Hòa thượng Tịnh Không giảng tại
Tịnh Tông Học Hội
Tân Gia Ba 5-1998
Tập 11 (Số 14-12-11)
Lần
trước giảng đến đoạn Định Tự Tại Vương Bồ Tát thưa hỏi Thế Tôn, Địa Tạng Bồ Tát
nhiều kiếp đến nay đã phát nguyện gì mà được Thế Tôn ân cần tán thán, thỉnh
Phật vì đại chúng khai thị. Thế Tôn
nói với Định Tự Tại Vương Bồ Tát, trên thực tế thì Bồ Tát hỏi thay chúng ta,
đức Phật bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát phải .lắng nghe・ tức là dạy chúng ta phải
dụng tâm nghe pháp, lắng lòng lãnh hội.
Phật nói nhiều kiếp xa xưa về trước có một vị Phật hiệu là .Nhất Thiết
Trí Thành Tựu Như Lai・, thọ mạng của đức Phật là sáu vạn kiếp, từ đây có thể
biết chúng sanh trong thời đại đó nhất định phải tu thiện đoạn ác nên mới cảm
được quả báo thù thắng như vậy. Lúc
Phật chưa xuất gia, ngài là vua một nước nhỏ, cùng với vua một nước láng giềng
là bạn thân, cả hai vị vua này đều dùng thập thiện để cai trị quốc gia, dạy dân
chúng cả nước đoạn thập ác, tu thập thiện.
Đương nhiên hai nước này đều quốc thái dân an, nhân dân đều rất hạnh
phúc. Nhưng trừ hai nước này ra,
những nơi khác không được như vậy, chúng sanh tạo ác nghiệp rất nhiều. Lúc hai vị vua nhìn thấy cục diện của cả
thế giới, họ bèn bàn tính làm thế nào để giúp đỡ nhân dân của các quốc gia
ấy. Chúng ta giảng đến chỗ này, xin
xem tiếp:
Kỳ lân quốc nội, sở hữu nhân dân đa tạo chúng ác, nhị vương nghị kế, quảng thiết phương tiện.
Nhân
dân trong nước lân cận đó đa số tạo nhiều việc ác, hai vua bèn bàn tính, lập
nhiều phương tiện.
Làm
thế nào để cứu vãn thế vận, hai vị quốc vương này hợp lại thương lượng
Một vua phát nguyện
Tảo
thành Phật đạo, đương độ thị bối, linh sử vô dư
Sớm thành Phật đạo để độ hết những kẻ ấy, không bỏ sót một ai.
Một vua phát nguyện, duy chỉ có thành Phật mới có khả năng rộng độ chúng sanh. Nếu chẳng thành Phật, tuy có nguyện này, nguyện này trái ngược với tâm, chúng ta thường nói: .Tâm có dư nhưng sức chẳng đủ・, vẫn chẳng có cách gì. Nên phát tâm cầu đạo muốn thành Phật.
Nhất vương phát nguyện nhược bất tiên độ tội khổ linh thị an lạc đắc chí Bồ Đề, ngã chung vị nguyện thành Phật.
Một
vua thì nguyện: .Nếu tôi chẳng độ những kẻ tội khổ trước, làm cho họ được an
vui, cho đến đắc quả Bồ Đề thì tôi nguyện chưa thành Phật・.
Hai
vị vua này phát nguyện chẳng giống nhau.
Vị vua này phát nguyện chưa độ mình, độ chúng sanh trước. Đây là Bồ Tát phát tâm, chẳng vì mình,
vì kẻ khác. Chúng ta nhất định phải
hiểu rõ ý nghĩa chân thật của đoạn kinh này, chúng ta có thể phát nguyện chẳng
độ mình, mà độ chúng sanh trước hay không?
Nếu thật sự phát nguyện này, hết thảy đều vì chúng sanh, hết thảy vì
Phật pháp, đích thật chẳng có Ta, .Ta và cái của Ta・ (ngã và ngã sở) đều đoạn dứt
hết, như vậy thì được, vậy thì không có vấn đề. Nếu vẫn còn nhân ngã, thị phi, được mất,
vậy thì không được. Nói cách khác,
bạn sẽ chẳng thoát ra khỏi lục đạo.
Phàm là con người mà nếu chưa thể thoát ly lục đạo
thì nhất định phải giác ngộ. Từ vô thỉ
kiếp đến nay, chúng ta tích lũy bao nhiêu tội nghiệp, đây là sự thật! Tội nghiệp chẳng phải chỉ tạo
trong đời này mà thôi, tội nghiệp còn tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay,
lẽ đâu chẳng đọa ác đạo cho được! Bạn nhất định sẽ đọa
lạc. Lúc đọa lạc trong tam ác đạo,
bạn lấy gì để độ chúng sanh? Thế
nên chư vị phải biết, nhất định phải chứng được quả A La Hán trở lên mới có thể
nói :Tôi độ chúng sanh trước, chúng sanh chẳng thành Phật thì tôi không thành
Phật;. Mức tối thiểu là quả A La
Hán, thoát ly lục đạo luân hồi. Vào
trong lục đạo chỉ là thị hiện, giúp đỡ chúng sanh. Cho đến khi mình thành Phật vẫn còn một
thời gian dài, mình cứ thong thả độ chúng sanh trước, như vậy thì được. Tự mình phải có bản lãnh mới được, nếu
chẳng có bản lãnh mà phát nguyện này thì cũng như không nguyện. Thế nên ở chỗ này chúng ta phải đặc biệt
lưu ý, muôn vàn xin đừng hiểu lầm.
Phương pháp thù thắng nhất
đối với chúng ta, [do vì] nghiệp chướng tập khí của chúng ta quá nặng, ngay cả
một phẩm phiền não chúng ta cũng chẳng có năng lực đoạn được, [cho nên] phương
pháp hay nhất là phát tâm cầu sanh Tịnh Độ. Nói
thật ra nếu chúng ta muốn tự mình tu hành chứng được quả A La Hán không đơn
giản đâu, làm chẳng nổi, nhưng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì người
người đều có thể làm được. Đến tây
phương Cực Lạc thế giới có phải là liền thành Phật không? Không phải, một phẩm phiền não còn chưa
đoạn, người vãng sanh đến Phàm Thánh Đồng Cư Độ phiền não chưa đoạn, nhưng được
bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật gia trì, cộng thêm thiện lực của mình, tự
mình phải có nguyện tâm, có một chút thiện lực, cùng chư Phật, Bồ Tát cảm ứng
đạo giao, đến lúc ấy thì được. Tôi
chẳng cần thành Phật gấp, [do] tôi nóng lòng muốn độ chúng sanh trước nên học
theo Địa Tạng Bồ Tát. Đó là vốn liếng của bạn,
bạn được bổn nguyện oai thần của A Di Đà Phật gia trì thì có thể đến mười
phương thế giới, nên dùng thân gì độ hóa thì thị hiện thân ấy. Địa Tạng Bồ Tát cũng vậy. Tôi đã kể chuyện vợ ông Châu Bang Đạo
gặp Địa Tạng Bồ Tát mang hình tướng tỳ kheo xuất gia, nên dùng thân gì để độ
bèn thị hiện thân đó. Cần dùng thân
Phật để độ, Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể thị hiện tám tướng thành đạo, cũng có
thể thị hiện dùng thân Phật. Cho
nên điểm này chúng ta phải tìm hiểu rõ ràng, muôn vàn xin đừng hiểu lầm.
