Hòa thượng Tịnh Không giảng tại
Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba, tháng 5 năm 1998
Tập 31 (Số 14-12-31)
Xin
mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 118, xin xem kinh văn:
Thuyết thị ngữ thời, hội trung hữu nhất quỷ vương, danh viết Chủ Mạng,
bạch Phật ngôn Thế Tôn, ngã bổn nghiệp duyên chủ Diêm Phù nhân mạng, sanh thời
tử thời ngã giai chủ chi. Tại ngã
bổn nguyện, thậm dục lợi ích. Tự
thị chúng sanh, bất hội ngã ý chí mạng sanh tử cụ bất đắc an.
Ðức Phật nói lời ấy xong,
trong Pháp Hội có một vị Quỷ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng Ðức Phật rằng:
“Bạch Ðức Thế Tôn! Nghiệp duyên căn bản của con là chủ về nhân mạng ở cõi Diêm
Phù Ðề, khi sanh khi tử đều do con làm chủ. Bổn nguyện của con là rất muốn làm
lợi ích, nhưng vì chúng sanh không hiểu ý con nên đến nỗi khi sanh khi tử đều
không được an ổn;
Chúng ta coi trước đoạn này.
‘Thuyết thị ngữ thời’, câu này tiếp theo câu trước và dẫn đến câu sau,
trong đoạn trước lúc Ác Độc quỷ vương thưa với Thế Tôn xong, lúc ấy trong pháp
hội lại có một vị quỷ vương tên là Chủ Mạng. Từ danh hiệu chúng ta có thể hiểu vị quỷ
vương này cai quản về việc sanh tử của tất cả mọi người trong thế gian, chuyên
môn cai quản về việc này nên được gọi là Chủ Mạng quỷ vương. ‘Bạch Phật ngôn Thế Tôn, ngã bổn nghiệp
duyên’ dùng cách nói hiện nay ‘nghiệp duyên’ chính là chức vụ của ông ta. Sự việc của ông là cai quản nhân mạng
của người ở cõi Diêm Phù Đề; một người nào đó gần được sanh ra, đầu thai, ông
ta chăm lo những việc này; người nào đó chết đi thì ông cũng lo lắng cho người
ấy, ‘ngã giai chủ chi’. Từ chỗ này
chúng ta hiểu được con người từ lúc sanh đến lúc chết đều có quan hệ mật thiết
đối với thiên địa quỷ thần. Nhưng
người hiện đại đọc những đoạn kinh văn này đều cho là mê tín, dùng hai chữ ‘mê
tín’ bèn cự tuyệt, bài xích những việc này. Nếu vậy thì bạn có chịu sự cai quản của
quỷ vương không? Vẫn phải chịu sự
cai quản của ông ta, bất kể là bạn tin hay không tin; chẳng phải nói nếu tin
thì có, còn không tin thì không có, nếu vậy thì đơn giản quá rồi. Chúng ta có thể tận lực không tin lục
đạo luân hồi thì lục đạo luân hồi sẽ không tồn tại, không tin sanh tử thì sanh
tử sẽ không có, lẽ nào có chuyện như vậy!
Bạn tin tưởng cũng có mà không tin vẫn có. Giáo dục thời xưa chẳng giống bây giờ,
giáo dục thời xưa ít nhiều gì cũng có liên quan đến ba đời, nói về đời quá khứ,
đời hiện tại, và cũng nói về đời tương lai. Tương lai là nói sau khi chết đi, sau
khi con người chết đi, đời quá khứ là lúc chúng ta chưa sanh ra, đó là ba đời.
Nội dung của giáo dục cổ xưa Trung Quốc có ba trọng điểm, thứ nhất là
dạy bạn làm người, hiểu quan hệ giữa người với người, nếu bạn không hiểu thì
bạn sẽ không biết cách làm người [cho đàng hoàng]. Nếu không biết làm người thì nhân gian
này giống như một con đường nguy hiểm như trong kinh nói, mỗi bước đều lần lần
dẫn đến ba đường ác; nếu bạn biết làm người thì bạn có thể tránh khỏi đi vào
đường nguy hiểm, bạn được thân người rồi còn có thể giữ được thân người, tương
lai còn có thể sanh làm người, nhất định sẽ sống hạnh phúc tốt đẹp hơn bây giờ,
đó là giáo dục. Trọng điểm thứ nhì
là hiểu rõ quan hệ giữa người và thiên nhiên, giữa người và hết thảy động vật,
thực vật, giữa người và môi trường tự nhiên; một khi bạn hiểu được thì mới biết
đạo dưỡng sanh. Trọng điểm thứ ba
là dạy bạn quan hệ giữa người và thiên địa quỷ thần, nếu quan hệ này được xây
dựng tốt đẹp thì bạn sẽ được thiên địa quỷ thần ủng hộ, giúp đỡ; nếu quan hệ
chẳng đẹp, làm gì cũng có lỗi đối với thiên địa quỷ thần thì bạn sẽ gặp phiền
phức lớn lắm. Chư vị phải biết
thiên địa quỷ thần chẳng phải là Phật, Bồ Tát, họ vẫn còn là phàm phu, phàm phu
vẫn chưa lìa khỏi thất tình ngũ dục; khi nhìn thấy người tu thiện thì họ vui
vẻ, họ khen ngợi bạn, làm lợi cho bạn; khi nhìn thấy người làm ác thì họ không
vui, họ sẽ tức giận, sẽ gây phiền phức cho bạn, sẽ trừng phạt bạn. Do đó thiên địa quỷ thần là phàm phu,
chúng ta phải nhớ họ là lục đạo phàm phu.
Giáo dục cổ xưa và Phật pháp đều dạy về những chân tướng sự thật này.
Nói thật ra, người xưa bất luận là pháp thế gian hay xuất thế gian đều
coi trọng thiền định, trong Phật pháp gọi là thiền định, tuy người thế gian
không gọi là thiền định nhưng họ đề cao tâm thanh tịnh, ít ham muốn, trầm tịnh đến cùng cực.
Trong sự tu dưỡng hằng ngày đều coi trọng tâm thanh tịnh, khi tâm thanh
tịnh đạt đến mức độ nhất định thì trạng huống đời sống của quỷ thần bạn đều có
thể nhận biết được, nhìn thấy được, những người học Phật thường thường nhìn
thấy lúc họ trong thiền định, do đó quỷ thần nhất định là có thật. Quan hệ của quỷ thần đối với chúng ta vô
cùng mật thiết, cũng giống như tổ chức hành chánh trong thế gian chúng ta vậy,
mỗi cơ cấu của quốc gia đối với đời sống của chúng ta đều có liên quan lẫn
nhau, chúng ta nhất định phải biết đạo lý này. Người hiện đại dùng nhãn quan khoa học
để quan sát, nếu đi sâu thêm một tầng, đối với những sự tướng nói trong kinh
Phật, tôi tin rằng họ cũng có thể nhận biết được. Ở Trung Quốc thường gọi là khí phận,
người ngoại quốc gọi là từ trường.
