Ḥa
thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông
Học Hội Tân Gia Ba, tháng 5-1998
Tập 25 (Số 14-12-25)
Xin
mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 62, chúng ta
đọc kinh văn một lần:
Năng
ư thị thập trai nhật, đối Phật,
Bồ Tát chư hiền thánh tượng tiền,
độc thị kinh nhất biến. Đông tây nam
bắc, bá do tuần nội vô chư tai nạn,
đương thử cư gia nhược trưởng
nhược ấu, hiện tại vị lai bá thiên tuế
trung, vĩnh ly ác thú.
Nếu trong mười ngày trai này, đối
trước h́nh tượng của Phật, Bồ Tát, cùng
chư Hiền Thánh mà đọc tụng kinh này một
biến, th́ [chung quanh chỗ người đó ở,
bốn hướng] Đông Tây Nam Bắc, trong khoảng
một trăm do tuần, sẽ không có các tai nạn. C̣n nhà
của người đó, hoặc già hoặc trẻ, trong
trăm ngàn năm hiện tại và vị lai
được vĩnh viễn xa ĺa ác đạo.
Đoạn
kinh văn này nói về ích lợi của việc
đọc kinh, phía trước chúng ta đă nói rất
nhiều, nhưng ư nghĩa này thật ra chẳng cùng
tận, chúng ta phải thấu hiểu sâu vào, muôn vàn xin
đừng coi đó là mê tín, nếu nghĩ vậy th́
lợi ích đời này thậm chí đời sau
đều phải bỏ lỡ, như vậy th́ vô cùng
đáng tiếc, thật sự là chẳng có cách chi bù
đắp nổi. Chúng ta là
phàm phu, tâm của chư Phật, Bồ Tát thanh tịnh
hơn tâm chúng ta, trí huệ của các ngài cao hơn chúng ta,
bất luận các ngài xem người, xem sự, xem vật
đều thấu triệt hơn chúng ta, thấy
được sâu xa hơn chúng ta.
Đối với lời nói, giáo huấn của
những thánh hiền này chúng ta không thể tin sâu, chẳng
thể tiếp nhận, phụng hành, cứ thường
làm theo vọng tưởng của chính ḿnh, đâu có lư nào không
phạm lỗi cho được?
Do đó đức Phật ở đây nói: ‘Chúng
sanh trong cơi Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm
không có ǵ chẳng là nghiệp, không có ǵ chẳng là tội’,
câu nào câu nấy cũng là lời chân thật. Trong kinh tới đoạn này
khuyên chúng ta mỗi tháng ôn lại kinh điển
mười lần, ư nghĩa chân chánh của nó là dạy
chúng ta đừng quên lời răn dạy của
Phật, Bồ Tát, từng giờ từng phút luôn nghĩ
phải y giáo phụng hành, mục đích chân chánh là như
vậy.
Chúng ta
cũng tin sâu chẳng nghi hiệu quả có được
[từ sự tu tập], người ở nơi đây
phát tâm chân chánh tu hành, giống như cổ nhân Trung
Quốc có nói: ‘Một người có phước th́
mọi người đều thơm lây’, phước
của người này càng lớn, th́ công đức và
sức ảnh hưởng của họ càng rộng. Chỗ này có nghĩa là chân chánh
được oai thần chư Phật, Bồ Tát gia tŕ,
người tu hành ở địa phương này trong ṿng
một trăm do tuần, theo cách nói của cổ Ấn
Độ, phạm vi ‘một trăm do tuần’ rất
lớn, một do tuần là bốn mươi dặm,
một trăm do tuần là bốn ngàn dặm, phạm vi
này lớn dường nào. [Một
người] tu hành ở Tân Gia Ba, hầu như cả Trung
Quốc Đại Lục đều bao gồm trong
phạm vi bốn ngàn dặm này, có sức mạnh lớn
như vậy.
Đạo
lư này chính là hiện tượng làn sóng (ba động) mà
ngày nay khoa học gia thường đề cập
tới. Phía trước đă
nói với chư vị phàm là vật chất, đều
sanh ra hiện tượng ba động, tất cả
‘sóng’ của vật chất, các hiện tượng
đều b́nh ḥa. ‘Sóng’
của tất cả vật chất, chúng ta gọi là
thực vật, động vật, rất ôn ḥa, rất
ổn định, cường độ của làn sóng
chấn động sẽ không lớn lắm, ở trong
một phạm vi nhất định. V́ nó vĩnh viễn giữ
trạng thái đó, tuy trạng thái này biến hóa, sự
biến hóa này rất yếu, đây là nói rơ hiện
tượng ‘sóng’ của nó là một hiện tượng
b́nh thường. Khoa học gia
cận đại đă nhận thức rơ ràng về
bản chất là chẳng có vật chất tồn
tại. Vật chất là
ǵ? Vật chất đích
thật là hiện tượng ‘sóng’. Nhận thức này rất phi
thường, rất giống với những ǵ nói trong
Phật pháp. Phật pháp nói
vũ trụ, chúng sanh sanh khởi như thế nào? Y báo, chánh báo trang nghiêm trong
thập pháp giới từ đâu đến? Từ Vô Minh đến. Vô minh không giác sanh ra tam tế,
cảnh giới do duyên tạo nên lục thô.[1]
Có thể thấy vô minh
chính là hiện tượng ‘sóng’, đây thật sự là
đă t́m ra nguồn gốc của thập pháp giới y
báo, chánh báo trang nghiêm, làm ǵ có sự thật tồn
tại? Chúng ta cảm giác
đến sự thật tồn tại, đó là
tướng tiếp nối của ‘sóng’. Kinh Kim Cang nói ‘như sương,
cũng như tia chớp’, sương là tướng liên
tục nối tiếp, tia chớp (tia sét) là tướng
sanh diệt từng sát na. Sát
na sanh diệt nói thật ra chính là không sanh không diệt, sanh
diệt đồng thời, hiện tượng ‘sóng’ sanh
diệt đồng thời nên Phật nói chẳng sanh
chẳng diệt. Chúng ta
phải thấu hiểu không sanh không diệt chẳng
phải là thật sự không sanh không diệt, nếu
thật sự là không sanh không diệt th́ nói không sanh không
diệt chẳng có ư nghĩa ǵ cả. Nó đích thật có sanh diệt,
có sanh diệt th́ tại sao lại nói nó không sanh không
diệt? V́ sanh diệt
đồng thời. Trong kinh
đức Phật dùng tia chớp làm thí dụ, nói tốc
độ của nó quá nhanh, sau này chúng ta sẽ nói rơ hơn
về vấn đề này khi giảng kinh Hoa Nghiêm.
Nhưng làn sóng của chúng sanh
hữu t́nh siêu việt hơn làn sóng phát sanh từ vật
chất không biết mạnh hơn gấp bao nhiêu
lần. Trong kinh chúng ta
thấy Phật nói ‘Y Báo chuyển theo Chánh Báo’, câu này
rất khó hiểu. Y báo là hoàn
cảnh vật chất của chúng ta, hoàn cảnh sanh
hoạt của chúng ta, Phật nói hoàn cảnh sanh hoạt
chuyển tùy theo tâm của bạn, chuyển theo từng tâm
niệm của bạn, [cách nói này] rất khó hiểu. Kinh Lăng Nghiêm lại nói ‘Nếu
có thể chuyển cảnh giới th́ giống như
Như Lai’, chuyển cảnh là hoàn cảnh vật
chất có thể [biến đổi] tùy tâm, Phật nói
[bạn chuyển được cảnh] như vậy th́
cảnh giới của bạn giống như cảnh
giới của chư Phật Như Lai. Chúng ta đọc
những lời trong kinh như vậy đích thật
rất khó hiểu, thật ra chúng ta dùng khoa học
để chứng minh th́ dễ hiểu hơn. Nói
theo kiểu bây giờ, chúng ta dùng sóng điện để
thí dụ, [tức là nói đến] sự nhiễu
động của sóng điện. Sóng phát ra từ tất
cả vật chất th́ yếu và êm ả, c̣n sóng phát ra
từ tư tưởng của chúng ta th́ mạnh mẽ,
cường độ dao động lớn. Loại sóng
này gây nhiễu những thứ sóng khác. Là sóng [tư
tưởng] của chúng ta phát ra mạnh nên sẽ bao trùm
các loại sóng vật chất, do đó sẽ thay
đổi kết cấu của vật chất. Kết cấu vật lư là từ
làn sóng sanh ra, chỉ cần bạn thay đổi làn sóng
của chúng th́ kết cấu của
vật chất, thậm chí kết cấu của tinh
cầu cũng sẽ thay đổi, quỹ đạo
của tinh cầu quay trong không gian cũng có thể thay
đổi, có thể sanh ra làn sóng lớn như vậy.
