Tập 19 (Số 14-12-19)
Xin
mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 30, xin xem kinh văn
hàng thứ nhất:
Phổ Quảng bạch ngôn dụy nhiên, Thế Tôn, nguyện nhạo dục văn.
Ngài Phổ Quảng
bạch rằng: “Vâng, bạch đức Thế Tôn, [chúng
con] vui mừng muốn được nghe.”
Đoạn
này có thể khỏi nói, mọi người coi tới
liền hiểu. Xem tiếp đoạn sau.
Phật cáo Phổ Quảng Bồ Tát, vị lai thế trung nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát danh giả, hoặc hiệp chưởng giả, tán thán giả, luyến mộ giả, thị nhân siêu việt tam thập kiếp tội.
Đức Phật bảo
Bồ Tát Phổ Quảng: “Trong đời vị lai
nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe
được danh hiệu của Địa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát hoặc là chắp tay, hoặc là tán thán,
hoặc là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ,
người đó sẽ vượt qua khỏi tội
khổ trong ba mươi kiếp”
Đoạn kinh văn này, phần
đông người ta xem xong đều rất khó tin,
thật chẳng dễ tiếp nhận, tại sao? Làm ǵ có
chuyện dễ dàng như vậy, chuyện tiện
lợi như vậy. Một người nghe đến
danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát hoặc chắp
tay, tán thán, đảnh lễ, ưa thích ngưỡng
mộ, những sự việc b́nh thường như
vậy bèn có thể siêu việt ba mươi kiếp
tội báo, nói vậy h́nh như hơi quá đáng, làm ǵ có
chuyện lợi ích to lớn như thế! Thật ra trong
đoạn kinh văn này, chữ quan trọng mấu
chốt là chữ ‘Thiện’, đây chẳng phải đă
nói rất rơ rồi sao? ‘Thiện nam tử, thiện nữ
nhân’, chẳng phải là một người nam,
người nữ b́nh thường; bạn nghe danh, chắp
tay bèn có công đức lớn như vậy, chúng ta
đọc kinh thường chẳng để ư nên bỏ
sót hết. Tiêu chuẩn của chữ Thiện này là tiêu
chuẩn của kinh Đại Thừa, chúng ta y theo kinh Quán
Vô Lượng Thọ Phật để nói, dùng tiêu
chuẩn này để nói ‘Tịnh Nghiệp Tam
Phước’ làm được hoàn toàn mới gọi là
Thiện. Bạn chỉ làm được ‘Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
từ tâm chẳng giết hại, tu thập thiện
nghiệp’ th́ đây là Thiện ở cơi trời, cơi
người. Kinh này là kinh Đại Thừa, bạn c̣n
chưa đạt đến tiêu chuẩn này. Nếu thêm ‘Thọ
tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng
phạm oai nghi’ th́ đây là Thiện của Nhị
Thừa: Thanh Văn, Duyên Giác, so với Thiện này c̣n thua
một bậc. Cái Thiện này nhất định phải ‘Phát
Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng
Đại Thừa, khuyến tấn hành giả’. Nói cách
khác, cả mười một câu đều làm
được hết, người này nghe đến danh
hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, chắp tay,
tán thán, th́ mới siêu việt ba mươi kiếp tội
nghiệp, thế th́ c̣n lời ǵ để nói nữa? Tự
ḿnh có gốc rễ này, thêm vào oai thần gia tŕ của
Phật, Bồ Tát th́ chúng ta mới tin tưởng
được. Thế nên chữ Thiện ở đây
chẳng phải là tiểu Thiện của phàm phu, đây
là chữ mấu chốt. Rất nhiều người
đọc kinh, nghe kinh xong bèn khởi nghi hoặc, chẳng
tin là v́ chẳng chú trọng đến chữ này, đây là
một chữ quan trọng nhất trong đoạn này.
Tiêu chuẩn này chẳng phải là
Đại Tâm Phàm Phu nói trong kinh Hoa Nghiêm hay sao? Chúng ta là phàm
phu, sao lại nói là Đại Tâm phàm phu? Phàm phu nghĩa là
phiền năo của bạn chưa đoạn dứt,
chẳng phải Bồ Tát. Nếu là Bồ Tát th́ đă
đoạn dứt Kiến Tư phiền năo và phá một
phần vô minh, đó là thật chẳng giả. Họ
thật sự đă làm được Tam Phước trong
Quán Kinh, đó là Pháp Thân Đại Sĩ, chẳng phải
người thường. Chúng ta chưa đoạn
phiền năo và cũng tu pháp của Bồ Tát, chúng ta cũng
tu. Tuy tu nhưng chưa đoạn phiền năo nên gọi
là Đại Tâm Phàm Phu.
Đại Tâm nghĩa là pháp môn tu của
bạn giống với Pháp Thân Đại Sĩ, nhưng
Pháp Thân Đại Sĩ đă đoạn phiền năo, chúng
ta chưa đoạn phiền năo, định nghĩa
của thuật ngữ ‘Đại Tâm Phàm Phu’ là như
vậy. Chúng ta muốn đạt đến tiêu chuẩn
của Bồ Tát chẳng dễ dàng, đừng nói Bồ
Tát, ngay cả Nhị Thừa cho đến Tiểu
Thừa sơ quả Tu Đà Hoàn, chúng ta trong đời này
muốn nhập vào cảnh giới của họ cũng
chẳng dễ, đều chẳng thể làm nổi. Cho
nên chúng ta dùng thân phận phàm phu, tu pháp môn Tiểu Thừa,
tu pháp môn Bồ Tát, cho đến tu Nhất Thừa
đại pháp, đây chẳng phải là không thể. Đặc
biệt là như cách nói trong kinh Hoa Nghiêm ‘một là
tất cả, tất cả là một’, sơ phát tâm bèn
có thể tu pháp môn của Đẳng Giác Bồ Tát. Giống
như câu nói trong kinh ‘Hành
bố thí nhưng không trở ngại viên dung, viên dung
nhưng không trở ngại bố thí [1]’,
hành bố là thứ đệ (cấp bậc, thứ
lớp), viên dung là siêu việt thứ đệ, hiển rơ
ra pháp giới vô chướng ngại.
Và chính là nhắc nhở chúng ta có
thể tu học pháp giới vô chướng ngại,
chẳng phải là không thể tu, chẳng phải nói
nhất định phải đến một vị
thứ nào mới tu, Phật pháp chẳng giống như
trường học trong thế gian. Trong trường
học thế gian, học sinh lớp một tuyệt
đối chẳng thể học khóa tŕnh của lớp
bác sĩ. Nhưng trong Phật pháp th́ được,
người sơ học phát tâm bèn có thể tu pháp môn trên
quả địa của Như Lai. Pháp trên quả
địa Như Lai là pháp ǵ? Pháp b́nh đẳng. Thế
nên cho dù Đẳng Giác Bồ Tát, trên quả địa
Như Lai ngài cũng chẳng chê bỏ pháp môn tu của
người sơ phát tâm. Người sơ phát tâm tu pháp
môn ǵ? Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư
trưởng, Phật cũng chẳng bỏ. Đây
gọi là “một tức là tất cả”, chẳng
giống như giáo học trong thế pháp.
Do đó có thể biết trong Phật pháp chẳng có thứ lớp sâu cạn. Bạn nói cạn th́ cạn tức là sâu, khi nói sâu th́ sâu tức là cạn. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng rất cạn, là môn người mới bước vào cửa Phật tu học, Đẳng Giác Bồ Tát cũng tu [pháp này], Như Lai cũng tu, nhất định chẳng bỏ qua, do đó cạn tức là sâu. Pháp môn Như Lai thanh tịnh b́nh đẳng, đây là [pháp môn] rất sâu, người sơ học như chúng ta cũng có thể tu học theo, sâu tức là cạn, cạn sâu chẳng hai. Phật pháp được gọi là pháp môn bất nhị, đạo lư là ở chỗ này. Chúng ta coi bộ kinh này, hầu như những ǵ được nói đều thuộc về Sự Tướng. Nhưng nếu từ trong những Sự này có thể thấu hiểu nghĩa thú, đạo lư sâu xa trong ấy, đó tức là điều được nói trong ‘Phóng Quang Bát Nhă’ [2], đạo lư thật sâu. Đây là chữ quan trọng mấu chốt, nói ra cho chư vị rồi. Nghe đến danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, Danh là Danh của Thật, Thật là Thật của Danh, có Danh là có Thật. Nghe đến danh hiệu này, bạn liền có thể nghĩ đến bộ kinh này. Danh hiệu là đề kinh, toàn bộ lư luận, phương pháp tu học, và công đức lợi ích nói trong kinh đều có thể từ trong tâm sanh khởi khi nghe đến Danh [hiệu này]
‘Chắp tay’ là cung kính, ‘tán thán’ là
hoằng dương, ‘đảnh lễ, ưa thích
ngưỡng mộ’ là tu hành, noi gương theo Địa
Tạng Bồ Tát, học tập theo Địa Tạng
Bồ Tát, như vậy mới đạt được
oai thần chẳng thể nghĩ bàn của Địa
Tạng Bồ Tát gia tŕ, mới có thể diệt tội,
‘vượt qua khỏi tội khổ trong ba mươi
kiếp’ tức là diệt tội. Chúng ta hiểu
được ư tứ này sẽ chẳng hoài nghi, liền
biết lời Phật nói là sự thật, tuyệt
chẳng phải là lời nói dối, chẳng phải
lời khoa trương, hoàn toàn là sự thật. Ở
đây làm thế nào mới có thể nâng cao chúng ta lên
tới tiêu chuẩn Thiện, điểm này rất quan
trọng. Trong Quán Kinh, đức Phật nói rất hay,
kết luận của mười một câu trong Tam
Phước tức là ‘Tịnh Nghiệp Chánh Nhân của
ba đời chư Phật’, nói rất minh bạch, rơ
ràng. Ba đời tức là đời quá khứ,
đời hiện tại, đời vị lai, ba
đời chư Phật tu hành chứng quả từ
cơ sở nào? Tức là từ Tam Phước. Cho nên Tam
Phước tức là ‘Thiện nam tử, thiện nữ
nhân’ nói trong kinh, tiêu chuẩn của Thiện. Thiện
Tiểu Thừa là làm được hai điều,
bảy câu đầu, là thiện nam tử, thiện nữ
nhân nói trong kinh Tiểu Thừa. Tiêu chuẩn Thiện
của kinh Đại Thừa nhất định phải
làm hết mười một câu. Tuy chẳng viên măn,
chẳng rốt ráo, nhưng chúng ta nhất định
phải làm. Những ư tứ khác chư vị có thể tham
khảo chú giải của Thanh Liên pháp sư, chú giải
của ngài rất hay. Chúng ta xem tiếp kinh văn phía sau:
Phổ Quảng, nhược hữu
thiện nam tử, thiện nữ nhân.
