Ḥa
thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học
Hội Tân Gia Ba, bắt đầu từ ngày 28/5/1998, tổng
cộng gồm năm mươi mốt tập (buổi giảng).
Đệ
tử Nhan Thụy Thành đem những tư liệu liên
quan đến những buổi giảng này từ Trang Nhà www.amtb.org.tw,
chỉnh lư thành sách cúng dường độc giả, cùng
nhau chia sẻ pháp nhũ.
Hồi nhỏ đi chùa Giác Sanh ở Phú Thọ để
cúng thất cho ông bác, chúng tôi nhớ đă có dịp tụng
kinh Địa Tạng. Đă
tụng khá nhiều lần rồi nhưng không hiểu ǵ cả,
chỉ nhớ mang máng là trong kinh có nói về các cảnh
tượng khủng khiếp ở địa ngục, nào
là núi đao, rừng kiếm, vạc dầu. Hồi đó chẳng hiểu, cứ
tưởng những chuyện này là lời khuyến thiện,
cứ tưởng người xưa lấy cảnh địa
ngục để dọa người, nhằm khuyên người
làm lành mà thôi.
Gần đây, có dịp
nghe được băng giảng Địa Tạng Bồ
Tát Bổn Nguyện Kinh Đại Ư do bác Thanh Trí chuyển
ngữ và đọc bài Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh Thiển Thích của Ḥa Thượng Tuyên Hóa
giảng nên mới hiểu thêm đôi chút về kinh này (bài
này được ban phiên dịch chùa Vạn Phật Thánh
Thành dịch sang Việt ngữ).
Sau đó, khi đến Tịnh Tông Học Hội Los
Angeles, chúng tôi thỉnh được hai cuốn sách dày cộm
ghi lại bài giảng kinh Địa Tạng Bổn Nguyện
của Ḥa Thượng Tịnh Không, nghĩ cũng hơi
nản chí, không biết đến lúc nào mới đọc
hết được!
Tuy kinh Địa Tạng
khá phổ biến, có lẽ mức độ phổ biến
của kinh này chỉ kém kinh Di Đà và Phổ Môn. Điều
đáng buồn là những sách chú giải kinh này khá ít. Theo
chỗ thấy biết nông cạn của chúng tôi, trước
nay chỉ có mỗi một tác phẩm chú giải kinh này bằng
tiếng Việt là sách Địa Tạng Mật Nghĩa của
cụ Mai Thọ Truyền. Tuy trong Đại Tạng Kinh
có ít nhất năm tác phẩm chú giải kinh này, nhưng tiếc
là văn phong cổ kính, vắn tắt, chú trọng nhiều
vào lối khoa phán, nên nếu có dịch ra cũng không thể
giúp ích nhiều cho tŕnh độ của những liên hữu
sơ cơ như chúng tôi. Theo thiển kiến của chúng
tôi, lời giảng của Ḥa Thượng Tịnh Không rất
thân thiết, có những kiến giải rất đặc
biệt, lại kèm thêm những kinh nghiệm hữu dụng
không riêng ǵ cho hành nhân Tịnh nghiệp mà c̣n có thể áp dụng
rộng răi cho mọi người Phật tử nói riêng và
cả nhân loại nói chung. Những lời giảng của
Ḥa Thượng đă đặc biệt nhấn mạnh
đến hiếu đạo, cơ sở của Phật
đạo, chỗ lập cước căn bản của
mọi pháp môn thế gian hay xuất thế gian.
Chúng tôi có cơ duyên
may mắn gặp được pháp môn Tịnh Độ,
vận may này c̣n hơn người nghèo ‘trúng số độc
đắc’, đúng như bài Khai Kinh Kệ có nói: ‘Trăm
ngàn muôn kiếp khó gặp được’. Chúng tôi phát tâm học hỏi và muốn
chia sẻ cho nhiều người cùng biết. Do vậy, nhằm thỏa tâm nguyện
phổ biến hoằng dương Tịnh Tông, cộng
thêm một vài duyên hảo hợp khác đẩy đưa
nên dù sức học kém cỏi, chúng tôi vẫn gượng
chuyển ngữ bài giảng này sang tiếng Việt ḥng
chia sẻ pháp nhũ, pháp lạc cùng mọi người. Chắc
chắn trong quá tŕnh chuyển ngữ không thể tránh khỏi
những sai lầm không nên phạm phải, cách dùng chữ,
diễn đạt c̣n thô vụng, dài ḍng, chúng tôi vẫn tin
rằng với tấm ḷng ngu thành, không đến nỗi
diễn dịch sai lệch hoàn toàn tâm ư hoằng truyền
kinh này của Ḥa Thượng. Do đây là lời ghi chép trực
tiếp bài giảng của Ḥa Thượng, có nhiều ư
được Ngài lập đi lập lại, nhưng khi
chuyển ngữ chúng tôi vẫn giữ nguyên để
người đọc có thể tưởng tượng
như đang trực tiếp tham dự pháp hội giảng
kinh của Ngài. Trong quá tŕnh
chuyển ngữ chúng tôi cũng đă tham khảo bản dịch
kinh Địa Tạng của Ḥa Thượng Trí Tịnh.
Nếu việc chuyển
ngữ này có chút công đức ǵ th́ chúng tôi xin hồi
hướng đến ân sư, các bậc sư trưởng,
phụ mẫu hiện đời cùng quá khứ, thân bằng
quyến thuộc, các liên hữu, và hết thảy chúng
sanh, nhất là oan gia trái chủ của mọi người,
nguyện tất cả đều
được viên thành chí nguyện, cùng văng sanh về Cực
Lạc.
A.
DUYÊN KHỞI
Tập
1 (Số 14-12-01)[1]
Chư
vị đồng học,
Trong những năm qua, khi đạo tràng vừa xây
dựng xong, bộ kinh đầu tiên tôi giảng nhất
định sẽ là Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
Kinh. Tại sao phải giảng
bộ kinh này? Xây dựng Phật
pháp chẳng thể xa ĺa cơ
sở vật chất, dùng cách nói hiện nay th́ nhất
định phải có đất đai, phải có pḥng ốc,
phải có kiến trúc. Có
cơ sở xong th́ chúng ta mới có nơi chốn để
tu đạo. Nhưng tu đạo
phải y cứ vào những ǵ?
Chúng ta phải biết.
Tu đạo nhất định phải y cứ vào
‘tâm địa’, Kinh Địa Tạng chính là khóa học đầu
tiên của chúng ta. Có cơ sở vật chất
rồi, cơ sở tinh thần
quan trọng nhất là Tâm Địa pháp môn. Thế nên bộ kinh đầu
tiên chúng ta nhất định phải giảng là Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh để làm cơ sở cho
sự tu học Đại Thừa.
Nếu chẳng hiểu Tâm Địa pháp môn, không biết
phải bắt đầu tu từ tâm địa th́ rốt
cuộc nhất định chẳng thành công. Nói cách khác, bất luận bạn
có dụng công, có nỗ lực như thế nào, có phấn
đấu mạnh mẽ, có tinh tấn như thế nào
đi nữa th́ bạn cũng vẫn y như cũ, chẳng
thể thoát khỏi lục đạo luân hồi được,
những ǵ bạn tu cũng chỉ là phước báo hữu
lậu mà thôi. Sự tiêu biểu
của pháp Đại Thừa ở Trung Quốc là dùng Tứ Đại
Bồ Tát, vị thứ nhất chính là Địa Tạng Bồ
Tát. Từ Địa Tạng Bồ
Tát phát triển rộng ra là Quán Thế Âm Bồ Tát, [Quán Âm
tiêu biểu] Đại Từ Đại Bi. Địa Tạng [tiêu biểu] Hiếu
Kính [2].
