見
一 一 方 中 所 有 諸 佛。
(Kinh:
Đối với tất
cả chư Phật do vị ấy đă thấy trong mỗi
phương).
Ở
đây lại nói tỉ mỉ hơn, trong phần trên chỉ
nói “thấy chư Phật”.
Nay lại nói tới h́nh dạng của mỗi vị Phật,
Ngài thấy tất cả chư Phật…
(Kinh)
Chủng
chủng sắc tướng.
(經)種 種 色 相。
(Kinh:
Các thứ sắc tướng).
Sắc
tướng của Phật.
(Kinh)
Chủng
chủng h́nh mạo.
(經)種 種 形 貌。
(Kinh:
Các thứ h́nh mạo).
Chúng ta
thường nói: “Phật Phật
đạo đồng”. Tướng mạo chư Phật
giống hệt như nhau, làm sao có hai h́nh dạng cho
được? [Ở đây, kinh chép]: Các thứ sắc
tướng. Có! Có các thứ sắc tướng. “Các thứ sắc tướng”
nên hiểu như thế nào? Phật ứng hóa trong mười
pháp giới, giống như [sắc thân của] Thích Ca Mâu
Ni Phật thị hiện trong thế giới của chúng
ta hiện thời được gọi là Liệt Ứng
Thân, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ
đẹp phụ, thân cao trượng sáu. Trong kinh nói Tỳ
Lô Giá Na Phật có vô lượng tướng, nơi mỗi
tướng có vô lượng hảo, thân tướng ấy
to lớn. Trong bài kệ Tán Phật có câu: “Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục
trừng thanh tứ đại hải” th́ làm sao ứng
thân này sánh bằng được? Do vậy, bèn có các thứ
sắc tướng, các thứ h́nh mạo. Nói thật ra, từ
Năng Hiện th́ thấy là một, từ Sở Hiện
th́ thấy khác nhau. Sở Hiện nhằm ứng theo
căn cơ của chúng sanh, cho nên Phật hiện ra sắc
tướng, h́nh mạo khác nhau.
(Kinh)
Chủng
chủng thần thông, chủng chủng thọ dụng, chủng
chủng du hư.
(經)種 種 神 通,種 種
受 用,種 種 遊 戲。
(Kinh:
Các thứ thần thông, các thứ
thọ dụng, các thứ vui chơi).
Phật
giáo hóa chúng sanh là du hư, du hư thần thông! [Dùng từ ngữ]
“du hư” ngụ ư không coi đó
là thật, chẳng giống như chúng ta chuyện ǵ
cũng rất chấp trước, đều coi là thật.
Phật, Bồ Tát không coi là thật như thế, đều
là vui chơi, đều là diễn tuồng. V́ thế, các Ngài
rất tự tại, không có được, mất, không
âu lo, cũng không vướng mắc, các Ngài đang diễn
tuồng mà!
(Kinh)
Chủng
chủng chúng hội trang nghiêm đạo tràng.
(經)種 種 眾 會 莊 嚴 道
場。
(Kinh:
Các thứ pháp hội đạo
tràng trang nghiêm).
Chữ “chúng hội” chỉ các hoạt
động cùng đại chúng giảng kinh, thuyết pháp,
trong ấy đương nhiên cũng có người hướng
dẫn đại chúng tu hành, phương thức rất
ư là nhiều. Do các ngài tùy loại hiện thân, không
đâu chẳng hiện thân, hiện ra những thân phận
khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, công việc khác nhau, chúng hội
đạo tràng của các ngài khác nhau. Cuộc sống của
họ chính là đạo tràng của họ, công tác của họ
cũng là đạo tràng của họ. Họ xử thế,
đăi người, tiếp vật cũng là đạo tràng
của họ. Trang nghiêm là thực hiện mỹ măn, tức
là thiện xảo phương tiện như đă nói trong
phần trước. Đấy là trang nghiêm.
(Kinh)
Chủng
chủng quang minh vô biên chiếu diệu.
(經)種 種 光 明 無 邊 照
耀。
(Kinh:
Các thứ quang minh chiếu sáng
ngời vô biên).
Câu này nói
tới trí huệ cao độ. Trong cuộc sống, trong
công việc, trong đối xử với mọi người,
đối sự, tiếp vật, đều biểu hiện
nghệ thuật trí huệ cao độ.
(Kinh)
Chủng
chủng cung điện trang nghiêm quốc giới.
(經)種 種 宮 殿 莊 嚴 國
界。
(Kinh:
Các thứ cung điện trang
nghiêm quốc giới).
Đây là
nói về y báo, tức hoàn cảnh sống của các Ngài.
(Kinh)
Chủng
chủng thọ lượng thị hữu tu đoản.
(經)種 種 壽 量 示 有 修
短。
(Kinh:
Các thứ thọ lượng,
thị hiện có dài, có ngắn).
Đây là
chánh báo. “Tu” là trường
(dài), [“tu đoản”] là dài ngắn. Thọ mạng dài hay
ngắn đều khác nhau. Kinh Vô Lượng Thọ dạy
chúng ta: Khi Thế Gian Tự Tại Vương Phật thị
hiện th́ thọ mạng của Ngài là bốn mươi
hai kiếp, nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
trong thế gian này của chúng ta với thọ mạng tám
mươi tuổi; dài, ngắn khác nhau, đều là thị
hiện.
(Kinh)
Tùy
chư chúng sanh chủng chủng tâm nhạo.
(經)隨 諸 眾 生 種 種 心
樂。
(Kinh:
Thuận theo các thứ ưa
thích của chúng sanh).
Đây là
nói rơ về các thứ thị hiện nhằm hằng thuận
chúng sanh, tùy hỷ công đức. Kinh Lăng Nghiêm bảo
là “tùy tâm chúng sanh, ứng sở
tri lượng” (thuận theo tâm của chúng sanh để
thích ứng với khả năng nhận biết của họ).
(Kinh)
Thị
hiện chủng chủng thành Chánh Giác môn.
(經)示 現 種 種 成 正 覺
門。
(Kinh:
Thị hiện các môn
thành Chánh Giác).
Giống
như một thí dụ đă được nêu trong kinh Vô
Lượng Thọ, “tám tướng
thành đạo”. Đây là nêu một thí dụ trong các thứ
thị hiện.
(Kinh)
Ư
đại chúng trung, quảng hiện thần biến, tác
sư tử hống, độ thoát chúng sanh.
(經)於 大 眾 中,廣 現
神 變,作 師 子 吼,度 脫
眾 生。
(Kinh:
Trong đại chúng hiện rộng
răi các thần biến, hiện tướng sư tử rống,
nhằm độ thoát chúng sanh).
Câu cuối
trong đoạn này là lời tổng kết. Đức Phật
bất luận thị hiện thân phận nào, nam, nữ,
già, trẻ, các ngành, các nghề, mục đích thị hiện
chỉ là một, “hiện
tướng sư tử hống nhằm độ thoát chúng sanh”, nhằm
lư do ấy. Biểu hiện trong cuộc sống, trong
việc làm, trong ứng xử, đều nhằm giúp cho
người khác giác ngộ, giúp cho chúng sanh phá mê, khai ngộ,
ĺa khổ, được vui, nhằm mục tiêu ấy. V́
thế, tuy đoạn kinh văn này rất dài, nhưng rất
dễ hiểu, hoàn toàn là một thứ so sánh. Hôm nay thời
gian đă hết, chúng tôi giảng đến đây.
Ngày mai
tôi có việc phải sang Tân Gia Ba và
Mă Lai một chuyến, bên Mă Lai xây dựng Di Đà Thôn, họ
xây dựng, muốn tôi đến xem. Tân Gia Ba Tịnh Tông Học
Hội mới mua được một đạo tràng,
tôi sang mở lớp bồi huấn (bồi dưỡng,
huấn luyện) lần thứ nhất, t́m hiểu xem nên
làm như thế nào? Mồng Mười tôi trở về,
mấy bữa giảng kinh đều theo lệ thường,
mong các vị đồng tu đều đến, do pháp
sư Ngộ Hữu giảng tại đây. Không cần biết
giảng ǵ, mọi người đều đến nghe,
kinh dạy Văn Huân rất quan trọng! Quư vị nghe càng
nhiều, nghe càng lâu, sẽ phát khởi thiện căn,
không nhất định lúc nào, không nhất định do
ai giảng, không nhất định giảng điều
ǵ, hễ thiện căn của quư vị được
động đến, phát khởi, quư vị sẽ hoát
nhiên đại ngộ. Nếu quư vị không đến
nghe, sẽ không có cơ hội ấy; đến nghe giống
như rút thăm lănh thưởng vậy. Rất có khả
năng trúng thưởng! Quư vị không đến, quư vị
không rút thăm, vĩnh viễn không có cơ hội trúng
thưởng. V́ thế, có cơ hội nghe kinh, phải tận
hết sức để tới nghe. A! Cảm ơn mọi
người!
Tập thứ sáu (
Xin mở
quyển kinh, trang thứ mười sáu, hàng thứ hai từ
dưới lên, xin đọc kinh văn:
(Kinh)
Thiện
nam tử! Ngă duy đắc thử Ức Niệm Chư Phật
B́nh Đẳng Cảnh Giới Vô Ngại Trí Huệ Phổ
Kiến pháp môn.
(經)善 男 子,我 唯 得
此 憶 念 一 切 諸 佛 平 等
境 界無 礙 智 慧 普 見 法
門。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Ta chỉ
đạt được pháp môn Ức Niệm Chư Phật
B́nh Đẳng Cảnh Giới Vô Ngại Trí Huệ Phổ
Kiến này).
Trong câu
thứ nhất này, tỳ-kheo Cát Tường Vân nói cho Thiện
Tài đồng tử biết pháp môn do chính Ngài tu hành chứng
quả, nêu danh xưng của pháp môn này. Ư nghĩa bao hàm
trong ấy rất sâu. Trong tiết này, đại sư
Thanh Lương cũng chú giải cho chúng ta không ít, chúng ta
hăy xem lời chú giải của Ngài. Đây là khoa mục lớn
thứ tư. Trong mỗi đoạn kinh văn chép về
một lần tham học, nói chung, được chia thành
sáu đoạn, trong phần trước tôi đă tŕnh bày với
quư vị rồi. Đây là đoạn thứ tư. Tiểu
đề mục của đoạn thứ tư là:
(Sớ)
Khiêm
kỷ thôi thắng.
(疏)謙 己 推 勝。
(Sớ:
Tự ḿnh khiêm hư,
đề cao người khác thù thắng hơn ta).
Đối
với chính ḿnh th́ khiêm hư, đề cao người
khác. “Thắng” là thù thắng.
Chẳng những thù thắng, mà c̣n cao siêu hơn ta rất
nhiều, tức là tự khiêm, tôn xưng người khác.
Trong phần này, có hai đoạn. Đoạn thứ nhất
là tự khiêm, đoạn thứ hai là đề cao người
khác. Đây là đoạn thứ nhất trong hai tiểu
đoạn ấy.
(Sớ) Tiên,
khiêm kỷ, tri nhất.
(疏)先 謙 己 知
一。
(Sớ:
Trước hết, tự khiêm, [bảo Thiện Tài ta] chỉ
biết một pháp).
[Ngài Cát Tường
Vân] khiêm hư nói: Trong vô lượng pháp môn, ta chỉ biết
một môn, ư nghĩa rất sâu xa! Năm mươi ba lần
tham học, năm mươi ba vị thiện tri thức
đều cùng hành xử theo kiểu này. Điều này nhằm
bảo ban chúng ta: Chúng ta tu học muốn thành tựu, muốn
khai ngộ, muốn chứng quả, thậm chí chúng ta niệm
Phật muốn được văng sanh, thật sự muốn
đạt đến mục đích ấy, quư vị phải
biết thâm nhập một môn th́ mới có thể đạt
đến mục tiêu ấy. Nếu quư vị học nhiều
pháp môn, chỉ có thể nói là quư vị học những kiến
thức Phật học thông thường, trong thế gian
này có thể khoe khoang là bậc học rộng nghe nhiều.
