Ḥa thượng
Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Hội Tân
Gia Ba 5-1998
Tập 9 (Số 14-12-09)
Xin mở
kinh.
Phẩm
thứ 3: Quán nghiệp duyên chúng sanh.
Lần
trước nói đến đoạn Bất kính Tam Bảo,
chúng ta xem tiếp:
Nhược hữu chúng sanh xâm tổn thường trụ, điếm ô tăng ni, hoặc già lam nội, tứ hành dâm dục, hoặc sát hoặc hại, như thị đẳng bối đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp cầu xuất vô kỳ.
Nếu có chúng sanh xâm tổn
của thường trụ, làm nhơ nhuốc Tăng Ni,
hoặc tứ t́nh hành dâm trong chốn Già Lam, hoặc giết
hoặc hại, hạng người như thế phải
đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức
kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.
Đây
là ba thứ tội nghiệp cực nặng. Chúng ta nhất định phải
ghi nhớ: thứ nhất là chẳng hiếu thuận cha mẹ,
thứ hai là chẳng kính Tam Bảo, thứ ba là ‘xâm tổn
thường trụ’, xâm là xâm phạm, tổn là tổn hoại,
tội xâm tổn thường trụ rất nặng, là
thuộc về giới trộm cắp, đây là việc
chư vị phải biết.
Nhiều người coi thường việc này, cứ
tưởng đây là chuyện nhỏ, chẳng ăn nhằm
ǵ, không biết đă phạm tội nặng nề. Trong kinh, Phật nói rất rơ ràng,
chúng ta nhất định phải thấu hiểu cặn
kẽ, thường trụ có bốn loại:
Thứ nhất gọi là Thường Trụ Thường
Trụ, đây là những bất động sản, đất
đai, ruộng đất, nhà cửa trong tự viện,
am đường, đạo tràng, được gọi
là Thường trụ thường trụ. Chỉ có thể xử dụng,
tuyệt đối không thể trao đổi, mua bán,
đây là vật của thường trụ, tội này cực
nặng.
Thứ nh́ là Thập Phương Thường Trụ,
chúng ta thường gọi là ‘Tứ Sự Cúng dường’:
‘thức ăn, y phục, ngọa cụ, y dược’. Đây là phẩm vật của tín
đồ mười phương cúng dường người
xuất gia, không dành riêng cho một người nào cả, hết
thảy những người xuất gia trong đạo
tràng này đều có phần.
Nếu bạn xâm phạm, lấy làm của ḿnh th́ là
trộm cắp.
Thứ ba là Hiện Tiền Hiện Tiền, đây
là những ǵ tín đồ bố thí cho chúng ta. Phạm vi bố thí này
tương đối nhỏ, chỉ thuộc về những
người xuất gia hiện đang có mặt (hiện
tiền). Không giống như
mười phương nói ở phía trước, mười
phương là hết thảy người xuất gia đều
có phần. Thời xưa
người xuất gia chẳng có nhà, bất cứ là
đạo tràng nào cũng có thể xin cư ngụ (quải
đơn), đều có thể thọ dụng, đều
có thể tiếp nhận được. V́ sự cúng dường này là cúng
dường mười phương nên hết thảy
người xuất gia đều có phần.
Thứ tư gọi là Thập Phương Hiện
Tiền, những vật hiện tiền, thí dụ lúc
người xuất gia văng sanh rồi, những vật mà họ
để lại th́ gọi là Thập Phương Hiện
Tiền. Tuy là Hiện Tiền,
nhưng những vật này mười phương đều
có phần. Thế nên khi kết
tội là kết từ những chỗ này.
Thí dụ như việc trộm cắp trong thế
gian, bạn trộm đồ của một người
th́ bạn thiếu nợ một người.
Thế nên bạn thiếu nợ một người
th́ bạn chỉ trả nợ cho một người, chuyện
này dễ làm. Nếu là chính phủ
địa phương, thí dụ một thành phố, nếu
bạn trộm cắp những thiết bị công cộng
ở đây th́ phiền phức sẽ lớn lắm. Tại sao vậy? Bạn phải biết sự kết
tội này, thiết bị công cộng là do những người
ở địa phương này đóng thuế tạo dựng
nên. Nếu bạn trộm cắp
th́ những người trong thành phố này đều là chủ
nợ của bạn, bạn phải trả cho từng
người, bạn phải trả đến bao giờ mới
trả dứt?
