Hòa thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh
Tông Học Hội Tân Gia Ba 5-1998
Tập 13 (Số
14-12-13)
Kính thưa hai lão hòa thượng, chư vị pháp sư, chư vị
đồng học:
Xin
mở kinh, ‘Khoa Chú’ của Thanh Liên pháp sư, ở Đài Loan gần đây chúng tôi phát
tâm in hai vạn bộ, tương lai mọi người đều có thể có bản in hoàn hảo. Kinh Địa Tạng vô cùng quan trọng, từ
kinh điển chúng ta thấy được Thế Tôn giao phó sứ mạng giáo hóa chúng sanh trong
thời Mạt pháp chín ngàn năm này cho Địa Tạng Bồ Tát, thế nên Địa Tạng Bồ Tát
chính là đại biểu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời Mạt pháp, địa vị của
ngài vô cùng đặc biệt, ngài thay thế Phật.
Chúng ta thấy trong kinh này, hết thảy Bồ Tát nhận lời phó chúc đều ủng
hộ Địa Tạng Bồ Tát. Trước giảng đài
chúng ta thờ Địa Tạng Bồ Tát, mọi người đều nhìn thấy, chúng ta nhất định phải
y giáo phụng hành.
Hôm nay giảng đoạn kinh nói về Tứ Đại Thiên Vương đặt ra câu hỏi. Nói thật ra, nghi vấn của họ chính là
nghi vấn chung của chúng ta. Tại
sao Địa Tạng Bồ Tát nhiều kiếp lâu xa đến nay thường phát đại nguyện phải độ tận
chúng sanh, nhưng mãi cho đến nay chúng ta thấy hình như chúng sanh chẳng được
độ, tạo tác tội nghiệp ngày càng nặng, nguyên nhân rốt cuộc là ở chỗ nào? Hy vọng Thế Tôn có thể khai thị cho mọi
người. Đoạn khai thị phía sau đều
là những lời trong kinh Phật. Người học giảng kinh chúng ta khi gặp những
đoạn kinh văn này phải đặc biệt lưu ý, lúc
đối diện thính chúng đông đảo, trong thính chúng có người đã từng gặp phải những
nạn ấy, nếu chúng ta giảng không
khéo thì họ rất khó chấp nhận, khó chịu, thậm chí sẽ thốt lời trách móc,
khởi tâm oán trách, như vậy thì không tốt.
Thế nên khi gặp kinh văn như vầy thì phải dùng cách khéo léo, phải khơi
gợi mà không làm tổn thương lòng tự ái của người ta. Ðiểm này vô cùng quan trọng. Trong ‘Nội Ðiển Giảng Tọa’ các bạn đã học
qua rồi, tuyệt đối không thể gây tổn thương đến lòng tự ái của người ta, thí dụ
trong kinh văn, ngày nay chúng ta muốn nói về tàn tật, nói quá nhiều về những
việc này. Nếu bạn nói cặn kẽ như vậy
thì họ nghe xong sẽ rất buồn bực, chỉ nên nói sơ lược, phớt qua thôi; còn những
chỗ liên quan đến nhân quả báo ứng thì có thể nói sâu thêm một chút, làm cho họ
cảnh giác.
Ngoài ra nhất định phải biết ngày nay chúng ta giảng kinh chẳng phải chỉ
có những thính chúng [hiện diện] trước
mắt này mà thôi, băng thâu hình được phát hình toàn thế giới, thính chúng coi
băng này qua máy truyền hình không biết là bao nhiêu mà tính, cũng không biết họ
là người như thế nào, chúng ta phải dự liệu, không thể làm mích lòng họ. Phải làm cho họ nghe xong có thể sanh
tâm hoan hỷ, tâm cung kính, có thể quay về, sửa đổi lỗi lầm. Ðược vậy thì sự giáo học Phật pháp của
chúng ta mới thành tựu viên mãn. Chẳng
giống lúc trước, lúc trước chỉ có thính chúng có mặt tại buổi giảng, nếu chẳng
hiện diện nơi ấy thì chẳng nghe được; hiện nay truyền hình, truyền thanh, người
trên cả toàn thế giới đều nghe được.
Vả lại băng thâu hình, thâu thanh có thể lập lại nhiều lần, bạn suy xét
coi thử thính chúng sẽ là bao nhiêu?
Ðây là việc chúng ta phải dự liệu, không thể sơ sót.
Bây giờ xin xem kinh văn.
Tương lai chúng ta in xong cuốn Khoa Chú, lưu thông với số lượng nhiều,
đặc biệt là đạo tràng Ðịa Tạng Bồ Tát ở Cửu Hoa Sơn, chỗ của Bổn Tôn, chúng ta
nhất định phải dốc toàn tâm toàn lực để ủng hộ. Ngày nay thế giới động loạn, chư vị đều
cảm nhận tình cảnh động loạn này rất rõ ràng, hơn nữa, tai biến nhiều phi thường,
bất luận ở quốc gia nào trên thế giới, ở địa khu nào, có nhiều tai biến to lớn,
ngày nay tin tức, thông tin đều chẳng tường trình nữa. Tại sao không tường trình nữa? Chúng ta suy đoán có thể là vì sợ mọi
người biết được sẽ cảm thấy khủng hoảng.
Vì muốn an định cục diện xã hội trước mắt nên rất nhiều tai nạn lớn đều
không tường trình nữa, đây là điều chúng ta có thể lý giải được. Nhưng những tai nạn này xảy ra như thế
nào? Người đời chẳng hiểu nguyên
nhân, đều gán cho nó là tai họa tự nhiên, đẩy trách nhiệm cho thiên nhiên, hình
như chẳng liên quan gì đến con người chúng ta, đây là sự sai lầm to lớn. Có quan niệm và tâm thái này không những
tai biến không thể chấm dứt mà càng ngày càng nghiêm trọng, chúng ta sẽ còn phải
chịu khổ nạn lớn hơn. Chúng ta có
trách nhiệm, có sứ mạng làm thế nào giúp đỡ xã hội, hóa giải, giảm nhẹ, đình trệ
những tai nạn này, đó chính là hết lòng học Phật, hết lòng tu hành.