Một khi bạn tiếp xúc đến thì trong tâm bạn liền cảm nhận được, giống như
ở một nơi nào đó, khí phận lúc có nhiều người và lúc có ít người sẽ khác nhau;
khí phận ban ngày và ban đêm cũng không giống nhau, chúng ta thường có cảm xúc
rất rõ ràng đối với những chuyện này.
Nếu dùng sự quan sát hoặc cách nói của khoa học gia hiện đại thì những
cảm xúc này chính là sự tiếp xúc giữa các làn sóng, nếu tần số của các làn sóng
rất gần nhau thì chúng ta sẽ cảm nhận rất thoải mái; nếu những làn sóng này
cường độ dao động rất lớn, rất nhanh thì chúng ta sẽ cảm thấy không yên ổn,
không tự tại, những sự lý này không khó hiểu cho lắm.
Thân thể của chúng ta có hiện tượng làn sóng, làn sóng từ sự suy nghĩ,
tưởng tượng trong tâm càng rõ ràng hơn, tất cả các vật thể có hình tượng đều có
sóng. Hoạt động của thiên địa quỷ
thần cùng với làn sóng tư tưởng của chúng ta chẳng khác, khi con người chết đi
thì sanh mạng kết thúc, thân thể chỉ là vật chất, [nhưng] tư tưởng của người ấy
chẳng đoạn dứt, chẳng diệt mất theo thân thể người ấy. Có thể nói sự thật này đã được hết thảy
các nhà tôn giáo thừa nhận, những người thật sự có học vấn, có đức hạnh cũng
khẳng định, chẳng phải nói người ta chết đi thì hết thảy đều chấm dứt, nếu chết
đi mà tất cả đều chấm dứt thì dễ rồi.
Không những con người chết đi chẳng phải hoàn toàn chấm dứt mà hết thảy
vật chất tiêu mất cũng chẳng phải hoàn toàn mất hẳn; [chúng ta] không phải đã
nghe các khoa học gia từng nói ‘ tinh thần chẳng diệt, vật chất chẳng diệt’ rồi
sao; hai câu này là chân lý, hai câu này trong Phật pháp có thể gọi là ‘chư
pháp thật tướng’, nghĩa là tướng chân thật [của mọi sự việc]. Trong Phật pháp sự sanh diệt của vật
chất được gọi là duyên tụ, duyên tan, lúc duyên tụ hợp lại chẳng sanh, lúc
duyên tan rả chẳng diệt, các vật có hình tượng còn như vậy huống chi là tinh
thần? Do đó tuyệt đối chẳng phải là
mê tín, nhất định là sự thật; có
rất nhiều người trong đời có dịp tiếp xúc với quỷ thần, cảm ứng với quỷ thần
nhiều lần, nếu suy nghĩ kỹ thì [sẽ biết] họ làm sao không tồn tại cho được? Làm sao họ chẳng liên quan gì với đời
sống của chúng ta cho được? Quan hệ
của Chủ Mạng quỷ vương đối với chúng ta đặt biệt mật thiết hơn, ở đây ngài nói
‘tại ngã bổn nguyện, thậm dục lợi ích’, ‘lợi ích’ là giúp đỡ, lúc con người
sanh ra, lúc con người chết đi, ý nguyện của Chủ Mạng quỷ vương đều là muốn
giúp đỡ người đó, hy vọng kẻ ấy được yên ổn. ‘Tự thị chúng sanh bất hội ngã ý’, hết
thảy chúng sanh không hiểu ý nguyện của quỷ thần, ý nguyện của quỷ thần là
gì? Ưa thích nhìn thấy người ta làm
việc thiện, chán ghét chúng sanh làm việc ác, cho nên trong kinh này nói ngay
cả một niệm thiện nhỏ cũng được quỷ thần ủng hộ, được chư Phật, Bồ Tát tán
thán, huống chi việc bạn làm là việc thiện lớn? Chúng sanh không hiểu được ý nguyện của
thiên địa quỷ thần, làm cho sống chết đều chẳng được yên ổn. Lời này nghĩa là thế nào? Phần sau sẽ nói rõ:
Hà dĩ cố.
Tại sao vậy?
Người cõi Diêm Phù Ðề lúc
mới sanh xong, không kể là con trai hay con gái, hoặc khi sắp sanh, chỉ nên làm
thiện sự để thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thì tự nhiên Thần Thổ Ðịa sẽ vô cùng
hoan hỷ, ủng hộ cho cả mẹ lẫn con đều được sự an lạc lớn, hàng quyến thuộc cũng
được lợi ích.
Đây là nói rõ khi người nhà sanh con, trong thế gian đây là việc vui
mừng, có con nối dõi, người Trung Quốc rất coi trọng việc tiếp nối giòng họ,
cho nên không thể không vui mừng.
Vui mừng thì nên làm việc tốt, phải biết làm việc thiện mới có thể tăng
thêm lợi ích cho gia đình ấy. Vị
thần Thổ Địa cai quản vùng ấy, thần Thổ Địa giống như xã trưởng, trưởng làng ở
Trung Quốc thời xưa, các ‘bảo trưởng, ấp trưởng’ cai quản một làng, một vùng
như vậy. Những quỷ thần này thấy
bạn làm lành, trong nhà bạn lại có thêm một đứa con thì họ ‘ủng hộ tử mẫu, đắc
đại an lạc’, mẹ con bình yên, quyến thuộc của bạn được lợi ích, quỷ thần che chở, gia bị. Xin xem tiếp, nếu không
biết ý của thiên địa quỷ thần thì sẽ tạo tội nghiệp.
Hoặc dĩ sanh hạ thận vật sát
hại, thủ chư tiên vị, cúng cập sản mẫu, cập quảng tụ quyến thuộc, ẩm tửu thực
nhục, ca nhạc huyền quản, năng lịnh tử mẫu bất đắc an lạc.
Hoặc khi đã sanh rồi thì nên cẩn thận, chớ giết hại
để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu, cùng nhóm họp hàng quyến
thuộc lại để uống rượu, ăn thịt, ca hát, đánh đàn, thổi sáo; vì có thể khiến
cho cả mẹ lẫn con chẳng được an lạc.
Người trong thế gian chẳng biết sự lợi hại này, khi sanh con bèn làm
tiệc ăn mừng, ăn mừng bèn sát sanh.
