ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KƯ

Ḥa thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba 5-1998

 

Tập 9 (Số 14-12-09)

 

          Xin mở kinh.

          Phẩm thứ 3: Quán nghiệp duyên chúng sanh.

          Lần trước nói đến đoạn Bất kính Tam Bảo, chúng ta xem tiếp:

         

Nhược hữu chúng sanh xâm tổn thường trụ, điếm ô tăng ni, hoặc già lam nội, tứ hành dâm dục, hoặc sát hoặc hại, như thị đẳng bối đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp cầu xuất vô kỳ.

          Nếu có chúng sanh xâm tổn của thường trụ, làm nhơ nhuốc Tăng Ni, hoặc tứ t́nh hành dâm trong chốn Già Lam, hoặc giết hoặc hại, hạng người như thế phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.

          Đây là ba thứ tội nghiệp cực nặng.  Chúng ta nhất định phải ghi nhớ: thứ nhất là chẳng hiếu thuận cha mẹ, thứ hai là chẳng kính Tam Bảo, thứ ba là ‘xâm tổn thường trụ’, xâm là xâm phạm, tổn là tổn hoại, tội xâm tổn thường trụ rất nặng, là thuộc về giới trộm cắp, đây là việc chư vị phải biết.  Nhiều người coi thường việc này, cứ tưởng đây là chuyện nhỏ, chẳng ăn nhằm ǵ, không biết đă phạm tội nặng nề.  Trong kinh, Phật nói rất rơ ràng, chúng ta nhất định phải thấu hiểu cặn kẽ, thường trụ có bốn loại:

Thứ nhất gọi là Thường Trụ Thường Trụ, đây là những bất động sản, đất đai, ruộng đất, nhà cửa trong tự viện, am đường, đạo tràng, được gọi là Thường trụ thường trụ.  Chỉ có thể xử dụng, tuyệt đối không thể trao đổi, mua bán, đây là vật của thường trụ, tội này cực nặng.

Thứ nh́ là Thập Phương Thường Trụ, chúng ta thường gọi là ‘Tứ Sự Cúng dường’: ‘thức ăn, y phục, ngọa cụ, y dược’.  Đây là phẩm vật của tín đồ mười phương cúng dường người xuất gia, không dành riêng cho một người nào cả, hết thảy những người xuất gia trong đạo tràng này đều có phần.  Nếu bạn xâm phạm, lấy làm của ḿnh th́ là trộm cắp.

Thứ ba là Hiện Tiền Hiện Tiền, đây là những ǵ tín đồ bố thí cho chúng ta.  Phạm vi bố thí này tương đối nhỏ, chỉ thuộc về những người xuất gia hiện đang có mặt (hiện tiền).  Không giống như mười phương nói ở phía trước, mười phương là hết thảy người xuất gia đều có phần.  Thời xưa người xuất gia chẳng có nhà, bất cứ là đạo tràng nào cũng có thể xin cư ngụ (quải đơn), đều có thể thọ dụng, đều có thể tiếp nhận được.  V́ sự cúng dường này là cúng dường mười phương nên hết thảy người xuất gia đều có phần.

Thứ tư gọi là Thập Phương Hiện Tiền, những vật hiện tiền, thí dụ lúc người xuất gia văng sanh rồi, những vật mà họ để lại th́ gọi là Thập Phương Hiện Tiền.  Tuy là Hiện Tiền, nhưng những vật này mười phương đều có phần.  Thế nên khi kết tội là kết từ những chỗ này.

Thí dụ như việc trộm cắp trong thế gian, bạn trộm đồ của một người th́ bạn thiếu nợ một người.  Chư vị đồng tu nhất định phải biết, nếu bạn hiểu rơ đạo lư này, thông đạt chân tướng sự thật, th́ trong thế gian tuyệt đối chẳng thể nói một kẻ nào đó lợi dụng người khác, lời này chẳng đúng.  Cũng chẳng có việc người nào đó bị gạt, bị lợi dụng.  Tại sao vậy?  Đời này bạn giựt của người ta th́ đời sau bạn phải trả nợ cho họ, đây là đạo lư nhất định, nhân quả báo ứng.  Chúng ta giựt đồ, tương lai đời sau gặp duyên này th́ tài vật của chúng ta cũng sẽ bị người ta giựt mất.  Nếu chúng ta xâm chiếm người khác th́ tương lai người ta cũng xâm chiếm chúng ta.  Thế nên Phật nói giữa người với người có bốn thứ duyên: báo ân, báo oán, đ̣i nợ, trả nợ.  Đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn chẳng dứt, đều là làm những việc này.  Chúng ta đến thế gian này để làm ǵ?  Là để báo ân, báo oán, đ̣i nợ, trả nợ mà thôi.  Sau khi hiểu rơ đạo lư này xong, ân th́ phải báo c̣n oán th́ kể như huề đi, đừng tiếp tục nữa, xóa mất oan trái này, chúng ta thiếu người ta th́ phải trả, người ta thiếu ḿnh th́ bỏ qua đi.  Món oan trái này kết thúc trong đời này, chấm dứt hết, được vậy th́ mới có thể niệm Phật, mới có thể văng sanh Tịnh Độ.  Nếu bạn cứ thường ghi nhớ những ân oán, nợ nần này trong tâm, đến lúc Phật đến tiếp dẫn muốn kéo nhưng kéo bạn không nổi, chuyện ở thế gian này bạn c̣n chưa dứt hết, những chuyện này không bao giờ dứt .

