Chánh Ngoa Tập
(Uốn nắn những điều sai
ngoa)
(trích từ bộ Vân Thê Pháp Vựng)
Đời Minh, chùa Vân Thê ở Cổ
Hàng,
Sa-môn Châu Hoằng soạn
Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa chuyển ngữ
Giảo chánh: Minh Tiến &
Huệ Trang & Vạn Từ
1. Thiên Phật Y
Trong đời gần
đây, trên y ca-sa thêu h́nh chư Phật, gọi là Thiên
Phật Y (y ngàn đức Phật), đấy là
điều sai ngoa. Tượng Phật chỉ nên vâng
đội trên đầu, gánh vác trên vai mà thôi. Treo, giắt
trên ngực hay bụng đă phạm lỗi khinh nhờn,
huống là thêu kín khắp thân, từ eo và đầu gối
trở xuống đều là [h́nh tượng] Phật!
Lỗi ấy chẳng thể nào kể xiết! Bậc
Luân Vương phước trùm thiên hạ[1],
chắc chẳng phải là lời nói xuông. Do đă trở
thành thói quen từ lâu nên [Tăng sĩ cứ khinh nhờn
đắp Thiên Phật Y] chẳng tự hay biết. Xin
bậc cao minh rủ ḷng xét soi lời lẽ của kẻ
quê mùa, hăy thận trọng đừng mặc y ấy.
Nếu hỏi: “Như vậy th́ quả thật không có
Thiên Phật Y hay sao?” Thưa: “Có chứ! Chính là y hai
mươi lăm điều hiện thời, đấy
chính là y được truyền bởi một ngàn
đức Phật. Phật dạy tỳ-kheo: ‘Y tăng-già-lê[2] này
của ta, quá khứ, vị lai chư Phật đều do
mặc y này mà được giải thoát”. Đấy
chính là bằng chứng vậy.
2. Ngũ Tổ[3]
chẳng phụng dưỡng mẹ
Cơi
đời truyền tụng Ngũ Tổ cự tuyệt
không phụng dưỡng mẹ, thậm chí chẳng
chịu tốn cho mẹ dẫu chỉ một chút
nước, đấy là ngoa truyền. Giới tuy có
vạn hạnh, nhưng đều lấy Hiếu làm
gốc. [Tăng sĩ] phạm giới cấm để
nuôi cha mẹ, đức Phật c̣n xót thương
chấp thuận, há có lẽ nào [Ngũ Tổ] chẳng cho
mẹ ăn? Hơn nữa, chúng sanh đói khát đến
chùa Tăng, ngay cả cầm thú cũng c̣n được
cho ăn, cho uống, huống hồ là cha mẹ ư? Ngôi
nhà phụng dưỡng mẹ của tổ Hoàng Mai c̣n
được chép trong các sách vở. Thốt lời thô
tháo ấy, há chẳng phải là báng bổ thánh nhân ư?
3. Cha mẹ lạy ngược lại
đứa con xuất gia
Cơi
đời truyền tụng khi con xuất gia, cha mẹ
lạy ngược lại đứa con ấy.
Đấy là điều ngoa truyền. Hạng ngu tăng
không hiểu biết bèn để cho cha mẹ lạy, hoặc
ngồi chính giữa để cha mẹ chầu hầu bên
cạnh, hoặc ngồi ở giữa để cho cha
mẹ vái chào. [Làm như vậy], xa là trái nghịch ư
chỉ của Phật, gần là trái nghịch luân
thường, chuốc lấy sự chê bai, khinh ghét của
người đời, tạo ra thói kiêu mạn cho con
người. Đấy chính là lỗi của Tăng,
chứ không phải lỗi của Phật! Chẳng
biết rằng: Cha mẹ lạy ngược lại là v́
hễ con xuất gia th́ là con của Phật, không c̣n là con
của cha mẹ nữa. Cho nên nếu con lạy [cha
mẹ] th́ cha mẹ lạy đáp lại. Lạy trả
lại chính là đáp lễ, hoàn lễ, chứ không phải
là lạy trả một cách trái lẽ thường.
4. Phạm Vương hầu Phật
Thế
tục đồn rằng người đứng hầu
hai bên Phật là cha mẹ của Phật, do vậy bèn chê
trách Phật. Đấy là điều ngoa truyền. Phàm
đức Phật thuyết pháp, chư thiên đều nhóm
lại, Phạm Vương ở bên trái, Đế Thích
ở bên phải. Quy củ nghe pháp thông thường là
như vậy. V́ người đời tưởng
lầm chữ Phạm (梵) [trong danh
hiệu Phạm Vương] là Phạn (飯), bèn nghi [Phạm Vương chính] là quốc
vương Tịnh Phạn (淨 飯) rồi
bảo đấy là cha của đức Phật. Lại
chẳng biết tướng trang nghiêm của Đế
Thích, bèn tưởng đấy là nữ, liền bảo
đó là mẹ đức Phật. Tuy Phật là
đấng cao quư nhất không ai hơn được trong
ba cơi, nhưng Ngài quyết chẳng để cho cha mẹ
làm người hầu. Kẻ tục chẳng biết,
cần phải giảng giải cho họ hiểu.
5. Phật pháp vốn phát xuất từ
Lăo Trang
Tống
Nho nói kinh Phật vốn phát xuất từ Lăo Trang,
người đời không biết, kinh ngạc cho
rằng đấy là lời nói lạ lùng; ví như đă
bị kẻ giặc cướp mất của báu trong nhà,
lại ngược ngạo theo kẻ giặc mượn
dùng. Đấy là điều ngoa truyền. Sách của Lăo
Trang vẫn c̣n đủ cả, hăy thử mở ra
đọc xem! Bọn họ chỉ nói về hư vô
tự nhiên mà thôi. Bọn họ bảo hư vô tự nhiên
là sâu xa nhất, [nhưng điều sâu xa ấy] vẫn
chưa bằng được những chỗ hết
sức nông cạn trong Phật pháp. Nói “Phật pháp xuất
phát từ Lăo Trang” th́ có khác ǵ bảo “cha do con sanh ra” hay
chăng? Thanh Lương đại sư dùng hai tiêu
chuẩn là tà nhân và vô nhân để phán định Lăo
Tử thuộc về ngoại đạo; huống chi Trang
Tử lại c̣n thua Lăo Tử! Tống Nho thấy biết
hời hợt như thế, đáng nực cười
thay! Hoặc có kẻ nói: Người giảng giải kinh
Phật, phần nhiều trích dẫn [những câu nói
từ] lục kinh và chư tử[4], v́
sao vậy? Ôi! Văn tự ở phương này, chỉ có
Khổng và Lăo là tột bực mà thôi, chẳng dẫn
những câu của họ th́ dẫn lời ai đây?
Nhưng mượn lời họ, chứ không dùng ư họ,
người có bản lănh sâu xa sẽ tự hiểu rơ!
6. Hủy hoại, công kích tượng
thần, và đắp, tạo tượng thần
Có
tăng sĩ hủy hoại, công kích thiên thần, tự
cho là “đề cao điều chánh, quở trách tà vạy”.
Đấy là sai! Đức Như Lai thuyết pháp ắt
có tám bộ quỷ thần[5]
[đến nghe]. Kinh Hoa Nghiêm kể tên những vị
thần cai quản núi, nước, đất đai, cây
cối, cai quản ngày, cai quản đêm, số
đến vô lượng, chẳng lẽ họ
đều sai trái cả ư? Hễ có người ắt
có quỷ; có quan cơi Dương ắt có lại[6]
cơi âm; có vua người ắt có vua trời, đấy
chính là đúng lư vậy. Hễ không có quỷ thần th́
trời cũng chẳng có. Hễ trời đă không có th́
Phật cũng không có. Những kẻ hủy báng, công kích,
đáng gọi là kẻ sa vào chỗ tự phụ. Nếu
bảo: “Sao kinh dạy quy y Phật chẳng
được quy y hết thảy thiên ma, quỷ
thần?” Thưa rằng: “Dạy ông đừng quy y,
chứ đâu bảo ông hủy hoại, công kích. Ví như
phận làm con th́ phải nương theo cha mẹ của
chính ḿnh, chẳng được nương theo cha mẹ
của người khác, coi như cha mẹ của chính ông.
Đâu có dạy ông hăy hủy báng, công kích người khác!
Kinh chép: Do có tỳ-kheo thờ phụng thiên thần nên
Phật răn cấm không được [làm như
thế]. Tỳ-kheo bèn khinh mạn thiên thần, Phật
răn rằng: “Khinh thường cũng không
được!” Thánh nhân đă có những giáo huấn khuôn
mẫu, là gương sáng cho muôn đời, sao người
đời nay chẳng nh́n vào đấy?
Hoặc
có kẻ hỏi: Có tăng sĩ tu bổ miếu thờ
thần, đắp thần tượng, tụng niệm
trước tượng thần, hướng về
tượng thần lễ bái, lại tự phụ là
[người tu tập hạnh của ngài] Thường
Bất Khinh lễ bái tứ chúng, đúng hay sai?
Đáp:
Cũng sai luôn! So với kẻ hủy báng, công kích, phạm
lỗi càng nặng hơn. V́ sao vậy? Kẻ hủy báng,
công kích c̣n biết có tà - chánh, nhưng phân biệt quá
đáng. Kẻ đắp, tạo thần tượng
chẳng biết có tà và chánh. Kẻ phạm lỗi hủy
báng, công kích gọi là cuồng; kẻ phạm lỗi
đắp, tạo [tượng thần] gọi là ngu.
Gọi là tà, chứ không khinh mạn. Chẳng thờ
phụng thần là điều Phật dạy.
Người đời nay sao chẳng suy xét?
7. Bước đi cuối cùng
Có kẻ
cho rằng lúc lâm chung chính là “bước đi cuối cùng”
, đấy là sai. “Bước đi cuối cùng” vốn là
thuật ngữ dùng trong cờ vây[7]. Ư
nói: Thông thường người ta tính toán đến
mức ấy [tưởng là] đă là cạn sạch
nước đi rồi, không c̣n ǵ nữa, chẳng
ngờ vẫn c̣n có nước đi không ngờ
đến. Giống như người tu hành tuy bản
lănh đă vừa cao lại vừa sâu, chẳng biết
vẫn c̣n có chuyện tối hậu, huyền vi tột
cùng, hiểu được mấu chốt ấy th́ sau
đấy mới hoàn tất được chuyện tham
học. Nếu chưa được như vậy th́
vẫn là chỉ là mới có được một
mắt. Lại c̣n nói “bách xích
can đầu nhất bộ” (đầu sào trăm
thước, tiến thêm một bước nữa) cũng nhằm diễn
tả ư này. Nếu chẳng hiểu ư này, sẽ đến
nỗi giống như ngoại đạo tưởng
từ ngữ này dùng để chỉ lúc lâm chung. Tự
lầm, lầm người! Kẻ sáng suốt đừng
tin!
8. Linh Chiếu độ Đơn Hà
Cơi
đời đồn đại thiền sư Đơn
Hà Thiên Nhiên[8]
do được con gái của Bàng cư sĩ là cô Linh
Chiếu chỉ điểm, khích lệ, mới bắt
đầu tu hành, ngộ đạo. Đấy là ngoa truyền.
Trước đó, ngài Đơn Hà đă ngộ
đạo nơi ngài Thạch Đầu[9], sau
được Mă Tổ [Đạo Nhất] ban pháp
hiệu. Lúc gặp gỡ cụ Bàng, Sư đă nghiễm
nhiên là một vị đại thiện tri thức, há
lẽ nào có chuyện ấy? Lời nói vô căn cứ vu
báng thánh hiền, tội không chi lớn bằng, hăy kiêng
tránh sâu xa!
9. Ngồi thọ giới, đứng
dậy liền phá giới
Có kẻ
bảo: Kinh khen ngợi Bồ Tát Giới: “Lúc ngồi thọ giới, đứng lên liền phá
giới vẫn được công đức vô
lượng”; do vậy có kẻ sau khi thọ giới
liền phóng túng không vâng giữ, đấy là sai ngoa. Ư kinh
nhằm cực lực diễn tả: “Hăy nên thọ
giới Đại Thừa. Dẫu thọ rồi liền
phá ngay, tuy nay không có công lao ǵ, nhưng một phen vừa
lọt qua tai liền vĩnh viễn trở thành hạt
giống đạo, sao lại chẳng thọ?” Há nên
tưởng là “được phép phá giới” ư? Do
hiểu lầm từ ngữ đến nỗi hiểu sai
ư tới mức như thế, gây họa chẳng nhỏ!
10. Phật có hiệu là Tiên Nhân
Kinh
dạy: Trong thuở xa xưa, Phật làm một vị tiên
nhân nhẫn nhục. Hơn nữa, Phật xưng là
Đại Giác Kim Tiên, người đời bèn cho
rằng Phật chính là tiên, tiên và Phật không hai!
Đấy là sai! “Tiên” là danh từ để gọi chung
những người tu hành thời cổ. Đời sau
mới chuyên dùng danh xưng ấy để phân biệt
người tu hành theo Phật giáo hay Đạo giáo. Hơn
nữa, trong cơi đời có Nho, Thích, Đạo là tam giáo,
nhưng chữ Đạo thật sự chỉ chung cho tam
giáo nên người tu hành đều được gọi
là “đạo nhân”, há chuyên chỉ kẻ đội mũ
vàng (đạo sĩ) mới là đạo nhân ư? Nay
đă có sự chuyên xưng th́ Phật là Phật, tiên là
tiên, địa vị cách biệt nhau như trời
thẳm với đất bằng vậy. Hăy cẩn
thận, đừng coi là ngang nhau, kẻo mất chánh tri
kiến.
11. Không ai vào lầm địa ngục
Nho gia
nói: Đức Phật dạy kẻ ác chết rồi
sẽ vào địa ngục, nhưng trước khi
Phật pháp truyền tới Trung Quốc, cố nhiên đă
có kẻ chết rồi sống lại; sao trọn
chẳng có một ai vào lầm địa ngục, thấy
cái được gọi là mười vua[10]
[Diêm La] vậy? Do đó, họ quyết đoán địa
ngục chẳng đáng tin. Đấy là sai lầm
vậy! Phàm những chuyện xảy ra trước
mắt, sau này mới biết. Trước khi Phật pháp
được truyền tới, dẫu có vào địa
ngục rồi sống lại, vẫn hoảng hốt suy
lường, ngờ vực, tưởng như một
giấc mộng kỳ lạ. Khi Phật pháp đă
truyền tới, đủ mọi thứ chỉ bảo về
báo ứng trong sáu đường nên sau đấy mới
biết ấy chính là địa ngục. Lư cố nhiên
phải là như vậy, có chi là lạ?