Xét về địa vị trong thế gian, quư vị có thể
giành được nhiều học vị tiến sĩ, nhưng
chẳng liên can ǵ tới liễu sanh tử, thoát tam giới
cả! Nói cách khác, quư vị vẫn phải tiếp tục
sanh tử luân hồi! Điều này nhằm chỉ rơ, nhắc
nhở chúng ta: Muốn thành tựu th́ chỉ có một
phương pháp duy nhất, tức là thâm nhập một
môn. Do vậy…
(Sớ) Khiêm
kỷ, tri nhất, tức kết tự phần.
(疏)謙 己 知 一,即
結 自 分。
(Sớ:
Tự khiêm, nói ta chỉ biết một pháp, nhằm kết
thúc phần nói về chính ḿnh)
Đây là
phần tổng kết thành tích tu hành của chính ḿnh.
(Sớ)
Hậu
(疏)後。
(Sớ:
Sau đó).
Đây là
đoạn thứ hai, kinh văn của đoạn thứ
hai thuộc phần sau.
(Sớ)
Thôi
thắng, tri đa.
(疏)推 勝 知 多。
(Sớ:
Đề cao người
khác vượt trỗi ta, biết nhiều).
Đề
cao người khác, bọn họ học rộng nghe nhiều,
biết nhiều hơn tôi. Ư nghĩa chính là…
(Sớ) Tăng
thắng tấn.
(疏)增 勝 進。
(Sớ:
Tăng trưởng ước vọng muốn tiến lên
những địa vị cao cả hơn)
Nay lời
chú giải tiếp theo đây nhằm giải thích danh
xưng của pháp môn được chứng đắc bởi
Cát Tường Vân Bồ Tát. Có danh đương nhiên có
nghĩa. Danh và nghĩa nhất định phải
tương ứng.
(Sớ) Kim
sơ, tức kết thị kỳ danh.
(疏)今 初。即
結 示 其 名。
(Sớ:
Nay, điều thứ nhất chính là kết lại lời
dạy về danh xưng).
“Kết” là tổng kết. Người
ta đến tham phỏng, [thiện tri thức] đem những
sự từng trải trong tu học cũng như những
kinh nghiệm, thành tựu của chính ḿnh cùng với đức
dụng, tác dụng thù thắng lớn lao ấy nói hết
với Thiện Tài. Cuối cùng, tổng kết lời dạy
bằng danh xưng của pháp môn.
(Sớ) Nhất
thiết chư Phật b́nh đẳng cảnh giới giả.
(疏)一 切 諸 佛
平 等 境 界 者。
(Sớ:
Cảnh giới b́nh đẳng của hết thảy
chư Phật).
Trước
hết, giải thích câu này. Câu thứ nhất:
(Sớ) Tức
thị sở quán hoành cai thập phương, thụ cùng
tam tế, nghĩa quán thập thân, cố vân nhất thiết.
(疏)即 是 所 觀。橫
該 十 方,豎 窮 三 際,義
貫 十 身,故 云 一 切。
(Sớ:
Tức là pháp được quán theo chiều ngang trọn
khắp mười phương, theo chiều dọc tột
cùng ba đời, nghĩa thông suốt mười thân, nên gọi
là “hết thảy”).
Kinh Hoa
Nghiêm nói đến Thập Thân (mười thân), nhưng
trong các kinh luận Đại Thừa, đức Phật
thường nói tới ba thân, Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Hóa
Thân. Hoa Nghiêm dùng con số “mười” để tượng
trưng cho sự viên măn. V́ thế nói tới mười thứ
thân, những điều này trong phần trước tôi
đă đều nói qua. Mười thứ thân chính là từ
ba thân mở rộng ra, quy nạp lại th́ chẳng ngoài
ba thân. Phép quán ở đây là quán cảnh giới b́nh đẳng
của Phật, nên gọi là “sở
quán” (pháp được quán, đối tượng
được quán). Trong câu này, cảnh giới sâu rộng
vô hạn, “hoành cai thập
phương” là nói tới không gian, “thụ cùng tam tế” là nói thời gian. “Tam tế” là nói tới quá khứ,
hiện tại, vị lai, quá khứ không khởi đầu,
vị lai không kết thúc. Trong không gian và thời gian vô hạn,
hết thảy chư Phật đều là cảnh giới
để quán. Nếu nói tỉ mỉ, sẽ bao gồm
mười thân Phật. Mười thân chính là vô lượng
thân. Quư vị phải hiểu, đức dụng nơi quả
địa giống như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng” (Tùy theo tâm của chúng sanh mà [thị hiện,
chỉ dạy sao cho] phù hợp với khả năng nhận
biết của họ). Chúng sanh trong mười
phương thế giới có cảm, Phật liền ứng,
đó gọi là “cảm ứng
đạo giao”, giống như ba mươi hai ứng
thân của Quán Thế Âm Bồ Tát trong phẩm Phổ Môn. Nói thật ra, Phật đâu có thân! Phật
không có thân! Do v́ không có thân, nên có thể tùy loại hiện
thân, có thể thuận theo tâm chúng sanh mà hiện vô lượng
thân. Vô lượng thân được quy nạp thành mười
loại lớn, cho nên gọi là “thập
thân”. Thập thân[1] lại
quy nạp thành ba thân.
(Sớ)
Cố
vân nhất thiết.
(疏)故 云 一 切。
(Sớ: Cho nên nói là “hết thảy”).
V́ thế,
trong “hết thảy” đó, nói thật sự, sẽ là vô
lượng thân vậy.
(Sớ)
Tức thượng phổ quán Nhất Hạnh tam-muội.
Quán kỳ Pháp Thân thập phương chư Phật, diệc
thông dư thân, chân ứng vô ngại. Thập thân viên dung,
giai thị sở niệm.
(疏)即 上 普 觀
一 行 三 昧。觀 其 法 身 十
方 諸 佛。亦 通 餘 身 真 應
無 礙。十 身 圓 融,皆 是
所 念。
(Sớ:
Chính là phổ quán Nhất
Hạnh tam-muội đă nói trong phần trên. Quán Pháp Thân th́
mười phương chư Phật cũng thông với
các thân khác, chân thân, ứng thân vô ngại. Mười thân viên
dung đều là cảnh được niệm).
Ở
đây, chúng ta phải đặc biệt chú ư: Ngài dạy
cho chúng ta phương pháp Niệm Phật. Niệm Phật
rất bao la, rất sâu, rất rộng, chẳng phải
như chúng ta mỗi ngày cầm xâu chuỗi: “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật!”
Chúng ta đọc chương kinh văn này, hăy nên thấu
hiểu phương pháp niệm Phật, hăy nên chú tâm quán
sát, học theo phương pháp Niệm Phật, thấy Ngài
niệm như thế nào? Trong một câu Phật hiệu của
Ngài, vô lượng thân tướng của mười
phương ba đời tất cả hết thảy
chư Phật đều niệm hết. Như vậy th́
Ngài niệm vị Phật nào? Trong phần trước tôi
đă nói rồi: Ngài niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi
đă giới thiệu với quư vị trong phần trước.
Đây chính là “một chính là hết
thảy, hết thảy chính là một”. Do vậy, lần
tham học thứ nhất trong năm mươi ba lần
bắt đầu bằng niệm A Di Đà Phật cho tới
lần tham học cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát
dùng mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc. Ư nghĩa ấy rất sâu, chúng ta phải
thấu hiểu: Từ đầu đến cuối chỉ
là một câu A Di Đà Phật niệm cho đến tột
cùng!
Trong khi ấy,
tham học chẳng trở ngại niệm Phật, niệm
Phật chẳng trở ngại tham học. Nói thật ra,
tham học là cuộc sống, là công việc. Ư nghĩa này
nhằm bảo chúng ta: Niệm Phật chẳng trở ngại
cho cuộc sống, chẳng trở ngại công việc, mà
công việc, cuộc sống chẳng trở ngại niệm
Phật. Trong kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm, không điều ǵ
chẳng nhằm nói rơ chuyện này. Nhưng trong cuộc sống,
trong công việc, quư vị quán sát như thế nào, lănh hội
như thế nào để ở trong ấy quư vị sẽ
biến đổi cái tâm, thay đổi cảnh giới, quư
vị viên măn thành Phật, ư nghĩa này khẩn yếu lắm!
Do vậy,
đây chính là điều đă được nói trong phần
trước, chữ “thượng”
ở đây chỉ cho “phổ
quán Nhất Hạnh tam-muội” đă được nói
trong đoạn kinh văn trong phần trước. “Quán kỳ Pháp Thân thập
phương chư Phật”, mười phương bao
gồm ba đời, mười phương ba đời
hết thảy chư Phật. Nói tới Pháp Thân, c̣n những
thân khác th́ bảo là “chân ứng
vô ngại”. Chân là Báo Thân, Ứng là Ứng Hóa Thân, hoàn toàn
nằm trong một câu Phật hiệu. Quư vị thấy
tâm người ta lớn như vậy đó, tâm lượng
ấy rộng nhiều. C̣n như chúng ta niệm Phật
trong tâm chỉ nắm níu A Di Đà Phật, chỉ cảm
thấy A Di Đà Phật thân quen, chèo kéo Ngài, tâm nhăn hết
sức nhỏ nhoi, chẳng để cho người thứ
hai nào được lọt vào đấy! Niệm Phật
như thế th́ làm sao thành công cho được? V́ thế,
người ta niệm như vậy, càng niệm tâm càng rộng,
càng niệm tâm càng lớn, thật sự là “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” (tâm
trùm thái hư, lượng trọn khắp các cơi nước
với số lượng nhiều như cát).
“Thập thân viên dung, giai thị sở
niệm” (Mười thân viên dung đều là cảnh
được niệm). Ngài không niệm từng thứ một
mà mỗi câu A Di Đà Phật đều niệm trọn hết.
Chúng ta phải hiểu rơ ư nghĩa này, rồi suy nghĩ xem
cách niệm Phật của chúng ta ra sao? Khi chúng ta niệm
Phật, dùng cái tâm nào? Nếu nói chúng ta niệm Phật, A
Di Đà Phật! A Di Đà Phật! Chuyện ǵ cũng không
nghĩ tới, chuyện ǵ cũng không biết th́ là cái tâm
ǵ vậy? Đấy là tâm vô minh, vẫn là bị vô minh
ngăn lấp. Một mặt niệm Phật, một mặt
khởi vọng tưởng, đấy là tâm trạo cử,
lộn tùng phèo, đều chẳng thể thành công. Quư vị
thấy người biết niệm Phật, người
ta niệm như thế nào? Họ dụng tâm như thế
nào? Một câu Phật hiệu là tận hư không, trọn
pháp giới, là cảnh giới b́nh đẳng của
chư Phật. Tiếp đó, đại sư giảng về
sự b́nh đẳng.
(Sớ)
B́nh đẳng hữu nhị.
(疏)平 等 有 二。
(Sớ:
B́nh đẳng có hai thứ).
Một
là nói trên mặt Sự, một là giảng theo mặt Lư.
Trước hết nói đến Sự.
(Sớ)
Ước Sự đẳng.
(疏)約 事 等。
(Sớ)
B́nh đẳng xét theo mặt
Sự).
Chữ “đẳng” ở đây là
b́nh đẳng. Nếu nói theo cách bây giờ th́ nói về b́nh
đẳng trên mặt Sự.
(Sớ)
Nhất thiết chư Phật lợi lạc, ư nhạo,
thọ dụng, biến hóa nhất thiết tác nghiệp tất
giai đồng cố.
