Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh

Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm

Cát Tường Vân Tỳ Kheo Chương

四十華嚴經

普賢行品

吉詳雲比丘章

Phần 6

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Địa điểm: Cảnh Mỹ Hoa Tạng Đồ Thư Quán, Đài Loan, năm 1993

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang

 

Tập thứ mười một (12-13-11)

 

      Xin mở quyển kinh, trang thứ hai mươi bảy, hàng thứ nhất, đọc từ bốn chữ cuối trong hàng thứ nhất.

 

      (Sớ) Thập cửu, nhị thập tức nghiệp báo Phật, danh tướng hảo trang nghiêm thân. Tiền môn ứng hiện nghiệp báo, hậu môn vi chân nghiệp báo. Tọa Hoa Tạng sát, tức tướng hải trang nghiêm. Nhược chân, nhược ứng, giai linh vật tín, vị thâm tín kiến.

      () 佛,名 身。前 報。後 報。坐 剎,即 嚴。若 若應,皆 信,為 見。

      (Sớ) Môn mười chín và môn hai mươi chính là nghiệp báo Phật, gọi là tướng hảo trang nghiêm thân. Môn trước là ứng hiện nghiệp báo, môn sau là chân nghiệp báo. Ngồi trong cơi Hoa Tạng tức là tướng hải trang nghiêm. Dù chân thân hay ứng thân, đều làm cho chúng sanh tin tưởng, chính là sự thấy Phật bằng ḷng tin sâu xa.

 

      Đoạn khai thị này của đại sư Thanh Lương [tương ứng với] môn thứ mười chín trong kinh văn, tức là “trụ nhất thiết nghiệp niệm Phật môn” (môn Niệm Phật trụ trong hết thảy nghiệp). Tác dụng của nó là “năng tùy pháp giới nhất thiết chúng sanh sở tu hạnh nghiệp, vị hiện kỳ thân linh giác ngộ cố” (có thể thuận theo hạnh nghiệp đă tu của hết thảy chúng sanh trong pháp giới mà hiện thân, khiến cho họ giác ngộ). Môn sau là “trụ nhất thiết thần biến niệm Phật môn, kiến nhất thiết Phật trụ ư quảng đại hương thủy hải trung, tọa liên hoa đài, phổ hiện thần biến măn thập phương cố” (môn Niệm Phật trụ trong hết thảy thần biến, thấy hết thảy Phật ngồi trên đài hoa sen trong biển nước thơm rộng lớn, hiện khắp các thứ thần biến trọn khắp mười phương). Đoạn này giải thích hai môn, hai môn này đều là Nghiệp Báo Phật. Môn trước, tức môn thứ mười chín, rất dễ hiểu! Đây là “ứng hiện nghiệp báo”, chúng ta thường gọi Ứng Hóa Thân. Môn sau là môn thứ hai mươi, “chân nghiệp báo”. Nói thật ra, “chân nghiệp báo” là hiện Báo Thân. Báo Thân có Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng. Trong kinh điển Tịnh Tông, sanh về cơi Thật Báo mới thấy Báo Thân của A Di Đà Phật. Nếu sanh về cơi Đồng Cư hay cơi Phương Tiện Hữu Dư, đều là thấy Ứng Hóa Thân của A Di Đà Phật. Thân nghiệp báo của Phật chia thành hai loại lớn.

      Cảnh giới trong loại thứ nhất sâu rộng vô hạn, nghiệp chẳng thể nghĩ bàn. Kinh dạy chúng ta về “trụ nhất thiết nghiệp Niệm Phật môn”; đối với “nhất thiết nghiệp” ở đây, chúng ta đă thâu hẹp phạm vi. Trong chín pháp giới, chúng ta chỉ nói tới nhân pháp giới. Trong nhân pháp giới, chỉ nói tới người trên quả địa cầu của chúng ta trong hiện thời, không cần nói tới những thế giới khác, quá nhiều, nói chẳng hết! Chúng ta nói tới người trên địa cầu! Nếu rút nhỏ hơn nữa phạm vi trên địa cầu, chúng ta nói tới người Đài Loan, mọi người sẽ càng thấy thân thiết dễ lănh hội hơn. Đài Loan là một ḥn đảo nhỏ, hai ngàn một trăm vạn người, “trụ trong hết thảy nghiệp”, mỗi một cá nhân tạo nghiệp đều khác nhau. Niệm Phật trụ trong nghiệp là như thế nào? Tạo tác đủ mọi hạnh nghiệp. Trong phần trước, tôi đă nói rồi, tư tưởng, ư niệm, ngôn ngữ, tạo tác của chúng ta đều là nghiệp. Chúng ta không cần phải luận định nghiệp ấy là thiện, là ác hay là vô kư (không thiện, không ác), không cần phải bàn luận tới. Nếu như có thể ở trong hết thảy nghiệp, trong hết thảy tạo tác mà giác ngộ, đấy chính là pháp môn này, tức là “trụ nhất thiết nghiệp niệm Phật môn”. Có t́nh h́nh ấy hay chăng? Có chứ! Chúng ta thấy trong Phật môn, qua bút kư, truyện kư của các vị tổ sư đại đức thời xưa hoặc từ sơn chí của các tự viện, chúng ta thường thấy được điều ấy.

Do đây biết rằng: Pháp Niệm Phật trong Hoa Nghiêm rộng lớn vô biên. Chẳng nhất định là lúc nào, quư vị ở bất cứ nơi đâu, gặp bất cứ chuyện ǵ, quư vị giác ngộ, thường gọi là “khai ngộ”. Đương nhiên đây không phải là cảnh giới mỗi cá nhân đều có được. V́ sao vậy? Bởi lẽ, nghiệp chướng của hết thảy chúng sanh có sâu cạn, dầy, mỏng khác nhau, thiện căn của mỗi cá nhân khác nhau. Nói chung là phải có thiện căn, phước đức sâu dầy. “Hết thảy nghiệp” là duyên, thiện căn là nhân. Nhân gặp duyên sẽ khởi tác dụng. Tác dụng ấy nếu nhỏ th́ là khai ngộ, giác ngộ; nếu lớn, sẽ là chứng quả, tu hành chứng quả. “Trụ trong hết thảy nghiệp” là duyên. Điều này cho chúng ta thấy rơ pháp môn Niệm Phật rộng lớn vô biên! Niệm là cái tâm trong một niệm hiện tiền, Phật là giác, [như vậy Niệm Phật] là “tâm giác ngộ ngay trong một niệm”. Giống như khi ngủ nằm mộng, đột nhiên từ trong mộng tỉnh giấc, đấy gọi là “niệm Phật”. Quư vị giác ngộ ngay trong cái tâm này. Giúp cho chúng ta giác ngộ, bất luận là đối với hoàn cảnh nhân sự hay là hoàn cảnh vật chất, chúng ta đều cần phải biết: Đều là do chư Phật, Bồ Tát đại bi hộ niệm. Chư Phật, Bồ Tát không đại bi hộ niệm, duyên ấy sẽ chẳng thể chín muồi vừa khéo như thế được, chẳng thể vừa khéo như vậy được! Quư vị vừa gặp [duyên ấy], liền khai ngộ, đều là do chư Phật, Bồ Tát biến hiện. Chư Phật, Bồ Tát có mặt ở khắp nơi.

Trong phần trước, tôi đă kể với quư vị một câu chuyện: Một đồng tu của chúng ta tới tổng lănh sự quán Mỹ tại Đài Loan xin visa sang Mỹ. Ông ta có chuyện gấp phải qua đấy để lo liệu đám tang. Bao nhiêu lần xin visa đều không được. Ḷng hiếu thảo tha thiết muốn lo liệu tang ma, tới nơi liền được cấp giấy ngay, hết sức thuận lợi. V́ sao vậy? Do Phật, Bồ Tát gia tŕ, nên viên chức di trú đối xử với ông ta tốt như thế, đối xử thân thiết với ông ta như thế, ông ta hết sức cảm kích. Lần sau, quay trở lại chào hỏi người ấy, người ấy chẳng đoái hoài ǵ tới ông ta, thật sự là không nhận ra. Do vậy, quư vị phải biết: Phật, Bồ Tát gia tŕ trong sát-na ông ta đi lo chuyện ấy. Khi sát-na ấy đă qua rồi, Phật, Bồ Tát đă rời đi, người ta là phàm phu, người ta sẽ không nhận biết quư vị nữa! Người, sự, vật được chư Phật, Bồ Tát gia tŕ, hộ niệm, [chư Phật, Bồ Tát] dùng phương tiện thiện xảo ấy, khiến cho duyên của quư vị chín muồi, quư vị sẽ giác ngộ ngay nơi ấy. V́ thế, Phật, Bồ Tát không đâu chẳng hiện thân.

“Năng tùy pháp giới nhất thiết chúng sanh sở tu hạnh nghiệp” (Có thể thuận theo những hạnh nghiệp đă tu của hết thảy chúng sanh), “nhất thiết chúng sanh sở tu hạnh nghiệp” như tôi vừa mới nói có thiện, có ác, có vô kư, hết sức phức tạp! Thế nhưng, Phật, Bồ Tát gia tŕ ngấm ngầm hay rơ ràng, âm thầm gia tŕ quư vị nhưng chính quư vị chẳng hay biết, quư vị không cảm nhận được. Nhưng nếu được Phật gia tŕ, quư vị sẽ giác ngộ, hiểu rơ, hoặc quư vị lo liệu công chuyện rất thuận lợi, Phật gia tŕ đấy! “Hiển gia” (gia tŕ rơ ràng) th́ quư vị biết, quư vị hiểu rất rơ Phật, Bồ Tát bảo vệ, che chở quư vị, Phật, Bồ Tát giúp đỡ quư vị. Do vậy, gia tŕ có hai loại lớn là âm thầm và rơ rệt, mục đích đều là nhằm làm cho chúng sanh giác ngộ. Cho nên chuyện này thuộc về nghiệp báo.

Câu kế tiếp là câu thứ hai mươi, “trụ nhất thiết thần biến niệm Phật môn” (môn Niệm Phật trụ vào trong hết thảy thần biến). Trong lời chú giải, đại sư Thanh Lương đă gọi môn này là “chân nghiệp báo”. Chữ “nghiệp” trong “chân nghiệp báo” ở đây không giống như chữ “nghiệp” trong từ ngữ “ứng hiện nghiệp báo” đă nói trong phần trên. Ở đây là đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai trong thế giới Hoa Tạng, [nghiệp ấy chính là] “hết thảy thần biến” tỏ lộ, là y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Hoa Tạng. Do vậy, luận về nghiệp dụng th́ “thấy hết thảy Phật ngồi trên đài hoa sen trong biển nước thơm rộng lớn”. Đấy là Báo Thân, không phải là thân phổ biến. Báo Thân là thân do trí huệ tích tụ. Hoa Tạng và Tây Phương Cực Lạc thế giới là một, chẳng hai. Tỳ Lô Giá Na Phật và A Di Đà Phật cũng là một, không hai. Đấy là nghiệp báo chân thật, ứng hiện nghiệp báo do chân thật nghiệp báo biến hiện ra. Chúng ta gọi đó là “ngàn trăm ức hóa thân” có thể hiện trong tận hư không, trọn pháp giới. Do vậy, “phổ hiện thần biến măn thập phương cố” (hiện thần biến trọn khắp cả mười phương).

Tận hư không, trọn pháp giới, không đâu chẳng hiện thân, không lúc nào chẳng hiện thân. Phật thân, sanh thân, “sanh” là chúng sanh, hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, thân Phật và thân chúng sanh cũng dung hợp lẫn nhau, chẳng thể nghĩ bàn! Cổ đức dùng tỷ dụ để diễn tả ư nghĩa này cho mọi người dễ hiểu hơn một chút. Ví như ánh sáng đèn trong ngôi giảng đường này của chúng ta. Chúng ta nói trong giảng đường có ánh sáng của mấy chục ngọn đèn, trước bàn Phật vẫn c̣n thắp nến, c̣n có ánh sáng của nến, hết thảy chư Phật Như Lai, chúng sanh trong chín pháp giới đều giống như ánh sáng. Quư vị thấy ánh sáng của các ngọn đèn này đều ḥa lẫn với nhau. Quư vị có biết đây là ánh sáng của nến, kia là ánh sáng của đèn hay không? Mỗi một ánh sáng chẳng cần biết là lớn hay nhỏ, đều trọn khắp giảng đường. Nói thật ra, tâm của chúng sanh, trí của chúng sanh, nghiệp của chúng sanh và tâm trí nghiệp của chư Phật, Bồ Tát cũng ḥa lẫn với nhau. Trong tâm chúng sanh có Phật, trong tâm Phật có chúng sanh. Đấy là dung nhiếp lẫn nhau, thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Đấy là điều chúng tôi thường gọi là “chân tướng của vũ trụ và nhân sinh”. Chúng sanh mê, nhưng trọn chẳng v́ mê mà không có chuyện này, dẫu mê vẫn dung hợp! Chư Phật, Bồ Tát giác ngộ, giác và mê là hai chuyện, nhưng trên thực tế, ḥa hợp thành một. Do lẽ này, Phật mới có thể độ chúng sanh, chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát mới có ứng. Nếu như không dung hợp th́ cảm ứng từ đâu mà có?

Chúng ta hiểu rơ đạo lư này, liễu giải chân tướng sự thật này, từ chỗ này, kiến lập tín tâm niệm Phật, tín tâm ấy sẽ thù thắng. Hiểu rơ chân tướng sự thật, từ chân tướng kiến lập nguyện tâm, quyết định cầu sanh Tịnh Độ, chẳng nghi hoặc mảy may, quyết định được văng sanh, lẽ đâu chẳng sanh? Người thế gian niệm Phật, niệm suốt một đời, trong đời này niệm Phật th́ chúng ta thấy, chứ trong đời quá khứ, đời đời kiếp kiếp, bao kiếp niệm Phật chúng ta không thấy, nhưng v́ sao không thể văng sanh? Do không liễu giải chân tướng sự thật này. Hoặc đă từng đọc tới, từng nghe nói tới, nhưng chẳng thể chấp nhận, chẳng thể tin tưởng sâu đậm, nên bỏ lỡ cơ hội văng sanh ấy. Do nhân duyên hy hữu trong đời này, chúng ta gặp được kinh điển viên măn này, pháp môn thù thắng khôn sánh này, nếu có thể kiến lập tín tâm chân thật, nguyện tâm khẩn thiết tại nơi đây, sẽ thành tựu trong một đời này, chẳng đến nỗi lại bỏ lỡ!

Đức Thế Tôn nói kinh Hoa Nghiêm, hết thảy chư Phật trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, không một vị nào chẳng nói Hoa Nghiêm. Lời khai thị của đại sư Thanh Lương về kinh văn luôn luôn rơ rệt, rành rẽ. Chư Phật Như Lai thuyết kinh nhằm mục đích mong giúp cho chúng ta được thành tựu ngay trong một đời. Chớ nên bỏ lỡ cơ hội trong đời này! Làm sao mới có thể nắm vững cơ hội ấy, quyết định thành công? Kinh luận đâu đâu cũng cảnh tỉnh chúng ta, quư vị phải thật sự nh́n thấu suốt, buông xuống th́ sẽ không c̣n chướng ngại. Nói tới thấy thấu suốt, liễu giải chân tướng sự thậ, quư vị đă thấy thấu suốt, buông xuống, hết thảy hạnh nghiệp thế gian hay xuất thế gian đều không làm nữa, quư vị thật sự buông xuống. Từ nay trở đi sẽ làm ǵ? Chuyên tu Tịnh nghiệp. Ở đây, tỳ-kheo Cát Tường Vân biểu diễn rất hay. “Chuyên niệm Di Đà”. Đạo tràng là ǵ? Trong tâm có A Di Đà Phật chính là đạo tràng.

H́nh tượng A Di Đà Phật mà Quán Trưởng được thấy khi văng sanh chính là bức tượng được thờ ở nơi đây. Hiện thời, chúng tôi đặc biệt cho in ra một vạn bản h́nh tượng ấy. Tám ngàn bản in bằng giấy Đạo Lâm[1], đại khái là in theo lối đồng bản chỉ[2], hai ngàn bản kia in trên giấy Tuyên[3]. In trên giấy Tuyên để đại chúng có thể bồi thành tranh cuốn, quư vị sẽ thuận tiện mang theo. In theo lối đồng bản chỉ th́ không dễ ǵ bồi được, phải lồng trong khung kiếng, thờ trong nhà th́ được, chứ mang theo không thuận tiện lắm, cho nên đặc biệt in hai ngàn bản bằng giấy Tuyên. Chỉ cần trong tâm có Phật, chỗ nào cũng là đạo tràng, luôn luôn là đạo tràng. Quư vị thật sự giác ngộ, thật sự hiểu rơ ràng chuyện ǵ là khẩn yếu? Niệm Phật khẩn yếu! Khi niệm Phật, thân, tâm, thế giới, hết thảy buông xuống, chuyện ǵ cũng chẳng bận tâm tới, chuyện ǵ cũng không màng. Niệm một tiếng đồng hồ là tương ứng một tiếng đồng hồ, niệm hai tiếng đồng hồ sẽ tương ứng hai tiếng đồng hồ. Đấy là điều quan trọng.

      Do vậy, chúng ta lập ra Niệm Phật Đường trong đạo tràng, Niệm Phật Đường mới là đạo tràng thật sự. Thật sự muốn liễu sanh tử, muốn thoát tam giới, muốn thành tựu trong một đời này, chỉ có một phương pháp duy nhất là thật thà niệm Phật. V́ sao quư vị không thật thà niệm? Nói tới thật thà th́ kinh Hoa Nghiêm đă giảng về đạo lư Niệm Phật, nhưng quư vị vẫn chưa hiểu rơ. Nếu thật sự hiểu rơ, sẽ tự nhiên thật thà niệm, cần ǵ phải đợi người khác khuyên nhủ, khích lệ nữa ư?

      Bốn mươi chín ngày chớp mắt đă qua, ngày mai là ngày Hai Mươi Ba, là chung thất của Quán Trưởng, tṛn bốn mươi chín ngày. Sau bốn mươi chín ngày, đạo tràng này của chúng ta vĩnh viễn niệm Phật. Quư vị ở nhà niệm Phật cũng giống hệt như vậy. Nếu hoàn cảnh trong nhà không thuận tiện lắm, th́ quư vị đến đây niệm. Cũng có những gia đ́nh đông người, có những kẻ không tin Phật, quư vị niệm Phật, họ trông thấy bực ḿnh, quư vị cũng chẳng cần phải chuốc lấy chuyện phiền toái trong nhà, quư vị có thể đến đây niệm Phật. Trong vô lượng vô biên pháp môn, pháp môn này thù thắng nhất.

      Đấy là “tướng hải trang nghiêm”. Tiếp đó, [lời chú giải] nhắc tới “nhược chân, nhược ứng” (dù chân hay ứng), chân báo thân hay ứng hiện nghiệp báo thân “giai linh vật tín, vi thâm tín kiến” (đều khiến cho chúng sanh tin tưởng, là sự thấy biết Phật do ḷng tin sâu đậm). Mọi thứ thị hiện đều nhằm giúp cho hết thảy chúng sanh phát khởi tín tâm và nguyện hạnh, dụng ư là ở chỗ này. Như vậy đây là nghiệp báo, cái được biến hiện [bởi nghiệp báo ấy] là “thân tướng hải trang nghiêm”.

 

      (Sớ) Mạt hậu nhất môn.

      ()

      (Sớ) Môn cuối cùng.

 

      Đây chính là môn thứ hai mươi mốt.

 

      (Sớ) Tổng cai thập thân. Cố viết thân vân đẳng hư không giới, tắc thập Phật thập thân giai đẳng hư không, tịnh hợp pháp tánh, vi trang nghiêm pháp giới hư không giới dă.

      () 身。故曰 界。則 身皆等 空,並 性,為 也。

      (Sớ) Bao gồm trọn cả mười thân. Cho nên nói là thân nhiều như mây bằng với cơi hư không, tức là mười thân của mười loại Phật đều bằng với hư không và xứng hợp pháp tánh, trang nghiêm pháp giới hư không giới.

 

      Chúng ta thấy câu kinh văn cuối cùng là “trụ đẳng hư không giới niệm Phật môn, quán sát Như Lai sở hiện thân vân trang nghiêm pháp giới hư không giới cố” (Môn Niệm Phật trụ trong cảnh giới rộng lớn như hư không giới, quán sát những thân do Như Lai hiện nhiều như mây trang nghiêm pháp giới hư không giới). Câu này là tổng kết, hai mươi câu trước, cứ mỗi hai câu là nói về một chuyện, tức là nói tới “thập Phật, thập thân”. Kinh Hoa Nghiêm luôn dùng chữ “thập” để biểu thị sự đại viên măn, mười loại Phật, mười loại thân. Câu cuối cùng là tổng kết. Do vậy, tổng kết là “trụ đẳng hư không giới Niệm Phật môn”. Cách trụ ra sao? Một niệm chẳng sanh là “trụ”. Hễ dấy lên một niệm, quư vị không có cách ǵ trụ được. V́ sao vậy? Dấy lên một niệm, sẽ chẳng thể giống như hư không, trọn khắp pháp giới được, chẳng thể nào! Một niệm chẳng sanh, tâm của quư vị và hư không pháp giới b́nh đẳng. Lời này nói ra dễ lắm, làm chẳng dễ đâu! V́ sao vậy? Quư vị thật sự đạt được “một niệm chẳng sanh” th́ quư vị đă thành Phật rồi, chẳng c̣n là phàm phu nữa! Phàm phu và Phật khác biệt ở chỗ Phật không có niệm, phàm phu có ư niệm. Quư vị thấy ư niệm của chúng ta cứ một niệm này diệt th́ một niệm khác liền sanh, ư niệm sanh diệt không ngừng. Đức Phật gọi sự sanh diệt không ngừng ấy là vọng tâm, vọng niệm! Chân tâm là bất sanh bất diệt. Nói một cách khác, chân tâm không có hiện tượng hư vọng ấy, hiện tượng ư niệm sanh diệt cũng không có, đấy gọi là “chân tâm thường trụ”. Chân tâm thường trụ hiện tiền sẽ là “trụ đẳng hư không giới Niệm Phật môn”.

Do đây, biết rằng: Một câu này khẳng định cảnh giới của bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo và bậc Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo là đoạn được Kiến Tư phiền năo, đoạn được Trần Sa phiền năo, vô minh cũng phá được một phẩm th́ nhập vào cảnh giới ấy. Nay chúng ta đều chưa làm được! Đều làm không được mà niệm kinh Hoa Nghiêm, há chẳng phải là nói suông ngoài miệng ư? Thích Ca Mâu Ni Phật giảng cho chúng ta đại pháp này, chẳng có mảy may tác dụng nào cho chúng ta, há chẳng phải là giỡn chơi với chúng ta ư? Đức Phật tuyệt đối không nói đùa, nghĩa là đức Phật đối với bất cứ ai, đều tuyệt đối không nói giỡn, câu nào của Phật cũng đều là chân thật. Tuy nhiên, luận định trên mặt lư luận, luận trên mặt phương pháp th́ quả thật chúng ta không làm được, nghiệp chướng tập khí rất sâu nặng, nhưng sau đó th́ sao? Trong phần sau, chúng ta sẽ thấy đức Phật có phương pháp khiến cho chúng ta nhập cảnh giới ấy, đức Phật chẳng xử tệ với chúng ta. Đức Phật dùng phương pháp ǵ? Mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc, ư nghĩa là như thế này: Quư vị chỉ cần chịu tu mười đại nguyện vương th́ quư vị sẽ viên măn những điều đă nói ở đây, quư vị sẽ khế nhập cảnh giới của hai mươi mốt môn Niệm Phật. Kinh này cho tới phần sau mới được gọi là đại viên măn!

Nếu mọi người đọc chú giải của cổ nhân th́ chú giải của ngài Thanh Lương không có vấn đề ǵ. Chứ trong bản chú giải của Lư Trưởng Giả, hễ nhắc tới A Di Đà Phật, Ngài liền phản đối, Ngài nói niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ là Quyền, chẳng phải là Thật. Đối với những lời lẽ ấy của Lư Trưởng Giả, đại sư Thanh Lương cũng có nhận định, cũng giảng rất rơ ràng v́ sao Lư Trưởng Giả nói như vậy? Lư Trưởng Giả không đọc toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, chẳng biết trong phần sau có mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, chẳng biết được điều này, Ngài chưa từng đọc tới đó. Lư Trưởng Giả lớn tuổi hơn đại sư Thanh Lương, lớn hơn rất nhiều. Bản kinh Ngài đọc là Lục Thập Hoa Nghiêm, chứ Ngài chưa được đọc Bát Thập Hoa Nghiêm, đương nhiên là chưa đọc Tứ Thập Hoa Nghiêm. Ngài Thanh Lương sanh muộn hơn, khi Bát Thập và Tứ Thập được phiên dịch Ngài đều tham gia, Ngài thấy phần sau của kinh văn, c̣n Lư Trưởng Giả chưa được thấy. Do vậy, Lư Trưởng Giả mới hiểu lầm đôi chút. Tuy có điều hiểu lầm ấy, nhưng toàn bộ kiến giải về kinh Hoa Nghiêm của ngài không bị chướng ngại, đích xác là trí huệ cao độ, là một vị đại đức cao tuyệt.