Hết thảy sóng của
chúng sanh hữu t́nh được chia thành ba loại:
thiện, ác, vô kư [2]. Sóng thuộc loại vô kư rất
b́nh ḥa, có thể hợp chung lại với sóng của
hết thảy vật chất, đây là Nhất Chân pháp
giới của chư Phật Như Lai. Trong thập pháp giới, sóng
của hết thảy chúng sanh có thiện, có ác nên tạo
thành hiện tượng vật chất có biến hóa
cực lớn. Thật sự
v́ đạo lư này, v́ chân tướng sự thật này nên
cổ thánh tiên hiền đặc biệt nhấn mạnh
sự giáo dục cho hết thảy chúng sanh; nền giáo
dục của nhà Phật triệt để nhất, nói
về quan hệ giữa người với người,
quan hệ giữa người và hết thảy chúng sanh
hữu t́nh, quan hệ giữa người và hết thảy
động vật, quan hệ với thực vật,
với khoáng vật, với thiên nhiên, sau cùng siêu việt
quan hệ với thiên địa quỷ thần, quan
hệ với Nhất Chân pháp giới. Giáo lư của Phật dạy chính
là nói về những việc này.
Khi bạn hiểu rơ, thông suốt hết rồi th́
mới biết hư không pháp giới hết thảy chúng
sanh và ḿnh là cùng một thể, là một chứ chẳng
phải hai. Đă là một
thể th́ lẽ nào chẳng quan hệ với nhau? Bất cứ một tế bào nào
trên thân thể chúng ta trục trặc đều làm cho toàn
thân cảm giác không thoải mái, chẳng hạn cuộc
ở tại một chỗ nào cả. Một cây kim rất nhỏ
đâm vào, đâm vào bất kỳ một chỗ nào trên da
chúng ta th́ toàn thân đều cảm giác được. Cùng một đạo lư ấy,
khi chúng ta khởi tâm động niệm th́ tận hư
không trọn khắp pháp giới đều có thể
cảm nhận được.
Tại sao chúng ta cảm nhận không
được? Hiện nay
thân thể chúng ta chai đá, tê cứng mất rồi,
đừng nói kim đâm vào bạn chẳng biết, dao
cắt bạn cũng chẳng biết v́ đă tê cứng
mất rồi. Tê cứng
tức là mê, mê chứ chẳng giác.
Thân thể chư Phật, Bồ Tát khỏe mạnh
b́nh thường, các ngài ở trong trạng thái tỉnh
giác, cho nên một chút đau nhức các ngài đều
biết. Do đó chư
Phật, Bồ Tát là người khỏe mạnh, ổn
định; chúng ta là người chẳng b́nh
thường, bị chai đá, tê cứng hết
rồi. Chúng tôi dùng thí dụ
như vậy th́ quư bạn dễ hiểu hơn.
Sau đó bạn có thể
khẳng định rằng khi thật sự y giáo tu hành
th́ làn sóng này có sức mạnh rất lớn. Tức là trong một khoảng
cách như vậy, sóng lớn mạnh của bạn có
thể bao trùm những sóng bất b́nh thường trong
phạm vi này, sóng của bạn trùm lên nó, có thể gây
nhiễu sóng của nó, nó không thể gây nhiễu sóng
của bạn. Sóng của
bạn thiện, tốt, nên dù chỗ đó có ác, có sóng ác
th́ sẽ chiêu cảm tai nạn, sóng thiện lành của
bạn mạnh hơn sóng ác đó, có thể hóa giải tai
nạn của nó, làm cho tai nạn ấy không khởi lên, là
đạo lư như vậy. Thế nên tu hành phải
hết ḷng, phải dùng tâm chân thành, sức ấy mới
mạnh. Người thế
gian dùng vọng tâm, chúng ta dùng chân tâm, dùng chân tâm rất quư
báu. Khi bạn dùng chân tâm th́
sức mạnh rất lớn!
V́ hết thảy chư Phật, Bồ Tát dùng chân tâm,
tâm của bạn giống tâm của các ngài; nói cách khác,
tần số dao động giống nhau nên tiếp xúc,
cảm thông được với các ngài. Tiếp xúc, cảm thông trong nhà
Phật gọi là gia tŕ, người thế gian gọi là
bảo hựu, tần số của bạn giống
với các ngài mới có thể cảm thông, mới
được gia tŕ, được bảo hựu. Nếu tần số của chúng
ta khác với tần số của các ngài, làm thế nào
cũng không thể khởi cảm ứng, nếu có
khởi cảm ứng th́ cũng là đứng ngoài ŕa,
chỉ có một chút ảnh hưởng chứ chẳng cảm
thông trực tiếp. Dùng sóng
điện để giải thích những chuyện này th́
chư vị dễ hiểu hơn.
Chân tâm tuyệt đối
không có vọng tưởng, trong kinh luận Đại
Thừa, Tiểu Thừa, đức Phật khổ ḷng
mỏi miệng dùng ngàn lời vạn tiếng, đă
từng vô số lần khuyên chúng ta phải đoạn
trừ vọng tưởng, nhất định phải
bắt đầu từ việc đoạn phiền
năo. Trong các vọng
tưởng, ngă chấp là vọng tưởng căn bản
nhất, chấp trước thân này là ta, đây là cội
rễ của vọng tưởng.
Vậy th́ phải tu cái ǵ?
Thân này chẳng phải là ta, cái ǵ mới là ta? ‘Ta’ có chứ chẳng phải
không có. Tận hư không
trọn khắp pháp giới là một cái Ta, đức
Phật nói lời này người ta không tin. Không những phần đông
người ta nghe xong không tin, ngay cả người
xuất gia học Phật cả đời, học
đến chết cũng không tin.
Nếu họ tin th́ họ đă thành Phật
rồi. Tại sao họ không
thành Phật được?
V́ họ không tin. Tại
sao nói nếu họ tin th́ họ sẽ thành Phật? Tin tưởng th́ họ sẽ
chứng được pháp thân thanh tịnh, tận hư
không, khắp pháp giới là một thân, thân này gọi là
Thể, một thể.
Thế nên học Phật pháp
rốt cuộc là sự việc như thế nào? Chỉ là khôi phục mặt
mũi vốn sẵn có mà thôi, trừ việc này ra th́
chẳng có được cái ǵ hết, thật giống
như câu nói trong hội giảng kinh Lăng Nghiêm: ‘Viên
măn Bồ Đề, quay về chỗ chẳng thể
được’ [3],
chẳng qua là khôi phục bộ mặt vốn sẵn có
của bạn mà thôi, đây là thật chẳng giả. Thế nên khế nhập vào
cảnh giới này, bạn nh́n thấy chúng sanh
được vui th́ chính ḿnh được vui, chúng sanh
thọ khổ th́ chính ḿnh thọ khổ, tâm từ bi
ấy chẳng phải miễn cưỡng, mà là tự
nhiên sanh khởi. Tại sao
vậy? Hư không pháp giới
và ḿnh cùng một thể, tuyệt chẳng có sai khác. Trong đoạn kinh này tôi bổ
sung một chút ư nghĩa này, hy vọng chư vị
đồng tu lắng ḷng để cân nhắc, đắn
đo, thể nghiệm.
Đời này có thể nhập cảnh giới
của Phật là một vận may to tát! Đây cũng là điều mà
chư Phật, Bồ Tát kỳ vọng nơi chúng ta. Cho nên chúng ta phải có ḷng tin
đối với kinh điển, khi có thể tin có
thể hiểu, thật sự hiểu rơ, sau đó phải
thật hành, phải biến kinh điển thành tư
tưởng, kiến giải, hành vi của ḿnh, kinh
điển chính là ḿnh, ḿnh chính là kinh điển, như
vậy gọi là tu hành chứng quả. Xin xem tiếp kinh văn:
Năng ư thập trai
nhật mỗi chuyển nhất biến. Hiện thế kim thử cư
gia vô chư hoạnh bịnh, y thực phong ích.
Nếu
trong mười ngày trai này có thể mỗi ngày đều
tụng một biến th́ ngay đời hiện tại,
những người trong nhà không bị tai ương
hoặc bệnh tật, đồ ăn đồ mặc
lại được dư dật.
Đề mục nhỏ [trong Chú Giải của
đoạn này] là ‘Thích hiện thế phước
lợi’, thích là giải thích, bạn được
phước, lợi ích ngay bây giờ. Chúng ta thấy ở đây khác
với đoạn trước chỉ có một chữ,
đoạn trước nói ‘độc thị kinh’ (đọc
kinh này), ở đây nói ‘chuyển nhất biến’,
đoạn trước dùng chữ ‘độc’, ở
đây dùng chữ ‘chuyển’. Đoạn này không dùng
chữ ‘độc’, không có nói ‘năng ư thập trai
nhật mỗi độc nhất biến’. Cái ǵ gọi là chuyển? ‘Chuyển’ khác với
‘độc’ ở chỗ nào?