Phật dạy chúng ta tận hư không trọn cả pháp giới và chúng ta cùng một
thể, đây là thật, chẳng giả, cả bộ Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh chính
là giảng về một việc này. Thế giới
này hình thành như thế nào? Trong
kinh Phật giảng rất rõ ràng, có tình có tưởng thì sẽ biến hiện ra thế gian hữu
tình, chín pháp giới thế gian hữu tình; vô tình vô tưởng thì sẽ biến thành khí
thế gian [1],
Pháp Tướng Duy Thức giảng rất tường tận, thấu triệt. Hữu tình thế gian là Kiến Phần trong A Lại
Da thức biến hiện ra, Vô tình thế giới là Tướng Phần [2]
trong A Lại Da Thức biến hiện ra, Kiến và Tướng đều cùng một nguồn gốc, cùng
thuộc một Tự Chứng Phần[3],
làm sao có thể nói không có liên quan được? Trong kinh Đại Thừa, Phật nói: ‘Tình
và Vô Tình cùng tròn đầy chủng trí’, như vậy cả hai Tình và Vô Tình mới
‘cùng’ được. Nếu cả hai chẳng có
liên quan như vậy thì làm sao ‘cùng’ được?
Ðức Phật lại nói với chúng ta: ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’,
hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều từ tâm tưởng sanh. Vì từ tâm tưởng sanh nên cái tâm tưởng
này là chủ tể. Trong hội giảng kinh
Lăng Nghiêm, Phật nói rõ ràng, minh bạch hơn: ‘Nếu chuyển được cảnh thì cũng
giống như Như Lai’, đây tức là nói ‘y báo chuyển theo chánh báo’. Chánh báo là gì? Chánh báo là tâm, là ý niệm (niệm đầu). Chúng ta thường nói: ‘Dung mạo của chúng
ta chuyển theo ý niệm, thể chất của chúng ta chuyển theo ý niệm, hoàn cảnh sinh
hoạt của chúng ta cũng chuyển theo ý niệm’. Tâm của bạn tốt thì tướng mạo của bạn
đương nhiên sẽ tốt, thân thể của bạn sẽ tốt, hoàn cảnh cư trú cũng tốt, là do
tâm chuyển cảnh giới, chẳng phải cảnh giới chuyển tâm. [Khi nói về thời đại] hiện nay, Phật
trong kinh thường nói đến chữ ‘điên đảo’, cái gì điên đảo? Người thế gian đều bị hoàn cảnh chuyển,
tâm người thế gian bị hoàn cảnh chuyển.
Hiện nay tai nạn [gì xảy ra, người ta] đều đổ thừa cho là tai họa tự nhiên, chẳng liên can gì đến
con người, đây tức là tâm bị cảnh chuyển, đây là sự sai lầm to lớn.
Chúng ta xem thời cổ, bạn coi lịch sử, thời xưa nếu trong xã hội xảy ra
tai biến trọng đại thì những đế vương, đại thần, quan viên địa phương giống như
thị trưởng, quận trưởng hiện nay, [tức là] những bậc lãnh đạo ở địa phương, họ
đều trai giới, tắm rửa, giảm thiện (giảm
phần ăn). Lúc bình thường ăn
cơm, như lúc vua ăn cơm, có lẽ quý vị có người cũng không biết, trên bàn ăn của
vua nhất định phải có một trăm món ăn, chẳng kể là vua ăn hay không, đều không
thể thiếu. Giảm thiện là gì? Giảm phân nửa. Thật sự phản tỉnh, suy nghĩ lỗi lầm, đại
xá thiên hạ, làm thêm chuyện tốt, hy vọng có thể chuyển đổi ý trời. Chuyển đổi ý trời trên thực tế chính là
hy vọng tâm địa hiền lành có thể biến đổi hoàn cảnh, chấm dứt kiếp nạn. Người thời trước biết làm như vậy, người
hiện nay không biết, người hiện nay cho rằng [tai nạn] chẳng liên can gì với
mình, người thời trước biết. Nhà
Nho, Ðạo giáo, nhà Phật đều biết.
Chúng ta biết, phải bắt đầu làm từ bản thân mình.
Thế nên nhất định phải biết, ai có trách nhiệm đối với kiếp nạn thế
gian? Mình có trách nhiệm, mình chẳng
tu hoàn hảo, mình chẳng làm tốt đẹp.
Ngày nay Phật giáo bị xã hội đại chúng hiểu lầm, chúng ta có thể trách
người ta không? Không thể trách họ. Tại sao không thể trách người ta? Người xuất gia chúng ta chẳng làm gương
tốt. Người trong thế gian chịu khổ
lớn lao như vầy, gặp nạn lớn như vậy, là do ai tạo thành? Do mình tạo thành. Mình chẳng thiện, tâm mình chẳng thiện,
hạnh của mình chẳng thiện, lời nói chẳng thiện nên gây nhiều khổ nạn cho con
người. Ngày nay nhìn thấy kiếp nạn
này, tôi phải phản tỉnh, tôi có lỗi lầm to lớn, tội nặng, tôi phải sám hối. Nếu người học Phật chúng ta ai nấy đều
có giác ngộ như vậy thì Phật giáo làm sao không hưng vượng cho được, xã hội đại
chúng làm sao không tiếp nhận được!
Con người ai nấy đều có thể giữ tâm tốt, làm chuyện thiện, thì kiếp nạn
sẽ được hóa giải. Kiếp này là tâm
kiếp, căn nguyên là từ tâm, chẳng phải chi khác. Thế nên ngày nay chúng ta đọc đoạn kinh
này thì phải phản tỉnh sâu xa, đức Phật trong kinh đã giảng rõ nhân và quả. Ngôn ngữ tuy chẳng nhiều, đúng là lời vắn
tắt nhưng chứa đầy đủ ý nghĩa, bất luận là đối sự, đối lý, đều nói được viên
mãn, rốt ráo phi thường.