Thế nên bạn thiếu nợ một người th́ bạn chỉ trả nợ cho một người, chuyện này dễ làm.  Nếu là chính phủ địa phương, thí dụ một thành phố, nếu bạn trộm cắp những thiết bị công cộng ở đây th́ phiền phức sẽ lớn lắm.  Tại sao vậy?  Bạn phải biết sự kết tội này, thiết bị công cộng là do những người ở địa phương này đóng thuế tạo dựng nên.  Nếu bạn trộm cắp th́ những người trong thành phố này đều là chủ nợ của bạn, bạn phải trả cho từng người, bạn phải trả đến bao giờ mới trả dứt?  Chư vị nhất định phải biết, nhất định không thể trộm cắp những thiết bị công cộng, tội nặng lắm.  Nếu thiết bị này là của quốc gia th́ phiền phức c̣n lớn hơn nữa, tương lai khi kết tội th́ người cả nước đều là chủ nợ của bạn.  Hiện nay nhiều người không biết tội này nặng, mặc sức tùy tiện phá hoại thiết bị công cộng, tội này rất nặng, nặng vô cùng, phải kết tội dựa trên người cả nước.  Tự viện, am đường gọi là đồ vật của Tam Bảo, tội này c̣n nặng hơn tội trộm cắp tài vật của quốc gia, tại sao vậy?  Nó thông mười phương, tận hư không, trọn pháp giới hết thảy những người xuất gia đều có phần, sự luận tội này phải dựa trên tận hư không, trọn pháp giới, vậy th́ phiền phức c̣n lớn hơn nữa.  Thế nên trộm cắp đồ vật của Tam Bảo, trộm một cây kim, một sợi chỉ, một cọng cỏ, một khúc cây đều phải đọa địa ngục A Tỳ.  Có người nói việc này h́nh như chẳng hợp lư tí nào, một cọng cỏ, một khúc cây, một cây kim, sợi chỉ chẳng đáng ǵ hết, tại sao tội nặng như vậy?  Bạn nghĩ xem, chủ nhân của nó là ai?  Bạn sẽ rơ, chủ nhân của nó là tận hư không, trọn khắp pháp giới hết thảy người xuất gia, bạn phải luận tội trên số người này.

Phạm vi của chữ ‘đạo’ (trộm cắp) vô cùng rộng lớn, chẳng hạn chế ở chỗ trộm cắp.  Trong kinh Phật, chữ đạo đuợc giải thích là ‘chẳng cho mà lấy’.  Người quản lư trong thường trụ phải cân nhắc: bạn muốn những vật ấy có nên đưa cho bạn hay không; nếu nên đưa nhưng họ không cho th́ họ phạm giới, họ cũng phạm giới trộm cắp, họ dành lấy làm của riêng, cố ư làm khó dễ không cho bạn.  Nếu không nên cho nhưng họ cho bạn th́ cũng phạm giới, thế nên [quản lư đồ thường trụ] chẳng dễ đâu.  Quản lư đồ vật của Tam Bảo, nếu không để ư th́ liền tạo nên quả báo nghiêm trọng, đạo lư này chúng ta nhất định phải hiểu.  Nếu chúng ta lăng phí đồ vật của Tam Bảo, cũng là giới điều này.  Chúng ta tiết kiệm một phần tiền cho Tam Bảo, tiết kiệm được một đồng là phước báo của bạn, phước báo này rất lớn.  Tại sao?  Bạn cho hết thảy người xuất gia ở mười phương, bạn tu phước v́ họ.  Nói cách khác, nếu bạn lăng phí, tổn hại th́ tội này sẽ rất nặng.  Ngày nay càng ngày càng ít người hiểu được đạo lư này.  Người xuất gia cũng chẳng nói, hiện nay những pháp sư giảng kinh có ai giảng Giới Luật đâu?  Nếu giảng Giới Luật th́ người ta sẽ mắng bạn.  [Họ sẽ nói:] “Ông giảng Giới Luật, mở kinh ra th́ mỗi ngày đều mắng chửi chúng tôi”, c̣n ai chịu nghe lời chửi mắng?  Nếu bạn giảng Giới Luật th́ một thính chúng cũng không có, nhưng đó là lời chân thật.  Thế nên chúng sanh cơi Diêm Phù Đề, Địa Tạng Bồ Tát nói: ‘Khởi tâm động niệm, không ǵ là chẳng phải tội’, lời này là thật, chẳng quá đáng tí nào.  Niệm niệm đều đang tạo nghiệp, niệm Phật văng sanh đâu dễ vậy sao, đây là việc chúng ta nhất định phải biết, phải cảnh giác, phải biết sự nghiêm trọng của quả báo.

