Hòa thượng Tịnh Không giảng tại
Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba, tháng 5 năm 1998
Tập 27 (Số 14-12-27)
Xin mở cuốn
Khoa Chú quyển trung, trang 79, chúng ta đọc kinh văn một lần:
Hà huống lâm mạng chung nhân, tại sanh vị
tằng hữu thiểu thiện căn, các cư bổn nghiệp, tự thọ ác thú, hà nhẫn quyến thuộc
cánh vi tăng nghiệp
Huống chi là
người sắp chết lúc còn sống chưa từng có chút thiện căn, phải y theo bổn nghiệp
mà tự đọa ác đạo, quyến thuộc nỡ nào tăng thêm nghiệp tội của người ấy!
Lần trước giảng đến đây, xin xem thí dụ tiếp theo:
Thí như hữu nhân, tùng viễn xứ lai, tuyệt lương tam nhật, sở phụ đam
vật cường quá bá cân, hốt ngộ lân nhân cánh phụ thiểu vật, dĩ thị chi cố chuyển
phục khốn trọng.
Ví như có
người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, lại vác theo đồ vật nặng hơn
trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận gởi ít món đồ nữa, vì thế mà càng khốn đốn, nặng
nề thêm.
Trong
thí dụ này, ý nghĩa rất rõ ràng, ví dụ có một người từ xa đến đây. Thời xưa giao thông chẳng phát triển, đi
xa phần đông đều là đi bộ, đường xa thì đương nhiên sẽ rất mệt nhọc, tiêu hao
thể lực. Nếu ba ngày chẳng ăn cơm,
thì nỗi khổ này chúng ta có thể tưởng tượng mà biết. Người này chẳng phải chỉ đi bộ mà còn
gánh hành lý nặng một trăm cân, gánh này rất nặng, ba ngày chẳng ăn cơm mà phải
đi trên đường dài, như vậy đã rất mệt rồi.
Đây là ví dụ người sắp chết nói ở trên, lúc còn sống chẳng làm việc gì
tốt, sau khi chết đương nhiên sẽ y theo hạnh nghiệp mà nhận lấy quả báo. .Hốt ngộ lân nhân, cánh phụ thiểu vật・
(bỗng gặp người lân cận gởi ít món đồ nữa), ví dụ người nhà quyến thuộc chẳng
hiểu biết mà còn sát sanh, cúng tế làm tăng thêm tội nghiệp [cho kẻ ấy], tiền
đồ của kẻ ấy đương nhiên càng khốn khổ.
Ví dụ này rất dễ hiểu. Chúng
ta xem tiếp kinh văn, trang 80:
Thế
Tôn, ngã quán Diêm Phù chúng sanh, đản năng ư chư Phật giáo trung, nãi chí
thiện sự, nhất mao nhất trích, nhất sa nhất trần, như thị lợi ích tất giai tự
đắc.
Bạch
đức Thế Tôn, con xem xét chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề, ở trong giáo pháp của chư
Phật, nếu có thể làm thiện sự chừng bằng một sợi lông, một giọt nước, một hạt
cát, một hạt bụi, thì tất cả đều tự được lợi ích.
Đây
là lời của Địa Tạng Bồ Tát nói với Thế Tôn, thật ra nói với Thế Tôn tức là Thế
Tôn chứng minh cho ngài, những lời ngài nói câu nào cũng là chân thật, dụng ý
thật ra là vì chúng ta. .Diêm Phù
chúng sanh・ tức là chúng ta. .Đản
năng ư chư Phật giáo trung・, hai chữ .Phật giáo・ là mấu chốt quan trọng, ngày
nay nhắc đến Phật giáo có phải là ý nghĩa của chữ Phật giáo trong sự tưởng
tượng của chúng ta chăng? Chẳng
phải. Trong hết thảy những lời giáo
huấn của chư Phật, Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta có hiểu không? Chúng ta có làm được không? Thật sự hiểu rõ rồi, chịu làm, cho dù
làm một việc thiện nhỏ xíu, .nhất mao, nhất trích, nhất sa, nhất trần・ rất ít,
hình dung tu thiện ít. .Mao・ là sợi
lông, lông trên thân thể, đây là vật nhỏ nhất trong chánh báo của chúng ta,
.trần sa・ (hạt bụi, hạt cát) là vật nhỏ nhất trong y báo của chúng ta, cả hai
đều hình dung việc thiện nhỏ. Bạn
sẽ có được toàn bộ lợi ích của việc thiện nhỏ này, huống chi là việc thiện
lớn. Những gì dạy trong Phật pháp,
dù có nhỏ cũng xứng tánh. Đã xứng
tánh thì nói thật ra việc thiện chẳng có lớn nhỏ, việc thiện lớn trọn khắp hư
không pháp giới, việc thiện nhỏ cũng trọn khắp hư không pháp giới, thậm chí khi
bạn khởi một niệm thiện, một niệm làm lợi ích chúng sanh thì quả báo cũng sẽ
chẳng thể nghĩ bàn. Những lời nói
này của Địa Tạng Bồ Tát, người sơ học đích thật rất khó chấp nhận, có phải là
Phật, Bồ Tát dùng những lời này để khuyến khích chúng ta, chưa chắc đã là
thật. Chúng sanh tiếp xúc Phật
pháp, đặc biệt là người sơ học, có thể nói những nghi hoặc này vô cùng phổ
biến, hoàn toàn dùng tâm phàm phu của chúng ta để đo lường cảnh giới của Phật,
Bồ Tát, vậy là sai lầm quá đỗi.
Phàm
phu chúng ta dùng vọng tâm, chư Phật, Bồ Tát dùng chân tâm, vọng tâm vĩnh viễn
chẳng duyên đến cảnh giới chân thật.
Kinh luận của Pháp Tướng Tông nói rất nhiều về công năng của Ý Thức,
thức thứ sáu trong tám thức mạnh nhất, đối ngoại nó có thể duyên đến hư không
pháp giới, đối nội nó có thể duyên đến A Lại Da thức, tiếc rằng nó không thể
duyên đến tự tánh. Chư vị phải biết
Nhất Chân pháp giới là tự tánh, nó có thể duyên hư không pháp giới, có thể
duyên thập pháp giới, nhưng chẳng có cách chi để duyên Nhất Chân pháp giới,
không có cách chi duyên tự tánh. Do
đó kiến giải và trí huệ của phàm phu làm sao có thể biết cảnh giới của Phật, Bồ
Tát? Dựa vào vọng tưởng của mình để
tưởng tượng cảnh giới Phật, Bồ Tát là hoàn toàn sai lầm, đây là việc chúng ta
phải biết. Trí huệ chân thật là
gì? Khi .hai chướng・ đã bị phá thì
trí huệ chân thật mới hiện ra.