Ngày nay tại sao Phật pháp lại suy thoái đến như vậy? Tại sao người tu hành chẳng thể thành tựu rạng rỡ như người đời xưa? V́ mọi người đều quên mất cội gốc, chẳng hiếu, chẳng kính. Lúc trước thầy Lư thường gọi cách tu học này là giỡn chơi với Phật pháp, họ chẳng tu học Phật pháp, cũng chẳng phải hoằng dương Phật pháp, mà là giỡn chơi với Phật pháp, tiêu khiển Phật pháp, chẳng có ǵ làm nên phải tiêu khiển giải trí, lấy Phật pháp để tiêu khiển! Đích thật là như vậy, lời thầy Lư chẳng quá đáng tí nào. Chúng ta hăy suy nghĩ có phải chính ḿnh cũng đang tiêu khiển Phật pháp hay chăng? Có đang giỡn chơi với Phật pháp hay không? Chỉ tu một chút phước hữu lậu mà thôi. Vả nữa, chút phước này sẽ chẳng thể hưởng ở nhân gian, mà hưởng ở đâu? Hưởng ở cơi súc sanh, cơi ngạ quỷ. Tại sao không thể hưởng ở cơi người? Tư cách làm người của bạn mất rồi nên những phước đă tu được chẳng thể hưởng ở cơi người, chúng ta phải hiểu rơ ràng. Làm người th́ phải biết ‘Hiếu thân, tôn sư’, phước thứ nhất của Tam Phước nói trong Quán Kinh là ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết hại, tu thập thiện nghiệp’, được vậy th́ bạn mới được thân người, những phước báo bạn tu được mới có thể hưởng ở cơi người, cơi trời. Nếu chẳng làm nổi bốn điều này th́ phước bạn tu được nhất định sẽ hưởng nơi ác đạo, ác đạo cũng có phước báo rất lớn. Những Lư và Sự này chúng ta đều hiểu rơ, nhưng chúng ta chẳng thể chuyển đổi trở lại, nói cách khác th́ đă hiểu rơ nhưng làm không nổi. Tại sao làm không nổi? Nói thật ra là v́ chẳng thấu triệt những Sự Lư này. Nếu thật sự thấu triệt th́ có thể sám trừ nghiệp chướng, quay đầu là bến bờ. Thế nên khi đạo tràng mới thành lập, Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện nhất định không thể thiếu, nhất định phải giảng kinh này.
Chư vị đồng tu đến đây tham học,
hôm nay chúng tôi sắp khóa học này vào khóa tŕnh chủ yếu,
thời gian tuy không nhiều nhưng chúng tôi nhất định
phải giảng tường tận những điểm
chính yếu. Ngoài ra, những phần cổ đức
đă chú giải tường tận, Thánh Nhất pháp
sư đă giảng giải bằng ngôn ngữ thông tục,
quư vị có thể dùng đó làm tham khảo. Tương lai quư vị hoằng
dương Phật pháp trong nước và ngoài nước,
mỗi khi đến một đạo tràng mới [thành lập]
trước hết nên giảng Kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện, sau đó mới giảng kinh Vô Lượng Thọ,
khuyên họ niệm Phật văng sanh, đây là quy củ nhất
định.
Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú
là do pháp sư Linh Kiệt soạn vào đầu đời
nhà Thanh, ngài là người thời vua Khang Hy, đầu
đời nhà Thanh, chú giải rất hay. Chúng ta đọc chú giải của
ngài, phải lắng ḷng thể hội, phải dùng ngôn ngữ
hiện đại để diễn đạt, dùng quan niệm
của người hiện nay để thuyết minh th́ mọi
người mới tiếp nhận dễ dàng. Chú giải này bao gồm năm phần:
Phần thứ nhất là ‘Luân Quán’, tức là trước
lúc giảng kinh, nói đại ư của toàn bộ kinh để
giới thiệu một cách khái lược. Trong Luân Quán bao gồm năm thứ
huyền nghĩa, đây là phần thứ nhất.
Phần thứ nh́ là dạy chúng ta phương pháp
quán như thế nào, cũng tức là dạy chúng ta học
tập bộ kinh này làm thế nào thay đổi quan niệm
trở lại.
Phần thứ ba là giới thiệu đại ư của
toàn bộ kinh, Luân Quán của ngài viết rất dài, phần
này quan trọng phi thường.
Phần huyền nghĩa hoàn toàn y theo phương cách
của Tông Thiên Thai, thuyết minh giải thích Đề
kinh. Biện [định] Thể,
Thể là chỗ y cứ của lư luận, đức Phật
căn cứ vào những ǵ mà giảng bộ kinh này. Sau khi chúng ta hiểu rơ th́ mới
có thể sanh khởi ḷng tin kiên định đối với
bộ kinh này và đối với lời thuyết pháp của
đức Phật. Sau đó
phần thứ ba là Minh Tông, Minh Tông là giảng về tu
hành, nói cách khác là làm thế nào đem những đạo lư,
lư luận này biến thành hiện thực trong đời sống
của chúng ta.
Phần thứ tư là Luận Dụng, chúng ta y theo
phương pháp này tu học đạt được công
đức, lợi ích ǵ.
Cuối cùng là phần thứ năm, nói về Giáo
Tướng tức là nói phương thức và nghi quỹ
giáo học của Thế Tôn.
Trong năm khoa mục này pháp sư đều dùng ba
chữ ‘bất tư nghị’ (chẳng thể nghĩ
bàn). Đề kinh là dùng Người
chẳng thể nghĩ bàn, Pháp chẳng thể nghĩ bàn
để lập danh, ‘Địa Tạng Bồ Tát’ chẳng
thể nghĩ bàn, ‘Bổn Nguyện’ chẳng thể nghĩ
bàn; Địa Tạng Bồ Tát
là Người, Bổn Nguyện là Pháp. Trong phần Biện Thể ngài
nói Tánh Thức chẳng thể nghĩ bàn làm Thể, ‘Tánh’ tức
là chân như bản tánh, sở chứng của chư Phật
Như Lai; ‘Thức’ là chỗ dụng tâm của chín pháp giới
phàm phu, chín pháp giới phàm phu c̣n trong mê, lúc mê chẳng gọi
là Tánh, mà gọi là Thức; Tánh là chân tâm, Thức là vọng
tâm. Nói cách khác, ngài nói về
tâm địa chân thật và vọng tâm của chín pháp giới
chúng sanh, dùng làm cơ sở lập luận, như vậy
quá hoàn hảo! Phật giảng
bộ kinh này, y cứ vào cái ǵ?
Y cứ vào chân tâm của chư Phật Như Lai, lại
y cứ vọng tâm của chín pháp giới chúng sanh, v́ chúng
ta giảng bộ kinh này, y cứ của lập luận
kinh này có thể nói là vô cùng chân thật. Tánh Địa chẳng thể nghĩ
bàn, chúng ta nói Địa Tạng, Tánh Địa là chân tâm chẳng
thể nghĩ bàn, vọng tâm của chín pháp giới chúng
sanh cũng chẳng thể nghĩ bàn. Lại dùng phương tiện chẳng
thể nghĩ bàn làm Dụng, việc này có thể nh́n thấy
rất rơ ràng trong toàn bộ kinh điển, dạy chúng ta
biết cách học tập như thế nào. Cuối cùng là dùng Khai Hiển Vô
Thượng Bồ Đề chẳng thể nghĩ bàn làm
Giáo Tướng. Nếu dùng
năm thí dụ này của cổ đức để thí dụ
Giáo Tướng, dùng sữa, sữa chua, kem, bơ, và phó mát
để tiêu biểu cho năm giai đoạn của Phật
pháp. Địa Tạng Bổn
Nguyện là đại pháp vô thượng, cơ sở là
đại pháp vô thượng, đương nhiên thành tựu
sẽ là Phật quả vô thượng. Đây là tổng cương lĩnh của
huyền nghĩa.
Hôm nay chúng ta ở đây giảng kinh Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện có hai dụng ư: thứ nhất
là đáp lời mời của lăo pháp sư Nhân Đức ở
Cửu Hoa Sơn, tôi đồng ư với ngài sẽ giới
thiệu đại ư của Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện trước ngày thánh đản Địa Tạng Bồ
Tát. Chúng tôi dự định
ngày một tháng chín bắt đầu giảng, ngày hai
mươi tháng chín hoàn tất; ngày hai mươi tây chính là
ngày ba mươi tháng bảy âm lịch, thánh đản Địa
Tạng Bồ Tát. Ư nghĩa thứ
hai là [từ khi] đạo tràng Tịnh Tông Học Hội
Tân Gia Ba xây dựng xong chúng ta chưa chánh thức giảng
một kinh nào tại đây, hôm nay v́ đạo tràng mới
xây dựng nên khai giảng Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh, cũng phù hợp với truyền thống
giảng kinh của chúng ta bấy lâu nay tại đạo
tràng mới thành lập. Thế
nên đây là hai ư nghĩa quan trọng, trước hết
phải giảng cho chư vị đồng tu một bộ
kinh lớn ở Báo Ân Đường của Tịnh Tông Học
Hội.
B.
GIỚI THIỆU ĐỀ KINH:
Trong phần huyền nghĩa đương nhiên quan
trọng nhất là phải giới thiệu Đề Kinh
trước: Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
Kinh.
