Ḥa thượng Tịnh Không
giảng
tại Tịnh Tông Học Hội
Tân Gia Ba, 5-1998
Tập 3 (Số 14-12-03)
Xin mở kinh trang số một:
Như thị ngă
văn, nhất thời Phật tại Đao Lợi Thiên vị
mẫu thuyết pháp
Tôi nghe như vầy, một thuở nọ đức
Phật tại cung trời Đao Lợi v́ mẹ thuyết
pháp.
Trong đoạn này chúng ta giảng đến
‘Nhất thời’, ư nghĩa của ‘Nhất thời’ cần
phải bổ sung một chút.
Trong Phật pháp, thời gian có hai cách nói: một là
‘sát na tế’, Phật nói đây là ‘thật thời’, tức
là chân thật, là chân tướng của thời gian. Ngoài ra c̣n có một danh từ gọi
là ‘Tam Ma Da’, có nghĩa là ‘trường thời’, ngày nay chúng
ta gọi là: tướng tiếp nối. Trong kinh Kim Cang có nói: ‘Như lộ diệc như
điện’, lộ là sương, chúng ta biết thời
gian rất ngắn, buổi sáng có sương, khi mặt trời
mọc th́ sương tan. Dùng
việc này để ví cho ‘trường thời’, ví cho
tướng tương tục; điện (ánh chớp) ví cho thời gian
chân thật. Thời gian chân thật
trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Định gọi là ‘sát na tế’
[1](trong khoảng một sát na), đó mới là thật.
Chúng ta rất khó cảm nhận được quan
niệm ‘sát na tế’. Hiện
nay khoa học tiến bộ, dùng máy móc khoa học để
quan sát chúng ta mới cảm nhận được chút
ít. Nhưng thật ra ‘sát na tế’
chính là như trong kinh thường nói: ‘sanh diệt đồng
thời’, v́ thời gian sanh diệt của nó quá ngắn ngủi,
lục căn chúng ta chẳng thể cảm nhận
được. Những ǵ lục
căn của chúng ta có thể cảm nhận, nói cách khác,
phải là thời gian tương đối dài. Vừa mới kích thích liền phản
ứng tức thời, tuy là nói ‘lập tức’ nhưng cũng
phải trải qua thời gian rất dài. Nếu nói là ‘sát na tế sanh diệt’
th́ chúng ta hoàn toàn cảm nhận không được. Không những phàm phu lục đạo
chúng ta, người cơi trời thông minh hơn con người,
cảm ứng linh mẫn hơn nhiều nhưng cũng chẳng
cảm nhận tới, thậm chí Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền
Giáo Bồ Tát [cũng không được]. Trong kinh Phật nói với chúng ta
Bát Địa Bồ Tát mới có thể nh́n thấy A Lại
Da, A Lại Da thuộc về ‘sát na tế’, phải có công
phu định lực sâu như Bát Địa Bồ Tát mới
cảm nhận đến ‘sát na tế’. Sát na sanh diệt, trong kinh Phật
thường dùng ‘chẳng sanh chẳng diệt’ để
h́nh dung. Nếu không có sanh diệt
th́ nói ‘chẳng sanh chẳng diệt’ là thừa, chẳng có
ư nghĩa ǵ hết; thật ra chẳng sanh chẳng diệt
nghĩa là đích thực có sanh, có diệt, nhưng vừa
sanh đă diệt mất rồi, hầu như sanh diệt
đồng thời, cho nên mới gọi là ‘chẳng sanh chẳng
diệt’; lời nói này mới có ư nghĩa, sanh diệt
đồng thời, thời gian ngắn ngủi đến
cùng cực. Nói thật ra khoa học
kỹ thuật hiện nay tuyệt chẳng thể đo
lường thời gian ngắn ngủi này được,
thời gian máy móc có thể đo lường được
đă rất dài rồi.
Đây là chữ
‘nhất thời’ nói trong kinh, chữ này hoàn toàn là chân thật,
chúng ta phải lắng ḷng thể hội. Nếu hiểu được ‘nhất
thời’ th́ bạn sẽ hiểu được ‘hết
thảy pháp chẳng sanh chẳng diệt’, được
vậy th́ chẳng lo sợ sanh tử nữa, bạn hiểu
được ‘Phàm những ǵ có tướng đều
là hư vọng’. Tướng
hư vọng chẳng sanh chẳng diệt, đó mới
là chân tướng, nhưng chúng ta chẳng thấy
được, Bát Địa Bồ Tát trở lên mới nh́n
thấy. ‘Nhất thời’ ở
đây nếu muốn nói trên sự tướng th́ chính là
lúc cơ duyên đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh
thành thục, đó gọi là ‘nhất thời’. Cách nói này cũng viên măn phi thường,
hết thảy kinh đều dùng chữ này, nhân duyên Phật
giảng bộ kinh này đă thành thục rồi.
Nhân duyên lần
này vô cùng đặc biệt, thù thắng, chỗ giảng
kinh cũng rất hy hữu, Phật ở tại cung trời
Đao Lợi chứ chẳng phải ở chỗ khác. ‘Phật’ là chủ thành tựu,
người chủ giảng trong pháp hội này, Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chữ
‘tại’ rất hoàn hảo, đặc biệt là nói trên sự
tướng. Nói ‘tại’ cũng
là lời chân thật! Người
thế gian chúng ta có rất nhiều sự hiểu lầm,
[nhiều khi có] một quan niệm sai lầm cả đời
cũng chẳng biết. Chúng
ta cử ra vài thí dụ đơn giản, buổi sáng thức
dậy rửa mặt, mặt cần phải rửa hay
không? Các bạn nói mặt cần
phải rửa không? Nói ‘Rửa
mặt’ là sai rồi, rửa những chất dơ trên mặt
chứ chẳng phải rửa mặt. [Cũng như nói] giặt quần
áo, quần áo cần giặt không?
Chỉ giặt những bụi bặm trên quần
áo. Các bạn nghĩ xem chúng ta
có bao nhiêu quan niệm sai lầm.
Chùi bảng đen trong pḥng học, bảng đen cần
phải chùi hay không? Chùi là chùi
bụi phấn chứ đâu phải là chùi bảng đen,
bảng đen chùi một cái th́ sơn đen tróc mất,
đâu c̣n gọi là bảng đen nữa. Thế mới biết trong đời
sống hằng ngày bạn nghĩ xem có bao nhiêu quan niệm
sai lầm, sai quá chừng, ai cũng sai nhưng cứ nghĩ
như vậy là đúng. Đến
lúc đức Phật nói sự thật ra, ḿnh nghe xong cảm
thấy kỳ lạ.
Chữ ‘tại’
là lời nói chân thật, nếu nói bạn ‘trụ’ là không
đúng, bạn làm sao ‘trụ’?
Hôm nay dọn lại đây, ngày mai dọn tới chỗ
kia, đâu có ‘trụ’, chỉ nói thân thể lúc bấy giờ
ở ‘tại’ đâu, nói như vậy mới đúng. Thế nên mới nói ‘Phật tại’. Thực ra chúng ta cũng ‘tại’,
hôm nay ‘tại’ Tân Gia Ba, hiện nay ‘tại’ Tịnh Tông Học
Hội, tối nay ‘tại’ Cư Sĩ Lâm, đều là ‘tại’. ‘Trụ’ là ở đó chẳng
động; thường di động th́ gọi là ‘tại’. Chữ ‘trụ’ trong Phật pháp
là ǵ? Tâm an trụ. Bạn ‘trụ’ trong cung điện
lầu các, Phật ở nơi đây gọi cung điện
lầu các là từ bi, tâm an trụ trong từ bi, tâm an trụ
trong chánh giác, đó gọi là ‘trụ’, vĩnh viễn chẳng
rời khỏi th́ gọi là ‘trụ’. Thân luôn luôn di động th́ gọi
là ‘tại’, cho nên trên sự tướng th́ gọi là ‘tại’.