Đoạn kế tiếp ‘điếm ô tăng ni’, đây là phạm tội dâm dục.  Tăng là chúng xuất gia Nam, Ni là chúng xuất gia Nữ.  Người thế gian vô tri, dâm ô tăng ni.  ‘Hoặc trong chốn già lam’.  Phía sau là ǵ?  Phía sau chẳng phải là người xuất gia, thậm chí vợ chồng tham gia pháp hội trong tự viện, có khi pháp hội kéo dài nhiều ngày, thí dụ pháp hội Thủy Lục, hoặc là Lương Hoàng Sám, đều kéo dài khoảng bảy ngày trở lên, pháp hội truyền giới c̣n dài hơn nữa.  Có rất nhiều cư sĩ trong thời gian này tham gia pháp hội, ở lại trong chùa, tuy là vợ chồng, nếu có hành vi dâm dục trong chùa th́ cũng liệt vào tội này.  Nếu không phải là vợ chồng th́ tội c̣n nặng hơn, đó là tà dâm.  Chư vị nên biết đây đều là tội đọa địa ngục Vô Gián, người hiện nay làm sao biết được bị những quả báo nặng nề như vậy?  ‘Hoặc sát hoặc hại’, phần nhiều đây đều là cưỡng dâm, sau khi dâm ô xong rồi giết họ để thủ tiêu tang chứng, tội này càng nặng hơn.  Tạo những tội này đều phải ‘đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được’.  Xem tiếp đoạn thứ tư:

         

          Nhược hữu chúng sanh, ngụy tác sa môn, tâm phi sa môn, phá dụng thường trụ, khi cuống bạch y, vi bội giới luật, chủng chủng tạo ác, như thị đẳng bối đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.

          Nếu có chúng sanh giả làm Sa Môn, tâm chẳng phải Sa Môn, phá hoại lạm dụng của thường trụ, gạt gẫm hàng bạch y, trái phạm Giới Luật, tạo vô số tội ác, những người như vậy phải đọa địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.

          Hai câu đầu là ‘cử tội’.  ‘Sa môn’ là người tu hành, chẳng phải chỉ Tăng Ni, Tăng Ni càng thù thắng hơn Sa Môn.  Cư sĩ tại gia cũng có thể xưng là Sa Môn, hai chữ này là Phạn ngữ dịch âm, ư nghĩa của nó là ‘siêng tu Giới Định Huệ, diệt hết Tham Sân Si’, thế nên xuất gia hay tại gia đều có thể xưng là Sa Môn.  Chỉ cần bạn hết ḷng tu hành, tu hành đúng như lư như pháp đều có thể xưng là Sa Môn.  Ở Ấn Độ danh từ Sa Môn này là danh xưng phổ biến, chẳng nhất định là Phật giáo, hết thảy những tín đồ tôn giáo chỉ cần hết ḷng học tập, đoạn ác tu thiện thông thường đều xưng là Sa Môn.  Sau khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc, Sa Môn biến thành danh từ chung của những người xuất gia trong Phật giáo, nhưng chư vị nên biết nó cũng bao gồm người tại gia, xưng Sa Môn là một cách xưng hô khiêm tốn.  Nếu họ giả vờ như Sa Môn nhưng chẳng tu hành chân chánh, giả vờ tu hành nhất định nhằm mục đích lừa gạt chúng sanh.  Đoạn kinh văn này, Thanh Liên pháp sư trong cuốn Khoa Phán gộp vào ‘phá giới gạt người’,  ‘cuống’ [trong câu “khi cuống bạch y”] là lừa gạt, dối người.

          Phía dưới đây nói về tội trạng của họ, ‘phá dụng thường trụ’.  Nếu bạn chẳng phải là người chân chánh tu đạo, mười phương cúng dường là cúng dường người tu đạo, nếu bạn tu đạo chân thật th́ họ sẽ có phước.  Họ cúng dường cho bạn tu hành, bạn tu hành rất tốt, tối thiểu là đời sau bạn c̣n được làm người, sanh lên trời hưởng phước trời, th́ họ hưởng được phước lây.  Nếu bạn đọa vào ba đường ác, bạn đă phụ ḷng họ, sẽ thiếu nợ họ, như thường nói:

‘Một hạt gạo thí chủ, lớn như núi Tu-di,

Đời này chẳng liễu đạo, mang lông đội sừng đền’