Phạm vi của chữ ‘đạo’ (trộm cắp)
vô cùng rộng lớn, chẳng hạn chế ở chỗ
trộm cắp. Trong kinh Phật,
chữ đạo đuợc giải thích là ‘chẳng cho
mà lấy’. Người quản
lư trong thường trụ phải cân nhắc: bạn muốn
những vật ấy có nên đưa cho bạn hay không; nếu
nên đưa nhưng họ không cho th́ họ phạm giới,
họ cũng phạm giới trộm cắp, họ dành lấy
làm của riêng, cố ư làm khó dễ không cho bạn. Nếu không nên cho nhưng họ
cho bạn th́ cũng phạm giới, thế nên [quản lư
đồ thường trụ] chẳng dễ đâu. Quản lư đồ vật của
Tam Bảo, nếu không để ư th́ liền tạo nên quả
báo nghiêm trọng, đạo lư này chúng ta nhất định
phải hiểu. Nếu chúng
ta lăng phí đồ vật của Tam Bảo, cũng là giới
điều này. Chúng ta tiết
kiệm một phần tiền cho Tam Bảo, tiết kiệm
được một đồng là phước báo của
bạn, phước báo này rất lớn. Tại sao? Bạn cho hết thảy người
xuất gia ở mười phương, bạn tu phước
v́ họ. Nói cách khác, nếu bạn
lăng phí, tổn hại th́ tội này sẽ rất nặng. Ngày nay càng ngày càng ít người
hiểu được đạo lư này. Người xuất gia cũng chẳng
nói, hiện nay những pháp sư giảng kinh có ai giảng
Giới Luật đâu? Nếu
giảng Giới Luật th́ người ta sẽ mắng bạn. [Họ sẽ nói:] “Ông giảng Giới
Luật, mở kinh ra th́ mỗi ngày đều mắng chửi
chúng tôi”, c̣n ai chịu nghe lời chửi mắng? Nếu bạn giảng Giới Luật
th́ một thính chúng cũng không có, nhưng đó là lời
chân thật. Thế nên chúng
sanh cơi Diêm Phù Đề, Địa Tạng Bồ Tát nói: ‘Khởi
tâm động niệm, không ǵ là chẳng phải tội’,
lời này là thật, chẳng quá đáng tí nào. Niệm niệm đều
đang tạo nghiệp, niệm Phật văng sanh đâu dễ
vậy sao, đây là việc chúng ta nhất định phải
biết, phải cảnh giác, phải biết sự nghiêm
trọng của quả báo.
Đoạn kế tiếp ‘điếm ô tăng ni’,
đây là phạm tội dâm dục.
Tăng là chúng xuất gia
Nhược hữu chúng sanh, ngụy tác sa môn, tâm phi sa môn, phá dụng thường trụ, khi cuống bạch y, vi bội giới luật, chủng chủng tạo ác, như thị đẳng bối đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.
Nếu có chúng sanh giả làm
Sa Môn, tâm chẳng phải Sa Môn, phá hoại lạm dụng
của thường trụ, gạt gẫm hàng bạch y,
trái phạm Giới Luật, tạo vô số tội ác, những
người như vậy phải đọa địa ngục
Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi
được.
Hai
câu đầu là ‘cử tội’.
‘Sa môn’ là người tu hành, chẳng phải chỉ
Tăng Ni, Tăng Ni càng thù thắng hơn Sa Môn. Cư sĩ tại gia cũng có thể
xưng là Sa Môn, hai chữ này là Phạn ngữ dịch âm, ư
nghĩa của nó là ‘siêng tu Giới Định Huệ, diệt
hết Tham Sân Si’, thế nên xuất gia hay tại gia đều
có thể xưng là Sa Môn. Chỉ
cần bạn hết ḷng tu hành, tu hành đúng như lư
như pháp đều có thể xưng là Sa Môn. Ở Ấn Độ danh từ Sa
Môn này là danh xưng phổ biến, chẳng nhất định
là Phật giáo, hết thảy những tín đồ tôn giáo
chỉ cần hết ḷng học tập, đoạn ác tu
thiện thông thường đều xưng là Sa Môn. Sau khi Phật giáo truyền đến
Trung Quốc, Sa Môn biến thành danh từ chung của những
người xuất gia trong Phật giáo, nhưng chư vị
nên biết nó cũng bao gồm người tại gia,
xưng Sa Môn là một cách xưng hô khiêm tốn. Nếu họ giả vờ
như Sa Môn nhưng chẳng tu hành chân chánh,
giả vờ tu hành nhất định nhằm mục
đích lừa gạt chúng sanh. Đoạn kinh văn này, Thanh Liên pháp
sư trong cuốn Khoa Phán gộp vào ‘phá giới gạt
người’, ‘cuống’ [trong
câu “khi cuống bạch y”] là
lừa gạt, dối người.