‘Độc’ là nói trên nhân, ‘chuyển’ là nói trên
quả. Sau khi đọc xong,
tâm niệm của bạn chuyển biến, hành vi chuyển
biến, vừa chuyển th́ tai nạn sẽ biến thành
phước đức.
Nếu bạn học Phật chẳng thể
chuyển trở lại, vậy th́ tai nạn của
bạn cũng không thể thay đổi, bạn vẫn
phải chịu tai nạn, chữ này là chữ mấu
chốt ở đây.
‘Chuyển’ phải chuyển từ tâm, chuyển trên
hành vi, ư nghĩa này rất sâu.
Thế nên đọc tụng nhất định phải
hiểu nghĩa, tại sao phải giảng kinh? Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc
c̣n tại thế giảng kinh thuyết pháp bốn
mươi chín năm, phải giảng rơ ràng, giảng rành
rẽ, để cho người nghe giác ngộ, hiểu
rơ. Sau khi hiểu rơ, tư
tưởng, quan niệm, hành vi của họ sẽ chuyển
trở lại, chuyển ác thành thiện, chuyển ô
nhiễm thành thanh tịnh, trên nhân vừa chuyển th́
quả đương nhiên sẽ chuyển, đây tức
là ‘Nếu có thể chuyển cảnh, th́ cũng
giống như Như Lai’ [4]. Cảnh chuyển từ
đâu? Chuyển từ tâm, nói
theo bây giờ là chuyển trên làn sóng tư tưởng
của ḿnh. Lúc trước
tư tưởng đều là tự tư tự lợi,
tham sân si mạn, tổn hại người, lợi ḿnh,
đều là những làn sóng như vậy. Hiện nay những làn sóng này thay
đổi rồi, chúng ta khởi tâm động niệm
đều v́ lợi ích chúng sanh, xả ḿnh v́ người,
sóng phát ra đều là đại từ đại bi, thanh
tịnh vô nhiễm, sóng như vậy làm sao không chuyển
hoàn cảnh cho được?
Cảnh giới vốn chẳng có thiện ác, vốn
là thanh tịnh, nói thật ra, vốn là một tịnh
độ. Tại sao tịnh
độ lại biến thành đời ác ngũ
trược? V́ tâm niệm ác
của chúng ta thay đổi hoàn cảnh này, đây là
lời đức Phật giải thích cho chúng ta. Chúng ta càng nghĩ lời Phật
dạy càng thấy có lư, chúng ta tự thí nghiệm th́
quả thật đúng như vậy, thế nên nhất
định phải ‘phụng hành’ th́ mới
được lợi ích. Ngài
Thanh Lương giảng giải kinh Hoa Nghiêm, ngài dùng
bốn cương lănh ‘Tín, Giải, Hành, Chứng’
để giới thiệu cho chúng ta. Chúng ta phải làm bốn chữ
này cùng lúc, không thể có trước sau, có trước sau
th́ hiệu quả sẽ rất chậm. Hiện nay tai nạn đă
đến, cách thức chậm này không kịp nữa, cho
nên phải làm cùng một lúc.
Ngày nay Cư Sĩ Lâm, chúng ta dùng phương pháp
này. Giảng đường
chúng ta mỗi ngày giảng kinh hai giờ, một năm ba
trăm sáu mươi ngày không gián đoạn, đây là ‘Tín,
Giải’; Niệm Phật Đường mỗi ngày
niệm Phật không gián đoạn, đó là ‘Hành,
Chứng’. Chúng ta tiến hành
Tín, Giải, Hành, Chứng cùng lúc, Giải Môn giúp Hành Môn, Hành
Môn giúp Giải Môn, Giải Hành bổ khuyết thành tựu
lẫn nhau, hiệu quả sẽ rất lớn. Quả thật có thể y giáo
phụng hành, công đức lợi ích sẽ không thể
nghĩ bàn. Chúng ta phải tin
sâu, kinh là kinh trong tâm chúng ta.
Thế Tôn từ chân tâm tuôn trào ra, chân tâm của Thế
Tôn tức là chân tâm của chúng ta, tâm là tâm hiện nay, hai mà
không hai, cho nên công đức lợi ích chẳng thể
nghĩ bàn. Chữ ‘hiện
thế’ ở đây tức là chỗ ở hiện nay
của chúng ta b́nh yên, hạnh phúc, chẳng có tai nạn, có
cơm no áo ấm, có thể đạt đến hiệu
quả này. Hiệu quả này
rất nhỏ, đâu có lư nào không đạt
được! Xin xem tiếp
kinh văn:
Thị
cố Phổ Quảng, đương tri Địa
Tạng Bồ Tát hữu như thị đẳng bất
khả thuyết bá thiên vạn ức đại oai
thần lực lợi ích chi sự.
V́ thế Phổ Quảng, nên biết
rằng Địa Tạng Bồ Tát có trăm ngàn vạn
ức sự đại oai thần lực lợi ích
chẳng thể nói hết như thế.
Đây là lời tổng kết. Địa Tạng Bồ Tát, ba
chữ ‘như thị đẳng’ tổng kết những
lợi ích của sự tín thọ phụng hành nói phía
trước, quy kết về oai thần của
Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ.
Địa Tạng Bồ Tát là tiêu biểu pháp, là
tượng trưng, nội dung chân chánh của ngài là kho
tàng vốn sẵn có trong tự tánh của chúng ta. Kho tàng này, trong kinh thường
nói tự tánh vốn đầy đủ vô lượng
trí huệ, vô lượng đức năng; ‘đức’
là đức tướng, y báo chánh báo trang nghiêm trong
Nhất Chân pháp giới là đức tướng; ‘năng’
là năng lực, tức là ‘đại oai thần lực’
nói ở đây, những thứ này vốn đầy
đủ trong tự tánh chúng ta.
Không những kinh này, hết thảy tất cả
những kinh Phật dạy đều là đức năng
vốn sẵn có trong tự tánh, nếu tách khỏi tự
tánh th́ chẳng có một pháp nào có thể
được. Do đó có
thể biết, đọc kinh đối diện chư
Phật, Bồ Tát, dùng tâm chân thành cung kính bèn có thể khai
phát tự tánh, làm cho tánh đức của chính ḿnh cũng
có thể khởi lên. Hiện
tượng làn sóng của chúng ta bèn nối liền với
[làn sóng] của chư Phật, Bồ Tát v́ tần số
đều giống nhau. Lúc
bấy giờ hết thảy những nghi ngờ, lo âu
của chúng ta mới có thể đoạn dứt,
đoạn dứt nghi hoặc mới có thể sanh
khởi ḷng tin chân chánh, ḷng tin thành tựu Phật sự,
tức là sự nghiệp tự lợi lợi tha, ḷng tin
là cội rễ, kinh Hoa Nghiêm nói ‘Ḷng tin là cội
nguồn của đạo, mẹ của công đức’
[5],
‘đạo’ tức là đạo thành Phật, chuyển
phàm thành thánh; ‘thánh’ đạt đến cứu cánh viên măn
là thành Phật, ḷng tin là cội rễ. Công đức là tự lợi
lợi tha, tự lợi lợi tha đạt đến
cứu cánh viên măn cũng được xây dựng từ
ḷng tin.
Ngày nay chúng ta làm không đủ, chẳng viên măn, nguyên
nhân ở tại chỗ nào?
Nguyên nhân ở chỗ chẳng xây dựng ḷng tin, ḷng
tin chẳng đủ. Ḷng tin
chẳng đủ là v́ chẳng thấu triệt, hiểu
rơ chân tướng sự thật.
Do đó Giải có thể trợ giúp cho Tín, Tín có
thể trợ giúp Giải, Hành có thể trợ giúp Tín, Tín
có thể giúp Hành, tuy nói bốn chữ Tín, Giải, Hành,
Chứng, thật ra chỉ là một sự việc. Mỗi chữ đều phải
bao gồm ba chữ kia, nếu không bao gồm ba chữ kia
th́ không thể gọi là Tín.
Trong Tín không có Giải, không có Hành, không có Chứng th́
không gọi là Tín; nếu trong Giải không có Tín, không có Hành,
không có Chứng th́ chẳng gọi là Giải. Phật pháp là viên dung, viên tu viên
chứng, tiến bộ phát triển sẽ rất nhanh
chóng. Đoạn tiếp theo sau
nói:
Diêm Phù chúng sanh ư thử đại
sĩ hữu đại nhân duyên
Chúng sanh trong cơi Diêm Phù có đại nhân
duyên với vị đại sĩ này.
‘Diêm Phù chúng sanh’, ‘Diêm Phù’ là nói thế giới,
địa cầu của chúng ta.
