Ḥa
thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông
Học Hội Tân Gia Ba 5-1998
Tập 23 (Số 14-12-23)
Xin mở cuốn
Khoa Chú quyển trung, trang 49, xin xem kinh văn:
Hà huống thiện nam tử, thiện nữ nhân tự thư thử kinh, hoặc giáo nhân thư, hoặc tự tố họa Bồ Tát h́nh tượng, năi chí giáo nhân tố họa, sở hữu quả báo tất hoạch đại lợi
Huống chi là người thiện nam,
người thiện nữ tự biên chép kinh này, hoặc
bảo người biên chép, hoặc tự ḿnh đắp
vẽ h́nh tượng của Bồ Tát, cho đến
bảo người khác đắp vẽ, th́ quả báo mà
người đó được ắt sẽ có lợi
ích lớn.
Phía trước
nói về người thân, quyến thuộc, bạn bè
trước lúc họ lâm chung, dùng tài vật của họ,
thay họ tu phước, họ sẽ được phước
báo vô cùng thù thắng. Nếu
lúc ḿnh c̣n khỏe mạnh có thể tu phước báo cho
chính ḿnh, vậy th́ quả báo đương nhiên càng thù
thắng, đây nói về Lư này.
‘Huống chi người thiện nam, người
thiện nữ’, ‘thư’ là viết, chép, thời xưa
kỹ thuật ấn loát c̣n chưa phát minh, hơn phân
nửa kinh sách và h́nh tượng Phật, Bồ Tát
đều được chép và vẽ. Chép một bộ kinh, th́ thế
gian có thêm một bộ kinh điển, có thể v́ chúng
sanh làm tăng thượng duyên cho Phật pháp, cho nên công
đức này rất lớn.
Đức Phật chẳng c̣n tại thế,
Phật pháp có thể trụ thế lâu dài th́ nhất định
phải nhờ kinh điển, kinh điển phải có
người hộ tŕ, lưu thông; công đức lưu
thông kinh điển, hộ tŕ Phật pháp trong thế gian
và xuất thế gian đích thật là hạng
nhất. V́ chỉ có Phật
pháp mới có thể làm cho chúng sanh giác ngộ, có thể làm
cho chúng sanh phá mê, phá mê khai ngộ mới có thể
được vô lượng phước báo. Đức Phật thành thật
nói với chúng ta, phước báo chân thật của
hết thảy chúng sanh vốn đă có sẵn trong tự
tánh, nhưng nếu bạn không giác ngộ th́ tự tánh
bạn bị che lấp. Tuy có
phước báo, cũng giống như kho tàng vậy,
ẩn kín trong núi sâu, chôn vùi dưới ḷng đất, tuy
có nhưng bạn chẳng dùng được. Nhà của bạn xây trên mỏ
vàng, phía dưới là mỏ vàng vô tận, nhưng bạn
chẳng lấy dùng mà vẫn phải chịu quả báo
nghèo khổ, bạn chẳng thọ dụng
được. Cho nên Phật
pháp dạy bạn khai trí huệ, khai phát kho tàng trong tự
tánh của bạn, phước báo ấy chẳng cùng
tận.
Phật pháp
dạy bạn tu phước, duyên do của việc tu
phước là ǵ? Do bạn c̣n
chưa kiến tánh. Khi chưa
kiến tánh, nếu muốn hưởng phước báo th́
phải làm sao? Phải nhờ
‘tu’. Phước nhờ ‘tu’ có
được chẳng phải của tự tánh,
[phước trong] tự tánh mới chẳng cùng tận. Như chúng ta thấy cơi Cực
Lạc nói trong kinh Tịnh Độ, đó là phước
báo của tự tánh. Kinh Hoa
Nghiêm nói đến Hoa Tạng thế giới của
đức Phật Tỳ Lô Giá Na cũng là phước báo
của tự tánh.
Tu phước
trong nhà Phật là thù thắng nhất nhưng chúng ta
phải có trí huệ, biết rơ.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Thế Tôn nói thời Mạt Pháp
chúng ta, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông
Hằng, đây là để nhắc nhở chúng ta, trong
thời kỳ này có Phật pháp giả, có Phật pháp giả
mạo. Trồng phước
trong Phật pháp giả th́ khá khó khăn. Không phải là nói không có, trên lư
luận th́ vẫn có! Nhưng
bạn chẳng thọ dụng được. Chỉ gieo trồng hạt
giống trong A Lại Da thức, đến lúc nào mới
có thể hưởng thọ được, quá khó. Trong kinh có thí dụ, vô
lượng kiếp sau mới có thể hưởng thọ
được. Nếu chúng ta
trồng phước, ngay hiện giờ liền có thể
hưởng thọ, bất luận là chúng xuất gia,
tại gia, tu hành chân chánh, cúng dường [họ th́ chúng
ta] liền có phước. Cho
nên mọi người cũng đừng có thành kiến,
nhất định đối với chúng xuất gia th́
chúng ta mới cung kính, c̣n chúng tại gia th́ thua một
bậc, thế gian thường có phân biệt sai lầm
như vậy. Nhất
định phải hiểu, trong nhóm đồng tu tại
gia cũng có người tu hành rất nghiêm túc, chư
Phật, Bồ Tát thị hiện thân phận tại gia
cũng rất nhiều, nhất định phải
hiểu đạo lư này. Phàm
những người tốt, người thiện,
người hiền có sức ảnh hưởng nhất
định đối với xă hội, địa
phương, phong tục, giáo hóa, chúng ta đều nên cúng
dường, nên học theo họ, như vậy mới
đúng.
Tự ḿnh chịu
chép kinh, hiện nay chẳng cần chép kinh, hiện nay
kỹ thuật ấn loát phát triển, khoa học kỹ
thuật phát triển th́ in kinh là được
rồi. Chúng ta lựa bản
in nào tốt, bản chú giải tốt, rồi ấn loát
lưu thông với số lượng nhiều, nên hiện
nay tu phước đích thật tiện lợi hơn
người xưa rất nhiều. Người hiện nay tu phước
chẳng đuợc quả báo bằng người xưa,
đó là v́ nguyên nhân khác. Nguyên
nhân đó là ǵ? Tâm địa
chẳng kiền thành, chẳng cung kính, chẳng khẩn
thiết, làm th́ làm nhiều hơn người đời
xưa, phước th́ được ít hơn
người xưa, đây chính là lời dạy của
Ấn Quang pháp sư: “Có một phần thành kính th́
được một phần lợi ích, mười
phần thành kính th́ được mười phần
lợi ích”. Chuyện
của người hiện nay chúng ta làm vượt
trội hơn người xưa không chỉ gấp
trăm lần, ngàn lần, nhưng chẳng
được phước bằng người
xưa. Đó là v́ người
xưa có một trăm phần thành kính, hiện nay chúng ta
chỉ có một, hai phần thành kính, do đó phải
hiểu đạo lư này.
Nếu chúng ta có tâm thành kính giống như
người đời xưa, hiện nay tu phước
chắc chắn sẽ vượt trội người
xưa trăm lần, ngàn lần, sẽ được
phước báo gấp trăm lần, ngàn lần, điều
này không thể không biết.
Cho nên [chúng ta] có rất nhiều cơ hội
trước mặt mà bỏ lỡ, thiệt là đáng
tiếc! Đây là nói về
việc lưu thông kinh điển.
Phía dưới là
việc đúc tạo tượng Phật, hiện nay
đúc h́nh tượng Phật, Bồ Tát rất thuận
tiện, hiện nay có thể làm khuôn, làm khuôn xong có thể
đúc mấy ngàn tượng, mấy vạn tượng
Phật với chi phí thấp.
Hiện nay [mọi việc đều] cơ giới
hóa, thời xưa phải dùng tay nghề khéo léo. C̣n việc vẽ tranh, ấn loát
cũng rất thuận tiện.
Thế nên chúng ta phải biết làm sao có thể theo
kịp những đại đức thời xưa,
phải có tâm chân thành cung kính, tâm khẩn thiết đem
lại lợi ích cho chúng sanh, th́ bạn sẽ
được ích lợi to lớn, ‘sở thọ quả
báo, tất hoạch đại lợi’. Chúng ta tự làm, dạy
người khác làm, nếu tự ḿnh chẳng có nhân duyên,
điều kiện chẳng đủ th́ chúng ta khuyên
người khác làm cũng được lợi ích
rất lớn.
Chúng ta coi Chú
Giải trang 50, hàng thứ nhất, Thanh Liên pháp sư
dẫn chứng một đoạn trong kinh Niết Bàn,
đoạn này rất quan trọng!