Ở Đài Loan chúng tôi đã từng thấy một số pháp sư phát tâm, phát tâm rất lớn, nguyện chẳng thành Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp ở thế gian này làm pháp sư độ chúng sanh. Tướng trạng của họ lúc mất chẳng được tốt, nói thật ra chẳng sánh bằng một người cư sĩ tại gia niệm Phật, người niệm Phật. Đã nhiều năm nay những tướng lành của cư sĩ tại gia niệm Phật vãng sanh, có người chẳng mang bịnh, biết trước thời giờ ra đi, đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, quá nhiều. Trong số pháp sư xuất gia một người cũng chẳng được. Việc này bạn không thể hiểu lầm, họ đích thật có năng lực, lúc còn làm vua, đây chỉ là thị hiện. Họ vốn là thân phận gì thì chúng ta không biết. Phật kể lại chuyện của hai vị vua này.
Phật cáo Định Tự Tại Vương, nhất vương phát nguyện tảo thành Phật giả,
tức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai thị.
Nhất vương phát nguyện vĩnh độ tội khổ chúng sanh vị nguyện thành Phật
giả, tức Địa Tạng Bồ Tát thị.
Phật bảo Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: .Vị vua phát nguyện sớm thành Phật ấy chính là đức Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, vị vua phát nguyện vĩnh viễn cứu độ chúng sanh tội khổ, nguyện chưa thành Phật chính là Địa Tạng Bồ Tát・.
Địa Tạng Bồ Tát từ lũy kiếp đến nay luôn luôn phát nguyện, nguyện tâm
ấy vĩnh viễn chẳng thoái thất, rất đáng cho chúng ta noi gương. Thế nên chúng ta thật sự muốn phát tâm
thì phải học theo Địa Tạng Bồ Tát.
Những Bồ Tát khác chẳng thể sánh bằng công đức thù thắng của Địa Tạng Bồ
Tát. Trong kinh này Phật nói trừ
Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm Bồ Tát, những Bồ Tát khác đều chẳng thể sánh
bằng. Cho dù xét trên tâm nguyện thì
Địa Tạng Bồ Tát hơn hẳn những đại Bồ Tát như Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, nhưng
trong Đại Thừa Phật pháp, như chúng ta được tiếp xúc đã lâu rồi thì biết hết
thảy nguyện tâm của Bồ Tát chính là trí huệ đức năng trong tự tánh của chính
mình. Nguyện tâm của mình giúp đỡ những chúng
sanh khổ nạn này đặc biệt mạnh mẽ, nói rõ pháp môn Địa Tạng thù thắng nhất
trong hết thảy Bồ Tát pháp, đạo lý là ở chỗ này.
Đặc biệt là hiện nay chúng ta thấy thế giới trước mắt, chúng sanh khổ
nạn vô biên, vẫn không ngừng tạo tội nặng như cũ, chẳng biết quay về, mê mất tự
tánh, khởi tâm động niệm không gì chẳng là tội, đều vì mình, vì lợi ích cá
nhân, chẳng màng đến sự an toàn của xã hội. Cho dù học Phật, nhưng chẳng đoạn nổi
tập khí tự tư tự lợi, chẳng chống nổi sự dụ hoặc của cảnh giới bên ngoài; bên
ngoài vừa dụ hoặc thì bên trong phiền não lập tức khởi lên, Phật pháp gì cũng
quên ráo trọi. Người học Phật còn
như vậy huống hồ là người chẳng học Phật.
Thế nên thật ra ngày nay chúng ta nói nhất định phải noi gương Địa Tạng
Bồ Tát, nên tuyên dương pháp môn Địa Tạng Bồ Tát. Nhất định phải bắt đầu từ bản thân mình,
đoạn hết thảy điều ác, tu hết thảy điều thiện, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu tâm nguyện của chúng ta khẩn thiết,
trước lúc sanh Tịnh Độ cũng được A Di Đà Phật, và hết thảy chư Phật Như Lai gia
trì, làm cho chúng ta tiêu tai chướng, diệt tội, tăng trưởng trí huệ, tăng
trưởng khả năng, có thể giảng kinh này được hoàn hảo, làm cho đại chúng thích
nghe, sanh tâm hoan hỷ, hoan hỷ y giáo phụng hành. Trí huệ năng lực này chẳng phải của
mình, mà do Phật lực gia trì, phàm phu nghiệp chướng sâu dày như chúng ta làm
sao có khả năng này! Cho dù được
chư Phật Như Lai gia trì, long thiên thiện thần ủng hộ, tự mình càng phải hân
hạnh hơn, hết lòng nỗ lực hơn, đừng phụ lòng chư Phật, Bồ Tát hộ niệm, phải làm
cho hoàn hảo, đúng như pháp và viên mãn hơn nữa. Chúng ta học theo những phương hướng này
thì sẽ không sai. Sau đây Thế Tôn
lại kể thêm một chuyện lúc Địa Tạng Bồ Tát còn tu nhân, xin xem kinh:
Phục ư quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp.
Lại trong đời quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về trước.
Thời gian này càng nói càng xa.
Hữu Phật xuất thế danh Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kỳ Phật thọ
mạng tứ thập kiếp.
Có một đức Phật ra đời hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, đức Phật đó thọ bốn mươi kiếp.