12. Kinh Phật phần nhiều do kẻ
có tài biên soạn
Trong
đời có kẻ ngu cho rằng kinh Phật đều do
kẻ tài giỏi đời sau soạn ra, chứ không
thật sự do đức Phật nói. Điều ấy
là sai! Nếu bảo là kẻ có tài năng th́ chẳng
biết là hạng người như thế nào có thể
nói ra những lời lẽ ấy, nói ra những
đạo lư ấy. Nếu có khả năng như thế
th́ ta gọi người ấy chính là Phật. Hơn
nữa, xưa nay người tài giỏi tột bậc, có
ai hơn được Khổng Mạnh hay chăng?
Nhưng [học thuyết của] Khổng Mạnh
đều chẳng thể sánh những điều đă
nói trong kinh Phật th́ tôi biết ngay lời ấy rất
tệ, chẳng đáng để bàn luận nhiều!
13. Tánh mạng song tu
Bọn
Đạo sĩ thường rêu rao họ tánh mạng song
tu, chê kẻ học Phật tu tánh chứ không tu mạng.
Đấy là sai ngoa vậy. Ấy là v́ bọn họ
tưởng Thần là tánh, tưởng Khí là mạng. Làm
sao cho Thần chế ngự được Khí, Thần
ngưng, Khí kết bèn thành Đan, liền gọi là “tánh
mạng song tu”. Do Phật chỉ nói đến Tánh,
chẳng nói tới Khí, họ liền tưởng rằng
“tu tánh sẽ thiếu mạng”, cho là nhà Phật lệch
lạc, chẳng biết đă tự hiểu lầm
mất chữ Tánh. Đức Phật nói đến Tánh
cực rộng, cực lớn, rất sâu, rất
huyền, đâu có thể coi là giống như Khí
được? Khí ở trong Tánh giống như một
lượn sóng trong biển xanh. Người thấy
được Phật Tánh, tận cùng hư không, pháp
giới không ǵ chẳng trọn đủ, huống chi Khí
là thứ chỉ ở trong một thân lại chẳng
thể nhiếp trọn hay sao? Do vậy, nói: “Hễ đạt
được cái gốc th́ không lo cái ngọn nữa!
Hễ tu một thứ th́ tu hết thảy”; chứ nào
phải chỉ có hai sự song tu ấy mà thôi! Học
đạo tiên hăy như chân nhân Trương Tử
Dương luận về tánh mạng tột bậc rành
rẽ, hết sức tôn sùng Phật pháp. Ông ta nói
trước hết đức Phật giảng về tánh
rất hay, đáng gọi là bậc có kiến giải sáng
suốt. Lại nữa, chân nhân Lư Thanh Am luận về
nội dược và ngoại dược, coi Tinh - Khí -
Thần là ngoại dược, gọi nguyên tinh, nguyên khí, nguyên
thần là nội dược. Lại nói bậc cao
thượng chẳng luyện ngoại dược,
chỉ luyện nội dược, đấy cũng là
coi thuyết “luận về tánh trước hết” là thù
thắng vậy! Người học đạo tiên trong cơi
đời th́ đông, nhưng hiểu biết như hai
vị này đă vừa ít lại vừa hiếm; do vậy,
tôi đề cao họ.
14. Tịch diệt là vui
Người
đời thấy nhà Phật gọi lâm chung là Niết Bàn,
do vậy bèn tưởng Phật coi chết là vui, bèn
dẫn câu “tử phản ngô
chân”[11]
trong sách Nho để chứng minh ư chỉ “tịch diệt là vui” của nhà Phật. Hiểu
như vậy là sai. Tiếng Phạn “Niết Bàn”, cơi này
dịch là Tịch Diệt. Tịch Diệt là sanh diệt
đă hết, tịch diệt hiện tiền, đấy
là không sanh, không diệt, không đến, không đi, xưa,
trước, nay, sau chẳng thể thay đổi, Thành
kiếp, Hoại kiếp chẳng thể đổi
dời, riêng ḿnh chân thường hiển lộ, khổ
lẫn vui cùng mất. V́ thế, gọi là Lạc. Lục
Tổ nói: “Vô thượng
đại Niết Bàn, viên minh thường tịch
chiếu”. Đối với sự chiếu sáng
đến tột bậc lại tưởng lầm là
chết ư? Nếu nghĩ chết là vui th́ hăy nên mau
chết đi để xoay trở lại ngộ
được cái chân thật của ta, chẳng thể
sống thêm một bữa nào nữa! Diệt kiểu
đó là đoạn diệt, khô diệt, tuyệt diệt,
khôi diệt (diệt hết như tro nguội) vậy! Sao
lại nói bừa là sự tịch diệt của Phật
cho được?
15. Nước Tào Khê, trà Triệu Châu
Trong nhà
Thiền có câu “nước Tào
Khê, trà Triệu Châu”. Kẻ ngu gán ghép câu ấy nói
với chuyện nuốt nước miếng trong cổ
họng gọi là “hoa tŕ, thần thủy” (ao hoa,
nước thần) v.v… của những kẻ tu dưỡng[12].
Đấy là sai! Vị Tăng hỏi: “Như thế nào là một giọt nước Tào
Khê?” Cổ đức dạy: “Là một giọt nước Tào Khê!”
Ngài
Triệu Châu hỏi ông Tăng: “Ông
đă từng đến chỗ này hay chưa? Đến
hay chẳng đến đều bảo uống trà”.
Đấy chính là lời bàn luận tột bậc khai
thị tối thượng về Tâm tông (Thiền tông), há
có thể hiểu là sự hít thở trong sắc thân hay sao?
Thậm chí, họ tưởng huyệt Giáp Tích[13]
là Triệu Châu Kiều (cầu Triệu Châu). Những
thứ giống như vậy chẳng ít, người
hiểu rơ lư đều nhất loạt quở trách.
16. Ba cỗ xe trong kinh Pháp Hoa
Kinh Pháp
Hoa có thí dụ ba loại xe (tam xa): xe dê, xe nai và xe trâu.
Những kẻ tu dưỡng bèn giảng [ba xe] là [ba
huyệt] Vĩ Lư, Giáp Tích, Nê Hoàn[14].
Đấy là sai. Xa có nghĩa là “chuyên chở”. Dê, nai, trâu là
ví dụ Đại Tiểu Thừa, mượn h́nh
ảnh ấy để thí dụ công đức hơn kém
giữa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Kẻ tưởng
lầm là sắc thân, hăy nên hiểu ra, thay đổi.
17. Kim Cang Toản
Thế
tục khắc các kinh, có cuốn Kim Cang Kinh Toản, tự
khen ngợi công đức, cho là tụng một biến Kim
Cang Kinh Toản hơn tụng một vạn biến kinh
khác. Đấy là nói ngoa. Sở dĩ, kinh Kim Cang có công
đức chẳng thể nghĩ bàn là v́ kinh ấy
giảng tột cùng về lư Không, chẳng c̣n một pháp
nào; Bát Nhă oai thần, là hướng dẫn cho muôn loài
vậy. Há nên bảo tính đếm có bao nhiêu chữ
Phật, bao nhiêu chữ Tu Bồ Đề, bao nhiêu chữ “hà dĩ cố?” (v́ sao
vậy) trong kinh văn rồi coi tính số chữ bao nhiêu
như vậy là công đức ư? Thói tệ ấy
đă phổ biến nên có tăng sĩ ngu muội hễ
được người khác bố thí bèn chẳng
tụng trọn bộ kinh, chỉ dùng một cuốn Kim
Cang Kinh Toản để tụng, chuốc lấy nỗi
khổ vô cùng trong địa ngục đều do bị
sách ấy gây lầm lẫn vậy! Biên tập sách tà
vạy gây hại như thế đó! Trong cơi đời
lại có cuốn Đại Thừa Kim Cang Luận cũng
là ngụy tạo, cho đến những kinh như
Diệu Sa, Phân Châu, Huyết Bồn v.v… đủ thứ tà
ngụy, quá phiền toái chẳng thể kể trọn!
18. Cao Vương Quán Thế Âm Kinh[15]
Lại
có Cao Vương Quán Thế Âm Kinh. Trong cơi đời
truyền tụng: Cao Vương do tụng kinh này mà
được thoát nạn, đấy là ngoa truyền. Kinh
ấy quê mùa, kém cỏi, chẳng thành văn nghĩa,
chẳng biết dịch vào thời nào. Dùng lư để
đoán định th́ chính là nhờ vào phẩm Phổ Môn
trong kinh Pháp Hoa mà Cao Vương được thoát
nạn; do vậy mới nói như thế. Người
đời sau chẳng biết bèn riêng bịa đặt
lời dối trá, đặt tên là Cao Vương Kinh do
không hiểu ư nghĩa cái tên, nhưng cả cơi đời
đều chẳng biết.
19. Quán Âm Hương Sơn Quyển
Trong
quyển sách ấy nói đức Quán Âm là con gái vua Diệu
Trang, xuất gia thành đạo, hiệu là Quán Âm.
Đấy là ngoa truyền. Quán Âm là vị cổ Phật
trong quá khứ, ứng hiện ba mươi hai thân, tùy
loại độ sanh, hoặc hiện thân nữ, chứ chẳng
phải là do mang thân nữ rồi mới tu thành
đạo. Sách đă chẳng nói rơ Diệu Trang kia là
quốc vương thuộc thời đại nào, lại
chẳng nói thuộc quốc độ phương nào? Tuy
sách ấy có tác dụng giúp khuyên dạy nữ nhân không
nhỏ, nhưng v́ tăng sĩ trong cơi đời có kẻ
tin là kinh điển mầu nhiệm để tu hành cho nên
phải nêu ra.
20. Tu sẵn
Người
đời chưa chết đă làm kinh sám đạo tràng
cho các lễ Thất Thất, Tiểu Tường,
Đại Tường[16]
trước, gọi là “tu sẵn”. Đấy là sai. Nói “tu
sẵn” nghĩa là nhằm dạy người hăy thừa
dịp vẫn c̣n sắc thân để sớm tu tŕ,
đừng đợi tới lúc khát mới đào
giếng, bị cơn đói bức bách mới đốt
đồng làm rẫy. Hơn nữa, thỉnh người
khác tụng niệm, làm sao hơn được chính ta tu
tập? Nhưng đă chịu mở túi keo kiết
để làm Phật sự th́ vẫn tốt hơn kẻ
chẳng làm. Nếu hiểu như vậy th́ cũng
được, nhưng bậc cao minh quyết chẳng nên
hiểu như thế.
21. Gửi kho
Người
đời đốt nhiều giấy tiền, vàng mă,
gởi điệp xuống Âm Phủ, mong sẽ
được hưởng dùng trong đời sau, gọi
đó là “gởi kho”. Đấy là sai. Nếu giấy
tiền, vàng mă có thể đưa đến sự giàu có
trong đời sau th́ nhà giàu sẽ đời đời
giàu có, kẻ nghèo sẽ chẳng có thuở nào giàu;
thuyết thiện ác, báo ứng trở thành rỗng
tuếch ư? Người ta gởi kho là v́ con
người quen thói tích trữ tài vật trong kho tàng, xây
tường, dựng nhà kiên cố, chặt chẽ, tự
cho là nước, lửa, đạo tặc chẳng
thể phá hoại được, nhưng thường
bị nước, lửa, đạo tặc phá hoại.
Dẫu thoát khỏi ba thứ ấy, chắc lại bị
phá hoại bởi nạn vua, há c̣n kiên cố
được chăng? Nếu có thể bỏ tài sản
ra để bố thí, làm các thiện sự th́
phước đức vô tận, không ai phá hoại
được. Nói “gởi kho” là gởi vào cái kho ấy
đấy! Người đời sao chẳng tỉnh
ngộ?
22. Tây Phương Thập Vạn Bát
Thiên
[Lục
Tổ] Đàn Kinh ví “thập ác, bát tà” là “thập vạn bát
thiên” (mười vạn tám ngàn). Người ta bèn cho rằng
Tây Phương Cực Lạc thế giới cách đây
mười vạn tám ngàn [dặm]. Đấy là sai.
Mười vạn tám ngàn chính là cơi Tây Phương ở
năm xứ Thiên Trúc. Cực Lạc cách đây mười
vạn ức cơi Phật, lấy một đại thiên
thế giới làm một cơi Phật. Mười vạn
ức cơi Phật th́ sức con người chẳng
thể đến được, chẳng phải do
sức của quỷ thần hay sức của trời mà
có thể đến được! Chỉ có người
niệm Phật nhất tâm bất loạn cảm ứng
đạo giao là sẽ như trong khoảng khảy ngón tay
liền đến được mà thôi! Há có phải
giống như lộ tŕnh từ Chấn Đán (Trung Hoa)
đến Thiên Trúc trong Nam Thiệm Bộ Châu ư?
Nếu như vậy
th́ Lục Tổ không biết tới Tây Phương hay sao?
Thưa: Đàn Kinh là do đại chúng ghi chép, chứ không
phải do Lục Tổ viết. Ngay cả bốn chữ
“Lục Tổ Đàn Kinh” cũng phần nhiều là do Nho
sĩ người Hán thêm vào, há nên tin tưởng tuyệt
đối ư? Nếu không phải như vậy th́ là do
Tổ nêu cái gần để h́nh dung cái xa, xét về lư th́
cũng không trở ngại ǵ. Như ở ngay giữa
chợ bèn ví vùng phía Bắc ngoài thành là Yên Kinh (Bắc Kinh),
ví phía Nam ngoài thành như Bạch Hạ[17],
tức là mượn năm xứ Thiên Trúc ở gần
để ví cho Cực Lạc nơi xa, nhằm muốn cho
người thời ấy dễ hiểu, đâu có trở
ngại ǵ?
23. Thừa cấp, giới hoăn
Thuở
xưa có bốn cách biện định về thừa và
giới gấp gáp hay hoăn đăi, giải thích như sau: “Thừa cấp giới hoăn,
thắng giới cấp thừa hoăn” (Thừa gấp,
giới thong thả sẽ hơn giới gấp gáp mà
thừa thong thả). Kẻ cuồng bèn cho rằng giới
chẳng đáng giữ, đấy là sai! Phàm muốn nêu bật
sự thù thắng th́ lời lẽ ắt phải ngả
theo khuynh hướng đề cao [chuyện này], hạ
thấp [chuyện kia] giống như tổ Vĩnh Minh
đă nói “không Thiền, có
Tịnh Độ” vậy, chứ không phải là Ngài
bảo: Thiền đáng khinh! Hơn nữa, kẻ ấy
hiểu như thế nào là Thừa? Thế nào là Giới?