(疏)一 切 諸 佛
利 樂 意 樂 受 用 變 化 一
切 作 業 悉皆 同 故。
(Sớ:
Hết thảy sự lợi
lạc, ḷng ưa thích, thọ dụng, biến hóa hết
thảy tác nghiệp của chư Phật đều giống
như nhau).
Đây là
nói trên mặt Sự, sự rất nhiều, nói chẳng hết.
Ở đây chỉ nêu vài thí dụ. “Lợi lạc”, “lợi”
là lợi ích chúng sanh. Dùng phương cách nào để tạo
lợi ích cho chúng sanh, có thể khiến cho chúng sanh thật
sự được vui sướng? Hết thảy
chư Phật đều do ư nghĩa này mà biểu hiện
nơi mặt Sự. “Ư nhạo”
nếu nói theo cách bây giờ th́:
- Một là trong cuộc
sống vật chất, nếu cuộc sống vật chất
được đầy đủ trọn vẹn th́ là lợi
lạc.
- [Hai là] cuộc sống
tinh thần được đầy đủ, trọn vẹn.
Đấy chính là ư
nghĩa của từ ngữ “ư
nhạo” [được diễn tả qua sự “thọ dụng”] kế tiếp.
Hai phương diện thọ dụng đều có, bất
luận là thọ dụng vật chất hay thọ dụng
tinh thần đều có. Sáu chữ này (tức lợi lạc,
ư nhạo, thọ dụng) có thể nói là đă bao gồm
trọn vẹn tất cả tâm nguyện của hết thảy
hữu t́nh trong chín pháp giới. Kế đó, đại
sư cho biết Phật dùng phương pháp nào để
thỏa măn hết thảy chúng sanh? “Biến hóa hết thảy tác nghiệp”, hóa hiện
đấy! “Tác” là tạo
tác, “nghiệp” là sự nghiệp,
đều giống nhau. Trên nguyên lư, nguyên tắc th́ không
hai, không pháp nào chẳng nhằm lợi lạc chúng sanh.
Nhưng cách làm của Phật th́ thiên biến vạn hóa,
chúng ta chẳng thể nào suy nghĩ, tưởng tượng
được, như năm mươi ba lần tham học
chỉ là nêu thí dụ mà thôi! Năm mươi ba lần
tham học là lợi lạc, ư nhạo, thọ dụng, biến
hóa hết thảy tác nghiệp của hết thảy
chư Phật, năm mươi ba lần tham học nhằm
nói lên điều này.
Trong ấy
có chánh diện, chúng ta gọi là thiện, tức người
lành làm việc tốt, mà cũng có phản diện, như
chúng ta thấy kẻ ác làm việc ác, đấy là cảnh
giới của bọn phàm phu chúng ta. Nhưng trong cảnh
giới của Bồ Tát th́ khác hẳn: Thuận hay nghịch
đều là thiện tri thức, thiện hay ác đều
thành tựu vô lượng công đức. Phàm phu không thấy
được, trong mắt phàm phu thấy những kẻ ấy
là người ác, trong mắt Bồ Tát thấy họ là
đại thiện tri thức. Trong kinh này cũng có trường
hợp ấy. Cam Lộ Hỏa Vương[2] suốt
ngày từ sáng đến tối giết người, giết
người không chớp mắt, chúng ta coi ông ta là ma
vương, ác ma! Trong mắt Thiện Tài, ông ta là đại
thiện tri thức. Đại thiện tri thức giết
người ư? V́ sao giết người? Tiêu nghiệp
chướng cho họ, siêu độ họ, chúng ta có biết
hay chăng? Nếu chẳng phải là người có công
phu, có cảnh giới tương đương, chắc
chắn sẽ thấy không ra!
Thật
ra, tuy lư ấy rất sâu, nhưng không phải là chúng ta chẳng
thể lănh hội. Quư vị phải đọc kỹ Liễu
Phàm Tứ Huấn, thật sự đọc thuộc Liễu
Phàm Tứ Huấn, đọc hiểu, tôi tin rằng khi quư
vị đọc kinh Hoa Nghiêm, sẽ thấu hiểu
được mấy phần cảnh giới ấy. Cư
sĩ Liễu Phàm nói, thật ra không phải là ông ta nói, mà
là thiền sư Vân Cốc nói: Có người thỉnh giáo
ông ta: “Thế nào là thiện? Thế nào là ác?” Thiền
sư Vân Cốc hỏi học tṛ: “Các ông đều là
người có học, thế nào là thiện? Thế nào là
ác?” [Bọn họ thưa]: “Khen ngợi người ta,
tưởng thưởng, khích lệ người ta, ca ngợi
người ta là thiện! Đánh người, chửi
người là ác”. Thiền sư Vân Cốc lắc đầu:
“Không hẳn vậy! Nếu
trong tâm các ông giữ cái nh́n lệch lạc, ông khen ngợi
ai đó, bợ đỡ người ta, trong tâm có mong cầu,
có coi là thiện được hay chăng? Bất thiện!
V́ các ông có mục đích. Thầy giáo hằng ngày đánh
con cái người khác, đánh đập học sinh, nhằm
dạy cho nó tốt đẹp hơn! Vậy th́ đánh chửi
kẻ khác không phải là ác, mà thật sự là thiện”.
Điều này cho thấy nhiều người trong thế
gian nh́n lầm thị phi, thiện ác, rất nhiều
người nh́n ngược ngạo!
Giống
như Quán Trưởng của chúng ta ở chỗ này mười
mấy năm, hai mươi năm, rất nhiều người
trong số quư vị thân cận bà ta, cũng có rất nhiều
người phê b́nh bả, bà ta có thật sự là ác hay
không? Cũng rất nhiều vị thấy bà ta ác, tôi thấy
bà ta rất thiện. Nh́n vào biểu hiện, quư vị thấy
dường như bà ta không đếm xỉa lư lẽ, hống
hách, chuyên quyền, rất nhiều người không hiểu
bả. Những năm qua tôi tu học có được một
chút thành tích như thế này, được một chút lợi
ích như thế này hoàn toàn nhờ Quán Trưởng đắc
lực, nhờ quen với cách xử sự của bà ta.
Người ta cúng dường tiền bạc cho tôi, bà ta cần,
tôi đều đưa hết, bà ta dùng làm ǵ tôi chẳng
biết tới, tốt hay chăng? Tốt lắm chứ!
Khiến cho ư niệm tham tài của tôi bị đoạn sạch,
tôi được lợi ích rất nhiều. Người
ta cúng dường tôi, quư vị có cần hay không? Quư vị
không cần. Quư vị không đoạn cái tâm tham cho tôi, bà ta
có biện pháp đoạn được cái tâm tham của
tôi. Danh văn, lợi dưỡng, thứ ǵ bà ta cũng đều
lấy hết, cai quản đại chúng, quản người,
lo liệu công việc, chuyện ǵ bà ta cũng trông coi, tôi
chuyện ǵ cũng không phải lo tới, hỏi ǵ cũng
không được, hễ hỏi tới bà ta liền nổi
nóng, toan chửi mắng người ta. Quư vị thấy
bà ta rất dữ, tôi thấy bà ta rất tốt, v́ sao vậy?
Thành tựu cái tâm thanh tịnh cho tôi, thành tựu Nhẫn Nhục
Ba La Mật cho tôi, tôi được Quán Trưởng thành
tựu Lục Ba La Mật cho tôi. Không có vị thiện tri
thức như vậy th́ quư vị phải hiểu là chẳng
thể nào đoạn trừ danh văn, lợi dưỡng,
ngũ dục, lục trần dễ dàng như vậy
được!
Khi đạo
tràng này được tạo dựng, nếu tôi muốn
quản lư, chắc chắn tôi sẽ vướng trong danh
văn, lợi dưỡng. Nói thật ḷng, tuy trong đời
này, tôi sẽ rất có thể diện, nhưng tương
lai vẫn là lục đạo luân hồi. Tôi luân hồi
trong lục đạo th́ bà ta cũng luân hồi trong lục
đạo, bà ta có công đức ǵ đâu? Bà ta giúp tôi
đoạn trừ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục,
lục trần, nên có công đức, tôi có thể vượt
thoát tam giới, cho nên A Di Đà Phật tiếp dẫn bà
ta văng sanh. Người thế gian làm sao thấy được
điều này? Nếu tôi không nói toạc ra, quư vị sẽ
đều nghĩ không thông. Cho rằng Quán Trưởng
hung tợn như vậy, từ sáng đến tối một
câu Phật hiệu cũng không niệm th́ làm sao bà ta văng
sanh cho được? Quư vị thật sự hiểu rơ,
đương nhiên bà ta văng sanh, A Di Đà Phật
đương nhiên hộ tŕ bà ta. Thành tựu của tôi
chính là thành tựu của bà ta; nếu tôi chẳng thành tựu,
bà ta cũng chẳng có được một chút công đức
của người hộ tŕ. Điều này giống
như trồng cây. Cây đă mọc to sẽ lắm trái, thu
hoạch rất nhiều. Người trồng cây vui sướng,
bà ta có thu hoạch. Dẫu trồng cây cho to mà đến cuối
cùng cây chết khô, chẳng sanh ra thứ ǵ, th́ một tí
công đức bà ta cũng không có. Bà ta trồng cây thành công
như thế, đơm bông, kết quả. Đơm bông
là pháp môn Tịnh Tông của chúng ta, Vô Lượng Thọ
Kinh và phương pháp Niệm Phật được phổ
biến rộng răi trên toàn thế giới, đấy chính
là đơm bông. Hiện nay, chúng ta mấy lượt tổ
chức lớp bồi dưỡng huấn luyện tại
Tân Gia Ba, huấn luyện học sinh đông đảo
như thế, đấy là kết hạt, khiến cho
chánh pháp này, pháp môn Tịnh Tông này được vĩnh viễn
kế tục. Bà ta đă thật sự thực hiện
công cuộc hộ tŕ chánh pháp, tiếp nối huệ mạng
của Phật. Những thứ tướng ác ấy chính
là điều được nói tới trong đoạn
kinh này, đều là do Phật, Bồ Tát biến hiện,
đóng giả, nhằm thành tựu người khác. Nếu
bà ta làm như thế này đối với quư vị: Suốt
ngày từ sáng tới tối, đối với tôi cung cung
kính kính, vâng lời, hầu hạ, tôi cũng sẽ đọa
lạc, mà quư vị cũng đọa lạc luôn. Do vậy,
nếu quư vị là người biết học th́ nghịch
hay thuận đều là thiện tri thức, rất khó! V́
vậy, tới khi A Di Đà Phật đến tiếp dẫn,
thay bà ta an bài hậu sự, tôi mới hoảng nhiên đại
ngộ, bà ta đến diễn tuồng, bà ta không phải thật
sự là như vậy, bà ta là Bồ Tát từ Tây
Phương Cực Lạc thế giới trở lại
nơi đây.
V́ vậy,
lúc lâm chung A Di Đà Phật lo lắng cho bà ta. Đây là
điều chúng ta chưa từng nghe nói tới. Khi chúng tôi
muốn may y, A Di Đà Phật báo cho bà chủ tiệm may
Tăng phục biết, kêu bà ta may gấp cho chúng tôi. Từ
trước đến nay, chưa từng nghe nói tới
chuyện này. Ngày hôm ấy, bà chủ tiệm đo áo cho
chúng tôi, nói ra chuyện này, giữa trưa A Di Đà Phật
báo cho bà ta biết, chúng tôi đều ngớ người ra.
Do vậy, Quán Trưởng là Bồ Tát từ Tây
Phương Cực Lạc thế giới thị hiện,
trong quá khứ chúng ta không biết, có hiểu lầm bà ta
đôi chút; nay nếu đă biết mà vẫn hiểu lầm
th́ quư vị không phải là người niệm Phật!
