Hòa thượng Tịnh Không giảng tại
Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba, tháng 5 năm 1998
Tập 33 (Số 14-12-33)
Xin
mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 138:
Hựu ư quá khứ hữu Phật xuất thế, hiệu Ba Đầu Ma Thắng Như Lai. Nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh, lịch ư nhĩ căn thị nhân đương đắc thiên phản sanh ư Lục Dục thiên trung, hà huống chí tâm xưng niệm.
Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật này thoáng qua tai, người đó sẽ được một ngàn lần sanh trong Lục Dục Thiên, huống chi là chí tâm xưng niệm.
Đây là lời Địa Tạng Bồ Tát giảng về đức hiệu của vị Phật thứ ba cho chúng ta, thời gian [lúc đức Phật này ra đời] còn lâu xa hơn hai vị trước. Danh hiệu của đức Phật này là Ba Đầu Ma Thắng Như Lai. ¡¥Ba Đầu Ma¡¦ là Phạn ngữ, nghĩa là hoa sen màu đỏ. Trong kinh đức Phật nói, thông thường nói hoa sen bốn màu, trên thực tế hoa sen không phải chỉ có bốn màu thôi đâu, bốn màu có thể nói là bốn màu chánh, nếu pha trộn bốn màu này với nhau thì sẽ biến thành vô lượng, vô số màu sắc. Kinh nói trong các màu sắc thì màu đỏ đẹp nhất, đương nhiên đây là dựa trên tập quán của chúng sanh, Phật pháp là pháp bình đẳng, nhưng chúng sanh ưa thích màu đỏ, đại khái thời cổ Ấn Độ cũng vậy, người Trung Quốc cũng thích màu đỏ, nhưng người ngoại quốc không nhất định sẽ thích màu đỏ, do đó màu nào đẹp nhất rất khó nói, hoàn toàn dựa trên sự ưa thích của chúng sanh. Đây là vì thời xưa ở Ấn Độ và Trung Quốc đều thích hoa sen màu đỏ.
Giả sử nói có người nam, người nữ nghe đến danh hiệu này, vừa nghe lọt vào tai thì liền có quả báo thù thắng như vậy, tu nhân được quả, chúng ta có thể tin tưởng hay không? Do đó mấu chốt vẫn chú trọng ở chữ ¡¥Văn¡¦, ¡¥văn thị Phật danh, lịch ư nhĩ căn¡¦, tám chữ này rất quan trọng. ¡¥Văn¡¦ không phải là chúng ta nghe người ta niệm Phật, chúng ta nghe xong, làm gì có lợi ích thù thắng như vậy! Sự nghe danh hiệu này thông thường chỉ có thể nói ¡¥Một phen lọt vào tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo¡¦, công đức đó đích thật cũng rất thù thắng. Nhưng muốn được một ngàn lần sanh về cõi trời Lục Dục hưởng phước báo, đây là chuyện không thể có được; chỉ là gieo một hạt giống thành Phật trong A Lại Da thức mà thôi, cũng giống như câu ¡¥Xưng niệm một câu Nam Mô Phật thì đều đã thành Phật đạo¡¦ nói trong kinh Pháp Hoa, là có ý nghĩa như vậy.
Nếu chữ ¡¥Văn¡¦ này là một trong ba Huệ, thì quả báo này sẽ hiện lên, nghe danh hiểu nghĩa, chẳng phải là không hiểu nghĩa. Hoa sen đỏ có thể giải thích cho nghĩa này, hoa sen mọc trong bùn nhơ nhưng không nhiễm, họ từ chỗ này giác ngộ trở lại, tự mình sống trong hồng trần, trong lục đạo, đặc biệt là trong Dục Giới, có thể không nhiễm ngũ dục lục trần, thì công đức ấy sẽ lớn. Nếu có thể buông xuống hết ngũ dục lục trần thì quả báo của họ sẽ không chỉ ở trời Dục Giới mà thôi, họ sẽ chứng quả, sự ham muốn trong thế gian đã bớt, đã giảm nhẹ, chẳng phân biệt chấp trước như trước, cho nên họ có thể từ cõi người siêu sanh đến cõi trời, đạo lý là như vậy. ¡¥Lịch ư nhĩ căn¡¦ nghĩa là họ ghi trong tâm, nghe đến danh hiệu này thì trong tâm họ có giác ngộ được đôi chút.
Lời ghi trong Chú Giải rất hay, hàng thứ hai trang 139, chúng ta đọc
đoạn này: ¡§Nêu tỏ người nghe được danh hiệu, tuy sanh cõi trời Dục Giới¡¨ [1] ,
tuy là sanh đến cõi trời Dục Giới, ¡§thật sự chẳng chấp trước ngũ dục lục trần
thô hèn¡¨ [2],
đối với ngũ dục lục trần thô tục, họ đã không còn chấp trước, có thể buông
xuống; ¡§Do hiểu rằng Tánh của lìa sự
nghe vốn là không nên sanh lên cõi trời cũng tịch tịnh. Do cõi trời Không Xứ
chính là giả, nên quyền biến thị hiện thân trời để độ kẻ thật sự sanh lòng tham
chấp ngũ dục¡¨ [3],
vừa nghe liền khai ngộ, khai ngộ xong họ đích thật có khả năng siêu việt, nhưng
lòng từ bi của họ rất nặng, họ còn lưu lại cõi Dục Giới, độ những chúng sanh
còn đang tham trước hưởng thọ ngũ dục.
Trời Dục Giới vẫn còn ngũ dục lục trần, chẳng qua là lợt lạt hơn cõi
người mà thôi. Sáu cõi trời Dục
Giới càng lên cao càng lợt. Đoạn
cuối trong Chú Giải rất hay ¡¥Hoa sen Phật có ngàn cánh, tiêu biểu cho ngàn pháp
minh môn, cho nên gọi là thiên phản¡¦, ¡§thiên phản¡¨ cũng không phải thật là một
ngàn lần, không nên nghĩ thực sự [là một ngàn lần], đây là tiêu biểu pháp. Chỗ này tiêu biểu pháp, chúng ta phải hiểu,
chỗ nào cũng là tiêu biểu pháp.
Nghe pháp quan trọng ở chỗ ngộ nhập, nếu không thể ngộ nhập, thì bạn
không được lợi ích, ngộ nhập thì mới có lợi ích thật sự. Cho nên niệm danh hiệu Phật, không thể
không hiểu ý nghĩa của danh hiệu Phật, đặc biệt là công đức của danh hiệu A Di
Đà Phật không thể nghĩ bàn, tại sao không thể nghĩ bàn? Không thể nghĩ bàn ở chỗ nào? Bạn phải hiểu rõ ràng, rành rẽ, có thể
giải thích được thì sau đó bạn mới thật sự có thể cảm nhận được, khế nhập vào
cảnh giới. Đoạn cuối nói ¡¥hà huống
chí tâm xưng niệm¡¦, ¡¥chí tâm xưng niệm¡¦ hồi hướng Tịnh Độ chắc chắn sẽ được
vãng sanh, đây là việc chúng ta nhất định phải biết. Chí tâm nghĩa là nhất tâm xưng niệm,
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước hoàn toàn hết sạch, dẫu chưa đoạn hết nhưng cũng
rất lợt lạt, tới lúc đó mới có thể chí tâm xưng niệm. ¡¥Chí¡¦ nghĩa là chuyên chí. Xin xem tiếp:
Hựu ư quá khứ bất khả thuyết, bất khả thuyết a tăng kỳ kiếp.