Trong bảy chữ này, sáu chữ đầu là Biệt Đề, chữ Kinh là Thông Đề, hết thảy những pháp do Phật thuyết đều xưng là Kinh. Trong Biệt Đề lại chia thành Nhân, Pháp, bảy thứ Lập Đề chúng ta đều lược bớt, Thánh Nhất pháp sư nói rất rơ ràng trong giảng kư, chư vị có thể tham khảo.
a. Biệt đề:
‘Địa Tạng Bồ Tát’ là Nhân (người), ‘Bổn
Nguyện’ là Pháp, đề kinh này do chính đức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói ra. Trong kinh, Phật
nói kinh này có thể dùng ba Đề Kinh, ba Đề Kinh này đều
là do Phật nói. Thứ nhất
là ‘Địa Tạng Bổn Nguyện’, trong pháp hội này Thế
Tôn v́ chúng ta tuyên thuyết ‘Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện’. Cũng có thể gọi
là ‘Địa Tạng Bồ Tát Bổn Hạnh’, Hạnh và Nguyện
giống nhau, có Nguyện nhất định sẽ có Hạnh. Dùng cách nói hiện nay th́ ư nghĩa
của Hạnh là sanh hoạt, tu tŕ, xử sự, đăi
người, tiếp vật của Địa Tạng Bồ
Tát, những thứ này đều là Bổn Hạnh của
Ngài. C̣n gọi là ‘Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Thệ Lực Kinh’, ‘Lực’ là hiển thị
năng lực thù thắng của Ngài. Hiện nay chúng ta xem Đề Kinh ‘Địa
Tạng Bổn Nguyện’ là do người phiên dịch chọn
ra từ ba Đề Kinh nói trên, v́ trong Bổn Nguyện bao gồm
cả Bổn Hạnh, và Bổn Thệ Lực, ư tứ
đều gói gọn trong đó.
Trên mặt Sự th́ chữ Địa trong chữ Địa
Tạng là đại địa.
Đại địa là nơi vạn vật dựa vào
để sinh tồn, bất cứ một vật ǵ tách
ĺa khỏi đại địa đều không thể
sinh tồn, thế nên ở Trung Quốc rất coi trọng
Thiên và Địa. Trong Bát Quái th́
Tướng của Địa là thuộc quẻ Khôn, Đức của
Địa là Mẫu (mẹ), Kinh Dịch nói: ‘Chí tai Khôn nguyên’ (Quẻ Khôn lớn lao thay),
chí là đến cùng cực.
Đây là h́nh dung đại địa vạn vật
tư sanh, hết thảy vạn vật đều sanh từ
đại địa, thế nên ư nghĩa của ‘Địa’
là năng tŕ (nâng giữ), năng dục (nuôi nấng),
năng tải (chở), năng sanh. Phật dùng chữ này để
thí dụ cho tâm địa của chúng ta, tâm địa của
chúng ta đích thật đầy đủ các ư nghĩa
này. Dùng cách nói của Phật
pháp, [tâm có những ư nghĩa] trụ tŕ, sanh trưởng,
đảm đương. ‘Trụ’
là hết thảy vạn pháp nương chân tánh mà trụ,
hết thảy vạn pháp đều sanh từ chân tánh,
kinh Hoa Nghiêm nói ‘Duy tâm hiện, duy thức biến’. Chư Phật Như Lai trụ ở
Nhất Chân pháp giới, chín giới chúng sanh trụ ở
Thập pháp giới, y báo, chánh báo trang nghiêm đều biến
hiện từ Tánh Địa ra.
Tánh là năng biến (chủ thể biến), vạn
pháp là sở biến (những vật được biến)
. Trong tự tánh vốn đầy
đủ vô lượng trí huệ, vô lượng đức
năng, hết thảy vô lượng vốn đều
đầy đủ.
Mục đích của nền giáo học Phật pháp
là dạy chúng ta minh tâm kiến tánh, tại sao lấy việc
này làm mục đích? Sau khi
minh tâm kiến tánh, vấn đề ǵ cũng tự nhiên
được giải quyết hết. Vả nữa, chuyện này nhất
định có thể xảy ra, nhất định có thể
làm được. Tại sao
lại khẳng định như vậy? V́ mỗi người đều
có chân tánh, chân tánh chẳng phải đến từ bên
ngoài; những ǵ đến từ bên ngoài chưa chắc có
thể làm được, tự tánh vốn có đủ,
đâu có lư nào làm chẳng được? Vấn đề là chỉ cần
chúng ta có thể khôi phục tự tánh. Thật ra tự tánh đâu cần
phải khôi phục, hôm nay tánh đức của chúng ta có
chướng ngại, chỉ cần dẹp trừ chướng
ngại này, tự tánh tự nhiên sẽ hiện tiền, cũng
như mây bay sương tan, ánh sáng mặt trời sẽ
chiếu rọi khắp nơi.
Ánh sáng mặt trời ví như tánh đức của
chúng ta, mây mù ví như chướng ngại, chướng ngại
là giả, ánh mặt trời là thật. Ĺa khỏi ‘vọng’ th́ ‘chân’ sẽ
hiện tiền, thế nên chân tánh chẳng cần phải
t́m cầu; [những ǵ] bạn cầu đều là hư vọng,
chẳng cần phải cầu, ĺa khỏi vọng tức
là chân.
Phật dạy chúng ta trong chân tâm có đầy đủ
tam đức. Pháp thân là chân
thân của chúng ta, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng
đến chẳng đi, chẳng cấu (dơ) chẳng
tịnh, trong Thiền Tông gọi ‘mặt mũi vốn sẵn
có lúc cha mẹ chưa sanh ra’ [3]
chính là cái này. Đáng tiếc là
chúng ta từ vô thỉ đến nay khi khởi tâm động
niệm, vọng tưởng, chấp trước, chướng
ngại mất quang minh và đức dụng của tự
tánh, tác dụng hiện tiền này chịu tổn thất
lớn lao. Trong một trăm
phần tác dụng, những ǵ hiện nay chúng ta có thể
cảm thọ được chẳng đến một
phần trăm, chín mươi chín phần trăm tác dụng
chẳng thể hiện tiền, bạn nói việc này có
đáng tiếc hay chăng! Tại
sao lại có hiện tượng này? V́ mê mất rồi, chẳng biết
tự ḿnh vốn có đầy đủ vô lượng trí
huệ, vô lượng đức năng; mê mất rồi,
mê quá lâu, mê quá sâu đậm, mê quá rộng lớn. Phật thấy chúng ta như vậy
nên sanh tâm thương xót, giúp chúng ta giác ngộ, giúp chúng ta
khôi phục. Việc này cần
phải có tu hành. ‘Nhân tu vạn
hạnh, quả viên vạn đức’, phương pháp tu
hành vô lượng vô biên. Trong
vô lượng vô biên phương pháp th́ có pháp phương
tiện, cũng có pháp chẳng phương tiện, hết
thảy đức Phật đều nói cả rồi. Thế nên Phật v́ chúng sanh diễn
thuyết vô lượng pháp môn, trong tứ hoằng thệ
nguyện nói đến ‘Pháp môn
vô lượng thệ nguyện học’. Tại sao đức Phật phải
dạy vô lượng pháp môn?
V́ căn tánh chúng sanh chẳng giống nhau, căn tánh
của chúng sanh cũng là vô lượng vô biên. Giáo học thuận theo căn tánh
chúng sanh th́ học tập sẽ dễ thành tựu; nếu
chẳng thuận theo căn tánh chúng sanh th́ sự tu học
của họ sẽ khó khăn.
Vả nữa, trong hết thảy pháp môn, pháp
phương tiện nhất, ổn đáng nhất, dễ
dàng nhất th́ chẳng ǵ hơn pháp môn Niệm Phật. Trong kinh này đức Phật dạy
chúng ta niệm Phật, chí tâm xưng danh, và trong kinh Vô
Lượng Thọ dạy ‘Phát Bồ Đề tâm, nhất
hướng chuyên niệm’, [cả hai đều] cùng
chung một đạo lư, chung một sự việc. Nếu chúng ta không thể tiếp
nhận pháp môn này, nghi hoặc pháp môn này, Phật lại mở
ra pháp môn phương tiện khác cho bạn, đây chính là
Phật dạy người pháp môn hạng nhất.