Phải trả nợ.  Nếu trong đời này bạn tu hành chân thật, văng sanh Cực Lạc thế giới làm Phật, th́ phước của họ c̣n lớn hơn nữa, phước điền này họ đă thật sự trồng được đúng chỗ.  Do đó có thể biết, chén cơm của người xuất gia này rất khó nuốt.  Trong các buổi giảng tôi thường nhắc nhở các vị đồng tu, chén cơm này khó nuốt hơn những người đi khất thực nhiều.  Người ăn xin, người ta bố thí cho người xin ăn, nhất định chẳng nghĩ đến phải trồng phước, chẳng muốn được báo đền, cho nên chén cơm của người ăn xin dễ nuốt hơn nhiều.  Người xuất gia tiếp nhận bố thí cúng dường, khó nuốt lắm, đời này chẳng liễu đạo th́ phải mang lông, đội sừng mà đền trả.  Nghề nghiệp trong thế gian rất nhiều, tại sao bạn chọn đi xuất gia?  Chọn xuất gia, nói thật ra, nếu không thể văng sanh Cực Lạc thế giới th́ bạn sẽ chọn đi đến địa ngục A Tỳ.  Tại sao phải làm chuyện cực khổ này?  Chúng ta phải cảnh giác cao độ, đây chẳng phải chuyện giỡn chơi, nghiêm túc phi thường.

          Chúng ta nh́n thấy người xuất gia hiện nay, nói thật ra là v́ đọc kinh quá ít, chẳng có mấy người hiểu được đạo lư này, hiểu chân tướng sự thật này.  Vả lại phần đông người trong xă hội nghĩ như thế nào?  Nghề ‘xuất gia’ này rất dễ kiếm tiền, chẳng cần đóng thuế, chẳng cần phải làm ăn cực khổ.  Làm bất cứ ngành nghề ǵ trong thế gian đều phải đi học cực khổ, học kỹ thuật.  Người xuất gia nếu cần học Kinh Sám Phật Sự, tối đa ba tháng là rất rành rồi, th́ có thể bắt đầu ‘kiếm tiền’.  Nếu bạn có thể giảng ‘thiện đạo’ th́ kiếm tiền c̣n dễ hơn nữa, chẳng cần mấy năm th́ bạn sẽ có thể kiếm mấy triệu bạc, mấy chục triệu bạc.  Thế nhưng phải biết sau này quả báo sẽ ở tại địa ngục A Tỳ, thọ tội ở địa ngục A Tỳ xong c̣n phải trải qua thời gian rất dài để trả nợ.  Tuyệt đối không thể nói thiếu nợ chẳng cần trả, không có đạo lư này, nhân quả thông ba đời, chúng ta phải biết.  Cách làm này là ‘phá dụng thường trụ’.  ‘Khi cuống bạch y’, ‘Bạch y’ [1] là tín đồ tại gia, bạn lừa gạt họ, phản nghịch giáo giới của đức Phật.  ‘Chủng chủng tạo ác’, tạo ác nghĩa là tham, sân, si, mạn; tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp.  Đây là loại thứ tư đọa địa ngục A Tỳ, A Tỳ nghĩa là ‘Vô Gián’, là hạng người thứ tư.  Loại cuối cùng là trộm cắp vật của thường trụ, đây là dùng tâm trộm cắp để trộm cắp, so với ‘xâm tổn’ nói ở phía trước c̣n nặng hơn.

 

          Nhược hữu chúng sanh thâu thiết thường trụ tài vật cốc mễ, ẩm thực y phục, năi chí nhất vật bất dữ thủ giả, đương đọa vô gián địa ngục, thiên vạn ức kiếp cầu xuất vô kỳ.

          Nếu có chúng sanh trộm cắp tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống, y phục của thường trụ, cho đến một vật không cho mà lấy; kẻ đó phải đọa địa ngục Vô Gián trong ngàn vạn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.

Hai câu sau cùng là quả báo phải có của họ.  Thường trụ phía trước đă nói rồi, [có] bốn thứ thường trụ.  Nếu bạn dùng tâm trộm cắp, tâm thâu đạo để đi trộm cắp, hoặc để tự ḿnh dùng, trộm về để tự ḿnh hưởng thọ, hoặc cho người thân, quyến thuộc dùng đều phạm tội này, tội này rất nặng.  Kinh Quán Phật Tam Muội nói trộm cắp đồ vật của Tam Bảo, tội ấy lớn hơn tội giết tám vạn bốn ngàn cha mẹ, sát hại cha mẹ phía trước có nói là tội nghiệp đọa địa ngục A Tỳ.  Trộm cắp đồ vật của Tam Bảo c̣n nặng hơn tội giết cha mẹ.  Nặng hơn bao nhiêu, chúng ta không cách ǵ tưởng tượng được nổi.  Trong kinh Phật thí dụ c̣n nặng hơn tội giết hại tám vạn bốn ngàn cha mẹ.  Hoa Tụ Bồ Tát trong kinh nói: ‘Ngũ nghịch bốn trọng tội tôi c̣n có thể cứu, trộm Tăng vật th́ tôi không thể cứu’.  Hoa Tựu Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát, ngang hàng với Quán Âm, Thế Chí, Địa Tạng Bồ Tát, lời các ngài nói là lời chân thật, chẳng giả.

