Tứ Thập Hoa
Nghiêm Kinh
Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm
Cát Tường Vân Tỳ
Kheo Chương
四十華嚴經
普賢行品
吉詳雲比丘章
Phần 6
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Địa điểm: Cảnh Mỹ
Hoa Tạng Đồ Thư Quán, Đài Loan, năm 1993
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Minh Tiến và Huệ Trang
Tập thứ mười một (
Xin mở
quyển kinh, trang thứ hai mươi bảy, hàng thứ
nhất, đọc từ bốn chữ cuối trong hàng
thứ nhất.
(Sớ)
Thập cửu, nhị thập tức nghiệp báo Phật,
danh tướng hảo trang nghiêm thân. Tiền môn ứng hiện
nghiệp báo, hậu môn vi chân nghiệp báo. Tọa Hoa Tạng
sát, tức tướng hải trang nghiêm. Nhược chân,
nhược ứng, giai linh vật tín, vị thâm tín kiến.
(疏)十 九 二 十 即 業 報 佛,名 相 好 莊 嚴 身。前 門 應 現 業 報。後 門 為 真 業 報。坐 華 藏 剎,即 相 海 莊 嚴。若 真 若應,皆 令 物 信,為 深 信 見。
(Sớ)
Môn mười chín và môn
hai mươi chính là nghiệp báo Phật, gọi là tướng
hảo trang nghiêm thân. Môn trước là ứng hiện nghiệp
báo, môn sau là chân nghiệp báo. Ngồi trong cơi Hoa Tạng tức
là tướng hải trang nghiêm. Dù chân thân hay ứng thân, đều
làm cho chúng sanh tin tưởng, chính là sự thấy Phật
bằng ḷng tin sâu xa.
Đoạn
khai thị này của đại sư Thanh Lương [tương
ứng với] môn thứ mười chín trong kinh văn, tức
là “trụ nhất thiết nghiệp
niệm Phật môn” (môn Niệm Phật trụ trong hết
thảy nghiệp). Tác dụng của nó là “năng tùy pháp giới nhất thiết chúng sanh sở
tu hạnh nghiệp, vị hiện kỳ thân linh giác ngộ
cố” (có thể thuận theo hạnh nghiệp đă tu
của hết thảy chúng sanh trong pháp giới mà hiện
thân, khiến cho họ giác ngộ). Môn sau là “trụ nhất thiết thần biến niệm Phật
môn, kiến nhất thiết Phật trụ ư quảng
đại hương thủy hải trung, tọa liên hoa
đài, phổ hiện thần biến măn thập
phương cố” (môn Niệm Phật trụ trong hết
thảy thần biến, thấy hết thảy Phật ngồi
trên đài hoa sen trong biển nước thơm rộng lớn,
hiện khắp các thứ thần biến trọn khắp
mười phương). Đoạn này giải thích hai
môn, hai môn này đều là Nghiệp Báo Phật. Môn trước,
tức môn thứ mười chín, rất dễ hiểu!
Đây là “ứng hiện nghiệp
báo”, chúng ta thường gọi Ứng Hóa Thân. Môn sau là
môn thứ hai mươi, “chân
nghiệp báo”. Nói thật ra, “chân
nghiệp báo” là hiện Báo Thân. Báo Thân có Tự Thọ Dụng
và Tha Thọ Dụng. Trong kinh điển Tịnh Tông, sanh về
cơi Thật Báo mới thấy Báo Thân của A Di Đà Phật.
Nếu sanh về cơi Đồng Cư hay cơi Phương Tiện
Hữu Dư, đều là thấy Ứng Hóa Thân của A
Di Đà Phật. Thân nghiệp báo của Phật chia thành
hai loại lớn.
Cảnh
giới trong loại thứ nhất sâu rộng vô hạn,
nghiệp chẳng thể nghĩ bàn. Kinh dạy chúng ta về
“trụ nhất thiết nghiệp
Niệm Phật môn”; đối với “nhất thiết nghiệp” ở đây, chúng ta
đă thâu hẹp phạm vi. Trong chín pháp giới, chúng ta chỉ
nói tới nhân pháp giới. Trong nhân pháp giới, chỉ nói tới
người trên quả địa cầu của chúng ta
trong hiện thời, không cần nói tới những thế
giới khác, quá nhiều, nói chẳng hết! Chúng ta nói tới
người trên địa cầu! Nếu rút nhỏ
hơn nữa phạm vi trên địa cầu, chúng ta nói tới
người Đài Loan, mọi người sẽ càng thấy
thân thiết dễ lănh hội hơn. Đài Loan là một
ḥn đảo nhỏ, hai ngàn một trăm vạn người,
“trụ trong hết thảy
nghiệp”, mỗi một cá nhân tạo nghiệp đều
khác nhau. Niệm Phật trụ trong nghiệp là như thế
nào? Tạo tác đủ mọi hạnh nghiệp. Trong phần
trước, tôi đă nói rồi, tư tưởng, ư niệm,
ngôn ngữ, tạo tác của chúng ta đều là nghiệp.
Chúng ta không cần phải luận định nghiệp ấy
là thiện, là ác hay là vô kư (không thiện, không ác), không cần
phải bàn luận tới. Nếu như có thể ở
trong hết thảy nghiệp, trong hết thảy tạo
tác mà giác ngộ, đấy chính là pháp môn này, tức là “trụ nhất thiết nghiệp
niệm Phật môn”. Có t́nh h́nh ấy hay chăng? Có chứ!
Chúng ta thấy trong Phật môn, qua bút kư, truyện kư của
các vị tổ sư đại đức thời xưa
hoặc từ sơn chí của các tự viện, chúng ta
thường thấy được điều ấy.
Do đây biết rằng:
Pháp Niệm Phật trong Hoa Nghiêm rộng lớn vô biên. Chẳng
nhất định là lúc nào, quư vị ở bất cứ
nơi đâu, gặp bất cứ chuyện ǵ, quư vị
giác ngộ, thường gọi là “khai ngộ”. Đương nhiên đây không phải
là cảnh giới mỗi cá nhân đều có được.
V́ sao vậy? Bởi lẽ, nghiệp chướng của
hết thảy chúng sanh có sâu cạn, dầy, mỏng khác
nhau, thiện căn của mỗi cá nhân khác nhau. Nói chung là
phải có thiện căn, phước đức sâu dầy.
“Hết thảy nghiệp”
là duyên, thiện căn là nhân. Nhân gặp duyên sẽ khởi
tác dụng. Tác dụng ấy nếu nhỏ th́ là khai ngộ,
giác ngộ; nếu lớn, sẽ là chứng quả, tu hành
chứng quả. “Trụ trong hết
thảy nghiệp” là duyên. Điều này cho chúng ta thấy
rơ pháp môn Niệm Phật rộng lớn vô biên! Niệm là
cái tâm trong một niệm hiện tiền, Phật là giác,
[như vậy Niệm Phật] là “tâm giác ngộ ngay trong một
niệm”. Giống như khi ngủ nằm mộng, đột
nhiên từ trong mộng tỉnh giấc, đấy gọi
là “niệm Phật”. Quư vị
giác ngộ ngay trong cái tâm này. Giúp cho chúng ta giác ngộ, bất
luận là đối với hoàn cảnh nhân sự hay là
hoàn cảnh vật chất, chúng ta đều cần phải
biết: Đều là do chư Phật, Bồ Tát đại
bi hộ niệm. Chư Phật, Bồ Tát không đại
bi hộ niệm, duyên ấy sẽ chẳng thể chín muồi
vừa khéo như thế được,
chẳng thể vừa khéo như vậy được! Quư
vị vừa gặp [duyên ấy], liền khai ngộ,
đều là do chư Phật, Bồ Tát biến hiện.
Chư Phật, Bồ Tát có mặt ở khắp nơi.
Trong phần trước,
tôi đă kể với quư vị một câu chuyện: Một
đồng tu của chúng ta tới tổng lănh sự quán Mỹ
tại Đài Loan xin visa sang Mỹ. Ông ta có chuyện gấp
phải qua đấy để lo liệu đám tang. Bao
nhiêu lần xin visa đều không được. Ḷng hiếu
thảo tha thiết muốn lo liệu tang ma, tới nơi
liền được cấp giấy ngay, hết sức
thuận lợi. V́ sao vậy? Do Phật, Bồ Tát gia tŕ,
nên viên chức di trú đối xử với ông ta tốt
như thế, đối xử thân thiết với ông ta
như thế, ông ta hết sức cảm kích. Lần sau,
quay trở lại chào hỏi người ấy, người
ấy chẳng đoái hoài ǵ tới ông ta, thật sự là
không nhận ra. Do vậy, quư vị phải biết: Phật,
Bồ Tát gia tŕ trong sát-na ông ta đi lo chuyện ấy. Khi
sát-na ấy đă qua rồi, Phật, Bồ Tát đă rời
đi, người ta là phàm phu, người ta sẽ không nhận
biết quư vị nữa! Người, sự, vật
được chư Phật, Bồ Tát gia tŕ, hộ niệm,
[chư Phật, Bồ Tát] dùng phương tiện thiện
xảo ấy, khiến cho duyên của quư vị chín muồi,
quư vị sẽ giác ngộ ngay nơi ấy. V́ thế, Phật,
Bồ Tát không đâu chẳng hiện thân.
“Năng tùy pháp giới nhất thiết chúng sanh sở
tu hạnh nghiệp” (Có thể
thuận theo những hạnh nghiệp đă tu của hết
thảy chúng sanh), “nhất thiết
chúng sanh sở tu hạnh nghiệp” như tôi vừa mới
nói có thiện, có ác, có vô kư, hết sức phức tạp! Thế
nhưng, Phật, Bồ Tát gia tŕ ngấm ngầm hay rơ ràng,
âm thầm gia tŕ quư vị nhưng chính quư vị chẳng hay
biết, quư vị không cảm nhận được.
Nhưng nếu được Phật gia tŕ, quư vị sẽ
giác ngộ, hiểu rơ, hoặc quư vị lo liệu công chuyện
rất thuận lợi, Phật gia tŕ đấy! “Hiển gia” (gia tŕ rơ ràng) th́
quư vị biết, quư vị hiểu rất rơ Phật, Bồ
Tát bảo vệ, che chở quư vị, Phật, Bồ Tát
giúp đỡ quư vị. Do vậy, gia tŕ có hai loại lớn
là âm thầm và rơ rệt, mục đích đều là nhằm
làm cho chúng sanh giác ngộ. Cho nên chuyện này thuộc về
nghiệp báo.
Câu kế tiếp là câu
thứ hai mươi, “trụ
nhất thiết thần biến niệm Phật môn”
(môn Niệm Phật trụ vào trong hết thảy thần
biến). Trong lời chú giải, đại sư Thanh
Lương đă gọi môn này là “chân nghiệp báo”. Chữ “nghiệp” trong “chân
nghiệp báo” ở đây không giống như chữ “nghiệp” trong từ ngữ
“ứng hiện nghiệp báo”
đă nói trong phần trên. Ở đây là đức Tỳ
Lô Giá Na Như Lai trong thế giới Hoa Tạng, [nghiệp
ấy chính là] “hết thảy
thần biến” tỏ lộ, là y báo và chánh báo trang
nghiêm trong thế giới Hoa Tạng. Do vậy, luận về
nghiệp dụng th́ “thấy hết
thảy Phật ngồi trên đài hoa sen trong biển nước
thơm rộng lớn”. Đấy là Báo Thân, không phải
là thân phổ biến. Báo Thân là thân do trí huệ tích tụ.
Hoa Tạng và Tây Phương Cực Lạc thế giới
là một, chẳng hai. Tỳ Lô Giá Na Phật và A Di Đà Phật
cũng là một, không hai. Đấy là nghiệp báo chân thật,
ứng hiện nghiệp báo do chân thật nghiệp báo biến
hiện ra. Chúng ta gọi đó là “ngàn trăm ức hóa thân” có thể hiện trong tận
hư không, trọn pháp giới. Do vậy, “phổ hiện thần biến măn thập
phương cố” (hiện thần biến trọn khắp
cả mười phương).
Tận hư không, trọn
pháp giới, không đâu chẳng hiện thân, không lúc nào chẳng
hiện thân. Phật thân, sanh thân, “sanh” là chúng sanh, hết thảy chúng sanh trong mười
pháp giới, thân Phật và thân chúng sanh cũng dung hợp lẫn
nhau, chẳng thể nghĩ bàn! Cổ đức dùng tỷ
dụ để diễn tả ư nghĩa này cho mọi
người dễ hiểu hơn một chút. Ví như ánh
sáng đèn trong ngôi giảng đường này của chúng
ta. Chúng ta nói trong giảng đường có ánh sáng của
mấy chục ngọn đèn, trước bàn Phật vẫn
c̣n thắp nến, c̣n có ánh sáng của nến, hết thảy
chư Phật Như Lai, chúng sanh trong chín pháp giới đều
giống như ánh sáng. Quư vị thấy ánh sáng của các
ngọn đèn này đều ḥa lẫn với nhau. Quư vị
có biết đây là ánh sáng của nến, kia là ánh sáng của
đèn hay không? Mỗi một ánh sáng chẳng cần biết
là lớn hay nhỏ, đều trọn khắp giảng
đường. Nói thật ra, tâm của chúng sanh, trí của
chúng sanh, nghiệp của chúng sanh và tâm trí nghiệp của
chư Phật, Bồ Tát cũng ḥa lẫn với nhau. Trong
tâm chúng sanh có Phật, trong tâm Phật có chúng sanh. Đấy
là dung nhiếp lẫn nhau, thật sự chẳng thể
nghĩ bàn. Đấy là điều chúng tôi thường gọi
là “chân tướng của vũ trụ và nhân sinh”. Chúng sanh
mê, nhưng trọn chẳng v́ mê mà không có chuyện này, dẫu
mê vẫn dung hợp! Chư Phật, Bồ Tát giác ngộ,
giác và mê là hai chuyện, nhưng trên thực tế, ḥa hợp
thành một. Do lẽ này, Phật mới có thể độ
chúng sanh, chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát mới có ứng.
Nếu như không dung hợp th́ cảm ứng từ
đâu mà có?
Chúng ta hiểu rơ đạo
lư này, liễu giải chân tướng sự thật này, từ
chỗ này, kiến lập tín tâm niệm Phật, tín tâm ấy
sẽ thù thắng. Hiểu rơ chân tướng sự thật,
từ chân tướng kiến lập nguyện tâm, quyết
định cầu sanh Tịnh Độ, chẳng nghi hoặc
mảy may, quyết định được văng sanh, lẽ
đâu chẳng sanh? Người thế gian niệm Phật,
niệm suốt một đời, trong đời này niệm
Phật th́ chúng ta thấy, chứ trong đời quá khứ,
đời đời kiếp kiếp,
bao kiếp niệm Phật chúng ta không thấy,
nhưng v́ sao không thể văng sanh? Do không liễu giải
chân tướng sự thật này. Hoặc đă từng
đọc tới, từng nghe nói tới, nhưng chẳng
thể chấp nhận, chẳng thể tin tưởng sâu
đậm, nên bỏ lỡ cơ hội văng sanh ấy. Do
nhân duyên hy hữu trong đời này, chúng ta gặp
được kinh điển viên măn này, pháp môn thù thắng
khôn sánh này, nếu có thể kiến lập tín tâm chân thật,
nguyện tâm khẩn thiết tại nơi đây, sẽ
thành tựu trong một đời này, chẳng đến
nỗi lại bỏ lỡ!
Đức Thế Tôn
nói kinh Hoa Nghiêm, hết thảy chư Phật trong hết
thảy thời, hết thảy chỗ, không một vị
nào chẳng nói Hoa Nghiêm. Lời khai thị của đại
sư Thanh Lương về kinh văn luôn luôn rơ rệt,
rành rẽ. Chư Phật Như Lai thuyết kinh nhằm mục
đích mong giúp cho chúng ta được thành tựu ngay
trong một đời. Chớ nên bỏ lỡ cơ hội
trong đời này! Làm sao mới có thể nắm vững
cơ hội ấy, quyết định thành công? Kinh luận
đâu đâu cũng cảnh tỉnh chúng ta, quư vị phải
thật sự nh́n thấu suốt, buông xuống th́ sẽ
không c̣n chướng ngại. Nói tới thấy thấu suốt,
liễu giải chân tướng sự thậ, quư vị
đă thấy thấu suốt, buông xuống, hết thảy
hạnh nghiệp thế gian hay xuất thế gian đều
không làm nữa, quư vị thật sự buông xuống. Từ
nay trở đi sẽ làm ǵ? Chuyên tu Tịnh nghiệp. Ở
đây, tỳ-kheo Cát Tường Vân biểu diễn rất
hay. “Chuyên niệm Di Đà”.
Đạo tràng là ǵ? Trong tâm có A Di Đà Phật chính là
đạo tràng.
H́nh tượng A Di
Đà Phật mà Quán Trưởng được thấy
khi văng sanh chính là bức tượng được thờ
ở nơi đây. Hiện thời, chúng tôi đặc biệt
cho in ra một vạn bản h́nh tượng ấy. Tám
ngàn bản in bằng giấy Đạo Lâm[1],
đại khái là in theo lối đồng bản chỉ[2],
hai ngàn bản kia in trên giấy Tuyên[3].
In trên giấy Tuyên để đại chúng có thể bồi
thành tranh cuốn, quư vị sẽ thuận tiện mang theo.
In theo lối đồng bản chỉ th́ không dễ ǵ bồi
được, phải lồng trong khung kiếng, thờ
trong nhà th́ được, chứ mang theo không thuận tiện
lắm, cho nên đặc biệt in hai ngàn bản bằng
giấy Tuyên. Chỉ cần trong tâm có Phật, chỗ nào
cũng là đạo tràng, luôn luôn là đạo tràng. Quư vị
thật sự giác ngộ, thật sự hiểu rơ ràng chuyện
ǵ là khẩn yếu? Niệm Phật khẩn yếu! Khi niệm
Phật, thân, tâm, thế giới, hết thảy buông xuống,
chuyện ǵ cũng chẳng bận tâm tới, chuyện ǵ
cũng không màng. Niệm một tiếng đồng hồ
là tương ứng một tiếng đồng hồ, niệm
hai tiếng đồng hồ sẽ tương ứng hai
tiếng đồng hồ. Đấy là điều quan trọng.
Do vậy,
chúng ta lập ra Niệm Phật Đường trong đạo
tràng, Niệm Phật Đường mới là đạo
tràng thật sự. Thật sự muốn liễu sanh tử,
muốn thoát tam giới, muốn thành tựu trong một
đời này, chỉ có một phương pháp duy nhất
là thật thà niệm Phật. V́ sao quư vị không thật
thà niệm? Nói tới thật thà th́ kinh Hoa Nghiêm đă giảng
về đạo lư Niệm Phật, nhưng quư vị vẫn
chưa hiểu rơ. Nếu thật sự hiểu rơ, sẽ
tự nhiên thật thà niệm, cần ǵ phải đợi
người khác khuyên nhủ, khích lệ nữa ư?
Bốn
mươi chín ngày chớp mắt đă qua, ngày mai là ngày Hai
Mươi Ba, là chung thất của Quán Trưởng, tṛn bốn
mươi chín ngày. Sau bốn mươi chín ngày, đạo
tràng này của chúng ta vĩnh viễn niệm Phật. Quư vị
ở nhà niệm Phật cũng giống hệt như vậy.
Nếu hoàn cảnh trong nhà không thuận tiện lắm, th́
quư vị đến đây niệm. Cũng có những gia
đ́nh đông người, có những kẻ không tin Phật,
quư vị niệm Phật, họ trông thấy bực ḿnh,
quư vị cũng chẳng cần phải chuốc lấy
chuyện phiền toái trong nhà, quư vị có thể đến
đây niệm Phật. Trong vô lượng vô biên pháp môn,
pháp môn này thù thắng nhất.
Đấy
là “tướng hải trang
nghiêm”. Tiếp đó, [lời chú giải] nhắc tới
“nhược chân, nhược ứng”
(dù chân hay ứng), chân báo thân hay ứng hiện nghiệp
báo thân “giai linh vật tín, vi
thâm tín kiến” (đều khiến cho chúng sanh tin tưởng,
là sự thấy biết Phật do ḷng tin sâu đậm). Mọi
thứ thị hiện đều nhằm giúp cho hết thảy
chúng sanh phát khởi tín tâm và nguyện hạnh, dụng ư là ở
chỗ này. Như vậy đây là nghiệp báo, cái
được biến hiện [bởi nghiệp báo ấy]
là “thân tướng hải trang
nghiêm”.
(Sớ)
Mạt hậu nhất môn.
(疏)末 後
一 門。
(Sớ)
Môn cuối cùng.
Đây
chính là môn thứ hai mươi mốt.
(Sớ)
Tổng cai thập thân. Cố viết thân vân đẳng
hư không giới, tắc thập Phật thập thân giai
đẳng hư không, tịnh hợp pháp tánh, vi trang nghiêm
pháp giới hư không giới dă.
(疏)總 該 十 身。故曰 身 雲 等 虛 空 界。則 十 佛 十 身皆等 虛 空,並 合 法 性,為 莊 嚴 法 界 虛 空 界 也。
(Sớ)
Bao gồm trọn cả
mười thân. Cho nên nói là thân nhiều như mây bằng với
cơi hư không, tức là mười thân của mười
loại Phật đều bằng với hư không và xứng
hợp pháp tánh, trang nghiêm pháp giới hư không giới.
Chúng ta thấy
câu kinh văn cuối cùng là “trụ
đẳng hư không giới niệm Phật môn, quán sát
Như Lai sở hiện thân vân trang nghiêm pháp giới hư
không giới cố” (Môn Niệm Phật trụ trong cảnh
giới rộng lớn như hư không giới, quán sát những
thân do Như Lai hiện nhiều như mây trang nghiêm pháp giới
hư không giới). Câu này là tổng kết, hai mươi
câu trước, cứ mỗi hai câu là nói về một chuyện,
tức là nói tới “thập Phật,
thập thân”. Kinh Hoa Nghiêm luôn dùng chữ “thập” để biểu thị sự đại
viên măn, mười loại Phật, mười loại
thân. Câu cuối cùng là tổng kết. Do vậy, tổng kết
là “trụ đẳng hư
không giới Niệm Phật môn”. Cách trụ ra sao? Một
niệm chẳng sanh là “trụ”. Hễ dấy lên một niệm,
quư vị không có cách ǵ trụ được. V́ sao vậy?
Dấy lên một niệm, sẽ chẳng thể giống
như hư không, trọn khắp pháp giới được,
chẳng thể nào! Một niệm chẳng sanh, tâm của
quư vị và hư không pháp giới b́nh đẳng. Lời
này nói ra dễ lắm, làm chẳng dễ đâu! V́ sao vậy?
Quư vị thật sự đạt được “một
niệm chẳng sanh” th́ quư vị đă thành Phật rồi,
chẳng c̣n là phàm phu nữa! Phàm phu và Phật khác biệt ở
chỗ Phật không có niệm, phàm phu có ư niệm. Quư vị
thấy ư niệm của chúng ta cứ một niệm này diệt
th́ một niệm khác liền sanh, ư niệm sanh diệt
không ngừng. Đức Phật gọi sự sanh diệt
không ngừng ấy là vọng tâm, vọng niệm! Chân tâm
là bất sanh bất diệt. Nói một cách khác, chân tâm không
có hiện tượng hư vọng ấy, hiện tượng
ư niệm sanh diệt cũng không có, đấy gọi là “chân tâm thường trụ”. Chân
tâm thường trụ hiện tiền sẽ là “trụ đẳng hư không giới
Niệm Phật môn”.
Do đây, biết rằng: Một câu này
khẳng định cảnh giới của bậc Sơ
Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo và bậc Sơ Địa Bồ
Tát trong Biệt Giáo là đoạn được Kiến
Tư phiền năo, đoạn được Trần Sa phiền
năo, vô minh cũng phá được một phẩm th́ nhập
vào cảnh giới ấy. Nay chúng ta đều chưa làm
được! Đều làm không được mà niệm
kinh Hoa Nghiêm, há chẳng phải là nói suông ngoài miệng
ư? Thích Ca Mâu Ni Phật giảng cho chúng ta đại pháp
này, chẳng có mảy may tác dụng nào cho chúng ta, há chẳng
phải là giỡn chơi với chúng ta ư? Đức Phật
tuyệt đối không nói đùa, nghĩa là đức Phật
đối với bất cứ ai, đều tuyệt
đối không nói giỡn, câu nào của Phật cũng
đều là chân thật. Tuy nhiên, luận định trên mặt
lư luận, luận trên mặt phương pháp th́ quả thật
chúng ta không làm được, nghiệp chướng tập
khí rất sâu nặng, nhưng sau đó th́ sao? Trong phần
sau, chúng ta sẽ thấy đức Phật có phương
pháp khiến cho chúng ta nhập cảnh giới ấy, đức
Phật chẳng xử tệ với chúng ta. Đức Phật
dùng phương pháp ǵ? Mười đại nguyện
vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về
Cực Lạc, ư nghĩa là như thế này: Quư vị chỉ
cần chịu tu mười đại nguyện
vương th́ quư vị sẽ viên măn những điều
đă nói ở đây, quư vị sẽ khế nhập cảnh
giới của hai mươi mốt môn Niệm Phật.
Kinh này cho tới phần sau mới được gọi
là đại viên măn!
Nếu mọi người đọc
chú giải của cổ nhân th́ chú giải của ngài Thanh
Lương không có vấn đề ǵ. Chứ trong bản
chú giải của Lư Trưởng Giả, hễ nhắc tới
A Di Đà Phật, Ngài liền phản đối, Ngài nói niệm
A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ là Quyền,
chẳng phải là Thật. Đối với những lời
lẽ ấy của Lư Trưởng Giả, đại
sư Thanh Lương cũng có nhận định,
cũng giảng rất rơ ràng v́ sao Lư Trưởng Giả
nói như vậy? Lư Trưởng Giả không đọc
toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, chẳng biết trong phần sau có
mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc, chẳng biết được điều
này, Ngài chưa từng đọc tới đó. Lư Trưởng
Giả lớn tuổi hơn đại sư Thanh
Lương, lớn hơn rất nhiều. Bản kinh Ngài
đọc là Lục Thập Hoa Nghiêm, chứ Ngài chưa
được đọc Bát Thập Hoa Nghiêm,
đương nhiên là chưa đọc Tứ Thập Hoa
Nghiêm. Ngài Thanh Lương sanh muộn hơn, khi Bát Thập
và Tứ Thập được phiên dịch Ngài đều
tham gia, Ngài thấy phần sau của kinh văn, c̣n Lư
Trưởng Giả chưa được thấy. Do vậy,
Lư Trưởng Giả mới hiểu lầm đôi chút.
Tuy có điều hiểu lầm ấy, nhưng toàn bộ
kiến giải về kinh Hoa Nghiêm của ngài không bị
chướng ngại, đích xác là trí huệ cao độ,
là một vị đại đức cao tuyệt.
