Ḥa thượng Tịnh Không giảng tại
Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba 5-1998
Tập 5 (Số 14-12-05)
Chư
vị pháp sư, chư vị đại đức, đồng
học: V́ chúng ta dùng nhiều bản in khác nhau nên không thể
nêu lên số trang, số hàng mỗi lần, hy vọng mọi
người nghe giảng đến đâu tự ghi nhớ
lấy, lần sau nhất định sẽ nối tiếp
ở chỗ đó, đây là chuyện bất đắc dĩ,
xin mọi người chịu khó.
Xin mở
kinh. Lần trước giảng
đến trời Dục Giới:
Đó là cơi trời
Tứ Thiên Vương, cơi trời Đao Lợi, cơi trời Tu
Diệm Ma, cơi trời Đâu Suất Đà, cơi trời Hóa Lạc,
cơi trời Tha Hóa Tự Tại.
Đến
đoạn này, chúng ta đă giảng về Tứ Thiên
Vương, điểm quan trọng là phải hiểu sự
tiêu biểu pháp của Tứ Vương Thiên mới có thể
được thọ dụng chân chánh. Nói một cách đơn giản,
Đông Phương Tŕ Quốc Thiên Vương, xem tên biết
ư nghĩa, vị Thiên Vương này dạy chúng ta làm thế
nào bảo vệ quốc gia của ḿnh vĩnh viễn
được hưng vượng, chẳng suy thoái. Từ đó dẫn đến làm
thế nào giữ vững nhà ḿnh, bảo hộ thân ḿnh,
đời này chúng ta lập nghiệp, khỏe mạnh, vang
danh bốn biển, đức lưu đến đời
sau, đây là sự thành tựu chân thật trong đời
của chúng ta, thế nên ư nghĩa này rất sâu, rất rộng.
Nam
Phương Thiên Vương dạy chúng ta phải mong cầu
tiến bộ, thời đại vĩnh viễn luôn tiến
bộ, chúng ta thường nói người nào đó chẳng
theo kịp thời đại, ư nghĩa là như vậy. Thời đại biến đổi,
tiến tới hằng ngày; chữ Tiến ở đây có
thể hướng về mặt thiện, cũng có thể
hướng về mặt ác, đây là việc chúng ta không
thể không phân biệt. Nếu
tinh tấn về thiện pháp th́ đây là mặt chánh, quốc
thái dân an, mưa thuận gió ḥa; nếu tiến về
hướng ác như tham, sân, si, mạn th́ nhất định
sẽ đem lại động loạn trong xă hội,
thiên tai nhân họa, mọi người phải chịu khổ,
nhất định phải nhận thức việc này rơ
ràng. Phía trước đă nói
đến việc chư Phật tán thán Thế Tôn ‘biết
pháp khổ vui’, câu này rất phi thường! Niềm vui chân chánh không phải chỉ
là niềm vui trong đời này, đời sau vĩnh viễn
hưởng lạc, như vậy mới là niềm vui chân
chánh. Nếu nói đời này
chúng ta hưởng lạc, nhưng đời sau chịu
khổ, như vậy là sai rồi, sai quá đỗi! Những người đời
này hưởng lạc, đời sau chịu khổ không
biết là bao nhiêu, đây là việc chúng ta không thể không
cảnh giác. Trong lúc hưởng
lạc lại tạo nghiệp, khi phước báo hưởng
hết, ác nghiệp hiện tiền th́ bạn sẽ thọ
báo trong ba đường ác, như vậy là sai lầm to lớn. Nam Phương Thiên vương
tượng trưng cho sự tinh tấn có trí huệ, có lư
tánh, chẳng si mê, chẳng phải cảm t́nh.
Tây
Phương Thiên Vương là Quảng Mục Thiên
Vương, dạy chúng ta xem nhiều, tức là học tập
nhiều. Bắc Phương
Thiên Vương là Đa Văn Thiên Vương, nh́n nhiều,
nghe nhiều, vĩnh viễn giữ vai tṛ của một
người [t́m ṭi] học hỏi, tức là vĩnh viễn
làm một học sinh. Chỉ
khi chứng được Phật quả viên măn, cứu
cánh th́ mới ở tại vị trí người thầy,
đạo sư chân chánh; Đẳng
Giác Bồ Tát c̣n là học sinh, huống chi là những hạng
khác. Ḿnh vĩnh viễn phải
giữ tại địa vị học sinh. Người Trung Quốc thời
xưa nói: ‘Sống đến già, học đến già,
học chẳng hết’ chính là ư nghĩa này, cả đời
đến già c̣n hiếu học.
Trong nhà Phật gọi là ‘Học Nhân’, Học Nhân tức
là học sinh, học tập làm người, vĩnh viễn
học làm người. Ai có thể
làm người tốt, làm được viên măn, một mảy
tơ cũng chẳng thiếu sót?
Thành Phật, chỉ có Phật mới là một
người hoàn toàn, chúng ta phải hiểu đạo lư
này, phải hết ḷng học tập.
Dùng
cách nói hiện nay th́ những vật trên tay Tứ Thiên
Vương gọi là ‘đạo cụ’. Nói vậy th́ mọi người
dễ hiểu; đạo là tiêu biểu pháp, làm cho bạn
nh́n thấy, tiếp xúc đến th́ bạn liền biết
đại đạo lư của vũ trụ nhân sanh, tức
là phải nắm chắc nguyên tắc này để học
tập. Trên tay Đông
Phương Thiên Vương cầm đàn tỳ bà, nhạc
khí, không có nghĩa là ông ta thích ca hát, khiêu vũ, cách nghĩ
như vậy là sai. Ngài dùng cái
này để tiêu biểu làm thế nào hộ tŕ quốc gia
của bạn, hộ quốc quan trọng nhất là hành
‘trung đạo’. Nhà Nho nói
‘Trung Dung’, đạo Trung Dung, nhà Phật nói ‘Trung đạo
đệ nhất nghĩa đế’, ngài dùng sợi dây
đàn này để tiêu biểu pháp. Khi chỉnh dây đàn, vặn quá
chặt th́ nó sẽ đứt, quá chùng th́ âm thanh chẳng
kêu, nhất định phải vặn đến vừa
đúng, tiêu biểu cho ư nghĩa này. Vừa đúng, chẳng căng,
chẳng chùng, như vậy gọi là Trung Đạo, tiêu biểu
ư như vậy. Chỗ cao minh
của thánh nhân là biết giữ ở mức chính giữa,
chẳng lệch về hai bên.
Do đó đây là đạo cụ. Tay của Nam Phương Thiên
Vương cầm kiếm, kiếm tượng trưng
cho trí huệ, huệ kiếm, tiêu biểu cho ư này. Tay Tây Phương Thiên
Vương cầm rồng hoặc rắn, ở Ấn Độ
và Trung Quốc đều cho rằng rồng và rắn biết
biến hóa, tiêu biểu cho hết thảy người, sự,
vật trong xă hội thiên biến vạn hóa, bạn phải
nh́n rơ ràng. Tay phải cầm hạt
châu, châu tiêu biểu chẳng biến đổi, trong hết
thảy sự thay đổi bạn nắm được
nguyên tắc chẳng biến đổi. Bất biến tức là Định
Huệ, tức là Thành Kính, nắm vững nguyên tắc này
để xử sự, đối người, tiếp vật,
bất luận xă hội biến hóa như thế nào, chỉ
cần bạn nắm vững nguyên tắc th́ có thể ứng
phó như ư, giáo hóa tự tại.
Tay Bắc
Phương Thiên Vương cầm lọng (hay dù), lọng
che. Lọng tượng
trưng cho ngăn ngừa ô nhiễm; lúc chẳng có ô nhiễm
th́ xếp lọng lại, khi có ô nhiễm th́ giương lọng
ra. Xă hội hiện nay của
chúng ta ai cũng ư thức đến mức ô nhiễm trầm
trọng, tâm lư ô nhiễm, tinh thần ô nhiễm, tư
tưởng kiến giải ô nhiễm, sanh lư ô nhiễm,
hoàn cảnh bên ngoài ô nhiễm.
Hiện nay chúng ta tạo tượng của Tứ
Thiên Vương, lọng của Bắc Phương Thiên
Vương phải giương ra chứ không thể xếp
lại, chúng ta phải hiểu đạo lư này. Ư nghĩa giáo dục vô cùng sâu xa,
chúng ta không thể xem như thần minh, nếu xem như vậy
là sai, là mê tín.