Chúng ta xét từ thọ mạng liền biết người thời ấy thực sự là chẳng thể
nghĩ bàn. Phía trước chúng ta thấy
thọ mạng sáu vạn kiếp, chỗ này thì bốn mươi kiếp, đều tính bằng .kiếp・. Quay lại thử nghĩ về nhân gian chúng ta
hiện nay, tuổi người trường thọ chẳng vượt hơn một trăm tuổi, số người chưa đến
năm mươi tuổi bèn mất rât nhiều, quá nhiều. Nếu mỗi ngày chư vị xem những cáo phó
đăng trên báo chí, người chưa đến năm mươi tuổi đã mất chẳng phải chỉ là phân
nửa thôi đâu. Người xưa nói: .Nhân
sanh thất thập cổ lai hy・, [người sống đến bảy mươi tuổi] đã là rất ít
rồi. Hết thảy phước báo dùng thọ
mạng để hiển thị, bạn thấy thọ mạng của chúng sanh dài, thọ mạng của Phật cũng
giống như thọ mạng của chúng sanh, ngài thị hiện nhất định phải thọ bằng người
thời đó, chẳng đặc biệt hơn, bèn biết thời đại ấy, trí huệ đức hạnh của chúng
sanh thời ấy cảm được phước báo [bao lớn].
Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta có thể lãnh hội điều này rất sâu sắc,
y báo chánh báo trang nghiêm từ tâm tánh biến hiện nên, tâm địa lương thiện
hiện ra cảnh giới tốt, cảnh giới thiện, thù thắng. Tâm tánh chúng sanh chẳng thiện, tạo tác
ác nghiệp thì hoàn cảnh y báo của chúng ta sẽ suy thoái, làm cho chúng ta cảm
thấy thế gian này chẳng đáng lưu luyến, chẳng có nơi nào có thể làm cho người
ta sanh tâm hoan hỷ. Truy tìm
nguyên nhân căn bản tức là .duy tâm sở hiện, duy thức sở biến・, tự làm
tự chịu, làm sao có thể trách người khác được! Xin xem kinh văn:
Tượng pháp chi trung, hữu nhất La Hán phước độ chúng sanh
Trong thời Tượng Pháp có một vị La Hán phước đức cứu
độ chúng sanh.
Trong thời Tượng pháp của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, nghĩa là
đức Phật đã nhập Niết Bàn, chẳng còn trụ trên thế gian nữa. Pháp vận của hết thảy chư Phật đều có ba
thời kỳ: .Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp・, thọ mạng của Phật dài, đương nhiên
pháp vận của ngài cũng dài. Thời
Tượng Pháp là thời đại tháp tự kiên cố.[1]
Nhân thứ giáo hóa, ngộ nhất nữ nhân, tự viết Quang Mục, thiết thực cúng
dường.
Nhân đi tuần tự giáo hóa, gặp một người nữ tên là Quang Mục, bày vật thực cúng dường.
Trong thời Tượng Pháp, trong chùa chỉ khắc tạo hình tượng của Phật,
hình tượng của Phật có thể giáo hóa hết thảy chúng sanh, cho nên công đức của
việc tạo tượng rất lớn. Tuy có
những cơ sở vật chất này nhưng nếu chẳng có thiện tri thức giảng kinh thuyết
pháp, một số người nhìn thấy chùa, tháp, hình tượng Phật, Bồ Tát tuy đã trồng
thiện căn nhưng thiện căn chẳng thể thành thục ngay trong đời này. Mắt của bạn nhìn thấy tượng Phật, tai
nghe được danh hiệu của Phật, Bồ Tát, một phen lọt vào tai thì vĩnh viễn sẽ là
hạt giống đạo. Trong đời này họ
chẳng biết tu hành, tâm nguyện và lòng tin chẳng phát nổi nhưng hạt giống này
đã được trồng xuống, hạt giống Kim Cang vĩnh viễn sẽ chẳng hư hoại. Nếu muốn hạt giống này thành thục sớm
hơn thì phải có thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp. Họ thấy tượng, biết ý nghĩa của tượng,
nghe danh hiệu biết được ý nghĩa của danh hiệu, khởi lên lòng tin chân thật,
thanh tịnh, phát lên nguyện hạnh giống Phật thì đời này họ sẽ thành tựu, công
đức sẽ chẳng thể nghĩ bàn. Nếu
chẳng gặp thiện tri thức, chỉ nghe danh hiệu, nhìn thấy tượng, chẳng hiểu nghĩa
kinh, chẳng thể phát tâm tu hành, lợi ích họ đạt được sẽ rất có hạn. Tuy có hạn, nói thực ra cũng chẳng thể
nghĩ bàn. Cô Quang Mục bày phẩm vật
cúng trước tượng Phật trong chùa.
La Hán vấn chi, dục nguyện hà đẳng.
Vị La Hán bèn hỏi: .Cô muốn cầu điều chi?・
Trong thời Tượng Pháp có một vị La Hán, La Hán là một người xuất
gia. Đây là một thiện tri thức trụ
trong chùa độ hóa chúng sanh. Cô
Quang Mục là một tín đồ trong chùa, hôm nay cô đến cúng Phật. La Hán hỏi cô: .Hôm nay cô đến thiết
trai cúng dường, muốn cầu việc gì?・.
Quang Mục đáp ngôn, ngã dĩ mẫu vong chi nhật tư phước cứu bạt, vị tri
ngã mẫu sanh xứ hà thú.
Quang Mục thưa rằng: .Ngày má con mất, con có làm việc phước thiện hầu cứu vớt bà, nhưng chưa rõ má con thác sanh về đâu・.
Quả thật cô đến là có mục đích, đúng như ngạn ngữ có câu: .Vô sự
chẳng đến điện Tam Bảo・, cô đến chùa lạy Phật chắc chắn là trong tâm có
mong cầu. Việc cô mong cầu cũng rất
tốt, má cô đã qua đời nên cô thiết trai để siêu độ. Pháp sư hỏi, trong tâm cô rất muốn biết
má cô đang ở đâu? Hiện nay thác
sanh vào chốn nào? .Hà thú・ tức là
cõi nào trong lục đạo. Do đó người
làm con sau khi cha mẹ mất đi thường lo nghĩ về việc này, niệm niệm chẳng quên,
đây là hiếu thảo. Thường có tâm
nguyện làm thế nào để giúp đỡ người thân đã mất.
La Hán mẫn chi vi nhập định quán kiến Quang Mục nữ mẫu đọa tại ác thú,
thọ cực đại khổ.
Vị La Hán cảm thương bèn nhập định quan sát thì thấy mẹ cô Quang Mục bị đọa vào đường ác, vô cùng khổ sở.