Tôi đọc một lần, mọi người hăy
nghe. Kinh Niết Bàn nói: “Ư ác thế trung, thư
tả kinh quyển’ (Trong đời ác, biên chép kinh), chúng
ta hiện nay nói chuyện in kinh, ‘diệc
khuyến tha nhân lịnh đắc thư tả, cụ túc
năng giải, tận kỳ nghĩa vị’ (cũng khuyên
kẻ khác biên chép, đầy đủ có thể hiểu
rơ tận cùng nghĩa vị), không những tự ḿnh
lưu thông kinh sách, đối với ư tứ nói trong kinh
sách cũng có thể thông đạt, có thể hiểu rơ,
đó là chép kinh. ‘Tố
họa h́nh tượng’, phía sau nói về tạo
tượng, tạo tượng bằng cách nặn
cũng được, bằng cách vẽ cũng
được. Trong kinh
Tạo Tượng dạy ‘Tạo h́nh tượng
Phật, Bồ Tát, phước ấy vô lượng, vô
cùng tận, chẳng thể tính đếm’. Hai đoạn nhỏ này
đều là đoạn trích trong kinh, quả báo,
phước đức thật sự là vô lượng vô
biên. Trong kinh nói ‘cụ túc năng
giải, tận kỳ nghĩa vị’, hai câu này rất quan
trọng, khi bạn thật sự hiểu rơ đạo lư
này, hiểu rơ sự thật quả báo th́ bạn mới
chịu làm hết ḷng, dùng tâm chân thành cung kính mà làm, chẳng
hoài nghi.
Phật pháp trong xă
hội hiện nay đích thật đă suy thoái, tại sao
lại suy thoái? Chẳng có
thiện tri thức răn dạy, tuy kinh điển
lưu thông rất nhiều, chẳng có người
giảng giải. Bạn
chỉ đọc tụng, chẳng hiểu rơ, họ
cũng hiểu được tạo tượng rất
tốt, cũng phát tâm tạo tượng, nhưng khi
gặp một số ác tri thức nói: ‘Bạn làm như
vậy là mê tín, làm như vậy chẳng có công
đức’, nghe xong th́ người ấy rất dễ
thoái tâm. Nếu ác duyên này
rất rộng lớn, gặp được một
người nói như vậy, gặp hai người
cũng nói như vậy, gặp bốn năm người
cũng nói như vậy th́ ḷng tin của người
đó sẽ bị lay chuyển.
Có thể nào gặp nhiều người cùng nói
giống như vậy không?
Rất có thể.
Đức Phật nói [đời Mạt pháp] ‘tà
sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng’, bạn
gặp mười người, tám người cũng
đâu có ǵ lạ. Gặp
được một trăm, một ngàn người
đều nói như vậy th́ bạn phải làm sao? Đến lúc ấy rốt
cuộc chúng ta tin lời đức Phật nói hay tin
lời mọi người?
Nhất định phải hiểu nghĩa kinh,
việc này rất quan trọng!
Cho nên chúng ta hiểu rồi, chúng ta có nghĩa vụ
tuyên dương, có nghĩa vụ đem ư nghĩa chân
thật trong kinh Phật, chẳng sợ phiền toái mà
giảng giải cho người ta nghe. Giúp người giác ngộ,
củng cố ḷng tin, tâm nguyện của họ, thành
tựu cho phước đức lợi ích của họ,
đây là v́ muốn cho họ tốt.
Trong Phật pháp
hết thảy đều v́ chúng sanh, quyết chẳng v́
ḿnh. Chư Phật, Bồ Tát
tuyệt chẳng có thành kiến, tuyệt chẳng có ư
tứ về ḿnh, đức Phật giảng hết
thảy kinh có ư tứ của ḿnh trong đó không? Chẳng có. Đức Phật Thích Ca
thuyết pháp bốn mươi chín năm, chẳng có câu
nào, chữ nào là ư tứ của riêng ḿnh. Nếu biết là ư tứ của
riêng ḿnh th́ đó là phàm phu, phàm phu mới có riêng ḿnh, riêng
ḿnh là ngă chấp cứng chắc.
Ngă chấp chẳng phá được th́ vẫn là
phàm phu lục đạo luân hồi, họ làm sao có thể
thuyết pháp? Đức
Phật đoạn dứt hết cả hai Ngă Chấp và
Pháp Chấp, ngài làm ǵ có Ta, làm ǵ có ư về ‘Ta’. Đă chẳng có Ta, chẳng có ư
tứ của Ta, kinh Phật được nói như
thế nào? Nói thật ra, vừa
mở cuốn kinh câu thứ nhất liền nói với
bạn ‘Như thị ngă văn’, ư của bốn chữ
này là tự tánh tỏ lộ ra, vậy mới gọi là
‘như thị’. ‘Như
thị’ là từ chân như tự tánh tuôn trào ra, chân như
tự tánh chúng sanh và Phật b́nh đẳng. Kinh Phật từ tự tánh tuôn
trào ra, nói cách khác, cũng tuôn trào từ tự tánh của
chúng ta, là sự việc như vậy. Do đó nó chân thật, chẳng
hư dối, chúng ta phải hiểu đạo lư này. Tương lai khi chúng ta minh tâm
kiến tánh, Phật pháp thường nói ‘chứng’, trong
‘tín, giải, hành, chứng’, bạn ‘chứng’ cái ǵ? Chứng minh hết thảy kinh
Phật nói đều từ tự tánh của ḿnh tuôn trào
ra, vậy gọi là chứng quả. Tự tánh của Phật và
tự tánh của ḿnh chẳng khác, là một chẳng
phải hai, chứng minh việc này. Sanh Phật bất nhị, chúng
sanh và Phật chẳng hai, đều là một.
Đức Phật
đă kiến tánh, chúng ta hiện nay chưa kiến tánh,
chúng ta nghe lời Phật dạy tức là thuận theo
tự tánh, tuyệt chẳng phải bị đức Phật
Thích Ca xỏ mũi dẫn đi.
Bạn y giáo phụng hành là tánh đức của
tự tánh hiển lộ, lời răn dạy của
đức Phật mới đạt đến mức cao
minh chân chánh, thật sự đạt đến chí
thiện, viên măn. Trong quá tŕnh
học tập, nhất định phải hiểu
‘hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức’, đây
là lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta, đây là
tổng cương lănh, nguyên tắc chung của sự tu
hành. Làm sao có thể làm
việc này đến chí thiện, viên măn. Chí thiện tuyệt đối
chẳng trái nghịch tánh đức, chẳng trái
nghịch Lư gọi là khế lư, như vậy là chí
thiện. Viên măn là khế
cơ, cơ là đại chúng hiện tiền. Hôm qua tôi triệu tập hết
thảy những pháp sư lănh chúng, tôi nói những
đạo lư này, làm thế nào làm cho Niệm Phật
Đường đạt đến mức chí thiện
rốt ráo, nhất định phải biết khế lư,
khế cơ; khế lư nghĩa là chẳng trái nghịch
kinh giáo, noi theo nguyên lư, nguyên tắc, phương pháp trong
kinh giáo để tu học; khế cơ là nhất
định phải làm cho đại chúng trong Niệm
Phật Đường niệm đến mức sanh tâm
hoan hỷ, niệm được đúng như pháp. Nhất định để cho
họ có thể đè nén phiền năo, chúng ta chẳng nói
‘diệt’, khi ở trong Niệm Phật Đường
nhất định phải chế ngự được phiền năo, phải tương
ứng với nhất tâm.
Nếu chẳng đạt được cảnh
giới nhất tâm th́ tối thiểu cũng phải
được công phu thành phiến. Thời gian trong Niệm Phật
Đường chẳng có vọng niệm, trong tâm chỉ
có một câu ‘A Di Đà Phật’, ‘nhớ Phật,
niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất
định thấy Phật’.
Cho nên phải
chăm lo cho mỗi người trong đại chúng
niệm Phật, phải thường chăm sóc họ, nên
thường hỏi họ: ‘Bạn có ư kiến ǵ
đối với Niệm Phật Đường
không? Có cảm thấy chỗ
nào chẳng hợp lư không?’ Xin
mọi người cho ư kiến, chúng ta hết ḷng cải
tiến. Mỗi ngày phải
t́m ra khuyết điểm của ḿnh, phải sửa
đổi lỗi lầm, một ngày không cải tiến
là một ngày không tiến bộ.
Thường thường th́ chúng ta chẳng nh́n
thấy lỗi lầm của ḿnh, nhưng người khác
nh́n thấy. Người khác
thấy nhưng chẳng nói ra th́ phải làm sao? Ḿnh phải đi hỏi. Chúng ta phải hoan hỷ nghe
lỗi lầm, mạnh dạn sửa lỗi, đây là
nguyên tắc tu hành đức Phật dạy cho chúng ta, là
nguyên tắc quan trọng, đây gọi là pháp môn sám
hối, pháp môn tinh tấn.
Biết lỗi phải sửa, ưa thích
người ta cho ư kiến, nghe lời đề nghị,
phê b́nh của kẻ khác chúng ta phải hết ḷng phản
tỉnh, sửa sai đổi mới, đạo tràng
như vậy mới có tiền đồ, đạo tràng
này mới trở thành đạo tràng mô phạm,
điển h́nh cho thế gian, trong đó chúng ta mới có
thành tựu chân chánh.