Xin chư vị mở kinh, Khoa Chú trang 160, đếm ngược hàng thứ ba [từ phía dưới lên], xem kinh văn:
Phật cáo Tứ Thiên Vương, thiện tai, thiện tai. Ngô kim vị nhữ cập vị lai hiện tại thiên
nhân chúng đẳng quảng lợi ích cố, thuyết Địa Tạng Bồ Tát ư Sa Bà thế giới, Diêm
Phù Đề nội sanh tử đạo trung, từ ai cứu bạt, độ thoát nhất thiết tội khổ chúng
sanh phương tiện chi sự.
Phật bảo Tứ vị Thiên Vương rằng: ‘Lành thay, lành thay’. Ta nay sẽ vì sự lợi ích rộng lớn của quý vị cùng các chúng trời người hiện tại và vị lai, mà nói việc Địa Tạng Bồ Tát ở thế giới Sa Bà, trong đường sanh tử nơi cõi Diêm Phù Đề, từ mẫn cứu vớt, phương tiện độ thoát tất cả chúng sanh tội khổ.
Bồ Tát nhận lời phó chúc của Phật, tiếp nhận sự ủy thác của Phật, đặc
biệt là chúng sanh đời Mạt pháp ương ngạnh khó giáo hóa, lão nhân gia dùng vô tận
từ bi, vô lượng trí huệ và phương tiện, hóa thân ở thế gian này. Hóa thân của ngài, nam nữ già trẻ trong
xã hội, các ngành các nghề thảy đều có, nếu chẳng là người minh nhãn (người mắt sáng)
thì chẳng nhìn thấy, người minh nhãn thấy rõ ràng, thấy minh bạch, ở đó tạo ra
phương tiện vô tận. Không nhất định
là thị hiện thân phận người xuất gia, hiện nay mọi người chẳng hiểu Phật pháp,
đều cho rằng Phật pháp là mê tín, có chướng ngại nghiêm trọng. Thị hiện người xuất gia giáo hóa chúng
sanh có thể sẽ có nhiều chỗ không thuận tiện, Bồ Tát thị hiện thân phận tại gia
rất nhiều, đều khuyến thiện, sửa lỗi.
Hôm qua có đồng tu từ Ðài Loan đến và đem những băng thâu hình, trẻ em
đọc kinh. Tôi nghe qua vài đoạn và
rất cảm khái, những đại đạo lý của cổ thánh tiền hiền chẳng phải là học thuyết
của cá nhân họ. Có phải những gì Khổng
Tử nói là học thuyết của ngài không?
Lời Lão Tử nói là học thuyết của ngài không? Lời đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy có phải
là học thuyết của ngài không? Đều
chẳng phải, đó là gì? Học thuyết xứng
tánh, là bản tánh của hết thảy chúng sanh, chân tâm của hết thảy chúng sanh,
pháp vốn đầy đủ trí huệ đức năng của hết thảy chúng sanh, các ngài nói đều là
những thứ này. Nếu bạn nói đó là [học
thuyết] của mỗi cá nhân họ thì bạn đã hiểu sai rồi. Là trí huệ đức năng vốn sẵn có trong tự
tánh chúng ta, thuần thiện chẳng tạp.
Nếu có thể phát huy được thì sẽ chân chánh đạt được ‘thành ý, chánh tâm,
tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’, những đại đạo lý này chẳng liên quan
đến một cá nhân nào cả. Tâm địa của
họ thanh tịnh, từ bi, bác ái, họ đã nhìn thấy, Phật pháp gọi là minh tâm kiến
tánh, họ đã nhìn thấy, chứng được.
Chúng ta mê hoặc điên đảo, chẳng nhìn thấy, chẳng chứng được. Nếu chúng ta chứng được thì chẳng khác
gì họ. Phải làm sao mới có thể chứng
được? Phải phá ngã chấp, phá pháp
chấp. Làm cách nào để phá? Niệm niệm vì chúng sanh, đừng nghĩ cho
mình nữa; niệm niệm vì Phật pháp, sự nghiệp của chúng ta chính là Phật
pháp. Phật pháp là gì? Phật là giác ngộ, pháp là phương pháp,
phương pháp làm cho hết thảy chúng sanh giác ngộ thì gọi là Phật pháp. Giúp cho hết thảy chúng sanh giác ngộ
thì bạn đã hoằng dương Phật pháp.
Ngày nay chúng ta ở tại thế gian này, làm công việc này, công việc ngành
nghề này nói theo cách nói hiện nay tức là người làm công tác giáo dục xã hội,
nói như vậy thì mọi người dễ hiểu.
Năm xưa lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, ngài làm công việc
gì? Giáo dục xã hội, vả lại còn là
thiện nguyện, chẳng thâu học trò một đồng xu cắc bạc nào cả, hoàn toàn là nghĩa
vụ, ngài là một người làm công tác giáo dục xã hội thiện nguyện. Chúng ta là học trò của Phật thì phải nối
tiếp huệ mạng của Phật. Phật làm suốt
cả đời, chúng ta là đệ tử học Phật nhiều đời kiếp sau, hết lòng làm theo, tiếp
tục chẳng gián đoạn, nhất định phải làm cho hoàn hảo công tác giáo dục xã hội
này. Ðối tượng của giáo dục xã hội
là hết thảy chúng sanh, chẳng phân biệt nam nữ, già trẻ, chẳng phân biệt sang hèn, giàu nghèo, cũng chẳng phân cõi trời cõi người, chín pháp giới
chúng sanh đều đối đãi bình đẳng.
Chúng ta phải học ‘tác sư tác phạm’ (làm thầy, làm mô phạm), ‘sư’ là gương
mẫu của xã hội đại chúng, ‘phạm’ là mô phạm. Nếu chúng ta làm không được thì phải
sanh tâm hổ thẹn. Chúng ta giữ tâm
[niệm như thế nào], tâm chúng ta có thể làm gương cho xã hội đại chúng
không? Ngôn hạnh của chúng ta có thể
làm gương cho xã hội đại chúng không?
Phải thường suy nghĩ như vậy.