Lại bất
khả thuyết, bất khả thuyết a-tăng-kỳ kiếp về thuở quá khứ
Ở đây dùng con số này, con số này thật quá lớn.
Hữu
Phật xuất thế, hiệu Sư Tử Hống Như Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật
danh, nhất niệm quy y, thị nhân đắc ngộ vô lượng chư Phật, ma đảnh thọ ký.
Có đức
Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến
danh hiệu của đức Phật này mà nhất niệm quy y, người ấy sẽ được gặp vô lượng
chư Phật xoa đảnh thọ ký cho.
Sư Tử Hống là
dùng ví dụ để đặt danh hiệu, ví dụ oai đức của Phật thuyết pháp. Phật
thuyết pháp mỗi phương diện đều đầy đủ, Lý Sự đều viên dung; khi đức Phật
thuyết pháp, hết thảy tà ma, ngoại đạo trong thế gian đều bị khuất phục, không
thể tranh biện được, cho nên ví như Sư Tử Hống, [tức là] dùng trạng huống lúc
đức Phật thuyết pháp để lập danh hiệu. Sau đó
nói về quả báo của ¡¥Nhất niệm quy y¡¦, ¡¥nam tử nữ nhân văn thị Phật danh¡¦, nghe
được danh hiệu của Phật thì nghĩ đến oai đức khi đức Phật thuyết pháp, cho nên
là ¡¥nhất niệm quy y¡¦. Từ hết thảy
tà tri tà kiến quay về, nương dựa vào chánh tri chánh kiến của đức Phật, lời
giáo huấn của Phật là chánh tri chánh kiến, như vậy thì sẽ tương ứng, sẽ là đệ
tử chân chánh của Phật. Chúng ta
biết nhà Phật thường nói ¡¥Trong cửa nhà Phật chẳng xả một ai¡¦. Lời Phật nói nhất định chẳng dối, chỉ
cần tâm hạnh của bạn tương ứng thì sẽ được chư Phật Như Lai gia bị, che chở,
được chư Phật Như Lai gia trì, đó là ý nghĩa của ¡¥ma đảnh thọ ký¡¦. Tâm của bạn tương ứng với tâm Phật, hạnh
của bạn tương ứng với hạnh của Phật, lẽ nào không được chư Phật Như Lai gia
trì! Tại sao Phật phải gia trì cho
bạn? Mục đích là rộng độ chúng hữu
tình, hôm nay bạn phát tâm giúp Phật rộng độ hữu tình, đức Phật đương nhiên sẽ
gia trì cho bạn, nếu bạn khởi tâm động niệm gì cũng chỉ lo cho bản thân của
mình, Phật dù muốn gia trì cũng không được, chúng ta phải hiểu đạo lý này. Độ chúng sanh phải bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ kinh Địa Tạng này là tốt
nhất, kinh Địa Tạng đích thật có thể độ chúng sanh trong chín ngàn năm đời Mạt
pháp. Mạt pháp kéo dài một vạn năm,
đã trải qua một ngàn năm rồi, sau này còn chín ngàn năm nữa, thật sự có thể
độ. Nội dung của kinh này dạy rõ về
nhân quả, nếu có thể y giáo phụng hành thì nhất định sẽ được hết thảy chư Phật
xoa đảnh thọ ký. Xem tiếp vị Phật
thứ năm:
Hựu
ư quá khứ hữu Phật xuất thế hiệu Câu Lưu Tôn Phật. Nhược hữu nam tử nữ nhân, văn thị Phật
danh, chí tâm chiêm lễ hoặc phục tán thán, thị nhân ư Hiền kiếp thiên Phật hội
trung vi đại Phạm Vương đắc thọ thượng ký.
Lại về
thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Phật. Như có người nam
người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật này mà chí tâm chiêm lễ hoặc lại
tán thán, người ấy nơi pháp hội của một ngàn đức Phật trong thời Hiền Kiếp sẽ
làm vị Ðại Phạm Vương, được thọ thượng ký.
Câu Lưu Tôn Phật có phải là Phật trong Hiền Kiếp
này của chúng ta hay không? Trong
phần chú thích có nói, chẳng phải là Hiền Kiếp mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói
với chúng ta, trong Chú Giải nói: ¡¥Đó không phải là Hiền Kiếp thứ chín, lúc đức
Phật ra đời trong kiếp giảm đến sáu vạn tuổi¡¦. Sau đó lại nói ¡¥Căn cứ theo Vạn Phật
Danh kinh có vô lượng Thất Phật¡¦.
Lời này giải thích rất hay, có rất nhiều Phật, Bồ Tát có cùng danh hiệu,
tên kiếp cũng giống nhau, tên thế giới cũng giống nhau, do đó khẳng định chẳng
phải vị Câu Lưu Tôn Phật trong Hiền Kiếp của chúng ta. Nếu là Câu Lưu Tôn Phật của Hiền Kiếp
chúng ta thì phải được đặt ở phía trước, vì ngài cách chúng ta gần nhất, cách
sắp xếp ở đây là càng trở về sau thì càng cách xa chúng ta. ¡¥Câu Lưu Tôn¡¦ là Phạn ngữ, nghĩa là ¡¥Sở
Ứng Đoạn¡¦, hoặc ¡¥Tác Dụng Trang Nghiêm¡¦, thật ra tên thứ nhất tốt nhất. Vật gì bạn phải nên đoạn? Phải nên đoạn phiền não, nên đoạn sanh
tử, cho nên danh hiệu của ngài được đặt ra từ chỗ này, cũng như Phật pháp
thường gọi ¡¥Đoạn Đức¡¦. Pháp Đại
Thừa thường nói phải nên đoạn Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh. Đoạn Kiến Tư thì chứng Tiểu Thừa A La
Hán, ra khỏi lục đạo; đoạn thêm Trần Sa, phá một phẩm Vô Minh sẽ ra khỏi thập
pháp giới, đến Nhất Chân pháp giới.
Trong Nhất Chân pháp giới còn bốn mươi phẩm Vô Minh, đoạn hết bốn mươi
phẩm Vô Minh này thì chứng được quả vị viên mãn cứu cánh, ý nghĩa này trong
Phạn ngữ gọi là Câu Lưu Tôn. Do đó
danh hiệu [nhắc nhở chúng ta khi] nghe đến danh hiệu này thì tự mình biết phải
đoạn phiền não, phải hết lòng học tập.
Đoạn phiền não ở
đâu? Ngay ở trong cảnh duyên, và
cũng là trong đời sống, cảnh là hoàn cảnh vật chất, duyên là hoàn cảnh nhân sự,
trong hoàn cảnh vật chất có cảnh thuận, có cảnh nghịch; trong hoàn cảnh nhân sự
có duyên thiện, có duyên ác, trong duyên thiện, cảnh thuận chẳng sanh tham ái,
trong duyên ác, cảnh nghịch chẳng sanh sân khuể thì bạn đã đoạn dứt phiền não. Trong duyên thiện, cảnh thuận còn sanh
tâm hoan hỷ thì là phiền não, trong duyên ác, nghịch cảnh cảm thấy không vui,
sanh tâm sân khuể, thì phiền não của bạn đã hiện lên. Do đó đoạn phiền não ở đâu? Đoạn ngay trong đời sống hằng ngày khi
tiếp xúc với hết thảy người, sự, vật.
Người thật sự biết đoạn phiền não đối với hết thảy người, sự, vật thường
giữ một tâm niệm cảm ân, nếu chẳng có những cảnh giới này hiện ra thì phiền não
của bạn làm sao có thể đoạn dứt!