Điểm này quan trọng phi thường! Chẳng có người nào
thật sự thành công trong thế gian, xuất thế gian
mà chẳng tu học như vậy.
Cho dù họ có thành tựu nhưng chẳng nghe lời
đề nghị của kẻ khác, cố chấp thành
kiến của ḿnh th́ sự nghiệp của họ làm
lớn đến đâu cũng chẳng kéo dài
được. Chỉ có tôn
trọng ư kiến của đại chúng, sự nghiệp
của họ mới có thể kéo dài, mới vĩnh viễn
chẳng thất bại. Thánh
nhân thế gian và xuất thế gian đều dạy chúng
ta đạo lư này, chúng ta phải ghi nhớ, tiếp
nhận. Xem tiếp kinh
văn:
Thị cố Phổ Quảng, nhược kiến hữu nhân độc tụng thị kinh năi chí nhất niệm tán thán thị kinh, hoặc cung kính giả, nhữ tu bá thiên phương tiện khuyến thị đẳng nhân, cần tâm mạc thoái, năng đắc vị lai hiện tại thiên vạn ức bất khả tư nghị công đức.
V́ thế,
Phổ Quảng, nếu thấy có người đọc
tụng kinh này, cho đến có một niệm tán thán kinh
này hoặc tỏ ḷng cung kính, th́ ông phải dùng trăm ngàn
phương tiện khuyên người đó nên phát tâm siêng
năng, đừng thoái thất, th́ sẽ được
ngàn vạn ức công đức không thể nghĩ bàn
ở hiện tại và vị lai.
Đây là khuyến tu. Khi thấy người tụng kinh, thấy người cung kính Tam Bảo, nhất định phải khuyến khích họ, khen ngợi họ. Sự khuyến khích, khen ngợi này không những có lợi ích rất lớn cho họ, trên thực tế cũng là răn dạy một số người vô tri. Họ thấy người này khen ngợi việc đọc kinh, khuyến khích đọc kinh, có thể khải phát ḷng tin của họ. Cho nên khuyên một người tức là khuyên rất nhiều người, quả báo thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, nên họ mới ‘được ngàn vạn ức công đức chẳng thể nghĩ bàn’. Đây là như chúng ta thường nói ‘Một phen lọt vào tai, vĩnh viễn thành hạt giống đạo’, công đức chẳng thể nghĩ bàn là nói từ chỗ này. Nếu ba thứ thiện căn, phước đức, nhân duyên của người ấy, cả ba đều đầy đủ th́ đời này người ấy sẽ thành tựu, đây là chuyện tương đối chẳng dễ. Nhưng không phải là chẳng có, trong đời mạt pháp ngũ trược cũng có. Người có thiện căn kém tuy hiện thời chẳng thể được lợi ích, nhưng hạt giống kim cang đă được trồng trong A Lại Da thức, người hiện nay gọi là ghim vào ấn tượng của bạn, ấn tượng của bạn rất sâu đậm, vĩnh viễn sẽ chẳng diệt mất. Tương lai khi gặp duyên, tức là gặp được một số điều kiện [thuận lợi] th́ hạt giống ấy sẽ khởi tác dụng, sẽ có thể giúp bạn tu hành chứng quả.
Hiện
nay chúng ta sợ người ta nói ḿnh mê tín, nói thật ra
chẳng phải chúng ta mê tín, họ mới mê tín. Như thế nào là mê tín? Chưa t́m hiểu rơ ràng chân
tướng sự thật bèn tin tưởng, vậy
gọi là mê tín. Chúng ta là
những người học Phật, chưa t́m hiểu rơ chân tướng sự
thật bèn tin Phật pháp, bèn niệm kinh lạy Phật,
th́ đó là mê tín, chẳng sai ǵ cả! Người ấy nói chúng ta mê tín
th́ người ấy cũng mê tín, tại sao? Người ấy đối
với Phật pháp cũng chưa t́m hiểu rơ ràng, minh
bạch, bèn nói đó là mê tín, do đó họ cũng mê
tín. Cái mê tín của chúng ta có
ích lợi, c̣n mê tín của họ th́ có hại, chẳng có
lợi, nên cả hai đều là mê tín. Khi bạn đă t́m hiểu
Phật pháp rơ ràng rành rẽ, xong rồi bạn nói chúng ta
‘tín’ hay ‘mê tín’, nếu vậy th́ điều bạn nói
mới đúng. Chưa t́m
hiểu rơ ràng bèn nói chúng ta mê tín, tôi cảm thấy họ
mê tín c̣n nhiều hơn, mê tín trên mê tín, chúng ta th́ mê tín
một tầng, họ th́ mê tín hai tầng. Cho nên muốn phê b́nh đúng
đắn th́ bạn nhất định phải t́m
hiểu rơ ràng, nếu bạn chẳng hiểu rơ mà cứ
tùy tiện nói th́ sẽ rất dễ làm mích ḷng, rất
dễ tạo ác báo như trong kinh đă nói. Ác báo h́nh thành như thế
nào? Do ngu si. Ngu si như thế nào? Chưa t́m hiểu rơ ràng bèn nói
bừa, tùy tiện phê b́nh, vậy là không nên, thái độ
học vấn như vậy là sai lầm, chẳng đúng
đắn. Nghe người ta
nói th́ cũng không được, người ta nói có
đáng tin không? Khi nghe
người ta nói, chúng ta phải đi sâu vào, nghiên cứu
để t́m chứng minh.
Giống như chúng ta học Phật vậy, chúng ta
đọc kinh điển của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, chẳng phải nhất loạt thuận theo, nghe
theo ngài, chúng ta ở trong ấy tu học, cầu chứng,
chứng minh lời Phật nói là chân thật, chẳng
phải giả. Đây là
điểm thù thắng của nền giáo học Phật
Đà, đức Phật nói cho bạn, giảng cho bạn
hiểu rơ, tín, giải, hành, chứng. Bạn phải ‘tin’ trước,
sau khi bạn ‘tin’ xong th́ t́m cầu ‘giải’, chỉ ‘tin’
thôi không được, nhất định phải
‘giải’ (hiểu rơ).
‘Giải’ xong, bạn phải cầu ‘chứng’, chứng
minh điều bạn ‘tin’, điều bạn ‘giải’,
đích thật là vốn có trong tự tánh, chẳng
phải đến từ bên ngoài, Phật pháp gọi là
Nội Học, ư nghĩa là như vậy.
‘Cần
tâm mạc thoái’, bốn chữ này là chữ quan trọng
mấu chốt trong đoạn này.
Chúng ta khuyến khích, khuyên một người,
mục đích là ở chỗ này, hy vọng kẻ ấy
dũng mănh tinh tấn, đừng thoái chuyển,
được vậy th́ người ấy nhất định
sẽ thành tựu ngay trong đời này. Trong Chú Giải có một
đoạn trích dẫn kinh văn, trong Chú Giải trang 51
hàng thứ ba, câu cuối cùng. Trong kinh Kiên Ư có một đoạn
“Phật cáo A Nan, kỳ hữu
hảo tâm thiện ư chi nhân, văn Phật minh pháp, nhất
tâm nhi thính, năng nhất nhật khả” (Phật bảo
A Nan, người có tâm tốt, thiện ư ấy, nghe
hiểu pháp của Phật, lắng nghe chăm chú trong
một ngày cũng được), người ấy
có thể nghe một ngày cũng tốt! “Bất năng nhất nhật, bán nhật khả”
(Không thể [nghe] một ngày, [th́ nghe] nửa ngày cũng
được). Đây là
lúc Phật c̣n tại thế, lúc ấy ‘nhất thời’
bằng bốn giờ đồng hồ hiện nay. Ấn Độ thời xưa
chia ban ngày thành ba thời, ban đêm ba thời, ngày đêm
thành sáu thời. Ở đây
nói một thời tức là bốn giờ hiện nay. “Bất
năng nhất thời, bán thời khả”, bán thời
tức là hai tiếng đồng hồ hiện nay. “Bất
năng bán thời, tu du khả”, ‘tu du’ tức là một
thời gian rất ngắn, nghe mười phút, năm phút
cũng được. “Kỳ phước bất
khả lượng” (Phước ấy chẳng thể
tính đếm được), phước báo của
họ chẳng thể tính đếm.
Cuối
cùng ngài kết luận “tạm
thính thượng nhĩ, huống cung kính hồ” (tạm
nghe c̣n được huống chi cung kính nghe), tạm
nghe cũng được phước lớn như
vậy, tại sao phước này lớn như
vậy? V́ một người
trong lục đạo luân hồi được thân
người rất khó, thân người rất khó
được.