Đến phần cuối cùng là
chương Phổ Hiền Bồ Tát, đức Phật mới
dạy phương pháp này cho chúng ta. Đây là chuyện
chúng ta có thể làm được. Vấn đề là quư
vị có chịu làm hay không? Mấu chốt là ở chỗ
đó. Quư vị chịu hay không chịu tu “lễ kính chư Phật”? Quư vị có chịu làm
hay không? Quư vị chịu làm, sẽ nhập cảnh giới
Hoa Nghiêm. Lễ kính chư Phật là cung kính đối với
hết thảy, chẳng thể nói là ta coi trọng người
này th́ cung kính, c̣n người kia ta thật sự coi thường,
cớ sao ta phải cung kính hắn? Nếu vậy là quư vị
chẳng tu Hoa Nghiêm. “T́nh và vô
t́nh đều cùng viên măn Chủng Trí”. Điều trọng
yếu tột bậc trong hạnh Phổ Hiền là dùng cái
tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm từ bi, quyết
định chẳng có phân biệt, chấp trước. Quư
vị có phân biệt th́ không b́nh đẳng, quư vị có mảy
may chấp trước th́ tâm quư vị chẳng thanh tịnh,
đă bị ô nhiễm. Do vậy, cung kính người khác
là xứng tánh, là Tánh Đức viên măn được hiển
lộ, quư vị đă tương ứng với kinh Hoa
Nghiêm.
V́ vậy, hai mươi mốt môn Niệm
Phật được nói tới ở đây đều
tương ứng, chẳng cho phép quư vị khởi tâm
động niệm, [mà phải] chân thành, cung kính đối
với hết thảy mọi người, hết thảy
sự, hết thảy vật. Cung kính đối với sự
là tích cực nhận trách nhiệm, phải làm việc cho
viên măn, làm tới mức tận thiện, tận mỹ.
Cung kính đối với vật là phải chân thành yêu
thương, che chở, trong “vật”
có động vật, có thực vật, có khoáng vật,
đều phải dùng ḷng chân thành để đối
đăi. Bàn, ghế, đồ đạc là vật, chúng ta
trông thấy chúng, nhất định phải sắp xếp
cho ngay ngắn, lau chùi sạch sẽ, đấy là cung kính
đối với chúng, chứ không phải là bảo rằng
tôi trông thấy bàn ghế cũng lễ ba lạy, nhiễu
quanh ba ṿng. Nếu làm vậy, th́ quư vị đă lầm mất
rồi, đâu có đạo lư ấy! Do vậy, sự cung
kính trong tâm biểu hiện ra thái độ bên ngoài khác hẳn,
đối với người, đối với sự,
đối với vật đều khác nhau!
Chúng ta trông thấy Phật, theo lễ tiết
th́ chúng ta đều đảnh lễ ba lạy, nhiễu
theo chiều bên phải ba ṿng. Đấy là tu kính, nhắc
nhở chính chúng ta phải dùng cái tâm cung kính, phải dùng cái
tâm chân thành, đem những tâm ấy ứng dụng vào cuộc
sống, ứng dụng vào công việc, ứng dụng
trong xử sự đăi người tiếp vật, làm
như thế là đúng. Chứ không phải là bảo quư vị
từ sáng đến tối lễ bái trước tượng
Phật, một ngày lễ ba ngàn lạy, lễ một vạn
lạy cũng vô dụng, có dùng làm ǵ được
đâu? Hăy đem tấm ḷng chân thành cung kính ấy ứng dụng
vào cuộc sống, đồng thời phải biết: Giảng
giải, t́m cầu Phật pháp phải khế lư, khế
cơ. Lư là ǵ? Lư là pháp tánh. Pháp tánh b́nh đẳng, pháp tánh
thanh tịnh, đấy là đạo lư. Tựa đề
kinh Vô Lượng Thọ đă nêu rất hay! “Thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác”, đấy là Lư. Niệm niệm đều phải
tương ứng với “thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác”, đó gọi là Khế Lư. Hết thảy những kinh
giáo do chư Phật Như Lai đă dạy, nói chung chẳng
ngoài “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Toàn bộ đều
được bao gồm trong những điều này. Ba
câu ấy chính là Tam Học, mọi người hăy thường
niệm, sẽ hiểu [thanh tịnh, b́nh đẳng, giác]
là Tam Học Giới - Định - Huệ, là Tam Bảo Phật
- Pháp – Tăng. Đấy là Lư! Thanh tịnh là Giới Học,
b́nh đẳng là Định Học, giác là Huệ Học,
Tam Học Giới Định Huệ. Thanh tịnh là
Tăng Bảo, b́nh đẳng là Pháp Bảo, giác là Phật
Bảo, Tam Bảo đấy!
Hết thảy thời, hết thảy
xứ, các thứ hạnh nghiệp đă tạo, tâm quư vị
luôn thanh tịnh, b́nh đẳng, giác,
đều rất tương ứng với những
điều này, th́ là Khế Lư. Sau khi Khế Lư, c̣n phải
biết Khế Cơ. Cơ (機) chính là thời tiết nhân duyên. Do vậy,
rất nhiều vị đồng tu học Phật
chưa giác ngộ, chấp chặt những quy củ
đă trở thành nề nếp, chấp chặt những
phương pháp đă được nói trong các bản chú
giải của cổ nhân, quư vị phải biết những
phương pháp nào không thích hợp với hiện thời.
Trong đầu óc con người hiện đại có ǵ? Tại
Trung Quốc, tại nước ngoài, hiện thời truyền
thông phát triển, giao thông nhanh chóng, mỗi một người
đều có thể ra ngoại quốc chơi. Quư vị
đi du lịch, có chú ư thấy hết thảy người,
sự, vật mà quư vị tiếp xúc hay không? Họ
nghĩ ǵ? Bọn họ nói điều ǵ? Bọn họ làm
chuyện ǵ? Chẳng thể không lưu ư! Nếu quư vị
lưu ư, quư vị sẽ nhận thấy con người hiện
thời bị hại bởi bệnh ǵ? Phật pháp là thuốc,
chúng ta dùng món thuốc ấy để cứu họ.
Thưa cùng quư vị, con người hiện đại mắc
bệnh chẳng giống cổ nhân, chẳng giống
người sống trong ba bốn chục năm trước.
Ba bốn chục năm trước, những người
già như chúng tôi có cách nh́n, cách nghĩ về nhân sanh vũ
trụ khác hẳn những người trẻ tuổi
trong hiện thời.
Nói cách
khác, Phật, Bồ Tát muốn thuyết pháp cho chúng ta,
đối với người sống trong ba chục
năm trước, sẽ thuyết pháp theo một kiểu
khác, đối với người hiện thời, lại
thuyết pháp theo một kiểu khác, khác hẳn nhau! Cùng là
một bộ kinh, nhưng giảng theo những cách khác
nhau, gọi là “ứng cơ
thuyết pháp” th́ mới có thể lợi ích chúng sanh. Nếu
quư vị muốn kêu gọi con người hiện thời
hăy khôi phục lễ giáo cũ, đạo đức
cũ, quư vị có làm được hay không? Chư Phật,
Bồ Tát, thần tiên có đến cũng đều làm
không được! Vậy th́ làm sao? Quư vị phải hiểu
rơ t́nh h́nh hiện thời, dựa theo t́nh thế để
làm lợi cho đạo. Quư vị tới khuyên dụ,
hướng dẫn người ta, người ta sẽ tiếp
nhận, vui thích. Con người hiện thời đầu
óc đầy ắp ư tưởng tham tiền, quư vị bảo do kinh Hoa Nghiêm sẽ kiếm
được nhiều tiền, họ sẽ đến
nghe. Quư vị nói: “Anh chớ nên mang ḷng tham. Có ḷng tham,
tương lai sẽ biến thành ngạ quỷ”, họ liền
lắc đầu bỏ đi, [chê quư vị là] đồ
mê tín! Như thế nào họ sẽ chịu tới? Đối
với kẻ tham danh lợi, tham quyền,
quư vị hăy bảo: “Này bạn! Phật pháp có thể
củng cố quyền vị”, người ấy sẽ
thích chí, đấy là cái họ cần, họ sẽ đến
nghe. Phật pháp sống động, ăn nói sống động,
đối với người như thế nào, bèn có cách
nói như thế ấy, có lừa người ta hay không? Không
lừa gạt người ta đâu! Thật đấy! Quư
vị nói sẽ giúp đỡ kẻ ấy kiếm nhiều
tiền là thật đấy, tuyệt đối chẳng
giả, quyết định kiếm được lắm
tiền.
Lần
này, tôi qua Tân Gia Ba mấy hôm, gặp được một
vị cư sĩ. Ông ta buôn bán ở Đại Lục, kể
với tôi: Những người cùng buôn bán giống như
ông ta ở Đại Lục đều lỗ vốn, chỉ
có một ḿnh ông ta là có lời. Ông ta dựa vào đâu để
kiếm tiền? Học Phật kiếm được tiền!
Ông ta lợi dụng Phật pháp ở điểm nào? Chân
thành, cung kính, khiêm hư, ông ta bảo: “Tôi học được
điều này, tôi đối xử với hết thảy
mọi người bằng ḷng chân thành, cung kính, khiêm
hư, nên kiếm được tiền!” Đạt đến
mức độ “tâm an, lư đắc”. Trong nhà Phật, hễ
cầu ắt ứng, cầu làm Phật, làm Bồ Tát,
đều có thể cầu được. Những chuyện
thế gian như tài, sắc, danh, ăn uống, ngủ nghê
là những chuyện lông gà, vỏ hành (ư nói chuyện vụn
vặt), lẽ nào chẳng cầu được? Quyết
định cầu được, có thể thỏa măn ư
nguyện của quư vị. Chư Phật, Bồ Tát có thiện
xảo phương tiện, sau khi thỏa ư quư vị rồi
mới bảo quư vị: “C̣n có thứ tốt đẹp
hơn nữa, ngươi có muốn hay không? Nay ngươi
vị thỏa măn trong một đời này hay là cả đời sau nữa? Ngươi có hy vọng
đời sau càng tốt đẹp hơn đời này
hay chăng?” Kẻ ấy sẽ nói: “Con hy vọng đời
sau c̣n tốt đẹp hơn đời này”. Vậy
th́ c̣n có biện pháp tốt đẹp hơn nữa, [chư
Phật, Bồ Tát] khuyên dụ, hướng dẫn từng
bước như vậy đó.
Khi đức
Thế Tôn tại thế, Ngài giảng kinh thuyết pháp suốt
bốn mươi chín năm, trước hết nói kinh Hoa
Nghiêm, không ai hiểu cả! Giảng Hoa Nghiêm th́ hàng Thanh
Văn, Duyên Giác đến nghe như ḷa, như điếc.
“Như điếc” là nghe mà
chẳng hiểu ǵ, giống như kẻ điếc.
Đức Phật nói những cảnh giới, họ chẳng
thấy rơ ràng, giống như ḷa! V́ thế, Phật mới
buông Hoa Nghiêm xuống, giảng A Hàm. A Hàm là dời sang cảnh
giới của chúng sanh, đấy rơ ràng chẳng phải
là bảo với chúng ta “Hoa Nghiêm khế lư, nhưng chưa
khế cơ!” đó sao? Vậy th́ dùng A Hàm khế cơ,
nhưng nó chẳng thể khế hợp viên lư (lư trọn
vẹn), tức là A Hàm chỉ là một bộ phận của
Lư, một bộ phận rất nhỏ. Sau đấy,
không ngừng nâng cao hơn từng giai đoạn một.
Giảng A Hàm mười hai năm, rồi giảng
Phương Đẳng cho quư vị. Đấy là tiến
lên cao hơn, lại giảng Bát Nhă, rồi giảng Pháp
Hoa, Niết Bàn, quay trở về viên măn rốt ráo, Lư lẫn
Cơ đều khế hợp. Khi lăo nhân gia c̣n tại thế,
đă biểu diễn cho chúng ta thấy mô thức hóa độ
chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh. Chỉ cần
chúng ta có thể lănh ngộ từ nơi đây, sẽ biết
làm theo cách nào! Người hiện thời nói: “Đầu kỳ sở hảo”
(Phù hợp với điều ưa thích). Quư vị thấy
người ta thích cái ǵ, hễ xứng hợp với
điều kẻ ấy ưa thích, kẻ ấy sẽ dễ
dàng tiếp xúc Phật pháp. Chỉ sợ quư vị không tiếp
xúc Phật pháp, chứ đă tiếp xúc, những ư vị
trong ấy có muốn bỏ, cũng chẳng thể bỏ
được, tự nhiên sẽ thâm nhập tiến cao hơn.
Ngàn vạn lần đừng để vừa bắt
đầu liền bị người khác cự tuyệt,
nếu bị như vậy th́ quư vị đă thất bại
rồi. Lúc mở đầu, nhất định phải
được người ta vui vẻ tiếp nhận, bất
luận từ một pháp môn nào, bất luận theo
phương hướng nào cũng đều được
cả! Thuận cảnh cũng được, mà nghịch
cảnh cũng được, thiện pháp cũng
được, mà ác pháp cũng được luôn! Không
chướng ngại chi!
Do đây
biết rằng: Nếu chúng ta muốn thật sự khế
nhập cảnh giới ấy, chúng ta chẳng phải là kẻ
mới học, học đă lâu năm như thế,
căn cơ của mọi người đă khá sâu dầy.
Do vậy, phải nên tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện.
Tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện là lấy mười thứ
cương lănh ấy làm hướng dẫn trong cuộc sống,
làm cột mốc cho công việc của chúng ta, làm tiêu chuẩn
để xử sự, đăi người tiếp vật.
Những ǵ chúng ta tiếp xúc suốt từ sáng đến
tối chẳng ngoài người, sự, vật, chúng ta
tuân thủ mười cương lănh của Phổ Hiền
Bồ Tát. Điều thứ nhất là chúng ta phải tu
cung kính, tức là dùng cái tâm chân thành cung
kính để đối xử với người, đối
xử với sự, đối xử với vật, chẳng
cần nghĩ kẻ khác có cung kính ta hay không. Chẳng cần
nghĩ đến điều đó! Đấy là chuyện
của họ, chẳng ăn nhập ǵ đến ta! Ta tu
cho ta, ta tu cảnh giới Hoa Nghiêm của ta, ta tu cơi Tây
Phương Thật Báo Trang Nghiêm của ta. Phải hiểu
rơ đạo lư này, liễu giải sự thật này. Đối
với hết thảy người, sự, vật, đều
xưng tán. Trong sự xưng tán, có một tiêu chuẩn: Hễ
là thiện th́ xưng tán, hễ là ác th́ không
xưng tán. Nhưng khi tiếp xúc với người lành
th́ cung kính, đối với người ác cũng cung
kính, quyết định không phân biệt. Cung kính quyết
định không phân biệt, nhưng trong xưng tán có phân
biệt. Thiện th́ xưng tán, ác th́ chẳng nói. Đó
gọi là “ẩn ác,
dương thiện” (ẩn giấu điều ác,
đề cao điều thiện). Trông thấy người
khác làm chuyện quấy, miệng trọn chẳng nhắc
tới. Trông thấy người khác làm một chút ǵ tốt
đẹp, chúng ta bèn khen ngợi. Mọi người đều
có thể “ẩn ác,
dương thiện”, phong khí xă hội sẽ chuyển
biến, chẳng có những hiện tượng ác nghịch.
“Quảng tu cúng dường”:
Quảng tu cúng dường là Bồ Tát tu Bố Thí Ba La Mật;
bởi lẽ, trong khi quư vị tu bố thí, chẳng thấy
có tâm cung kính, trong cúng dường có tâm cung kính. Quư vị thấy
chúng ta cúng dường Phật, chúng ta có tâm cung kính. Có
người ăn mày đến xin cơm, quư vị cúng
dường người ấy, quư vị không có tâm cung kính.
V́ thế, dùng chữ “cúng
dường”, chẳng dùng “bố
thí”. Ta đối với Phật cung kính cúng dường
như thế, vậy th́ người ăn xin t́m tới,
ta cúng dường người ấy bằng cái tâm cung kính
giống hệt như đối với Phật, đều
là dùng ḷng chân thành, ḷng cung kính.
“Sám trừ nghiệp chướng”:
Một câu A Di Đà Phật sám trừ nghiệp chướng,
“tội từ tâm khởi,
đem tâm sám”. Tội chướng là ǵ? Vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, đấy là tội
chướng. Nói cách khác, nếu quư vị không niệm Phật,
quư vị niệm niệm đều là tội chướng,
quư vị mới hiểu sự trọng yếu của Niệm
Phật. Dùng một câu Phật hiệu để thay đổi
tất cả nghiệp chướng và tập khí.
Đầu
đời Thanh, pháp sư Từ Vân Quán Đảnh nói rất
hay: Kẻ tội chướng cực nặng, tất cả
những kinh pháp trong Phật pháp Đại Thừa đều
chẳng sám trừ được, cuối cùng vẫn c̣n
có một câu A Di Đà Phật có thể sám trừ sạch
sành sanh. Ngài nói một câu không dễ ai nói được! Nếu
Ngài không phải là bậc tái lai, sẽ không thốt ra
được! Quư vị mới biết danh hiệu của
công đức chẳng thể nghĩ bàn! Nói cách khác, toàn bộ
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh đến
cuối cùng quy nạp thành một câu “nam-mô A Di Đà Phật”. Do vậy, công đức
niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn. Quư vị hỏi
tôi tu hành như thế nào ư? Niệm Phật! Công phu tu
hành niệm Phật không đắc lực! V́ sao không đắc
lực? Một mặt niệm Phật, một mặt khởi
vọng tưởng, đương nhiên là không đắc
lực, rắc rối là ở chỗ này. Quư vị niệm
Phật chẳng khởi vọng tưởng là đắc
lực, tiêu trừ nghiệp chướng rồi. Người
niệm Phật tối kỵ nhất là hoài nghi, v́ sao bảo
quư vị đọc kinh, nghiên cứu giáo? Mục đích của
đọc kinh, nghiên cứu giáo là khuyên quư vị liễu giải
chân tướng sự thật, hiểu rơ đạo lư, thật
sự hiểu rơ, không hoài nghi, đoạn nghi, sanh tín. Hiểu
rơ chân tướng sự thật rồi, ư nguyện cầu
văng sanh của quư vị chân thiết, tức là chân thật,
khẩn thiết, quư vị quyết định được
văng sanh. Do vậy, kinh giáo ấy rất quan trọng.
Đại
sư Ngẫu Ích nói không sai, “được
văng sanh hay không, quyết định là do có tín nguyện hay
không”. Giảng kinh, thuyết pháp, nghiên cứu, học tập
kinh giáo nhằm giúp chúng ta kiến lập tín nguyện, tin
sâu, nguyện thiết, “phẩm
vị cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn”.
Thật sự tin sâu, nguyện thiết, thật thà niệm
Phật, quư vị sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, phẩm vị sẽ cao! Phải biết tất
cả hết thảy các pháp thế gian lẫn xuất thế
gian chỉ có một chuyện này là thật, những thứ
khác toàn là giả. Quư vị chưa liễu giải chân
tướng sự thật, hăy nghĩ xem trong một ngày
quư vị làm, quư vị nghĩ, quư vị suy tưởng,
trong những điều suy tưởng, làm lụng ấy,
có mấy phần quư vị làm chuyện thật? Lại có
mấy phần quư vị làm chuyện giả? Quư vị mới
hiểu v́ sao quư vị công phu không đắc lực. Nói thật
ra, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ,
quư vị có thể làm được nửa tiếng đồng
hồ là thật th́ đă quư lắm rồi! Hai mươi
ba tiếng rưỡi kia đều là giả! Như vậy
th́ có hy vọng ǵ văng sanh nữa đây? Hoàn toàn phụ thuộc
vào phước báo của quư vị khi lâm chung có người
cảnh tỉnh hay không!
[Để
có] phước báo khi lâm chung, chính ḿnh phải có đủ
điều kiện, tức là đầu óc tỉnh táo không
mê muội. Đấy là điều kiện tiên quyết. Nếu
bệnh nặng, thần trí thiếu sáng suốt, ai cũng
đều không nhận ra, là xong rồi! Trợ niệm,
thiện tri thức như thế nào, cũng đều chẳng
thể giúp đỡ được! V́ vậy, điều
kiện tiên quyết là đầu óc phải sáng suốt,
đấy là đại phước báo, ngẫu nhiên gặp
được thiện hữu ở bên cạnh nhắc nhở,
lâm chung một niệm hay mười niệm, quyết
định được văng sanh. Đấy chính là nguyện
thứ mười tám của A Di Đà Phật. Thế
nhưng chúng ta nghĩ tới khi chính ḿnh lâm chung, có thể
nào có được phước báo ấy hiện tiền
hay chăng? Có nắm chắc hay không th́ lúc b́nh thường
phải ra sức công phu, quyết định chẳng
để thời gian tốt đẹp bị lỡ làng,
đáng tiếc lắm! Chẳng phải là tôi khuyên mọi
người suốt ngày từ sáng đến tối chuyện
ǵ cũng đều chẳng muốn làm mà cứ đến
đây niệm Phật, không phải vậy! Quư vị c̣n có
gia đ́nh, c̣n có công việc, ở trong nhà chẳng quên niệm
Phật, làm việc cũng không quên niệm Phật, vậy
là đúng! Công việc đ̣i hỏi phải suy nghĩ, xem
xét th́ khi chúng ta làm việc, cứ buông danh hiệu đức
Phật xuống. Làm xong, lại đề khởi danh hiệu
Phật. Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ,
chỉ cần khi làm xong những việc thuộc bổn
phận của chính ḿnh th́ hăy niệm Phật. Làm như vậy
là đúng.
Đến
Niệm Phật Đường niệm Phật, đương
nhiên là có ư nghĩa khác hẳn, khác ở chỗ nào? Đấy
là tự độ, độ người khác, hai thứ lợi
ích. B́nh thường, mỗi người quư vị niệm
Phật là tự độ, quư vị đến Niệm Phật
Đường là độ tha. Độ tha như thế
nào? Niệm Phật Đường hằng ngày có người
niệm Phật, trong mười hai thời đều có
người niệm Phật, nay gọi là “trong hai
mươi bốn tiếng niệm Phật không ngừng”,
trong ba năm hay năm năm, sẽ ảnh hưởng
đến cả khu vực. Đấy thật sự là Bồ
Tát, thật sự là từ bi! Trí huệ thật sự th́
người ta mới chịu làm. Quư vị hiềm ít
người, chỉ có mấy người [tới niệm
Phật] thôi ư? Mấy người cũng làm, cứ làm,
đừng bận tâm, dần dần người khác sẽ
bị ảnh hưởng, ảnh hưởng sẽ lan rộng.
Làm được như thế trong hai ba chục năm,
đạo tràng của quư vị chắc sẽ ảnh
hưởng cả thế giới, quư vị nói xem có công
đức nào to bằng? Phàm mọi chuyện đều
khó khăn lúc khởi đầu, nhưng lúc mở đầu
phải có trí huệ lớn lao, nguyện lực to lớn
th́ quư vị mới kiên tŕ thực hiện, đột phá
khó khăn!
Do vậy,
từ bộ kinh to lớn này, chúng ta thật sự khẳng
định, nhận thức pháp môn Niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn! Chư Phật, Bồ Tát đă biểu
diễn, thị hiện cho chúng ta. Đấy chính là “trang nghiêm pháp giới hư không
giới”. Ở đây, đại sư Thanh Lương
tổng kết rất hay, “tắc
thập Phật, thập thân giai đẳng hư không, tịnh
hợp pháp tánh” (Tức là mười loại Phật,
mười loại thân đều bằng với hư
không và xứng hợp pháp tánh). Ư nghĩa của câu này rất
sâu, rất rộng! Quư vị phải biết; Phật có
mười loại Phật, mười loại thân, mỗi
một cá nhân trong chúng ta cũng là mười loại Phật,
mười loại thân. Mười thứ Phật, mười
thứ thân của những vị ấy rất rơ rệt,
chính họ hiểu rơ ràng, rành rẽ, c̣n đối với
mười thứ Phật, mười thứ thân của
bản thân chúng ta, ngay cả chính chúng ta cũng chẳng biết
tới! Đấy gọi là mê hoặc, điên đảo.
Chẳng phải là các vị ấy th́ có, c̣n chúng ta th́ không.
Nếu các vị ấy có, chúng ta không có, chúng ta niệm Phật
làm sao thành tựu được? Chúng ta có, chính chúng ta là
mười loại Phật, chính chúng ta có mười thân,
cho nên niệm niệm mới có tương ứng, niệm niệm mới cảm ứng
đạo giao. V́ sao biết là chúng ta có? Câu kế đó là “tịnh hợp pháp tánh” (và xứng
hợp pháp tánh). Tận hư không trọn pháp giới, có
pháp nào chẳng do pháp tánh biến hiện? Pháp tánh chính là
chân tâm, pháp tánh là năng biến (chủ thể biến hiện).
Hết thảy h́nh tướng trong tận hư không, trọn
pháp giới là sở biến (cái được biến hiện
ra). Do vậy, đây kia dung hợp lẫn nhau, đạo
lư là ở chỗ này. “Mười
phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”.
Bởi vậy, “trang nghiêm pháp
giới hư không giới” là thật, chứ không giả,
đấy là chân tướng sự thật.
(Sớ)
Thị tắc tùy môn thuyết dị, cử nhất viên
thâu. Như thị phương vi Hoa Nghiêm Niệm Phật.
(疏)是 則 隨 門 說 異,舉 一 圓 收。如 是 方 為 華 嚴 念 佛。
(Sớ)
Đây chính là tùy theo từng
môn mà nói sai khác, nêu lên một môn ,sẽ gồm thâu trọn
vẹn [các môn khác]. Như thế mới là Hoa Nghiêm Niệm
Phật.
Hoa Nghiêm
Niệm Phật đích xác khác với những môn Niệm
Phật khác. Trong phần trước, [kinh văn[ kể ra
hai mươi mốt môn. Trừ môn cuối cùng ra, hai
mươi môn kia đều là “tùy
môn thuyết dị”, thuận theo tâm của chúng sanh.
Nhưng quư vị phải hiểu chân tướng của sự
thật trong ấy, trong hai mươi môn, tùy tiện nêu ra
một môn nào, sẽ đều bao quát trọn vẹn hai
mươi môn kia! Bất cứ môn nào cũng đều bao
quát, bao quát viên măn. Ví như nói tới mười pháp giới,
chúng ta nói tới Phật pháp giới th́ Phật pháp giới
bao quát cả chín pháp giới kia, từ Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác cho đến chúng sanh trong địa ngục.
Chúng ta nói tới nhân pháp giới th́ nhân pháp giới phía trên
bao gồm cả Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn,
chư thiên, phía dưới bao gồm ba ác đạo địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. “Một
tức hết thảy, hết thảy chính là một”, tâm
của mỗi một cá nhân chúng ta đều viên măn, chẳng
thiếu khuyết mảy may nào!
Do vậy,
trong một đời này, khi Báo Thân kết thúc, đời
sau sẽ đi về đâu? Quư vị nghĩ đến
đâu, sẽ đi về đó, quư vị thật sự
được tự tại! Tưởng làm Phật, bèn
hiện thân Phật; tưởng làm quỷ, bèn hiện thân
quỷ, tùy theo ḷng ưa muốn. V́ sao c̣n mong làm quỷ?
Hành Bồ Tát đạo nhằm độ quỷ đạo.