Mẹ cô đọa vào địa ngục. Chư
vị ở đây nghĩ coi, La Hán vẫn phải nhập định mới có thể thấy, nếu không nhập
định thì chẳng thể thấy, đây là người có công phu định lực còn thấp. Người có công phu định lực cao chẳng cần
nhập định, bạn vừa nói thì họ liền biết, liền thấy. Sau khi xuất định nói với cô cảnh giới
ngài thấy trong định. Chư vị phải
biết tại sao lúc chưa nhập định thì chẳng thấy? Chúng ta phải hiểu đạo lý này. Lúc chưa nhập định thì tâm tán loạn, tâm
của La Hán thanh tịnh hơn tâm chúng ta rất nhiều, chúng ta làm sao có thể sánh
bằng! Công phu định lực của ngài là
Định bậc thứ chín, Tứ Thiền Bát Ðịnh thăng lên mức kế là Định bậc thứ chín, công
phu định lực sâu như vậy mà không nhập định cũng không được, vẫn phải nhập định
mới có thể nhìn thấy cảnh giới. Do
đó mới biết tâm phàm phu chúng ta là tâm tạp loạn, tạp là xen tạp, loạn là
chẳng định, tâm như vậy sẽ tạo thành rất nhiều chướng ngại.
Chướng ngại này là gì? Ngày nay khoa học gia gọi là .thời không・ (thời gian không gian nhiều chiều), không gian ba chiều, không gian bốn chiều, năm chiều cho đến vô số chiều. Thời không vốn chỉ có một, một này nhà Phật gọi là Nhất Chân pháp giới, tại sao Nhất Chân pháp giới biến thành vô lượng pháp giới? Trong nhà Phật chúng ta gọi là Pháp Giới, tức là cái mà khoa học gia gọi là thời không nhiều chiều (nhiều duy thứ khác nhau), không gian ba chiều là một giới hạn, không gian bốn chiều là một giới hạn, năm chiều, sáu chiều, mỗi cái có một giới hạn khác nhau, gây chướng ngại. Ngày nay chúng ta chỉ có thể nhìn thấy, tiếp xúc đến không gian ba chiều, còn bốn chiều, năm chiều chúng ta không thể tiếp xúc tới. Vô lượng vô biên pháp giới chúng ta chỉ có thể tiếp xúc đến pháp giới Người. Chúng ta thấy một phần trong pháp giới súc sanh, còn một phần thì vẫn chẳng thấy, chúng ta chỉ thấy một bộ phận nhỏ, tại sao? Bộ phận súc sanh này cũng cư trú trong không gian ba chiều, chúng ta có thể nhìn thấy. Nếu nó trụ ở không gian bốn chiều, năm chiều thì chúng ta sẽ chẳng thấy, là đạo lý như vậy. Còn nhập định, định là tâm thanh tịnh, tạm thời đè nén tâm tán loạn, sau khi đè nén thì không gian của họ sẽ được mở rộng, sẽ đột phá, định lực càng sâu thì không gian đột phá càng lớn. Định mức cạn có thể đột phá ba chiều, nhìn thấy bốn chiều, chúng ta nói người này có thần thông, có công năng khác thường. Công phu định lực cao hơn nữa thì có thể đột phá thêm một chiều, có thể nhìn thấy không gian năm chiều, là đạo lý như vậy.
Hiện nay người tây phương có một cuốn sách bán rất chạy, nói về những
lời tiên đoán, gọi là .Thánh Kinh Mật Mã・, có lẽ quý vị có người đã xem. Người viết cuốn sách này rất khách quan,
ông ta nói lời tiên đoán này, lời tiên đoán chính xác như vậy, vả lại sách này
là do người ba ngàn năm trước viết.
Ông ta
(tức tác giả cuốn khảo luận về Thánh Kinh Mật Mã) khẳng định rằng [tác giả
Thánh Kinh Mật Mã] chẳng phải là Thượng Đế. Ông ta nói: :Nếu [tác giả] là Thượng Đế
thì đáng lý phải có thể giải quyết vấn đề này, nhưng Thượng Đế không thể giải
quyết vấn đề này, chỉ có thể nhắc nhở chúng ta rằng tai nạn này sẽ xảy ra. Do
đó, có thể biết tác giả chẳng phải là Thượng Đế;. Vì thế, ông ta suy đoán rằng cuốn sách ấy chắc chắn do một
người rất có trí huệ, có tâm từ bi viết ra. Cách nói
này rất chính xác, đầu óc của ông ta rất sáng suốt, chẳng mê tín. Có người hỏi tôi, tại sao có thể nói
chuyện ba ngàn năm sau rõ ràng, minh bạch như vậy được?
Cổ đức từng nói với chúng ta lời tiên đoán có hai căn cứ, Trung Quốc
cũng có không ít lời tiên đoán này.
Trước kia lúc lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam còn tại thế, chúng tôi cũng đã từng
hỏi thầy, thầy cũng nói giống như vậy. Thầy nói loại thứ nhất là Số Học, phần
lớn là căn cứ vào Lý Số để suy đoán.
Trung Quốc có rất nhiều lời tiên đoán là do Số Học suy đoán, căn nguyên
của nó là .Kinh Dịch・. Kinh Dịch là
Số Học cao sâu, Số Học là mẹ của Khoa học.
Ở Trung Quốc rất thịnh hành những thứ coi bói, xem tướng, đều căn cứ
trên kinh Dịch, căn cứ trên Lý Số. Nhưng Lý Số là gián tiếp,
chẳng phải là trực tiếp; nếu có một chút gì suy đoán chẳng đúng thì kết quả sẽ
khác nhau. Nói cách khác, mức độ chính xác của nó có thể đạt
đến năm chục, sáu chục, bảy chục phần trăm, chẳng hoàn toàn đúng. Tùy thuộc vào
trình độ của người suy đoán mà sai khác như vậy.
Nhưng nếu quán sát từ trong Định thì hoàn toàn khác hẳn, công phu định
lực là cảnh giới Hiện Lượng, là họ đích thân nhìn thấy. Suy đoán thuộc về Tỷ Lượng [2],
công phu định lực không thuộc về Tỷ Lượng
Cho nên người viết Thánh Kinh Mật Mã này dùng công phu định lực, trong
thiền định nhìn thấy. Trong thiền
định có thể nhìn thấy chuyện ba ngàn năm trước, sau, không có gì kỳ lạ cả,
chẳng có gì lạ lùng. Một ngày trên
trời Đao Lợi bằng một trăm năm ở cõi người chúng ta, một tháng trên trời Đao
Lợi bằng ba ngàn năm ở nhân gian chúng ta.
Nếu cứ lên trên nữa thì càng dễ hơn. Một ngày ở cõi trời Dạ Ma bằng hai trăm
năm ở cõi người, ba ngàn năm chỉ là mười lăm ngày. Lên cõi trời Đâu Suất, một ngày ở trời
Đâu Suất bằng nhân gian bốn trăm năm.