Phía
dưới đây nói về tội trạng của họ,
‘phá dụng thường trụ’.
Nếu bạn chẳng phải là người chân
chánh tu đạo, mười phương cúng dường
là cúng dường người tu đạo, nếu bạn
tu đạo chân thật th́ họ sẽ có phước. Họ cúng dường cho bạn
tu hành, bạn tu hành rất tốt, tối thiểu là đời
sau bạn c̣n được làm người, sanh lên trời
hưởng phước trời, th́ họ hưởng
được phước lây.
Nếu bạn đọa vào ba
đường ác, bạn đă phụ ḷng họ, sẽ
thiếu nợ họ, như thường nói:
‘Một hạt gạo thí chủ, lớn
như núi Tu-di,
Đời này chẳng liễu đạo,
mang lông đội sừng đền’
Phải trả nợ. Nếu
trong đời này bạn tu hành chân thật, văng sanh Cực
Lạc thế giới làm Phật, th́ phước của họ
c̣n lớn hơn nữa, phước điền này họ
đă thật sự trồng được đúng chỗ. Do đó có thể biết, chén
cơm của người xuất gia này rất khó nuốt. Trong các buổi giảng tôi thường
nhắc nhở các vị đồng tu, chén cơm này khó nuốt
hơn những người đi khất thực nhiều. Người ăn xin, người
ta bố thí cho người xin ăn, nhất định chẳng
nghĩ đến phải trồng phước, chẳng
muốn được báo đền, cho nên chén cơm của
người ăn xin dễ nuốt hơn nhiều. Người xuất gia
tiếp nhận bố thí cúng dường, khó nuốt lắm,
đời này chẳng liễu đạo th́ phải mang
lông, đội sừng mà đền trả. Nghề
nghiệp trong thế gian rất nhiều, tại sao bạn
chọn đi xuất gia? Chọn
xuất gia, nói thật ra, nếu không thể văng sanh Cực
Lạc thế giới th́ bạn sẽ chọn đi đến
địa ngục A Tỳ. Tại
sao phải làm chuyện cực khổ này? Chúng ta phải cảnh giác cao
độ, đây chẳng phải chuyện giỡn
chơi, nghiêm túc phi thường.
Chúng
ta nh́n thấy người xuất gia hiện nay, nói thật
ra là v́ đọc kinh quá ít, chẳng có mấy người
hiểu được đạo lư này, hiểu chân tướng
sự thật này. Vả lại
phần đông người trong xă hội nghĩ như thế
nào? Nghề ‘xuất gia’ này rất
dễ kiếm tiền, chẳng cần đóng thuế, chẳng
cần phải làm ăn cực khổ. Làm bất cứ ngành nghề ǵ
trong thế gian đều phải đi học cực khổ,
học kỹ thuật. Người
xuất gia nếu cần học Kinh Sám Phật Sự, tối
đa ba tháng là rất rành rồi, th́ có thể bắt đầu
‘kiếm tiền’. Nếu bạn
có thể giảng ‘thiện đạo’ th́ kiếm tiền
c̣n dễ hơn nữa, chẳng cần mấy năm th́ bạn
sẽ có thể kiếm mấy triệu bạc, mấy chục
triệu bạc. Thế
nhưng phải biết sau này quả báo sẽ ở tại
địa ngục A Tỳ, thọ tội ở địa
ngục A Tỳ xong c̣n phải trải qua thời gian rất
dài để trả nợ.
Tuyệt đối không thể nói thiếu nợ chẳng
cần trả, không có đạo lư này, nhân quả thông ba
đời, chúng ta phải biết.