Trời
Đao Lợi, người Trung Quốc gọi Thiên Chủ trời
này là Ngọc Hoàng Đại Đế, đại khái rất nhiều
tôn giáo ngoại quốc xưng là Thượng Đế, Thiên
Chúa chính là ngài. Có rất nhiều
cơi trời, mỗi tầng trời đều có Thiên chủ,
đều có một nhân vật lănh đạo, tại sao
chúng ta khẳng định là Đao Lợi Thiên Chủ, chẳng
phải Thiên chủ ở những cơi trời khác? Xem kinh điển của họ,
lư luận của họ, phương pháp tu hành rất giống
với trời Đao Lợi. Tu
thập thiện nghiệp đạo th́ có thể văng sanh về
cơi trời Đao Lợi. Chúng ta
coi kinh điển của Cơ Đốc Giáo, Moses có mười
điều răn, mười điều răn này rất
tương tợ với thập thiện nghiệp đạo. Chúng ta nhất định phải
hiểu, chẳng phải chỉ tin Thượng Đế bèn
được cứu, chẳng có việc này. Phải tu pháp của Thượng
Đế dạy, trong kinh điển Thượng Đế dạy
bạn làm thế nào th́ bạn phải làm theo như vậy
mới được. Nếu
bạn làm chẳng được th́ không thể sanh lên trời,
Ngài có điều kiện, như vậy mới hợp
t́nh, hợp lư, hợp pháp.
Chúng
ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ cũng có
điều kiện, không phải nói tôi tin th́ có thể văng
sanh, không được đâu.
Hiện nay có một số người đề
xướng Bổn Nguyện Niệm Phật, [nói rằng]
tôi phát nguyện văng sanh th́ quyết định được
sanh, đâu có chuyện đơn giản như vậy! Trong ‘Nguyện’ có ‘Hạnh’ th́ nguyện
này mới gọi là nguyện chân thật, trong kinh không biết
Phật đă nói bao nhiêu lần.
Nguyện mà không có Hạnh th́ gọi là nguyện suông,
nguyện đó hư giả, chẳng thể biến thành
hiện thực. Bạn phải
hiểu ư nghĩa này, Phật chẳng lừa gạt
người, tự ḿnh gạt ḿnh th́ sẽ bị thiệt
tḥi to lớn. Dùng Hạnh
để thực hiện Nguyện, biến nguyện vọng
của bạn thành thực tiễn. V́ sao chúng ta coi trọng Tam Phước,
Lục Ḥa, đây là pháp căn bản do Phật dạy
trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, ba đời
chư Phật đều tu ba điều này, đó chính là
Tịnh Nghiệp Chánh Nhân.
Chúng ta văng sanh tây phương Cực Lạc thế giới
tu Tịnh Nghiệp, chúng ta tin A Di Đà Phật, tin tây
phương Tịnh Độ, nguyện sanh tây phương Tịnh
Độ, điều kiện thấp nhất là phải làm
được Tam Phước, nếu chẳng làm
được Tam Phước th́ không thể văng sanh. Mỗi ngày niệm Phật, niệm
mười vạn tiếng Phật hiệu, người
xưa nói: ‘hét bể cổ họng cũng uổng công’,
lời này là lời chân thật, chẳng giả dối.
Trong
Tam Phước tối thiểu phải làm được
một điều th́ bạn mới có thể văng sanh. Nếu bạn có thể làm
được điều thứ nhất ‘Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
từ tâm chẳng sát hại sanh vật, tu thập thiện
nghiệp’, phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, th́ bạn có thể văng sanh Hạ Phẩm. Bạn có thể làm được
điều thứ hai, điều thứ hai
đương nhiên bao gồm điều thứ nhất,
tức là cộng thêm: ‘Thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ
các giới, chẳng phạm oai nghi’ th́ bạn văng sanh
Trung Phẩm. Đây là ba bậc
văng sanh nói trong kinh Vô Lượng Thọ. Nâng cao thêm, nếu bạn có thể
‘Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng
Đại Thừa, khuyến tấn hành giả’ th́ sẽ
văng sanh Thượng phẩm.
Đây là pháp căn bản, đâu có nói phát nguyện suông,
chẳng cần tu hành mà có thể văng sanh, Phật chẳng
nói như vậy. Muôn vàn xin
đừng hiểu lầm, chẳng thể bỏ uổng
nhân duyên hiếm có trong đời này. ‘Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện kinh’ là pháp căn bản, cả bộ kinh này nói về
cái ǵ? Chính là nói về Phước
thứ nhất: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát hại, tu
thập thiện nghiệp’, cả bộ kinh nói về
việc này. Bạn sẽ hỏi
bốn câu trong phước thứ nhất này phải nói
như thế nào? Cả bộ
Địa Tạng Bổn Nguyện kinh này là chú giải [cho bốn
câu này]. Tu học đúng
như lư, như pháp, Thiện Đạo đại sư nói: ‘Vạn
tu vạn người về’, ai cũng không bỏ
sót. Nếu bạn tu không
đúng như pháp th́ sẽ chẳng văng sanh nổi, Phật
chẳng nói sai, là bạn đă hiểu sai ư tứ trong ấy. Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật
dạy chúng ta ‘Đương hiếu ư Phật’, dạy
chúng ta tôn sư trọng đạo, đây là giáo nghĩa của
kinh Địa Tạng, nhất định phải hiểu những
đạo lư này.
Tu Diệm
Ma Thiên cũng gọi là Dạ Ma thiên, tên của cơi trời
này đúng ra phải là Tu Diệm Ma Thiên. Gọi là Dạ Ma thiên v́ thiên chủ
cơi ấy tên là Dạ Ma. Tu Diệm
Ma dịch nghĩa là ‘Diệu Thiện’, hiện nay lăo ḥa
thượng ở Phổ Đà Sơn của chúng ta cũng có
tên là Diệu Thiện. Cơi trời
này rất khoái lạc, rất hoan hỷ, ngoài việc tu thập
thiện nghiệp ra c̣n phải tu Định, phải thêm công
phu định lực mới có thể sanh về. Chỉ tu thập thiện nghiệp
th́ không được, chẳng thể văng sanh, chỉ có
thể sanh đến trời Đao Lợi mà thôi, muốn lên
trên phải thêm công phu định lực. Nói thật ra c̣n phải tu ‘Từ,
Bi, Hỷ, Xả’, đây là khoa mục chánh của cơi trời
Sắc Giới, họ cũng tu nhưng công phu
đương nhiên chẳng sâu bằng người cơi trời
Sắc Giới; nhưng vẫn có tu. Càng lên cao th́ ở mỗi tầng
công phu định lực, thiện lợi, chúng ta gọi
là tích công lũy đức, tăng lên gấp bội, cứ
lên mỗi tầng th́ tăng thêm gấp bội, thiệt chẳng
đơn giản! Mọi
người hăy suy nghĩ sanh lên trời đă chẳng dễ
rồi huống chi là văng sanh về Tây phương Cực
Lạc thế giới để làm Phật! Chuyện này chúng ta không thể coi
thường, không thể coi như quá dễ; nhưng cũng
không thể coi như quá khó, nếu quá khó th́ bạn sẽ
không dám tu. Coi quá dễ th́ sẽ
lơ là, khinh thường, nhất định sẽ làm hỏng
việc. Người ở Trời
Dục giới tu thượng phẩm thập thiện,
trong đó c̣n thêm một số ‘Vị đáo định’,
nghĩa là họ tu Định, công phu tu Định này vẫn
chưa đạt được tới tŕnh độ nhất
định. ‘Tŕnh độ nhất
định’ nghĩa là hoàn toàn đè nén, che phủ ‘Dục’,
chúng ta gọi là Dục Vọng, đức Phật quy nạp
thành năm thứ: ‘tiền tài, sắc đẹp, tiếng
tăm, ăn uống, ngủ nghỉ’ (Tài, Sắc, Danh, Thực,
Thùy) gọi là Ngũ Dục. Họ
đă đè phục được năm thứ Dục
này, tuy chưa đoạn nhưng nhất định chẳng
khởi hiện hành th́ mới có thể sanh đến trời
Sắc Giới. Họ đè
phục được ngũ dục, nhưng chẳng thể
đoạn, cũng có thể nói sáu tầng trời này càng
lên cao th́ dục niệm của họ càng lợt lạt. Nếu hoàn toàn đè phục hết
dục niệm, bày ngay trước mặt họ đích thật
chẳng động tâm, chẳng khởi ư niệm, th́ họ
sẽ lên cơi Sắc Giới.
Công phu định lực này kể là đă thành tựu,
họ có thể sanh đến cơi trời Sơ Thiền ở
Sắc Giới. Sắc Giới
có mười tám tầng trời.
Chúng ta xem tiếp kinh văn:
Phạm Chúng thiên, Phạm Phụ thiên, Đại Phạm thiên.
Trời Phạm Chúng, trời Phạm
Phụ, trời Đại Phạm.