Mỗi ngày ở trong hoàn cảnh này đoạn sân khuể trước, xong mới đoạn tham ái. Sân khuể vô cùng nghiêm trọng, trong hết
thảy kinh luận đức Phật nói với chúng ta ¡¥Một niệm sân tâm khởi, trăm vạn
cửa chướng ngại mở ra¡¦, trong tâm có một tí xíu chẳng vừa ý thì toàn bộ
công đức của bạn đều bị mất hết, ¡¥lửa [sân] thiêu trụi rừng công đức¡¦, đây là
việc chúng ta không thể không biết, không thể không cảnh giác. Ai hủy hết công đức của bạn? Là do chính bạn hủy hết công đức của
mình, tuyệt chẳng thể oán trời trách người, bất cứ sức lực bên ngoài nào cũng
chẳng thể hủy diệt công đức của bạn được. Ác duyên, nghịch cảnh bên ngoài
hiện lên thì bạn phải nhận chịu, đâu có cách chi khác! Tâm bạn bị cảnh giới chuyển; lỗi là ở
tại chính mình. Phật dạy chúng ta
tu hành là luyện công phu ngay tại những lúc này, luyện đến mức tâm chẳng bị
ngoại cảnh chuyển, chính mình trong cảnh giới [thuận hay nghịch đều] có thể làm
chủ được thì công đức của bạn đã thành tựu, công đức của bạn có thể giữ gìn, do
đó nhẫn nhục ba la mật thì sẽ thành công.
Trong kinh Kim
Cang Bát Nhã, đức Phật nói rõ cho chúng ta, Bố Thí Ba La Mật là tích lũy công
đức, phải nhờ Bố Thí, Trì Giới. Có
thể giữ gìn Nhẫn Nhục Ba La Mật làm cho công đức của bạn không bị phá hoại,
không bị mất. Nếu bạn không thể
nhẫn thì công đức Bố Thí, Trì Giới của bạn hoàn toàn bị phá hủy mất. Sau khi bị phá mất bạn còn gì? Còn phước đức. Còn phước đức không sao, tánh tình bạn
có nóng nảy hơn nữa, tánh tình có xấu đến đâu thì bạn vẫn còn phước báo, tương
lai sẽ sanh đến đâu? Kinh Hoa
Nghiêm nói tương lai sanh đến cõi A Tu La hưởng phước, chúng sanh ở cõi A Tu La
tánh tình rất nóng nảy, tâm đố kỵ, sân khuể rất nặng, họ có phước, cho nên A Tu
La có phước báo lớn đều là nhờ tu được trong cửa Phật, chỉ vì chẳng chống nổi
sự dụ hoặc từ cảnh giới bên ngoài nên thường sanh phiền não. Ở chỗ này chúng ta nhất định phải học
Phật, Bồ Tát, trong hết thảy cảnh duyên phải tu những gì? Tu ¡¥như như chẳng động¡¦, tu ¡¥chẳng chấp
vào tướng¡¦ thì bạn sẽ thành công.
Hai câu trong kinh Kim Cang là tổng cương lãnh tu hành, là bí quyết tu
hành của Đại Thừa Bồ Tát từ sơ phát tâm đến khi thành Phật. Bên ngoài chẳng trước tướng, bên trong
không động tâm, có thể hòa quang đồng trần, thành tựu đạo nghiệp của mình, và
cũng độ hóa hết thảy chúng sanh. Độ
chúng sanh, trong kinh đã nói chẳng phải vài vạn lần thôi đâu, đức Phật dạy chúng
ta ¡¥Thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói¡¦, ngài đã nói câu này hết bao
nhiêu lần? Trong kinh Kim Cang, vỏn
vẹn chỉ có năm ngàn chữ mà đã lập đi lập lại câu này hết mười mấy lần, số lần
lập lại càng nhiều thì câu nói đó càng quan trọng!
¡¥Thọ tr졦 là
chúng ta thọ nhận lời dạy của đức Phật, phải hết lòng mà làm, đó gọi là thọ
trì. ¡¥Đọc tụng¡¦ là mỗi ngày đều ôn
lại kinh điển, mỗi ngày đều nghe Phật giáo huấn, đọc kinh qua một lần tức là
nghe đức Phật dạy chúng ta một lần, mỗi ngày đều phải đọc, mỗi ngày đều phải
tiếp nhận sự giáo huấn của đức Phật, nếu một ngày bạn không đọc thì sẽ quên
mất. Nói thật ra mỗi ngày đọc tụng
mà chúng ta còn phạm lỗi lầm, nếu không đọc thì chịu sao nổi! Tại sao mỗi ngày đọc tụng mà vẫn còn
phạm lỗi? Nguyên nhân trong đó thứ
nhất là chẳng chịu nổi sự dụ hoặc của cảnh giới bên ngoài, thứ hai là phiền não
tập khí của mình quá nặng, chẳng thể đè nén cho nên mỗi ngày đọc tụng Đại Thừa
mà vẫn tạo tội nghiệp. Vậy thì phải
làm sao? Không sợ tạo tội nghiệp,
phải tăng thêm công phu, nếu không gắng lên thì chắc chắn sẽ đọa lạc. Làm sao tăng thêm công phu? Nhất định phải có chánh tín, chánh giải,
chánh hạnh; những gì đức Phật dạy, chúng ta phải nỗ lực làm cho bằng được, đó
là chân tu, làm chân thật! Phải bắt
đầu từ đâu? Phía trước chúng ta đã
nói qua, trong Quán Kinh đức Phật dạy chúng ta bắt đầu từ Tam Phước, bộ kinh
Địa Tạng này chính là lời thuyết minh cho Tam Phước. Mười một câu trong Tam Phước chính là
cương lãnh của kinh Địa Tạng, những gì nói trong kinh Địa Tạng đều chẳng rời khỏi
mười một câu này, bạn phải biết cách thực hiện mười một câu này, phải đọc thuộc
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Kinh này nói rất rõ nghiệp nhân quả báo, đặc biệt là nghiệp Ngũ Nghịch,
Thập Ác, chúng ta dứt khoát không thể phạm, phạm thì chắc chắn phải đọa ác đạo,
một khi đọa ác đạo rồi muốn thoát ra rất khó, khó vô cùng, chúng ta nhất định
phải biết việc này.
Học Phật chẳng
có gì khác ngoài việc khắc phục sự khó khăn của mình mà thôi. Giáo học nhà Nho cũng nói về việc này,
¡¥khắc kỷ phục lễ¡¦, khắc phục phiền não của mình, khắc phục tập khí của mình mới
gọi là tu hành chân chánh. Nói thật
ra tu hành chân chánh chẳng phải nói bạn một ngày đọc bao nhiêu cuốn kinh, mỗi
ngày đọc mười cuốn kinh Vô Lượng Thọ có ích lợi gì đâu? Vẫn còn tạo tội
nghiệp. Chẳng phải nói mỗi ngày bạn
niệm bao nhiêu tiếng Phật hiệu, người xưa nói mỗi ngày niệm mười vạn Phật hiệu,
hét bể cổ họng cũng uổng công. Thật
sự tu hành, công phu đắc lực là ở tại một niệm quay về, chuyển tâm luân hồi trở
lại thành tâm Bồ Đề. Nói cách khác
lúc chúng ta chưa học Phật thì sống cuộc đời lục đạo luân hồi, sau khi học Phật
thì sống cuộc đời của chư Phật, Bồ Tát, vậy mới đúng. Chư Phật, Bồ Tát trong các cảnh duyên có
hoan hỷ không? Chư Phật, Bồ Tát
trong hết thảy cảnh giới có buồn rầu hay không? Chẳng có! Tuyệt đối chẳng có. Nhưng chúng ta trong kinh điển thấy chư
Phật, Bồ Tát thị hiện có khi cũng hoan hỷ, cũng có phiền não, đó là gì? Đó là thủ đoạn giáo hóa chúng sanh,
chẳng phải thiệt, giống như câu nói
của Vĩnh Gia ¡¥Phân biệt cũng chẳng phải ý¡¦, ngài đang biểu diễn, biểu diễn trên
khán đài, biểu diễn cho người dưới khán đài coi, chẳng phải là thật sự có hoan
hỷ, thật có phiền não. Những sự
biểu diễn đó giúp cho chúng sanh giác ngộ, trong tâm đích thật mảy trần chẳng
nhiễm, đích thật ngoài chẳng trước tướng, trong chẳng động tâm. Niệm niệm thị hiện thân này trên thế
gian là vì ai? Vì hết thảy chúng
sanh, tuyệt đối chẳng phải vì mình, tuyệt chẳng phải vì cái thân này của mình,
đó là tư tưởng của Bồ Tát, hành vi của Bồ Tát, chúng ta phải nên học theo. Do đó chúng ta muốn học Phật, đoạn dứt
hết thảy phiền não, đoạn dứt hết thảy tập khí, bạn phải bắt đầu làm từ chỗ này.