Tại sao nói pháp môn này là pháp môn hạng nhất? Nếu chúng ta quán sát kỹ càng trong kinh đức Phật dạy cho chúng ta biết nguyên lư, nguyên tắc căn bản th́ chúng ta liền nghĩ ra, liền thể hội được. Phật dạy: chư pháp, hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’, tám chữ này là căn bản; đạo lư của hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều bao trùm hết cả. Lại nói rơ thêm rằng ‘hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, tức là giải thích ‘duy thức hiện’. Tâm có thể hiện tướng, tướng khởi biến hóa là do tác dụng của tâm; tâm này tức là Thức, Thức Tâm, chúng ta gọi là ‘niệm đầu’. Chúng ta hiểu được nguyên tắc này, Phật nói niệm Phật, th́ chúng ta liền hiểu, chúng ta liền gật đầu. Tại sao? Niệm Phật th́ làm Phật, vô cùng trực tiếp, ổn đáng. Tại sao niệm A La Hán th́ chứng A La Hán, niệm Bồ Tát th́ thành Bồ Tát, sau cùng niệm Phật th́ thành Phật, như vậy không phải dài ḍng sao? Đi ṿng vo. Tại sao bạn không trực tiếp niệm Phật? Trong sự niệm Phật, câu này là do đức Thế Tôn trong kinh luận nói với chúng ta, A Di Đà Phật ‘tôn quư nhất trong các thứ ánh sáng, vua trong chư Phật’ [4], A Di Đà Phật là hạng nhất. Niệm A Di Đà Phật th́ sẽ làm A Di Đà Phật, niệm A Di Đà Phật th́ sẽ thành A Di Đà Phật, vậy tại sao phải niệm Phật khác. Những Phật khác sánh với A Di Đà Phật đều thấp một bậc, thế th́ tại sao lại chẳng trực tiếp niệm A Di Đà Phật viên măn, rốt ráo! Chúng ta phải thông qua những đạo lư này mới khẳng định A Di Đà Phật là đệ nhất. Thực sự minh bạch, hiểu rơ, th́ niệm niệm trong tâm đều là A Di Đà Phật, đó mới là người niệm Phật chân chánh. Con đường của pháp môn niệm Phật là ‘Đạo cộng Giới’, hết thảy giới luật đều viên măn đầy đủ. Bạn chẳng phạm giới, chẳng phá giới là ‘Đạo cộng Giới’. Đắc thiền định là ‘Định cộng Giới’. Định cộng Giới chẳng bằng Đạo cộng Giới, Đạo cộng Giới chẳng bằng ‘Niệm Phật cụ túc viên măn giới luật’, ‘thanh tịnh giới luật’. Đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh với A Di Đà Phật th́ mới thực sự đại viên măn.
Thế nên trong pháp môn này, Phật dạy chúng ta ‘chí
tâm xưng danh, niệm tụng’; niệm tụng tức
là đọc tụng Đại Thừa. Trong sự đọc tụng kinh
điển Đại Thừa th́ kinh Vô Lượng Thọ là
hạng nhất, lúc giảng giải tôi đă phân tích rơ cho
mọi người rồi.
Chúng tôi không có khả năng phân tích như vậy, mà
chính là cổ đại đức thời Tùy, Đường
nói cho chúng ta biết “Hết thảy kinh đến sau
cùng đều quy về kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm quy về
Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ quy về
bốn mươi tám nguyện, bốn mươi tám nguyện
quy về nguyện thứ mười tám”. Hiện nay có người đề
xướng Bổn Nguyện Niệm Phật, trong Bổn
Nguyện đặc biệt chú trọng nguyện thứ
mười tám. Hoàn toàn y theo
nguyện thứ mười tám niệm Phật, có thể
văng sanh hay không? Nếu thật
sự y theo th́ nhất định sẽ được
sanh! Nếu chỉ đề
xướng lâm chung mười niệm, một niệm
đều có thể văng sanh, lúc b́nh thường có thể
khỏi giữ giới luật, có thể làm chuyện hồ
đồ sai trái, có thể tạo tác tội nghiệp,
đến lúc lâm chung niệm Phật cũng có thể văng
sanh th́ lời này nói chẳng sai, nhưng lúc lâm chung bạn
có nắm chắc có thể niệm Phật được
hay không? Bạn hăy quan sát kỹ
phần đông những người lâm chung có đầu
óc tỉnh táo hay chăng? Nếu
lúc lâm chung hồ đồ, mê man, người khác giúp họ
niệm th́ họ cũng chẳng chịu nghe. Lúc lâm chung nghiệp chướng
hiện tiền, Phật hiệu nghe chẳng lọt vào
tai, thậm chí nghe Phật hiệu liền sanh phiền
năo. Tôi đă đích thân chứng
kiến hạng người này, niệm Phật suốt cả
đời nhưng đến lúc lâm chung chẳng chịu
niệm, tham sống sợ chết, không thể buông xuống. Bổn
nguyện như đă nói đó không sai, nhưng trên
phương diện sự tướng th́ rất khó, khó vô
cùng! Đó là
thiện căn phước đức nhân duyên như thế
nào, chúng ta phải hiểu rơ ràng.
Cổ đại đức đúng là từ bi đến
cùng cực, phân tách cho chúng ta rất rơ ràng, rất tường
tận, khuyên chúng ta đừng giữ tâm niệm cầu
may, nhất định phải ‘chân đạp thật
địa’, hết ḷng nỗ lực tu học, lúc lâm chung
mới nắm chắc. Người
cầu may đến sau cùng nhất định sẽ thất
vọng. Thế nên đề
xướng Bổn Nguyện, xả bỏ giới hạnh
là đi con đường nguy hiểm. Những luận điệu này bề
ngoài h́nh như cũng có đạo lư, trong kinh Phật có
nói như vậy, nhưng nếu bạn phân tách cặn kẽ
th́ không có đạo lư, đều là giải thích sai ư nghĩa
của Phật, giải méo mó rồi, do đó ‘nguyện
giải Như Lai chân thật nghĩa’ đâu có dễ
dàng như vậy ư!
Năm xưa lúc Thế Tôn c̣n tại thế, kinh Vô Lượng Thọ khẳng định là đă được giảng nhiều lần, mỗi lần tuyên giảng pháp môn này th́ thính chúng đều khác nhau. Trong kinh ghi Thường Tùy Chúng là bao nhiêu đó người, trừ những vị Thường Tùy Chúng ra, phần đông những người c̣n lại [trong mỗi lần giảng đều] chẳng giống nhau. Thế nên đức Phật đối với sự giới thiệu Tịnh Tông, giới thiệu Tây phương Cực Lạc thế giới có giản lược, tường tận khác nhau, nên sau này kết tập kinh điển, nội dung kinh điển khác biệt rất lớn. Rơ ràng nhất là bốn mươi tám nguyện trong năm bản dịch gốc, có kinh th́ ghi hai mươi bốn nguyện, có kinh th́ ghi bốn mươi tám nguyện, có kinh th́ ghi ba mươi sáu nguyện, đây là sự khác biệt rơ ràng nhất. Nếu đức Phật chỉ giảng một lần, bất luận người dịch kinh là ai, con số này nhất định phải giống nhau, không thể nào khác biệt nhiều như vậy, từ chỗ này có thể chứng minh là Phật đă giảng kinh này nhiều lần. Chúng ta muốn nhận thức tây phương Cực Lạc thế giới, hiểu rơ viên măn th́ phải đọc hết những lần Phật giới thiệu [ghi trong những bản kinh gốc này].
Kinh điển thời xưa đều được chép bằng tay, số lượng lưu thông rất ít, một người trong đời có cơ hội đọc hết năm bản dịch gốc này là người có phước báo to lớn, nhân duyên thù thắng. Phước báo của cư sĩ Vương Long Thư triều Tống rất lớn, đương nhiên cũng được Phật lực gia tŕ, trong năm bản dịch gốc ông chỉ đọc được bốn bản và chẳng có dịp coi bản kinh Đại Bảo Tích dịch đời Đường. Cho nên trong bản dịch Vô Lượng Thọ Hội trong kinh Đại Bảo Tích có một số đoạn rất quan trọng mà bốn bản dịch gốc kia chẳng có. Cư sĩ Vương Long Thư cũng thực sự vô cùng tài giỏi, biết phần đông người ta rất ít cơ hội xem được nhiều bản kinh như vậy nên ông bắt đầu hội tập. Hội tập tức là tập hợp những bản dịch gốc, hội tập những lời nói của Phật trong mỗi bản dịch gốc lại, đọc bản hội tập này giống như đọc bốn bản dịch gốc kia vậy, đây là một chuyện tốt, đại từ đại bi.
Bản này được ghi vào Đại Tạng kinh,
được nhập tạng nghĩa là được
những đại đức trong nhà Phật thời
xưa nh́n nhận, khẳng định cách làm này chính xác,
chẳng sai. V́ vậy bản
hội tập của Vương Long Thư được
lưu truyền đến đời sau, những lời
trích dẫn kinh Vô Lượng Thọ ghi trong cuốn Di Đà
Kinh Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư phần
đông đều lấy từ bản hội tập của
ông Vương, như vậy nghĩa là bản này
được sự khẳng định của Liên Tŕ
đại sư. Về sau có
bản tiết hiệu của Bành Tế Thanh, bản hội
tập của Ngụy Mặc Thâm.
Bản của ông Vương và ông Ngụy đều
có khuyết điểm, khuyết điểm này chính là ‘lấy
bỏ’ (chọn lựa chữ) chẳng hoàn thiện,
chẳng xứng; họ đă sửa đổi văn tự
của bản dịch gốc.