Phàm những gì không thể làm gương tốt cho xã hội đại chúng, tuyệt đối
không được làm. Những tâm niệm chẳng
thể làm gương tốt cho xã hội đại chúng thì tuyệt đối chẳng thể khởi. Như vậy mới có thể được chư Phật, Bồ Tát
hộ niệm, chư Phật, Bồ Tát gia trì, long thiên thiện thần ủng hộ. Chúng ta đề cao giáo dục xã hội, Tân Gia
Ba có thể làm nên một chút thành tích này [là vì] cư sĩ Lý Mộc Nguyên, các vị đồng
tu, những nhân viên cán sự dưới quyền ông ta, tứ chúng đồng tu chúng ta chẳng
có tâm riêng tư. Tại sao những chỗ
khác làm không thành công? Phật chẳng
có tâm phân biệt, chẳng có yêu thích; Thiện Ðạo đại sư nói rất hay, đều là ‘gặp
duyên chẳng đồng’. Ðại chúng ở
địa phương này, một lòng một dạ xả mình vì người, mỗi ngày đều nghĩ vì Phật
pháp, vì chúng sanh, chẳng vì mình, cho nên được cảm ứng vô cùng thù thắng. Ở đây chúng ta có thể cảm nhận cảm ứng
này rất rõ ràng, hiển cảm hiển ứng [4],
chẳng thể nghĩ bàn.
Chúng ta ở đây làm một gương tốt, người xuất gia làm người xuất gia
gương mẫu, đạo tràng làm đạo tràng gương mẫu, hy vọng [những người] đến đây
tham học chỉ đạo, sau đó xây dựng những gương mẫu này ở khắp mọi nơi trên thế
giới. Hy vọng [đạo tràng] họ xây dựng
tốt hơn ở đây, ngạn ngữ thường nói: “Đến sau về trước”[5],
câu này rất có đạo lý. Tại sao đến
sau vượt trội hơn trước? Xây sau chắc
chắn tốt hơn trước, đợt trước có khuyết điểm, thiếu sót thì xây sau có thể sửa
đổi cho tốt hơn. Cho nên càng về
sau thì càng thù thắng, tốt hơn, được vậy mới có thể phổ độ chúng sanh, mới có
thể hóa giải kiếp nạn của thế gian này.
Chúng tôi không hy vọng mọi người đến đây học xong chẳng muốn về, ở lại
đây, như vậy không tốt. Học xong
cách làm việc của Cư Sĩ Lâm rồi trở về địa phương của mình tự làm lấy. Xây dựng đạo tràng chánh pháp ở khắp
nơi, được vậy thì thế gian này mới được cứu, các bạn thật sự học được, thật sự
hiểu được ý nghĩa của Phật, ‘nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa’.
Giới thiệu Tứ Thiên Vương cho quý vị xong. Thế Tôn nói với Tứ Thiên Vương, ‘cáo’ là
lời người trên nói với dưới, những cách dùng chữ này chúng ta đều phải biết. Hai chữ ‘Thiện tai, thiện tai’ có hai ý
nghĩa, thứ nhất là khen họ hỏi rất đúng, rất hay, hỏi để đem lợi ích cho hữu
tình. Những Thiên Vương, Thiên Thần,
chư vị nên biết, phần nhiều đều là Phật, Bồ Tát hóa thân, họ chẳng phải là quỷ
thần. Nếu thật sự là phàm phu thì
chẳng hỏi những câu như vậy nổi.
Người có thể hỏi như vậy đều là Phật, Bồ Tát hóa thân thị hiện, đều chẳng
phải là người thường. Chữ ‘Thiện
Tai’ thứ hai là khen ngợi họ, họ thiện hộ thế gian. ‘Hộ thế’ quan trọng là ‘thiện hộ’, chữ
này rất hy hữu, họ có phương tiện khéo léo. Hộ trì thế gian, làm cho người thế gian
giác ngộ, làm cho người thế gian đoạn ác tu thiện, như vậy mới gọi là ‘thiện hộ’. Phật thuyết pháp ở nơi đó, chúng ta coi
những gì nói trong kinh văn rất giống với tài liệu giảng thuyết của tôi.
‘Ngô kim vị nhữ cập vị lai hiện tại thiên nhân đẳng chúng’, thiên, nhân
đẳng chúng tức là chúng sanh trong lục đạo, nói thiên và nhân, những cõi khác
lược bớt, ‘đẳng’ tức là lục đạo, đặc biệt thương xót chúng sanh trong lục đạo. Bạn nghĩ xem ngài ở hội giảng kinh tại
cung trời Đao Lợi, ý nghĩa của Phật vô cùng rõ ràng, chẳng phải chỉ đại chúng
hiện diện tại cung trời Đao Lợi lúc đó, pháp hội này lưu truyền về sau, những
thính chúng chẳng hiện diện lúc đó không biết bao nhiêu mà kể? Giống như hiện nay chúng ta đối diện trước
máy thâu hình vậy, được truyền hình trên hệ thống vệ tinh, truyền đi khắp thế
giới trên mạng lưới điện toán. Hiện
nay người nghe chúng ta giảng kinh, tương lai chúng ta vãng sanh, chẳng còn ở
đây, băng thâu hình này vẫn được giữ lại, người đời sau vẫn còn nghe được. Tôi nghe nói hiện nay kỹ thuật chế tạo
những băng này rất cao, có thể giữ được hai trăm năm. Chúng ta chẳng có thọ mạng dài như vậy,
hai trăm năm sau người ta còn nghe được băng của chúng ta, còn nhìn thấy được
màn ảnh này. Thế nên chúng ta ở nơi
đây giảng kinh thuyết pháp, mỗi cử chỉ hành động trong đời sống chúng ta, mỗi lời
nói mỗi hành vi tối thiểu cũng phải giữ tròn trách nhiệm đối với thính chúng
hai trăm năm sau. Trong lời nói này
của Thế Tôn đã hàm chứa những ý nghĩa như vậy.
‘Quảng lợi ích cố’, lợi ích rộng lớn khi giảng Địa Tạng pháp môn, tuyên
dương Địa Tạng pháp môn, duy chỉ có Địa Tạng pháp môn mới có thể độ thoát chúng
sanh trong chín ngàn năm Mạt pháp.