Người thế gian
vô tri, Phật, Bồ Tát dùng tâm chân thành đến cùng cực, thanh tịnh, từ bi cùng
cực để đối đãi chúng sanh; chúng sanh mê hoặc, vô tri, không những không lãnh
hội, tiếp nhận, mà còn muốn chà đạp Phật, Bồ Tát. Giống như trong kinh thường nói, hủy
báng, sỉ nhục thậm chí hãm hại Phật, Bồ Tát; [lúc đó] Phật, Bồ Tát có khởi tâm
động niệm hay không? Chẳng có. Các ngài tại sao chẳng khởi tâm động
niệm? Các ngài hiểu rõ ràng, rành
rẽ về quá khứ, hiện tại, vị lai của người đó; nghiệp chướng, tập khí của chúng
sanh đó từ vô lượng kiếp đến nay khởi lên thì đâu còn cách chi khác. Tuy là từ bi giáo hóa nhưng họ vẫn không
giác ngộ, đây là như trong kinh đức Phật thường hay cảm thán [gọi họ là] ¡¥những
người đáng thương xót¡¦. Họ tạo
những nhân ác như báng Phật, báng Pháp, báng Tăng thì chắc chắn phải đọa địa
ngục, bạn nói có đáng thương hay không?
Chúng ta hãy hỏi những người ấy có được cứu hay không? Vẫn có thể được cứu, chỉ cần họ còn chưa
tắt thở và họ chịu quay về thì vẫn còn cứu được, nếu họ không chịu quay về thì
không cứu nổi, cho nên [quan trọng là] phải biết quay về.
Như trong kinh A
Xà Thế Vương có nói vua tạo tội Ngũ Nghịch Thập Ác nhưng lúc lâm chung có thể
quay về, có thể giác ngộ, thật sự sám hối, cho nên vua niệm Phật vãng sanh tây
phương Tịnh Độ, phẩm vị cũng rất cao, Thượng phẩm Trung sanh. Vì sao vua chẳng được Thượng phẩm Thượng
sanh? Sám hối còn chưa đến mức rốt
ráo. Cho nên tạo tội nghiệp cực
nặng, lâm chung niệm Phật vãng sanh thuộc về sám hối vãng sanh, phẩm vị cao
thấp phải coi công đức sám hối của người đó, nếu là sám hối rốt ráo viên mãn
thì đương nhiên sẽ được Thượng phẩm Thượng sanh. Công phu sám hối của vua A Xà Thế tương
đối rất tốt, thật sự là phần đông những người tạo tội chẳng làm nổi. Nhưng chỉ cần được vãng sanh, Phàm Thánh
Đồng Cư độ Hạ Hạ Phẩm vãng sanh cũng là thành tựu thật sự. Do đó chúng ta phải khuyên những chúng
sanh tạo tội nặng phải biết quay về, ăn năn sám hối, sửa lỗi. Chúng ta thấy trong lịch sử có rất nhiều
sự tích thị hiện của chư Phật Như Lai, chư đại Bồ Tát như vậy.
Vào thời quá khứ
tại Ấn Độ, Thiên Thân Bồ Tát đã từng hủy báng Tam Bảo. Lúc đầu ngài học Tiểu Thừa, ngài viết ra
năm trăm bộ luận về pháp Tiểu Thừa, ngài là người thông minh tuyệt đỉnh; ¡¥Luận¡¦
là chú giải của hết thảy kinh điển; ngài viết [năm trăm bộ luận] hủy báng Đại
Thừa. Anh của ngài là Vô Trụ [4]
Bồ Tát học Đại Thừa, anh ngài có thiện xảo phương tiện hướng dẫn ngài tiến vào
Đại Thừa, sau khi học Đại Thừa mới biết mình đã phạm tội nghiệp to lớn nên ngài
hết sức hối hận. Vì dùng ngôn ngữ
hủy báng cho nên ngài muốn cắt đứt lưỡi trước Phật xin sám hối; dùng tay viết văn
chương nên ngài muốn chặt tay xin sám hối.
Anh ngài nói: ¡§Không cần làm vậy, trước kia em dùng lưỡi để hủy báng Đại
Thừa thì tại sao bây giờ không dùng lưỡi ấy để tán thán Đại Thừa? Trước kia dùng tay viết văn hủy báng Đại
Thừa thì tại sao không dùng bàn tay ấy để viết văn tán thán Đại Thừa?¡¨ Từ đó ngài giác ngộ và soạn năm trăm bộ
luận [tán thán] Đại Thừa, trong lịch sử xưng ngài là ¡¥Thiên Bộ Luận Sư¡¦, do đó
có thể thấy trong cửa nhà Phật quay về là bến bờ. Những chuyện giống như vậy hầu như đời
nào cũng có.
Chúng ta coi vị
tổ sư gần thời đại chúng ta nhất là Ấn Quang đại sư, chư vị kiếm cuốn Ấn Quang
Đại Sư Hành Nghiệp Ký, tức là truyện ký của Ấn Quang đại sư, trong ¡¥Toàn Tập¡¦
có, mỗi người trong quý vị đều có một bộ ¡¥Toàn Tập¡¦. Bạn coi truyện ký của Ấn Quang đại sư,
lão nhân gia lúc trẻ tuổi hủy báng Tam Bảo, ngài đọc sách của Khổng Tử, coi Nho
gia là chánh thống, Phật pháp là bàng môn.