‘Quảng
tụ quyến thuộc’, đây là lúc bạn bè thân quyến đến nhà chúc mừng, chẳng tránh
khỏi uống rượu ăn thịt, gia đình giàu có thì còn ‘ca nhạc huyền quản’, hiện nay
gọi là mở hội khiêu vũ. Những nhà
giàu có, trưởng giả ở Trung Quốc, trong dịp này còn có hát tuồng, mời đoàn hát
lại hát kịch để ăn mừng. Cách làm
này ‘năng lịnh tử mẫu, bất đắc an lạc’, tại sao vậy? Quý vị vui mừng, quỷ thần ở kế bên nhìn
thấy rất bực tức, sẽ chẳng che chở, gia bị cho quý vị. Sát hại những chúng sanh này thì tương
lai sẽ bị họ đến đòi mạng. Nếu quý
vị thật sự hiểu rõ đạo lý nhân quả báo ứng, đúng như câu ‘ăn thịt nó nửa
cân, tương lai phải trả nó tám lượng’, một tí tiện nghi gì cũng chẳng chiếm
được. Chúng ta hiểu được đạo lý,
hiểu rõ chân tướng sự thật này thì nhất định sẽ chẳng dám ăn thịt chúng sanh,
làm hại chúng sanh, biết rằng làm hại chúng sanh là làm hại chính mình, gây
phiền phức cho chúng sanh tức là gây họa cho mình, như vậy là trái nghịch với
lòng tốt của quỷ vương và thần Thổ Địa.
Chúng ta xem tiếp đoạn kế:
Hà
dĩ cố. Thị sản nan thời hữu vô số
ác quỷ, cập võng lượng tinh mỵ dục thực tinh huyết.
Vì sao thế? Bởi vì lúc sanh nở khó khăn đó, có vô số
ác quỷ cùng võng lượng, tinh mỵ, muốn tới ăn huyết tanh.
Đây
là việc phàm phu mắt thịt chúng ta chẳng nhìn thấy được, đích thật có những ác
quỷ như vậy, số lượng rất nhiều.
‘Võng lượng tinh mỵ’, họ làm gì?
Đây là những thứ chúng ta thường gọi là yêu quỷ, họ thích ăn những vật
này. Hiện nay y học phát triển, mức
độ nguy hiểm khi sanh sản thấp hơn lúc trước, chúng ta thử hỏi những trạng
huống kể trên còn hay không? Vẫn
còn, nếu bạn muốn hiểu trạng huống của quỷ thần thì trong bịnh viện có nhiều
nhất. Tôi có vài người bạn đều học
ngành Y khoa, lúc chúng tôi gặp nhau họ thường kể những chuyện ma quỷ này cho
chúng tôi nghe. Bác sĩ, y tá, người
làm việc trong bịnh viện đều tin tưởng.
Chính mắt họ nhìn thấy, chính tai họ nghe được, đặc biệt là ở trong bịnh
viện lớn, bịnh viện xưa càng có nhiều quỷ, chẳng khác gì với những lời nói
trong kinh. Cho nên lúc người còn
sống, lúc người chết thì những quỷ thần này nhiều vô cùng. Trong số các ác quỷ, có thể nói phần lớn
đều là oán thân trái chủ; nói thật ra nếu họ chẳng có liên quan gì với bạn,
ngay cả một chút cũng chẳng thể dính líu.
Phàm những ai có thể đến gần thì họ nhất định có quan hệ với bạn trong
đời trước. Nhưng những ác quỷ này
cũng có người cai quản, là những quỷ vương này cai quản họ. Đối với phần đông chúng ta mà nói, Thổ
Địa được kể như vị thần hộ pháp, là đến bảo vệ cho chúng ta, hộ vệ địa phương
ấy.
Thị ngã tảo lịnh xá trạch thổ địa linh kỳ [1],
hà hộ tử mẫu, sử lịnh an lạc, nhi đắc lợi ích.
Chính
con sớm đã sai các thần linh của nhà cửa đất đai phải bảo hộ người mẹ và đứa
con, làm cho họ được an vui mà hưởng nhiều sự lợi ích.
Quỷ
vương đã sớm ra lịnh cho những thần Thổ Địa, ‘linh kỳ’ cũng là những tiểu quỷ
dưới quyền cai quản của ông, bảo hộ mẹ con được bình yên.
Như
thị chi nhân, kiến an lạc cố, cánh hiệp thiết phước, đáp chư thổ địa.
Những người này thấy sự an ổn vui vẻ thì nên tạo
phước để báo đáp các thần Thổ Ðịa
Lúc
sanh sản mẹ con được bình yên, phải nên tạ ơn quỷ thần bảo hộ, làm thế nào để
tạ ơn? Tu thiện, làm việc thiện mới
là tạ ơn.
Phiên vi sát hại, tập tụ
quyến thuộc.
Thế mà trái lại, họ còn giết hại, tụ tập quyến
thuộc;
Như
vậy là sai, như vậy chẳng phải là tạ ơn quỷ thần. Thanh Liên pháp sư trong Chú Giải, trích
dẫn một câu chuyện, là chuyện triều Minh, năm Vạn Lịch, chuyện này rất đáng để
cho chúng ta tham khảo, nói rõ sự hưởng dùng của quỷ thần khác với chúng
ta. Câu chuyện của ngài ở trang
123, chữ nhỏ hàng thứ hai đếm ngược lại, nói rõ không thể dùng rượu thịt để
cúng dường quỷ thần. Thời xưa cúng
tế quỷ thần, tuy nói là dùng rượu nhưng thật ra là nước, trong cổ lễ được gọi
là ‘huyền tửu’, đó là nước, dùng nước để cúng tế thiên địa quỷ thần, dùng đồ
chay mới đúng. Nhưng người thế gian
chúng ta chẳng biết đạo lý này, cứ cho rằng nếu không sát sanh để cúng tế thì
hình như đại bất kính, [cứ nghĩ] nhất định phải sát sanh để cúng tế. Chẳng biết sát sanh để cúng tế là tạo
tội nghiệp rất lớn, chắc chắn sẽ không được thiên địa quỷ thần che chở, gia
bị. Ngạn ngữ thường nói ‘ông trời
có đức háo sanh’ (thượng thiên hữu háo sanh chi đức). Đã là háo sanh thì làm sao bạn có thể
sát sanh để cúng tế họ, lẽ nào như vậy được! Kết luận sau đây nói với chúng ta:
Dĩ
thị chi cố, phạm ương tự thọ, tử mẫu cụ tổn.
Vì lẽ này, hễ phạm tội tất phải tự gánh chịu, người
mẹ và đứa con đều bị tổn hại.
Vì
trong tiệc vui bạn tạo những tội nghiệp này, chẳng được quỷ thần bảo hộ, ngược
lại còn dẫn nhiều ác ma, ác quỷ, yêu tinh quỷ quái đến, họ đến làm loạn, làm
cho mẹ con đều không được yên ổn.
