Tập 7 (Số 14-12-07)
Xin mở
kinh. Lần trước giảng
tới đoạn đức Phật dạy cô Bà La Môn dùng
pháp môn Niệm Phật sẽ biết được mẹ
ḿnh sau khi chết thần hồn thác sanh vào cơi nào. Chúng ta biết Phật pháp Đại
Thừa, Tiểu Thừa, pháp môn vô lượng vô biên, môn
nào cũng có thể thành Vô Thượng Đạo. Tại sao Phật chẳng dạy
cô dùng phương pháp Tham Thiền, Tŕ Giới, Tŕ Chú? Tại sao không dạy những
pháp môn này mà lại đặc biệt dạy pháp môn Niệm
Phật, chúng ta nhất định phải hiểu hàm ư ở
đây. Bất cứ pháp môn
nào cũng có thể đạt được Định,
đều có thể khai Huệ, tổng cương lănh của
việc tu học Phật pháp tức là Định, Huệ,
chư vị nhất định phải hiểu việc
này. Cho nên vô lượng pháp
môn đều là phương pháp tu Định, Huệ, đều
là cánh cửa để khai trí huệ, phương pháp và cửa
vào chẳng giống nhau, nhưng mục tiêu đạt
được hoàn toàn giống nhau. Trong ấy đích thật có sự
sai khác dựa trên căn tánh khó hay dễ, duy chỉ có pháp
môn Niệm Phật là bao trùm cả ba căn, bất luận
là lợi căn [hay] độn căn, hơn nữa thành tựu
nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, dễ dàng, thế nên
Phật dùng pháp môn này để dạy cô. Cô quả thật rất giỏi,
nếu nói theo pháp môn của chúng ta, cô thuộc về
người hạng căn tánh thượng đẳng; v́
cô chỉ niệm một ngày một đêm liền đạt
được nhất tâm bất loạn, được
Định. Trong Định, cảnh
giới hiện tiền, chỉ có cô mới có thể nh́n
thấy. Nếu Phật nói cho
cô biết mẹ cô đă sanh lên trời Đao Lợi
được ba ngày rồi, chưa chắc cô có thể
tin tưởng, v́ chẳng chắc thật. Cô nghĩ có lẽ Phật thấy
cô rất đáng thương nên an ủi ḿnh, chưa chắc
đă là thiệt. Nhưng Phật
chẳng nói dối, nhất định phải là thiệt. Ḷng tin này chẳng chắc thật. Cô đích thân đến địa
ngục để xem, thế th́ chẳng nói lời nào
được nữa.
Hơn
nữa mẹ cô làm sao có thể sanh lên trời? Nhất định chẳng do Phật
lực, hôm qua [tôi] đă nói với chư vị. Nhờ tăng thượng duyên của
mẹ giúp cho cô dũng mănh tinh tấn, nội trong một
ngày có thể thành tựu Niệm Phật Tam Muội, mẹ
cô nhờ công đức này nên được sanh lên trời. Nếu cô chẳng thể dũng
mănh tinh tấn, chẳng đạt được Niệm
Phật Tam Muội, th́ mẹ cô chẳng được
phước lớn như vậy.
Phước của mẹ cô lớn hay nhỏ là dựa
trên công phu tu tŕ của cô sâu hay cạn. Lư luận này mới hợp t́nh, hợp
lư, hợp pháp. Thế nên thời
xưa khi con cháu đỗ đạt vinh hiển, cha mẹ
và tổ tiên của người ấy đều
được triều đ́nh phong thưởng; tại
sao triều đ́nh phải phong thưởng cha mẹ, tổ
tiên? Chúng ta thấy trong lịch
sử khi triều đ́nh phong quan, tuy cha mẹ của
người ấy chẳng c̣n tại thế, đă qua
đời, đều phong tước vị cho cha mẹ
bằng với tước vị của người ấy. Tại sao? Người ấy là hiếu tử,
thành tựu của ông ấy là nhờ cha mẹ dạy dỗ,
ông ấy v́ muốn báo ân cha mẹ nên mới dũng mănh
tinh tấn; cha mẹ, ông bà đối với ông ấy
đều là tăng thượng duyên thiện, là đạo
lư như vậy nên triều đ́nh mới phong thưởng. Đi khắp nơi trong các cơi nước
của chư Phật, hư không pháp giới, đạo lư
này đều được hết thảy chúng sanh khẳng
định, chân lư vĩnh hằng chẳng thay đổi
chính là ở chỗ này. Đọc
kinh này xong chúng ta mới biết làm sao siêu độ, siêu
độ sẽ được lợi ích ǵ, đây là thật
chẳng giả.
Kinh
Địa Tạng là kinh căn bản của Đại Thừa
Phật pháp, thật ra phải giảng kỹ nhưng thời
gian có hạn, chúng tôi chỉ giảng hai mươi buổi,
bốn mươi giờ, chẳng thể nói kỹ. Tương lai chúng tôi nhất
định sẽ t́m thời gian giảng kỹ hơn,
đây là pháp căn bản cho sự tu học của chúng
ta, nhất định không được coi thường. Chúng ta xem tiếp kinh văn:
Thời Bà La Môn nữ tầm lễ Phật dĩ, tức quy kỳ xá, dĩ ức mẫu cố.
Lúc đó Thánh Nữ Bà La Môn lễ
Phật xong liền trở về nhà. V́ nhớ mẹ.
Câu này quan trọng. Tại
sao có thể y giáo phụng hành?
Tại sao có thể ‘ngồi ngay ngắn niệm’, ngồi
ngay ngắn tức là dùng tâm chân thành, nhất tâm niệm Phật. ‘V́ nhớ mẹ’ tức là phát tâm
Bồ Đề, tương ứng với nguyên tắc của
kinh Vô Lượng Thọ: ‘Phát
Bồ Đề Tâm, Nhất hướng chuyên niệm’.
Đoan tọa niệm Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Kinh nhất nhật nhất dạ.
Ngồi ngay thẳng niệm
Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Trải qua một ngày một
đêm.
Cô
không ngủ, không nghỉ! Trong
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục chúng ta thấy pháp sư
Oánh Kha đời Tống, truyện kư ghi vị tỳ kheo
phá giới này đă làm rất nhiều ác nghiệp. Ưu điểm của ông là tự
ḿnh biết đă tạo ác quá nhiều nên tương lai nhất
định sẽ đọa địa ngục. Đă biết rồi tại sao c̣n tạo
nghiệp? V́ tập khí quá nặng,
khi gặp ác duyên chẳng thể tự kiềm chế. Nhưng ông biết tương lai
đọa địa ngục rất dễ sợ, nghĩ
đến quả báo này nên ông rất sợ. Ông hỏi những đồng
tham đạo hữu, họ cho ông một cuốn Văng Sanh
Truyện. Coi xong ông rất cảm
động, đóng cửa lại niệm Phật, không ngủ,
không ăn, cũng không uống nước, niệm suốt
ba ngày ba đêm, A Di Đà Phật đến. Kinh Di Đà nói nếu [niệm] một
ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày đến bảy ngày,
chúng ta thấy được, đây là thật chẳng giả. Chúng ta niệm Phật hết bảy
ngày, niệm hết bảy lần bảy ngày nhưng cũng
không thấy Phật, đó là v́ chẳng đúng như pháp,
vừa niệm vừa khởi vọng tưởng, tạp
niệm, cho nên chẳng có cảm ứng. Niệm Phật đúng cách th́ một
tạp niệm cũng chẳng có.