Đây
là cơi Sơ Thiền. Ba cơi trời
Sơ Thiền này, chúng ta gọi là ba tầng, nhưng trên
thực tế chỉ là một tầng, phước báo
hưởng thọ chẳng giống nhau. ‘Phạm Chúng’ ví như nhân dân,
người dân thường; ‘Phạm Phụ’ ví như
đại thần, quan cao, quan lớn, sự hưởng
thọ đương nhiên cao hơn dân thường; ‘Đại
Phạm Thiên’ ví như Thiên vương, phước báo càng
lớn hơn. Cùng một tầng
trời có ba hạng hưởng thọ khác nhau. Tuy cơi Sơ Thiền ở Sắc
Giới có hưởng thọ, chư vị phải biết
họ chẳng có ư niệm, tâm địa thanh tịnh. ‘Phạm’ là tiếng cổ Ấn
Độ, dịch nghĩa là thanh tịnh. Sơ Thiền tâm địa đă
thanh tịnh rồi, lên cao hơn th́ chẳng cần nói nữa,
càng lên cao càng thanh tịnh.
Nhị
Thiền gọi là ‘Quang Thiên’
Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên, Quang Âm thiên.
Trời Thiểu Quang, trời Vô
Lượng Quang, trời Quang Âm.
Cổ
đức nói: Đại khái, Sơ Thiền vẫn c̣n tổ
chức giống xă hội nhân gian, có nhân dân, có quan liêu, có quốc
vương; Nhị Thiền trở lên chẳng c̣n nữa,
thế giới b́nh đẳng, chân chánh cộng ḥa, chẳng
có quốc vương, đại thần ǵ hết, mọi
người đều b́nh đẳng. Tuy b́nh đẳng nhưng phước
báo vẫn c̣n sai khác, sai khác do đâu mà có? Công phu tu hành mỗi cá nhân chẳng
giống nhau. Thí dụ chúng ta
học trong trường, cùng một lớp th́ mọi
người đều giống nhau, lúc thi cử th́ có hạng
nhất, hạng nh́, vẫn c̣n xếp hạng, vậy th́
có chỗ chẳng bằng nhau, trong chỗ đồng có chỗ
không đồng. Lúc chưa
thành Phật th́ hiện tượng này vẫn tồn tại. Cùng là Đẳng Giác Bồ Tát, Đẳng
Giác Bồ Tát cùng nhau thi cử cũng có hạng nhất, hạng
nh́, hạng ba. Chỉ đến
quả địa Như Lai th́ mới hoàn toàn b́nh đẳng,
một chút sai khác cũng chẳng có, những đạo lư
và sự việc này chẳng khó hiểu. ‘Trời Thiểu Quang’ có ánh sáng
nhưng ít hơn so với cơi khác; ‘Trời Vô Lượng
Quang’ th́ ánh sáng nhiều hơn.
Ánh sáng này từ đâu đến? Nói cho chư vị biết tâm
thanh tịnh sẽ phóng quang, tâm địa thanh tịnh sẽ
phóng ánh sáng.
Thật
ra hết thảy vạn vật đều phóng quang. Hôm trước Sư Ngộ Toàn
đem h́nh cho tôi xem, Sư nói ở ngoài đời có một
dụng cụ có thể chụp ‘Quang’ của người. Sư đi chụp rồi lấy
tấm h́nh cho tôi xem; tôi nói muôn vàn đừng bị gạt,
đừng bị người ta gạt. Đích thật con người có
Quang, vật cũng có Quang, ngay cả cỏ cây cũng có
Quang, đây là sự thật.
Quang của mỗi người có màu sắc khác nhau, lớn
nhỏ khác nhau, một số người luyện Khí Công
có thể nh́n thấy, người có công phu định lực
th́ chẳng cần nói nữa.
Nh́n thấy Quang trên thân người của bạn,
người luyện khí công gọi đó là ‘Khí’, họ gọi
bằng danh từ ‘Khí’, người tu thiền định
gọi đó là ‘Quang’. Từ
màu sắc và cường độ lớn nhỏ của
Quang có thể biết tâm hạnh của người này là
thiện hay ác. Tâm địa
thiện lương từ bi, tâm thiện, hạnh thiện
phóng ra Quang màu vàng kim, đây là thù thắng nhất, tốt
nhất. Kế đó là màu
vàng, màu kém hơn một chút.
Tại sao quỷ thần nh́n thấy người tu
hành th́ tôn kính? Họ nh́n thấy
Quang, năng lực này của họ là [nhờ quả] báo
[mà có] được, quỷ thần có quả báo
được Ngũ Thông. Họ
nh́n thấy người tâm địa hiền lương,
từ bi, hạnh thiện, chẳng phải là người
tu hành, nhưng Quang của những người này cũng
tốt, quỷ thần nh́n thấy đều tôn kính, chẳng
dám làm tổn hại.
‘Trời
Quang Âm’ có thể dùng Quang để diễn đạt âm
thanh. Ở cơi Nhị Thiền,
người ta trao đổi ư kiến chẳng cần nói
chuyện, nói chuyện rất mệt, nói nhiều th́ hao
hơi, mệt thân thể. Họ
trao đổi bằng cách phóng quang, người khác nh́n thấy
Quang ấy đều hiểu ư nghĩa chứa đựng
trong đó. Ngôn ngữ rất
có hạn, ngôn ngữ rất vụng về, từ Nhị
Thiền trở lên chẳng dùng ngôn ngữ, dùng phóng quang
để thay thế
Cơi
Tam Thiền c̣n cao hơn nữa, tâm địa thanh tịnh
hơn, Tam Thiền gọi là ‘Tịnh Thiên’.
Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên.
Trời Thiểu Tịnh, Trời
Vô Lượng Tịnh, Trời Biến Tịnh.
Cũng
là dựa trên sự sai khác của tâm thanh tịnh mà nói,
đây là ba cơi trời Tam Thiền.
Tam Quang, Tam Tịnh đều là công hạnh cao thấp.
Tứ
Thiền rất đặc biệt, tất cả có chín thứ
chẳng giống nhau, có chín cơi trời.
Phước Sanh Thiên, Phước Ái Thiên, Quảng Quả Thiên
Trời Phước Sanh, trời
Phước Ái, trời Quảng Quả.
Đây
là cơi trời thông thường ở cơi Tứ Thiền, giống
với cơi Tam Thiền kể trên.
‘Phước Sanh, Phước Ái, Quảng Quả’ gọi
là Phước Thiên. Phước
báo lớn nhất th́ không có Tam Tai.
Ở đó không có Tam Tai, Tam Tai là Hỏa tai, Thủy
tai, Phong tai. Hỏa tai có thể
thiêu đến cơi Sơ Thiền, Sơ Thiền có cả
ba Hỏa, Thủy, Phong tai, chẳng thể tránh. Nhị Thiền th́ bị Thủy
tai, nước có thể tràn ngập đến trời Nhị
Thiền, Nhị Thiền không có Hỏa tai, nhưng có Thủy
tai, Phong tai. Ở cơi trời
Tam Thiền tâm địa thanh tịnh, chẳng có Thủy
và Hỏa tai, nhưng lại có Phong tai. Đến cơi Tứ Thiền th́
phước báo lớn hơn, cả ba Thủy, Hỏa,
Phong tai đều chẳng có.
‘Thủy, Hỏa, Phong’ được gọi là Đại
Tam Tai trong kinh Phật. Tiểu
Tam tai là: ‘Kiếp đao binh, ôn dịch, cơ cẩn’,
cơ cẩn nghĩa là đói khát.
Chúng ta rất khó hiểu được ư nghĩa của
Đại Tam tai, Tiểu Tam tai.
Lúc trước đọc kinh cũng lơ là đọc
lướt qua, khi giảng kinh th́ y chiếu chú giải của
người xưa cũng lướt qua.
Mấy
năm trước tôi đến Nhật Bản phỏng vấn,
đến Quảng Đảo (Hiroshima) và Trường Kỳ
(Nagasaki), đến tham quan tận nơi những chỗ bị
dội bom nguyên tử, mới tự nhiên hiểu được
Tiểu Tam tai nói trong kinh Phật chính là chiến tranh nguyên
tử. Chỗ bị nổ
bom nguyên tử là nơi bị đao binh kiếp. Chiến tranh tám năm giữa
Trung Quốc và Nhật chưa kể là Tiểu Tam tai, chiến
tranh nguyên tử mới là Tiểu tam tai. Trong kinh Phật nói kiếp đao
binh kéo dài bao lâu? Bảy ngày bảy
đêm. Chiến tranh kéo dài bảy
ngày bảy đêm là kiếp đao binh. Chiến tranh tám năm giữa
Trung Quốc và Nhật chẳng phải là kiếp đao
binh, thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ
nh́ cũng chưa phải là kiếp đao binh. Chiến tranh nguyên tử, bom nguyên
tử nổ xong, [sau khi đến Nhật Bản] chúng tôi
mới bỗng nhiên hiểu được chuyện
Phật nói chính là chuyện này.