Chúng ta thử nghĩ chúng ta có Phiền Não Chướng, có Sở Tri Chướng, không
những có, vả lại còn rất nặng nề thì lấy đâu ra trí huệ cho được! Tự mình cảm thấy rất có trí huệ, trong
Phật pháp đó chỉ là .thế trí biện thông・, thế trí biện thông không thể giải
quyết vấn đề được. Xin xem tiếp:
Thuyết
thị ngữ thời, hội trung hữu nhất trưởng giả danh viết Đại Biện. Thị trưởng giả cửu chứng Vô Sanh, hóa độ
thập phương, hiện trưởng giả thân.
Nói
lời như thế xong, trong pháp hội có một vị trưởng giả tên là Ðại Biện, vị
trưởng giả này từ lâu đã chứng Vô Sanh, hiện thân trưởng giả để hóa độ thập
phương.
Đến đây là một đoạn nhỏ. Từ đoạn kinh này, chúng ta liền hiểu
trưởng giả Đại Biện cũng là chư Phật Như Lai thị hiện. .Cửu chứng vô sanh・, câu này nói ngài đã
thành Phật từ lâu rồi, độ chúng sanh trong mười phương thế giới .hiện thân trưởng
giả・, đây là thị hiện. Nên dùng
thân trưởng giả để được độ thì ngài liền hiện thân trưởng giả, tham dự pháp hội
Địa Tạng, giúp đỡ Thế Tôn và Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa chúng sanh. Ngài đứng ra nêu câu hỏi, thông qua câu
hỏi và câu trả lời này có thể phá trừ nghi hoặc của chúng ta. Sau đó:
Hiệp
chưởng cung kính vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn:
Cung
kính chắp tay hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát rằng:
.Hiệp
chưởng cung kính・ là kính trọng tột cùng, là lễ tiết, thỉnh giáo Địa Tạng Bồ
Tát.
Đây là lời xưng tán Bồ Tát.
Thị
Nam Diêm Phù Đề chúng sanh mạng chung chi hậu, tiểu đại quyến thuộc vị tu công
đức, nãi chí thiết trai, tạo chúng thiện nhân, thị mạng chung nhân đắc đại lợi
ích, cập giải thoát phủ.
"
Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề sau khi mạng chung được hàng quyến thuộc
kẻ lớn người nhỏ, đều vì người chết mà tu công đức, cho đến thiết trai, tạo
những thiện nhân, thì người chết ấy có được lợi ích lớn và được giải thoát
chăng?"
Ý nghĩa của câu hỏi này
chẳng khó hiểu. Đây là nói chúng
sanh trong thế gian sau khi qua đời, người nhà của họ giúp họ làm một số công
đức, thí dụ như .thiết trai・. Ý
nghĩa của .thiết trai・ rất rộng, như tập tục hiện nay [những việc như] Phóng
Diệm Khẩu, Mông Sơn Thí Thực, đều là thiết trai, đều nghĩa là mời quỷ thần dùng
cơm; cũng như việc tu phước trên thế gian, [thiết trai cúng dường tăng chúng
thì gọi là] :trai tăng;. Thời xưa
những nhà giàu có thiết trai cúng dường cả ngàn vị tăng. Và tạo ra các thiện nhân khác, làm nhiều
việc thiện hồi hướng cho người mất.
Người mất này có phải nhờ người nhà thân quyến làm công đức cho họ nên
họ có được lợi ích? Họ có thể được
giải thoát không? Chúng ta hãy coi
lời khai thị của Địa Tạng Bồ Tát:
Địa
Tạng đáp ngôn, Trưởng Giả, ngã kim vị vị lai hiện tại nhất thiết chúng sanh,
thừa Phật oai lực lược thuyết thị sự.
Ðịa
Tạng Bồ Tát đáp: "Này ông trưởng giả, nay tôi vì tất cả chúng sanh trong
hiện tại cùng vị lai, nương oai lực của đức Phật mà lược nói về việc đó.
Địa
Tạng Bồ Tát đáp, xưng .trưởng giả・, đây là cung kính lẫn nhau. Trưởng giả xưng Bồ Tát bằng .Đại Sĩ・, Bồ
Tát xưng ông là .Trưởng Giả・. Nhân
vì ông đã hỏi, nay tôi vì .vị lai・, .vị lai・ là chỉ chúng ta, .hiện tại・ nghĩa
là đương lúc đó, .nhất thiết chúng sanh thừa Phật oai lực, lược thuyết thị sự・. .Thừa Phật oai lực・ câu này .tôn sư
trọng đạo・, chẳng dám cho rằng tự mình có thể nói; Lý và Sự của chuyện này quá
sâu, quá rộng, tôi làm sao có thể nói?
Nương nhờ oai thần gia trì của Phật nên mới có thể nói. Thật ra Địa Tạng Bồ Tát đã thành Phật từ
lâu rồi, nhưng hiện nay thị hiện làm thân Bồ Tát. Vô lượng vô biên học sinh đều đã thành
Phật, có lẽ nào thầy giáo còn chưa thành Phật! Đây là tỏ rõ chư Phật Như Lai đại từ đại
bi, hạ thấp dùng thân phận Bồ Tát để thuận tiện độ chúng sanh.
Trưởng
giả, vị lai hiện tại chư chúng sanh đẳng, lâm mạng chung nhật đắc văn nhất Phật
danh, nhất Bồ Tát danh, nhất Bích Chi Phật danh, bất vấn hữu tội vô tội giai
đắc giải thoát.
Này
ông Trưởng Giả, các chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà
nghe được danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát, danh hiệu
của một vị Bích Chi Phật, thì bất luận là có tội hay không tội, thảy đều được
giải thoát.
Lợi ích này nói thật ra quá
lớn, lớn vô cùng.