Do đó có thể biết, nếu muốn đến cõi trời thứ sáu ở Dục Giới thì ba ngàn
năm chẳng bằng một ngày của họ, chuyện một ngày thì làm sao họ không biết rõ
ràng được? Dĩ nhiên là sẽ rõ
ràng. Cho nên người viết sách này
theo sự quan sát trong nhà Phật của chúng ta thì ông ta có công phu định lực.
Công phu định lực có thể đột phá giới hạn của thời không, khoa học gia hiện nay hiểu được đạo lý này, họ thừa nhận, khẳng định. Nhưng hiện nay họ còn chưa tìm ra phương pháp làm thế nào có thể đi vào .đường hầm thời gian・ của họ, làm thế nào có thể đi vào tương lai, hoặc đi về quá khứ. Họ hiểu trên lý luận có thể làm được nhưng hiện nay vẫn chưa tìm được kỹ thuật. Họ chẳng biết trong Phật pháp cổ xưa, thiền định chính là kỹ thuật này. Khi bạn nhập vào thiền định rất sâu thì có thể đi trở về quá khứ, và cũng có thể đi vào tương lai. Thánh Kinh Mật Mã là như vậy, cho nên mức chính xác của nó là một trăm phần trăm. Cục thế này có thể thay đổi hay không? Có thể. Cách nói này của ông ta rất trung thực, khẳng định tai nạn có thể hóa giải, dùng phương pháp gì để hóa giải? Dùng tâm con người. Nhân tâm có thể hướng thiện thì tai nạn này sẽ hóa giải. Có thể thấy ông ta cũng nhận định tâm hạnh thiện ác chính là mấu chốt để thay đổi hết thảy kiết hung, họa phước trên thế gian, cách nói này rất chính xác. Hiện nay cuốn sách này lưu hành rất rộng trên thế giới, có rất nhiều bản dịch dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chúng tôi cũng thấy bản dịch chữ Trung Hoa tại Đài Loan, rất đáng để chúng ta cảnh giác. Chúng ta muốn cứu mình, cứu xã hội, cứu hết thảy chúng sanh, nhất định phải biết đoạn ác tu thiện. Vả lại, giáo học đoạn ác tu thiện chẳng gì hơn Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
Cho nên Thế Tôn ở hội giảng kinh tại cung trời Đao Lợi này trao trọng
trách giáo hóa chúng sanh trong đoạn thời gian dài đăng đẳng sau thời Mạt Pháp
cho đến lúc Phật Di Lặc ra đời cho Địa Tạng Bồ Tát là chính xác vậy, chúng ta
có thể hoàn toàn khẳng định. Địa
Tạng Bồ Tát chủ trì việc giáo hóa, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc
sẽ hộ trợ Địa Tạng Bồ Tát. Giống
như trong việc dạy học, Địa Tạng Bồ Tát là hiệu trưởng, lúc Phật chẳng tại thế
thì ngài đại diện cho Phật, hết thảy các Bồ Tát đến hỗ trợ Địa Tạng Bồ Tát,
giúp đỡ Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa chúng sanh khổ nạn.
La Hán nhập định, trong định đột phá giới hạn của không gian và thời
gian, ngài đã thấy địa ngục, thấy mẹ của cô Quang Mục đang thọ khổ trong địa
ngục, chịu khổ cùng cực, sau khi xuất định [bèn]:
La Hán vấn Quang Mục ngôn
Nhữ mẫu tại sanh, tác hà hành nghiệp, kim tại ác thú, thọ cực đại khổ
Mẹ cô lúc còn sanh tiền làm hạnh nghiệp gì mà hiện nay đang ở trong đường ác, thọ khổ cùng cực?
Hỏi cô Quang Mục: :Lúc mẹ cô còn sống làm nghề gì? Hiện nay bà đang đọa địa ngục, rất khổ.;
Quang Mục đáp ngôn.
Cô Quang Mục thành thật trả lời, nói rõ ra.
Ngã mẫu sở tập
.Tập・ là tập tánh, điều ưa thích
Ngày nay gọi là hải sản, bà ta rất thích ăn đồ biển.
Sở thực ngư miết, đa thực kỳ tử
Ăn những loài cá, ba ba này, phần nhiều là ăn trứng và con của các loài ấy.
Đặc biệt thích ăn những thứ này.
Hoặc sao hoặc chử, tứ tình thực đạm, kế kỳ mạng số thiên vạn phục bội. Tôn giả từ mẫn như hà ai cứu
Hoặc chiên hoặc nấu, tha hồ mà ăn, nếu tính đếm số sanh mạng đó thì đến hơn ngàn vạn. Xin tôn giả từ bi thương xót! Con phải làm thế nào để cứu mẫu thân?
Ngày nay trong sự ăn uống chúng ta nói ăn thịt chẳng có tội, nói vậy có
lý không? Nhất định phải giác
ngộ! Thế nên đọc kinh này xong,
hiểu rõ chân tướng sự thật thì làm sao dám ăn thịt chúng sanh. Đặc biệt là thích ăn trứng cá, thích ăn
cá con, một chén thông thường như vậy có bao nhiêu sanh mạng, bạn nói sát
nghiệp này nặng bao nhiêu, oán thù những chúng sanh bị giết hại này sâu dày bao
nhiêu, chúng nó tình nguyện để cho bạn ăn sao? Nếu nói là [chúng nó] cam tâm tình nguyện lấy
thịt này cúng dường cho bạn, thì nó là Bồ Tát, nó giác ngộ rồi, chẳng còn là
chúng sanh nữa. Nếu là chúng sanh
thì lúc bạn đi bắt nó, bạn thử quan sát kỹ xem, nó vùng vẫy, chẳng cam tâm để
bạn bắt. Lúc bạn muốn làm thịt heo,
bạn kêu con heo lại nói muốn làm thịt nó để ăn coi con heo có ngoan ngoãn cho
bạn làm thịt không? Vừa nhìn thấy
con dao là nó sợ hết hồn, mau mau chạy trốn rồi, nó biết bạn muốn làm thịt nó. Nó bị bạn bắt, bị bạn giết là vì nó
chẳng có sức phản kháng, bạn biết lòng căm hận này sâu lắm hay không, kết oán
thành thù. Người ta chẳng phải chỉ
có đời này mà thôi, còn đời sau nữa, súc sanh cũng có đời sau, khi cơ duyên
thành thục thì có lý nào không báo thù cho được! Chiến tranh trên thế gian từ đâu mà
có? Phật dạy đều là từ sát sanh ăn
thịt mà ra.