Đạo lý của Nho gia, Đạo giáo, Phật giáo Đại Thừa rất tốt nhưng hiện nay
chẳng có người chịu nghe, chịu tiếp nhận.
Có thể niệm kinh một lần cũng kể là hay lắm rồi, có thể làm theo kinh
thì chẳng có một ai. Địa Tạng pháp
môn là pháp môn căn bản, do đó nhiều năm trước tôi đi giảng ở những thành phố lớn
dọc miền đông nước Mỹ, giảng đại ý kinh Địa Tạng. Vì thời gian ngắn, mỗi nơi chỉ có bảy
ngày, chẳng có cách chi giảng kinh, chỉ có thể giảng đại ý. Có một số đồng tu hỏi tôi:
‘Pháp sư chuyên hoằng Tịnh Độ thì tại sao lại giảng kinh Địa Tạng? Không phải đã xen tạp, đã xen tạp môn
khác rồi sao?’.
Họ hỏi rất đúng. Tôi nói:
‘Thiện tai, thiện tai, hỏi hay lắm.
Tôi vẫn đang giảng Tịnh Độ, vẫn chuyên tu chuyên hoằng’.
Họ nói” ‘Kinh Địa Tạng là gì?’
Tôi nói: ‘Kinh Địa Tạng là câu đầu tiên trong Tịnh Độ Tông’.
Họ hỏi: ‘Câu nào?’
Kinh Quán Vô Lượng Thọ giảng về Tam Phước, mọi người đều biết, là cơ sở
của sự tu hành trong Tịnh Tông.
Trong Hạnh Môn chúng ta đề xướng: ‘Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ,
Phổ Hiền Thập Nguyện’, mọi người đều biết cả. Bộ kinh Địa Tạng này chính là phước thứ
nhất trong Tam Phước: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng
giết, tu mười nghiệp thiện’.
Các bạn nghĩ xem kinh Địa Tạng có giảng về việc này không? Tôi vẫn giảng về Tịnh Độ, chẳng tách
lìa, vẫn chuyên tu, chuyên hoằng.
Nói vậy nên mọi người đều hiểu, bộ kinh này giảng kỹ về bốn câu trên.
Từ chỗ này chư vị cũng có thể thấu
hiểu đến nghĩa
thú của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm
nói ‘một tức là hết thảy, hết thảy tức là một’, nói cho chư vị biết, bất
kỳ một kinh nào cũng bao hàm hết thảy kinh, hết thảy kinh đều có thể nhập vào một
kinh. Không những có thể nhập vào một
bộ kinh, nói cho chư vị biết, có thể nhập vào ý của một câu. Thí dụ nói chỗ này, Phật bảo Thiên Vương
‘Thiện tai, thiện tai’. Hết thảy
kinh Phật trong bốn mươi chín năm có thể nhập vào ‘Thiện tai’, Thiện Tai bao
hàm hết thảy kinh, bao hàm hết thảy y cứ (căn cứ). Hai câu ‘Thiện tai, Thiện tai’ cũng có
thể nhập vào hết thảy kinh, hết thảy kinh cũng có thể nhập vào hai chữ
này. Pháp viên dung, tại sao? Xứng tánh. Nếu bạn có thể thấu hiểu tánh đức, tức
là ‘một và nhiều chẳng hai’, lý sự viên dung, đâu có chỗ nào chướng ngại? Phía sau nêu ra vài thí dụ. Sau cùng:
Tứ đại thiên vương ngôn dụy nhiên, Thế Tôn, nguyện nhạo dục văn
Tứ đại Thiên Vương bạch rằng: ‘Vâng! Bạch đức Thế Tôn, chúng con xin muốn được nghe’.
Thế Tôn khen ngợi họ, họ đáp ‘dụy nhiên’. ‘Dụy nhiên’ là lời đáp vô cùng cung
kính, thái độ khải thỉnh đảm đương này đáng cho chúng ta học tập. ‘Nguyện nhạo dục văn’ thì mới có được thọ
dụng, chữ ‘nhạo’ này phải chân tâm tình nguyện, vui vẻ tiếp nhận, tiếp nhận thì
phải y giáo phụng hành. Nếu chẳng
thể làm được thì bốn chữ ‘nguyện nhạo dục văn’ trở thành trống không, nhất định
phải làm cho bằng được. Xin xem tiếp:
Phật cáo Tứ Thiên Vương, Địa
Tạng Bồ Tát cửu viễn kiếp lai ngật chí ư kim độ thoát chúng sanh do vị tất nguyện,
từ mẫn thử thế tội khổ chúng sanh, phục quán vị lai vô lượng kiếp trung, nhân mạn
bất đoạn, dĩ thị chi cố hựu phát trọng nguyện.
Đức
Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng: ‘Bồ Tát Địa Tạng từ bao kiếp lâu xa đến nay,
độ thoát chúng sanh vẫn chưa mãn nguyện, từ bi thương xót chúng sanh tội khổ ở
đời này, lại quán thấy vô lượng kiếp về sau, nghiệp nhân cứ dây dưa chẳng dứt,
vì lẽ đó nên lại phát trọng nguyện.