Nếu
lúc lâm chung có thể nghe đến danh hiệu của đức Phật A Di Đà, người này cả đời
chưa từng tiếp xúc đến Phật pháp, đến lúc lâm chung mới có người dạy họ niệm A
Di Đà Phật. Dạy họ niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ, khi Phật đến tiếp dẫn thì đi theo đức Phật A Di Đà, họ bèn được
vãng sanh. Năm xưa ở thủ đô nước
Mỹ, Hoa Thạnh Đốn (Washington DC), chuyện của ông Châu Quảng Đại là một thí dụ
rất rõ ràng. Ba ngày trước khi mất
ông mới gặp được Phật pháp, người ta giảng cho ông nghe, ông bèn tin tưởng,
tiếp nhận, niệm Phật được ba ngày thì được Phật tiếp dẫn vãng sanh. Đây là [trường hợp] người nhà, thân
quyến là thiện tri thức. Gặp người
dạy họ niệm danh hiệu Bồ Tát, danh hiệu Bích Chi Phật, cho dù không vãng sanh
đến tây phương Cực Lạc thế giới thì nhất định sẽ được phước báo ở cõi trời, cõi
người. .Giải thoát・ tức là giải
thoát từ ba cõi ác, sanh đến ba cõi thiện, đây là lời dạy trong nhà Phật. Nếu họ có thể hiểu sự tiêu biểu pháp, ý
nghĩa của danh hiệu Phật, Bồ Tát, thì công đức lợi ích họ đạt được càng thù
thắng, họ đích thật có thể khế nhập vào cảnh giới. Do đó chúng ta phải ghi nhớ việc này,
khi tiễn đưa người sắp mất nhất định phải khuyên họ niệm Phật, nếu người nhà
thân quyến đều có thể trợ niệm thì sẽ thù thắng vô cùng.
Niệm Phật hằng ngày đều là [chuẩn bị cho] một niệm cuối cùng lúc lâm
chung, hy vọng lúc bình thường niệm Phật cho thật quen thuộc, lúc lâm chung mới
không quên niệm Phật, lúc bình thường phải buông xuống hết vạn duyên thì lúc
lâm chung mới không có chướng ngại.
Cái gì cũng phải buông xuống, thật sự đối với thế gian này chẳng có một
tơ hào tham luyến thì sẽ được tự tại vãng sanh. Chỉ cần có một mảy may tham luyến, nhiễm
trước thì sẽ chướng ngại cho sự niệm Phật vãng sanh lúc lâm chung. Tự chúng ta phải hiểu rõ ràng, rành rẽ,
lúc lâm chung có thể gặp thiện tri thức hay không? Có thể gặp được vài người giúp đỡ hay không? Rất khó nói! Do đó chúng ta biết được chuyện này thì
thường ngày phải nên kết thiện duyên cho nhiều, phải tham gia trợ niệm cho
nhiều. Bạn có thể thường giúp đỡ
trợ niệm cho người lâm chung là nhân, đến lúc chính mình lâm chung thì nhất
định sẽ có người đến giúp bạn. Lúc
thường ngày bạn không chịu giúp đỡ người khác thì lúc lâm chung dứt khoát sẽ
không có người giúp bạn, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai. Do đó lúc thường ngày phải trồng nhân
lành thì bạn mới được quả lành, nhất định phải tin việc Địa Tạng Bồ Tát dạy ở
đây. Xin xem đoạn kinh kế tiếp, đây
đều là lời của Địa Tạng Bồ Tát dạy:
Nhược hữu nam tử nữ nhân tại sanh bất tu thiện nhân, đa tạo chúng tội,
mạng chung chi hậu quyến thuộc tiểu đại, vi tạo phước lợi nhất thiết thánh sự,
thất phần chi trung nhi nãi hoạch nhất, lục phần công đức sanh giả tự lợi.
Nếu có
người nam hoặc người nữ lúc sống không tu thiện nhân mà lại tạo nhiều nghiệp
tội, sau khi mạng chung lại được hàng quyến thuộc vì người chết mà tu tạo phước
lợi lớn nhỏ; thì tất cả Thánh sự, trong bảy phần công đức, người chết được một
phần, còn sáu phần thuộc về người sống hiện lo tu tạo đó.
Nhất định phải
hiểu đạo lý này. Ngày nay chúng ta
thấy người nhà quyến thuộc trên thế gian làm Phật sự giúp cho người mất, thông
thường khi thỉnh người xuất gia thì nên thỉnh bảy người, tại sao? Trong bảy phần công đức, người mất chỉ
được một phần. Tụng kinh phải tụng
bảy bộ, việc này là từ kinh này nói.
Người mất chỉ hưởng được một phần bảy, còn người niệm kinh, niệm Phật
được sáu phần bảy, đây là nói về tỷ lệ [của phước đức]. Người mất hưởng được lợi ích bao lớn đều
dựa trên sự lợi ích của người nhà.
Nếu người tụng kinh khai ngộ chứng quả khi tụng kinh, .chứng quả・ tức là
nhập cảnh giới trong kinh. Các vị
đại đức thời xưa dạy chúng ta lúc đọc kinh phải tùy văn nhập quán (quán tưởng
theo lời kinh), mọi người phải nghe rõ ràng, không phải vừa đọc kinh vừa khởi
vọng tưởng, vậy thì hoàn toàn sai lầm.
Chẳng phải vừa đọc kinh vừa nghĩ lời nói trong kinh có ý nghĩa gì, nếu
đọc như vậy thì chẳng có ai được ích lợi gì cả, phải niệm cho thiết thật, thật
thà. Từ .Như thị ngã văn・ đến .tín
thọ phụng hành・ (từ đầu đến cuối) chẳng có một vọng niệm nào cả thì mới có công
đức. Công đức này tức là tâm thanh
tịnh, bạn tu tâm thanh tịnh, bạn tu Định thì họ được lợi ích. Nếu có thể .nhập quán・, .quán・ chẳng
dùng tâm ý thức, dùng tâm ý thức là tư tưởng, là vọng tưởng, chẳng phải .quán・;
chẳng dùng tâm ý thức mà khế nhập vào cảnh giới ấy thì gọi là quán, đó là từ
Định khai trí huệ. Đọc bộ kinh này,
cảnh giới trong kinh biến thành cảnh giới của mình, tự tha bất nhị (mình và
người chẳng hai), sanh Phật nhất như (chúng sanh và Phật là một), nhập cảnh
giới này. Người mất đạt được lợi
ích đó sẽ chẳng thể nghĩ bàn, họ đạt được công đức lợi ích thù thắng nhất. Công đức lợi ích thù thắng nhất cũng chỉ
có thể giúp cho họ sanh lên trời Đao Lợi, nhưng sẽ được phước báo to lớn ở trời
Đao Lợi.