Đến phần cuối cùng là chương Phổ Hiền Bồ Tát, đức Phật mới dạy phương pháp này cho chúng ta. Đây là chuyện chúng ta có thể làm được. Vấn đề là quư vị có chịu làm hay không? Mấu chốt là ở chỗ đó. Quư vị chịu hay không chịu tu “lễ kính chư Phật”? Quư vị có chịu làm hay không? Quư vị chịu làm, sẽ nhập cảnh giới Hoa Nghiêm. Lễ kính chư Phật là cung kính đối với hết thảy, chẳng thể nói là ta coi trọng người này th́ cung kính, c̣n người kia ta thật sự coi thường, cớ sao ta phải cung kính hắn? Nếu vậy là quư vị chẳng tu Hoa Nghiêm. “T́nh và vô t́nh đều cùng viên măn Chủng Trí”. Điều trọng yếu tột bậc trong hạnh Phổ Hiền là dùng cái tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm từ bi, quyết định chẳng có phân biệt, chấp trước. Quư vị có phân biệt th́ không b́nh đẳng, quư vị có mảy may chấp trước th́ tâm quư vị chẳng thanh tịnh, đă bị ô nhiễm. Do vậy, cung kính người khác là xứng tánh, là Tánh Đức viên măn được hiển lộ, quư vị đă tương ứng với kinh Hoa Nghiêm.

V́ vậy, hai mươi mốt môn Niệm Phật được nói tới ở đây đều tương ứng, chẳng cho phép quư vị khởi tâm động niệm, [mà phải] chân thành, cung kính đối với hết thảy mọi người, hết thảy sự, hết thảy vật. Cung kính đối với sự là tích cực nhận trách nhiệm, phải làm việc cho viên măn, làm tới mức tận thiện, tận mỹ. Cung kính đối với vật là phải chân thành yêu thương, che chở, trong “vật” có động vật, có thực vật, có khoáng vật, đều phải dùng ḷng chân thành để đối đăi. Bàn, ghế, đồ đạc là vật, chúng ta trông thấy chúng, nhất định phải sắp xếp cho ngay ngắn, lau chùi sạch sẽ, đấy là cung kính đối với chúng, chứ không phải là bảo rằng tôi trông thấy bàn ghế cũng lễ ba lạy, nhiễu quanh ba ṿng. Nếu làm vậy, th́ quư vị đă lầm mất rồi, đâu có đạo lư ấy! Do vậy, sự cung kính trong tâm biểu hiện ra thái độ bên ngoài khác hẳn, đối với người, đối với sự, đối với vật đều khác nhau!

Chúng ta trông thấy Phật, theo lễ tiết th́ chúng ta đều đảnh lễ ba lạy, nhiễu theo chiều bên phải ba ṿng. Đấy là tu kính, nhắc nhở chính chúng ta phải dùng cái tâm cung kính, phải dùng cái tâm chân thành, đem những tâm ấy ứng dụng vào cuộc sống, ứng dụng vào công việc, ứng dụng trong xử sự đăi người tiếp vật, làm như thế là đúng. Chứ không phải là bảo quư vị từ sáng đến tối lễ bái trước tượng Phật, một ngày lễ ba ngàn lạy, lễ một vạn lạy cũng vô dụng, có dùng làm ǵ được đâu? Hăy đem tấm ḷng chân thành cung kính ấy ứng dụng vào cuộc sống, đồng thời phải biết: Giảng giải, t́m cầu Phật pháp phải khế lư, khế cơ. Lư là ǵ? Lư là pháp tánh. Pháp tánh b́nh đẳng, pháp tánh thanh tịnh, đấy là đạo lư. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ đă nêu rất hay! “Thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, đấy là Lư. Niệm niệm đều phải tương ứng với “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, đó gọi là Khế Lư. Hết thảy những kinh giáo do chư Phật Như Lai đă dạy, nói chung chẳng ngoài “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Toàn bộ đều được bao gồm trong những điều này. Ba câu ấy chính là Tam Học, mọi người hăy thường niệm, sẽ hiểu [thanh tịnh, b́nh đẳng, giác] là Tam Học Giới - Định - Huệ, là Tam Bảo Phật - Pháp – Tăng. Đấy là Lư! Thanh tịnh là Giới Học, b́nh đẳng là Định Học, giác là Huệ Học, Tam Học Giới Định Huệ. Thanh tịnh là Tăng Bảo, b́nh đẳng là Pháp Bảo, giác là Phật Bảo, Tam Bảo đấy!

Hết thảy thời, hết thảy xứ, các thứ hạnh nghiệp đă tạo, tâm quư vị luôn thanh tịnh, b́nh đẳng, giác, đều rất tương ứng với những điều này, th́ là Khế Lư. Sau khi Khế Lư, c̣n phải biết Khế Cơ. Cơ () chính là thời tiết nhân duyên. Do vậy, rất nhiều vị đồng tu học Phật chưa giác ngộ, chấp chặt những quy củ đă trở thành nề nếp, chấp chặt những phương pháp đă được nói trong các bản chú giải của cổ nhân, quư vị phải biết những phương pháp nào không thích hợp với hiện thời. Trong đầu óc con người hiện đại có ǵ? Tại Trung Quốc, tại nước ngoài, hiện thời truyền thông phát triển, giao thông nhanh chóng, mỗi một người đều có thể ra ngoại quốc chơi. Quư vị đi du lịch, có chú ư thấy hết thảy người, sự, vật mà quư vị tiếp xúc hay không? Họ nghĩ ǵ? Bọn họ nói điều ǵ? Bọn họ làm chuyện ǵ? Chẳng thể không lưu ư! Nếu quư vị lưu ư, quư vị sẽ nhận thấy con người hiện thời bị hại bởi bệnh ǵ? Phật pháp là thuốc, chúng ta dùng món thuốc ấy để cứu họ. Thưa cùng quư vị, con người hiện đại mắc bệnh chẳng giống cổ nhân, chẳng giống người sống trong ba bốn chục năm trước. Ba bốn chục năm trước, những người già như chúng tôi có cách nh́n, cách nghĩ về nhân sanh vũ trụ khác hẳn những người trẻ tuổi trong hiện thời.

      Nói cách khác, Phật, Bồ Tát muốn thuyết pháp cho chúng ta, đối với người sống trong ba chục năm trước, sẽ thuyết pháp theo một kiểu khác, đối với người hiện thời, lại thuyết pháp theo một kiểu khác, khác hẳn nhau! Cùng là một bộ kinh, nhưng giảng theo những cách khác nhau, gọi là “ứng cơ thuyết pháp” th́ mới có thể lợi ích chúng sanh. Nếu quư vị muốn kêu gọi con người hiện thời hăy khôi phục lễ giáo cũ, đạo đức cũ, quư vị có làm được hay không? Chư Phật, Bồ Tát, thần tiên có đến cũng đều làm không được! Vậy th́ làm sao? Quư vị phải hiểu rơ t́nh h́nh hiện thời, dựa theo t́nh thế để làm lợi cho đạo. Quư vị tới khuyên dụ, hướng dẫn người ta, người ta sẽ tiếp nhận, vui thích. Con người hiện thời đầu óc đầy ắp ư tưởng tham tiền, quư vị bảo do kinh Hoa Nghiêm sẽ kiếm được nhiều tiền, họ sẽ đến nghe. Quư vị nói: “Anh chớ nên mang ḷng tham. Có ḷng tham, tương lai sẽ biến thành ngạ quỷ”, họ liền lắc đầu bỏ đi, [chê quư vị là] đồ mê tín! Như thế nào họ sẽ chịu tới? Đối với kẻ tham danh lợi, tham quyền, quư vị hăy bảo: “Này bạn! Phật pháp có thể củng cố quyền vị”, người ấy sẽ thích chí, đấy là cái họ cần, họ sẽ đến nghe. Phật pháp sống động, ăn nói sống động, đối với người như thế nào, bèn có cách nói như thế ấy, có lừa người ta hay không? Không lừa gạt người ta đâu! Thật đấy! Quư vị nói sẽ giúp đỡ kẻ ấy kiếm nhiều tiền là thật đấy, tuyệt đối chẳng giả, quyết định kiếm được lắm tiền.

      Lần này, tôi qua Tân Gia Ba mấy hôm, gặp được một vị cư sĩ. Ông ta buôn bán ở Đại Lục, kể với tôi: Những người cùng buôn bán giống như ông ta ở Đại Lục đều lỗ vốn, chỉ có một ḿnh ông ta là có lời. Ông ta dựa vào đâu để kiếm tiền? Học Phật kiếm được tiền! Ông ta lợi dụng Phật pháp ở điểm nào? Chân thành, cung kính, khiêm hư, ông ta bảo: “Tôi học được điều này, tôi đối xử với hết thảy mọi người bằng ḷng chân thành, cung kính, khiêm hư, nên kiếm được tiền!” Đạt đến mức độ “tâm an, lư đắc”. Trong nhà Phật, hễ cầu ắt ứng, cầu làm Phật, làm Bồ Tát, đều có thể cầu được. Những chuyện thế gian như tài, sắc, danh, ăn uống, ngủ nghê là những chuyện lông gà, vỏ hành (ư nói chuyện vụn vặt), lẽ nào chẳng cầu được? Quyết định cầu được, có thể thỏa măn ư nguyện của quư vị. Chư Phật, Bồ Tát có thiện xảo phương tiện, sau khi thỏa ư quư vị rồi mới bảo quư vị: “C̣n có thứ tốt đẹp hơn nữa, ngươi có muốn hay không? Nay ngươi vị thỏa măn trong một đời này hay là cả đời sau nữa? Ngươi có hy vọng đời sau càng tốt đẹp hơn đời này hay chăng?” Kẻ ấy sẽ nói: “Con hy vọng đời sau c̣n tốt đẹp hơn đời này”. Vậy th́ c̣n có biện pháp tốt đẹp hơn nữa, [chư Phật, Bồ Tát] khuyên dụ, hướng dẫn từng bước như vậy đó.

      Khi đức Thế Tôn tại thế, Ngài giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, trước hết nói kinh Hoa Nghiêm, không ai hiểu cả! Giảng Hoa Nghiêm th́ hàng Thanh Văn, Duyên Giác đến nghe như ḷa, như điếc. “Như điếc” là nghe mà chẳng hiểu ǵ, giống như kẻ điếc. Đức Phật nói những cảnh giới, họ chẳng thấy rơ ràng, giống như ḷa! V́ thế, Phật mới buông Hoa Nghiêm xuống, giảng A Hàm. A Hàm là dời sang cảnh giới của chúng sanh, đấy rơ ràng chẳng phải là bảo với chúng ta “Hoa Nghiêm khế lư, nhưng chưa khế cơ!” đó sao? Vậy th́ dùng A Hàm khế cơ, nhưng nó chẳng thể khế hợp viên lư (lư trọn vẹn), tức là A Hàm chỉ là một bộ phận của Lư, một bộ phận rất nhỏ. Sau đấy, không ngừng nâng cao hơn từng giai đoạn một. Giảng A Hàm mười hai năm, rồi giảng Phương Đẳng cho quư vị. Đấy là tiến lên cao hơn, lại giảng Bát Nhă, rồi giảng Pháp Hoa, Niết Bàn, quay trở về viên măn rốt ráo, Lư lẫn Cơ đều khế hợp. Khi lăo nhân gia c̣n tại thế, đă biểu diễn cho chúng ta thấy mô thức hóa độ chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh. Chỉ cần chúng ta có thể lănh ngộ từ nơi đây, sẽ biết làm theo cách nào! Người hiện thời nói: “Đầu kỳ sở hảo” (Phù hợp với điều ưa thích). Quư vị thấy người ta thích cái ǵ, hễ xứng hợp với điều kẻ ấy ưa thích, kẻ ấy sẽ dễ dàng tiếp xúc Phật pháp. Chỉ sợ quư vị không tiếp xúc Phật pháp, chứ đă tiếp xúc, những ư vị trong ấy có muốn bỏ, cũng chẳng thể bỏ được, tự nhiên sẽ thâm nhập tiến cao hơn. Ngàn vạn lần đừng để vừa bắt đầu liền bị người khác cự tuyệt, nếu bị như vậy th́ quư vị đă thất bại rồi. Lúc mở đầu, nhất định phải được người ta vui vẻ tiếp nhận, bất luận từ một pháp môn nào, bất luận theo phương hướng nào cũng đều được cả! Thuận cảnh cũng được, mà nghịch cảnh cũng được, thiện pháp cũng được, mà ác pháp cũng được luôn! Không chướng ngại chi!

      Do đây biết rằng: Nếu chúng ta muốn thật sự khế nhập cảnh giới ấy, chúng ta chẳng phải là kẻ mới học, học đă lâu năm như thế, căn cơ của mọi người đă khá sâu dầy. Do vậy, phải nên tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện là lấy mười thứ cương lănh ấy làm hướng dẫn trong cuộc sống, làm cột mốc cho công việc của chúng ta, làm tiêu chuẩn để xử sự, đăi người tiếp vật. Những ǵ chúng ta tiếp xúc suốt từ sáng đến tối chẳng ngoài người, sự, vật, chúng ta tuân thủ mười cương lănh của Phổ Hiền Bồ Tát. Điều thứ nhất là chúng ta phải tu cung kính, tức là dùng cái tâm chân thành cung kính để đối xử với người, đối xử với sự, đối xử với vật, chẳng cần nghĩ kẻ khác có cung kính ta hay không. Chẳng cần nghĩ đến điều đó! Đấy là chuyện của họ, chẳng ăn nhập ǵ đến ta! Ta tu cho ta, ta tu cảnh giới Hoa Nghiêm của ta, ta tu cơi Tây Phương Thật Báo Trang Nghiêm của ta. Phải hiểu rơ đạo lư này, liễu giải sự thật này. Đối với hết thảy người, sự, vật, đều xưng tán. Trong sự xưng tán, có một tiêu chuẩn: Hễ là thiện th́ xưng tán, hễ là ác th́ không xưng tán. Nhưng khi tiếp xúc với người lành th́ cung kính, đối với người ác cũng cung kính, quyết định không phân biệt. Cung kính quyết định không phân biệt, nhưng trong xưng tán có phân biệt. Thiện th́ xưng tán, ác th́ chẳng nói. Đó gọi là “ẩn ác, dương thiện” (ẩn giấu điều ác, đề cao điều thiện). Trông thấy người khác làm chuyện quấy, miệng trọn chẳng nhắc tới. Trông thấy người khác làm một chút ǵ tốt đẹp, chúng ta bèn khen ngợi. Mọi người đều có thể “ẩn ác, dương thiện”, phong khí xă hội sẽ chuyển biến, chẳng có những hiện tượng ác nghịch.

      “Quảng tu cúng dường”: Quảng tu cúng dường là Bồ Tát tu Bố Thí Ba La Mật; bởi lẽ, trong khi quư vị tu bố thí, chẳng thấy có tâm cung kính, trong cúng dường có tâm cung kính. Quư vị thấy chúng ta cúng dường Phật, chúng ta có tâm cung kính. Có người ăn mày đến xin cơm, quư vị cúng dường người ấy, quư vị không có tâm cung kính. V́ thế, dùng chữ “cúng dường”, chẳng dùng “bố thí”. Ta đối với Phật cung kính cúng dường như thế, vậy th́ người ăn xin t́m tới, ta cúng dường người ấy bằng cái tâm cung kính giống hệt như đối với Phật, đều là dùng ḷng chân thành, ḷng cung kính.

     “Sám trừ nghiệp chướng”: Một câu A Di Đà Phật sám trừ nghiệp chướng, “tội từ tâm khởi, đem tâm sám”. Tội chướng là ǵ? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đấy là tội chướng. Nói cách khác, nếu quư vị không niệm Phật, quư vị niệm niệm đều là tội chướng, quư vị mới hiểu sự trọng yếu của Niệm Phật. Dùng một câu Phật hiệu để thay đổi tất cả nghiệp chướng và tập khí.

      Đầu đời Thanh, pháp sư Từ Vân Quán Đảnh nói rất hay: Kẻ tội chướng cực nặng, tất cả những kinh pháp trong Phật pháp Đại Thừa đều chẳng sám trừ được, cuối cùng vẫn c̣n có một câu A Di Đà Phật có thể sám trừ sạch sành sanh. Ngài nói một câu không dễ ai nói được! Nếu Ngài không phải là bậc tái lai, sẽ không thốt ra được! Quư vị mới biết danh hiệu của công đức chẳng thể nghĩ bàn! Nói cách khác, toàn bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh đến cuối cùng quy nạp thành một câu “nam-mô A Di Đà Phật”. Do vậy, công đức niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn. Quư vị hỏi tôi tu hành như thế nào ư? Niệm Phật! Công phu tu hành niệm Phật không đắc lực! V́ sao không đắc lực? Một mặt niệm Phật, một mặt khởi vọng tưởng, đương nhiên là không đắc lực, rắc rối là ở chỗ này. Quư vị niệm Phật chẳng khởi vọng tưởng là đắc lực, tiêu trừ nghiệp chướng rồi. Người niệm Phật tối kỵ nhất là hoài nghi, v́ sao bảo quư vị đọc kinh, nghiên cứu giáo? Mục đích của đọc kinh, nghiên cứu giáo là khuyên quư vị liễu giải chân tướng sự thật, hiểu rơ đạo lư, thật sự hiểu rơ, không hoài nghi, đoạn nghi, sanh tín. Hiểu rơ chân tướng sự thật rồi, ư nguyện cầu văng sanh của quư vị chân thiết, tức là chân thật, khẩn thiết, quư vị quyết định được văng sanh. Do vậy, kinh giáo ấy rất quan trọng.

      Đại sư Ngẫu Ích nói không sai, “được văng sanh hay không, quyết định là do có tín nguyện hay không”. Giảng kinh, thuyết pháp, nghiên cứu, học tập kinh giáo nhằm giúp chúng ta kiến lập tín nguyện, tin sâu, nguyện thiết, “phẩm vị cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn”. Thật sự tin sâu, nguyện thiết, thật thà niệm Phật, quư vị sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị sẽ cao! Phải biết tất cả hết thảy các pháp thế gian lẫn xuất thế gian chỉ có một chuyện này là thật, những thứ khác toàn là giả. Quư vị chưa liễu giải chân tướng sự thật, hăy nghĩ xem trong một ngày quư vị làm, quư vị nghĩ, quư vị suy tưởng, trong những điều suy tưởng, làm lụng ấy, có mấy phần quư vị làm chuyện thật? Lại có mấy phần quư vị làm chuyện giả? Quư vị mới hiểu v́ sao quư vị công phu không đắc lực. Nói thật ra, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, quư vị có thể làm được nửa tiếng đồng hồ là thật th́ đă quư lắm rồi! Hai mươi ba tiếng rưỡi kia đều là giả! Như vậy th́ có hy vọng ǵ văng sanh nữa đây? Hoàn toàn phụ thuộc vào phước báo của quư vị khi lâm chung có người cảnh tỉnh hay không!

      [Để có] phước báo khi lâm chung, chính ḿnh phải có đủ điều kiện, tức là đầu óc tỉnh táo không mê muội. Đấy là điều kiện tiên quyết. Nếu bệnh nặng, thần trí thiếu sáng suốt, ai cũng đều không nhận ra, là xong rồi! Trợ niệm, thiện tri thức như thế nào, cũng đều chẳng thể giúp đỡ được! V́ vậy, điều kiện tiên quyết là đầu óc phải sáng suốt, đấy là đại phước báo, ngẫu nhiên gặp được thiện hữu ở bên cạnh nhắc nhở, lâm chung một niệm hay mười niệm, quyết định được văng sanh. Đấy chính là nguyện thứ mười tám của A Di Đà Phật. Thế nhưng chúng ta nghĩ tới khi chính ḿnh lâm chung, có thể nào có được phước báo ấy hiện tiền hay chăng? Có nắm chắc hay không th́ lúc b́nh thường phải ra sức công phu, quyết định chẳng để thời gian tốt đẹp bị lỡ làng, đáng tiếc lắm! Chẳng phải là tôi khuyên mọi người suốt ngày từ sáng đến tối chuyện ǵ cũng đều chẳng muốn làm mà cứ đến đây niệm Phật, không phải vậy! Quư vị c̣n có gia đ́nh, c̣n có công việc, ở trong nhà chẳng quên niệm Phật, làm việc cũng không quên niệm Phật, vậy là đúng! Công việc đ̣i hỏi phải suy nghĩ, xem xét th́ khi chúng ta làm việc, cứ buông danh hiệu đức Phật xuống. Làm xong, lại đề khởi danh hiệu Phật. Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, chỉ cần khi làm xong những việc thuộc bổn phận của chính ḿnh th́ hăy niệm Phật. Làm như vậy là đúng.

      Đến Niệm Phật Đường niệm Phật, đương nhiên là có ư nghĩa khác hẳn, khác ở chỗ nào? Đấy là tự độ, độ người khác, hai thứ lợi ích. B́nh thường, mỗi người quư vị niệm Phật là tự độ, quư vị đến Niệm Phật Đường là độ tha. Độ tha như thế nào? Niệm Phật Đường hằng ngày có người niệm Phật, trong mười hai thời đều có người niệm Phật, nay gọi là “trong hai mươi bốn tiếng niệm Phật không ngừng”, trong ba năm hay năm năm, sẽ ảnh hưởng đến cả khu vực. Đấy thật sự là Bồ Tát, thật sự là từ bi! Trí huệ thật sự th́ người ta mới chịu làm. Quư vị hiềm ít người, chỉ có mấy người [tới niệm Phật] thôi ư? Mấy người cũng làm, cứ làm, đừng bận tâm, dần dần người khác sẽ bị ảnh hưởng, ảnh hưởng sẽ lan rộng. Làm được như thế trong hai ba chục năm, đạo tràng của quư vị chắc sẽ ảnh hưởng cả thế giới, quư vị nói xem có công đức nào to bằng? Phàm mọi chuyện đều khó khăn lúc khởi đầu, nhưng lúc mở đầu phải có trí huệ lớn lao, nguyện lực to lớn th́ quư vị mới kiên tŕ thực hiện, đột phá khó khăn!

      Do vậy, từ bộ kinh to lớn này, chúng ta thật sự khẳng định, nhận thức pháp môn Niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn! Chư Phật, Bồ Tát đă biểu diễn, thị hiện cho chúng ta. Đấy chính là “trang nghiêm pháp giới hư không giới”. Ở đây, đại sư Thanh Lương tổng kết rất hay, “tắc thập Phật, thập thân giai đẳng hư không, tịnh hợp pháp tánh” (Tức là mười loại Phật, mười loại thân đều bằng với hư không và xứng hợp pháp tánh). Ư nghĩa của câu này rất sâu, rất rộng! Quư vị phải biết; Phật có mười loại Phật, mười loại thân, mỗi một cá nhân trong chúng ta cũng là mười loại Phật, mười loại thân. Mười thứ Phật, mười thứ thân của những vị ấy rất rơ rệt, chính họ hiểu rơ ràng, rành rẽ, c̣n đối với mười thứ Phật, mười thứ thân của bản thân chúng ta, ngay cả chính chúng ta cũng chẳng biết tới! Đấy gọi là mê hoặc, điên đảo. Chẳng phải là các vị ấy th́ có, c̣n chúng ta th́ không. Nếu các vị ấy có, chúng ta không có, chúng ta niệm Phật làm sao thành tựu được? Chúng ta có, chính chúng ta là mười loại Phật, chính chúng ta có mười thân, cho nên niệm niệm mới có tương ứng, niệm niệm mới cảm ứng đạo giao. V́ sao biết là chúng ta có? Câu kế đó là “tịnh hợp pháp tánh” (và xứng hợp pháp tánh). Tận hư không trọn pháp giới, có pháp nào chẳng do pháp tánh biến hiện? Pháp tánh chính là chân tâm, pháp tánh là năng biến (chủ thể biến hiện). Hết thảy h́nh tướng trong tận hư không, trọn pháp giới là sở biến (cái được biến hiện ra). Do vậy, đây kia dung hợp lẫn nhau, đạo lư là ở chỗ này. “Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”. Bởi vậy, “trang nghiêm pháp giới hư không giới” là thật, chứ không giả, đấy là chân tướng sự thật.

 

      (Sớ) Thị tắc tùy môn thuyết dị, cử nhất viên thâu. Như thị phương vi Hoa Nghiêm Niệm Phật.

      () 異,舉 收。如 佛。

      (Sớ) Đây chính là tùy theo từng môn mà nói sai khác, nêu lên một môn ,sẽ gồm thâu trọn vẹn [các môn khác]. Như thế mới là Hoa Nghiêm Niệm Phật.

 

      Hoa Nghiêm Niệm Phật đích xác khác với những môn Niệm Phật khác. Trong phần trước, [kinh văn[ kể ra hai mươi mốt môn. Trừ môn cuối cùng ra, hai mươi môn kia đều là “tùy môn thuyết dị”, thuận theo tâm của chúng sanh. Nhưng quư vị phải hiểu chân tướng của sự thật trong ấy, trong hai mươi môn, tùy tiện nêu ra một môn nào, sẽ đều bao quát trọn vẹn hai mươi môn kia! Bất cứ môn nào cũng đều bao quát, bao quát viên măn. Ví như nói tới mười pháp giới, chúng ta nói tới Phật pháp giới th́ Phật pháp giới bao quát cả chín pháp giới kia, từ Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác cho đến chúng sanh trong địa ngục. Chúng ta nói tới nhân pháp giới th́ nhân pháp giới phía trên bao gồm cả Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, chư thiên, phía dưới bao gồm ba ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. “Một tức hết thảy, hết thảy chính là một”, tâm của mỗi một cá nhân chúng ta đều viên măn, chẳng thiếu khuyết mảy may nào!