Chúng sanh trên quả địa cầu này có đại
nhân duyên với Địa Tạng Bồ Tát, có duyên gặp
nhau sẽ hoan hỷ, không có duyên sẽ khó tiếp
nhận. Chuyện này trong
đời sống của chúng ta cũng có thể nhận
biết được. Khi
chúng ta đi tới một chỗ xa lạ, đặc
biệt như lúc đi du lịch, lần đầu tiên
đến đó du lịch, chúng ta gặp rất nhiều
người, có người vừa nh́n liền rất
thuận thảo, nh́n thấy rất hoan hỷ, có
người vừa nh́n liền chán ghét [mặc dù]
trước đó chưa từng qua lại với
họ. Tại sao lại có
hiện tượng như vậy?
Hiện tượng này chính là do duyên phận
đời trước. Khi
gặp liền hoan hỷ, ḿnh gặp họ cũng hoan
hỷ, họ gặp ḿnh cũng vui mừng, đây là
thiện duyên đời trước. C̣n khi chúng ta gặp nhau liền
cảm thấy không thuận mắt, họ gặp ḿnh
cũng chẳng vừa ḷng th́ đây là ác duyên đời
trước. Có thể chúng ta
trong đời này, chỉ trong ṿng mấy giây, mấy phút,
cả đời chỉ gặp mặt một lần
như vậy, muốn gặp thêm lần thứ nh́ sẽ
rất khó khăn, những chuyện như vậy quá
nhiều. Tuy có duyên, duyên
rất mỏng, duyên chỉ gặp một lần trong
cả đời, thời gian vô cùng ngắn ngủi,
[dựa trên những việc này] chúng ta có thể hiểu
được nhân duyên đời trước.
C̣n một chuyện cũng có thể chứng minh
được chúng ta chắc chắn có đời quá
khứ. Khi chúng ta đi du
lịch tới một địa phương nào đó,
chưa từng tới đó bao giờ, cả đời
đích thật là lần đầu tiên tới đó
nhưng đột nhiên cảm thấy hoàn cảnh nơi đó
rất quen thuộc, h́nh như đă gặp qua rồi,
đó là do nguyên nhân ǵ?
Đời quá khứ bạn đă cư trú ở
nơi đó rồi, nếu không th́ bạn làm sao cảm
thấy rất quen thuộc được? Từ trước tới giờ
chưa hề có ai giới thiệu th́ bạn làm sao cảm
thấy quen thuộc?
Điều này chứng minh con người nhất
định có đời trước. Lúc tôi ở Mỹ, tiểu bang
Thị chư chúng sanh văn Bồ Tát
danh, kiến Bồ Tát tượng năi chí văn thị kinh
tam tự, ngũ tự, hoặc nhất kệ, nhất cú
giả. Hiện tại thù
diệu an lạc, vị lai chi thế, bá thiên vạn sanh
thường đắc đoan chánh, sanh tôn quư gia.
Nếu những chúng sanh đó được nghe danh
hiệu của Bồ Tát, thấy tượng của
Bồ Tát, cho đến được nghe chừng ba
chữ hoặc năm chữ trong kinh này, hoặc một
bài kệ hay một câu, th́ hiện tại được
sự an vui thù thắng vi diệu, và trăm ngàn vạn
đời vị lai thường được đoan
chánh, sanh vào nhà tôn quư.
Đây là lời tán thán
cùng cực, nói rơ sự lợi ích của sự nghe
đến danh hiệu, thấy h́nh tượng, lời
văn trong kinh điển đơn giản, nhưng hàm nghĩa
sâu rộng. ‘Văn Bồ Tát
danh, kiến Bồ Tát tượng’ cho đến tiếp
xúc bộ kinh này, lợi ích của mỗi người có
sâu cạn khác nhau. Có
người hoàn toàn chẳng có dịp tiếp xúc Phật
pháp, giống như những người đi tham quan du
lịch, đặc biệt là đi du lịch Trung
Quốc, tham quan chùa chiền ở Trung Quốc là trọng
điểm của các đoàn du lịch, người
ngoại quốc rất thích [đến những nơi
này]. Hơn phân nữa là tín
đồ Cơ Đốc Giáo, Thiên Chúa Giáo, và những tôn
giáo khác, họ chẳng biết ǵ về Phật pháp. Nhờ chuyến đi du lịch
nên nh́n thấy các tượng Phật, tượng Bồ
Tát, đương nhiên họ sẽ chẳng có ḷng tin,
thậm chí họ c̣n coi những thứ này là mê tín. Mức độ cao hơn
một chút th́ họ sẽ coi đó như là tác phẩm
nghệ thuật, thưởng thức những
tượng này như là tác phẩm nghệ thuật. Có lợi ích hay không? Có chứ.
Giống như câu nói trong nhà Phật ‘Một khi lọt vào tai,
vĩnh viễn thành hạt giống đạo’. ‘Một khi lọt vào tai’, và
‘một khi lọt vào mắt’ có cùng ư nghĩa. Nhĩ căn nghe đến âm
thanh niệm Phật, tụng kinh, đó là nhĩ căn;
nh́n thấy h́nh tượng Phật, Bồ Tát là nhăn
căn, vĩnh viễn là hạt giống đạo trong A
Lại Da thức. Bất
luận là cố ư, vô ư, bất luận là tán thán, hủy
báng, đều trở thành hạt giống kim cang, chỉ
sợ là cả đời họ chẳng có duyên
được tiếp xúc, vậy th́ vô cùng đáng
tiếc. [Nếu họ]
hủy báng cũng chẳng sao cả, khi họ tiếp xúc
đến, nếu họ hủy báng th́ họ sẽ
chịu quả báo của sự hủy báng, sau khi chịu
quả báo xong, tương lai có duyên gặp lại th́
họ sẽ tin, họ sẽ có thể được độ.
Từ đó có thể
biết, kết pháp duyên với chúng sanh là một chuyện
tốt, trong thế pháp, xuất thế pháp đều là
chuyện tốt hạng nhất.
Lúc rộng kết pháp duyên không nên có húy kỵ ǵ
cả, đừng cho là họ sẽ khinh nhờn,
khuấy nhiễu h́nh tượng Phật, Bồ Tát và tạo
nhiều nghiệp tội, vậy th́ bạn sẽ
chẳng dám đụng, bạn làm sao có thể kết duyên
với chúng sanh? Khởi tâm tôn
trọng, kính ngưỡng đối với Phật,
Bồ Tát đó là chuyện đă vào cửa Phật
rồi, chúng ta phải tôn trọng, cung kính h́nh tượng
Phật, Bồ Tát. Nhưng khi
chúng ta giới thiệu cho người khác th́ không cần
phải có những lo lắng này.
Giới thiệu cho người khác là gieo hạt
giống Phật trong A Lại Da thức của
người ta, cho dù hủy báng, sỉ nhục cũng không
sao, lẽ nào Phật, Bồ Tát lại hiềm trách
bạn? [Những kẻ]
hiềm trách đều là phàm phu, chẳng phải thánh nhân,
[Phật, Bồ Tát] tuyệt sẽ chẳng hiềm
trách. Cho nên hiện nay chúng ta
có khi nh́n thấy, trên giấy gói đồ có in h́nh
tượng Phật, Bồ Tát, báo chí cũng thường
in danh hiệu và cũng có h́nh tượng Phật, Bồ
Tát. Có một số
đồng tu gặp những chuyện này đến
hỏi tôi phải làm sao?
Giấy báo này có thể đem bỏ không? Phải xử lư như thế
nào? Họ rất hoang mang. Như vậy là khởi phân
biệt, chấp trước, phải biết in [h́nh
Phật, Bồ Tát] trên báo là để kết pháp duyên,
trồng thiện duyên với rất nhiều chúng sanh. Chúng ta gặp th́ phải xử lư
như thế nào? Phải coi
[hoàn cảnh] của bạn.
Nếu nhà bạn có chỗ cất giữ, bạn có
thể cắt h́nh, danh hiệu Phật, Bồ Tát trên báo,
hoặc dán lên sách, làm kỷ niệm cũng tốt. Nếu không làm như vậy th́ cứ
xử lư như những báo chí thường cũng
được, chẳng cần phải chấp
trước, chẳng cần phải tính toán. Đặc biệt là người
tạo ác trên thế gian này nhiều, tạo danh hiệu và
h́nh tượng Phật, Bồ Tát càng nhiều càng
tốt. Sự phát tâm khác nhau,
tâm này là nhằm đem lại lợi ích cho hết thảy
chúng sanh, hy vọng chúng sanh trồng hạt giống
Phật, Bồ Tát, đây là chuyện tốt. Đừng nghĩ như vậy
là không cung kính, đoạn mất duyên này, vậy th́
rất đáng tiếc.
Chỗ này nói việc
lợi ích vô cùng rơ ràng.
Người có được lợi ích [nhiều hay
ít là] tùy theo tâm của họ, tùy theo nguyện của
họ, nếu họ có thể ‘giải’, có thể ‘hành’,
th́ lợi ích ấy càng thù thắng, lợi ích càng
lớn. Họ nghe danh
hiệu, thấy tượng, không hiểu th́ cũng không
thể ‘hành’, lợi ích này ẩn chứa trong A Lại Da
thức của họ, bây giờ không thể đạt
được lợi ích.