Vẫn chú trọng chữ ‘Thiện’.
Hoặc thái họa h́nh tượng,
hoặc thổ thạch giao tất, kim ngân đồng
thiết tác thử Bồ Tát nhất chiêm nhất lễ
giả, thị nhân bá phản sanh ư tam thập tam thiên,
vĩnh bất đọa ư ác đạo. Giả như
thiên phước tận cố, hạ sanh nhân gian, do vi
quốc vương bất thất đại lợi.
Hoặc tô vẽ h́nh tượng, hoặc
dùng đất, đá, keo, sơn, vàng, bạc, đồng,
sắt tạc tượng Bồ Tát, rồi cứ một
lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ,
th́ người đó sẽ sanh lên cơi trời Ba Mươi
Ba một trăm lần, vĩnh viễn chẳng
đọa ác đạo. Giả sử phước
trời đă hết, phải sanh xuống nhân gian cũng
vẫn làm quốc vương, không mất sự lợi
lớn.
Lợi ích nói ở đây thật ra c̣n thù
thắng hơn phía trước. Phía trước nói
diệt tội, chẳng nói bạn được
phước, diệt tội th́ đương nhiên sẽ
được phước, Thế Tôn chẳng cụ thể
nói rơ cho chúng ta, c̣n ở đây nói cụ thể rất rơ. Ở
đó tu phước chỉ nêu ra một thí dụ, nói
thật ra tu phước có quá nhiều phương
thức, chẳng phải chỉ có một phương
thức này thôi, chúng ta từ một thí dụ, như câu nói
“nêu một thấy được ba, nghe một hiểu
mười”[3] ,
việc này vô cùng quan trọng! Đây là nói nắn tạo
h́nh tượng Bồ Tát, việc này có một số
người chẳng hiểu lư rốt ráo, cứ cho
rằng Phật Giáo tạo nhiều h́nh tượng khác
nhau như vậy nên nói chúng ta cúng tế ngẫu tượng
? Vả lại cúng tế rất nhiều ngẫu
tượng, và trở thành Đa Thần Giáo, Đa
Thần Giáo thuộc về tôn giáo hạng thấp. Tôn giáo
cao cấp chỉ có một Thần, duy nhất một Chân
Thần, c̣n trong Phật Giáo cái ǵ cũng cúng lạy. Thật
ra họ chẳng biết đạo lư này, đạo lư này
quá sâu, quá sâu, chẳng có ai nói cho họ biết, chúng ta không
thể trách họ được. Chẳng có người
nói cho họ nghe th́ họ làm sao biết được?
Hồi trước ở Đài Loan tôi đă từng gặp một sĩ quan, vị sĩ quan này h́nh như trong quân đội làm ngành tuyên huấn (Tâm lư chiến). Ông đến chùa miếu của chúng tôi du ngoạn, rồi đề ra những câu hỏi liên quan đến tượng Phật. Ông nói: “Có ư nghĩa ǵ ở đây chăng? Tạo ra nhiều tượng Phật như vậy, phí nhiều tiền như vậy [có ư nghĩa ǵ hay không?]”. V́ tôi biết ông ta làm về ngành tuyên huấn nên tôi hỏi ông, tôi nói: “Quư vị làm công việc tuyên huấn, tại sao đi khắp nơi dán biểu ngữ? Ông dán cái này có ư nghĩa ǵ?”. Ông nói: “ Dán cái này là để nhắc nhở mọi người chú ư”. Tôi nói: “Nếu ông dán biểu ngữ này, thí dụ nói ở Đài Loan thường thấy ‘Tam Dân chủ nghĩa vạn tuế’, biểu ngữ này nhắc nhở mọi người. Nếu tạo một tượng Tôn Trung Sơn tiên sinh để ở đó, th́ không phải c̣n thù thắng hơn biểu ngữ này hay sao?” Ông nói: “Đúng! Có đạo lư”. Tôi nói: “Tượng Phật của chúng tôi cũng có đạo lư như vậy, chúng tôi dán một câu ‘Nam Mô A Di Đà Phật’, khi bạn nh́n thấy liền nhắc nhở bạn niệm Phật. Vậy th́ tạo một tượng Phật A Di Đà có phải c̣n thù thắng hơn hay không! Cùng một đạo lư. Bạn nói tại sao phải tạo ra nhiều tượng như vậy? Tại sao lại dán biểu ngữ của các bạn nhiều như vậy? Dán mấy chục tấm, mấy trăm tấm, không phải một tấm đă đủ rồi sao”. Từ chỗ này ông ta mới hiểu được ư nghĩa ấy.
Trong Phật pháp, danh hiệu và h́nh
tượng của Phật, Bồ Tát đều là
để tượng trưng, tiêu biểu pháp, nói cách khác
là để nhắc nhở chúng ta tu học. Phàm phu đích
thật mê hoặc điên đảo, có ai luôn nhắc
nhở cho bạn? Nếu thật sự có một
người giờ phút nào cũng căn dặn, nhắc
nhở bạn, th́ bạn sẽ cảm thấy
người ấy rất đáng ghét, nhiều chuyện! Cho
nên dùng cách thức này, thực sự đă đạt
đến mức thiện xảo phương tiện. Đem
danh hiệu vẽ thành h́nh tượng, tạo h́nh
tượng thành phẩm vật nghệ thuật cao
độ, bạn có thể ngắm nh́n, thưởng
thức, vĩnh viễn nh́n chẳng chán, bạn nh́n
thấy liền sanh tâm hoan hỷ, lại c̣n hiểu
được ư nghĩa của nó. Phàm là danh hiệu, h́nh
tượng của Phật đều tiêu biểu Tánh
Đức, trong tự tánh của chúng ta vốn sẵn
đủ, tự tánh vốn như vậy. Phàm là danh
hiệu, h́nh tượng của Bồ Tát đều tiêu
biểu Tu Đức. Tánh đức của chúng ta đă mê
mất, làm sao khôi phục lại? Nhất định
phải tu hành, nương nhờ vào tu đức. Tu
đức phải tương ứng với tánh
đức th́ đó mới là tu hành chân chánh, gọi là tánh
tu bất nhị, bạn mới có thể khôi phục
tự tánh, đạo lư là như vậy. Tánh đức và
Tu đức đều sâu rộng vô lượng vô
tận, thế nên dùng một danh hiệu, một h́nh
tượng th́ không cách chi biểu lộ, tỏ rơ, do
đó danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát rất
nhiều, nhiều đến chẳng thể nghĩ bàn,
tỏ rơ trí huệ, đức năng của bản tánh vô
lượng, vô biên, chẳng có cùng tận.
Tánh đức như vậy, Tu đức
đương nhiên cũng như vậy, cho nên danh
hiệu và h́nh tượng của Phật, Bồ Tát
cũng vô lượng vô biên.
Thật ra họ chẳng hiểu cái ǵ
gọi là Tâm, họ đă hiểu lầm. Tâm là ǵ? Thức
là ǵ? Lấy vọng tưởng làm Tâm, đem chấp
trước làm Thức, thế th́ làm sao biến
được? Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước là Tác Dụng của Tâm Thức, chẳng
phải là Lư Thể của Tâm Thức. Thí dụ chúng ta đi t́m người nào đó,
bạn coi bác làm công trong nhà người ấy chính là
người ấy vậy th́ làm sao được! Làm
sao có thể làm xong công việc! Người làm công chỉ
nghe lời sai bảo của chủ nhân, bạn phải t́m
cho ra chủ nhân th́ mới giải quyết vấn
đề được. Thiền Tông nói rất hay ‘Nếu
người biết được tâm, đại
địa này chẳng có một tấc đất’ [4],
nếu bạn có thể thấy được Tâm Tánh,
bạn sẽ chẳng c̣n là phàm phu nữa, bạn sẽ là
Phật, Bồ Tát rồi.