      Do vậy, trong một đời này, khi Báo Thân kết thúc, đời sau sẽ đi về đâu? Quư vị nghĩ đến đâu, sẽ đi về đó, quư vị thật sự được tự tại! Tưởng làm Phật, bèn hiện thân Phật; tưởng làm quỷ, bèn hiện thân quỷ, tùy theo ḷng ưa muốn. V́ sao c̣n mong làm quỷ? Hành Bồ Tát đạo nhằm độ quỷ đạo. Quư vị độ quỷ mà không hiện thân quỷ làm sao độ được quỷ? Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân quỷ vương trong quỷ đạo. Quư vị [làm lễ] “phóng Diệm Khẩu”, vị quỷ vương đối diện đài Diệm Khẩu, tức Tiêu Diện đại sĩ mặt xanh nanh chĩa, là ai vậy? Hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát đấy! Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân ấy trong quỷ đạo, ở trong đường nào, bèn hiện thân ấy, không chỗ nào chẳng hiện thân! Đấy chính là quư vị thật sự nhập cảnh giới Hoa Nghiêm, đích xác là đạo lư rất viên măn. Do vậy, đương nhiên là có thể thông suốt nơi mặt Sự. Hễ có Lư, đương nhiên là có Sự. “Cử nhất viên thâu” (nêu lên một mà gồm thâu trọn vẹn), “nhất” ở đây là bất cứ một môn nào, chứ không phải là độc nhất.

 

      (Sớ) Thượng lai lược biện tùy sở niệm dị, thành thử đa môn. Nhược biệt đối thập quán, khủng phiền bất tự.

      () 異,成 門。若 十觀,恐 敘。

      (Sớ) Trên đây là biện định đại lược dựa theo từng đối tượng được niệm khác nhau, cho nên thành nhiều môn như vậy. Nếu luận định riêng từng môn trong mười phép quán th́ sợ rườm rà, cho nên chẳng trần thuật.

 

      Nếu giảng về cách quán của mười thừa th́ quá phiền phức, cho nên lược bớt đi, chỉ nói là do niệm theo [những đề mục, đối tượng] khác nhau, nên nói thành hai mươi môn. Thật ra, hai mươi môn ấy chính là hai mươi loại lớn; trong mỗi một loại lớn ấy, nếu phân chia tỉ mỉ, sẽ là vô lượng vô biên. Môn Niệm Phật được tỳ-kheo Cát Tường Vân chỉ dạy tường tận cho Thiện Tài đồng tử như vậy. Nhưng quư vị phải nhớ kỹ, chính Ngài tu pháp môn nào? Ngài luôn biết: Đương nhiên pháp của chính ḿnh tu là thù thắng nhất. Ta biết nhiều môn Niệm Phật như thế, nhưng ta tu pháp môn hay nhất trong những môn ấy, tự ḿnh chọn lựa pháp hay nhất. Ngài chọn lựa pháp Ban Châu tam-muội. Ban Châu tam-muội chuyên niệm A Di Đà Phật, Ngài chọn lựa pháp ấy. Quư vị thấy từ khởi đầu cho đến cuối cùng, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc, quư vị mới hiểu ra: Nơi khởi đầu và nơi kết thúc, từ đầu đến cuối chẳng rời niệm Phật. Năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài là một câu A Di Đà Phật niệm cho đến tột cùng.

      Thuở trước, tôi tin tưởng pháp Tịnh Độ là nhờ được khải thị khi đọc đến đoạn kinh văn này. Tôi theo thầy Lư, thầy Lư khuyên tôi niệm Phật, tôi vẫn không cam ḷng, không bằng ḷng, chẳng qua không phản đối, không có lư do để phản đối, nhưng chính ḿnh cảm thấy rất khó thể tiếp nhận. Đến năm Dân Quốc 60 (1977), khi giảng kinh Hoa Nghiêm, giảng đến chỗ này, mới hoảng nhiên đại ngộ, mới biết pháp môn này thật sự là pháp môn bậc nhất trong vô lượng vô biên pháp môn, thù thắng không chi sánh bằng. Đến chỗ này, chúng tôi đă giải thích một phần văn tự trong kinh văn. Tiếp theo đây là phần thứ ba:

 

      (Sớ) Đệ tam năng niệm thâu thúc.

      () 束。

      (Sớ) Phần thứ ba là thâu tóm về Năng Niệm.

 

      Phần trên nói về Sở Niệm (đối tượng để niệm), Sở Niệm có nhiều môn như thế, vậy th́ Năng Niệm (chủ thể thực hiện hành động niệm Phật) là ǵ? Điều này rất trọng yếu. Đại sư Thanh Lương quy nạp ư nghĩa này thành năm loại lớn, tức năm môn.

 

      (Sớ) Lược hữu ngũ chủng; nhất duyên cảnh chánh quán niệm Phật môn. Nhược chân, nhược ứng, nhược y, nhược chánh, giai thị cảnh cố. Xưng danh thuộc khẩu, phi chân niệm cố, lược nhi bất ngôn.

() 種。一 門。若 應,若 正,皆 故。稱 口,非 故,略而 言。

      (Sớ) Đại lược có năm thứ, một là môn niệm Phật duyên theo cảnh chánh quán. Bởi lẽ, dù chân thân hay ứng thân, dù y báo hay chánh báo, đều là cảnh. Nếu chỉ xưng danh ngoài miệng th́ chẳng phải là chân niệm, cho nên lược đi không nói.

 

Đây là “duyên cảnh chánh quán”. Chúng ta thường gọi “duyên”“phan duyên” (nắm níu theo duyên), người mới học chẳng thể không phan duyên. Nắm níu những duyên nào? Nắm níu Phật duyên. Quư vị nghĩ xem, v́ sao chúng ta phải tạo tượng Phật? Tạo tượng Phật là để nắm níu Phật duyên! Hằng ngày trông thấy Phật, mới có thể nghĩ đến Ngài, mới chẳng đến nỗi quên mất Ngài. Tượng Phật phải được tạc cho thật trang nghiêm, trông thấy liền hoan hỷ, muốn được ngắm nhiều lần. Tượng Phật nào được tạc mà chính ḿnh không ưa thích, quư vị sẽ chẳng muốn nh́n. Do vậy, nhất định phải tạc thật trang nghiêm. Bởi thế, nếu quư vị thờ tượng Phật th́ nên thờ tượng Phật nào? Thờ tượng Phật nào quư vị ưa thích nhất, chứ không nhất định phải học theo người khác. Tượng Phật của người khác người ấy cảm thấy rất đẹp, nhưng ta nh́n không thấy đẹp đẽ, ta nh́n vào không sanh ḷng hoan hỷ, nhất định phải là tượng khiến cho chính ḿnh hoan hỷ, có duyên với ḿnh. Bất luận là tượng đắp hay tượng vẽ, đều phải sao cho chính ḿnh nh́n vào sẽ sanh ḷng hoan hỷ. Chúng ta thờ tượng Phật với dụng ư: Tượng Phật sẽ thời thời khắc khắc cảnh tỉnh chúng ta, dụng ư là ở chỗ này. Do vậy, “duyên cảnh”, tượng Phật là cảnh.

Tiếp đó, [lời chú giải] viết “nhược chân, nhược ứng”. Trong phần trên, tôi đă nói rồi, [chân là] chân nghiệp báo thân, [ứng là] ứng hóa nghiệp báo thân, hoặc là nói y báo, hoặc là chánh báo, đấy toàn là cảnh giới, toàn là những cảnh giới đối ứng với sáu căn. Chúng ta đối trước những cảnh giới ấy, khởi lên ư tưởng niệm Phật; khi không đối trước những cảnh giới ấy, bèn quên tuốt Phật, cho nên gọi là “duyên cảnh”. “Xưng danh thuộc khẩu”: Niệm Phật ngoài miệng, trong tâm chưa chắc đă tương ứng, cho nên nói “lược nhi bất ngôn” (lược đi, không nói tới). Đây là nói về kẻ mới học, công phu nông cạn nhất, kẻ sơ học mà! Đại khái là những người niệm Phật chúng ta đều thuộc vào tầng mức này, thuộc cảnh giới này, cho nên công phu không đắc lực. Lại xem tiếp loại thứ hai:

 

      (Sớ) Nhị, nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn.

      () 門。

      (Sớ) Hai là môn nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật.

 

      Công phu này cao hơn, cảnh giới chẳng thể không có, nhưng người tu đă có thể “nhiếp cảnh duy tâm”.

 

      (Sớ) Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật, chư Phật chánh biến tri hải, tùng tâm tưởng sanh, huống tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt.

      () 佛,是 佛,諸 海,從 心想 生,況 生,三 別。

      (Sớ) Tâm này là Phật, tâm này làm Phật, biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng, huống chi tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt.

 

      Nếu quư vị hiểu rơ đạo lư này, quư vị niệm Phật chắc chắn sẽ sanh khởi chánh tín, quư vị cũng sẽ thật sự niệm Phật. V́ sao vậy? Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng. Ở đây nói “biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng”, đây là nêu lên Phật [để đại diện cho mười pháp giới], hết thảy các pháp đều sanh từ tâm tưởng, nguyên lư ở ngay trong hai câu thuộc phần trên: “Tâm này là Phật, tâm này làm Phật”. Đây là nêu đại diện cho nguyên lư ấy. “Tâm này là Bồ Tát, tâm này làm Bồ Tát”, “tâm này là người, tâm này làm người”, “tâm này là quỷ, tâm này làm quỷ”, câu nói này có vô lượng nghĩa. Đây là nói hết thảy các pháp đều sanh từ tâm tưởng. Nếu chúng ta hằng ngày niệm Phật, há chẳng làm Phật ư? Đạo lư ở chỗ này! Quư vị hiểu rơ đạo lư ấy, quư vị mới hiểu “hễ ta nhất tâm mong làm Phật, chúng ta bèn hằng ngày niệm Phật, chúng ta hằng ngày tưởng Phật”. Nếu quư vị vẫn mong tưởng tham - sân - si, quư vị vẫn thuộc trong tam ác đạo.

      Quư vị niệm tham, tham là ǵ? Tham là ngạ quỷ. Quư vị niệm sân th́ sân sẽ là địa ngục. Quư vị niệm si th́ si là đúng sai, đen trắng chẳng hiểu rơ ràng, vẫn điên đảo, súc sanh đạo đấy! Quư vị hằng ngày niệm tham - sân - si, sẽ là ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, tương lai nhất định biến thành ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh. Mười pháp giới bày ra trước mặt chúng ta, nghe theo sự lựa chọn của chính chúng ta. Trong mười pháp giới th́ thù thắng nhất, viên măn nhất, không ǵ bằng chư Phật; trong y báo th́ thù thắng nhất, viên măn nhất, không ǵ bằng thế giới Cực Lạc. V́ sao không niệm? Niệm thế giới Cực Lạc là niệm y báo, niệm A Di Đà Phật là niệm chánh báo. V́ sao hằng ngày không niệm Phật, không tưởng Phật? Do vậy, quư vị thờ tượng Phật trong nhà, hằng ngày đọc kinh Phật, hễ niệm sẽ phải niệm đến mức khởi tác dụng. Nếu niệm mà chẳng khởi tác dụng th́ quư vị có niệm cũng giống như không niệm. Khởi lên những tác dụng nào? Ta niệm A Di Đà Phật, thấy hết thảy mọi người đều là A Di Đà Phật, như thế sẽ khởi tác dụng, như thế là tương ứng. [Sẽ thấy] bất luận người nào cũng đều là A Di Đà Phật, coi người ấy thật sự là A Di Đà Phật.

      Người ấy có đúng là A Di Đà Phật hay chăng? Đúng đấy! Người ấy là hóa thân của A Di Đà Phật. A Di Đà Phật có ngàn trăm ức hóa thân, ở trước mặt ta, ai cũng là A Di Đà Phật. Sự ǵ, vật ǵ cũng đều là A Di Đà Phật; đấy mới gọi là niệm Phật. Trông thấy tượng này là A Di Đà Phật, thấy tượng kia không phải là A Di Đà Phật, quư vị đang niệm vị Phật nào? Quư vị chẳng thật sự niệm Phật! Trong phần trên đă bảo là “quư vị miệng có, tâm không”, quư vị chẳng tương ứng với Phật. Do vậy, quư vị phải biết: Khi niệm Phật, những cảnh giới mà sáu căn của quư vị tiếp xúc đều là A Di Đà Phật. Bàn ghế là do A Di Đà Phật biến hiện, những thứ cúng dường, hương, hoa cũng là A Di Đà Phật biến hiện, không có ǵ chẳng phải là A Di Đà Phật. Chung quanh ta, toàn là A Di Đà Phật, đấy mới gọi là Niệm Phật! Phải nhớ kỹ câu này, câu nói này chính là trí huệ chân thật. Chúng tôi sửa lại một chút để mọi người dễ hiểu: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. Hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều sanh từ tâm tưởng, tùy thuộc quư vị thấy điều ǵ, quư vị suy tưởng điều ǵ, sẽ sanh ra điều đó. Chữ “sanh” ở đây có nghĩa là “hiện”, tức hiện ra cái ǵ. Tưởng điều ǵ, sẽ hiện ra điều đó. Do vậy, mọi người phải tưởng A Di Đà Phật. Những câu kế tiếp đó đều là lời lẽ trí huệ.

 

      (Sớ) Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt.

      () 生,三 別。

      (Sớ) Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ vô sai biệt.

 

      Là một, chứ không phải là hai. Tâm là Năng Biến, Phật và chúng sanh là Sở Biến, Năng và Sở không hai. Do vậy, chúng ta tưởng điều ǵ, sẽ biến hiện ra điều đó. Mọi người phải đặc biệt nhớ kỹ: Ta niệm A Di Đà Phật th́ trông thấy hết thảy mọi người, hết thảy sự, hết thảy vật đều là A Di Đà Phật. Quư vị có thể niệm như vậy, sốt sắng niệm, thật thà niệm, đại khái là nửa năm hay một năm, công phu của quư vị sẽ thành phiến, cảnh giới sẽ quyết định khác hẳn hiện thời. Khác như thế nào? Tướng mạo khác hẳn, thể chất của quư vị khác hẳn, v́ sao vậy? Tướng chuyển biến theo cái tâm, thân thể này cũng chuyển theo cái tâm. Quư vị sẽ trở thành rất mạnh khỏe, trở thành rất viên măn. Hằng ngày niệm Phật, tướng mạo sẽ dần dần biến thành Phật tướng. Hằng ngày niệm tham, tham lâu ngày, quư vị sẽ thấy tướng ấy là quỷ tướng. Thật đấy! Quư vị hăy chú tâm nh́n tướng ấy, quư vị nh́n kỹ, có rất thú vị hay chăng? Do vậy, qua h́nh tướng, qua thể chất, quư vị có thể thấy được ḷng người, từ cái tâm có thể hiểu rơ tướng mạo của người khác, “tam vô sai biệt” mà. A! Hôm nay hết giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi!

 

Tập thứ mười hai (12-13-12)

 

      Xin mở quyển kinh, trang hai mươi tám, ḍng thứ nhất, đọc từ câu cuối cùng:

 

      (Sớ) Tam, tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn. Tâm tức thị Phật, tâm tắc phi tâm. Phật tức thị tâm, Phật diệc phi Phật. Phi tâm, phi Phật, viễn ly nhất thiết. Cố vô sở niệm, phương vi chân niệm.

      () 門。心 佛,心 心。佛 心,佛 佛。非 佛,遠 切。故無 念,方 念。

      (Sớ) Ba là môn niệm Phật tâm lẫn cảnh đều mất. Tâm chính là Phật, tâm chính là phi tâm. Phật tức là tâm, Phật cũng chẳng phải là Phật. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, xa ĺa hết thảy. Cho nên không có ǵ để niệm th́ mới là chân niệm.

 

      Từ đây trở đi, những ư nghĩa [kế tiếp] càng lúc càng sâu. Trong đoạn này, đại sư dạy chúng ta Năng Niệm có thể quy nạp thành năm loại. Loại thứ nhất là “duyên cảnh chánh quán Niệm Phật môn”. Đại khái là những đồng tu niệm Phật chúng ta trong hiện thời đều thuộc phạm vi của loại này. Thuộc phạm vi này mà nếu niệm tương ứng, cũng được văng sanh. Đấy chính là nói về kẻ chuyên niệm A Di Đà Phật. Nếu chẳng chuyên niệm A Di Đà Phật, th́ nói cách khác, tu học bất cứ một pháp môn nào, cũng đều rất khó thành tựu. Đạo lư ấy trong phần trước tôi đă từng nhắc tới rồi. Hai mươi mốt loại pháp môn Niệm Phật này là do tỳ-kheo Cát Tường Vân quy nạp. Trong [khi giảng về] hai mươi mốt môn Niệm Phật, tôi đă từng nói: Nếu triển khai ra, sẽ có vô lượng vô biên pháp môn, không có một pháp môn nào chẳng phải là pháp môn Niệm Phật. Do vậy, chúng ta thấy năm loại lớn của Năng Niệm càng rơ ràng, càng minh bạch. V́ thế, thưa với quư vị, loại thứ nhất là “duyên cảnh chánh quán niệm Phật môn” chỉ hạn cuộc trong chuyên niệm A Di Đà Phật, v́ sao vậy? Ở chỗ này, đại sư Thanh Lương đă nói rất rơ ràng, “nhược chân, nhược ứng” (dù chân, hay ứng), chân là chân Phật, Pháp Thân Phật và Báo Thân Phật là chân Phật, ứng là Ứng Hóa Thân, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong thế giới này của chúng ta vào ba ngàn năm trước, đấy là Ứng Thân Phật. Bất luận chân Phật hay Ứng Hóa Thân Phật, bất luận là y báo hay chánh báo, nói chung đều là ngoại cảnh.

      “Xưng danh” thuộc về miệng, miệng niệm. Nếu miệng niệm, nhưng tâm không tương ứng, đấy chẳng gọi là chân niệm, mà là “khẩu niệm”. Thông thường, chúng ta nói tới niệm Phật, trong văn tự Trung Quốc, bên cạnh chữ Niệm (), thêm vào một chữ Khẩu (), tức [là chữ , nhằm chỉ] cách niệm này. Trong vô lượng pháp môn, chỉ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới của A Di Đà Phật làm cảnh chánh quán th́ được! Dựa vào bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, chúng ta sanh về Di Đà Tịnh Độ, cho nên tuy công phu này so ra chẳng bằng bốn loại được nói trong phần sau, nhưng người ấy (người niệm Phật) có thể văng sanh thế giới Cực Lạc. Chư vị đồng tu phải đặc biệt chú ư điều này. Nếu chẳng chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương, tu học những pháp môn khác, tức là bốn loại lớn trong phần sau. Nói thật ra, bốn loại lớn ấy nhất định phải tương ứng, tương ứng với ǵ? Tương ứng với tự tánh, tương ứng với bản tánh Chân Như, tương ứng là chân niệm. Do vậy, trong tâm quư vị thật sự phải có, thật sự tương ứng.

      V́ sao nói bốn loại? Là v́ trong ấy có sâu hay cạn khác nhau, tức là công phu sâu hay cạn khác nhau. Do vậy, loại thứ hai là “nhiếp cảnh duy tâm”, cao minh hơn loại trước nhiều lắm. Loại Niệm Phật này cũng thuộc Tịnh Tông, thuộc luận lư của Tịnh Tông. Quán Kinh dạy: “Tâm này là Phật, tâm này làm Phật”; hai câu này chính là kinh văn của Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh. Trong kinh Đại Thừa, đức Phật lại thường dạy chúng ta: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”. Do vậy, trong tâm quư vị tưởng Phật, Phật sẽ hiện tiền. Thường xuyên tưởng Phật, tưởng Phật không gián đoạn, sẽ thuộc về môn “duy tâm niệm Phật”. Trong tâm quư vị thật sự có Phật, không nhất định phải là “miệng niệm”. Miệng niệm hay không chẳng quan hệ, trong tâm thật sự có [là được rồi]. Khởi tâm động niệm, Phật liền hiện tiền, đấy là “nhiếp cảnh duy tâm”.

      Hôm nay, chúng tôi giảng đến loại thứ ba, “tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn” (môn Niệm Phật cả tâm lẫn cảnh cùng mất). Quư vị trông thấy danh xưng này, sẽ nghĩ trong môn Niệm Phật này bao gồm toàn bộ Thiền Tông. Trong nhà Thiền, người tham Thiền mong đắc Định, mong khai ngộ, mong minh tâm kiến tánh, nếu chẳng đạt đến cảnh giới ấy sẽ chẳng thể được! Do vậy, ư niệm ấy của họ gọi là “chân niệm”. V́ sao vậy? Tâm là Phật, Phật chính là tâm, tâm chính là Phật, cho nên tâm ấy chẳng phải là tâm, tức là “tâm chẳng gọi là tâm”, Phật chính là tâm nên “Phật cũng chẳng thể gọi là Phật được”. Quư vị phải thấu hiểu ư nghĩa này. V́ thế, Ngài nói: “Phi tâm, phi Phật”. Đây chính là lối nói song giá[4]. Nếu nói theo kiểu “cả hai đều vắng lặng” th́ sao? “Tâm tức là Phật”; vậy th́ Phật chính là tâm, đấy chính là “tức Phật, tức tâm” (tâm tức là Phật, Phật tức là tâm). Hiểu rơ đạo lư này, khế nhập cảnh giới này, trong Tông môn gọi là “pháp môn Bất Nhị”. Nếu quư vị vẫn c̣n “có tâm, có Phật” th́ tâm và Phật là hai pháp, trong Đàn Kinh đă nói “hai pháp chẳng phải là Phật pháp, Phật pháp là pháp Bất Nhị”. Đoạn này giảng về pháp Bất Nhị, pháp Bất Nhị th́ mới gọi là chân niệm. Chân niệm là vô sở niệm (không có ǵ được niệm). Tông môn nói “khởi tâm là sai, động niệm đều trái”. Quư vị khởi tâm động niệm là sai, khuyên quư vị trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, đấy gọi là chân niệm.

      Quư vị hăy nghĩ xem, Tông môn được bao gồm trong pháp môn Niệm Phật. Trong ấy không có niệm, đă không niệm, sao lại gọi là chân niệm? Niệm vẫn là giả niệm, [hễ có] niệm th́ là giả niệm, không niệm là chân niệm. Nhưng phải biết rằng: Chúng ta niệm là giả niệm, nhưng không niệm cũng là giả niệm, chẳng phải là chân niệm. [Lư do là v́] hễ không niệm, quư vị bèn rớt vào vô minh, c̣n niệm th́ rớt vào vọng tưởng. Quư vị niệm hay không niệm, đều sai cả. Ư nghĩa này rất sâu, nhất định phải chú tâm lănh hội. Vô niệm ở đây chính là tâm và cảnh như một, cái tâm Năng Biến và pháp giới Sở Biến là một, Năng và Sở không hai, nhập Nhất Chân pháp giới, nhập pháp môn Bất Nhị. Chúng sanh và Phật là một, cũng là không hai. Tánh, Tướng không hai. Lư, Sự không hai. Thứ ǵ cũng đều là pháp môn Bất Nhị, đấy gọi là Chân Niệm. Đây là công phu thượng thượng thừa, chẳng phải là công phu tầm thường. Trong pháp môn Niệm Phật của chúng ta, công phu này được gọi là Lư Niệm. Ba loại trên đây là Lư Niệm, chúng ta gọi loại thứ nhất là “công phu thành phiến”, niệm A Di Đà Phật có thể được văng sanh. Loại thứ hai là “nhiếp cảnh duy tâm”, tức Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Tâm và cảnh đều mất là Lư Nhất Tâm Bất Loạn.

      Hôm nay, chúng ta đọc đoạn khai thị này của đại sư Thanh Lương, đối với chuyện này có thể đạt được sự hiểu biết kha khá, hiểu rơ t́nh trạng của chuyện này. Công phu không có ǵ khác cả, chỉ là như chúng tôi vẫn thường nói “thấy thấu suốt, buông xuống”. Triệt để buông xuống, chớ để cho mảy may nào c̣n tồn tại trong tâm địa. Như vậy th́ chúng ta phải hỏi: Có cần niệm A Di Đà Phật hay không? Có cần niệm Vô Lượng Thọ Kinh hay không? Niệm chứ! Năng Niệm là đúng ư? Có tương ứng hay chăng? Biết niệm th́ tương ứng, không biết niệm sẽ chẳng tương ứng. Niệm như thế nào để có thể tương ứng? Người biết niệm sẽ “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, niệm tức là vô niệm, vô niệm tức là niệm”, người ấy sẽ tương ứng. Ở chỗ này, chớ nên hiểu lầm ư nghĩa. Nếu hiểu lầm ư nghĩa “cố vô sở niệm, phương vi chân niệm” (cho nên không có ǵ được niệm th́ mới là chân niệm) là xong rồi! Tôi thứ ǵ cũng đều chẳng niệm, không niệm Phật mà cũng chẳng niệm kinh. Không niệm Phật, chẳng niệm kinh, hằng ngày niệm vọng tưởng, trong tâm quư vị c̣n có thể chẳng dấy lên vọng tưởng hay chăng? Quư vị có vọng tưởng là không được rồi, ngay cả vọng tưởng cũng không có, phân biệt cũng không có, chấp trước cũng không có, đúng - sai cũng không có, ta - người cũng không có, đấy là cảnh giới này. Quư vị vẫn c̣n có đúng - sai, ta - người, tức là quư vị chưa nhập được cảnh giới này, quư vị là phàm phu! Do vậy, quư vị phải hiểu “tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn”, người thật sự nhập cảnh giới này chính là bậc Pháp Thân đại sĩ được kinh Hoa Nghiêm đề cập, chứ không phải là kẻ tầm thường. Họ đă thật sự nhập pháp môn Bất Nhị.