Cách làm này là ‘phá dụng thường trụ’. ‘Khi cuống bạch y’, ‘Bạch
y’ [1] là tín đồ
tại gia, bạn lừa gạt họ, phản nghịch
giáo giới của đức Phật. ‘Chủng chủng tạo ác’, tạo
ác nghĩa là tham, sân, si, mạn; tạo tác vô lượng vô
biên tội nghiệp. Đây là loại
thứ tư đọa địa ngục A Tỳ, A Tỳ
nghĩa là ‘Vô Gián’, là hạng người thứ tư. Loại cuối cùng là trộm cắp
vật của thường trụ, đây là dùng tâm trộm
cắp để trộm cắp, so với ‘xâm tổn’ nói ở
phía trước c̣n nặng hơn.
Nhược hữu chúng sanh thâu thiết thường trụ tài vật cốc mễ, ẩm thực y phục, năi chí nhất vật bất dữ thủ giả, đương đọa vô gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp cầu xuất vô kỳ.
Nếu có chúng sanh trộm cắp
tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống, y phục
của thường trụ, cho đến một vật
không cho mà lấy; kẻ đó phải đọa địa
ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong
ra khỏi được.
Hai câu sau cùng là quả báo phải có của họ. Thường trụ phía trước
đă nói rồi, [có] bốn thứ thường trụ. Nếu bạn dùng tâm trộm cắp,
tâm thâu đạo để đi trộm cắp, hoặc
để tự ḿnh dùng, trộm về để tự
ḿnh hưởng thọ, hoặc cho người thân, quyến
thuộc dùng đều phạm tội này, tội này rất
nặng. Kinh Quán Phật Tam Muội
nói trộm cắp đồ vật của Tam Bảo, tội
ấy lớn hơn tội giết tám vạn bốn ngàn
cha mẹ, sát hại cha mẹ phía trước có nói là tội
nghiệp đọa địa ngục A Tỳ. Trộm cắp đồ vật
của Tam Bảo c̣n nặng hơn tội giết cha mẹ. Nặng hơn bao nhiêu, chúng ta không
cách ǵ tưởng tượng được nổi. Trong kinh Phật thí dụ c̣n nặng
hơn tội giết hại tám vạn bốn ngàn cha mẹ. Hoa Tụ Bồ Tát trong kinh nói: ‘Ngũ
nghịch bốn trọng tội tôi c̣n có thể cứu, trộm
Tăng vật th́ tôi không thể cứu’. Hoa Tựu Bồ Tát là Đẳng Giác
Bồ Tát, ngang hàng với Quán Âm, Thế Chí, Địa Tạng
Bồ Tát, lời các ngài nói là lời chân thật, chẳng
giả.
Hiện nay địa phương này của chúng ta,
đạo tràng này là đạo tràng cư sĩ, đạo
tràng cư sĩ hoằng hộ chánh pháp, nhân quả của
nó tương đồng với tự viện, am
đường. Những việc
này chúng ta phải nhận thức rơ ràng, nếu chúng ta cần
th́ có thể nói rơ cho thường trụ biết, thường
trụ cúng dường, vậy là chính xác. Nhất định không được
dấu thường trụ mà tự ḿnh trộm lấy, vậy
là sai lầm. Vật thường
trụ dễ phạm nhất là: giấy, như bao thơ,
giấy viết thơ, chúng ta tùy tiện lấy để
viết thơ riêng, chuyện này là chuyện rất nhỏ,
người chẳng học Phật đâu biết? Thông thường trong xă hội,
trong cơ quan chánh phủ cũng vậy, công ty tư nhân cũng
vậy, những vật dụng của chủ như những
vật này, nếu cứ tùy tiện lấy xài, chẳng hiểu
Phật lư. Ở Đài Trung tôi
theo học thầy Lư mười năm, thầy Lư làm việc
trong văn pḥng của giám đốc Sở Quản Trị
Tế Tự Khổng Miếu, cụ làm Chánh Thư Kư cho vị
đứng đầu cơ quan ấy. Thầy
nói với chúng tôi, mỗi lần đi lấy giấy viết
thơ, bao thơ, nhất định phải nói cho giám
đốc Sở Quản Trị Tế Tự Khổng Miếu biết: ‘Tôi lấy những giấy,
bao thơ này, có khi viết thơ cá nhân cũng dùng’. Ông giám đốc này nói thầy Lư
lải nhải, ‘Có ai không làm như vậy đâu? Tại sao mỗi lần lấy
ông đều phải nói mấy câu này chi vậy?’. Thầy Lư nói: ‘Tôi nói mấy câu
này, ông chịu cho th́ tôi không phạm giới; nếu tôi
không được ông đồng ư chấp thuận, tôi
dùng giấy của công để viết thơ riêng th́ tôi
phạm giới trộm cắp’.