Được thân người mà được nghe
Phật pháp lại càng khó, có thể là trong vô số
kiếp bạn mới có cơ hội nghe được
vài câu Phật pháp, vài câu Phật pháp này lọt vào A Lại
Da thức, tương lai sẽ là nhân duyên được
độ, cho nên phước báo chẳng thể tính
đếm nổi. Ngày nay chúng
ta tạo nhân duyên cho người khác có được
hạt giống Phật, bạn phải biết quả báo
thù thắng cỡ nào! Trong bất
kỳ trường hợp nào, [ví như] trường
hợp có nhiều người, chúng ta cúi đầu,
chắp tay, niệm một câu A Di Đà Phật th́ có
biết bao nhiêu người nh́n thấy, nghe
được; người thấy, người nghe
đă được gieo hạt giống trong A Lại Da
thức, đó chỉ là trong phút chốc, chúng ta đang
biểu diễn. Mục
đích chúng ta biểu diễn là gieo trồng hạt
giống Kim Cang cho chúng sanh, đó gọi là phát Bồ
Đề tâm, hành Bồ Tát đạo. Bất luận người
thấy, người nghe tin hay không th́ hạt giống
đă được gieo rồi, như Phật đă nói
“phước ấy chẳng thể tính đếm
nổi”. Chúng ta thường
thường tu phước, tạo phước, nhưng
mỗi ngày cũng tạo tội nghiệp. Chúng ta phải so sánh tội và
phước, mỗi ngày tạo phước nhiều hay
tội nhiều? Tạo
tội nghiệp sẽ bị quả báo cũng chẳng
thể tính đếm nổi, đây là một việc phiền
phức to lớn.
Làm
sao chân chánh giác ngộ, chẳng tạo tội nghiệp,
chuyên tạo phước báo th́ tiền đồ chúng ta
sẽ tươi sáng. Nhất
định phải giác ngộ đời người vô
cùng ngắn ngủi, đời người rất
khổ, khổ th́ chúng ta phải cắn răng thật
chặt, phải chịu đựng cho rồi. Chịu khổ cũng không
tạo nghiệp, tuyệt chẳng v́ muốn cải
thiện hoàn cảnh sinh hoạt trước mắt mà
tạo nên các thứ tội nghiệp, trước mắt
nếm được một chút vị ngọt, hậu
quả chẳng thể lường nổi, người
thông minh chẳng làm chuyện khờ dại này. Khổ báo trước mắt là
do đời quá khứ, đời này ḿnh chẳng tu
phước nên phải thọ những quả báo này. Phật pháp dạy rất rơ ràng “Muốn biết nhân đời
trước, những ǵ ḿnh thọ đời này chính là nó”,
những ǵ đời này ḿnh thọ là do ḿnh tạo
đời trước.
Đời trước tu phước, đời này
hưởng phước, đời trước chẳng
tu phước th́ đời này lấy phước ở
đâu mà hưởng?
[Hiểu vậy th́ sẽ] chẳng oán trời,
chẳng trách người. “Muốn biết quả
đời sau, những ǵ ḿnh làm đời này chính là nó”,
những hành vi ḿnh làm đời này là nhân, đời sau
sẽ có quả báo. Nếu
việc ḿnh làm đời này vun trồng phước
lớn, tạo nhân thù thắng, ngay đời này liền
thay đổi hoàn cảnh sinh sống của ḿnh. Liễu Phàm Tứ Huấn là thí
dụ rất rơ ràng, những người có thành tựu
bằng với Viên Liễu Phàm trong Phật pháp chẳng
biết có bao nhiêu mà kể, chẳng có ghi chép nên không
biết được, quá nhiều, quá nhiều. Muốn có thể thay đổi
hoàn cảnh sanh hoạt hiện tiền của chúng ta,
chỉ cần bạn hết ḷng nỗ lực,
đoạn ác tu thiện, phước này là thật, hơn
nữa c̣n lâu dài, là phước báo chân thật. Nếu dùng thủ đoạn
bất chánh để cướp đoạt của
cải bất nghĩa mà được phước, th́
phước ấy là giả, rất ngắn ngủi. Phước hưởng hết
rồi th́ ác báo liền hiện ra, đáng sợ vô cùng.
Bởi vậy nên [chúng ta] nhất định phải t́m hiểu rơ ràng những Lư, Sự này. Đời người rất ngắn ngủi, trong thời gian ngắn tạm này tạo tội nghiệp làm chi! Chẳng đáng tí nào. Thường thường đọc kinh Địa Tạng sẽ có ích lợi, mỗi lần đọc là nhắc ḿnh đề cao cảnh giác, mỗi câu trong ấy đều là lời chân thật, chẳng có câu nào là dọa dẫm người, đe dọa người. Lời Phật dạy câu nào câu nấy đều chân thật, mạng người vô thường, quốc độ mong manh, tại sao không tu phước? Tại sao không nghĩ đến đời sau? Đời sau thời gian dài, đời này thời gian ngắn. Người thông minh phải suy tính cho lâu dài, đừng lo lắng cho thời khắc ngắn tạm trước mắt, bất luận vinh hoa phú quư ǵ hiện nay đều như hoa đàm thoáng hiện, đều chẳng đáng ngưỡng mộ, chẳng đáng truy cầu. Sinh sống thanh bạch, cực khổ một chút mới tốt, thường thường đề cao cảnh giác, thường khởi lên tâm muốn thoát ly, hy vọng thoát ly lục đạo luân hồi. Đoạn này giới thiệu đến đây thôi.
Xem
tiếp đoạn sau ‘mộng mị kiến quỷ’,
đây cũng là chuyện thường xảy ra. Thiên địa quỷ thần có
thật, rất nhiều người đích thân từng
trải qua, lúc tôi c̣n trẻ cũng từng trải qua, làm
sao không tin được!
Chuyện gặp quỷ ở ngoại quốc
cũng rất nhiều, thành phố nào cũng có rất
nhiều ‘nhà ma’, cho nên chuyện này là thật chẳng
giả. Ở tiểu bang
Phục
thứ Phổ Quảng nhược vị lai thế
chư chúng sanh đẳng hoặc mộng hoặc mị,
kiến chư quỷ thần năi cập chư h́nh.
Lại nữa, này Phổ Quảng, nếu những chúng sanh ở đời vị lai, hoặc trong mộng mị, trông thấy các quỷ thần cùng các h́nh bóng khác;
Đủ mọi
thứ h́nh tượng.
Hoặc buồn bă,
hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở,
hoặc hăi hùng, hoặc sợ sệt;
Nói bạn nằm mộng nh́n thấy những h́nh tượng này. Theo cách đức Phật nói, chúng ta có thể thấy “nếu những chúng sanh ở đời vị lai”, lúc đó đức Phật nói đời vị lai tức là đời chúng ta hiện nay. Chúng ta hiện nay, rất nhiều chúng sanh trong mộng mị trông thấy quỷ thần. ‘Mộng’ là mơ hồ, chẳng rơ ràng, ‘mị’ là ngủ. Phàm lúc mơ hồ, chẳng rơ ràng, lúc có, lúc không, cảnh giới ấy đều gọi là cảnh mộng. Trong lúc ngủ, mộng cảnh thường thường xuất hiện, hầu như mỗi người đều có kinh nghiệm này. Nh́n thấy một số quỷ thần, đặc biệt là nh́n thấy người nhà thân quyến đă mất, hoặc mộng thấy những quỷ thần chẳng quen biết, thấy h́nh dáng của họ rất đáng thương, phía sau nói “buồn, khóc, sầu, than, hăi hùng, sợ sệt” trông thấy những h́nh tướng này. Người chẳng học Phật nh́n thấy cảnh giới hăi hùng, sợ sệt nhiều. Sau khi chúng ta học Phật, cảnh giới hăi hùng sợ sệt trong mộng dần dần ít đi, những thứ này thuộc về ác mộng, mộng [có cảnh tượng] khủng khiếp, dễ sợ ít đi, nhưng mộng thấy một số quỷ thần buồn, khóc, sầu, than nhiều, thường thường gặp cảnh giới này khởi lên. Gặp những chuyện này là v́ nguyên nhân ǵ? Đức Phật trong kinh nói với chúng ta, xin xem tiếp kinh văn:
Thử giai thị nhất sanh,
thập sanh, bá sanh, thiên sanh, quá khứ phụ mẫu, nam
nữ, đệ muội, phu thê quyến thuộc, tại
ư ác thú, vị đắc xuất ly, vô xứ hy vọng
phước lực cứu bạt.
Đương cáo túc thế cốt nhục sử tác
phương tiện, nguyện ly ác đạo.
Đây đều là
cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng, quyến
thuộc từ một đời, mười đời,
trăm đời, hay ngàn đời trong quá khứ, c̣n
đang đọa lạc trong ác đạo, chưa
được thoát ra, lại
không trông mong vào phước lực nơi nào để
cứu vớt, nên mới nói với kẻ có t́nh cốt
nhục trong đời trước để họ
tạo phương tiện ḥng thoát khỏi ác đạo.