Do đó nghiên cứu giáo lư, nghe kinh phải có tâm nhẫn nại, có nghi vấn th́ có thể tồn nghi, cổ đức có nói: “Tiểu nghi có tiểu ngộ, đại nghi có đại ngộ”, đó gọi là ‘nghi t́nh’, chẳng phải là hoài nghi. Nếu đối với lời trong kinh bạn chẳng thể lư giải, khởi hoài nghi th́ là sai lầm. Hoài nghi là ǵ? Bạn chẳng tin tưởng, bạn chẳng thể tiếp nhận. Nghi là chướng ngại lớn nhất của Bồ Tát, Bồ Tát nói ở đây là Bồ Tát đạo, chướng ngại lớn nhất cho sự tu hành của Bồ Tát. Vậy th́ phải làm sao? Có nghi vẫn phải tin, tôi vẫn kiền thành tin tưởng. Phật nói Lư này quá sâu, chẳng phải là cảnh giới của tôi, chẳng phải trí huệ nông cạn hiện giờ của tôi có thể hiểu nổi. Tôi tin điều này, tin lời Phật dạy chẳng sai, hết ḷng tiếp tục nỗ lực tu học chẳng gián đoạn, đợi đến một ngày nào đó khai trí huệ xong, vấn đề này sẽ được giải quyết.
Nghi t́nh nhỏ, trí huệ mở mang
được mấy phần th́ vấn đề sẽ
được giải đáp; nghi t́nh lớn, trí huệ
cần phải mở đến một mức độ
nào đó th́ bạn mới có thể hiểu
được. Đây tức là tiểu nghi có tiểu
ngộ, đại nghi có đại ngộ. Nếu bạn
hoài nghi, chẳng tin tưởng, chẳng tiếp nhận
th́ bạn vĩnh viễn sẽ chẳng có chỗ ngộ.
Thế nên nghĩa thú sâu xa và cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn nói trong kinh th́ có nghi t́nh là chánh xác vậy,
nhất định phải y chiếu lư luận,
phương pháp của Phật dạy trong kinh mà hết
ḷng tu học. Phật pháp từ thỉ đến chung
đều là dạy người ta khai trí huệ, đó
gọi là phá mê khai ngộ. Làm sao khai trí huệ? Trí huệ
khai thông từ trong thiền định. Trong Tịnh
Độ Tông chúng ta, tuy chẳng dùng danh từ ‘thiền
định’ này, Tịnh Tông dùng ‘nhất tâm bất
loạn, tâm chẳng điên đảo’, tám chữ này
chính là thiền định, mục đích của
người niệm Phật tu tập là ở chỗ này.
Hiểu rơ đạo lư rồi, đây chỉ là nêu ra một thí dụ trong vô lượng phương pháp tu học: tạo tượng, công đức của việc tạo tượng chẳng thể nghĩ bàn. Chủng loại tạo tượng rất nhiều, ở đây liệt kê ra ‘thái họa’, tô vẽ đều được, hoặc là đúc nắn bằng đất sét, điêu khắc trên đá, giao tất (mủ, sơn) h́nh tượng Phật, Bồ Tát loại này cũng rất nhiều. Hiện nay kỹ thuật khoa học phát đạt, tạo thành mô h́nh, tạo h́nh tượng Phật, Bồ Tát vừa đẹp vừa rẻ. [Phần kinh văn ] phía sau [nói đến] tượng Phật đúc bằng kim loại, dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc thành, những tượng này có thể truyền lâu đời về sau. Đối với một người tu học th́ h́nh tượng Phật, Bồ Tát là để nhắc nhở, giờ phút nào cũng luôn cảnh tỉnh. Chúng ta tạo một tượng Địa Tạng Bồ Tát, công đức rất lớn, giờ phút nào cũng nhắc chúng ta phải hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính sư trưởng. Địa Tạng Bồ Tát tiêu biểu cho hiếu đạo, giờ phút nào cũng nhắc nhở tâm địa chúng ta chứa đựng vô lượng bảo tàng, đây là hàm nghĩa của danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát.
Trong kinh Đại Thừa, đức
Phật thường nói trong tâm tánh của chúng ta có vô
lượng trí huệ, vô lượng đức năng,
tài nghệ, hết thảy đều viên măn, đầy
đủ, cùng với những lời nói trong đại
kinh, y chánh trang nghiêm của quả địa Như Lai
chẳng hai chẳng khác, đây đều là tự tánh
vốn có đầy đủ. Kinh Hoa Nghiêm nói về Hoa
Tạng thế giới của đức Phật Tỳ Lô
Giá Na, kinh Tịnh Độ nói về Cực Lạc
thế giới của đức Phật A Di Đà,
thế giới này xuất hiện như thế nào? Trong
tự tánh vốn sẵn có đủ cho nên mới nói ‘duy
tâm tịnh độ’. Chúng ta mê mất tự tánh, ngày nay
chúng ta trụ trong thế giới này, tai nạn nhiều
như vậy, ngũ trược ác thế, ngũ
trược ác thế từ đâu đến ? Cũng là
duy tâm ngũ trược, chẳng ĺa khỏi tâm tánh. Giác
ngộ xong th́ tâm tánh này biến thành tịnh độ, mê
mất th́ tâm tánh này liền biến thành uế độ,
tướng biến thành tuy chẳng giống nhau, thể
tánh của cái năng biến (chủ tể biến)
chỉ là một, cho nên mới nói tịnh uế chẳng
hai. Ai trụ trong “tịnh uế chẳng hai”? Người
giác ngộ trụ. C̣n [đối với] người mê,
tịnh và uế sai biệt quá lớn. Việc này giải
thích như thế nào? Người giác ngộ chẳng
chấp tướng, họ trụ trong tịnh độ
nhưng không chấp tướng tịnh độ,
trụ trong uế độ cũng chẳng chấp
tướng uế độ, cảm thọ của họ
đều giống nhau. Người mê chấp
tướng, trong tịnh độ th́ chấp
trước tướng Tịnh, sanh tâm hoan hỷ; trong
uế độ th́ họ chấp trước
tướng uế độ, họ sanh phiền năo, là
sự việc như vậy. Nếu bạn có thể
thật sự không chấp tướng; vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước hoàn toàn buông
bỏ hết th́ tịnh uế chẳng hai, cảm thọ
của bạn chẳng hai, thọ dụng chẳng hai. Chẳng
có nói tịnh độ và uế độ biến thành
một thứ, chẳng phải vậy. Tịnh độ
vẫn có tướng tịnh độ, uế độ
vẫn là tướng uế độ, cảm thọ
của họ chẳng hai, b́nh đẳng thọ.
Phật nói Thọ của phàm phu có năm
thứ: ‘khổ, vui, buồn, mừng, xả’, năm
thứ thọ, đây là phàm phu. Thánh nhân chẳng có năm
thọ này, thọ của thánh nhân được gọi là
‘chánh thọ’. Trong kinh thường thấy chữ ‘Tam
Muội’, Tam Muội dịch nghĩa là chánh thọ, Tam
Muội là tiếng Phạn dịch âm mà thành. Chánh thọ
tức là năm thứ thọ ‘khổ, vui, buồn,
mừng, xả’ đều buông bỏ, hưởng thọ
như vậy mới gọi là Chánh Thọ. Chánh thọ
dựa trên trí huệ chân thật, c̣n thọ của phàm phu
dựa trên vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, do đó trong cảnh giới của họ có
‘khổ, vui’, có ‘buồn, mừng’. Tại sao cùng một tâm
tánh lại biến hiện thành sắc tướng
chẳng đồng? Chúng ta phải hiểu đạo lư
này. Tuy tâm tánh là một, chân tâm bản tánh thuần nhất,
thanh tịnh, tướng được hiện ra gọi
là Nhất Chân pháp giới. Nhưng trong thuần nhất,
thanh tịnh, đương lúc nó khởi tác dụng h́nh
như lại có tạp nhiễm. Pháp Tướng Duy
Thức Học đối với hiện tượng này
có nghiên cứu rất thâm nhập, họ phân tách rất
tinh tế, kinh luận của Pháp Tướng Duy Thức
vô cùng phong phú. Thuyết minh tâm tánh khởi tác dụng,
hiện tướng trạng các thứ chuyển biến,
hư không pháp giới vô lượng vô số chúng sanh
đều là T́nh Thức biến hiện mà ra, Lư trong
ấy quá sâu. Tại sao nó lại biến? Tại sao
biến thành nhiều như vậy? Tại sao biến ra
rồi chẳng chỉnh tề? Đây là một sự
học vấn to lớn.
Nếu nói vấn đề này bạn có nghi
hoặc, bạn rất khó tiếp nhận, chúng tôi lại nói một thí dụ thô thiển
để xem bạn có thể tiếp nhận được
không? Ban đêm bạn ngủ có khi nào nằm mộng
chăng? Mọi người đều đă từng
nằm mộng, tại sao trong mộng xuất hiện quá
nhiều nhân vật như vậy? Nhiều chúng sanh như
vậy? Cái có thể nằm mộng là tâm ư thức của
bạn, tại sao tâm ư thức của bạn biến thành
phức tạp như vậy? Trong mộng có người
tốt, cũng có người xấu, có người
bạn ưa thích, cũng có người bạn chán ghét,
tại sao bạn không mộng toàn là người bạn
ưa thích? Một người bạn ghét cũng không có,
tại sao không được? Đạo lư này rất
gần với [vấn đề] trên, rất giống,
bạn hăy từ từ nghiên cứu. Bạn suy nghĩ,
bạn nghiên cứu tại sao trong mộng lại xuất
hiện người tốt, người xấu, vừa
ưa thích, lại có chán ghét? Bạn đi nghiên cứu,
thật ra nghiên cứu chẳng được, bạn hăy
đọc thêm kinh sách của Pháp Tướng Tông.