Đây là người hiểu lư, một tờ giấy, một
bao thơ thầy cũng cẩn thận như vậy, vậy
th́ có thể suy ra những việc khác. Thế nên một giới nhỏ
cũng phải cẩn thận, không thể coi thường,
cứ cho rằng đây là chuyện rất nhỏ không có tội,
chẳng nghiêm trọng, đó là chúng ta nghĩ sai, nh́n sai rồi.
Tôi đă từng kể với chư vị đồng
tu, hồi trước lúc tôi học trung học có một vị
hiệu trưởng tên là Châu Bang Đạo, người Giang
Tây, sau này ông cũng đến Đài Loan. Trước kia ở Trung Quốc
đại lục, ông ta từng làm giám đốc Sở Giáo Dục
tỉnh Giang Tây, sau khi kháng chiến thắng lợi, ở Đài Loan ông làm thứ trưởng bộ Giáo Dục
đặc trách công tác thi cử,
chức này ở Trung Quốc tức là phó bộ trưởng
thứ nhất. Chánh phủ cấp
xe cho ông dùng, khi đi công tác th́ ông dùng xe chánh phủ, khi nào
đi làm chuyện riêng th́ đi xe bus. Tại sao vậy? Không dám lăng phí xăng dầu của
chánh phủ, không xâm tổn tài vật của quốc
gia. Trong thời đại
ngày nay vẫn c̣n quan viên như vậy, đây là
gương tốt đáng cho chúng ta học tập. Đều là cư sĩ tại gia, mỗi
ngày đều đọc kinh, hiểu rơ đạo lư, hiểu
rơ chân tướng sự thật, họ làm gương cho
chúng ta xem. Trong nhà có điện
thoại do chánh phủ cấp, nếu không phải là việc
công th́ không dùng điện thoại này, con nít trong nhà cũng
không cho dùng điện thoại.
Niệm niệm đều v́ quốc gia, giúp quốc
gia tiết kiệm một phân tiền đều là việc
tốt, chẳng dám lăng phí chút nào.
Ngày nay chúng ta dùng điện thoại gọi đến
nước khác, không biết nói vắn tắt, cứ lải
nhải nói hoài, [đó là] ‘xâm tổn thường trụ’. Chuyện quan trọng trong ṿng vài
câu nói có thể giải quyết vấn đề, một
khi cầm điện thoại lên cứ nói chuyện
đâu không, hỏi tới hỏi lui, tiền điện
thoại này là do thường trụ trả, xâm tổn
thường trụ, mọi người chẳng biết
chuyện này lợi hại ra sao.
Thế nên tôi khuyến khích mọi người, hiện
nay chúng ta có một số chuyện cần phải biết,
cách truyền đạt tin tức tốt nhất là dùng máy
truyền chân (fax), dùng fax có thể tiết kiệm thời
gian. Năm phút có thể truyền
đi mười mấy trang giấy, trong mười mấy
trang giấy này nội dung bạn viết quá đầy
đủ rồi, cách làm như vậy rất tốt. Hơn nữa khi người nhận
coi lần đầu không rơ th́ có thể coi lần thứ
hai. Gọi điện thoại
nói nửa tiếng đồng hồ chẳng có hiệu quả
bằng năm phút dùng fax, phí tổn dùng máy fax giống
như dùng điện thoại, bạn tiết kiệm
được bao nhiêu! Chẳng
biết tạo tác tội nghiệp đọa địa
ngục A Tỳ, tự ḿnh không biết. Tương lai đọa địa
ngục A Tỳ rồi mới kêu oan uổng, Diêm La
Vương đem những chuyện này bày trước mặt
cho bạn coi, bạn nghẹn ngào chẳng thốt nên lời,
chứng cớ đều có sẵn trước mặt. Trong Giới Kinh có nói rơ, ở
đây chỉ nêu lên những điểm chính và nói sơ
lược mà thôi.