Tuy quư vị niệm A Di Đà Phật, quư vị vẫn là
hủy báng Phật, Bồ Tát, công đức niệm Phật
của quư vị hoàn toàn bị tiêu sạch, không c̣n nữa!
Hết sức chẳng dễ dàng, hộ tŕ suốt ba
mươi năm, khiến cho Tịnh Tông được
hoằng dương khắp cả thế giới, ảnh
hưởng đến đời sau. Ảnh hưởng ấy
hết sức sâu, hết sức rộng lớn. Do vậy,
đây là biến hóa, tác nghiệp, thuộc về loại
h́nh thức này.
Các vị
ấy biến hóa thành những h́nh tượng nào? Không nhất
định! Hoàn toàn là để độ chúng sanh, cần
phải dùng tới phương pháp nào, bèn dùng phương
pháp ấy để đối phó. Nói chung, phương
pháp lành cũng thế, mà phương pháp ác cũng thế.
Thuận cảnh cũng thế, mà nghịch cảnh
cũng thế, đối tượng hóa độ đều
được lợi ích, họ đều có thể lănh
ngộ, chúng ta thường gọi là khai ngộ. Họ
đều có ngộ xứ, đều có thể biến
đổi, trừ sạch căn bệnh, tập khí, thành
tựu “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, công phu nằm ở
chỗ này. Những thứ vừa được nói tới
trong đoạn kinh văn này như “lợi lạc, ư nhạo” đều nằm trong ư
này.
Chẳng
những Quán Trưởng đă thành tựu sự nghiệp
lớn lao và nhân duyên lớn lao, mà khi lâm chung, bà ta c̣n trao cho
chúng ta một lời chỉ dạy cực lớn, dạy
chúng ta niệm Phật th́ nhất định chính ḿnh phải
có năng lực, phải nắm chắc sẽ tự
được văng sanh. Đấy là lời chỉ dạy
do bà đă dành cho chúng ta. V́ sao vậy? Nếu như lâm chung
không nắm chắc [văng sanh], nằm bệnh trên giường,
sẽ giống như thầy Lư đă nói: “Một vạn người niệm Phật,
được văng sanh cũng không tới hai ba người
mà thôi”. Chắc chắn là đại đa số chẳng
thể văng sanh. Do nguyên nhân nào? Quư vị đọc Sức
Chung Tu Tri sẽ biết ngay, chính là v́ lúc lâm chung không
đúng pháp. Dẫu cho người ấy niệm giỏi
cho mấy, rất dễ dàng v́ một động tác không
chú ư[3] liền
bị lôi vào lục đạo.
Quán Trưởng thị
hiện lúc lâm chung có phước báo, người xuất
gia chúng ta đông đảo như thế, Tam Bảo đầy
đủ đến hộ tŕ bà ta làm cho tâm bà ta không điên
đảo khi lâm chung. Chúng ta đông người như vậy,
ngày đêm thay phiên nhau, không ai nghe bà ta nói một câu quàng xiên
nào, chưa hề nghe nói qua. Chưa hề thấy người
nhà, quyến thuộc nào, khi chết [được như
vậy], chưa thấy ai trong quá khứ được
như vậy. Đấy là hộ tŕ đắc lực, là
phước báo thật sự. Nghĩ đến khi chúng ta
lâm chung trong tương lai, có được cơ hội ấy
hay chăng? Có được người xuất gia chân
tâm chân ư đến hộ tŕ hay chăng? Nếu không có nhân
duyên ấy, làm sao chúng ta không bị lỡ làng cho được!
Nằm bẹp trên giường bệnh, nghe người ta
xếp đặt có được hay chăng? Nguy hiểm
quá! V́ thế, bà ta đă trao cho chúng ta một lời cảnh
cáo, khi mất, nhất định phải tự tại.
Do vậy, tôi t́m đến ông Hoàng, chủ tiệm in kinh.
Tôi nhờ ông ta in cho tôi một vạn cuốn Niệm Phật
Luận để kết duyên với mọi người. Trong
Niệm Phật Luận, người xuất gia là thầy
Tu Vô, biết trước lúc mất, ngồi qua đời,
ngồi rất nghiêm túc, đẹp đẽ, rất tự
tại! Trong số cư sĩ tại gia đều có những
vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ nêu gương tốt
đẹp. Niệm Phật bao lâu? Cũng chẳng qua là
dăm ba năm mà thôi, thời gian trọn chẳng dài! Nếu
quư vị hỏi v́ sao họ có thể làm được
ư? Buông xuống muôn duyên, nếu hết thảy pháp thế
gian lẫn xuất thế gian chẳng để nơi
ḷng th́ một câu A Di Đà Phật sẽ được
thành công.
Do vậy,
những tấm gương ấy, những khuôn mẫu ấy,
chúng ta phải thường nhắc tới, chứ không phải
là tṛ trẻ nít. Chẳng những buông xuống duyên đời,
mà Phật pháp cũng phải buông xuống, thật sự
là một câu Phật hiệu niệm tới cùng cực, sẽ
thành công. Thời thời khắc khắc tưởng nhớ
A Di Đà Phật, chúng ta sẽ ra đi rất tự tại.
Giống như một đồ đệ làm nghề vá nồi
của lăo pháp sư Đế Nhàn khi Ngài c̣n trẻ, bất
quá ông ta cũng niệm Phật ba bốn năm. Đạo
lư nào trong kinh Phật, vị ấy cũng chẳng thông. Vị
ấy không biết chữ, nghe kinh th́ một buổi
cũng chưa từng nghe qua. Do vị ấy sống khổ
quá, nên t́m đến pháp sư Đế Nhàn xin xuất gia.
Pháp sư Đế Nhàn cũng bị ông ta ép đến nỗi
không c̣n cách nào khác, phải thâu nhận. Ông ta là bạn chơi
đùa thuở nhỏ, ở cùng chỗ với Sư lúc Ngài
mới mấy tuổi. Về sau, do ông ta khổ như vậy,
sự khổ sở ấy khiến cho ông ta nhàm chán thế
gian. Bởi vậy, cuộc sống tốt đẹp sẽ
không hay, cuộc sống tốt đẹp sẽ khiến
cho quư vị nẩy sanh ư niệm tham luyến thế gian, quư
vị vẫn không ĺa bỏ được, sẽ không có
phần nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Cuộc
sống khổ sở tốt lắm! Do vậy, trong kinh,
đức Phật đă dạy chúng ta: “Dĩ khổ vi sư” (Lấy khổ làm thầy),
rất có đạo lư! Cuộc sống khổ quá, một
tí ti ư niệm tham luyến đối với thế gian
đều không có, cho nên người ấy mới có thể
nhất tâm niệm Phật. Niệm ba bốn năm, quư vị
thấy ông ta đứng qua đời, lại c̣n đứng
sững nhiều hôm rồi pháp sư Đế Nhàn mới đến
lo liệu hậu sự cho ông ta. Bởi lẽ, đạo
tràng tu học của ông ta ở Ôn Châu, tức huyện Ôn
Châu tỉnh Chiết Giang, c̣n lăo pháp sư Đế Nhàn th́ ở
chùa Kim Sơn thuộc Trấn Giang ở Tô Châu, tức chùa
Kim Sơn ở Trấn Giang. Người ta từ Ôn Châu
đến báo tin, khi ấy chưa có phi cơ, cũng không
có xe hơi, đi đường bộ, ngồi thuyền
đến báo tin, lăo pháp sư Đế Nhàn lại từ
chùa Kim Sơn trở về Ôn Châu lo liệu hậu sự
cho ông ta, có nhanh th́ cũng phải ba bốn ngày. Chết rồi,
ông ta vẫn đứng sững ba bốn ngày, thật phi
thường! Một chữ cũng không biết! Do vậy,
Quán Trưởng văng sanh đă nhắc nhở, cảnh tỉnh
chúng ta hết sức cao độ! Nay chúng ta phải học
theo ai? Phải học theo người ngu độn nhất,
học theo người thợ vá nồi ấy, học theo
người ấy th́ chúng ta mới có thành tựu, mới
có hy vọng.
Mỗi
người đều phải tích cực đọc Sức
Chung Tu Tri mấy lượt th́ quư vị mới biết
lâm chung đáng sợ. Không phải là nói cái chết đáng
sợ, chết không đáng sợ! Nói thật ra, người
tiễn đưa lúc lâm chung đều là oan gia trái chủ;
nếu chẳng đúng như pháp, sẽ không ra làm sao cả,
sẽ hỏng chuyện. V́ vậy, phương pháp tốt
nhất là chính ḿnh có thể biết trước lúc mất,
không bị bệnh, muốn đi lúc nào th́ đi ngay lúc
đó, ra đi tự tại mới tốt. Trong mấy
năm gần đây nhất, chúng ta cũng có lúc nghe có những
gương như vậy, người ta đă làm được
th́ tại sao chúng ta không làm được? Tôi nhớ trong
quá khứ, tôi cũng đă nói mấy lần rồi, chuyện
này nói thêm mấy lần nữa cũng không sao. Ai đă nghe
rồi th́ ấn tượng sẽ sâu thêm, người
chưa nghe th́ hăy nghe cho kỹ.
Khi tôi ở
Gia Châu (
Nay chúng
ta phải học theo gương ấy, đây là chuyện
cận đại, chuyện thuộc vào mấy năm
trước. Bọn họ làm được, v́ sao chúng ta
không làm được? Do vậy, quư vị nhất định
phải nhớ rơ, chuyện thế gian như mộng, huyễn,
bọt, bóng. Chuyện ǵ quư vị đă làm xong, nhất
định đừng giữ trong ḷng. Giữ những
chuyện ấy trong ḷng là quư vị lầm lẫn quá đỗi
rồi! Đối với mọi chuyện th́ sao? Tùy duyên,
quyết định chẳng nắm níu, tùy duyên sẽ tiêu
nghiệp. Quư vị hỏi tôi, tôi không có chủ ư, tôi không
có chủ trương, quư vị thích làm thế nào bèn làm
như thế ấy, quư vị cho rằng như thế nào
là hay th́ làm như vậy mới là hay, quư vị tưởng
quư vị tự tại lắm! Ở trong hết thảy cảnh,
trong hoàn cảnh nhân sự, trong hoàn cảnh vật chất,
chúng ta phải tu tâm thanh tịnh, tu tâm b́nh đẳng, tu
tâm chân thành, niệm Phật như vậy th́ mới có thể
văng sanh.
Do vậy,
chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi biến
hóa hết thảy tác nghiệp, không phải là người
thật sự tu hành, sẽ chẳng thể thấu hiểu.
Nói chung là v́ chính quư vị có thành kiến, cho nên đối
lập với các vị ấy. Nói chung là ǵ? Tạo nghiệp!
Nếu quư vị thật sự biết “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”,
hết thảy cảnh giới đều là cảnh do Phật,
Bồ Tát biến hiện. Đừng nghĩ Phật, Bồ
Tát rất chiếu cố một ai đó, không quan tâm đến
ta. Nếu nghĩ như vậy, quư vị đă khởi vọng
tưởng, quư vị đă lầm lẫn mất rồi!
Thật ra, Phật, Bồ Tát thời thời khắc khắc
luôn chiếu cố quư vị, nhưng chính quư vị không tiếp
nhận, như vậy th́ quư vị làm cách nào đây? Người
này khen ngợi quư vị mấy câu, quư vị sung sướng
khôn cùng: “Người ấy là người tốt!” Kẻ
nọ chửi quư vị vài câu, giận dữ mấy bữa
không nguôi! Người bên ngoài khen ngợi hay chửi rủa
quư vị đều là Phật, Bồ Tát, quư vị không tiếp
nhận, phản kháng họ, bảo là họ không chiếu
cố quư vị ư? Người ta khen ngợi quư vị,
quư vị gật đầu: “Rất hay! Tôi chẳng
đáng được khen ngợi, tôi không được như
vậy”. Tâm quư vị b́nh tịnh, chẳng khởi sóng gió,
chẳng sanh ḷng hoan hỷ. Đối với hủy báng,
khi nghe âm thanh hủy báng giống như tiếng vang trong
hang trống, coi như không có những chuyện ấy, tâm quư
vị vẫn như như bất động. Quư vị thấy
người ta hủy báng hay khen ngợi quư vị đều
là tác nghiệp biến hóa của Phật, Bồ Tát, há quư vị
chẳng thành tựu trong khi ấy ư?