Lần này
Phật ở đâu? Tại
‘Đao Lợi Thiên’, tầng trời thứ hai trong Dục Giới. Người thế gian biết có
thiên, biết có thiên thần, rất cung kính thiên thần,
xưng ngài là Thượng Đế, người Trung Quốc
xưng ngài là Ngọc Hoàng Đại Đế, đại khái
đều là Đao Lợi Thiên Chủ. Họ không biết bên ngoài cơi trời
c̣n cơi trời khác. Phật nói
với chúng ta thế giới Sa Bà có hai mươi tám tầng
trời, số lượng trong mỗi tầng cũng vô
lượng vô biên, từ dưới lên trên có hai
mươi tám tầng chia thành Tam Giới: Dục Giới,
Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
Dục Giới là cơi c̣n dục vọng, ăn uống,
nam nữ, vẫn chưa đoạn dứt nhưng càng lên
cao th́ càng mỏng dần. Đến
Sắc Giới th́ dục vọng này chẳng c̣n nữa,
chúng ta thường nói người ở cơi trời Sắc
Giới chẳng c̣n những thứ ‘tiền tài, sắc
đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ’
này nữa. Người cơi Sắc
Giới chẳng cần ăn uống, cũng chẳng cần
ngủ nghỉ, vĩnh viễn tỉnh thức; chẳng cần
ăn uống, dùng thiền duyệt làm thức ăn
nhưng họ c̣n sắc thân, có sắc tướng. Đến Vô Sắc Giới là cơi phàm
phu cao cấp nhất trong lục đạo, ngay cả thân
thể này họ cũng chẳng cần nữa. Trước khi Phật pháp truyền
đến Trung Quốc, đời cổ Trung Quốc xuất
hiện một người có đại trí huệ, Lăo Tử. Lăo Tử nói: ‘Tôi có niềm
ưu tư to lớn v́ tôi có cái thân này’ [2]. Tôi có âu lo lớn lao, đó là
ǵ? V́ có thân này là một sự
phiền lụy, phiền phức.
Ngài có sự giác ngộ như vậy, có lẽ Lăo Tử
đă sanh lên cơi Vô Sắc Giới, v́ ngài chán ghét thân thể,
sắc tướng này. Ở
cơi Vô Sắc Giới th́ sắc tướng chẳng c̣n nữa. Một số người chúng ta
thường nói đến ‘Linh Giới’ chắc là nói về
Vô Sắc Giới thiên, trong cơi ấy rất tự tại
v́ chẳng có sắc tướng.
Trên đây là cách phân loại, phân chia thành tam giới,
hai mươi tám tầng trời, đây là một phạm
vi trong sự giáo hóa của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni có sanh tử hay không?
Nói cho chư vị biết, chẳng có. Chỉ là ứng hóa, ngài xuất
hiện ở thế gian này, là dùng ứng thân xuất hiện. Chúng ta nh́n thấy ngài có sanh, có diệt,
thật sự ngài diệt xong là đến tinh cầu khác,
đến chỗ khác lại xuất hiện giáo hóa chúng
sanh, đây là hiển thị sự đại tự tại. Phật có rất nhiều cách giải
thích cho chữ ‘Thân’, kinh Hoa Nghiêm nói có mười Thân, thông
thường th́ chúng ta nói ba Thân; ba thứ nói kỹ th́ chia
thành mười thứ, mười thứ quy nạp lại
th́ thành ba. Thứ nhất là
‘Pháp Thân’, là chân thân, hết thảy thân đều sanh từ
thân này. Do đó pháp thân là thân
căn bản nhất, có thể sanh hết thảy vạn
pháp, có thể hiện thân tướng của chúng ta, có thể
hiện tướng cơi nước, sơn hà đại
địa, tất cả thân tướng đều từ
pháp thân biến hiện thành.
Thứ hai là ‘Trí Thân’, cũng gọi là ‘Báo Thân’, là thân
trí huệ, nghĩa là trí huệ của ngài đă khai mở,
trí huệ đă hiện tiền, đối với hết
thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ nhân
sanh chẳng ǵ không biết, chẳng ǵ không thể. Thứ ba là ‘Ứng Hóa Thân’, có hai
ư nghĩa. Ứng Thân là tùy loại
hiện thân, nên dùng thân ǵ để được độ
th́ ngài liền hiện thân ấy.
Thế nên Phật đến nhân gian, đến cơi
nào, ngài chẳng có chướng ngại, vô cùng tự tại,
muốn đến th́ đến, muốn đi th́ đi,
đến đi tự do.
Chẳng giống
phàm phu chúng ta, chúng ta mang Nghiệp Báo Thân, chẳng tự do
tí nào, hoàn toàn chịu sự chi phối của nghiệp lực. Nói chịu nghiệp lực khống
chế th́ mọi người khó hiểu, chúng ta nói cách
khác, chịu vận mạng khống chế, chịu vận
mạng chi phối th́ mọi người dễ hiểu,
thế nên: ‘tất cả đều
là vận mạng, nửa điểm cũng chẳng do
người’, bạn nói như vậy có khổ
không? Mạng là ǵ? Mạng chính là nghiệp, nghiệp
báo. Trước kia tạo thiện
nghiệp, đời này được thiện báo, quá khứ
tạo ác nghiệp, đời này chịu quả báo chẳng
thiện, thế nên những thọ dụng cả đời
này, ngạn ngữ có câu: ‘một
miếng ăn, miếng uống, chẳng ǵ là không định
sẵn’ [3],
tức là đạo lư này, đúng là nửa điểm
- một tí ǵ cũng chẳng do người.
Nhưng Phật,
Bồ Tát đến thế gian này, quư ngài đến đầu
thai và cũng thị hiện chết đi, quư ngài sanh tử
tự tại, không phải do nghiệp lực mà là nguyện
lực. Ở thế gian này muốn
sống cuộc đời như thế nào th́ sống
như thế ấy, muốn ở bao nhiêu năm th́ ở
bấy nhiêu, sanh tử tự tại. Lúc nào muốn ra đi, đi đến
đâu, quư ngài hiểu rơ ràng, minh bạch, đến đi
tự do, đó gọi là nguyện lực thọ thân, là
nguyện lực chứ chẳng phải nghiệp lực. Chúng ta phải hiểu những
đạo lư này rồi sau đó mới biết nên học
Phật như thế nào, làm thế nào chuyển nghiệp
lực của chúng ta thành nguyện lực, bản lănh của
chư Phật, Bồ Tát là ở chỗ này. Các ngài có thể chuyển, chúng ta
cũng có thể chuyển, bắt đầu chuyển từ
đâu? Phải bắt đầu
chuyển từ tâm, sau khi tâm chuyển th́ thân sẽ chuyển;
nếu nói chuyển từ thân, tâm chẳng chuyển th́
không được, chuyển như thế nào cũng chẳng
giống, nhất định phải chuyển từ tâm.
Tâm th́ phải
‘trụ’ chứ chẳng phải ‘tại’. Trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát có Thập
Trụ, đó là nói về trụ, là ‘tâm trụ’ chứ
không phải ‘thân trụ’. Bồ
Tát trụ chỗ của Phật trụ, như vậy mới
đúng. Trong kinh Phật nói với
chúng ta có bốn chỗ trụ, bốn chỗ này đều
chính xác. Hai thứ đầu
vẫn c̣n ở trong lục đạo, chưa ra khỏi lục
đạo. ‘Thiên trụ’ tức
là đời sau nhất định có thể sanh đến
trời Dục Giới. Trời
Dục giới có sáu tầng, sau này sẽ giới thiệu
cho chư vị biết. ‘Thiên
trụ’ tức là tâm an trụ tại thập thiện nghiệp
đạo, bố thí, tŕ giới, tu thập thiện nghiệp
đạo th́ đời sau bạn nhất định sẽ
sanh lên trời, phước báo lớn hơn nhân gian chúng ta
rất nhiều, hưởng phước trời. Thứ hai là ‘Phạm Trụ’, Phạm
Trụ tức là tu thiền định, tu tâm thanh tịnh,
hết thảy dục niệm đạm bạc, đối
với ngũ dục lục trần coi rất lợt lạt,
trong tâm tràn đầy từ, bi, hỷ, xả. ‘Từ’ là vui với người,
đem khoái lạc cho người, giúp người khoái lạc;
‘Bi’ là làm cho người bớt khổ, chúng sanh có khổ,
giúp họ giải quyết khổ nạn; ‘Hỷ’ là nh́n thấy
người khác được phước, được
chuyện tốt, nhất định chẳng có tâm đố
kỵ, chỉ sanh tâm hoan hỷ; ‘Xả’ là có thể buông xuống
vạn duyên. Tâm thường
an trú tại từ - bi - hỷ - xả, sanh đến trời
Sắc Giới, hai cái ‘trụ’ trong Tam Giới này kể ra
c̣n chính đáng. Nhưng người
chúng ta hiện nay không như vậy, hiện nay tâm người
an trụ ở đâu? An trụ
ở tham, sân, si, mạn, như vậy th́ không xong rồi! An trụ tại tham, sân, si, mạn,
an trụ tại giết hại, trộm cắp, dâm dục,
nói dối th́ quả báo sẽ ở ba đường
ác. Thế nên họ chẳng
phải ‘Thiên trụ’, chẳng phải ‘Phạm Trụ’, mà
là ‘Quỷ trụ, Địa ngục trụ, Súc sanh trụ’, họ
làm những thứ này. Chúng ta
đối với những Lư, Sự này rơ ràng, minh bạch,
phải biết tâm an trụ ở đâu, sau này sanh ra hậu
quả ǵ, vô cùng dễ sợ.