Hiện nay chúng ta phải thể hội đến sự
khó khăn về vật lực, hết thảy những
chúng sanh này, chúng sanh trên toàn thế giới, chẳng hay chẳng
biết tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp. Tuy là hưởng phước, rất
mau th́ sẽ hưởng hết phước này. Hưởng hết phước
th́ tai nạn sẽ đến, tai nạn này trong Phật
pháp gọi là Hoa Báo, Quả Báo sẽ ở địa ngục,
hoa báo là điềm báo trước của quả báo, chúng
ta làm sao không cảnh giác cho được! Tại sao trong đời này, trong
ṿng mấy mươi năm ngắn ngủi, không cắn
chặt răng học theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni sống
một cuộc sống đơn giản nhất, thuần
phát nhất. Ngoài việc hoằng
pháp lợi sanh ra, làm lợi ích cho đại chúng, chúng ta phải
nên làm. Những nhu cầu cá
nhân trong đời sống nhất định phải tiết
kiệm đến mức thấp nhất. Nếu những người xuất
gia chúng ta, trên thân một đồng cũng chẳng có, hăy
nên thật sự giữ đúng như pháp. Khi ra
ngoài cần dùng tiền th́ thường trụ cung ứng,
khi ra ngoài cũng phải tiết kiệm, khi trở về
nếu c̣n dư th́ giao trả cho thường trụ. Nếu chúng ta có thể làm như
vậy, nhất định sẽ được hết
thảy chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần
chăm sóc, bảo vệ. Ngày
nay chúng ta khởi tâm động niệm, những chuyện
ḿnh làm chẳng đúng như lư, như pháp, nói thật ra
chư Phật không hộ niệm cho bạn, long thiên thiện
thần khinh dể bạn. Ai ở
xung quanh bạn? Yêu ma quỷ
quái. Yêu ma quỷ quái thừa
dịp [khuấy nhiễu], thế
nên bạn thường có bịnh khổ, thường bị
tai ương, trừng phạt, tự ḿnh c̣n không tự
giác.
Người không học Phật th́ thật sự chẳng
biết, người học Phật hiểu rồi, đời
này chúng ta đến thế gian này để làm ǵ? Chỉ có hai việc: ‘Thượng
cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh’. Trên cầu Phật đạo th́
nhất định phải niệm Phật cầu sanh Cực
Lạc thế giới, vậy tức là thượng cầu,
trong đời này nhất định có thể làm
được. Hạ hóa chúng
sanh là làm gương tốt cho hết thảy chúng sanh, vậy
th́ bạn sẽ làm được việc ‘Hạ hóa’ này rất
viên măn. Ngày nay người thế
gian tham tiền tài, tham danh, tham lợi, chúng ta làm
gương tốt, phải xả bỏ tài, danh, lợi sạch
sành sanh, như vậy là ‘hạ hóa’. Chẳng cần phải nói, cũng
chẳng cần người ta biết, khi bạn chịu
làm, có một, hai người biết th́ họ sẽ tuyên
dương, sẽ nói cho người ta biết. [Họ sẽ nói:] “Những
người xuất gia ở nơi ấy làm như vậy,
những người xuất gia ấy thân tâm thanh tịnh,
được đại tự tại, trí huệ sung
măn”, làm cho người thế gian ngưỡng mộ, mong
mỏi, đến để học theo bạn, vậy th́
mới đạt đến hiệu quả thật sự
làm lợi ích cho chúng sanh.
Tai nạn thế gian từ đâu đến? Người thế gian cho rằng
những chuyện xảy ra trong thiên nhiên chẳng liên quan
đến chúng ta, thế nên đều gán những tai nạn
này thành tai hại thiên nhiên, chẳng do sức lực con
người có thể làm nên, đều đẩy trách nhiệm
hết. Chỉ có người
chân chánh học Phật biết được, y báo và chánh
báo là một thể, y báo và chánh báo chẳng hai. Đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, giảng
những đạo lư, chân tướng sự thật này rất
thấu triệt, minh bạch.