Giống pháp sư Oánh Kha v́ sợ đọa địa
ngục, cứu mạng khẩn cấp nên chẳng khởi
một tạp niệm, đây là người có căn tánh hạng
trung b́nh. Thánh Nữ Bà La Môn là
người thượng căn, một ngày một đêm
liền thành tựu, pháp sư Oánh Kha ba ngày ba đêm thành tựu,
chí thành khẩn thiết cảm động Phật đến
ứng. Đây là một ngày một
đêm đạt được Niệm Phật Tam Muội,
được Sự Nhất Tâm Bất Loạn.
Hốt kiến tự thân đáo nhất hải biên, kỳ thủy dũng phất, đa chư ác thú tận phục thiết thân, phi tẩu hải thượng đông tây tŕ trục. Kiến chư nam tử nữ nhân bá thiên vạn số, xuất một hải trung, bị chư ác thú tranh thủ thực đạm.
Bỗng thấy
thân ḿnh đến một bờ biển, nước biển
sôi sùng sục, có nhiều thú dữ toàn thân bằng sắt
bay nhảy trên biển, chạy qua chạy lại đuổi
nhau, lại thấy nhiều người trai và gái, số
nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt ch́m thoạt nổi
trong biển, bị các thú dữ tranh giành ăn nuốt.
Đây
là cảnh giới trong Định, cô thấy được
hiện tượng địa ngục, thấy những
người này đang thọ tội, chúng ta xem đoạn
kinh tiếp theo:
Hựu kiến Dạ Xoa.
Lại thấy Dạ Xoa
Dạ
Xoa là ác quỷ trong địa ngục.
Kỳ h́nh các dị
H́nh dáng khác nhau
H́nh
dáng kỳ quái
Hoặc đa thủ đa nhăn, đa túc đa đầu, khẩu nha ngoại xuất, lợi nhận như kiếm.
Hoặc nhiều tay nhiều
mắt, nhiều chân nhiều đầu, răng mọc
ch́a ra ngoài, bén nhọn như gươm
‘Lợi
nhận như kiếm’ [ư] nói răng của họ bén nhọn.
Khu chư ác nhân sử cận ác thú.
Lùa những tội nhân đến
gần thú dữ
Thú dữ
trong địa ngục rất nhiều, đều đang
ăn thịt tội nhân.
Đương nhiên tội nhân nh́n thấy thú dữ th́ chạy! Những quỷ Dạ Xoa xua
đuổi, bắt những tội nhân này lại cho thú dữ
ăn thịt, không phải chỉ xua đuổi mà thôi.
Phục tự bác quặc
Lại tự chụp bắt.
‘Bác
quắc’ là đánh bằng roi, lôi kéo rồi liệng.
Đầu túc tương tựu, kỳ h́nh vạn loại, bất cảm cửu thị.
Túm quắp đầu và chân
lại, h́nh trạng muôn thứ, chẳng dám nh́n lâu.
‘Chẳng
dám nh́n lâu’, không nhẫn tâm nh́n thấy cảnh ấy, nh́n
thấy trong ḷng tê tái. Đây là cảnh
tượng những người tạo ác nghiệp trong
thế gian này, đọa địa ngục chịu khổ. Thánh Nữ Bà La Môn đích thân nh́n
thấy. Đoạn kinh kế tiếp:
Thời Bà La Môn nữ dĩ niệm Phật lực cố tự nhiên vô cụ.
Lúc ấy Thánh nữ Bà La Môn
nhờ sức niệm Phật nên tự nhiên không sợ
hăi.
Cô
nh́n thấy hiện tượng địa ngục, nhờ
sức Niệm Phật Tam Muội giúp cô nh́n cảnh tượng
này mà chẳng sợ hăi.
Nhưng khởi ḷng thương xót, chẳng nhẫn
tâm nh́n thấy trạng thái bi thảm này. Vào đến địa ngục,
trong ấy cũng có người đến tiếp chuyện
với cô.
Hữu nhất quỷ vương, danh viết Vô Độc, khể thủ lai nghinh, bạch Thánh Nữ viết Thiện Tai Bồ Tát hà duyên lai thử.
Có một quỷ vương
tên là Vô Độc, cúi đầu nghinh đón, hỏi Thánh Nữ
rằng: ‘Lành thay, Bồ Tát! Duyên ǵ đến đây?’
Cảnh
giới địa ngục chỉ có hai hạng người
thấy được: một là tội nhân đến
đó để chịu tội; hai là Bồ Tát đến
đó độ hóa chúng sanh, chỉ có hai hạng người
này. Trừ hai hạng này ra,
địa ngục ở ngay trước mặt bạn cũng
chẳng nh́n thấy. Lúc
trước lăo cư sĩ Châu Kính Trụ kể cho tôi nghe
một câu chuyện, chuyện này có thật, cụ viết
trong sách của cụ. Nhân vật
chính trong câu chuyện này là cha vợ của cụ, tức
là ông Chương Thái Diệm.
Lúc ông Chương c̣n sống đă từng làm chức
phán quan cho Đông Nhạc đại đế, dùng cách nói hiện
nay tức là Bí Thư trưởng, địa vị rất
cao. Ở Trung Quốc có
năm ngục, năm ngục này có đại quỷ
vương, quản trị năm sáu tỉnh, địa vị
của ông Chương chỉ thấp hơn Diêm La
Vương. Diêm La vương
cũng giống như ông vua cai trị toàn quốc, c̣n ông
giống như một Chư Hầu, cai trị một
vùng, lớn hơn một tỉnh.
Ông Chương là một người học Phật,
biết h́nh phạt trong địa ngục rất thê thảm,
vô cùng tàn khốc. Ông có tâm nhân
từ, một ngày nọ đề nghị với Đông Nhạc
đại đế xin phế trừ h́nh phạt Bào Lạc
trong địa ngục; Bào Lạc là ǵ? Đốt cột sắt cho nóng đỏ
lên rồi bắt tội nhân ôm cột, vô cùng tàn khốc,
chúng ta gọi là h́nh phạt chẳng nhân đạo; hy vọng
Đông Nhạc đại đế có ḷng nhân từ, phế bỏ
h́nh phạt tàn khốc này. Đông
Nhạc đại đế chẳng nói ǵ hết chỉ
sai hai tiểu quỷ dẫn ông Chương đi đến
chỗ xử phạt để xem. Ông Chương liền đi theo
hai tiểu quỷ này, đại khái là đi hết một
đoạn đường rồi hai tiểu quỷ này
nói với ông: ‘Tới rồi, chỗ xử phạt ở
đó ḱa’. Ông nh́n về phía ấy
nhưng không thấy ǵ cả, lúc đó ông mới vỡ lẽ,
tự nhiên hiểu được.
Kinh Phật nói đây là cảnh giới do nghiệp lực
biến hiện ra, chẳng phải do Diêm La vương thiết
lập, Diêm La vương chẳng có cách ǵ phế trừ,
là do nghiệp lực biến hiện ra, từ đây mới
hiểu đạo lư giảng trong kinh Phật.
Những
cảnh giới trong địa ngục này, những dụng
cụ tra tấn, dạ xoa, ác quỷ đều là h́nh
tướng do ác nghiệp của ḿnh biến hiện tạo
nên, cũng như nằm mộng vậy; Tướng có
nhưng Thể không, Sự có nhưng Lư không, cảnh tượng
sai khác muôn vàn, đều là do ư niệm vọng tưởng
biến hiện ra. Thế nên
Phật dạy rất hay: ‘Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh’, tam ác đạo cũng từ tâm
tưởng sanh, tại sao trong tâm có ác niệm! Chúng ta hiểu được
đạo lư này rồi mới biết. Nếu chẳng muốn nh́n thấy
tam ác đạo th́ nhất định phải dứt trừ
những ác niệm trong tâm, không những không thể nói lời
ác, thân không thể tạo ác nghiệp, ư niệm cũng
không được khởi lên.
Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh, hết
thảy cảnh giới đều là ‘pháp’, chẳng có một
chuyện ǵ chẳng từ tâm tưởng sanh.
Người
có định lực nh́n thấy, Thánh nữ Bà La Môn vừa
chứng Niệm Phật Tam Muội v́ cô nhớ mẹ nên cảnh
giới này liền hiện ra.
Vô Độc quỷ vương đến tiếp
đón cô. Khể thủ là lễ
bái, tiếp đón cô rất lễ phép. Hỏi cô: “Lành thay Bồ Tát’, Thiện
Tai là xưng tán, hiếm có dịp được Bồ Tát
quang lâm đến địa ngục, chẳng biết v́
nguyên nhân ǵ mà ngài đến đây?” Xin xem tiếp kinh văn:
Thời Bà La Môn nữ vấn quỷ vương viết, thử thị hà xứ. Vô Độc đáp viết thử thị Đại Thiết Vi Sơn, Tây diện đệ nhất trùng hải.
Lúc đó Thánh nữ Bà La Môn hỏi
quỷ vương: ‘Đây này là nơi nào’? Vô Độc trả lời: ‘Đây là tầng
biển thứ nhất ở phía tây núi Đại Thiết Vi’.
Đây
là cảnh giới cô nh́n thấy.
‘Núi Đại Thiết Vi’ rốt cuộc là ở chỗ
nào? Trong kinh Phật nói ở
chính giữa Tứ Đại Bộ Châu là núi Tu Di, núi Tu Di rốt
cuộc là ở đâu? Bảy
tầng núi, tám tầng biển, bảy tầng núi ở
đâu? Trong kinh nói biển
nước mặn, chúng ta hiện nay thấy nước
biển có vị mặn. Cảnh
Phật nói chẳng phải cảnh giới của phàm phu
chúng ta, phàm phu chúng ta chẳng nh́n thấy. Chuyện này có thật không? Chắc chắn là thật. Tại sao chúng ta chẳng nh́n thấy? Chúng ta chẳng có khả năng
đột phá các tầng lớp không gian, nếu chúng ta có
công phu định lực, có thể nh́n thấy không gian bốn
chiều, năm chiều, sáu chiều, th́ những chân
tướng sự thật này sẽ phơi bày trước
mắt. Địa ngục này, tầng
biển thứ nhất ở phía tây của núi Thiết Vi,
Thánh nữ có thể nh́n thấy trong Định, giới hạn
trong Định đă bị đột phá. Chúng ta biết ở Trung Quốc
vào đời Đường, Trí Giả đại sư
đọc kinh Pháp Hoa nhập định, trong Định ngài
nh́n thấy núi Linh Thứu, thấy đức Phật Thích
Ca Mâu Ni giảng kinh Pháp Hoa ở núi Linh Thứu, ngài c̣n ở
lại nghe một buổi. Đây
là nói trong lúc nhập định, ngài đă siêu việt thời
gian. Trí Giả đại
sư cách Phật Thích Ca khoảng một ngàn bảy
trăm năm, đây là nói ngài có thể quay trở về
quá khứ; tự ḿnh ở núi Thiên Thai, ngồi ở đó
như như chẳng động, ngài có thể nh́n thấy
núi Linh Thứu ở Ấn Độ, đây là siêu việt
không gian. Do đó chỉ cần
có công phu định lực, trong Định chẳng c̣n phân biệt,
chấp trước nữa th́ có thể đột phá thời
gian và không gian. Thời quá khứ
và hiện nay có nhiều người tu Định đều
có khả năng này, đây là việc chúng ta có thể tin
được. Huống chi là
Thánh nữ Bà La Môn chân thành, khẩn thiết, dũng mănh
tinh tấn, đạt được Niệm Phật Tam
Muội, thế nên cô nh́n thấy cảnh giới địa
ngục. Hăy xem đoạn kinh
tiếp theo:
Thánh nữ vấn viết, ngă văn Thiết Vi chi nội địa ngục tại trung, thị sự thật phủ.
Thánh nữ hỏi: ‘Tôi nghe trong
núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật
không?’
‘Tôi
nghe’ nghĩa là lúc trước thường đọc kinh,
nghe kinh, nghe trong kinh Phật nói biển lớn trong núi Thiết
Vi có đại địa ngục.
Hỏi rằng: đó phải là sự thật hay
chăng? Từ đây có thể
thấy tuy thường nghe kinh, thường đọc
kinh, cũng tin tưởng lời Phật giảng,
nhưng vẫn đánh dấu hỏi như thường. Nếu không hoài nghi, đến chỗ
này c̣n hỏi quỷ vương làm ǵ! Chẳng cần hỏi họ. Do đó mới biết khó xây dựng
ḷng tin dường nào, trong kinh điển Đại Thừa,
đại kinh đại luận như Hoa Nghiêm, Đại
Trí Độ Luận, đức Phật nhiều lần nói rơ
ḷng tin rất khó được, ‘ḷng tin là mẹ của
công đức, cội nguồn của đạo [1]’. Cội nguồn của Bồ Tát
tu hành chứng đạo là ở tại ḷng tin, ḷng tin chân
chánh được xây dựng, chẳng lay động th́
tu hành chứng quả đâu cần ba đại
a-tăng-kỳ kiếp? Chẳng
cần lâu như vậy. Ḷng
tin của phàm phu chúng ta được gọi là ‘đạo
tâm như sương móc’ (lộ thủy đạo tâm), rất
dễ bị lay động, một cơn gió thổi nhẹ
th́ ḷng tin bay mất tiêu rồi, vậy th́ c̣n thành tựu ǵ
nữa! Trong kinh chúng ta đọc
được rất nhiều, chúng ta cũng thấy rất
nhiều, từ xưa đến nay thế pháp, Phật
pháp, bất hiếu cha mẹ, bội sư phản đạo,
nếu có thành tựu th́ đều lọt vào Ma đạo,
sau này chẳng thành tựu trong Phật đạo, mà là
[thành tựu trong] Ma đạo, chúng ta tin hay không? Những thứ này đều do
Phật nói trong kinh, là do Ma nhiếp tŕ. Chánh pháp nhất định là từ
hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng,
y theo lời dạy mà tu học đúng như lư, như pháp
th́ mới thành tựu. Đây là
chuyện chúng ta không thể không hiểu khi đọc kinh
luận Đại Thừa, không thể không lắng ḷng thể
hội. Hăy xem tiếp câu trả
lời của Vô Độc:
Vô Độc đáp viết, thật hữu địa ngục.