Sau khi nổ xong, phóng xạ tồn tại bảy
tháng bảy ngày. Sau bảy
tháng bảy ngày này bạn chưa chết, mạng của bạn
c̣n giữ được. Có
nhiều người bị nổ bom chẳng chết liền,
nhưng trong bảy tháng bảy ngày bị phóng xạ, họ
sống nổi hay không th́ sau bảy tháng mới có thể
xác định. Phật gọi
đây là ôn dịch, ôn dịch chính là việc này, là nạn
bị phóng xạ. Người
Nhật nói với chúng tôi, chỗ bị nổ bom đến
năm thứ tám sau khi bom nổ mới mọc cỏ, nghe
xong chúng tôi mới hiểu được lời Phật
nói, cơ cẩn (nạn đói) kéo dài bảy năm bảy
tháng và bảy ngày, sau đó đất mới mọc cây cỏ
được, nếu cây cỏ chẳng mọc nổi
th́ người ta đương nhiên sẽ bị
đói. Chúng ta hăy suy nghĩ
xem, sức mạnh của vơ khí nguyên tử hiện nay so với
trái bom nổ ở Quảng Đảo không biết là mạnh
gấp bao nhiêu lần. Ở
Quảng Đảo, Trường Kỳ bị nổ bom v́ bị
bụi phóng xạ nghiêm trọng nên tám năm sau cây cỏ mới
mọc nổi. Thế nên
đại chiến thế giới lần thứ ba xảy
ra tức là Tiểu Tam tai mà Phật đă nói. Đại Tam tai là sự hủy diệt
của tinh cầu, ngày nay chúng ta nh́n thấy hỏa tai, những
tinh cầu phát ra ánh sáng đó chính là hỏa, toàn thể là một
biển lửa, mặt trời chính là biển lửa. Chúng ta rất khó hiểu rơ trạng
thái của Đại Tam tai, hiện nay t́nh h́nh của Tiểu
Tam tai đại khái th́ chúng ta có thể hiểu được
đôi chút, thiệt đáng sợ vô cùng! Cơi trời Tứ Thiền mới
là cơi trời đủ phước báo, chẳng bị Tam
Tai.
Trong
Đại Trí Độ Luận, Phật nói người ở trời
Sắc Giới chủ yếu là tu thiền định, nếu
chỉ tu thiền định mà không tu phước th́
đâu có phước báo lớn như vậy! Thế nên họ phải tu Tứ
Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả, đây là chỗ
tồn tâm của thiên nhân trên trời Sắc Giới. Họ bố thí, tŕ giới, tu bố
th́ th́ tâm được vui, bố thí nhiều th́ khoái lạc
càng nhiều. Thế nên họ
có thể xả, chịu thí, nhờ vậy mới có thể
dùng công phu định lực của họ sanh đến
cơi trời Tứ Thiền. Sự
khác biệt ở cơi Tứ Thiền cũng do công phu định
lực sâu hay cạn, phước tu được ít hay
nhiều, từ đó mới sanh ra những tướng trạng
khác biệt.
Vô Tưởng Thiên.
Trời Vô Tưởng.
Cơi Tứ
Thiền c̣n một tầng đặc biệt, ‘Trời Vô
Tưởng’. Trong kinh Phật
nói đây là trời ngoại đạo, hơn phân nửa
đều là học Phật, giải sai ư tứ của Phật. Tu Định, trong Định, ư niệm
ǵ cũng chẳng khởi lên, một niệm chẳng sanh,
vô tưởng, tu thành công th́ văng sanh về cơi này. Chỉ có Định, chẳng có Huệ
là sai lầm; ư nghĩa của
Thiền Định là trong Định có Huệ. ‘Thiền Na’ là Phạn ngữ, dịch
nghĩa là ‘Tịnh Lự’, ‘Tịnh’ là Định, ‘Lự’ là
có công phu Quán Chiếu, cũng có nghĩa là họ hiểu
rơ, họ chẳng Định đến nỗi không biết
ǵ cả. Một niệm chẳng
sanh, nhưng mọi việc đều rơ ràng, chuyện ǵ cũng
minh liễu, như vậy mới gọi là Thiền Định. Nếu chỉ là một niệm
chẳng sanh, việc ǵ bên ngoài cũng chẳng biết,
như vậy là không được, là có Định chẳng
có Huệ, tu như vậy thành công th́ tương lai sẽ
văng sanh về cơi trời Vô Tưởng. Sự tu hành trong Phật pháp là ‘Định
Huệ đẳng tŕ’ gọi là Thiền Định. Sa Ma Tha, Tỳ Bà Xá Na, ‘Sa Ma Tha’ dịch
nghĩa là Chỉ Tức, ‘Tỳ Bà Xá Na’ dịch là Quán
Tưởng, hoặc Quán Kiến, Quán Sát, có những nghĩa
như vậy. Chỉ tu một
thứ th́ sẽ lệch về một bên, đều chẳng
thể thành tựu. Người
chỉ tu Định th́ dễ hôn trầm, tu thành công th́ sanh về
cơi Trời Vô Tưởng.
Người chỉ tu Huệ th́ không thể được
Định, tâm nhảy loạn xạ, vọng tưởng rất
nhiều. Tại sao chú trọng
tại Thiền Định? Thiền
là Định - Huệ đều bằng nhau, Định - Huệ
đẳng tŕ, công phu này mới chính xác.
Năm
thứ sau này là chỗ thánh nhân tu hành:
Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên.
Trời Vô Phiền, trời
Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện,
trời Sắc Cứu Cánh.
Thông
thường c̣n xưng là ‘Ngũ Bất Hoàn Thiên’, ai trụ
ở đó? Tiểu Thừa
Tam Quả, cũng được gọi là ‘Tịnh Cư
Thiên’, thế nên Tứ Thiền là Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Trời của phàm phu là trời
Phước Sanh, Phước Ái, Quảng Quả, và Vô
Tưởng, thiên nhân ở bốn cơi trời này chẳng
nh́n thấy thiên nhân ở trời Tịnh Cư, biết là
họ ở nơi đó tu hành nhưng không nh́n thấy họ. Giống như ở thế gian
này, địa cầu chúng ta cũng là Phàm Thánh Đồng
Cư Độ, có Phật, Bồ Tát, A La Hán trụ ở
địa phương này, loài người chúng ta chẳng
nh́n thấy họ. Quư vị tụng
Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, trong ấy nói đạo
tràng của tôn giả Ca Nặc Ca ở Tứ Xuyên, người
thường đến đó th́ thấy toàn là núi hoang vu,
chẳng nh́n thấy ǵ hết, lúc Ngộ Đạt quốc
sư đến đó nh́n thấy đạo tràng trang
nghiêm. Phải có duyên mới
nh́n thấy cơi Phàm Thánh Đồng Cư Độ, không có duyên th́
chẳng thấy. Trong kinh nói
tôn giả Ca Diếp c̣n chưa nhập Niết Bàn, c̣n ở
núi Kê Túc, ngài cũng thường ra ngoài đời, lúc ra
th́ chúng ta cũng chẳng nhận biết được,
ngài biết biến hóa. Ngài phải
đợi Phật Di Lặc ra đời, truyền y bát của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho Phật Di Lặc. Phật Di Lặc xuất thế,
trong kinh nói năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn
năm sau (5,670,000,000 năm), tôn giả Ca Diếp phải
đợi thời gian dài như vậy. Tâm người được
thanh tịnh, thọ mạng được tự tại,
muốn trụ bao lâu th́ trụ bấy lâu, chẳng trở
ngại.
Thế
nên tôi khuyên mọi người phải phát nguyện, nguyện
lực phải mạnh hơn nghiệp lực th́ bạn mới
chuyển, mới được tự tại. Nếu bạn không chịu phát
nguyện, đời này bạn nhất định sẽ
chịu vận mạng chi phối, bạn sẽ chẳng
thoát nổi vận mạng. Nhất
định phải phát đại nguyện xả ḿnh v́
người, th́ bạn mới được tự tại,
đời sống tự tại, thọ mạng tự tại,
trụ thế tự tại, giáo hóa tự tại, hết
thảy sự nghiệp chẳng có ǵ là không tự tại,
nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn! Tại sao không chịu phát nguyện! Đời Đường, Pháp Chiếu
đại sư, tổ thứ tư Tông Tịnh Độ,
ngài nh́n thấy Đại Thánh Trúc Lâm Tự của Văn Thù Bồ
Tát trên núi Ngũ Đài, đây là người có duyên. Ngài nh́n thấy Văn Thù, Phổ
Hiền, nh́n thấy pháp hội hơn một vạn
người tụ hội, Văn Thù Bồ Tát đang giảng
kinh thuyết pháp, Ngài c̣n ở đó nghe một buổi, c̣n
thỉnh giáo Văn Thù Bồ Tát:
‘Phật pháp đă đi đến
đời Mạt pháp, căn tánh người đời Mạt
Pháp độn, tu pháp môn ǵ dễ thành tựu?’.