Phải ghi nhớ họ đến cầu xin bạn giúp đỡ. Nếu bạn chẳng học Phật th́ họ chẳng đến cầu bạn, tại sao? V́ bạn chẳng có khả năng giúp đỡ họ. Hiện nay bạn học Phật, họ biết bạn có khả năng giúp đỡ họ nên họ tới xin bạn. Do đó phàm mộng thấy những cảnh giới này, chúng ta nên niệm Phật hồi hướng cho họ, niệm kinh hồi hướng cho họ. Bạn niệm kinh Địa Tạng cũng rất tốt, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát cũng rất tốt. Niệm kinh Vô Lượng Thọ, niệm kinh A Di Đà, niệm danh hiệu A Di Đà Phật cũng tốt, đây là pháp môn chính của chúng ta, sức mạnh của pháp môn chính thù thắng phi thường. Tại sao vậy? Mỗi ngày tụng, mỗi ngày niệm, chúng ta đặc biệt hồi hướng cho họ. Họ đến xin giúp đỡ, cầu cứu.
Trong ‘Ảnh Trần
Hồi Ức Lục’ chúng ta thấy có một câu chuyện
do Đàm Hư pháp sư kể, gọi là ‘Tám Năm Đóng
Cửa Đọc Lăng Nghiêm’, bạn hăy coi đoạn này.
Lúc đó họ đều là cư sĩ tại gia,
tiếp xúc đến Phật pháp, biết Phật pháp hay,
vô cùng hâm mộ kinh Lăng Nghiêm, vài người chí
đồng đạo hiệp hợp lại mỗi ngày
cùng nhau nghiên cứu, mỗi ngày đọc tụng. Cũng v́ cơ duyên chẳng thành
thục, phương bắc rất ít người giảng
kinh, cho nên chỉ có thể kiếm vài người cùng nhau
nghiên cứu, y theo phương pháp này tu học. Nhưng họ cũng rất
chịu khó, mấy người tụ lại cùng nhau
thảo luận nghiên cứu học tập, và có thể duy
tŕ được tám năm, rất hiếm có! Trải qua một thời gian dài
như vậy, ít nhiều cũng có một ít công phu;
một chút công phu này vô cùng khó được, rất hy
hữu, thế nên cảm động quỷ thần
đến cầu siêu độ.
Cụ Đàm không
kể chuyện của chính ḿnh mà kể chuyện của
một người bạn của cụ; họ hùn vốn
mở một tiệm thuốc nhỏ để duy tŕ
đời sống. Buổi
trưa lúc ít khách, họ ngủ gục ở quầy. Một người bạn
của cụ ngủ gục và nh́n thấy hai người
đi vào, đây là chuyện ông đó kể lại cho
Đàm Hư lăo pháp sư nghe sau khi tỉnh dậy. Ông ấy nói hai người đi
vào là oán thân chủ nợ đời trước, v́ xích
mích tiền bạc nên phải thưa kiện; [kết
quả là] ông thắng kiện nên hai người kia
thắt cổ tự tử.
V́ chuyện này nên ông ấy cũng thường
cảm thấy buồn bực và hối hận; lúc đ̣i
nợ đă làm cho hai người này phải chết, khi
thấy hai người này đi vào tiệm ông cứ
tưởng là họ đến kiếm chuyện, sợ
họ lại để trả thù.
Thấy vẻ mặt hai người này rất ḥa
hoăn, ông cũng hơi yên bụng và hỏi: “Quư vị
đến đây làm ǵ?”.
Họ nói: “Đến cầu xin siêu độ”. Lúc đó ông mới yên tâm, biết
họ chẳng phải đến gây phiền phức mà
đến xin siêu độ. Ông
nói: “Được, làm sao siêu độ?”. Họ nói: “Chỉ cần ông
đồng ư là được”.
“Vậy th́ được, tôi đồng ư”. Bèn thấy hai linh quỷ này
đạp lên đầu gối, lên vai ông rồi bay lên
trời, chỉ cần đồng ư siêu độ là
được. Bạn
nghĩ xem dựa vào sức mạnh ǵ? Dựa vào việc đóng cửa
tám năm đọc Lăng Nghiêm.
Hai người này đi khỏi chẳng bao lâu
lại có hai người khác đến, là một phụ nữ
và một đứa trẻ, nh́n lại th́ ra đó là
vợ và con đă qua đời của ông. Ông hỏi: “Đến làm ǵ?”. [Họ đáp] “Để xin siêu độ”. Cũng giống như khi nảy:
“Tôi đồng ư siêu độ”.
Sau đó hai linh quỷ đó đạp lên đầu
gối, lên vai rồi bay lên trời, chẳng cần nghi
thức ǵ cả. Người
siêu độ phải có công phu thật sự mới
được, nếu không có công phu, dù làm nghi thức ǵ
cũng chẳng có tác dụng, nhất định phải
có công phu tu hành chân chánh. Nói cách
khác, ban đêm mộng thấy những quỷ thần này
đến xin bạn siêu độ, đó là chứng minh
bạn cũng có một chút công phu, nếu bạn chẳng
có công phu th́ họ chẳng đến.
Do đó lúc chúng ta
tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật, thậm chí khi
giảng kinh trên giảng đài, khi gần xong chúng ta
đều hồi hướng, hồi hướng
nhất định phải dùng tâm chân thành ‘trên đền
bốn ân nặng, dưới độ ba đường
khổ’. Làm thế nào cho công
đức hồi hướng được viên măn? Phải làm đến có hiệu
quả thật sự? Cũng
là do một tâm chân thành. Lúc
thường ngày chúng ta tu học, từng ly từng tí công
phu đều v́ chúng sanh, chẳng v́ ḿnh th́ công đức
hồi hướng sẽ viên măn.
Hôm nay tôi mở cuốn kinh ra, tụng kinh này là v́
ai? V́ hết thảy chúng
sanh. Ngày hôm nay tôi bước
vào Niệm Phật Đường niệm câu A Di Đà
Phật này, như nói trong kinh, niệm vài phút cũng
được, vài giờ cũng vậy, niệm nửa
ngày, một ngày, hai ngày hai đêm, tôi niệm v́ ai? V́ hết thảy chúng sanh mà
niệm, công đức hồi hướng ấy sẽ
viên măn. Ngày nay chúng ta học
Kinh Giáo, phát tâm giảng kinh thuyết pháp là v́ ai? V́ hết thảy chúng sanh. Nếu nói phát tâm là v́ ḿnh th́
lợi ích rất nhỏ, công đức chẳng lớn;
v́ hết thảy chúng sanh, v́ Phật pháp trụ thế lâu
dài, công đức sẽ chẳng thể nghĩ bàn! Trong kinh đều dạy
những công đức như vậy.
Quư vị nhất định phải
biết v́ chính ḿnh th́ công đức rất nhỏ, cùng làm
một việc nếu v́ chúng sanh, v́ Phật pháp th́ công
đức lợi ích vô lượng vô biên. Bởi lẽ chúng sanh vô biên,
Phật pháp vô biên nên công đức lợi ích của
bạn sẽ vô biên. Chúng ta
hiểu rơ đạo lư này, hiểu rơ chân tướng
sự thật này th́ tại sao lại vẽ cái ṿng[1]
đó nhỏ như vậy, chỉ v́ ḿnh, v́ nhà ḿnh, v́
đoàn thể của ḿnh. Cùng
làm một việc như nhau nhưng được
phước nhỏ, công đức nhỏ, lợi ích
nhỏ. Người ta cũng
làm việc như vậy, tại sao lại được
vô lượng vô biên công đức, lợi ích? [Khác nhau] chỉ trong ṿng một
niệm. Phật pháp nói
“một niệm tương ứng”, niệm này có
tương ứng hay không?
Tương ứng với tự tánh, tương
ứng với chân tâm; tự tánh tức là pháp giới, chân
tâm tức là pháp giới.
Đức Phật đă nói rất nhiều rồi,
chúng ta nhất định phải thấu hiểu,
phải ghi nhớ, y giáo phụng hành. Sau này gặp trường hợp
giống như vậy, có một số tín đồ
đến gặp chúng ta, nói với chúng ta những
chuyện này. Hăy kể lại
cho họ biết [những chuyện] kinh Địa
Tạng có nói đến, [khuyên họ] về nhà tụng
kinh, niệm Phật hồi hướng cho [những
quỷ thần ấy].
C̣n có những người chẳng tin
Phật, hoặc vừa mới tiếp xúc đến
Phật pháp cũng nằm mộng thấy quỷ thần
đến t́m họ. Lúc
trước tôi có một người bạn, vợ ông liên
tục nằm mộng ba lần trong một tuần nên bà
ấy rất thắc mắc.
Bà mộng thấy ǵ?
Mộng thấy một bà hàng xóm vừa qua đời
khoảng nửa năm.
Nằm mộng [thấy bà hàng xóm] ba lần xin
tiền, nhờ giúp đỡ, nói đời sống bà
rất khốn khổ. Trong
mộng cũng chẳng nghĩ là bà hàng xóm này đă qua
đời. Bà cảm thấy
kỳ lạ và nói: “Bà khổ th́ cũng đâu cần t́m
tôi, bà hăy hỏi chồng bà xem sao”.