Thứ ba
là ‘Thánh trụ’ tức là trụ ở tâm Bồ Đề. Thánh giả là Tiểu Thừa:
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát tuy chẳng đồng
nhưng họ có một điểm giống nhau, tức là
tâm nhất định trụ tại Tam Tam Muội [4], đây là điểm
tương đồng. Thứ
tư là ‘Phật trụ’, trụ ở chỗ Phật trụ,
nếu nhập vào cảnh giới này th́ bạn sẽ là quả
vị Thập Trụ Bồ Tát.
Chân chánh học Phật nhất định phải an
tại chỗ Phật trụ, Phật trụ ở
đâu? ‘Đại Tam Không Tam Muội’:
Không, Vô Tướng, Vô Nguyện; Vô Nguyện cũng gọi
là Vô Tác. Nếu thực hiện
trong Tịnh Tông th́ an trụ ở ‘Niệm Phật Tam Muội’,
đối với những cảnh giới khác sâu rộng
vô cùng, chúng ta rất khó cảm nhận, không bằng y theo lời
dạy của Phật, chúng ta để tâm an trụ tại
‘Niệm Phật Tam Muội’, chuyện này tương đối
dễ học tập. Niệm Phật là nhân, thành Phật
là quả, việc này thật sự là hiếm có, thù thắng
khôn sánh. Trên đây nói về ư
nghĩa của hai chữ ‘tại’ và ‘trụ’.
Hôm nay ‘Phật
tại Đao Lợi Thiên’, ở Đao Lợi Thiên làm ǵ? ‘Vị mẫu thuyết pháp’. Phải y theo cách nói trong ‘Tăng
Nhất A Hàm’, pháp hội kỳ này là do Đế Thích Thiên
Vương, tức là Đao Lợi Thiên Chủ khải thỉnh. Đao Lợi Thiên Chủ rất thông
minh, rất có trí huệ, ngài nói quá khứ hết thảy
chư Phật đều đă đến Đao Lợi Thiên
thuyết pháp cho mẹ, báo ân sanh dưỡng của mẹ,
Thế Tôn thành Phật rồi, đương nhiên cũng
chẳng ngoại lệ. Thế
Tôn nhận lời mời của Đao Lợi Thiên Chủ,
đến Đao Lợi Thiên mở ra pháp hội này. Nhân duyên này rất sâu, câu chuyện
cũng rất dài, kể chuyện th́ sẽ ngưng trệ
việc giảng kinh, cho nên chúng ta lược bớt câu
chuyện này, nhưng cũng không thể không biết.
Mẫu thân
của Phật là Ma Gia phu nhân, nói thực ra cũng là đại
quyền thị hiện, đều là Phật, Bồ Tát
tái lai. Mỗi người lúc
tu nhân, phát nguyện chẳng giống nhau, ngài phát nguyện
đời đời kiếp kiếp làm người nữ
để làm mẹ của Phật, ngài phát nguyện
này. Thế nên con của ngài là
Phật, phước báo của mẹ sẽ rất lớn,
đây là biểu diễn cho chúng ta xem. Phước báo lớn nhất,
hoàn toàn dựa vào phước th́ chỉ có thể sanh đến
cơi trời Đao Lợi, từ trời Dạ Ma trở lên th́
không thể. Chư vị xem
trong nhà Phật nói đến Phật sự siêu độ
Lương Hoàng Sám vô cùng thù thắng. Lương Hoàng tức là
Lương Vơ Đế, Lương Vơ Đế khải thỉnh
Bảo Chí Công làm Phật sự siêu độ cho phu nhân cho
nên gọi là ‘Lương Hoàng Sám’.
Lúc phi tử của vua c̣n sống, bà tạo nhiều
ác nghiệp nên đọa vào ác đạo. Bảo Chí Công là một cao tăng
đắc đạo, Bảo Chí Công là ai? Là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân
đến, bạn xem như vậy c̣n nói ǵ nữa! Quán Thế Âm Bồ Tát đích thân
đến chủ tŕ pháp hội này, chủ tŕ pháp sự
siêu độ này, cũng chỉ có thể siêu độ phi
tử của vua đến cơi trời Đao Lợi. Chư vị phải biết,
chư Phật Như Lai siêu độ th́ chỉ siêu độ
đến trời Đao Lợi, muốn lên trên nữa th́ tự
ḿnh phải có công phu tu hành, nếu chẳng có công phu tu hành
th́ không được. Thế
nên hiểu được chân tướng sự thật
này, thời gian chúng ta c̣n sống phải hết ḷng tu hành,
nếu chẳng tu hành mà chỉ nhờ người khác siêu
độ, bản lănh có cao tới đâu th́ chỉ có thể
đến trời Đao Lợi mà thôi. Nếu siêu độ Phật sự
là do phàm phu chủ tŕ th́ hiệu quả sẽ rất yếu
ớt, chỉ có thể nói là làm vẫn tốt hơn không
làm. Có hiệu quả ǵ rất
khó nói. Ngày nay bạn đi
đâu t́m được cao tăng chân chánh đắc
đạo, Phật, Bồ Tát hay người tái lai. Thế nên phải hiểu đạo
lư này rồi sau đó tự chúng ta mới thực sự nắm
chắc lấy thời gian, một tấc quang âm là một
tấc mạng quang, phải hết ḷng nỗ lực.
Phước
báo lớn như người mẹ của Phật th́ cũng
chỉ sanh đến trời Đao Lợi. Lên trên nữa cần phải có
công phu định lực, cần có tâm thanh tịnh, tâm
thanh tịnh thành tựu công đức chân thật. Công đức ít, kém cỏi,
chưa đoạn Dục, chưa đoạn tâm niệm
ham muốn th́ sanh đến tầng trời thứ tư
của cơi Dục Giới, nhà Phật gọi là ‘Vị Đáo Định’,
bạn tu định chưa đủ tŕnh độ
nhưng cũng có tu. Thí dụ
Tứ Thiền, cơi Tứ Thiền cần công phu thiền
định một trăm điểm th́ mới đến
Tứ Thiền; cơi Tam Thiền cần chín chục điểm,
Nhị Thiền cần tám chục điểm, Sơ Thiền
cần bảy chục điểm.
Nếu công phu của bạn dưới sáu chục
điểm th́ chẳng đến Sắc Giới nổi. Nhưng bạn cũng có công phu,
công phu thiền định của bạn có khoảng sáu
mươi điểm, năm mươi điểm, bốn
mươi điểm, bạn cũng có công phu, chẳng phải
là không điểm. Nếu bạn
chẳng tu, chỉ chuyên tu phước, tu thập thiện
nghiệp đạo, tu bố thí, tŕ giới, chẳng có
công phu định lực, chẳng xả bỏ tâm niệm
t́nh dục, th́ chỗ bạn sanh đến sẽ là Tứ
Vương Thiên và Đao Lợi Thiên.
Có một chút công phu định lực, tâm địa
có một ít thanh tịnh mới có thể sanh đến cơi
trời Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại. Càng lên trên th́ phước báo của
mỗi tầng càng lớn hơn, thọ mạng càng dài
hơn, chân chánh là hưởng phước vô tận. Nhưng thọ mạng có dài
hơn th́ cũng có lúc hết quả báo, tức là có lúc sẽ
hưởng hết; sau khi hưởng hết th́ cũng phải
lưu chuyển theo nghiệp.
Thế nên sanh lên trời chẳng phải là pháp cứu
cánh, chẳng bằng niệm Phật cầu sanh Cực Lạc
thế giới, sanh đến Cực Lạc thế giới
là vô lượng thọ, nói cách khác vĩnh viễn chẳng
sanh, chẳng tử. Không những
trời Dục Giới chẳng sánh bằng, trời Sắc
Giới, Vô Sắc Giới đều chẳng thể sánh bằng. Thế nên hết thảy chư
Phật tán thán A Di Đà Phật, tán thán Cực Lạc thế
giới, đạo lư là ở chỗ này.