Trên thực tế Địa Tạng Bồ Tát ở đây hiện thân thuyết pháp dạy chúng ta,
dạy chúng ta việc gì? Dạy chúng ta
phải không ngừng phát nguyện, thế nên trong khóa lễ sáng tối chúng ta đều phát
nguyện. Vãng Sanh Luận của Thiên
Thân Bồ Tát, trong Ngũ Niệm Pháp Môn có ‘Phát nguyện’. Phải thường phát nguyện, tại sao vậy? Nếu ba ngày không phát nguyện thì quên
ráo trọi. Phàm phu nghiệp chướng tập
khí quá nặng, bên trong có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, bên ngoài có dụ
hoặc của ngũ dục lục trần, chúng ta sinh sống trong hoàn cảnh này nếu không đọc
kinh mỗi ngày, phát nguyện mỗi ngày thì chẳng giữ vững nổi, chúng ta sẽ bị những
làn sóng này nuốt mất. Nói cách
khác, chúng ta nhất định sẽ sanh tử luân hồi y như cũ, chắc chắn sẽ đọa tam ác
đạo, chúng ta phải cảnh giác từng giờ từng phút. Trong những đợt sóng chập chùng này,
trong những ngọn sóng mạnh mẽ này, chân chúng ta phải đứng cho vững, vừa sơ ý một
chút liền bị cuốn trôi đi mất. Làm
thế nào chân mới có thế đứng vững chắc được? Chính là Địa Tạng pháp môn. Thế nên từ trước đến giờ, khi mỗi đạo
tràng mới thành lập thì nhất định phải giảng kinh Địa Tạng trước hết, để chúng
ta có một mảnh đất. Đạo tràng này
đã xây xong mà chưa giảng kinh này, nhân duyên kỳ này quá tốt, được lệnh của
lão hòa thượng Nhân Đức, ngài là đại biểu cho Địa Tạng Bồ Tát của chúng ta hôm
nay, Chúa Cứu Thế của chúng sanh đời Mạt pháp, chúng ta đi theo lão hòa thượng. Chúng ta phải hoằng dương, phát triển rộng
rãi pháp môn này, đạo tràng này mới xây, có thể ở đây giảng một bộ kinh Địa Tạng,
phù hợp với bổn nguyện của chúng ta, vô cùng hy hữu. Bộ băng thâu hình này sẽ được lưu thông
rất rộng, giúp cho những đạo tràng mới xây dựng, chúng ta chẳng có cách chi
phân thân, chẳng thể [trực tiếp] đến đó giảng kinh thì dùng bộ băng thâu hình
này.
Chúng ta phải thể hội đến Bồ Tát từ nhiều kiếp lâu xa mãi cho đến nay,
tại sao độ thoát cho những chúng sanh này nhưng vẫn chưa viên mãn đại nguyện của
ngài, chính là như trong kinh nói: ‘Chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề ương ngạnh
khó giáo hóa’. Trong lục đạo,
tình hình mỗi đạo đều giống nhau, Thiên Thai đại sư khai diễn Pháp Hoa, giảng
‘Trăm giới ngàn như’ cho chúng ta, đó là chân tướng sự thật, trong mỗi pháp giới
đều có mười pháp giới. Trong tâm
chân thành của chúng ta khởi một niệm A Di Đà Phật thì đó là pháp giới Phật, khởi
một niệm Địa Tạng Bồ Tát thì là pháp giới Bồ Tát, vừa khởi một niệm tham, sân,
si thì đó là pháp giới tam ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nghiệp nhân quả báo của thập pháp giới
chuyển biến trong từng một niệm, đây là hiện tượng luân hồi, đây là nghiệp nhân
căn bản của luân hồi. Chúng ta tiếp
nhận di giáo của Phật, có duyên đọc tụng kinh điển Đại Thừa, đây tức là Địa Tạng
Bồ Tát độ chúng ta, kéo chúng ta ra khỏi tam ác đạo đến cõi nhân thiên, độ đến
pháp giới Phật, Bồ Tát. Tánh thức của
chúng ta ương ngạnh, khó giáo hóa, vừa rời khỏi giảng đường, xếp cuốn kinh lại
thì đọa lạc ngay, lại đọa lạc đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không phải chúng
ta mỗi ngày đều làm việc này hay sao?
Thế nên nhọc sức Địa Tạng Bồ Tát nhiều kiếp lâu xa đến nay, mỗi ngày đều
phải phát nguyện, thương xót những chúng sanh tội khổ chúng ta. Giác căn của chúng ta không vững, nguyện
lực của chúng ta yếu ớt, lòng tin rất yếu mềm, chẳng chống chọi nổi phiền não tập
khí. Bồ Tát nhìn thấy vô cùng rõ
ràng, ‘vô lượng kiếp trung, nhân mạn bất đoạn’, ‘nhân mạn’ là thí dụ, giống như
cỏ bò lan dưới đất, nghiệp nhân của cỏ bò lan rất khó diệt tận. Ví như phiền não tập khí của chúng ta, tạo
nghiệp thọ báo, luân hồi vô tận, dùng bốn chữ này hình dung quá đúng. Nhưng Bồ Tát vẫn chẳng nản chí, chẳng
lùi bước, vẫn dốc hết tâm, hết sức giúp đỡ chúng sanh. Nên Thế Tôn nói tiếp:
Như thị Bồ Tát ư Sa Bà thế giới, Diêm Phù Đề trung, bá thiên vạn ức phương tiện nhi vi giáo hóa.
Bồ Tát ở thế giới Sa Bà, trong cõi Diêm Phù Đề, dùng trăm ngàn vạn ức phương tiện để giáo hóa.
Thế giới Sa Bà đặc biệt chỉ cõi Diêm Phù Đề, Diêm Phù Đề là địa cầu,
Ngài có duyên sâu đậm với chúng sanh trên quả địa cầu chúng ta. Ba nghiệp của Bồ Tát, khởi tâm động niệm,
ngôn ngữ tạo tác, chỉ có một mục đích là lợi ích hết thảy chúng sanh. Trong các kinh điển đức Phật thường nói,
thật sự đã nói ngàn lần, vạn lần, chúng ta vẫn chẳng nhớ y như cũ. Phật dạy chúng ta ‘Thọ trì đọc tụng,
vì người diễn nói’, chư vị thử nghĩ coi trong kinh, đức Phật đã nói câu này
hết bao nhiêu lần? Đã nói vô cùng
khẩn thiết. Trong kinh đức Phật giảng
về những đạo lý, phương pháp, cảnh giới ấy, chúng ta phải thọ trì. Trì là bảo trì, sau khi tiếp nhận xong
thì phải bảo trì, chẳng đánh mất.
Làm sao tiếp nhận đạo lý mà Phật đã giảng? Biến nó thành tư tưởng, kiến giải của
mình trong sanh hoạt thường ngày, như vậy là chúng ta tiếp nhận rồi. Cách suy nghĩ, cách nhìn của chúng ta giống
như cách nói trong kinh Phật, chẳng trái nghịch, như vậy là chúng ta tiếp nhận
ý tưởng, quan điểm của Phật. Những
phương pháp mà Phật giảng trong kinh biến thành hành vi trong đời sống của
chúng ta, chúng ta phải làm cho bằng được.