Hiện nay địa phương này của chúng ta, đạo tràng này là đạo tràng cư sĩ, đạo tràng cư sĩ hoằng hộ chánh pháp, nhân quả của nó tương đồng với tự viện, am đường.  Những việc này chúng ta phải nhận thức rơ ràng, nếu chúng ta cần th́ có thể nói rơ cho thường trụ biết, thường trụ cúng dường, vậy là chính xác.  Nhất định không được dấu thường trụ mà tự ḿnh trộm lấy, vậy là sai lầm.  Vật thường trụ dễ phạm nhất là: giấy, như bao thơ, giấy viết thơ, chúng ta tùy tiện lấy để viết thơ riêng, chuyện này là chuyện rất nhỏ, người chẳng học Phật đâu biết?  Thông thường trong xă hội, trong cơ quan chánh phủ cũng vậy, công ty tư nhân cũng vậy, những vật dụng của chủ như những vật này, nếu cứ tùy tiện lấy xài, chẳng hiểu Phật lư.  Ở Đài Trung tôi theo học thầy Lư mười năm, thầy Lư làm việc trong văn pḥng của giám đốc Sở Quản Trị Tế Tự Khổng Miếu, cụ làm Chánh Thư Kư cho vị đứng đầu cơ quan ấy.  Thầy nói với chúng tôi, mỗi lần đi lấy giấy viết thơ, bao thơ, nhất định phải nói cho giám đốc Sở Quản Trị Tế Tự Khổng Miếu biết: ‘Tôi lấy những giấy, bao thơ này, có khi viết thơ cá nhân cũng dùng’.  Ông giám đốc này nói thầy Lư lải nhải, ‘Có ai không làm như vậy đâu?  Tại sao mỗi lần lấy ông đều phải nói mấy câu này chi vậy?’.  Thầy Lư nói: ‘Tôi nói mấy câu này, ông chịu cho th́ tôi không phạm giới; nếu tôi không được ông đồng ư chấp thuận, tôi dùng giấy của công để viết thơ riêng th́ tôi phạm giới trộm cắp’.  Đây là người hiểu lư, một tờ giấy, một bao thơ thầy cũng cẩn thận như vậy, vậy th́ có thể suy ra những việc khác.  Thế nên một giới nhỏ cũng phải cẩn thận, không thể coi thường, cứ cho rằng đây là chuyện rất nhỏ không có tội, chẳng nghiêm trọng, đó là chúng ta nghĩ sai, nh́n sai rồi.

Tôi đă từng kể với chư vị đồng tu, hồi trước lúc tôi học trung học có một vị hiệu trưởng tên là Châu Bang Đạo, người Giang Tây, sau này ông cũng đến Đài Loan.  Trước kia ở Trung Quốc đại lục, ông ta từng làm giám đốc Sở Giáo Dục tỉnh Giang Tây, sau khi kháng chiến thắng lợi, ở Đài Loan ông làm thứ trưởng bộ Giáo Dục đặc trách công tác thi cử, chức này ở Trung Quốc tức là phó bộ trưởng thứ nhất.  Chánh phủ cấp xe cho ông dùng, khi đi công tác th́ ông dùng xe chánh phủ, khi nào đi làm chuyện riêng th́ đi xe bus.  Tại sao vậy?  Không dám lăng phí xăng dầu của chánh phủ, không xâm tổn tài vật của quốc gia.  Trong thời đại ngày nay vẫn c̣n quan viên như vậy, đây là gương tốt đáng cho chúng ta học tập.  Đều là cư sĩ tại gia, mỗi ngày đều đọc kinh, hiểu rơ đạo lư, hiểu rơ chân tướng sự thật, họ làm gương cho chúng ta xem.  Trong nhà có điện thoại do chánh phủ cấp, nếu không phải là việc công th́ không dùng điện thoại này, con nít trong nhà cũng không cho dùng điện thoại.  Niệm niệm đều v́ quốc gia, giúp quốc gia tiết kiệm một phân tiền đều là việc tốt, chẳng dám lăng phí chút nào.  Ngày nay chúng ta dùng điện thoại gọi đến nước khác, không biết nói vắn tắt, cứ lải nhải nói hoài, [đó là] ‘xâm tổn thường trụ’.  Chuyện quan trọng trong ṿng vài câu nói có thể giải quyết vấn đề, một khi cầm điện thoại lên cứ nói chuyện đâu không, hỏi tới hỏi lui, tiền điện thoại này là do thường trụ trả, xâm tổn thường trụ, mọi người chẳng biết chuyện này lợi hại ra sao.