Đối với họ mà nói th́ sự sửa đổi
này chẳng có vấn đề, đích thật c̣n hay
hơn văn tự của bản dịch gốc. Ấn Quang đại sư chẳng
tán thành, ngài có đạo lư là v́ sợ người đời
sau tùy tiện sửa đổi lời kinh. Họ đă sửa đổi
kinh văn và mở ra một tiền lệ, làm cho người
đời sau noi theo đó mà sửa đổi kinh văn,
kinh này truyền đến các đời sau th́ sẽ thay
đổi mất hết, tuyệt đối chẳng thể
mở ra thói quen này. Ấn Tổ
phản đối có hai điểm, một là chỗ lấy
bỏ không thỏa đáng, hai là sửa đổi nguyên
văn, chứ chẳng nói rằng không được hội
tập.
Đến những năm đầu thời Dân Quốc,
bản hội tập của [lăo cư sĩ] Hạ Liên
Cư ra đời, bản hội tập này thực sự
rất hoàn thiện. Nhưng
có một số người chấp trước thành kiến,
phản đối bản hội tập này, muốn đề
xướng đọc năm bản dịch gốc. Nếu phản đối bản
hội tập, đề xướng một trong năm bản
dịch gốc, th́ trong bốn bản c̣n lại vẫn c̣n
một số kinh văn quan trọng sẽ chẳng đọc
đến. Mục đích của
việc đọc tụng Đại Thừa là để phá
nghi sanh tín, là để xây dựng ḷng tin. Đây đều là thiên lậu chấp,
thiên kiến, thiển kiến, hiểu biết nông cạn,
những chấp trước này đều sai lầm. Lại nói cụ Hạ là cư sĩ,
cư sĩ chẳng có tư cách để hội tập
kinh tạng. Vương Long
Thư là cư sĩ, Bành Tế Thanh cũng là cư sĩ,
Ngụy Nguyên cũng là cư sĩ;
Liên Tŕ đại sư là người xuất gia, là Tổ
sư Tịnh Độ Tông. Liên
Tŕ đại sư có thể dùng bản của ông
Vương, Liên Tŕ đại sư chẳng nói
“Vương Long Thư là cư sĩ, chẳng có tư cách
hội tập”, chẳng nói như vậy. Nếu nói người tại gia
không thể làm chuyện này, nhất định phải là
người xuất gia mới làm được, thế
th́ Phật pháp đă mất b́nh đẳng, nói cách khác, quyết
định chẳng thể văng sanh Tịnh độ. Tịnh độ là pháp b́nh đẳng,
trong đề kinh có ghi ‘Thanh Tịnh, B́nh Đẳng, Giác’, tâm
của bạn chẳng thanh tịnh, chẳng b́nh đẳng,
một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu
cũng chẳng thể văng sanh.
Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh, tâm b́nh th́ cơi
nước b́nh, Tây phương Cực Lạc thế giới
là cơi nước thanh tịnh, b́nh đẳng, chư vị
nhất định phải hiểu rơ đạo lư này.
Cụ Hạ chẳng phải người thường,
sau khi bản hội tập của cụ ra đời, rất
tiếc là Ấn Quang đại sư đă văng sanh, Ấn
Tổ chẳng xem qua bản này, tôi tin tưởng nếu Ấn
Tổ xem bản này nhất định sẽ tán thán, sẽ
tán thành. Tại sao vậy? Những lỗi lầm của các
bản hội tập trước kia bản này đều
chẳng có, bản hội tập này chẳng sửa đổi
một chữ nào trong các bản dịch gốc, lại chọn
lựa chữ vô cùng hợp lư, đương thời Huệ
Minh lăo ḥa thượng khẳng định,
đương thời đại đức bên Luật
Tông là Từ Châu lăo ḥa thượng cũng khẳng định. Lăo ḥa thượng Từ Châu dùng
bản hội tập này giảng tại Tế Nam, đại
đức tại gia là lăo cư sĩ Mai Quang Hy dùng bản
hội tập này giảng trên đài phát thanh Trung
Ương. Ngày nay bản hội
tập này đă lưu thông khắp thế giới, phù hợp
với lời tiên tri của lăo cư sĩ lúc lâm chung, ngài
nói với học tṛ rằng tương lai bản hội
tập này sẽ từ hải ngoại truyền trở về
Trung Quốc, lời này đă thành sự thật. Lúc bấy giờ mọi người
đều hoài nghi, ngày nay đă khẳng định rồi,
quả thật là như vậy.
Ngài lại nói kinh này sẽ truyền khắp thế
giới, bản hội tập của cụ Hạ hoàn toàn
tương ứng với lời tiên tri của cụ. Chúng ta nhất định phải
có ḷng tin kiên định, nhất định chẳng hoài
nghi, y giáo phụng hành, phải thường đọc tụng. Những ǵ trong kinh Phật dạy
chúng ta làm th́ chúng ta phải hết ḷng nỗ lực làm
theo; những ǵ Phật dạy chúng ta không được
làm, chúng ta nhất định phải tuân thủ. Niệm Phật như vậy phát
nguyện văng sanh th́ đời này chúng ta mới thành tựu,
chúng ta phải tin tưởng lời Phật dạy.
Mỗi chữ mỗi câu trong bản hội tập của
cụ Hạ đều là nguyên văn từ năm bản
dịch gốc, nếu có nghi hoặc th́ chư vị có thể
lấy năm bản dịch gốc ra để đối
chiếu, lúc trước tôi đă in, tên cuốn này là ‘Tịnh
Độ Ngũ Kinh Độc Bổn’.
Trong đó có năm bản dịch gốc, bốn bản
hội hiệu, tổng cộng chín bản của kinh Vô
Lượng Thọ đều nằm trong cuốn này, mọi
người có thể đối chiếu. Ba bản dịch của kinh Di Đà,
ba bản này là: bản dịch của La Thập đại
sư, bản dịch của Huyền Trang đại
sư, bản hội tập của lăo cư sĩ Hạ
Liên Cư, cả ba đều in chung. Mục đích in cuốn này là
để xây dựng ḷng tin vững chắc cho chư vị
đồng tu, đừng để người ta lung lạc
dễ dàng, làm hỏng đại sự nhân duyên của
chúng ta trong đời này, như vậy th́ rất đáng
tiếc.
Chúng ta nhất định phải biết đọc
tụng Đại Thừa, quy y kinh Vô Lượng Thọ, cung
kính A Di Đà Phật, biết hết ḷng tu pháp cúng dường. Trong những buổi giảng
chúng tôi đă báo cáo tường tận cho chư vị, làm
sao cúng dường? ‘Cúng
dường Như Lai, cúng dường chúng sanh, như giáo
tu hành cúng dường’, đây là chân cúng dường,
cúng dường như vậy tức là chân chánh cúng dường
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Chúng ta tổng kết ư tứ trong kinh này, nếu chúng
ta có thể thật sự chí tâm xưng danh, đọc tụng
Đại Thừa, quy y cung kính cúng dường, công đức
của người này chẳng thể đo lường nổi. Người ấy nhất định
sẽ được chư Phật Như Lai, chư đại
Bồ Tát gia tŕ, chẳng phải chỉ có Địa Tạng
Bồ Tát mà thôi; oai thần của những đại Bồ
Tát Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền gia tŕ, tất
nhiên sẽ được quả báo chẳng thể nghĩ
bàn.
Trong kinh này Phật nói với chúng ta, Địa Tạng
Bồ Tát trong vô lượng kiếp qua, dùng vô lượng
vô biên hóa thân phóng quang thuyết pháp, phổ độ chúng
sanh, thường trụ trong thế giới U Minh. U Minh pháp giới là như thế
nào? Chúng ta làm sao học tập? Chúng ta phải chui vào địa
ngục chăng? Nhất định
phải hiểu nghĩa thú, tiêu biểu pháp của từng
câu từng chữ trong kinh văn.
Ư nghĩa của U Minh pháp giới là dạy chúng ta phải
hạ thấp tư thế, làm việc thiện chẳng cần
phải để cho người ta biết, chẳng cần
phải biểu dương, đây tức là U Minh pháp giới. Làm một cách âm thầm, hết
ḷng nỗ lực làm, xả bỏ hết thảy danh
văn lợi dưỡng tức là ở trong U Minh pháp giới,
thành tựu công đức chân thật của ḿnh, niệm
niệm đều làm lợi ích cho chúng sanh trong lục
đạo. Kinh này dạy chúng
ta biết quan hệ của chúng ta với chư Phật Bồ
Tát, quan hệ của chúng ta với lục đạo chúng
sanh, phàm phu vô tri thật đúng như câu mạnh ăn hiếp
yếu, tàn hại hết thảy chúng sanh. Những chúng sanh này cũng là phàm
phu, cũng đều mê hoặc điên đảo. Mê hoặc điên đảo th́
tâm báo phục sẽ chẳng tiêu mất, bạn làm tổn
hại chúng nó, tâm oán hận của chúng nó sẽ vĩnh viễn
ẩn chứa trong A Lại Da Thức, khi gặp cơ hội
làm sao chúng nó không báo thù cho được! Sự báo thù này chính là tai nạn
hiện nay trên thế giới, tai nạn to lớn! Trong kinh Phật nói về đao
binh kiếp. Đao binh kiếp trở
về sau tức là chiến tranh nguyên tử.