Cảnh giới Phật giảng trong kinh biến thành sự hưởng thọ của chính mình
ngay hiện tiền, nhập cảnh giới Phật.
Như vậy thì tự tại, khoái lạc biết mấy, đây là ‘tự thọ dụng’, tự thọ dụng
chính là ‘tha thọ dụng’. Biểu hiện
trong cuộc sống của chúng ta là nêu gương cho người khác, tức là Diễn, nghĩa là
biểu diễn cho người khác coi. Nói
được thì phải làm được, làm ra cho người ta xem, đích thật là gương mẫu của xã
hội đại chúng, là mô phạm của xã hội đại chúng.
Trong hai năm gần đây chúng ta giảng kinh hoằng pháp ở mọi nơi, chúng
ta có một đề mục chung ‘Học vi nhân sư, hành vi thế phạm [6]’,
chúng ta dùng tám chữ này làm đề mục chung. Mọi người vừa nhìn đề mục này không đến
nỗi hiểu lầm chúng ta là mê tín, hiểu lầm là chúng ta đang làm việc tôn giáo [7]. Chúng ta làm sao có thể đem Phật giáo trở
về làm giáo dục xã hội, bốn chúng đệ tử trong nhà Phật là người làm công tác
giáo dục xã hội, Phật pháp mới có thể phổ biến lợi ích hết thảy chúng
sanh. Lời này là như thế nào? Các tôn giáo tín ngưỡng khác nhau đều
cùng đến học Phật, các văn hóa chủng tộc khác nhau cũng ưa thích học Phật thì
Phật pháp mới có thể đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh. Nếu nói Phật giáo là tôn giáo thì các
tôn giáo chẳng thể dung nạp, tiếp nhận.
Nhưng Phật pháp là giáo dục xã hội, chúng ta xóa bỏ giới hạn của tôn
giáo thì bất kỳ tín đồ tôn giáo nào cũng có thể học Phật, đều có thể làm đệ tử
của Phật, đều chẳng mâu thuẫn với tín ngưỡng của tôn giáo họ.
Giống như sự thị hiện trong kinh Hoa Nghiêm, Bà La Môn, Bà La Môn giáo
chẳng phải Phật giáo. Biến Hành ngoại
đạo cũng là tôn giáo khác, cũng chẳng phải Phật giáo, đều là Bồ Tát. Bồ Tát thị hiện trong những hành nghiệp
của họ, giáo hóa những hạng chúng sanh ấy, chúng ta phải hiểu đạo lý này. Thế nên chúng ta gặp Cơ Đốc Giáo phải
tán thán, chúng ta gặp Mục Sư cũng chắp tay kính chào Mục Sư Bồ Tát, gặp người
đạo Hồi chúng ta chắp tay cung kính A Hoanh [8]
Bồ Tát, họ đều là Bồ Tát cả.
Họ hỏi tôi: ‘Ông xưng tôi là Bồ Tát là có ý nghĩa gì?’.
‘Bồ Tát là một người có trí huệ, người giác ngộ thì gọi là Bồ Tát. Bạn có trí huệ hay không, giác ngộ không?’
Họ gật đầu. ‘Vậy thì bạn là
Bồ Tát’.
Thân phận của bạn là A Hoanh, thì bạn là A Hoanh Bồ Tát; thân phận hiện
nay của bạn là Mục Sư thì bạn là Mục Sư Bồ Tát. Trong kinh Phật, thân phận của bạn là đồng
nam, đồng nữ thì bạn là đồng tử Bồ Tát, đồng nữ Bồ Tát; thân phận của bạn là Tể
Quan thì bạn là Tể Quan Bồ Tát.
Phàm là người có trí huệ, giác ngộ rồi đều xưng là Bồ Tát. Bồ Tát nhất định chẳng phải khắc, chạm
trổ bằng gỗ, bằng đất nặn, cúng ở trong chùa để cho người ta lạy, cách suy nghĩ
và cách nhìn như vậy là sai lầm. Đó
đều là tiêu biểu pháp, Bồ Tát là sống chứ chẳng chết. Người người đều làm Bồ Tát thì thiên hạ
sẽ thái bình, tai nạn sẽ hóa giải hết.
Vì thế, giáo dục của đức Phật
là một nền giáo dục xã hội viên mãn nên được phổ cập trên thế gian này,
mục đích rốt ráo của nó là chuyển phàm thành thánh, đó là mục tiêu của nền giáo
dục này. Hết thảy mọi người đều
thành Bồ Tát, mọi ngành mọi nghề đều là Bồ Tát thì xã hội làm sao có tai nạn được? Cảnh tùy tâm chuyển, chúng ta phải hiểu
đạo lý này. Chư Phật, Bồ Tát dùng
vô lượng pháp môn, phương tiện giúp đỡ chúng sanh đang chịu khổ nạn.