V́ thế,
đại sư Ngẫu Ích nói rất hay: “Cảnh duyên không tốt, xấu”; cảnh là hoàn cảnh
vật chất, duyên là hoàn cảnh nhân sự. Ngài nói rơ trong
hoàn cảnh nhân sự lẫn hoàn cảnh vật chất,
không có ǵ là đúng, sai, tốt, xấu. Vậy th́ đúng,
sai, tốt, xấu ở chỗ nào? Ở trong ḷng người,
ở trong chính tâm ta. Quư vị dùng cái tâm nào để cảm?
Quư vị dùng thiện tâm để cảm, tất cả cảnh
giới sẽ đều là lành. Quư vị dùng ác tâm để
cảm, tất cả cảnh giới đều là ác. V́ thế
mới nói “cảnh chuyển
theo tâm”, chứ không phải là tâm chuyển theo cảnh.
Tâm chuyển theo cảnh chính là những kẻ thấy biết
lầm lẫn, không phải như vậy! Đạo lư thật
sự là “cảnh chuyển theo
tâm”. V́ thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nếu có thể chuyển được cảnh, sẽ
giống Như Lai”. Thật sự là kẻ thông minh, lanh
lợi, quư vị phải chuyển được cảnh
giới. Bất luận cảnh giới nào hiện tiền,
nếu hiểu rơ ràng th́ là trí huệ, như như bất
động là Thiền Định. Do vậy, hễ cảnh
giới hiện tiền, quư vị tu điều ǵ nơi
đó? Tu Định, Huệ, giữ Định Huệ cho
cân bằng, làm sao quư vị không thành tựu cho được!
Người
niệm Phật nhất tâm bất loạn, nhất tâm là
Định, bất loạn là Huệ. Quư vị có
được công phu ấy, làm sao chẳng văng sanh? Chúng ta
thấy người ta văng sanh, thấy rồi hết sức
hâm mộ, họ có bản lănh ǵ vậy? Bản lănh của
họ nằm ở chỗ này, tức là trong hết thảy
cảnh giới đều hiểu rơ ràng, như như bất
động. Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy ngài
Tu Bồ Đề mà cũng là dạy chúng ta, “bất thủ ư tướng,
như như bất động” (chẳng chấp lấy
tướng, như như bất động), tức là
ngoài chẳng chấp vào tướng, trong tâm chẳng động.
Chẳng phải là bảo quư vị mắt không thấy, tai
không nghe, không phải vậy! Như vậy th́ đâu có ích
ǵ! Mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, sáu căn tiếp
xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài, hiểu rơ ràng là trí
huệ, bất động là Thiền Định. Đấy
là nói trên mặt Sự, trên mặt Sự thật ra quá nhiều,
chẳng thể nói hết được. Người biết
tu hành sẽ tu hành trong cảnh duyên ấy, tách ĺa hoàn cảnh
nhân sự vật chất th́ quư vị đến đâu
để tu? Vô ích! Tu hành tu trong xă hội phức tạp
này, xă hội càng phức tạp, sẽ càng dễ thấy
rơ quư vị có công phu Định Huệ hay không! Tiếp
đó là nói về Lư. Đây là…
(Sớ)
Nhị giả Lư đẳng.
(疏)二 者 理 等。
(Sớ:
Thứ hai là lư b́nh đẳng).
Sự
đă b́nh đẳng mà Lư cũng b́nh đẳng.
(Sớ)
Thập phương Như Lai đồng nhất Pháp Thân,
tam tế chư Phật vô nhị thể cố.
(疏)十 方 如 來
同 一 法 身,三 際 諸 佛 無
二 體 故。
(Sớ:
Mười phương
Như Lai có cùng một Pháp Thân, do ba đời chư Phật
không hai thể vậy).
Ư
nghĩa này cũng rất sâu. Chư Phật Như Lai có
cùng một Pháp Thân, chúng ta và chư Phật có cùng một
Pháp Thân hay chăng? Quư vị phải hiểu rằng:
Cũng cùng một Pháp Thân! Pháp Thân là Lư thể, Pháp Thân là
năng biến (cái có thể biến hiện ra những thứ
khác), y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới
đều do nó biến hiện. Phật giáo gọi nó là
Pháp Thân, c̣n triết học hiện đại gọi nó là Bản
Thể, tức là bản thể của vũ trụ vạn
hữu. Vạn hữu trong vũ trụ do đâu sanh ra? Từ
đây mà sanh ra, Phật giáo gọi là Pháp Thân. Do vậy,
chúng ta và hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều
có cùng một Pháp Thân. Có cùng một Pháp Thân với hết thảy
chư Phật, nghĩa là cũng có cùng một Pháp Thân với
hết thảy chúng sanh! Phật, Bồ Tát biết rơ ràng,
minh bạch, cho nên Phật, Bồ Tát lưu xuất tâm từ
bi, gọi là vô duyên đại từ, chữ Duyên [ở đây]
là điều kiện. Vô duyên là vô điều kiện.
Đồng thể đại bi, v́ sao các Ngài yêu
thương, che chở chúng sanh, quan tâm các chúng sanh vô điều
kiện? Là v́ có cùng một Pháp Thân. Chẳng những hết
thảy hữu t́nh có cùng một Pháp Thân, mà vô t́nh chúng sanh
cũng có cùng một Pháp Thân. Đây chính là như kinh Hoa
Nghiêm đă nói: “T́nh và vô t́nh cùng
viên Chủng Trí”. Cùng một Pháp Thân, đấy là giác ngộ,
hiểu rơ. Chúng sanh không giác ngộ, mê hoặc, điên đảo,
nên cùng là một thân mà thấy là bất đồng, vẫn
cứ muốn song phương đối lập với
người ấy, vẫn muốn tạo vô lượng
vô biên tội nghiệp, vẫn muốn gây tổn
thương cho nhau, chẳng biết là có cùng một Pháp
Thân. Do vậy, hại người cũng là hại chính
ḿnh, lợi ích người khác là lợi ích chính ḿnh, v́ sao? “Tự tha bất nhị”,
trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường
nói như thế. V́ sao chúng ta không thể làm được?
Chúng ta vẫn thấy ta và người là hai, đấy gọi
là nghiệp chướng, tập khí từ vô thủy kiếp
đến nay, mê hoặc, điên đảo mà! Đấy
là b́nh đẳng trên mặt Lư. Tiếp theo là dẫn các
kinh để làm chứng.
(Sớ)
Cố
Bát Nhă vân: “Nhược nhất Phật xuất thế, nhất
thiết giai xuất. Nhất Phật Niết Bàn, nhất
thiết Niết Bàn. Hà dĩ cố? Chư Phật pháp tánh
vô nhị tướng cố”. Bất như thị tri, phi
chân niệm Phật!
(疏)故 般 若 云,若
一 佛 出 世,一 切 皆 出。一
佛 涅槃,一 切 涅 槃。何
以 故。諸 佛 法 性 無 二 相
故。不如 是 知,非 真 念
佛。
(Sớ:
V́ thế, kinh Bát Nhă dạy: “Nếu một đức
Phật ra đời th́ hết thảy đều ra đời.
Nếu một đức Phật nhập Niết Bàn th́ hết
thảy đều nhập Niết Bàn. V́ sao vậy? Do pháp
tánh của chư Phật không có hai tướng”. Chẳng
biết như thế, sẽ không phải là chân thật niệm
Phật).
Nói tới
pháp môn Niệm Phật, người thật sự niệm
Phật hiểu rơ đạo lư này; do vậy, kinh luận
thường nói tới Phật hiệu của người
[niệm Phật chân thật ấy] như sau: “Một niệm tương ứng
một niệm Phật, niệm niệm tương ứng
niệm niệm Phật”. V́ sao nay chúng ta chẳng thể
không tương ứng, v́ sao người ta một niệm
tương ứng một niệm Phật? Do người
ta hiểu rơ chân tướng sự thật, trong mấy năm
gần đây, chúng tôi thường gọi [chân tướng
sự thật ấy] là “chân tướng
của nhân sanh vũ trụ”. Hiểu rơ chân tướng
là giác ngộ, giác chính là Phật.
“Nhất Phật xuất thế,
nhất thiết giai xuất”: Chẳng phải là cảnh
giới của phàm phu, mà là cảnh giới của Phật.
Đức Phật đă thành Phật, thấy hết thảy
chúng sanh đều là Phật. Trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác,
đức Phật dạy: “Hết
thảy chúng sanh vốn đều là Phật”. Khi nào quư
vị sẽ thấy được? Khi thành Phật sẽ
thấy được. Chính ḿnh đă thành Phật, sẽ
thấy hết thảy bao nhiêu chúng sanh vốn đều
là Phật. Điều này là một khải thị lớn
cho chúng ta, chúng ta hăy nên thường phản tỉnh: Chính
ḿnh đang thuộc cảnh giới nào? Nếu chính ḿnh thấy
hết thảy chúng sanh đều thành Phật, chính ḿnh sẽ
thành Phật. Nếu quư vị vẫn thấy “ta thành Phật
rồi, những kẻ khác đều là phàm phu”, chắc chắn
là quư vị chưa thành Phật. Vị Phật ấy là Phật
giả, không thật. Nếu quư vị thành Bồ Tát, sẽ
thấy hết thảy chúng sanh đều là Bồ Tát. Cùng
một đạo lư ấy, quư vị thấy hết thảy
chúng sanh đều là người tốt th́ quư vị mới
là người tốt. Quư vị thấy hết thảy
chúng sanh đều là kẻ xấu, chính ḿnh là kẻ xấu
xa nhất! Do vậy, Lục Tổ Huệ Năng đại
sư nói: “Nếu ai thật tu
đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Đấy
là bí quyết dụng công. Lục Tổ nói Ngài dụng công
chỉ thấy lỗi lầm của chính ḿnh, không thấy
lỗi của người khác, sao Ngài không khai ngộ cho
được? Làm thế nào để chứng quả? Bí
quyết nằm trong câu ấy. Nếu quư vị học
được [bí quyết ấy] th́ một đời này
quư vị sẽ có hy vọng thành công, có hy vọng khai ngộ,
chứng quả. Quư vị phải nắm chặt bí quyết
này, phải học nhé!
Thấy
lỗi của chính ḿnh, chẳng thấy lỗi thế
gian. Ngài không nói chẳng thấy lỗi người khác, chẳng
thấy lỗi người khác c̣n thuộc phạm vi nhỏ
nhoi. [V́ chỉ hạn cuộc nơi] con người mà thôi!
Ngoài con người ra, c̣n có rất nhiều sự, rất
nhiều vật, tất cả hết thảy những lỗi
lầm ngoài những lỗi của chính ḿnh ra, người
ấy đều không thấy, những ǵ người ấy
thấy toàn là thiện. Có kẻ cật vấn: “Trong những
điều thiện chẳng có tướng sai biệt
ư?” Có tướng sai biệt chứ! Đủ mọi
thứ tướng thuận nghịch sai biệt, giống
như trong năm mươi ba lần tham học ở
đây là năm mươi ba thứ cảnh giới bất
đồng, hiện tượng bất đồng; nhưng
trong các thứ hiện tượng [bất đồng ấy]
chẳng thấy lỗi lầm của người khác, chỉ
thấy toàn những chỗ tốt đẹp của họ.