Chúng ta khởi tâm động niệm, những ǵ ḿnh
làm, nhỏ như sợi lông tơ, như hạt bụi,
chẳng đáng ǵ hết, nhưng đều ảnh hưởng
đến tận hư không, trọn khắp pháp giới. Thế nên Phật nói cho chúng ta ‘cảm
từ cộng nghiệp’, chúng ta nghe xong lời này nhất
định sẽ không có nghi hoặc ǵ cả. Thời xưa, hàng vua chúa bao gồm
cả những phần tử trí thức, phần tử
trí thức ở Trung Quốc chẳng ai không đọc
sách Phật cả, họ đều hiểu đạo lư
này. Khi gặp tai họa thiên
nhiên, họ đều hết ḷng phản tỉnh, sám hối,
sửa sai đổi mới, để cứu văn kiếp
vận, họ hiểu được đạo lư này. Hiện nay người học
khoa học không thừa nhận sự thật này, cho rằng
đây là vọng tưởng, ảo tưởng, chẳng
phù hợp với nguyên tắc khoa học, [đấy là] mê tín
vào khoa học. Những ǵ khoa học nghiên cứu
chỉ là một bộ phận trong cả vũ trụ nhân
sanh, Phật pháp nói về toàn thể, nếu chấp
trước một bộ phận nào đó th́ trước
sau ǵ cũng sẽ tổn hại đến toàn thể. Chỉ có quan tâm đến cả
toàn thể th́ mới giải quyết vấn đề,
đây là điều chúng ta không thể không biết. Trong kinh điển Đại Thừa,
Phật thường dạy chúng ta hiểu rơ ư nghĩa
đường hướng, chúng ta hiểu cạn cợt
th́ không được, phải hiểu cho sâu, nhất
định phải đích thân ra sức mà làm. Xem tiếp đoạn kế:
Địa Tạng bạch ngôn: Thánh Mẫu, nhược hữu chúng sanh tác như thị tội, đương đọa ngũ vô gián địa ngục, cầu tạm đ́nh khổ, nhất niệm bất đắc.
Ngài Địa Tạng
thưa rằng: ‘Thánh Mẫu, nếu có chúng sanh phạm những
tội như vậy th́ phải đọa Ngũ Vô Gián
địa ngục, cầu tạm ngừng sự đau khổ
trong chừng một niệm cũng không được.
Vô Gián tức là địa ngục A Tỳ, có lúc trong
kinh nói hai loại, có lúc gộp cả hai lại nói, rốt
cuộc là một hay là hai không nói tách bạch, nhưng chúng
ta có thể xem như là một.
Địa Tạng Bồ Tát sơ lược nêu lên
năm tội nặng ở đoạn trước, đều
nhất định sẽ đọa địa ngục Vô
Gián. ‘Nhược hữu chúng
sanh tác như thị tội’, ‘như thị’ là chỉ
năm loại tội lớn.
Năm loại này đều là thập ác nghiệp
nghiêm trọng, sau khi thọ báo ở địa ngục
xong ra khỏi địa ngục vẫn c̣n dư báo, dư
báo ở tại ngạ quỷ, súc sanh, chẳng biết
đến lúc nào mới có thể có được thân
người trở lại, thế nên được thân
người tương đối chẳng dễ. Thời gian trong ba đường
ác đều rất dài, địa ngục th́ chẳng cần
phải nói nữa. C̣n cơi ngạ
quỷ, trong kinh Phật nói, một ngày ở cơi ngạ quỷ
bằng một tháng ở nhân gian, ở nhân gian khi cúng tế
quỷ thần th́ cúng ngày mồng một, mười
lăm, cũng như mời họ ăn cơm, vừa
đúng lúc! Một ngày của
họ bằng một tháng của chúng ta, ngày mồng một,
ngày rằm vừa đúng lúc chúng ta mời họ ăn
cơm trưa, ăn cơm tối, đó là một ngày của
họ. Thọ mạng ngắn
ở cơi ngạ quỷ là một ngàn tuổi, cũng tính một
năm có ba trăm sáu mươi ngày, chiếu theo cách tính
này th́ thọ mạng ở cơi ngạ quỷ cũng quá dài,
quá dài. Lúc trước ông
Chương Thái Diệm từng làm chức phán quan cho Đông
Nhạc đại đế, mỗi ngày ông đều làm
việc ở cơi quỷ, c̣n gặp những quỷ thời
triều Hán, ông là người đọc sách, triều Hán,
hai triều Tấn, Tùy, Đường, ông đều gặp
những người ở triều đại này, những
t́nh h́nh như vầy chúng ta đều phải biết.
Có một số trong cơi súc sanh thọ mạng rất
ngắn, nhưng súc sanh ngu si, vô cùng chấp trước
thân h́nh của chúng nên rất khó thoát ly cơi súc sanh. Trong kinh, đức Phật Thích
Ca Mâu Ni nói với chúng ta lúc ngài ở vườn Kỳ Thọ
Cấp Cô Độc một thời gian, giảng kinh thuyết
pháp ở đó. Kỳ Viên tinh
xá có một số công tŕnh đang xây dựng, đại
khái là xây nhà cửa, dưới đất có một ổ
kiến, Phật nh́n thấy rồi cười. Các đệ tử nh́n thấy Phật
cười nên hỏi tại sao?