Thế nên tôi khuyến khích mọi người, hiện nay chúng ta có một số chuyện cần phải biết, cách truyền đạt tin tức tốt nhất là dùng máy truyền chân (fax), dùng fax có thể tiết kiệm thời gian.  Năm phút có thể truyền đi mười mấy trang giấy, trong mười mấy trang giấy này nội dung bạn viết quá đầy đủ rồi, cách làm như vậy rất tốt.  Hơn nữa khi người nhận coi lần đầu không rơ th́ có thể coi lần thứ hai.  Gọi điện thoại nói nửa tiếng đồng hồ chẳng có hiệu quả bằng năm phút dùng fax, phí tổn dùng máy fax giống như dùng điện thoại, bạn tiết kiệm được bao nhiêu!  Chẳng biết tạo tác tội nghiệp đọa địa ngục A Tỳ, tự ḿnh không biết.  Tương lai đọa địa ngục A Tỳ rồi mới kêu oan uổng, Diêm La Vương đem những chuyện này bày trước mặt cho bạn coi, bạn nghẹn ngào chẳng thốt nên lời, chứng cớ đều có sẵn trước mặt.  Trong Giới Kinh có nói rơ, ở đây chỉ nêu lên những điểm chính và nói sơ lược mà thôi.

Hiện nay chúng ta phải thể hội đến sự khó khăn về vật lực, hết thảy những chúng sanh này, chúng sanh trên toàn thế giới, chẳng hay chẳng biết tạo tác vô lượng vô biên tội nghiệp.  Tuy là hưởng phước, rất mau th́ sẽ hưởng hết phước này.  Hưởng hết phước th́ tai nạn sẽ đến, tai nạn này trong Phật pháp gọi là Hoa Báo, Quả Báo sẽ ở địa ngục, hoa báo là điềm báo trước của quả báo, chúng ta làm sao không cảnh giác cho được!  Tại sao trong đời này, trong ṿng mấy mươi năm ngắn ngủi, không cắn chặt răng học theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni sống một cuộc sống đơn giản nhất, thuần phát nhất.  Ngoài việc hoằng pháp lợi sanh ra, làm lợi ích cho đại chúng, chúng ta phải nên làm.  Những nhu cầu cá nhân trong đời sống nhất định phải tiết kiệm đến mức thấp nhất.  Nếu những người xuất gia chúng ta, trên thân một đồng cũng chẳng có, hăy nên thật sự giữ đúng như pháp.  Khi ra ngoài cần dùng tiền th́ thường trụ cung ứng, khi ra ngoài cũng phải tiết kiệm, khi trở về nếu c̣n dư th́ giao trả cho thường trụ.  Nếu chúng ta có thể làm như vậy, nhất định sẽ được hết thảy chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần chăm sóc, bảo vệ.  Ngày nay chúng ta khởi tâm động niệm, những chuyện ḿnh làm chẳng đúng như lư, như pháp, nói thật ra chư Phật không hộ niệm cho bạn, long thiên thiện thần khinh dể bạn.  Ai ở xung quanh bạn?  Yêu ma quỷ quái.  Yêu ma quỷ quái thừa dịp [khuấy nhiễu], thế nên bạn thường có bịnh khổ, thường bị tai ương, trừng phạt, tự ḿnh c̣n không tự giác.

Người không học Phật th́ thật sự chẳng biết, người học Phật hiểu rồi, đời này chúng ta đến thế gian này để làm ǵ?  Chỉ có hai việc: ‘Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh’.  Trên cầu Phật đạo th́ nhất định phải niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới, vậy tức là thượng cầu, trong đời này nhất định có thể làm được.  Hạ hóa chúng sanh là làm gương tốt cho hết thảy chúng sanh, vậy th́ bạn sẽ làm được việc ‘Hạ hóa’ này rất viên măn.  Ngày nay người thế gian tham tiền tài, tham danh, tham lợi, chúng ta làm gương tốt, phải xả bỏ tài, danh, lợi sạch sành sanh, như vậy là ‘hạ hóa’.  Chẳng cần phải nói, cũng chẳng cần người ta biết, khi bạn chịu làm, có một, hai người biết th́ họ sẽ tuyên dương, sẽ nói cho người ta biết.  [Họ sẽ nói:] “Những người xuất gia ở nơi ấy làm như vậy, những người xuất gia ấy thân tâm thanh tịnh, được đại tự tại, trí huệ sung măn”, làm cho người thế gian ngưỡng mộ, mong mỏi, đến để học theo bạn, vậy th́ mới đạt đến hiệu quả thật sự làm lợi ích cho chúng sanh.