Đó chính là ‘duy thức sở biến’,
thức là A Lại Da thức, A Lại Da thức chứa
đựng hạt giống nghiệp tập nên có
thiện, có chẳng thiện. Lúc sức mạnh ư chí
của bạn chẳng thể khống chế chính ḿnh,
những hạt giống này sẽ khởi lên. Khi khởi
lên th́ nó sẽ biến ra ảo tưởng, hiện
tướng trong giấc mộng là ảo tưởng,
cảnh giới hiện tiền của chúng ta trong kinh không
phải đức Phật đă gọi là ‘mộng
huyễn bọt bóng’ sao, cũng chẳng phải thật. Chúng
ta trên thế gian này mấy chục năm ngắn ngủi,
h́nh như nh́n thấy được hiện tượng
này, thật ra phải nói cái hiện tượng này đang
chuyển biến từng sát na, từng sát na, chẳng
phải là không biến đổi. Chúng ta bị
tướng nối tiếp liên tục từng sát na [làm cho] mê mất, cứ
tưởng nó là thật, chẳng biết cái tướng
này là giả. ‘Phàm những ǵ có tướng đều là
hư vọng’, bị liên tục hư vọng mê
mất, cứ tưởng là thật. Thế nên ở trong
đó lại khởi tâm động niệm, tạo ra
những thứ nghiệp thiện và bất thiện. Nghiệp
thiện và bất thiện có thể thay đổi
hiện tượng này. Phật nói “Hết thảy pháp
từ tâm tưởng sanh”, sự thay đổi này là
chẳng hay chẳng biết đang [âm thầm] thay
đổi. Chẳng phải bạn nghĩ: “Tôi muốn
biến một con trâu”, tại sao bạn chẳng biến
ra một con trâu được? Đó là bạn đang
khởi vọng tưởng.
Một niệm thiện của bạn
đích thật ảnh hưởng đến núi sông
đại địa, y báo chuyển biến tùy theo chánh
báo, nói rơ thêm một chút bạn khởi một niệm
thiện th́ dung mạo của bạn sẽ thiện,
bạn khởi một niệm ác th́ dung mạo của
bạn sẽ ác, tướng chuyển theo tâm. Không
những tướng chuyển theo tâm, mà thân thể,
thể chất cũng chuyển theo tâm. Phóng lớn ra
đến núi sông đại địa bên ngoài cũng
chuyển biến theo tâm, ‘y báo chuyển tùy theo chánh báo’,
là đạo lư như vậy. Thế nên chúng ta tạo h́nh
tượng của Phật, Bồ Tát, đây là một
tăng thượng duyên cho tâm thiện, niệm thiện
của chúng ta; chúng ta nh́n thấy tượng Phật,
tượng Bồ Tát th́ tâm thiện, niệm thiện
sẽ khởi lên, công đức lợi ích là ở chỗ
đó.
‘Chiêm’ tức là ‘quán tượng niệm
Phật’, pháp môn niệm Phật có bốn cách niệm
Phật. Nh́n tượng Phật, trong tâm sanh khởi
vị Phật này, vị Bồ Tát này, hành trạng cả
đời của ngài. Cho nên nh́n Địa Tạng Bồ
Tát bèn nghĩ đến đại nguyện của Bồ
Tát đă phát trong nhiều kiếp, chúng ta phải bắt
chước. Nghĩ đến Bồ Tát trong đời
trước làm cô Bà La Môn, cô Quang Mục, nh́n thấy bà con
quyến thuộc của ḿnh tạo những tội nghiệp
đọa vào ba đường ác, họ phát tâm như
thế nào để cứu vớt người thân. Quay
lại suy nghĩ thân quyến họ hàng của ḿnh
chẳng hiểu Phật pháp, cũng tạo rất
nhiều tội nghiệp, cũng đọa ba
đường ác, chúng ta có phát tâm cứu vớt họ hay
không? Trong lúc chiêm lễ khởi tâm phát nguyện, nếu
chẳng nh́n thấy tượng Phật th́ quên mất
chuyện này, do đó tượng Phật nên để
chỗ mà giờ phút nào cũng nhắc nhở ḿnh.
Nếu bạn thật sự hiểu
được đạo lư, hiểu được chân
tướng sự thật, chân tướng sự thật
là ǵ? Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ, gia
quyến họ hàng đời quá khứ. Chúng ta có
đời quá khứ, quá khứ vô lượng kiếp, cha
mẹ, gia quyến họ hàng trong vô lượng kiếp
không biết là bao nhiêu, hiện nay rải khắp lục
đạo, thập pháp giới. Trong tứ thánh pháp
giới, trong cơi trời th́ c̣n tốt, chẳng sao cả. Nếu
ở khắp lục đạo, trong ba đường ác,
khổ chẳng nói nổi. Chúng ta có sanh khởi cái tâm
niệm muốn cứu độ họ hay không? Lời
Phật nói trong kinh là thật, là sự thật. Phàm phu chúng
ta chỉ nhận biết cha mẹ đời này, chẳng
nhận ra cha mẹ đời trước. Cho nên Phật
nói hết thảy chúng sanh là cha mẹ quá khứ, chư
Phật vị lai. Chúng ta nh́n thấy hết thảy chúng
sanh chịu khổ chịu nạn th́ phải coi họ
như cha mẹ ḿnh, thân quyến của ḿnh đang
chịu khổ chịu nạn, th́ tâm nguyện muốn
cứu vớt họ sẽ tự nhiên sanh khởi. Người
mê nh́n thấy người ta chịu khổ chịu
nạn h́nh như chẳng ăn thua ǵ với ḿnh, đó là
v́ họ chẳng biết thật tướng của
chư pháp. Bồ Tát biết được, phàm phu
chẳng biết, Địa Tạng Bồ Tát hiểu rơ
ràng. Thế nên nh́n thấy những người chịu
khổ chịu nạn th́ cũng như chính ḿnh đang
chịu, tâm từ bi mới có thể thật sự sanh
khởi, nhất định chẳng thể ngồi nh́n mà
chẳng cứu, chẳng có đạo lư này.
Trong các buổi giảng chúng tôi cũng
đă báo cáo cùng chư vị, tâm nguyện chăm sóc,
thương mến, cứu vớt nhất định là có.
Nhưng sự thật th́ có những chỗ chúng ta không
đạt đến, tức là có chướng duyên,
chướng ngại. Ngày nay chúng ta nh́n thấy cả
thế giới có rất nhiều thiên tai, có chỗ bị
nạn lụt, có chỗ bị hạn hán, bị
động đất, bị nước biển dâng trào;
c̣n thêm chiến tranh do con người gây ra, tàn sát, [quá
nhiều] thiên tai và nhân họa. Người bị giết
rất đáng thương, kẻ giết người
cũng đáng thương. Giết người tạo
tội nghiệp cực nặng, tội nghiệp của
họ tương lai phải đọa tam ác đạo. Không
những tương lai phải đọa tam ác
đạo, mà c̣n phải trả nợ mạng, chẳng
phải giết rồi th́ hết chuyện. Đời này
bạn giết họ, đời sau họ làm người
rồi giết bạn trở lại, nhiều đời
nhiều kiếp giết hại lẫn nhau, dây dưa chẳng
dứt, bạn nói đáng thương biết mấy, bi
thảm biết mấy! Phật, Bồ Tát biết rơ chân
tướng sự thật này, đạo lư bên trong cũng
chỉ có Phật, Bồ Tát minh bạch.
Chúng ta học Phật, nghe xong lời răn dạy của Phật, đọc qua lời giáo huấn của Phật nên chúng ta cũng dần dần tỉnh ngộ trở lại, dần dần cũng hiểu rơ chân tướng sự thật, bởi vậy cũng có thể giống như chư Phật, Bồ Tát, xả ḿnh v́ người, phục vụ cho xă hội, phục vụ nhân dân, phục vụ chúng sanh, thật sự làm được đại công vô tư, tận tâm tận lực. Bi nguyện đại từ bi, hành tŕ đại từ bi này được đắc lực bởi lời răn dạy của Phật. Nhưng chúng ta là phàm phu, phiền năo tập khí quá nặng, thường quên mất lời dạy của Phật, trong tâm vẫn c̣n thị phi nhân ngă, tham, sân, si, mạn, bên ngoài có sự dụ dỗ của ngũ dục, lục trần, tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ, sức mạnh này quá lớn nên từng giờ, từng phút chúng ta quên mất những tâm thiện, nguyện thiện này. Tùy thuận ác duyên lại khởi ác niệm, khởi tâm niệm tham, sân, si, chạy theo dụ hoặc bên ngoài, lại tạo tội nghiệp. Ai nhắc nhở chúng ta? Chỉ có thể nương nhờ h́nh tượng của Phật, Bồ Tát.