Có nên nghĩ thông đạt giáo lư là Thừa, nghiêm cẩn
giữ luật nghi là Giới hay chăng? Nếu hiểu
như vậy tức là chưa hiểu được
nghĩa của Thừa! Nói “Thừa
gấp gáp” là niệm niệm hoàn toàn tu nơi chân trí Bát
Nhă, chứ không phải là chẳng tŕ giới. [Nói như
vậy] nhằm chuyên chú trọng nơi cội gốc,
không nhắc tới cành nhánh. Hễ tâm địa thấu triệt,
trong sát-na sẽ trọn đủ lục độ
vạn hạnh. Kẻ chỉ chấp vào giới
tướng, chẳng thấu hiểu tâm địa th́
chỉ hưởng phước báo trời người mà
thôi! Thừa gấp gáp vượt trỗi hơn giữ
giới nghiêm ngặt là ở chỗ này. Nếu Thừa
chưa tương ứng mà sanh tử đă xảy
tới th́ hoàn toàn cần phải có giới lực;
muốn giữ giới thong thả, nguy lắm thay!
24. Danh tự La Hán
Kinh Pháp
Hoa có câu: “Phá giới
tỳ-kheo, danh tự La Hán” (Tỳ-kheo phá giới
chỉ có cái tên là La Hán), kẻ ngu bèn tưởng
tỳ-kheo phá giới vẫn gọi là La Hán, cho là muốn
phá giới sẽ chẳng trở ngại ǵ! Đấy là
sai. Ư kinh có nghĩa là tỳ-kheo phá giới chẳng thành
tỳ-kheo, chỉ mang cái danh xuông là La Hán mà thôi. “Danh tự” nghĩa là “chỉ
có cái tên xuông”, không chân thật. Suy quán sát ư nghĩa cặn
kẽ sẽ tự hiểu được!
25. Trai Tăng có công đức vô lậu
Có
Tăng sĩ khuyên dụ thí chủ, bảo làm phước
các thứ đều có lúc bại hoại. v́ đấy là
hữu lậu, chỉ có trai tăng là công đức vô
lậu. Đấy là nói ngoa. Tổ Đạt Ma bảo
[Lương] Vũ Đế: Những chuyện như xây
chùa, chép kinh v.v… là nhân của quả báo hữu lậu
nhỏ nhoi trong trời người; trai tăng cũng
nằm trong số ấy, sao lại bảo là chỉ có trai
tăng là vô lậu ư? Ư kẻ đó cho rằng xây chùa,
hễ chùa hư nát th́ phước cũng hư nát, c̣n chép
kinh th́ khi kinh diệt, phước cũng diệt, chỉ
có trai tăng là không như vậy. Ôi! Chẳng thể nói
riêng trai tăng [là vô lậu]! Bởi lẽ, Tăng
chết th́ phước cũng mất hay sao? Luận
tới rốt ráo tột cùng th́ hễ trụ vào
tướng để làm phước đều gọi là
hữu lậu! Nếu chẳng trụ nơi tướng
ắt trở thành vô lậu, há lẽ đâu riêng ḿnh trai
tăng [là vô lậu]?
26. Vô lậu
Lại
có kẻ cho rằng giữ trọn được Tinh -
Khí, chẳng để rỉ mất sẽ thành quả La
Hán Vô Lậu. Đấy là ngoa truyền, lầm
tưởng giữ ḿnh trong trắng suốt đời
mới gọi là Vô Lậu. Tinh, Khí nào đáng để coi
là Vô Lậu để rồi giữ cho vẹn Tinh, vẹn
Khí, vẹn Thần. Vô Lậu nghĩa là nói các Lậu
(phiền năo) đă hết, không c̣n phiền năo tồn
tại. Dạy kẻ ngu coi nuốt xuống, hít vào,
vận động là đạo th́ không chỉ làm hại
chánh kiến mà c̣n tổn hại sắc thân nữa.
Buồn thay!
27. Ngũ đại bộ kinh (năm bộ kinh lớn)
Người
đời truyền rằng tụng năm bộ kinh
lớn, tức là năm bộ kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Tâm
Địa Quán[18], Báo
Ân và Kim Quang Minh. Đấy là ngoa truyền, “ngũ
đại bộ” chính là tên gọi chung của cả
Đại Tạng, tức là Bát Nhă Bộ, Hoa Nghiêm Bộ,
Bảo Tích Bộ, Đại Tập Bộ và Niết Bàn
Bộ, năm bộ loại này bao trùm các kinh. Giống
như Lục Tào là tên gọi chung, bao gồm các quan
chức. Nếu nói [lời ngoa truyền trên đây có
nghĩa là] “từ trong năm bộ đều chọn
lấy một kinh trong mỗi bộ” th́ lại chẳng
lấy kinh nào thuộc về bộ Bát Nhă cả, làm sao
gọi là “năm bộ” cho được!
28. Thanh trai
Có
người cứ đến cuối tuần bèn không
ăn, gọi đó là Thanh Trai. Đấy là sai! Thanh Trai
nghĩa là ăn chay, giữ giới thanh tịnh, chứ
chẳng phải là không ăn th́ mới thanh tịnh.
Miễn cưỡng tuyệt thực, ḷng luôn cảm
thấy đói khát, chỉ tăng thêm nghiệp khổ!
Hơn nữa, Thanh Trai c̣n có tên gọi khác là Trai Giới.
Những vị giảng giải c̣n bảo “lặng trong
thuần nhất th́ gọi là Trai”, huống hồ là
chữ Trai do đức Phật đă nói ư? Nếu
chỉ có nghĩa là không ăn th́ chữ Trai ấy cũng
nhỏ nhoi lắm thay! Nếu vậy th́ “không ăn quá ngọ” là như thế nào? Đáp:
Đấy là điều dạy đúng đắn. “Nhất trai” nghĩa là sao?
Đáp: Ngày ăn một bữa, cũng là điều
được dạy trong giáo pháp; rốt cuộc không
ăn quá ngọ là điều chánh yếu.
29. Luyện ma (luyện tập, mài giũa)
Gần
đây, pháp tắc thực hành trong các nơi luyện
tập, mài giũa[19]
đă phát sanh thói tệ; chuyên lẩn quẩn, ḍ dẫm, ḥ
hét, chú trọng luyện tập để trừ khử
con ma buồn ngủ. Ấy là sai! Luyện (練) là nung luyện cái thô tạp ngơ hầu
biến chúng thành tinh thuần, Ma (磨) là khử tỳ vết để trở thành sáng
ngời, khiết tịnh. Cổ nhân nói: “Luyện ma chân tánh nhược hư không, tự
nhiên chiến thoái ma quân trận” (Luyện tập, rèn
giũa sao cho chân tánh như hư không, tự nhiên sẽ
đánh lùi được trận giặc ma quân), chính là
nhằm diễn tả ư này, chứ không phải là rèn
giũa để trừ khử được con ma
buồn ngủ là đă xong việc! Những nơi rèn
luyện chẳng thể không biết điều này!
30. Giảng Thiền
Gần
đây, người ta giảng diễn những lời b́nh
luận, đối đáp của các vị như Vạn
Tùng[20],
cứ y theo sách Thiền mà giảng lại, bảo như
thế là đă nắm được tông chỉ.
Đấy là sai! Đối với những cơ duyên
vấn đáp do cổ đức để lại,
người đời sau do vậy bèn khởi nghi rồi
tận lực tham cứu đến tột cùng để
mong ngộ được. Nếu giảng diễn th́ làm
sao c̣n có nghi nữa? Dẫu giảng mỗi một
điều đều đúng, vẫn chẳng ăn
nhập ǵ đến ḿnh. Rốt cuộc chỉ thành hư
luận. Do vậy, biết [giảng diễn công án
Thiền] chính là lấp mất lối ngộ của chúng
sanh. Giảng diễn Thiền tạo thành sai lầm như
vậy đấy. Người có chí bèn chọn một công
án rồi suốt đời chỉ dựa vào đấy
để tham cứu, quyết chẳng thiếu sót.
31. Ở trong ba ngọn núi thánh
địa sẽ không bị nạn tam tai
Có kẻ
nói: Khi kiếp hoại, ba dăy núi Ngũ Đài, Nga Mi, Phổ
Đà không bị hoại. Đến sống ở đó,
sẽ tránh được tam tai. Đấy là ngoa
truyền. Hễ tam tai khởi lên, cả đại thiên
đều bị hoại, làm sao ba rặng núi ấy thoát
được? Nếu đến sống ở những
nơi ấy sẽ thoát khỏi tai ương đó th́
những kẻ mắt mù, chân teo không thể lên
đường được, dẫu có tu công đức
thù thắng rốt cuộc vẫn đọa lạc, c̣n
kẻ sống gần ba ngọn núi ấy dẫu là ngu phu
đều được giải thoát cả ư? Hăy nên
biết rằng: Không tham sẽ chẳng bị thủy tai,
không sân sẽ chẳng bị hỏa tai, không si sẽ không
bị phong tai; đến ba rặng núi ấy hay không
chẳng sao cả! Nguyện niệm niệm khai Văn Thù
trí, hành Phổ Hiền hạnh, mở rộng ḷng bi Quán Âm
th́ chính là luôn luôn triều bái ba rặng núi ấy, thân
cận các vị Đại Sĩ. Chẳng thấu
hiểu ư chỉ này, cứ chuyên trọng viễn du,
dẫu có lên [núi do] bảy thứ kim loại báu [hợp
thành], vượt [biển] nước thơm[21],
có ích ǵ đâu!
32. Bốn quyển kinh Lăng Già của
tổ Đạt Ma
Sơ
Tổ chẳng lập văn tự, lại nói: “Ngô hữu Lăng Già tứ
quyển” (Ta có bốn quyển kinh Lăng Già). Kẻ
chỉ biết học theo nghĩa [của văn tự]
bèn cho rằng tổ Đạt Ma cũng lập văn
tự, muốn bác bỏ sự truyền thừa trực
chỉ. Đấy là sai! Kinh Lăng Già được
dịch từ đời Tấn, chứ không phải đến
thời Sơ Tổ mới xuất hiện. Chẳng
được nói là “ta có”.
Tôi ngờ chữ “ngô” (ta) là
sai, chắc là chữ “thử”
(này), bởi lẽ kinh ấy đoạn trừ hết
thảy, có thể chứng được diệu tâm
đốn ngộ. Đấy cũng là lời nói nhất
thời với ngụ ư nhờ vào kinh ấy để
hiển lộ diệu tâm. Nếu cho rằng pháp Thiền
của Sơ Tổ đă được diễn tả
trọn hết trong câu nói ấy th́ cái gọi là “giáo
ngoại biệt truyền” sẽ đặt ở đâu
đây?
33. Ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa
Có tà nhân
cho rằng ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa chẳng
được lưu truyền trong cơi đời, kẻ
nào có được liền coi như của báu, cất
giấu kín đáo. Đấy là sai. Một kinh Pháp Hoa có ba
bản dịch[22], có
bản gồm bảy quyển, có bản gồm tám
quyển và có bản gồm mười quyển. Bản
được lưu thông hiện thời là bản
dịch bảy quyển của ngài Cưu Ma La Thập. Số
quyển tuy có nhiều hay ít nhưng ư nghĩa kinh văn
giống hệt nhau. Giống như kinh Hoa Nghiêm bản
dịch đời Tấn gồm sáu mươi quyển,
bản dịch đời Đường gồm tám
mươi quyển vậy. Lư ấy rơ ràng, có lẽ
chẳng cần phải biện luận, nhưng tôi
thấy người đời vẫn có kẻ tin [lời
ngoa truyền về ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa].
Đời mạt pháp tối tăm, ngu muội đến
cùng cực như thế đấy!
34. Tam Giáo một nhà
Có kẻ
thường nói Tam Giáo là một nhà, đến nỗi tràn
lan không phân biệt, đấy là sai vậy. Tam Giáo thật
sự là một nhà, nhưng trong một nhà, há chẳng có lớn,
nhỏ, tôn ty, thân sơ hay chăng? Đức Phật
dạy về thời gian trước Không kiếp rất
dài, Nho và Đạo nói rất gần. Đức Phật
là vị trời trong các vị trời, là bậc thánh
của các thánh, tôn quư nhất; Nho, Đạo c̣n thuộc
địa vị phàm phu. Đức Phật đă tự
chứng được cái hết thảy chúng sanh vốn
sẵn có, nên thân thiết nhất, Nho và Đạo vẫn
c̣n ở ṿng ngoài. Do vậy, về lư th́ không hai, nhưng
mức độ sâu hay cạn đă rành rành. Tuy sâu hay
cạn khác nhau, nhưng cùng quy về một lư. Do vậy
nói là “tam giáo một nhà”, chứ chẳng phải là nói tràn
lan không phân biệt vậy.
35. Cao Sa Di không thọ giới
Cơi
đời tương truyền: Vị “Cao Sa Di không
thọ giới” chính là thiền sư Cao Phong Diệu núi
Thiên Mục. Đấy là ngoa truyền. Sư sống trong
am Thiên Trượng tại Thiên Mục, cho nên có hiệu là
Cao Phong. Sư là người đời Nguyên. C̣n vị Cao
Sa Di kia có họ là Cao, do chẳng thọ giới Cụ Túc
nên suốt đời xưng là Sa Di, sống cùng thời
với ngài Dược Sơn [Duy Nghiễm], là người
đời Đường. Ngài chính là người đă
nói câu: “Trường An tuy
chộn rộn, nước ta vẫn yên lặng”. Hai
vị trước sau thời đại khác nhau, đâu
ăn nhập ǵ đến nhau? Ngài Cao Phong đặc
biệt coi trọng Tỳ Ni (giới luật), Tăng,
tục xin thọ giới với Sư hơn ngàn
người, sao lại ngoa truyền [Sư chẳng
thọ giới Cụ Túc] quá đáng như thế?
36. Tam Bảo
Đạo
gia gọi Tinh - Khí - Thần là Tam Bảo, người
đời bèn đem Phật - Pháp - Tăng phối hợp
vào, đấy là sai! Tự tánh mở mang giác ngộ là
Phật, khuôn phép trong tự tánh là Pháp, tự tánh thanh
tịnh ḥa hợp là Tăng. Tinh - Khí - Thần của
bọn họ làm sao có thể gán vào đây cho
được? Dẫu có đem tiên thiên nguyên tinh, nguyên khí,
nguyên thần để biện bác th́ há cũng chẳng
biết nguyên thần vẫn thuộc về Thức Ấm
hay chăng? Phật pháp sâu xa, huyền diệu, chẳng
dễ ǵ nhập nhằng được đâu!
37. Vị tăng Đạo Quang thành tiên
Đời
truyền tụng vị tăng tên Đạo Quang thành tiên
ở Thạch Hạnh Lâm, trở thành người nối
pháp đời thứ ba của Tử Dương Chân Nhân[23],
họ bèn cho rằng do Phật pháp chẳng bằng
đạo Tiên nên Đạo Quang bèn bỏ Phật, học
Tiên. Đấy là ngoa truyền. Dựa theo bản chú
giải sách Ngộ Chân Thiên th́ Đạo Quang trước
kia đă do nhân duyên tham cứu câu “trước lúc gà vàng chưa gáy” bèn có chỗ
ngộ; nhưng tra trong các sách như Truyền Đăng
Lục v.v… không thấy nói đến Đạo Quang!