Nếu quư
vị không tin tưởng, quư vị hăy nghĩ đến
điều tôi vừa mới thưa cùng các quư vị. Quư vị
thấy Quán Trưởng có đủ thứ lỗi lầm,
tôi thấy bà ta điều ǵ cũng tốt đẹp, tôi
không thấy bà ta có lỗi lầm. V́ sao thế? Những
hành vi của bà ta đều tạo lợi ích cho tôi, tôi
đều được thọ dụng, nhờ bà ta mà
tôi lănh ngộ, khai giải, đoạn tập khí, tăng
trưởng Định Huệ. Vấn đề thuộc
về mỗi người. Khi đă thấy Quán Trưởng
đối xử với tôi như thế th́ [sẽ thấy]
những người khác cũng giống như vậy, chỗ
nào cũng giống như nhau. Người ta lăng nhục
tôi, chửi bới tôi, tôi rất cám ơn họ, v́ sao tôi cảm
ơn họ? Là v́ họ đến khảo nghiệm tôi,
tôi thật sự không động tâm, không sanh phiền năo, tôi
đậu rồi! Tôi cảm tạ họ. Họ đến
khen ngợi tôi, đến cúng dường tôi, tôi cũng cảm
tạ họ, v́ sao? Tôi không khởi tâm tham, tôi không bị
lay động bởi những thuận cảnh, tôi thấy
toàn là cảnh giới tốt. Như vậy mới có thể
thành tựu, đó gọi là học Phật, đó gọi
là tu hành. Tu hành là thời thời khắc khắc trong hết
thảy các cảnh giới, sửa đổi cho đúng những
hành vi lầm lạc. Khi thấy người khác có lỗi
lầm, tức là họ có hành vi sai lầm th́ phải quay
đầu phản tỉnh xét coi chính ḿnh có mắc lỗi
lầm ấy hay không. V́ trong cảnh thuận hay nghịch,
phải phản tỉnh xem chính ḿnh có khởi tâm động
niệm hay không? Nếu có khởi tâm động niệm,
trông thấy lỗi lầm của chính ḿnh, thật sự
không thấy lỗi lầm của người khác. Người
khác trắc nghiệm chính ta, thí nghiệm xem chính ta có khởi
tâm động niệm hay không? Nếu hồi quang phản
chiếu được như vậy, thường xuyên phản
tỉnh như thế, tôi tin là công phu quư vị mỗi
năm sẽ tiến bộ hơn. Rèn luyện được
mười năm hay tám năm, tâm quư vị sẽ thanh tịnh,
sẽ b́nh đẳng. Tâm thanh tịnh, b́nh đẳng sanh
ra trí huệ, chẳng sanh phiền năo. Pháp môn Niệm Phật
cũng chẳng phải là ngoại lệ; v́ thế, “chẳng biết như thế,
chẳng phải là niệm Phật chân thật”.
(Sớ)
Cố
thượng kinh vân: Nhược sanh như thị tưởng,
thử Phật thử tối thắng, điên đảo
phi thật nghĩa, bất năng kiến chánh giác.
(疏)故 上 經 云,若
生 如 是 想,此 佛 此 最 勝,顛
倒非 實 義,不 能 見 正 覺。
(Sớ:
V́ thế, trong phần trước,
kinh dạy: “Nếu sanh tâm tưởng như thế này, vị
Phật này tối thắng như thế này, th́ đấy
là điên đảo, chẳng phải là thật nghĩa,
chẳng thể thấy được chánh giác”).
V́ sao vậy?
Là v́ khởi tâm động niệm. Quư vị trông thấy
Phật, thấy đức Phật này thù thắng. Chúng ta
niệm bài kệ Tán Phật, “thập
phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất”
(mười phương ba đời Phật, A Di Đà bậc
nhất), A Di Đà Phật là thù thắng nhất! Tự quư
vị cho là không sai lầm, tôi tán thán A Di Đà Phật, A Di
Đà Phật là bậc nhất, trong mười
phương ba đời A Di Đà Phật là bậc nhất.
Quư vị khởi lên cái tâm ấy, động ư niệm ấy
th́ quư vị điên đảo, chẳng phải là thật
nghĩa. V́ sao vậy? Phật Phật đạo đồng,
Phật Phật b́nh đẳng, sao A Di Đà Phật lại
là bậc nhất? Do vậy, nếu quư vị thấy hiểu
như vậy, giữ ư niệm ấy, ư niệm của quư
vị chẳng phải là chánh giác! Quư vị chưa giác ngộ,
quư vị vẫn c̣n đang mê, quư vị vẫn xử sự
theo cảm t́nh. Vậy th́ A Di Đà Phật có phải là bậc
nhất hay không? “Đích thực là bậc nhất” là nói
theo phương diện nào? Nói theo phương tiện
độ chúng sanh. Từ phương pháp, phương tiện
độ chúng sanh để nói, đích thực Ngài là bậc
nhất. V́ thế, mười phương chư Phật
đều khen ngợi Ngài.
Mười
phương hết thảy chư Phật có phương
pháp ấy của A Di Đà Phật hay không? Thưa với
quư vị, đều có cả! Làm sao không có cho được?
A Di Đà Phật có, những vị Phật khác không có, [đâu
có lẽ nào như vậy]. A Di Đà Phật khuyên chúng ta niệm
A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, hết thảy
các vị Phật khác cũng khuyên chúng ta niệm A Di Đà
Phật cầu sanh Tịnh Độ, vậy là không giống
nhau hay sao? Pháp môn này chẳng phải là hết thảy
chư Phật đều cùng có hay sao? Do vậy, quư vị
phải hiểu là qua những điều trên đây, các vị
tổ sư khen ngợi: “Thập
phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất”.
Tổ sư đại đức tán thán như vậy
đó. Quư vị phải thật sự hiểu rơ ư nghĩa
chân thật. Đấy chính là như trong kinh Kim Cang Bát Nhă
đă dạy: “Đệ nhất
giả tức phi đệ nhất, thị danh đệ
nhất” (Đệ nhất tức chẳng phải là
đệ nhất, nên gọi là đệ nhất). Không
sai! Quư vị thật sự hiểu được ư
nghĩa của chữ “đệ
nhất”, trí huệ thật sự mở mang! Tuy nghe hết
thảy những điều tổ sư tán thán, tâm quư vị
vẫn như như bất động, rơ ràng, minh bạch,
quư vị nói xem đệ nhất có nghĩa là ǵ? Đấy
chính là thuyết minh, giải thích cảnh giới b́nh đẳng
của hết thảy chư Phật. Tiếp theo đó, đại
sư Thanh Lương giảng về trí huệ vô ngại.
(Sớ) Vô
ngại trí huệ giả, kết kỳ năng quán.
(疏)無 礙 智 慧
者,結 其 能 觀。
(Sớ:
Dùng trí huệ vô ngại để tổng kết trí
năng quán)
Phần
trên nói về cái được Quán, tức là cảnh giới
b́nh đẳng được quán bởi chư Phật. Quư
vị dùng cách nào để quán sát? Vô ngại trí huệ.
Đây chính là đoạn kinh văn trong phần trước,
trong đoạn ấy đă nói:
(Sớ) Trí
quang chiếu diệu.
(疏)智 光 照 曜。
(Sớ:
Trí quang chiếu rạng).
Trí ấy
là trí huệ vô ngại, đấy chính là trí năng quán.
(Sớ)
Kiến Phật thủ tướng, trệ ư
phương tiện. Tri Phật không tịch, chân huệ sở
trầm. Niệm vô niệm giả, bất ngại sự
nhi hằng chân. Vô niệm niệm giả, bất động
chân nhi hằng dụng. Động tịch vô ngại,
phương niệm chân Phật.
(疏)見 佛 取 相,滯
於 方 便。知 佛 空 寂,真
慧 所 沈。念 無 念 者,不
礙 事 而 恆 真。無 念 念 者,不
動真 而 恆 用。動 寂 無 礙,方
念 真 佛。
(Sớ:
Thấy Phật, chấp vào tướng là vướng mắc
nơi phương tiện. Biết Phật không tịch,
chân huệ bị ch́m đắm. Niệm mà vô niệm, chẳng
trở ngại nơi Sự, luôn chân thường. Vô niệm
mà niệm th́ chẳng động Chân nhưng công dụng
luôn thường hằng. Động và Tịch vô ngại
th́ mới niệm chân Phật được)
Tiểu đoạn này nhằm giải
thích “vô ngại trí huệ”, giải
thích “trí quang chiếu diệu”.
“Kiến Phật thủ tướng”: “Thủ tướng” là chấp vào tướng, Phật
hiện các thứ tướng đều là pháp
phương tiện, thường gọi là “thiện xảo phương tiện”.
Không có phương tiện, Phật chẳng thể độ
chúng sanh. Y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới,
Nhất Chân pháp giới, kinh Hoa Nghiêm gọi là thế giới
Hoa Tạng, kinh Di Đà gọi là thế giới Cực Lạc,
đều là phương tiện thị hiện, có tướng
ấy hay không? Có! Tác dụng của những tướng ấy
là làm cho sáu căn của quư vị khi tiếp xúc những cảnh
giới ấy, sẽ từ ngay nơi tướng mà ĺa
được tướng, tác dụng ở chỗ này. Nếu
quư vị thấy tướng mà chấp vào tướng là
hỏng rồi, quư vị mê mất rồi, biến thành
phàm phu rồi!
“Trệ ư phương tiện”: Quư vị chẳng biết phương
tiện của Như Lai. Quư vị phải hiểu rằng:
Các thứ hiện tượng hiện ra trong thế giới
ngày nay của chúng ta đều là phương tiện của
chư Phật Như Lai, tùy thuộc quư vị có hiểu
hay không? Do vậy, nói thật ra, Phật luôn luôn thị hiện
trong thế gian, đáng tiếc là người đời
chẳng biết. Vậy th́ c̣n có cách nào nữa! Quư vị chưa
giác ngộ mà! Chẳng phải là các Ngài không chịu giúp
đỡ quư vị, mà là v́ quư vị chẳng biết quay
đầu! Nguyên nhân chẳng biết quay đầu là do quư
vị hễ thấy Phật liền chấp tướng.
Chữ “Phật” nói ở
đây là nói đại diện, trong mười pháp giới
chọn một pháp giới để làm đại diện.
Thấy Bồ Tát liền chấp vào tướng Bồ Tát,
thấy chúng sanh liền chấp vào tướng chúng sanh, thấy
lành liền chấp vào tướng lành, thấy ác liền
chấp vào tướng ác, quư vị nói xem có rối ren hay
không? Như vậy là trật lất, chấp vào tướng
là sai bét rồi.
Không chấp
th́ sao? Không chấp cũng trật lất luôn! Tiếp theo
đó, lời chú giải ghi: “Tri
Phật không tịch”, hiểu “phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”,
“hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng” đấy cũng là những điều được
nói trong kinh, Phật dạy như vậy đấy, không
sai! Nhưng quư vị hiểu sai ư nghĩa! Hiểu sai
điều ǵ? [Cứ nghĩ] hết thảy đều là
không, [mọi chuyện bèn] mặc kệ! Chuyện ǵ tôi
cũng không muốn làm, chỉ tu cho cái tâm của chính ḿnh
thanh tịnh, một tí tẹo tâm từ bi cũng không có. Chuyện
tốt là giả mà, làm để làm chi? Chuyện xấu là
giả mà, có làm cũng chẳng sao! Vậy là quư vị chẳng
bị hỏng chuyện có được hay chăng? Đấy
gọi là “ác thủ không” (chấp
vào Không một cách sai lầm), hiểu lầm ư nghĩa của
Phật. Câu đầu tiên trong bài kệ Khai Kinh là “nguyện kiến Như Lai chân
thật nghĩa”, sao quư vị lại hiểu lầm
nghĩa chân thật của Như Lai? Do vậy, Phật nói
Không, chẳng thể chấp vào Không. Phật nói Có, chẳng
thể chấp vào Có. Chỗ cao minh của chư Phật,
Bồ Tát là chẳng chấp vào hai bên Có và Không, như vậy
là đúng! Chúng ta biết “hết thảy các pháp là Không”,
nhưng chúng ta niệm A Di Đà Phật không ngớt, tâm
nguyện cầu văng sanh hết sức khẳng định,
thiết tha, chân thật, chẳng rớt vào Không! Biết “phàm những ǵ có tướng
đều là hư vọng”, Tây Phương Cực Lạc
thế giới cũng chẳng phải là ngoại lệ.