Nếu chúng ta quan sát kỹ những việc này, tâm tình của người mẹ không yên,
sau đó bạn coi đứa con, quan sát kỹ thì thấy đứa bé thường bị sợ hãi, kinh
sợ. Chỉ cần bạn lắng lòng quan sát,
bạn sẽ thấy hình như nó rất run sợ, rất sợ hãi, tuy nó không biết nói, không
biết biểu lộ tình cảm, bạn chỉ cần nhìn động tác trên thân thể nó thì biết
được. Đoạn này là nói lúc sanh con,
chúng ta phải làm thế nào để tu phước, không thể tạo tội. Xem tiếp đoạn sau:
Hựu Diêm Phù Đề lâm mạng chung nhân, bất vấn thiện ác, ngã dục lịnh thị
mạng chung chi nhân bất lạc ác đạo, hà huống tự tu thiện căn, tăng ngã lực cố.
Lại ở cõi Diêm Phù Ðề, những
người sắp mạng chung, bất luận là thiện hay ác, con đều muốn cho họ không bị đọa lạc vào đường ác; huống chi là kẻ tự
tu thiện căn, làm tăng oai lực của con.
Chủ Mạng quỷ vương cũng rất từ bi, không những Chủ Mạng quỷ vương từ
bi, phía trước chúng ta coi Ác Độc quỷ vương cũng từ bi, ngài chẳng nỡ nhìn
thấy chúng sanh đọa tam ác đạo. Nói
thật ra ngài cũng lưu ý từng giờ từng phút để giúp đỡ những người làm ác này,
làm thế nào có thể miễn thọ quả báo trong tam ác đạo, cho nên lúc lâm chung
chẳng cần biết những người này lúc sanh tiền làm thiện hay làm ác, ngài đều
dùng tâm từ bi để giúp đỡ. Nếu
người lâm chung này lúc sanh tiền có thể tu một chút thiện căn thì sự giúp đỡ
của ngài càng thêm được lợi ích; nói cách khác, ngài càng có thêm lý do để giúp
đỡ người ấy.
Thị Diêm Phù Đề, hành thiện chi nhân, lâm
mạng chung thời diệc hữu bá thiên ác đạo quỷ thần hoặc biến tác phụ mẫu, nãi
chí chư quyến thuộc, dẫn tiếp vong nhân lịnh lạc ác đạo, hà huống bổn tạo ác giả.
Những người làm thiện ở cõi
Diêm Phù Ðề, đến lúc lâm chung còn có trăm ngàn quỷ thần trong ác đạo hoặc biến
làm cha mẹ, cho đến hàng quyến thuộc, dẫn dắt người chết khiến cho lạc vào ác
đạo; huống chi là những kẻ vốn đã tạo ác.
Đoạn kinh này rất quan trọng. Người lâm chung, chúng ta đã gặp qua rất
nhiều, lúc lâm chung người ấy sẽ nói với những người ở xung quanh rằng họ nhìn
thấy người nào đến. Những người mà
họ nhìn thấy đều là những bà con, họ hàng đã qua đời. Có phải thiệt là bà con, họ hàng hay không? Không phải, thật ra đó là những oan gia,
chủ nợ biến hiện thành bà con họ hàng, bạn bè đến để dẫn người ấy đi, dẫn đi
xong rồi sẽ báo thù, chúng ta phải biết việc này. Vì khi nhìn thấy bà con, họ hàng thì rất
dễ đi theo họ. Đặc biệt là lúc
chúng ta niệm Phật trợ niệm, việc quan trọng nhất chúng ta phải đề phòng là
việc này. Một khi người [lâm chung]
nói họ ‘nhìn thấy một người nào đó’, thì lập tức phải nhắc họ đừng để ý tới
người đó, nhất định phải chờ A Di Đà Phật hiện ra mới đi theo đức Phật A Di
Đà. Nếu chẳng phải là đức Phật A Di
Đà, bất luận là người nào hiện ra cũng không cần để ý tới. Nếu không để ý, không chú ý thì hiện
tượng đó sẽ biến mất rất nhanh, người đó sẽ rời khỏi, điểm này là điểm quan
trọng nhất. Trong sự khai thị lúc
lâm chung, câu này vô cùng quan trọng!
Luôn luôn nhắc nhở họ, suốt hai mươi bốn giờ ngày đêm không thể gián
đoạn. Chỉ sợ một khi gián đoạn, một
khi sơ suất thì bị những oan gia, chủ nợ biến thành bà con, họ hàng dẫn họ đi
mất, đây là việc người trợ niệm lúc lâm chung không thể không biết, như vậy thì
trợ niệm mới có lợi ích lớn lao.
Người trợ niệm dùng tâm chân thành, thanh tịnh, từ bi để niệm câu Phật
hiệu này, người trợ niệm càng nhiều càng tốt, từ trường đó thù thắng, có thể
làm cho những quỷ thần cõi ác này chẳng dám đến gần. Nếu người trợ niệm ít, người trợ niệm
chẳng có thành tâm, thì quỷ thần ác đạo sẽ thắng thế, sẽ thừa dịp [người trợ
niệm] không đề phòng bèn đi vào [phá khuấy], chúng ta phải đặc biệt chú ý điểm
này. Thế nên có người hỏi nếu lỡ
không tìm được người trợ niệm, chúng ta dùng máy niệm Phật được không? Chỉ có thể nói [dùng máy niệm Phật] tốt
hơn một chút mà thôi, tốt nhất là có người đến niệm, như vậy thì sẽ [có hiệu
quả] khác nhau.
Phàm khi gặp những chuyện này lúc lâm chung,
thì người mất chắc chắn sẽ rơi vào ba đường ác, nếu lúc còn sống người ấy lại
làm nhiều ác nghiệp thì còn tệ hại hơn nữa! Địa Tạng Bồ Tát cũng cứu chẳng nổi. Sanh tử là việc quan trọng lớn lao, sau
khi chết đi sanh vào cõi nào là một vấn đề vô cùng nghiêm túc. Cho nên khi người mắc bịnh, yêu ma ác
quỷ đến phá khuấy, trong kinh này nói những người làm việc thiện cả đời cũng
rất khó tránh khỏi, huống chi là người làm ác! Nhân thiện thì được quả thiện, nhân ác
thì có quả ác, chắc chắn là chẳng sai; quả báo hiện ra hay không là do duyên
đầy đủ hay không. Nếu duyên đầy đủ
thì quả báo sẽ hiện ra. Thế nên
chúng ta tiễn đưa người vãng sanh nói thật ra là giúp đỡ một người đi làm Phật,
cả đời chúng ta làm việc thiện, còn việc thiện nào lớn hơn việc tiễn đưa một
người đi làm Phật? Chẳng có
việc nào lớn hơn việc này hết. Nếu
lúc một người lâm nguy, bạn có thể dốc toàn tâm toàn lực để chăm sóc họ, từng
giờ từng phút nhắc nhở họ, đây tức là chiến đấu với vô số ác quỷ ác thần, nhất
định phải chiến thắng họ, thì người mất mới có thể vãng sanh một cách thuận
lợi, được Phật tiếp dẫn. Cho dù
người tạo ngũ nghịch, thập ác, nếu gặp tăng thượng duyên này cũng có thể vãng
sanh.