Bà hàng xóm nói: “Chồng tôi không có tiền, xin bà giúp
cho”. Trong ṿng một tuần
nằm mộng thấy ba lần, bà ấy đến t́m
tôi, tôi cũng quen thân với bà.
Tôi suy nghĩ và nói: “Ồ! Họ là người Cơ
Đốc Giáo, chẳng có tiền”. Tín đồ Cơ Đốc Giáo
không đốt ‘giấy tiền’ (tiền âm phủ,
đồ mă); tôi nói tiếp: “Không sao đâu, bà hăy
đốt một số giấy tiền cho bà ấy
đi”. Bà ta [sực nhớ và]
hiểu được, sau khi đốt một số
‘giấy tiền’ th́ chẳng nằm mộng [thấy bà
hàng xóm nữa]. Tín đồ
Cơ Đốc Giáo chẳng đốt giấy tiền,
bà hàng xóm đang ở cơi quỷ, đốt giấy
tiền cũng có thể dùng ở cơi quỷ. Cho nên việc đốt ‘giấy
tiền’ này, Ấn Quang lăo pháp sư có nói trong Văn Sao,
đối với việc này ngài chẳng tán thành nhưng
cũng chẳng phản đối, tại sao không tán
thành? Trong Phật pháp chẳng
có việc này. Trong Phật pháp
nói đến siêu độ chỉ là niệm danh hiệu
Phật, Bồ Tát, tụng kinh hồi hướng cho
họ. Nhưng cũng không
phản đối, người mất luân hồi đi
vào sáu nẻo, chỉ có cơi quỷ mới dùng ‘giấy
tiền’ được, những cơi khác chẳng dùng
được. Nếu kẻ
ấy sanh vào cơi quỷ, họ cần có ‘giấy tiền’,
bạn không cho họ đốt th́ không phải đă
cắt đứt nguồn tiền tài của họ rồi
sao? Việc này cũng phiền
phức lắm v́ họ sẽ hận bạn, thế nên
ngài chẳng phản đối.
Chúng ta học thái độ này của lăo pháp sư
cũng tốt, không đề xướng nhưng cũng
không phản đối.
Đây là phong tục tập quán trong dân gian, chẳng
liên quan ǵ đến Phật pháp, nếu thật sự
học Phật th́ chẳng cần những thứ này.
Thế nên biết
được cảnh trong mộng, mộng thấy
những quỷ thần này có quan hệ đến ḿnh. Nếu họ [có duyên với ḿnh]
trong đời quá khứ, mười đời, trăm
đời, ngàn đời th́ đương nhiên chúng ta
chẳng nhận biết được. Tuy chẳng nhận biết, các
vị quỷ thần này biết họ có duyên phận
với chúng ta, do nhân duyên đời trước họ
sẽ t́m bạn để xin giúp đỡ. Thọ mạng của quỷ dài,
thọ mạng con người ngắn, trong kinh đức
Phật nói một ngày trong cơi quỷ bằng một tháng
ở cơi người. Cho nên
người ta tế lễ quỷ thần ngày mồng
một, mười lăm đúng lúc họ ăn bữa
trưa, bữa chiều, một ngày của họ bằng
một tháng của chúng ta, phải hiểu đạo lư
này. Vả lại thọ
mạng cơi ngạ quỷ đại khái cũng trên một
ngàn tuổi, thọ mạng rất dài. Nếu cũng tính ba trăm sáu
mươi ngày là một năm, vậy th́ một ngàn
tuổi, bạn phải biết một ngày của họ
bằng một tháng của cơi người, cho nên lúc ông
Chương Thái Viêm làm phán quan cho Đông Nhạc
Đại Đế, [ông Viêm] đă gặp các ông Hàn Dũ,
Liễu Tông Nguyên trong cơi quỷ, ngay cả những
người mất thời triều Hán, ông cũng gặp
họ trong cơi quỷ. Từ
triều Hán đến nay ít nhất là hai ngàn năm,
thọ mạng của quỷ dài hơn con người quá
nhiều, thật vậy, trong lục đạo th́ thọ
mạng con người ngắn.
Có lúc th́ thọ mạng của con người cũng
dài, chúng ta sanh nhằm lúc thọ mạng con người
ngắn, trong kinh Phật nói thọ mạng con người
dài nhất là tám vạn bốn ngàn tuổi. Chúng ta đang trong kiếp
giảm, phước báo rất nhỏ, thọ mạng dài
th́ phước báo lớn, thọ mạng ngắn th́
phước báo nhỏ. Tuy
phước nhỏ nhưng nếu chịu tu, cũng
rất dễ chẳng khó, duyên tu phước lại thù
thắng hơn. Dùng thời
gian ngắn để tu phước báo to lớn, đây là
người thông minh, có trí huệ.
Thế nên chúng ta phải ghi nhớ đoạn kinh
văn này, đây đều là cha mẹ, thân bằng
quyến thuộc đời quá khứ có nhân duyên
đến nhờ chúng ta giúp đỡ. Phía sau là phương pháp giúp
đỡ:
Phổ
Quảng, nhữ dĩ thần lực khiển thị
quyến thuộc, lịnh đối chư Phật,
Bồ Tát tượng tiền, chí tâm tự độc
thử kinh, hoặc thỉnh nhân độc, kỳ số,
tam biến hoặc thất biến.
Này Phổ Quảng,
ông nên dùng thần lực khiến cho những quyến
thuộc đó đối trước tượng của
chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc kinh này,
hoặc thỉnh người khác đọc, đủ
số ba biến hoặc bảy biến.
Đây là Phật sự siêu độ, cho nên Phật sự siêu độ là từ kinh Địa Tạng mà có. Tự ḿnh có thể đọc th́ tốt nhất, v́ tâm ḿnh thành khẩn, đọc kinh v́ người nhà, quyến thuộc của ḿnh, tâm ấy rất kiền thành. Nếu tự ḿnh không thể đọc, th́ mời người khác đọc, hiện nay phần đông đều thỉnh người xuất gia. V́ trong kinh có nói, người khác đọc cho họ, họ chỉ được một phần bảy lợi ích. Do đó thường thường người ta thỉnh bảy người đọc th́ họ mới được một phần, là đạo lư như vậy. Đọc ba lần, bảy lần cũng được. Chúng ta phải hiểu lư luận và phương pháp của việc siêu độ th́ mới là không mê tín, bạn phải nói cho người ta tin, đó là sự thật.
Như
thị ác đạo quyến thuộc, kinh thanh tất
thị biến số, đương đắc giải
thoát, năi chí mộng mị chi trung vĩnh bất phục
kiến.
Như vậy, kẻ
quyến thuộc đang ở trong ác đạo kia, khi
tiếng tụng kinh đủ số biến đó xong,
sẽ được giải thoát, cho đến trong
mộng trong mị không thấy hiện về nữa.
Bạn
không c̣n mộng thấy họ nữa. Mộng chẳng thấy là
người ấy đă thoát khỏi quỷ đạo,
đă được lợi ích, thoát khỏi cơi quỷ,
hơn phân nửa là đầu thai đến làm
người, hoặc được phước
đức lợi ích lớn th́ có thể sanh lên
trời. Sanh lên cơi trời
đều ở cơi trời Đao Lợi trở xuống,
sanh đến Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên. Trong kinh nói phần đông
đều là nói sơ lược, nếu nói kỹ,
giữa cơi trời Tứ Vương và Đao Lợi,
phước báo và cấp bậc cũng khác nhau. Cho dù sanh đến trời
Đao Lợi, phước báo mỗi người cũng
chẳng giống nhau. Cũng
như chúng ta đều sanh đến cơi người, nhưng
thọ dụng của mỗi người trong đời
chẳng giống nhau, có người giàu sang phú quư, có
người nghèo khổ thấp hèn, đều cùng
được thân người nhưng phước báo khác
nhau. Do đó có thể biết
cùng được thân cơi trời, phước báo cũng
khác nhau. Những người
trên trời chẳng có phước, hoặc phước
rất ít, hoàn cảnh sanh hoạt vật chất có khi c̣n
chẳng bằng người có đại phước báo
ở cơi người, nhưng thân của họ là thân trời. Đạo lư này thật ra
chẳng khó hiểu, bạn hăy nghĩ con người chúng
ta, được thân người trong cơi người, cơi
súc sanh chẳng bằng cơi người, có những sự
hưởng thọ của súc sanh, những người
nghèo khổ chúng ta chẳng bằng nó, sánh chẳng bằng
súc sanh, đây chẳng phải là cùng một đạo lư
sao? Thế nên bạn quan sát
kỹ lưỡng một chút th́ dần dần bạn
sẽ thấu hiểu trạng huống trong lục
đạo luân hồi.