      Do vậy, ở chỗ này, chúng ta hiểu Lư, về Sự th́ nhất định phải biết là chúng ta không làm được. Nhưng dù chưa làm được, cũng phải hướng theo đó để làm. Tuy làm chưa được, nhưng có được một chút hơi hướng th́ cũng tốt rồi, cũng có lợi ích, cũng có công đức. Đấy chính là thường mong mở rộng tâm lượng, kinh thường nói là “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” (tâm trọn khắp hư không, lượng trọn khắp các cơi có số lượng nhiều như cát), thường mở rộng tâm lượng, tận lực gắng bớt phân biệt, bớt chấp trước. Trước hết phải thực hiện từ chỗ nào? Trước hết, chuyện ǵ không cần phân biệt, quư vị chớ nên phân biệt; chuyện ǵ chẳng cần chấp trước, quư vị chẳng đừng chấp trước. Nếu nói nông cạn, gần gũi, th́ chuyện không liên quan tới ta, quư vị cần ǵ phải bận tâm tới, chúng ta khởi sự buông xuống từ chỗ này. Phải buông xuống chuyện chẳng liên quan đến ta trước, c̣n chuyện có liên quan tới chính ḿnh tạm thời chưa buông xuống được, trước hết hăy buông xuống chuyện không liên quan đến ta. Tuy quư vị chưa nhập cảnh giới này, nhưng quư vị mong đắc “công phu thành phiến” sẽ chẳng khó. Người niệm Phật chẳng thể công phu thành phiến, nói thật ra, là do bận tâm đến sự việc quá nhiều! Chuyện không đáng bận tâm, kẻ ấy vẫn lo tới. Ngay cả Khổng phu tử cũng thường nói: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chánh”, câu này có nghĩa là nếu quư vị chẳng nắm giữ địa vị ấy th́ chẳng cần phải bận tâm tới những chuyện thuộc địa vị ấy. Nếu quư vị giữ chức vị, đương nhiên là phải bận tâm. Nếu không có chức vị, quư vị bận tâm đến những chuyện ấy để làm ǵ? Cớ ǵ quư vị phải can thiệp vào? Chúng ta phải tu cái tâm thanh tịnh từ nơi đây. “Tâm lẫn cảnh đều cùng mất” chính là thanh tịnh, b́nh đẳng thật sự. Trong một câu này, đă nêu rơ “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Đại sư dạy chúng ta xa ĺa hết thảy, câu nói này hết sức trọng yếu. Trước hết, những ǵ không liên can đến chúng ta, hăy đều xa ĺa hết, những ǵ liên quan đến chúng ta cũng phải càng ít bận tâm tới càng hay, quư vị mới được tự tại!

      Trong dịp tôi sang Đại Lục lần này, gặp được pháp sư Nhân Đức ở Cửu Hoa Sơn và lăo pháp sư Minh Dương tại Thượng Hải. Lăo pháp sư bảo tôi, trước kia, khi đại sư Ấn Quang tại thế, Ngài thường bảo mọi người: “Tôi trên không có một miếng ngói, dưới không chỗ cắm dùi, tôi cũng không sợ chết”. Câu nói ấy có nghĩa là Ngài thứ ǵ cũng đều chẳng có. V́ sao Ngài không sợ chết? Sanh tử cũng không có! Quư vị nghe lời nói này, hăy nghĩ xem Ngài thuộc cảnh giới nào? Ngày nay chúng ta chuyện phiền toái, những thứ bận bịu thừa thăi quá nhiều, quư vị lại c̣n có nhà cửa, c̣n có đất đai, c̣n có tài sản, trong ngân hàng c̣n có không biết bao nhiêu món quư báu, c̣n có gia đ́nh, quyến thuộc, những sự việc vướng mắc trong ḷng chẳng biết là bao nhiêu? Quan tâm đến th́ quan tâm không xuể! Nghe lời đại sư Ấn Quang nói, chúng ta lại có cảm tưởng như thế nào?

Người tu hành thời xưa ở Ấn Độ, và khi Phật pháp truyền đến Trung Quốc, người tu hành đều không có ǵ. Thuở đức Thế Tôn tại thế, những vị theo Ngài xuất gia chỉ có ba y một bát. Trừ ba y một bát ra, thứ ǵ cũng đều chẳng có. Ngày ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, là ǵ vậy? Xa ĺa hết thảy! Ngày na,y tuy chúng ta không làm được như vậy, thể lực của chúng ta thua kém tiền nhân. Tôi thấy thể chất của mọi người hiện thời cũng kém hơn đời trước. Trong số những người xuất gia chúng ta ở đây, có hơn hai mươi người, quư vị đều thấy rơ. Tôi khuyên họ giảng kinh, họ hằng ngày kể khổ với tôi: “Sư phụ ơi! Con bận bịu công việc quá rồi, không có thời gian chuẩn bị đâu!” Đúng là cơ hội khó được! Ngày hôm qua đi thăm Đài Trung, quư vị đă có không ít người đến thăm nơi đó. Từ Quang Đồ Thư Quán ở Đài Trung lớn hơn chỗ chúng ta, diện tích đất đai của nó là bốn trăm b́nh[5]. Quư vị hăy chú tâm thăm viếng nơi ấy, nhân viên phụ trách công tác bao nhiêu người? Ba người! Hiện thời mấy người tôi không biết, khi tôi ở đó th́ là ba người, thầy Lư làm Quán Trưởng.

Bốn mươi năm trước, tôi ba mươi hai tuổi. Nhân viên làm công tác gồm ba người, hôm qua tôi đă thưa tŕnh với mọi người, tôi là một, Du cư sĩ là một người nữa và [người thứ ba là] Lôi cư sĩ. Cả hai người này đều đă mất cả rồi. Chúng tôi tuổi tác đại khái không chênh nhau nhiều, hai người bọn họ trẻ hơn tôi một chút. Ba người chúng tôi lo liệu công việc. Nay quư vị có đến hai mươi mấy người lo toan công việc, vẫn kêu không có thời gian! Quả thật số lượng công việc của chúng tôi lớn hơn quư vị nhiều, thời gian học hành của chúng tôi không thể bằng quư vị được. Buổi tối, sau khi nghe giảng kinh xong, mọi người đều về hết rồi, chúng tôi phải thu xếp, quét dọn xong rồi chính ḿnh mới bắt đầu đọc sách, học hành, lễ Phật, niệm Phật. Nói chung, phải làm tới ba giờ đêm mới đi ngủ. Trong một tuần lễ, có một hai bữa thức đến sáng. Do vậy, có thể nói là thể lực của quư vị không bằng chúng tôi. Chẳng trách cổ nhân thường nói: “Tu hành yếu sấn niên thiếu” (Tu hành phải tranh thủ lúc c̣n trẻ), v́ quư vị c̣n trẻ, sẽ có tinh thần, có thể lực, có thể dũng mănh, tinh tấn. Tuổi đă cao, quư vị muốn tinh tấn th́ thể lực cũng không có cách nào chịu đựng được! Khi tôi c̣n trẻ, chừng ba mươi tuổi, ba ngày không ngủ, tinh thần vẫn sung túc. Tôi thấy quư vị thể lực không bằng chúng tôi. Do vậy, trong một nơi bé tẹo như thế này, hai mươi mấy người mà kêu khổ suốt ngày, biết làm sao được!

Nhưng tôi nói lời này, cũng đừng cho là thật. V́ sao vậy? Quư vị chú ư nh́n ra ngoại quốc, [sẽ thấy] người Trung Quốc ra nước ngoài, tinh thần liền nâng cao. Chùa Pháp Quang ở Lạc Sâm Cơ (Los Angeles) chỉ có hai người, tức là hai vị Thiền Quang và Chiếu Hoằng. Hai vị này đều là học tṛ của tôi, đạo tràng ấy rất lớn. Khi tổ chức pháp hội, gần như tới một ngàn người [tham dự]. Hai người mà có thể duy tŕ đạo tràng tới mức tột bậc, quư vị làm sao sánh với họ được? Nói như thế, nói chung là quư vị quen thói sống quá thoải mái, không có cách nào hết! Cuộc sống của quư vị quá thoải mái, quá đầy đủ, chưa phải chịu khổ, cũng chẳng biết dụng công như thế nào! Đây là chỗ đáng để chúng ta phản tỉnh sâu đậm! Trong một đời người, sự nghiệp thành tựu chẳng phải là điều ngẫu nhiên! Ngạn ngữ thường có câu: “Ngật đắc khổ trung khổ, phương vi nhân thượng nhân” (Chịu được sự khổ nhất trong những sự khổ mới là người bậc nhất trong loài người). Không được rèn giũa, làm sao quư vị có thể thành tựu được? “Xa ĺa hết thảy” chính là khuyên chúng ta phải buông xuống, tận hết sức buông xuống. Lại xem tiếp đoạn thứ tư:

 

(Sớ) Tứ, tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn, song chiếu Sự Lư, tồn vong vô ngại. Đẳng chân môn chi tịch tịch. Hà Phật? Hà tâm? Giám sự lư chi minh minh, thường tâm, thường Phật, song vong chánh nhập, tịch chiếu song lưu.

() 門。雙 理,存 礙。等 寂,何 心。鑒 明,常心 佛。雙 入,寂 流。

(Sớ) Bốn là môn niệm Phật tâm lẫn cảnh vô ngại, cùng chiếu cả Sự lẫn Lư, mất hay c̣n đều vô ngại, tịch tĩnh giống như Tịch trong tánh thể chân môn. Ǵ là Phật? Ǵ là tâm? Soi rơ sự lư sáng vằng vặc, tâm thường hằng, Phật thường hằng, nhập thẳng vào chỗ hai bên cùng mất, Tịch và Chiếu cùng lưu lộ.

 

      Trong năm loại Năng Niệm này, ba loại trước chú trọng tới phương diện tự chế ngự phiền năo, tức là như chúng ta thường nói “công phu thành phiến, Lư nhất tâm bất loạn, Sự nhất tâm bất loạn”, chú trọng vào sự chế phục bản thân. Hai loại sau chú trọng nơi sự hóa tha (hóa độ người khác). Do đây biết rằng: Nếu quư vị không có cách nào để thật sự đạt tới tâm lẫn cảnh đều mất, buông xuống vạn duyên, buông xuống hết thảy, sẽ chẳng thể đạt được đại tự tại. Hai điều sau chính là Vô Chướng Ngại Pháp Giới như kinh Hoa Nghiêm đă nói. “Tâm cảnh vô ngại” tức là Lư Sự Vô Ngại; “trùng trùng vô tận” là Sự Sự Vô Ngại, nhập vào trong cảnh giới vô chướng ngại. Trong năm loại niệm Phật, có thể nói là càng về sau, càng sâu hơn môn trước. Quư vị muốn thật sự thành tựu, nhất định phải chiếu theo thứ tự thuận ấy để tu học. Giống như chúng ta lên lầu, phải lên theo từng tầng, lên cao dần! “Tâm cảnh vô ngại, song chiếu Sự Lư” (Tâm và cảnh vô ngại, chiếu cả Sự lẫn Lư). Trong phần trước là tâm lẫn cảnh đều mất; bởi lẽ, hết thảy đều là sai, xa ĺa hết thảy, quư vị đắc Định, tâm quư vị đă được thanh tịnh; quư vị đă đạt được “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, đă chứng đắc!

      Sau khi chứng đắc, sẽ khởi tác dụng, tức là không có chướng ngại. Đến khi khởi tác dụng, hết thảy đều là đúng, song chiếu Sự Lư (cùng chiếu cả Sự lẫn Lư), chẳng phải là “song giá” nữa. “Giá” () là cả hai bên đều phủ định, đều là không. “Song chiếu” là cả hai bên đều tồn tại. Quư vị phải hiểu ư nghĩa thật sự của Song Giá và Song Chiếu. Song Giá là nói theo mặt Thể (bản thể ) của Tánh, Song Chiếu là luận theo mặt Dụng (tác dụng) của Tánh. Thể là không tịch (rỗng lặng), do vậy, quyết định chẳng thể chấp trước, nhưng Thể có thể hiện tướng, biến hiện ra y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, biến hiện những tướng ấy. Thể là không, th́ Tướng là có hay không có? Tướng cũng không có, v́ thế, “tướng ấy có” là giả có, trong kinh Phật gọi là “diệu hữu”. Diệu Hữu là ǵ? Chẳng phải có, nhưng có, tuy có nhưng chẳng phải là có; đấy mới là diệu! Nếu mọi người không hiểu rơ th́ tôi nghĩ là quư vị đều từng nằm mộng, đều có kinh nghiệm nằm mộng, quư vị thấy những h́nh tướng trong mộng, rốt cục là có hay không có? Đợi đến khi tỉnh mộng rồi, biết giấc mộng ta vừa mơ ấy, mộng là giả, chẳng phải là thật, nhưng thật ra, khi quư vị nằm mộng, có ǵ chẳng phải là thật?

      Từ thí dụ nông cạn, dễ thấy này, chúng ta hiểu được y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới cho đến Nhất Chân pháp giới cũng giống như vậy, cùng một đạo lư. Quư vị hiểu rơ chân tướng này, th́ gọi là “thấy thấu suốt”. Thấy thấu suốt có nghĩa là triệt để liễu giải chân tướng của sự thật. Chân tướng của sự thật là ǵ? Chẳng có nhưng là có, có nhưng chẳng phải là có, đúng như kinh Bát Nhă đă dạy: “Phàm tất cả những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”. Câu này đă nói toạc ra, vạch trần ra. Kinh c̣n dạy chúng ta: “Hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Quư vị thấy thấu suốt, liễu giải chân tướng sự thật, biết nó là mộng, huyễn, bọt, bóng, quư vị có c̣n ghim nó trong ḷng hay chăng? Quư vị sẽ không làm như vậy. V́ sao? Ghim nó trong ḷng là sai lầm! Nó đă không có, quư vị ghim nó trong ḷng để làm ǵ? Chuyện quá khứ không có, hiện tại cũng không có, vị lai cũng lại không có, c̣n có ǵ để quư vị vướng mắc, c̣n có ǵ để quư vị lo rầu nữa đây? Thật sự hiểu rơ, thông đạt sự thật ấy, th́ quư vị mới hiểu được ư nghĩa câu nói của đại sư Ấn Quang. Đấy là thật sự đạt được đại tự tại đấy!

      “Song chiếu Sự Lư, tồn vong vô ngại” (Cùng chiếu cả Sự lẫn Lư, c̣n hay mất đều vô ngại). C̣n - mất là sanh diệt, v́ sao sanh diệt vô ngại? Sanh diệt không hai, lư ấy rất sâu, nhưng trong những phần trước, chúng tôi đă từng nói qua rồi, nói rất nhiều lần! Các nhà khoa học hiện thời cũng dần dần phát hiện ra chân tướng sự thật này “sanh diệt trong từng sát-na”. Tướng sanh diệt trọn chẳng thể được, đấy là một cách nói. C̣n có cách nói khác, nói thật ra, đủ mọi cách nói, vô lượng cách nói, đều nhằm diễn tả một chuyện “Không - Hữu chẳng hai, Tánh không, Tướng có”, cho nên chúng vô ngại.

“Đẳng chân môn chi tịch tịch”: “Đẳng” là b́nh đẳng, “chân môn” là tánh môn. Bản thể của Tánh là thật, vĩnh viễn chẳng biến đổi. Trong Phật pháp nói tới chân và vọng; phàm những ǵ biến đổi đều là hư vọng, phàm những ǵ vĩnh hằng bất biến, sẽ là chân. Quư vị phải hiểu cái vĩnh hằng bất biến trong hết thảy các pháp thế gian lẫn xuất thế gian chỉ có tự tánh. Ngoài tự tánh ra, có pháp nào bất biến đâu?

      Động vật có sanh, lăo, bệnh, tử; thực vật có sanh, trụ, dị, diệt, khoáng vật, tinh cầu có thành, trụ, hoại, không, thậm chí hư không, hư không luôn có sanh diệt, chỉ v́ thời gian của nó rất dài, thọ mạng của chúng ta ngắn ngủi, cho nên chẳng thể cảm nhận, quan sát được. Chuyện này đă được kinh Phật giảng rất rơ ràng, đại sư Vĩnh Gia cũng đă từng nói: “Mộng lư minh minh hữu lục thú, giác hậu không không vô đại thiên” (Mộng th́ sáu nẻo rành rành, giác rồi cả cơi đại thiên tan tành), đại thiên thế giới đấy nhé! Tông môn thường nói: “Phấn toái hư không” (Nghiền nát hư không thành bột). Do vậy, trong Tướng Tông, hư không được xếp vào pháp Vô Vi. Tức là xét theo mặt tướng, nó tợ hồ vô vi. Pháp Vô Vi gồm có sáu loại, chỉ có một thứ, tức Chân Như Vô Vi, là thật, những thứ khác đều chẳng thuần chân. Chân là tịch, trong hai chữ Tịch (trong câu “đẳng chân môn chi tịch tịch”) th́ một chữ Tịch là động từ, chữ kia là danh từ. Do vậy, [câu “đẳng chân môn chi tịch tịch” có nghĩa là] thanh tịnh, tịch diệt giống như Tịch trong tánh thể chân môn, tức là tướng tịch diệt.

      Trong kinh Nhân Vương, đức Phật đă giảng về năm địa vị của Bồ Tát, tức Ngũ Nhẫn. Cao nhất là Tịch Diệt Nhẫn. Thấp hơn Tịch Diệt Nhẫn là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Chúng ta thường nói tới Vô Sanh Pháp Nhẫn; bài kệ hồi hướng của người niệm Phật có câu “hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Vô Sanh Pháp Nhẫn chẳng phải là cao nhất, nó là pháp được chứng bởi hàng Bồ Tát. Trong bộ kinh này, đức Phật bảo chúng ta, bậc chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn là Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa, cũng không phải là hết sức cao! Sở chứng của Thập Địa và Đẳng Giác Bồ Tát là Tịch Diệt Nhẫn, đấy chính là “đẳng ư chân môn chi tịch tịch”.

      “Hà Phật, hà tâm” (Ǵ là Phật? Ǵ là tâm?): Nói Phật hay nói tâm, đều là cách nói phương tiện của chư Phật Bồ Tát dành cho chúng sanh, nói thuận theo Tục Đế. Đấy là v́ đức Phật thuyết pháp đă y theo Nhị Đế (Chân Đế và Tục Đế) để nói. Đây chính là nguyên tắc chung để thuyết pháp, dựa vào đâu để nói? Dựa vào Nhị Đế. Trong Nhị Đế th́ một là Chân Đế; Chân Đế là chân tướng của sự thật, là cảnh giới được đích thân chứng bởi các vị đại Bồ Tát. Loại thứ hai là dựa theo Tục Đế, Tục Đế là những ǵ phàm phu chúng ta thường nhận biết, là kiến giải của phàm phu. Nói tới Phật hay nói tới tâm, đều là thuận theo kiến giải của phàm phu để nói. C̣n nếu tùy thuận cảnh giới của chư Phật Như Lai th́ sao? Bèn sẽ là “Ǵ là Phật? Ǵ là tâm?” Nào có Phật hay có tâm? Danh tướng ấy hoàn toàn chẳng có! Danh tướng ấy chẳng phải là thật! Khi Phật giáo chưa truyền đến Trung Quốc, Lăo Tử của Trung Quốc đă từng nhắc tới đạo lư ấy: “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh”. “Danh” là danh từ, thuật ngữ. Quư vị khởi lên những danh từ, thuật ngữ th́ đă mắc sai lầm! Vốn chẳng có danh, quư vị khởi lên cái danh, tức là đă lầm lẫn! Khởi lên cái danh, tức là có phân biệt, có chấp trước. Do vậy, nào có Phật, nào có tâm?

      “Giám sự lư chi minh minh”: Chữ “giám” () ở đây là quan sát, quan sát hết thảy sự vật, hết thảy nguyên lư trong vũ trụ. Hai chữ “minh” () ở đây cũng một chữ là danh từ, chữ kia là động từ, [hàm nghĩa] rơ ràng, minh bạch. Câu “đẳng chân môn chi tịch tịch” trong phần trước, nếu nói theo theo kinh Bát Nhă, sẽ chính là “Bát Nhă vô tri”, Tịch là vô tri. “Giám sự lư chi minh minh” chính là “vô sở bất tri” (không ǵ chẳng biết). “Bát Nhă vô tri, vô sở bất tri”. Nếu quư vị muốn không ǵ chẳng biết th́ trước hết quư vị phải đạt tới “vô tri”. Đạo lư này nằm ở chỗ nào? Quư vị phải hiểu: Khi tâm địa đạt tới chỗ thanh tịnh, tịch diệt, Phật pháp lẫn pháp thế gian quư vị đều buông xuống hết. Quư vị c̣n có chút ǵ đó, sẽ chẳng thể đạt đến tịch diệt, quư vị chẳng nhập cảnh giới ấy. Toàn bộ đều buông xuống, tánh thể của quư vị hoàn toàn hiện tiền. [Sẽ thật sự nhận biết] tận hư không, trọn pháp giới do tự tánh biến hiện, há có thứ ǵ tự tánh chẳng biết! Đâu có đạo lư ấy! Tự tánh là Năng Biến, vạn pháp là Sở Biến. Sau khi nhập được cảnh giới ấy, Năng và Sở là một, không hai; do vậy, trong cảnh giới ấy, Tịch là giống như sự tịch tịnh (vắng lặng, thanh tịnh) trong chân môn, đồng thời lại có thể chiếu rơ hết thảy vạn pháp rơ rệt, minh bạch.

      “Thường tâm, thường Phật”: Ở đây lại nêu lên một chuyện để thí dụ. “Thường tâm, thường Phật” là nói theo mặt Tướng, nói theo mặt Dụng. “Hà tâm, hà Phật, phi tâm, phi Phật” là nói theo mặt Lư, nói theo mặt Tánh. “Song vong chánh nhập” (Nhập thẳng vào nơi hai bên cùng mất), hai bên chẳng lập, Trung Đạo cũng không có, nếu quư vị cho là có Trung Đạo th́ quư vị lại chấp trước rồi, quư vị lại phân biệt, chấp trước mất rồi! Đây đúng là một niệm chẳng sanh.

“Tịch Chiếu song lưu”: Cảnh giới này và cảnh giới trong phần trước khác nhau ở chỗ nào? Chúng ta nhất định phải phân biệt được chỗ này. Cảnh giới trong phần trước tuy có Thể, nhưng không có Dụng. Người ấy khế nhập thể tánh, đạt đến vô sở niệm; người ấy thật sự niệm, có Thể, nhưng chẳng có Dụng. C̣n trong tầng thứ tư này, lại vừa có Thể, vừa có Dụng, từ Thể khởi Dụng. Nếu dùng Bát Nhă để nói, phần trên chú trọng nơi “Bát Nhă vô tri”; c̣n trong phần thứ tư th́ chú trọng nơi “Bát Nhă vô sở bất tri” (Bát Nhă không ǵ chẳng biết), nó khởi tác dụng. Do đây biết rằng: Trong Phật pháp, công phu Tịch Chiếu này cũng có thể gọi là pháp môn Tổng Tŕ. Gọi là Tổng Tŕ v́ đây là tổng cương lănh, tổng nguyên tắc trọng yếu, bất luận tu học pháp môn nào, [đều phải tuân theo tổng nguyên tắc ấy]. Niệm Phật cũng chẳng phải là ngoại lệ. Tịch là tâm thanh tịnh; do vậy, chúng ta tu môn ǵ, chính ḿnh phải hiểu rơ. Tu tâm thanh tịnh là đúng, tu đúng như pháp. Tâm nhất định phải thanh tịnh. Muốn tâm thanh tịnh, nhất định phải ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chẳng những đối với pháp thế gian, không thể có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, mà trong Phật pháp cũng chẳng được có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đều chẳng thể được! Phải dụng công ở nơi ấy, tức là phải thật sự thấy thấu suốt, buông xuống. Chiếu là điều ǵ cũng hiểu rơ, trọn chẳng mê hoặc. Nếu có Tịch mà không có Chiếu th́ thưa cùng quư vị, đấy chính là vô minh. Có Chiếu nhưng không có Tịch th́ gọi là Cuồng Huệ. Công phu Tịch và Chiếu phải b́nh đẳng, đấy gọi là Thiền Định.

     

      (Sớ) Ngũ, trùng trùng vô tận niệm Phật môn.

      () 門。

      (Sớ) Năm là môn niệm Phật trùng trùng vô tận.

 

      Phần trước nói về từ Thể khởi Dụng, ở đây, hoàn toàn nói về tác dụng; tác dụng vô lượng vô biên. Một bộ kinh Hoa Nghiêm nhằm hiển thị pháp môn Niệm Phật trùng trùng vô tận.

 

      (Sớ) Lư kư vô tận.

      () 盡。

      (Sớ) Lư đă vô tận.

 

      Lư là tâm tánh, đúng là chẳng cùng tận. Bát Nhă cũng nằm trong số lượng đó.

 

      (Sớ) Dĩ Lư dung Sự, Sự diệc vô tận.

      () 事,事 盡。

      (Sớ) Dùng Lư để dung hội Sự, Sự cũng vô tận.

 

      Sự tướng do đâu mà có? Sự tướng từ thể tánh biến hiện ra. Nói cách khác, Năng Biến vô tận, đương nhiên là Sở Biến cũng vô tận. Đấy là chân tướng của sự thật. Do vậy…

 

      (Sớ) Cố tùy nhất môn, nhiếp nhất thiết môn.

      () 門,攝 門。

      (Sớ) Cho nên bất cứ một môn nào đều nhiếp hết thảy các môn khác.