Tôi nghĩ chư vị coi Tịnh Độ Thánh Hiền Lục,
Vãng Sanh Truyện đều biết chuyện ông Trương Thiện Hòa đời Đường. Trương Thiện Hòa là một kẻ làm nghề giết
trâu, cả đời chẳng biết đã làm thịt bao nhiêu con trâu, đã làm bao nhiêu ác
nghiệp, cho nên lúc lâm chung ông ta nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu đến đòi
mạng, trong Phật pháp gọi là tướng địa ngục hiện lên, lúc đó ông ta mới kêu
cứu. Duyên của ông rất tốt, may sao
có một người xuất gia đi ngang, nghe tiếng kêu cứu trong nhà, người xuất gia ấy
liền vào nhà ông để coi là chuyện gì.
Ông nói ông nhìn thấy rất nhiều người đầu trâu, họ nói phải đền mạng cho
họ. Vị xuất gia đó mới đốt một cây
nhang rồi kêu ông cầm trong tay, kêu ông gấp rút niệm A Di Đà Phật. Do vì muốn thoát khỏi cảnh tượng ấy ông
bèn niệm lớn tiếng “A Di Đà Phật”, mới niệm mười mấy tiếng, ông liền nói với
người nhà “người đầu trâu đã biến mất, đều đi mất, A Di Đà Phật đã đến”, nói
xong ông bèn vãng sanh. Do đó bạn
mới biết đã tạo ác nghiệp cũng không sao, nếu lúc lâm chung gặp duyên thù
thắng, vận may của ông Trương Thiện Hòa thiệt là quá tốt, gặp được thiện tri
thức, nếu ông chẳng gặp vị xuất gia ấy thì nhất định sẽ đọa tam ác đạo, chắc
chắn là phải đọa địa ngục. Sau khi
thọ tội ở địa ngục xong cũng phải làm trâu để đền mạng, bạn giết một con trâu
thì phải đền mạng một lần, bạn giết bao nhiêu con trâu thì phải đền mạng bấy
nhiêu lần.
Giết trâu [bị quả báo] như vậy, chư vị phải biết, giết hại bất cứ chúng sanh nào cũng phải đền mạng, cho dù động vật nhỏ đến đâu cũng phải đền mạng, bạn làm sao đền mạng cho hết? Bạn giết một con trùng, một con kiến đều phải đền mạng, muôn vàn xin bạn đừng tưởng đây là những côn trùng gây hại [thì không sao, chúng ta không thể coi thường] sanh mạng của chúng, chúng cũng là chúng sanh đã làm chuyện ác rồi đầu thai vào cõi súc sanh, biến thành những hình trạng như vậy. Chúng ta trong sáu nẻo luân hồi cũng đã thường làm những chuyện này cả rồi, đời này may mắn được thân người, làm sao biết được sau khi chúng ta mất thân người thì sẽ có thân hình của con vật gì? Thế nên có được thân hình [con người] này cũng không thể kiêu ngạo, không thể dựa vào thế lực của thân hình này mà tàn sát những động vật nhỏ, vừa chớp mắt thì bạn cũng sẽ phải làm thân hình của chúng, bạn cũng sẽ chịu người khác giết hại, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai. Xin xem đoạn kinh kế tiếp:
Thế Tôn, như thị Diêm Phù Đề nam tử nữ nhân lâm mạng chung thời, thần
thức hôn mê, bất biện thiện ác, nãi chí nhãn nhĩ cánh vô kiến văn.
Bạch Ðức Thế Tôn! Những kẻ
nam người nữ ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thì thần thức hôn ám mê muội,
không phân biệt được thiện ác, cho đến mắt và tai đều không còn thấy nghe gì nữa.
Đây là lúc lâm chung, chúng ta gọi là trạng
thái hấp hối, đoạn thời gian này rất ngắn.
Đích thật là họ hôn mê chẳng hay chẳng biết, họ chẳng nhận biết được
người nhà, sức trí nhớ hoàn toàn tiêu mất, đây là trạng thái cực kỳ nguy
hiểm. Duy chỉ có người đầu óc còn
tỉnh táo mới dễ được giúp đỡ, một khi đầu óc không tỉnh táo thì sự việc sẽ rất
phiền phức. Khi người lâm chung gặp
phải trường hợp này, cho dù gặp được thiện tri thức cũng chẳng giúp được gì,
đây là nghiệp chướng rất nặng, chúng ta phải ghi nhớ lời dạy trong kinh Địa
Tạng, họ hoàn toàn nương nhờ vào sự giúp đỡ của người khác. Hiện nay có một số người mạng sống còn
chưa hết, phước báo còn chưa hưởng hết, người hiện nay gọi là chứng người già
mất trí nhớ, chính là trạng thái này.
[Việc nói ở đây] là họ chưa đến lúc lâm chung ‘thần thức hôn mê, bất
biện thiện ác, nãi chí nhãn nhĩ cánh vô kiến văn’, đây là chứng người già mất
trí nhớ. Phải coi phước báo của
người ấy, nếu phước báo lớn thì có thể kéo dài thời gian này suốt mười năm, tám
năm, họ còn thở, vẫn còn hô hấp, nhưng mê man chẳng tỉnh táo, người thân nhất
trong nhà, người mình thương mến nhất cũng chẳng nhận ra, mỗi ngày hai mươi bốn
giờ đều ở trong trạng thái hôn mê.
Những người này thiệt đáng thương, cầu sống không được cầu chết cũng không
xong, sau khi chết đi nhất định sẽ bị nghiệp lực lôi kéo, sẽ chẳng sanh vào cõi
thiện, chắc chắn sẽ đọa nẻo ác.
Chúng ta có khả năng bảo đảm chính mình tương lai sẽ không rơi vào tình
trạng này hay không? Ai cũng chẳng
dám bảo đảm. Ngày nay chúng ta nhìn
thấy những tình trạng này, tự mình phải có tâm cảnh giác cao độ, đức Phật dạy
cho chúng ta phương pháp [cứu chữa], chúng ta phải ghi nhớ.
Thị chư quyến thuộc, đương tu thiết đại
cúng dường chuyển độc tôn kinh, niệm Phật Bồ Tát danh hiệu. Như thị thiện duyên năng lịnh vong giả
ly chư ác đạo, chư ma quỷ thần tất giai thoái tán.