Quư vị độ quỷ mà không hiện thân quỷ làm sao
độ được quỷ? Quán Thế Âm Bồ Tát hiện
thân quỷ vương trong quỷ đạo. Quư vị [làm
lễ] “phóng Diệm Khẩu”,
vị quỷ vương đối diện đài Diệm
Khẩu, tức Tiêu Diện đại sĩ mặt xanh
nanh chĩa, là ai vậy? Hóa thân của Quán Thế Âm Bồ
Tát đấy! Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân ấy
trong quỷ đạo, ở trong đường nào, bèn hiện
thân ấy, không chỗ nào chẳng hiện thân! Đấy
chính là quư vị thật sự nhập cảnh giới Hoa
Nghiêm, đích xác là đạo lư rất viên măn. Do vậy,
đương nhiên là có thể thông suốt nơi mặt
Sự. Hễ có Lư, đương nhiên là có Sự. “Cử nhất viên thâu” (nêu lên
một mà gồm thâu trọn vẹn), “nhất” ở đây là bất cứ một môn
nào, chứ không phải là độc nhất.
(Sớ)
Thượng lai lược biện tùy sở niệm dị,
thành thử đa môn. Nhược biệt đối thập
quán, khủng phiền bất tự.
(疏)上 來 略 辨 隨 所 念 異,成 此 多 門。若 別 對 十觀,恐 繁 不 敘。
(Sớ)
Trên đây là biện
định đại lược dựa theo từng đối
tượng được niệm khác nhau, cho nên thành nhiều
môn như vậy. Nếu luận định riêng từng
môn trong mười phép quán th́ sợ rườm rà, cho nên chẳng
trần thuật.
Nếu
giảng về cách quán của mười thừa th́ quá phiền
phức, cho nên lược bớt đi, chỉ nói là do niệm
theo [những đề mục, đối tượng]
khác nhau, nên nói thành hai mươi môn. Thật ra, hai
mươi môn ấy chính là hai mươi loại lớn;
trong mỗi một loại lớn ấy, nếu phân chia tỉ
mỉ, sẽ là vô lượng vô biên. Môn Niệm Phật
được tỳ-kheo Cát Tường Vân chỉ dạy
tường tận cho Thiện Tài đồng tử
như vậy. Nhưng quư vị phải nhớ kỹ,
chính Ngài tu pháp môn nào? Ngài luôn biết: Đương nhiên
pháp của chính ḿnh tu là thù thắng nhất. Ta biết nhiều
môn Niệm Phật như thế, nhưng ta tu pháp môn hay nhất
trong những môn ấy, tự ḿnh chọn lựa pháp hay nhất.
Ngài chọn lựa pháp Ban Châu tam-muội. Ban Châu tam-muội
chuyên niệm A Di Đà Phật, Ngài chọn lựa pháp ấy.
Quư vị thấy từ khởi đầu cho đến
cuối cùng, mười đại nguyện vương của
Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc, quư vị
mới hiểu ra: Nơi khởi đầu và nơi kết
thúc, từ đầu đến cuối chẳng rời
niệm Phật. Năm mươi ba lần tham học của
Thiện Tài là một câu A Di Đà Phật niệm cho đến
tột cùng.
Thuở trước,
tôi tin tưởng pháp Tịnh Độ là nhờ được
khải thị khi đọc đến đoạn kinh
văn này. Tôi theo thầy Lư, thầy Lư khuyên tôi niệm Phật,
tôi vẫn không cam ḷng, không bằng ḷng, chẳng qua không phản
đối, không có lư do để phản đối,
nhưng chính ḿnh cảm thấy rất khó thể tiếp
nhận. Đến năm Dân Quốc 60 (1977), khi giảng
kinh Hoa Nghiêm, giảng đến chỗ này, mới hoảng
nhiên đại ngộ, mới biết pháp môn này thật sự
là pháp môn bậc nhất trong vô lượng vô biên pháp môn,
thù thắng không chi sánh bằng. Đến chỗ này, chúng
tôi đă giải thích một phần văn tự trong kinh
văn. Tiếp theo đây là phần thứ ba:
(Sớ)
Đệ tam năng niệm thâu thúc.
(疏)第 三 能 念 收 束。
(Sớ)
Phần thứ ba là thâu
tóm về Năng Niệm.
Phần
trên nói về Sở Niệm (đối tượng để
niệm), Sở Niệm có nhiều môn như thế, vậy
th́ Năng Niệm (chủ thể thực hiện hành động
niệm Phật) là ǵ? Điều này rất trọng yếu.
Đại sư Thanh Lương quy nạp ư nghĩa này
thành năm loại lớn, tức năm môn.
(Sớ)
Lược hữu ngũ chủng; nhất duyên cảnh
chánh quán niệm Phật môn. Nhược chân, nhược ứng,
nhược y, nhược chánh, giai thị cảnh cố.
Xưng danh thuộc khẩu, phi chân niệm cố, lược
nhi bất ngôn.
(疏)略 有 五 種。一
緣 境 正 觀 念 佛 門。若 真 若 應,若 依 若 正,皆 是 境 故。稱 名 屬 口,非 真 念 故,略而 不 言。
(Sớ)
Đại lược có
năm thứ, một là môn niệm Phật duyên theo cảnh
chánh quán. Bởi lẽ, dù chân thân hay ứng thân, dù y báo hay
chánh báo, đều là cảnh. Nếu chỉ xưng danh ngoài
miệng th́ chẳng phải là chân niệm, cho nên lược
đi không nói.
Đây là “duyên cảnh chánh quán”. Chúng ta
thường gọi “duyên”
là “phan duyên” (nắm níu theo
duyên), người mới học chẳng thể không phan
duyên. Nắm níu những duyên nào? Nắm níu Phật duyên. Quư
vị nghĩ xem, v́ sao chúng ta phải tạo tượng
Phật? Tạo tượng Phật là để nắm
níu Phật duyên! Hằng ngày trông thấy Phật, mới có
thể nghĩ đến Ngài, mới chẳng đến nỗi
quên mất Ngài. Tượng Phật phải được
tạc cho thật trang nghiêm, trông thấy liền hoan hỷ,
muốn được ngắm nhiều lần. Tượng
Phật nào được tạc mà chính ḿnh không ưa thích,
quư vị sẽ chẳng muốn nh́n. Do vậy, nhất
định phải tạc thật trang nghiêm. Bởi thế,
nếu quư vị thờ tượng Phật th́ nên thờ
tượng Phật nào? Thờ tượng Phật nào quư
vị ưa thích nhất, chứ không nhất định
phải học theo người khác. Tượng Phật của
người khác người ấy cảm thấy rất
đẹp, nhưng ta nh́n không thấy đẹp đẽ,
ta nh́n vào không sanh ḷng hoan hỷ, nhất định phải
là tượng khiến cho chính ḿnh hoan hỷ, có duyên với
ḿnh. Bất luận là tượng đắp hay tượng
vẽ, đều phải sao cho chính ḿnh nh́n vào sẽ sanh
ḷng hoan hỷ. Chúng ta thờ tượng Phật với dụng
ư: Tượng Phật sẽ thời thời khắc khắc
cảnh tỉnh chúng ta, dụng ư là ở chỗ này. Do vậy,
“duyên cảnh”, tượng
Phật là cảnh.
Tiếp đó, [lời
chú giải] viết “nhược
chân, nhược ứng”. Trong phần trên, tôi đă nói rồi,
[chân là] chân nghiệp báo thân, [ứng là] ứng hóa nghiệp
báo thân, hoặc là nói y báo, hoặc là chánh báo, đấy toàn
là cảnh giới, toàn là những cảnh giới đối
ứng với sáu căn. Chúng ta đối trước những
cảnh giới ấy, khởi lên ư tưởng niệm Phật;
khi không đối trước những cảnh giới ấy,
bèn quên tuốt Phật, cho nên gọi là “duyên cảnh”. “Xưng danh thuộc khẩu”: Niệm
Phật ngoài miệng, trong tâm chưa chắc đă
tương ứng, cho nên nói “lược
nhi bất ngôn” (lược đi, không nói tới).
Đây là nói về kẻ mới học, công phu nông cạn
nhất, kẻ sơ học mà! Đại khái là những
người niệm Phật chúng ta đều thuộc vào
tầng mức này, thuộc cảnh giới này, cho nên công
phu không đắc lực. Lại xem tiếp loại thứ
hai:
(Sớ)
Nhị, nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn.
(疏)二 攝 境 唯 心 念 佛 門。
(Sớ)
Hai là môn nhiếp cảnh
duy tâm niệm Phật.
Công phu
này cao hơn, cảnh giới chẳng thể không có,
nhưng người tu đă có thể “nhiếp cảnh duy tâm”.
(Sớ)
Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật, chư Phật
chánh biến tri hải, tùng tâm tưởng sanh, huống
tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt.
(疏)是 心 是 佛,是 心 作 佛,諸 佛 正 遍 知 海,從 心想 生,況 心 佛 眾 生,三 無 差 別。
(Sớ)
Tâm này là Phật, tâm này
làm Phật, biển Chánh Biến Tri của chư Phật
sanh từ tâm tưởng, huống chi tâm, Phật, chúng sanh,
ba thứ không sai biệt.
Nếu
quư vị hiểu rơ đạo lư này, quư vị niệm Phật
chắc chắn sẽ sanh khởi chánh tín, quư vị
cũng sẽ thật sự niệm Phật. V́ sao vậy?
Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng. Ở
đây nói “biển Chánh Biến
Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng”,
đây là nêu lên Phật [để đại diện cho
mười pháp giới], hết thảy các pháp đều
sanh từ tâm tưởng, nguyên lư ở ngay trong hai câu thuộc
phần trên: “Tâm này là Phật,
tâm này làm Phật”. Đây là nêu đại diện cho
nguyên lư ấy. “Tâm này là Bồ
Tát, tâm này làm Bồ Tát”, “tâm này là người, tâm này làm
người”, “tâm này là quỷ, tâm này làm quỷ”, câu nói
này có vô lượng nghĩa. Đây là nói hết thảy các
pháp đều sanh từ tâm tưởng. Nếu chúng ta hằng
ngày niệm Phật, há chẳng làm Phật ư? Đạo
lư ở chỗ này! Quư vị hiểu rơ đạo lư ấy,
quư vị mới hiểu “hễ ta nhất tâm mong làm Phật,
chúng ta bèn hằng ngày niệm Phật, chúng ta hằng ngày
tưởng Phật”. Nếu quư vị vẫn mong tưởng
tham - sân - si, quư vị vẫn thuộc trong tam ác đạo.
Quư vị
niệm tham, tham là ǵ? Tham là ngạ quỷ. Quư vị niệm
sân th́ sân sẽ là địa ngục. Quư vị niệm si
th́ si là đúng sai, đen trắng chẳng hiểu rơ ràng, vẫn
điên đảo, súc sanh đạo đấy! Quư vị
hằng ngày niệm tham - sân - si, sẽ là ngạ quỷ,
địa ngục, súc sanh, tương lai nhất định
biến thành ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh.
Mười pháp giới bày ra trước mặt chúng ta,
nghe theo sự lựa chọn của chính chúng ta. Trong mười
pháp giới th́ thù thắng nhất, viên măn nhất, không ǵ bằng
chư Phật; trong y báo th́ thù thắng nhất, viên măn nhất,
không ǵ bằng thế giới Cực Lạc. V́ sao không niệm?
Niệm thế giới Cực Lạc là niệm y báo, niệm
A Di Đà Phật là niệm chánh báo. V́ sao hằng ngày không
niệm Phật, không tưởng Phật? Do vậy, quư vị
thờ tượng Phật trong nhà, hằng ngày đọc
kinh Phật, hễ niệm sẽ phải niệm đến
mức khởi tác dụng. Nếu niệm mà chẳng khởi
tác dụng th́ quư vị có niệm cũng giống như
không niệm. Khởi lên những tác dụng nào? Ta niệm
A Di Đà Phật, thấy hết thảy mọi người
đều là A Di Đà Phật, như thế sẽ khởi
tác dụng, như thế là tương ứng. [Sẽ thấy]
bất luận người nào cũng đều là A Di
Đà Phật, coi người ấy thật sự là A Di
Đà Phật.
Người
ấy có đúng là A Di Đà Phật hay chăng? Đúng
đấy! Người ấy là hóa thân của A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật có ngàn trăm ức hóa thân, ở trước
mặt ta, ai cũng là A Di Đà Phật. Sự ǵ, vật
ǵ cũng đều là A Di Đà Phật; đấy mới
gọi là niệm Phật. Trông thấy tượng này là A
Di Đà Phật, thấy tượng kia không phải là A Di
Đà Phật, quư vị đang niệm vị Phật nào?
Quư vị chẳng thật sự niệm Phật! Trong phần
trên đă bảo là “quư vị miệng có, tâm không”, quư vị
chẳng tương ứng với Phật. Do vậy, quư vị
phải biết: Khi niệm Phật, những cảnh giới
mà sáu căn của quư vị tiếp xúc đều là A Di
Đà Phật. Bàn ghế là do A Di Đà Phật biến hiện,
những thứ cúng dường, hương, hoa cũng là
A Di Đà Phật biến hiện, không có ǵ chẳng phải
là A Di Đà Phật. Chung quanh ta, toàn là A Di Đà Phật,
đấy mới gọi là Niệm Phật! Phải nhớ
kỹ câu này, câu nói này chính là trí huệ chân thật. Chúng tôi
sửa lại một chút để mọi người dễ
hiểu: “Hết thảy các
pháp sanh từ tâm tưởng”. Hết thảy các pháp thế
gian và xuất thế gian đều sanh từ tâm tưởng,
tùy thuộc quư vị thấy điều ǵ, quư vị suy
tưởng điều ǵ, sẽ sanh ra điều đó. Chữ
“sanh” ở đây có nghĩa
là “hiện”, tức hiện
ra cái ǵ. Tưởng điều ǵ, sẽ hiện ra điều
đó. Do vậy, mọi người phải tưởng A
Di Đà Phật. Những câu kế tiếp đó đều
là lời lẽ trí huệ.
(Sớ)
Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt.
(疏)心 佛 眾 生,三 無 差 別。
(Sớ)
Tâm, Phật, chúng sanh, ba
thứ vô sai biệt.
Là một,
chứ không phải là hai. Tâm là Năng Biến, Phật và
chúng sanh là Sở Biến, Năng và Sở không hai. Do vậy,
chúng ta tưởng điều ǵ, sẽ biến hiện ra
điều đó. Mọi người phải đặc
biệt nhớ kỹ: Ta niệm A Di Đà Phật th́ trông
thấy hết thảy mọi người, hết thảy
sự, hết thảy vật đều là A Di Đà Phật.
Quư vị có thể niệm như vậy, sốt sắng
niệm, thật thà niệm, đại khái là nửa
năm hay một năm, công phu của quư vị sẽ thành
phiến, cảnh giới sẽ quyết định khác hẳn
hiện thời. Khác như thế nào? Tướng mạo
khác hẳn, thể chất của quư vị khác hẳn, v́
sao vậy? Tướng chuyển biến theo cái tâm, thân thể
này cũng chuyển theo cái tâm. Quư vị sẽ trở thành
rất mạnh khỏe, trở thành rất viên măn. Hằng
ngày niệm Phật, tướng mạo sẽ dần dần
biến thành Phật tướng. Hằng ngày niệm tham,
tham lâu ngày, quư vị sẽ thấy tướng ấy là quỷ
tướng. Thật đấy! Quư vị hăy chú tâm nh́n
tướng ấy, quư vị nh́n kỹ, có rất thú vị
hay chăng? Do vậy, qua h́nh tướng, qua thể chất,
quư vị có thể thấy được ḷng người,
từ cái tâm có thể hiểu rơ tướng mạo của
người khác, “tam vô sai biệt”
mà. A! Hôm nay hết giờ rồi, chúng tôi giảng đến
đây thôi!
Tập thứ mười hai (
Xin mở
quyển kinh, trang hai mươi tám, ḍng thứ nhất,
đọc từ câu cuối cùng:
(Sớ)
Tam, tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn. Tâm tức thị
Phật, tâm tắc phi tâm. Phật tức thị tâm, Phật
diệc phi Phật. Phi tâm, phi Phật, viễn ly nhất
thiết. Cố vô sở niệm, phương vi chân niệm.
(疏)三 心 境 俱 泯 念 佛 門。心 即 是 佛,心 則 非 心。佛 即 是 心,佛 亦 非 佛。非 心 非 佛,遠 離 一 切。故無 所 念,方 為 真 念。
(Sớ)
Ba là môn niệm Phật
tâm lẫn cảnh đều mất. Tâm chính là Phật, tâm
chính là phi tâm. Phật tức là tâm, Phật cũng chẳng
phải là Phật. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
xa ĺa hết thảy. Cho nên không có ǵ để niệm th́ mới
là chân niệm.
Từ
đây trở đi, những ư nghĩa [kế tiếp] càng
lúc càng sâu. Trong đoạn này, đại sư dạy chúng
ta Năng Niệm có thể quy nạp thành năm loại.
Loại thứ nhất là “duyên
cảnh chánh quán Niệm Phật môn”. Đại khái là những
đồng tu niệm Phật chúng ta trong hiện thời
đều thuộc phạm vi của loại này. Thuộc
phạm vi này mà nếu niệm tương ứng, cũng
được văng sanh. Đấy chính là nói về kẻ
chuyên niệm A Di Đà Phật. Nếu chẳng chuyên niệm
A Di Đà Phật, th́ nói cách khác, tu học bất cứ một
pháp môn nào, cũng đều rất khó thành tựu. Đạo
lư ấy trong phần trước tôi đă từng nhắc
tới rồi. Hai mươi mốt loại pháp môn Niệm
Phật này là do tỳ-kheo Cát Tường Vân quy nạp.
Trong [khi giảng về] hai mươi mốt môn Niệm Phật,
tôi đă từng nói: Nếu triển khai ra, sẽ có vô
lượng vô biên pháp môn, không có một pháp môn nào chẳng
phải là pháp môn Niệm Phật. Do vậy, chúng ta thấy
năm loại lớn của Năng Niệm càng rơ ràng, càng
minh bạch. V́ thế, thưa với quư vị, loại thứ
nhất là “duyên cảnh chánh
quán niệm Phật môn” chỉ hạn cuộc trong chuyên
niệm A Di Đà Phật, v́ sao vậy? Ở chỗ này,
đại sư Thanh Lương đă nói rất rơ ràng, “nhược chân, nhược ứng”
(dù chân, hay ứng), chân là chân Phật, Pháp Thân Phật và Báo
Thân Phật là chân Phật, ứng là Ứng Hóa Thân, giống
như Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong thế giới
này của chúng ta vào ba ngàn năm trước, đấy là
Ứng Thân Phật. Bất luận chân Phật hay Ứng
Hóa Thân Phật, bất luận là y báo hay chánh báo, nói chung
đều là ngoại cảnh.
“Xưng danh” thuộc về miệng,
miệng niệm. Nếu miệng niệm, nhưng tâm không
tương ứng, đấy chẳng gọi là chân niệm,
mà là “khẩu niệm”. Thông
thường, chúng ta nói tới niệm Phật, trong văn
tự Trung Quốc, bên cạnh chữ Niệm (念), thêm vào một chữ Khẩu (口), tức [là chữ 唸, nhằm
chỉ] cách niệm này. Trong vô lượng pháp môn, chỉ lấy
Tây Phương Cực Lạc thế giới của A Di
Đà Phật làm cảnh chánh quán th́ được! Dựa
vào bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật,
chúng ta sanh về Di Đà Tịnh Độ, cho nên tuy công
phu này so ra chẳng bằng bốn loại được
nói trong phần sau, nhưng người ấy (người
niệm Phật) có thể văng sanh thế giới Cực Lạc.
Chư vị đồng tu phải đặc biệt chú ư
điều này. Nếu chẳng chuyên niệm A Di Đà Phật
cầu sanh Tây Phương, tu học những pháp môn khác, tức
là bốn loại lớn trong phần sau. Nói thật ra, bốn
loại lớn ấy nhất định phải
tương ứng, tương ứng với ǵ?
Tương ứng với tự tánh, tương ứng với
bản tánh Chân Như, tương ứng là chân niệm. Do
vậy, trong tâm quư vị thật sự phải có, thật
sự tương ứng.
V́ sao nói bốn loại? Là v́ trong ấy có sâu hay cạn
khác nhau, tức là công phu sâu hay cạn khác nhau. Do vậy,
loại thứ hai là “nhiếp
cảnh duy tâm”, cao minh hơn loại trước nhiều
lắm. Loại Niệm Phật này cũng thuộc Tịnh
Tông, thuộc luận lư của Tịnh Tông. Quán Kinh dạy:
“Tâm này là Phật, tâm này làm Phật”;
hai câu này chính là kinh văn của Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh. Trong kinh Đại Thừa, đức Phật
lại thường dạy chúng ta: “Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”.
Do vậy, trong tâm quư vị tưởng Phật, Phật sẽ
hiện tiền. Thường xuyên tưởng Phật,
tưởng Phật không gián đoạn, sẽ thuộc về
môn “duy tâm niệm Phật”. Trong
tâm quư vị thật sự có Phật, không nhất định
phải là “miệng niệm”. Miệng niệm hay không chẳng
quan hệ, trong tâm thật sự có [là được rồi].
Khởi tâm động niệm, Phật liền hiện tiền,
đấy là “nhiếp cảnh
duy tâm”.
Hôm nay,
chúng tôi giảng đến loại thứ ba, “tâm cảnh câu mẫn niệm Phật
môn” (môn Niệm Phật cả tâm lẫn cảnh cùng mất).
Quư vị trông thấy danh xưng này, sẽ nghĩ trong môn
Niệm Phật này bao gồm toàn bộ Thiền Tông. Trong
nhà Thiền, người tham Thiền mong đắc Định,
mong khai ngộ, mong minh tâm kiến tánh, nếu chẳng
đạt đến cảnh giới ấy sẽ chẳng
thể được! Do vậy, ư niệm ấy của họ
gọi là “chân niệm”. V́
sao vậy? Tâm là Phật, Phật chính là tâm, tâm chính là Phật,
cho nên tâm ấy chẳng phải là tâm, tức là “tâm chẳng gọi là tâm”, Phật
chính là tâm nên “Phật cũng chẳng
thể gọi là Phật được”. Quư vị phải
thấu hiểu ư nghĩa này. V́ thế, Ngài nói: “Phi tâm, phi Phật”. Đây
chính là lối nói song giá[4]. Nếu
nói theo kiểu “cả hai đều vắng lặng” th́
sao? “Tâm tức là Phật”; vậy
th́ Phật chính là tâm, đấy chính là “tức Phật, tức tâm” (tâm tức là Phật,
Phật tức là tâm). Hiểu rơ đạo lư này, khế nhập
cảnh giới này, trong Tông môn gọi là “pháp môn Bất Nhị”. Nếu quư vị vẫn
c̣n “có tâm, có Phật” th́ tâm
và Phật là hai pháp, trong Đàn Kinh đă nói “hai pháp chẳng phải là Phật pháp, Phật pháp là
pháp Bất Nhị”. Đoạn này giảng về pháp Bất
Nhị, pháp Bất Nhị th́ mới gọi là chân niệm.
Chân niệm là vô sở niệm (không có ǵ được niệm).
Tông môn nói “khởi tâm là sai,
động niệm đều trái”. Quư vị khởi
tâm động niệm là sai, khuyên quư vị trong hết thảy
thời, hết thảy chỗ, chẳng khởi tâm, chẳng
động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp
trước, đấy gọi là chân niệm.
Quư vị
hăy nghĩ xem, Tông môn được bao gồm trong pháp môn
Niệm Phật. Trong ấy không có niệm, đă không niệm,
sao lại gọi là chân niệm? Niệm vẫn là giả niệm, [hễ có] niệm th́ là giả niệm,
không niệm là chân niệm. Nhưng phải biết rằng:
Chúng ta niệm là giả niệm, nhưng không niệm
cũng là giả niệm, chẳng phải là chân niệm. [Lư
do là v́] hễ không niệm, quư vị bèn rớt vào vô minh,
c̣n niệm th́ rớt vào vọng tưởng. Quư vị niệm
hay không niệm, đều sai cả. Ư nghĩa này rất
sâu, nhất định phải chú tâm lănh hội. Vô niệm
ở đây chính là tâm và cảnh như một, cái tâm
Năng Biến và pháp giới Sở Biến là một,
Năng và Sở không hai, nhập Nhất Chân pháp giới, nhập
pháp môn Bất Nhị. Chúng sanh và Phật là một, cũng
là không hai. Tánh, Tướng không hai. Lư, Sự không hai. Thứ
ǵ cũng đều là pháp môn Bất Nhị, đấy gọi
là Chân Niệm. Đây là công phu thượng thượng thừa,
chẳng phải là công phu tầm thường. Trong pháp môn
Niệm Phật của chúng ta, công phu này được gọi
là Lư Niệm. Ba loại trên đây là Lư Niệm, chúng ta gọi
loại thứ nhất là “công
phu thành phiến”, niệm A Di Đà Phật có thể
được văng sanh. Loại thứ hai là “nhiếp cảnh duy tâm”, tức
Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Tâm và cảnh đều
mất là Lư Nhất Tâm Bất Loạn.
Hôm nay,
chúng ta đọc đoạn khai thị này của đại
sư Thanh Lương, đối với chuyện này có thể
đạt được sự hiểu biết kha khá, hiểu
rơ t́nh trạng của chuyện này. Công phu không có ǵ khác cả,
chỉ là như chúng tôi vẫn thường nói “thấy thấu suốt, buông xuống”.
Triệt để buông xuống, chớ để cho mảy
may nào c̣n tồn tại trong tâm địa. Như vậy
th́ chúng ta phải hỏi: Có cần niệm A Di Đà Phật
hay không? Có cần niệm Vô Lượng Thọ Kinh hay
không? Niệm chứ! Năng Niệm là đúng ư? Có
tương ứng hay chăng? Biết niệm th́
tương ứng, không biết niệm sẽ chẳng
tương ứng. Niệm như thế nào để có
thể tương ứng? Người biết niệm sẽ
“niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, niệm tức
là vô niệm, vô niệm tức là niệm”, người ấy
sẽ tương ứng. Ở chỗ này, chớ nên hiểu
lầm ư nghĩa. Nếu hiểu lầm ư nghĩa “cố vô sở niệm, phương
vi chân niệm” (cho nên không có ǵ được niệm
th́ mới là chân niệm) là xong rồi! Tôi thứ ǵ cũng
đều chẳng niệm, không niệm Phật mà cũng
chẳng niệm kinh. Không niệm Phật, chẳng niệm
kinh, hằng ngày niệm vọng tưởng, trong tâm quư vị
c̣n có thể chẳng dấy lên vọng tưởng hay chăng?
Quư vị có vọng tưởng là không được rồi,
ngay cả vọng tưởng cũng không có, phân biệt
cũng không có, chấp trước cũng không có, đúng -
sai cũng không có, ta - người cũng không có, đấy
là cảnh giới này. Quư vị vẫn c̣n có đúng - sai, ta
- người, tức là quư vị chưa nhập được
cảnh giới này, quư vị là phàm phu! Do vậy, quư vị
phải hiểu “tâm cảnh câu
mẫn niệm Phật môn”, người thật sự
nhập cảnh giới này chính là bậc Pháp Thân đại
sĩ được kinh Hoa Nghiêm đề cập, chứ
không phải là kẻ tầm thường. Họ đă thật
sự nhập pháp môn Bất Nhị.