 

      “Tùy” là tùy ư lấy một môn, “nhất” là bất cứ môn nào, chứ không phải là độc nhất, chẳng phải là chuyên nhất. Bất cứ một môn nào, cũng đều có thể bao quát hết thảy môn. Do vậy, trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường nói một lỗ chân lông nơi chánh báo của chúng ta, một vi trần trong y báo đều có thể thâu nhiếp trọn khắp vô lượng vô biên pháp giới. Tận hư không, trọn pháp giới là ở đâu vậy? Trên đầu một sợi lông! Đầu sợi lông không ph́nh to, pháp giới cũng chẳng rút nhỏ, v́ sao trong một đầu lông có thể thấy một pháp giới? Trong một đầu lông, thấy một vị Phật giảng kinh thuyết pháp chẳng hy hữu. Thấy vô lượng vô biên chư Phật đang giảng kinh thuyết pháp, đấy mới là mầu nhiệm! Đấy chính là điều thường được kinh Hoa Nghiêm nói tới. Quả thật, chúng ta không có cách nào tưởng tượng được, pháp môn vô chướng ngại chẳng thể nghĩ bàn! Lư của nó là như thế, Sự cũng giống như thế. Do vậy, chúng ta mới thật sự liễu giải lời Phật dạy: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”, đúng là như vậy đó!

      Những pháp môn nào vậy? Pháp thế gian hay xuất thế gian, bất cứ một pháp nào cũng đều là pháp môn. Lại thưa với quư vị, đâu có pháp nào là Phật pháp hay pháp thế gian! Phật pháp hay pháp thế gian đều là tùy thuận chúng sanh mà nói, thuận theo hư vọng, phân biệt, chấp trước của chúng sanh để nói. Phải nói với quư vị sự tướng chân thật: Không có pháp thế gian, mà cũng chẳng có Phật pháp! Trong phần trước đă nói “hà tâm, hà Phật”, ǵ là tâm, ǵ là Phật, ǵ là pháp thế gian, ǵ là Phật pháp, đều chẳng có! Trong tâm quư vị từ trước đến nay chẳng dấy lên những ư niệm ấy th́ tâm quư vị chính là pháp giới, pháp giới chính là tâm của quư vị, tâm là chính ḿnh, chính ḿnh là pháp giới, tận hư không, trọn pháp giới là chính ta. Nhập cảnh giới ấy th́ gọi là “nhập pháp giới”. Chúng tôi giảng bộ kinh này, trong kinh [Bát Thập] Hoa Nghiêm gọi phần này là “Nhập Pháp Giới Phẩm”. Những vị [Pháp Thân đại sĩ] ấy nhập như thế nào? Nhập như vậy đó! Do vậy, phải nhớ kỹ: “Cố tùy nhất môn, nhiếp nhất thiết môn” (Cho nên dùng bất cứ một môn nào đều nhiếp hết thảy các môn khác). Chúng ta hiểu được đạo lư này, quư vị tu học sẽ định được cái tâm. Biết điều ǵ? Bất cứ pháp môn nào cũng đều có thể thâu nhiếp trọn khắp vô lượng vô biên pháp môn, vô lượng vô biên pháp môn đều bao quát trong một môn này của ta.

      Nay chúng ta chọn lấy một môn, môn nào vậy? Nam Mô A Di Đà Phật. Tất cả vô lượng vô biên pháp môn thế gian hay xuất thế gian đều nằm trong một môn này. Người khác chọn pháp môn tham Thiền th́ vô lượng vô biên pháp môn đều nằm trong sự tham cứu của người ấy. C̣n người khác nữa tŕ chú th́ suốt ngày từ sáng đến tối niệm chú, hết thảy các pháp môn đều nằm trong một câu chú. “Một tức hết thảy, hết thảy chính là một”, đâu có cái nào là tốt, cái nào không tốt ư? Tốt giống hệt như nhau, đều tốt cả! Trong những cái đều tốt, chúng ta phải biết căn tánh của chính ḿnh, pháp môn nào thích hợp cho ta học, ta tu rất thuận tiện, tu học không phí sức, tu rất hoan hỷ, rất tự tại, quư vị sẽ thành tựu đặc biệt dễ dàng! Đấy là điều mà các vị tổ sư, đại đức kể cả chư Phật, Bồ Tát đều bảo với chúng ta: “Niệm Phật thuận tiện nhất. Pháp môn này thuận tiện nhất, dễ dàng nhất!”

     

      (Sớ) Dung tư ngũ môn, dĩ vi nhất trí.

      () 門,以 致。

      (Sớ) Dung hợp năm môn này thành một.

 

      Đối với năm môn đă nói trên đây, đem cả năm môn viên dung quy nạp thành một.

 

      (Sớ) Tức thị thử trung năng niệm chi tâm dữ tiền sở niệm thập Phật cảnh hợp.

      () 合。

      (Sớ) Tức là hợp cái tâm niệm Phật ở đây với mười cảnh Phật được niệm đă nói trong phần trước.

 

     Phần trước nói tới hai mươi môn, hai mươi môn được chia thành hai đoạn, đoạn trước là Phật, đoạn sau là pháp. Trong phần trước, tôi đă từng nói qua rồi. Đấy là Sở Niệm (đối tượng được niệm), c̣n trong đoạn này nói tới Năng Niệm (cái tâm niệm Phật). Cái tâm Năng Niệm và Phật cảnh được niệm tương hợp, tương ứng.

 

      (Sớ) Phi hợp, phi tán.

     ()

      (Sớ) Chẳng hợp, chẳng tan.

 

      Hợp có giới hạn của hợp hay không? Hợp ở chỗ nào? Đúng là giống như nước và sữa ḥa lẫn, không có cách nào phân chia. Đừng nghe kinh này xong, đọc đoạn văn tự này xong, sẽ lại bị nó xoay chuyển. “Lại có một Năng, lại có một cái Sở, lại có một cái Hợp”, như vậy là hỏng rồi! Nhiều thứ như vậy sao? Nghe xong, quư vị phải biết dung hội. Do vậy, phải là “ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa tướng tâm duyên”, quư vị mới khế nhập được! Nếu quư vị phân biệt những tướng này, chấp trước nơi những tướng này, suốt cả một đời này, quư vị chẳng thể khế nhập được! Đấy là chỗ khó khăn trong việc học Phật. Nếu như quư vị có thể thật sự ĺa tướng; đối với ngôn thuyết, danh tướng, đều chẳng dấy lên ư niệm, Phật pháp sẽ rất dễ dàng! Vừa nghe liền ngộ nhập, chẳng phải là không có người như vậy. Qua kinh điển, chúng ta thấy trong thuở đức Thế Tôn thuyết pháp, những vị đệ tử nghe đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, đức Phật chưa giảng xong, họ đă khai ngộ, chứng quả, khế nhập. V́ sao họ có thể như vậy, mà chúng ta chẳng thể? Các vị ấy không phân biệt, không chấp trước, không khởi vọng tưởng,. Ĺa tướng ngôn thuyết, tức là không chấp trước. Ĺa tướng danh tự là không phân biệt. Ĺa tướng tâm duyên là không có vọng tưởng. V́ thế, các vị ấy vừa nghe, tuy nghe không nhiều, liền nhập cảnh giới của Như Lai. Ngày nay, chúng ta nghe, nghe mấy chục năm, càng nghe càng hồ đồ, chẳng khai ngộ! Càng nghe càng hồ đồ, càng nghe càng lắm vọng tưởng, càng nghe phân biệt càng nặng, vậy có phải là hỏng bét hay không? Bệnh đổ ra ở chỗ nào? Chính là do chúng ta chấp trước ngôn thuyết, chấp trước văn tự, chấp trước danh tướng, hỏng ở chỗ này!

      Do vậy, ở đây nói “phi hợp, phi tán” (chẳng phải hợp, chẳng phải tan). Đem hai thứ hợp và tán, hợp và tán là hai pháp, là hai đầu mối, gạt bỏ hết, sau đó sẽ là cảnh giới này:

 

      Thiệp nhập trùng trùng.

     ()

      (Sớ) Tiến nhập tầng tầng lớp lớp.

 

      “Trùng trùng” có nghĩa là vô tận. Nói thật ra, trùng trùng trong tự tánh ư? Thật đấy! Trong tự tánh, vốn chẳng có trùng trùng. Trùng trùng vô tận pháp giới đều sanh từ vọng tưởng, chấp trước của hết thảy chúng sanh. Sau khi quư vị nhập cảnh giới ấy xong, đối với cảnh giới của vô lượng chúng sanh, quư vị đều thấu hiểu rơ ràng, minh bạch, chúng ta thường gọi đó là lục đạo, là mười pháp giới. Nhân duyên, quả báo trong ấy, không có một điều nào chẳng rơ ràng, không có một điều nào chẳng hiểu rơ. Do vậy, quư vị có thể phổ độ hết thảy chúng sanh. Chư Phật, Bồ Tát, Pháp Thân đại sĩ đều có năng lực ấy. V́ sao các ngài không đến độ tôi vậy? Duyên chưa chín muồi! Thế nào là duyên chưa chín muồi? Đến giảng cho tôi, tôi vẫn chẳng thể tin tưởng; nói với tôi, tôi nghe hiểu, nhưng tôi vẫn làm không được, tức là duyên chưa chín muồi! Duyên đă chín muồi th́ [căn cơ của] người ấy thành thục, các Ngài cũng sẽ độ. “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân” (Trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai). Đại chúng [căn cơ] chín muồi rồi, các Ngài sẽ dùng ứng thân đến độ. Mỗi một cá nhân căn cơ chín muồi, các Ngài thường dùng hóa thân để độ, đúng là “trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai”. Do vậy, chúng ta học Phật, đừng nên trách móc Phật, Bồ Tát không chiếu cố chúng ta! Trên thực tế, chư Phật, Bồ Tát suốt ngày từ sáng đến tối ở quanh chúng ta, các Ngài hiểu rơ chúng ta, nhưng chúng ta chẳng nhận biết các Ngài. Tới khi nào tâm chúng ta thật sự mong cầu pháp, cầu pháp tức là thật sự mong cầu “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, Phật, Bồ Tát sẽ hiện tiền, đến dạy cho quư vị phương pháp, đến giúp đỡ quư vị, thành tựu quư vị.

     

      (Sớ) Nan tư cảnh dă.

      () 也。

      (Sớ) Là cảnh khó nghĩ tưởng được.

 

      Nan tư” tức là cảnh giới ấy chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, tên của phẩm này là Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Tựa đề trong bản Hoa Nghiêm tám mươi quyển ghi đơn giản hơn: Nhập Pháp Giới Phẩm. Pháp giới là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Đoạn khai thị này của đại sư Thanh Lương cũng nhằm giải thích lời giáo huấn của tỳ-kheo Cát Tường Vân dành cho Thiện Tài đồng tử, nhưng đoạn này lại quán triệt toàn bộ kinh Hoa Nghiêm. Đối với năm mươi ba lần tham học trong phần sau, đoạn văn này quán triệt toàn bộ kinh. Chúng ta xem tiếp đoạn văn tự trong phần sau:

 

      (Sớ) Thử sơ thiện hữu thôi thắng chi trung, toàn cụ chư môn.

      () 中,全 門。

      (Sớ) Trong phần đề cao người khác thù thắng hơn chính ḿnh của vị thiện hữu đầu tiên, có đủ trọn vẹn các môn.

 

      Trong đoạn kinh văn đề cao những vị thiện tri thức khác cao siêu hơn ḿnh của chương tỳ-kheo Cát Tường Vân này, năm môn Năng Niệm và mười môn Sở Niệm đều trọn đủ.

 

      (Sớ) Hạ chư thiện hữu

      ()

      (Sớ) Các vị thiện hữu kế tiếp.

 

      Tiếp theo là từ tỳ-kheo Hải Vân trở đi cho đến tận Phổ Hiền Bồ Tát mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc.

 

      (Sớ) Hoặc hữu biệt dụng.

      () 用。

      (Sớ) Hoặc có vị dùng riêng.

 

      Không nhất định sử dụng toàn bộ, có vị chỉ sử dụng mấy môn trong [mười môn Niệm Phật] ấy. Có vị dùng mấy môn này, có vị dùng mấy môn kia. Nhưng ở chỗ này là nói trọn hết [cả mười môn], thảy đều trọn vẹn. Đọc những phần sau từ đoạn kinh văn này trở đi, quư vị sẽ có thể hiểu rơ. Do vậy, đoạn này hết sức trọng yếu, đoạn này chính là tổng cương lănh, tổng nguyên tắc. Dưới đây là nêu một thí dụ:

 

      (Sớ) Giải Thoát trưởng giả dụng duy tâm môn.

      () 門。

      (Sớ) Trưởng giả Giải Thoát dùng môn duy tâm [niệm Phật].

 

      Tức là chuyên môn dùng môn thứ hai “nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn”. Ngài dùng môn ấy.

 

      (Sớ) Phổ Đức Tịnh Quang quán đức tướng đẳng, giai thị thử trung chư môn biệt nghĩa.

      () 等,皆 義。

      (Sớ) Phổ Đức Tịnh Quang quán những thứ như đức tướng v.v… đều là những nghĩa riêng biệt của các môn ở đây.

 

      Từ đây trở đi, chúng ta đều có thể thấy rơ [nhận định ấy].

 

      (Sớ) Tương thử ngũ môn, đối hội kinh văn, khả dĩ ư đắc.

      () 門,對 文,可 得。

      (Sớ) Đem năm môn này đối chiếu với kinh văn, sẽ có thể hiểu được ư nghĩa.

 

      Quư vị chỉ cần nắm được nguyên tắc vừa nói trong đoạn văn này. Quư vị ai nấy hăy nên nhớ kỹ, năm mươi ba lần tham học từ đây trở đi, quư vị thấy được ư nghĩa của lời đại sư nói th́ quư vị sẽ hiểu được Ngài đă quy nạp vào một môn Niệm Phật ở đây.

     

       (Sớ) Niệm Phật nhất môn, chư giáo hân tán, lư trí thâm viễn, thế đa cộng hành, cộng phục lược tự, vô yếm phiền thuyết.

      () 門,諸 讚,理 遠,世 行。共 敘,無 說。

      (Sớ) Một môn Niệm Phật được các giáo đều vui mừng khen ngợi, lư đạt tới mức sâu xa, trong cơi đời được đa số cùng hành, lại c̣n giải bày đại lược, không ngại nói rườm rà.

 

      Câu này nhằm tổng kết pháp môn Niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn. Chư giáo” là Hiển Giáo, Mật Giáo, Tông Môn, Giáo Hạ, đều bao quát trong ấy. chỉ cần là một vị thiện tri thức thật sự, không có vị nào chẳng tán thán. Nếu chấp trước một môn này, phủ định một môn kia, những kẻ như vậy đều là hạng thiếu thông hiểu, vẫn chưa thông đạt. Hễ thật sự thông đạt, không có ai chẳng tán thán pháp môn Niệm Phật. Nếu quư vị hỏi người ấy v́ sao, th́ do người ấy là bậc tu Thiền hoặc tu Mật thành tựu, [họ phải] tán thán Thiền, tán thán Mật, đấy là bổn phận của họ. Nhưng người thật sự thành tựu, tâm từ bi hiện tiền, [trông thấy] vẫn c̣n có chúng sanh đông đảo, những pháp môn ấy không khế cơ, họ sẽ chẳng đạt được lợi ích. Nhằm phổ độ chúng sanh, nhất định là vị ấy phải tán thán pháp môn Niệm Phật. Đấy là chân thiện tri thức, quyết định không có cái nh́n môn hộ hẹp ḥi.

      Chúng ta thấy trong Thiền Tông cận đại, lăo ḥa thượng Hư Vân là bậc đại đức Thiền Tông thời cận đại. Quư vị xem cuốn Phương Tiện Khai Thị Lục, cuốn sách ấy có mấy chục thiên [bao gồm] những khai thị lúc tuổi già của lăo nhân gia, gần như là những lời Ngài dạy khi đă một trăm mười bảy tuổi. Chúng tôi đă đọc tập sách nhỏ ấy, trong ấy chỉ có hai thiên giảng về tham Thiền, c̣n toàn bộ những thiên khác đều là khuyên người khác hăy niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ; đấy là bậc chân thiện tri thức trong Tông môn! Ngài dạy chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, thưa với quư vị, lăo ḥa thượng Hư Vân chẳng cầu sanh Tịnh Độ. Ngài chẳng niệm A Di Đà Phật, Ngài chẳng cầu sanh Tịnh Độ, nhưng Ngài dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Ngài sanh về đâu? Ngài sanh về chỗ Di Lặc Bồ Tát. V́ sao Ngài không khuyên chúng ta niệm Di Lặc Bồ Tát, cầu sanh Di Lặc Tịnh Độ? V́ chúng ta làm không được! Môn đ́nh của Di Lặc Bồ Tát rất cao, chúng ta không chen chân vào được, lăo ḥa thượng có năng lực tiến nhập, chứ người b́nh thường chẳng thể tiến nhập được. Nơi người b́nh thường có thể tiến nhập chính là thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật. Do vậy, trong lúc tuổi già, Sư đặc biệt tán thán A Di Đà, khuyên tu Tịnh Độ. Đấy là vị thiện tri thức chân chánh. Những vị đồng tu học Phật chúng ta phải biết trong xă hội hiện thời, người mang tri kiến môn hộ sâu nặng rất đông, chấp trước pháp môn của họ là siêu trỗi, chê [pháp môn của] những người khác đều là sai trái.

      Ở ngoài, tôi thường nghe có người nói: “Thưa pháp sư! Có người nghĩ một câu A Di Đà Phật chẳng thể thành tựu, quá ít mà!” Người ấy đến nói với tôi lời đó, tôi bèn bảo người ấy: “Tôi nghe lăo pháp sư Đàm Hư đă nói trong cuốn Niệm Phật Luận, lăo nhân gia giảng khai thị trong Phật Thất, một đồ đệ của lăo ḥa thượng Đế Nhàn làm nghề vá nồi, nhờ một câu A Di Đà Phật mà đứng văng sanh. Tôi tin tưởng, tôi căn cứ vào đấy là được rồi. Người ta không biết chữ, thứ ǵ cũng chưa từng học qua, mà một câu A Di Đà Phật niệm suốt ba năm liền có thể đứng văng sanh. Tôi học như vậy là đủ rồi, những thứ khác tôi không mong mỏi. Quư vị cảm thấy một câu chẳng đủ, muốn học cho nhiều, quư vị cứ học thứ của quư vị, tôi vẫn hành pháp của tôi, tôi quyết định chẳng bị quư vị lay động!” Đấy là lư do v́ sao tôi lại cho in một vạn cuốn Niệm Phật Luận, in ra với số lượng lớn. Thật sự muốn nói tới chuyện cứu văn thế giới trong hiện thời th́ cuốn Niệm Phật Luận ấy c̣n hay hơn kinh Hoa Nghiêm nữa! Giảng kinh Hoa Nghiêm xong, cũng có vị nghe xong hiểu lầm, chứ Niệm Phật Luận tuyệt đối không gây hiểu lầm, một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng cực, không ai chẳng văng sanh! Nhưng điều cần nói ở đây là phải buông xuống vạn duyên. Nếu quư vị có hoài nghi, có xen tạp, quư vị vẫn chưa thể thành công! Niệm đến mức không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, không có một ai chẳng thành công! Đấy chính là “Niệm Phật nhất môn, chư giáo hân tán” (Một môn Niệm Phật được các giáo vui vẻ khen ngợi), “hân” là vui vẻ, [“hân tán” là] hoan hỷ tán thán.

      “Lư trí thâm viễn”: Lư luận của pháp môn này hết sức sâu, hết sức rộng, “Thế đa cộng hành”: Cơi đời phần nhiều cùng hành là v́ [pháp môn này] được hết thảy chư Phật khen ngợi. Đại sư Thanh Lương là bậc chân thiện tri thức đại từ đại bi, Ngài là tổ sư của Hoa Nghiêm Tông, ở đây, Ngài khuyên chúng ta niệm Phật. Trong hội Hoa Nghiêm, Ngài khuyên chúng ta niệm Phật, chẳng sợ lôi thôi, chẳng sợ phiền phức, rát miệng xót ḷng khuyên lơn chúng ta. Chúng tôi giảng đoạn này đến đây, lại xem đoạn kinh văn tiếp theo.

     

      (Kinh)Như thị đẳng vô lượng vô số Niệm Phật môn, nhi ngă vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh.

      () 門,而 能說 行。

      (Kinh) Vô lượng vô số môn Niệm Phật như thế, ta làm sao có thể biết được, nói được hạnh công đức của các môn ấy.

 

      Đây là lời lẽ khiêm hư của tỳ-kheo Cát Tường Vân. Ngài nói ra hai mươi mốt thứ, Sở Niệm gồm hai mươi mốt môn, Năng Niệm gồm năm môn. Nói thật ra, những điều Ngài đă nói đă gần như viên măn rồi, nhưng Ngài sử dụng phương pháp quy nạp, chứ nếu nói cặn kẽ th́ chẳng thể tận. Nói cặn kẽ, sẽ là “vô lượng vô số môn Niệm Phật”. Tất cả hết thảy các pháp môn đều là môn Niệm Phật, không có một pháp nào chẳng phải là môn Niệm Phật. Nếu chẳng phải là môn Niệm Phật, làm sao quư vị có thể thành Phật được? Bất luận quư vị tu hành một phương pháp nào, tu hành đến tối hậu đều có thể thành Phật, thành Phật chính là niệm Phật, niệm Phật mới có thể thành Phật! Điều cuối cùng trong ba món phước của Quán Kinh là “tin sâu nhân quả”. Tin sâu nhân quả là như tôi đă nói rồi đó, niệm Phật là nhân, thành Phật là quả; đấy mới là đúng, là tương ứng. Tất cả hết thảy các pháp môn đều có thể thành Phật, tất cả hết thảy các pháp môn đều dạy hăy hành môn Niệm Phật, bất quá phương pháp Niệm Phật khác nhau!

      “Nhi ngă vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh”: Đây là lời lẽ khiêm hư của Cát Tường Vân Bồ Tát. Tôi làm sao có thể biết, có thể nói vô lượng vô biên công đức của các pháp ấy! Đây là lời tổng kết, ư nghĩa rất rơ ràng. Cho nên…

 

(Sớ) Tổng kết khả tri.

() 知。

(Sớ) Có thể hiểu được ư nghĩa của lời tổng kết.

 

Lại xem tiếp đoạn lớn thứ năm trong kinh văn. Mỗi một phần kinh văn đều gồm sáu đoạn lớn. Đây là đoạn thứ năm:

 

(Kinh) Thiện nam tử! Nam phương hữu quốc, danh viết Hải Môn. Bỉ hữu tỳ-kheo, danh vi Hải Vân. Nhữ văng bỉ vấn, Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

() 子,南 國,名 門。彼 丘,名為 雲。汝 問,菩 行,修 菩薩 道。

(Kinh) Này thiện nam tử! Phương Nam có nước tên là Hải Môn. Nơi đó, có tỳ-kheo tên là Hải Vân. Ngươi qua đó hỏi Bồ Tát nên học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo như thế nào?

 

Từ đoạn văn này trở đi. Chúng ta xem lời chú giải cho đoạn lớn thứ năm này.

 

(Sớ) Đệ ngũ, thiện nam tử Nam phương hữu quốc hạ.

     ()

(Sớ) Thứ năm, từ “Này thiện nam tử! Phương Nam có nước…” trở đi.

 

Đoạn kinh văn từ đây trở đi.

 

      (Sớ) Chỉ thị hậu hữu.

      () 友。

      (Sớ) Chỉ dạy [cho Thiện Tài đồng tử biết về] vị thiện hữu kế tiếp.

 

      Cũng tức là nói theo cách hiện thời, Ngài giới thiệu một vị thiện tri thức khác để Thiện Tài đến tham học. Ngươi đến chỗ ta, những ǵ ta biết đă nói hết cho ngươi rồi, đă dạy toàn bộ cho ngươi rồi; nhưng ngươi là kẻ rất khó có, ham học không mệt mỏi, đáng được khen ngợi. Vậy th́ ta lại giới thiệu với ngươi một vị thiện tri thức khác, ngươi hăy đến nơi ấy để tham học, thỉnh giáo vị ấy. Trong đoạn kinh văn này, chia thành hai đoạn, hai đoạn [có độ dài] vừa phải.

     

      (Sớ) Tiên chánh thị thiện hữu.

      () 友。

      (Sớ) Trước hết, chỉ thẳng vị thiện hữu.

 

      “Chánh” là chỉ bày, chỉ bày trực tiếp vị thiện hữu, chỉ bày vị thiện tri thức.

 

      (Sớ) Hậu tán hữu thành ích.

      () 益。

      (Sớ) Tiếp đó, khen ngợi những lợi ích đă được thành tựu bởi vị thiện hữu ấy.

 

      Đoạn sau là tán thán, khen ngợi vị thiện tri thức mới được Ngài giới thiệu. Khen ngợi đạo đức, học vấn của vị ấy một phen để tín tâm của Thiện Tài càng thêm mạnh hơn, mong mỏi Thiện Tài qua chỗ ấy tham học sẽ có thành tựu. Trong đoạn này lại chia thành hai đoạn nữa, một hàng kinh văn chúng ta vừa mới đọc chính là đoạn thứ nhất.

 

      (Sớ) Kim sơ.

      () 初。

      (Sớ) Nay là đoạn thứ nhất.

 

      Đây là đoạn thứ nhất.

 

      (Sớ) Tức Trị Địa Trụ thiện hữu.

      () 友。

      (Sớ) Tức bậc thiện hữu thuộc phẩm vị Trị Địa Trụ.

 

      Trị Địa Trụ là địa vị Bồ Tát thứ hai, Cát Tường Vân đại diện cho Sơ Trụ, c̣n vị kế tiếp là Nhị Trụ. Thiện Tài tham phỏng Cát Tường Vân bèn thành Sơ Trụ Bồ Tát, Ngài lại tham phỏng tỳ-kheo Hải Vân, nâng lên một cấp, thành Nhị Trụ Bồ Tát. Mỗi một lần tham phỏng một vị thiện tri thức, địa vị của Ngài được nâng lên cao hơn. Những điều được nói ở đây đều nhằm biểu thị pháp.