Tất nhiên ông ta là hạng tham Thiền lạc lối,
không ngộ được ǵ, cho nên mới lầm lạc
học theo ngoại đạo. Nếu ngộ thật
sự, lẽ đâu lại không có định kiến
đến mức như thế? Là tăng nhân hăy nên
nhất tâm cầu Phật, đừng lạc vào ngă khác th́
may mắn lắm thay!
38. Thiêu sống
Có gă ma
tưới dầu, chất củi, đốt sống thân
thể, người khác trông thấy kinh ngạc, than
thở, cho là bậc đắc đạo. Đấy là
sai. Phàm người mang tâm niệm chấp trước th́
ma sự sẽ phát sanh. Một dạ hâm mộ, cho thiêu
sống là lạ lùng, thù thắng, hâm mộ không ngơi, ma
sẽ nhập vào tâm kẻ ấy mà chẳng tự
biết, ngồi ngay ngắn trong lửa tợ hồ không
khổ sở ǵ, chẳng biết là do ma lực duy tŕ nên
tạm thời được như thế. Đến
khi đứt hơi, ma bỏ đi sẽ thê thảm,
đau khổ chẳng thể nào ví dụ được.
Trăm kiếp ngàn đời thường ở trong
lửa, gào khóc chạy quàng, làm loài quỷ chết ngang trái,
thật đáng đau thương.
Nếu có kẻ
gạn: “Trong kinh [Pháp Hoa] nói ngài Dược Vương
đốt thân là như thế nào?” Ôi! Nhặng xanh sao
lại tính bắt chước chim cánh vàng (Kim Xí
Điểu: Garuda) cho được? Dược
Vương Bồ Tát thiêu thân, quang minh chiếu trong
nhiều kiếp trọn khắp mười phương.
Kẻ tự thiêu kia ánh sáng chiếu được cỡ
nào? Đệ tử của ngài Khuê Phong thiêu cánh tay
để tỏ ư mừng pháp, ngài Thanh Lương c̣n
răn cấm không được làm, huống là
đốt thân ư? Ôn Lăng bảo: “Do khổ nhân vẫn chuốc lấy khổ
quả!” Hăy nên tin tưởng!
39. Coi có thần thông là đắc
đạo
Người
đời nay ham lạ, thấy có kẻ tỏ lộ
những sự lạ kỳ để mê hoặc
đại chúng liền bảo kẻ ấy đắc
đạo. Đấy là sai. Đắc đạo và có
thần thông [là hai chuyện] khác nhau. Mắt thấy
thấu suốt, tai nghe thông suốt là Thần Thông; c̣n vào
Sắc Giới mắt chẳng bị Sắc mê hoặc,
vào Thanh Giới tai chẳng bị âm thanh mê hoặc, là
đắc đạo. Nếu chỉ xét đến
thần thông th́ thần cũng có thần thông, quỷ
cũng có thần thông, yêu ma cũng có thần thông,
chẳng dính dáng ǵ đến đạo hết! Ngỡ có
thần thông là đắc đạo ắt sẽ
đọa trong cảnh lưới rập của ma, sanh
vào ḍng giống ngoại đạo, há nên không cẩn
thận!
40. Chim làm tổ trên đỉnh
đầu, cỏ mọc xuyên gối
Cơi
đời tương truyền khi đức Phật tu
khổ hạnh, chim sẻ làm tổ trên đỉnh
đầu, cỏ lau mọc xuyên gối, những nhà tu
dưỡng bèn cho đấy là thuật vận khí.
Hiểu như vậy là sai! Thâm nhập Thiền
Định nên chim sẻ làm tổ trên đầu cũng
chẳng biết, cỏ lau mọc xuyên qua [gối] cũng
chẳng hay, sự thật chỉ như vậy mà thôi!
Chứ không phải là thuật vận khí thông trên thấu
dưới, thậm chí “chín tầng trống sắt”[24]
bị hiểu lầm là hai cái ải thuộc vị trí
huyệt Giáp Tích. “Dạo chơi bốn cửa thành” bèn
bị giảng bậy là mắt, tai, mũi, lưỡi,
đều là tà thuyết, chẳng thể không quở trách!
41. Nê Hoàn
Chữ
Nê Hoàn phát xuất từ kinh Phật, có kẻ lẫn
lộn Nê Hoàn chính là cung Nê Hoàn trên đỉnh thóp.
Đấy là hiểu sai. Nê Hoàn (Nirvāna) trong tiếng Phạn được
cơi này dịch là Vô Vi, tức là đại đạo Vô
Thượng Niết Bàn. C̣n Nê Hoàn Cung của bọn họ
chính là đỉnh đầu nơi sắc thân. Dẫu có
thể vận khí xung phá được Nê Hoàn Cung th́
chẳng qua chỉ là thuật luyện cho thân thể nhẹ
nhàng sống lâu mà thôi, sao có thể nói là giống với
đạo Vô Vi Niết Bàn cho được?
42. Phép Chỉ Quán của ngài Thiên Thai
Trong sách
Chỉ Quán Thiền Yếu của Thiên Thai đại
sư có sáu chữ “khí”, người ta bèn ngờ rằng
đấy chính là thuật Đạo Dẫn[25],
rồi muốn gom Phật pháp vào Đạo giáo,
đấy là sai! Sáu chữ Khí ấy nhằm để
giảng giải về một phương cách trị
bệnh, chứ không phải là ư tưởng chánh yếu
trong phép Chỉ Quán. [Chỉ là] dứt loạn, [Quán là] quán
[thấu suốt sự] hôn trầm, Định - Huệ
hiển lộ trọn vẹn, vào thẳng cảnh
Phật, đấy chính là bổn ư của đại
sư. Ngài lại sợ có những kẻ chẳng khéo
dụng tâm, chắc sẽ đổ bệnh, bèn dạy
cách đối trị. Đấy cũng là phép Chỉ Quán
rộng lớn, không ǵ chẳng bao gồm, chứ không
giống như bọn Đạo sĩ chuyên coi hít thở,
vận động là Đạo. Kẻ đọc kinh
văn hăy nên lănh hội ư này.
43. Lâm chung biết trước lúc
mất
Kẻ tà
bịa ra cuốn Quy Không Kư, nhằm dự đoán kỳ
hạn mất, bảo là do tổ Đạt Ma biên
soạn. Đấy là ngoa truyền. Kẻ ấy cho
rằng để ước định kỳ hạn
chết, hễ búng vào sọ mà không nghe có tiếng vang th́
gọi là “trống đầu lâu bặt tiếng”, mấy
hôm sau sẽ chết, hoặc giơ thẳng cánh tay lên
để thử xem mắt [ngước lên có nh́n thấy
được chót bàn tay nữa hay không], gọi là “đèn
vàng không sáng” mấy hôm sau sẽ chết. Đủ mọi
thứ như thế, đều là xem xét nơi sắc
thân, huyết khí tinh thần suy bại, sắp tan ĺa.
Đấy là kiến thức của một thầy
thuốc nhưng lại giả danh thánh, giả danh Tổ
ḥng thần bí hóa thuyết ấy, nhằm dối gạt,
mê hoặc kẻ ngu tục. Cái tội vu báng, dối
gạt ngập trời! Phàm cổ nhân biết trước
lúc mất là v́ chấp trước đă hết, t́nh
niệm rỗng rang, sẽ tự biết; hoặc do
cảnh Tịnh Độ hiện ra liền tự
biết chỗ sẽ sanh về, cũng chẳng coi đó
là chuyện kỳ lạ. Bậc cổ đức v́
muốn phá chấp nên mới có câu: “Tử thời hà khổ dục tiên tri” (Lúc
chết có khổ ǵ mà muốn biết trước).
Lời nói ấy đầy ư vị thay!
44. Vu Lan Bồn
Người
đời cho rằng thí thực cho quỷ thần trong
ngày Rằm tháng Bảy chính là hội đại trai Vu Lan
Bồn. Đấy là sai. Vu Lan Bồn có duyên khởi từ
ngài Mục Liên, nghĩa là ngày Rằm tháng Bảy là ngày chúng
Tăng giải hạ, tự tứ[26] sau
chín mươi ngày tham học, người đắc
đạo đông đảo. Sắp đặt cúng
dường trong hôm ấy phước gấp trăm
lần, chứ không phải là thí thực cho quỷ
thần. Thí thực có duyên khởi từ ngài A Nan, chẳng
chỉ giới hạn trong ngày Rằm tháng Bảy. Vật
dùng để đựng đồ thí là cái hộc
[của người] nước Ma Kiệt (Magadha)
[thường dùng], chứ cũng chẳng phải là Lan
Bồn. Ấy là v́ [trong ngày Vu Lan], trên cúng dường thánh
hiền, dưới cứu giúp ngạ quỷ, Bi
điền và Kính điền[27] khác
nhau, chớ nên lẫn lộn.
45. Vô Vi Quyển
Có gă họ La[28]
soạn ra năm bộ sáu quyển, đặt tên là Vô Vi
Quyển, kẻ ngu phần nhiều tin theo. Đấy là
sai trái. Vô Vi như hắn nói chẳng qua là phế sạch
vạn hạnh, chẳng biết vạn hạnh chính là
Không, suốt ngày làm nhưng
chưa từng [thấy chính ta] làm ǵ th́ mới chính là
vô vi thật sự. Gă đó miệng bàn về lẽ thanh
hư, nhưng tâm mong lợi dưỡng, mang tiếng là vô
vi, nhưng thật sự là hữu vi. Người ta
thấy hắn dẫn kinh Phật xen vào đó, bèn cho
rằng đấy cũng là chánh đạo, chẳng
biết hắn giả chánh để giúp tà, dối gạt
kẻ đui điếc. Chúng ta là con nhà Phật hăy nên
tận lực trừ bỏ sách ấy đi.
46. Bát Nhă Tâm Kinh
Có
người nói kinh Phật chỉ có bài Tâm Kinh do ngài
Huyền Trang dịch là được đem từ Tây
Thiên tới, những thứ khác đều do người
đời sau soạn ra. Đấy là ngoa truyền.
Người dịch kinh này đầu tiên là ngài La Thập[29],
c̣n ngài Huyền Trang cầm kinh ấy [theo trên
đường đi] sang phương Tây, đâu phải
do Ngài đem [kinh ấy] về [rồi Trung Hoa mới có].
Trong Tây Vực Kư[30]
từng chép trên đường đi, ngài Huyền Trang
nhiều lần gặp yêu ma, tŕ thánh hiệu Quán Âm, chúng
chẳng chịu lui, bèn tụng Tâm Kinh th́ chúng liền lui
mất. Như vậy là trước khi ngài Huyền Trang
đem về, kinh này đă có ở Trung Quốc, ngài
Huyền Trang chỉ dịch lại thành bản mới mà
thôi, sao lại ăn nói ngược ngạo đến
thế?
47. Lương Vũ Đế
Sử
chép Vũ Đế chuộng Phật giáo, chết đói
ở Đài Thành mà Phật chẳng cứu, do vậy bèn
công kích Phật. Đấy là ngoa truyền. Vũ
Đế ưa thích đạo đến nỗi quên
ăn, thường giữ trai giới mỗi ngày ăn
một bữa. Nếu gặp phải lúc chánh sự bận
bịu [không kịp ăn] bèn súc miệng cho xong. Lúc lâm chung
vua không ăn chính là điều hằng ngày thường
vâng giữ. Hơn nữa, vua cai trị năm mươi
năm, sống trên đời tám mươi năm, công
vẹn, ư thỏa, ngồi yên đợi đến lúc
mạng chung, coi chết như trở về, đâu phải
là chết đói. Khi Hầu Cảnh[31]
gặp vua bèn toát mồ hôi, cứng họng, là v́ khiếp
phục khôn cùng trước oai thần của vua th́ làm sao
Vũ Đế có thể chết [đói] như thế
được? Người đời sau có kẻ
biện bác rằng “vua chết đói là do túc nghiệp”.
Lời bàn luận ấy tuy đúng, nhưng chẳng
biết rằng hai chữ “chết đói” là do kẻ ghét
Phật bịa ra, muốn nhờ vào đó để
ngăn trở nẻo tiến lên của người khác. Nay
ở đây tôi nói rơ vua không chết đói, đủ
để phá sự sai lầm trong ngàn năm.
48. Hoàng Long và Động Tân[32]
Bọn
đạo sĩ nói Lă Động Tân dùng phi kiếm
để hàng phục thiền sư Hoàng Long[33].
Đấy là ngoa truyền. Sư một bữa lên ṭa,
Động Tân trà trộn trong thính chúng. Do thiên nhăn, Sư
thấy rơ, bèn bảo: “Trong
hội có kẻ trộm pháp”. Động Tân bèn
bước ra tự xưng là vân thủy đạo nhân
(đạo sĩ vân du), Sư hỏi: “Khi mây tan nước cạn th́ sẽ ra sao?”
Động Tân không đáp được. Sư bèn trả
lời thay: “Hoàng long xuất
hiện”. Động Tân tức giận, đêm
đến phóng phi kiếm toan uy hiếp Sư. Sư
chỉ tay, kiếm cắm phập xuống đất không
nhúc nhích được. Sáng ra, Động Tân rút kiếm
không được, vấn đáp mấy câu, chợt có
chỗ tỉnh ngộ, bèn nối pháp của Hoàng Long.
Truyện này được chép trong Truyền Đăng Lục
khác với lời lưu truyền trong cơi tục.
Người hiểu biết hăy xét suy.
49. Phật nhập Niết Bàn
Đức
Phật thị hiện nhập diệt, gọi là Niết
Bàn. Con người bèn cho rằng thần tiên trường
sanh, chứ Phật cũng phải chết. Đấy là
sai ngoa. Tiên thọ đến cùng cực chỉ bằng
trời. Trời cũng có lúc tự hoại th́ tiên làm sao
c̣n được? Lời của họ Bạch nói rất
hay: “Nói dài là đối với
ngắn, như đem tùng, bách sánh với bông dâm bụt.
Đặc biệt nói hậu diệt, chứ không nói
bất diệt. Nay nói Niết Bàn là đại đạo
bất sanh bất diệt. Sanh lẫn tử đều là
Không, chứ chẳng phải chỉ bất tử mà thôi!”
Nhưng người nói [lời ngoa truyền trên đây]
cứ tưởng rằng thần tiên bất tử. Nhà
Phật nói vô sanh; họ chẳng biết là nếu đă
không có sanh th́ sẽ do đâu mà có tử đây? Chỉ là
hóa duyên đă xong, bèn thị hiện giống như cơi phàm
nhập diệt, nhằm cảnh tỉnh giác ngộ chúng
sanh khiến cho họ biết vạn vật vô
thường, đừng sanh tham chấp. Nhưng [tục
nhân] lại dựa vào đó để cho rằng Phật
thật sự chết, cũng chẳng sai lầm lắm
ư? Sông sanh tử, bờ Niết Bàn, chỉ là nói một
cách đối đăi, xin hăy suy nghĩ thử xem!