Đức Phật đã từng nói: :Muốn thế gian này vĩnh viễn không còn kiếp
đao binh, chẳng có chiến tranh thì trừ phi chúng sanh không ăn thịt;. Nếu chúng sanh không ăn thịt thì chiến
tranh và tai nạn trên thế gian này sẽ chẳng còn nữa. Nói cách khác, chúng sanh trên thế gian
còn ăn thịt thì kiếp đao binh tuyệt chẳng thể tránh khỏi. Tại sao hiện nay mỗi lần chiến tranh xảy
ra đều tàn khốc hơn trước? Oán
nghiệp tích lũy quá sâu dày. Chỉ
dùng trí nhớ của chúng ta để nói, những hiện tượng người chết thảm khốc trong
thế chiến thứ nhất và thứ nhì, thế chiến thứ nhất còn nhẹ, lần thứ nhì nặng hơn
rất nhiều, chiến tranh nguyên tử thứ ba sẽ thê thảm hơn nữa. Lời Phật dạy rất có lý. Ngày nay chúng ta tạo tội nghiệp cũng
giống như mẹ cô Quang Mục vậy, .tứ tình thực đạm・, mặc sức phóng túng, mạnh ăn
hiếp yếu, chịu sao nổi! Cho nên .kế
kỳ mạng số, thiên vạn phục bội・, cả đời bà giết [loài vật] ăn thịt, nào phải chỉ một ngàn, một vạn sinh
mạng thôi đâu, còn gấp nhiều lần như vậy, đây là tội nghiệp bà đã tạo.
Hai câu sau là mong cầu pháp sư làm sao cứu giúp bà. .Tôn giả từ mẫn・, .tôn giả・ tức là ngày
nay chúng ta thường gọi là .tôn kính・.
Pháp sư tôn kính, La Hán tôn kính, xin ngài giúp đỡ, xin ngài tìm cách
cứu mẹ cô.
La Hán mẫn chi, vi tác phương tiện.
La Hán thương xót bèn lập phương tiện.
La Hán thấy cô là người con có hiếu, rất thương xót, dạy cô.
Khuyến Quang Mục ngôn, nhữ khả chí thành niệm Thanh Tịnh Liên Hoa Mục
Như Lai, kiêm tố họa hình tượng, tồn vong hoạch báo.
Khuyên Quang Mục rằng: :Cô phải chí thành niệm đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và vẽ đắp hình tượng, thì kẻ còn cùng người mất đều được phước báo;.
Câu này quan trọng ở ba chữ .chí thành niệm・, dùng tâm chân thành để
niệm Phật. Trong kinh này chúng ta
thấy cách tiêu trừ tội nghiệp cực nặng, độ tội báo khổ nhất đều dạy pháp môn
niệm Phật, chúng ta phải hiểu đạo lý này.
Tại sao trong kinh chẳng dạy cô niệm A Di Đà Phật? Lời Phật thuyết pháp đều là .chân ngữ,
thật ngữ, lời đúng như thật・. Ở đây
chúng ta có thể thấy đây là vô lượng kiếp về trước, đức Phật xuất hiện ở thế
gian đó là .Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai・ là bổn sư của họ. La Hán khuyên cô niệm đức bổn sư, tạo
hình tượng của Phật thì phước này sẽ lớn lắm. .Tồn vong hoạch báo・, .tồn・ là [kẻ còn
sống, chỉ] cô Quang Mục, cô còn sống cô tu phước, cô sẽ được phước báo; .vong・
là [kẻ đã mất, chỉ] mẹ cô, mẹ cô cũng được phước báo. Dạy cô làm việc này. Đương nhiên La Hán giảng kinh thuyết
pháp cho cô, nói rõ những đạo lý và chân tướng sự thật này, văn tự trong kinh
điển được giản lược, chúng ta nhất định phải hiểu rõ.
Quang Mục văn dĩ, tức xả sở ái, tầm họa Phật tượng, nhi cúng dường chi,
phục cung kính tâm bi khấp chiêm lễ.
Quang Mục nghe xong liền từ bỏ những vật yêu thích, rồi tô vẽ hình tượng Phật để thờ cúng, và lại đem lòng cung kính khóc thương chiêm lễ.
Cô Quang Mục y giáo phụng hành.
.Xả sở ái・, sở ái là tài vật [mình ưa thích], phải dùng tài sản của
chính cô để tạo tượng. Hiện nay tạo
tượng dễ dàng hơn thời xưa rất nhiều, thời xưa tạo tượng chư vị phải biết hoàn
toàn là đồ thủ công nghệ, làm rất chậm, điêu khắc phải dùng thời gian rất dài
mới có thể làm thành một tượng hoàn hảo.
Ngay cả việc vẽ tượng cũng chẳng dễ, vẽ một tượng Phật cũng cần rất
nhiều ngày, đây là việc chúng ta đều biết.
Hiện nay khoa học kỹ thuật phát đạt, tạo tượng Phật, điêu khắc tượng
Phật có thể làm mô hình trước, ngày nay gọi là sản xuất hàng loạt, có thể cung
cấp cho nhiều người thỉnh về cúng dường, phước này càng lớn hơn nữa. Vẽ tượng hiện nay có thể dùng ấn loát,
có thể vẽ một bức hình Phật, Bồ Tát thật trang nghiêm, sau đó in cả vạn tấm,
mấy trăm ngàn, mấy triệu tấm, thậm chí mấy chục triệu tấm, cho đại chúng cúng
dường, thế nên người hiện đại tu phước dễ dàng hơn người xưa nhiều. Người hiện nay tạo nghiệp cũng dễ hơn
thời xưa, nhưng tu phước cũng dễ hơn, đây là lời kinh Địa Tạng nói. Chúng sanh ở Diêm Phù Đề tuy tạo tội
nghiệp rất dễ nhưng họ cũng dễ quay về.
Thật sự có người khuyên họ, nói rõ cho họ nghe, họ quay về rất nhanh.