Do vậy,
ở chỗ này, chúng ta hiểu Lư, về Sự th́ nhất
định phải biết là chúng ta không làm được.
Nhưng dù chưa làm được, cũng phải hướng
theo đó để làm. Tuy làm chưa được,
nhưng có được một chút hơi hướng th́
cũng tốt rồi, cũng có lợi ích, cũng có công
đức. Đấy chính là thường mong mở rộng
tâm lượng, kinh thường nói là “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” (tâm trọn
khắp hư không, lượng trọn khắp các cơi có số
lượng nhiều như cát), thường mở rộng
tâm lượng, tận lực gắng bớt phân biệt,
bớt chấp trước. Trước hết phải thực
hiện từ chỗ nào? Trước hết, chuyện ǵ
không cần phân biệt, quư vị chớ nên phân biệt; chuyện
ǵ chẳng cần chấp trước, quư vị chẳng đừng
chấp trước. Nếu nói nông cạn, gần gũi,
th́ chuyện không liên quan tới ta, quư vị cần ǵ phải
bận tâm tới, chúng ta khởi sự buông xuống từ
chỗ này. Phải buông xuống chuyện chẳng liên quan
đến ta trước, c̣n chuyện có liên quan tới
chính ḿnh tạm thời chưa buông xuống được,
trước hết hăy buông xuống chuyện không liên quan đến
ta. Tuy quư vị chưa nhập cảnh giới này, nhưng
quư vị mong đắc “công phu thành phiến” sẽ chẳng
khó. Người niệm Phật chẳng thể công phu
thành phiến, nói thật ra, là do bận tâm đến sự
việc quá nhiều! Chuyện không đáng bận tâm, kẻ
ấy vẫn lo tới. Ngay cả Khổng phu tử
cũng thường nói: “Bất
tại kỳ vị, bất mưu kỳ chánh”, câu này có
nghĩa là nếu quư vị chẳng nắm giữ địa
vị ấy th́ chẳng cần phải bận tâm tới
những chuyện thuộc địa vị ấy. Nếu
quư vị giữ chức vị, đương nhiên là phải
bận tâm. Nếu không có chức vị, quư vị bận
tâm đến những chuyện ấy để làm ǵ? Cớ
ǵ quư vị phải can thiệp vào? Chúng ta phải tu cái tâm
thanh tịnh từ nơi đây. “Tâm lẫn cảnh đều
cùng mất” chính là thanh tịnh, b́nh đẳng thật sự.
Trong một câu này, đă nêu rơ “thanh
tịnh, b́nh đẳng, giác”. Đại sư dạy
chúng ta xa ĺa hết thảy, câu nói này hết sức trọng
yếu. Trước hết, những ǵ không liên can đến
chúng ta, hăy đều xa ĺa hết, những ǵ liên quan đến
chúng ta cũng phải càng ít bận tâm tới càng hay, quư vị
mới được tự tại!
Trong dịp
tôi sang Đại Lục lần này, gặp được
pháp sư Nhân Đức ở Cửu Hoa Sơn và lăo pháp
sư Minh Dương tại Thượng Hải. Lăo pháp
sư bảo tôi, trước kia, khi đại sư Ấn
Quang tại thế, Ngài thường bảo mọi người:
“Tôi trên không có một miếng
ngói, dưới không chỗ cắm dùi, tôi cũng không sợ
chết”. Câu nói ấy có nghĩa là Ngài thứ ǵ cũng
đều chẳng có. V́ sao Ngài không sợ chết? Sanh tử
cũng không có! Quư vị nghe lời nói này, hăy nghĩ xem Ngài
thuộc cảnh giới nào? Ngày nay chúng ta chuyện phiền
toái, những thứ bận bịu thừa thăi quá nhiều,
quư vị lại c̣n có nhà cửa, c̣n có đất đai,
c̣n có tài sản, trong ngân hàng c̣n có không biết bao nhiêu món quư
báu, c̣n có gia đ́nh, quyến thuộc, những sự việc
vướng mắc trong ḷng chẳng biết là bao nhiêu? Quan
tâm đến th́ quan tâm không xuể! Nghe lời đại
sư Ấn Quang nói, chúng ta lại có cảm tưởng
như thế nào?
Người tu hành thời
xưa ở Ấn Độ, và khi Phật pháp truyền
đến Trung Quốc, người tu hành đều không
có ǵ. Thuở đức Thế Tôn tại thế, những
vị theo Ngài xuất gia chỉ có ba y một bát. Trừ ba
y một bát ra, thứ ǵ cũng đều chẳng có. Ngày
ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây, là ǵ vậy?
Xa ĺa hết thảy! Ngày na,y tuy chúng ta không làm được
như vậy, thể lực của chúng ta thua kém tiền
nhân. Tôi thấy thể chất của mọi người
hiện thời cũng kém hơn đời trước.
Trong số những người xuất gia chúng ta ở
đây, có hơn hai mươi người, quư vị đều
thấy rơ. Tôi khuyên họ giảng kinh, họ hằng ngày kể
khổ với tôi: “Sư phụ ơi! Con bận bịu công
việc quá rồi, không có thời gian chuẩn bị
đâu!” Đúng là cơ hội khó được! Ngày hôm
qua đi thăm Đài Trung, quư vị đă có không ít người
đến thăm nơi đó. Từ Quang Đồ
Thư Quán ở Đài Trung lớn hơn chỗ chúng ta, diện
tích đất đai của nó là bốn trăm b́nh[5].
Quư vị hăy chú tâm thăm viếng nơi ấy, nhân viên phụ
trách công tác bao nhiêu người? Ba người! Hiện thời
mấy người tôi không biết, khi tôi ở đó th́ là
ba người, thầy Lư làm Quán Trưởng.
Bốn mươi
năm trước, tôi ba mươi hai tuổi. Nhân viên làm
công tác gồm ba người, hôm qua tôi đă thưa tŕnh với
mọi người, tôi là một, Du cư sĩ là một
người nữa và [người thứ ba là] Lôi cư
sĩ. Cả hai người này đều đă mất cả
rồi. Chúng tôi tuổi tác đại khái không chênh nhau nhiều,
hai người bọn họ trẻ hơn tôi một chút.
Ba người chúng tôi lo liệu công việc. Nay quư vị
có đến hai mươi mấy người lo toan công việc,
vẫn kêu không có thời gian! Quả thật số lượng
công việc của chúng tôi lớn hơn quư vị nhiều,
thời gian học hành của chúng tôi không thể bằng
quư vị được. Buổi tối, sau khi nghe giảng
kinh xong, mọi người đều về hết rồi,
chúng tôi phải thu xếp, quét dọn xong rồi chính ḿnh mới
bắt đầu đọc sách, học hành, lễ Phật,
niệm Phật. Nói chung, phải làm tới ba giờ
đêm mới đi ngủ. Trong một tuần lễ, có một
hai bữa thức đến sáng. Do vậy, có thể nói là
thể lực của quư vị không bằng chúng tôi. Chẳng
trách cổ nhân thường nói: “Tu
hành yếu sấn niên thiếu” (Tu hành phải tranh thủ
lúc c̣n trẻ), v́ quư vị c̣n trẻ, sẽ có tinh thần,
có thể lực, có thể dũng mănh, tinh tấn. Tuổi
đă cao, quư vị muốn tinh tấn th́ thể lực
cũng không có cách nào chịu đựng được!
Khi tôi c̣n trẻ, chừng ba mươi tuổi, ba ngày không
ngủ, tinh thần vẫn sung túc. Tôi thấy quư vị thể
lực không bằng chúng tôi. Do vậy, trong một nơi bé
tẹo như thế này, hai mươi mấy người
mà kêu khổ suốt ngày, biết làm sao được!
Nhưng tôi nói lời
này, cũng đừng cho là thật. V́ sao vậy? Quư vị
chú ư nh́n ra ngoại quốc, [sẽ thấy] người
Trung Quốc ra nước ngoài, tinh thần liền nâng cao.
Chùa Pháp Quang ở Lạc Sâm Cơ (Los Angeles) chỉ có hai
người, tức là hai vị Thiền Quang và Chiếu Hoằng.
Hai vị này đều là học tṛ của tôi, đạo
tràng ấy rất lớn. Khi tổ chức pháp hội, gần
như tới một ngàn người [tham dự]. Hai
người mà có thể duy tŕ đạo tràng tới mức
tột bậc, quư vị làm sao sánh với họ được?
Nói như thế, nói chung là quư vị quen thói sống quá thoải
mái, không có cách nào hết! Cuộc sống của quư vị
quá thoải mái, quá đầy đủ, chưa phải chịu
khổ, cũng chẳng biết dụng công như thế
nào! Đây là chỗ đáng để chúng ta phản tỉnh
sâu đậm! Trong một đời người, sự
nghiệp thành tựu chẳng phải là điều ngẫu
nhiên! Ngạn ngữ thường có câu: “Ngật đắc khổ trung khổ, phương
vi nhân thượng nhân” (Chịu được sự
khổ nhất trong những sự khổ mới là người
bậc nhất trong loài người). Không được
rèn giũa, làm sao quư vị có thể thành tựu được?
“Xa ĺa hết thảy” chính
là khuyên chúng ta phải buông xuống, tận hết sức
buông xuống. Lại xem tiếp đoạn thứ tư:
(Sớ) Tứ, tâm cảnh vô
ngại niệm Phật môn, song chiếu Sự Lư, tồn
vong vô ngại. Đẳng chân môn chi tịch tịch. Hà Phật?
Hà tâm? Giám sự lư chi minh minh, thường tâm, thường
Phật, song vong chánh nhập, tịch chiếu song lưu.
(疏)四 心 境 無 礙 念 佛 門。雙
照 事 理,存 亡 無 礙。等 真 門 之 寂 寂,何 佛 何 心。鑒 事 理 之 明 明,常心 常 佛。雙 亡 正 入,寂 照 雙 流。
(Sớ) Bốn là
môn niệm Phật tâm lẫn cảnh vô ngại, cùng chiếu
cả Sự lẫn Lư, mất hay c̣n đều vô ngại,
tịch tĩnh giống như Tịch trong tánh thể chân
môn. Ǵ là Phật? Ǵ là tâm? Soi rơ sự lư sáng vằng vặc,
tâm thường hằng, Phật thường hằng, nhập
thẳng vào chỗ hai bên cùng mất, Tịch và Chiếu
cùng lưu lộ.
Trong
năm loại Năng Niệm này, ba loại trước
chú trọng tới phương diện tự chế ngự
phiền năo, tức là như chúng ta thường nói “công phu thành phiến, Lư nhất
tâm bất loạn, Sự nhất tâm bất loạn”,
chú trọng vào sự chế phục bản thân. Hai loại
sau chú trọng nơi sự hóa tha (hóa độ người
khác). Do đây biết rằng: Nếu quư vị không có cách
nào để thật sự đạt tới tâm lẫn cảnh
đều mất, buông xuống vạn duyên, buông xuống
hết thảy, sẽ chẳng thể đạt
được đại tự tại. Hai điều sau
chính là Vô Chướng Ngại Pháp Giới như kinh Hoa
Nghiêm đă nói. “Tâm cảnh vô ngại”
tức là Lư Sự Vô Ngại; “trùng
trùng vô tận” là Sự Sự Vô Ngại, nhập vào
trong cảnh giới vô chướng ngại. Trong năm loại
niệm Phật, có thể nói là càng về sau, càng sâu hơn
môn trước. Quư vị muốn thật sự thành tựu,
nhất định phải chiếu theo thứ tự thuận
ấy để tu học. Giống như chúng ta lên lầu,
phải lên theo từng tầng, lên cao dần! “Tâm cảnh vô ngại, song chiếu
Sự Lư” (Tâm và cảnh vô ngại, chiếu cả Sự
lẫn Lư). Trong phần trước là tâm lẫn cảnh
đều mất; bởi lẽ, hết thảy đều
là sai, xa ĺa hết thảy, quư vị đắc Định,
tâm quư vị đă được thanh tịnh; quư vị đă
đạt được “thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác”, đă chứng đắc!
Sau khi chứng
đắc, sẽ khởi tác dụng, tức là không có
chướng ngại. Đến khi khởi tác dụng, hết
thảy đều là đúng, song chiếu Sự Lư (cùng chiếu
cả Sự lẫn Lư), chẳng phải là “song giá” nữa. “Giá”
(遮)
là cả hai bên đều phủ
định, đều là không. “Song
chiếu” là cả hai bên đều tồn tại. Quư vị
phải hiểu ư nghĩa thật sự của Song Giá và
Song Chiếu. Song Giá là nói theo mặt Thể (bản thể
) của Tánh, Song Chiếu là luận theo mặt Dụng (tác
dụng) của Tánh. Thể là không tịch (rỗng lặng),
do vậy, quyết định chẳng thể chấp
trước, nhưng Thể có thể hiện tướng,
biến hiện ra y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười
pháp giới, biến hiện những tướng ấy.
Thể là không, th́ Tướng là có hay không có? Tướng
cũng không có, v́ thế, “tướng ấy có” là giả
có, trong kinh Phật gọi là “diệu
hữu”. Diệu Hữu là ǵ? Chẳng phải có,
nhưng có, tuy có nhưng chẳng phải là có; đấy mới
là diệu! Nếu mọi người không hiểu rơ th́ tôi
nghĩ là quư vị đều từng nằm mộng,
đều có kinh nghiệm nằm mộng, quư vị thấy
những h́nh tướng trong mộng, rốt cục là có
hay không có? Đợi đến khi tỉnh mộng rồi,
biết giấc mộng ta vừa mơ ấy, mộng là
giả, chẳng phải là thật, nhưng thật ra, khi
quư vị nằm mộng, có ǵ chẳng phải là thật?
Từ
thí dụ nông cạn, dễ thấy này, chúng ta hiểu
được y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp
giới cho đến Nhất Chân pháp giới cũng giống
như vậy, cùng một đạo lư. Quư vị hiểu
rơ chân tướng này, th́ gọi là “thấy thấu suốt”.
Thấy thấu suốt có nghĩa là triệt để liễu
giải chân tướng của sự thật. Chân tướng
của sự thật là ǵ? Chẳng có nhưng là có, có
nhưng chẳng phải là có, đúng như kinh Bát Nhă
đă dạy: “Phàm tất cả
những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”.
Câu này đă nói toạc ra, vạch trần ra. Kinh c̣n dạy
chúng ta: “Hết thảy các pháp
hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Quư vị
thấy thấu suốt, liễu giải chân tướng sự
thật, biết nó là mộng, huyễn, bọt, bóng, quư vị
có c̣n ghim nó trong ḷng hay chăng? Quư vị sẽ không làm như
vậy. V́ sao? Ghim nó trong ḷng là sai lầm! Nó đă không có,
quư vị ghim nó trong ḷng để làm ǵ? Chuyện quá khứ
không có, hiện tại cũng không có, vị lai cũng lại
không có, c̣n có ǵ để quư vị vướng mắc, c̣n
có ǵ để quư vị lo rầu nữa đây? Thật sự
hiểu rơ, thông đạt sự thật ấy, th́ quư vị mới hiểu được
ư nghĩa câu nói của đại sư Ấn Quang. Đấy
là thật sự đạt được đại tự
tại đấy!
“Song chiếu Sự Lư, tồn
vong vô ngại” (Cùng chiếu cả Sự lẫn Lư, c̣n
hay mất đều vô ngại). C̣n - mất là sanh diệt,
v́ sao sanh diệt vô ngại? Sanh diệt không hai, lư ấy rất
sâu, nhưng trong những phần trước, chúng tôi
đă từng nói qua rồi, nói rất nhiều lần! Các
nhà khoa học hiện thời cũng dần dần phát hiện
ra chân tướng sự thật này “sanh diệt trong từng sát-na”. Tướng sanh diệt
trọn chẳng thể được, đấy là một
cách nói. C̣n có cách nói khác, nói thật ra, đủ mọi cách
nói, vô lượng cách nói, đều nhằm diễn tả
một chuyện “Không - Hữu
chẳng hai, Tánh không, Tướng có”, cho nên chúng vô ngại.
“Đẳng chân môn chi tịch tịch”: “Đẳng”
là b́nh đẳng, “chân môn”
là tánh môn. Bản thể của Tánh là thật, vĩnh viễn
chẳng biến đổi. Trong Phật pháp nói tới chân
và vọng; phàm những ǵ biến đổi đều là
hư vọng, phàm những ǵ vĩnh hằng bất biến,
sẽ là chân. Quư vị phải hiểu cái vĩnh hằng bất
biến trong hết thảy các pháp thế gian lẫn xuất
thế gian chỉ có tự tánh. Ngoài tự tánh ra, có pháp nào
bất biến đâu?
Động
vật có sanh, lăo, bệnh, tử; thực vật có sanh, trụ,
dị, diệt, khoáng vật, tinh cầu có thành, trụ, hoại,
không, thậm chí hư không, hư không luôn có sanh diệt, chỉ
v́ thời gian của nó rất dài, thọ mạng của chúng
ta ngắn ngủi, cho nên chẳng thể cảm nhận, quan
sát được. Chuyện này đă được kinh Phật
giảng rất rơ ràng, đại sư Vĩnh Gia cũng
đă từng nói: “Mộng lư
minh minh hữu lục thú, giác hậu không không vô đại
thiên” (Mộng th́ sáu nẻo rành rành, giác rồi cả cơi
đại thiên tan tành), đại thiên thế giới
đấy nhé! Tông môn thường nói: “Phấn toái hư không” (Nghiền nát hư không
thành bột). Do vậy, trong Tướng Tông, hư không
được xếp vào pháp Vô Vi. Tức là xét theo mặt
tướng, nó tợ hồ vô vi. Pháp Vô Vi gồm có sáu loại,
chỉ có một thứ, tức Chân Như Vô Vi, là thật,
những thứ khác đều chẳng thuần chân. Chân là
tịch, trong hai chữ Tịch (trong câu “đẳng chân môn chi tịch tịch”) th́ một
chữ Tịch là động từ, chữ kia là danh từ.
Do vậy, [câu “đẳng chân
môn chi tịch tịch” có nghĩa là] thanh tịnh, tịch
diệt giống như Tịch trong tánh thể chân môn, tức
là tướng tịch diệt.
Trong kinh
Nhân Vương, đức Phật đă giảng về
năm địa vị của Bồ Tát, tức Ngũ Nhẫn.
Cao nhất là Tịch Diệt Nhẫn. Thấp hơn Tịch
Diệt Nhẫn là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Chúng ta thường
nói tới Vô Sanh Pháp Nhẫn; bài kệ hồi hướng
của người niệm Phật có câu “hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Vô Sanh Pháp Nhẫn
chẳng phải là cao nhất, nó là pháp được chứng
bởi hàng Bồ Tát. Trong bộ kinh này, đức Phật
bảo chúng ta, bậc chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn là Thất
Địa, Bát Địa, Cửu Địa, cũng không phải
là hết sức cao! Sở chứng của Thập Địa
và Đẳng Giác Bồ Tát là Tịch Diệt Nhẫn,
đấy chính là “đẳng
ư chân môn chi tịch tịch”.
“Hà Phật, hà tâm” (Ǵ là Phật?
Ǵ là tâm?): Nói Phật hay nói tâm, đều là cách nói
phương tiện của chư Phật Bồ Tát dành cho
chúng sanh, nói thuận theo Tục Đế. Đấy là v́
đức Phật thuyết pháp đă y theo Nhị Đế
(Chân Đế và Tục Đế) để nói. Đây
chính là nguyên tắc chung để thuyết pháp, dựa vào
đâu để nói? Dựa vào Nhị Đế. Trong Nhị
Đế th́ một là Chân Đế; Chân Đế là chân
tướng của sự thật, là cảnh giới
được đích thân chứng bởi các vị đại
Bồ Tát. Loại thứ hai là dựa theo Tục Đế,
Tục Đế là những ǵ phàm phu chúng ta thường
nhận biết, là kiến giải của phàm phu. Nói tới
Phật hay nói tới tâm, đều là thuận theo kiến
giải của phàm phu để nói. C̣n nếu tùy thuận
cảnh giới của chư Phật Như Lai th́ sao? Bèn sẽ
là “Ǵ là Phật? Ǵ là tâm?” Nào
có Phật hay có tâm? Danh tướng ấy hoàn toàn chẳng
có! Danh tướng ấy chẳng phải là thật! Khi Phật
giáo chưa truyền đến Trung Quốc, Lăo Tử của
Trung Quốc đă từng nhắc tới đạo lư ấy:
“Đạo khả đạo
phi thường đạo, danh khả danh phi thường
danh”. “Danh” là danh từ,
thuật ngữ. Quư vị khởi lên những danh từ,
thuật ngữ th́ đă mắc sai lầm! Vốn chẳng
có danh, quư vị khởi lên cái danh, tức là đă lầm lẫn!
Khởi lên cái danh, tức là có phân biệt, có chấp
trước. Do vậy, nào có Phật, nào có tâm?
“Giám sự lư chi minh minh”: Chữ “giám”
(鋻)
ở đây là quan sát, quan sát hết
thảy sự vật, hết thảy nguyên lư trong vũ trụ.
Hai chữ “minh” (明) ở đây cũng một chữ là danh
từ, chữ kia là động từ, [hàm nghĩa] rơ ràng,
minh bạch. Câu “đẳng
chân môn chi tịch tịch” trong phần trước, nếu
nói theo theo kinh Bát Nhă, sẽ chính là “Bát Nhă vô tri”, Tịch là vô tri. “Giám sự lư chi minh minh” chính là “vô sở bất tri” (không ǵ chẳng biết). “Bát Nhă vô tri, vô sở bất tri”.
Nếu quư vị muốn không ǵ chẳng biết th́ trước
hết quư vị phải đạt tới “vô tri”. Đạo lư này nằm ở chỗ nào?
Quư vị phải hiểu: Khi tâm địa đạt tới
chỗ thanh tịnh, tịch diệt, Phật pháp lẫn
pháp thế gian quư vị đều buông xuống hết.
Quư vị c̣n có chút ǵ đó, sẽ chẳng thể đạt
đến tịch diệt, quư vị chẳng nhập cảnh
giới ấy. Toàn bộ đều buông xuống, tánh thể
của quư vị hoàn toàn hiện tiền. [Sẽ thật sự
nhận biết] tận hư không, trọn pháp giới do tự
tánh biến hiện, há có thứ ǵ tự tánh chẳng biết!
Đâu có đạo lư ấy! Tự tánh là Năng Biến,
vạn pháp là Sở Biến. Sau khi nhập được
cảnh giới ấy, Năng và Sở là một, không hai;
do vậy, trong cảnh giới ấy, Tịch là giống
như sự tịch tịnh (vắng lặng, thanh tịnh)
trong chân môn, đồng thời lại có thể chiếu
rơ hết thảy vạn pháp rơ rệt, minh bạch.
“Thường tâm, thường Phật”:
Ở đây lại nêu lên một chuyện để thí dụ.
“Thường tâm, thường
Phật” là nói theo mặt Tướng, nói theo mặt Dụng.
“Hà tâm, hà Phật, phi tâm, phi Phật”
là nói theo mặt Lư, nói theo mặt Tánh. “Song vong chánh nhập” (Nhập thẳng vào nơi
hai bên cùng mất), hai bên chẳng lập, Trung Đạo
cũng không có, nếu quư vị cho là có Trung Đạo th́
quư vị lại chấp trước rồi, quư vị lại
phân biệt, chấp trước mất rồi! Đây
đúng là một niệm chẳng sanh.
“Tịch Chiếu song lưu”: Cảnh giới này và cảnh giới
trong phần trước khác nhau ở chỗ nào? Chúng ta nhất
định phải phân biệt được chỗ này.
Cảnh giới trong phần trước tuy có Thể,
nhưng không có Dụng. Người ấy khế nhập
thể tánh, đạt đến vô sở niệm; người
ấy thật sự niệm, có Thể, nhưng chẳng
có Dụng. C̣n trong tầng thứ tư này, lại vừa
có Thể, vừa có Dụng, từ Thể khởi Dụng.
Nếu dùng Bát Nhă để nói, phần trên chú trọng nơi
“Bát Nhă vô tri”; c̣n trong phần
thứ tư th́ chú trọng nơi “Bát Nhă vô sở bất tri” (Bát Nhă không ǵ chẳng
biết), nó khởi tác dụng. Do đây biết rằng:
Trong Phật pháp, công phu Tịch Chiếu này cũng có thể
gọi là pháp môn Tổng Tŕ. Gọi là Tổng Tŕ v́ đây
là tổng cương lănh, tổng nguyên tắc trọng yếu,
bất luận tu học pháp môn nào, [đều phải tuân
theo tổng nguyên tắc ấy]. Niệm Phật cũng chẳng
phải là ngoại lệ. Tịch là tâm thanh tịnh; do vậy,
chúng ta tu môn ǵ, chính ḿnh phải hiểu rơ. Tu tâm thanh tịnh
là đúng, tu đúng như pháp. Tâm nhất định phải
thanh tịnh. Muốn tâm thanh tịnh, nhất định
phải ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Chẳng những đối với pháp thế
gian, không thể có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, mà trong Phật pháp cũng chẳng được
có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
đều chẳng thể được! Phải dụng
công ở nơi ấy, tức là phải thật sự thấy
thấu suốt, buông xuống. Chiếu là điều ǵ
cũng hiểu rơ, trọn chẳng mê hoặc. Nếu có Tịch
mà không có Chiếu th́ thưa cùng quư vị, đấy chính
là vô minh. Có Chiếu nhưng không có Tịch th́ gọi là Cuồng
Huệ. Công phu Tịch và Chiếu phải b́nh đẳng,
đấy gọi là Thiền Định.
(Sớ)
Ngũ, trùng trùng vô tận niệm Phật môn.
(疏)五 重 重 無 盡 念 佛 門。
(Sớ)
Năm là môn niệm Phật
trùng trùng vô tận.
Phần
trước nói về từ Thể khởi Dụng, ở
đây, hoàn toàn nói về tác dụng; tác dụng vô lượng
vô biên. Một bộ kinh Hoa Nghiêm nhằm hiển thị
pháp môn Niệm Phật trùng trùng vô tận.
(Sớ)
Lư kư vô tận.
(疏)理 既 無 盡。
(Sớ)
Lư đă vô tận.
Lư là tâm
tánh, đúng là chẳng cùng tận. Bát Nhă cũng nằm
trong số lượng đó.
(Sớ)
Dĩ Lư dung Sự, Sự diệc vô tận.
(疏)以 理 融 事,事 亦 無 盡。
(Sớ)
Dùng Lư để dung hội
Sự, Sự cũng vô tận.
Sự
tướng do đâu mà có? Sự tướng từ thể
tánh biến hiện ra. Nói cách khác, Năng Biến vô tận,
đương nhiên là Sở Biến cũng vô tận.
Đấy là chân tướng của sự thật. Do vậy…
(Sớ)
Cố tùy nhất môn, nhiếp nhất thiết môn.
(疏)故 隨 一 門,攝 一 切 門。
(Sớ)
Cho nên bất cứ một
môn nào đều nhiếp hết thảy các môn khác.