Câu kinh ‘vị mẫu
thuyết pháp’, tuy pháp hội này là do Đế Thích Thiên Chủ
khải thỉnh, nhưng ư nghĩa rất sâu. Thứ nhất là v́ tránh miễn
cho một số người hiểu lầm Phật
pháp. Học Phật, đặc
biệt là phát tâm cạo đầu xuất gia, h́nh như
là từ đó trở đi chẳng c̣n lo cho cha mẹ nữa,
người thế gian cho vậy là chẳng có hiếu. Đặc biệt là người
Trung Quốc thường nói: ‘Có
ba chuyện bất hiếu, chẳng có con nối dơi là lớn
nhất’. Cha mẹ mong bạn
nối dơi gịng họ, một khi bạn xuất gia th́ việc
nối dơi tông đường sẽ đoạn mất,
làm sao chẳng có lỗi với cha mẹ, tổ tiên! Người đời chẳng
biết xuất gia là đại hiếu, đây là ư nghĩa
thứ nhất. Ư nghĩa thứ
hai là làm gương mẫu cho tứ chúng đệ tử
học Phật: tứ chúng gồm xuất gia, tại gia,
nam chúng, nữ chúng, khơi gợi tư tưởng hiếu
kính của họ, làm cho họ chân chánh thể hội
điều thứ nhất ‘Hiếu dưỡng cha mẹ’
trong Tam Phước. Trong nhà Phật
dù xuất gia th́ cũng không thể không lo cho cha mẹ, chẳng
có đạo lư này. Nhưng
h́nh thức hiếu dưỡng chẳng giống nhau, hết
ḷng tu tŕ, phụng hành theo lời Phật dạy, dùng công
đức ấy hồi hướng cho cha mẹ; cha mẹ
có thể được chư Phật hộ niệm, thiện
thần bảo hựu, đây mới là chân hiếu. Người thế gian hiếu
thuận cha mẹ, mướn vài người giúp việc
để chăm sóc cho đời sống, c̣n đệ tử
Phật nhờ thiên long thiện thần chăm sóc cho cha mẹ
c̣n châu đáo hơn những người giúp việc. Nếu bạn chẳng có tu tŕ th́
thiên long thiện thần chẳng bảo hựu bạn, sẽ
khinh chê bạn. Nếu bạn
chân chánh tu hành, có đạo có đức cảm động
đến thiên thần, họ tự nhiên đến chiếu
cố; bạn chẳng cần phải cầu họ, cũng
chẳng phải thông báo cho họ, [họ cũng] tự
nhiên chiếu cố. Tại
sao vậy? V́ tôn kính bạn,
tôn kính cha mẹ bạn, thế nên có ư nghĩa này.
a.
Chứng Tín Tự:
Lại xem
đoạn kinh tiếp theo:
Nhĩ thời thập phương vô
lượng thế giới, bất khả thuyết bất
khả thuyết nhất thiết chư Phật cập Đại
Bồ Tát Ma Ha Tát giai lai tập hội.
Lúc đó hết thảy chư Phật
và Đại Bồ Tát Ma Ha Tát bất khả thuyết bất
khả thuyết từ mười phương vô lượng
thế giới đều đến tham dự pháp hội.
Đoạn kinh trên là Phát Khởi Tự của
kinh này. Kinh này tổng cộng
gồm mười ba phẩm, phẩm thứ nhất là phẩm
Tựa, nhưng chẳng gọi là phẩm Tựa mà gọi
là Phẩm Đao Lợi Thiên Cung, trên thực tế phẩm này
là phẩm Tựa. Ư nghĩa
trong phần tựa vô cùng châu toàn viên măn, phía trước có
sáu thứ thành tựu, đây là ‘Chứng Tín Tự’; từ
đoạn kinh này về sau là Phát Khởi Tự. Đoạn Phát Khởi Tự nói với
chúng ta vô cùng rơ ràng, hàm nhiếp cả ‘Giáo, Lư, Hạnh, Quả’;
trong Khoa Chú đoạn này được gọi là ‘Quả
Nhân Tập Tán’ (Cùng khen ngợi quả và nhân). Chúng ta phải
đặc biệt chú ư những chỗ như vậy, phải
biết học tập như thế nào, khi Phật thuyết
pháp th́ trước hết phơi bày quả báo ra cho mọi
người thấy, từ quả báo này sanh khởi ḷng
tin. Sau đó mới giải
thích quả báo h́nh thành như thế nào, giảng về
nhân cho bạn th́ bạn sẽ hết ḷng để nghe, bạn
rất muốn biết tại sao.
Đây là thiện xảo phương tiện của việc
thuyết pháp, chúng ta phải biết. Thế nên mới nói ‘Quả Nhân’
chứ chẳng nói ‘Nhân Quả’.
Vừa mở đầu th́ hiện lên cái
ǵ? Dạy bạn xem những
nhân vật tham gia đại hội này, đây là ‘quả’. Đây là người, người là
‘quả người’, do quả đức của ngài cảm
động nhiều người như vậy đến
tham gia pháp hội. Trước
khi Phật giảng kinh th́ hiện tướng lành, hiện
các thứ hào quang, những tướng lành này là ‘Lư’. Văn Thù Bồ Tát nh́n thấy hiện
tượng này nên sanh khởi nghi hoặc, đây là tiêu biểu
‘Hạnh’. Thế Tôn và Bồ
Tát một người hỏi, một người đáp,
Văn Thù hỏi, Thế Tôn trả lời, đây là
‘Giáo’. Cho nên trong phần Tựa
chúng ta thấy ‘Giáo, Lư, Hạnh, Quả’, lần tụ hội
này là quả báo. Giống
như trong kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu trước
lúc giảng kinh th́ nói về y báo, chánh báo trang nghiêm của Tỳ
Lô Giá Na Phật, bày quả báo ra cho bạn thấy.
Chỗ này hiện ra sự chẳng thể
nghĩ bàn, chư vị có thấy kinh văn như vầy
trong kinh nào không? ‘Nhĩ thời’,
lúc Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ,
‘mười phương vô lượng thế giới, bất
khả thuyết bất khả thuyết hết thảy
chư Phật’, chư vị có từng thấy trong kinh nào
ghi lúc Phật giảng kinh, hết thảy chư Phật
đều đến nghe?
Chưa từng thấy bao giờ. Quang cảnh này làm sao tưởng
tượng được nổi! Kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng có
trường hợp này, kinh Vô Lượng Thọ cũng
chẳng có, vô cùng hy hữu!
Không thể hàm hồ, lơ là lướt qua. Thường thường chúng ta
nói câu: ‘Một Phật ra đời, ngàn Phật ủng
hộ’, đó là chư Phật hóa hiện thành Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát tới để giúp đỡ
Phật hoằng hóa; c̣n chỗ này không phải vậy,
chư Phật dùng thân phận của Phật đến. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hôm nay
giảng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, hết
thảy chư Phật đều đến tham dự nghe
giảng, số người đến là ‘vô lượng
thế giới, nói không xuể, kể không xiết
hết thảy chư Phật và Đại Bồ Tát Ma Ha Tát’;
‘Đại Bồ Tát Ma Ha Tát’ này theo Phật cùng đến,
tháp tùng theo chư Phật. Số
chư Phật đă nói không xuể, kể không xiết, vậy
th́ số Bồ Tát c̣n nhiều hơn nữa, tất cả
đều đến dự hội. Đoạn kinh này tuyệt đối
không thể hàm hồ, lơ là lướt qua, bạn phải
nghĩ kỹ Thế Tôn suốt đời giảng kinh bốn
mươi chín năm, giảng hơn ba trăm hội,
không có hội nào thù thắng như vậy. Đây là những người tham dự
pháp hội, là ‘Quả’, một phần trong Giáo, Lư, Hạnh,
Quả của kinh.
V́ sao
họ đều đến?
Chẳng có một vị Phật nào không báo ân mẹ,
hôm nay đức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng giảng pháp
nào khác, mà giảng pháp Địa Tạng. Thuyết minh hết thảy
chư pháp đều nương vào đại địa
để sanh khởi, đây là căn bản. Địa Tạng tiêu biểu cho cái
ǵ? Tiêu biểu ‘Hiếu Thân Tôn
Sư’, thế nên khi giảng pháp ‘Hiếu Thân Tôn Sư’ th́
hết thảy chư Phật nhất định đích
thân đến tham gia, chư Phật đến để
làm ‘ảnh hưởng chúng’.