Nguyên nhân của kiếp đao binh là ǵ? Là ăn thịt chúng sanh. Đức Phật nói rất rơ ràng,
muốn miễn trừ kiếp đao binh trên thế giới,
trừ phi chúng sanh không ăn thịt th́ đao binh kiếp
này mới có thể hóa giải.
Lúc trẻ tuổi vô tri, không ăn thịt nó th́ cũng
sát hại nó. [Thí dụ như
loài] kiến, chúng tôi thấy rất nhiều người
đă từng tạo tội nghiệp này. Kiến ḅ vào nhà, bực ḿnh quá, nấu
một nồi nước sôi luộc cho chúng chết hết! Chúng tôi thấy rất nhiều
người làm như vậy, chúng tôi cũng đă từng
làm, mặc sức gây tổn hại cho những động
vật nhỏ nhoi này. Lúc
trước chẳng biết, bây giờ mới biết
ḿnh đă phạm tội lỗi nặng nề. Phật dạy chúng ta ‘phát lồ
sám hối’, hôm nay chúng ta biết rồi, biết ḿnh đă
làm sai quấy, hết ḷng tu hành, hết thảy những
công đức mỗi ngày đọc tụng, cúng dường,
tu học đều hồi hướng cho những oan gia
chủ nợ này. Chúng ta không
dám hưởng công đức ấy, chỉ hy vọng hóa
giải hết những oan kết này, được vậy
th́ trên con đường Bồ Đề chúng ta mới
được thuận buồm xuôi gió, không bị chướng
ngại. Nếu không th́ thường
nói đến nghiệp chướng hiện tiền, nghiệp
chướng làm sao mới không hiện tiền? Làm sao những chúng sanh bị bạn
hại có thể tha thứ cho bạn dễ dàng như vậy? Không thể nào!
Chúng ta phải học theo Địa Tạng Bồ Tát,
dùng tâm chân thành giúp đỡ cho họ phá mê khai ngộ, giúp
họ ĺa khổ được vui. Tâm như đại địa, hết
thảy pháp và chúng sanh nương nhờ vào đó để
trụ tŕ, sanh trưởng, đảm
đương. Bởi vậy
nên trong kinh nói: ‘Tâm như đại địa, có thể
an hết thảy’. Đây là
dùng đại địa ví như Tâm, ví như Thức. Ngày nay chúng ta nh́n thấy đại
địa, chân đạp trên mặt đất, phải
biết hồi quang phản chiếu. Địa là tâm địa của
chúng ta, tâm địa b́nh đẳng, gánh vác chư pháp, gánh
đội cho hết thảy chúng sanh. Người bạn ưa thích,
thương mến cư trú trên mặt đất này,
người bạn chán ghét, oán hận cũng cư trú trên
mặt đất này, đại địa chẳng phân biệt
thân, oán, chẳng có tốt, ác, chúng ta phải học [bản
tính này của] đại địa. Tâm địa của chúng ta vốn
cũng giống như đại địa, hiện nay
th́ trong ấy khởi tâm động niệm, phân biệt tốt
ác, phân biệt đẹp xấu, đó là sai lầm. Mặt đất chẳng phân biệt,
nói cách khác, chân tâm chẳng phân biệt, vọng tâm c̣n phân biệt,
vọng tâm là sai lầm. Biết
được vọng tâm đang phân biệt th́ biết
tâm chúng sanh; biết đại địa chẳng phân biệt,
th́ biết chân tâm. Thế nên lập
luận của kinh này là chân tâm và vọng tâm. Đây là nói về chữ ‘Địa’.
Chữ thứ hai là ‘Tạng’, Tạng nghĩa là chứa,
hàm chứa, người thế gian chúng ta gọi là kho chứa,
kho báu. Trân bảo của
người thế gian đều phải cất giữ
đàng hoàng, những của cải này có thể bảo
đảm an toàn cho đời sống của họ. Nếu mất đi tiền tài, của
báu, th́ họ sẽ cảm thấy lo sợ, đời sống
chẳng được bảo đảm, thế nên
người thế gian ai cũng hy vọng cất dấu
những trân bảo, tiền tài này.
Phật dùng việc này để tỷ dụ, trong tự
tánh chúng ta có kho báu, đó là ‘Tam Đức Bí Tạng’ trong chân
tâm tự tánh của chúng ta.
‘Pháp thân’ là chân thân, Tông Môn gọi là ‘mặt mũi vốn
sẵn có khi cha mẹ chưa sanh ra’. Bổn lai diện mục là Pháp
thân, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng đến chẳng
đi, chẳng dơ chẳng sạch. Thứ hai là Bát Nhă, Bát Nhă là trí huệ,
trí huệ cứu cánh viên măn trong tự tánh vốn sẵn
có đầy đủ, chẳng phải đến từ
bên ngoài. Vô lượng vô biên
trí huệ, thế giới ấy, phương kia, quá khứ,
vị lai không có ǵ chẳng biết, đó là ‘sở tri’ (những
ǵ ḿnh biết). Sở tri hiện
tại chẳng biết, chẳng biết th́ trở thành
chướng ngại. ‘Sở
tri’ là vốn sẵn có, hiện nay có một cái ‘chướng’,
che lấp ‘Sở tri’ của ḿnh, đó gọi là ‘sở tri
chướng’. Dụng ư của
tên gọi Sở tri chướng và Phiền năo chướng
khác nhau, phiền năo chính là chướng ngại, sở tri
chẳng phải chướng ngại, cái chướng gây
chướng ngại cho ‘Sở tri’ gọi là sở tri
chướng.
Nếu chúng ta dùng danh tướng trong Phật pháp
để nói về vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước th́ chấp trước là phiền năo chướng,
hoàn toàn là phiền năo; trong phân biệt có một phần là
phiền năo, một phần là sở tri chướng; trong
vọng tưởng hoàn toàn là sở tri chướng. Có người hỏi vô minh từ
đâu đến? Vô minh làm sao
đến? Thực ra đức
Phật Thích Ca Mâu Ni trong hội Lăng Nghiêm đă giảng
rất rơ ràng, rất thấu triệt, người đọc
kinh Lăng Nghiêm đều ‘nuốt trọng cả trái
táo’, đều hàm hồ lướt qua. Phật giảng rất rơ ràng: ‘Từ
nơi tri kiến lập ra cái hiểu biết, đó chính
là cái gốc của vô minh’ [5]. Cái ǵ gọi là tri kiến? ‘Tri kiến’ chính là ‘Sở tri’, Sở
tri chính là trí huệ Bát Nhă.
Trong cái ‘Sở tri’ bạn c̣n muốn lập ra một
cái ‘Tri’, vậy là sai rồi, trên đầu lại gắn
thêm cái đầu, đó chính là căn bản của vô
minh. Bạn đừng lập
một cái ‘Tri’ trên cái ‘Sở Tri’ th́ trí huệ của bạn
sẽ hiện tiền; nếu bạn cứ muốn lập
một cái ‘Tri’ th́ chẳng c̣n cách ǵ khác nữa! Chúng ta nêu một thí dụ; [Ḥa
thượng cầm cuốn sách dơ lên] các bạn hăy coi
rơ cái này, chúng ta dùng cái này để thí dụ, mọi
người nh́n thấy rơ ràng, minh liễu, đây là sở
tri, đây là tri kiến.
Nhưng cứ nói: ‘Trên tay
pháp sư cầm một cuốn sách’, như vậy là
xong rồi, lập tức liền rơi vào vô minh. Vật này gọi là sách hay sao? Vật này gọi là tay hay sao? Tay là do bạn kiến lập nên,
Sách là do bạn kiến lập nên; bạn muốn kiến
lập cái này gọi là Sách, cái này gọi là Tay, vậy th́ bạn
sai rồi, đây là vô minh. Lúc
Phật pháp chưa truyền đến Trung Quốc,
người Trung Quốc cũng rất thông minh, Lăo Tử
đă biết: ‘Tên mà có
thể gọi được th́ không phải là tên thường
hằng, đạo mà có thể nói được th́ không
phải là cái đạo thường hằng’ [6]. Một khi bạn nói ra cái tên th́
đă sai rồi, đó là ư tứ riêng của bạn, chẳng
phải là chân tướng sự thật. Thế nên bạn lập Tri trên
tri kiến th́ bạn sẽ đọa vào vô minh, bạn
đă khởi vọng tưởng, trong vọng tưởng
lại có phân biệt, lại có chấp trước, cả
đống chuyện phiền phức cùng đến, đều
đến một lượt.