Sau này khi tiếp xúc Phật pháp mới biết mình đã tạo tội nghiệp, lúc
trước đã sai lầm. Ngài có thể sám
hối, quay về, xuất gia tu hành, hoằng dương Phật pháp, tẩy trừ tội nghiệp hủy
báng Tam Bảo lúc còn trẻ. Sau này
chúng ta biết ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai, nói cách khác, những việc
ngài làm cả đời đều là biểu diễn, diễn kịch cho chúng ta coi. Đó chẳng phải là thật, ngài diễn cho
chúng ta coi, ngài biết đời này chúng ta rất dễ phạm tội hủy báng Tam Bảo, rất
nhiều người phạm, lão nhân gia làm một gương mẫu cho chúng ta xem. Phạm những tội nặng này vẫn có thể được
độ, chúng ta coi trong lịch sử, truyện ký thấy có rất nhiều. Quan trọng nhất là phải quay về, quan
trọng là phải đoạn phiền não, đoạn dứt tập khí, phải coi trọng việc này, phải
mang việc này vào trong đời sống sanh hoạt của chúng ta, coi nó như là một việc
lớn phải làm, được vậy thì đời này chúng ta tu học mới mong thành tựu. [Nếu được vậy thì] khi chúng ta giúp đỡ
chúng sanh tu học Phật pháp mới nói được là có [chút ít] công đức, nếu không
thì bạn giúp đỡ hết thảy chúng sanh tu học Phật pháp đều là phước đức. Phước đức khác công đức, trong Pháp Bảo
Đàn Kinh của Lục Tổ nói rất hay ¡¥Phước đức không thể giúp con người liễu
sanh tử, xuất tam giới, người dù có phước đức to lớn cách mấy thì cũng chỉ sanh
lên cõi trời hưởng phước mà thôi, chẳng thể
thoát khỏi tam giới, [chỉ có] công đức mới có thể thoát tam giới¡¦. Chúng ta phải phân biệt công đức và
phước đức cho rõ ràng. Dùng tâm
thanh tịnh tu hết thảy thiện pháp, đoạn hết thảy điều ác là công đức, dùng tâm
tạp nhiễm để đoạn ác tu thiện là phước đức, quan trọng là ở chỗ này.
Một người nghe
danh, ¡¥chí tâm chiêm lễ¡¦ tức là thọ trì, nếu không thọ trì thì không thể gọi là
chí tâm chiêm lễ. Có thể có ¡¥chiêm
lễ¡¦, nhưng không có ¡¥chí tâm¡¦. Đây
là chân tâm, tâm chân thành chiêm lễ.
¡¥Hoặc phục tán thán¡¦, tán thán là lợi tha, tự hành hóa tha. ¡¥Thị nhân ư Hiền Kiếp thiên Phật hội
trung vi đại Phạm Vương¡¦ (Người ấy trong hội ngàn Phật ở Hiền Kiếp làm đại Phạm
Thiên Vương), phước báo làm đến ¡¥Đại Phạm Thiên Vương¡¦ rất lớn, tại sao
vậy? Người ấy có thể đoạn ác tu
thiện. Đương nhiên cùng một đạo lý
với đoạn trước, trên thực tế nói người này là Bồ Tát chân chánh, Bồ Tát [khác
với] phàm phu ở tại một niệm mà thôi, một niệm chuyển trở lại thì thành Bồ Tát,
chuyển không được thì là phàm phu.
Phật, Bồ Tát và phàm phu chỉ khác nhau ở trên quan niệm mà thôi. Một niệm chuyển trở lại thì người đó là
Bồ Tát, tại sao Bồ Tát lại đi làm Đại Phạm Thiên Vương? Dùng thân phận Đại Phạm Thiên Vương giúp
đỡ những người cõi trời đoạn phiền não, phiền não tập khí của người trời chưa
đoạn hết cho nên chẳng thoát ra khỏi tam giới. Nếu họ có thể đoạn dứt, lại hiện thân
thuyết pháp giúp kẻ khác đoạn dứt, cho nên ¡¥đắc thọ thượng ký¡¦, ¡¥thượng ký¡¦ là
thọ ký thành Phật. Trong Chú Giải
của Thanh Liên pháp sư có trích dẫn kinh điển, trong đó có rất nhiều công án có
thể xem, rất đáng tham khảo. Chúng
ta xem tiếp vị Phật thứ sáu:
Hựu ư quá
khứ hữu Phật xuất thế hiệu Tỳ Bà Thi, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật
danh, vĩnh bất đọa ác thú, thường sanh nhân thiên, thọ thắng diệu lạc.
Lại về
thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Phật. Như có người nam người
nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật này, thì vĩnh viễn không đọa vào ác đạo,
thường được sanh vào chốn trời, người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.
¡¥Tỳ Bà Thi¡¦ là Phạn ngữ dịch âm, ý nghĩa là ¡¥Thắng
Quán¡¦, Thắng là thù thắng, Quán là quán sát. Phàm phu chúng ta đối với hết thảy vạn
vật thường nhìn thấy thiên lệch, coi sai lạc, nói cách khác là không thù
thắng. Thù thắng ở đây là đối với
hết thảy chân tướng của chư pháp nhìn thấy rõ ràng, rành rẽ, cái nhìn như vậy
gọi là Thắng Quán. Mọi người nghe
cách nói này xong sẽ cảm thấy rất mơ hồ, chúng ta không thể học tập. Nói thật ra ¡¥quán¡¦ tức là quan niệm của
bạn. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay,
quán như thế nào mới thật sự là thù thắng quán, Giao Quang đại sư trong Chú
Giải dạy chúng ta ¡¥Xả Thức dùng Căn¡¦, đó thật sự là thắng quán, Danh phù hợp
với Thật. Nói thì không sai nhưng
phàm phu chúng ta không làm nổi, phàm phu dùng thức thứ sáu ¡VÝ Thức, ¡¥xả Thức
dùng Căn¡¦ thì chẳng dùng Ý thức.
Căn là tánh ở trong Căn, và cũng là nói chúng ta dùng Tánh Thấy để nhìn
sự vật, ¡¥Quán¡¦ như vậy mới thù thắng.
Chư vị phải biết trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật dạy chúng ta rất rõ
ràng, pháp môn tu của Quán Thế Âm Bồ Tát chính là pháp này ¡¥Nghe trở lại tự
tánh, tánh thành đạo vô thượng¡¦, Quán Âm Bồ Tát nêu ra báo cáo tu học, ngài
làm thế nào để tu hành thành công?
Chính là dùng Tánh trong Căn, Tánh trong Căn là chân tâm. Nói cách khác dùng chân tâm, chẳng dùng
vọng tâm. Dùng tánh Thấy để thấy
Sắc (nhìn sự vật), thấy Sắc chẳng phải là Sắc trần, chúng ta dùng Nhãn Thức để
thấy Sắc là sắc trần, trần là nhiễm ô; Nếu dùng tánh Thấy để nhìn sắc thì sẽ
thấy tánh của sắc. Trong Thiền Tông
gọi là minh tâm kiến tánh. Khả năng
của họ lớn, còn khả năng của chúng ta vô cùng kém cỏi. Dùng ¡¥tánh nghe¡¦ để nghe tánh của âm
thanh, dùng tánh ngửi để ngửi tánh của hương, dùng tánh nếm để thưởng thức tánh
của vị, [đó là ] minh tâm kiến tánh.
Chúng ta rất hèn tệ, sáu căn chúng ta tiếp xúc sáu cảnh giới bên ngoài
đều là sáu thứ ô nhiễm, người ta khi sáu căn tiếp xúc sáu [cảnh giới] bên ngoài
liền kiến tánh, do đó sau khi kiến tánh mới nói ¡¥nơi nơi đều là đạo, trái phải
đều về nguồn¡¦, đó là việc đương nhiên vì những gì sáu căn tiếp xúc đến đều là
chân như bản tánh, kiến tánh thành Phật.
Người kiến tánh là người như thế nào? Nói cho chư vị biết đó là Viên Giáo Sơ
Trụ Bồ Tát, cho nên chúng ta mới biết hai mươi lăm vị Bồ Tát trong kinh Lăng
Nghiêm đều là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát.