Nếu người mất
này lúc còn sống là người niệm Phật, là người hiểu rõ Phật pháp, sau khi họ mất
và nghe tụng kinh, rất có thể sẽ nhắc nhở họ niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ, vậy
thì họ nhất định sẽ được sanh Tịnh Độ.
Do đó hết thảy Phật sự siêu độ là nhằm tạo tăng thượng duyên cho người
mất, sợ họ quên mất, cốt ý nhắc nhở họ.
Nếu lúc còn sống họ chưa tiếp xúc Phật pháp thì rất khó, hoàn toàn dựa
trên phước báo thì họ chỉ có thể sanh đến trời Đao Lợi mà thôi. Lợi ích lớn nhỏ chẳng bằng nhau, trong
kinh nói rất rõ ràng, rành rẽ, chúng ta phải tự suy nghĩ tại sao sự siêu độ này
họ được lợi ích. Phía trước đã nói
với chư vị rồi, nếu chẳng vì người ấy qua đời thì người nhà, thân quyến sẽ
chẳng biết tu phước, sẽ chẳng được lợi ích thù thắng. Vì duyên cớ này nên người nhà mới tu
phước, lễ lạy sám hối, tụng kinh, lạy Phật, đây là người mất tạo tăng thượng
duyên cho người nhà, là vì nguyên nhân như vậy nên người mất mới được một phần
bảy phước báo. Do đó phước người
nhà quyến thuộc tu được càng lớn thì người mất được càng nhiều, đạo lý là như
vậy.
Dĩ
thị chi cố vị lai hiện tại thiện nam nữ đẳng, văn kiện tự tu, phần phần kỷ
hoạch.
Thế nên, các thiện nam thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa
rồi nên cố gắng tự tu hành, thì được hưởng trọn phần công đức.
Vì duyên cớ này
nên Địa Tạng Bồ Tát nói .vị lai hiện tại thiện nam nữ đẳng văn kiện tự tu・,
.kiện・ nghĩa là thân thể của bạn rất khỏe mạnh, .văn・ nghĩa là sáu căn rất
thông minh. Bạn hiểu rõ đạo lý này,
biết được sự thật này, thừa lúc thân thể còn khỏe mạnh phải nên sốt sắng nỗ lực
tự tu hành, sẽ được trọn phần phước báo, tự mình sẽ hưởng trọn. Trong Chú Giải, Thanh Liên pháp sư trích
dẫn một đoạn trong kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh, chúng ta hãy đọc đoạn kinh này,
đoạn này là do Phổ Quảng Bồ Tát nói.
Hàng thứ nhất trang 85 trong Kinh Tùy Nguyện Vãng Sanh:
Phổ Quảng Bồ
Tát bạch Phật ngôn, nhược thiện nam nữ vị chung chi thời, nghịch tu sanh thất,
nhiên đăng huyền phan, thỉnh tăng chuyển kinh (thỉnh xuất gia nhân niệm kinh),
đắc phước đa phủ. Phật ngôn kỳ
phước vô lượng. (Phổ Quảng Bồ Tát
hỏi đức Phật: :Nếu người thiện nam, thiện nữ khi còn chưa chết, tu trước cho
mình, thắp đèn treo phan, thỉnh người xuất gia niệm kinh, được phước nhiều
không?;. Đức Phật dạy: :Phước đó vô
lượng;)
[Đoạn kinh vừa đọc trên đây] có thể ấn chứng cho kinh
này. Lại nói:
:Phụ mẫu thân
tộc mạng chung thọ khổ, vị kỳ tu phước, đắc phước đa phủ; (Khi cha mẹ, thân quyến
chết thọ khổ, [người nhà] vì họ tu phước sẽ được phước nhiều không?)
:Phật ngôn,
thất phần hoạch nhất; (Phật dạy: :Được một phần bảy;).
Trong bảy phần
công đức, họ hưởng được một phần, nói giống kinh này.
Phía trước Phổ
Quảng Bồ Tát hỏi .nghịch tu sanh thất・, nghĩa là lúc người còn chưa chết, nói
chúng ta tự mình tu, mời pháp sư đến tụng kinh, .chuyển・ nghĩa là mời pháp sư
đến tụng kinh, mời pháp sư giảng kinh cũng gọi là .chuyển kinh・. Phần đông người ta khi còn sống chẳng
biết làm Phật sự siêu độ cho mình trước, rất ít người như vậy. Nhưng công đức thỉnh pháp sư giảng kinh
này rất lớn, nếu có khả năng thì tự mình thỉnh thì công đức ấy bạn hưởng trọn;
nếu tự mình không có khả năng thì cùng vài người đồng tham đạo hữu đi mời. Mời pháp sư giảng một bộ kinh hoặc mời
pháp sư giảng kinh một ngày thì công đức chẳng thể nghĩ bàn. Bạn hãy nghĩ có người nào trong đời có
dịp mời được pháp sư giảng kinh một lần?
Vô cùng hiếm hoi. Giống như
chúng tôi đi đến chỗ khác giảng kinh, chúng tôi thường đến Hương Cảng, qua đó
giảng ba ngày. Những đồng tu bên
đó, rất nhiều người hợp lại mướn một giảng đường, mời một số bạn đồng tu tới
nghe giảng, đây là việc nói trong kinh này. Trong những tình huống như vậy, chúng ta
là người hiểu biết [đạo lý này] thì đừng làm những buổi diễn giảng thông
thường, buổi giảng thường thì công đức ít, phải giảng kinh. Nếu mời chúng tôi giảng một, hai giờ
đồng hồ, giảng một lần thì chúng tôi giảng kinh gì? Có thể trích dẫn một đoạn trong kinh để
giảng, như vậy cũng là giảng kinh.
Tôi không thể giảng toàn bộ kinh thì giảng đại ý của cả bộ kinh, hoặc
trích một, hai đoạn trong kinh ra mà giảng, như vậy là [cách làm] của người
hiểu biết, người trong ngành.
Lúc Hương Cảng
được trao trả [cho Trung Quốc] được một năm, đồng tu bên đó mời tôi giảng kinh,
thời gian chỉ có sáu ngày, mười hai giờ.