Họ chẳng đạt được sự
‘Hiện tại thù diệu an lạc’ nói ở đây. Đến khi nào họ mới
đạt được lợi ích? Đời sau khi họ có cơ
duyên gặp được, lúc gặp được,
nếu duyên thù thắng gặp được thiện tri
thức, bạn đồng tham, đạo hữu tốt
giúp họ có thể ‘giải’ có thể ‘hành’ th́ lợi ích
an lạc thù thắng của họ mới hiện
tiền. Do đó trong ấy
chẳng có mê tín, nhân duyên sai khác trong ấy vô lượng
vô biên. Chúng ta phải hiểu
đạo lư này, hiểu chân tướng sự thật
này, khi có người đến hỏi, chúng ta có thể
trả lời, giúp họ đoạn dứt nghi hoặc và
sanh ḷng tin. Phàm những
người đến hỏi đều là người
trong đời quá khứ có hạt giống này, đă
từng có duyên nghe pháp, nghe danh hiệu, thấy h́nh
tượng. Chúng ta hăy suy
nghĩ kỹ càng trong đời quá khứ, thậm chí
trong kiếp lâu xa về trước chúng ta đă trồng
nhân, đến đời này chúng ta mới gặp
được duyên, duyên mới chín muồi. Cho nên gặp được
bộ kinh này liền có thể sanh tâm hoan hỷ, càng
đọc càng hoan hỷ, hiểu được th́ hoan
hỷ, không hiểu cũng hoan hỷ, [v́ đă gieo trồng]
duyên rất sâu đậm!
Duyên này chắc chắn là đă được gieo
trồng đời trước, không thể nào đời
này vừa tiếp xúc liền sanh tâm hoan hỷ, không có lư
như vậy.
Hiện nay có rất
nhiều người nh́n thấy [h́nh tượng] không
thể sanh tâm hoan hỷ, không phải cũng giống
như chúng ta trong đời quá khứ hay sao, chúng ta là người
từng trải qua nên hiểu được, đă
trải qua nhiều đời nhiều kiếp mới
thành tựu. Hiện nay chúng ta
giúp họ trồng nhân, chúng ta cũng rất rơ phải
đợi đến đời sau, kiếp sau khi duyên chín
muồi th́ họ mới được độ. Trong tâm người thế gian
nghĩ đoạn thời gian này quá dài, nhưng trong chân
tướng sự thật th́ thời gian là giả,
[thật sự là] chẳng có thời gian. Thời gian và không gian đều
là một khái niệm trừu tượng, tuyệt
chẳng phải sự thật.
Kinh Hoa Nghiêm nói ‘niệm kiếp viên dung’, một
niệm có thể kéo dài đến vô lượng kiếp,
vô lượng kiếp có thể rút ngắn thành một
niệm. Trong kinh Đại
Thừa thường nói ‘mười đời xưa nay chẳng
ĺa một niệm’[6], chính là
đạo lư này. Chúng ta
chẳng nh́n thấy chân tướng, giống như chúng
ta coi phim vậy, chúng ta chỉ thấy h́nh bóng hiện trên
màn ảnh, chẳng nh́n thấy tấm phim trong máy chiếu
phim, chiếu trên màn ảnh [th́ nh́n thấy] có trước
có sau, nếu nh́n thấy các tấm phim trong máy chiếu
h́nh, lấy ra cả một cuồn phim th́ chẳng có
trước sau. Do đó có
thể biết, chúng ta thấy có thời gian, có quá khứ,
có tương lai là do cảm giác sai lầm nên nh́n thấy
ảo tưởng này. Nếu
bạn hiểu chân tướng sự thật th́ bạn
cũng như đang trong máy chiếu phim, nh́n thấy
mỗi tấm phim chẳng có trước sau ǵ cả.
Cho nên chuyện chúng ta nên
làm là giúp đỡ hết thảy chúng sanh trồng
thiện căn, tu Bồ Tát hạnh, thành Bồ Tát đạo. Hơn nữa phải tích cực
làm, giúp đỡ mọi người vô điều
kiện, trong ấy không có phân biệt, không có chấp
trước, dùng tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng mà làm,
như vậy th́ công đức tự nhiên sẽ viên
măn. Trong kinh nói lợi ích
‘trăm ngàn vạn đời thường được
đoan chánh, sanh nhà tôn quư’, đây là điều mọi
người trong thế gian mong cầu, chỉ nêu ra
một thí dụ mà thôi, công đức lợi ích thật
sự th́ thù thắng hơn việc này nhiều. Pháp sư Thanh Liên chú giải
đoạn này rất hay, ngài dùng những ǵ nói trong kinh
điển tương đối sâu một chút, nhưng
chúng ta trong các buổi giảng đă nói rất nhiều,
nếu chư vị có thể hiểu ư nghĩa này th́ coi
chú giải của ngài chẳng khó.
Xin xem tiếp kinh văn, trang 66:
Nhĩ thời Phổ Quảng Bồ
Tát văn Phật Như Lai xưng dương tán thán
Địa Tạng Bồ Tát dĩ, hồ quỵ hiệp
chưởng phục bạch Phật ngôn: ‘Thế Tôn, ngă
cửu tri thị đại sĩ hữu như thử
bất khả tư nghị thần lực cập
đại thệ nguyện lực, vị vị lai chúng
sanh khiển tri lợi ích, cố vấn Như Lai, duy nhiên
đính thọ
Lúc đó, Bồ Tát Phổ Quảng nghe
Đức Phật Như Lai xưng dương tán thán Bồ
Tát Địa Tạng xong, liền quỳ xuống chắp tay
và bạch đức Phật rằng: "Bạch Thế
Tôn! Từ lâu con đă biết vị đại sĩ này có
thần lực chẳng thể nghĩ bàn và sức
mạnh của thệ nguyện lớn như vậy, song
v́ muốn cho chúng sanh đời sau biết rơ sự
lợi ích, nên con mới thỉnh vấn đức Như
Lai. Con xin cung kính lănh thọ.
Đây là Bồ Tát thay chúng ta hỏi Thế Tôn,
Thế Tôn dạy nhiều như vậy, phải
đặt tựa đề kinh này là ǵ? Đến chỗ này hỏi tên
kinh, tương lai lúc kết tập nên dùng tên ǵ? Giống như người
thế gian làm văn vậy, từ xưa đến nay
rất nhiều người viết văn, viết văn
chương xong rồi đặt tựa đề, đây
là một cách làm thông thường.
Khi chúng ta c̣n là học tṛ, thầy giáo ra tựa
đề cho chúng ta làm văn, chúng ta phải y theo tựa
đề này mà làm, như vậy khá khó, đó là tập
luyện. Thật sự
viết văn là sau khi viết xong, xem lại nội dung
rồi đặt tựa đề. Giống như chúng ta hiện nay
mỗi buổi sáng, ăn cơm xong nói chuyện với
mọi người, nói tùy tiện, các bạn thâu âm rồi
viết thành văn, sau đó coi nội dung và đặt
một tựa đề làm cho người ta đọc
đến tựa đề này liền biết nội dung
của buổi nói chuyện ngày hôm đó. Đức Phật giảng kinh
lúc ban đầu cũng chẳng đặt ra một
tựa đề rồi mới nói, đều là ứng
cơ thuyết pháp, khi kết tập mới đặt
tựa đề. Nhưng kinh
Phật phần nhiều đều là sau khi đại
chúng nghe xong, hoặc nghe được phân nửa, có
người đến thỉnh giáo, thỉnh Phật khai
thị. Trong kinh chúng ta
thấy những trường hợp này rất
nhiều. Có khi không có
người hỏi, đức Phật cũng chẳng
nói, sau khi kết tập, người kết tập
mới đặt ra một tựa đề. Nhưng trường hợp này
rất ít, phần nhiều đều do đức
Phật đặt tựa đề. Ở đây Phổ Quảng
Bồ Tát hỏi đề kinh, tên kinh này thay chúng ta.