Đây là điều chúng ta thấy trong kinh Lăng Nghiêm, chương Hai Mươi Lăm
Viên Thông. [Mỗi vị trong] hai mươi
lăm vị Bồ Tát đều tự thuật mình dùng phương pháp gì để tu hành chứng quả, họ
làm một đại biểu. Số hai mươi lăm
này là hai mươi lăm loại lớn, số lượng trong mỗi loại rất nhiều, rất nhiều, tất
cả tượng trưng cho tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, quy nạp vô
lượng pháp môn thành hai mươi lăm loại, chẳng phải chỉ có hai mươi lăm pháp môn
mà thôi, bạn phải hiểu đạo lý này.
Hai mươi lăm vị này đều là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, thân phận Quán Thế
Âm Bồ Tát thị hiện trong hội giảng kinh Lăng Nghiêm là Sơ Trụ Bồ Tát; thị hiện
trong kinh Hoa Nghiêm, tương lai chư vị đọc đến đoạn Năm mươi ba lần tham vấn
[sẽ biết], là Thất Hồi Hướng; trong phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa, địa vị của
ngài là Đẳng Giác Bồ Tát, cho nên trong hội kinh nào ngài sẽ thị hiện thân phận
[thích hợp].
Ở đây chúng ta nói trở lại [vấn đề, chúng ta] phải
bắt đầu từ đâu? Trên thật tế mỗi
người chúng ta dùng sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, một niệm đầu tiên là
tánh Thấy nhìn thấy, khi chúng ta vừa mở mắt nhìn cảnh giới bên ngoài, còn chưa
khởi tâm động niệm, lúc còn chưa phân biệt chấp trước gọi là một niệm thứ nhất,
một niệm này [là] Phật tri, Phật kiến, một niệm này là ¡¥kiến tánh¡¦ (tánh
Thấy). Nhưng phàm phu không có khả
năng duy trì, tới niệm thứ hai bèn khởi phân biệt chấp trước, niệm thứ hai bèn
rơi vào trong Ý Thức, nếu bạn có thể duy trì một niệm thứ nhất thì không phải
bạn đã thành Phật rồi sao? Chẳng có
phân biệt, chẳng chấp trước, chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, mắt mở ra nhìn
thấy rõ ràng, rành rẽ, lúc đó là tánh Thấy nhìn thấy sắc tánh, cái Thấy của bạn
lúc đó mới chân thật, sắc bên ngoài cũng chân thật, chư vị biết đó là Nhất Chân
pháp giới. Nhưng niệm thứ hai khởi
lên thì đã có phân biệt, có chấp trước, có vọng tưởng; phân biệt, chấp trước
khởi lên ngay lập tức. Từ chỗ này
chúng ta hiểu được, khi sáu căn chư Phật, Bồ Tát tiếp xúc cảnh giới sáu trần
rốt cuộc khác với chúng ta ở chỗ nào?
Tại sao các ngài [thấy] Nhất Chân pháp giới? Vì rời khỏi hết thảy vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, thì thời gian, không gian là một chứ chẳng phải hai, chẳng có
quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng có mười phương, là cảnh giới như vậy. Lúc niệm thứ hai khởi lên thì vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước khởi lên bèn biến Nhất Chân pháp giới có vô lượng
vô biên chướng ngại. Chẳng phải chỉ
có mười pháp giới mà thôi, mười pháp giới là nói về những điểm khác nhau chính
yếu, ¡¥Mười¡¦ nói thật ra không phải là con số, ¡¥mười¡¦ tượng trưng cho vô tận, vô
lượng, đạo lý là như vậy.
Đại Thừa Phật pháp nói đến tu hành, tu hành là tu
quán, không phải chỉ có Tông Môn mới tu quán, Giáo Hạ cũng tu quán, [thường gọi
là] Chỉ Quán. Do đó tu quán trong
Phật pháp cũng là một tổng cương lãnh, thuật ngữ trong cửa Phật gọi là ¡¥Đại đà
ra ni môn¡¦, là tổng cương lãnh.
Không tu quán nên mới dạy bạn thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đới
nghiệp vãng sanh, tu quán thì sẽ không đới nghiệp. Mỗi niệm của bạn đều thanh tịnh, bình
đẳng, giác, đây là việc mà nhà Phật thường nói ¡¥một niệm tương ứng một niệm
Phật, niệm niệm tương ứng, niệm niệm Phật¡¦, tương ứng với gì? Với thanh tịnh, bình đẳng, giác. Thanh tịnh thì không chấp trước, chẳng
có chấp trước; bình đẳng thì không có phân biệt. Không phân biệt thì sẽ bình đẳng, không
chấp trước thì sẽ thanh tịnh, chẳng có vọng tưởng thì sẽ giác. Thanh tịnh, bình đẳng, giác nghĩa là
đoạn dứt vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, có thể tương ứng với những điều này
thì đương nhiên bạn đã thành Phật.
Phật chính là thanh tịnh, bình đẳng, giác. Thanh tịnh, bình đẳng, giác chính là tự
tánh của chúng ta. Do đó một niệm
khởi lên thì sẽ hư hết, tốc độ của nó còn nhanh hơn ánh sáng, nhanh hơn điện
không biết gấp bao nhiêu lần, nhanh chóng biến mất, biến đổi mau lẹ. Chúng ta hiểu được đạo lý này, hiểu rõ
chân tướng sự thật này thì mới thật sự hiểu được câu đức Phật trong kinh Đại
Thừa thường nói ¡¥Chúng sanh và Phật chẳng cách xa mảy may, chỉ ở tại một
niệm mà thôi¡¦[5].
Cách nhìn của chúng ta, sự tiếp xúc của sáu căn và
cảnh giới sáu trần của chúng ta là tiếp xúc sai lầm; sự tiếp xúc của chư Phật,
Bồ Tát là tiếp xúc chính xác; các ngài tiếp xúc đại giác, chúng ta tiếp xúc mê
tà. Việc này đức Phật đã nói rõ
ràng, nói rành rẽ rồi, chuyển biến là ở nơi chính mình, Phật, Bồ Tát chẳng có
cách gì giúp chúng ta chuyển biến.
Chúng ta biết cách chuyển biến, chịu chuyển biến thì Phật, Bồ Tát nhìn thấy
hoan hỷ. Nếu chúng ta không biết
chuyển biến, không chịu chuyển biến thì Phật, Bồ Tát cũng không làm sao
được. Đây là nói về ý nghĩa của
¡¥Thắng Quán¡¦ của đức Phật Tỳ Bà Thi.
Phần cuối trong Chú Giải trích dẫn một bài kệ
trong ¡¥Đại Trang Nghiêm Luận¡¦, trên hàng cuối của trang 142, chúng ta phải ghi
nhớ bốn câu trong bài kệ này. ¡¥Vô
bịnh đệ nhất lợi¡¦ (Chẳng có bịnh là lợi ích hạng nhất), lợi là lợi ích, lợi ích
chân thật là gì? Là chẳng có bịnh. ¡¥Tri túc đệ nhất phú¡¦ (Biết đủ là giàu
có hạng nhất), người thế gian theo đuổi giàu có, giàu có là gì? Biết đủ là giàu có. Thời xưa đức Phật và đệ tử chỉ có ba y,
một bình bát, mỗi ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây, đó là giàu có nhất,
[vì họ] biết đủ. ¡¥Thiện hữu đệ nhất
thân¡¦ (Bạn tốt là người thân hạng nhất), chư Phật, Bồ Tát là bạn tốt của chúng
ta. ¡¥Niết Bàn đệ nhất lạc¡¦ (Niết
Bàn là niềm vui hạng nhất), phía trước có nói về Niết Bàn, Huyền Trang pháp sư
dịch nghĩa chữ Niết Bàn rất hay, nghĩa là ¡¥Viên tịch¡¦, công đức viên mãn, thanh
tịnh tịch diệt, đó là niềm vui hạng nhất.