Chúng tôi cảm kích nhiệt tâm hộ pháp của họ, tôi giảng kinh Vô Lượng
Thọ. Giảng kinh Vô Lượng Thọ thì
mười hai giờ làm sao giảng cho hết?
Chúng tôi trích lục ra một cuốn sách, cuốn này mọi người đều xem
qua. Trích ra mười sáu đoạn trong
kinh Vô Lượng Thọ, mỗi đoạn đều là kinh văn, như vậy chính là .thỉnh tăng
chuyển kinh・, là họ mời, hợp lại với nhau mà mời. Chúng ta phải hiểu đạo lý này, biết mình
nên làm như thế nào. Đặc biệt là
người nhà, thân quyến của mình, thấy họ cả đời chẳng làm việc gì tốt, họ mê
hoặc điên đảo, người học Phật chúng ta hiểu rất rõ, có thể nhìn thấy tương lai
của họ. Làm sao giúp họ? Giúp cách này tốt hơn bất cứ việc gì
khác, [cách này là] mời pháp sư giảng kinh. Chúng ta phát khởi, bắt đầu rồi mời họ
lại tham gia thì họ sẽ được phước, dùng phương pháp này để tiếp dẫn họ, thế nên
phương tiện khéo léo như vậy nhiều lắm.
Chúng ta coi
đoạn kinh kế tiếp, .duyên tiền sanh bất tín đạo đức cố・, .duyên・ nghĩa là lúc
còn sống họ không tin đạo đức. Đoạn
kế tiếp là .nhược dĩ vong giả nghiêm thân chi cụ・, .nghiêm thân chi cụ・ dùng
cách nói bây giờ nghĩa là những thứ như vòng vàng, châu báu, đồ trang sức mà họ
cất giữ, đó gọi là .nghiêm thân chi cụ・.
.Ốc trạch viên lâm・ là tài sản ruộng đất, .ốc trạch・ là nhà cửa, .viên
lâm・ là đất đai. .Dĩ thí Tam Bảo,
khả bạt địa ngục chi khổ・. Cho dù
cả đời tạo tội cực nặng, trước lúc chết nếu có thể đem hết thảy tài sản của
người đó cúng dường Tam Bảo, phước báo này có thể vượt trội tội nghiệp đọa địa
ngục của người đó. Nguyên nhân là
gì? Cúng dường Tam Bảo, mỗi ngày
đều có những người xuất gia tu hành, người tại gia tu hành, mỗi ngày ở nơi đó
tụng kinh, lễ sám, một phần bảy công đức này sẽ rất lớn, quá lớn! Đạo lý là như vậy. Nhưng ở đây phải hiểu rõ, trong Tam Bảo
có thật và giả. Đạo tràng Phật pháp
chân chánh, đạo tràng Phật pháp chánh pháp mới có hiệu quả này. Nếu không phải là chánh pháp, thế gian
hiện nay giống như lời nói trong kinh Lăng Nghiêm .Tà sư thuyết pháp như cát
sông Hằng・, có rất nhiều nơi là đạo tràng giả, Phật pháp giả, mượn danh
nghĩa Phật pháp để làm những việc trái nghịch với lời dạy của đức Phật, làm vậy
là tạo tội nghiệp. Nếu bạn làm vậy (nghĩa
là cúng dường Tam Bảo giả, đạo tràng giả) để bố thí cúng dường cho người
mất thì sẽ giúp họ tạo tội nghiệp, thúc đẩy họ tạo tội nghiệp, phải đọa địa
ngục càng đọa càng sâu, không những không thể thoát khỏi mà còn đọa sâu thêm,
đây là việc chúng ta nhất định phải phân biệt rõ ràng.
Gần đây các bạn
đồng tu ở Hương Cảng gọi điện thoại cho tôi, nói ở Hương Cảng có một vị pháp sư
tám mươi mấy tuổi, ngài có một đạo tràng muốn hiến tặng cho người xuất
gia. Điều kiện của ngài là phải có
năm người xuất gia, có năm tỳ kheo thì ngài mới chịu tặng, ngài ở Thuyên Loan,
Hương Cảng. Điều kiện này rất tốt,
nhưng rất khó, sợ rằng đến khi ngài vãng sanh cũng chẳng tìm được năm vị tỳ
kheo, đây là sự thật, rất khó tìm được!
Cách suy nghĩ này đúng đắn, nhưng khá khó khăn. Do đó ở thời đại hiện nay, chúng ta phải
biết tìm không ra năm tỳ kheo, cho dù là cư sĩ tại gia, là Phật giáo đồ có
chánh tín làm việc hoằng pháp lợi sanh thì cũng là việc tốt. Thật sự là hoằng pháp lợi sanh, hoặc
dùng là đạo tràng tu học cho mình, làm đạo tràng tu hành niệm Phật, đạo tràng
lưu thông Phật pháp, đó là công đức chân thật. Xin xem đoạn kinh kế tiếp:
Vô
thường đại quỷ, bất kỳ nhi đáo, minh minh du thần vị tri tội phước, thất thất
nhật nội như si, như lung.
Ðại quỷ Vô
Thường không hẹn mà đến, thần hồn mù mịt, chưa rõ là tội hay phước, trong bốn
mươi chín ngày như ngây như điếc.
Ở đây Bồ Tát nói với chúng ta trạng huống của
người sau khi chết. Thế Tôn trong
kinh điển thường nhắc chúng ta .Cõi nước mong manh, mạng người vô thường・,
đây là lời Phật dạy chúng ta về chân tướng của cuộc đời. Dạy chúng ta luôn luôn đề cao cảnh giác,
phải có tâm cảnh giác cao độ, tuyệt đối đừng nghĩ rằng mình còn trẻ tuổi, thọ
mạng của mình còn lâu dài, nghĩ vậy là sai rồi. Người xưa thường nói: .Trên đường đến
suối vàng chẳng phân biệt già trẻ, phần mộ trơ trọi đều là của thiếu niên・ [1],
chẳng có ai cúng tế, còn trẻ đã chết mất, chẳng có gia đình, chẳng có con cái,
đều biến thành phần mộ cô độc, chúng ta nhất định phải đề cao cảnh giác. .Vô thường đại quỷ, bất kỳ nhi đáo・ câu
này nói đời người vô thường, bất cứ lúc nào đều có thể chết, bạn cũng chẳng có
cách chi để dự đoán nhân duyên gì mình sẽ chết. Đặc biệt là sanh vào thế gian hiện nay
của chúng ta, tai nạn biến đổi quá nhiều, quá nhiều; bạn coi thử trên toàn thế
giới chỗ nào cũng có tai nạn, có thủy tai; miền đông nước Mỹ hiện nay có gió
lốc (phong tai), tin tức hôm qua nói có hơn năm mươi mấy vạn người bị ảnh
hưởng, gió lốc rất lớn; còn động đất thì chẳng có cách chi để biết trước, chẳng
hẹn mà đến. Cho nên tâm của người
học Phật hiểu rất rõ ràng, rất rành rẽ, cho dù những tai nạn này xảy ra thì
cũng không sợ hãi. Điều này vô cùng
quan trọng! Khi tai nạn xảy ra lại
kinh hoàng, sợ hãi thì hỏng hết, kinh hoàng sợ hãi sẽ rơi vào tam ác đạo.