Trong hết thảy chúng Bồ Tát, chẳng có ai thù thắng hơn Địa Tạng Bồ
Tát, Địa Tạng Bồ Tát ứng hóa ở thế
gian chúng ta tại Cửu Hoa Sơn, Quán Thế Âm Bồ Tát ứng hóa tại Phổ Đà Sơn, đối
với người Trung Quốc chúng ta có duyên phần đặc biệt. Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện kinh Khoa Chú
của Thanh Liên pháp sư thời vua Khang Hy vô cùng hoàn hảo, tuy văn tự sâu một
chút, đối với người hiện nay mà nói, thật ra cũng rất tiện lợi cho chúng ta học
quốc văn. Chúng ta xem chú giải
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện này như sách học quốc văn, vậy thì không tốt
sao? Nếu sau này chúng ta có duyên
phần kiếm được thời gian, giảng tường tận cuốn chú giải này một lần giống như
giảng quốc văn vậy, làm cho chúng ta đối với văn tự, văn học Trung Quốc có thể
nâng cao trình độ thêm. Đối với nội
dung của kinh này có thể đi sâu thêm, nhận thức thấu triệt hơn, đối với đời
sống, việc làm, đối sự, đãi người, tiếp vật chắc chắn sẽ có lợi ích lớn hơn
nữa, như lời nói trong kinh là công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
Hiện nay trong thời đại này, phần đông xã hội đại chúng đều xem giáo
học Phật pháp thành tôn giáo, làm cho đồng tu học Phật chúng ta mất đi phương
hướng, đây là việc vô cùng bất hạnh.
Có cơ duyên tiếp xúc đến chánh pháp thì phải có trách nhiệm đem mặt mũi
vốn sẵn có của Phật pháp giải thích cho xã hội đại chúng, làm cho mọi người
hiểu rõ Phật pháp chẳng phải tôn giáo, chẳng phải triết học. Mà là gì? Là giáo dục đời sống, giáo học phá mê
khai ngộ, lìa khổ được vui. Chúng
ta nhận thức thuần chánh thì mới được lợi ích chân thật. Đoạn này kể cô Quang Mục tiếp nhận lời
dạy của La Hán xong, y giáo phụng hành.
.Xả sở ái・ là đoạn tham, tham là phiền não căn bản, hết thảy phiền não
đều sanh từ .tham・, cho nên đây là đoạn hết thảy ác. Tô vẽ hình tượng của Phật, Bồ Tát, chiêm
lễ và cúng dường là tu hết thảy thiện.
Chiêm lễ, cúng dường, xưng danh nhất định phải y giáo tu hành. .Tu hành・ là sửa đổi hết thảy hành vi
sai lầm của chúng ta trong đời sống, công việc, xử sự, đãi người, tiếp vật, như
vậy gọi là tu hành. Cô làm theo
cách này, quả nhiên có cảm ứng.
Hốt ư dạ hậu mộng kiến Phật thân, kim sắc hoảng diệu như Tu Di sơn
phóng đại quang minh.
Bỗng đến giữa khuya thì mộng thấy thân Phật sắc vàng sáng chói như núi Tu Di phóng ánh sáng lớn.
Trong mộng cô có được cảm ứng.
Nhìn từ kinh văn thì cô vẽ tượng Phật, cúng dường tượng Phật vẽ. Vị Phật vẽ trong tranh này là Thanh Tịnh
Liên Hoa Mục Như Lai, cung kính cúng dường, thì cô cảm được Phật xuất hiện
trong mộng, tâm hiếu khẩn thiết cảm động Phật đến gia trì.
Nhi cáo Quang Mục nhữ mẫu bất cửu đương sanh nhữ gia, tài giác cơ hàn, tức đương ngôn thuyết.
Mà bảo Quang Mục rằng: :Chẳng bao lâu nữa thân mẫu cô sẽ sanh vào nhà của cô, khi vừa biết đói lạnh thì liền biết nói;.
Và nói với cô: :Chẳng bao lâu nữa mẹ cô sẽ thoát ly ác đạo và sanh đến
nhân gian;. Vì công đức của cô xuất
tiền tạo tượng, cung kính cúng dường nên mẹ cô được thoát khỏi địa ngục, tội
nặng đã tiêu mất, vẫn còn tội dư lại nên chẳng bao lâu sau sẽ sanh vào nhà của
cô. Đứa bé này rất đặc biệt, vừa ra
đời liền biết nói, thế gian chúng ta cũng có, vừa sanh ra liền biết nói, nhớ
được chuyện đời trước, việc này trong nhà Phật gọi là .đoạt thai・. Chuyện này nói ra cũng khá dài dòng, lúc
người mẹ có thai, thai ấy là một người khác, người này có duyên rất ít với
người mẹ, đến để làm gì? Để đòi nợ,
là quỷ đòi nợ, thiếu chẳng nhiều nên chỉ làm cho người mẹ khó chịu trong vòng
mười tháng, cho bà cực khổ, đứa bé này vừa ra đời liền chết đi. Mẹ của cô Quang Mục bèn mượn thân của
đứa bé ấy nên gọi là .đoạt thai・.
Thần hồn của đứa bé lìa khỏi thì thần hồn của mẹ cô bèn nhập vào, đoạt
thai là như vậy. Bà chẳng trải qua
nổi khổ của mười tháng hoài thai nên bà nhớ chuyện của mình rõ ràng, là đạo lý
như vậy. Người ta phần đông trụ
trong thai mười tháng, gọi là .khổ trong thai ngục・, mười tháng trong thai cũng
giống như trong địa ngục vậy, chịu khổ cùng cực nên quên hết những chuyện đời
trước, chúng ta có thể hiểu được những chuyện như vầy. Chúng tôi đã từng thấy một số trẻ em lúc
hai, ba tuổi vô cùng thông minh, lanh lợi, đến bốn, năm tuổi bị bịnh nặng, sốt
nóng rồi trở thành khờ khạo, đần độn, chuyện gì cũng chẳng nhớ nổi. Chư vị nghĩ thử xem một trận bịnh nặng
có thể làm trí nhớ của nó mất hết, huống chi là mười tháng trong thai
ngục. Đây là việc chúng ta có thể
lý giải, quên mất hết chuyện đời trước.
Chỉ khi đến bằng cách đoạt thai thì người đó nhớ rất rõ ràng vì chẳng
thọ khổ này. Nhà cô quả thật đã xảy
ra chuyện như vậy.
Kỳ hậu gia nội, tỳ sanh nhất tử, vị mãn tam nhật nhi nãi ngôn thuyết,
khể thủ bi khấp cáo ư Quang Mục.
Sau đó người tỳ nữ trong nhà sanh một bé trai, chưa đầy ba ngày đã biết nói. Đứa bé đó cúi đầu, buồn khóc mà nói với Quang Mục
Người giúp việc trong nhà sanh một đứa bé, đứa bé này chính là mẹ cô Quang Mục đến đầu thai, hoàn toàn phù hợp với việc đức Phật nói với cô trong giấc mộng. Ngày thứ ba sau khi chào đời, đứa bé này nhìn thấy Quang Mục bèn .khể thủ・, khể thủ tức là gật đầu. Đứa bé mới ba ngày, chúng ta biết nó cử động chẳng linh hoạt, nhưng đứa bé này biết cúi đầu, lễ kính, biểu lộ rất đau thương. Nói với cô Quang Mục:
Sanh tử nghiệp duyên, quả báo tự thọ, ngô thị nhữ mẫu, cửu xử ám minh
tự biệt nhữ lai lụy đọa đại địa ngục.