50. Năng Nhân Tổ
Trong cơi
đời có tà sư, truyền dạy tà pháp rộng răi.
Hỏi học pháp ấy từ đâu, bèn nói: “Tổ
của ta là Năng Nhân, Thích Ca, Lăo Đam, Trọng Ni[34]
đều là đệ tử”. Đấy là nói ngoa. Thánh
nhân Tam giáo chẳng sống cùng một thời, làm sao có cùng
thầy được! Hơn nữa, danh hiệu Thích Ca
trong tiếng Phạn được cơi này dịch là
Năng Nhân. Gă đó hèn tệ, nông cạn, thất học,
nghe nói có danh hiệu Năng Nhân, chẳng biết
đầu mối, bèn lấy danh hiệu đó để
đề cao vị tổ của đạo ḿnh, chẳng
biết Năng Nhân chính là Phật, sao mà nực cười
đến thế?
51. Ngọc Hoàng Kinh
Kinh này chép Ngọc Đế
thuyết pháp, mười phương chư Phật
đều đến nghe. Đấy là nói ngoa. Chư thiên thuộc địa vị phàm
phu, Thanh Văn là bậc tiểu thánh mà chư thiên c̣n
phải kính phụng, lẽ đâu bậc trời của
các trời, là thánh của các thánh lại phải
ngược ngạo nghe nhận pháp của phàm phu ư?
Lời nói của lũ Tề Đông[35],
kẻ nghe đừng điên đảo [tin theo] nữa,
lời ấy chẳng đúng đâu! Nếu như chư
thiên giảng diễn thiện pháp, chư Phật hoan
hỷ hóa thân gia bị là v́ chư thiên chí thành nên cảm
được Phật, Phật bèn chứng minh. Chắc là
có lẽ ấy, chứ bảo là chư Phật tín tâm nghe
nhận th́ thật là dối trá đến cùng cực!
52. Tăng nhân mất
Người đời thấy tăng
sĩ lâm chung bị bệnh khổ liền dị nghị
vị ấy chưa đắc đạo. Đấy là
sai. Bệnh liên quan đến nghiệp trong đời
trước, bậc cổ thánh c̣n chưa tránh khỏi,
đức Phật cũng thị hiện nhức
đầu, huống hồ những kẻ khác ư? Tuy
bệnh nhưng chẳng bị bệnh gây phiền lụy
th́ gọi là đắc đạo, như nói “lăo tăng tự có cách
để được an nhàn, tám nỗi khổ xen nhau
nung nấu trọn chẳng gây
trở ngại ǵ” là nhằm diễn tả ư ấy. Đối với chuyện
ngồi, đứng qua đời tốt lành, cũng
chẳng đủ để b́nh phẩm hơn kém. Cổ
nhân nói: “Tọa thoát lập vong
tắc bất vô, tiên sư ư vị mộng kiến
tại” (Ngồi mất, đứng chết chẳng
phải là không có, tiên sư cho rằng chưa hề
mộng thấy), há là lời nói xuông ư? Người tu
hành chỉ nên chú trọng thấu triệt đại
sự sanh tử, đừng vương vấn h́nh dáng bên
ngoài để rồi nẩy sanh những ư kiến khác
lạ!
53. Tam Giáo cùng nói một chữ
Có kẻ
nói nhà Phật bảo “vạn
pháp quy nhất”, Đạo giáo dạy “băo nguyên thủ nhất”[36],
đạo Nho nói “dĩ
nhất quán chi”[37],
nên cả ba đạo là một, không khác ǵ nhau. Đấy
là nói ngoa. V́ nếu chẳng giữ vạn mà chỉ
giữ lấy nhất (một), dùng cái một của ta
để quán thông vạn sự kia th́ vạn và một
vẫn là hai thứ; c̣n “vạn
pháp quy nhất” th́ chỉ có một, chẳng c̣n có
vạn, tức là vạn và nhất không hai. Hơn nữa,
hai giáo kia chỉ nói đến nhất, nay [nhà Phật]
lại nói “nhất quy hà
xứ?” (nhất về chỗ nào) th́ hai giáo kia chỉ
coi Nhất là cùng cực, c̣n Phật lại vượt
thoát ra ngoài Nhất. Ôi chao, huyền diệu thay!
54. Nghi t́nh
Trong cơi
đời có kẻ đọc đến những câu
như “nhất quy hà xứ,
nhân thậm đạo vô” (một đi về đâu, do
vậy hết sức nói đến Không) bèn hoặc liên
tiếp đọc lên thật nhanh, hoặc gắng kéo
hơi đọc cho lâu để đánh động nghi
t́nh. Đấy là sai. “Nghi” có nghĩa là tham cứu, quán sát
nhằm thấu hiểu, quyết định phải sao
cho thấy được cảnh Một ấy rốt ráo
đi về đâu, rốt ráo phải thấy được
v́ sao ông cụ ấy (tức vị thiền sư nói ra
lời ấy) nói Vô. Do nay có nghi, mai sau sẽ có ngộ.
Nếu niệm thẳng vào câu đó th́ không có nghi; đă
không nghi sẽ không ngộ. Ôi! Niệm thẳng câu ấy
th́ làm sao nghi được? Câu “người
niệm Phật là ai?” cũng mang ư nghĩa giống
như vậy! Lại có kẻ ngu vận hơi thở ép
chữ “Ai” xuống Đan Điền, để mong nó
sẽ xung ngược lên đỉnh đầu ngơ hầu
mạch Nhâm và Đốc được thông suốt, coi
đó là “tham thấu” (tham cứu đến khi thấu
hiểu được công án), gọi đó là “truy cứu
niệm Phật”. Chẳng biết Truy có nghĩa là truy xét,
truy vấn, há phải đâu là truy cho tới Đan
Điền ư? Đă sai lại càng sai hơn, đúng là
đáng thương xót quá! Người thông đạt
hễ gặp kẻ như thế hăy đừng tiếc
lời bảo ban mọi điều cho kẻ ấy
vỡ lẽ.
55. Công án
Lại
có tà sư ngầm dạy công phu tà vạy, học tṛ
được dạy bèn bảo là “được
nhận công án hay truyền thoại đầu”. Đấy
là nói ngoa. Công Án có nghĩa là án từ (hồ sơ vụ
án) nơi công đường, do vậy phải phân tích,
phán đoán đúng sai; đối với cơ duyên hỏi
đáp của chư Tổ cũng phải phân tích,
quyết đoán lẽ sanh tử cho nên gọi là Công Án. Nói
chung là trong lời vấn đáp, có một câu khẩn
yếu th́ gọi câu ấy là Thoại Đầu, giống
như những câu “một quy
về đâu, do vậy hết sức nói đến Không”
hoặc “người niệm
Phật là ai?” Một ngàn bảy trăm công án, cho
đến có nhiều loại đều giống như
thế. Lũ tà sư trộm dùng lời cổ nhân
nhưng mê muội nơi thực chất, những ǵ
bọn hắn dạy đều là nếu không phải là
cách ép khí th́ cũng rơi vào trống không! Tự lầm,
lầm người, gây hại cũng lâu dài, đáng xót
thay!
56. Cây khô, tro lạnh
Tống
Nho bảo nhà Phật chỉ cầu tâm giống như cây
khô, tro lạnh, rồi bèn bài xích Phật pháp là giáo pháp
dị đoan, hư vô, tịch diệt. Đấy là nói
ngoa. Kẻ lập ra thuyết ấy chưa từng
đọc rộng răi kinh Phật, chỉ thấy
được Khô Định của Tiểu Thừa,
chưa thấy được Định Huệ Song Tu
của Đại Thừa, Đệ Nhất Nghĩa
Đế của Trung Đạo, chỉ thấy được
Không Như Lai Tạng, chưa thấy được
Bất Không Như Lai Tạng, huống là “không ở nơi
Trung Đạo, Không, Bất Không Như Lai Tạng” ư?
Bọn họ cho là cây khô, ta cho là muôn vàn cây cối
đều thắm sắc Xuân, bọn họ cho là tro
lạnh, ta cho là thái dương giữa trưa.
Người hiểu biết hăy nên giữ cho tâm
lượng b́nh đẳng, đừng coi những
lời được nghe đầu tiên là đúng kẻo
bị Tống Nho làm hỏng đại sự.
57. Luận về kinh Khổng
Tước
Thời
gần đây, người ta dùng linh, trống, thanh la, năo
bạt để tụng Khổng Tước Minh
Vương Kinh[38],
gọi là “đàm Khổng Tước”. Đấy là sai. “Đàm”
(談) có nghĩa là luận định ư
nghĩa. Nay chỉ tụng kinh văn, sao gọi là
“luận định ư nghĩa” cho được? Nếu
nói [“đàm” chính là] chữ “đàn” (彈: đánh, hay gảy) trong “xuy đàn” (吹 彈: thổi,
đánh) th́ linh và năo bạt đâu phải là tơ
đồng[39]
(đàn), huống hồ đem kinh văn phổ thành ca
khúc, cắt xén chương kinh lẫn câu kinh, khinh nhờn
không chi hơn được nữa! Hễ tụng kinh
ấy th́ hăy nên chiếu theo cách thức tụng kinh thông
thường, tận lực quay về quy củ xưa,
đừng chạy theo thói thời thượng.
58. Lễ Quán Âm Văn
Xưa
kia có người lễ Quán Âm Văn, kẻ độn
căn bắt chước theo để chuyên cầu
được thông minh, trí huệ. Đấy là sai ngoa.
Từ sơ phát tâm cho đến khi chứng quả
thảy đều trọn đủ trong bài văn ấy,
nhưng dùng kinh văn ấy để chuyên cầu thông
minh, trí huệ th́ ra thể thống ǵ? Hăy biện
định về thông minh và trí huệ! Nói tới thông minh
chẳng qua là nghe rộng thấy nhiều, lắm tài
năng mà thôi. C̣n trí huệ th́ có nghĩa là giác tâm chẳng
mê, chánh kiến rạng ngời, chế ngự
được phiền năo, phá vô minh. Do vậy, thông minh là
điều tốt đẹp nhỏ nhoi trong thế gian,
chấp vào đấy thường bị chướng
lấp Chân Trí. Trí Huệ là cái nhân lớn lao để
xuất thế gian, hễ đạt được
rồi th́ sự thông minh trong thế gian đâu c̣n ǵ
đáng quư nữa. Lễ bài văn ấy (tức lễ bái
Quán Âm Văn) để chuyên cầu thông minh th́ có khác ǵ
cắt cổ gà lại dùng đến dao mổ trâu?
Hạnh trẻ nít vô tri, nhưng chẳng ngại ǵ nêu ra.
Bậc tu hành đă lâu hăy nên đặc biệt khuyên răn
người khác về chuyện này.
59. Phật chẳng phải là
người
Thế
tục nói chữ Phật (佛) là từ
hai chữ Nhân (人) và Phất (弗) ghép lại; cho nên Phật không phải là
người, bởi đă bỏ nước nên không
thấy có vua, bỏ người thân nên không c̣n thấy có
cha, chẳng cưới vợ sanh con, tuy giữ cho thân ḿnh
trong sạch nhưng rối loạn luân thường. Cái
đạo không tṛn bổn phận làm người ấy
sao lại được thực thi ở Trung Quốc?
Đấy là nói ngoa. “Phất
nhân” (không phải là người) th́ quả thật không
phải là người, nhưng v́ sao lại “phất”
(không) th́ chẳng phải như ông đă nói! Đoạn
được phiền hoặc người khác chẳng
thể đoạn được, chứng
được trí người khác chẳng thể
chứng, hành được hạnh người khác
chẳng thể hành. V́ thế, Nghiêu, Thuấn, Châu,
Khổng là bậc thánh trong loài người, c̣n Phật
chính là thánh của các vị thánh. Chữ Thánh vẫn
chưa đủ để xưng tụng Ngài, huống là
có thể gọi Ngài là người ư? Nhật,
Nguyệt, bốn thiên vương cho đến cơi trời
Vô Sắc do sánh với con người mà xưng là Thiên. C̣n
Phật là đối với chư thiên mà xưng là Thiên
vậy. Chữ Thiên c̣n chưa đủ để gọi
Phật, huống hồ đáng gọi Ngài là Người
ư? Phật chẳng phải là người, nghĩa
như vậy đó!
Hăy
luận chung về Tam Giáo. Chữ Nho (儒) ghép từ chữ Nhu (需) và Nhân (人). Chẳng bộp chộp, sai quấy là
Nhu, như vậy Nho là người thong dong tuân theo lễ
pháp. Tiên (仙) là từ Sơn (山) và Nhân (人) ghép lại. Ĺa chốn chợ búa th́
gọi là Sơn. Do vậy, Tiên là người tiêu dao
ngoại vật, chẳng thể gọi là Phất (弗). Hai giáo tuy cao, nhưng vẫn c̣n có
thể gọi là Người, c̣n Phật đă thoát
khỏi bốn loài, vượt ba cơi, chẳng thể
gọi Ngài là người. Lấy những điều trên
đây để tạm đáp lời ông gạn hỏi,
chứ thật ra Phật (Buddha) là tiếng Phạn, cơi này
dịch là Giác, sao lại giảng là “phất nhân” (không
phải là người)!
60. Nam vô Phật (南 無 佛)
Có kẻ
nói phương Nam thuộc Hỏa, lửa tắt chính là
Phật, cho nên nói “Nam vô Phật” (phía Nam không có Phật),
hoặc phương Nam không có Phật, chỉ Tây
Phương là có Phật mà thôi! Cho nên nói “Nam vô Phật”.
Đấy là sai ngoa. Nam-mô[40]
(Namo) là tiếng Phạn, cơi này dịch là “quy mạng”,
đọc là Nẵng Mồ hoặc Na Ma đều
được, đấy là dựa theo âm chứ không theo
dựa theo ư nghĩa của mặt chữ vậy. Có
kẻ c̣n quá đáng cho rằng Nam là tánh, Vô là mạng, Nam là
trời, Vô là đất, Nam là cha, Vô là mẹ. Thậm chí
bốn chữ A Di Đà Phật, mỗi chữ đều
bị giảng giải sai lầm. Sự hiểu biết
tà vạy như thế chẳng thể nêu trọn, xin hăy
lần lượt lưu truyền để sửa cho
đúng những sai ngoa ấy ḥng uốn nắn cái tà
khiến được trở thành chánh. Đấy
gọi là báo ân đức của đức Phật trong
đời Mạt vậy.
61. Bất sanh bất diệt
Người
đời sát sanh, nại cớ kinh Phật dạy “bất sanh bất diệt”
để lập luận: “Chẳng
sanh th́ chẳng diệt, có sanh th́ có diệt”, cho nên sát
sanh không trở ngại ǵ! Đấy là nói ngoa. Kinh dạy:
Tâm này vốn tự chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Do bất sanh nên tịch, do bất diệt nên chiếu, thường
tịch, thường chiếu, gọi là Thường
Tịch Quang. Đấy chính là diệu tâm của
đương nhân, sao lại biến lời giảng chí
lư thành tṛ hư luận. Kẻ ngu ăn nói sai quấy
đến mức như thế đó, đáng buồn thay!