“Tùy” là tùy ư lấy một môn, “nhất” là bất cứ môn
nào, chứ không phải là độc nhất, chẳng phải
là chuyên nhất. Bất cứ một môn nào, cũng đều
có thể bao quát hết thảy môn. Do vậy, trong kinh Đại
Thừa, đức Phật thường nói một lỗ
chân lông nơi chánh báo của chúng ta, một vi trần trong
y báo đều có thể thâu nhiếp trọn khắp vô
lượng vô biên pháp giới. Tận hư không, trọn pháp
giới là ở đâu vậy? Trên đầu một sợi
lông! Đầu sợi lông không ph́nh to, pháp giới cũng
chẳng rút nhỏ, v́ sao trong một đầu lông có thể
thấy một pháp giới? Trong một đầu lông, thấy
một vị Phật giảng kinh thuyết pháp chẳng hy
hữu. Thấy vô lượng vô biên chư Phật đang
giảng kinh thuyết pháp, đấy mới là mầu nhiệm!
Đấy chính là điều thường được kinh
Hoa Nghiêm nói tới. Quả thật, chúng ta không có cách nào
tưởng tượng được, pháp môn vô chướng
ngại chẳng thể nghĩ bàn! Lư của nó là như thế,
Sự cũng giống như thế. Do vậy, chúng ta mới
thật sự liễu giải lời Phật dạy: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng
có cao thấp”, đúng là như vậy đó!
Những
pháp môn nào vậy? Pháp thế gian hay xuất thế gian, bất
cứ một pháp nào cũng đều là pháp môn. Lại
thưa với quư vị, đâu có pháp nào là Phật pháp hay
pháp thế gian! Phật pháp hay pháp thế gian đều là
tùy thuận chúng sanh mà nói, thuận theo hư
vọng, phân biệt, chấp trước của chúng sanh
để nói. Phải nói với quư vị sự tướng
chân thật: Không có pháp thế gian, mà cũng chẳng có Phật
pháp! Trong phần trước đă nói “hà tâm, hà Phật”, ǵ là tâm, ǵ là Phật, ǵ là pháp thế
gian, ǵ là Phật pháp, đều chẳng có! Trong tâm quư vị
từ trước đến nay chẳng dấy lên những
ư niệm ấy th́ tâm quư vị chính là pháp giới, pháp giới
chính là tâm của quư vị, tâm là chính ḿnh, chính ḿnh là pháp giới,
tận hư không, trọn pháp giới là chính ta. Nhập cảnh
giới ấy th́ gọi là “nhập
pháp giới”. Chúng tôi giảng bộ kinh này, trong kinh [Bát
Thập] Hoa Nghiêm gọi phần này là “Nhập Pháp Giới
Phẩm”. Những vị [Pháp Thân đại sĩ] ấy
nhập như thế nào? Nhập như vậy đó! Do vậy,
phải nhớ kỹ: “Cố
tùy nhất môn, nhiếp nhất thiết môn” (Cho nên dùng bất
cứ một môn nào đều nhiếp hết thảy các
môn khác). Chúng ta hiểu được đạo lư này, quư
vị tu học sẽ định được cái tâm. Biết
điều ǵ? Bất cứ pháp môn nào cũng đều có
thể thâu nhiếp trọn khắp vô lượng vô biên
pháp môn, vô lượng vô biên pháp môn đều bao quát trong một
môn này của ta.
Nay chúng
ta chọn lấy một môn, môn nào vậy? Nam Mô A Di Đà
Phật. Tất cả vô lượng vô biên pháp môn thế
gian hay xuất thế gian đều nằm trong một môn
này. Người khác chọn pháp môn tham
Thiền th́ vô lượng vô biên pháp môn đều nằm
trong sự tham cứu của người ấy. C̣n người
khác nữa tŕ chú th́ suốt ngày từ sáng đến
tối niệm chú, hết thảy các pháp môn đều nằm
trong một câu chú. “Một tức
hết thảy, hết thảy chính là một”, đâu có
cái nào là tốt, cái nào không tốt ư? Tốt giống hệt
như nhau, đều tốt cả! Trong những cái đều
tốt, chúng ta phải biết căn tánh của chính ḿnh,
pháp môn nào thích hợp cho ta học, ta tu rất thuận tiện,
tu học không phí sức, tu rất hoan hỷ, rất tự
tại, quư vị sẽ thành tựu đặc biệt dễ
dàng! Đấy là điều mà các vị tổ sư,
đại đức kể cả chư Phật, Bồ
Tát đều bảo với chúng ta: “Niệm Phật thuận
tiện nhất. Pháp môn này thuận tiện nhất, dễ
dàng nhất!”
(Sớ)
Dung tư ngũ môn, dĩ vi nhất trí.
(疏)融 斯 五 門,以 為 一 致。
(Sớ)
Dung hợp năm môn này
thành một.
Đối
với năm môn đă nói trên đây, đem cả năm
môn viên dung quy nạp thành một.
(Sớ)
Tức thị thử trung năng niệm chi tâm dữ tiền
sở niệm thập Phật cảnh hợp.
(疏)即 是 此 中 能 念 之 心 與 前 所 念 十 佛 境 合。
(Sớ)
Tức là hợp cái tâm niệm
Phật ở đây với mười cảnh Phật
được niệm đă nói trong phần trước.
Phần trước
nói tới hai mươi môn, hai mươi môn được
chia thành hai đoạn, đoạn trước là Phật,
đoạn sau là pháp. Trong phần trước, tôi đă từng
nói qua rồi. Đấy là Sở Niệm (đối
tượng được niệm), c̣n trong đoạn
này nói tới Năng Niệm (cái tâm niệm Phật). Cái tâm
Năng Niệm và Phật cảnh được niệm
tương hợp, tương ứng.
(Sớ)
Phi hợp, phi tán.
(疏)非 合 非
散。
(Sớ)
Chẳng hợp, chẳng
tan.
Hợp
có giới hạn của hợp hay không? Hợp ở chỗ
nào? Đúng là giống như nước và sữa ḥa lẫn,
không có cách nào phân chia. Đừng nghe kinh này xong, đọc
đoạn văn tự này xong, sẽ lại bị nó xoay
chuyển. “Lại có một Năng, lại có một cái Sở,
lại có một cái Hợp”, như vậy là hỏng rồi!
Nhiều thứ như vậy sao? Nghe xong, quư vị phải
biết dung hội. Do vậy, phải là “ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự,
ĺa tướng tâm duyên”, quư vị mới khế nhập
được! Nếu quư vị phân biệt những
tướng này, chấp trước nơi những tướng
này, suốt cả một đời này, quư vị chẳng
thể khế nhập được! Đấy là chỗ
khó khăn trong việc học Phật. Nếu như quư vị
có thể thật sự ĺa tướng; đối với
ngôn thuyết, danh tướng, đều chẳng dấy
lên ư niệm, Phật pháp sẽ rất dễ dàng! Vừa
nghe liền ngộ nhập, chẳng phải là không có
người như vậy. Qua kinh điển, chúng ta thấy
trong thuở đức Thế Tôn thuyết pháp, những vị
đệ tử nghe đức Phật giảng kinh, thuyết
pháp, đức Phật chưa giảng xong, họ đă
khai ngộ, chứng quả, khế nhập. V́ sao họ có
thể như vậy, mà chúng ta chẳng thể? Các vị ấy
không phân biệt, không chấp trước, không khởi vọng
tưởng,. Ĺa tướng ngôn thuyết, tức là không
chấp trước. Ĺa tướng danh tự là không phân
biệt. Ĺa tướng tâm duyên là không có vọng tưởng.
V́ thế, các vị ấy vừa nghe, tuy nghe không nhiều,
liền nhập cảnh giới của Như Lai. Ngày nay,
chúng ta nghe, nghe mấy chục năm, càng nghe càng hồ
đồ, chẳng khai ngộ! Càng nghe
càng hồ đồ, càng nghe càng lắm vọng tưởng,
càng nghe phân biệt càng nặng, vậy có phải là hỏng
bét hay không? Bệnh đổ ra ở chỗ nào? Chính là do chúng
ta chấp trước ngôn thuyết, chấp trước
văn tự, chấp trước danh tướng, hỏng
ở chỗ này!
Do vậy,
ở đây nói “phi hợp, phi
tán” (chẳng phải hợp, chẳng phải tan).
Đem hai thứ hợp và tán, hợp và tán là hai pháp, là hai
đầu mối, gạt bỏ hết, sau đó sẽ là
cảnh giới này:
Thiệp
nhập
trùng trùng.
(疏)涉 入 重
重。
(Sớ)
Tiến nhập tầng
tầng lớp lớp.
“Trùng trùng” có nghĩa là vô tận.
Nói thật ra, trùng trùng trong tự tánh ư? Thật đấy!
Trong tự tánh, vốn chẳng có trùng trùng. Trùng trùng vô tận
pháp giới đều sanh từ vọng tưởng, chấp
trước của hết thảy chúng sanh. Sau khi quư vị
nhập cảnh giới ấy xong, đối với cảnh
giới của vô lượng chúng sanh, quư vị đều
thấu hiểu rơ ràng, minh bạch, chúng ta thường gọi
đó là lục đạo, là mười pháp giới. Nhân
duyên, quả báo trong ấy, không có một điều nào chẳng
rơ ràng, không có một điều nào chẳng hiểu rơ. Do vậy,
quư vị có thể phổ độ hết thảy chúng
sanh. Chư Phật, Bồ Tát, Pháp Thân đại sĩ
đều có năng lực ấy. V́ sao các ngài không đến
độ tôi vậy? Duyên chưa chín muồi! Thế nào là
duyên chưa chín muồi? Đến giảng cho tôi, tôi vẫn
chẳng thể tin tưởng; nói với tôi, tôi nghe hiểu,
nhưng tôi vẫn làm không được, tức là duyên
chưa chín muồi! Duyên đă chín muồi th́ [căn cơ
của] người ấy thành thục, các Ngài cũng sẽ
độ. “Phật thị môn
trung, bất xả nhất nhân” (Trong cửa nhà Phật,
chẳng bỏ một ai). Đại chúng [căn cơ] chín
muồi rồi, các Ngài sẽ dùng ứng thân đến
độ. Mỗi một cá nhân căn cơ chín muồi,
các Ngài thường dùng hóa thân để độ, đúng
là “trong cửa nhà Phật, chẳng
bỏ một ai”. Do vậy, chúng ta học Phật, đừng
nên trách móc Phật, Bồ Tát không chiếu cố chúng ta! Trên
thực tế, chư Phật, Bồ Tát suốt ngày từ
sáng đến tối ở quanh chúng ta, các Ngài hiểu rơ
chúng ta, nhưng chúng ta chẳng nhận biết các Ngài. Tới
khi nào tâm chúng ta thật sự mong cầu pháp, cầu pháp tức
là thật sự mong cầu “thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác”, Phật, Bồ Tát sẽ hiện tiền, đến
dạy cho quư vị phương pháp, đến giúp đỡ
quư vị, thành tựu quư vị.
(Sớ)
(疏)難 思 境 也。
(Sớ)
Là cảnh khó nghĩ
tưởng được.
“
(Sớ)
Thử sơ thiện hữu thôi thắng chi trung, toàn cụ
chư môn.
(疏)此 初 善 友 推 勝 之 中,全 具 諸 門。
(Sớ)
Trong phần đề
cao người khác thù thắng hơn chính ḿnh của vị
thiện hữu đầu tiên, có đủ trọn vẹn
các môn.
Trong
đoạn kinh văn đề cao những vị thiện
tri thức khác cao siêu hơn ḿnh của chương tỳ-kheo
Cát Tường Vân này, năm môn Năng Niệm và mười
môn Sở Niệm đều trọn đủ.
(Sớ) Hạ
chư thiện hữu
(疏)下 諸
善 友。
(Sớ) Các vị
thiện hữu kế tiếp.
Tiếp
theo là từ tỳ-kheo Hải Vân trở đi cho đến
tận Phổ Hiền Bồ Tát mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc.
(Sớ)
Hoặc hữu biệt dụng.
(疏)或 有 別 用。
(Sớ)
Hoặc có vị dùng
riêng.
Không nhất
định sử dụng toàn bộ, có vị chỉ sử
dụng mấy môn trong [mười môn Niệm Phật] ấy.
Có vị dùng mấy môn này, có vị dùng mấy môn kia.
Nhưng ở chỗ này là nói trọn hết [cả mười
môn], thảy đều trọn vẹn. Đọc những
phần sau từ đoạn kinh văn này trở đi,
quư vị sẽ có thể hiểu rơ. Do vậy, đoạn
này hết sức trọng yếu, đoạn này chính là tổng
cương lănh, tổng nguyên tắc. Dưới đây là nêu
một thí dụ:
(Sớ)
Giải Thoát trưởng giả dụng duy tâm môn.
(疏)解 脫 長 者 用 唯 心 門。
(Sớ)
Trưởng giả Giải
Thoát dùng môn duy tâm [niệm Phật].
Tức
là chuyên môn dùng môn thứ hai “nhiếp
cảnh duy tâm niệm Phật môn”. Ngài dùng môn ấy.
(Sớ)
Phổ Đức Tịnh Quang quán đức tướng
đẳng, giai thị thử trung chư môn biệt
nghĩa.
(疏)普 德 淨 光 觀 德 相 等,皆 是 此 中 諸 門 別 義。
(Sớ)
Phổ Đức Tịnh
Quang quán những thứ như đức tướng v.v…
đều là những nghĩa riêng biệt của các môn ở
đây.
Từ
đây trở đi, chúng ta đều có thể thấy rơ
[nhận định ấy].
(Sớ)
Tương thử ngũ môn, đối hội kinh văn,
khả dĩ ư đắc.
(疏)將 此 五 門,對 會 經 文,可 以 意 得。
(Sớ)
Đem năm môn này đối
chiếu với kinh văn, sẽ có thể hiểu
được ư nghĩa.
Quư vị
chỉ cần nắm được nguyên tắc vừa
nói trong đoạn văn này. Quư vị ai nấy hăy nên nhớ
kỹ, năm mươi ba lần tham học từ đây
trở đi, quư vị thấy được ư nghĩa của
lời đại sư nói th́ quư vị sẽ hiểu
được Ngài đă quy nạp vào một môn Niệm Phật
ở đây.
(Sớ) Niệm Phật nhất
môn, chư giáo hân tán, lư trí thâm viễn, thế đa cộng
hành, cộng phục lược tự, vô yếm phiền
thuyết.
(疏)念 佛 一 門,諸 教 欣 讚,理 致 深 遠,世 多 共 行。共 復 略 敘,無 厭 繁 說。
(Sớ)
Một môn Niệm Phật
được các giáo đều vui mừng khen ngợi, lư
đạt tới mức sâu xa, trong cơi đời
được đa số cùng hành, lại c̣n giải bày
đại lược, không ngại nói rườm rà.
Câu này nhằm
tổng kết pháp môn Niệm Phật chẳng thể
nghĩ bàn. “
Chúng ta thấy
trong Thiền Tông cận đại, lăo ḥa thượng
Hư Vân là bậc đại đức Thiền Tông thời
cận đại. Quư vị xem cuốn Phương Tiện
Khai Thị Lục, cuốn sách ấy có mấy chục
thiên [bao gồm] những khai thị lúc tuổi già của
lăo nhân gia, gần như là những lời Ngài dạy khi
đă một trăm mười bảy tuổi. Chúng tôi
đă đọc tập sách nhỏ ấy, trong ấy chỉ
có hai thiên giảng về tham Thiền, c̣n toàn bộ những
thiên khác đều là khuyên người khác hăy niệm A Di
Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ; đấy là bậc
chân thiện tri thức trong Tông môn! Ngài dạy chúng ta cầu
sanh Tịnh Độ, thưa với quư vị, lăo ḥa
thượng Hư Vân chẳng cầu sanh Tịnh Độ.
Ngài chẳng niệm A Di Đà Phật, Ngài chẳng cầu
sanh Tịnh Độ, nhưng Ngài dạy chúng ta niệm A
Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Ngài sanh về
đâu? Ngài sanh về chỗ Di Lặc Bồ Tát. V́ sao Ngài
không khuyên chúng ta niệm Di Lặc Bồ Tát, cầu sanh Di Lặc
Tịnh Độ? V́ chúng ta làm không được! Môn
đ́nh của Di Lặc Bồ Tát rất cao, chúng ta không
chen chân vào được, lăo ḥa thượng có năng lực
tiến nhập, chứ người b́nh thường chẳng
thể tiến nhập được. Nơi người
b́nh thường có thể tiến nhập chính là thế giới
Cực Lạc của A Di Đà Phật. Do vậy, trong lúc tuổi
già, Sư đặc biệt tán thán A Di Đà, khuyên tu Tịnh
Độ. Đấy là vị thiện tri thức chân
chánh. Những vị đồng tu học Phật chúng ta phải
biết trong xă hội hiện thời, người mang tri
kiến môn hộ sâu nặng rất đông, chấp trước
pháp môn của họ là siêu trỗi, chê [pháp môn của] những
người khác đều là sai trái.
Ở
ngoài, tôi thường nghe có người nói: “Thưa pháp
sư! Có người nghĩ một câu A Di Đà Phật chẳng
thể thành tựu, quá ít mà!” Người ấy đến
nói với tôi lời đó, tôi bèn bảo người ấy:
“Tôi nghe lăo pháp sư Đàm Hư đă nói trong cuốn Niệm
Phật Luận, lăo nhân gia giảng khai thị trong Phật
Thất, một đồ đệ của lăo ḥa thượng
Đế Nhàn làm nghề vá nồi, nhờ một câu A Di
Đà Phật mà đứng văng sanh. Tôi tin tưởng, tôi
căn cứ vào đấy là được rồi.
Người ta không biết chữ, thứ ǵ cũng
chưa từng học qua, mà một câu A Di Đà Phật niệm
suốt ba năm liền có thể đứng văng sanh. Tôi học
như vậy là đủ rồi, những thứ khác tôi
không mong mỏi. Quư vị cảm thấy một câu chẳng
đủ, muốn học cho nhiều, quư vị cứ học
thứ của quư vị, tôi vẫn hành pháp của tôi, tôi
quyết định chẳng bị quư vị lay động!”
Đấy là lư do v́ sao tôi lại cho in một vạn cuốn
Niệm Phật Luận, in ra với số lượng lớn.
Thật sự muốn nói tới chuyện cứu văn thế
giới trong hiện thời th́ cuốn Niệm Phật Luận
ấy c̣n hay hơn kinh Hoa Nghiêm nữa! Giảng kinh Hoa
Nghiêm xong, cũng có vị nghe xong hiểu lầm, chứ Niệm
Phật Luận tuyệt đối không gây hiểu lầm,
một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng cực,
không ai chẳng văng sanh! Nhưng điều cần nói ở
đây là phải buông xuống vạn duyên. Nếu quư vị
có hoài nghi, có xen tạp, quư vị vẫn chưa thể
thành công! Niệm đến mức không hoài nghi, không xen tạp,
không gián đoạn, không có một ai chẳng thành công!
Đấy chính là “Niệm Phật
nhất môn, chư giáo hân tán” (Một môn Niệm Phật
được các giáo vui vẻ khen ngợi), “hân” là vui vẻ, [“hân tán” là] hoan hỷ tán thán.
“Lư trí thâm viễn”: Lư luận
của pháp môn này hết sức sâu, hết sức rộng,
“Thế đa cộng hành”:
Cơi đời phần nhiều cùng hành là v́ [pháp môn này] được
hết thảy chư Phật khen ngợi. Đại
sư Thanh Lương là bậc chân thiện tri thức
đại từ đại bi, Ngài là tổ sư của
Hoa Nghiêm Tông, ở đây, Ngài khuyên chúng ta niệm Phật.
Trong hội Hoa Nghiêm, Ngài khuyên chúng ta niệm Phật, chẳng
sợ lôi thôi, chẳng sợ phiền phức, rát miệng
xót ḷng khuyên lơn chúng ta. Chúng tôi giảng đoạn này
đến đây, lại xem đoạn kinh văn tiếp
theo.
(Kinh)Như thị đẳng vô lượng
vô số Niệm Phật môn, nhi ngă vân hà năng tri năng
thuyết bỉ công đức hạnh.
(經)如 是 等 無 量 無 數 念 佛 門,而 我 云 何 能 知 能說 彼 功 德 行。
(Kinh) Vô lượng
vô số môn Niệm Phật như thế, ta làm sao có thể
biết được, nói được hạnh công
đức của các môn ấy.
Đây là
lời lẽ khiêm hư của tỳ-kheo Cát Tường
Vân. Ngài nói ra hai mươi mốt thứ, Sở Niệm gồm
hai mươi mốt môn, Năng Niệm gồm năm môn.
Nói thật ra, những điều Ngài đă nói đă gần
như viên măn rồi, nhưng Ngài sử dụng
phương pháp quy nạp, chứ nếu nói cặn kẽ
th́ chẳng thể tận. Nói cặn kẽ, sẽ là “vô lượng vô số môn Niệm
Phật”. Tất cả hết thảy các pháp môn đều
là môn Niệm Phật, không có một pháp nào chẳng phải
là môn Niệm Phật. Nếu chẳng phải là môn Niệm
Phật, làm sao quư vị có thể thành Phật được?
Bất luận quư vị tu hành một phương pháp nào,
tu hành đến tối hậu đều có thể thành Phật,
thành Phật chính là niệm Phật, niệm Phật mới
có thể thành Phật! Điều cuối cùng trong ba món
phước của Quán Kinh là “tin
sâu nhân quả”. Tin sâu nhân quả là như tôi đă nói rồi
đó, niệm Phật là nhân, thành Phật là quả; đấy
mới là đúng, là tương ứng. Tất cả hết
thảy các pháp môn đều có thể thành Phật, tất
cả hết thảy các pháp môn đều dạy hăy hành
môn Niệm Phật, bất quá phương pháp Niệm Phật
khác nhau!
“Nhi ngă vân hà năng tri năng thuyết
bỉ công đức hạnh”: Đây là lời lẽ
khiêm hư của Cát Tường Vân Bồ Tát. Tôi làm sao có
thể biết, có thể nói vô lượng vô biên công đức
của các pháp ấy! Đây là lời tổng kết, ư
nghĩa rất rơ ràng. Cho nên…
(Sớ) Tổng kết khả
tri.
(疏)總 結 可 知。
(Sớ) Có thể hiểu
được ư nghĩa của lời tổng kết.
Lại xem tiếp
đoạn lớn thứ năm trong kinh văn. Mỗi một
phần kinh văn đều gồm sáu đoạn lớn.
Đây là đoạn thứ năm:
(Kinh) Thiện nam tử! Nam
phương hữu quốc, danh viết Hải Môn. Bỉ
hữu tỳ-kheo, danh vi Hải Vân. Nhữ văng bỉ vấn,
Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
(經)善 男 子,南
方 有 國,名 日 海 門。彼 有 比 丘,名為 海 雲。汝 往 彼 問,菩 薩 云 何 學 菩 薩 行,修 菩薩 道。
(Kinh)
Này thiện nam tử!
Phương Nam có nước tên là Hải Môn. Nơi đó,
có tỳ-kheo tên là Hải Vân. Ngươi qua đó hỏi Bồ
Tát nên học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo
như thế nào?
Từ đoạn
văn này trở đi. Chúng ta xem lời chú giải cho
đoạn lớn thứ năm này.
(Sớ) Đệ ngũ, thiện
nam tử
(疏)第 五 善 男 子 南 方 有 國 下。
(Sớ) Thứ
năm, từ “Này thiện nam tử! Phương Nam có
nước…” trở đi.
Đoạn kinh văn
từ đây trở đi.
(Sớ)
Chỉ thị hậu hữu.
(疏)指 示 後 友。
(Sớ)
Chỉ dạy [cho Thiện
Tài đồng tử biết về] vị thiện hữu
kế tiếp.
Cũng tức
là nói theo cách hiện thời, Ngài giới thiệu một vị
thiện tri thức khác để Thiện Tài đến
tham học. Ngươi đến chỗ ta, những ǵ ta
biết đă nói hết cho ngươi rồi, đă dạy
toàn bộ cho ngươi rồi; nhưng ngươi là kẻ
rất khó có, ham học không mệt mỏi, đáng
được khen ngợi. Vậy th́ ta lại giới thiệu
với ngươi một vị thiện tri thức khác,
ngươi hăy đến nơi ấy để tham học,
thỉnh giáo vị ấy. Trong đoạn kinh văn này,
chia thành hai đoạn, hai đoạn [có độ dài] vừa
phải.
(Sớ)
Tiên chánh thị thiện hữu.
(疏)先 正 示 善 友。
(Sớ)
Trước hết, chỉ
thẳng vị thiện hữu.
“Chánh” là chỉ bày, chỉ bày
trực tiếp vị thiện hữu, chỉ bày vị
thiện tri thức.
(Sớ)
Hậu tán hữu thành ích.
(疏)後 歎 友 成 益。
(Sớ)
Tiếp đó, khen ngợi
những lợi ích đă được thành tựu bởi
vị thiện hữu ấy.
Đoạn
sau là tán thán, khen ngợi vị thiện tri thức mới
được Ngài giới thiệu. Khen ngợi đạo
đức, học vấn của vị ấy một phen
để tín tâm của Thiện Tài càng thêm mạnh hơn,
mong mỏi Thiện Tài qua chỗ ấy tham học sẽ
có thành tựu. Trong đoạn này lại chia thành hai đoạn
nữa, một hàng kinh văn chúng ta vừa mới đọc
chính là đoạn thứ nhất.
(Sớ)
Kim sơ.
(疏)今 初。
(Sớ)
Nay là đoạn thứ
nhất.
Đây là
đoạn thứ nhất.
(Sớ)
Tức Trị Địa Trụ thiện hữu.
(疏)即 治 地 住 善 友。
(Sớ)
Tức bậc thiện hữu
thuộc phẩm vị Trị Địa Trụ.
Trị
Địa Trụ là địa vị Bồ Tát thứ hai,
Cát Tường Vân đại diện cho Sơ Trụ, c̣n vị
kế tiếp là Nhị Trụ. Thiện Tài tham phỏng
Cát Tường Vân bèn thành Sơ Trụ Bồ Tát, Ngài lại
tham phỏng tỳ-kheo Hải Vân, nâng lên một cấp,
thành Nhị Trụ Bồ Tát. Mỗi một lần tham phỏng
một vị thiện tri thức, địa vị của
Ngài được nâng lên cao hơn. Những điều
được nói ở đây đều nhằm biểu
thị pháp.
(Sớ)
Hải Môn quốc giả,
(疏)海 門 國 者。
(Sớ)
Nước Hải Môn là…
“Nước Hải Môn” này nằm
ở đâu? Nếu quư vị khảo chứng lịch sử,
không có đâu! Trong địa lư cũng không có địa
phương này, trong lịch sử cũng không ghi chép về
nó, đều là do đức Thế Tôn thuyết pháp hàm ư
biểu thị pháp. Trong phần trước đă nói về
“Nam phương” rồi, trọn chẳng phải thật
sự là Đông, Nam, Tây, Bắc, trong phần trước
tôi đă nói phương Nam tượng trưng cho quang
minh. Phàm chỗ nào thiện tri thức trụ đều gọi
là “Nam phương”, cũng là nơi quang minh, nơi trí huệ,
mang ư nghĩa này, biểu thị ư nghĩa này, trọn chẳng
phải thật sự là Đông, Nam, Tây, Bắc. Thiện
tri thức trụ tại phương Bắc th́ nơi ấy
vẫn gọi là “Nam phương”. Trụ tại
phương Đông, vẫn gọi là “Nam phương”. “Nam
phương” biểu thị trí huệ, biểu thị ư
nghĩa này.