Đao Lợi Thiên Vương trong hội này làm công đức
chủ, phước báo của ngài đă tu quả thật
rất lớn: thỉnh Phật đến cung trời Đao
Lợi giảng kinh Địa Tạng, phước báo này rất
lớn. Thế nên hết thảy chư Phật Như Lai
đều đến đầy đủ, một vị
cũng không sót, là một nhân duyên vô cùng hy hữu! Đến để làm ǵ? Đề xướng Hiếu đạo. Vừa gặp mặt liền tán
thán đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ư tán thán đó cũng
viên măn đến cùng cực.
b. Phát Khởi Tự:
Tán thán Thích Ca Mâu Ni Phật năng ư ngũ trược ác thế hiện bất khả tư nghị đại trí huệ thần thông chi lực, điều phục cang cường chúng sanh, tri khổ lạc pháp.
Tán thán đức Phật
Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược
hiện sức đại trí huệ thần thông không thể
nghĩ bàn, điều phục chúng sanh ương ngạnh, biết
được pháp khổ pháp vui.
Nói
ra lời này chẳng dễ, nếu không phải là chư
Phật Như Lai đích thân tuyên thuyết, nói cho chư vị
biết, Bồ Tát cũng chẳng nói được. Tại sao vậy? Các Ngài c̣n chưa vào cảnh giới
này th́ làm sao nói ra được!
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện vào thời
đại ǵ? ‘Ngũ Trược
Ác thế’. Đến xă hội hiện
nay của chúng ta có thể nói là ‘Ngũ trược ác’, hầu
như phàm phu ngu muội vô tri nhất cũng đă cảm
biết được.
Năm mươi năm, một trăm năm về
trước, phải là người có trí huệ cao độ
mới có thể cảm biết hiện tượng ngũ
trược ác thế này, phần đông người
thường không cảm giác được; [họ nghĩ]
thế gian chẳng tệ, rất tốt, sinh sống rất
vui vẻ; họ chẳng cảm giác được sự
trược ác này, ‘trược’ nghĩa là ô nhiễm. Nửa thế kỷ trước
chúng ta chưa từng nghe danh từ Hoàn Bảo (bảo
hộ môi trường, hoàn cảnh) ở đâu cả, nói cách khác sự ô
nhiễm của môi trường c̣n có thể chịu đựng
được. Đợi đến
lúc phát động bảo hộ môi trường có nghĩa
là ô nhiễm môi trường đă đến mức làm cho
người ta chịu không nổi, chánh phủ địa
phương trên toàn thế giới đều bắt đầu
đề xướng. Nói cách
khác, mức độ trược ác này đă đến mức
khá nghiêm trọng nên mới có danh từ này xuất hiện.
‘Ngũ’
là năm loại lớn, năm loại ô nhiễm nghiêm trọng,
trong kinh Phật gọi là ‘Ngũ trược ác thế’. Trong Ngũ trược, thứ nhất
là Kiếp Trược, Kiếp là nói về thời gian,
ngày nay chúng ta gọi là thời đại (tạm dịch cho chữ ‘niên đầu’) chẳng
tốt, là nói về thời tiết nhân duyên. Nói thật ra, thời gian có ô nhiễm
ǵ đâu! Đây là một thời
đại ô nhiễm trầm trọng, chính là nghĩa
này. Nói thật ra, thời
đại ô nhiễm là bốn thứ ô nhiễm kể sau
đây. Thứ hai là ‘Kiến
Trược’, Kiến là Kiến giải, tư tưởng,
kiến giải sai lầm, nhà Phật gọi là tà tri tà kiến,
có cái nh́n sai lầm về chân tướng của vũ trụ
nhân sanh, đó là ô nhiễm trên kiến giải. Kế đó là ‘Phiền năo trược’,
dùng cách nói hiện nay nghĩa là ô nhiễm tư tưởng. Hai thứ này hợp lại chính
là ô nhiễm tâm lư, ô nhiễm tinh thần, việc này rất
nghiêm trọng! Từ ô nhiễm
tâm lư, ô nhiễm tinh thần nhất định sẽ dẫn
đến sinh lư và hoàn cảnh sanh hoạt ô nhiễm,
đó gọi là ‘Chúng sanh trược’, nói theo ngôn ngữ hiện
nay th́ đó chính là hoàn cảnh sinh hoạt ô nhiễm. Ngày nay sanh thái của địa cầu
mất quân b́nh, khí hậu bất b́nh thường, tai nạn
dồn dập, đều thuộc về ‘Chúng sanh trược’. Sau cùng là ‘Mạng trược’, dùng
ngôn ngữ hiện đại để nói tức là sinh lư
ô nhiễm. Dùng ngôn ngữ hiện
đại để giải thích Ngũ Trược th́ hai
thứ đầu là kiến giải ô nhiễm, tư
tưởng ô nhiễm, hợp lại chính là tâm lư ô nhiễm,
tinh thần ô nhiễm; ‘Chúng sanh trược’ chính là hoàn cảnh
sinh hoạt ô nhiễm, ‘Mạng trược’ là sinh lư ô nhiễm,
tất cả đều gọi là ‘Trược’.
‘Ác’
là ‘thập ác’, hết thảy chúng sanh chẳng làm việc
thiện. Thân tạo ‘sát sanh,
trộm cắp, tà dâm’, miệng tạo ‘vọng ngữ’ tức
là không nói thật, lừa gạt người khác, ‘lưỡng
thiệt’ tức là ly gián thị phi, ‘ác khẩu’ tức là
nói lời độc ác; ‘ỷ ngữ’ tức là nói lời
bóng gió, lường gạt chúng sanh, tạo ra những khẩu
nghiệp này; c̣n ư nghiệp, trong tâm có ‘tham, sân, si, mạn’,
những thứ này là ‘Ác’.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong thời
đại Trược, Ác này.
‘Hiện’
là thị hiện, thị hiện đại trí huệ chẳng
thể nghĩ bàn. Câu này nói Phật
xuất hiện ở thế gian này, làm ra một h́nh dáng
cho chúng sanh coi, h́nh dáng ǵ? H́nh
dáng đại trí huệ. Hiện
nay chúng ta gọi là ‘làm thầy, làm mô phạm’, làm người
dẫn đầu cho xă hội đại chúng, làm
gương, làm mô phạm cho xă hội đại chúng. Ngài có thể thị hiện trong
đời ác ngũ trược này, hết thảy chư
Phật đều tán thán, tán thán Phật trong đời
trược ác làm ra một gương tốt cho những
chúng sanh khổ nạn này.
‘Thần
thông chi lực’ bốn chữ này nói về biểu hiện
bên ngoài của Ngài. ‘Bất khả
tư nghị đại trí huệ’ là nói về biểu hiện
bên trong. Biểu hiện bên
ngoài chính là giúp đỡ xă hội, hết thảy chúng
sanh, nói về khả năng của ngài mạnh mẽ. ‘Thông’ là thông đạt, chẳng
có ǵ ngài chẳng biết. Hết
thảy sự vật, đạo lư, nhân quả, hiện
tượng, biến hóa trong thế gian, chẳng có ǵ là
không biết, chẳng có ǵ là không thể, đó gọi là
‘thần thông’. Thần nghĩa
là thần kỳ, khó trắc lường nổi, vượt
quá tri thức của phàm phu.
Thần thông này chẳng phải là bảy mươi
hai phép biến hóa của Tôn Ngộ Không, không phải ư này,
nếu nghĩ vậy th́ bạn hoàn toàn hiểu lầm. Sự việc ǵ Phật đều
thông suốt, nói cách khác, các thứ nghi nan tạp chứng
trong xă hội chúng ta ngày nay Phật chẳng có ǵ không biết,
ngài có khả năng giúp đỡ chúng ta giải quyết
những khó khăn này.
‘Điều
phục cang cường chúng sanh’.
Cư sĩ Duy Ma đă từng nói: ‘Chúng sanh ở
cơi Diêm Phù Đề cang cường, khó giáo hóa’. ‘Cang cường’ là tánh
ương ngạnh, chấp trước cứng chắc,
rất khó tiếp nhận lời dạy dỗ của Phật. Chúng ta có thể nh́n thấy việc
này trong xă hội hiện thực, họ bài xích Phật
pháp, gây chướng ngại cho sự giáo học Phật
pháp, hiển thị tánh ương ngạnh. Họ không chịu nghiên cứu Phật
pháp, Phật pháp rốt cuộc là ǵ? Họ cũng chẳng biết; Ghép vô một chữ mê tín, tiêu cực,
lạc hậu th́ liền bỏ xó qua một bên, chẳng
biết đây là của báu, thật sự có thể giải
quyết vấn đề của ngũ trược ác thế.