62. Trái nghịch cội gốc, tôn sùng
đạo Thích
Người
ta thấy có kẻ từ đạo Nho theo đạo
Thích, cực lực khen ngợi Phật, bảo Khổng
Tử không bằng Phật; do vậy bèn dị nghị
kẻ ấy trái nghịch cội gốc. Đấy là nói
ngoa. Bậc tiên đức nói: “Khổng
Tử là thánh nhân trong loài người, c̣n Phật là thánh
nhân của các thánh nhân”. Đấy chính là lời
luận định công bằng xét tới tột cùng
lẽ trời, t́nh người, chẳng thể gọi là
trái nghịch. Nay có lời hỏi rằng: “Cha ông với
Nghiêu - Thuấn ai là người hiền?” Ắt ông sẽ
nói: “Cha tôi làm sao dám sánh với bậc đại thánh?”
Như vậy là ông đă trái nghịch cội gốc hay
sao? Ắt cứ phải dối trời lừa
người để nói “cha tôi hiền như Nghiêu, Thuấn”
th́ mới là chẳng trái nghịch cội gốc ư?
Hơn nữa, Khổng Tử không phải là chẳng
biết tới Phật, nhưng Nho giáo luận về pháp
thế gian, chỉ dừng ở những điều nào
hợp với pháp thế gian. Nếu nói vượt quá
sẽ trở thành pháp xuất thế gian. Hai pháp thế
gian và xuất thế gian duy tŕ lẫn nhau nhưng môn
đ́nh khác biệt. Nếu không như vậy, tăng
lữ học Thiền, sao chẳng dựa theo sách
Đại Học, Luận Ngữ? Thí sinh đi thi, sao không
dùng tới Pháp Hoa, Lăng Nghiêm? Huống chi Khổng Tử
tuy không tin Phật, nhưng đă thốt ra những
lời nói có ngụ ư như: “Triêu
văn đạo, tịch tử khả hỹ!” (Sáng
nghe đạo, tối chết cũng được).
Đấy là đạo nào vậy? “Tây phương hữu thánh nhân” (Phương Tây
có thánh nhân), đấy là vị thánh nào vậy? Ư tôn sùng
Phật thật rơ ràng. Nay nói người đạo Thích
sâu xa hơn đạo Nho là nhằm làm sáng tỏ rạng
ngời ư sâu nhiệm của Khổng Tử, đấy
gọi là báo ân, sao lại gọi là “trái nghịch cội
gốc”?
63. Danh xưng của tăng sĩ
Người
đời thường dùng chữ “trưởng lăo” để gọi Tăng,
nếu gọi dễ dăi th́ gọi là “ḥa thượng”. Đấy là sai ngoa. Vị tri
thức thời cổ chủ trương đạo tràng
một phương, nêu gương cho tăng chúng là
Trưởng Lăo, cũng gọi là Đường
Đầu Đại Ḥa Thượng. Đệ tử
cũng gọi thầy là Ḥa Thượng. Danh xưng
ấy dễ đảm đương ư? Người
đời vốn chỉ biết tới danh xưng, không
hiểu nghĩa. Nay tăng chúng cũng coi nhẹ danh
xưng trưởng lăo, ḥa thượng. Do vậy bèn có
kẻ xưng hô là lăo gia! “Lăo gia” là danh hiệu của quan
phủ, tăng sĩ chớ nên dùng. Phàm các bậc A La Hán
như Xá Lợi, Mục Liên, Không Sanh (Tu Bồ Đề),
Ca Diếp đều là đệ tử thượng
thủ của đức Như Lai nên mới
được xưng là Trưởng Lăo. Nhưng Thích Ca,
Di Đà là những vị Thế Tôn trọn đủ
Thập Lực, được muôn đời xưng là
Bổn Sư Ḥa Thượng, Tăng nhận lănh cái danh
ấy [lẽ ra phải cảm thấy] hổ thẹn
không chốn dung thân, nhưng lại ngược ngạo coi
rẻ, cũng lạ lắm thay!
64. Đầu Đà
Đă có
kẻ chẳng xuống tóc, lại chẳng đội măo
cài trâm[41],
cạo sạch đôi lông mày, xưng là Đầu Đà.
Đấy là sai. Đầu Đà (Dhuta) là tiếng
Phạn, tiếng Hán dịch là Đẩu Tẩu (phấn
chấn tinh thần), có đủ mười hai khổ
hạnh, thoát trừ trần cấu, thanh tịnh vô
nhiễm. Thời cổ gọi [Đầu Đà] là
Đẩu Tẩu. Đức Phật dạy: “Có
hạnh Đầu Đà th́ pháp ta được tồn
tại lâu dài. Không có hạnh Đầu Đà th́ pháp ta
bị diệt!” Đầu Đà có quan hệ
đến sự thịnh suy của Phật pháp, há
để kẻ làm ra vẻ khác người lạm
xưng ư? Nếu như đang ở trong tử quan
(bế quan cho đến khi chết), để tóc dài không
cạo như đại sư Cao Phong ở Thiên Mục th́
thật sự là bậc Đầu Đà.
65. Ba y
Có kẻ
cho rằng: Trong ba y, y năm điều là y của Sa Di, y
bảy điều là y của tỳ-kheo, y hai mươi
lăm điều là y của Bồ Tát. Đấy là sai.
Phàm lúc c̣n là Sa Di liền nhận lănh đủ ba y,
chẳng thể thiếu một loại nào. Đây chính là
lời nói của tăng nhân chẳng thông hiểu văn
nghĩa. V́ thế chẳng có ǵ là lạ! Nhưng kẻ
chỉ nghe giáo pháp mà không thông hiểu bèn chỉ nhận
lănh y bảy điều, c̣n y năm điều và y hai
mươi lăm điều suốt đời không
nhận lănh! Tướng trạng Phật pháp suy tàn đă
thấy rồi đấy!
66. Cạo đầu không cạo râu
Có kẻ
cạo đầu chẳng cạo râu, viện cớ
“cạo tóc nhằm trừ phiền năo, để râu
nhằm biểu hiện chí trượng phu”. Đấy là
sai! Nếu bảo tóc là phiền năo th́ râu c̣n là phiền năo
nặng hơn. Biểu lộ chí trượng phu th́
bậc có tư cách đại trượng phu giống
như Mạnh Tử đă nói chính là người tận
tụy thực hiện nhân nghĩa, giữ vững khí
tiết trong lúc cùng quẫn cũng như khi hiển
đạt suốt một đời mà thôi! [Để râu
nhằm] phô bày dáng mạo xinh đẹp giống như
đàn bà, con gái [làm điệu]! Bậc tâm hùng hơn muôn
người cần ǵ phải lấy râu để biểu
thị? Làm như vậy trái nghịch điều
đức Phật đă rành rành ngăn cấm, phô bày
vẻ lạ nhằm mê hoặc mọi người,
đáng bị tẫn xuất, quở trách, đừng cho
xen lẫn vào trong cửa Phật mới đúng!
Chánh
Ngoa Tập hết
(Hoàn tất cảo bản ngày 19 tháng
Giêng năm 2009
Giám định và tu chỉnh hoàn tất
ngày 23 tháng Chín năm 2009)
[1] Đây là nói về chuyện trong kinh
(chẳng hạn kinh Địa Tạng), quốc
vương do phát tâm tu bổ tượng, tháp bị hư
mà được quả báo Chuyển Luân Vương. Các
kinh luận đều nói rộng răi Luân Vương do tôn
kính Tam Bảo, giữ Thập Thiện nên được
phước báo thù thắng nhất trong nhân gian.
Phước thù thắng ấy không phải do ngẫu nhiên
mà có nên Tổ mới viết “chẳng phải là lời
nói xuông”.
[2] Tăng-già-lê (Samghāti),
c̣n gọi là Đại Y, Trọng Y, Tạp Toái Y, Cao
Thắng Y, tối thiểu là chín điều, nhiều
nhất là hai mươi lăm điều (Điều là
từng miếng vải cắt rời, khâu chằm
lại). Phổ biến nhất là loại Tăng-già-lê hai
mươi lăm điều, nên hễ nói tới
Tăng-già-lê th́ người ta chỉ nghĩ đến y
hai mươi lăm điều. Tăng sĩ
thường đắp y Tăng-già-lê đắp khi vào
thành khất thực, hoặc vâng chiếu vào cung vua,
hoặc khi làm những pháp sự quan trọng.
[3] Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (602-675),
là tổ thứ năm của Thiền Tông Trung Hoa. Sư là
người ở xứ Hoàng Mai, huyện Tầm
Dương (nay là huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây). Có
thuyết nói Sư là người Kỳ Châu (nay là huyện
Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Năm lên bảy tuổi,
Sư theo xuất gia với Tứ Tổ Đạo Tín
tại chùa Đông Sơn núi Hoàng Mai Song Phong thuộc Kỳ
Châu, nghiên cứu tột cùng ư chỉ Đốn và Tiệm,
được truyền tâm ấn. Khi ngài Đạo Tín
nhập diệt vào năm Vĩnh Huy thứ hai (651)
đời Đường, Sư bèn kế thừa y bát,
được cơi đời xưng tụng là Hoàng Mai
Ngũ Tổ. Năm Hàm Thuần thứ hai (671), Tổ
truyền y bát cho ngài Huệ Năng. Theo thiền phổ,
từ Sơ Tổ cho đến Ngũ Tổ, kinh
điển căn bản để truyền thừa Tâm
Tông là kinh Lăng Già, từ Lục Tổ Huệ Năng
trở đi mới dùng kinh Kim Cang làm kinh điển
căn bản của Thiền Tông. Sau khi Ngũ Tổ
mất, Đường Đại Tông truy tặng thụy
hiệu Đại Măn Thiền Sư. Hiện thời c̣n lưu
truyền cuốn Tối Thượng Thừa Luận
được coi là trước tác của Ngũ Tổ,
nhưng nhiều học giả nghi ngờ đây là tác
phẩm của người khác mạo danh Tổ.
[4] Lục kinh: Sáu kinh chánh yếu của
Nho giáo, tức Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu, Nhạc.
Chư tử chỉ các triết gia thời Tiên Tần
(thời kỳ trước khi Tần Thủy Hoàng gồm
thâu lục quốc, thống nhất Trung Nguyên), tức Lăo
Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử,
Tuân Tử, Quản Tử, Cáo Tử v.v…
[5] Bát bộ quỷ thần, c̣n gọi là Thiên Long Bát Bộ, Long Thần Bát Bộ, hoặc chỉ gọi gọn là Bát Bộ, là từ ngữ chỉ chung các vị thần hộ pháp, gồm tám loại lớn: Thiên (Deva), Long (Nāga: rồng), Dạ Xoa (Yaksa), Càn Thát Bà (Gandharva: Hương thần hoặc Nhạc Thần), A Tu La (Asura), Khẩn Na La (Kimnara: Ca Thần), Ca Lâu La (Garuda: Kim Xí Điểu), và Ma Hầu La Già (Mahoraga: Đại Măng Thần). “Bát bộ quỷ thần” c̣n được hiểu theo một nghĩa ít phổ biến hơn là tám bộ chúng quỷ thần thuộc quyền cai quản của Tứ Thiên Vương tức Càn Thát Bà, Tỳ Xá Xà, Cưu Bàn Trà, Bệ Lệ Đa, Long (rồng), Phú Đan Na, Dạ Xoa, La Sát.
[6] Lại (吏): tiếng
chỉ chung các quan chức thừa hành công việc, ta
thường gộp chung là Quan Lại.
[7] Nguyên văn “Dịch” (弈), c̣n gọi là Vi Kỳ (圍 棋; do vậy ta thường gọi là cờ vây), là một h́nh thức cờ phổ biến nhất ở Trung Hoa. Hễ nói đến “cầm kỳ thi họa” th́ chữ Kỳ chỉ cho Vi Kỳ. Theo truyền thuyết, do con vua Nghiêu là Đan Châu quá tối tăm, vua Nghiêu bèn sáng chế ra cờ vây để tập luyện cho con trí phán đoán. Cờ vây phức tạp hơn Cờ Tướng (Tượng Kỳ) rất nhiều, gồm 181 con cờ đen và 180 con cờ trắng. Con cờ làm h́nh tṛn bằng mặt, khắc chữ nổi lên. Bàn cờ được chia thành 19 vạch ngang và 19 vạch dọc, con cờ luôn phải đặt ở những chỗ các vạch giao nhau. Có những vị trí quy định không được đặt con cờ. Quy tắc chơi cờ Vây rất phức tạp.
[8] Ngài
Đơn Hà Thiên Nhiên (739-824) là một thiền sư
nổi tiếng đời Đường, đệ
tử của ngài Thạch Đầu Hy Thiên. Sư vốn
học Nho, sau gặp Thiền tăng, ngộ đạo,
bèn xin xuất gia với Thạch Đầu. Ngài từng
sang Giang Tây tham yết Mă Tổ Đạo Nhất,
được đặt pháp hiệu là Thiên Nhiên. Sư
cũng từng tham yết Quốc Nhất thiền sư
ở Kính Sơn. Về sau, Sư xiển dương Tông
phong lớn lao tại núi Đơn Hà thuộc huyện Nam
Dương. Khi mất, được triều đ́nh
sắc phong thụy hiệu Trí Thông Thiền Sư, mộ
tháp được đặt tên là Diệu Giác. Sư
rất nổi tiếng với công án “Đơn Hà thiêu
mộc Phật”. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên
quyển 5 th́: “Về sau, Sư
ở tại chùa Huệ Lâm, ngẫu nhiên gặp tiết
trời cực kỳ rét buốt, bèn đem tượng
Phật bằng gỗ ra đốt. Viện chủ
quở trách: ‘Sao lại thiêu vị Phật gỗ của
tôi?’ Sư bèn dùng gậy khêu tro bảo: ‘Tôi thiêu
tượng để t́m xá-lợi” Viện chủ
bảo: ‘Tượng gỗ làm sao có xá-lợi
được?’ Sư nói: ‘Đă không có xá-lợi, th́ thiêu
luôn cả hai bức”.