 

      (Sớ) Hải Môn quốc giả,

      ()

      (Sớ) Nước Hải Môn là…

 

      “Nước Hải Môn” này nằm ở đâu? Nếu quư vị khảo chứng lịch sử, không có đâu! Trong địa lư cũng không có địa phương này, trong lịch sử cũng không ghi chép về nó, đều là do đức Thế Tôn thuyết pháp hàm ư biểu thị pháp. Trong phần trước đă nói về “Nam phương” rồi, trọn chẳng phải thật sự là Đông, Nam, Tây, Bắc, trong phần trước tôi đă nói phương Nam tượng trưng cho quang minh. Phàm chỗ nào thiện tri thức trụ đều gọi là “Nam phương”, cũng là nơi quang minh, nơi trí huệ, mang ư nghĩa này, biểu thị ư nghĩa này, trọn chẳng phải thật sự là Đông, Nam, Tây, Bắc. Thiện tri thức trụ tại phương Bắc th́ nơi ấy vẫn gọi là “Nam phương”. Trụ tại phương Đông, vẫn gọi là “Nam phương”. “Nam phương” biểu thị trí huệ, biểu thị ư nghĩa này.

 

      (Sớ) Hải Môn quốc giả, bỉ quốc chánh đương Nam Hải khẩu cố.

      () 者,彼 故。

      (Sớ) [Gọi là] nước Hải Môn v́ nước ấy ở ngay cửa biển Nam.

 

      Đây là một cách giải thích. Ngài sống tại một nơi chính là cửa biển của Nam Hải, là một bến cảng, nay chúng ta gọi là “cảng khẩu”, nơi này là một hải cảng. Hải cảng ấy có ư nghĩa ǵ?

 

      (Sớ) Biểu quán tâm hải.

      ()

      (Sớ) Biểu thị ư nghĩa “quán biển tâm”.

 

      Quư vị thấy ư nghĩa này, Hải biểu thị ǵ? Biểu thị tâm, tâm giống như biển cả. Tâm vô lượng vô biên. Do vậy, biển này biểu thị cái biển tâm.

 

      (Sớ) Vi trị tâm địa thâm quảng môn cố.

      () 故。

      (Sớ) Là môn trị tâm địa sâu rộng vậy.

 

      Quư vị thấy Trị Địa, Trị Trụ Địa là trị cái ǵ? Trị tâm địa, tâm địa vừa sâu vừa rộng, nói chẳng thể tận, thật sự là chẳng có cùng tận.

 

      (Sớ) Tỳ-kheo Hải Vân giả.

      ()

      (Sớ) Tỳ-kheo Hải Vân là…

 

      V́ sao vị tỳ-kheo này có tên là Hải Vân?

 

      (Sớ) Hải vi pháp môn.

      ()

      (Sớ) Hải là pháp môn.

 

      Hải là biển tâm, là một pháp môn tu học.

 

      (Sớ) Phổ Nhăn pháp vân thâm quảng phú nhuận chư chúng sanh cố.

      () 故。

     (Sớ) Mây pháp Phổ Nhăn sâu rộng, che phủ, thấm nhuần các chúng sanh.

 

      Những ư nghĩa hàm chứa trong danh hiệu của Ngài đều được nói hết ra. “Phổ Nhăn”, chúng ta thường tán thán Quán Thế Âm Bồ Tát là Thiên Thủ Thiên Nhăn (ngàn tay, ngàn mắt), Thiên Thủ Thiên Nhăn có nghĩa là Phổ Nhăn. Phổ là phổ biến, là b́nh đẳng, không có phân biệt, cũng có nghĩa là không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể. “Pháp Vân”: Vân là tỷ dụ được sử dụng nhiều nhất trong kinh điển. Vân (mây) tỷ dụ cho sự ǵ chẳng phải có, chẳng phải không. Quư vị thấy chúng ta nh́n vào từng tầng mây, thấy chúng bồng bềnh. Hiện thời, máy bay của chúng ta bay lên trời, quư vị có nắm được mây hay không? Không! Mây biểu thị chẳng phải có, chẳng phải không, biểu thị Không và Hữu như một, biểu thị ư nghĩa ấy, biểu thị “Tướng có, Thể không”, Thể trọn chẳng thể được, Tướng th́ có. Quư vị có thể tán thưởng mây, nhưng chắc chắn là quư vị không nắm bắt nó được! Quư vị chẳng thể có được nó, “Tướng có, Thể không”, Thể trọn chẳng thể được, nhưng có Tướng. Quư vị có thể thưởng thức, vui thích mây, nhưng chắc chắn là chẳng nắm bắt được nó. Quư vị không bắt được nó, có Tướng, nhưng không có Thể. Điều này cho chúng ta biết: Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới giống hệt như mây. Trên thực tế, mây ấy chính là như “mộng, huyễn, bọt, bóng” đă nói trong kinh Kim Cang. Mây là mộng, huyễn, bọt, bóng, bản thể đều là không, trọn chẳng thể được! Bản thể của y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều là không, trọn chẳng thể được! Từ câu nói này, quư vị cũng thấy pháp giống như thế, chẳng những là pháp thế gian trọn chẳng thể được, mà Phật pháp cũng trọn chẳng thể được, sự lư chân thật. “Thâm quảng phú nhuận chư chúng sanh cố”: Phổ độ chúng sanh, độ chúng sanh chính là chuyển đổi những quan niệm sai lầm của bọn họ. Chuyển đổi được ư niệm th́ sẽ thành Phật, thành Bồ Tát.

     

      (Sớ) Biểu Trị Địa trung quán sát chúng sanh khởi ư thập chủng thâm quảng bi cố.

      () 故。

      (Sớ) Biểu thị ở trong địa vị Trị Địa, quan sát chúng sanh, khởi lên mười loại ḷng bi sâu rộng.

 

      Trong pháp môn đối trị tâm địa này, từ trong pháp môn tâm địa, quan sát y báo, chánh báo trang nghiêm và hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, dấy lên tâm từ bi rộng lớn. Tâm từ bi là một động lực để chư Phật, Bồ Tát phổ độ chúng sanh. Do vậy, mới thị hiện các thứ thân, nói các thứ pháp, thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói không chán mệt, hiện tượng ấy do đâu mà có? Do từ mười thứ bi tâm sâu rộng sanh ra. Do vậy, lời Ngài nói ở đây hay lắm. Từ nay chúng ta hiểu rằng, Pháp Thân đại sĩ, chư Phật Như Lai trong mười pháp giới độ chúng sanh trong lục đạo, các Ngài làm những ǵ? Nguyên khởi ở nơi đâu? Ở đây, chúng ta đều thấy cả, đấy cũng chính là những điều chúng ta phải sốt sắng nỗ lực học tập. A! Hôm nay tôi giảng đến đây thôi!

 

Tập thứ mười ba (12-13-13)

 

      Xin mở quyển kinh, trang ba mươi, hàng thứ năm đọc ngược từ dưới, bắt đầu từ kinh văn:

 

      (Kinh) Hải Vân tỳ-kheo năng thiện phân biệt khai phát quảng đại thiện căn nhân duyên, đương linh nhữ nhập quảng đại trợ đạo vị. Đương linh nhữ thành quảng đại thiện căn lực. Đương vị nhữ thuyết phát Bồ Đề tâm nhân. Đương linh nhữ sanh quảng đại thừa quang minh. Đương linh nhữ đắc quảng đại Ba La Mật. Đương linh nhữ nhập quảng đại chư hạnh hải. Đương linh nhữ chuyển quảng đại thệ nguyện luân. Đương linh nhữ tịnh quảng đại trang nghiêm môn. Đương linh nhữ khởi quảng đại từ bi lực.

      () 緣。當令 位。當 力。當 因。當 光明。當 蜜。當 海。當 輪。當 門。當 力。

      (Kinh) Tỳ-kheo Hải Vân có thể khéo phân biệt, khai phát nhân duyên thiện căn rộng lớn, sẽ khiến cho ông nhập địa vị trợ đạo rộng lớn, sẽ làm cho sức thiện căn rộng lớn của ông được thành, sẽ v́ ông nói cái nhân phát tâm Bồ Đề, sẽ làm cho ông sanh được quang minh Đại Thừa rộng răi, sẽ làm cho ông đạt được Ba La Mật rộng lớn, sẽ làm cho ông nhập biển các hạnh rộng lớn, sẽ làm cho ông chuyển thệ nguyện luân rộng lớn, sẽ làm cho ông thanh tịnh môn trang nghiêm rộng lớn, sẽ làm cho ông khởi sức từ bi rộng lớn.

 

Đoạn này tổng cộng có mười câu. Câu thứ nhất trong mười câu này là nói chung (tổng thuyết), chín câu sau đó là nói riêng (biệt thuyết), khen ngợi thân cận thiện tri thức th́ mới có thể thành tựu lợi ích chân thật. Chúng ta đọc kinh văn, mỗi một câu là một ư nghĩa. Lời khai thị của tỳ-kheo Cát Tường Vân ở đây cũng ngầm dạy Thiện Tài đến tham phỏng tỳ-kheo Hải Vân, nhất định sẽ đạt được mười thứ lợi ích thù thắng ấy. Câu thứ nhất nói tới tỳ-kheo Hải Vân, lần trước đă giảng danh tự này rồi, quư vị phải thấu hiểu ư nghĩa được bao hàm trong danh từ này. Danh tự này biểu thị “quán tâm hải” th́ mới là pháp môn đối trị tâm địa sâu rộng, mang ư nghĩa ấy. Vị ấy có thể “thiện phân biệt khai phát quảng đại thiện căn nhân duyên” (khéo có thể phân biệt, khai phát nhân duyên thiện căn rộng lớn). Câu này là nói chung, hết sức trọng yếu. Trong kinh Di Đà, đức Phật dạy chúng ta: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cơi ấy). Nói cách khác, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phải có đại thiện căn, đại phước đức, đại nhân duyên. Ba thứ này chẳng dễ ǵ gặp được, nhưng ắt cần phải đạt được đủ cả ba điều kiện ấy trong một đời th́ người ấy mới có thể văng sanh. Nói cách khác, chúng ta học Phật chẳng phải chỉ trong một đời này, mà đời đời kiếp kiếp đều tu học. Từ vô lượng kiếp đến nay, v́ sao chúng ta chẳng thành tựu? V́ sao chẳng thể văng sanh? Đại khái là do ba điều kiện ấy chẳng thể đầy đủ cùng một lúc, có một điều, thiếu hai điều, có hai điều, thiếu một điều. Do vậy, nhiều đời nhiều kiếp đều chẳng thể văng sanh. Hy vọng trong một đời này, ba điều kiện ấy đều có thể đầy đủ, chỉ cần chúng ta sốt sắng nỗ lực, khắc phục phiền năo, tập khí của chính ḿnh, tôi nghĩ sẽ có đầy đủ duyên phận.

Chữ “thiện” trong kinh văn là chữ thiết yếu, là mấu chốt của câu này, là cốt lơi trọng yếu. Ngài “thiện năng phân biệt, khai phát” (khéo có thể phân biệt, khai phát); “phân biệt” là có thể biện định. Ngày nay chúng ta học Phật, thấy rất nhiều đồng tu lúc đầu niệm Phật cũng khá lắm, nghe nói gần đây lại đi học Mật, lại đi tham Thiền, v́ nguyên nhân nào? Là do không có năng lực phân biệt lợi - hại, được - mất! Chúng tôi chẳng nói là chân hay vọng, cũng chẳng nói là tà hay chánh. V́ sao? Mật pháp cũng là chánh pháp, cũng chẳng phải là hư vọng; Thiền cũng là chánh pháp, đều do đức Thế Tôn truyền lại, đều là chánh pháp. Do vậy, nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn; nhưng quư vị không hiểu rơ lợi - hại, được - mất, phải biết căn khí của chính ḿnh! Nhiều pháp môn như vậy, pháp môn nào có lợi đối với ta, tu học pháp môn ấy trong thời gian ngắn ngủi của một đời này, sẽ nhất định có thể thành công, có thể đạt kết quả. Kết quả ấy chính là quyết định thoát ly lục đạo. Thoát ly lục đạo là tiểu quả. Quư vị thường thấy trong kinh nói “có thể vượt thoát mười pháp giới”, đó gọi là đại quả. Quả có hai thứ. Nếu như lục đạo trọn chẳng thể vượt thoát, nói cách khác, quư vị tu học không có kết quả. Điều này trọn chẳng có ǵ kỳ lạ hết! Dùng ngay bản thân chúng ta để nói, th́ chúng ta đời đời kiếp kiếp tu hành đều không có kết quả, cho nên mới luân hồi cho đến ngày nay.

Do vậy, “năng thiện phân biệt” (có thể khéo phân biệt), bốn chữ này trọng yếu lắm! Có thể biết căn khí của chính ḿnh, như vậy th́ mới có thể “khai phát nhân duyên thiện căn rộng lớn”. “Khai” là Bồ Tát v́ Thiện Tài khai thị, v́ Thiện Tài tức là v́ chúng ta. Ở đây, Thiện Tài đại diện cho đại chúng bọn ta. V́ Thiện Tài khai thị chính là khai thị cho chúng ta. “Pháp” là pháp khí, chúng ta nghe lời Ngài khai thị xong, tâm muốn phát khởi, phát khởi thiện căn rộng lớn. “Quảng đại” (rộng lớn) chẳng phải là do một đời tu hành, tích tập. Thiện căn và phước đức do tu tập tích tụ từ vô lượng kiếp đến nay đều được phát khởi. Đấy chính là nhân duyên thiện tri thức khai thị cho chúng ta chẳng thể nghĩ bàn! Đến cuối cùng, nói “nhân duyên thiện căn”. Tuy trong ấy không nói tới phước đức, nhưng nói tới thiện căn, nói tới nhân duyên, tự nhiên là có phước đức ở trong ấy.

Câu nói này của tỳ-kheo Cát Tường Vân, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, là nói đến chương kế tiếp của chương này, tức là chương nói về Thiện Tài tham phỏng tỳ-kheo Hải Vân. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, câu nói này xuyên suốt năm mươi ba lần tham học, quư vị hăy suy nghĩ: Có lần tham học nào mà chẳng phải là Bồ Tát phân biệt, khai phát nhân duyên thiện căn rộng lớn? Đến cuối cùng, dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ; đấy chính là thiện căn, nhân duyên rộng lớn viên măn. Nhân duyên, thiện căn rộng lớn được thành tựu đều là do niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, đấy là thiện căn nhân duyên rộng lớn viên măn, nhân duyên thiện căn rộng lớn thành tựu, đều do niệm Phật văng sanh Tịnh Độ! Do vậy, Tứ Thập Hoa Nghiêm là Văng Sanh Kinh, chứ không phải là kinh nào khác. Chúng tôi nhớ cổ đức nói: “Vô Lượng Thọ Kinh chính là trung bản Hoa Nghiêm, A Di Đà Kinh là tiểu bản Hoa Nghiêm”, nói như vậy có sai hay không? Không sai! Đem đối chiếu, so sánh với kinh này, sẽ thấy rành rành minh bạch. Thiện căn, phước đức, nhân duyên chỉ cho những điều nào? Nói cặn kẽ th́ chẳng thể hết được, trong phần sau Bồ Tát có phương tiện thiện xảo, quy nạp [thiện căn, phước đức, nhân duyên] thành chín loại lớn, tức là chín câu tiếp theo đó. Chín câu ấy là nói riêng (biệt thuyết), đều nhằm nói về thiện căn, phước đức, nhân duyên. Quư vị không thân cận thiện tri thức, sẽ không đạt được! Nhất định là phải thân cận thiện tri thức, thường xuyên nghe thiện tri thức răn dạy, thường xuyên đích thân thấy sự hành tŕ của thiện tri thức, chúng ta sẽ muốn học theo Ngài.

Câu thứ nhất trong phần Biệt Thuyết, “đương linh nhữ nhập quảng đại trợ đạo vị” (sẽ làm cho ông nhập địa vị trợ đạo rộng lớn). Câu này có nghĩa là quư vị gặp được thiện tri thức, sẽ có thể đạt được lợi ích ấy. Trong mỗi một câu đều có ư nghĩa “quảng đại” (rộng lớn). Đủ thấy rằng Tổng chẳng rời Biệt, Biệt chẳng ĺa Tổng. Ư nghĩa của “quảng đại” là ở chỗ nào? Văng sanh thế giới Cực Lạc th́ mới là thật sự quảng đại. Nếu chẳng chịu cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ dù có đạt được “trợ đạo vị”, cũng không thể nói tới hai chữ “quảng đại” được, đấy là sự thật! Hy vọng mọi người hăy chú tâm thấu hiểu! “Trợ đạo” là giúp cho quư vị tu đạo. Giúp chúng ta tu đạo chỉ có một con đường, tức là thân cận thiện hữu, thân cận thiện tri thức. Ư nghĩa này đă được nói tới trong phần trước rồi! Nếu quư vị có trí huệ, có phương tiện thiện xảo, th́ hết thảy mọi người, hết thảy mọi sự, hết thảy mọi vật chung quanh ta đều là thiện tri thức, đều có thể khơi gợi, phát khởi trí huệ chân chánh cho quư vị, đều có thể giúp cho quư vị ngăn dứt phiền năo tập khí từ vô thủy. Vấn đề là chính quư vị có làm được hay chăng? Nếu không làm được, hăy làm lại từ đầu, t́m một vị thầy tốt để theo Ngài tu học.

Vấn đề mấu chốt ở đây là y chỉ một vị thầy, nương tựa một vị thầy, nghe theo lời một vị thầy dạy dỗ, đặt cơ sở vững chắc cho sự tu học của chính ḿnh. Bất luận tu học một pháp môn nào cũng không có ngoại lệ. Nếu quư vị cùng một lúc thân cận hai, ba, bốn vị thầy, quư vị sẽ chẳng thể thành tựu được. V́ sao vậy? Mỗi một vị thầy tu một pháp môn khác nhau, họ có kiến giải khác nhau, cho nên quư vị nghe nhiều, học lắm, sẽ không có chỗ nào để nương theo, thiện căn, nhân duyên sẽ đều bị phá hoại hết. Đây là một đại sự rất khẩn yếu, phải thân cận một vị thầy. Đến khi nào mới có thể thân cận rất nhiều thiện tri thức? Nhất định phải đợi đến khi quư vị khai ngộ th́ mới được! Hễ không khai ngộ, sẽ không được. Thế nào là khai ngộ? Tiêu chuẩn được nêu trong tựa đề kinh Vô Lượng Thọ rất chánh xác, quư vị đạt được tâm thanh tịnh, đạt được tâm b́nh đẳng, được chánh giác th́ sẽ làm được. Trong hết thảy các pháp, tâm thanh tịnh, tâm không nhiễm trước, tâm quư vị thanh tịnh. Trong thuận cảnh chẳng khởi tâm tham, trong nghịch cảnh chẳng khởi tâm sân, quư vị có làm được hay không? B́nh đẳng là đối với hết thảy các pháp không phân biệt, thanh tịnh là không chấp trước, không phân biệt, không chấp trước; giác là rơ ràng minh bạch, trọn chẳng hồ đồ!

Quư vị có công phu như vậy, thưa với quư vị, quư vị có thể vượt thoát mười pháp giới. Quư vị đắc thanh tịnh, sẽ vượt thoát lục đạo. Quư vị phải hiểu lục đạo đều chẳng thanh tịnh. Người đạt được tâm thanh tịnh, sẽ vượt thoát lục đạo, đoạn được Kiến Tư phiền năo. Người đạt được tâm b́nh đẳng, vượt thoát mười pháp giới. V́ sao vậy? Người không đạt được tâm b́nh đẳng, sẽ c̣n thấy có A La Hán, c̣n thấy có Bích Chi Phật, c̣n thấy có Bồ Tát, c̣n thấy có Phật, [tức là thấy có] tứ thánh pháp giới, người ấy c̣n có phân biệt. Người đạt được tâm b́nh đẳng, sẽ không phân biệt, cho nên vượt thoát mười pháp giới, nhập Nhất Chân pháp giới. Giác là phá một phần vô minh. Khi ấy, quư vị có thể tham học khắp hết thảy tri thức; do vậy, không phải là không có điều kiện, mà là có điều kiện, có tiêu chuẩn.

Trong hội Văn Thù, hội thứ nhất là hội Thập Tín, Thiện Tài đồng tử thành tựu thanh tịnh b́nh đẳng giác, thầy khuyên Ngài đi tham học, Ngài có tư cách tham học. Lần tham học thứ nhất gặp được tỳ-kheo Cát Tường Vân, dạy Ngài niệm Phật. Tỳ-kheo Hải Vân truyền đại pháp cho Ngài, ba vị thiện tri thức, ba vị thiện hữu đầu tiên tượng trưng cho Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo. Do vậy, họ đều dùng thân phận tỳ-kheo, để tượng trưng cho Tam Bảo. Ngài Cát Tường Vân tượng trưng cho Phật Bảo, ngài Hải Vân tượng trưng cho Pháp Bảo, Phật Bảo là Giác, thật sự giác ngộ, có như vậy th́ mới nhập được “quảng đại trợ đạo vị”. Ngày nay chúng ta tham phỏng tri thức, cũng có nhiều vị có thể trợ giúp chúng ta tu học, nhưng hai chữ “quảng đại” th́ chưa có, đạt đến cảnh giới của Ngài (tức Thiện Tài) th́ mới có “quảng đại”.

Câu thứ hai: “Đương linh nhữ thành quảng đại thiện căn lực” (Sẽ làm cho ông thành tựu sức thiện căn rộng lớn). Mười câu này liên quan với nhau. Thiện căn rộng lớn do đâu mà có? Từ trợ đạo rộng lớn sanh ra. “Trợ đạo” ở đây và “trợ đạo” như chúng ta thường nói, nếu luận trên mặt cảnh giới có sai biệt rất lớn, v́ sao vậy? Những vị Pháp Thân đại sĩ như trong kinh này nói, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, cho nên thiện căn, phước đức trong vô lượng kiếp thảy đều hiện tiền. Không chỉ là thiện căn do ta tu trong một đời này, mà là thiện căn đă tu trong đời đời kiếp kiếp đều hiện tiền. Dựa vào thiện căn này để văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị hăy suy nghĩ xem, đương nhiên là Thượng Thượng Phẩm văng sanh.

Câu thứ ba: “Đương vị nhữ thuyết phát Bồ Đề tâm nhân” (Sẽ v́ ông nói cái nhân phát tâm Bồ Đề). Mỗi vị thiện hữu vừa gặp Thiện Tài đều khen ngợi Ngài đă phát tâm Bồ Đề. Thiện Tài thân cận thiện hữu, câu thứ nhất là sẽ hướng về thiện hữu thưa: “Con đă phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” rồi mới thỉnh giáo tu Bồ Tát đạo như thế nào, học Bồ Tát hạnh như thế nào? Trước hết, nói rơ chính ḿnh đă phát tâm, phát tâm chẳng dễ dàng đâu! Tâm Bồ Đề vừa phát, liền thoát khỏi mười pháp giới, quư vị phải hiểu điều này. A La Hán tuy thoát khỏi sự luân hồi trong lục đạo, nhưng chưa phát tâm Bồ Đề. So với bọn ta, kể như Bích Chi Phật, Quyền Giáo Bồ Tát, Phật trong mười pháp giới đă phát tâm Bồ Đề, nhưng nếu đem so với hàng Sơ Trụ Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới, các vị ấy vẫn chưa phát tâm Bồ Đề! Do đây biết rằng: Phát tâm không dễ dàng! Mọi người đọc bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận của Mă Minh Bồ Tát, “Khởi Tín” (dấy ḷng tin) là bắt nguồn của Đại Thừa, vừa mới nhập môn, khởi ḷng tin! Điều kiện để dấy lên ḷng tin nơi Đại Thừa là ǵ? Chính là phát tâm Bồ Đề! Trong sách ấy, Ngài đă giảng: “Trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm”. Nếu chẳng phát tâm Bồ Đề, sẽ chẳng phải là kẻ đương cơ (người có căn cơ thích hợp) đối với pháp môn này. Do đây biết rằng: Bậc đương cơ của Khởi Tín Luận chính là những vị Bồ Tát từ hàng Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên, chẳng phải là phàm phu đâu nhé!

Tánh tông đă như vậy th́ Tướng tông cũng không ngoại lệ. Nhập môn Tướng tông là Bách Pháp Minh Môn Luận. Tuy văn tự của bộ luận này không dài, nhưng chú giải của các vị tổ sư nhiều đời rất dài, mà cũng rất nhiều. “Bách Pháp” là quy nạp hết thảy các pháp, cô đọng hết thảy các pháp, khiến cho quư vị từ một trăm pháp mà khai ngộ. Hiểu rơ [một trăm pháp ấy] sẽ khai ngộ, cũng là như hiện thời chúng tôi nói: “Hiểu rơ chân tướng của vũ trụ và nhân sinh”. Bách pháp là vũ trụ và nhân sinh, quư vị thật sự hiểu rơ chân tướng của nó, quư vị mới có thể vào được cửa Tướng tông trong Đại Thừa. Do đây biết rằng: Tiêu chuẩn của hai tông Tánh và Tướng trong Đại Thừa rất cao. Chúng ta đọc Bách Pháp có khai ngộ được không? Sách nói rơ ràng là “minh môn”, chúng ta đọc xong, v́ sao lại càng đọc càng mê hoặc hơn, càng đọc càng hồ đồ hơn? Do vậy, tôi thường bảo người học Bách Pháp Minh Môn: “Không phải là quư vị học Bách Pháp Minh Môn, mà là quư vị học Bách Pháp Ám Môn, Bách Pháp Mê Môn đấy!” Quư vị bị những pháp ấy làm cho mê man, chẳng dễ dàng đâu! Câu thứ ba là khen ngợi phát tâm Bồ Đề, tâm Bồ Đề hết sức thù thắng!