Hai câu cuối ¡¥Thử nãi thọ tức bất thọ, vô thọ tức thọ d㡦 (Đó là: thọ là
không thọ, không thọ là thọ vậy), ý vị của hai câu này rất dài, ý nghĩa rất sâu
sắc. Chúng ta hiểu đạo lý này, quả
thật có thể quay về, có thể giác ngộ, có thể hết lòng nỗ lực học tập, đó là nói
¡¥Nam tử nữ nhân, văn thị Phật danh, vĩnh bất đọa ác đạo¡¦, đương nhiên họ sẽ
chẳng đọa ác đạo. ¡¥Thường sanh nhân
thiên, thọ thắng diệu lạc¡¦, ¡¥thắng diệu lạc¡¦ chính là những gì bốn câu kệ trên
diễn tả, tuyệt đối chẳng phải niềm vui của ngũ dục lục trần trong thế gian,
chẳng phải niềm vui của tiếng tăm, lợi dưỡng thế gian, nếu bạn xem những thứ
này là niềm vui thì sai lầm quá đỗi.
Niềm vui (Lạc) này trong Phật pháp gọi là Hoại Khổ, chẳng phải chân lạc
(niềm vui chân thật). Thắng diệu
lạc là chân lạc, bài kệ nói trên chính là ¡¥thọ thắng diệu lạc¡¦, ngài nói ¡¥thọ
tức bất thọ, vô thọ tức thọ¡¦, như vậy mới thật sự là thắng diệu lạc, tương ứng
với nhân hạnh ¡¥Thắng Quán¡¦ nói phía trên, thắng quán mới được thắng diệu
lạc. Chúng ta xem tiếp vị thứ bảy:
Hựu
ư quá khứ vô lượng vô số hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế hiệu Bảo Thắng Như
Lai, nhược hữu nam tử nữ nhân văn thị Phật danh tất cánh bất đọa ác đạo, thường
tại thiên thượng thọ thắng diệu lạc.
Lại vô
lượng vô số Hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Bảo
Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật
này, thì sẽ không bao giờ bị đọa vào ác đạo, mà thường ở trên cõi trời, hưởng
sự vui thù thắng vi diệu.
Bảo Thắng Như Lai, ¡¥Bảo¡¦ nghĩa là trân bảo, người
thế gian chúng ta coi trọng bảy thứ báu, đây là thất bảo thường được nói tới
trong kinh Phật. Người xưa coi
trọng, mong muốn có được; người hiện nay cũng coi trọng, cũng hy vọng có
được. Vật báu tượng trưng cho sự
giàu có của bạn, có thể làm cho đời sống vật chất của bạn được phong phú, chẳng
thiếu thốn. Trong Phật pháp cũng có vật báu. Đối với chữ
Bảo ở đây, trong sách Chú Giải nói đến bốn thứ báu ¡§Thường, Lạc, Ngã, Tịnh¡¨, đó
là bốn thứ báu xuất thế gian, và cũng là những món báu mọi người đều hy vọng
đạt được. Đây là cách dùng vật chất làm tỷ dụ để nói. Trên thực tế thì nên nói Tam Bảo: Phật,
Pháp, Tăng. Trong Tam Bảo mới có
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Rời khỏi
Tam Bảo thì đi đâu tìm được Thường, Lạc, Ngã, Tịnh? Tìm không ra. Tam Bảo, mọi người đều biết Phật, Pháp, Tăng,
nhưng người biết rõ ý nghĩa thật sự của Tam Bảo không nhiều, cho nên chúng ta
thấy rất nhiều người quy y Tam Bảo, có phải họ thật sự đã quy y hay không? Họ chẳng có quy y, chỉ làm một hình
thức, hình thức ấy trống rỗng, là giả, chỉ là hình thức, chẳng có thật
chất. Tại sao? Vì họ chẳng hiểu ý nghĩa của Tam Bảo,
chẳng rõ Tam Bảo, cho nên họ cũng chẳng được Tam Bảo. Người đã thọ giới đều biết Giới có Giới
Thể, họ chẳng được Giới Thể. Tam
quy cũng là giới, cùng một ý nghĩa, họ chẳng được Giới Thể. Giới Thể là gì? Là Tự Tánh.
Lục Tổ Huệ Năng đại sư trong Đàn Kinh giảng về Tam
Bảo rất hay: Phật Bảo là Tự Tánh Giác, Pháp Bảo là Tự Tánh Chánh, Tăng Bảo là
Tự Tánh Tịnh. Lúc chúng ta thọ tam
quy có đạt được Tự Tánh Giác, Chánh, Tịnh hay không? Nếu lúc bạn thọ Tam Quy đạt được thì bạn
đã quy y thật sự, ¡¥quy y¡¦ nói trong kinh là việc này, chẳng phải là nói trên
hình thức. ¡¥Quy¡¦ nghĩa là quay về,
từ chỗ nào quay về? Từ chỗ mê, tà,
nhiễm lúc trước. ¡¥Y¡¦ là gì? Nương
theo Tự Tánh Giác, Chánh, Tịnh, đó là thật sự quy y, một niệm này đã quay về,
đó thật sự là đệ tử Phật. Nếu chẳng
xả bỏ mê, tà, nhiễm, chẳng nương theo Giác, Chánh, Tịnh thì sự quy y đó là mạo
danh, nói dễ nghe một chút, như tông Thiên Thai nói trong Lục Tức, đây là Danh
Tự Quy Y. Danh Tự Quy Y nghĩa là
gì? Có danh không thật, một chút
tác dụng gì cũng chẳng có. Muốn
thật sự có thể hữu dụng, mức tối thiểu bạn cũng phải là ¡¥Quán Hạnh Quy Y¡¦, nếu
chúng ta tu học không thể khế nhập vào địa vị Quán Hạnh, chỉ ở địa vị Danh Tự
thì sẽ luống uổng. Nói thật ra địa
vị Danh Tự rất dễ tạo tội nghiệp, rất dễ đọa ba đường ác; khi đến địa vị Quán
Hạnh, khi công phu quán hạnh được đắc lực thì có thể được phước báo nhân thiên,
sẽ chẳng đọa tam đồ. Nếu vào địa vị
Tương Tự thì bạn sẽ thành công, trên Bồ Tát đạo bạn tu hành chứng quả rồi. Tương Tự vị là quả vị gì? Nếu dùng quả vị nói trong kinh Hoa
Nghiêm, ¡¥Địa vị Tương Tự¡¦ chính là Thập Tín Bồ Tát, bạn đã chuyển phàm thành
thánh. ¡¥Phần Chứng¡¦ tam quy tức là
quả vị Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên.
Công đức quy y không thể nghĩ bàn, bạn phải thật
sự quy y, trong kinh Phật nói bạn chân chánh quy y thì có ba mươi sáu vị thần
hộ pháp ngày đêm hộ vệ bạn, đây là việc đương nhiên. Tại sao họ phải bảo hộ bạn? Vì tôn kính bạn, khâm phục bạn, ngưỡng
mộ bạn, chẳng phải có ai phái họ đến bảo hộ bạn mà họ tự động bảo hộ bạn. Đó mới gọi là Tam Bảo. Tự Tánh Giác, Chánh, Tịnh mới là Tam
Bảo, đây là tổng nguyên tắc, tổng cương lãnh để tu hành chứng quả trong nhà
Phật. Vừa vào cửa Phật, vào lớp đầu
tiên liền truyền thọ tổng cương lãnh của việc tu hành chứng quả cho bạn, đó gọi
là truyền thọ Tam Quy, làm cho bạn trong đời này, đời đời kiếp kiếp đều hướng
về phương hướng này, nỗ lực tiến đến mục tiêu này, bạn mới có thể thành Bồ Tát,
thành Phật. Nền giáo học trong Phật
pháp thật sự là tốt đẹp đến cùng cực! Chân thật viên mãn, vừa mở đầu liền chỉ
rõ ràng, chỉ rành rẽ con đường này.