Phật thuyết pháp cho chúng ta, Phật nói: ‘Ngă’,
nhưng chẳng chấp trước Ngă, việc này rất
cao minh. Lục Tổ hỏi Vĩnh
Gia: ‘Ông c̣n có phân biệt hay không?’. Vĩnh Gia đáp rất hay: ‘Phân
biệt cũng chẳng phải ư’. Tôi phân biệt tức là chẳng
có phân biệt, trong tâm thực sự chẳng có phân biệt,
sạch sẽ. Phân biệt cái
ǵ? V́ đại chúng phân biệt. Cho nên ‘nói tức là không nói, không
nói tức là nói’, bạn muốn nói là ‘nói’, bạn chẳng
hiểu ư của ‘không nói’ (vô thuyết), bạn cũng chẳng
hiểu ư của Phật. Nếu
‘nói’ và ‘không nói’ phân cắt thành hai, ‘nói’ cũng sai, ‘không nói’
cũng sai. #
‘Nói’ là ǵ? Phân biệt, chấp
trước’; ‘Không nói’ là vô
minh, đều lọt vào hai bên.
Phải biết ‘Nói’ và ‘Không nói’ là một, chẳng phải
hai, ‘nói tức là không nói, nghe tức là không nghe’, bạn
thông rồi, chướng ngại đều chẳng
c̣n. Nếu bạn thể hội
được chuyện này th́ chân tướng của vũ
trụ nhân sanh sẽ rơ ràng, bạn sẽ chân chánh nhập
vào pháp môn bất nhị.
Người thế gian đáng thương sống
trong ‘tương đối’, tương đối tức
là hai, đối lập. Nói ‘lớn’
đối lại với ‘nhỏ’, nói ‘không’ th́ bên kia có ‘hữu’,
đều ở trong tương đối; nói ‘Tôi’ th́
đối diện sẽ có ‘Người’. Đến lúc nào bạn có thể giác
ngộ đến ‘tôi và người
chẳng hai’, ‘không và có chẳng hai’, ‘tánh và tướng chẳng
hai’, ‘lư và sự chẳng hai’, ‘sự và sự cũng chẳng
hai’ th́ bạn mới nhập vào Phật pháp, th́ bạn
mới hiểu Phật pháp.
Cho nên Phật pháp khó, khó ở chỗ nào? Tức là khó ở chỗ này. Khó cái ǵ?
Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
vĩnh viễn chẳng buông xuống nổi, chỉ cần
không buông nổi th́ bạn sẽ chẳng nhập vào cánh cửa
Đại Thừa được, Đại Thừa và bạn chẳng
có phần. Bạn tu học Đại
Thừa chỉ là tu học một thứ thường thức
ngoài da mà thôi, Đại Thừa chân chánh ra sao th́ bạn chẳng
thể hội nổi. Đây là
nói với các bạn về Bát Nhă.
Vẫn c̣n một cái ‘Bí Tạng’, ‘Bí’ là bí mật, ‘Tạng’
là hàm chứa trong tự tánh.
‘Giải thoát’ chính là đại tự tại, tức
là ‘Sự sự vô ngại’ nói trong Hoa Nghiêm, đều là vốn
sẵn có trong tự tánh, vốn có sẵn đầy đủ. Đây là ư nghĩa của ‘Tạng’,
đây gọi là ‘Tam Đức’, tam đức trong tự
tánh. Tại sao gọi là ‘Bí Tạng’? Bí là giống như bí mật, phần
đông phàm phu chẳng thể cảm giác, lục căn tiếp
xúc chẳng đến; chẳng thể cảm giác th́ h́nh
như rất ‘bí [mật]’, cũng giống như chất
chứa ở một chỗ nào đó, ‘Tạng’ chẳng bị
người phát giác. Nói cách
khác tức là chúng sanh chẳng thể minh liễu, chẳng
thể lư giải, nên được gọi là Bí Tạng. Trong tâm tánh đích thật bao gồm
vô lượng vô biên hết thảy pháp, trong bổn tánh vốn
sẵn có đầy đủ, dùng chẳng hết, đó
là ư của ‘Tạng’. Cũng
giống như mỏ vàng ở thế gian chúng ta, trong mỏ
này hàm chứa rất nhiều vàng, bạn lấy, bạn
dùng, lấy chẳng hết, dùng chẳng hết. Nhưng mỏ vàng ở đâu bạn
chẳng biết, bạn chẳng hiểu, như vậy
nên biến thành ‘bí tạng’. Phật
dùng cái này để thí dụ bảo tàng trong tâm địa
chúng ta. Hàm tàng của đại
địa so với hàm tàng của tâm địa th́ chẳng
ra ǵ cả, bảo tạng hàm chứa trong tâm tánh chúng ta là
tận hư không, trọn khắp pháp giới, Phật pháp
của hết thảy chư Phật, vô lượng thế
giới của hết thảy chúng sanh đều hàm chứa
ở trong ấy. Chỉ cần
bạn khai phá bảo tàng trong tâm địa, nói cho các bạn
biết toàn bộ pháp thế gian, xuất thế gian đều
thông đạt, hết thảy đều chẳng có
chướng ngại.
Giáo học của Phật pháp là khai phá bảo tạng
của tự tánh. Phải dùng
cái ǵ để khai mở bảo tạng của tự
tánh? Công cụ ấy nhất
định phải xứng tánh, công cụ chẳng xứng
tánh th́ không thể khai mở bảo tạng của tự
tánh. Công cụ xứng tánh là
ǵ? Đó chính là ‘Hiếu’ và ‘Kính’,
cho nên ‘Địa Tạng’ xưng là Hiếu kinh của nhà Phật. Dùng ngôn ngữ hiện nay để
nói th́ ‘Kinh Địa Tạng’ chính là ‘Hiếu đạo’ và
‘Sư đạo’, ‘Hiếu thân tôn sư’ có thể khai phát
bảo tạng trong tự tánh.
Nếu bạn chẳng thể hiếu thuận cha mẹ,
chẳng thể tôn trọng thầy giáo, bạn vĩnh viễn
sẽ ở ngoài cửa Phật pháp, nói cách khác bạn học
Tiểu Thừa có lẽ đạt được một
chút thành tựu, nhưng học Đại Thừa th́ chẳng
có phần; Đại Thừa là
khai phát tự tánh, chẳng giống với Tiểu Thừa. Tiểu Thừa là ở trên Sự
Tướng, nói cách khác, vẫn c̣n là thế pháp. Pháp xuất thế trong Tiểu Thừa
bạn cũng không đạt được, nói cách khác
tuy bạn học Tiểu Thừa bạn chỉ có thể
dừng ở Sơ Quả, c̣n cảnh giới của Nhị
Quả, Tứ Quả sẽ chẳng chứng nổi. Muốn chứng Tiểu Thừa
Tứ Quả, quả vị cao nhất của Tiểu Thừa
th́ cũng phải hiếu thân tôn sư. Đây là chân lư, mười phương
ba đời hết thảy chư Phật Như Lai cũng
chẳng ngoại lệ.
Trong Quán Kinh đức Phật giảng về Tam
Phước, ba tịnh nghiệp này là ‘Chánh nhân Tịnh
Nghiệp của ba đời chư Phật’. Lời này vô cùng rơ ràng, minh bạch,
khi chúng ta nhắc tới chư vị đồng tu đều
nhớ, cũng có thể giảng nói, nhưng chẳng chịu
làm, vậy th́ không c̣n cách ǵ khác.
Nếu một ngày nói cả ngàn lần, cả vạn
lần cũng chẳng có ích ǵ cả, ‘nói đồ
ăn, đếm của báu’ có ích lợi ǵ ? Nhất định phải tự
ḿnh làm hết ḷng, làm cho bằng được! Mở rộng tâm hiếu thuận
cha mẹ đến hiếu thuận hết thảy chúng
sanh, chư Phật Như Lai đích thật là tu như vậy. Hết thảy chúng sanh chính là cha
mẹ ḿnh, chẳng phải là người ngoài, hết thảy
chúng sanh đều là thầy của ḿnh, đọc xong Hoa
Nghiêm đáng lư bạn phải tin tưởng chứ. Không những hết thảy
người là thầy giáo, hôm qua chúng ta đă nói cây, lá, hoa,
cỏ, không có ǵ chẳng là thầy giáo cả? Khi lục căn tiếp xúc cảnh
giới lục trần, thật sự là khi chúng ta sờ
mó, nh́n thấy một hạt bụi, một lỗ chân lông
bèn có thể tỉnh ngộ, đó chính là thầy giáo. Hôm qua nh́n thấy cây, hột giống
là tín tâm, rễ là từ bi, thân là trí huệ, cành nhánh là
năm độ, nh́n thấy chỗ nào th́ trong tâm đều
khai trí huệ. Đúng như Huệ
Năng nói với Ngũ Tổ: ‘Trong tâm đệ tử
thường sanh trí huệ’.