Văn Thù Bồ Tát dạy Ngài tu pháp môn
Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Pháp Chiếu vốn là tham thiền, nghe xong lời dạy
của Văn Thù Bồ Tát, phát nguyện chuyên tâm niệm Phật. Ngài c̣n thỉnh giáo: ‘Làm thế
nào niệm Phật?’. Văn Thù Bồ Tát dạy
phương pháp niệm Phật cho Ngài. Sau đó ngài rời khỏi Ngũ
Đài Sơn, trên đường về đi đến
đâu ngài cũng đều ghi dấu hiệu, sợ lạc
đường, muốn lần sau trở lại. Kết quả là làm dấu
được vài chỗ rồi quay trở lại, chùa chẳng
c̣n nữa, chỉ c̣n một cảnh núi hoang vu, thế mới
biết là chẳng thể nghĩ bàn, đạo tràng đă
biến mất. Phàm phu chẳng
nh́n thấy Phàm Thánh Đồng Cư Độ, chẳng có duyên ấy
th́ chẳng nh́n thấy cảnh giới của thánh nhân.
Trong
kinh nói Phàm Thánh Đồng Cư Độ có ba chỗ: một là
thế giới Sa Bà của chúng ta, thứ hai là trời Đâu
Suất tức là tầng trời thứ tư trên cơi Dục
Giới, Đâu Suất Nội Viện là đạo tràng của
Di Lặc Bồ Tát, thiên nhân trời Đâu Suất chẳng
nh́n thấy, chỉ nghe nói, chẳng biết ở
đâu. Thứ ba là Trời Tịnh
Cư ở cơi trời Tứ Thiền tức là Ngũ Bất
Hoàn Thiên, ba chỗ này là Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Họ ở chỗ này tu hành, tuy
đều là thánh nhân Tam Quả, tại sao gọi là ‘Bất
Hoàn’? Chẳng c̣n đến Dục
Giới nữa, họ sẽ thành tựu ở chỗ
đó. Trong kinh nói người
lợi căn sẽ trụ ở Ngũ Bất Hoàn Thiên, trực
tiếp ở đó chứng quả A La Hán và siêu việt
Tam giới, siêu việt sáu nẻo luân hồi, đây là A La
Hán lợi căn. Nếu kém
hơn, họ c̣n phải thông qua Tứ Không Thiên mới có
thể xuất Tam giới; người lợi căn chẳng
cần thông qua Tứ Không Thiên, trực tiếp chứng quả
A La Hán, liền xuất Tam giới, đây là thiên nhân cơi trời
Tịnh Cư. Chúng ta không cần
phải giới thiệu thêm về Ngũ Bất Hoàn
Thiên. Kiến Tư phiền
năo trong Tam giới gọi là Kiến Tư Hoặc, tam giới
tám mươi mốt phẩm; Tam giới chia thành chín cơi, mỗi
cơi có chín phẩm, chín nhân chín thành tám mươi mốt phẩm
Tư Hoặc, đến Ngũ Bất Hoàn Thiên mới
đoạn hết, đoạn hết mới chứng quả
A La Hán.
Năm
xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trên
thế gian này, thị hiện thành Phật dưới cây Bồ
Đề, sau khi thành Phật giáo hóa chúng sanh. Giáo hóa chúng sanh cần có người
khải thỉnh, nếu không ai mời th́ Phật chẳng
thể dạy. Người thế
gian tuy biết đức Phật nhưng ai biết
được đây là một người có đại
tri huệ, đại đạo sư cho trời và người,
ai biết được?
Người thế gian chẳng có người thỉnh
th́ Phật phải nhập Niết Bàn, phải thị hiện
diệt độ. Thiên nhân ở
trời Tịnh Cư nh́n thấy, họ thấy đức
Phật Thích Ca thị hiện nên mau mau xuống để
thỉnh cầu, thiên nhân cơi trời Tịnh Cư thay thế
chúng ta thỉnh cầu nên đức Phật mới trụ
thế tám mươi năm, giảng kinh thuyết pháp cho
chúng ta trên ba trăm hội, chúng ta phải cảm kích
người cơi trời Tịnh Cư. Nếu họ không thỉnh pháp th́
thế gian này của chúng ta chẳng nghe được Phật
pháp, họ cũng rất từ bi, thương xót hết
thảy chúng sanh khổ nạn, khuyến thỉnh Như
Lai thuyết pháp.
Cơi
cuối cùng:
Ma Hê Thủ La Thiên
Trời Ma Hê Thủ La
Có
một số kinh nói Ma Hê Thủ La tức là Sắc Cứu
Cánh Thiên. Ở đây tại
sao phải liệt kê tên này riêng ra?
Trong kinh cũng có nói, Ma Hê Thủ La là thượng thủ
của thiên nhân cơi Tịnh Cư, ư nghĩa này cũng
hay. Tịnh Cư thiên tức
là Ngũ Bất Hoàn Thiên, vị đại đức
được tôn kính nhất xưng là Ma Hê Thủ La. Đây là do thiền định
được đại tự tại nên Ma Hê Thủ La cũng
có thể xưng là Đại Tự Tại thiên. Đây là mười tám tầng trời
Sắc Giới, giới thiệu đơn giản đến
đây.
Câu
tiếp theo:
Năi chí Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên.
Cho đến trời Phi
Tưởng Phi Phi Tướng Xứ.
Chữ
năi chí ở đây ngụ ư đă lược bớt. Đă lược bớt ‘Tứ Không
Thiên, Vô Sắc Giới Thiên’.
Thiên nhân ở trời Vô Sắc Giới thật sự
là phàm phu rất thông minh, rất có trí huệ. Ở Trung Quốc cổ đại,
Lăo Tử xuất hiện vào triều nhà Châu, thời đại
Xuân Thu (722 truớc công nguyên
đến 481 trước công nguyên),
cùng thời với Khổng Tử, lớn tuổi hơn
Khổng Tử. Người
này rất thông minh, ngài nói: ‘Tôi có một mối lo lớn
v́ tôi có thân này’. Ngài nói tôi có
một mối lo lớn, v́ sao?
V́ tôi có cái thân này. Thân là gốc
khổ, nếu không có thân thể th́ tốt biết mấy,
tự tại biết mấy; ngài là phàm phu bậc cao nên mới
biết thân là gốc khổ.
Làm sao xả bỏ thân, không cần nữa? Ngài chán ghét sắc thân, cộng
thêm công phu định lực của ngài, đích thật có
thể xả bỏ sắc thân này, ĺa khỏi, thăng lên
cơi trên, phần nhiều chúng ta gọi là Linh Giới; y theo
Phật pháp th́ chỉ có thần thức chẳng có sắc
thân, hạng này chúng ta xưng là ‘Vô Sắc Giới’. Người cơi trời Sắc Giới
đă xả bỏ Dục, đă xả bỏ ngũ dục
lục trần, phiền năo nghiêm trọng này, thoát ra khỏi
Dục Giới đến cơi Sắc Giới. Sắc Giới vẫn c̣n sắc
tướng, thân thể, hoàn cảnh cư trú, những thứ
này c̣n phiền phức, c̣n chưa rốt ráo, xả bỏ
những thứ này th́ lên đến Tứ Không Thiên. Tứ Không Thiên vẫn c̣n trong phạm
vi của lục đạo, chưa thoát ra khỏi lục
đạo.
Cơi
thứ nhất ở Tứ Không Thiên là ‘Không Xứ Thiên’,
sau khi ĺa khỏi Sắc Giới th́ vào Không Xứ, tâm duyên
hư không chẳng có sắc tướng, Định này gọi
là Hư Không Định. Thứ
nh́ gọi là ‘Thức Xứ Thiên’, ‘Không’ cũng xả bỏ,
Không và Sắc là hiển hiện tương đối cho
nên hư không chẳng chân thật.
Họ xả bỏ luôn Không, xả Không rồi vẫn
c̣n Thức tồn tại, chỗ họ duyên vào được
đặt tên là ‘Thức Xứ’.