Nhưng hiện nay [việc quy y] chúng ta thường thấy
là quy y một vị pháp sư nào đó, như vậy là hỏng hết. Thói tệ ¡¥quy y một pháp sư nào đó¡¦ đã
bắt đầu từ lâu rồi, trong trước tác của Ngẫu Ích đại sư chúng ta thấy
được. Ngẫu Ích đại sư là người cuối
triều Minh, lúc đó ngài đã nêu ra sự hiểu lầm của việc quy y. Cho nên có thể biết vào thời đại đó,
cách chúng ta năm trăm năm, năm trăm năm trước đã có việc ¡¥quy y một pháp sư
nào đó¡¦ rồi, chẳng phải quy y Tam Bảo.
¡§Đây là sư phụ của tôi, vị kia không phải sư phụ của tôi¡¨, nghĩ như vậy
là phá hòa hợp tăng. Tăng đoàn là một
gia đình hòa hợp, những đệ tử quy y trong đó có phân biệt, chấp trước đây là sư
phụ của tôi, đây là đạo tràng của sư phụ tôi nên tôi phải ủng hộ, còn kia chẳng
phải nên tôi bài xích, làm vậy là đã phá hòa hợp tăng. Mọi người đều biết việc phá hòa hợp tăng
là tạo tội nghiệp đọa Vô Gián địa ngục; nói cách khác khi bạn chưa quy y thì
còn chưa tạo tội nghiệp, sau khi quy y lại tạo nên tội nghiệp này, đến cuối
cùng quy đến chỗ nào? Quy đến A Tỳ
địa ngục, như vậy có oan uổng không?
Sai lầm quá đỗi.
Tại sao lại sanh ra sự sai lầm này? Do một niệm mê tình, một niệm tự tư, tạo
thành sai lầm to lớn này. Sự sai
lầm này từ từ lan rộng ra, làm cho nhiều người đối với ý nghĩa chân chánh của
sự quy y mê mất, không những có ảnh hưởng rộng lớn, mà thời gian ảnh hưởng cũng
dài, từng đời truyền mãi về sau, chúng ta cứ tưởng như vậy là đúng, ai có thể
phát hiện được sự sai lầm này? Nếu
chúng ta không đọc Lục Tổ Đàn Kinh, nếu không đọc những trước tác của Ngẫu Ích
đại sư thì làm sao chúng ta biết được?
Đàn Kinh khơi gợi cho chúng ta, khi Lục Tổ truyền quy y, ngài chẳng nói
¡¥Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng¡¦, ngài chẳng giải thích như vậy. Ngài nói ¡¥Quy y Giác, quy y Chánh, quy y
Tịnh¡¦. Năm xưa lúc tôi đọc kinh này
đã đem lại sự khơi gợi rất lớn cho tôi, tại sao ngài lại nói như vậy? Ngài là người đời Đường, cách chúng ta
hơn một ngàn ba trăm năm, chắc chắn lúc đó mọi người đã hiểu lầm Tam Bảo, mê
trong ¡¥Phật, Pháp, Tăng¡¦, chẳng biết ý nghĩa thật sự của Phật, Pháp, Tăng, cho
nên ngài mới nói ¡¥Quy y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh¡¦, sau đó nói ¡¥Phật nghĩa
là Giác, Pháp nghĩa là Chánh, Tăng nghĩa là Tịnh¡¦ ngài nói như vậy. Ngài nói như vậy là vì người thời đó
chắn chắn đã hiểu sai ý nghĩa chân chánh của Phật, Pháp, Tăng rồi cho nên Huệ
Năng đại sư truyền thọ Tam Quy mới dùng cách nói [như trên], nhằm thức tỉnh mọi
người, việc này rất có lý.
Muốn tu hành chứng quả trong nhà Phật, việc thứ
nhất là phải xả bỏ cái ¡¥Tôi¡¦, xả bỏ cái ¡¥Tư¡¦, bạn chấp trước có một cái ¡¥Tôi¡¦,
tất cả đều vì tôi, chấp trước có một ý niệm [riêng] ¡¥Tư¡¦, thì đó là tâm luân
hồi tạo nghiệp luân hồi, chẳng phải là Phật pháp. Phật có nghĩa là Giác, Phật pháp là pháp
giác ngộ, khi bạn có một niệm riêng tư xen lẫn trong ấy, đó là ¡¥Mê pháp¡¦, là
pháp mê hoặc điên đảo, chẳng phải là Phật pháp. Ngày nay chúng ta coi pháp Mê Nhiễm
thành Phật pháp thì bạn tu học trong Phật pháp có thành tựu gì không? Chúng ta không thể không biết đạo lý
này. Do đó Giác, Chánh, Tịnh là của
báu, là của báu thù thắng nhất trong các của báu, Tam Bảo thuộc về tự tánh,
chẳng ở bên ngoài, cũng chẳng ở tại người khác.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng dạy chúng ta phải quy y ngài, thời xưa dạy chúng ta quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, chẳng có nói quy y ngài, mọi người đều hiểu Tự Tánh Giác, Chánh, Tịnh là Tam Bảo, gọi là Tự Tánh Tam Bảo. Nhưng đối với Hình Tướng Tam Bảo chúng ta cũng phải tôn trọng, tại sao vậy? Nếu chẳng có Hình Tướng Tam Bảo thì làm sao bạn biết Tự Tánh Tam Bảo, nhất định phải dùng Hình Tướng Tam Bảo thường thường khơi gợi bạn, hướng dẫn bạn, làm cho bạn luôn luôn hướng về Tự Tánh Tam Bảo, do đó hình tướng có thể khởi tác dụng lớn như vậy. Chúng ta nhìn thấy tượng Phật, nghe đến danh hiệu Phật lập tức liền quay trở về Tự Tánh Giác; khi nhìn thấy kinh sách, thấy Pháp bảo liền quay về Tự Tánh Chánh; khi nhìn thấy hình tượng người xuất gia thì liền biết quay về Tự Tánh Tịnh, do đó công đức của hình tướng là vô lượng vô biên. Hình tướng thức tỉnh chúng ta từng giờ, từng phút, nếu không có những hình tướng ấy thì rất dễ quên, [một khi quên thì sẽ] mê hoặc, điên đảo, tạo nghiệp, và phải chịu khổ báo tiếp tục, đó mới là chân chánh Tam Bảo, chân thật Tam Bảo. ¡¥Nếu có kẻ nam người nữ nghe được danh hiệu Phật¡¦, nghe danh hiệu tức là quy y, nghe danh liền quay về, nhất định sẽ không đọa ác đạo. Hành vi của họ có thể tương ứng với Tự Tánh Giác, Chánh, Tịnh thì làm sao họ đọa ác đạo được? Cho dù đã tạo nhân ác đạo, nhưng đã đoạn dứt duyên của ác đạo nên sẽ không đọa ác đạo nữa. ¡¥Thường ở tại cõi trời hưởng thọ niềm vui thù thắng vi diệu¡¦, câu này có cùng ý nghĩa với câu ¡¥thường sanh nhân thiên, thọ thắng diệu lạc¡¦ phía trê