Hôm trước cư sĩ
Lý Mộc Nguyên báo cáo với mọi người, ông đi tiễn đưa những người vãng sanh, sau
đó ông giúp họ tắm rửa, nhập liệm.
Thân thể của một số người thì mềm mại, đại khái phần lớn những người
niệm Phật vãng sanh thân thể đều mềm mại, đây là tướng tốt. Ngược lại có một số người thân thể cứng
đờ, nguyên nhân là gì? [Khi chết
mà] kinh hoàng sợ hãi thì thân thể sẽ cứng ngắc. Khi chết rất tự tại, chẳng sợ hãi thì
thân thể của họ sẽ mềm mại. Do đó
chúng ta có thể nhìn những người đã mất thì biết tình huống lúc họ ra đi, nếu
họ ra đi một cách êm đềm thì chắc chắn sẽ chẳng sanh vào ác đạo. Khi ra đi họ rất thoải mái, rất an
tường, rất sáng suốt, tinh thần trí óc sáng suốt thì chắc chắn sẽ không đọa ác
đạo, lúc đó niệm Phật nhất định sẽ vãng sanh, thế nên khi tiễn đưa người vãng
sanh có thể thấy được những tướng lành này, đạo lý là như vậy. Nếu không tin Phật pháp, chẳng gặp thiện
tri thức [thì họ chẳng có phước];
lúc lâm chung có thể gặp thiện tri thức là đại phước báo, lúc ấy nếu có
người nhắc nhở họ, giúp họ, dẫn dắt họ niệm Phật, cho dù cả đời có tạo ác
nghiệp nặng cũng không sợ, [nếu họ tin tưởng, buông xuống vạn duyên, và thiết
tha niệm Phật thì họ] có thể vãng sanh, đó gọi là đới nghiệp vãng sanh; chỉ sợ
là lúc đó chẳng có người giúp họ, mà ngược lại quấy rối họ, người nhà khóc lóc,
náo động thì sẽ hỏng mất, đó là chướng ngại to lớn. Bốn câu sau nói về trạng huống của họ:
.minh minh du thần・, đây tức là hồn phách của họ, trong Phật pháp gọi là A Lại
Da Thức, người thế tục gọi là linh hồn.
.Du thần・ tức là linh hồn, nhà Phật gọi là .du thần・ rất đúng. Gọi bằng linh hồn là cách gọi tâng bốc,
tại sao? [Linh hồn] nhất định chẳng
.linh・, nếu nó .linh・ thì làm sao có thể rơi vào tam ác đạo được? Nó rơi vào tam ác đạo, do đó có thể biết
nó chẳng .linh・. Lời của Khổng Lão
Phu Tử nói trong Kinh Dịch rất có lý, ngài gọi linh hồn bằng .du hồn・, ở đây
chúng ta gọi là .du thần・, gọi như vậy rất có lý. Vì tốc độ của nó rất nhanh, trôi giạt
chẳng định, đích thật là du hồn.
Trong Kinh Dịch nói .du hồn vi biến・, .biến・ nghĩa là người đó đi đầu
thai, đi đổi một thân thể khác, .minh minh du thần・. .Vị tri tội phước・ lúc đó
thật sự .như si như lung・, ngu dốt đần độn, trong bốn mươi chín ngày là trong
trạng huống như vậy, chúng ta gọi là thân Trung Ấm, do đó thân Trung Ấm đều mê
hoặc, ngu đần.
Hoặc
tại chư ty, biện luận nghiệp quả, thẩm định chi hậu, cư báo thọ sanh. Vị trắc chi gian, thiên vạn sầu khổ, hà
huống đọa ư chư ác thú đẳng.
Hoặc ở tại
các ty sở để biện luận về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo
nghiệp mà thọ sanh. Trong lúc chưa biết ra sao đó thì đã ngàn muôn sầu khổ,
huống là phải bị đọa vào các ác đạo!
.Hoặc tại chư
ty・ đây là cõi quỷ, những cơ quan làm việc trong cõi ngạ quỷ, biện luận trong
những pháp đình đó, có người nói họ tạo bao nhiêu tội nghiệp, họ chẳng nhìn
nhận nên phải ở đó biện luận. Người
thế gian có khi quên mất những tội nghiệp mà mình đã tạo, có khi cố ý không
nhìn nhận. Nhưng ở cõi âm, quỷ thần
có sổ sách ghi chép, có câu nói rất đúng .ngẩng đầu ba thước có thần linh・[2]. Trong kinh đức Phật nói khi một người
sanh ra liền có hai vị thần theo sát bên mình, một thần gọi là .Đồng Sanh・, một
thần gọi là .Đồng Danh・, hết thảy những hạnh nghiệp mà bạn đã tạo, họ đều ghi
chép lại. Đến lúc lâm chung nếu gặp
vua Diêm La, những hồ sơ ở chỗ vua Diêm La rất đầy đủ, từng ly từng tí trong
đời bạn đều chẳng chối cãi gì được, thế nên phải đến đó để biện luận. Sau khi phán định thì sẽ .cư nghiệp thọ
sanh・, bạn đến cõi nào đầu thai thì phải đi thôi. Trong kinh Địa Tạng nói rất rõ ràng, vua
Diêm La có quyền tăng thêm tội của bạn không? Hoặc là xá miễn tội của bạn không? Chẳng có quyền lực, ngài rất công bằng,
chánh trực, y theo những gì bạn đã tạo mà phân phát, ngài chẳng có quyền lực
tăng thêm tội, và cũng chẳng có quyền ân xá cho bạn; nếu nói ngài tăng thêm
hoặc ân xá tội của bạn thì ngài phạm pháp.