(Sớ)
Hải Môn quốc giả, bỉ quốc chánh
đương
(疏)海 門 國 者,彼 國 正 當 南 海 口 故。
(Sớ)
[Gọi là] nước Hải
Môn v́ nước ấy ở ngay cửa biển Nam.
Đây là
một cách giải thích. Ngài sống tại một nơi
chính là cửa biển của Nam Hải, là một bến cảng,
nay chúng ta gọi là “cảng khẩu”, nơi này là một hải
cảng. Hải cảng ấy có ư nghĩa ǵ?
(Sớ)
Biểu quán tâm hải.
(疏)表 觀 心
海。
(Sớ)
Biểu thị ư nghĩa
“quán biển tâm”.
Quư vị
thấy ư nghĩa này, Hải biểu thị ǵ? Biểu thị
tâm, tâm giống như biển cả. Tâm vô lượng vô
biên. Do vậy, biển này biểu thị cái biển tâm.
(Sớ)
Vi trị tâm địa thâm quảng môn cố.
(疏)為 治 心 地 深 廣 門 故。
(Sớ)
Là môn trị tâm địa
sâu rộng vậy.
Quư vị
thấy Trị Địa, Trị Trụ Địa là trị
cái ǵ? Trị tâm địa, tâm địa vừa sâu vừa
rộng, nói chẳng thể tận, thật sự là chẳng
có cùng tận.
(Sớ)
Tỳ-kheo Hải Vân giả.
(疏)比 丘 海 雲 者。
(Sớ)
Tỳ-kheo Hải Vân là…
V́ sao vị
tỳ-kheo này có tên là Hải Vân?
(Sớ)
Hải vi pháp môn.
(疏)海 為 法 門。
(Sớ)
Hải là pháp môn.
Hải
là biển tâm, là một pháp môn tu học.
(Sớ)
Phổ Nhăn pháp vân thâm quảng phú nhuận chư chúng sanh cố.
(疏)普 眼 法 雲 深 廣 覆 潤 諸 眾 生 故。
(Sớ)
Mây pháp Phổ Nhăn sâu rộng,
che phủ, thấm nhuần các chúng sanh.
Những
ư nghĩa hàm chứa trong danh hiệu của Ngài đều
được nói hết ra. “Phổ
Nhăn”, chúng ta thường tán thán Quán Thế Âm Bồ Tát
là Thiên Thủ Thiên Nhăn (ngàn tay, ngàn mắt), Thiên Thủ Thiên
Nhăn có nghĩa là Phổ Nhăn. Phổ là phổ biến, là
b́nh đẳng, không có phân biệt, cũng có nghĩa là
không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể. “Pháp Vân”: Vân là tỷ dụ
được sử dụng nhiều nhất trong kinh
điển. Vân (mây) tỷ dụ cho sự ǵ chẳng phải
có, chẳng phải không. Quư vị thấy chúng ta nh́n vào từng
tầng mây, thấy chúng bồng bềnh. Hiện thời,
máy bay của chúng ta bay lên trời, quư vị có nắm
được mây hay không? Không! Mây biểu thị chẳng
phải có, chẳng phải không, biểu thị Không và Hữu
như một, biểu thị ư nghĩa ấy, biểu thị
“Tướng có, Thể không”, Thể trọn chẳng thể
được, Tướng th́ có. Quư vị có thể tán
thưởng mây, nhưng chắc chắn là quư vị không nắm
bắt nó được! Quư vị chẳng thể có
được nó, “Tướng có, Thể không”, Thể trọn
chẳng thể được, nhưng có Tướng. Quư
vị có thể thưởng thức, vui thích mây, nhưng
chắc chắn là chẳng nắm bắt được
nó. Quư vị không bắt được nó, có Tướng,
nhưng không có Thể. Điều này cho chúng ta biết: Y
báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới giống
hệt như mây. Trên thực tế, mây ấy chính là
như “mộng, huyễn, bọt,
bóng” đă nói trong kinh Kim Cang. Mây là mộng, huyễn, bọt,
bóng, bản thể đều là không, trọn chẳng thể
được! Bản thể của y báo và chánh báo trang
nghiêm trong mười pháp giới đều là không, trọn
chẳng thể được! Từ câu nói này, quư vị
cũng thấy pháp giống như thế, chẳng những
là pháp thế gian trọn chẳng thể được,
mà Phật pháp cũng trọn chẳng thể được,
sự lư chân thật. “Thâm quảng
phú nhuận chư chúng sanh cố”: Phổ độ
chúng sanh, độ chúng sanh chính là chuyển đổi những
quan niệm sai lầm của bọn họ. Chuyển đổi
được ư niệm th́ sẽ thành Phật, thành Bồ
Tát.
(Sớ)
Biểu Trị Địa trung quán sát chúng sanh khởi ư
thập chủng thâm quảng bi cố.
(疏)表 治 地 中 觀 察 眾 生 起 於 十 種 深 廣 悲 故。
(Sớ)
Biểu thị ở
trong địa vị Trị Địa, quan sát chúng sanh, khởi
lên mười loại ḷng bi sâu rộng.
Trong pháp
môn đối trị tâm địa này, từ trong pháp môn
tâm địa, quan sát y báo, chánh báo trang nghiêm và hết thảy
chúng sanh trong mười pháp giới, dấy lên tâm từ bi
rộng lớn. Tâm từ bi là một động lực
để chư Phật, Bồ Tát phổ độ chúng
sanh. Do vậy, mới thị hiện các thứ thân, nói các
thứ pháp, thọ tŕ, đọc tụng, v́ người
khác diễn nói không chán mệt, hiện tượng ấy
do đâu mà có? Do từ mười thứ bi tâm sâu rộng
sanh ra. Do vậy, lời Ngài nói ở đây hay lắm. Từ
nay chúng ta hiểu rằng, Pháp Thân đại sĩ, chư
Phật Như Lai trong mười pháp giới độ
chúng sanh trong lục đạo, các Ngài làm những ǵ? Nguyên
khởi ở nơi đâu? Ở đây, chúng ta đều
thấy cả, đấy cũng chính là những điều
chúng ta phải sốt sắng nỗ lực học tập.
A! Hôm nay tôi giảng đến đây thôi!
Tập thứ mười ba (
Xin mở
quyển kinh, trang ba mươi, hàng thứ năm đọc
ngược từ dưới, bắt đầu từ
kinh văn:
(Kinh)
Hải
Vân tỳ-kheo năng thiện phân biệt khai phát quảng
đại thiện căn nhân duyên, đương linh nhữ
nhập quảng đại trợ đạo vị.
Đương linh nhữ thành quảng đại thiện
căn lực. Đương vị nhữ thuyết phát Bồ
Đề tâm nhân. Đương linh nhữ sanh quảng
đại thừa quang minh. Đương linh nhữ
đắc quảng đại Ba La Mật. Đương
linh nhữ nhập quảng đại chư hạnh hải.
Đương linh nhữ chuyển quảng đại thệ
nguyện luân. Đương linh nhữ tịnh quảng
đại trang nghiêm môn. Đương linh nhữ khởi
quảng đại từ bi lực.
(經) 海 雲 比 丘 能 善 分 別 開 發 廣 大 善 根 因 緣。當令 汝 入 廣 大 助 道 位。當 令 汝 成 廣 大 善 根 力。當 為 汝 說 發 菩 提 心 因。當 令 汝 生 廣 大 乘 光明。當 令 汝 得 廣 大 波 羅 蜜。當
令 汝 入 廣 大 諸 行 海。當 令 汝 轉 廣 大 誓 願 輪。當 令 汝 淨 廣 大 莊 嚴 門。當 令 汝 起 廣 大 慈 悲 力。
(Kinh)
Tỳ-kheo Hải Vân có thể
khéo phân biệt, khai phát nhân duyên thiện căn rộng lớn,
sẽ khiến cho ông nhập địa vị trợ
đạo rộng lớn, sẽ làm cho sức thiện
căn rộng lớn của ông được thành, sẽ
v́ ông nói cái nhân phát tâm Bồ Đề, sẽ làm cho ông sanh
được quang minh Đại Thừa rộng răi, sẽ
làm cho ông đạt được Ba La Mật rộng lớn,
sẽ làm cho ông nhập biển các hạnh rộng lớn,
sẽ làm cho ông chuyển thệ nguyện luân rộng lớn,
sẽ làm cho ông thanh tịnh môn trang nghiêm rộng lớn, sẽ
làm cho ông khởi sức từ bi rộng lớn.
Đoạn này tổng
cộng có mười câu. Câu thứ nhất trong mười
câu này là nói chung (tổng thuyết), chín câu sau đó là nói
riêng (biệt thuyết), khen ngợi thân cận thiện tri
thức th́ mới có thể thành tựu lợi ích chân thật.
Chúng ta đọc kinh văn, mỗi một câu là một ư
nghĩa. Lời khai thị của tỳ-kheo Cát Tường
Vân ở đây cũng ngầm dạy Thiện Tài đến
tham phỏng tỳ-kheo Hải Vân, nhất định sẽ
đạt được mười thứ lợi ích thù
thắng ấy. Câu thứ nhất nói tới tỳ-kheo Hải
Vân, lần trước đă giảng danh tự này rồi,
quư vị phải thấu hiểu ư nghĩa được
bao hàm trong danh từ này. Danh tự này biểu thị “quán tâm hải” th́ mới là
pháp môn đối trị tâm địa sâu rộng, mang ư
nghĩa ấy. Vị ấy có thể “thiện phân biệt khai phát quảng đại thiện
căn nhân duyên” (khéo có thể phân biệt, khai phát nhân
duyên thiện căn rộng lớn). Câu này là nói chung, hết
sức trọng yếu. Trong kinh Di Đà, đức Phật
dạy chúng ta: “Bất khả
dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân
duyên, đắc sanh bỉ quốc” (Chẳng thể dùng
chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để
được sanh về cơi ấy). Nói cách khác, văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, phải có đại
thiện căn, đại phước đức, đại
nhân duyên. Ba thứ này chẳng dễ ǵ gặp được,
nhưng ắt cần phải đạt được
đủ cả ba điều kiện ấy trong một
đời th́ người ấy mới có thể văng sanh.
Nói cách khác, chúng ta học Phật chẳng phải chỉ
trong một đời này, mà đời đời kiếp
kiếp đều tu học. Từ vô lượng kiếp
đến nay, v́ sao chúng ta chẳng thành tựu? V́ sao chẳng
thể văng sanh? Đại khái là do ba điều kiện ấy
chẳng thể đầy đủ cùng một lúc, có một
điều, thiếu hai điều, có hai điều, thiếu
một điều. Do vậy, nhiều đời nhiều
kiếp đều chẳng thể văng sanh. Hy vọng trong
một đời này, ba điều kiện ấy đều
có thể đầy đủ, chỉ cần chúng ta sốt
sắng nỗ lực, khắc phục phiền năo, tập
khí của chính ḿnh, tôi nghĩ sẽ có đầy đủ
duyên phận.
Chữ “thiện” trong kinh văn là chữ thiết yếu,
là mấu chốt của câu này, là cốt lơi trọng yếu.
Ngài “thiện năng phân biệt,
khai phát” (khéo có thể phân biệt, khai phát); “phân biệt” là có thể biện
định. Ngày nay chúng ta học Phật, thấy rất
nhiều đồng tu lúc đầu niệm Phật
cũng khá lắm, nghe nói gần đây lại đi học
Mật, lại đi tham Thiền, v́ nguyên nhân nào? Là do không
có năng lực phân biệt lợi - hại, được
- mất! Chúng tôi chẳng nói là chân hay vọng, cũng chẳng
nói là tà hay chánh. V́ sao? Mật pháp cũng là chánh pháp, cũng
chẳng phải là hư vọng; Thiền cũng là chánh
pháp, đều do đức Thế Tôn truyền lại,
đều là chánh pháp. Do vậy, nói tám vạn bốn ngàn
pháp môn, vô lượng pháp môn; nhưng quư vị không hiểu
rơ lợi - hại, được - mất, phải biết
căn khí của chính ḿnh! Nhiều pháp môn như vậy,
pháp môn nào có lợi đối với ta, tu học pháp môn ấy
trong thời gian ngắn ngủi của một đời
này, sẽ nhất định có thể thành công, có thể đạt
kết quả. Kết quả ấy chính là quyết định
thoát ly lục đạo. Thoát ly lục đạo là tiểu
quả. Quư vị thường thấy trong kinh nói “có thể
vượt thoát mười pháp giới”, đó gọi là
đại quả. Quả có hai thứ. Nếu như lục
đạo trọn chẳng thể vượt thoát, nói cách
khác, quư vị tu học không có kết quả. Điều
này trọn chẳng có ǵ kỳ lạ hết! Dùng ngay bản
thân chúng ta để nói, th́ chúng ta đời đời kiếp
kiếp tu hành đều không có kết quả, cho nên mới
luân hồi cho đến ngày nay.
Do vậy, “năng thiện phân biệt”
(có thể khéo phân biệt), bốn chữ này trọng yếu
lắm! Có thể biết căn khí của chính ḿnh, như
vậy th́ mới có thể “khai
phát nhân duyên thiện căn rộng lớn”. “Khai” là Bồ
Tát v́ Thiện Tài khai thị, v́ Thiện Tài tức là v́ chúng
ta. Ở đây, Thiện Tài đại diện cho đại
chúng bọn ta. V́ Thiện Tài khai thị chính là khai thị
cho chúng ta. “Pháp” là pháp khí, chúng ta nghe lời Ngài khai thị
xong, tâm muốn phát khởi, phát khởi thiện căn rộng
lớn. “Quảng đại”
(rộng lớn) chẳng phải là do một đời tu
hành, tích tập. Thiện căn và phước đức
do tu tập tích tụ từ vô lượng kiếp đến
nay đều được phát khởi. Đấy chính
là nhân duyên thiện tri thức khai thị cho chúng ta chẳng
thể nghĩ bàn! Đến cuối cùng, nói “nhân duyên thiện căn”. Tuy
trong ấy không nói tới phước đức, nhưng nói
tới thiện căn, nói tới nhân duyên, tự nhiên là có
phước đức ở trong ấy.
Câu nói này của tỳ-kheo
Cát Tường Vân, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, là
nói đến chương kế tiếp của
chương này, tức là chương nói về Thiện
Tài tham phỏng tỳ-kheo Hải Vân. Nếu hiểu theo
nghĩa rộng, câu nói này xuyên suốt năm mươi ba
lần tham học, quư vị hăy suy nghĩ: Có lần tham học
nào mà chẳng phải là Bồ Tát phân biệt, khai phát nhân
duyên thiện căn rộng lớn? Đến cuối cùng,
dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ; đấy chính là thiện căn, nhân duyên rộng
lớn viên măn. Nhân duyên, thiện căn rộng lớn
được thành tựu đều là do niệm Phật
cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, đấy là
thiện căn nhân duyên rộng lớn viên măn, nhân duyên thiện
căn rộng lớn thành tựu, đều do niệm Phật
văng sanh Tịnh Độ! Do vậy, Tứ Thập Hoa
Nghiêm là Văng Sanh Kinh, chứ không phải là kinh nào khác. Chúng
tôi nhớ cổ đức nói: “Vô
Lượng Thọ Kinh chính là trung bản Hoa Nghiêm, A Di
Đà Kinh là tiểu bản Hoa Nghiêm”, nói như vậy có
sai hay không? Không sai! Đem đối chiếu, so sánh với
kinh này, sẽ thấy rành rành minh bạch. Thiện căn,
phước đức, nhân duyên chỉ cho những điều
nào? Nói cặn kẽ th́ chẳng thể hết được,
trong phần sau Bồ Tát có phương tiện thiện xảo,
quy nạp [thiện căn, phước đức, nhân
duyên] thành chín loại lớn, tức là chín câu tiếp theo
đó. Chín câu ấy là nói riêng (biệt thuyết), đều
nhằm nói về thiện căn, phước đức,
nhân duyên. Quư vị không thân cận thiện tri thức, sẽ
không đạt được! Nhất định là phải
thân cận thiện tri thức, thường xuyên nghe thiện
tri thức răn dạy, thường xuyên đích thân thấy
sự hành tŕ của thiện tri thức, chúng ta sẽ muốn
học theo Ngài.
Câu thứ nhất trong
phần Biệt Thuyết, “đương
linh nhữ nhập quảng đại trợ đạo vị”
(sẽ làm cho ông nhập địa vị trợ đạo
rộng lớn). Câu này có nghĩa là quư vị gặp
được thiện tri thức, sẽ có thể đạt
được lợi ích ấy. Trong mỗi một câu
đều có ư nghĩa “quảng
đại” (rộng lớn). Đủ thấy rằng
Tổng chẳng rời Biệt, Biệt chẳng ĺa Tổng.
Ư nghĩa của “quảng
đại” là ở chỗ nào? Văng sanh thế giới Cực
Lạc th́ mới là thật sự quảng đại. Nếu
chẳng chịu cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới th́ dù có đạt được “trợ đạo vị”,
cũng không thể nói tới hai chữ “quảng đại” được, đấy
là sự thật! Hy vọng mọi người hăy chú tâm thấu
hiểu! “Trợ đạo”
là giúp cho quư vị tu đạo. Giúp chúng ta tu đạo chỉ
có một con đường, tức là thân cận thiện
hữu, thân cận thiện tri thức. Ư nghĩa này đă
được nói tới trong phần trước rồi!
Nếu quư vị có trí huệ, có phương tiện thiện
xảo, th́ hết thảy mọi người, hết thảy
mọi sự, hết thảy mọi vật chung quanh ta
đều là thiện tri thức, đều có thể
khơi gợi, phát khởi trí huệ chân chánh cho quư vị,
đều có thể giúp cho quư vị ngăn dứt phiền
năo tập khí từ vô thủy. Vấn
đề là chính quư vị có làm được hay
chăng? Nếu không làm được, hăy làm lại từ
đầu, t́m một vị thầy tốt để theo
Ngài tu học.
Vấn đề mấu
chốt ở đây là y chỉ một vị thầy,
nương tựa một vị thầy, nghe theo lời một
vị thầy dạy dỗ, đặt cơ sở vững
chắc cho sự tu học của chính ḿnh. Bất luận
tu học một pháp môn nào cũng không có ngoại lệ. Nếu
quư vị cùng một lúc thân cận hai, ba, bốn vị thầy,
quư vị sẽ chẳng thể thành tựu được.
V́ sao vậy? Mỗi một vị thầy tu một pháp môn
khác nhau, họ có kiến giải khác nhau, cho nên quư vị
nghe nhiều, học lắm, sẽ không có chỗ nào để
nương theo, thiện căn, nhân duyên sẽ đều
bị phá hoại hết. Đây là một đại sự
rất khẩn yếu, phải thân cận một vị thầy.
Đến khi nào mới có thể thân cận rất nhiều
thiện tri thức? Nhất định phải đợi
đến khi quư vị khai ngộ th́ mới được!
Hễ không khai ngộ, sẽ không được. Thế
nào là khai ngộ? Tiêu chuẩn được nêu trong tựa
đề kinh Vô Lượng Thọ rất chánh xác, quư vị
đạt được tâm thanh tịnh, đạt
được tâm b́nh đẳng, được chánh giác
th́ sẽ làm được. Trong hết thảy các pháp, tâm
thanh tịnh, tâm không nhiễm trước, tâm quư vị
thanh tịnh. Trong thuận cảnh chẳng khởi tâm tham,
trong nghịch cảnh chẳng khởi tâm sân, quư vị có
làm được hay không? B́nh đẳng là đối với
hết thảy các pháp không phân biệt, thanh tịnh là không
chấp trước, không phân biệt, không chấp trước;
giác là rơ ràng minh bạch, trọn chẳng hồ đồ!
Quư vị có công phu
như vậy, thưa với quư vị, quư vị có thể
vượt thoát mười pháp giới. Quư vị đắc
thanh tịnh, sẽ vượt thoát lục đạo. Quư
vị phải hiểu lục đạo đều chẳng
thanh tịnh. Người đạt được tâm
thanh tịnh, sẽ vượt thoát lục đạo,
đoạn được Kiến Tư phiền năo.
Người đạt được tâm b́nh đẳng, vượt
thoát mười pháp giới. V́ sao vậy?
Người không đạt được tâm b́nh đẳng,
sẽ c̣n thấy có A La Hán, c̣n thấy có Bích Chi Phật, c̣n
thấy có Bồ Tát, c̣n thấy có Phật, [tức là thấy
có] tứ thánh pháp giới, người ấy c̣n có phân biệt.
Người đạt được tâm b́nh đẳng, sẽ
không phân biệt, cho nên vượt thoát mười pháp giới,
nhập Nhất Chân pháp giới. Giác là phá một phần vô
minh. Khi ấy, quư vị có thể tham học khắp hết
thảy tri thức; do vậy, không phải là không có điều
kiện, mà là có điều kiện, có tiêu chuẩn.
Trong hội Văn Thù,
hội thứ nhất là hội Thập Tín, Thiện Tài
đồng tử thành tựu thanh tịnh b́nh đẳng
giác, thầy khuyên Ngài đi tham học, Ngài có tư cách tham
học. Lần tham học thứ nhất gặp được
tỳ-kheo Cát Tường Vân, dạy Ngài niệm Phật. Tỳ-kheo
Hải Vân truyền đại pháp cho Ngài, ba vị thiện
tri thức, ba vị thiện hữu đầu tiên tượng
trưng cho Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo. Do vậy, họ
đều dùng thân phận tỳ-kheo, để tượng
trưng cho Tam Bảo. Ngài Cát Tường Vân tượng
trưng cho Phật Bảo, ngài Hải Vân tượng
trưng cho Pháp Bảo, Phật Bảo là Giác, thật sự
giác ngộ, có như vậy th́ mới nhập được
“quảng đại trợ
đạo vị”. Ngày nay chúng ta tham phỏng tri thức,
cũng có nhiều vị có thể trợ giúp chúng ta tu học,
nhưng hai chữ “quảng
đại” th́ chưa có, đạt đến cảnh
giới của Ngài (tức Thiện Tài) th́ mới có “quảng đại”.
Câu thứ hai: “Đương linh nhữ thành
quảng đại thiện căn lực” (Sẽ làm
cho ông thành tựu sức thiện căn rộng lớn).
Mười câu này liên quan với nhau. Thiện căn rộng
lớn do đâu mà có? Từ trợ đạo rộng lớn
sanh ra. “Trợ đạo” ở
đây và “trợ đạo” như chúng ta thường nói,
nếu luận trên mặt cảnh giới có sai biệt rất
lớn, v́ sao vậy? Những vị Pháp Thân đại
sĩ như trong kinh này nói, phá một phẩm vô minh, chứng
một phần Pháp Thân, cho nên thiện căn, phước
đức trong vô lượng kiếp thảy đều
hiện tiền. Không chỉ là thiện căn do ta tu trong một
đời này, mà là thiện căn đă tu trong đời
đời kiếp kiếp đều hiện tiền. Dựa
vào thiện căn này để văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, quư vị hăy suy nghĩ xem,
đương nhiên là Thượng Thượng Phẩm
văng sanh.
Câu thứ ba: “Đương vị nhữ
thuyết phát Bồ Đề tâm nhân” (Sẽ v́ ông nói cái
nhân phát tâm Bồ Đề). Mỗi vị thiện hữu
vừa gặp Thiện Tài đều khen ngợi Ngài đă
phát tâm Bồ Đề. Thiện Tài thân cận thiện hữu,
câu thứ nhất là sẽ hướng về thiện hữu
thưa: “Con đă phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” rồi mới
thỉnh giáo tu Bồ Tát đạo như thế nào, học
Bồ Tát hạnh như thế nào? Trước hết, nói
rơ chính ḿnh đă phát tâm, phát tâm chẳng dễ dàng đâu!
Tâm Bồ Đề vừa phát, liền thoát khỏi mười
pháp giới, quư vị phải hiểu điều này. A La
Hán tuy thoát khỏi sự luân hồi trong lục đạo,
nhưng chưa phát tâm Bồ Đề. So với bọn
ta, kể như Bích Chi Phật, Quyền Giáo Bồ Tát, Phật
trong mười pháp giới đă phát tâm Bồ Đề,
nhưng nếu đem so với hàng Sơ Trụ Bồ Tát
trong Nhất Chân pháp giới, các vị ấy vẫn
chưa phát tâm Bồ Đề! Do đây biết rằng:
Phát tâm không dễ dàng! Mọi người đọc bộ
Đại Thừa Khởi Tín Luận của Mă Minh Bồ
Tát, “Khởi Tín” (dấy ḷng
tin) là bắt nguồn của Đại Thừa, vừa mới
nhập môn, khởi ḷng tin! Điều kiện để dấy
lên ḷng tin nơi Đại Thừa là ǵ? Chính là phát tâm Bồ
Đề! Trong sách ấy, Ngài đă giảng: “Trực tâm, thâm tâm, đại bi
tâm”. Nếu chẳng phát tâm Bồ Đề, sẽ chẳng
phải là kẻ đương cơ (người có
căn cơ thích hợp) đối với pháp môn này. Do
đây biết rằng: Bậc đương cơ của
Khởi Tín Luận chính là những vị Bồ Tát từ
hàng Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên, chẳng phải là
phàm phu đâu nhé!
Tánh tông đă như vậy
th́ Tướng tông cũng không ngoại lệ. Nhập môn
Tướng tông là Bách Pháp Minh Môn Luận. Tuy văn tự của
bộ luận này không dài, nhưng chú giải của các vị
tổ sư nhiều đời rất dài, mà cũng rất
nhiều. “Bách Pháp” là quy nạp
hết thảy các pháp, cô đọng hết thảy các pháp,
khiến cho quư vị từ một trăm pháp mà khai ngộ.
Hiểu rơ [một trăm pháp ấy] sẽ khai ngộ,
cũng là như hiện thời chúng tôi nói: “Hiểu rơ chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh”. Bách pháp là vũ trụ và nhân sinh, quư vị thật
sự hiểu rơ chân tướng của nó, quư vị mới
có thể vào được cửa Tướng tông trong
Đại Thừa. Do đây biết rằng: Tiêu chuẩn
của hai tông Tánh và Tướng trong Đại Thừa rất
cao. Chúng ta đọc Bách Pháp có khai ngộ được
không? Sách nói rơ ràng là “minh môn”,
chúng ta đọc xong, v́ sao lại càng đọc càng mê hoặc
hơn, càng đọc càng hồ đồ hơn? Do vậy,
tôi thường bảo người học Bách Pháp Minh Môn: “Không phải là quư vị học
Bách Pháp Minh Môn, mà là quư vị học Bách Pháp Ám Môn, Bách Pháp Mê
Môn đấy!” Quư vị bị những pháp ấy làm
cho mê man, chẳng dễ dàng đâu! Câu thứ ba là khen ngợi
phát tâm Bồ Đề, tâm Bồ Đề hết sức
thù thắng!