Hàng quyến thuộc phải nên
thiết đại cúng dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm danh hiệu của Phật cùng Bồ Tát;
những thiện duyên như thế có thể khiến cho người chết thoát khỏi các đường ác,
và các ma quỷ, ác thần đều phải rút lui hoặc giải tán.
Chữ quan trọng ở đây là ‘đại cúng dường’,
người nhà quyến thuộc có chịu làm hay không? Rất nhiều người bị chứng người già
mất trí nhớ, nói thật ra họ đều là người giàu có, trưởng giả, giòng dõi giàu
sang. Quyến thuộc người nhà của họ
bận bịu để tranh giành tài sản, có mấy ai chịu làm việc đại cúng dường cho
họ? Sống chết gì cũng chẳng có
người hỏi thăm, [con cháu] tìm hết đủ mọi cách để đoạt gia tài, người này thiệt
đáng thương, [rốt cuộc] cũng phải sanh vào ba đường ác. Nếu người nhà thật sự là người thông
minh, người hiểu rõ Lý muốn cứu họ thì phải dùng hết thảy tài sản của người ấy
để tu đại cúng dường, giống như đoạn trước có nói cô Bà La Môn, cô Quang Mục,
vì muốn cứu mẹ nên bán hết đất đai tài sản của mình để làm việc cúng
dường. Ngày nay trong thế gian này
đi đâu tìm được con cháu hiếu thuận như vậy? Bạn sẽ tìm chẳng được, cũng tìm chẳng
được một người bạn đáng tin cậy, thiệt là nguy hiểm! Nguy hiểm đến cùng cực, vậy thì phải làm
sao? Không bằng tu đại cúng dường
ngay bây giờ, trong kinh nói lúc bạn còn sống làm việc này thì bạn có được trọn
tất cả lợi ích, bạn sẽ tránh khỏi lúc già bị bịnh khổ như vậy, hiện nay phải giác ngộ, phải thật sự
giác ngộ, con cái cũng tin không nổi, bạn bè cũng tin không nổi, người thân
thích nào đến sau cùng [lòng dạ] cũng sẽ thay đổi, chẳng có ai đáng tin, người
thật sự đáng tin được là chính mình.
Thừa lúc mình còn khoẻ mạnh, còn hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng ta
phải hết lòng tu (chữ tu ở đây nghĩa là làm việc) đại cúng dường, dốc hết tâm
hết sức để cúng dường.
Phải tu cúng dường như thế nào, bạn phải có
trí huệ, phải thân cận thiện tri thức.
Trong việc tu hành, bất luận là Hiển Giáo, Mật Giáo, Tông Môn, Giáo Hạ,
tại gia, xuất gia, điều kiện cần thiết đầu tiên là phải hiểu rõ Lý, không thể
không hiểu những đại đạo lý của vũ trụ nhân sinh mà đức Phật đã dạy, không thể
không hiểu rõ các hiện tượng y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp
giới. Sau khi bạn hiểu rõ ràng thì
bạn sẽ biết phải làm thể nào để tu đại cúng dường. Trong tình trạng cụ thể của chúng ta
hiện nay mà nói, nguyên lý nguyên tắc cơ bản của nó chính là làm thế nào giúp
cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, việc cúng dường này sẽ rất lớn. Làm thế nào có thể giúp cho hết thảy chúng
sanh lìa khổ được vui, việc vui chân chánh chính là vãng sanh Cực Lạc thế
giới. Chư vị có thể hiểu được, Cư
Sĩ Lâm ngày nay, Tịnh Tông Học Hội đang làm việc ‘tu đại cúng dường’, mỗi ngày
giảng kinh hai giờ, đây là đại cúng dường, giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê
khai ngộ. Hiện nay trong Niệm Phật
Đường mỗi ngày [tổ chức] niệm Phật mười hai giờ đồng hồ, giúp cho người ta lìa
khổ được vui, đây cũng là đại cúng dường.
Cư sĩ Lý [Mộc Nguyên] phát tâm hy vọng có thể làm một việc đại cúng
dường lâu dài, xây Thôn Di Đà, tiếp đón người thập phương chân chánh phát tâm
niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ, giúp cho họ có đầy đủ điều kiện để niệm Phật, đây
là đại cúng dường. Ngoài ra những
chuyện thiện khác, khi chúng ta gặp thì không thể không làm, cũng phải dốc hết tâm
hết sức đi làm, đó cũng thuộc về đại cúng dường. Giống như những tai nạn [thiên nhiên] to
lớn trong nước hiện nay, nước Trường Giang tràn ngập, vùng Đông Bắc Nộn giang ,
nước sông Tùng Hoa ngập lụt, tạo nên tai hại cực nặng, chúng ta nghe được thì
phải dốc hết sức lực để cứu trợ.
Không thể nói sự cúng dường này chắc là sự cúng dường nhỏ nhoi, không
phải vậy đâu, đây cũng là đại cúng dường.
Nhà Phật thường nói ‘Phật chẳng độ người vô
duyên’, đức Phật muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được
vui, thì trước tiên phải bố thí kết duyên.
Chúng ta kết pháp duyên với những chúng sanh này, kết thiện duyên, tương
lai khi nhân duyên chín muồi thì họ sẽ rất vui vẻ tiếp nhận Phật pháp, do đó bố
thí tài vật là điều kiện đầu tiên nhất định phải có để Phật độ chúng sanh. Pháp thứ nhất trong Tứ Nhiếp Pháp của
Phật chính là Bố Thí, kế đó là Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự, xả bỏ tài vật để tu
phước, chỉ cần chịu xả thì tài vật giàu có cuồn cuộn mang đến, do đó đừng nên
keo kiệt, giàu có thì phải biết bố thí.
Vui vẻ bố thí thì người ấy sẽ có phước, người ấy chắc chắn sẽ chẳng
thiếu thốn tiền tài, càng bố thí thì càng giàu có, càng giàu thì càng phải bố
thí cho nhiều hơn. Gần đây kinh tế
vùng Đông Nam Á xuống dốc, đời sống dân chúng khốn khổ, nguồn thâu nhập giảm
xuống, nhà đất mất giá không chỉ phân nửa.
Chúng tôi đi ra ngoài đường thấy rất nhiều chỗ đang xây cất giữa chừng
phải ngưng lại, nhà bán không được.