Do đó tiền đồ cả đời của mình đích thật là do chính mình nắm lấy, chẳng
phải do họ chủ tể, [chúng ta] nhất định phải biết việc này.
Đến lúc đó người
chết ở âm ty gánh chịu những sự phán xử này, lúc còn chưa định án thì họ rất
buồn khổ, .thiên vạn sầu khổ・, đó là lúc chưa định án. Sau khi phán xử xong nếu là ác nghiệp
nặng thì chắc chắn phải đi vào tam ác đạo thọ sanh. Thọ sanh trong tam ác đạo cũng có nghiệp
duyên, trong cõi súc sanh tìm cha mẹ, cha mẹ ấy trong đời trước đều có duyên
phận với họ; trong cõi ngạ quỷ và địa ngục thì phần nhiều là hóa sanh, trong
cõi ngạ quỷ cũng có thai, noãn, thấp, hóa sanh, trong địa ngục thì hoàn toàn là
hóa sanh. Nếu chẳng là hóa sanh, mà
là thai sanh, là noãn sanh thì nhất định phải tìm cha mẹ. Đức Phật đã dạy rất rõ ràng, duyên này
nói chung chẳng ra ngoài bốn thứ: .báo ân, báo oán, trả nợ, đòi nợ・, nếu không
giác ngộ thì nhiều đời, nhiều kiếp phải làm những việc như vậy. Sau khi giác ngộ rồi thì sẽ khác, sau
khi giác ngộ thì trong vòng một niệm, chuyển nghiệp lực thành nguyện lực,
chuyển nghiệp báo thành thị hiện.
Chư Phật, Bồ Tát thị hiện ở cõi người, nên dùng thân gì để độ thì hiện
thân ấy. Cho nên chuyển cảnh giới
thật sự là ở trong vòng một niệm, một niệm này của chúng ta có thể chuyển trở
lại hay không? Nói trên lý luận thì
tuyệt đối có thể, trên sự tướng thì phải coi trình độ giác ngộ của bạn. Nếu bạn thật sự đã giác ngộ thì sẽ
chuyển trở lại rất dễ dàng.
Làm sao biết mà
chuyển trở lại? Người chuyển trở
lại tuyệt đối chẳng có .tự kỷ・, nếu còn có .Ta・ thì dứt khoát chưa chuyển. Vì bạn còn ngã chấp, đó là phàm phu,
chẳng phải Phật, Bồ Tát; Phật, Bồ Tát chẳng có Ta. Nếu dùng tiêu chuẩn kinh Kim Cang thì
chư vị sẽ dễ hiểu .Chẳng có tướng tôi, chẳng có tướng người, chẳng có tướng
chúng sanh, chẳng có tướng thọ giả・ thì bạn đã chuyển trở lại rồi. Nếu bạn vẫn còn bốn tướng trên thì bạn
còn chưa chuyển. Có muốn chuyển
cách mấy, có nỗ lực cách mấy để chuyển thì cũng chẳng chuyển nổi, tại sao? Vì bạn còn .tưởng・, còn .niệm・, .tưởng・
là vọng tưởng, bạn có phân biệt, có chấp trước thì bạn sẽ chẳng chuyển
nổi. Do đó chân chánh muốn chuyển
trở lại thì phải buông xuống hết vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khởi tâm
động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh thì bạn sẽ chuyển trở lại. Thân này của chúng ta có được từ cha mẹ,
là thân nghiệp báo, một khi chuyển trở lại liền thành hóa thân thị hiện, nhất
định chẳng có sanh tử, chẳng có phiền não, tuyệt đối chẳng có nhân ngã, thị
phi, đó tức là bạn đã chuyển trở lại.
Khi thật sự chuyển xong, thì đời sống, công việc đều giống như bình
thường chẳng thay đổi gì hết, chỉ có trong tâm thay đổi. Lúc trước là vì mình, hoặc vì gia đình,
hoặc vì đoàn thể [của mình], hiện nay thì vì tận hư không, trọn khắp pháp giới,
chẳng khác gì với sự thị hiện của chư Phật, Bồ Tát. Như vậy thì gọi là siêu phàm nhập thánh,
thật sự liễu sanh tử, xuất tam giới, nhập cảnh giới của Phật, Bồ Tát. Chúng ta học Phật phải có thể khế
nhập vào cảnh giới này thì mới là
thành tựu rốt ráo. Muốn nói đến
phương pháp dụng công, nói thật ra chính là .nhìn thấu, buông xuống・, thật sự
nhìn thấu, thật sự buông xuống mới được.
Đoạn kinh văn này pháp sư Thanh Liên chú giải tương đối phong phú, quý
vị có thể tham khảo. Xin xem tiếp
kinh văn:
Thị
mạng chung nhân vị đắc thọ sanh, tại thất thất nhật nội, niệm niệm chi gian
vọng chư cốt nhục quyến thuộc, dữ tạo phước lực cứu bạt.
Khi người chết đó chưa được thọ sanh, trong bốn mươi chín ngày luôn
luôn trông ngóng hàng cốt nhục quyến thuộc tu tạo phước lực để cứu vớt cho.