Ngài làm sao không thường sanh trí huệ? Lục căn tiếp xúc cảnh
giới bên ngoài đều khai ngộ, đây tức là
thường sanh trí huệ.
Ngày nay lục căn chúng ta tiếp xúc cảnh giới
lục trần bên ngoài đều sanh phiền năo, nếu
thuận theo ư tứ của ḿnh th́ sanh tham ái, tham ái là phiền
năo; không hợp với ư tứ của ḿnh th́ chán ghét, chán
ghét sanh phiền năo. Người
ta lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần
th́ sanh trí huệ, chẳng sanh phiền năo, đây chính là chỗ
khác nhau giữa phàm và thánh, chỗ khởi tu chẳng
tương đồng.
Trong kinh đức Phật nói, khẳng định tự
tánh chúng ta vốn có sẵn vạn pháp, đầy đủ
hết thảy pháp, đây là của báu! Giống như dưới ḷng
đất hàm chứa những khoáng vật quư báu, kho báu chứa
dưới đất dùng c̣n hết, c̣n kho báu chứa trong
tâm tánh chúng ta dùng chẳng hết, tại sao không biết
khai phát! Bốn đại Bồ
Tát chính là bốn pháp môn để khai phát kho báu trong tự
tánh. Bốn pháp môn này phải
dùng cùng lúc, ‘Hiếu Kính’ của Địa Tạng Bồ Tát,
‘Từ Bi’ của Quán Âm Bồ Tát, ‘Trí Huệ’ của
Văn Thù Bồ Tát, ‘Biến Thành Hiện Thực’ của Phổ
Hiền Bồ Tát, bốn Bồ Tát dạy chúng ta khai phá kho
báu trong tự tánh. Bốn pháp
môn này thiếu một cũng chẳng được, giống
như cái bàn có bốn chân, thiếu một sẽ ngă, sẽ
chẳng đứng vững, nhất định phải
hiểu đạo lư này. Những
ǵ đức Phật đă nói trong hết thảy kinh
điển Đại Thừa, ngàn kinh muôn luận đều
chẳng ngoài việc này.
Chư Phật Bồ Tát hiểu rơ rồi, đă thực
hiện rồi, các ngài đạt được thọ dụng,
đạt được đại tự tại, đại
viên măn. Chúng sanh chúng ta mê hoặc
điên đảo, mê mất tự tánh, làm sai làm quấy,
cho nên trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, sanh tử
lưu chuyển, chẳng có ngày thoát nổi.
Nhưng tánh đức của chúng ta bất luận
là đang giác hay đang mê, đều chẳng thay đổi;
lúc ngộ chẳng tăng thêm một mảy tơ, lúc mê
th́ cũng chẳng giảm bớt một tí nào. Tại sao Phật tôn kính hết
thảy chúng sanh? Ngay cả muỗi
ṃng, kiến đều tôn trọng. Tại sao Ngài lại tôn trọng? Muỗi ṃng, kiến cũng là
chúng sanh, tánh đức của nó đều viên măn, cùng
chư Phật Như Lai không hai không khác; chỉ v́ nó mê nên
biến thành như vậy, nó chẳng hiểu sự việc,
làm sai làm quấy, biến thành ra nông nỗi này. Tuy ra nông nỗi này, tánh đức
của nó cũng viên măn như cũ, chẳng có giảm bớt
mảy may, thế nên chư Phật Như Lai đối với
chúng nó b́nh đẳng tôn trọng, b́nh đẳng lễ
kính, và b́nh đẳng cúng dường. Trong thập đại nguyện
vương, Phật đối với nó chẳng tán thán,
nhưng cung kính, cúng dường th́ nhất định
đều b́nh đẳng, từ bi hết thảy!
Chúng ta phải nhận thức tâm địa, khẳng
định bảo tàng. Biết
chân tâm của chúng ta, từ Bát Nhă mà nói th́ tâm này chính là ‘Đại
Bồ Đề’, nói từ Pháp thân th́ chính là ‘Đại Niết
Bàn’. Đại Niết Bàn cũng
thường được gọi là ‘Đại diệt
độ’, Niết Bàn là tiếng Phạn, dịch nghĩa
là ‘diệt độ’. Nếu
dùng ba chữ này để nói: ‘Đại, Diệt, Độ’, ‘Đại’
có nghĩa là Pháp thân, ‘Diệt’ là diệt phiền năo, diệt
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, sẽ
được đại tự tại, đại tự
tại là giải thoát; ‘Độ’ là minh liễu, là giác ngộ,
chính là trí huệ Bát Nhă. Bồ
Tát tu Lục Độ, sáu thứ này là trí huệ, các ngài sống
đời sống trí huệ cao độ, trí huệ cứu
cánh viên măn. [Ngược lại]
chúng ta ngày nay sống cuộc đời đau khổ, phiền
năo.
Tam Đức ‘Pháp thân, Bát Nhă, Giải thoát’, đây là tam
đức tự tánh vốn sẵn có, mỗi mỗi đều
đầy đủ ‘Thường - Lạc - Ngă - Tịnh’. Thế nên chúng ta gọi Thường
- Lạc - Ngă - Tịnh là Tứ Tịnh Đức. Thường là vĩnh hằng chẳng
biến. Lạc là ĺa hết
thảy khổ, người thế gian chúng ta nói về khổ
lạc, khổ lạc là tương đối, hết thảy
những thứ khổ lạc tương đối đều
mất hết, đều đoạn dứt hết. Ngă có nghĩa là chủ tể, tự
tại, chân chánh có thể làm chủ, thực sự
được đại tự tại. Tịnh là thanh tịnh, mảy trần
chẳng nhiễm, tâm địa không tịch. Trong chân tâm không thể có một vật,
Huệ Năng đại sư nói rất hay: ‘Vốn là
chẳng có một vật’, phải biết vốn chẳng
có một vật, trong đó bạn lại thêm một vật
th́ sai rồi. Một niệm
đầu (tâm niệm) là một vật, chẳng thể
thêm vô. Do đó người
tham thiền niệm một tiếng Phật hiệu là bị
nhiễm ô rồi, phải súc miệng ba ngày. Trước giờ vốn chẳng
có một vật th́ làm sao có một chữ ‘Phật’ lọt
vô được! Phật cũng
chẳng có. Phật cũng chẳng
có nữa, chúng ta phải niệm Phật hay không? Vẫn phải niệm. Niệm như thế nào? ‘Niệm mà không niệm, không niệm
mà niệm’ th́ mới chính xác.
Nếu bạn ‘có niệm’ th́ bạn có một vật,
vậy là sai rồi. Bạn
‘không niệm’ th́ cũng có một vật, có vật ǵ? Có một cái ‘không niệm’, cũng
sai luôn. Nói cách khác, niệm th́
sai, không niệm cũng sai.
Làm sao mới không sai? Niệm mà không niệm, không niệm mà niệm th́ mới không sai; cả hai bên đều chẳng trụ, trung đạo không c̣n. ‘Làm mà không làm, không làm mà làm’, giống như chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong chín pháp giới, thị hiện nhiều thân, làm nhiều sự nghiệp, các ngài không có niệm, không sanh. Không niệm, họ chẳng ly niệm, vô sanh nhưng họ cũng chẳng ly sanh. Các ngài trong lục đạo xả thân thọ sanh, cùng chúng sanh thị hiện như nhau, họ là ‘ly tức đồng thời’, những tướng hiện ra chẳng có tự kỷ, hiện ra tướng là ‘từ bi ứng hiện’, để giác ngộ chúng sanh. Tuy là giác ngộ chúng sanh, nhưng chẳng có cái tâm niệm ‘giác ngộ chúng sanh’, giống như kinh Kim Cang có nói tuy độ hết thảy chúng sanh nhưng thực sự chẳng có chúng sanh được độ; trong Phật pháp gọi là vô tác, vô vi. Không làm nhưng chẳng có ǵ không làm, không tác mà chẳng có ǵ không tác, như vậy mới tương ứng với Thể, Tướng, Dụng của tự tánh, tương ứng với Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát của tự tánh, tương ứng với ‘Đại Phương Quảng’, đây là hạnh Bồ Tát,