Bốn
chữ sau cùng này rất tài t́nh: ‘tri khổ lạc pháp’, nói
ra bốn chữ này chẳng dễ. Chúng sanh khổ, tại sao khổ? Chúng sanh mong cầu sự vui, tại
sao không đạt được sự vui? Có người nào trên cả thế
giới không chịu khổ!
Có ai không mong cầu khoái lạc! Khổ từ đâu đến? Lạc từ đâu đến? Chẳng ai biết. Làm sao ĺa khổ? Làm sao được vui? Những lư luận và phương
pháp này chẳng có ai biết.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni biết được,
trong kinh đức Phật dạy rất rơ ràng, rất
minh bạch, nếu chúng ta muốn ĺa khổ, được
vui, kinh điển Đại Thừa chỉ dẫn hoàn hảo
nhất, chỉ đạo, hướng dẫn chúng ta, mục
tiêu của sự giáo học Phật pháp chính là dạy chúng
ta ĺa khổ, được vui.
Chư Phật tán thán đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng
để ‘Quả’ ở phía trước, làm cho người
ta chú ư. Hai đoạn kinh này
không có câu nào chẳng làm lông tóc dựng đứng, vô cùng
hy hữu! Có người nào mở
pháp hội có thể làm cho hết thảy chư Phật
Như Lai đều đến nghe, người nào có thể
nh́n được chư Phật Như Lai, được
sự tán thán chẳng thể nghĩ bàn như vậy. Chư Phật tán thán đức
Phật Thích Ca, tức là chư Phật hỗ tương
tán thán, chúng ta phải hiểu đạo lư này, Phật Phật
đạo đồng. Nói cách
khác, chỉ có chư Phật Như Lai mới chịu thị
hiện trong ngũ trược ác thế, đây chính là tinh
thần của Địa Tạng Bồ Tát, ‘Tôi không vào
địa ngục, ai vào địa ngục!’, địa
ngục là chỗ khổ nhất.
Những chúng sanh khổ nạn này, tôi không giúp họ
th́ ai giúp họ! Chỗ càng nhiều
khổ nạn, Bi tâm của Phật, Bồ Tát càng nặng,
càng muốn đến đó để dạy dỗ, giúp
đỡ mọi người, chỉ cần những chúng
sanh khổ nạn này chịu tiếp nhận, Phật, Bồ
Tát liền tới; nếu không chịu tiếp nhận, Phật,
Bồ Tát muốn giúp đỡ cũng chẳng có cách
ǵ. Có thể tin, có thể giải,
có thể học th́ Phật, Bồ Tát nhất định
sẽ xuất hiện trong thế gian này.
Ngày
nay tại sao lại đến Tân Gia Ba giảng hội
kinh này? Tại sao không giảng
ở chỗ khác? Chúng ta chẳng
thiên vị, chẳng có tâm riêng tư, và cũng chẳng tham
ái địa phương này.
Hoàn toàn là do duyên ở địa phương này thành
thục. Duyên ǵ? Người ở địa
phương này có thể tin, có thể giải, có thể
hành; địa phương này đầy đủ bốn
điều kiện Tín, Giải, Hạnh, Chứng. Trong mười mấy năm nay
chúng ta ở địa phương này hoằng
dương Tịnh Độ, khuyên mọi người niệm
Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới,
trong những năm này, ở Tân Gia Ba, Mă Lai Á, lúc nào cũng
có thể nghe đến người niệm Phật văng
sanh, thường luôn nghe đến. Cư sĩ Lư Mộc Nguyên vô cùng
nhiệt tâm, lúc lâm chung các đồng tu niệm Phật
hơn phân nửa đều mời cư sĩ Lư Mộc
Nguyên trợ niệm, lo hậu sự cho họ, ông đă thấy
được tướng lành quá nhiều, quá nhiều! Ngày nay Lư cư sĩ phát tâm như
vậy là do ông ta đă nh́n tận mắt, nghe tận tai, niệm
Phật văng sanh bất thoái thành Phật là thật, chẳng
phải giả. Bởi vậy
nên ông ta làm thật hết ḷng, rất nhiệt tâm như vậy,
tín nguyện của ông chẳng phải phát suông đâu, là
đă nh́n thấy sự thật nên mới phát khởi
đấy.
Chỉ
có Phật mới thấu triệt pháp khổ vui trong lục
đạo tam đồ, biết được triệt
để, được rốt ráo, cho nên Phật có khả
năng giúp đỡ chúng ta giải quyết vấn đề,
giúp chúng ta ĺa khổ được vui. Tuyệt đối không thể
xem thường hai đoạn kinh này, đây là vô thượng
diệu pháp của chư Phật Như Lai khác miệng
đồng âm tuyên thuyết, chúng ta có thể coi như tổng
cương lănh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị
hiện trong thế gian giảng kinh hơn ba trăm hội,
thuyết pháp bốn mươi chín năm. Phật xuất hiện trong thế
gian để làm ǵ? Để
làm việc này.
Sau
khi tán thán, chư vị hăy xem tiếp kinh văn:
Các khiển thị giả, vấn tấn Thế Tôn.
Mỗi vị đều sai
thị giả đến vấn an Thế Tôn.
Đây
là lễ mạo, Phật phái thị giả đến vấn
an đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Lễ tiết, đây cũng làm một h́nh dáng cho
người ta coi, ‘Lễ’ này chẳng thể bỏ. Người chẳng có lễ th́
sẽ chẳng ở yên trong thế gian được,
nhưng hiện nay người ta đều coi thường
lễ tiết. Nếu coi
thường lễ tiết th́ nói thật ra dù tu học Phật
pháp có giỏi cách mấy, quả báo sẽ ở
đâu? Quả báo sẽ chẳng
ở cơi người, hơn phân nửa là ở cơi quỷ. Đến đoạn nói về Quỷ
vương ở phía sau, nói rơ nhân của những quỷ
vương này th́ quư vị sẽ hiểu. Tu hành Phật pháp giỏi vô cùng,
nhưng cống cao ngă mạn, chẳng có lễ tiết, quả
báo sau này sẽ đến quỷ đạo làm quỷ
vương. Trong kinh Hoa Nghiêm
giảng về những vị làm Thế Chủ, Khí Thế
Gian Chủ, thần núi, thần cây, thần hoa, thần
nước, những vị này sẽ có khuynh hướng
như vậy. Phật pháp
được xây dựng trên cơ sở Hiếu Kính,
khuyên chư vị đồng tu phải giác ngộ, có Hiếu
Thân Tôn Sư th́ chúng ta mới có thể hướng về
Phật đạo, đi về Cực Lạc thế giới,
nếu chẳng có ư niệm này th́ tuy tu học Phật pháp
nhưng sẽ đến quỷ đạo làm quỷ
vương. Nếu tốt
hơn nữa th́ bạn có thể đến thiên đạo;
thiên đạo th́ có trời Dục Giới, trời Sắc
Giới không được, nhất định phải biết. Ở đây là dạy Lễ, dạy
Kính.
Thị thời Như Lai hàm tiếu, phóng bá thiên vạn ức đại quang minh vân.
Bấy giờ, Như Lai mỉm
cười, phóng ra trăm ngàn muôn ức vầng mây sáng rỡ
lớn.
Chỗ
này nói về Phật hiện tướng lành. Trong quang minh vân (vầng mây sáng) hiển
lư, phóng quang. Chúng sanh lợi
căn nh́n thấy hào quang đều hiểu hết những
lời dạy của Phật, chẳng cần phải dùng
lời nói, ‘quang minh’ tiêu biểu cho trí huệ, ‘trăm ngàn
muôn ức vầng mây sáng rỡ lớn’ chính là vô lượng
vô biên trí huệ, trong ṿng sát na tế toàn bộ đều
hiện ra, chẳng cần thời gian dài, trong ṿng sát na liền
phơi bày vô lượng vô biên trí huệ trước mặt
hết thảy đại chúng.
‘Thị thời’ tức là lúc chư Phật Như Lai
tán thán, phái thị giả đến vấn an đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, Thế Tôn mỉm cười. Phóng quang là tiêu biểu pháp, hào
quang này từ đâu ra? Trong
chân như bản tánh vốn có đầy đủ Bát Nhă
quang minh, Phật v́ chúng sanh thuyết pháp căn cứ vào chỗ
này. Phật thuyết hết
thảy pháp bắt đầu từ đâu? Từ trong tự tánh vốn sẵn
đủ Bát Nhă thể hiện ra, hôm nay nói chỗ y cứ
của hết thảy pháp, biểu hiện ra một lượt
cho mọi người coi.