Chúng ta hãy xem Cư Sĩ Lâm, nguồn thâu nhập của Cư Sĩ Lâm cũng chịu ảnh
hưởng, lợi tức của tín đồ ít đi thì đóng góp cũng bớt đi. Thế nhưng từ khi
chúng tôi bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm tới nay, Niệm Phật Đường này mở cửa, cư
sĩ Lý Mộc Nguyên nói với tôi không những số thâu nhập của Cư Sĩ Lâm không giảm
bớt mà còn tăng thêm, rất nhiều người nói với tôi hiện tượng Cư Sĩ Lâm hưng
vượng từ trước tới giờ chưa từng thấy được. Tại sao vậy? Là do bố thí, càng thí thì có càng
nhiều. Những lời đức Phật nói trong
kinh, chúng ta ở nơi đây nhìn thấy tận mắt. Bạn thí tiền tài thì tiền tài nhất định
sẽ cuồn cuộn đến; bạn thí pháp thì nhất định sẽ thông minh trí huệ; bạn thí vô
uý thì nhất định sẽ được khoẻ mạnh sống lâu. Nếu quy nạp toàn bộ Phật pháp thì đó
chính là một chữ Bố Thí.
Trong các việc bố thí, thí tài vật, thí pháp, thí vô uý, chúng ta ai
nấy đều hy vọng giàu sang, thông minh, khoẻ mạnh sống lâu, nếu bạn không tu
nhân thì làm sao có được quả báo?
Chỉ cần bạn chịu tu nhân [thiện] thì chắc chắn sẽ được quả báo thiện,
đây chính là như câu nói: “Trong cửa nhà Phật có cầu ắt có cảm ứng”. Tôi rất hy vọng các bạn đồng tu tu pháp
Niệm Phật ở mọi nơi trên khắp thế giới, hy vọng mọi người đến đây để tham học,
những lời đức Phật dạy trong kinh, những lời tôi nói trong giảng đường, giảng
không rõ ràng, không rành rẽ, bạn nghe xong cũng rất khó hiểu được, nhất định
phải đến đây đích thân cảm nhận thì bạn mới hiểu được, lời giáo huấn trong Phật
pháp chân thật chẳng hư dối. Làm
vậy mới có thể tăng thêm lòng tin của bạn, tăng thêm tâm nguyện của bạn, để cho
bạn tin tưởng chắc chắn y giáo phụng hành, tương lai của bạn sẽ tươi sáng rạng
rỡ. Dù bạn có gặp khó khăn lớn hơn
hoặc tai nạn lớn hơn thì bạn cũng vượt qua một cách yên ổn, bạn nhất định sẽ
chẳng đánh mất lòng thanh tịnh tự tại, đó chính là lợi ích ngay trước mắt khi
chúng ta học Phật. Trước mắt có thể
đạt được lợi ích thù thắng như vậy thì lợi ích tương lai sẽ vô lượng vô
biên. [Quả báo] hiện tiền nhà Phật
thường gọi là ‘Hoa Báo’, tương lai là ‘quả báo’, quả báo nhất định là sẽ vãng
sanh tây phương Cực Lạc thế giới, đó là việc thù thắng không chi sánh bằng. Do đó chúng ta phải biết cách tu đại
cúng dường, phải tu mau lên, không thể chậm trễ, một khi cơ hội mất đi thì muốn
gặp lại thật không dễ. Người thật
sự có trí huệ, có phước đức chẳng có gì khác ngoài việc họ nhìn thấy cơ hội, có
thể nắm lấy cơ hội để thành tựu trí huệ, phước đức vô lượng vô biên của họ.
‘Chuyển độc tôn kinh’ tức là đọc tụng Đại Thừa, mỗi ngày phải đọc thì
không đến nỗi mê hoặc, không đến nỗi bị lay động bởi cảnh giới bên ngoài. Tụng kinh chính là nghe lời dạy của
Phật, Bồ Tát. ‘Niệm Phật, Bồ Tát
danh hiệu’ tức là trì danh niệm Phật.
Trong kinh đức Phật dạy chúng ta phương pháp tu hành thù thắng nhất, ổn
thỏa nhất, nhanh chóng nhất, có hiệu quả nhất chính là ‘nhất tâm xưng niệm A Di
Đà Phật’. Bạn phải hiểu rõ ‘nhất
tâm xưng niệm’ thì bạn sẽ được tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ sanh trí huệ;
tâm không thanh tịnh sẽ sanh phiền não, khi có phiền não thì bạn sẽ tạo ác
nghiệp, tâm thanh tịnh sẽ sanh trí huệ, khi bạn có trí huệ thì bạn mới tạo hết
thảy thiện nghiệp. Đây là vài
phương pháp đức Phật dạy trong kinh, cảnh giới của những phương pháp này cũng
vô cùng rộng lớn, ‘như thị thiện duyên, năng lịnh vong giả ly chư ác đạo’, tu
phước lớn như vậy, đó là việc tu phước.
Đoạn kinh phía trước đã nói những quyến thuộc giúp họ tu phước này được
sáu phần bảy công đức, người mất chỉ được một phần bảy. Đích thật có thể giúp họ lìa khỏi ác
đạo, tại sao vậy? Khi lâm chung đầu
óc họ hôn mê, bất tỉnh nhân sự thì họ nhất định sẽ đọa ác đạo. Lúc đó chúng ta trợ niệm cũng chẳng giúp
được gì, [người được] trợ niệm nhất định phải có đầu óc tỉnh táo thì mới có thể
vãng sanh. Trong tình trạng [hôn
mê] này có trợ niệm cũng không giúp họ được, vì họ chẳng tỉnh táo, bạn trợ niệm
cho họ thì họ cũng chẳng niệm Phật theo bạn, họ cũng chẳng biết ‘Phật’ là gì, đó
là lúc vô cùng đáng thương, chết đi sẽ sanh vào cõi nào lúc này là giờ phút
quan trọng nhất.
Nếu người nhà của họ không có tâm từ bi,
không có trí huệ thì họ sẽ vô cùng đáng thương. Nếu thân quyến họ thật sự có thể hiếu
thuận, từ bi, có thể hiểu đạo lý, thì nhất định phải làm như thế, họ mới có thể
lìa khỏi ác đạo, mới có thể sanh vào cõi lành. Vì họ có phước báo lớn như vậy, lúc lâm
chung những oán gia chủ nợ, những quỷ thần này sẽ thoái lui, tạm thời cũng không
dám lại khuấy rối họ. Tuy thoái
lui, chẳng có nghĩa là xong chuyện đâu, những quỷ thần này sẽ đợi cơ hội sau
này, đợi tới lúc nào bạn mê mờ, chẳng có ai giúp đỡ thì họ sẽ quay trở
lại. Do đó chư vị phải biết [khi
bạn] kết oán thù sâu đậm với chúng sanh, ai chịu tha thứ cho bạn? Nếu bạn hiểu đạo lý này thì nhất định
phải đừng kết oán thù với tất cả chúng sanh. Trong thế gian chúng ta thấy có một số
người có ấn tượng không tốt đối với chúng ta, nhìn rất gai mắt, họ là những oan
gia đời trước, họ ác ý huỷ báng, thậm chí còn hãm hại, chúng ta phải đối đãi
như thế nào? Phải dùng tâm chân
thành cung kính để đối đãi, chúng ta phải dùng tâm sám hối đối xử với họ, tuyệt
đối không thể có tâm niệm báo thù.