‘Nhĩ thời’ là đức Thế Tôn dạy cho
chúng ta về các sự tu hành, giáo huấn, các sự tích,
công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Sau khi nói xong, Phổ Quảng
Bồ Tát ‘hồ quỵ hiệp chưởng’. ‘Quỵ’ lúc trước là lễ
tiết long trọng nhất, người Trung Quốc hành
lễ quỳ lạy khác với người ngoại
quốc, ‘hồ quỵ’ là lễ tiết của ngoại
quốc, chẳng phải lễ của Trung Quốc. Người Trung Quốc quỳ
th́ hai đầu gối đều chạm đất,
thời cổ Ấn Độ th́ gối bên phải
chạm đất, chỉ quỳ trên một gối, chẳng
giống như người Trung Quốc. Cách quỳ này có dụng ư,
tiện cho thầy sai bảo, thầy có sai bảo ǵ,
động tác lanh lẹ, [quỳ như vậy th́]
đứng dậy thật nhanh, thật dễ, phục
vụ cho thầy. Niệm
niệm chẳng quên phụng sự sư trưởng, là
ư nghĩa này, do đó đây là một thái độ rất
cung kính. ‘Hiệp
chưởng’ tượng trưng nhất tâm, đều
là tiêu biểu pháp. Mười
đầu ngón tay tượng trưng tâm tán loạn
của chúng ta, suy nghĩ lung tung, chắp tay tức là thâu
tóm tâm lại, hết thảy tất cả vọng
niệm lúc này đều phải buông xuống, nhất tâm
chuyên chú, chắp tay tiêu biểu cho ư nghĩa này. Hợp lại thành một, tiêu
biểu ư nghĩa này, tiêu biểu cung kính. ‘Bạch Phật ngôn’, ‘bạch’ là
từ ngữ biểu thị cung kính,
kẻ dưới thưa hỏi người trên. Từ ngôn
ngữ của ngài chúng ta biết Phổ Quảng cũng là
Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng phải là người
thường, cũng là chư Phật Như Lai thị
hiện, đúng như câu nói ‘Một Phật ra
đời, ngàn Phật ủng hộ’. Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đóng vai chánh trong tuồng hát, chư
Phật Như Lai đóng vai phụ, cùng nhau đóng vở
kịch này cho hay, hy vọng chúng sanh xem kịch xong có
thể giác ngộ, thế nên Phật pháp đích thật là
diễn tuồng [để giáo hóa chúng sanh] .
Trong tay tôi c̣n có một kịch bản, đó là
tuồng ‘Mục Liên cứu mẹ’, rất hợp với
tháng bảy này. Bản này
thật sự là bản kịch [có quy mô] to lớn, đáng
tiếc là chẳng ai biểu diễn, có kịch bản
nhưng không ai tŕnh diễn.
Thời xưa trong nhà Phật có rất nhiều
kịch bản như vầy, chúng ta không lưu ư
để sưu tập, nếu lưu ư sưu tập th́
sẽ thấy rất nhiều.
Hiện nay nếu có thể dùng phương pháp
hiện đại để đóng kịch này, làm thành
phim bộ, dùng phương pháp này để hoằng pháp
lợi sanh, hiệu quả sẽ rất lớn. Nhà Phật thường nói
phương tiện có nhiều cửa, chẳng câu nệ
một h́nh thức nào cả.
Nếu chúng ta thật sự có nhân tài, có tu
dưỡng về văn học, có ḷng ưa thích, hiểu
âm nhạc, biết diễn kịch, chúng ta sẽ viết
ra những kịch bản này tặng cho giới [nghệ
sĩ] làm phim, cho họ tŕnh diễn trên đài truyền h́nh,
được vậy th́ lợi ích hoằng pháp lợi
sanh sẽ rất lớn.
Hiệu quả sẽ thù thắng hơn chúng ta
giảng kinh thuyết pháp trên giảng đài không biết
gấp bao nhiêu lần, [do đó chúng ta] nên phát triển theo
đường hướng này.
Đạo diễn, diễn viên cho những tuồng
này nên nghe giảng trước, sau khi hiểu rơ xong mới
viết kịch bản, diễn kịch, dùng phương
pháp như vậy mới được. Hiện đại hóa, bản
địa hóa, ngày nay chúng ta nói ‘bản địa’ là nói
về cả địa cầu, hiện nay phương
tiện truyền thông phát triển, giao thông thuận tiện,
địa cầu [dường như được thâu]
nhỏ lại, ngày nay nói ‘bản địa’ chẳng g̣ bó
tại một địa phương nào, cả thế
giới đều là ‘bản địa’, nhất
định phải hiện đại hóa th́ mới thâu
nhận được hiệu quả.
Do đó những Bồ Tát này đều là hóa thân
của Như Lai, ‘ngă cửu tri thị đại sĩ’,
‘thị đại sĩ’ tức là Địa Tạng
Bồ Tát; tôi đă biết ngài rất lâu rồi, rất rơ
ràng. ‘Hữu như thử
bất khả tư nghị thần lực, cập
đại thệ nguyện lực’, đây là như
đức Phật Thích Ca đă nói phía trước, Phổ
Quảng Bồ Tát đă biết trước từ lâu
rồi, đâu có lư nào không biết?
Tại sao ngài phải hỏi?
‘Vị vị lai chúng sanh, khiển tri lợi ích
cố vấn Như Lai’. Câu
hỏi này của ngài thật ra là ngài đă biết rơ
rồi nhưng cũng hỏi, đó là như đóng
kịch vậy, đóng [theo lối] Song Hoàng [7]
[nghĩa là] một người hỏi một người
đáp. Chúng sanh chẳng
biết; chẳng biết nhưng chúng sanh cũng chẳng
hỏi, nhất định phải là người trong
ngành mới biết hỏi.
Đọc kinh này chúng ta phải bắt
chước. Bất kỳ
trường hợp nào, thời gian nào [nếu có cơ
hội th́ nên làm như vậy] rất đáng tiếc chúng
ta đều là chúng sanh mê hoặc điên đảo,
chẳng giác ngộ, chẳng biết phương pháp
độ chúng sanh. Nói thật
ra, cũng chẳng có nguyện vọng khẩn thiết
độ chúng sanh cho nên vẫn c̣n là phàm phu trong sanh
tử. Nếu bạn học
được phương pháp này, bạn cũng có một
hoằng nguyện, lúc nào cũng giúp đỡ chúng sanh,
đem lại lợi ích cho chúng sanh, chẳng gián
đoạn. Trong lúc tản
bộ tṛ chuyện, có nhiều người ở xung quanh,
chúng ta biết rơ nhưng cũng cứ hỏi, một
người hỏi một người đáp để
cho người ta nghe. Chúng ta
ở những nơi công cộng, trong tiệm ăn dùng
cơm, ở xung quanh đều có nhiều người,
chưa từng có người hỏi: “Thưa pháp sư,
Phật nghĩa là ǵ?” Bạn
hiểu, tôi cũng hiểu, chúng ta một người
hỏi, một người đáp, đóng kịch như
vậy cho người ta nghe, cho những người chưa
hiểu có dịp nghe. Khi chúng
ta dùng cơm th́ tiệm ăn đó liền biến thành
đạo tràng, những người đến ăn
cơm đều là thính chúng, có mấy người
biết làm như vậy?
Trong các chùa chiền ở Trung Quốc, các bạn
đều trú trong tự viện, bạn coi mỗi ngày có
bao nhiêu đoàn du lịch tới đó! Người hướng dẫn
du lịch giới thiệu đạo tràng, lịch sử,
văn vật cho những du khách này, chúng ta không biết cách
nói xen vào trong đó sao. Một
lần nọ ở chùa Ngọc Phật ở Thượng
Hải, lúc tôi đi đến điện Thiên
Vương, đúng lúc đó có hai đoàn khách du lịch
vừa đến, tôi thấy họ đều là
người ngoại quốc, có người phiên dịch
cho họ. Tôi cũng kéo một
vị tri khách của chùa Ngọc Phật đi kế bên,
tôi giảng giải cho thầy ấy nghe ư nghĩa tiêu
biểu pháp của Tứ Đại Thiên Vương
nơi đó. Tôi nói chuyện với
thầy ấy, cả hai đoàn du lịch đó
đều im lặng, đều vây quanh để nghe,
[đó là] cơ hội giáo dục, chúng ta giảng một
bài học [ngắn] cho những khách du lịch ấy. Do đó nhất định
phải hiểu cơ hội giáo dục, mọi nơi,
mọi lúc chúng ta phải có tâm này, nguyện này. Cũng như Phổ Quảng
Bồ Tát trong pháp hội Địa Tạng này vậy,
một người hỏi, một người đáp,
đâu phải là họ không biết? Họ đều biết, đă
biết nhưng cứ hỏi, diễn tuồng biểu
diễn cho người ta coi, làm cho họ thấy nghe xong
có thể giác ngộ, có thể hiểu rơ.
Do đó nên biết những chùa ở Đại
Lục nếu có thể lợi dụng cơ hội giáo
dục hướng dẫn cho chúng sanh trên toàn thế
giới, khi họ đến đó du lịch thật
sự sẽ đạt được lợi ích lúc ra
về. Sau khi về họ
sẽ tuyên dương những Phật pháp mà họ nghe
được, hiểu được, giới thiệu
cho bà con, bạn bè của họ.
Sau khi những bạn bè, thân quyến này nghe xong
lại đến Trung Quốc tham quan du lịch,
đến [Trung Quốc] muốn học một ít. Họ đến đó du lịch
phải tốn một số tiền, đó là học phí,
họ sẽ học được một vài điều
khi trở về, chúng ta chẳng phụ ḷng họ, đây
là một chuyện tốt.