‘Bá
thiên vạn ức’ nói chẳng hết, cho nên sau đó
lược nêu ra vài điều, nếu nói kỹ th́ nói
không hết, giản lược nêu ra mười điều. Tuy là giản lược nêu ra,
chư vị phải biết cũng giống như cách
tiêu biểu pháp trong kinh Hoa Nghiêm, bất cứ câu nào cũng
đầy đủ trăm ngàn muôn ức quang minh vân, một
tức là hết thảy, hết thảy tức là một. Thế nên khi chúng ta nghe kinh, nghe
pháp, nếu người giảng dùng tâm chân thành, tâm cung kính,
th́ liền cùng quang minh của Phật khởi tác dụng cảm
ứng, Phật quang sẽ soi rọi đạo tràng đó
cũng giống như đại quang minh vân chiếu soi
trên không trung của đạo tràng [tại cung trời Đao
Lợi] này. Phía dưới
người nói, người nghe sanh vô lượng hoan hỷ,
chẳng phải do người ấy giảng hay, nói khéo,
chẳng phải vậy, người hiện nay gọi
đó là ‘từ trường’ chẳng giống nhau, đây
là sự gia tŕ của Phật, từ bi gia tŕ, quang minh nhiếp
thọ. Nói về câu đầu
tiên:
Sở vị: Đại Viên Măn Quang Minh Vân.
Đó là vầng mây sáng Đại
Viên Măn
‘Đại
Viên Măn’, đây là điểm giống nhau trong những vầng
mây khác nhau. Viên măn tức là một
chút khiếm khuyết đều chẳng có, chính là toàn thể
tánh đức tỏ lộ. Tại
sao hết thảy chúng sanh có thể khởi cảm ứng
đạo giao? Tâm chúng sanh và
tâm Phật không hai không khác. Sai
khác ở đâu? Chúng sanh c̣n
mê, Phật đă giác. Khi giác là
tâm tánh, khi mê cũng là tâm tánh, tâm tánh chẳng có giác, mê. Trong hết thảy chúng sanh,
thường nói đến hữu t́nh chúng sanh, chúng ta ngày
nay gọi là động vật, chúng sanh hữu t́nh trong
chín pháp giới; ngoài hữu t́nh chúng sanh c̣n có vô t́nh chúng
sanh, ngày nay chúng ta gọi là thực vật, khoáng vật,
đều từ trong tự tánh biến hiện ra. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Hữu T́nh và Vô T́nh cùng viên măn chủng trí’ [5]. Viên là viên măn, đồng viên chủng
trí tức là đồng thời thành Phật, là ư như vậy. Tại sao? Cùng một pháp thân, cùng một thể
tánh. [Đối với]
người giác ngộ, núi sông đại địa đều
là tự thân, cùng ḿnh là một thể, thế nên sẽ quan
hoài vô điều kiện, yêu
thương, bảo vệ vô điều kiện, đó gọi là
‘đại từ đại bi’, thế nên câu tiếp sẽ
là ‘Đại Từ Bi Quang Minh Vân’.
Phải biết Phật như vậy, chúng ta cũng
như vậy. Hôm nay Phật
hiển hiện chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng
vô biên tự tánh quang minh; hôm nay chúng ta hiện ra vô lượng
vô biên phiền năo vô minh, chúng ta biến thành nông nỗi này,
hoàn toàn phản nghịch với tánh đức, biến
thành một chúng sanh đáng thương xót. Thế nên tự ḿnh phải giác
ngộ, phải quay về, phải thọ tŕ đọc tụng,
y giáo phụng hành, người như vậy mới thật
sự quay về. Vừa quay về
th́ cùng đại quang minh vân của Phật khởi tác dụng
cảm ứng đạo giao.
Đại Từ Bi Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Đại Từ
Bi.
‘Từ
Bi’ là chỗ nương dựa cho sự phát tâm của
chúng ta. Tứ Hoằng thệ
nguyện ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’
nương dựa vào cái ǵ mà phát tâm? Nương dựa vào tâm từ
bi. Quang Minh Vân ở đây tiêu
biểu cho đức năng viên măn của chân tâm tự
tánh, Bát Nhă trí huệ vốn có.
Chư Phật, Bồ Tát, Bồ Tát ở đây là chỉ
cho Pháp Thân đại sĩ; khi chưa chứng Pháp thân th́
tánh đức chưa hiển lộ, chẳng có quang minh
vân; các ngài có đại từ bi, chẳng thể thêm quang
minh vân. Thêm quang minh vân th́ tối
thiểu phải là Pháp Thân đại sĩ, phá một phẩm
vô minh, chứng một phần pháp thân, thật sự cùng
tâm cùng nguyện, cùng đức cùng hạnh với Phật,
th́ trong đoạn này hiển lộ chẳng sót, đây là
sự tướng. Tứ hoằng
thệ nguyện phát khởi từ chỗ này. Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện
này viên măn, rốt ráo, ‘địa ngục chẳng không,
thề chẳng thành Phật’, từ bi đến cùng cực! Chúng sanh khổ nạn trong địa
ngục ngài đều độ, huống chi là những
chúng sanh khác, đây gọi là phổ độ chín giới
chúng sanh.
Khoảng
thời gian sau khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt
độ và trước khi Di Lặc Bồ Tát giáng sanh quá
dài. Trong thời gian dài như
vậy chẳng có Phật ra đời, cái khổ của
chúng sanh chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi. Phật, Bồ Tát chẳng có tâm từ
bi sao? Có chứ, phải làm
sao? Trong thời gian này Phật
giao phó sự nghiệp giáo hóa chúng sanh cho Địa Tạng Bồ
Tát. Lúc Phật chẳng ở
thế gian th́ Địa Tạng Bồ Tát đại diện
cho Phật Thích Ca, Thế Tôn chẳng nhờ Bồ Tát khác,
mà nhờ Địa Tạng Bồ Tát.
Do đó có thể biết sau khi đức Phật diệt
độ, khi Bồ Tát Di Lặc chưa xuất thế,
dùng phương pháp ǵ để giáo hóa hết thảy chúng
sanh? Dùng Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, đây
là lời phó chúc của Thế Tôn.
Địa Tạng Bồ Tát nhận sự ủy thác của
Thế Tôn, chẳng cô phụ đức Phật Thích Ca,
ngài đích thật đảm đương trách nhiệm
này, từ bi đến cùng cực!
Chúng ta phải dùng ‘Đại Từ Bi Quang Minh Vân’ phát tâm
Bồ Đề, thượng cầu hạ hóa, độ
ḿnh, độ chúng sanh. Câu thứ
ba:
Đại Trí Huệ Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Đại Trí Huệ.
Đây
là chỗ y cứ cho sự tu hành của chúng ta. Bất luận tu học pháp môn
nào, không có trí huệ th́ không thể thành tựu, nhất
định phải nương vào trí huệ, trí huệ từ
đâu có? Nói cho chư vị
biết, trí huệ nhất định chẳng do sự học hỏi, ghi nhớ mà
có.
Tôi nghe rất nhiều, đọc nhiều, nhớ
nhiều, đó là thông minh của thế gian, trong kinh Phật
gọi là ‘thế trí biện thông’.
Trong Phật đạo, ‘thế trí biện thông’ là một
trong tám nạn, nếu bạn gặp phải th́ rất
khó, tại sao? Kẹt vào ‘Sở
tri chướng’, những ǵ bạn biết trở thành
chướng ngại, chướng ngại bạn minh tâm
kiến tánh, chướng ngại bạn đạt
được định, chướng ngại bạn
khai trí huệ. Trí huệ từ
đâu đến? Trí huệ
nhất định phải được từ thiền
định, thiền định từ đâu đến? Thiền định nhất định
được từ Tŕ giới.
Đây gọi là ‘Tam Vô Lậu Học’. Tuy Đại thừa pháp môn chẳng
coi trọng giới luật trên h́nh thức, Đại thừa
nói đến Tâm Địa Giới pháp, c̣n thù thắng hơn
h́nh thức, phải làm thật sự! Thiền định là tâm thanh tịnh,
sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần bên
ngoài, ‘ngoài không trước tướng, trong không động
tâm’, đó gọi là thiền định, đó là chân
chánh tu thiền định. Nếu
lục căn chúng ta tiếp xúc với cảnh giới lục
trần, vẫn c̣n bị cảnh giới bên ngoài thu hút, vẫn
c̣n khởi tâm động niệm, vậy là hỏng bét rồi!