Phật nói ổ kiến này, đă trải qua bảy
tôn Phật rồi chúng nó vẫn c̣n làm kiến. Thọ mạng của chúng chẳng
phải dài như vậy, chúng nó chấp trước thân
h́nh ấy là chính ḿnh, chết đi đầu thai cũng vẫn
làm kiến, đời đời kiếp kiếp làm kiến,
chẳng biết thoát ly, súc sanh ngu si. Bạn hiểu rơ chân tướng
sự thật xong mới biết ba đường ác rất
đáng sợ. Làm sao sanh vào ba
đường ác? Là do tạo
mười ác nghiệp, phá giới, tạo mười ác
nghiệp đọa ba đường ác. Xin xem tiếp:
Ma Gia phu nhân trùng bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn, vân hà danh vi Vô Gián Địa ngục.
Ma Gia phu nhân lại
hỏi Địa Tạng Bồ Tát: ‘Tại sao tên là địa
ngục Vô Gián?’
Đây là lúc Ma Gia phu nhân nghe Địa Tạng Bồ Tát nói
‘địa ngục Vô Gián’ nghiêm trọng như vậy,
đọa vào địa ngục Vô Gián, ngàn vạn ức
kiếp cầu thoát khỏi chẳng được, dễ
sợ quá. Cái ǵ gọi là địa
ngục Vô Gián? Ma Gia phu nhân hỏi
dùm chúng ta.
Địa Tạng bạch ngôn, Thánh Mẫu chư hữu địa ngục tại Đại Thiết Vi sơn chi nội, kỳ đại địa ngục, hữu nhất thập bát sở.
Ngài Địa Tạng
thưa rằng: ‘Thánh Mẫu, tất cả địa ngục
đều ở trong núi Đại Thiết Vi. Địa ngục lớn có mười
tám chỗ.’
Chúng ta thường nói đến mười tám tầng
địa ngục, chính là ư nghĩa này. Mười tám tầng địa
ngục là mười tám ‘địa ngục lớn’.
Thứ hữu ngũ bá, danh hiệu các biệt, thứ hữu thiên bá, danh hiệu diệc biệt.
Thứ kế
có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau; kế
nữa lại có đến ngàn trăm, danh hiệu cũng
đều khác nhau.
Hết thảy chúng sanh lúc c̣n ở thế gian tạo
tác tội nghiệp có nặng nhẹ sai khác, cho nên đọa
lạc địa ngục, chịu tội ở địa
ngục cũng có nặng nhẹ khác nhau. Lúc trước thầy Lư giảng
kinh có nhắc qua, trong kinh Phật giảng kỹ về
địa ngục có đến bảy mươi mấy
loại, Kinh Địa Tạng chỉ nói sơ lược mà
thôi. Chúng ta nghĩ coi, bảy
mươi mấy loại đương nhiên cũng là
đă nói tóm gọn rồi, [sự thật th́] chủng loại
nhiều đến nỗi chẳng có cách ǵ tính đếm,
Phật thường dùng phương pháp quy nạp. Giống như phiền năo vô
lượng vô biên, Phật quy nạp thành một trăm lẻ
tám loại lớn, dùng phương pháp quy nạp. Thế nên bảy mươi mấy
loại này cũng là dùng pháp quy nạp, khổ nhất chính
là địa ngục Vô Gián.
Trong kinh đức Phật nói những việc thiện
ác do chúng sanh tạo đều có nhân quả báo ứng, nhất
định sẽ không mất đi đâu hết. Tâm thiện, hạnh thiện nhất
định cảm lấy quả thiện; niệm ác, hạnh
ác nhất định cảm lấy ác báo, chỉ cần tạo
tác tội nghiệp th́ nhất định sẽ có địa
ngục, địa ngục là chỗ khổ cùng cực. Chúng ta xem tiếp đoạn kinh
kế tiếp, Địa Tạng Bồ Tát nói:
Vô Gián ngục giả, kỳ ngục thành.
Ngục Vô Gián
có ngục thành.
Phía ngoài địa ngục có tường thành, có
tường bao bọc, tường bao bọc giống
như thành lũy vậy.
Châu táp bát vạn dư lư, kỳ thành thuần thiết, cao nhất vạn lư. Thành thượng hỏa tụ, thiểu hữu không khuyết.