Tai nạn thế gian từ đâu đến?  Người thế gian cho rằng những chuyện xảy ra trong thiên nhiên chẳng liên quan đến chúng ta, thế nên đều gán những tai nạn này thành tai hại thiên nhiên, chẳng do sức lực con người có thể làm nên, đều đẩy trách nhiệm hết.  Chỉ có người chân chánh học Phật biết được, y báo và chánh báo là một thể, y báo và chánh báo chẳng hai.  Đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, giảng những đạo lư, chân tướng sự thật này rất thấu triệt, minh bạch.  Chúng ta khởi tâm động niệm, những ǵ ḿnh làm, nhỏ như sợi lông tơ, như hạt bụi, chẳng đáng ǵ hết, nhưng đều ảnh hưởng đến tận hư không, trọn khắp pháp giới.  Thế nên Phật nói cho chúng ta ‘cảm từ cộng nghiệp’, chúng ta nghe xong lời này nhất định sẽ không có nghi hoặc ǵ cả.  Thời xưa, hàng vua chúa bao gồm cả những phần tử trí thức, phần tử trí thức ở Trung Quốc chẳng ai không đọc sách Phật cả, họ đều hiểu đạo lư này.  Khi gặp tai họa thiên nhiên, họ đều hết ḷng phản tỉnh, sám hối, sửa sai đổi mới, để cứu văn kiếp vận, họ hiểu được đạo lư này.  Hiện nay người học khoa học không thừa nhận sự thật này, cho rằng đây là vọng tưởng, ảo tưởng, chẳng phù hợp với nguyên tắc khoa học, [đấy là] mê tín vào khoa học.  Những ǵ khoa học nghiên cứu chỉ là một bộ phận trong cả vũ trụ nhân sanh, Phật pháp nói về toàn thể, nếu chấp trước một bộ phận nào đó th́ trước sau ǵ cũng sẽ tổn hại đến toàn thể.  Chỉ có quan tâm đến cả toàn thể th́ mới giải quyết vấn đề, đây là điều chúng ta không thể không biết.  Trong kinh điển Đại Thừa, Phật thường dạy chúng ta hiểu rơ ư nghĩa đường hướng, chúng ta hiểu cạn cợt th́ không được, phải hiểu cho sâu, nhất định phải đích thân ra sức mà làm.  Xem tiếp đoạn kế:

 

Địa Tạng bạch ngôn: Thánh Mẫu, nhược hữu chúng sanh tác như thị tội, đương đọa ngũ vô gián địa ngục, cầu tạm đ́nh khổ, nhất niệm bất đắc.

Ngài Địa Tạng thưa rằng: ‘Thánh Mẫu, nếu có chúng sanh phạm những tội như vậy th́ phải đọa Ngũ Vô Gián địa ngục, cầu tạm ngừng sự đau khổ trong chừng một niệm cũng không được.

Vô Gián tức là địa ngục A Tỳ, có lúc trong kinh nói hai loại, có lúc gộp cả hai lại nói, rốt cuộc là một hay là hai không nói tách bạch, nhưng chúng ta có thể xem như là một.  Địa Tạng Bồ Tát sơ lược nêu lên năm tội nặng ở đoạn trước, đều nhất định sẽ đọa địa ngục Vô Gián.  ‘Nhược hữu chúng sanh tác như thị tội’, ‘như thị’ là chỉ năm loại tội lớn.  Năm loại này đều là thập ác nghiệp nghiêm trọng, sau khi thọ báo ở địa ngục xong ra khỏi địa ngục vẫn c̣n dư báo, dư báo ở tại ngạ quỷ, súc sanh, chẳng biết đến lúc nào mới có thể có được thân người trở lại, thế nên được thân người tương đối chẳng dễ.  Thời gian trong ba đường ác đều rất dài, địa ngục th́ chẳng cần phải nói nữa.  C̣n cơi ngạ quỷ, trong kinh Phật nói, một ngày ở cơi ngạ quỷ bằng một tháng ở nhân gian, ở nhân gian khi cúng tế quỷ thần th́ cúng ngày mồng một, mười lăm, cũng như mời họ ăn cơm, vừa đúng lúc!  Một ngày của họ bằng một tháng của chúng ta, ngày mồng một, ngày rằm vừa đúng lúc chúng ta mời họ ăn cơm trưa, ăn cơm tối, đó là một ngày của họ.  Thọ mạng ngắn ở cơi ngạ quỷ là một ngàn tuổi, cũng tính một năm có ba trăm sáu mươi ngày, chiếu theo cách tính này th́ thọ mạng ở cơi ngạ quỷ cũng quá dài, quá dài.  Lúc trước ông Chương Thái Diệm từng làm chức phán quan cho Đông Nhạc đại đế, mỗi ngày ông đều làm việc ở cơi quỷ, c̣n gặp những quỷ thời triều Hán, ông là người đọc sách, triều Hán, hai triều Tấn, Tùy, Đường, ông đều gặp những người ở triều đại này, những t́nh h́nh như vầy chúng ta đều phải biết.