[9] Thạch Đầu Hy Thiên (700-790) là
một vị cao tăng Thiền Tông đời
Đường, c̣n được gọi là Vô Tế
đại sư. Ngài là người huyện Cao Yếu,
Đoan Châu (nay là huyện Cao Yếu tỉnh Quảng
Đông), tính cực thông minh, mẫn tiệp. Do thấy dân
làng thường giết trâu, nấu rượu để
tế thần gây nên nhiều tệ đoan, Sư liền
phá hủy đền thần, cướp trâu tế,
bỏ đi. Ngài từng lễ các vị Lục Tổ
Huệ Năng, Thanh Nguyên Hành Tư làm thầy,
được ngài Thanh Nguyên Hành Tư ấn khả. Trong
niên hiệu Thiên Bảo (742-755), Sư kết thảo am
tọa thiền trên gộp đá phía Đông của Hành
Sơn Nam Tự, xiển dương tông phong mạnh
mẽ, do vậy cơi đời gọi là Thạch
Đầu ḥa thượng. Khi ấy, người
đời luận rằng: Ở Giang Tây, Mă Tổ là
bậc nhất, c̣n ở Hồ Nam, ngài Thạch Đầu
bậc nhất. Sư c̣n để lại tác phẩm Tham
Đồng Khế và Thảo Am Ca, cả hai đều
được lưu truyền rộng răi trong Thiền môn
Trung Hoa.
[10] Thập Vương tức Thập Điện Diêm Vương là tín ngưỡng theo Phật môn Trung Hoa (khởi đầu từ thời Ngũ Đại), cho rằng trong Âm Phủ có mười vị vua Diêm La cai quản phán xử tội nhân. Sau khi tội nhân chết đi, tuần thứ nhất bị định tội nơi Tần Quảng Vương, tuần thứ hai tại Sơ Giang Vương, tuần thứ ba đến chỗ Tống Đế Vương, tuần thứ tư đến chỗ Ngũ Quan Vương, tuần thứ năm đến chỗ Diêm La Vương, tuần thứ sáu đến chỗ Biến Thành Vương, tuần thứ bảy đến chỗ Thái Sơn Vương, một trăm ngày đến chỗ B́nh Đẳng Vương, tṛn một năm đến chỗ Đô Thị Vương, tṛn ba năm đến chỗ Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương.
[11] Câu này vốn phát xuất từ thiên Dương Vương Tôn Truyện trong Hán Thư: “Dương Vương Tôn cập bệnh thả chung, tiên lệnh kỳ tử: ‘Ngô dục lơa táng, dĩ phản ngô chân, tất vong dịch ngô ư. Tử tắc vi bố nang thịnh thi, nhập địa thất xích” (Dương Vương Tôn bị bệnh sắp chết, bèn bảo trước với con: ‘Ta muốn được chôn trần truồng để trở về cái chân thật của ta, đừng sửa đổi ư ta. Hễ chết rồi chỉ dùng bao vải bọc xác, chôn dưới đất bảy thước’).
[12] Chỉ những kẻ tu tiên cầu
trường sanh bất tử. Có những phái trong
Đạo gia không dám nhổ nước miếng hay ho
khạc, sợ hao tổn nguyên khí.
[13] Giáp Tích: Theo từ điển Bách Độ, tính từ đốt thứ nhất của xương sống ở dưới ót đến đốt thứ năm nơi lưng, từ mỗi chỗ đốt xương sống gồ lên, đo ra hai bên xuống phía dưới chừng 0,5 tấc Tàu là huyệt Giáp Tích. Do vậy, có tất cả 34 huyệt Giáp Tích như thế.
[14] Vĩ Lư là huyệt nằm ở khoảng giữa xương cùng và hậu môn, được coi là huyệt giao tiếp giữa hai mạch Nhâm và Đốc.
Nê Hoàn là một huyệt được Đạo
Giáo coi là tối trọng yếu, họ chia đầu
người thành chín cung, từ giữa hai mày tính vào ba
tấc chính là Nê Hoàn Cung, hoặc Thiên Năo, Hoàng Đ́nh
(thường đọc trại thành Huỳnh Đ́nh), Côn
Luân, Thiên Cốc v.v… tới hơn chín mươi danh
xưng khác nhau. Họ tin rằng có các vị tôn thần
sống trong chín cung ấy. Kinh Huỳnh Đ́nh (Hoàng Đ́nh)
của Đạo gia cho rằng trong Nê Hoàn Cung có một
vị chân thần tên là Thượng Nguyên Chân Quân (tức
Thái Ất Đế Quân) cư ngụ. Đạo gia
tận dụng mọi cách diễn giải xuyên tạc kinh
Phật để chứng minh pháp luyện đan.
[15] Cao Vương Quán Thế Âm Kinh c̣n có tên
là Cao Vương Bạch Y Quán Âm Kinh, thường gọi
tắt là Cao Vương Kinh. Tương truyền, trong niên
hiệu Thiên B́nh (534-537) đời Đông Ngụy, ở
Định Châu, Tôn Kính Đức quyên mộ tạo
tượng Quán Âm, tự ḿnh lễ kính, sau bị giặc
bắt dẫn đi, đánh đập khổ sở, ép
họ Tôn phải nhận tội. Đêm hôm trước
ngày bị đưa ra pháp trường chặt
đầu, họ Tôn mộng thấy một vị sa-môn
dạy tụng Cứu Sanh Quán Thế Âm Kinh một ngàn
biến sẽ được thoát nạn. Sáng hôm, bị
quan coi ngục trói lại dẫn ra chợ, Tôn Kính
Đức vừa đi vừa tụng, đến khi
bị lôi ra chém đă tụng đủ ngàn biến. Đao
chém xuống liền mẻ, da thịt không bị
thương tích ǵ. Ba lượt thay đao vẫn như
vậy, thấy rành rành trên cổ c̣n ba vết đao. Quan
giám trảm tâu lên. Thừa tướng Cao Hoan xin vua tha
tội chết cho họ Tôn, sắc truyền biên chép kinh
này lưu truyền rộng răi, do đó gọi là Cao
Vương Quán Thế Âm Kinh. Có truyền thuyết lại
nói có một vị quốc vương tên là Cao Hoan làm chúa
quận Tương Châu. Do những truyền thuyết mâu
thuẫn lẫn nhau, kinh văn lộn xộn, gán ghép,
lại nói là được truyền trong mộng nên
bị cổ đức coi là kinh ngụy tạo.
[16] Thất Thất: Lễ cầu siêu trong ṿng bốn mươi chín ngày, cứ mỗi bảy ngày lại làm trai, thỉnh Tăng cầu siêu, ta thường gọi là Cúng Thất.
Tiểu Tường và Đại Tường là hai
lễ trong tang sự theo cổ lễ. Theo thiên Gián
Truyện sách Lễ Kư, sau khi người chết mất
được một trăm ngày bèn làm lễ Tốt
Khốc (thôi khóc) cúng bái vong linh, con cháu chỉ
được ăn cơm đạm bạc, gạo
xấu, uống nước lạnh, tuyệt đối
không được uống rượu. Khi người
chết được một năm th́ làm giỗ
đầu gọi là Tiểu Tường. Khi người
chết đă mất ba năm th́ làm lễ Xả Tang,
gọi là Đại Tường. Trong lễ Đại
Tường, con cháu sẽ làm cỗ cáo tế với
tổ tiên, xin đem thần chủ (bài vị người
chết) thờ chung trong miếu thờ của ḍng họ
(tức từ đường, hoặc tông miếu),
dẹp bỏ linh sàng và bàn thờ riêng của người
chết để thờ chung với bàn thờ tổ tiên
tại tư gia.
[17] Bạch Hạ là một khu vực
thuộc Nam Kinh.
[18] Tâm Địa Quán Kinh có tên gọi đầy đủ là Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh, c̣n gọi tắt là Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh, do ngài Bát Nhă dịch vào đời Đường. Trong kinh ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong núi Kỳ Xà Quật v́ các vị Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi, Di Lặc v.v… giảng thuyết: Người xuất gia, trụ trong A Lan Nhă, hăy nên quán tâm địa, diệt vọng tưởng, tu các hạnh như thế nào để thành Phật đạo. Kinh gồm tất cả 13 phẩm, được chia thành tám quyển. Theo lời tựa, kinh này được quốc vương nước Sư Tử dâng lên Đường Cao Tông trong niên hiệu Nguyên Ḥa. Kinh được các vị tăng nhân như Bát Nhă gồm tám người hợp sức dịch, dịch xong lại được bốn vị quan như Gián Nghị Đại Phu Mạnh Lan v.v… nhuận văn. C̣n kinh Báo Ân chính là kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân.
[19] Nguyên văn “luyện
ma trường”, vốn là chữ để gọi các
đạo tràng tu tập Thiền Quán.
[20] Vạn Tùng Hành Tú (1166-1246) là một
vị cao Tăng thuộc tông Tào Động, sống vào
thời Nam Tống. Sư là người Hà Nội (nay là
huyện Thấm Dương, tỉnh Hà Nam), tự là Báo Ân.
Xuất gia từ nhỏ với ngài Uẩn Doăn chùa Tịnh
Độ ở H́nh Châu (nay là H́nh Đài, tỉnh Hà
Bắc). Sau khi thọ Cụ Túc Giới, Sư đến
chùa Khánh Thọ, tham yết ngài Thắng Mặc ngộ
được đôi chút, rồi lại qua tham yết ngài
Nham Măn chùa Đại Minh ở Từ Châu, chưa
đầy một tháng đă triệt ngộ, bèn lưu
lại hầu hạ suốt hai năm, hết sức khiêm
tốn. Sau đấy, Sư quay về H́nh Châu, dựng
Vạn Tùng Hiên để ở, ngầm dưỡng chí tu
tập, được cơi đời gọi là Vạn Tùng
Lăo Nhân, hoặc Báo Ân Lăo Nhân. Năm Minh Xương thứ
tư (1193) đời Kim Chương Tông, Sư
được vua ban ghế bọc gấm và đại
tăng y, rồi xuống chiếu phong Sư làm Trụ Tŕ
chùa Thê Ẩn ở Ngưỡng Sơn (tỉnh Sơn Tây),
rồi lần lượt trụ tŕ các chùa nổi
tiếng như Vạn Thọ ở Trung Đô, chùa Báo Ân
ở Yên Kinh (Bắc Kinh). Được một thời
gian ngắn, Sư xin về hưu để ẩn tu
nơi Thung Dung Am. Nhận lời thỉnh của tể
tướng Gia Luật Sở Tài, Sư viết lời
tụng để b́nh luận một trăm đoạn
công án của Hoằng Trí Chánh Giác, soạn bộ Thung Dung
Lục, xiển dương, truyền thừa tông phong Tào
Động. Sư lại viết Thỉnh Ích Lục. Hai
bộ sách này măi cho tới hiện thời vẫn
được Thiền môn Trung Hoa đánh giá cao, giảng
diễn và nghiên cứu rất nhiều. Sư c̣n soạn
các tác phẩm giá trị khác như Tổ Đăng
Lục, Thích Thị Tân Văn, Minh Đạo Tập,
Tứ Hội Ngữ Lục v.v…
[21] Núi bảy báu chính là núi Tu Di, c̣n biển
nước thơm chính là các hương thủy hải bao
quanh thế giới như đă được miêu tả
trong phẩm 2 kinh Hoa Nghiêm. Ư nói: Dù có vượt đến
tận ngoài ŕa của đại thiên thế giới
cũng không tránh được kiếp nạn.
[22] Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Saddharma-pundarīka Sūtra), hiện c̣n giữ được ba bản dịch:
1. Bản dịch cổ nhất mang tựa đề Chánh Pháp Hoa Kinh gồm 10 quyển, 27 phẩm, được dịch vào năm Thái Khang thứ bảy (286) nhà Tây Tấn dưới sự chủ tŕ của ngài Trúc Pháp Hộ. Bản này do ngài Nhiếp Thừa Viễn truyền dịch từ Phạn sang Hán, các vị Trương Sĩ Minh, Trương Trọng Chánh làm Bút Thọ, Trúc Lực, Bạch Nguyên Tín làm người giảo duyệt, Trúc Pháp Hộ làm Tổng Toản Tu.
2. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh gồm 7 quyển, 28 phẩm, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ tám (406) đời Diêu Tần.
3. Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh tám quyển do ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa dịch tại chùa Đại Hưng Thiện ở Trường An vào năm Nhân Thọ nguyên niên (601) nhà Tùy.
Trong ba bản dịch này, bản Chánh Pháp Hoa được coi là đầy đủ nhất, nhưng văn tự rườm rà, nhiều chỗ không lưu loát, tối nghĩa, bản Diệu Pháp Liên Hoa của ngài Cưu Ma La Thập hay nhất, gọn nhất, văn từ mỹ lệ, âm điệu du dương, tuy gọn nhất, nhưng vẫn chứa đựng đầy đủ những điểm trọng yếu của Phạn bản nên được lưu truyền rất rộng. Phần lớn các bản chú giải kinh Pháp Hoa đều dựa trên bản dịch của ngài La Thập. Ngay cả các bản dịch kinh Pháp Hoa sang ngôn ngữ Tây Phương nếu dựa theo Hán Tạng, đa phần lấy bản của ngài La Thập làm chuẩn. Do bản của ngài La Thập chỉ có bảy quyển, so với bản Chánh Pháp Hoa gồm mười quyển nên mới có tà thuyết “ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa bị ẩn kín không được lưu truyền”.
[23] Tử Dương Chân Nhân là đạo
hiệu của Trương Bá Đoan, tự B́nh Thục,
sau đổi tên thành Dụng Thành, vốn là một đạo
sĩ ở núi Thiên Thai, c̣n được xưng là Ngộ
Chân tiên sinh. Ông ta học tràn lan kinh sách của Tam Giáo,
đặc biệt ưa thích các môn h́nh pháp, tính toán, bói toán,
bài binh bố trận, thiên văn, địa lư. Do không
đỗ đạt bèn càng ưa thích tu tiên. Tương
truyền trong niên hiệu Trị B́nh, được
Lục Sân truyền cho cách tu Đạo Dẫn bèn tu
tập, sau lại học được phép Kim Đan,
luyện tập đắc đạo, bèn soạn sách
Ngộ Chân Thiên, trở thành một bậc tông sư trong
Đạo gia.
[24] Khi c̣n làm Thái Tử Tất Đạt
Đa, trong cuộc thi vơ nghệ giữa các anh em trong hoàng
tộc, đức Phật đă giương cung bắn
thủng chín tầng trống sắt chồng lên nhau.
“Dạo chơi bốn cửa thành” là khi Thái Tử Tất
Đạt Đa ra ngoài chơi, lần lượt từ
nơi bốn cửa thành trông thấy cảnh tượng
sanh, già, bệnh, chết liền sanh ḷng chán ĺa cơi
đời vô thường, khởi tâm xuất gia.