Thật ra xả Không là chẳng chấp vào Không, chứ
không phải thật sự xả bỏ Không. Chẳng c̣n chấp trước
tướng Không, ư niệm Không và Sắc đối lập
nhau trong tâm chẳng c̣n nữa, lúc đó c̣n Thức, nên gọi
là Thức Xứ. Người
tu hành đến mức này nếu phát hiện ‘Thức’ vẫn
c̣n là một chuyện phiền phức, vẫn chưa rốt
ráo, Thức chính là Phân Biệt, Phân Biệt cũng xả
luôn th́ sẽ vào ‘Vô Sở Hữu Xứ Thiên’, tầng thứ
ba ở Vô Sắc Giới. Lúc
tu Định này th́ buông xả hết thảy cảnh giới
Trong - Ngoài, cảnh giới hai bên Trong - Ngoài đều buông
xả, xả bỏ hết nên gọi là ‘Vô Sở Hữu’. Đến tầng cao nhất ‘Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên’, v́ ngay cả Thức
cũng chẳng duyên vào nên gọi là ‘Phi Tưởng’; chỗ
chẳng khởi tác dụng cũng chẳng duyên vào nên gọi
là ‘Phi Phi Tưởng’. ‘Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng’ là cảnh giới cao nhất
trong Tam giới. Cách giải
thích Phi Tưởng Phi Phi Tưởng rất nhiều,
[chư vị] có thể tham khảo cách giải thích trong
kinh luận, kinh Lăng Nghiêm nói rất rơ ràng, một số
Phật Học Đại Tự Điển cũng có giải
thích rơ, trên đây đă giải thích về Vô Sắc Giới
Thiên.
Phần
đông những Học Nhân đến cảnh giới này
cho rằng đó là đại Niết Bàn trên quả vị
của Như Lai, họ chẳng biết đây là Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Thiên, cứ tưởng nhập vào cảnh
giới này th́ vĩnh viễn chẳng sanh chẳng diệt. Đâu biết họ c̣n thọ mạng,
thọ mạng của họ chính là công phu định lực,
công phu định lực của họ có thể duy tŕ
được bao lâu? Trong kinh
nói tám vạn đại kiếp, con số này rất lớn. Tám vạn đại kiếp là
ǵ? Thế giới này trải
qua một lần ‘Thành, Trụ, Hoại, Không’ gọi là một
đại kiếp. Đại kiếp
này có bốn Trung kiếp, tức là Thành, Trụ, Hoại,
Không. Thế giới Sa Bà chúng
ta hiện nay đang ở kiếp Trụ. Tám vạn đại kiếp tức
là thế giới này thành, trụ, hoại, không tám vạn lần,
họ có công phu định lực sâu như vậy, thọ
mạng dài như vậy. Sau
tám vạn lần thế giới thành, trụ, hoại,
không, th́ họ vẫn phải đọa lạc, chẳng
thể nâng cao thêm nữa, chỉ có thể đọa xuống.
Đọa lần này th́ đọa
rất thê thảm! Người
ta thường nói trèo cao, té nặng. Kinh Lăng Nghiêm nói người trời
Tứ Không đọa xuống, hơn phân nửa là đọa
vào địa ngục A Tỳ.
Từ nơi cao nhất rớt xuống chỗ thấp
nhất, tại sao? V́ báng Phật,
báng Pháp, báng Tăng, v́ lỗi hủy báng Tam Bảo nên phải
đọa địa ngục A Tỳ. Tại sao họ có ư niệm hủy
báng Tam Bảo? Họ tưởng
ḿnh đă thành Phật, chứng được đại
Niết Bàn, tại sao ngày nay vẫn c̣n đọa lạc? Trong tâm liền hoài nghi rằng lời
chư Phật Như Lai là giả, chẳng phải thiệt,
thế nên đọa lạc.
V́ họ hiểu sai, nhận lầm, đó chẳng phải
cảnh giới Niết Bàn của Như Lai. Không những chẳng phải quả
địa Như Lai, mà cũng chẳng phải là quả
địa Tiểu Thừa, hoàn toàn hiểu lầm.
Thế
nên khi càng tu lên trên, trong cảnh giới ấy tà - chánh rất
khó phân biệt, đây là lư do tại sao trong kinh Lăng
Nghiêm đức Thế Tôn giảng Năm Mươi Ấm
Ma cho chúng ta. Khi ma cảnh hiện
tiền mà chúng ta cho đó là cảnh giới Phật th́ sẽ
bị lầm to. Thế nên
người sơ học chúng ta muốn tránh ma cảnh th́
phương pháp duy nhất là phải y giáo phụng hành, tuyệt
đối thuận theo những ǵ Phật dạy trong kinh;
tuyệt đối chẳng thể nương dựa những
ǵ người khác nói, chẳng giống lời Phật dạy
trong kinh, như vậy mới có thể tránh rơi vào ma
đạo. Quan trọng nhất
là chúng ta phải tin Phật, chúng ta học theo Phật,
chúng ta thân cận một thiện tri thức, những ǵ vị
thiện tri thức này nói phù hợp với lời trong kinh
th́ chúng ta mới tin; trong kinh chẳng nói như vậy th́
chúng ta không tin, chẳng thể học theo họ. Phật nói vô lượng pháp môn, nói
là v́ ứng theo cơ duyên lúc đó nên mới nói, cơ duyên
khác nhau th́ Phật nói pháp khác nhau, v́ thế chúng ta muốn học
pháp môn nào, y theo kinh điển nào, điểm này vô cùng quan
trọng, được vậy mới chẳng đến
nổi giải sai chân thật nghĩa của Như
Lai. Thí dụ Phật nói với
chúng ta tây phương Cực Lạc thế giới tuyệt
đối là có thật, chúng ta tu Tịnh Độ th́ chỉ
noi theo kinh điển Tịnh Độ. Trong kinh điển khác Phật
nói vạn pháp đều không, nếu bạn nói trong kinh
đức Phật nói hết thảy pháp đều không,
nên tây phương Cực Lạc thế giới cũng
không, thế th́ trật lất, bạn tin như vậy th́
chẳng phải bạn đă bỏ uổng cơ hội
này hay sao. Học pháp môn nào
th́ chỉ tu học noi theo kinh điển của pháp môn
đó mà thôi, những kinh điển nói khác với kinh
này th́ tuyệt đối chẳng thể y theo kinh đó.
Thực
ra đạo lư này rất cạn cợt, chẳng sâu lắm,
chẳng khó hiểu. Giống
như học trong trường đại học hiện
nay, bạn học khoa hệ nào, nhất định phải
học theo khóa tŕnh của khoa hệ đó, bạn chẳng
thể học khoa khác; nếu bạn học lớp của
khoa hệ khác, chẳng giống với khoa mục của
bạn, không những không trợ giúp mà ngược lại
có thể phá hoại, đây không phải là đạo lư này
sao! Trong kinh Phật thường
dùng Y Vương để thí dụ, thí dụ này càng rơ
hơn nữa. Thầy thuốc
bắt mạch cho bịnh nhân rồi kê toa thuốc, người
khác không dám uống theo toa thuốc của bạn, v́ bịnh
của họ không giống bịnh này. Nếu uống thuốc này, uống
vô rồi th́ xong ngay, người khác uống thuốc này
th́ chết liền. Tám vạn
bốn ngàn pháp môn, tám vạn bốn ngàn toa thuốc khác
nhau, chữa cho tám vạn bốn ngàn người bịnh
khác nhau, làm sao uống bừa băi được! Thế nên chúng ta tu pháp môn văng sanh,
nhất định phải noi theo ‘kinh văng sanh’. Trong Đại Tạng kinh th́ tam kinh
nhất luận gọi là ‘kinh văng sanh’, đó là kinh Di Đà,
kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ,
Văng Sanh Luận của Thiên Thân Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh
Nguyện Phẩm, Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông
Chương là sau này mới thêm vào, thêm rất đúng, cũng
có thể noi theo, tuyệt đối sẽ không tạo
thành vấn đề, hiện nay xưng là Ngũ Kinh Nhất
Luận. Chúng ta niệm Phật
cầu văng sanh phải nương nhờ những kinh
điển này, như vậy là không sai, chẳng thể
nương vào những kinh khác.
Nếu những ǵ nói trong kinh điển khác
tương ứng, phù hợp với lư luận,
phương pháp, cảnh giới nói trong Ngũ kinh Nhất
luận này th́ chúng ta có thể tham khảo, nếu không
tương ứng th́ chúng ta tuyệt đối không thể
đọc, nhất định đừng xem, được
vậy th́ công phu của chúng ta mới có thể nắm vững,
mới có thể thành tựu.