Cho nên tôi chẳng có ở Trung Quốc th́ không có cách
chi, nếu tôi ở Trung Quốc th́ nhất định
sẽ đề nghị Hiệp Hội Phật Giáo Trung
Quốc nên triệu tập những người xuất
gia lại học một lớp huấn luyện, chỉ
cho họ [biết về việc] cơ hội giáo dục,
làm cho mỗi người ai nấy đều biết. Không cần nhiều, chỉ
cần hiểu rơ những sự việc có tiêu biểu
pháp, mỗi ngày giảng giải cho những đoàn thể
du lịch, làm cho những người ngoại quốc
đi du lịch đến Trung Quốc biết được
không những lịch sử Trung Quốc lâu đời,
tŕnh độ nghệ thuật hy hữu trên thế
giới, học thuật Trung Quốc tinh tuư, sâu sắc làm
cho họ khâm phục, đây là tuyên dương văn hóa
cố hữu, tuyên dương Phật pháp Đại
Thừa. [Hiện nay] Phật
pháp đích thật ở tại Trung Quốc chứ
chẳng tồn tại ở Ấn Độ nữa,
Ấn Độ chẳng c̣n nữa. Phật pháp cũng di dân, dời
đến Trung Quốc, thế nên nếu cả thế
giới muốn học Phật th́ nhất định
phải đến Trung Quốc.
Chúng tôi đọc đoạn kinh văn này rất
cảm khái, nhất định phải biết ḿnh nên làm
như thế nào để đem lại lợi ích cho chúng
sanh. Đây chẳng phải là
tạo thêm phiền phức, cho nên đừng sợ lăo
pháp sư quá cực nhọc, lăo pháp sư quá mệt,
chẳng sợ những chuyện này. Làm sao có thể đem lại
lợi ích cho chúng sanh, đă biết nhưng phải
hỏi. ‘Cố vấn Như
Lai duy nhiên đính thọ’, ‘duy nhiên đính thọ’ bốn
chữ này vô cùng cung kính, bao gồm ư nghĩa ‘quyết
định y giáo phụng hành’ ở trong ấy. Sau đó ngài chánh thức hỏi:
Bạch Thế Tôn, kinh này đặt tên
là ǵ và con nên lưu bố như thế nào?
Những lời ngài giảng nên đặt tựa
đề là ǵ để cho chúng con lưu thông rộng
khắp, giới thiệu pháp môn này cho hết thảy chúng
sanh, tiến cử cho hết thảy chúng sanh, ư nghĩa của chữ ‘lưu
bố’ là lưu thông, tuyên bố.
Có rất nhiều cách thức để lưu
bố, vô lượng vô biên, tuyệt đối chẳng
phải chỉ có một cách.
Chúng ta phải xem xét hoàn cảnh, h́nh thức, làm cách
nào để có lợi ích nhiều nhất, chúng ta dùng
phương pháp đó để làm. Chúng ta giảng kinh trong giảng
đường, giảng đường rất nhỏ,
thính chúng chẳng nhiều, làm thế nào khuyếch
trương hiệu quả của việc giảng kinh,
đương nhiên lư tưởng nhất là dùng máy
truyền h́nh, duyên của truyền h́nh chưa chín muồi,
chẳng có quan hệ này.
Đặc biệt là đài truyền h́nh, do chánh sách
quốc gia hạn chế, [chúng ta] chưa đủ
duyên. Chúng ta cũng chẳng có
tài lực nên làm không nổi.
Làm không được th́ phải làm sao? Mỗi lần chúng ta giảng
kinh, lưu lại băng thâu âm, chúng ta có thể làm
việc này. Những
đạo tràng và đồng tu quen biết nhưng
chẳng có duyên trực tiếp đến nghe, chúng ta có
thể làm thành nhiều băng tặng cho họ. Trong Phật pháp, đây là bố
thí cúng dường, tuyệt đối chẳng có mua bán,
thế nên những kinh sách, băng thâu âm, băng thâu h́nh, CD
chúng tôi in và làm ra, từ trước đến giờ
chưa từng đem bán, chỉ biếu tặng mà thôi.
Hai năm gần đây nhân duyên dần dần chín
muồi, sau khi đài số bốn ở Đài Loan mở
ra, có rất nhiều người hỏi tôi xin băng thâu
h́nh. Có người muốn xin
th́ đó là chuyện tốt, chúng tôi rất hoan hỷ, chúng
tôi cung cấp [băng thâu h́nh] cho họ chiếu lên
truyền h́nh. Thế nên
hiện nay Đài Loan mỗi ngày hầu như có ba, bốn
giờ phát h́nh những băng thâu h́nh [giảng kinh] này. Ở Mỹ mỗi ngày có một
giờ đồng hồ, gần đây đài truyền
h́nh Hawaii cũng bắt đầu cho truyền h́nh, mỗi
tuần hai lần, h́nh như mỗi tuần hai giờ
đồng hồ. Phong khí
dần dần mở ra, băng thâu h́nh của chúng ta có
dịp được truyền h́nh. Chỉ cần họ xin chúng ta,
chúng ta lưu giữ rất nhiều [băng thâu h́nh, thâu
âm], tôi tin tưởng hai, ba năm họ cũng dùng không
hết. Chúng ta lưu giữ
nhiều băng như vậy, cho nên chúng ta phải sớm
t́m cách lợi dụng phương pháp khoa học kỹ
thuật. Hiện nay mạng
lưới điện toán phát triển, đối với
chúng ta đây cũng là phương pháp tốt nhất
để lưu thông rộng răi, rất nhiều tài
liệu này đều có trên mạng lưới điện
toán. Chúng ta coi khuynh
hướng của khoa học kỹ thuật, trong sự
tưởng tượng của tôi th́ mười năm
sau là thời đại điện năo (máy vi tính, computer), có
thể những máy truyền h́nh này cũng sẽ bị
đào thải hết, mỗi người mang một máy
điện năo nhỏ, cỡ bằng cuốn sách. Mười năm sau máy
điện năo có thể biến thành một hộp rất
nhỏ, có thể bỏ vô túi, càng làm càng tiến
bộ. Mỗi người mở
máy điện năo ra, bất cứ lúc nào cũng có thể
xem chỉ cần có thời giờ rảnh rỗi, khi
bạn muốn nghe kinh th́ bạn liền có thể mở
xem, rất thuận tiện!
Cho nên tương lai hoằng pháp lợi sanh trên toàn
thế giới cần phải có một chỗ bao
lớn? Chỗ này của chúng
ta hiện nay đủ rồi, chỗ nhỏ th́ ít
việc, phí tổn ít chẳng cần phải cầu
cạnh người ta, hết thảy những tài lực
này đều dồn vào việc hoằng pháp, giúp đỡ
những chúng sanh đang chịu khổ nạn. Chúng ta đủ ăn đủ
mặc th́ vui rồi, rất thoải mái, có bạn
đạo có cùng chí hướng, có bảy tám người
là đủ rồi, không nên có quá nhiều người. Chúng ta chuyên chí công phu trên
Đại Thừa, mỗi ngày luyện tập trên
giảng đài, lợi dụng phương pháp khoa học
kỹ thuật truyền bá rộng khắp thế
giới, chúng ta dùng phương pháp này để lưu
thông rộng răi, định tâm ở một chỗ
để chuyên làm công việc này.
Chúng ta cũng không cần treo một chiêu bài ǵ cả,
đó là h́nh thức, không quan trọng lắm, quan trọng
ở thật chất.
Thật sự có vài người có cùng chí hướng
sanh hoạt chung với nhau, học tập chung, làm việc
chung với nhau, hy vọng làm sự nghiệp của Như Lai cho hoàn
hảo, đời này sẽ rất sung măn, rất có giá
trị, rất có ư nghĩa.
Từ mấy chục năm học Phật
đến nay tôi có nguyện vọng như trên, hy vọng
có vài bạn đồng tu thật sự chí đồng
đạo hợp, chúng ta cùng nhau làm sự nghiệp này. Rất khó t́m được
người có đồng tâm, đồng nguyện,
người xưa có nói: “Ba người đồng tâm,
sức bén nhọn ấy có thể cắt đứt vàng’ [8],
đó là một cách tỷ dụ, sức bén nhọn ấy
có thể cắt đứt sắt thép, có sức mạnh
lớn như vậy.