Có một số trong cơi súc sanh thọ mạng rất ngắn, nhưng súc sanh ngu si, vô cùng chấp trước thân h́nh của chúng nên rất khó thoát ly cơi súc sanh.  Trong kinh, đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với chúng ta lúc ngài ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc một thời gian, giảng kinh thuyết pháp ở đó.  Kỳ Viên tinh xá có một số công tŕnh đang xây dựng, đại khái là xây nhà cửa, dưới đất có một ổ kiến, Phật nh́n thấy rồi cười.  Các đệ tử nh́n thấy Phật cười nên hỏi tại sao?  Phật nói ổ kiến này, đă trải qua bảy tôn Phật rồi chúng nó vẫn c̣n làm kiến.  Thọ mạng của chúng chẳng phải dài như vậy, chúng nó chấp trước thân h́nh ấy là chính ḿnh, chết đi đầu thai cũng vẫn làm kiến, đời đời kiếp kiếp làm kiến, chẳng biết thoát ly, súc sanh ngu si.  Bạn hiểu rơ chân tướng sự thật xong mới biết ba đường ác rất đáng sợ.  Làm sao sanh vào ba đường ác?  Là do tạo mười ác nghiệp, phá giới, tạo mười ác nghiệp đọa ba đường ác.  Xin xem tiếp:

 

Ma Gia phu nhân trùng bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn, vân hà danh vi Vô Gián Địa ngục.

Ma Gia phu nhân lại hỏi Địa Tạng Bồ Tát: ‘Tại sao tên là địa ngục Vô Gián?’

Đây là lúc Ma Gia phu nhân nghe Địa Tạng Bồ Tát nói ‘địa ngục Vô Gián’ nghiêm trọng như vậy, đọa vào địa ngục Vô Gián, ngàn vạn ức kiếp cầu thoát khỏi chẳng được, dễ sợ quá.  Cái ǵ gọi là địa ngục Vô Gián?  Ma Gia phu nhân hỏi dùm chúng ta.

 

Địa Tạng bạch ngôn, Thánh Mẫu chư hữu địa ngục tại Đại Thiết Vi sơn chi nội, kỳ đại địa ngục, hữu nhất thập bát sở.

Ngài Địa Tạng thưa rằng: ‘Thánh Mẫu, tất cả địa ngục đều ở trong núi Đại Thiết Vi.  Địa ngục lớn có mười tám chỗ.’

Chúng ta thường nói đến mười tám tầng địa ngục, chính là ư nghĩa này.  Mười tám tầng địa ngục là mười tám ‘địa ngục lớn’.

 

Thứ hữu ngũ bá, danh hiệu các biệt, thứ hữu thiên bá, danh hiệu diệc biệt.

Thứ kế có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau; kế nữa lại có đến ngàn trăm, danh hiệu cũng đều khác nhau.

Hết thảy chúng sanh lúc c̣n ở thế gian tạo tác tội nghiệp có nặng nhẹ sai khác, cho nên đọa lạc địa ngục, chịu tội ở địa ngục cũng có nặng nhẹ khác nhau.  Lúc trước thầy Lư giảng kinh có nhắc qua, trong kinh Phật giảng kỹ về địa ngục có đến bảy mươi mấy loại, Kinh Địa Tạng chỉ nói sơ lược mà thôi.  Chúng ta nghĩ coi, bảy mươi mấy loại đương nhiên cũng là đă nói tóm gọn rồi, [sự thật th́] chủng loại nhiều đến nỗi chẳng có cách ǵ tính đếm, Phật thường dùng phương pháp quy nạp.  Giống như phiền năo vô lượng vô biên, Phật quy nạp thành một trăm lẻ tám loại lớn, dùng phương pháp quy nạp.  Thế nên bảy mươi mấy loại này cũng là dùng pháp quy nạp, khổ nhất chính là địa ngục Vô Gián.  Trong kinh đức Phật nói những việc thiện ác do chúng sanh tạo đều có nhân quả báo ứng, nhất định sẽ không mất đi đâu hết.  Tâm thiện, hạnh thiện nhất định cảm lấy quả thiện; niệm ác, hạnh ác nhất định cảm lấy ác báo, chỉ cần tạo tác tội nghiệp th́ nhất định sẽ có địa ngục, địa ngục là chỗ khổ cùng cực.  Chúng ta xem tiếp đoạn kinh kế tiếp, Địa Tạng Bồ Tát nói:

 

Vô Gián ngục giả, kỳ ngục thành.

Ngục Vô Gián có ngục thành.

Phía ngoài địa ngục có tường thành, có tường bao bọc, tường bao bọc giống như thành lũy vậy.

 

Châu táp bát vạn dư lư, kỳ thành thuần thiết, cao nhất vạn lư.  Thành thượng hỏa tụ, thiểu hữu không khuyết.