Đây là sự thật, khi còn sống thì
không biết, chết đi gặp phải khổ nạn nên lúc bấy giờ không nơi nương tựa, đích
thật là khổ sở, cô độc lẻ loi. Hy
vọng duy nhất của họ là mong người nhà có thể làm phước cho họ, có thể siêu độ
họ. Nhưng rất nhiều thân quyến
chẳng hiểu đạo lý này, tùy thuận theo tập tục thế gian sát sanh tế lễ quỷ thần
như nói ở trên, cầu tà đạo, .võng lượng・ tức là tà đạo, không những chẳng ích
lợi mà còn hại thêm. Đây là vì
người thế gian vô tri, chẳng có ai chỉ dẫn, chúng ta nói đến sự đáng thương,
nói đến sự thê thảm thì không ai hơn họ, còn nặng nề hơn lúc họ chịu khổ nạn
lớn lao khi còn sống, chẳng biết lớn hơn gấp bao nhiêu lần. Sự tội phước nói trong kinh đích thật
chính là thập thiện, thập ác, chúng ta đừng nói quá cao, quá huyền diệu, chỉ
đơn giản dùng ngũ giới, thập thiện để làm tiêu chuẩn. Phá giới tạo ác là tội nghiệp vô biên;
trì giới tu phước, tu phước nghĩa là sốt sắng làm theo thập thiện, đây là điều
căn bản lớn lao để làm người. Con người sau
khi chết đi rồi, những người khác có thể nhờ cậy để giúp đỡ được, chẳng biết được
mấy kẻ? Đặc biệt trong thời đại hiện tại, những thành phần trông cậy được càng
ngày càng thấp, người trong xã hội hiện thời cho đó là mê tín. Chúng ta xem thử những người trẻ tuổi
hiện nay, nếu không có người dạy dỗ họ đàng hoàng, thì sẽ còn ai tin nữa? Nói cách khác, sau khi chết đi và gặp
những sự khổ nạn này thì bạn phải dựa vào ai để giúp bạn? Chẳng có ai giúp hết. Sự thật này là một vấn đề thiết thật đối
với chúng ta, hơn nữa vừa nghĩ đến thì liền là việc ở trước mắt, rất gần với thời gian của chúng ta. Ở đây đức Phật dạy chúng ta, nhắc nhở
chúng ta, thừa lúc thân thể hiện nay còn khoẻ mạnh, nhất định phải hết lòng, nỗ
lực tu học, thì công đức, phước đức này mình được trọn. Đây là y cứ trong kinh điển cho việc
cúng thất cho người chết.
Quá thị nhật hậu, tùy nghiệp thọ báo
Qua khỏi những ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo.
.Thị nhật・ tức là [thời gian trong khoảng] bảy
thất, tức bốn mươi
chín ngày. Phần nhiều thì trong
vòng 49 ngày đều chuyển thế, đều không biết luân hồi đến cõi nào. Cũng có số ít người trong bảy thất này
chưa đi đầu thai, thậm chí đến vài năm, vài chục năm cũng chưa đầu thai, cũng ở
trong trạng thái Trung Ấm. Đây là
những hạng người nào? Là người vô
cùng chấp trước, họ không đi đầu thai.
Người vô cùng chấp trước thân thể, chúng ta thường gọi là .quỷ giữ thây
ma・, họ chẳng đi đầu thai, chẳng nỡ xa lìa thân thể. Hơn phân nửa loại quỷ này là gì? Họ ở trong mồ mả. Ngoài ra còn những người chẳng nỡ xả bỏ
căn nhà của họ, họ cũng không đi đầu thai nên căn nhà ấy trở thành nhà có
quỷ. Có trường hợp như vậy nhưng
rất ít, phần nhiều đều tùy theo nghiệp mà đi thọ báo hết, chấp trước nhẹ thì
đều tùy theo nghiệp mà đi thọ báo.
Nhược thị tội nhân, động kinh thiên bá tuế trung, vô
giải thoát nhật.
Nếu là tội nhân thì phải trải qua trong trăm ngàn năm, không có ngày
được giải thoát;
Thời gian chúng
ta sống ở thế gian rất ngắn ngủi, rất ít người có thể sống đến một trăm tuổi,
quá ít. Những tội nghiệp [bạn] tạo
trong thời gian ngắn này quá đủ [cho bạn] chịu, khi bạn thọ báo thì .trong trăm
ngàn năm, chẳng có ngày thoát ra・, bạn phải thọ quả báo này. Đây là nói về cái gì? Bạn ở cõi ngạ quỷ, cõi súc sanh, thọ báo
trong cõi súc sanh đừng tưởng là thọ mạng của nó rất ngắn, súc sanh ngu si,
chấp trước, nên rất khó thoát nổi thân hình của chúng. Trong kinh đức Phật đã từng nói, năm xưa
có ổ kiến ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, đức Phật nói với mọi người ổ kiến đó trải
qua bảy vị Phật ra đời, những con kiến trong đó còn chưa thoát thân loài kiến. Chẳng phải thọ mạng của loài kiến rất dài,
sau khi nó chết đi lại đầu thai làm kiến trong ổ đó, vì nó chấp trước ổ kiến
tức là nhà của nó, chấp trước thân hình ấy chính là nó, sau khi chết vẫn trở
lại làm kiến. Thông thường chúng ta
nói một vị Phật ra đời là ba A Tăng Kỳ kiếp, bảy vị Phật tức là hai mươi mốt A
Tăng Kỳ kiếp, nó vẫn không thể thoát khỏi thân loài kiến, bạn nói như vậy chịu
sao nổi! Thế nên đây là một chuyện
rất dễ sợ.
Những chuyện ngu
ngốc này, nói thật ra mỗi người trong chúng ta đều đã làm qua, chẳng phải chỉ
làm một lần, vô lượng kiếp đến nay không biết đã làm bao nhiêu lần. Hiện nay trong đời này gặp được Phật
pháp, được đọc kinh điển, nghe được lời khai thị của đức Phật, hiểu rõ
rồi. Có phải đã hiểu thật sự rồi
chăng? Hiểu thật sự thì từ hôm nay
trở đi nhất định không làm việc ngu si này nữa. Nếu còn muốn tạo mười nghiệp ác, còn
muốn huỷ phạm ngũ giới thì bạn cũng chưa hiểu rõ, bạn chưa hiểu thật sự. Người hiểu thật sự sẽ chẳng tạo nữa,
trong đời này hạ quyết tâm vĩnh viễn thoát ly luân hồi. Không những nói thân thể đời này là thân
sau cùng, trong lục đạo luân hồi đầu thai thành thân này là thân sau cùng, còn
tiến thêm một bước lập tức biến thân này thành ứng hóa thân, chuyển đổi nghiệp
báo của chúng ta thành sự thị hiện.
Đây là sự học Phật của bạn thật sự đạt được công phu, bạn thật sự có
thành tựu, bạn đạt được lợi ích viên mãn.
Năm xưa tiên sinh Phương Đông Mỹ nói :Học Phật là sự hưởng thọ tối cao trong đời người;, có lẽ sự hưởng thọ tối cao đó còn chưa đạt đến cảnh giới cao tột này, đích thật ngay trong đời này chuyển phàm thành thánh. Thầy Lý thường dạy chúng ta phải :sửa đổi tâm lý;, sửa đổi tâm phàm phu, tâm luân hồi của chúng ta thành tâm Bồ Tát, thành tâm Phật. Tâm luân hồi tức là mười nghiệp ác. Còn mười nghiệp