[Hiện nay] chẳng t́m được người
đồng tâm, tại sao chẳng t́m thấy? Mọi người quá coi
trọng danh lợi, vậy th́ chẳng có cách chi cả. Nếu có thể xả bỏ
rốt ráo các thứ tiếng tăm, lợi dưỡng,
thị phi nhân ngă, chỉ có một niệm: hoằng
dương Phật pháp, lợi ích chúng sanh, người
như vậy rất khó gặp, quá khó! Tôi tin tưởng sâu xa nếu có
năm người [đồng tâm] th́ có thể làm cho
Phật pháp hưng vượng trở lại, chẳng
khác ǵ với thời đại đức Phật Thích Ca
Mâu Ni. Năm xưa đức
Thế Tôn tại vườn Lộc Dă cùng với năm
tỳ kheo có thể hưng khởi [Phật pháp], ngày nay
nếu có năm vị tỳ kheo th́ nhất định có
thể làm cho Phật pháp hưng vượng trở
lại. Năm người này
thật sự có đạo tâm, có thể chuyển
đổi quan niệm, ngôn hạnh trở lại, cùng tâm,
cùng nguyện, cùng giải, cùng hạnh với Phật th́
sự nghiệp này mới làm được viên măn. Xin xem tiếp kinh văn:
Đức Phật bảo ngài Phổ
Quảng: "Kinh này có ba danh hiệu: một là Địa
Tạng Bổn Nguyện, cũng gọi là Địa Tạng
Bổn Hạnh, cũng gọi là Địa Tạng Bổn
Thệ Lực Kinh.
Ngài Phổ Quảng hỏi tên kinh, đức Thế
Tôn nói ra ba tên, ngày nay chúng ta thấy tên kinh này là một trong
ba tên nói trên. Đây là lúc
trước đại sư dịch kinh, lựa một
tên trong ba tên do đức Thế Tôn đặt ra, chọn
‘Địa Tạng Bổn Nguyện’, cho nên kinh này gọi
là Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh. ‘Nguyện’ nhất định
phải có ‘Hạnh’, hết thảy ‘bổn hạnh’ bao
gồm trong ‘bổn nguyện’.
‘Hạnh’ nhất định có ‘Thệ Lực’. ‘Thệ’ mọi người
đều biết, thệ nguyện của Địa
Tạng Bồ Tát rộng lớn, sâu xa, thật sự
xả ḿnh v́ người. Ngày
nay chúng ta gọi là ‘hy sinh, phụng sự, hiến dâng’,
xả ḿnh v́ người, Địa Tạng Bồ Tát là mô
phạm hạng nhất, ‘Địa
ngục chẳng không, thề chẳng thành Phật,
độ tận chúng sanh mới thành Phật đạo’. Chúng ta hỏi: “Địa
Tạng Bồ Tát có nguyện lớn như vậy, đáng
được hết thảy chư Phật Như Lai tán
thán, hết thảy chúng sanh kính ngưỡng, Quán Âm Bồ
Tát có nguyện này không? Văn
Thù Bồ Tát có nguyện này không?
Phổ Quảng Bồ Tát trong kinh này có nguyện
như vậy không? Từ
nguyện này mà nói th́ đều được gọi là
Địa Tạng Bồ Tát, Phổ Quảng cũng được
gọi là Địa Tạng Bồ Tát, Quán Âm cũng
gọi là Địa Tạng Bồ Tát, Văn Thù, Phổ
Hiền cũng gọi là Địa Tạng Bồ Tát, nói
từ nguyện này. Nếu xét
về đại từ đại bi th́ Địa
Tạng Bồ Tát cũng gọi là Quán Âm Bồ Tát, hết
thảy đều gọi là Quán Âm Bồ Tát. Muôn vàn xin đừng coi một
vị Bồ Tát thành một người, nghĩ cứng
ngắc như vậy th́ bạn sai rồi! Tất cả hết thảy
Bồ Tát đều là tiêu biểu pháp.
Cho nên bạn thành tựu cái
ǵ? Tập hợp hết
thảy thành tựu to lớn của Bồ Tát, hết
thảy Bồ Tát tức là tôi, một người, như
vậy mới đúng, tận hư không trọn khắp
pháp giới là chính ḿnh. Từ
chuyện chúng ta hiếu thân tôn sư, từ nguyện
hạnh này, tức là Địa Tạng Bồ Tát; xét về
từ bi cứu đời th́ bạn chính là Quán Thế Âm
Bồ Tát; xét về cách dùng lư trí chẳng dùng cảm t́nh th́
bạn chính là Văn Thù Bồ Tát; nói được làm
được, lời nói và hành động đi đôi,
đó chính là Phổ Hiền Bồ Tát. Tất cả hết thảy
Bồ Tát là một người, chẳng phải rất
nhiều người, phải hiểu đạo lư này. Ngày nay chúng ta học Phật,
học đến già cũng chẳng thể bước
vào ngưỡng cửa (nhập môn), vậy là sai ở
chỗ nào? Sai ở chỗ
chúng ta phân chia các Bồ Tát riêng rẽ ra, vị này chẳng
phải là vị kia, vị kia chẳng phải vị này,
vậy th́ hỏng rồi!
Thế nên bạn chẳng thể bước vào
cửa. Khi bạn thật
sự hiểu được, hết thảy chư
Phật là một vị Phật, hết thảy Bồ Tát
là một vị Bồ Tát, kinh Hoa Nghiêm cũng nói với
chúng ta ‘Một tức là nhiều, nhiều tức là
một, một và nhiều chẳng phải hai’ [9],
đều là nói rơ về đạo lư này, đều nói
về sự thật này, làm sao có thể chia ra
được? Vừa chia ra
th́ rơi vào vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước; nếu chẳng đoạn vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ bạn
chẳng thể bước vào cửa. Nói thật ra, bạn coi kinh
cũng không hiểu th́ bạn làm sao đạt
được sự lợi ích thù thắng của kinh
giáo? Đây là nói về bổn
thệ nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, từ
thệ nguyện sanh ra sức mạnh. Chữ ‘lực’ (sức mạnh)
này, ngày nay chúng ta gọi là động lực, dũng mănh
tinh tấn, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Sức mạnh ǵ đang thúc
đẩy họ? Ngày nay chúng
ta thấy người thế gian liều mạng đi làm
việc, sức mạnh ǵ thúc đẩy họ làm
việc? Chính là danh
lợi. Nếu họ
chẳng đạt được danh, chẳng
đạt được lợi th́ họ sẽ giải
đăi, cái ǵ cũng chẳng muốn làm.
Báo hôm qua có đăng một
bài luận ngắn, tôi coi xong cảm thấy rất thú
vị. Nói về Tịch
Cốc (Silicon Valley), tiểu bang California, đó là chỗ
tôi ở hồi đó, tôi trú ở Nam Loan, nói về
địa phương ấy.
Chỗ đó có rất nhiều khoa học gia, hơn
phân nửa đều làm trong ngành điện năo,
điện tử. Tôi
giảng kinh ở Cựu Kim Sơn (San Francisco), những
người này đều đến nghe, trong đó
rất nhiều người có học vị Tiến Sĩ. Tôi nhớ lần đầu tiên
tôi giảng kinh ở Cựu Kim Sơn, thính chúng có
khoảng tám mươi mấy người, hai phần ba
có học vị Tiến Sĩ, có một đồng tu nói
với tôi: “Pháp sư lại đây mở lớp Tiến
Sĩ, những người này làm việc rất nỗ
lực, mỗi ngày làm việc mười mấy giờ đồng
hồ, v́ cái ǵ? Kiếm
tiền. Kiếm tiền xong
chẳng có chỗ xài, không biết làm sao xài tiền,
thật là như vậy.”
Liều mạng nỗ lực kiếm tiền, là v́
chuyện này nên họ mới làm việc [siêng năng]
như vậy. Nếu không
kiếm được tiền, chẳng có lợi ích th́
họ nhất định sẽ không làm nữa.
Động lực người thế gian, động lực lao động làm việc là v́ danh lợi, trong Phật pháp th́ xả bỏ hết danh lợi, động lực ǵ thúc đẩy họ? Bổn thệ, lời thệ nguyện của họ thúc đẩy, tứ hoằng thệ nguyện. Tứ hoằng thệ nguyện thật ra tức là nguyện thứ nhất ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’, nguyện lực này thúc đẩy họ. Nếu họ thật sự có nguyện này th́ nhất định phải đoạn phiền năo, nhất định phải học pháp môn, nhất định phải thành Phật đạo. Tại sao vậy? Họ không đoạn phiền năo, không học pháp môn th́ không có khả năng độ chúng sanh. Từ đây có thể biết do nguyện lực này thành tựu cho họ. Sau khi chính họ thành tựu, họ mới có thể thực hiện nguyện lực, mới có thể phổ độ chúng sanh. Cho nên chư Phật đă thành Phật, sau khi thành Phật, quyết định không trụ trên ngôi vị Phật, lui về ngôi vị Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát là địa vị của học sinh, Phật là địa vị của thầy giáo, v́ ở trên địa vị của thầy giáo th́ phiền phức. Phật đạo là sư đạo, đề xướng tôn sư trọng đạo, chỉ có học sinh đến cầu thầy giáo, thầy giáo không thể tùy ư dạy học sinh, nếu thầy giáo tùy tiện dạy học si