Công
phu chân chánh, tu hành chân chánh ở đâu? Chính là dụng công ở chỗ
sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, chúng ta dùng
công phu niệm Phật, phương pháp này rất tốt. ‘Niệm đầu’ [6] vừa động,
th́ dùng ‘A Di Đà Phật’ chuyển liền, chuyển thành A Di
Đà Phật, trong đó Tam học: Giới, Định, Huệ
đầy đủ cùng lúc. Nếu
bạn có thể chuyển th́ bạn tuân thủ pháp, đây
là Tŕ giới. Nh́n thấy cảnh
giới bên ngoài thuận tâm th́ khởi tham ái, tâm tham vừa
động th́ ‘A Di Đà Phật’ chuyển trở lại,
đó là Tŕ giới. Thấy
hoàn cảnh không vừa ư, trong tâm không ưa thích th́ liền
‘A Di Đà Phật’ chuyển lại.
Nếu bạn có thể chuyển trở lại, tiếp
nhận sự giáo huấn của Phật, Phật dạy
chúng ta làm như vậy, chúng ta làm như vậy, đó là
‘Tŕ giới’. Sau khi chuyển
trở lại, đối với hết thảy cảnh
giới đều không để ư nữa, quay về niệm
Phật, đó là tu ‘Định’.
Nhất tâm xưng niệm A Di Đà Phật, ‘Huệ’ ở
trong đó. Thế nên [nhiều
người] chẳng biết sự tu học của Tịnh
Tông thù thắng, hoàn thành Giới - Định - Huệ Tam Học
ngay trong một niệm, viên măn đầy đủ. Sau đó xử sự, đăi
người, tiếp vật, thiện ư tự nhiên sẽ
sanh ra, thế nên công phu tu hành của bạn sâu cạn chẳng
có tơ hào ẩn dấu được, đều bộc
lộ trên gương mặt, âm thanh, từng cử chỉ,
từng động tác của bạn, công phu tu hành của
bạn làm sao ẩn dấu được? Trong ngoài như nhau. Ẩn dấu là đối với
người ngu mà nói, người ngu chẳng nh́n thấy
nên mới bị bạn gạt, người chân chánh có trí
huệ th́ không dấu nổi, vừa tiếp xúc liền hiểu
rơ. Thế nên ‘đại trí huệ’
là chỗ nương dựa của sự tu hành của
chúng ta. Câu thứ tư:
Đại Bát Nhă Quang Minh Vân.
Vầng mây sáng Đại Bát Nhă.
Ư nghĩa
của Bát Nhă và trí huệ có khi giống nhau, nhưng hai chữ
này gộp chung một chỗ th́ ư nghĩa đương
nhiên có sai khác. Bát Nhă như
trong kinh Bát Nhă nói: ‘Thật Tướng Bát Nhă, Quán Chiếu
Bát Nhă, Văn Tự Bát Nhă’. Đại
trí huệ ở phía trước chúng ta giải nghĩa là
Huệ trong Giới - Định - Huệ; nhưng Định nhất
định phải có Giới, ‘Định cộng Giới’,
người có Định sẽ chẳng phạm lỗi. Người có Huệ gọi là ‘Đạo
cộng Giới’, Tŕ Giới ở trong đó c̣n cao minh
hơn nữa. Do đó ‘Huệ’
giống như ba tầng lầu, tầng thứ ba nhất
định bao gồm hai tầng dưới, tầng
dưới chẳng bao gồm tầng trên, Giới chẳng
bao gồm Định, Định chẳng bao gồm Huệ; Định
nhất định sẽ bao gồm Giới; Huệ nhất
định sẽ bao gồm Giới và Định. Bát Nhă, ở đây chúng ta y theo
cách nói của kinh Bát Nhă, Thật tướng Bát Nhă là Thể. Thật tướng vô tướng,
cũng tức là chẳng có Phân biệt trí, Thật trí,
đối với hết thảy pháp rơ ràng, minh bạch
nhưng trong đó chẳng có phân biệt. Phân biệt c̣n không có, th́ đâu có
chấp trước! Thế
nên được gọi là Thật Tướng Bát Nhă. Thật tướng tức là chân
tướng, người đó hiểu rơ chân tướng,
chúng ta thường gọi là hiểu rơ chân tướng của
vũ trụ nhân sanh rốt ráo triệt để, trí huệ
này được gọi là ‘Thật Tướng Bát Nhă’.
Thật
Tướng Bát Nhă khởi tác dụng gồm có hai loại:
một là ‘Tự thọ dụng’, hai là ‘Tha thọ dụng’. Tự thọ dụng là ‘Quán Chiếu
Bát Nhă’, dùng cách nói hiện nay tức là sống một
đời sống có trí huệ cao tột, hoặc giống
như những Pháp Thân đại sĩ đă chứng quả, các ngài sống đời sống viên
măn trí huệ, tương ứng với quang minh vân. Phàm phu chúng ta có thể sống
đời sống cao đẳng trí huệ, đó là rất
hiếm có, như vậy bạn mới hiểu được
Quán Chiếu. Tổng
cương lĩnh của Quán Chiếu, trong kinh Kim Cang, Phật
dạy: ‘Phàm những ǵ có tướng đều là
hư vọng’. Thế nên
đối với hết thảy pháp tướng, họ
có thể không phân biệt, không chấp trước, có thể
tùy duyên mà không phan duyên, cái ǵ cũng được, cái ǵ cũng
tự tại, mỗi ngày sinh hoạt thanh tịnh, khoái lạc
vô cùng! Tùy cảnh ngộ đều
an lạc, phú quư có sự khoái lạc của phú quư, nghèo hèn
có sự khoái lạc của nghèo hèn; phú quư, nghèo hèn là sự
tướng, khoái lạc đều bằng nhau, đều
b́nh đẳng, đều sinh hoạt rất viên măn, đều
được khoái lạc.
Đây là Quán Chiếu Bát Nhă, sự thọ dụng của
chính ḿnh. ‘Văn Tự Bát Nhă’
tức là lợi tha, Tha thọ dụng, giúp đỡ
người khác. Trong Văn Tự
bao gồm diễn nói, nói cách khác Quán Chiếu bao gồm sự
tướng, tức là làm ra h́nh dáng cho người ta coi,
ngày nay chúng ta gọi là ‘thân giáo’, Văn Tự Bát Nhă là ‘ngôn
giáo’. Do đó có thể biết
Thật Tướng Bát Nhă là ‘ư giáo’. Thân, ngữ, ư đều giáo hóa hết
thảy chúng sanh, đều giúp đỡ hết thảy
chúng sanh. Trong Thật Tướng
tuy nói là ư giáo, nhưng chẳng có niệm đầu của
‘ư’; nếu có niệm đầu của ‘Ư’ th́ không phải
là Thật Tướng Bát Nhă trí huệ. Bát Nhă là ‘tức tướng ly
tướng, ly tức đồng thời’ (chính ngay nơi tướng
mà ĺa tướng, cùng một lúc vừa là ‘ĺa’, vừa là
‘chính là’), như vậy mới
có thể phá trừ hết thảy mê hoặc. Câu thứ năm:
Đại Tam Muội Quang Minh Vân
Vầng mây sáng Đại Tam Muội.
Tam Muội là Phạn ngữ, là dịch âm từ tiếng Ấn Độ, nghĩa là ‘Chánh thọ’, hưởng thọ chánh thường (hưởng thọ một cách chánh đáng, đúng mực, hợp lư). Phật nói sự hưởng thọ của lục đạo chúng sanh chẳng chánh thường. Các thứ hưởng thọ được quy nạp thành năm loại lớn, thân có hai loại: ‘khổ thọ’ và ‘lạc thọ’. Khổ th́ vô lượng vô biên, Lạc cũng vô lượng vô biên, dùng hai loại này bao gồm hết cả. Tâm lư, chúng ta gọi là Tinh thần. Thân thể bằng xương thịt có hai loại ‘khổ’ và ‘lạc’ này. Tâm lư có hai loại: ‘Buồn’ và ‘Vui’. Đó là bốn loại: khổ và lạc là tương đối, buồn và vui cũng tương đối. Sau cùng c̣n một loại lớn, thân chẳng có khổ và lạc, tâm lư chẳng có buồn và vui, như vậy rất tốt, trạng thái n