Vô Độc trả lời: ‘Địa
ngục có thật’
Trả
lời một cách vô cùng khẳng định, đích thật
là có địa ngục. Nói thật
ra trong sáu nẻo, những nẻo khác tạo ác ít, cơ hội
tạo ác ít, c̣n trong thế gian này cơ hội tạo ác
quá nhiều. Thiên nhân th́ hiếu
thiện hiếu đức, chỉ có A Tu La tập khí
chưa đoạn vẫn c̣n tiếp tục tạo ác. Chúng sanh trong ác đạo, chúng ta
gọi là cơi súc sanh, cơi ngạ quỷ, cơi địa ngục
chỉ có thọ tội, hoàn toàn không có cơ hội tạo
ác. Cơ hội tạo ác trong
cơi ngạ quỷ và cơi súc sanh đều ít, rắn độc
thú dữ tâm ác độc nhưng nó cũng sát hại chúng
sanh khác loại, sự sát hại rất hạn chế,
trong một đời nó có thể sát hại bao nhiêu sanh mạng? Chúng ta coi những thú dữ
như sư tử, hổ, khi chúng nó ăn no rồi, những
con thú nhỏ ở kế bên đi tới đi lui, h́nh
như nó không nh́n thấy vậy.
Chúng ta xem thấy trong chương tŕnh ‘Động vật
kỳ quan’ trên TV, cả đời nó sát sanh cũng ít,
đâu có bằng con người!
Con người giết hại sanh mạng không nhất
định là v́ miếng ăn, thế nên rất dễ tạo
nghiệp. Người giết
người không phải v́ muốn ăn thịt người,
ngày nay những vơ khí nguyên tử,
một trái bom nguyên tử dội xuống có thể giết
hại mấy trăm ngàn người, mấy triệu
người, bạn nói tội nghiệp này nặng bao
nhiêu! Họ làm sao không đọa
địa ngục cho được! Địa ngục từ đâu đến? Từ ác nghiệp biến hiện
nên, tuyệt chẳng phải do Phật tạo ra, cũng
chẳng phải do quỷ thần tạo ra, mà do nghiệp
lực của ḿnh biến hiện ra. Chúng ta xem kinh văn:
Thánh nữ vấn viết ngă kim vân hà đắc đáo ngục sở.
Thánh nữ hỏi: ‘Tôi làm thế
nào đến được địa ngục này?’
Thánh
nữ hỏi Vô Độc quỷ vương: ‘Tại sao tôi lại
đến chỗ này?’ Chính cô
cũng cảm thấy rất kinh ngạc.
Vô Độc đáp viết, nhược phi oai thần tức tu nghiệp lực, phi thử nhị sự chung bất năng đáo.
Vô Độc trả lời: ‘Nếu
không phải oai thần th́ phải là nghiệp lực. Ngoài hai sức này ra th́ trọn chẳng
thể đến được’
Vậy
là đă nói rơ, giống như lúc nảy chúng ta nói về
chuyện của ông Chương Thái Diệm, ông
Chương chẳng tạo nghiệp địa ngục
và cũng chẳng phải Bồ Tát nên địa ngục
ngay trước mặt nhưng ông không nh́n thấy. Nếu chẳng phải hai nguyên
nhân này, đi vô địa ngục cũng chẳng thấy
ǵ hết. Nhất định
phải có hai điều kiện: thứ nhất là ‘oai thần’,
đó là Bồ Tát đến địa ngục để
độ hóa chúng sanh, họ có thể thấy; thứ hai
là ‘nghiệp lực’, tức là tội nghiệp đọa
địa ngục, quả báo hiện ra.
Thánh nữ hựu vấn, thử thủy hà duyên nhi năi dũng phất, đa chư tội nhân cập dĩ ác thú.
Thánh
nữ lại hỏi: ‘Do duyên ǵ mà nước biển sôi
sùng sục, lại có nhiều tội nhân và thú dữ
như vậy?’
Cô hỏi
Vô Độc tại sao nước ấy lại sôi như vậy? ‘Dũng phất’ là như nước
sôi vậy, nước này rất nóng, chẳng lạnh, t́nh
trạng biển này như vậy.
Nhiều tội nhân và thú dữ trong nước này, do
duyên cớ ǵ? Kinh Lăng Nghiêm
nói về t́nh h́nh này vô cùng tường tận, nói rơ hiện
tượng và đạo lư cho chúng ta, đó là ‘tạo Thập
Tập Nhân [2], thọ Lục
Giao Báo [3]’, ‘tập’ tức
là tập khí, bạn tạo mười thứ tập khí
chẳng thiện, tức là tập khí của mười
ác nghiệp, thượng phẩm thập ác th́ bạn sẽ
cảm thọ lục giao báo trong địa ngục.
Vô Độc đáp viết, thử thị Diêm Phù Đề tạo ác chúng sanh tân tử chi giả.
Vô Độc trả lời: ‘Đó
là những chúng sanh tạo ác trong Diêm Phù Đề vừa chết’
Đây
là t́nh huống mà Thánh nữ thấy, ‘Diêm Phù Đề’ tức
là địa cầu chúng ta, chẳng phải là chỗ khác,
là bổn địa chúng ta. Những
người này vừa chết.
Kinh tứ thập cửu nhật hậu, vô nhân kế tự, vi tác công đức, cứu bạt khổ nạn, sanh thời hựu vô thiện nhân, đương cứ bổn nghiệp sở cảm địa ngục, tự nhiên tiên độ thử hải.
Quá bốn mươi chín ngày
không có người kế tự làm công đức để
cứu vớt khổ nạn, lúc sanh tiền lại chẳng
làm việc thiện, nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm
quả địa ngục, tự nhiên phải đến
biển này trước.
Chúng
ta đọc câu này: ‘tạo ác chúng sanh’, đọc đến
những câu kinh này lông tóc dựng đứng, đây chẳng
phải nói người khác mà là nói đến chính chúng
ta. Chúng ta khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ tạo tác, giống như kinh Địa Tạng
có nói: ‘chẳng có ǵ không phải tội’. Hiện nay mỗi ngày đều
tạo, mỗi tâm niệm đều tạo, tạo không
ngừng, khi hơi thở này không trở lại được
nữa th́ làm sao đây? Đúng
như trong Phật pháp có nói: ‘Chúng
sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân’, Bồ Tát có tâm cảnh
giác, chúng sanh ngu si, ngu muội, lúc quả báo chưa hiện
tiền th́ không màng đến, không tin tưởng, đến
lúc quả báo xảy ra th́ hối hận không kịp, thế
nên [đức Phật] mới dạy chúng ta dứt ác, tu
thiện. Cái ǵ là thiện? Phật dạy cho chúng ta pháp
căn bản, ba thứ tịnh nghiệp ‘Tam Phước’
nói trong ‘Quán kinh’. Phật dạy
rơ ràng, minh bạch như vậy, ba thứ này là ‘chánh nhân
Tịnh nghiệp của ba đời chư Phật’,
đó chính là Thiện. Trái
ngược với Thiện tức là Ác. Trong một đời chúng ta, những
ǵ ḿnh làm tương ứng với Thiện hay tương
phản với Thiện, tương phản tức là Ác; nếu
tương ứng với Thiện th́ sẽ được
phước báo trong cơi trời, người, nếu
tương ứng với Ác th́ sẽ chịu quả báo
trong ba đường ác, trong địa ngục.
Trong
Tịnh Nghiệp Tam Phước [4], điều
thứ nhất là phước nhân thiên, nếu bạn làm
được th́ đời sau sẽ sanh đến cơi
người, cơi trời hưởng phước; nếu
làm không được th́ coi tội nghiệp của bạn
nặng hay nhẹ mà đi thọ báo trong ba đường
ác. Ba đường ác là: ngạ
quỷ, súc sanh, địa ngục, coi bạn tạo ác nhẹ
hay nặng.
Điều thứ hai là phước Tiểu Thừa, nếu
bạn làm được tương ứng, y giáo phụng
hành, quả báo nhất định sẽ ở cơi trời,
hưởng phước trời.