Do đây biết rằng: Nay chúng ta quả thật là phàm phu, chính ḿnh phải thừa nhận điều này, phải thừa nhận chính ḿnh nghiệp chướng sâu nặng, tập khí rất sâu. Chính ḿnh nhất định phải thừa nhận điều này! Tu học bất cứ pháp môn Đại Thừa nào, chúng ta đều chẳng thể phát cái tâm Bồ Đề, đấy là nói sự thật! Không phát được tâm Bồ Đề, quư vị có thành tựu ǵ đâu? Mỗi ngày khởi tâm động niệm, vẫn là đúng - sai, ta - người, tham, sân, si, mạn, quư vị nghĩ xem có phải là t́nh trạng như vậy hay chăng? Nếu vẫn làm những chuyện ấy, quyết định sẽ luân hồi trong lục đạo, mà cũng có nghĩa là bất luận quư vị tu học pháp môn nào, quư vị dụng công ra sao, tu tập tốt đẹp như thế nào, chỉ cần quư vị có đúng - sai, ta - người, chỉ cần có tham, sân, si, mạn, kinh Kim Cang nói “ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng”, bốn tướng đầy đủ, chắc chắn là quư vị chẳng thoát khỏi luân hồi trong lục đạo. Quư vị tu học suốt một đời, tŕ giới, niệm Phật, dẫu có tu tốt đẹp, cũng biến thành phước báo trong đời sau, chẳng giả chút nào!

Quư vị phải khéo quán sát cặn kẽ, thế gian quả thật đă biến tu hành thành phước báo đời sau. Người hưởng phước mấy ai đầu óc tỉnh táo, vẫn chịu tiếp tục tu hành? Nếu bị những thứ ngũ dục, lục trần thế gian mê hoặc, vấn đề ấy sẽ lớn lắm. Trong đời trước tu được một chút phước báo ấy chẳng dễ dàng, trong đời này sẽ hưởng hết rất nhanh. Sau khi hưởng xong, tội nghiệp của quư vị sẽ hiện tiền, lại đọa trong ba ác đạo, đấy là điều nhà Phật thường gọi là “tam thế oán” (nỗi oán trong đời thứ ba). Đời thứ nhất tu phước, đời thứ hai hưởng phước. Hưởng phước, sẽ không tiếp tục tu, tạo tội nghiệp; đời thứ ba sẽ đọa lạc, đáng sợ vô cùng! Quư vị phải hiểu: Thời gian hưởng phước rất ngắn, thời gian quư vị đọa tam ác đạo chịu khổ quá sức là dài!

      Nếu hiểu rơ chân tướng sự thật này, phải làm sao? Nhân duyên này của chúng ta đúng là “quảng đại nhân duyên” (nhân duyên rộng lớn). Gặp được pháp môn Tịnh tông dạy quư vị thật thà niệm Phật. Trong A Di Đà Kinh Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích bảo chúng ta: “Chỉ cần ông nhất tâm, thành tâm, thành ư chuyên cầu Tịnh Độ, chuyên niệm Di Đà, cầu sanh Tây Phương, cái tâm ấy chính là tâm Bồ Đề rộng lớn”. Cách nói này trước thời đại sư Ngẫu Ích, đức Phật chưa từng nói tới, tổ sư đại đức cũng chưa từng nhắc tới, đại sư Ngẫu Ích là người thứ nhất nói lời ấy, nói tuyệt diệu thay! Ngài nói có hợp lư hay chăng? Quư vị đọc nhiều kinh giáo Đại Thừa sẽ hiểu ngay, thật sự có đạo lư! Quư vị có thể thấy A Di Đà Phật, quư vị vượt thoát mười pháp giới, thế giới Tây Phương chẳng ở trong lục đạo, cũng chẳng ở trong mười pháp giới.

      Huống chi trong bốn mươi tám nguyện có nói: “Lâm chung mười niệm hay một niệm, đều có thể văng sanh”. Do vậy, có những kẻ trông thấy nguyện này chẳng phục, “trong một đời người ấy tạo tác tội nghiệp, lâm chung một niệm hay mười niệm đều có thể văng sanh, sao mà dễ dàng quá vậy!” Chẳng tin tưởng, đâu có chuyện tiện nghi ấy! Thật ra, những điều người ấy gọi là “tiện nghi” là v́ tầm mắt người ấy nông cạn, ngắn củn, chỉ thấy được một đời này, không thấy được đời quá khứ. Có mấy ai khi lâm chung chịu niệm Phật? Khi lâm chung chịu niệm Phật, niệm một tiếng A Di Đà Phật văng sanh, đều là thiện căn, phước đức, nhân duyên từ vô lượng kiếp được phát hiện trong một lúc, chẳng ngẫu nhiên! Do vậy, nếu quư vị thật sự hiểu rơ, quư vị mới hiểu người ấy chẳng phải là may mắn, mà là lúc đó thời tiết nhân duyên của người ấy chín muồi, thiện căn, phước đức, nhân duyên từ vô lượng kiếp đă chín muồi trong khi ấy. Một sát-na chín muồi th́ trong một sát-na liền văng sanh, người ấy sẽ làm Phật, đâu phải là ngẫu nhiên! Do vậy, [hễ nói tới] thiện căn, phước đức, nhân duyên th́ phải bàn tới quá khứ, chẳng chỉ luận trong một đời này. “Phát Bồ Đề tâm nhân”, nhân ấy sâu lắm.

      Câu thứ tư: “Đương linh nhữ sanh quảng đại thừa quang minh” (Sẽ làm cho ông sanh được quang minh Đại Thừa rộng răi). Đối với “Đại Thừa” ở đây tuy quư vị không biết rất rơ ràng, chỉ là một khái niệm lờ mờ, pháp Đại Thừa, pháp Tiểu Thừa, nhưng thêm một chữ “quảng” ư nghĩa khác hẳn. Đại Thừa thêm một chữ “quảng” th́ giống như Lục Tổ đại sư đă nói trong Đàn Kinh là “thượng thượng thừa nhân” (người thuộc bậc thượng thượng thừa), vượt trỗi hết thảy Đại Thừa. Quư vị thấy Ngài thuyết pháp, Ngài nói những người được Thần Tú tiếp dẫn là người căn tánh Đại Thừa, c̣n những người được Tổ tiếp dẫn là “người thuộc căn tánh thượng thượng thừa”, vượt trỗi hết thảy Đại Thừa. Những pháp Đại Thừa thông thường có hạn lượng, thế nhưng nếu quư vị văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ không có số lượng; đấy là “quảng đại thừa quang minh”. Thông thường, chiếu theo những pháp môn khác để tu hành, phải tu đạt đến địa vị từ Bát Địa trở lên th́ mới nhập được cảnh giới ấy. Trước khi đạt tới Bát Địa đều có hạn cuộc, chẳng thể thật sự đạt tới tận hư không, trọn pháp giới, người ấy chẳng thể làm được. Nhưng những người văng sanh thế giới Cực Lạc lại khác hẳn. [Nói tới] kẻ văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, chẳng đoạn được một phẩm phiền năo nào, là nói về hạng người nào vậy? Chính là chúng ta, chẳng đoạn được một phẩm phiền năo nào! Sanh sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, thưa cùng với quư vị, cũng là “quảng đại thừa quang minh”, quang minh chiếu khắp.

      Ở đây, có hai ư nghĩa; một ư nghĩa là cúng dường chư Phật, giống như kinh Di Đà đă nói: Quư vị có năng lực cùng một lúc cúng dường hết thảy chư Phật trọn khắp mười phương, chẳng phải là cúng mỗi một vị Phật theo thứ tự, có trước sau. Cần phải bao lâu mới có thể cúng dường nhất loạt? Cùng một lúc! Do vậy là “nhất thời”, kinh Phật vừa mở ra là “nhất thời”, “nhất thời” rất có ư vị! “Nhất thời” là đồng thời, không có trước sau. Có năng lực ấy th́ chính là “quảng đại thừa quang minh”. Ư nghĩa thứ hai là có thể đồng thời phổ độ hết thảy chúng sanh tận hư không, trọn pháp giới; đấy cũng là ư nghĩa “quảng đại thừa quang minh”. Quư vị có thể cúng trọn khắp chư Phật, phổ độ chúng sanh. Tuy quư vị có năng lực phổ độ chúng sanh, thưa với quư vị, chúng sanh có duyên, nhưng đă chín muồi hay chưa? Hễ chín muồi, quư vị sẽ độ cho người ấy làm Phật. Nói thật ra, hễ đă chín muồi rồi, người ấy sẽ có thể tin tưởng Tịnh Độ, sẽ có thể phát nguyện cầu sanh. Đấy là hạng người chín muồi.

      Nếu ưa thích Phật pháp, thậm chí ưa thích Tịnh Độ, nhưng vẫn chẳng mong văng sanh, hạng người như vậy rất nhiều, tôi đă gặp không ít. Kẻ ấy khuyên người khác niệm Phật văng sanh, chính ḿnh chẳng mong văng sanh. V́ sao? Người ấy có ư nguyện phi thường lắm, nói: “Tôi muốn đời đời kiếp hoằng pháp lợi sanh. Sợ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, trông thấy vàng ṛng làm đất, cung điện bảy báu, sẽ bị những thứ ấy mê hoặc!” Người ấy có quan niệm như vậy, sợ không thể tách ĺa thế giới Tây Phương được, chẳng thể phổ độ chúng sanh. Đấy là vọng tưởng tác quái! Đối với Tây Phương thế giới, nhận thức vẫn không rơ ràng y hệt như cũ. Chúng ta nghe xong, không có cách nào nói với kẻ ấy được; có nói, hắn cũng không tin tưởng. Hắn có lư riêng của hắn, hăy từ từ đợi nhân duyên! Do vậy, duyên của hết thảy chúng sanh chín muồi sớm hay muộn khác nhau!

      V́ thế, Bồ Tát độ chúng sanh trong mười pháp giới, giống như phẩm Phổ Môn đă nói: “Nên dùng thân nào để độ được, bèn hiện thân ấy; nên dùng pháp nào để độ được, bèn nói pháp môn ấy”. Đức Phật hiện thân không có thân tướng nhất định, đức Phật thuyết pháp, không có pháp nào nhất định để nói. Do đây biết rằng: Chư Phật Như Lai ở trong hư không pháp giới, trên cúng dường chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh, tiêu sái chi bằng? Tự tại chi hơn? Chúng ta muốn đạt được cảnh giới ấy, quư vị hăy thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Đấy là con đường tắt nhanh nhất, quư vị sẽ rất nhanh chóng đạt được. Đấy là sự thù thắng của Tịnh Độ! Kinh Hoa Nghiêm, Tứ Thập Hoa Nghiêm đặc biệt khen ngợi Tịnh Độ. Trong phẩm trước của kinh này, tức phẩm Ly Thế Gian, có nói hơn hai ngàn pháp môn. Đến phần cuối cùng này, trong phần chứng nhập pháp giới, bèn đặc biệt khen ngợi Tịnh Độ. Do v́ pháp môn này nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, chỉ cần quư vị chịu tin, quư vị bằng ḷng đi (văng sanh), không một ai chẳng được văng sanh. Đấy mới là “quảng đại thừa quang minh” chân thật. Quư vị gặp được vị thiện hữu này, thiện hữu khai thị, thuyết pháp cho quư vị. Quư vị nghe xong, thiện căn của quư vị sẽ được khơi gợi, tự nhiên quư vị có thể tin nhận, vâng làm; trong phần chú giải này gọi [chuyện này] là “văn, thọ tŕ pháp” (nghe, vâng giữ pháp).

      Câu thứ năm là “đương linh nhữ đắc quảng đại Ba La Mật” (sẽ làm cho ông đạt được Ba La Mật rộng lớn). Ba La Mật (Pāramitā) là tiếng Phạn, từ văn tự, cổ nhân dịch trực tiếp thành “bỉ ngạn đáo”, theo văn phạm của tiếng Hán là “đáo bỉ ngạn” (tới bờ bên kia). Chúng ta vẫn chưa hiểu rơ ư nghĩa này lắm. “Đáo bỉ ngạn” là ǵ? Nếu nói theo tiếng Hán, mọi người sẽ dễ hiểu hơn. “Đáo bỉ ngạn” có ư nghĩa là “đáo gia”, chúng ta gọi là “đáo gia”. “Đáo gia” là ǵ? Tức là đạt đến rốt ráo viên măn, rốt ráo viên măn th́ gọi là “đáo gia”. Trong xă hội chúng ta, danh từ này được dùng rất rộng răi. Quư vị viết chữ rất đẹp, [người khác bèn khen]: “Nhĩ đích thư pháp đáo gia liễu” (Thư pháp của anh đă đạt đến tuyệt mức rồi). Quư vị vẽ rất khéo, “nhĩ giá cá thư họa đáo gia liễu” (bức thư họa này của anh đạt tuyệt mức rồi). Như vậy là tài khéo của quư vị đạt đến tiêu chuẩn cao độ, người ta khen ngợi quư vị, “công phu của quư vị đạt tới tuyệt mức rồi”. Do vậy, ư nghĩa “đáo gia” chính là ư nghĩa của Ba La Mật. Chúng ta gọi nó là “cứu cánh viên măn” (rốt ráo viên măn) mọi người sẽ dễ hiểu hơn, so với “đáo bỉ ngạn”, “đáo gia” luôn dễ hiểu hơn, thật sự rốt ráo viên măn.

      Quư vị làm viên măn rốt ráo những chuyện ǵ? “Quảng đại” là nói trong cuộc sống, trong sinh hoạt thường nhật của quư vị, từng ly từng tí đều đạt đến rốt ráo viên măn, đấy mới gọi là “quảng đại”. Mặc áo cũng rốt ráo viên măn, ăn cơm cũng là rốt ráo viên măn, quét đất, lau bàn cũng là rốt ráo viên măn, không có ǵ chẳng phải là rốt ráo viên măn, không có ǵ chẳng phải là Ba La Mật Đa, đấy mới gọi là “quảng đại”. Cuộc sống, công việc, sự tu học của quư vị dung hợp thành một Thể. Cuộc sống, công việc, tu học là một, không phải hai, toàn là Bát Nhă Ba La Mật rốt ráo viên măn. Kinh Đại Bát Nhă giải thích tường tận câu này, mở rộng câu này thành sáu trăm quyển Đại Bát Nhă. Do vậy, các vị đại đức xưa nay đều công nhận kinh Hoa Nghiêm là căn bản pháp luân của Phật giáo, hết thảy các kinh đều là cành nhánh, quyến thuộc của Hoa Nghiêm. Bộ kinh Đại Bát Nhă sáu trăm quyển là giải nói tường tận một câu nói này, giải thích câu nói này đạt đến mức trí huệ rốt ráo viên măn.

       “Đương linh nhữ nhập quảng đại chư hạnh hải” (Sẽ làm cho ông nhập các biển hạnh rộng lớn). Nếu không có câu này th́ Hạnh và Giải trong Ba La Mật đều được bao hàm trong ấy. Nếu có câu tiếp theo này th́ câu “Bát Nhă” là nói về Giải, c̣n câu này là Hạnh. Giải viên măn th́ Hạnh sẽ rốt ráo. Trong Hạnh cũng là vô lượng vô biên. Trong Phật pháp, Hạnh được quy nạp thành ba loại lớn, vô lượng vô biên các hạnh chẳng ra ngoài ba loại lớn. Loại thứ nhất là Thân, tức tạo tác nơi thân thể, hành vi nơi thân thể. Loại thứ hai là Khẩu, Khẩu là lời nói. Loại thứ ba là Ư, Ư là tư tưởng, ư niệm. Do vậy, hành vi của quư vị chẳng ra ngoài phạm vi của ba thứ Thân - Khẩu - Ư này, nhà Phật gọi là Tam Nghiệp. Chúng ta phải hiểu rơ ràng ư nghĩa của Tam Nghiệp. Chính ngay trong khi tạo tác, hành vi ấy được gọi là “tạo”. Khi tạo tác xong th́ gọi là “nghiệp”. Do vậy, kinh Phật thường nói tới “hành nghiệp”, danh từ này mọi người cũng thấy rất nhiều. “Hành” là trong khi quư vị đang tạo tác, c̣n Nghiệp là kết quả của sự tạo tác.

      Kết quả của tạo tác cũng có thể quy nạp thành ba loại lớn, thiện nghiệp, ác nghiệp và vô kư nghiệp, đấy là những ǵ phàm phu gây tạo. Quư vị tạo ra những hành vi nơi ba nghiệp là lành, quư vị sẽ được thiện quả, đấy là quả báo ba đường lành trong lục đạo. Nếu tạo ra nghiệp ác, quư vị sẽ được quả báo là ba ác đạo, ác báo đấy! Nghiệp nhân và quả báo chẳng sai mảy may! Đấy chính là điều kinh thường dạy chúng ta: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không” (Muôn pháp đều không, nhân quả chẳng không), nhân duyên quả báo nhất định là có! Không chỉ là đối với bọn phàm phu chúng ta là có, mà Thanh Văn, Duyên Giác cũng có, đối với chư Phật Bồ Tát vẫn là có. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, Ngài thị hiện quả báo ba tháng ăn lúa mạch dành cho ngựa: Gặp phải nạn đói, đi khất thực bên ngoài không có ǵ ăn, không một ai cúng dường. Thời gian ba tháng cũng rất dài, v́ nguyên nhân nào? Đức Phật nói là do ác nghiệp trong đời quá khứ. Điều này cho thấy đă thành Phật rồi, cũng không có cách nào vượt thoát nhân quả, chẳng có đạo lư ấy! Chư Phật, Bồ Tát chẳng diệt nhân quả, các Ngài hiểu rơ ràng, minh bạch nhân duyên quả báo, các Ngài hiểu rơ rệt. Phàm phu chúng ta hứng chịu quả báo, chẳng biết tiền nhân (cái nhân thuở trước), hiện tại tạo ra nghiệp nhân, chẳng biết hậu quả (cái quả về sau). Những vị Pháp Thân đại sĩ đều biết, các vị ấy biết hiện tại hứng chịu quả báo là do nghiệp như thế nào, là do nhân như thế nào trong quá khứ [gây ra]; những ǵ tạo tác trong hiện tại sẽ trở thành quả báo ǵ trong tương lai. Nhân trước, quả sau, các vị ấy đều hiểu rơ ràng, minh bạch, đấy gọi là “chẳng lầm nhân quả”, chứ không phải là chẳng có nhân quả!

      Đại sư Ấn Quang nói rất hay, trong thời đại hiện tại của chúng ta, đem chuyện này giảng rơ ràng, giảng minh bạch cho đại chúng trong xă hội, khiến cho ai nấy đều tin nhân quả. Nhân quả là sự thật, chẳng phải là do thánh nhân cố ư bịa ra nhằm trói buộc quư vị, khuyên quư vị sửa lỗi hướng thiện, mà nhân quả là sự thật. Mọi người hiểu rơ đạo lư này, hiểu rơ sự thật này, tự nhiên chẳng dám làm càn, làm quấy, chẳng tạo tội nghiệp. Xă hội này sẽ được an định. Xă hội có an định th́ mới có thể phồn vinh, mọi người đều có phước báo, phước do đâu mà có? Phước do chính ḿnh tu được! Quư vị không tu phước, lấy đâu ra phước báo? Người trong thế gian hiện nay, bất luận là người Trung Quốc hay người ngoại quốc, đều cầu tiền tài, đều điên cuồng mong phát tài, mơ tưởng đến nỗi điên đảo, mê hoặc, thần trí không tỉnh táo, ngày ngày đều mơ phát tài.

      Tiền tài ấy có mơ tưởng được hay chăng? Mong phát tài được hay chăng? Quyết định là mong chẳng được! V́ sao không mong được? Không có nhân! Trong kinh, đức Phật đă dạy chúng ta: Chúng ta muốn thành Phật, sẽ có thể thành Phật, muốn làm Bồ Tát, sẽ có thể thành Bồ Tát. V́ sao có thể mong đạt được những điều ấy? Do hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng. Quư vị có nhân, ḷng mong tưởng của quư vị là duyên, quư vị có nhân [cho nên sẽ đạt cái quả]. Nếu không có nhân, dẫu có đủ duyên, cũng chẳng thể kết quả được. Nhân và duyên tụ hợp th́ quả báo mới hiện tiền. Đức Phật dạy chúng ta: Tiền tài của người trong thế gian là do đâu mà có? Do Tài Bố Thí mà có! Quư vị không chịu tu Tài Bố Thí, cứ hằng ngày mong phát tài, quư vị mong suốt cả đời, cũng không phát tài được! Do vậy, quư vị muốn phát tài, phải biết tu nhân. Quư vị muốn được thông minh, trí huệ, phải tu Pháp Bố Thí. Quư vị muốn khỏe mạnh, sống lâu, nhất định phải tu Vô Úy Bố Thí. Đức Phật giảng rơ ràng, minh bạch như thế đó, Phật chẳng gạt người. Đấy là Phật dạy bọn phàm phu chúng ta như vậy.

      Cách nói này và những tổng nguyên tắc, tổng nguyên lư được giảng trong kinh có mâu thuẫn nhau hay không? Đức Phật dạy tổng nguyên tắc là “hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”, Hễ mong tưởng của cải, của cải sẽ hiện tiền. Các vị ấy (hàng Sơ Trụ Bồ Tát trở lên) có thể tưởng được, nhưng chúng ta tưởng không được. V́ thế, chẳng trái nghịch với tổng nguyên tắc, không mâu thuẫn với tổng nguyên lư. Đến khi nào quư vị mong phát tài th́ tiền liền đưa tới? Đến khi minh tâm kiến tánh, trong tự tánh của quư vị sẵn có vô lượng của cải. Do vậy, hễ tưởng, nó liền đưa tới. Quư vị thấy chư Phật, Bồ Tát khi cúng dường, vô lượng trân bảo từ trên tay xuất hiện, hiển hiện ra. Đấy chính là “hễ tưởng liền có”. Hiện thời, chúng ta tưởng cách nào cũng tưởng không ra, vấn đề là ở chỗ nào? Tự tánh chúng ta bị phiền năo chướng ngại. Sở Tri Chướng che lấp, tưởng cách nào cũng không ra được! Đạo lư là ở chỗ này. Không ra được th́ làm sao? Tạm thời làm lụng, kiếm được ít th́ xài ít, làm như vậy đó. Phàm phu trong lục đạo, những người trong mười pháp giới, của cải trong tự tánh đều chẳng thể hiện tiền, tưởng cách nào cũng chẳng thể hiện tiền được, cần phải tạm thời làm lụng. Quư vị làm việc siêng năng, chăm chỉ, sẽ kiếm được nhiều hơn một chút. Hễ lười nhác, sẽ kiếm được ít hơn một chút. Tôi vừa mới nói với quư vị, tu Tài Bố Thí được giàu có, tu Pháp Bố Thí được thông minh, trí huệ, tu Vô Úy Bố Thí được mạnh khỏe, sống lâu. Đấy đều là những việc làm trong lúc này. V́ thế, Phật pháp coi trọng minh tâm kiến tánh.

      Mục tiêu cuối cùng trong sự tu học hết thảy các pháp môn Đại Thừa đều nhằm minh tâm kiến tánh, trọn chẳng phải chỉ có Thiền Tông mới tu theo cách này. Tịnh Độ Tông chúng ta niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn chính là minh tâm kiến tánh. Do vậy, quư vị phải niệm đến mức Lư Nhất Tâm, quư vị mới tưởng đến của cải, của cải liền xuất hiện. Quư vị niệm đến mức Sự Nhất Tâm th́ vẫn chưa được, tưởng cách nào cũng không ra. V́ sao vậy? Niệm đến Lư Nhất Tâm là kiến tánh, Phiền Năo Chướng lẫn Sở Tri Chướng đều bị phá cả rồi! Đấy chính là đạt tới mức phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Do vậy, Lư và Sự ở đây chúng ta đều hiểu rơ, đều không bị mê hoặc, sẽ làm được tốt đẹp. V́ thế, phía trước chữ “chư hạnh” (các hạnh) có thêm hai chữ “quảng đại”. Nói thật ra, [các hạnh] Quảng Đại này chính là Phổ Hiền Hạnh mà Phổ Hiền Bồ Tát là đại diện.

      Câu thứ bảy “đương linh nhữ chuyển quảng đại thệ nguyện luân” (sẽ làm cho ông chuyển được thệ nguyện luân rộng lớn). Sáu câu trên là tự lợi, là thành tựu chính ḿnh. Giải Hạnh của chính ḿnh đạt đến mức rốt ráo viên măn th́ chính là bậc Pháp Thân đại sĩ. Nay chúng ta nương tựa vào oai thần từ bốn mươi tám bổn nguyện của A Di Đà Phật gia tŕ, cho nên người hạ hạ phẩm văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng có năng lực ấy, những cảnh giới đă nói trong kinh Hoa Nghiêm thảy đều đầy đủ, chẳng thiếu khuyết thứ ǵ. Đấy chính là chỗ thù thắng khôn sánh của Tây Phương Tịnh Độ. Sanh về Tây Phương, giải hạnh giống như Phật, sau đấy mới có thể phổ độ chúng sanh. Do vậy, quư vị thật sự muốn độ chúng sanh, muốn thực hiện được đại nguyện của chính ḿnh, chỉ có một biện pháp khả thi là trước hết hăy sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, gặp gỡ A Di Đà Phật, quư vị sẽ có năng lực ấy, quư vị được bổn nguyện và oai thần của Phật gia tŕ. Do đó, quư vị sẽ “chuyển được thệ nguyện luân rộng lớn”. “Luân” là pháp luân. Luận theo kinh này th́ “quảng đại thệ nguyện” chính là mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát. Nếu luận theo Vô Lượng Thọ Kinh, sẽ là bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, biến bổn nguyện của Phật, Bồ Tát thành tâm nguyện của chính ḿnh, ta và người không hai! Di Đà, Phổ Hiền có thể làm được th́ chúng ta ai nấy đều làm được. Lời chú giải cho ba câu này giảng rất hay.