Nếu kinh ǵ bạn cũng xem, kinh ǵ cũng học,
vậy th́ bạn bị phiền phức lớn lắm,
không những bạn tự tu học chẳng thể thành tựu
mà cũng chẳng thể giáo hoá chúng sanh. Khi bạn giáo hóa chúng sanh, lấy
một chút ở chỗ này, lấy một ít ở chỗ
kia, sẽ làm cho chúng sanh loạn đến mê hoặc
điên đảo. Ngày nay học
Phật vô cùng khó khăn, tại sao tôi không dạy trong Phật
Học Viện, đạo lư là như vậy. Phật học viện mở ra rất
nhiều lớp học, mời rất nhiều pháp sư,
giảng cho học sinh ngày ngày đều điên đảo,
như say, như cuồng, chẳng đạt được
hiệu quả. Bản thân tôi
học Phật đạt được một chút lợi
ích v́ may mắn, gặp được thiện tri thức,
do một người dạy, chỉ tiếp nhận lời
của một nhà, đi theo một con đường, nên
rất đơn thuần, chẳng phức tạp, chẳng
có nghi hoặc, điểm này rất quan trọng, vô cùng
quan trọng! Sau này chúng tôi mới
hiểu cái mà nhà Nho, nhà Phật gọi là Sư Thừa chính
là ư nghĩa này. Tôi chỉ học
theo một thầy, nghe lời của một thầy mà
thôi, vị thầy này đối với tôi phải chịu
trách nhiệm. Nếu tôi c̣n muốn
học theo người khác th́ người thầy này chẳng
có cách ǵ để dạy. Thật
sự thân cận thiện tri thức, noi theo Sư Thừa
của người xưa, bạn theo sát vị thầy
này, nhất định chẳng thể học theo người
thứ hai, chẳng thể nghe lời dạy của
người thứ hai, được vậy th́ bạn mới
thành tựu. Vị thầy này
phải chịu trách nhiệm nhân quả đối với
bạn, trách nhiệm này rất nặng, nếu chỉ sai
đường cho bạn, dẫn đi lầm đường
th́ vị thầy này phải thọ ác báo. Nếu bạn chẳng chịu tiếp
nhận, bạn cứ đi khắp nơi nghe người
khác, vẫn c̣n xem bài của người khác, vậy th́
người thầy này sẽ chẳng chịu trách nhiệm
cho bạn.
Hiện nay trở về sau có lẽ Sư Thừa sẽ
chẳng c̣n nữa, chẳng thể c̣n nữa, cho nên có thể
thành tựu được hay không hoàn toàn ở tại mỗi
cá nhân. Nói cách khác chẳng có vị
thầy hết ḷng phụ trách dạy bạn, nói thật
ra thầy giáo muốn t́m học sinh như vầy cũng
t́m không ra, hoàn toàn nhờ giác ngộ của ḿnh. Muốn chân chánh giác ngộ, chân
chánh thành tựu th́ cũng phải đi theo đường
cũ, học theo một vị thầy.
Tôi khuyên mọi người, ngày nay chúng ta học theo
ai?
Học theo A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật ở nơi đâu?
Kinh Vô Lượng Thọ chính là A Di Đà Phật.
Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ, tiếp
nhận lời dạy của A Di Đà Phật, những ǵ A
Di Đà Phật dạy chúng ta làm th́ chúng ta làm hết ḷng; những
ǵ A Di Đà Phật chẳng dạy chúng ta làm, chúng ta nhất
định không làm, chúng ta chỉ nghe lời dạy của
A Di Đà Phật, chẳng nghe bất người nào,
được vậy th́ đời này bạn nhất
định sẽ văng sanh!
Ngoài ra c̣n một vị đại đức có thể
giúp chúng ta là Ấn Quang đại sư, mỗi câu mỗi
chữ trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao đều
tương ứng với kinh văng sanh, nên thường
thường đọc Văn Sao của Ấn Tổ, làm
bạn với Ấn Tổ, nghe lời dạy của Ngài,
làm theo lời dạy của Ngài, đoạn ác tu thiện,
giữ trọn luân thường, làm tṛn bổn phận, tin
sâu nhân quả, chắc thật niệm Phật, nhất
định sẽ được văng sanh Tịnh Độ. Đây là con đường cầu
văng sanh, xuất ly tam giới lục đạo duy nhất
trong đời này của chúng ta, ngoài đường này ra
th́ chẳng c̣n con đường thứ hai nào khác. Xem đoạn kinh tiếp theo:
Nhất thiết Thiên chúng, Long chúng, Quỷ Thần đẳng chúng tất lai tập hội.
Hết thảy
chúng Trời, chúng Rồng, và các chúng Quỷ Thần đều
đến tụ hội.
Đoạn này nói về những chúng Thiên Long Bát Bộ. Chúng ta đọc tiếp, đoạn
kinh văn sau đây nói về các chúng thần.
Hựu hữu tha phương quốc độ, cập Sa Bà thế giới.
C̣n những cơi
nước ở phương khác và thế giới Sa Bà
Sa Bà thế giới là cơi của chúng ta, và c̣n những
thế giới ở phương khác.
Hải Thần, Giang Thần, Hà Thần.
Thần Biển,
Thần Sông lớn, Thần Sông nhỏ.
Đây là Thủy thần, thủy có lớn nhỏ,
người Trung Quốc gọi là Long Vương.
Thọ Thần, Sơn Thần, Địa Thần, Xuyên Trạch Thần, Miêu Giá Thần, Trú Thần, Dạ Thần, Không Thần, Thiên Thần, Ẩm Thực Thần, Thảo Mộc Thần, như thị đẳng thần, giai lai tập hội.
Thần Cây, Thần
Núi, Thần Đất, Thần Suối và Ao Đầm, Thần
Mùa Màng, Thần Ngày, Thần Đêm, Thần Hư Không, Thần
Trên Trời, Thần Ăn Uống, Thần Cỏ Cây, những
vị thần như vậy đều đến tụ hội.
Chúng ta gộp hai đoạn này nói chung. Hai đoạn này nói về Bát Bộ
và những chúng Thần.
Trước kia pháp sư Thánh Nhất ở Cửu Hoa
Sơn giảng Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh,
đối với những chúng thần này đều có giới
thiệu, thần cũng đến tham gia đại hội
này, lần tập hội này chẳng phải là ngẫu
nhiên, đều có nhân duyên sâu đậm với Địa Tạng
Bồ Tát lúc trước. Nếu
không có duyên, đức Phật Thích Ca Mâu Ni mở pháp hội
lần này tại cung trời Đao Lợi, họ có tư cách
ǵ để tham gia! Chúng ta thấy
đại chúng tham dự không thể có nghi hoặc, không những
có các chúng Trời, chúng Thần, phía sau c̣n có chúng Quỷ. Chúng ta xem tiếp kinh văn:
Phục hữu tha phương quốc độ cập Sa Bà thế giới chư đại quỷ vương, sở vị Ác Mục Quỷ Vương, Đạm Huyết Quỷ Vương, Đạm Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noăn Quỷ Vương, Hành Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ Vương [1], như thị đẳng Quỷ Vương giai lai tập hội.
Lại có những
đại quỷ vương ở các cơi nước
phương khác và thế giới Sa Bà, như Ác Mục Quỷ
Vương, Đạm Huyết Quỷ Vương, Đạm
Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noăn Quỷ
Vương, Hành Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc
Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phước
Lợi Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ
Vương, các quỷ vương như vậy đều
đến tụ hội.
Liệt kê ra mười hạng Quỷ
Vương. Quỷ đạo
cũng tương đối phức tạp, những vị
có phước đức trong quỷ đạo th́
được xưng là Quỷ Vương. Chúng ta ở nhân gian tu phước,
phước chẳng uổng phí, phước báo là chân thật,
những phước bạn tu, tương lai nhất
định sẽ được phước báo. Nhưng đến nơi nào để
hưởng phước
báo? Không nhất định. Phải coi bạn đến cơi
nào, nếu bạn có phước th́ bất luận ở
cơi nào cũng hưởng phước, đến quỷ
đạo cũng sẽ hưởng phước. Nói cho chư vị biết chỉ
có cơi địa ngục th́ chẳng có cách chi; nếu bạn
ở cơi người, cơi trời, cơi súc sanh, cơi quỷ, ai
có phước đều sẽ hưởng phước,
trong cơi quỷ th́ làm Quỷ vương. Những người, những
chúng sanh này đều có duyên với Phật, đặc biệt
là duyên với Địa Tạng Bồ Tát rất sâu, chúng ta từ
kinh này thấy chúng sanh mười pháp giới đều tụ
hội nơi đây, chẳng thể nghĩ bàn, trong hết
thảy pháp hội chúng ta chưa từng thấy. Kinh Hoa Nghiêm cũng có, mười
pháp giới chúng sanh cũng đến dự hội
nhưng sánh chẳng bằng kinh Địa Tạng. Tại sao? Hội kinh Địa Tạng này, phía
trước chúng ta thấy hết thảy chư Phật,
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật Như Lai một vị cũng không sót, hết
thảy đều đến đầy đủ, trong
kinh Hoa Nghiêm chẳng thấy được việc
này. Từ chư Phật
Như Lai đến chúng sanh địa ngục, đến
những quỷ vương, có rất nhiều quỷ
vương coi quản địa ngục, hết thảy
đều đến dự hội, vô cùng hiếm có!