Cho nên tại sao tổ sư đại
đức khuyến khích người học Phật, nhà
người học Phật nhất định phải
cúng dường tượng Phật, mục đích cúng
tượng Phật là ǵ? Đó là nhắc nhở chính ḿnh
từng giờ, từng phút, dụng ư là ở chỗ này. Chẳng
phải xem tượng Phật như thần minh để
cúng lạy, cầu ngài ‘pḥ hộ’ cho ḿnh thăng quan, phát
tài, như vậy là mê tín. Cúng Địa Tạng Bồ Tát,
từng giờ từng phút nhắc nhở bạn phải
hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư
trưởng, luôn luôn răn nhắc bạn phải cứu
vớt hết thảy những chúng sanh khổ nạn, là
có ư như vậy. Thế nên cúng dường h́nh
tượng ở nơi đó có vô lượng công
đức. Đây là [lợi ích của h́nh tượng]
đối với một người học Phật.
Lợi ích đối với một
người chẳng học Phật cũng rất
lớn. Trong Phật pháp thường nói khi nghe danh hiệu
của Phật, Bồ Tát th́ một khi lọt vào tai,
vĩnh viễn là hạt giống đạo. Bất
luận là bạn có tâm hay không tâm, có ư hay vô ư nghe đến
danh hiệu Phật, Bồ Tát, hạt giống kim cang
đều được vun trồng trong A Lại Da
thức. Tai nghe có lợi ích như vậy, mắt thấy
cũng có lợi ích tương tợ. Mắt bạn nh́n
thấy h́nh tượng Phật, Bồ Tát, nh́n thấy sách
ghi danh hiệu Phật, Bồ Tát, một khi lọt vào
mắt cũng vĩnh viễn thành đạo chủng. Trong
đời này chẳng được lợi ích ấy th́
đời sau, hậu thế gặp lại duyên, hạt
giống ấy sẽ khơi dậy, sẽ dùng
được. Đối với người chẳng tin
Phật pháp cũng có lợi ích thù thắng.
Nếu bạn nói ngày nay toàn thế giới
có ai không học Phật? Tôi thấy mỗi người
đều học Phật, tôi thấy rất hoan hỷ. Tôi
thấy ǵ? Cơ Đốc Giáo, Thiên Chúa Giáo đều
học Phật cả; Y Tư Lan Giáo (Islam), Do Thái Giáo
đều học Phật cả. Tại sao? Trong miệng
của họ đều biết đến Phật. Đặc
biệt là ngày nay Thiên Chúa Giáo dẫn đầu, hiện nay
nghe nói mục sư Cơ Đốc Giáo cũng đọc
‘Đại Tạng Kinh’, bạn nói thiện căn này trồng
xuống sâu dày biết mấy. Cho nên khi chúng tôi gặp
những tín đồ tôn giáo này, Mục Sư, A Hoanh [5],
tôi đều chắp tay xưng họ là Bồ Tát
thật, chẳng phải Bồ Tát giả. Một khi
họ nh́n thấy h́nh dáng của chúng ta th́ tâm niệm
nghĩ đến Phật của họ sẽ sanh
khởi. Thế nên chư vị phải biết công
đức người xuất gia rất lớn, dù phá
giới nhưng công đức [của h́nh tướng
xuất gia ấy] cũng chẳng lường
được, bạn chẳng có cách ǵ so sánh. H́nh
tướng này của bạn [là người tại gia] ra
đường, tâm niệm của Phật, Bồ Tát trong
tâm người ta làm sao khởi lên được? Chẳng
khởi lên được. Thế nhưng chúng tôi mặc
chiếc áo này, cạo đầu trọc, khi đi
đến đâu đều làm cho chúng sanh trong tâm khởi
lên ư niệm về Phật, tâm niệm Bồ Tát, thế
nên đi một ṿng ở ngoài đường th́ có bao nhiêu
người trồng được thiện căn? Tại
sao xưng người xuất gia là một trong Tam Bảo,
quư là ở chỗ này, ai có thể so sánh nổi? Hăy khoan bàn
về tŕ giới hay phá giới, chỉ riêng nói về
việc làm cho hết thảy chúng sanh khởi lên ư niệm
của Phật, Bồ Tát, th́ công đức ấy
chẳng thể nghĩ bàn.
Nếu bạn quả nhiên hiểu rơ
đạo lư này, ở đây chú ư ‘thiện nam tử,
thiện nữ nhân’. Tâm nguyện tạo h́nh
tượng Bồ Tát rộng lớn vô lượng vô biên,
một h́nh tượng này độ hết thảy chúng
sanh. Họ tu được công đức thù thắng
như vậy ‘thị nhân bá phản sanh ư tam thập
tam thiên, vĩnh bất đọa ư ác đạo’ Sanh
đến cơi trời Ba Mươi Ba một trăm
lần chẳng đọa ác đạo, lợi ích này
chẳng kể là lớn lắm, so sánh với công
đức của người ấy tu th́ đương
nhiên sẽ đạt được, chúng ta c̣n hoài nghi ǵ
nữa? Cho nên hiểu rơ Lư th́ nh́n Sự sẽ chẳng hoài
nghi nữa. Phía trước có nói siêu việt tội trong ba
mươi kiếp, ở đây nói sanh lên trời Ba
Mươi Ba một trăm lần, trời Ba Mươi
Ba là cơi trời Đao Lợi, hưởng phước
trời, chẳng đọa tam ác đạo, đây là
phước tạo h́nh tượng của Bồ Tát.
Phía sau nói họ c̣n phước dư, ‘Giả
như thiên phước tận cố’, nếu như
phước trời hưởng hết, phước
một trăm lần hưởng hết, vẫn c̣n
phước thừa. Phước thừa ‘hạ sanh nhân
gian, do vi quốc vương, bất thất đại
lợi’, đến nhân gian vẫn hưởng nhân thiên
phước báo, thời xưa phước báo nhân thiên
lớn nhất là làm vua. Ngày nay một số người
chẳng chịu t́m hiểu lư luận trong ấy, mê vào dân
chủ, mọi người tán thán dân chủ, hiện nay
trào lưu là như vậy, chúng ta phản đối dân
chủ th́ làm sao được! Thật ra người có
học vấn chân chánh, khi so sánh kỹ chế độ
vua chúa thời xưa với dân chủ ngày nay, [sẽ
thấy] chế độ vua chúa có nhiều điểm
tốt, lợi ích của dân chủ chẳng bằng
chế độ vua chúa. Nếu chư vị đọc
lịch sử kỹ càng, quan sát kỹ lưỡng, tuy quân
chủ có tệ đoan, nhưng dân chủ không có khuyết
điểm hay sao? Mỗi thứ đều có lợi và
hại.
Bạn phải dùng đầu óc rất b́nh
tĩnh để suy nghĩ, quan sát, trên thế gian này
muốn t́m một chế độ chỉ có lợi
chẳng có hại th́ không thể t́m được. Chế
độ càng tốt, nhà Nho nói rất hay ‘Người
c̣n th́ triều chánh c̣n, người mất th́ triều chánh
mất’, đều do người tạo nên. Nhà
Phật nói ‘Người có thể hoằng đạo,
chẳng phải đạo hoằng người’,
Phật pháp đích thật là cứu cánh viên măn, nhưng
hoằng dương Phật đạo cũng phải
nhờ con người. Nếu người này chẳng có
đức hạnh, cái đạo mà họ hoằng này
cũng biến chất rồi. Bản chất của
đạo vốn chẳng có lỗi lầm, đến tay
của họ th́ biến thành lỗi lầm. Những
đạo lư này tuyệt đối không phải
người ta nói ḿnh cũng nói, chúng ta nghe người ta
nói th́ phải suy nghĩ cặn kẽ.
Vào thời cổ, tôi vô cùng hâm mộ chế
độ thời cổ, điểm này cũng chịu
ảnh hưởng của Phương Đông Mỹ tiên
sinh. Phương tiên sinh khâm phục Châu Lễ nhất,
trước sau ông đă nói cho tôi nghe mười mấy
lần, ông nói ‘Châu Lễ’ là hiến pháp tốt nhất
từ xưa đến nay, trong nước và ngoài
nước, Châu Lễ là do Châu Công đính soạn. Nếu con
cháu đời sau của nhà Châu vẫn y theo pháp này mà làm th́
sẽ chẳng mất nước, chế độ này quá
hoàn mỹ. Mục đích thầy Phương nói những
lời này là hy vọng tôi đọc bộ sách này, nhưng
tôi lật sách xong, lật mấy trang rồi không
đọc nữa. Trong Tam Lễ, tôi chỉ đọc
‘Lễ Kư’, c̣n Châu Lễ và Nghi Lễ tôi chưa đọc.
V́ sau này học Phật, chẳng c̣n hứng thú đối
với chính trị nữa. Những ǵ nói trong Lễ Kư, có
rất nhiều việc liên quan đến giới luật
của chúng ta, đây là việc đáng tham khảo.