Do vậy, tuy thấy A Di Đà Phật, sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, nhưng đối
với A Di Đà Phật và thế giới Cực Lạc, tuyệt
đối không có mảy may tâm tham ái nào, chẳng chấp
vào Có. Hai bên Không và Có đều chẳng chấp, đấy
mới là chân thật niệm Phật. Do vậy, nếu quư
vị chấp vào Không th́ “chân
Huệ bị ch́m”, biến thành ǵ? Biến thành A La Hán,
Bích Chi Phật, chấp Không! Phàm phu chấp Có, Nhị Thừa
chấp Không, đều sai cả!
Tiếp đó,
lời chú giải dạy chúng ta “niệm
mà vô niệm”, đây là nói theo Thể. Niệm và vô niệm là một,
không hai. “Bất ngại Sự
nhi hằng chân”, niệm là Sự, trên mặt Sự th́
có niệm. Chúng ta một ngày từ sáng đến tối
niệm A Di Đà Phật, trong hai mươi bốn giờ
chẳng gián đoạn, đấy là Sự. Nhưng cần
biết rằng: Trong bản tánh chân tâm không có niệm, vô niệm
mà! Một câu Phật hiệu là ǵ? Chính là đức hiệu
nơi bản tánh Chân Như của chúng ta. Chúng ta niệm một
câu A Di Đà chính là niệm mà vô niệm. “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”, dựa
theo Thể để nói th́ “bất
ngại Sự nhi hằng chân”. V́ thế, quư vị phải
hiểu rơ đạo lư này, rơ ràng, rành rẽ, câu A Di Đà
Phật nào của quư vị cũng đều tương ứng,
tương ứng với ǵ? Tương ứng với
Chân Như bản tánh, đấy chính là tương ứng
với vô niệm, niệm và vô niệm tương ứng.
Đấy là nói theo Thể. Tiếp đó, “vô niệm mà niệm” là nói theo Sự. Vô niệm
là bản tánh Chân Như, niệm là sự tướng, tánh
khởi tác dụng. Hai thứ này tác dụng lẫn nhau, Sự
chẳng ngại Lư, Lư chẳng ngại Sự. Phần
trước là nói về Thể, tức là “Sự chẳng
ngại Lư”. Đối với “hằng
chân” ở đây th́ Chân là chân lư, “vô niệm mà niệm”
chính là “Lư chẳng trở ngại Sự”. Nói Sự hay Lư
đều được; nói là Tánh hay Tướng cũng
được. Niệm ấy là Tướng, vô niệm là
Tánh, đều nói được, đều nói rất
thông suốt, đều là rất viên dung. “Bất động chân nhi hằng dụng”: Tự
tánh là bất động, là thanh tịnh tịch diệt,
nhưng chúng ta niệm Phật th́ phải động, niệm
Phật là Dụng, tức tác dụng.
Chúng ta miệng
xưng danh, ư niệm trong tâm tưởng Phật, không cần
tưởng ǵ khác. Nếu chúng ta dấy lên vọng niệm,
tốt nhất là nh́n tượng Phật. Hiện thời,
chúng ta in rất nhiều tấm cạc nhỏ có h́nh tượng
Phật, quư vị có thể mang theo, khi vọng niệm dấy
lên bèn lấy tượng Phật ra, nh́n vào tượng Phật,
tưởng Phật, chẳng cần tưởng ǵ khác. Quư
vị tưởng chi khác đều là tạo sanh tử
luân hồi, tưởng Phật th́ trong một đời
này mới có thể vượt thoát sanh tử luân hồi, đừng
tưởng ǵ khác nữa. Phải niệm kinh cho thuộc,
niệm thuộc nhằm ư nghĩa ǵ? Có lúc vọng tưởng
dấy lên, hễ phát hiện chính ḿnh đang khởi vọng
tưởng, liền niệm kinh thuộc ḷng. Niệm một
hai đoạn kinh, vọng tưởng sẽ mất.
Đấy gọi là “chân dụng
công”, gọi là “chân tu hành”.
Phàm phu ai cũng có vọng niệm, không có vọng niệm
là đă thành Phật rồi! V́ thế, bậc cổ đại
đức dạy chúng ta: “Chẳng
sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm”.
Ư niệm có dấy lên cũng chẳng sao cả! Đấy
là tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay, điều
này phàm phu ai cũng có, không có ǵ kỳ lạ cả! Ư niệm
vừa dấy lên liền nhận biết ngay lập tức.
Giác là ǵ? Giác là Huệ, tiêu diệt ư niệm ấy đi,
tiêu trừ đi. V́ thế, quư vị niệm Phật là
giác, quư vị đọc kinh cũng là giác, quư vị nh́n
tượng Phật cũng là giác, nhất định phải
trừ vọng niệm ấy.
(Sớ) Động
tịch vô ngại, phương niệm chân Phật.
(疏)動 寂 無 礙,方
念 真 佛。
(Sớ: Động hay tịch đều
vô ngại th́ mới là niệm chân Phật).
Đây mới
là chân chánh niệm Phật. Chân chánh niệm Phật quy kết
lại là tương ứng, “một
niệm tương ứng một niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Sự
Lư tương ứng, tánh tướng tương ứng.
Lại xem tiếp phần kế:
(Sớ) Phổ
kiến pháp môn giả.
(疏)普 見 法 門
者。
(Sớ: Pháp môn Phổ Kiến là).
Một
câu này là…
(Sớ) Tức
tổng thâu tiền nhị.
(疏)即 總 收 前
二。
(Sớ:
Nhằm gộp chung cả hai thứ trong phần trước)
Hai thứ
trong phần trước…
(Sớ) Dĩ
kết kỳ danh.
(疏)以 結 其 名。
(Sớ:
Nhằm kết lại phần
giải thích tên gọi ấy).
Câu này là
câu tổng kết. Ngài gọi pháp môn ấy là pháp môn Phổ
Kiến. tức là cảnh giới b́nh đẳng của hết
thảy chư Phật và trí huệ vô ngại được
gọi chung là pháp môn Phổ Kiến.
(Sớ) Tức
tiền phổ nhăn minh triệt dă.
(疏)即 前 普 眼
明 徹 也。
(Sớ:
Tức là “phổ nhăn thấy
thấu suốt triệt để” như đă nói trong phần
trước)
“Phổ
nhăn minh triệt”
được nói trong phần trước, c̣n ở chỗ
này th́…
(Sớ)
Tức
thử hậu cú, khả vi tổng danh.
(疏)即 此 後 句,可
為 總 名。
(Sớ:
Tức là có thể coi câu
sau cùng này là tên chung [của pháp môn]).
Pháp môn
này được Ngài gọi bằng danh xưng chung là pháp
môn Phổ Kiến. Chúng ta thấy Năng Kiến và Sở
Kiến. Trong đoạn sau, đại sư lập ra một
đoạn vấn đáp. Ngài nói:
(Sớ) Vấn, pháp môn vô lượng, hà
dĩ sơ hữu tiện giáo niệm Phật?
(疏)問,法 門 無 量,何
以 初 友 便 教 念 佛。
(Sớ: Hỏi: Pháp
môn vô lượng, v́ sao vị thiện hữu đầu
tiên lại dạy niệm Phật?)
Lời hỏi này rất
hay! Vô lượng vô biên pháp môn, Thiện Tài gặp
được vị đầu tiên để tham phỏng
là tỳ-kheo Cát Tường Vân, v́ sao trong vô lượng
pháp môn, Ngài lại dạy Thiện Tài pháp môn Niệm Phật,
chẳng dạy pháp môn khác? Câu hỏi này rất hay, cũng
là điều chúng ta đang ngờ vực!
(Sớ) Đáp: Lược hữu thập
nghĩa.
(疏)答,略 有 十 義。
(Sớ: Đáp:
Đại lược có mười nghĩa).
Đại sư Thanh
Lương trả lời câu hỏi này. Nói thật ra th́ có
vô lượng nghĩa. Vô lượng nghĩa được
quy nạp thành mười điều cho dễ nói, thuận
tiện một chút, nhằm biểu thị vô lượng.
Dưới đây là mười câu.
(Sớ) Niệm Phật tam-muội,
chúng hạnh tiên cố. Trí Độ Luận vân: “Bồ Tát
dĩ Bát Nhă Ba La Mật vi mẫu, Ban Châu tam-muội vi phụ
cố”.
(疏)念 佛 三 昧,眾 行
先 故。智 度 論 云,菩 薩
以 般若 波 羅 蜜 為 母,般
舟 三 昧 為 父 故。
(Sớ: V́ Niệm Phật
tam-muội đứng đầu các hạnh. Trí Độ
Luận ghi: “Bồ Tát lấy Bát Nhă Ba La Mật làm mẹ, lấy
Ban Châu tam-muội làm cha”)
Rất nhiều người
chưa đọc kinh Hoa Nghiêm, mà cũng có nhiều người
đọc kinh Hoa Nghiêm theo kiểu nuốt trộng quả
táo, chưa nghiên cứu sâu xa ư nghĩa. Nếu thật sự
đọc kinh Hoa Nghiêm, t́m ṭi nghĩa lư, chưa có một
ai chẳng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ!
Tôi đă từng
thưa với các quư vị, khi trước, tôi đă từng
kể rồi, tôi tin tưởng pháp môn này là do đọc
Hoa Nghiêm, giảng Hoa Nghiêm, tôi mới hiểu rơ. Hồi tôi ở
Đài Trung, thầy Lư khuyên tôi niệm Phật. Ngài là thầy
nên tôi chẳng thể trái ư, nhưng trong tâm hoàn toàn chẳng
phục! Tuy miệng không dám nói ra, nhưng trong tâm không phục.
V́ sao vậy? Giáo pháp nhiều như thế, chẳng để
cho tôi thâm nhập, nghiên cứu, t́m ṭi, bảo tôi niệm Phật,
nói chung là không cam ḷng, chẳng muốn. Năm Dân Quốc 60
(1971), tôi bắt đầu giảng Hoa Nghiêm, khi ấy, giảng
Tứ Thập Hoa Nghiêm và Bát Thập Hoa Nghiêm cùng một lúc,
cũng giảng đến chỗ này. Do muốn giảng
th́ chẳng thể không thâm nhập, nghiên cứu, mới hiểu
rơ pháp môn Niệm Phật thù thắng: Trong vô lượng vô
biên pháp môn, pháp môn Niệm Phật là bậc nhất.
(Sớ) Niệm Phật tam-muội
chúng hạnh tiên cố.
(疏)念 佛 三 昧,眾 行
先 故。
(Sớ: V́ pháp môn
Niệm Phật đứng đầu các hạnh).