Nếu tu hành có công phu, chứng đến Sơ Quả,
Nhị Quả, Tam Quả th́ sẽ sanh đến Ngũ Bất
Hoàn Thiên cơi trời Tịnh Cư để hưởng
phước. Nếu trái ngược
th́ nhất định sẽ sanh vào địa ngục, ác
quỷ thọ báo, chẳng có súc sanh. Trong cơi người có súc sanh, quả
báo của súc sanh th́ nhẹ hơn, c̣n địa ngục và
ngạ quỷ th́ quả báo nặng hơn, tại sao vậy? Phước của điều thứ
hai lớn hơn phước của điều thứ nhất,
cho nên nếu bạn tu được th́ phước sẽ
lớn, nếu trái ngược th́ đọa lạc cũng
khổ hơn, cùng một đạo lư.
Điều thứ ba là phước báo Đại Thừa, nếu
bạn y giáo phụng hành th́ bạn sẽ làm Bồ Tát, siêu
phàm nhập thánh; nếu trái ngược th́ nhất định
sẽ đọa địa ngục, chẳng đọa
ngạ quỷ, súc sanh, nhất định đọa địa
ngục.
Chúng ta phải hiểu rơ ràng, minh bạch, hiểu cả
Lư lẫn Sự, rồi sau đó ḿnh mới tin sâu chẳng
nghi. Trong đời sống hằng
ngày phải luyện công phu ở nơi nào? Nơi khởi tâm động niệm,
niệm niệm đều tương ứng với Phật,
niệm niệm đều tương ứng với Đạo,
Đạo là ǵ? Đạo là chân
như tự tánh, tương ứng với tánh đức,
đời này chúng ta hy vọng văng sanh mới có thể
đạt được, làm sao có thể làm ác hoài
được! Đời người
ngắn ngủi, đau khổ, đặc biệt là thời
đại ngày nay, cả thế giới động loạn,
tai biến vô thường, nhất định phải giác
ngộ hết thảy sự việc trên thế gian đều
như mộng, như huyễn, một thứ ǵ cũng chẳng
đạt được, đây là sự thật.
Gần đây chúng ta thấy kinh tế Đông Nam Á suy
thoái, bao nhiêu người có tiền có của, lúc b́nh thường
đều là những người hiển hách ghê gớm,
[một thời gian sau th́] nghe người ta nói họ tự
sát rồi. Tại sao lại tự
sát? Bị phá sản? Trong kinh Phật dạy: ‘Tài là vật
chung của năm nhà’ [5], chúng ta hiểu
rồi, không tiêm nhiễm mảy may, một ḷng hướng
về đạo, được vậy th́ chúng ta mới
được cứu. Trong
kinh Phật nói: ‘tiền tài, sắc đẹp, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghỉ’ là ngũ dục, là năm cội
gốc của địa ngục; nếu bạn tham luyến
chẳng xả, th́ bạn sẽ có phần tham dự vào cảnh
giới địa ngục giảng trong kinh Địa Tạng
này. Những cảnh giới
mà Thánh nữ thấy ở đó là những chúng sanh tạo
ác nghiệp trên địa cầu của chúng ta, bạn hăy
xem chúng sanh tạo ác nghiệp nhiều hay ít! Ở đây chẳng nói người
tin Phật mới đọa địa ngục, người
không tin Phật th́ sẽ chẳng đọa địa ngục,
chẳng có việc này. Nếu
nói người không tin Phật sẽ không đọa địa
ngục, vậy th́ chúng ta đừng tin Phật nữa;
người không tin Phật vẫn đọa địa
ngục như thường, bất luận là bạn tin
hay không tin. Bạn tu thiện
th́ nhất định sẽ sanh lên trời, tạo ác th́
nhất định sẽ đọa lạc, đây là
đạo lư nhất định, bất kể là bạn
tin hay không tin.
‘Những người mới chết, sau bốn
mươi chín ngày’, chẳng có con cháu vun bồi phước
cho họ. Đạo lư và
phương pháp cúng thất cho người mất đều
phát xuất từ kinh Địa Tạng. Trong kinh Phật đă nói lúc
người ta chết rồi nhưng chưa đi đầu
thai, đây là thân Trung Ấm.
Thân Trung Ấm mỗi bảy ngày phải trải qua một
lần ‘biến dịch’ sanh tử, họ rất khổ,
cho nên mỗi bảy ngày nên làm một lễ siêu độ
nhằm giảm bớt nỗi đau khổ của họ,
tu phước cho họ. ‘Lúc
c̣n sanh tiền chẳng trồng thiện nhân’, chẳng làm
việc thiện ǵ cả. ‘Nên
cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm quả địa
ngục, tự nhiên phải đến biển này trước’. ‘Tự nhiên’ nghĩa là không có bất
cứ ai cưỡng bức họ. Địa ngục chẳng do người
ta tạo dựng, cũng chẳng do Diêm La Vương thiết
lập, tự nhiên khi nghiệp lực hiện tiền th́
mới có hiện tượng này.
Chúng ta xem tiếp đoạn kinh tiếp theo:
Hải đông thập vạn do tuần hựu hữu nhất hải, kỳ khổ bội thử, bỉ hải chi đông hựu hữu nhất hải, kỳ khổ phục bội.
Phía đông
mười vạn do tuần của biển này c̣n có một
biển, những sự khổ ở đó gấp bội
biển này. Phía đông của
biển đó lại có một biển, sự khổ ở
đó lại gấp bội lên.
Càng vô trong th́ tội nghiệp càng nặng thêm, sự
khổ gia tăng gấp mấy lần những ǵ bạn
thấy ở đây. Hiện
nay những cảnh bạn nh́n thấy là tầng biển
thứ nhất, tội nghiệp c̣n nhẹ, tội cực
nặng bạn chưa thấy.
Tam nghiệp ác nhân chi sở chiêu cảm, cộng hiệu nghiệp hải, kỳ xứ thị dă.
Do ác nhân của
ba nghiệp chiêu cảm nên, gọi chung là biển nghiệp,
chính là chỗ này.
Cảnh bạn nh́n thấy trong kinh Phật gọi là
‘biển nghiệp’, biển nghiệp là biển khổ. Ba nghiệp là thân, ngữ, ư tạo
tác ác nghiệp nên bị những quả báo này. Địa ngục là như vậy,
mười pháp giới cũng như vậy, hiện
tượng này đều do tự tâm biến hiện. Kinh Hoa Nghiêm nói về một nguyên
tắc chung, cương lănh chung là ‘duy tâm hiện, duy thức
biến’, duy tâm hiện trong ấy chẳng có Thức,
chẳng có Thức nghĩa là chẳng có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước.
Chư vị nên biết vọng tưởng là A Lại
Da, chấp trước là Mạt Na, phân biệt là ư thức
thứ sáu. Nếu chẳng
dùng tám thức, năm mươi mốt tâm sở th́ đó
chính là ‘duy tâm hiện’, cảnh giới duy tâm hiện, trong
kinh Phật gọi đó là ‘Nhất Chân pháp giới’. Nếu bạn rơi vào vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước th́ sẽ khởi
biến hóa trong Nhất Chân pháp giới, duy thức biến,
tùy theo nghiệp lực của bạn. Nghiệp lực chính là vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, biến hiện
ra thập pháp giới. Thập
chẳng phải là một con số, chư vị phải
hiểu, ‘thập’ tiêu biểu cho vô lượng. Vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước của mỗi người chẳng giống
nhau, pháp giới biến hiện của mỗi người
chẳng giống nhau, thế nên pháp giới vô lượng
vô biên. Nếu rơi vào tham,
sân, si, mạn th́ những cảnh giới biến hiện
ra chính là biển nghiệp nói ở đây, Thánh nữ Bà La
Môn đích thân nh́n thấy biển nghiệp này. Xin xem tiếp kinh văn:
Thánh nữ hựu vấn quỷ vương Vô Độc viết, địa ngục hà tại.