Do đây biết rằng:
Nay chúng ta quả thật là phàm phu, chính ḿnh phải thừa
nhận điều này, phải thừa nhận chính ḿnh
nghiệp chướng sâu nặng, tập khí rất sâu. Chính
ḿnh nhất định phải thừa nhận điều
này! Tu học bất cứ pháp môn Đại Thừa nào,
chúng ta đều chẳng thể phát cái tâm Bồ Đề,
đấy là nói sự thật! Không phát được tâm
Bồ Đề, quư vị có thành tựu ǵ đâu? Mỗi
ngày khởi tâm động niệm, vẫn là đúng - sai,
ta - người, tham, sân, si, mạn, quư vị nghĩ xem có
phải là t́nh trạng như vậy hay chăng? Nếu vẫn
làm những chuyện ấy, quyết định sẽ
luân hồi trong lục đạo, mà cũng có nghĩa là bất
luận quư vị tu học pháp môn nào, quư vị dụng công
ra sao, tu tập tốt đẹp như thế nào, chỉ
cần quư vị có đúng - sai, ta - người, chỉ cần
có tham, sân, si, mạn, kinh Kim Cang nói “ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng”, bốn tướng đầy
đủ, chắc chắn là quư vị chẳng thoát khỏi
luân hồi trong lục đạo. Quư vị tu học suốt
một đời, tŕ giới, niệm Phật, dẫu có
tu tốt đẹp, cũng biến thành phước báo
trong đời sau, chẳng giả chút nào!
Quư vị phải khéo
quán sát cặn kẽ, thế gian quả thật đă biến
tu hành thành phước báo đời sau. Người hưởng
phước mấy ai đầu óc tỉnh táo, vẫn chịu
tiếp tục tu hành? Nếu bị những thứ ngũ
dục, lục trần thế gian mê hoặc, vấn đề
ấy sẽ lớn lắm. Trong đời trước tu
được một chút phước báo ấy chẳng dễ
dàng, trong đời này sẽ hưởng hết rất
nhanh. Sau khi hưởng xong, tội nghiệp của quư vị
sẽ hiện tiền, lại đọa trong ba ác đạo,
đấy là điều nhà Phật thường gọi là
“tam thế oán” (nỗi oán
trong đời thứ ba). Đời thứ nhất tu
phước, đời thứ hai hưởng phước.
Hưởng phước, sẽ không tiếp tục tu, tạo
tội nghiệp; đời thứ ba sẽ đọa lạc,
đáng sợ vô cùng! Quư vị phải hiểu: Thời gian
hưởng phước rất ngắn, thời gian quư vị
đọa tam ác đạo chịu khổ quá sức là dài!
Nếu
hiểu rơ chân tướng sự thật này, phải làm
sao? Nhân duyên này của chúng ta đúng là “quảng đại nhân duyên” (nhân duyên rộng lớn).
Gặp được pháp môn Tịnh tông dạy quư vị
thật thà niệm Phật. Trong A Di Đà Kinh Yếu Giải,
đại sư Ngẫu Ích bảo chúng ta: “Chỉ cần ông nhất tâm, thành tâm, thành ư chuyên cầu
Tịnh Độ, chuyên niệm Di Đà, cầu sanh Tây
Phương, cái tâm ấy chính là tâm Bồ Đề rộng
lớn”. Cách nói này trước thời đại sư
Ngẫu Ích, đức Phật chưa từng nói tới, tổ
sư đại đức cũng chưa từng nhắc
tới, đại sư Ngẫu Ích là người thứ
nhất nói lời ấy, nói tuyệt diệu thay! Ngài nói có
hợp lư hay chăng? Quư vị đọc nhiều kinh giáo
Đại Thừa sẽ hiểu ngay, thật sự có
đạo lư! Quư vị có thể thấy A Di Đà Phật,
quư vị vượt thoát mười pháp giới, thế
giới Tây Phương chẳng ở trong lục đạo,
cũng chẳng ở trong mười pháp giới.
Huống
chi trong bốn mươi tám nguyện có
nói: “Lâm chung mười niệm
hay một niệm, đều có thể văng sanh”. Do vậy,
có những kẻ trông thấy nguyện này chẳng phục,
“trong một đời người ấy tạo tác tội
nghiệp, lâm chung một niệm hay mười niệm
đều có thể văng sanh, sao mà dễ dàng quá vậy!” Chẳng
tin tưởng, đâu có chuyện tiện nghi ấy! Thật
ra, những điều người ấy gọi là “tiện
nghi” là v́ tầm mắt người ấy nông cạn, ngắn
củn, chỉ thấy được một đời này, không thấy được
đời quá khứ. Có mấy ai khi lâm chung chịu niệm
Phật? Khi lâm chung chịu niệm Phật, niệm một
tiếng A Di Đà Phật văng sanh, đều là thiện
căn, phước đức, nhân duyên từ vô lượng
kiếp được phát hiện trong một lúc, chẳng
ngẫu nhiên! Do vậy, nếu quư vị thật sự hiểu
rơ, quư vị mới hiểu người ấy chẳng phải
là may mắn, mà là lúc đó thời tiết nhân duyên của
người ấy chín muồi, thiện căn, phước
đức, nhân duyên từ vô lượng kiếp đă chín
muồi trong khi ấy. Một sát-na chín muồi th́ trong một
sát-na liền văng sanh, người ấy sẽ làm Phật,
đâu phải là ngẫu nhiên! Do vậy, [hễ nói tới]
thiện căn, phước đức, nhân duyên th́ phải
bàn tới quá khứ, chẳng chỉ luận trong một
đời này. “Phát Bồ Đề
tâm nhân”, nhân ấy sâu lắm.
Câu thứ
tư: “Đương linh nhữ
sanh quảng đại thừa quang minh” (Sẽ làm cho
ông sanh được quang minh Đại Thừa rộng
răi). Đối với “Đại
Thừa” ở đây tuy quư vị không biết rất rơ
ràng, chỉ là một khái niệm lờ mờ, pháp Đại
Thừa, pháp Tiểu Thừa, nhưng thêm một chữ “quảng” ư nghĩa khác hẳn.
Đại Thừa thêm một chữ “quảng” th́ giống như Lục Tổ đại
sư đă nói trong Đàn Kinh là “thượng
thượng thừa nhân” (người thuộc bậc
thượng thượng thừa), vượt trỗi hết
thảy Đại Thừa. Quư vị thấy Ngài thuyết
pháp, Ngài nói những người được Thần Tú
tiếp dẫn là người căn tánh Đại Thừa,
c̣n những người được Tổ tiếp dẫn
là “người thuộc căn
tánh thượng thượng thừa”, vượt trỗi
hết thảy Đại Thừa. Những pháp Đại
Thừa thông thường có hạn lượng, thế
nhưng nếu quư vị văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, sẽ không có số lượng; đấy
là “quảng đại thừa
quang minh”. Thông thường, chiếu theo những pháp môn
khác để tu hành, phải tu đạt đến địa
vị từ Bát Địa trở lên th́ mới nhập
được cảnh giới ấy. Trước khi
đạt tới Bát Địa đều có hạn cuộc,
chẳng thể thật sự đạt tới tận
hư không, trọn pháp giới, người ấy chẳng
thể làm được. Nhưng những người
văng sanh thế giới Cực Lạc lại khác hẳn. [Nói
tới] kẻ văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh
Đồng Cư Độ, chẳng đoạn được
một phẩm phiền năo nào, là nói về hạng người
nào vậy? Chính là chúng ta, chẳng đoạn được
một phẩm phiền năo nào! Sanh sang Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thưa cùng với quư vị,
cũng là “quảng đại thừa
quang minh”, quang minh chiếu khắp.
Ở
đây, có hai ư nghĩa; một ư nghĩa là cúng dường
chư Phật, giống như kinh Di Đà đă nói: Quư vị
có năng lực cùng một lúc cúng dường hết thảy
chư Phật trọn khắp mười phương, chẳng
phải là cúng mỗi một vị Phật theo thứ tự,
có trước sau. Cần phải bao lâu mới có thể
cúng dường nhất loạt? Cùng một lúc! Do vậy
là “nhất thời”, kinh Phật
vừa mở ra là “nhất thời”,
“nhất thời” rất có
ư vị! “Nhất thời”
là đồng thời, không có trước sau. Có năng lực
ấy th́ chính là “quảng đại
thừa quang minh”. Ư nghĩa thứ hai là có thể đồng
thời phổ độ hết thảy chúng sanh tận
hư không, trọn pháp giới; đấy cũng là ư
nghĩa “quảng đại thừa
quang minh”. Quư vị có thể cúng trọn khắp chư
Phật, phổ độ chúng sanh. Tuy quư vị có năng lực
phổ độ chúng sanh, thưa với quư vị, chúng
sanh có duyên, nhưng đă chín muồi hay chưa? Hễ chín
muồi, quư vị sẽ độ cho người ấy
làm Phật. Nói thật ra, hễ đă chín muồi rồi,
người ấy sẽ có thể tin tưởng Tịnh
Độ, sẽ có thể phát nguyện cầu sanh. Đấy
là hạng người chín muồi.
Nếu
ưa thích Phật pháp, thậm chí ưa thích Tịnh Độ,
nhưng vẫn chẳng mong văng sanh, hạng người
như vậy rất nhiều, tôi đă gặp không ít. Kẻ
ấy khuyên người khác niệm Phật văng sanh, chính
ḿnh chẳng mong văng sanh. V́ sao? Người ấy có ư nguyện
phi thường lắm, nói: “Tôi muốn đời đời
kiếp hoằng pháp lợi sanh. Sợ đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, trông thấy
vàng ṛng làm đất, cung điện bảy báu, sẽ bị
những thứ ấy mê hoặc!” Người ấy có
quan niệm như vậy, sợ không thể tách ĺa thế
giới Tây Phương được, chẳng thể phổ
độ chúng sanh. Đấy là vọng tưởng tác
quái! Đối với Tây Phương thế giới, nhận
thức vẫn không rơ ràng y hệt như cũ. Chúng ta nghe
xong, không có cách nào nói với kẻ ấy được;
có nói, hắn cũng không tin tưởng. Hắn có lư riêng của
hắn, hăy từ từ đợi nhân duyên! Do vậy, duyên
của hết thảy chúng sanh chín muồi sớm hay muộn
khác nhau!
V́ thế,
Bồ Tát độ chúng sanh trong mười pháp giới, giống
như phẩm Phổ Môn đă nói: “Nên dùng thân nào để độ được,
bèn hiện thân ấy; nên dùng pháp nào để độ
được, bèn nói pháp môn ấy”. Đức Phật
hiện thân không có thân tướng nhất định, đức
Phật thuyết pháp, không có pháp nào nhất định
để nói. Do đây biết rằng: Chư Phật
Như Lai ở trong hư không pháp giới, trên cúng dường
chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh, tiêu sái chi
bằng? Tự tại chi hơn? Chúng ta muốn đạt
được cảnh giới ấy, quư vị hăy thật
thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Đấy
là con đường tắt nhanh nhất, quư vị sẽ
rất nhanh chóng đạt được. Đấy là sự
thù thắng của Tịnh Độ! Kinh Hoa Nghiêm, Tứ
Thập Hoa Nghiêm đặc biệt khen ngợi Tịnh
Độ. Trong phẩm trước của kinh này, tức
phẩm Ly Thế Gian, có nói hơn hai ngàn pháp môn. Đến
phần cuối cùng này, trong phần chứng nhập pháp giới,
bèn đặc biệt khen ngợi Tịnh Độ. Do v́
pháp môn này nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, chỉ cần
quư vị chịu tin, quư vị bằng ḷng đi (văng sanh),
không một ai chẳng được văng sanh. Đấy mới
là “quảng đại thừa
quang minh” chân thật. Quư vị gặp được vị
thiện hữu này, thiện hữu khai thị, thuyết
pháp cho quư vị. Quư vị nghe xong, thiện căn của
quư vị sẽ được khơi gợi, tự nhiên
quư vị có thể tin nhận, vâng làm; trong phần chú giải
này gọi [chuyện này] là “văn,
thọ tŕ pháp” (nghe, vâng giữ pháp).
Câu thứ
năm là “đương linh nhữ
đắc quảng đại Ba La Mật” (sẽ làm
cho ông đạt được Ba La Mật rộng lớn).
Ba La Mật (Pāramitā)
là tiếng Phạn, từ
văn tự, cổ nhân dịch trực tiếp thành “bỉ ngạn đáo”, theo
văn phạm của tiếng Hán là “đáo bỉ ngạn” (tới bờ bên kia). Chúng
ta vẫn chưa hiểu rơ ư nghĩa này lắm. “Đáo bỉ ngạn” là ǵ? Nếu
nói theo tiếng Hán, mọi người sẽ dễ hiểu
hơn. “Đáo bỉ ngạn”
có ư nghĩa là “đáo gia”, chúng ta gọi là “đáo gia”. “Đáo gia”
là ǵ? Tức là đạt đến rốt ráo viên măn, rốt
ráo viên măn th́ gọi là “đáo
gia”. Trong xă hội chúng ta, danh từ này được
dùng rất rộng răi. Quư vị viết chữ rất
đẹp, [người khác bèn khen]: “Nhĩ đích thư pháp đáo gia liễu”
(Thư pháp của anh đă đạt đến tuyệt mức
rồi). Quư vị vẽ rất khéo, “nhĩ giá cá thư họa đáo gia liễu” (bức
thư họa này của anh đạt tuyệt mức rồi).
Như vậy là tài khéo của quư vị đạt đến
tiêu chuẩn cao độ, người ta khen ngợi quư vị,
“công phu của quư vị đạt
tới tuyệt mức rồi”. Do vậy, ư nghĩa “đáo gia” chính là ư nghĩa của
Ba La Mật. Chúng ta gọi nó là “cứu
cánh viên măn” (rốt ráo viên măn) mọi người sẽ
dễ hiểu hơn, so với “đáo
bỉ ngạn”, “đáo gia” luôn dễ hiểu hơn, thật
sự rốt ráo viên măn.
Quư vị
làm viên măn rốt ráo những chuyện ǵ? “Quảng đại” là nói trong cuộc sống,
trong sinh hoạt thường nhật của quư vị, từng
ly từng tí đều đạt đến rốt ráo
viên măn, đấy mới gọi là “quảng đại”. Mặc áo cũng rốt ráo
viên măn, ăn cơm cũng là rốt ráo viên măn, quét đất,
lau bàn cũng là rốt ráo viên măn, không có ǵ chẳng phải
là rốt ráo viên măn, không có ǵ chẳng phải là Ba La Mật
Đa, đấy mới gọi là “quảng đại”. Cuộc sống, công việc,
sự tu học của quư vị dung hợp thành một Thể. Cuộc sống, công việc,
tu học là một, không phải hai, toàn là Bát Nhă Ba La Mật
rốt ráo viên măn. Kinh Đại Bát Nhă giải thích tường
tận câu này, mở rộng câu này thành sáu trăm quyển
Đại Bát Nhă. Do vậy, các vị đại đức
xưa nay đều công nhận kinh Hoa Nghiêm là căn bản
pháp luân của Phật giáo, hết thảy các kinh đều
là cành nhánh, quyến thuộc của Hoa Nghiêm. Bộ kinh
Đại Bát Nhă sáu trăm quyển là giải nói tường
tận một câu nói này, giải thích câu nói này đạt
đến mức trí huệ rốt ráo viên măn.
“Đương
linh nhữ nhập quảng đại chư hạnh hải”
(Sẽ làm cho ông nhập các biển hạnh rộng lớn).
Nếu không có câu này th́ Hạnh và Giải trong Ba La Mật
đều được bao hàm trong ấy. Nếu có câu tiếp
theo này th́ câu “Bát Nhă” là nói về
Giải, c̣n câu này là Hạnh. Giải viên măn th́ Hạnh sẽ
rốt ráo. Trong Hạnh cũng là vô lượng vô biên. Trong
Phật pháp, Hạnh được quy nạp thành ba loại
lớn, vô lượng vô biên các hạnh chẳng ra ngoài ba
loại lớn. Loại thứ nhất là Thân, tức tạo
tác nơi thân thể, hành vi nơi thân thể. Loại thứ
hai là Khẩu, Khẩu là lời nói. Loại thứ ba là Ư, Ư
là tư tưởng, ư niệm. Do vậy, hành vi của quư
vị chẳng ra ngoài phạm vi của ba thứ Thân - Khẩu
- Ư này, nhà Phật gọi là Tam Nghiệp. Chúng ta phải hiểu
rơ ràng ư nghĩa của Tam Nghiệp. Chính ngay trong khi tạo
tác, hành vi ấy được gọi là “tạo”. Khi tạo
tác xong th́ gọi là “nghiệp”. Do vậy, kinh Phật
thường nói tới “hành
nghiệp”, danh từ này mọi người cũng thấy
rất nhiều. “Hành” là
trong khi quư vị đang tạo tác, c̣n Nghiệp là kết
quả của sự tạo tác.
Kết
quả của tạo tác cũng có thể quy nạp thành ba
loại lớn, thiện nghiệp, ác nghiệp và vô kư nghiệp,
đấy là những ǵ phàm phu gây tạo. Quư vị tạo
ra những hành vi nơi ba nghiệp là lành, quư vị sẽ
được thiện quả, đấy là quả báo ba
đường lành trong lục đạo. Nếu tạo
ra nghiệp ác, quư vị sẽ được quả báo là
ba ác đạo, ác báo đấy! Nghiệp nhân và quả báo
chẳng sai mảy may! Đấy chính là điều kinh
thường dạy chúng ta: “Vạn
pháp giai không, nhân quả bất không” (Muôn pháp đều
không, nhân quả chẳng không), nhân duyên quả báo nhất
định là có! Không chỉ là đối với bọn
phàm phu chúng ta là có, mà Thanh Văn, Duyên Giác cũng có, đối
với chư Phật Bồ Tát vẫn là có. Thuở Thích Ca
Mâu Ni Phật c̣n tại thế, Ngài thị hiện quả
báo ba tháng ăn lúa mạch dành cho ngựa: Gặp phải nạn
đói, đi khất thực bên ngoài không có ǵ ăn, không một
ai cúng dường. Thời gian ba tháng cũng rất dài, v́
nguyên nhân nào? Đức Phật nói là do ác nghiệp trong
đời quá khứ. Điều này cho thấy đă thành
Phật rồi, cũng không có cách nào vượt thoát nhân quả,
chẳng có đạo lư ấy! Chư Phật, Bồ Tát chẳng
diệt nhân quả, các Ngài hiểu rơ ràng, minh bạch nhân
duyên quả báo, các Ngài hiểu rơ rệt. Phàm phu chúng ta hứng
chịu quả báo, chẳng biết tiền nhân (cái nhân thuở
trước), hiện tại tạo ra nghiệp nhân, chẳng
biết hậu quả (cái quả về sau). Những vị
Pháp Thân đại sĩ đều biết, các vị ấy
biết hiện tại hứng chịu quả báo là do nghiệp
như thế nào, là do nhân như thế nào trong quá khứ
[gây ra]; những ǵ tạo tác trong hiện tại sẽ trở
thành quả báo ǵ trong tương lai. Nhân trước, quả
sau, các vị ấy đều hiểu rơ ràng, minh bạch,
đấy gọi là “chẳng
lầm nhân quả”, chứ không phải là chẳng có
nhân quả!
Đại
sư Ấn Quang nói rất hay, trong thời đại hiện
tại của chúng ta, đem chuyện này giảng rơ ràng, giảng
minh bạch cho đại chúng trong xă hội, khiến cho ai
nấy đều tin nhân quả. Nhân quả là sự thật,
chẳng phải là do thánh nhân cố ư bịa ra nhằm trói
buộc quư vị, khuyên quư vị sửa lỗi hướng
thiện, mà nhân quả là sự thật. Mọi người
hiểu rơ đạo lư này, hiểu rơ sự thật này, tự
nhiên chẳng dám làm càn, làm quấy, chẳng tạo tội
nghiệp. Xă hội này sẽ được an định.
Xă hội có an định th́ mới có thể phồn vinh,
mọi người đều có phước báo, phước
do đâu mà có? Phước do chính ḿnh tu được! Quư
vị không tu phước, lấy đâu ra phước báo?
Người trong thế gian hiện nay, bất luận là
người Trung Quốc hay người ngoại quốc,
đều cầu tiền tài, đều điên cuồng
mong phát tài, mơ tưởng đến nỗi điên
đảo, mê hoặc, thần trí không tỉnh táo, ngày ngày
đều mơ phát tài.
Tiền
tài ấy có mơ tưởng được hay chăng?
Mong phát tài được hay chăng? Quyết định
là mong chẳng được! V́ sao không mong được?
Không có nhân! Trong kinh, đức Phật đă dạy chúng
ta: Chúng ta muốn thành Phật, sẽ có thể thành Phật,
muốn làm Bồ Tát, sẽ có thể
thành Bồ Tát. V́ sao có thể mong đạt được
những điều ấy? Do hết thảy các pháp sanh từ
tâm tưởng. Quư vị có nhân, ḷng mong tưởng của
quư vị là duyên, quư vị có nhân [cho nên sẽ đạt cái
quả]. Nếu không có nhân, dẫu có đủ duyên,
cũng chẳng thể kết quả được. Nhân
và duyên tụ hợp th́ quả báo mới hiện tiền. Đức
Phật dạy chúng ta: Tiền tài của người trong
thế gian là do đâu mà có? Do Tài Bố Thí mà có! Quư vị
không chịu tu Tài Bố Thí, cứ hằng ngày mong phát tài,
quư vị mong suốt cả đời, cũng không phát tài
được! Do vậy, quư vị muốn phát tài, phải
biết tu nhân. Quư vị muốn được thông minh,
trí huệ, phải tu Pháp Bố Thí. Quư vị muốn khỏe
mạnh, sống lâu, nhất định phải tu Vô Úy Bố
Thí. Đức Phật giảng rơ ràng, minh bạch như thế
đó, Phật chẳng gạt người. Đấy là
Phật dạy bọn phàm phu chúng ta như vậy.
Cách nói
này và những tổng nguyên tắc, tổng nguyên lư
được giảng trong kinh có mâu thuẫn nhau hay không?
Đức Phật dạy tổng nguyên tắc là “hết thảy các pháp sanh từ
tâm tưởng”, Hễ mong tưởng của cải,
của cải sẽ hiện tiền. Các vị ấy (hàng
Sơ Trụ Bồ Tát trở lên) có thể tưởng
được, nhưng chúng ta tưởng không được.
V́ thế, chẳng trái nghịch với tổng nguyên tắc,
không mâu thuẫn với tổng nguyên lư. Đến khi nào
quư vị mong phát tài th́ tiền liền đưa tới?
Đến khi minh tâm kiến tánh, trong tự tánh của quư
vị sẵn có vô lượng của cải. Do vậy, hễ
tưởng, nó liền đưa tới. Quư vị thấy
chư Phật, Bồ Tát khi cúng dường, vô lượng
trân bảo từ trên tay xuất hiện, hiển hiện
ra. Đấy chính là “hễ tưởng liền có”. Hiện
thời, chúng ta tưởng cách nào cũng tưởng không
ra, vấn đề là ở chỗ nào? Tự tánh chúng ta bị
phiền năo chướng ngại. Sở Tri Chướng
che lấp, tưởng cách nào cũng không ra được!
Đạo lư là ở chỗ này. Không ra được th́
làm sao? Tạm thời làm lụng, kiếm được
ít th́ xài ít, làm như vậy đó. Phàm phu trong lục đạo,
những người trong mười pháp giới, của cải
trong tự tánh đều chẳng thể hiện tiền,
tưởng cách nào cũng chẳng thể hiện tiền
được, cần phải tạm thời làm lụng.
Quư vị làm việc siêng năng, chăm chỉ, sẽ kiếm
được nhiều hơn một chút. Hễ lười
nhác, sẽ kiếm được ít hơn một chút. Tôi
vừa mới nói với quư vị, tu Tài Bố Thí
được giàu có, tu Pháp Bố Thí được thông
minh, trí huệ, tu Vô Úy Bố Thí được mạnh khỏe,
sống lâu. Đấy đều là những việc làm
trong lúc này. V́ thế, Phật pháp coi trọng minh tâm kiến
tánh.
Mục
tiêu cuối cùng trong sự tu học hết thảy các pháp
môn Đại Thừa đều nhằm minh tâm kiến
tánh, trọn chẳng phải chỉ có Thiền Tông mới
tu theo cách này. Tịnh Độ Tông chúng ta niệm Phật,
niệm đến nhất tâm bất loạn chính là minh tâm
kiến tánh. Do vậy, quư vị phải niệm đến
mức Lư Nhất Tâm, quư vị mới tưởng đến
của cải, của cải liền xuất hiện. Quư
vị niệm đến mức Sự Nhất Tâm th́ vẫn
chưa được, tưởng cách nào cũng không ra. V́
sao vậy? Niệm đến Lư Nhất Tâm là kiến tánh,
Phiền Năo Chướng lẫn Sở Tri Chướng
đều bị phá cả rồi! Đấy chính là đạt
tới mức phá một phẩm vô minh, chứng một phần
Pháp Thân. Do vậy, Lư và Sự ở đây chúng ta đều
hiểu rơ, đều không bị mê hoặc, sẽ làm
được tốt đẹp. V́ thế, phía trước
chữ “chư hạnh” (các
hạnh) có thêm hai chữ “quảng
đại”. Nói thật ra, [các hạnh] Quảng Đại
này chính là Phổ Hiền Hạnh mà Phổ Hiền Bồ
Tát là đại diện.
Câu thứ
bảy “đương linh nhữ
chuyển quảng đại thệ nguyện luân” (sẽ
làm cho ông chuyển được thệ nguyện luân rộng
lớn). Sáu câu trên là tự lợi, là thành tựu chính ḿnh.
Giải Hạnh của chính ḿnh đạt đến mức
rốt ráo viên măn th́ chính là bậc Pháp Thân đại sĩ.
Nay chúng ta nương tựa vào oai thần từ bốn
mươi tám bổn nguyện của A Di Đà Phật gia
tŕ, cho nên người hạ hạ phẩm văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới cũng có
năng lực ấy, những cảnh giới đă nói
trong kinh Hoa Nghiêm thảy đều đầy đủ,
chẳng thiếu khuyết thứ ǵ. Đấy chính là chỗ
thù thắng khôn sánh của Tây Phương Tịnh Độ.
Sanh về Tây Phương, giải hạnh giống như
Phật, sau đấy mới có thể phổ độ
chúng sanh. Do vậy, quư vị thật sự muốn độ
chúng sanh, muốn thực hiện được đại
nguyện của chính ḿnh, chỉ có một biện pháp khả
thi là trước hết hăy sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, gặp gỡ A Di Đà Phật, quư
vị sẽ có năng lực ấy, quư vị được
bổn nguyện và oai thần của Phật gia tŕ. Do
đó, quư vị sẽ “chuyển
được thệ nguyện luân rộng lớn”. “Luân” là pháp luân. Luận theo
kinh này th́ “quảng đại
thệ nguyện” chính là mười đại nguyện
vương của Phổ Hiền Bồ Tát. Nếu luận
theo Vô Lượng Thọ Kinh, sẽ là bốn mươi
tám nguyện của A Di Đà Phật, biến bổn nguyện
của Phật, Bồ Tát thành tâm nguyện của chính ḿnh,
ta và người không hai! Di Đà, Phổ Hiền có thể
làm được th́ chúng ta ai nấy đều làm
được. Lời chú giải cho ba câu này giảng rất
hay.