Người giàu có nuôi những con vật trong nhà,
người nghèo khổ thật sự sánh chẳng
bằng [những con vật ấy], thua xa. Sự ăn uống, nơi cư
trú của nó được bao nhiêu người chăm sóc,
lúc sanh bịnh c̣n có viện thú y, được xe
đưa rước vào bịnh viện, người nghèo
làm sao có phước như vậy?
Cho nên thân của nó là thân súc sanh, súc sanh có phước
báo, phước báo đó lớn hơn người nghèo chúng
ta quá nhiều. Cùng một
đạo lư ấy, người cơi trời mà không có
phước báo c̣n chẳng bằng đời sống con
người, đây là đạo lư chung, cho nên tuy sanh lên
trời nhưng cũng phải có phước báo mới
được. Sanh lên
trời cần có điều kiện ǵ? Tu hoàn hảo Ngũ Giới Thập
Thiện th́ được sanh lên trời. Nếu không tu bố thí, chẳng
chịu giúp đỡ người khác, sanh lên trời
cũng chẳng có phước báo, thế mới biết
tu phước quan trọng lắm.
Khi bạn thật sự có phước báo, bất
luận sanh đến cơi nào cũng hưởng
phước, cho nên phước báo có thể đem theo
được, chẳng mất.
Công đức cũng có thể mang theo
được, nhưng công đức rất dễ
mất, trong kinh thường nói: ‘lửa [sân hận] thiêu
trụi rừng công đức’, công đức chẳng
dễ giữ ǵn. Phước
đức th́ không sao, có thể giữ ǵn, công đức
rất khó ǵn giữ. Công
đức, nói cho chư vị biết tâm thanh tịnh,
Định-Huệ là công đức, vừa khởi tâm
tham, tâm sân giận lên th́ tâm thanh tịnh của bạn
mất tiêu, lập tức bạn sẽ mê mất,
định-huệ chẳng c̣n nữa, định-huệ
là công đức, khác với phước đức. Xem tiếp đoạn sau, đoạn
này [có tiểu đề trong cuốn Chú Giải] là ‘Hạ
tiện cầu hối’, tức là phương pháp sám
hối.
Phục
thứ Phổ Quảng nhược vị lai thế
hữu chư hạ tiện đẳng nhân, hoặc nô
hoặc tỳ, năi chí chư bất tự do chi nhân, giác tri
túc nghiệp yếu sám hối giả.
Lại nữa, này Phổ
Quảng, nếu đời sau có những người
hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái, cho
đến những kẻ không được tự do,
biết rơ là do túc nghiệp, cần phải sám hối.
Đây
là nêu ra một nhóm chúng sanh sám hối trước. Bần tiện (nghèo hèn) là sự
khổ ở nhân gian, ‘bần’ là chẳng có của cải,
‘tiện’ là chẳng có địa vị, trái ngược
với phú quư. ‘Phú’ là có của
cải, ‘quư’ là có địa vị, quư tiện và bần phú
sai khác rất lớn. Sự
sai khác này là do những nghiệp chúng ta đă làm, đă
tạo ở đời trước. Nếu muốn trách xă hội này
giàu nghèo chẳng quân b́nh, giàu nghèo tuyệt đối
sẽ chẳng quân b́nh, đây là đạo lư nhất
định. Tại sao? V́ nghiệp của mỗi cá nhân
tạo thành khác nhau, th́ làm sao tạo thành quả báo
giống nhau cho được?
Đây là việc chẳng thể xảy ra. Do đó [y theo] lời dạy
của thánh hiền, hy vọng mọi người
đều hiểu rơ sự thật của nhân quả báo
ứng, mọi người sẽ chẳng trách móc
nữa. Người giàu có
nghĩa vụ giúp đỡ người nghèo, người
nghèo hèn biết được ḿnh phải tu phước,
biết phải sám hối, làm phước th́ xă hội này
mới có thể ḥa hài, an định, phồn vinh, tôn
trọng lẫn nhau. Ngày nay
họ giàu là do đời trước họ tu giỏi, tôi
nghèo là v́ tôi chẳng tu, tôi làm sao có thể trách kẻ khác
được? Trồng
dưa th́ được dưa, trồng đậu th́
được đậu, hiểu đạo lư này th́ sẽ
chẳng oán trời trách người, biết ḿnh chẳng
tu. Chẳng tu th́ không sao
cả, hiện nay tu cũng c̣n kịp, ngày nay tôi chịu tu
th́ đời sau sẽ tốt đẹp. Nếu người giàu chẳng
chịu tu, chỉ hưởng phước mà không tu
phước th́ đời sau sẽ biến thành nghèo hèn,
đó mới là đạo lư chân chánh.
Trong
đoạn này Thanh Liên pháp sư trích dẫn kinh Biện Ư,
đây là lời Phật dạy: “Năm việc
thường sanh đê tiện, làm nô tỳ cho
người”, làm nô tỳ th́ chẳng có địa vị
trong xă hội, chẳng có địa vị th́ gọi là
‘tiện’. Phật nói có năm
nghiệp nhân tạo thành quả báo này:
Thứ nhất “Kiêu mạn bất kính nhị
thân” (Kiêu ngạo chẳng kính cha mẹ), nhị thân là
cha mẹ, thái độ đối với cha mẹ kiêu
mạn, chẳng tôn kính cha mẹ, chẳng hiếu
thuận, đời sau kẻ ấy phải chịu
quả báo này.
Thứ hai “Cang cường vô khác tâm”
(Ương ngạnh chẳng cung kính), ‘khác’ là cung khác,
tức là cung kính, hạng người này cũng có quả
báo như vậy; cứ tưởng ḿnh giỏi, bất
cứ ở đâu cũng chẳng nhường kẻ khác. Trong kinh này đức Phật
cũng thường cảm thán “Chúng sanh ở Diêm Phù
Đề ương ngạnh, khó dạy”, tại sao
Phật nói chúng sanh khó dạy?
Tập khí quá nặng, chúng ta thường gọi là cá
tánh quá mạnh, chẳng dễ tiếp nhận lời
khuyên của kẻ khác.
Thứ ba “Phóng dật bất lễ tam tôn”
(Phóng dật chẳng lễ Tam Bảo) tam tôn là Tam
Bảo, khinh mạn Tam Bảo.
Điều thứ nhất là chẳng kính cha mẹ,
c̣n điều này là chẳng kính thầy giáo. Đại đạo trong thế
gian, xuất thế gian là hiếu thân, tôn sư, chẳng hiếu
thuận cha mẹ, chẳng tôn kính thầy giáo, Tam Bảo
là gương mẫu hạng nhất trong sư
đạo. Phật pháp là
sư đạo, là mô phạm, điển h́nh cho thầy
giáo, bạn làm sao có thể đối với họ tùy
tiện, chẳng có một chút cung kính được?
Thứ tư là “Đạo thiết dĩ vi sanh
nghiệp” (Trộm cắp làm nghề nghiệp), cả
đời làm việc trộm cắp để duy tŕ
cuộc sống. Thủ
đoạn trộm cắp rất nhiều, nhất
định phải hiểu rơ ư nghĩa chân chánh của nó,
trong Phật pháp gọi là ‘không cho mà lấy’, đó
đều gọi là trộm cắp, cũng như
người Trung Quốc chúng ta thường gọi là tài
vật bất nghĩa.
Bạn chẳng nên có được, bạn chiếm
lấy nó, đoạt lấy, đây cũng là nghiệp
nhân của sự hạ tiện.
Thứ
năm ‘Phụ trái đào
tị bất thường’ (Thiếu nợ tránh né không
trả), thiếu nợ chẳng chịu trả nợ,
đời này không chịu trả, đời sau gặp
lại cũng phải trả, chẳng thể tránh
được. Điểm
này chúng ta nhất định phải biết. Thiếu nợ th́ nhất
định phải trả, thiếu nợ mạng
phải đền mạng, nhà Phật nói nhân quả thông
suốt ba đời, chẳng phải chỉ có
đời này mà thôi.
Đời này bạn tránh được, c̣n
đời sau th́ sao? C̣n đời sau nữa, bất
kỳ đời nào gặp lại cũng phải trả,
thiếu mạng phải đền mạng, thiếu
tiền phải trả tiền.
Trừ phi đối phương giác ngộ, chỉ
có học Phật mới giác ngộ; đối
phương giác ngộ rồi [và nói với bạn]:
“Những ǵ bạn thiếu tôi th́ thôi, chẳng cần
bạn trả, bạn thiếu nợ mạng cũng
chẳng cần bạn trả”, dứt hết rồi,
vậy mới được.
Nếu không gặp người giác ngộ, họ cứ
ghi nhớ trong ḷng, đến đ̣i nợ, đ̣i
mạng, vậy th́ không có cách chi khác. Sách chép chuyện trong nhà Phật
có ghi đại sư An Thế Cao triều Hán. Truyện Kư
An Thế Cao trong Cao Tăng Truyện, quyển một, [có
chép] ngài đến Trung Quốc hai lần để
đền mạng. Trong
đời trước ngài đă ngộ sát hai
người, đời này đến để
đền mạng hai người ấy. Hai lần này cũng là ngộ sát,
ngài ngộ sát người ta, người ta cũng ngộ
sát ngài.