Thánh nữ lại hỏi quỷ
vương Vô Độc: ‘Địa ngục ở đâu?’.
Cô hỏi:
‘Địa ngục ở đâu?’
Vô Độc đáp viết, tam hải chi nội, thị đại địa ngục.
Vô Độc trả lời:
‘Trong ba biển đều là đại địa ngục’.
Biển
nghiệp mà bạn nh́n thấy hôm nay chính là địa ngục.
Kỳ số bá thiên, các các sai biệt.
Số nhiều
trăm ngàn, mỗi ngục đều khác nhau.
Có địa ngục lớn, lại c̣n địa ngục
nhỏ phụ thuộc.
Sở vị đại giả, cụ hữu thập bát.
Những địa
ngục lớn tổng cộng có mười tám.
Đây là như người thế gian chúng ta nói đến
mười tám tầng địa ngục. ‘Mười tám’ địa ngục
là nói đến những địa ngục lớn.
Thứ hữu ngũ bá, khổ độc vô lượng. Thứ hữu thiên bá, diệc vô lượng khổ.
Bậc kế
đó có năm trăm, vô lượng sự khổ độc. Bậc kế nữa có đến
trăm ngàn, cũng có vô lượng sự khổ.
Đại địa ngục trong kinh nói có tám ngục lạnh,
tám ngục nóng. Trong kinh Phật
nói đại địa ngục đều ở phía
dưới núi Thiết Vi.
Chúng ta coi kinh tiếp:
Thánh nữ hựu vấn đại quỷ vương viết, ngă mẫu tử lai vị cửu, bất tri hồn thần đương chí hà thú.
Thánh nữ lại
hỏi đại quỷ vương: ‘Mẹ tôi mới chết
chưa lâu, không biết thần hồn của bà đă
đi đến cơi nào?’
Cô đến hỏi thăm chuyện của ḿnh. Cô nói với quỷ vương Vô
Độc rằng mẹ cô vừa mất không lâu, không biết
hiện nay thần hồn của bà ở nơi
đâu? Người thế
gian chúng ta gọi [thần hồn] là ‘linh hồn’.
Quỷ vương vấn thánh nữ viết, Bồ Tát chi mẫu tại sanh tập hà hành nghiệp.
Quỷ
vương hỏi Thánh Nữ: ‘Mẹ của Bồ Tát lúc
c̣n sống thường làm những nghiệp ǵ?’
Hỏi cô: ‘Mẹ cô lúc c̣n sống làm nghề ǵ?’ Hỏi làm nghề ǵ th́ biết
nghiệp của bà tạo là ǵ, thiện hay chẳng thiện,
đại khái có thể phán đoán sau khi chết đi th́
bà sẽ sanh đến cơi nào.
Thánh nữ đáp viết, ngă mẫu tà kiến, cơ hủy Tam Bảo.
Thánh nữ trả
lời: ‘Mẹ tôi tà kiến, khinh chê hủy báng Tam Bảo’
Tri kiến chẳng chánh, đây là chánh và tà. Chánh tri chánh kiến là ǵ, chúng ta phải
rơ ràng, minh bạch. Nói thật
ra, tri kiến của lục đạo phàm phu đều
chẳng chánh, đây là điều chúng ta phải biết. Nếu chúng ta có chánh tri chánh kiến
th́ làm sao lại sanh đến lục đạo! Ngoài lục đạo là Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; Thanh Văn là Chánh giác, Bồ
Tát là Chánh Đẳng Chánh Giác. Quỷ
vương hỏi Thánh nữ, xưng cô là Bồ Tát, rằng:
‘Mẹ của Bồ Tát, lúc c̣n sống làm nghề ǵ?’ Thánh nữ nói mẹ cô ‘tà kiến’. Tà và chánh đều có tiêu chuẩn,
trong Phật pháp th́ tri kiến của A La Hán mới
được kể là chánh tri chánh kiến, thế nên
trong kinh Phật nhắc chúng ta lúc c̣n chưa chứng quả
vị A La Hán th́ không thể tin tri kiến của ḿnh, nếu
bạn cho rằng tri kiến của bạn là chính xác th́ sẽ
có vấn đề. Tại
sao nói tri kiến của A La Hán mới là chánh tri chánh kiến? A La Hán đă đoạn dứt Kiến
Tư phiền năo, cũng nghĩa là coi việc ǵ cũng
khách quan, nói như vậy th́ quư vị dễ hiểu
hơn. Tại sao? Ngài không có ‘Ngă (Tôi)’, vô ngă, đă
đoạn dứt ngă chấp rồi.
Lục đạo phàm phu khởi tâm động niệm
đều có ‘Tôi’, có ‘Tôi’ th́ sẽ có thành kiến, có quan niệm
chủ quan, tự nhiên bạn sẽ nh́n sự việc sai
lầm; tôi tưởng là đúng, tôi tưởng là chính
xác, có một cái nh́n của tôi, như vậy là ‘hỏng’ mất
rồi. Thế nên đoạn
dứt Kiến Tư phiền năo th́ tri kiến mới
được kể là ‘chánh’, tiêu chuẩn là ở chỗ
này. Chưa đoạn Kiến
Tư phiền năo th́ chánh tri chánh kiến ở đâu
ra! Hiện nay chúng ta phải
làm sao? Chúng ta mới bắt
đầu học Phật, một phẩm Kiến Tư
phiền năo cũng chưa đoạn, biện pháp duy nhất
là nương nhờ vào Phật, thế nên phải nói
đến tầm quan trọng của ‘Tam Quy Y’, y pháp chứ
không y người. Học pháp
nhất định phải có thầy chỉ đạo, nếu
không có thầy chỉ dẫn th́ bạn chẳng có biện
pháp nương dựa trong Phật pháp. Kinh luận Phật nói quá nhiều,
nếu bạn nương dựa vào tất cả kinh luận,
th́ bạn chẳng có trí huệ, trong kinh này Phật nói
Không, trong kinh kia lại nói Có, rốt cuộc là Không hay là Có? Bạn sẽ trở nên mờ mịt,
lộn xộn, bạn sẽ chẳng có cách ǵ để
nương dựa. Lúc tôi mới
học Phật, đại học Đài Loan có một giáo
sư rất nổi danh, hiện nay đă qua đời. Ông nói với tôi: ‘Có lúc kinh Phật
nói có lư, có lúc th́ chẳng có lư’.
Tôi nói: ‘Chỗ nào chẳng có lư?’.
Ông nói: ‘Tôi đă coi kinh Kim Cang’.
Tôi hỏi: ‘Kinh Kim Cang nói như thế nào?’.
Ông nói: ‘Giống như hai thùng nước, đổ
qua đổ lại, có khi th́ nói Có, [xong rồi] có chỗ lại
nói Không, rốt cuộc là Không hay là Có?’ Làm cho người hiểu đôi
đàng đều được.
Thế nên Phật nói: ‘Phật pháp nếu không có ai
giảng th́ dù có trí cũng chẳng hiểu được’,
đừng thấy là giáo sư đại học nổi
tiếng [mà tưởng là ông ta thông suốt], không đúng
đâu! Do đó mới biết
chánh tri chánh kiến khó lắm!