     

      (Sớ) Ngũ lục cập thất giai Phổ Nhăn sở thuyên.

      () 詮。

      (Sớ) Câu thứ năm, thứ sáu và thứ bảy đều nói về Phổ Nhăn.

 

      Trong bản chú giải của ngài Thanh Lương, câu thứ tám “đương linh nhữ tịnh quảng đại trang nghiêm môn” (sẽ làm cho ông thanh tịnh môn trang nghiêm rộng lớn) được giảng như sau:

 

      (Sớ) Văn y chánh trang nghiêm

      () 嚴。

      (Sớ) Nghe tới y báo và chánh báo trang nghiêm.

 

      “Văn” là nghe pháp, nghe lời dạy bảo của thiện tri thức. Chữ “văn” này thuộc vào Tam Huệ của Bồ Tát, tức Tam Huệ Văn - Tư - Tu. “Y” là y báo, “chánh” là chánh báo. Trong bộ Hoa Nghiêm bản tám mươi cuốn, từ quyển thứ nhất cho đến quyển thứ mười một là phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm, toàn là nói về y báo và chánh báo trang nghiêm của Tỳ Lô Giá Na Phật. Tỳ Lô Giá Na là ai? Chính là chúng ta, chẳng phải là ai khác, phải hiểu rơ điều này! Do vậy, những ǵ đức Phật đă nói trong suốt bốn mươi chín năm, đều là nói về chính chúng ta và hoàn cảnh sống của chúng ta, chẳng nói tới chuyện ǵ khác. Tỳ Lô Giá Na Phật là Pháp Thân Phật. Trong kinh, đức Thế Tôn đă giảng rất rơ ràng, “mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”, Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là lư thể, Pháp Thân là chân tâm, Pháp Thân là Chân Như. Danh tự khác nhau, nhưng ư nghĩa là một. V́ thế, Tỳ Lô Giá Na được dịch thành Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy mọi nơi).

      Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới cho đến Tịnh Độ của chư Phật, Nhất Chân pháp giới, Tây Phương Cực Lạc thế giới, đều do Tánh Thể này biến hiện ra. V́ thế, Tỳ Lô Giá Na là Năng Biến, tự tánh có khả năng biến hiện, tất cả hết thảy hư không pháp giới là Sở Biến (cái được biến hiện từ tự tánh). Tỳ Lô Giá Na Phật tượng trưng cho Năng Biến trọn khắp hết thảy chỗ. Hết thảy chỗ đều là Sở Biến (cái được biến hiện) của Năng Biến. Do vậy, cái này (tức tâm Năng Biến) mới là chính ḿnh, nhà Thiền gọi đó là “bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra”. Bản lai diện mục chính là Tỳ Lô Giá Na, Lô Xá Na là Báo Thân Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng Hóa Thân Phật, tam vị nhất thể! Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng Hóa Thân, chúng ta có phải là Ứng Hóa Thân hay chăng? Đều là! Không có ǵ chẳng phải là! Nhưng Phật và đại Bồ Tát từ trí huệ mà hóa thân, c̣n chúng ta là phàm phu trong lục đạo hóa thân từ phiền năo, không có ǵ chẳng là! Nhưng Phật và các vị đại Bồ Tát do trí huệ hóa thân, c̣n lục đạo phàm phu chúng ta từ phiền năo hóa thân, không khác! V́ thế, “sanh Phật bất nhị”, tức chúng sanh và Phật chẳng hai. Thể bất nhị, thưa cùng quư vị, Tướng cũng bất nhị. Tác dụng th́ sao? Tác dụng vẫn là bất nhị. Đáng tiếc là quư vị không biết! Nếu quư vị biết, quư vị cũng được tự tại giống như vậy. Hễ không biết th́ mê hoặc, điên đảo, coi hư vọng, phân biệt là chủ tể, vậy là hỏng rồi!

      Trong Đại Thừa, thường nói tới vọng tâm. Phàm phu trong lục đạo lấy vọng tâm làm chủ tể, coi phiền năo là chủ tể, coi tập khí là chủ tể, v́ thế, tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp, biến thành quả báo luân hồi trong lục đạo, tự làm, tự chịu! Những thứ ấy đều nằm trong y báo và chánh báo trang nghiêm, những sự lư nhân quả ấy rơ ràng, đều minh bạch. Chúng sanh điên đảo, mê hoặc trong ấy, có muốn giúp họ giác ngộ hay chăng? Muốn! Địa Tạng Bồ Tát chẳng phải là một tấm gương hay sao? Địa ngục khổ nhất, mê muội sâu nhất, Ngài vẫn muốn vào đó, vẫn phát ra đại nguyện. Chúng ta thường nghe đại nguyện ấy như sau: “Địa ngục bất không, thệ bất thành Phật” (Địa ngục chưa trống, thề chẳng thành Phật). Ư nghĩa này khiến cho chúng ta phát tâm đại từ bi, trông thấy những chúng sanh khổ nạn, muốn giúp đỡ họ giác ngộ. Điều này hết sức trọng yếu! Chúng sanh khổ nạn không có cái ăn, quư vị cho họ ăn, không có cái để mặc, quư vị cho họ mặc th́ cũng được; nhưng quư vị cứ một mực châu cấp như thế, chẳng những không độ được họ, mà ngược lại c̣n hại họ. Hại như thế nào? “Ta có thể không cần làm lụng, đă có người khác bố thí cho có ăn có mặc rồi!” Họ biến thành biếng nhác, bê trễ, dựa dẫm vào sự cứu giúp, hỏng mất rồi!

      Trong xă hội hiện thời, tại Đài Loan hầu như không có hiện tượng này, chứ ở Mỹ hay trong nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, tệ nạn này gây phiền phức lớn lắm. Bởi lẽ, sau hai cuộc đại chiến, bọn họ đều là những cường quốc bậc nhất trên thế giới, tiềm lực đất nước hùng hậu, cho nên có những người nghĩ ra cách thức hoa dạng như sau: “Phải tu tâm đại từ bi, phải thực hiện trợ cấp xă hội”. Trợ cấp xă hội càng nhiều th́ người ưa ăn bám càng nhiều, sống dựa vào trợ cấp xă hội ấy, chuyện ǵ cũng chẳng muốn làm, đục khoét đất nước. Hiện thời, chánh phủ Mỹ thiếu nợ ba thế hệ vẫn chưa trả hết. Chế độ [trợ cấp xă hội] ấy đă được thực thi, có thể thâu hồi được hay chăng? Ai cũng đều chẳng dám băi bỏ, người nào nói tới chuyện cắt giảm trợ cấp xă hội, dân chúng chắc chắn chẳng bỏ phiếu bầu kẻ ấy làm Tổng Thống. Do vậy, điều thứ nhất của Tổng Thống là nhất định phải giữ trợ cấp xă hội theo lệ thường. Nếu tăng thêm một chút, đương nhiên càng hay, dân chúng sẽ hoan nghênh, quyết định chẳng thể giảm bớt. Do vậy, có nhiều nước giàu trên thế giới bị chế độ trợ cấp xă hội làm cho khốn đốn.

      V́ thế, quư vị phải hiểu, cứu tế, phổ độ những chúng sanh ấy th́ phải giúp cho họ khai ngộ, giúp cho họ giác ngộ, đấy mới là chánh xác. Những thứ cứu tế khổ nạn chỉ là tạm thời, ngắn ngủi, chẳng thể thực hiện dài hạn. Trợ cấp xă hội là dài hạn, chẳng phải là ngắn ngủi, tạm thời. Do vậy, đối với điều này, cổ nhân Trung Quốc đă hiểu rơ ràng rất thấu triệt, “cứu cấp, bất cứu bần” (cứu ngặt, không cứu nghèo). Khi quư vị gặp nạn gấp, tôi giúp đỡ quư vị, c̣n quư vị bần cùng tôi chẳng giúp, chính quư vị phải tự nỗ lực, phải tự gắng sức, hoàn toàn cậy vào chính ḿnh! Do vậy, sau khi chế độ trợ cấp xă hội được thực hiện, rất nhiều kẻ sống dựa vào đó, chuyện ǵ cũng chẳng muốn làm. Do vậy, tại Tân Gia Ba, ông Lư Quang Diệu rất thông minh. Ông ta hiểu rơ nhược điểm của chế độ trợ cấp xă hội, chánh phủ Tân Gia Ba chẳng đi theo con đường ấy. Nhưng muốn chăm sóc dân chúng th́ họ chăm sóc như thế nào? Cưỡng bách quư vị phải dành dụm, đấy là phương pháp tốt nhất! Họ cũng có trợ cấp xă hội, nhưng bỏ vào tiền tiết kiệm của quư vị, giúp cho quư vị về mặt ấy. Họ gọi là “công tế kim” (tiền trợ giúp chung), trích mấy phần trăm từ tiền lương tháng của quư vị, cưỡng bách quư vị làm như thế. Quư vị có thể dùng món tiền trợ giúp ấy để mua nhà cửa hoặc dùng làm tiền trang trải thuốc men khi bệnh tật, đều có thể dùng khoản tiền ấy để chi dụng. Như vậy th́ phước lợi của đại chúng trong xă hội đều được lo liệu, nhưng không có nạn lợi dụng tiền trợ cấp. Bọn họ chẳng phải là cường quốc, chẳng phải là quốc gia phát triển tiên tiến, thấy những thói tệ của ngoại quốc, họ biết cải tiến như thế nào. Do vậy, họ thực hiện rất cao minh, thực hiện hết sức viên măn.

      V́ thế, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều hiểu rơ ràng, rành mạch. Chữ “tịnh” ở đây là mấu chốt, trong y báo và chánh báo trang nghiêm của mười pháp giới, quư vị đều đạt được “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. V́ thế, Bồ Tát độ sanh là độ chính ḿnh, ta và người không hai mà! Trong việc độ sanh, sẽ mài giũa những tập khí vô minh của chính ḿnh. Do vậy, nếu Bồ Tát chẳng độ chúng sanh, quyết chẳng thể thành tựu chính ḿnh, đạo lư này rất hiển nhiên. Quư vị muốn mở mang trí huệ, nhất định là phải phát tâm giảng kinh. Nếu quư vị chẳng muốn phát tâm giảng kinh, nhất định là quư vị sẽ chẳng mở mang trí huệ được. V́ sao vậy? Dạy và học tăng trưởng lẫn nhau. Ai muốn được trí huệ, lên giảng đài sẽ nhanh chóng nhất; nhất là khi thính chúng nêu câu hỏi, lại càng có lợi ích cho quư vị. Thường là họ sẽ hỏi những chuyện mà cả đời quư vị trọn chẳng nghĩ tới, giống như khảo thí vậy, để xem quư vị có phải là thật sự có trí huệ để giải đáp, giải đáp rất viên măn hay chăng? Chẳng thể giải đáp, sẽ có sự cảnh tỉnh cao độ đối với chính ḿnh: “Ta vẫn c̣n có những điều chưa rơ, ta trở về phải chuẩn bị, phải cầu học”.

Câu cuối cùng: “Đương linh nhữ khởi quảng đại từ bi lực” (Sẽ làm cho ông phát được sức từ bi rộng lớn). Lời chú giải giảng rất hay:

 

(Sớ) Phát tâm chi tướng

() 相。

(Sớ) Tướng phát tâm.

 

Tâm Bồ Đề có h́nh tướng ra sao? H́nh tướng của tâm Bồ Đề là đại từ đại bi. Nói theo cách bây giờ, từ bi là quan tâm, yêu thương, che chở, chăm sóc, giúp đỡ. Gộp những ư nghĩa ấy lại, sẽ thành ư nghĩa của từ bi. Dùng cái tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, quan tâm vô điều kiện đối với chúng sanh, yêu thương, che chở hết thảy chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh, đấy là những hiện tượng, h́nh dạng phát xuất từ tâm Bồ Đề. Chúng ta thường nói là “đại từ, đại bi”. Nếu ai không có đại từ bi mà nói là “đă phát tâm Bồ Đề”, kẻ ấy là giả dối, không thật! Thật sự phát được cái tâm Bồ Đề, biểu hiện ra ngoài nhất định là đại từ đại bi, như vậy th́ mới có thể lợi ích hết thảy chúng sanh. Mười câu này chúng tôi giảng đến đây thôi!

      Tỳ-kheo Cát Tường Vân bảo Thiện Tài đồng tử: Ông thân cận thiện tri thức sẽ đạt được những công đức lợi ích thù thắng như thế, khuyên lơn Thiện Tài phải thân cận thiện tri thức. Đoạn kinh văn tiếp theo đây là đoạn lớn thứ sáu, trong khoa phán gọi là...

 

      (Sớ) Luyến đức lễ từ

      () 辭。

      (Sớ) Luyến mộ đức, lễ bái, từ tạ.

 

      Chúng ta hăy đọc kinh văn:

 

      (Kinh) Thời Thiện Tài đồng tử lễ Cát Tường Vân tỳ-kheo túc, nhiễu vô số táp, ân cần chiêm ngưỡng, luyến mộ nhi khứ.

      () 足,繞 匝,殷 仰,戀 去。

      (Kinh) Khi ấy, Thiện Tài đồng tử lễ dưới chân tỳ-kheo Cát Tường Vân, nhiễu quanh vô số ṿng, thiết tha chiêm ngưỡng, lưu luyến, kính mộ rồi đi.

 

      “Thời” là khi tỳ-kheo Cát Tường Vân đă dạy dỗ Thiện Tài xong, Thiện Tài đồng tử hết sức cảm kích thiện hữu, thực hiện sự lễ kính cao tột nhất. Sự kính lễ trọng vọng nhất là gieo năm vóc lễ sát đất, đem đỉnh đầu là phần tôn quư nhất của ta lễ dưới chân thiện hữu. Đấy gọi là “hành tối kính lễ” (thực hiện sự lễ quư cao tột nhất). Theo lễ tiết thông thường, nhiễu ba ṿng là cổ lễ, hiện thời nhiễu Phật đă không c̣n, đối với người khác càng không có, không thấy nữa. “Nhiễu quanh vô số ṿng” biểu hiện sự cảm kích trong tâm, cho thấy muốn thân cận thiện tri thức lưu luyến không nỡ rời, tỏ lộ ư nghĩa cảm ơn vô tận. Câu này là cảm ơn vô tận. “Ân cần chiêm ngưỡng”, Ân Cần là nói tới thái độ. “Chiêm ngưỡng luyến mộ rời đi”. Do vậy, theo Khoa Phán, đề mục phần này được phán định là “luyến đức lễ từ”, [Luyến là] ân đức thiện hữu dạy dỗ, lưu luyến không quên, Lễ là lễ bái cung kính tột bậc, Từ là từ tạ, thoái lui. Đây là nh́n từ mặt văn tự, chứ ư nghĩa bao hàm trong ấy rất sâu, chúng ta phải hiểu! Nếu không hiểu, sẽ coi việc này như giai thoại, coi như tiểu thuyết, quư vị sẽ chẳng đạt được lợi ích.

      “Lễ từ” có ư nghĩa là ǵ? Thiện hữu thanh tịnh, tất cả khai thị đối với pháp môn do vị ấy tu tập thật sự khiến cho chính ta được lợi ích, được hiểu rơ. Sau khi hiểu rơ, tôi vẫn là một câu Niệm Phật niệm cho đến tột cùng. Tôi hiểu pháp môn của Ngài, tôi thông đạt, điều ǵ cũng đều thông đạt, điều nào cũng minh bạch, nhưng tôi có tu hay không? Không tu, tôi vẫn cứ một câu A Di Đà Phật niệm đến tột cùng, đấy gọi là “lễ từ”. Chứ không phải là học xong một pháp môn nào bèn tu pháp môn đó; hiểu như vậy là sai, là hỏng mất rồi! Do vậy, quư vị thấy Thiện Tài tham học với năm mươi ba vị thiện tri thức, nhưng [vẫn là] một câu A Di Đà Phật niệm đến tột cùng. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, gặp được nhiều pháp môn như vậy, Ngài đều có thể tiếp xúc hết, đều hiểu rơ hết, nhưng chẳng tu pháp nào, nhưng Ngài đều thông đạt những pháp ấy, đều hiểu rơ những pháp ấy; do vậy, tâm Ngài cảm kích. Nếu Ngài không từ tạ, sẽ dừng lại để học hỏi, tu tập. Không học, không tu! Tôi thông đạt, hiểu rơ, nhưng không tu học pháp môn này của Ngài. Đấy là đă nêu ra một tấm gương tốt nhất cho người niệm Phật chúng ta nh́n vào.

      Do vậy, quư vị thật sự có công phu định lực, có huệ lực, th́ pháp môn nào quư vị cũng đều có thể tiếp xúc, đều có thể tùy hỷ, nhưng trọn chẳng tu học. Tôi vẫn niệm A Di Đà Phật của tôi, tôi vẫn nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ, như vậy là đúng. Nếu như quư vị tu Thiền th́ quư vị cứ thật thà tham Thiền, quư vị cũng có thể tham phỏng hết thảy các pháp môn khác, bất luận tham phỏng một pháp môn nào, quư vị vẫn cứ tham một câu thoại đầu đến tột cùng, trọn chẳng thay đổi. Đấy chính là ư nghĩa “luyến đức”. Từ ngữ “luyến đức” bao hàm những ư nghĩa này, nhằm bảo với chúng ta tu học thành tựu th́ cốt yếu là thâm nhập một môn. Quư vị có thể học rộng nghe nhiều, nhưng tu hành thành tựu th́ chỉ là thâm nhập một môn! Học rộng nghe nhiều, nhưng chúng ta phải luyến đức. Thiện tri thức chỉ dạy, giáo hóa chúng ta, chúng ta chẳng thể quên ân đức của Ngài, nhưng quyết định chẳng thể thay đổi sự tu học của chính ḿnh. Từ tạ, không ở lại chỗ ấy, đấy chính là ư nghĩa sâu xa của điều này, chúng ta nhất định phải hiểu rơ.

      Đối với phương diện lễ tiết, chúng ta phải đề xướng. Phật pháp t́m cầu hiện đại hóa và địa phương hóa, “ngũ thể đầu địa” (năm vóc gieo xuống đất) là cách quỳ lạy thuộc về thời cổ. Tôi sang Trung Quốc Đại Lục lần này, gặp được mấy vị hành lễ “tam quỵ, cửu khấu” (ba lần quỳ, chín lần khấu đầu) với tôi. Đấy chính là lễ tiết dành cho hoàng đế thuở trước, trong Phật môn chúng ta cũng không có thứ lễ tiết ba lần quỳ, chín lần khấu đầu. Ở Đại Lục, chúng tôi gặp một vị thực hiện lễ tiết ấy; như vậy là không được, đấy chẳng phải là lái xe lùi lại hay sao? Do vậy, ngày nay tại Trung Quốc, mọi người trông thấy pháp sư vẫn muốn đảnh lễ, vẫn muốn ba lạy, chư vị đồng tu nhất định phải biết điều này. Đảnh lễ ba lạy là lễ Phật, lễ người một lạy, không lễ ba lạy! Quư vị nhất định phải biết điều này. Tuy nói “đảnh lễ pháp sư tam bái”, nhưng Ngài nói một lạy th́ quư vị chỉ lễ một lạy; Ngài không nói, quư vị vẫn lễ một lạy. Phải hiểu đạo lư ấy, chẳng nói th́ vẫn cứ lễ một lạy. Chẳng phải là pháp sư không nói th́ cứ lạy ba lạy, không có đạo lư ấy. [Tuy nói ba lạy mà chỉ lễ một lạy], Ngài không trách móc quư vị, mà biết quư vị là người thông hiểu. Lễ Phật mới lạy ba lạy; lễ người, chỉ lạy một lạy.

      Nhưng trên thực tế, chúng ta là người trong cơi đời hiện đại, độ chúng sanh hiện đại, chúng ta lễ Phật ba lạy, xá người khác một cái là được rồi, không cần phải quỳ xuống lạy. V́ sao? Trên cả thế giới hiện thời, không có thứ lễ tiết ấy, chúng ta vẫn sử dụng lễ tiết ấy, rất nhiều người muốn học Phật trông thấy quư vị quỳ lạy, họ chẳng học Phật nữa: “Tôi không làm chuyện ấy được!” Nếu khi quư vị xá th́ quư vị sẽ lôi kéo được khá nhiều người đến học Phật, đặc biệt là người ngoại quốc. Bảo người ngoại quốc quỳ xuống đất dập đầu, họ không làm, họ quỳ xuống không đuợc, họ cảm thấy khó khăn quá. Do vậy, chúng ta độ người hiện tại, phải dùng lễ tiết hiện đại. Tâm cung kính vẫn giống hệt như vậy, nhưng trên mặt h́nh thức, nhất định phải hiện đại hóa th́ mới được, mới có thể hoằng dương Phật pháp trọn khắp thế giới, mới có thể lợi ích hết thảy chúng sanh. Do vậy, tôi mong mọi người từ nay trở đi, trông thấy pháp sư xá một cái, chẳng cần phải lạy nữa! Chúng ta lễ Phật ba lạy là kỷ niệm, cũng là một môn tu hành của chính ḿnh, hàng phục sự ngạo mạn của chính ḿnh. Đấy là dụng ư thật sự của ngũ thể đầu địa; nhưng nhất định phải quan tâm đến phương thức sinh hoạt của con người hiện đại. Chúng ta chẳng thể bảo người hiện đại vẫn hành lễ theo cổ nhân, đấy là sai lầm! Người hiện đại chẳng thể dùng cổ lễ, người hiện đại thường là khom ḿnh một cái, trong Phật pháp chúng ta là chắp tay xá, làm như vậy tốt lắm! Hy vọng mọi người hăy cùng nhau đề xướng, đều hành lễ bằng cách xá nhau, chẳng cần phải quỳ lạy. Trước khi văng sanh, Quán Trưởng có nói: “Chúng ta học Phật, phải nêu gương tốt cho người học Phật”. Chúng ta trông thấy người khác bèn xá chào là một tấm gương tốt, khiến cho Phật pháp được hiện đại hóa, đấy là một tấm gương tốt. A! Hôm nay chúng tôi đă giảng viên măn một chương rồi; lần sau chúng ta sẽ giảng chương tỳ-kheo Hải Vân. Đấy là Nhị Trụ Bồ Tát. Chúng ta hăy niệm Phật hồi hướng.

 

Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh

Hạnh Nguyện Phẩm

Cát Tường Vân Tỳ Kheo Chương hết

 

     

     

 

 

 



[1] Giấy Đạo Lâm (c̣n gọi là giấy Đạo Linh) do công ty Dowling chế tạo, nguyên liệu chủ yếu là bột gỗ, có hai loại nền giấy mờ và nền giấy có độ bóng, thích hợp cho lối in bằng phương pháp offset. In h́nh bằng loại giấy này sẽ cho h́nh ảnh rất sắc nét và đẹp.

[2] Đây là một lối in thường được gọi là coating printing, tách màu thành nhiều lớp, in chồng lên nhau bằng các trục cuốn các tấm nền lớn (thường gọi là substrate) đă tẩm hóa chất và màu thích hợp để tạo ra h́nh ảnh đẹp nhất, sắc sảo nhất.

[3] Giấy Tuyên là một loại giấy thoạt đầu sản xuất ở huyện Kinh, An Huy. Dần dần, các vùng phụ cận như Tuyên Thành, Thái B́nh v.v... đều sản xuất loại giấy này, cũng như do Kinh huyện thuộc quản hạt của Tuyên Châu, nên nó thường được biết đến với tên gọi là Tuyên Chỉ (giấy của vùng Tuyên). Thoạt đầu, giấy được làm bằng vỏ cây Thanh Đàn ḥa với bột một loại cỏ tên là Thủy Đạo. Qua các đời, nó được pha thêm những loại bột khác như gỗ dó, tre, lau v.v... theo các tỷ lệ khác nhau để tạo thành những loại giấy Tuyên khác nhau. Do giấy dai, bền, không ố vàng, không nứt gịn khi để lâu nên rất được chuộng dùng trong tranh vẽ hay các bức thiếp, bức b́nh v.v... trong thư pháp.

[4] Song giá: Song giá theo nghĩa gốc có nghĩa là ngăn cấm, ngăn trở cả hai phía. Đây là một thuật ngữ thường dùng trong các sách vở diễn giải Nhân Minh Luận nhằm luận định về biện chứng pháp trong kinh Phật. Song giá là ngăn dứt cả Có lẫn Không để hiển thị tánh Không Trung Đạo. Do kiến văn hủ lậu, chúng tôi không t́m được chữ tương ứng để dịch cho găy gọn, đành phải để nguyên thuật ngữ này không dịch. Chẳng hạn ở đây, nếu nói “phi tâm, phi Phật” là nhằm đánh tan tập quán suy luận nhị nguyên đối đăi của chúng ta.

[5] B́nh () là đơn vị đo diện tích dựa theo hệ thống đo lường của Nhật Bản, chủ yếu dùng để đo lường diện tích nhà cửa hoặc đất đai trong kiến trúc. Do Đài Loan và Đại Hàn từng là thuộc địa của Nhật một thời gian nên đơn vị này cũng rất phổ biến. Tuy chính quyền Đài Loan đă công bố pháp lệnh sử dụng mét vuông làm đơn vị đo diện tích từ năm 1945, nhưng tới nay, dân chúng vẫn quen dùng B́nh để đo diện tích. Tại Đài Loan, một B́nh tương đương với 3,3 mét vuông, nhỏ hơn B́nh của Nhật một chút.