[25] Đạo Dẫn là một phương cách luyện tập thân thể đă có từ thời cổ, được giới Đạo sĩ cải biến và đưa thêm vào nhiều cách diễn giải huyền hoặc. Đạo Dẫn (導 引, đôi khi c̣n viết thành 道 引) có nghĩa là hướng dẫn Khí cho được điều hoà, khiến cho thân thể được mềm mại, mạnh khỏe, bao gồm các động tác hít thở, tưởng tượng khí luân lưu theo những kinh mạch (gọi là “thổ nạp”, hoặc “vận khí theo Tiểu Châu Thiên, Đại Châu Thiên” v.v…), các động tác vận động phối hợp với cách hít thở (ngoại công), ém hơi thở (phục khí), nuốt nước miếng, dùng lưỡi gơ vào răng, xoa bóp (án ma) v.v…
[26] Tự Tứ (Pravāranā), dịch âm là Bát Lợi Bà
Lạt Noa, hoặc Bát Ḥa La, c̣n được dịch ư là
Măn Túc, Hỷ Duyệt, Tùy Ư Sự. Những từ ngữ
này đều nhằm diễn tả ư hoan hỷ nghe
người khác nêu lên những sai lầm do chính ta đă
phạm trong thời gian an cư. Trong ngày hoàn tất an
cư mùa Hạ, đại chúng nêu lên những lỗi
lầm của người khác do chính ḿnh đă thấy nghe
trong suốt ba tháng an cư với mục đích nhắc
nhở nhau chú trọng sửa đổi, thúc liễm thân
tâm, giữ vững giới hạnh. Người
được phê b́nh hoan hỷ tiếp nhận lời
cử tội, phát tâm tri ân sâu xa người đă giúp ḿnh
nhận thức những lỗi lầm chính ḿnh đă
phạm mà chính ḿnh không hay, không biết.
[27] Thí thực cho ngạ quỷ phát
xuất từ ḷng Bi nên gọi là Bi Điền, dâng cúng cho
hiền thánh nhằm tỏ ḷng kính trọng nên gọi là
Kính Điền.
[28] Tức La Thanh, sáng tổ của tà phái
La Giáo, vốn là một chi nhánh của tà đạo
Bạch Liên Giáo.
[29] Trong Đại Tạng Kinh, Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajñāpāramitā-hrdaya-sūtra) ngoài bản dịch của ngài Huyền Trang ra, c̣n có sáu bản dịch khác như sau:
1. Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh (do ngài Cưu Ma La Thập dịch).
2. Bát Nhă Ba La Mật Na Đề Kinh (do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch).
3. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do hai vị Bát Nhă và Lợi Ngôn cùng dịch).
4. Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Pháp Nguyệt dịch).
5. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Trí Huệ Luân dịch).
6. Thánh Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh (do ngài Thi Hộ dịch).
[30] Tác phẩm này có tên gọi đầy
đủ là Đại Đường Tây Vực Kư, do ngài
Huyền Trang ghi chép về ngôn ngữ, địa h́nh,
sản vật, phong cảnh, địa danh, tập quán, dân
t́nh v.v… của hơn một trăm mười
nước tại Tây Trúc mà Ngài đă đi qua trong suốt
mười sáu năm tham học. Theo truyền thuyết, do
vua Đường Thái Tông thường ngự giá
đến hỏi chuyện này chuyện nọ về Tây
Vực thay v́ thật sự vấn pháp khiến Sư
phải mất công thù tiếp rất nhiều, không
đủ thời gian để dịch kinh nên Sư bèn
biên soạn bộ sách này dâng lên để vua bớt
hỏi han chuyện thế gian.
[31] Hầu Cảnh (?-552), tự là Vạn Cảnh, người huyện Sóc Phương (có thuyết nói hắn là người xứ Nhạn Môn) vốn thuộc rợ Yết, là đầu mục của quân khởi nghĩa Cát Vinh trong lănh thổ Đông Ngụy dưới trướng Cát Vinh, tánh t́nh quỷ quyệt, tàn nhẫn. Khi gă quân phiệt Nhĩ Châu Vinh nắm binh quyền Đông Ngụy, Hầu Cảnh bèn đem lâu la quy phục, được phong làm Tiên Phong. Khi Nhĩ Châu Vinh và Cát Vinh giao tranh, Hầu Cảnh lập công bắt sống được Cát Vinh. Do vậy được phong làm Thứ Sử Định Châu. Khi ấy, Thừa Tướng Cao Hoan lập mưu giết được Nhĩ Châu Vinh, Hầu Cảnh bèn về hàng Cao Hoan, được Cao Hoan trọng dụng, phong làm Tư Đồ, kiêm Thứ Sử Định Châu nắm đến mười vạn binh, thống trị cả một giải Hà Nam. Khi Cao Hoan mất, Hầu Cảnh lập tức làm loạn, liên kết với kẻ thù của Đông Ngụy là Vũ Văn Thái. Nhưng Vũ Văn Thái không tin tưởng Cao Hoan. Không chống cự nổi với quân của Cao Trừng (con Cao Hoan), Hầu Cảnh bèn dẫn quân chạy sang đầu hàng Lương Vũ Đế vào năm Thái Thanh nguyên niên (547). Khi Cao Trừng nhà Đông Ngụy sai Mộ Dung Thiệu Tông vây đánh Hầu Cảnh, nhà Lương sai Tiêu Uyên Minh đem quân bảo vệ Hầu Cảnh, nhưng đại bại, Uyên Minh bị Thiệu Tông bắt sống. Lương triều chỉ mong ḥa giải để cứu Uyên Minh về. Hầu Cảnh bèn thừa dịp Vũ Đế thiếu pḥng bị, tấn công kinh đô Kiến Khang (Nam Kinh), bắt giam Lương Vũ Đế tại Đài Thành, tự xưng là Đại Đô Đốc, thao túng triều đ́nh, làm nhiều chuyện bạc ác. Cuối cùng Hầu Cảnh bị Trần Bá Tiên và Vương Tăng Biện đánh bại, bị bộ hạ giết chết trên đường đào vong.
[32] Lă Động Tân (c̣n đọc là Lữ Động Tân) tên thật là Lă Nham, là một vị đạo sĩ nổi tiếng sống vào cuối đời Đường, đầu thời Ngũ Đại, được xếp vào Bát Tiên, hiệu là Thuần Dương Tử, tên tự là Động Tân. Tương truyền, ông Lă sanh vào cuối đời Đường, từng đi thi nhiều lần, nhưng không đậu. Trong quán trọ, ông Lă gặp được ẩn sĩ Chung Ly Quyền điểm hóa bằng cách cho một cái gối, bảo kê đầu nằm ngủ. Lă Nham nằm ngủ, mơ thấy ḿnh đậu Trạng Nguyên, làm quan đến tột phẩm, nắm quyền Tể Tướng, rồi về sau bị gian thần gièm pha, bị lôi ra pháp trường chém đầu. Lă Nham sợ quá tỉnh dậy th́ ra chủ quán đang nấu nồi cháo kê vàng vẫn chưa chín. Bao nhiêu chuyện xảy ra trong năm mươi năm, chỉ là một giấc mộng trong mấy phút (do truyền thuyết này nên có điển tích văn học “hoàng lương mộng”). Ông Lă tỉnh ngộ, theo Chung Ly Quyền tu tiên. Lă Đồng Tân đề xướng nhiều biện pháp tu Nội Đan quan trọng nên rất được Đạo gia đề cao. Đến đời Nguyên, năm 1269, Nguyên Thế Tổ sắc phong cho Lă Đồng Tân đạo hiệu Thuần Dương Diễn Chánh Cảnh Hóa Chân Quân, rồi Thuần Dương Diễn Chánh Phù Hựu Đế Quân. Do Vương Triết (tức Vương Trùng Dương), sáng tổ Toàn Chân Giáo, tự xưng ông ta đă được chính Lă Động Tân đích thân truyền đạo, nên tất cả môn nhân Toàn Chân Giáo đều xưng tụng họ Lă là Tổ Sư khai đạo. V́ vậy, Lă Động Tân thường được gọi bằng danh xưng Lă Tổ hay Thuần Dương Tổ Sư.
[33] Hoàng Long Huệ Nam (1002-1069) vốn là một vị cao tăng thuộc tông Lâm Tế sống vào đời Tống, là khai tổ của phái Hoàng Long tông Lâm Tế. Sư là người huyện Ngọc Sơn, Tín Châu (nay là Thượng Nhiêu tỉnh Giang Tây), thuở nhỏ học Nho, làu thông kinh sử. Năm mười một tuổi, Sư xin xuống tóc với ngài Trí Loan chùa Định Thủy, mười chín tuổi thọ Cụ Túc Giới, tham học các vị Thê Hiền Trừng Thị, Vân Phong Văn Duyệt, Thạch Sương Sở Viên v.v… đều được các vị ấy rất coi trọng. Về sau, Sư mở giảng ṭa tại Đồng An Viện, tứ chúng nhóm về. Không lâu sau, Sư dời sang chùa Quy Tông. Do chùa bị hỏa hoạn, điện đường cháy sạch, kẻ ghen ghét liền thừa dịp gièm xiểm, vu oan, khiến Sư bị hạ ngục. Dẫu bị trăm điều xỉ vả, bôi nhọ, Sư vẫn an nhiên như thường. Về sau, Sư được phóng thích, bèn ẩn cư tại Hoàng Bá, dựng Tích Thúy Am trên ngọn suối, bốn phương lại lũ lượt kéo về. Sư nhận lời cầu thỉnh về trụ tại Sùng Ân Viện núi Hoàng Long, chấn hưng tông phong mạnh mẽ, lừng danh khắp Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Mân Việt. Do vậy, mới tạo thành Hoàng Long Phái của tông Lâm Tế. Sơ Tổ Vinh Tây (Eisai) của tông Lâm Tế Nhật Bản cũng học Thiền từ phái Hoàng Long. Ngài c̣n để lại những tác phẩm Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư Ngữ Lục, Ngữ Yếu, Thư Xích Tập v.v… Học tṛ Ngài như Hối Đường Tổ Tâm, Bảo Phong Khắc Văn, Lặc Đàm Hồng Anh v.v… đều là những bậc long tượng trong nhà Thiền.
[34] Lăo Tử tên thật là Lư Đam nên c̣n
gọi là Lăo Đam, Trọng Ni là tên tự của Khổng
Tử.
[35] Tề Đông chính là phía Đông
nước Tề (tỉnh Sơn Đông), vùng này nổi
tiếng hay nói khoác, nói bịa đặt thiếu căn
cứ nên đă có thành ngữ “Tề
Đông dă ngữ” (lời nói quê mùa ở Tề Đông).
[36] “Băo nguyên
thủ nhất” là một thuật ngữ chỉ
phương cách tu luyện của Đạo gia, chú trọng
tại luyện Thần (trong Tinh Khí Thân), trừ khử
những tạp niệm trong tâm, giữ cho tinh thần thanh
tịnh (băo nguyên), nhằm giữ cho Tinh - Khí - Thần
hợp thành một (quy nhất), chẳng hao hụt. Họ
tin tưởng rằng với cách tu luyện này sẽ
được trường thọ. Như vậy, “băo
nguyên quy nhất” chẳng ăn nhập ǵ với câu “vạn
pháp quy nhất” của nhà Phật là lời giảng
về chân tánh của vạn pháp.
[37] Trong Luận Ngữ, Khổng Tử
đă hai lần nhắc đến từ ngữ “nhất dĩ quán chi”. Lần
thứ nhất là trong thiên Lư Nhân: “Tử viết: ‘Sâm hồ! Ngô đạo dĩ
nhất quán chi’. Tăng Tử viết: ‘Duy!’ Tử
xuất, môn nhân vấn viết: ‘Vị hà dă?’ Tăng Tử
viết: ‘Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ”
(Khổng Tử bảo: ‘Này Tăng Sâm! Đạo của
ta chỉ do một ư tưởng căn bản xuyên
suốt từ đầu đến cuối’. Tăng
Tử thưa: ‘Vâng, đúng thế’. Khổng Tử đi
ra, môn nhân hỏi: ‘Thầy nói vậy nghĩa là sao?’ Tăng
Tử giảng: “Đạo của phu tử chỉ là trung
hậu và khoan dung mà thôi!). Lần thứ hai là trong thiên
Vệ Linh Công: “Tử viết:
‘Tứ dă! Nhữ dĩ dư vị đa học, nhi
thức chi giả dư?’ Đối viết: ‘Nhiên! Phi
dư?’ Viết: ‘Phi dă! Dư dĩ nhất quán chi!” (Này
anh Tứ! (Tứ là tên tục của Tử Cống). Anh
cho rằng ta học rộng nên mới biết nhiều
đấy chăng?’ Tử Cống thưa: ‘Đúng
vậy, không phải như thế ư?’ Khổng Tử
bảo: ‘Sai rồi! Ta dùng một điều để quán
thông hết thảy’). Chúng tôi dịch những câu này theo
cách diễn giảng của Tứ Thư Bạch Thoại
Giải.
[38] Khổng Tước Minh Vương Kinh (Mahāmayūrī-vidyārājñī), có tên gọi đầy đủ là Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng Tước Minh Vương Kinh do ngài Bất Không dịch vào đời Đường. Kinh kể chuyện ngài A Nan Đà trông thấy tỳ-kheo Xoa Để (Svati) bị rắn đen cắn, mê man gần chết, bèn cầu cứu đức Phật. Đức Phật bèn dạy A Nan tụng Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương Đại Đà La Ni để trừ hết thảy khổ nạn, đồng thời dạy các Mật Pháp để trừ tai nạn, tăng phước v.v... Kinh này c̣n có hai bản dịch khác nữa, mang tên Khổng Tước Minh Vương Kinh (do ngài Tăng Già Bà La dịch vào đời Lương) và Đại Khổng Tước Chú Vương Kinh (do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường).
[39] Do thời cổ thường dùng tơ
bện làm dây đàn, lấy gỗ ngô đồng làm thân
đàn, nên tiếng đàn thường được
gọi là “tiếng tơ đồng”.
[40] Do trong quá khứ, trong Hoa ngữ cho
đến tận đầu đời Đường
chữ Vô (無) vẫn c̣n đọc với vận
mẫu M (những phương ngôn Hoa Nam như tiếng
Quảng Đông, hay tiếng Phước Kiến c̣n
giữ cách đọc này, chẳng hạn tiếng
Quảng Đông đọc chữ Vô gần giống âm
Mậu) nên chữ Vô được dùng để phiên âm
chữ Mo trong tiếng Nam Mô. Cho đến giữa
đời Đường khi vận mẫu M của
chữ được chuyển thành vận mẫu W
(tức là 無đọc thành wú), các nhà phiên kinh bèn dùng
chữ Nẵng Mô (曩 謨: âm Quan Thoại là nǎng mó) hoặc Na Ma (那 摩: âm Quan
Thoại là nǎ mó) để mô phỏng âm Namo trong
tiếng Phạn. Do quá chấp vào mặt chữ, không chú ư
tới âm tiếng Phạn nên mới có những kiểu
diễn giải kỳ lạ như vậy.
[41] Thuở ấy, đạo sĩ
để tóc dài nhưng không được xơa tóc (chỉ
trừ khi làm phép, hô thần nhập quỷ bèn xơa tóc), lúc
b́nh thường phải búi tóc lên, cài trâm để giữ
cho măo đạo sĩ khỏi tuột.