Đến năm đầu Dân Quốc, ông Tôn Trung Sơn nghĩ ra một cách cũng rất tốt, nhưng đáng tiếc là chẳng có người tiếp tục hoằng dương phát triển thêm, điều này rất đáng tiếc. Ông Tôn đọc sách nhiều, đích thật là học rộng nghe nhiều, đối với Quốc Học Trung Quốc ông có tŕnh độ rất sâu, tri thức Tây Phương tương đối phong phú, nên ông nghĩ ra phương pháp này, chọn ra ưu điểm của quân chủ và dân chủ, gạt bớt khuyết điểm cả hai, đó là một lư tưởng như vậy. Phát minh ra Tam Dân chủ nghĩa [6], hiến pháp Ngũ Quyền, một đảng chuyên chánh. Trong tâm ông chẳng phải chính trị đa đảng, là chuyên chánh một đảng. Một đảng này từ đâu tới? Thay thế cho một gia tộc của vua chúa thời xưa. Thời xưa vua chúa thống trị quốc gia là một gia tộc thống trị. Ngày nay chúng ta dùng một đảng, tập trung những người có trí huệ, có tài năng trên toàn quốc vào một chỗ, cùng nhau thống trị quốc gia, một đảng chuyên chánh. Đây là có ưu điểm của quân chủ, gạn lọc ra ưu điểm của quân chủ. Cách nghĩ của ông ta rất tốt, đáng tiếc là sau khi ông mất đi, có ai hiểu được Tam Dân Chủ Nghĩa? Tôi thường than tiếc cho ông. Nguyên nhân căn bản nói thật ra là cả đời ông bôn ba khổ nhọc, sau khi lật đổ Măn Thanh được mấy năm th́ ông mất, thọ mạng quá ngắn. Nếu ông có thể sống thêm hai chục năm, sức ảnh hưởng ấy sẽ rất lớn.
Vả nữa nguyên nhân quan trọng cũng
ở tại Giáo Dục, khi cổ thánh tiền hiền
Trung Quốc xây dựng một chánh quyền có thể kéo
dài mấy trăm năm, nhân tố thành công của họ ở
đâu? Ở tại giáo dục. Chánh quyền triều Hán
do Hán Cao Tổ thành lập, nhưng đến đời
thứ hai là Hán Vơ Đế th́ lập nên chánh sách giáo
dục của quốc gia. Sau khi chánh sách giáo dục
được xây dựng, trong hai ngàn năm Trung Quốc
thay triều đổi vua, chánh quyền thay đổi
nhưng tông chỉ giáo dục chẳng thay đổi,
đây là điểm rất tuyệt
diệu! Sau khi [chánh sách giáo dục được] Hán
Vơ Đế đặt ra măi cho đến đời Măn
Thanh cũng chẳng thay đổi, đây cũng là
việc rất khó nghĩ bàn.
Nếu ngày nay không nói đến giáo dục
này, buông bỏ mất, lấy chủ nghĩa công lợi
của tây phương, việc này làm sao được! Thiên
hạ sẽ đại loạn, chẳng thể có ḥa b́nh,
yên ổn, tại sao? Ai nấy đều tranh lợi,
như vậy th́ làm sao được? Tranh danh đoạt
lợi, chẳng tiếc bất cứ thủ đoạn
ǵ, thế gian này c̣n ngày tháng thái b́nh nữa sao? Ngày nay tây
phương đă cảm nhận xung kích rất lớn,
gặp khó khăn rất lớn. Hiện nay họ đang
suy nghĩ, nghiên cứu [học vấn] của Trung
Quốc. Hầu như mỗi đại học ở
Mỹ đều có trung tâm Hán Học, họ hết ḷng
nghiên cứu học vấn truyền thống Trung Quốc
cổ xưa, nghiên cứu học vấn của Ấn
Độ cổ xưa, hy vọng t́m được trong
ấy một số lư luận, nguyên tắc có thể
cứu văn xă hội hiện nay. Hiện nay nếu bạn
đối với những vấn đề này hiểu
sơ lược một chút, bạn đến những
đại học ở ngoại quốc để
diễn giảng th́ sẽ được hoan nghinh. Tôi
biết được rất thô thiển, một chút ngoài
da, nhưng tôi ở những trường học ngoại
quốc này nói sơ sơ cũng được hoan nghinh
phi thường. Họ nghe nói,
[cảm thấy] rất hiếm có, kỳ lạ,
chưa từng nghe qua, Trung Quốc có đồ tốt
như vậy, tiếc rằng chẳng có người
giới thiệu.
Đoạn kinh văn này, trong chú giải Thanh Liên pháp sư chỉ cho chúng ta các tư liệu tham khảo rất quan trọng, trong ấy quan trọng nhất là nặn tạo tượng Phật phải dùng tâm cung kính, phải dùng tịnh tài, tịnh vật tiêu biểu cho ḷng kiền thành, cung kính, th́ mới khởi lên cảm ứng, đạo giao. Bạn xem người thời xưa tô vẽ, chứ người hiện nay rất hiếm [ai làm như vậy] rồi, trước khi vẽ một tượng Phật, nhất định phải tịnh thân [8], rửa tay, rửa sạch sẽ, mặc y phục sạch sẽ, có khả năng th́ nhất định thay quần áo mới, không có khả năng th́ quần áo nhất định phải giặt sạch sẽ, tiêu biểu cung kính. Giấy và mực nhất định chẳng dùng cho việc khác. Bút vẽ tượng Phật th́ dành riêng để vẽ tượng Phật, tuyệt chẳng dùng để viết chuyện khác, chuyên dùng cũng là tượng trưng cho ḷng cung kính. Những tài vật cần thiết đều là tịnh tài, là tiền của ḿnh đáng có được, tuyệt chẳng dùng tiền tài chẳng tịnh. Bất tịnh là những ǵ tôi chẳng nên có [mà có], chẳng phải tiền của tôi, tôi dùng thủ đoạn để gạt lấy, hoặc uy hiếp, ép buộc người ta chẳng thể không tặng cho, tiền tài như vậy gọi là bất tịnh tài. Phải dùng tâm thanh tịnh, vật thanh tịnh để tạo tượng.
Chư vị hiện nay có cuốn này, ở
trang 32 trong cuốn chú giải, đếm ngược hàng
thứ hai, câu sau chót, tôi đọc cho quư vị nghe: “Lại
không cho tạo tượng nửa người, thiện
tướng chẳng khởi, đọa lạc sanh
tử” [9],
hy vọng mọi người phải chú trọng câu này. Hiện
nay có nhiều địa phương cúng tượng
Phật, Bồ Tát chỉ có nửa người, có chỗ
cúng tượng Phật, Bổ Tát chỉ có cái đầu,
cúng như vậy tạo tội nghiệp, quả báo này
nhất định ở tại địa ngục. Cúng
tượng Phật nửa người th́ tội
nghiệp đă chẳng nhẹ, đọa lạc sanh
tử chẳng có công đức. Thế nên vẽ h́nh
tượng Bồ Tát phải vẽ cho hoàn chỉnh,
phải vẽ tượng toàn thân (cả người),
không thể vẽ tượng nửa người, bất
luận là tượng ngồi, hoặc đứng
đều phải vẽ toàn thân, phải chú ư điểm
này! Chúng ta tạo tượng người ta có thể
tạo tượng nửa người, không thành vấn
đề, c̣n tượng Phật, Bồ Tát th́ tuyệt
đối không thể. Tượng người có thể
tạo nửa người, bạn nói có ai tạo
tượng chỉ tạo cái đầu c̣n ngoài ra không có
ǵ khác. Trong phong tục tập quán của chúng ta, đây là
điều không cát tường, đầu bị
người ta chém đứt rồi, sao lại làm như
vậy? Không thể như vậy được. Ở
đây ngài có viết một câu như vậy, đặc
biệt nhắc nhở chư vị đồng tu.
Trong chú giải ngài dùng một đoạn
trong Kinh Tạo Tượng Công Đức, trang 33 hàng
thứ hai, câu cuối cùng: “Kinh Tạo Tượng Công
Đức nói: “Nếu ai lúc
lâm chung, thốt lên lời nói [bảo người khác]
tạo tượng, thậm chí [tượng
được tạo] chỉ nhỏ như hạt lúa
mạch, đây là đại mạch, tức là nói
tạo tượng, tượng rất nhỏ, nhỏ
như hạt lúa đại mạch, rất nhỏ. “có
thể trừ tội trong mười ức kiếp sanh
tử suốt ba đời, có mười một công
đức”. Tạo tượng nhỏ như
hạt lúa cũng có công đức to lớn như vậy,
huống chi là tạo tượng Phật, Bồ Tát
lớn? Chúng ta phải hiểu đạo lư này. Có lẽ
ngày nay có một số người đọc thấy
lời này nên tranh nhau tạo tượng Phật lớn,
tạo tượng Bồ Tát lớn, họ tạo
tượng như vậy có thể có công đức
lớn như vậy không? Như đoạn trước
có nói, nếu là bất tịnh tài th́ sẽ chẳng có công
đức này. Thế nên tạo tượng nhất
định phải cân nhắc khả năng của ḿnh,
miễn cưỡng tích tụ rất nhiều tiền tài
bất tịnh th́ tượng này tạo không đúng
như pháp.