Nếu chẳng có chánh tri chánh kiến, nếu là
người tà kiến c̣n ‘khinh chê Tam Bảo’. Sợ là chúng ta tuy đă xuất
gia nhưng cũng phạm lỗi này, chẳng biết chẳng
giác lại tạo ra những tội nghiệp này, chính ḿnh
cũng chẳng biết; cứ tưởng là ḿnh tài giỏi
lắm, chẳng có sai lầm, luôn nh́n thấy lỗi của
kẻ khác.
Thiết hoặc tạm tín, toàn hựu bất kính.
Hoặc là tạm
tin, nhưng liền chẳng kính.
Bốn câu này của cô, chúng ta nghĩ kỹ một
chút, quan sát thế gian này rồi tự phản tỉnh, chắc
ḿnh cũng đều phạm.
Ḷng tin của chúng ta là đạo tâm sương móc,
khi có khi không, chẳng vượt nổi thử thách, khi gặp
một chút sóng gió, đạo tâm chúng ta liền mất hết. Chữ ‘kính’ này càng không dễ,
‘kính’ phát sanh từ ḷng tin, nếu không tin th́ làm sao có tâm kính
trọng? Đối với Phật,
Bồ Tát, đối với cha mẹ c̣n không cung kính, th́
làm sao có thể kính người, kính sự, kính vật? Làm không được, từ
đó bạn mới biết việc này rất khó! Đọc xong bốn câu này chúng ta phải
nhắc nhở chính ḿnh, thường lấy bốn câu này
để trước mặt làm bài minh. [6]
Tử tuy nhật thiển, vị tri sanh xứ.
Tuy mới chết
chưa lâu, mà chưa biết thác sanh về đâu.
‘Nhật thiển’ nghĩa là chết chẳng lâu, chẳng
biết hiện giờ bà sanh vào chốn nào? Câu này nói quỷ vương đại
khái đă biết bà sanh vào cơi nào.
Vô Độc vấn viết, Bồ Tát chi mẫu, tánh thị hà đẳng
Vô Độc hỏi: ‘Mẹ của
Bồ Tát tên họ là ǵ?’
Hỏi
thêm một lần: Tên của má cô là ǵ?
Thánh nữ đáp vấn, ngă phụ ngă mẫu câu Bà La Môn chủng.
Thánh nữ trả lời:
‘Cha mẹ tôi đều thuộc ḍng Bà La Môn’.
Ở
Ấn Độ họ được kể là quư tộc, từ
thời xưa đến nay bốn ḍng họ giai cấp rất
nghiêm, tôn quư nhất là Bà La Môn.
Phụ hiệu Thi La Thiện Kiến, mẫu hiệu Duyệt Đế Lợi
Cha tôi tên Thi La Thiện Kiến,
mẹ tên Duyệt Đế Lợi.
Nói
tên cha mẹ ra, tên này rất tốt, đều là tên tốt. Tuy tên tốt nhưng việc làm
chẳng tốt, Danh chẳng phù hợp với Thật.
Vô Độc hiệp chưởng, khải Bồ Tát viết, nguyện Thánh giả khước phản bổn xứ, vô chí ưu ức bi luyến.
Vô
Độc chắp tay thưa với Bồ Tát: ‘Xin Thánh giả
hăy trở về bổn xứ, đừng quá thương
nhớ buồn rầu nữa’.
Vô Độc nghe xong, ‘khải’ nghĩa là rất cung kính,
rất cung kính báo cáo với Thánh nữ. ‘Khải’ nói theo ngôn ngữ hiện
nay nghĩa là ‘báo cáo’, nói một cách cung kính: ‘Xin Ngài trở
về, đừng lo nhớ nữa’. Tại sao?
Duyệt Đế Lợi tội nữ.
Tội nhân Duyệt
Đế Lợi.
Đích thật bà đă đến địa ngục rồi,
đă đến thọ khổ, không sai, chuyện của
bà mọi người đều biết.
Sanh thiên dĩ lai, kinh kim tam nhật.
Sanh lên trời
đến nay đă ba ngày rồi.
Hiện nay bà chẳng ở nơi này nữa, bà
đă ở đây thọ tội, nhưng bà đă
được sanh lên trời, sanh lên Trời Đao Lợi.
Vân thừa hiếu thuận chi tử, vị mẫu thiết cúng, tu phước bố thí Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai tháp tự.
Nghe nói nhờ
con bà hiếu thảo, v́ mẹ thiết cúng, tu phước
bố thí chùa tháp thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại
Vương Như Lai.
Nghe nói bà có con gái hiếu thuận, tu phước cho
bà. Cô tu phước, cúng Phật
bố thí, đây là ḷng hiếu cảm đến thiên địa,
tâm hiếu chân thành, cảm động thiên địa quỷ
thần. Trong kinh giảng cho
chúng ta hiếu dưỡng phụ mẫu gồm dưỡng
thân cha mẹ, dưỡng tâm cha mẹ, dưỡng chí cha
mẹ; người thế
gian thường trông mong con trai thành rồng, con gái thành
phượng, đó là ‘chí’ của cha mẹ; nghĩa là hy vọng
con cái tương lai có thành tựu chân chánh, tài ba xuất
chúng. Nhưng rất nhiều
bậc cha mẹ trong thế gian có tà kiến, cứ tưởng
đạt được công danh phú quư trong thế gian tức
là tài giỏi hơn người, quan niệm này sai lầm. Như thế nào mới gọi là
‘tài ba xuất chúng’? Siêu phàm nhập
thánh, thành Phật, thành Bồ Tát mới thật sự là
‘tài ba xuất chúng’, hết thảy thành tựu trong thế
gian chẳng thể so sánh nổi.
Thành tựu tới đâu trong thế gian cũng chẳng
thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, chỉ có thành
Phật thành Bồ Tát không những siêu việt lục
đạo, mà c̣n siêu việt thập pháp giới, đó mới
là thành tựu chân chánh. Người
làm cha mẹ nhưng chưa học Phật chẳng biết
đạo lư này, chẳng hiểu rơ chân tướng sự
thật, chúng ta đă tiếp xúc Phật pháp nên hiểu rơ,
chúng ta phải làm cho bằng được; không thể
nói cha mẹ không biết th́ chúng ta không làm. Chuyện tốt, chuyện thiện
tuy cha mẹ chẳng biết, đợi đến khi
chúng ta làm được rồi, cha mẹ sẽ đạt
được lợi ích lớn lao. Mẹ của Bồ Tát đâu phải
là người thường!
Cúng Phật, bố thí ba hạnh này đều có. Ở đây nói ‘thiết cúng’,
chúng ta đă đọc phía trước, Thánh nữ Bà La Môn
cúng dường h́nh tượng của Giác Hoa Định Tự
Tại Vương Như Lai, v́ vào thời Tượng pháp
[chỉ có thể cúng dường h́nh tượng của
Phật], cảm động Phật đến dạy cô
phương pháp tu hành, sau đó cô về nhà dũng mănh tinh
tấn y giáo phụng hành, đó là tu phước, bố
thí. Tu phước, bố thí
cho ai? Cho mẹ mới mất
của cô. Thế nên sự bố
thí của cô làm là bố thí pháp, đó chẳng phải là bố
thí tài vật. Trong sự cúng
dường có Pháp cúng dường, Y giáo phụng hành cúng
dường, phước này lớn lắm! Thế nên Quỷ vương nói:
Phi duy Bồ Tát chi mẫu đắc thoát địa ngục.