Chúng ta đọc đoạn kinh này xong, nhất
định không thể coi thường, biết pháp hội
này thù thắng khôn sánh. Nguyên
nhân là ǵ? Những người
này, chư Phật Như Lai này đều là học tṛ của
Địa Tạng Bồ Tát, hôm nay thầy giáo có công chuyện,
học sinh đâu dám chẳng đến! Địa Tạng Bồ Tát có oai
đức lớn như vậy sao? Đúng vậy! Địa Tạng là ǵ? Tâm địa, chẳng phải
nói một người. Phía trước
vừa mở đầu đă giảng cho bạn, ‘Địa’
là tâm địa, chân tâm bản tánh, ‘Tạng’ là vô lượng
trí huệ đức năng có sẵn trong bản tánh, hết
thảy chúng sanh đều y theo cái này để tu hành thành
Phật. Ngày nay giảng Địa
Tạng pháp môn, hết thảy chư Phật Như Lai
đều ủng hộ, hết thảy chúng sanh phải
nương nhờ, dựa vào, thế nên pháp hội này thù
thắng hạng nhất, Hoa Nghiêm không thể sánh bằng,
Hoa Nghiêm cũng phải nương theo nó để khơi
dậy, nó là chỗ nương dựa căn bản. Thế nên chư vị phải hiểu
tánh trọng yếu của vấn đề này, chỗ
nương dựa căn bản chính là phước thứ
nhất nói trong Quán Kinh. Nói cho
chư vị biết nếu ngày nay chúng ta bỏ qua ‘hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
từ tâm không giết hại, tu mười nghiệp thiện’
th́ tu pháp môn ǵ cũng chẳng thể thành tựu ngay trong
đời này. Tại sao? V́ bạn không có căn bản cho
nên học Phật phải trải qua vô lượng kiếp. Chúng ta học Phật tuyệt chẳng
phải chỉ học đời này thôi đâu, trong kinh Vô
Lượng Thọ chúng ta thấy nhóm người cùng vua A
Xà Thế, nói thực ra chính là nói chúng ta, nhiều đời
quá khứ đă từng cúng dường bốn trăm ức
Phật, đến nay vẫn c̣n là phàm phu, vẫn luân chuyển
trong sáu nẻo. Cúng dường
bốn trăm ức Phật, tu hành, nghe pháp chẳng ít, tại
sao vẫn không thể thoát khỏi Tam Giới? Tại sao chẳng thể văng
sanh? Đây là như lúc trước
thầy Lư thường nói trong một vạn người
niệm Phật khó có được hai, ba người văng
sanh. Đạo lư ǵ? V́ bạn chẳng tu từ căn
bản.
Bạn đừng coi những người văng sanh,
văng sanh có tướng lành, có thể họ nghe kinh rất
ít, nghe pháp chẳng nhiều, nhưng họ thật sự
đă văng sanh. Bạn lại hỏi
thăm kỹ, người này nhất định hiếu
thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, tâm địa
rất từ bi. Bạn hỏi
thăm xem trong đời sống hằng ngày, xử sự
đăi người tiếp vật, họ tuyệt đối
phù hợp điều thứ nhất trong Tam phước,
có ai dạy họ không? Chẳng
có ai dạy họ. Họ vốn
là như vậy, họ làm người rất từ bi, rất
kính trọng người, họ thật sự làm
được. Chúng ta chẳng
bằng họ, tại sao vậy?
[Chúng ta mới] đọc được một ít
sách vở, học được một ít Phật pháp bèn
cống cao ngă mạn, cảm thấy ḿnh rất giỏi,
người ta chẳng bằng ḿnh. Họ có thể văng sanh, chúng ta
ngược lại bị lọt tuốt phía sau, c̣n phải
luân hồi, tại sao? Họ
chưa từng đọc sách, chẳng biết chữ, rất
khiêm tốn, rất nhún nhường, luôn cảm thấy
ḿnh chẳng bằng người, nhưng họ đă văng
sanh được. Thế nên
càng học nhiều, lúc trước thầy Lư nói lúc
chưa học th́ c̣n biết hiếu thuận cha mẹ, học
cao rồi, cha mẹ chẳng có học, học vấn cấp
bằng của họ cao hơn cha mẹ nhiều, học
càng cao th́ con mắt càng chạy lên trên đỉnh đầu,
ngay cả cha mẹ cũng chẳng coi ra ǵ, vậy th́ làm
sao có thể tôn kính sư trưởng! Người như vậy, một
ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu cũng
chẳng thể văng sanh. Thế
nên chúng ta nhất định phải hiểu đạo lư
này, y giáo phụng hành mới chẳng đến nỗi
lăng phí đời này. Bộ
kinh Địa Tạng, đức Phật Thích Ca mở pháp hội
tại cung trời Đao Lợi là để giảng pháp
căn bản, cho nên chúng sanh trong mười pháp giới
đều đến tham gia pháp hội này, chẳng thể
nghĩ bàn phi thường!
Tên những thiên thần, quỷ thần này chẳng
khó hiểu, mọi người có thể xem tên hiểu nghĩa,
ở đây tôi lược bớt.
Nếu các bạn muốn biết th́ có thể tham khảo
giảng kư của Thánh Nhất pháp sư. Giảng kư này phổ biến rất
rộng, ngài giảng rất hay, đơn giản, rơ
ràng. Xin xem kinh văn:
Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật cáo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát: nhữ quán thị nhất thiết chư Phật Bồ Tát cập thiên long quỷ thần, thử thế giới, tha thế giới, thử quốc độ, tha quốc độ, như thị kim lai tập hội đáo Đao Lợi thiên giả, nhữ tri số phủ.
Bấy giờ
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Văn Thù Sư Lợi
Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: ‘Ông xem hết
thảy chư Phật, Bồ Tát và thiên long quỷ thần
ở thế giới này và thế giới khác, cơi nước
này và cơi nước khác đều đến tụ hội
tại cung trời Đao Lợi như vậy, ông biết số
lượng bao nhiêu chăng?
Chữ ‘Bất’ này phải đọc là ‘phủ’,
như chữ ‘khả phủ’(có được hay
chăng? Có nên chăng?).
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là vị trí huệ hạng
nhất trong các Bồ Tát, Phật chẳng kêu ai khác, chỉ
kêu ngài. Nếu ngài không biết
th́ những vị khác chẳng cần hỏi nữa. Phật hỏi ngài, ông xem thử
những đại chúng đến dự hội ‘Nhất
thiết chư Phật Bồ Tát, cập thiên long quỷ thần’,
câu này nói về chánh báo, nói về những người
đến dự. Họ từ
đâu đến? ‘Thử thế giới, tha thế giới,
thử quốc độ, tha quốc độ’ bao gồm
tận hư không, trọn khắp pháp giới, đây là y
báo; chúng ta nói đến từ bốn phương tám
hướng, đến từ hết thảy pháp giới,
cơi nước chư Phật.
Nhiều người như vậy, ông biết số
lượng là bao nhiêu chăng?
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong hội kinh Vô Lượng
Thọ, chúng ta thấy đại chúng là hai vạn người,
đại chúng tham dự trong pháp hội này thật là chẳng
thể nghĩ bàn, nh́n thấy pháp hội thù thắng th́ biết
được tánh trọng yếu của pháp môn. Chúng ta hăy coi Văn Thù Bồ Tát trả
lời ra sao.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật ngôn: ‘Thế Tôn, nhược dĩ ngă thần lực, thiên kiếp trắc độ, bất năng đắc tri’.
Văn Thù Sư
Lợi bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, nếu dùng thần
lực của con tính đếm trải qua ngàn kiếp cũng
chẳng thể biết được’.
Lời này là thật, chẳng
phải giả. Văn Thù là vị
trí huệ hạng nhất trong các Bồ Tát, ngài nói dùng khả
năng của ngài quan sát, đo lường; chữ ‘độ’
tức là độ lượng (đo lường), dùng thời
gian bao lâu? ‘Ngàn kiếp’, thời
gian dài như vậy, dùng khả năng của ngài để
tính đếm, tính chẳng nổi. Số người dự hội
là bao nhiêu? Quá nhiều!
Phật cáo Văn Thù Sư Lợi, ngô dĩ Phật nhăn quán cố, do bất tận số.