Do đó tạo tượng th́ mọi
người đều có thể tạo, công đức có
được lại không giống nhau. Là cái ǵ không
giống? Nơi phát tâm tạo tượng của bạn,
chỗ khởi tâm, tại sao khởi tâm niệm muốn
tạo tượng này, động cơ của bạn
ở đâu. Nếu tượng này đích thật sẽ
làm cho mọi người trồng thiện căn, khởi
phát tâm Hiếu của mọi người th́ công
đức này rất lớn. Nếu động cơ là v́
muốn trang nghiêm đạo tràng của ḿnh, tỏ rơ
đạo tràng này thù thắng hơn nơi khác, trong ấy
có tâm cao thấp, nhà Phật gọi là tâm cao hạ,
giống như tranh đua vậy, tâm như vậy không
tốt, tâm đó là tâm háo thắng. Tâm háo thắng tuy có công
đức rất lớn, tương lai sẽ sanh vào cơi
nào? Cơi A Tu La, đường Tu La, kinh Lăng Nghiêm dạy
chúng ta phước báo lớn nhất là A Tu La ở cơi
Trời, kế đó là A Tu La cơi người, kế đó
là A Tu La cơi súc sanh, cơi ngạ quỷ, bốn cơi này
đều có A Tu La, chỉ có địa ngục là
chẳng có A Tu La. Do đó A Tu La đọa vào cơi nào th́ dùng
cơi đó để xưng tên. Trong kinh Phật
thường gọi là năm cơi (ngũ thú), năm cơi
chẳng kể A Tu La, A Tu La ở cơi nào th́ tính là cơi đó. Nói
sáu cơi th́ chỉ A Tu La [riêng rẽ]. Có thể thấy trong
kinh Phật thường nói ‘Nhân địa chẳng
thật sẽ chiêu cảm
được quả cong quẹo’ [10],
sơ phát tâm của chúng ta là ǵ? V́ sao lại làm như
vậy? Cho nên chân chánh tạo tượng là v́ phát triển
hoằng dương Phật pháp, đem lợi ích cho chúng
sanh, công đức ấy sẽ lớn.
Phía sau ngài nói mười một thứ công
đức đều liệt kê ra trong đó, mỗi công
đức đều có nghiệp nhân của nó, đều
có nhân duyên, nhất định phải tương ứng
với nhân duyên, duyên tương ứng, có nhân ắt có
duyên, sau đó mới có quả báo.
Thứ nhất là ‘Thế
thế nhăn mục thanh khiết’ (Đời đời
mắt trong sạch), tại sao mắt trong sạch? Thường
thường nh́n h́nh tượng Phật, Bồ Tát nên có
được quả báo này. Cho nên khi chúng ta hiểu
được đạo lư này xong, trong nhà của các
cư sĩ, quư vị sắp đặt pḥng khách của
quư vị, đừng treo đồ vật tùm lum, chẳng
có ư nghĩa ǵ hết; cũng đừng treo những bức
họa viết chữ của các người nổi danh,
đều nhiễu loạn tâm t́nh. Nên treo ǵ? Treo h́nh
tượng Phật, Bồ Tát. Bốn phía trong pḥng khách
đều có thể treo, bất luận ngồi ở
đâu bạn cũng có thể thấy tượng
Phật, nhất tâm niệm Phật. Nếu chuyên tu
Tịnh Độ, nói thật ra, chọn ra một
tượng Phật, bốn phía đều treo
tượng giống nhau. Giống như Niệm Phật
Đường trong Cư Sĩ Lâm hiện nay của chúng ta,
toàn bộ đều treo tượng A Di Đà Phật,
h́nh như đă treo hơn một trăm tấm, một
trăm, hai trăm tấm bạn đều nh́n thấy. Bất
luận đầu bạn xoay về hướng nào th́
cũng đối diện A Di Đà Phật, ở nơi
ấy tu hành, mắt nhất định đời
đời thông minh, được quả báo mắt
được thanh khiết, quư vị nghĩ coi phải
là đạo lư này hay không?
Thứ hai ‘Sanh xứ vô ác’ (Nơi sanh
chẳng có việc ác), sự việc trong đời này
đều do nhân ta tạo đời trước, chúng ta
thọ nhận quả báo, nhân đời này chúng ta tu
rất thù thắng, th́ đời sau, đời sau nữa
nhất định sanh đến hoàn cảnh rất
tốt, chẳng thấy những h́nh tượng ác,
cũng chẳng nghe âm thanh ác, đây là phước báo.
Thứ ba ‘Thường sanh quư gia’
(Thường sanh vào nhà tôn quư) Quư là tôn quư, nhà tôn quư không
nhất định là phú quư, chẳng nhất định
là giàu có, có đức hạnh là tôn quư. Bạn sanh
đến nhà này, người cha người mẹ,
tổ tiên đều tích đức, háo thiện tích
đức, bạn sanh vào nhà như vậy. Đây là ǵ? Cảm
ứng đạo giao, tâm hạnh ḿnh thiện th́ nhất
định là thiện cùng thiện cảm ứng. Tuy
đức Phật trong kinh nói cha mẹ cùng con cái có bốn
thứ duyên: ‘báo ân, báo oán, đ̣i nợ, trả nợ’,
đây là một nguyên tắc. Trong đời quá khứ
duyên đă kết quá nhiều quá nhiều, nói cách khác, duyên
có thể làm cha mẹ, làm con cái rất nhiều, rốt
cuộc chọn duyên nào để làm cha mẹ? [Việc
này] liên quan đến tập tánh thiện ác. Nếu
thường thường ngắm nh́n tượng
Phật, thường thường xưng danh hiệu
Phật, duyên người ấy lựa chọn nhất
định sẽ là thiện duyên.
Thứ tư ‘Thân như tử ma kim
sắc’ (Thân có màu vàng tía), đây là h́nh dung thân
tướng đẹp, lục căn đầy
đủ, chẳng khuyết, thân tướng tốt.
Thứ năm ‘Phong nhiêu trân ngoạn’
(Nhiều vật đồ chơi quư báu) đây là nói phú
quư, sanh hoạt của bạn giàu có, đầy đủ.
Nếu đời sống chẳng giàu có th́ không thể có
những đồ chơi quư báu này. Trong các thứ đồ
quư này, phạm vi được nói đến cũng
rất rộng. Nhà háo thiện háo đức tuyệt
chẳng sưu tập những thứ người
thường xem, những thứ trân kỳ, hiếm có,
những đồ quư này. Nhà người có đức
hạnh, có học vấn sưu tập điển
tịch, họ hưởng thọ những thứ này. Như
hiện nay th́ rất thuận tiện dễ dàng, hiện
nay kỹ thuật ấn loát tiện lợi, thời
xưa có nhà nào có thể có một bộ Đại
Tạng Kinh? Không thể nào. Kinh điển thời xưa,
đầu thời Dân Quốc vẫn c̣n ấn loát bằng
cách khắc ván, ấn loát chẳng dùng mực dầu mà dùng
muội tùng [11],
có lẽ quư vị chưa từng thấy qua, muội
của trái tùng. Hiện nay Kim Lăng Khắc Kinh Xứ
đă dùng mực dầu, chẳng dùng muội cây tùng. Thời
xưa những cuốn sách ấy, dùng tay sờ th́ tay dính
chất đen giống như bột vậy, dùng muội cây tùng chà lên [bản khắc
ván] rồi ép lên giấy, in một cuốn như cuốn
kinh Địa Tạng này, sợ rằng mỗi
người phải tốn thời gian cả một ngày
v́ phải in từng trang một. Sau đó đóng thành sách, cắt cho
ngay ngắn, thật chẳng dễ, do đó giá thành
của sách sẽ rất cao, chẳng phải là
người giàu có th́ chẳng mua nổi, số
lượng lại rất ít. Hiện nay thuận tiện
rồi, là chụp h́nh làm bản [kẽm để in] có
thể ấn loát, lưu thông số nhiều.
Năm đầu Dân Quốc, lúc đó tôi
biết ở quê tôi, tỉnh An Huy này, nghe nói h́nh như
chỉ có hai bộ Đại Tạng Kinh, và một bộ
chẳng đầy đủ. Hai bộ đầy
đủ, một bộ thiếu, thật chẳng dễ.
Những người thường muốn đọc kinh
phải vô chùa, vào lầu chứa kinh mượn
đọc, không thể mượn ra khỏi chùa, chỉ
đọc tại lầu chứa kinh. Lầu chứa kinh
giống như thư viện vậy, muốn đem
về nhà đọc bạn phải tự chép tay, chép xong
rồi trả lại, tạng kinh này không được
ra khỏi cửa. Hiện nay kỹ thuật ấn loát phát
đạt, chữ thâu nhỏ nên một bộ Đại
Tạng Kinh, như Long Tạng (Đại Tạng Kinh in
thời vua Càn Long), hiện nay chúng ta in thành 160 cuốn,
giá rất thấp, trong nhà có thể thỉnh một
bộ, đây là trân bảo! ‘Tứ Khố Toàn Thư’ th́
quá lớn, nhưng Tứ Khố Tập Yếu rất
tiện lợi, thời xưa chỉ có nhà vua mới có
thể cất giữ, hưởng thọ, hiện nay dân
gian chúng ta cũng có thể. Đài Loan in lại bộ
Tứ Khố Tập Yếu, một bộ giá năm
mươi vạn đồng Đài Loan, giá tương
đối rẻ, số lượng gồm có 500 cuốn
sách b́a cứng đẹp, tương đương
với hai, ba bộ Đại Tạng Kinh, đây là trân
bảo! Đây là sách đáng để cất giữ,
tự ḿnh có thể thọ dụng, có thể dạy
đời sau. Thế nên ‘phong nhiêu trân ngoạn’ chẳng
phải một số đồ cổ bằng ngọc,
những thứ ấy chẳng có lợi ích thật sự
ǵ cả. Thật sự có lợi ích là những kinh sách
kể trên, là những lời dạy của cổ thánh
tiền hiền.