Hạnh này là hạnh Bồ
Tát. Trong vô lượng vô biên Bồ Tát hạnh môn, Niệm
Phật tam-muội được tôn là bậc nhất. Do
vậy, Niệm Phật tam-muội được gọi
là “vua của các tam-muội”, được xưng là Bảo
Vương tam-muội là do ư nghĩa này. Đại sư
Thanh Lương lại dẫn lời Trí Độ Luận
để lập luận. Đấy là chứng minh hết
sức mạnh mẽ, chẳng phải là Ngài đoán ṃ, chẳng
phải là kiến giải của cá nhân Ngài. Trong Đại
Trí Độ Luận có một câu: “Bồ Tát lấy Bát Nhă Ba La Mật làm mẹ, lấy
Ban Châu tam-muội làm cha”. Do vậy, vị thiện tri thức
để tham học đầu tiên trong kinh Hoa Nghiêm là tỳ-kheo
Cát Tường Vân tu Ban Châu tam-muội. Trong phần trước,
tôi đă nói cặn kẽ với quư vị về Ban Châu
tam-muội rồi đó. Ban Châu tam-muội lấy niệm
A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ làm chủ.
Niệm một vị Phật là niệm hết thảy chư
Phật, sanh về một cơi Phật là sanh về hết
thảy các cơi Phật, thật sự chẳng thể
nghĩ bàn! Đúng là chưa có pháp môn nào có sức thù thắng
như thế. Bát Nhă Ba La Mật có trọng yếu hay không?
Trọng yếu! Do vậy, trong năm ngoái chúng tôi đă giảng
Kim Cang Bát Nhă.
Những đồng tu
ở bên Mỹ gọi điện thoại cho tôi, họ
đă hoàn thành bản Giảng Kư kinh Kim Cang Bát Nhă trên máy
điện toán. Sau khi hoàn thành, c̣n đợi tôi xem lại
một lượt, lại sửa đổi cặn kẽ,
rồi mới cho in thành sách. Tôi nghĩ đại khái phải
mất thời gian một năm. Sau một năm, cuốn
Kim Cang Kinh Giảng Kư được in ra, phân lượng
đại khái là phải gấp rưỡi bản Vô
Lượng Thọ Kinh Giảng Kư. Vô Lượng Thọ
Kinh Giảng Kư in bản hoàn chỉnh gồm bốn cuốn,
Kim Cang Kinh Giảng Kư gồm sáu cuốn, có phân lượng
lớn như vậy. Bản kinh ấy giảng mất bốn
tháng, tổng cộng giảng trong hai trăm bốn
mươi tám giờ, nhưng chúng tôi giảng Vô Lượng
Thọ Kinh chỉ là một trăm lẻ bảy giờ, c̣n
để giảng bản này th́ mất hai trăm bốn
mươi tám giờ, giảng một bộ Kim Cang Kinh!
Nghe nói hiện thời ở nơi đây có đài truyền
h́nh đă cho phát sóng, đại khái cần phải phát h́nh
trong một năm.
Đối
với pháp Ban Châu tam-muội này, cần phải biết Kim
Cang Bát Nhă. V́ sao vậy? Biết Kim Cang Bát Nhă th́ quư vị mới
có thể thấy thấu suốt, mới buông xuống
được; quư vị niệm Phật mới được
tương ứng. Nếu quư vị không có trí huệ, trong
phần trước [như tôi đă nói], quư vị không chấp
Có, sẽ liền chấp Không, quư vị niệm Phật sẽ
chẳng thể tương ứng được. Trí huệ
Bát Nhă dạy chúng ta phải bỏ, đừng chấp vào
hai bên Có và Không th́ một câu Phật hiệu sẽ đắc
lực, được tương ứng. Đây là lư do thứ
nhất. Lư do thứ hai:
(Sớ)
Y Phật lực năng thành thắng hạnh cố.
(疏)依 佛 力 能
成 勝 行 故。
(Sớ:
Do nương vào Phật lực, sẽ có thể thành tựu
hạnh thù thắng).
Ư
nghĩa của câu này rất rơ ràng. Tu học các pháp môn khác
là cậy vào chính ḿnh, cậy vào chính ḿnh để đoạn
Hoặc chứng Chân, khó lắm! Quá sức là khó! Nhưng pháp
môn Ban Châu Tam Muội Niệm Phật lập tức
được Phật lực gia tŕ, điều này hết
sức chẳng thể nghĩ bàn. Không chỉ được
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật gia tŕ, A Di Đà Phật
gia tŕ, mà c̣n cùng lúc được mười phương
ba đời hết thảy chư Phật gia tŕ. Chỉ cần
quư vị thật tâm niệm, chỉ cần niệm
đúng pháp, trong kinh có nói những đạo lư,
phương pháp này, đúng như lư, như pháp để
niệm, quư vị lập tức được chư Phật
Như Lai gia tŕ, trở thành sự tu hành thù thắng nhất
trong những hạnh môn. Do vậy, dựa vào năng lực
của chính ḿnh th́ quư vị phải đoạn phiền
năo. Đừng nói chi khác, thị phi, nhân ngă, ngũ dục,
lục trần, tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ
nghỉ, quư vị có thể đoạn được hay
chăng? Chẳng thể chỉ đoạn những thứ
này trên mặt Sự! Đoạn trên mặt Sự th́ vô ích!
Cảnh giới hiện tiền, tuyệt đối chẳng
khởi tâm động niệm, như vậy mới gọi
là thật sự đoạn. Quư vị vẫn c̣n có ư niệm
sanh khởi th́ quư vị chưa đoạn, ở chỗ
nào th́ quư vị mới được gọi là đoạn?
Chẳng khởi tâm, chẳng động niệm! Nhất
định phải dựa vào Phật lực. Do vậy,
pháp môn Niệm Phật dựa vào Phật lực, dựa
vào sức gia tŕ của hết thảy chư Phật. V́ thế,
quư vị phải nghe kinh. Nếu thường nghe kinh, những
pháp sư khác giảng kinh quư vị cũng có thể đến
nghe, quư vị đến nơi ấy để thể
nghiệm. Giảng kinh Tịnh Độ, kinh Hoa Nghiêm là
kinh Tịnh Độ, đặc biệt là Tứ Thập
Hoa Nghiêm. Quư vị thấy hiện tại đang giảng
pháp môn Niệm Phật, bảo quư vị niệm A Di Đà
Phật, cho nên kinh này là Niệm Phật Kinh. Cổ nhân
xưng tụng Vô Lượng Thọ Kinh là trung bổn Hoa
Nghiêm, A Di Đà Phật là tiểu bổn Hoa Nghiêm. Như vậy
th́ Hoa Nghiêm Kinh là đại bổn của Vô Lượng
Thọ Kinh.
V́ thế,
quư vị nghe kinh này, đọc loại kinh này, khí phận
khác hẳn, đạo tràng này cảm ứng khác hẳn, do
được chư Phật hộ niệm, cho nên mọi
người trong đạo tràng này có thể sanh tâm hoan hỷ.
Sanh tâm hoan hỷ chẳng phải là v́ pháp sư giảng
hay, thưa với các quư vị, mà là do Phật quang rưới
gội, là do được Phật lực gia tŕ. V́ thế,
quư vị có cảm nhận đặc biệt là do ư
nghĩa này. Quư vị lại nghe giảng những kinh khác,
giảng kinh khác tuy vẫn có [sự hoan hỷ], nhưng sức
hoan hỷ rất yếu ớt, khác hẳn! Do khí phận
trong đạo tràng này khác hẳn, nên quư vị cảm nhận
khác hẳn. Nếu quư vị chú tâm lănh hội, cũng thấy
rất rơ rệt, rất rơ ràng, có thể nhận biết
được. A! Hôm nay đă hết thời gian rồi.
Chúng tôi giảng đến đây thôi!
Tứ Thập Hoa Nghiêm KinhHạnh
Nguyện Phẩm
Cát Tường Vân Tỳ Kheo
Chương
Phần 3 hết
[1] Theo sách Hoa Nghiêm Khổng Mục
Chương, Thập Thân c̣n gọi là Thập Phật, gồm
có hai loại:
1. Nếu y theo Giải Cảnh, tức Bồ
Tát nương theo sự khai ngộ từ chân trí để
nh́n mười pháp giới th́ Thập Thân là chúng sanh thân, quốc
độ thân, nghiệp báo thân, Thanh Văn thân, Bích Chi Phật
thân, Bồ Tát thân, Như Lai thân, trí thân, pháp thân, hư không
thân.
2. Nếu y theo Hạnh Cảnh th́ Bồ
Tát tu hành hoàn tất, sẽ đắc mười thứ cảnh
giới Phật: Chánh Giác Phật, Nguyện Phật, Nghiệp
Báo Phật, Trụ Tŕ Phật, Hóa Phật, Pháp Giới Phật,
Tâm Phật, Tam Muội Phật, Tánh Phật, Như Ư Phật.
Đại sư Thanh Lương sử dụng khái niệm
Thập Phật này để giải thích hai mươi mốt
pháp môn Niệm Phật do tỳ-kheo Cát Tường Vân nêu
ra.
[2] Cam Lộ Hỏa Vương (bản Lục Thập Hoa Nghiêm ghi là Măn Túc Vương, Bát Thập Hoa Nghiêm gọi là Vô Yểm Túc Vương). Để tránh gây hiểu lầm là kinh Phật tán thán hạnh giết người, chúng tôi xin trích dẫn đoạn kinh thuật lời dạy bảo Thiện Tài đồng tử của Cam Lộ Hỏa Vương trong Tứ Thập Hoa Nghiêm như sau:
“Thiện nam tử! Ta đắc Bồ Tát
Như Huyễn Giải Thoát. Thiện nam tử! Tất cả
chúng sanh trong cơi nước ta phần nhiều tạo ác
nghiệp giống như hạng Chiên Đà La. Nếu ta
không khéo giáo hóa các chúng sanh ác như vậy, cứ dùng vô
lượng các thứ phương tiện khác sẽ chẳng
thể làm cho họ bỏ ĺa ác nghiệp, quay về thiện
đạo được.
Thiện nam tử! Ta v́ điều phục
những chúng sanh ấy khiến cho họ thành thục nên
dùng phương tiện đại bi hóa ra những kẻ
ác, rồi đối trước những kẻ ác đó,
thị hiện làm các sự ác và hóa ra những việc ác
tàn hại họ, bức năo, trách phạt, đủ mọi
thứ trừng trị khổ sở, khiến cho những
kẻ làm ác trong nước trông thấy chuyện ấy sẽ
sanh ḷng kinh hoảng, sanh ḷng sợ hăi, đối với
các dục lạc sanh ḷng chán ĺa, sanh ḷng khiếp nhược,
sẽ có thể vĩnh viễn dứt hết thảy ác
nghiệp, phát Bồ Đề tâm, đắc Bất Thoái
Chuyển.
Thiện nam tử! Do vậy, hăy nên biết
rằng: Những chúng sanh tạo ác chịu khổ và những
người trừng trị chúng sanh bạo ác đều
là biến hóa.
Thiện nam tử! Ta dùng các thứ biến
hóa như thế để làm cho chúng sanh đoạn trừ
mười nghiệp bất thiện, tu tập và an trụ
trọn vẹn trong mười thiện đạo, rốt
ráo lợi lạc, rốt ráo an ổn, rốt ráo viên măn,
vĩnh viễn dứt các khổ, trụ trong Nhất Thiết
Trí địa của Như Lai.
Thiện nam tử! Thân ngữ ư của ta
chưa hề nghĩ tưởng năo hại một chúng
sanh nào!
Thiện nam tử! Trong ư ta, thà chịu khổ không gián đoạn cho đến hết đời vị lai, trọn chẳng phát khởi một niệm sân tâm, dấy lên ư tưởng năo hại một con muỗi, hoặc một chúng sanh nhỏ nhặt nào; huống là tạo tác ác nghiệp như thế!”
[3] Ư nói bị người thân v́ không hiểu
biết mà rờ đụng, tắm rửa, thay quần
áo, dời chỗ nằm, khóc lóc, hỏi han chuyện hậu
sự hoặc chuyện gia đ́nh v.v... khiến cho người
ấy đau đớn, bi luyến, mất chánh niệm.