(Sớ)
Ngũ
lục cập thất giai Phổ Nhăn sở thuyên.
(疏)五 六 及 七 皆 普 眼 所 詮。
(Sớ)
Câu thứ năm, thứ sáu và
thứ bảy đều nói về Phổ Nhăn.
Trong bản
chú giải của ngài Thanh Lương, câu thứ tám “đương linh nhữ tịnh
quảng đại trang nghiêm môn” (sẽ làm cho ông thanh tịnh
môn trang nghiêm rộng lớn) được giảng
như sau:
(Sớ)
Văn
y chánh trang nghiêm
(疏)聞 依 正 莊 嚴。
(Sớ)
Nghe tới y báo và chánh báo trang
nghiêm.
“Văn” là nghe pháp, nghe lời
dạy bảo của thiện tri thức. Chữ “văn” này thuộc vào Tam Huệ
của Bồ Tát, tức Tam Huệ Văn - Tư - Tu. “Y” là y báo, “chánh” là chánh báo. Trong bộ Hoa Nghiêm bản tám
mươi cuốn, từ quyển thứ nhất cho đến
quyển thứ mười một là phẩm Thế Chủ
Diệu Nghiêm, toàn là nói về y báo và chánh báo trang nghiêm của
Tỳ Lô Giá Na Phật. Tỳ Lô Giá Na là ai? Chính là chúng ta, chẳng
phải là ai khác, phải hiểu rơ điều này! Do vậy,
những ǵ đức Phật đă nói trong suốt bốn
mươi chín năm, đều là nói về chính chúng ta và
hoàn cảnh sống của chúng ta, chẳng nói tới chuyện
ǵ khác. Tỳ Lô Giá Na Phật là Pháp Thân Phật. Trong kinh,
đức Thế Tôn đă giảng rất rơ ràng, “mười phương ba đời
Phật, cùng chung một Pháp Thân”, Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là
lư thể, Pháp Thân là chân tâm, Pháp Thân là Chân Như. Danh tự
khác nhau, nhưng ư nghĩa là một. V́ thế, Tỳ Lô Giá
Na được dịch thành Biến Nhất Thiết Xứ
(trọn khắp hết thảy mọi nơi).
Y báo và
chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới cho đến
Tịnh Độ của chư Phật, Nhất Chân pháp giới,
Tây Phương Cực Lạc thế giới, đều
do Tánh Thể này biến hiện ra. V́ thế, Tỳ Lô Giá
Na là Năng Biến, tự tánh có khả năng biến hiện,
tất cả hết thảy hư không pháp giới là Sở
Biến (cái được biến hiện từ tự
tánh). Tỳ Lô Giá Na Phật tượng
trưng cho Năng Biến trọn khắp hết thảy
chỗ. Hết thảy chỗ đều là Sở Biến
(cái được biến hiện) của Năng Biến.
Do vậy, cái này (tức tâm Năng Biến) mới là chính
ḿnh, nhà Thiền gọi đó là “bản
lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra”. Bản
lai diện mục chính là Tỳ Lô Giá Na, Lô Xá Na là Báo Thân Phật,
Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng Hóa Thân Phật, tam vị nhất
thể! Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng Hóa Thân, chúng ta có phải
là Ứng Hóa Thân hay chăng? Đều là! Không có ǵ chẳng
phải là! Nhưng Phật và đại Bồ Tát từ
trí huệ mà hóa thân, c̣n chúng ta là phàm phu trong lục đạo
hóa thân từ phiền năo, không có ǵ chẳng là! Nhưng Phật
và các vị đại Bồ Tát do trí huệ hóa thân, c̣n lục
đạo phàm phu chúng ta từ phiền năo hóa thân, không khác!
V́ thế, “sanh Phật bất
nhị”, tức chúng sanh và Phật chẳng hai. Thể bất
nhị, thưa cùng quư vị, Tướng cũng bất nhị.
Tác dụng th́ sao? Tác dụng vẫn là bất nhị.
Đáng tiếc là quư vị không biết! Nếu quư vị
biết, quư vị cũng được tự tại giống
như vậy. Hễ không biết th́ mê hoặc, điên
đảo, coi hư vọng, phân biệt là chủ tể,
vậy là hỏng rồi!
Trong
Đại Thừa, thường nói tới vọng tâm. Phàm
phu trong lục đạo lấy vọng tâm làm chủ tể,
coi phiền năo là chủ tể, coi tập khí là chủ tể,
v́ thế, tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp,
biến thành quả báo luân hồi trong lục đạo, tự
làm, tự chịu! Những thứ ấy đều nằm
trong y báo và chánh báo trang nghiêm, những sự lư nhân quả ấy
rơ ràng, đều minh bạch. Chúng sanh điên đảo,
mê hoặc trong ấy, có muốn giúp họ giác ngộ hay
chăng? Muốn! Địa Tạng Bồ Tát chẳng phải
là một tấm gương hay sao? Địa ngục khổ
nhất, mê muội sâu nhất, Ngài vẫn muốn vào
đó, vẫn phát ra đại nguyện. Chúng ta thường
nghe đại nguyện ấy như sau: “Địa ngục bất không, thệ bất thành
Phật” (Địa ngục chưa trống, thề chẳng
thành Phật). Ư nghĩa này khiến cho chúng ta phát tâm đại
từ bi, trông thấy những chúng sanh khổ nạn, muốn
giúp đỡ họ giác ngộ. Điều này hết sức
trọng yếu! Chúng sanh khổ nạn không có cái ăn, quư
vị cho họ ăn, không có cái để mặc, quư vị
cho họ mặc th́ cũng được; nhưng quư vị
cứ một mực châu cấp như thế, chẳng những
không độ được họ, mà ngược lại
c̣n hại họ. Hại như thế nào? “Ta có thể
không cần làm lụng, đă có người khác bố thí cho
có ăn có mặc rồi!” Họ biến thành biếng nhác,
bê trễ, dựa dẫm vào sự cứu giúp, hỏng mất
rồi!
Trong xă hội
hiện thời, tại Đài Loan hầu như không có hiện
tượng này, chứ ở Mỹ hay trong nhiều quốc
gia tiên tiến trên thế giới, tệ nạn này gây phiền
phức lớn lắm. Bởi lẽ, sau hai cuộc đại
chiến, bọn họ đều là những cường
quốc bậc nhất trên thế giới, tiềm lực
đất nước hùng hậu, cho nên có những người
nghĩ ra cách thức hoa dạng như sau: “Phải tu tâm
đại từ bi, phải thực hiện trợ cấp
xă hội”. Trợ cấp xă hội càng nhiều th́ người
ưa ăn bám càng nhiều, sống dựa vào trợ cấp
xă hội ấy, chuyện ǵ cũng chẳng muốn làm,
đục khoét đất nước. Hiện thời,
chánh phủ Mỹ thiếu nợ ba thế hệ vẫn
chưa trả hết. Chế độ [trợ cấp xă
hội] ấy đă được thực thi, có thể
thâu hồi được hay chăng? Ai cũng đều
chẳng dám băi bỏ, người nào nói tới chuyện cắt
giảm trợ cấp xă hội, dân chúng chắc chắn chẳng
bỏ phiếu bầu kẻ ấy làm Tổng Thống. Do
vậy, điều thứ nhất của Tổng Thống
là nhất định phải giữ trợ cấp xă hội
theo lệ thường. Nếu tăng thêm một chút,
đương nhiên càng hay, dân chúng sẽ hoan nghênh, quyết
định chẳng thể giảm bớt. Do vậy, có
nhiều nước giàu trên thế giới bị chế
độ trợ cấp xă hội làm cho khốn đốn.
V́ thế,
quư vị phải hiểu, cứu tế, phổ độ
những chúng sanh ấy th́ phải giúp cho họ khai ngộ,
giúp cho họ giác ngộ, đấy mới là chánh xác. Những
thứ cứu tế khổ nạn chỉ là tạm thời,
ngắn ngủi, chẳng thể thực hiện dài hạn.
Trợ cấp xă hội là dài hạn, chẳng phải là ngắn
ngủi, tạm thời. Do vậy, đối với
điều này, cổ nhân Trung Quốc đă hiểu rơ ràng
rất thấu triệt, “cứu
cấp, bất cứu bần” (cứu ngặt, không cứu
nghèo). Khi quư vị gặp nạn gấp, tôi giúp đỡ
quư vị, c̣n quư vị bần cùng tôi chẳng giúp, chính quư vị
phải tự nỗ lực, phải tự gắng sức,
hoàn toàn cậy vào chính ḿnh! Do vậy, sau khi chế độ
trợ cấp xă hội được thực hiện, rất
nhiều kẻ sống dựa vào đó, chuyện ǵ
cũng chẳng muốn làm. Do vậy, tại Tân Gia Ba, ông
Lư Quang Diệu rất thông minh. Ông ta hiểu rơ nhược
điểm của chế độ trợ cấp xă hội,
chánh phủ Tân Gia Ba chẳng đi theo con đường ấy.
Nhưng muốn chăm sóc dân chúng th́ họ chăm sóc
như thế nào? Cưỡng bách quư vị phải dành dụm,
đấy là phương pháp tốt nhất! Họ
cũng có trợ cấp xă hội, nhưng bỏ vào tiền
tiết kiệm của quư vị, giúp cho quư vị về mặt
ấy. Họ gọi là “công tế
kim” (tiền trợ giúp chung), trích mấy phần
trăm từ tiền lương tháng của quư vị,
cưỡng bách quư vị làm như thế. Quư vị có thể
dùng món tiền trợ giúp ấy để mua nhà cửa hoặc
dùng làm tiền trang trải thuốc men khi bệnh tật,
đều có thể dùng khoản tiền ấy để
chi dụng. Như vậy th́ phước lợi của
đại chúng trong xă hội đều được lo
liệu, nhưng không có nạn lợi dụng tiền trợ
cấp. Bọn họ chẳng phải là cường quốc,
chẳng phải là quốc gia phát triển tiên tiến, thấy
những thói tệ của ngoại quốc, họ biết
cải tiến như thế nào. Do vậy, họ thực
hiện rất cao minh, thực hiện hết sức viên
măn.
V́ thế,
y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều
hiểu rơ ràng, rành mạch. Chữ “tịnh” ở đây là mấu chốt, trong y báo
và chánh báo trang nghiêm của mười pháp giới, quư vị
đều đạt được “thanh tịnh, b́nh
đẳng, giác”. V́ thế, Bồ Tát độ sanh là độ
chính ḿnh, ta và người không hai mà! Trong việc độ
sanh, sẽ mài giũa những tập khí vô minh của chính
ḿnh. Do vậy, nếu Bồ Tát chẳng độ chúng
sanh, quyết chẳng thể thành tựu chính ḿnh, đạo
lư này rất hiển nhiên. Quư vị muốn mở mang trí huệ,
nhất định là phải phát tâm giảng kinh. Nếu
quư vị chẳng muốn phát tâm giảng kinh, nhất
định là quư vị sẽ chẳng mở mang trí huệ
được. V́ sao vậy? Dạy và học tăng
trưởng lẫn nhau. Ai muốn được trí huệ,
lên giảng đài sẽ nhanh chóng nhất; nhất là khi thính
chúng nêu câu hỏi, lại càng có lợi ích cho quư vị.
Thường là họ sẽ hỏi những chuyện mà cả
đời quư vị trọn chẳng nghĩ tới, giống
như khảo thí vậy, để xem quư vị có phải
là thật sự có trí huệ để giải đáp, giải
đáp rất viên măn hay chăng? Chẳng thể giải đáp,
sẽ có sự cảnh tỉnh cao độ đối với
chính ḿnh: “Ta vẫn c̣n có những điều chưa rơ, ta
trở về phải chuẩn bị, phải cầu học”.
Câu cuối cùng: “Đương linh nhữ khởi
quảng đại từ bi lực” (Sẽ làm cho ông
phát được sức từ bi rộng lớn). Lời
chú giải giảng rất hay:
(Sớ) Phát tâm chi tướng
(疏)發 心 之 相。
(Sớ) Tướng
phát tâm.
Tâm Bồ Đề có h́nh
tướng ra sao? H́nh tướng của tâm Bồ Đề
là đại từ đại bi. Nói theo cách bây giờ, từ
bi là quan tâm, yêu thương, che chở, chăm sóc, giúp đỡ.
Gộp những ư nghĩa ấy lại, sẽ thành ư nghĩa
của từ bi. Dùng cái tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng,
quan tâm vô điều kiện đối với chúng sanh, yêu
thương, che chở hết thảy chúng sanh, giúp đỡ
hết thảy chúng sanh, đấy là những hiện
tượng, h́nh dạng phát xuất từ tâm Bồ Đề.
Chúng ta thường nói là “đại từ, đại bi”.
Nếu ai không có đại từ bi mà nói là “đă phát tâm Bồ
Đề”, kẻ ấy là giả dối, không thật! Thật
sự phát được cái tâm Bồ Đề, biểu
hiện ra ngoài nhất định là đại từ
đại bi, như vậy th́ mới có thể lợi ích
hết thảy chúng sanh. Mười câu này chúng tôi giảng
đến đây thôi!
Tỳ-kheo
Cát Tường Vân bảo Thiện Tài đồng tử:
Ông thân cận thiện tri thức sẽ đạt
được những công đức lợi ích thù thắng
như thế, khuyên lơn Thiện Tài phải thân cận
thiện tri thức. Đoạn kinh văn tiếp theo
đây là đoạn lớn thứ sáu, trong khoa phán gọi
là...
(Sớ)
Luyến
đức lễ từ
(疏)戀 德 禮 辭。
(Sớ)
Luyến mộ đức, lễ
bái, từ tạ.
Chúng ta
hăy đọc kinh văn:
(Kinh)
Thời Thiện Tài đồng tử lễ Cát Tường
Vân tỳ-kheo túc, nhiễu vô số táp, ân cần chiêm ngưỡng,
luyến mộ nhi khứ.
(經)時 善 財 童 子 禮 吉 祥 雲 比 丘 足,繞
無 數 匝,殷 勤 瞻 仰,戀 慕 而 去。
(Kinh)
Khi ấy, Thiện Tài
đồng tử lễ dưới chân tỳ-kheo Cát
Tường Vân, nhiễu quanh vô số ṿng, thiết tha chiêm
ngưỡng, lưu luyến, kính mộ rồi đi.
“Thời” là khi tỳ-kheo Cát
Tường Vân đă dạy dỗ Thiện Tài xong, Thiện
Tài đồng tử hết sức cảm kích thiện hữu,
thực hiện sự lễ kính cao tột nhất. Sự
kính lễ trọng vọng nhất là gieo năm vóc lễ
sát đất, đem đỉnh đầu là phần tôn
quư nhất của ta lễ dưới chân thiện hữu.
Đấy gọi là “hành tối
kính lễ” (thực hiện sự lễ quư cao tột
nhất). Theo lễ tiết thông thường, nhiễu ba
ṿng là cổ lễ, hiện thời nhiễu Phật đă
không c̣n, đối với người khác càng không có, không
thấy nữa. “Nhiễu quanh
vô số ṿng” biểu hiện sự cảm kích trong tâm,
cho thấy muốn thân cận thiện tri thức lưu
luyến không nỡ rời, tỏ lộ ư nghĩa cảm
ơn vô tận. Câu này là cảm ơn vô tận. “Ân cần chiêm ngưỡng”,
Ân Cần là nói tới thái độ. “Chiêm ngưỡng luyến mộ
rời đi”. Do vậy,
theo Khoa Phán, đề mục phần này được
phán định là “luyến
đức lễ từ”, [Luyến là] ân đức thiện
hữu dạy dỗ, lưu luyến không quên, Lễ là lễ
bái cung kính tột bậc, Từ là từ tạ, thoái lui.
Đây là nh́n từ mặt văn tự, chứ ư nghĩa
bao hàm trong ấy rất sâu, chúng ta phải hiểu! Nếu
không hiểu, sẽ coi việc này như giai thoại, coi
như tiểu thuyết, quư vị sẽ chẳng đạt
được lợi ích.
“Lễ từ” có ư nghĩa là
ǵ? Thiện hữu thanh tịnh, tất cả khai thị
đối với pháp môn do vị ấy tu tập thật
sự khiến cho chính ta được lợi ích,
được hiểu rơ. Sau khi hiểu rơ, tôi vẫn là một
câu Niệm Phật niệm cho đến tột cùng. Tôi hiểu
pháp môn của Ngài, tôi thông đạt, điều ǵ cũng
đều thông đạt, điều nào cũng minh bạch,
nhưng tôi có tu hay không? Không tu, tôi vẫn cứ một câu
A Di Đà Phật niệm đến tột cùng, đấy
gọi là “lễ từ”. Chứ
không phải là học xong một pháp môn nào bèn tu pháp môn đó;
hiểu như vậy là sai, là hỏng mất rồi! Do vậy,
quư vị thấy Thiện Tài tham học với năm
mươi ba vị thiện tri thức, nhưng [vẫn là]
một câu A Di Đà Phật niệm đến tột cùng.
Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, gặp
được nhiều pháp môn như vậy, Ngài đều
có thể tiếp xúc hết, đều hiểu rơ hết,
nhưng chẳng tu pháp nào, nhưng Ngài đều thông đạt
những pháp ấy, đều hiểu rơ những pháp ấy;
do vậy, tâm Ngài cảm kích. Nếu Ngài không từ tạ,
sẽ dừng lại để học hỏi, tu tập.
Không học, không tu! Tôi thông đạt, hiểu rơ, nhưng
không tu học pháp môn này của Ngài. Đấy là đă nêu
ra một tấm gương tốt nhất cho người
niệm Phật chúng ta nh́n vào.
Do vậy,
quư vị thật sự có công phu định lực, có huệ
lực, th́ pháp môn nào quư vị cũng đều có thể
tiếp xúc, đều có thể tùy hỷ, nhưng trọn
chẳng tu học. Tôi vẫn niệm A Di Đà Phật của
tôi, tôi vẫn nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ,
như vậy là đúng. Nếu như
quư vị tu Thiền th́ quư vị cứ thật thà tham Thiền,
quư vị cũng có thể tham phỏng hết thảy các
pháp môn khác, bất luận tham phỏng một pháp môn nào,
quư vị vẫn cứ tham một câu thoại đầu
đến tột cùng, trọn chẳng thay đổi.
Đấy chính là ư nghĩa “luyến
đức”. Từ ngữ “luyến
đức” bao hàm những ư nghĩa này, nhằm bảo
với chúng ta tu học thành tựu th́ cốt yếu là thâm
nhập một môn. Quư vị có thể học rộng nghe
nhiều, nhưng tu hành thành tựu th́ chỉ là thâm nhập
một môn! Học rộng nghe nhiều, nhưng chúng ta phải
luyến đức. Thiện tri thức chỉ dạy,
giáo hóa chúng ta, chúng ta chẳng thể quên ân đức của
Ngài, nhưng quyết định chẳng thể thay đổi
sự tu học của chính ḿnh. Từ tạ, không ở lại
chỗ ấy, đấy chính là ư nghĩa sâu xa của
điều này, chúng ta nhất định phải hiểu
rơ.
Đối
với phương diện lễ tiết, chúng ta phải
đề xướng. Phật pháp t́m cầu hiện đại
hóa và địa phương hóa, “ngũ
thể đầu địa” (năm vóc gieo xuống
đất) là cách quỳ lạy thuộc về thời cổ.
Tôi sang Trung Quốc Đại Lục lần này, gặp
được mấy vị hành lễ “tam quỵ, cửu khấu” (ba lần quỳ, chín
lần khấu đầu) với tôi. Đấy chính là lễ
tiết dành cho hoàng đế thuở trước, trong Phật
môn chúng ta cũng không có thứ lễ tiết ba lần quỳ,
chín lần khấu đầu. Ở Đại Lục,
chúng tôi gặp một vị thực hiện lễ tiết
ấy; như vậy là không được, đấy chẳng
phải là lái xe lùi lại hay sao? Do vậy, ngày nay tại
Trung Quốc, mọi người trông thấy pháp sư vẫn
muốn đảnh lễ, vẫn muốn ba lạy,
chư vị đồng tu nhất định phải biết
điều này. Đảnh lễ ba lạy là lễ Phật,
lễ người một lạy, không lễ ba lạy! Quư
vị nhất định phải biết điều này.
Tuy nói “đảnh lễ pháp
sư tam bái”, nhưng Ngài nói một lạy th́ quư vị
chỉ lễ một lạy; Ngài không nói, quư vị vẫn
lễ một lạy. Phải hiểu đạo lư ấy,
chẳng nói th́ vẫn cứ lễ một lạy. Chẳng
phải là pháp sư không nói th́ cứ lạy ba lạy, không
có đạo lư ấy. [Tuy nói ba lạy mà chỉ lễ một
lạy], Ngài không trách móc quư vị, mà biết quư vị là
người thông hiểu. Lễ Phật mới lạy ba lạy;
lễ người, chỉ lạy một lạy.
Nhưng
trên thực tế, chúng ta là người trong cơi đời
hiện đại, độ chúng sanh hiện đại,
chúng ta lễ Phật ba lạy, xá người khác một
cái là được rồi, không cần phải quỳ xuống
lạy. V́ sao? Trên cả thế giới hiện thời,
không có thứ lễ tiết ấy, chúng ta vẫn sử dụng
lễ tiết ấy, rất nhiều người muốn
học Phật trông thấy quư vị quỳ lạy, họ
chẳng học Phật nữa: “Tôi không làm chuyện ấy
được!” Nếu khi quư vị xá th́ quư vị sẽ
lôi kéo được khá nhiều người đến học
Phật, đặc biệt là người ngoại quốc.
Bảo người ngoại quốc quỳ xuống đất
dập đầu, họ không làm, họ quỳ xuống
không đuợc, họ cảm thấy khó khăn quá. Do vậy,
chúng ta độ người hiện tại, phải dùng lễ
tiết hiện đại. Tâm cung kính vẫn giống hệt
như vậy, nhưng trên mặt h́nh thức, nhất
định phải hiện đại hóa th́ mới
được, mới có thể hoằng dương Phật
pháp trọn khắp thế giới, mới có thể lợi
ích hết thảy chúng sanh. Do vậy, tôi mong mọi người
từ nay trở đi, trông thấy pháp sư xá một cái,
chẳng cần phải lạy nữa! Chúng ta lễ Phật
ba lạy là kỷ niệm, cũng là một môn tu hành của
chính ḿnh, hàng phục sự ngạo mạn của chính ḿnh.
Đấy là dụng ư thật sự của ngũ thể
đầu địa; nhưng nhất định phải
quan tâm đến phương thức sinh hoạt của
con người hiện đại. Chúng ta chẳng thể
bảo người hiện đại vẫn hành lễ
theo cổ nhân, đấy là sai lầm! Người hiện
đại chẳng thể dùng cổ lễ, người
hiện đại thường là khom ḿnh một cái, trong
Phật pháp chúng ta là chắp tay xá, làm như vậy tốt
lắm! Hy vọng mọi người hăy cùng nhau đề
xướng, đều hành lễ bằng cách xá nhau, chẳng
cần phải quỳ lạy. Trước khi văng sanh, Quán
Trưởng có nói: “Chúng ta học Phật, phải nêu
gương tốt cho người học Phật”. Chúng ta
trông thấy người khác bèn xá chào là một tấm
gương tốt, khiến cho Phật pháp được
hiện đại hóa, đấy là một tấm
gương tốt. A! Hôm nay chúng tôi đă giảng viên măn một
chương rồi; lần sau chúng ta sẽ giảng
chương tỳ-kheo Hải Vân. Đấy là Nhị Trụ
Bồ Tát. Chúng ta hăy niệm Phật hồi hướng.
Tứ Thập
Hoa Nghiêm Kinh
Hạnh
Nguyện Phẩm
Cát Tường
Vân Tỳ Kheo Chương hết
[1] Giấy Đạo Lâm (c̣n gọi
là giấy Đạo Linh) do công ty Dowling chế tạo,
nguyên liệu chủ yếu là bột gỗ, có hai loại
nền giấy mờ và nền giấy có độ bóng,
thích hợp cho lối in bằng phương pháp offset. In
h́nh bằng loại giấy này sẽ cho h́nh ảnh rất
sắc nét và đẹp.
[2] Đây là một lối in
thường được gọi là coating printing, tách màu
thành nhiều lớp, in chồng lên nhau bằng các trục
cuốn các tấm nền lớn (thường gọi là
substrate) đă tẩm hóa chất và màu thích hợp để
tạo ra h́nh ảnh đẹp nhất, sắc sảo nhất.
[3] Giấy Tuyên là một loại giấy
thoạt đầu sản xuất ở huyện Kinh, An
Huy. Dần dần, các vùng phụ cận như Tuyên Thành,
Thái B́nh v.v... đều sản xuất loại giấy này,
cũng như do Kinh huyện thuộc quản hạt của
Tuyên Châu, nên nó thường được biết đến
với tên gọi là Tuyên Chỉ (giấy của vùng Tuyên).
Thoạt đầu, giấy được làm bằng vỏ
cây Thanh Đàn ḥa với bột một loại cỏ tên là
Thủy Đạo. Qua các đời, nó được pha
thêm những loại bột khác như gỗ dó, tre, lau
v.v... theo các tỷ lệ khác nhau để tạo thành những
loại giấy Tuyên khác nhau. Do giấy dai, bền, không ố
vàng, không nứt gịn khi để lâu nên rất được
chuộng dùng trong tranh vẽ hay các bức thiếp, bức
b́nh v.v... trong thư pháp.
[4] Song giá: Song giá theo nghĩa gốc có
nghĩa là ngăn cấm, ngăn trở cả hai phía.
Đây là một thuật ngữ thường dùng trong các
sách vở diễn giải Nhân Minh Luận nhằm luận định
về biện chứng pháp trong kinh Phật. Song giá là ngăn
dứt cả Có lẫn Không để hiển thị tánh
Không Trung Đạo. Do kiến văn hủ lậu, chúng tôi
không t́m được chữ tương ứng để
dịch cho găy gọn, đành phải để nguyên thuật
ngữ này không dịch. Chẳng hạn ở đây, nếu
nói “phi tâm, phi Phật” là nhằm
đánh tan tập quán suy luận nhị nguyên đối đăi
của chúng ta.
[5] B́nh (坪) là đơn vị đo diện tích dựa theo hệ thống đo lường của Nhật Bản, chủ yếu dùng để đo lường diện tích nhà cửa hoặc đất đai trong kiến trúc. Do Đài Loan và Đại Hàn từng là thuộc địa của Nhật một thời gian nên đơn vị này cũng rất phổ biến. Tuy chính quyền Đài Loan đă công bố pháp lệnh sử dụng mét vuông làm đơn vị đo diện tích từ năm 1945, nhưng tới nay, dân chúng vẫn quen dùng B́nh để đo diện tích. Tại Đài Loan, một B́nh tương đương với 3,3 mét vuông, nhỏ hơn B́nh của Nhật một chút.