Nghiệp duyên sanh tử, quả báo tự thọ. Tôi là mẹ của cô, lâu nay ở chốn tối tăm. Từ khi vĩnh biệt cô, tôi phải đọa vào đại địa ngục.
Đây là nói bà tuy vừa chết chẳng lâu nhưng trong địa ngục chịu tội khổ,
những sự khổ này như chúng ta thường nói .sống một ngày cũng như cả năm・. Điều này cũng cho thấy thời gian chẳng chân
thật, chẳng phải thật pháp, thời gian là khái niệm trừu tượng của chúng
ta. Giống tiểu thuyết bút ký thời
cổ Trung Quốc, bút ký tiểu thuyết đời Đường có ghi chuyện .Hoàng Lương Mộng・,
thời gian trong mộng rất ngắn ngủi, hoàng lương là hạt kê, nấu cháo hạt kê, hạt
kê rất dễ nấu, nấu nhanh hơn những gạo khác, cháo còn chưa nấu chín, ông ta ở
kế bên ngủ gục và nằm mộng, khi mộng tỉnh dậy thì cháo còn chưa chín, bạn nói
thời gian này ngắn không, chỉ là vài phút.
Nhưng trong mộng ông ta đã trải qua mấy chục năm, nói lên sự chênh lệch
thời gian rất lớn. Ở cõi người
chẳng bao lâu, ngày tháng chẳng lâu, còn bà trong địa ngục thì hình như đã trải
qua mấy kiếp rồi, cảm thọ của bà rất chân thật, thật là một thời gian dài đăng
đẳng.
.Cửu xử ám minh・, đây là như vừa nói, cảm thọ về thời gian và không
gian chẳng tương đồng, trong địa ngục cảm thấy thời gian thật là dài. Giống như người cõi trời nhìn chúng ta
vậy, nếu từ trời Đâu Suất nhìn chúng ta, nhân gian chúng ta một trăm năm, sống
một trăm năm thật lâu thì ở trời Đâu Suất chỉ là vài giờ. Nếu dùng hai mươi bốn giờ để tính, một
phần tư của một ngày là sáu giờ, một trăm năm ở cõi người bằng sáu giờ đồng hồ
ở trời Đâu Suất. Người cõi trời Đâu
Suất cảm thấy rất nhanh, chỉ trong chốc lát nhưng ở cõi người đã là một trăm
năm rồi. Thế nên mấy mươi ngày ở
nhân gian thì trong địa ngục đã trải qua mấy đại kiếp rồi. Bà đọa đại địa ngục, chẳng phải địa ngục
thường, tạo tội quá sâu nặng.
Lúc còn trẻ tôi chưa học Phật cũng ưa ăn thịt. Nghiệp tôi tạo nặng hơn rất nhiều người,
vào thời kháng chiến [chống Nhật] tôi thường đi săn bắn, sau khi đọc kinh Địa
Tạng tôi rất sợ hãi, thật sự lo sợ nên bắt đầu ăn chay trường, chẳng dám ăn
thịt nữa, tự biết tội mình đã tạo rất nặng. Lúc nhỏ vô tri, cha tôi ưa thích săn bắn
nên chúng tôi thường theo ông lên núi săn bắn, mỗi ngày đều đem những con vật
bắn được về nhà. Tôi đã săn bắn ba
năm, mười sáu tuổi bắt đầu săn bắn, mười bảy, mười tám, mười chín tuổi. Cho nên tôi bắn súng hầu như là trúng
một trăm phần trăm, chẳng cần phải nhắm, tôi có bản lãnh này. Mỗi ngày tối thiểu là bắn hai mươi viên
đạn, lúc chẳng đi săn thì cũng luyện tập bắn súng. Cha tôi là một người lính, lúc đó nhằm
thời chiến tranh với Nhật, ông ta quản lý về khí giới, quản lý những súng ống
này, thế nên ở nhà tôi có rất nhiều súng.
Cơ hội tạo nghiệp, mỗi ngày đều luyện tập, con nít có đứa nào không
thích chơi với súng ống? Chúng tôi
chơi súng thiệt. Bắn súng rất chính
xác là do mỗi ngày luyện tập nên, bạn không luyện đâu có được, phải luyện chứ. Chuyện gì cũng là một môn thâm nhập, tập
luyện trong một thời gian dài, cho nên tài bắn súng của tôi rất giỏi. Nhưng nghiệp tạo cũng rất nặng, lúc đó
còn chưa hiểu biết.
Sau này học Phật, đọc kinh Địa Tạng, đọc đến lông tóc dựng đứng. Nhìn thấy cảnh tượng lúc cha tôi chết
giống y như kinh đã nói. Lúc cha
tôi chết, ông phát bịnh điên cuồng, nhìn thấy núi bèn chạy lên núi, nhìn thấy
sông bèn nhảy xuống sông, hoàn toàn giống y như lời nói trong kinh, đây là cảnh
tôi đích thân nhìn thấy. Chúng tôi
lên núi để săn bắn thú rừng, chúng tôi dùng thuốc nổ màu vàng [3]
để giết cá trong sông, mỗi lần nổ như vậy là cả ngàn, cả vạn con cá đều bị nổ
chết trôi lên mặt nước, bạn nói tội nghiệp này nặng bao nhiêu? Săn bắn, săn thú thì còn ít, chứ dùng
thuốc nổ để giết cá thì quá nhiều.
Chúng tôi thường làm những chuyện này, biết được tội nghiệp này nặng vô
cùng. Quả báo của sự sát sanh là
đoản mạng, cha tôi mới bốn mươi lăm tuổi thì qua đời.
Sau này tôi học Phật, người ta coi bói cho tôi, nói mạng tôi sống chẳng qua bốn mươi lăm tuổi, tôi rất tin. Thế nên tôi học Phật rất tinh tấn vì mạng sống đã được định tới bốn mươi lăm tuổi thôi. Đến năm bốn mươi lăm tuổi tôi bị bịnh nặng, bịnh hơn một tháng, tôi chẳng đi coi bác sĩ, chẳng uống thuốc vì trong tâm nghĩ rằng mạng sắp hết rồi, bác sĩ có thể chữa bịnh chứ chẳng thể chữa mạng. Bởi vậy nên trong suốt cả tháng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, niệm