Không phải chỉ
có mẹ của Bồ Tát được thoát địa ngục.
Không phải chỉ có mẹ của Bồ Tát
được thoát địa ngục, thoát ly khổ hải.
Ưng thị vô gián tội nhân, thử nhật tất đắc thọ lạc, câu đồng sanh ngật.
Những tội
nhân trong ngục Vô Gián hôm đó đều được
an lạc, đều được thác sanh hết.
Mẹ Bồ Tát được người con hiếu,
được phước của bà nên sanh lên trời, những
người cùng chịu tội ở địa ngục
đều được hưởng ké, đều nhờ
phước đó mà cùng sanh lên trời; không phải chỉ
có mẹ Bồ Tát được sanh lên trời, những
người trong địa ngục cùng chịu tội với
bà lúc đó đều được sanh lên trời. Từ đó bạn mới biết
phước báo của sự bố thí thật chẳng thể
nghĩ bàn! Công đức y
giáo tu hành của Thánh nữ Bà La Môn chẳng thể nghĩ
bàn! Đây là sự thật, chẳng
phải kể chuyện đời xưa, không phải lấy
chuyện này để khuyến thiện. Chư vị phải biết,
đây là chuyện thật một trăm phần trăm,
khi bạn tu hành thành tựu sẽ độ được
biết bao nhiêu người.
Thế nên trong Phật pháp thường nói chẳng thể
nghĩ bàn, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, từ
chỗ này chúng ta cũng có thể hiểu được
vài phần.
Quỷ vương ngôn tất, hiệp chưởng nhi thoái.
Quỷ
vương nói xong, chắp tay cáo lui.
Quỷ vương báo cáo chuyện này xong rồi cáo
lui.
Bà La Môn nữ tầm như mộng quy.
Thánh nữ Bà La
môn dường như nằm mộng tỉnh dậy.
Cũng như nằm mộng vậy, thật ra cô chẳng
phải trong mộng, mà là trong Định. Từ trong định xuất
định.
Ngộ thử sự dĩ
Biết chuyện
này xong.
Cô giác ngộ rồi, biết rơ hoàn toàn chuyện này,
hoàn toàn minh bạch.
Tiện ư Giác
Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai tháp tượng
chi tiền, lập hoằng thệ nguyện, nguyện ngă
tận vị lai kiếp, ứng hữu tội khổ
chúng sanh, quảng thiết phương tiện sử linh
giải thoát.
Bèn trước
tháp tượng của Giác Hoa Định Tự Tại
Vương Như Lai lập hoằng thệ nguyện: ‘Tôi
nguyện từ nay đến tận kiếp vị lai sẽ
v́ chúng sanh mắc phải tội khổ mà rộng lập
phương tiện làm cho họ được giải
thoát.’
Đây là lần phát nguyện đầu tiên trong khi tu
nhân của Địa Tạng Bồ Tát. Lần thứ nhất phát tâm học
Phật là đại Trưởng giả, nh́n thấy h́nh
tượng của Phật rồi phát tâm. Phía trước tôi đă nhắc
nhở các bạn đồng học: H́nh tượng phải
hoàn hảo, thường thường nghĩ đến
chúng ta là đệ tử Như Lai, đặc biệt là
đệ tử Di Đà. Di Đà là
‘ánh sáng tôn quư nhất, vua trong các vị Phật’, làm sao chúng
ta có thể làm mất mặt A Di Đà Phật được! Nếu tâm niệm chúng ta khởi
lên một niệm chẳng thiện th́ sẽ có lỗi với
đức Phật A Di Đà, khi chúng ta làm một việc chẳng
thiện th́ chúng ta sẽ chịu tội nghiệp rất nặng,
làm sao xứng đáng là học tṛ của A Di Đà Phật! Học tṛ của A Di Đà Phật là
như thế này ư? Chân
chánh làm một học tṛ tốt của A Di Đà Phật nhất
định phải y giáo phụng hành. Tại sao dạy bạn mỗi
ngày phải đọc tụng Đại Thừa? Chính là để ghi nhớ lời
dạy của A Di Đà Phật, những ǵ Phật dạy
chúng ta làm, chúng ta làm được hay chưa? Những ǵ Phật dạy chúng ta
chớ nên làm, chúng ta c̣n làm không?
Chân chánh làm học tṛ của A Di Đà Phật đúng
như ư nghĩa của nó th́ trong đời này bạn nhất
định sẽ được văng sanh Tịnh độ. Trong đời hiện tại, nếu
người ta không tôn kính bạn cũng chẳng có ǵ lạ! Người ta là phàm phu, phàm phu mắt
thịt, ngay cả Phật họ cũng chẳng tôn kính
th́ làm sao họ tôn kính bạn!
Nhưng bạn phải biết chư Phật hộ
niệm, tán thán, long thiên quỷ thần, Bồ Tát tôn trọng
bạn, tại sao vậy? Những
người này có Tha tâm thông, có Thiên nhăn thông, họ có thể
nh́n thấy tâm thiện của bạn, họ biết bạn
khởi tâm động niệm [ǵ]; phàm phu chẳng biết,
phàm phu ngu si.
Địa Tạng Bồ Tát ở đây dạy chúng ta
phát nguyện, làm ra gương mẫu cho chúng ta coi, nguyện
này tức là ‘Tứ Hoằng Thệ Nguyện’. ‘Nguyện tôi tận cùng kiếp vị
lai’, trên thời gian chẳng có chấm dứt, vĩnh hằng. Chẳng phải nói chuyện này
tôi phải làm trong ṿng bao lâu, nói tôi phải làm trong một
kiếp, mười kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp,
không phải vậy. Mà là tận
cùng kiếp vị lai. Đối
tượng giúp đỡ là những chúng sanh tội khổ
này, cũng chẳng nói nhất định; ‘chúng sanh mắc
phải tội khổ’, chẳng chọn oán hay thân, chỉ
cần nh́n thấy có chúng sanh chịu khổ nạn th́ liền
‘rộng lập phương tiện làm cho họ độ
thoát’. Rộng lập
phương tiện ǵ? Đoạn
phiền năo, học pháp môn, thành Phật đạo, đây
đều là rộng lập phương tiện. Chúng ta chẳng đoạn phiền
năo, chẳng học pháp môn th́ dùng phương pháp ǵ để
độ chúng sanh? Do đó mới
biết Bồ Tát đoạn phiền năo, đoạn tập
khí, học pháp môn chẳng v́ ḿnh mà là v́ hết thảy khổ
nạn chúng sanh, chúng ta phải có tâm nguyện này, hết thảy
những việc tu học của ḿnh hôm nay đều v́ họ,
chẳng v́ ḿnh; nếu v́ ḿnh th́ có thể qua loa sơ sài, có
thể tùy tiện. Nhưng
nh́n thấy vô số chúng sanh đang tạo tội nghiệp
cực nặng, một tí tâm giải đăi hàm hồ chúng
ta đều không thể khởi được, v́ sao? V́ phải dạy dỗ những
chúng sanh khổ nạn này, việc ǵ cũng phải hết
ḷng, phải dũng mănh tinh tấn.
Nếu vậy bạn hỏi: tự tôi tu hành thành tựu, được không? Có thể độ chúng sanh không? Kinh này bày ra đây, cô Bà La Môn một người tu hành, một người thành tựu, không những mẹ cô được độ, những người cùng chịu khổ với mẹ cô, những chúng sanh cùng đọa địa ngục với mẹ cô đều được sanh lên trời, không phải sự th̑