Thứ sáu: ‘Sanh hiền thiện gia’ (sanh
vào nhà lành, hiền). Phía trước nói thường sanh
quư gia, chú trọng ở chữ ‘thường’, quả báo
này chẳng phải chỉ một đời, công
đức lợi ích được kéo dài nhiều
đời, như phía trước nói sanh một trăm
lần lên trời Đao Lợi. [Công đức] thứ
sáu ‘sanh hiền thiện gia’ khác với phía trước là,
phước báo đương nhiên từng đời thua
kém đời trước một chút. Nếu mỗi
đời họ đều chịu tu th́ phước báo
sẽ vĩnh viễn kéo dài không dứt, nhất
định phải nhờ vào tu đức, sanh hiền
thiện gia.
Thứ bảy ‘Sanh đắc vi
vương’ (sanh được làm vua) đây là
hưởng thọ phú quư nhân gian.
Thứ tám ‘Tác Kim Luân Vương’ (Làm Vua
Kim Luân)
Thứ chín ‘Sanh Phạm thiên’, tầng
lớp này càng ngày càng cao, hoàn toàn coi bạn tu phước
lớn hay nhỏ, tu phước lớn nhỏ chẳng
ở chỗ tạo tượng lớn hay nhỏ,
phải hiểu đạo lư này. [Lớn nhỏ] ở
nơi tâm tu phước của bạn lớn hay nhỏ,
tâm lượng bạn lớn, tạo tượng nhỏ
th́ công đức cũng lớn; tâm lượng nhỏ,
tạo tượng lớn th́ phước cũng nhỏ. Do
đó lớn nhỏ chẳng dựa trên tượng
lớn hay nhỏ, mà ở tại tâm lớn hay nhỏ,
ở tại tâm địa nhiễm hay tịnh, nhất
định phải hiểu đạo lư này. Phật pháp
thật sự là pháp b́nh đẳng, nếu nói tôi tạo
tượng lớn th́ phước sẽ lớn,
tượng nhỏ th́ phước nhỏ, vậy th́
chỉ có người có tiền, có thế lực mới
tu được phước lớn, người nghèo
chẳng thể tu phước báo, như vậy th́
chẳng b́nh đẳng. Trong Phật pháp [tất cả]
đều b́nh đẳng, có khi người nghèo tu
phước c̣n vượt trội phước của
người giàu tu gấp nhiều lần, [lớn nhỏ]
là ở tại tâm thanh tịnh, phải hiểu đạo
lư này.
Thứ mười ‘Bất đọa ác
đạo’
Thứ mười một ‘Hậu sanh hoàn
năng kính trọng Tam Bảo’ (Đời sau c̣n có thể
kính trọng Tam Bảo) điều này rất quan
trọng! Mười điều trước đều
nói về quả báo, điều này là nhân. Đây là việc
Phật pháp nói quả sẽ chẳng bỏ sót nhân, nói nhân
th́ nhất định sẽ nói đến quả báo, cách
nói như vậy mới viên măn. Đời sau vẫn c̣n
kính trọng Tam Bảo, có thể thấy phước
đức này của họ có thể kéo dài, chẳng
phải một đời liền hưởng hết.
Hiện nay chúng ta quan sát những
người có phước báo trong thế gian này, bạn
quan sát cặn kẽ, phước báo của họ hầu
như rất mau hết, thọ mạng đời này c̣n
chưa hết th́ phước báo của họ đă
hết rồi. Ở nước ngoài chúng ta thấy
rất nhiều công ty sụp đổ, phá sản,
tuổi họ cũng chẳng lớn lắm, đó là lúc
hưởng phước chẳng biết tu phước. Người
thế gian thật sự rất ít kẻ có thể kéo dài
phước báo tới hai đời, ba đời. Hiện
tại là một đời bản thân chính ḿnh có thể
hưởng phước một đời, người
như vậy đă là rất ít rồi. Thường
thường là thời gian hưởng phước
rất ngắn, lúc hưởng phước chẳng
biết tu phước, lúc hưởng phước
chẳng biết làm lợi ích cho xă hội chúng sanh, cho nên
thời gian họ hưởng phước rất ngắn
ngủi. Điều này rất quan trọng, lúc
hưởng phước nhất định phải
biết tu phước, phải biết phước này
từ đâu tới. Trong kinh đức Phật nói, có
thể nói hoàn toàn là cảnh giới của phàm phu.
Tiền tài, có một ai không mong cầu
tiền tài? Trong tâm cầu tiền tài, tham tiền tài,
như vậy là sai, chẳng biết tiền tài có
được là do bố thí tài vật. Chân chánh hiểu rơ
đạo lư này, có tiền tài th́ dốc toàn tâm toàn lực
để bố thí, bố thí một cách vô điều
kiện, thật sự chẳng phải cân nhắc hiệu
quả của sự bố thí, chẳng cần suy nghĩ
về việc này. Tôi bố thí là việc tốt, cứu
giúp người ta, đương nhiên chúng ta chẳng
phải trực tiếp đi cứu giúp, nhất
định là có một số người giúp đỡ,
chúng ta giao cho người ta làm việc này. Nếu
người ta đem tiền này đi làm việc khác,
hoặc lấy đi hưởng thụ, th́ đó là nhân
quả của họ, chẳng liên quan ǵ với ḿnh. Tâm tôi
phát là thuần chánh, phước tôi được sẽ
viên măn. Nếu bạn c̣n cân nhắc, sợ tiền cứu
trợ bị người ta lấy mất, chẳng dám
làm, nói cách khác duyên để bạn tu phước đă
bị đoạn dứt, trở thành người
chẳng có phước. Trong tâm cứ thường lo âu,
cứ nghĩ đến những chuyện
được, chuyện mất, tương lai cảm
quả báo ngu si, chẳng có trí huệ.
Cho nên chúng ta dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm từ bi để tu phước, đương nhiên chúng ta cũng phải xem xét người ḿnh nhờ đi làm chuyện phước thiện này, nếu không lựa chọn, không xem xét th́ ḿnh không có tội, nhưng có lỗi lầm. Nếu người ḿnh nhờ [làm phước này] đáng tin cậy, rất ổn thỏa th́ phước báo sẽ viên măn; nếu người ḿnh nhờ chẳng đáng tin cậy, bạn vẫn có phước báo, nhưng phước này không viên măn, chẳng phải là không có phước báo. Nhân quả trong ấy rất phức tạp, chẳng dễ giảng cho rơ được, chư vị phải học nhiều, đọc kinh điển nhiều, suy nghĩ thêm, dần dần bạn sẽ khai ngộ, bạn sẽ hiểu được, biết ḿnh nên làm thế nào để tu phước. Làm cho ḿnh đời nào kiếp nào cũng thật sự được hạnh phúc mỹ măn, đời sống vật chất chẳng thiếu thốn, không thiếu tức là có phước báo, không cần nhiều quá; thông minh trí huệ, khoẻ mạnh sống lâu, đời sau có thể có hoàn cảnh sinh sống tốt hơn. Tây phương Cực Lạc thế giới thật sự là hoàn cảnh sinh hoạt rốt ráo viên măn. Chúng ta hiểu rồi, biết rồi th́ trong đời này nhất định phải dốc hết tâm, hết sức để làm việc này cho bằng được. [Ngoài việc] cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới ra, những việc khác đều có thể buông bỏ, trong đời này chúng ta tu học, nhân duyên quả báo mới có thể đạt đến viên măn.
Hôm nay đă hết giờ, chúng ta giảng
đến đây thôi.
Tập 20 (Số 14-12-20)
Xin mở kinh,
quyển trung, trang 33, xem kinh văn bắt đầu
từ hàng cuối:
Nhược
hữu nữ nhân yếm nữ nhân thân, tận tâm cúng
dường Địa Tạng Bồ Tát họa
tượng, cập thổ thạch giao tất
đồng thiết đẳng tượng. Như
thị nhật nhật bất thoái thường dĩ hoa
hương, ẩm thực, y phục, tăng thải, tràng
phan, tiền bảo vật đẳng cúng dường.
Nếu có người nữ nào nhàm chán
thân người nữ, hết ḷng cúng dường
tượng vẽ của Địa Tạng Bồ Tát,
cùng những tượng bằng đất, đá, keo,
sơn, đồng, sắt, v.v.., ngày ngày như thế không
thoái chuyển; lại thường đem hoa, hương,
đồ ăn, thức uống, quần áo, gấm lụa,
tràng phan, tiền bạc, báu vật, v.v.. cúng dường.
Chúng ta đọc
tiếp cũng được.
Thị
thiện nữ nhân tận thử nhất báo nữ thân bá
thiên vạn kiếp cánh bất sanh hữu nữ nhân
thế giới, hà huống phục thọ.
Th́ người thiện nữ đó sau
khi măn một báo thân nữ hiện tại, trải qua
trăm ngàn muôn kiếp c̣n không sanh vào thế giới có
người nữ, huống chi là thọ lại [nữ
thân].
Đoạn này nói về việc chuyển thân nữ. Việc này xă hội hiện nay khác với xă hội thời xưa, xă hội cổ xưa ở Trung Quốc, ở Ấn Độ, có thể ở những nước khác cũng giống như vậy, địa vị của phụ nữ trong xă hội tương đối thấp, đó gọi là