Nếu bạn có tâm niệm muốn trả đũa thì gút mắt này lại càng buộc chặt
thêm, đời đời kiếp kiếp báo đền lẫn nhau, dây dưa chẳng dứt. Không bằng cứ tiếp nhận hoàn toàn chẳng
than trách, đối với những người ác không những chẳng có ác ý, chúng ta còn có ý
kính trọng, thì gút mắt này sẽ được tháo gỡ, món nợ này sẽ tiêu mất, xóa sạch
sổ nợ, đó là chuyện tốt! Ấn Quang
đại sư trong Văn Sao dạy chúng ta ‘Nghĩ như là mình trả nợ’ thì chuyện
gì cũng sẽ được kết thúc. Không kết
oán thù với bất cứ người nào, chúng ta phải học ‘dùng Đức báo Đức, dùng Đức
báo oán’, được vậy thì trên con đường Bồ Đề chúng ta sẽ giảm bớt rất nhiều
chướng ngại, trên thế gian bất luận chúng ta làm sự nghiệp gì thì cũng sẽ giảm
bớt trở ngại, cơ hội thành công sẽ nhiều hơn. Chúng ta nhất định phải hiểu rõ đạo lý
này, phải biết thế nào để làm người.
Xin xem tiếp kinh văn:
Thế Tôn, nhất thiết chúng sanh lâm mạng
chung thời, nhược đắc văn nhất Phật danh, nhất Bồ Tát danh hoặc Đại Thừa kinh
điển, nhất cú nhất kệ, ngã quán như thị bối nhân trừ ngũ Vô Gián sát hại chi
tội, tiểu tiểu ác nghiệp, hiệp đọa ác thú giả tầm tức giải thoát.
Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả
chúng sanh lúc lâm chung nếu được nghe đến danh hiệu của một đức Phật, danh
hiệu của một vị Bồ Tát, hoặc một câu hay một bài kệ trong kinh điển Ðại Thừa,
con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián và tội sát hại, còn những
nghiệp ác nho nhỏ đáng phải đọa vào đường ác thì chẳng bao lâu đều được thoát
khỏi cả.
Đoạn kinh này nói cho chúng ta tu thiện đáng
quý như thế nào, cho dù một việc
thiện nhỏ cũng đáng quý, huống chi là việc thiện to lớn? Lúc quan trọng, lúc sắp mất, ‘lâm mạng
chung nhược đắc văn nhất Phật danh, nhất Bồ Tát danh’, đầu óc người sắp mất
nhất định phải tỉnh táo thì mới làm được.
Lúc lâm chung đầu óc còn tỉnh táo, còn rõ ràng, rành rẽ, nếu có thiện
tri thức ở kế bên giúp kẻ ấy, chúng ta có thể khẳng định kẻ ấy chắc chắn sẽ
không đọa ba đường ác. Chư vị phải
biết những người đọa ba đường ác đều đi vào đó một cách mờ mờ mịt mịt, lẽ nào
người có đầu óc còn sáng suốt lại đi làm ngạ quỷ, làm súc sanh, không lẽ nào
như vậy cả? Chúng ta phải biết rất
ít người lúc lâm chung còn sáng suốt, trong mười người thì hết tám chín người
bất tỉnh nhân sự, mù mù mịt mịt, bạn coi như vậy đáng sợ biết bao! Phàm những người lâm chung mà đầu óc còn
sáng suốt, cho dù tạo ác nghiệp, tâm địa của họ cũng rất thiện, tạo ác nghiệp
là vì họ vô tri, họ chẳng biết làm như vậy là tạo ác nghiệp, [thí dụ như việc]
sát sanh ăn thịt, họ cảm thấy sát sanh ăn thịt là việc rất bình thường, họ
chẳng cảm thấy làm vậy là tạo ác nghiệp, nhưng tâm địa người này vẫn là rất
tốt, đây là việc chúng ta quan sát kỹ càng thấy được. Nếu tâm người ấy chẳng thiện, thường
muốn hại người, cướp đoạt tài sản của người khác, làm những việc lợi mình hại
người, những người này lúc lâm chung hơn phân nửa đều mê hoặc điên đảo. Cả đời dựa oai thế để hiếp đáp người
khác, thậm chí đến tuổi già mắc chứng mất trí nhớ, trí nhớ hoàn toàn tiêu mất,
bất tỉnh nhân sự, hơi thở còn chưa đứt, cứ nằm trên giường bịnh suốt tám năm,
mười năm, trong thời đại ngày nay chúng ta thấy những người như vậy rất nhiều,
do đó tu thiện là việc vô cùng quan trọng.
Đoạn này chúng ta phải ghi nhớ, đây là lý luận y cứ cho việc trợ niệm, con người lúc lâm chung, nếu chúng ta gặp phải, chúng ta làm thế nào giúp đỡ họ, lúc lâm chung, thời khắc mấu chốt nhất vô vùng ngắn ngủi này, phải dùng phương pháp có hiệu quả cao nhất [để giúp họ]. Bất luận họ cả đời học Phật hoặc chẳng học Phật, thậm chí phản đối Phật, hủy báng đức Phật [mình] cũng không cần để ý tới, lúc lâm chung họ mang bịnh nặng nằm trên giường, họ chẳng làm chủ được thì chúng ta làm chủ [thay họ], chúng ta niệm A Di Đà Phật cho họ nghe, họ không muốn nghe thì cũng phải nghe, trồng thiện căn cho họ. Vả lại còn phải khuyến dụ họ, phần lớn hầu hết lúc lâm chung cả đời chẳng tin Phật, đến lúc lâm chung hoặc có thể sẽ tin, lúc đó mình nhắc họ, nói cho họ biết lợi ích của sự niệm Phật. Trong lúc đó nếu họ có thể nghe được danh hiệu một vị Bồ Tát, một vị Phật, lúc ấy dùng danh hiệu Phật, Bồ Tát đối với họ là việc có lợi ích lớn nhất. ‘Kinh điển Đại Thừa, nhất cú nhất kệ’, nói ‘nhất cú nhất kệ’ thì không cần phải đi tìm kinh nào, trong lúc quan trọng nhất này phải buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, bất luận cảnh giới gì hiện ra, bạn có thể nói cho họ nghe câu kinh ‘phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, hết thảy đều đừng để ý tới, cứ nói một cách dứt khoát với họ, chẳng có mảy may nghi ngờ gì hết thì mới thật sự là giúp đỡ họ. Cho d