Đây
là Bồ Tát thị hiện để nói cho chúng ta khi thành
Phật, thành Bồ Tát cũng chẳng có cách ǵ khác, vẫn
phải đền mạng, thiếu tiền cũng
phải trả tiền, thiếu nợ mạng phải
đền mạng. Chẳng
thể nói bạn thành Phật, thành Bồ Tát th́ có thể
không trả, chẳng có đạo lư này, [nếu vậy
th́] luật nhân quả sẽ bị lật đổ. Thành Phật, thành Bồ Tát
cũng không tránh khỏi, huống chi là phàm phu chúng ta. Phàm phu khi trả nợ,
đền mạng chẳng cam chịu, chẳng cam tâm th́
phiền phức sẽ lớn, trả tới trả lui
dây dưa chẳng dứt, th́ sẽ rắc rối lớn
lắm. [Cứ luân phiên]
đ̣i nợ, trả nợ, đ̣i mạng, đền mạng
chẳng dứt, nhiều đời nhiều kiếp
đều làm việc này, khổ chẳng nói nổi. Phật, Bồ Tát tốt hơn
ở chỗ nào? Họ
đều rơ ràng, rành rẽ v́ họ có Túc Mạng Thông, Tha
Tâm Thông, Thiên Nhăn Thông, họ thấy rơ nhân duyên đời
trước rơ ràng, cho nên họ trả từng món nợ,
trả sạch hết, sau này không c̣n nữa. Họ t́nh nguyện, đồng ư
trả, bị người ta giết cũng cam tâm t́nh
nguyện, tuyệt chẳng có tâm trả thù, nợ nần đến
đây chấm dứt. Phàm phu
th́ [chẳng chịu trả nợ nên] món nợ này
chẳng chấm dứt, chẳng cam tâm, chẳng chịu,
vẫn c̣n tâm niệm trả thù, kết oán đời
đời kiếp kiếp không bao giờ dứt, đáng
sợ vô cùng.
Nếu
các bạn thấu hiểu những sự tướng này
một cách cặn kẽ, th́ sau đó bạn mới
biết tại sao phải tôn kính Tam Bảo, tại sao công
đức lợi ích của Tam Bảo lớn như
vậy, bạn mới có thể hiểu được
đôi chút. Chỉ có Tam
Bảo mới có thể thật sự giải quyết
vấn đề, những vấn đề vướng
mắc nhiều đời nhiều kiếp khi gặp
được Tam Bảo đều có thể giải
quyết, đây là việc bất kỳ pháp môn nào khác trong
thế gian đều chẳng làm nổi.
Chúng
ta biết ḿnh chịu bần cùng hạ tiện, ở trong
địa vị này, biết đây là quả báo do ác
nghiệp ḿnh tạo đời trước. Hiểu được
đạo lư này, hiểu được sự thật th́
sẽ có phương pháp để cứu văn, phương
pháp cứu văn là sám hối.
‘Giác tri túc nghiệp’ (Biết được
nghiệp đời trước), đây tức là bạn
hiểu rơ. [Muốn] ‘Giác tri
túc nghiệp’ nếu không nhờ Phật pháp th́ không thể
được. Trong pháp
thế gian cũng có, tuy có nhưng không rốt ráo. Người có học vấn, có
đức hạnh trong thế gian, như một số nhà
tôn giáo, họ cũng biết một vài Sự, Lư của
nhân quả báo ứng, cũng biết tu pháp sám hối,
nhưng tri kiến của họ chẳng viên măn, chẳng
rốt ráo, do đó cách sám hối của họ hơn phân
nửa thuộc về Sự, có thể giúp đỡ chút
ít chứ chẳng thể giải quyết vấn
đề một cách triệt để. Muốn giải quyết vấn
đề triệt để phải giúp con người
thoát khỏi tam giới, như vậy mới là triệt
để. Chẳng thể
thoát ra khỏi lục đạo luân hồi thường
là phiền phức sẽ ở đằng sau,
trước mắt th́ ḥa hoăn đôi chút, nhưng sự
việc chẳng chấm dứt, thế mới biết
Phật pháp thù thắng vô cùng.
Phía sau là phương pháp đức Phật dạy
cho chúng ta:
Chí
tâm chiêm lễ h́nh tượng Địa Tạng Bồ Tát
Quan trọng ở
tại ‘chí tâm’, dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm chân thành
thanh tịnh tức là pháp sám hối. Do đó có thể biết, h́nh
tượng Địa Tạng Bồ Tát là một tăng
thượng duyên cho chúng ta sám hối. Tại sao bạn có thể tiêu
trừ hết nghiệp chướng? V́ bạn chí tâm. Lúc b́nh thường bạn dùng
vọng tâm, bây giờ đối trước h́nh
tượng Phật, Bồ Tát là dùng tâm chân thành.
Năi
chí nhất thất nhật trung, niệm Bồ Tát danh,
khả măn vạn biến.
Rồi
trong bảy ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát
đủ một vạn biến
‘Nhất thất’,
bảy là một con số viên măn.
Bạn t́m thời gian tu tập đàng hoàng trong
bảy ngày, trong bảy ngày chấp tŕ danh hiệu Bồ Tát,
đây gọi là đả Địa Tạng thất,
hoặc đọc kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện, niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát
bảy ngày, trong một thất (bảy ngày). Thật sự kết thất
niệm Phật, thật ra phải là bảy ngày bảy đêm chẳng gián
đoạn, công đức lợi ích vô cùng thù
thắng. Bảy ngày bảy
đêm chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián
đoạn, người căn tánh lanh lợi bèn
được nhất tâm, được nhất tâm bèn
siêu phàm nhập thánh. Phía
trước chúng ta thấy cô Quang Mục, cô Bà La Môn, họ
đều dùng phương pháp niệm Phật nên chẳng
phải là người phàm, nên họ có thể đi
đến địa ngục.
[Gặp] Quỷ vương trong địa ngục,
cô hỏi quỷ vương nơi đó là nơi nào? Quỷ vương đáp: “Đây
là địa ngục”. “Tôi làm
sao đến được?”.
Quỷ vương đáp “Có hai hạng người
có thể vào địa ngục, thứ nhất là Bồ
Tát, thứ nh́ là tội nhân”.
Do đó có thể biết cô niệm Phật một
ngày một đêm, niệm đến nhất tâm bất
loạn nên mới có thể vào địa ngục. Đây là như kinh Di Đà nói:
“Nếu một ngày… cho đến bảy ngày”. Người lợi căn th́
một ngày, một đêm bèn được nhất tâm,
người căn tánh thấp hơn th́ bảy ngày,
bảy ngày bảy đêm có thể được nhất
tâm. Hiện nay các đồng
tu niệm Phật trong Niệm Phật Đường chúng
ta, đừng nói một thất, niệm liên tiếp
bảy cái thất cũng chẳng được nhất
tâm, nguyên nhân là ǵ? Niệm
Phật chẳng đúng như pháp.
Chuyện phiền phức nhất là xen tạp, lúc
niệm Phật vẫn c̣n vọng niệm xen tạp trong
đó, như vậy th́ không đúng như pháp. Nếu không có vọng niệm,
thật sự đạt đến tiêu chuẩn này, không
hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn th́ bảy ngày
bảy đêm có thể thành công.
Chúng ta xem Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, xem Văng Sanh Truyện, trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục có truyện pháp sư Oánh Kha đời Tống. Ngài là một người xuất gia phá giới, tập khí rất nặng, ngài tự biết rơ tương lai nhất định sẽ đọa địa ngục. Tạo tội nghiệp quá nhiều, tự ḿnh chẳng có cách kiềm chế ḿnh, tâm chuyển theo cảnh, vậy th́ đâu có cách nào khác? Ngài tự biết rơ, ‘giác tri túc nghiệp’, chỗ hay của ngài là bốn chữ này, ngài biết tương lai nhất định sẽ đọa địa ngục, nghĩ đến đọa địa ngục bèn sợ hăi, ngài rất lo sợ. Ngài hỏi các bạn đồng tham làm sao có thể không đọa địa ngục? Những bạn đồng tham này bèn đưa cho ngài một cuốn ‘Văng Sanh Truyện’. Ngài coi Văng Sanh Truyện, mỗi khi đọc một chuyện đều cảm động đến khóc. Coi xong ngài phát tâm nhất định cầu văng sanh, đóng cửa pḥng lại để niệm A Di Đà Phật, ba ngày ba đêm chẳng ăn cơm, cũng chẳng uống nước. Ba ngày ba đêm chí tâm chiêm lễ, tâm chân thành cảm động A Di Đà Phật, A Di Đà Phật bèn đến. Ngài n