Phải biết cách tùy cơ thuyết pháp, những Bồ Tát nói trong kinh, chư Phật,
Bồ Tát nên dùng thân gì để độ được thì hiện thân ấy. ‘Được độ’ là như thế nào? Dùng cách nói hiện nay nghĩa là nên dùng
thân phận gì để giúp đỡ họ thì bạn thị hiện thân phận ấy, ‘độ’ nói theo cách
nói hiện nay tức là ‘giúp đỡ’. Nên
nói cho họ pháp môn gì thì bạn nói pháp môn ấy cho họ, thế nên ‘xem xét căn cơ’
rất quan trọng. Kinh Dịch của cổ
nhân Trung Quốc nói: “Quán sát thiên văn để biết thời thế biến đổi” [9]. Thiên văn là gì? Mỗi đêm ngước nhìn sao trên trời gọi là
Thiên Văn. Lời thánh nhân sâu rộng
vô cùng, nhiều người chẳng biết, họ nhìn ‘thiên văn’? Mỗi đêm họ đều quan sát bầu trời coi những
ngôi sao có biến hóa gì chăng. Đó
là gì? Chẳng hiểu ý của thánh
nhân. ‘Thiên’ là thiên nhiên, tức
là tự nhiên. Văn là văn
chương. Chữ ‘văn’ trong bộ ‘Thuyết
Văn Giải Tự’ [10],
ý của chữ ‘văn’ này là gì? Vẽ một
nét gọi là ‘văn’. Nghĩa là bạn quán
sát hiện tượng của thế gian, Thiên Văn tức là hiện tượng xã hội, từ các hiện tượng
trong xã hội bạn có thể cảm nhận được thế giới này có thay đổi gì? Phía trước tôi đã giới thiệu cho các bạn
về Tứ Đại Thiên Vương, Tây Phương Quảng Mục thiên vương tiêu biểu cho ý nghĩa
này. Ngài biết nhìn, biết quán, biết
xem xét, rành quán sát. Trên tay
ngài cầm rồng, rắn, rồng rắn tiêu biểu cho biến hóa. Tay kia cầm hạt châu, hạt châu tượng
trưng cho sự chẳng thay đổi trong biến hóa. Nắm vững được nguyên tắc chẳng biến đổi
thì có thể ứng phó được sự thay đổi này, Kinh Dịch cũng nói như vậy.
Chúng
ta biết nhìn không? Chúng ta thường
ngồi xe, rất ít đi tản bộ, đi ngắm cảnh, đi du lịch. Ngồi xe, đi bộ trên đường phố, bạn nhìn
thấy hiện tượng gì? Bạn thấy hiện
nay những quảng cáo, xem những hình ảnh vẽ trên xe hơi hay xe bus công cộng,
xem quần áo của người trẻ tuổi, [những
thứ] như vậy là ‘thiên văn’.
Trong tâm chúng ta hiểu rõ rồi, hiểu rõ cái gì? Trong kinh Phật nói, trong kinh Lăng
Nghiêm nói: ‘Tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng’, [các quảng cáo, hình ảnh]
đó tức là tà sư. Làm cho [những cảnh giới] được tiếp xúc bởi
sáu căn của người thế gian đều là cảnh giới yêu ma quỷ quái. Làm cho người thế gian khi lục
căn tiếp xúc đến đều là cảnh giới yêu ma quỷ quái. Họ sống cuộc đời như thế nào? Đời sống của yêu ma quỷ quái. Bồ Tát nhìn thấy những hiện tượng này,
lòng thương xót bèn sanh khởi. Làm
thế nào để cứu độ họ? Chúng ta làm
những áo thun, những áo các bạn mặc, trên đó in chữ ‘A Di Đà Phật’, in danh hiệu
của Phật, Bồ Tát, in chữ ‘Tri Ân Báo Ân’; số lượng của chúng ta ít, số lượng của
họ quá nhiều. Chúng tôi nghĩ ra một
cách, nhờ những người hiểu biết, những người thật sự phát tâm Bồ Đề, chúng ta
phải dùng những phương pháp này, tuyên truyền rộng rãi. Chúng ta diễn giảng với quy mô lớn và tặng
quần áo, tặng cho những người trẻ tuổi ai cũng mặc, cả đường phố đều [nhìn thấy
hàng chữ] A Di Đà Phật, đều thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, như vậy rất tốt.
Cổ đức có câu: ‘Người biết rõ vận mạng chẳng oán trời, người biết rõ
về mình chẳng trách người’ [11],
do đó có thể biết trong xã hội hiện nay rất nhiều người ‘oán trời trách người’,
người ‘oán trời trách người’ quá nhiều, ai cũng cảm thấy mình chẳng có lỗi lầm,
[họ nghĩ] đều là lỗi lầm của kẻ khác.
Không những không biết vận mạng, ngay cả chính mình cũng chẳng biết. Thế nên giáo học Phật pháp, Phật dạy những
gì? Chân tướng sự thật của nhân
sinh. Vũ trụ là hoàn cảnh sinh hoạt
của chúng ta, ‘nhân sanh’ tức là chính mình, giáo học của Phật giáo chẳng có gì
khác ngoài việc dạy bạn chân chánh biết rõ về mình, nhận thức mình, hiểu rõ
hoàn cảnh sanh hoạt của mình. Có thể
hiểu rõ chân tướng này rồi thì bạn sẽ là Bồ Tát, bạn sẽ là Phật; Phật, Bồ Tát
chỉ là người hiểu minh bạch mà thôi.
Trước kia lão pháp sư Đàm Hư cũng thường nói một người minh bạch nhất định
không oán trời, chẳng trách người, người ấy mới có thể tiếp nhận lời dạy của đức
Phật, mới vui vẻ y giáo phụng hành.
Trong nghịch cảnh gặp khổ nạn
cùng cực, họ vẫn muốn nêu gương tốt, trong mỗi niệm đều có thể xả thân vì người
khác. Nhìn thấy lỗi lầm của
phần đông xã hội đại chúng ở đâu?
Xã hội đại chúng tham tiền thì Bồ Tát thị hiện xả tiền; xã hội đại chúng
tranh danh đoạt lợi thì Bồ Tát thị hiện buông bỏ danh lợi. Tại sao phải làm như vậy? Cách làm này tức là giáo học. Vì người diễn nói, biểu diễn cho họ thấy. Bồ Tát sống trong thế gian này chẳng vì
mình, mà vì chúng sanh, là đến để diễn kịch. Hy vọng tuồng kịch này có thể làm cho
người xem giác ngộ, hiểu rõ, làm cho họ quay về, không bao giờ vì mình? Biểu diễn cho người khác. Đây là đại từ đại bi, đây là tinh thần của
Địa Tạng Bồ Tát. Hôm nay chúng ta
xem tiếp kinh văn:
Tứ thiên vương.
Đây là lời Phật kêu tên của họ.
Kêu tên, lời khai thị sau đó vô cùng quan trọng, kêu tên là để nhắc họ.
Địa Tạng Bồ Tát, nhược ngộ sát sanh giả thuyết túc ương đoản mạng báo.
Địa Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát sanh thì dạy rõ quả
báo vì tai ương đời trước mà phải chết yểu.
Sau đây nêu ra vài trường hợp.
Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa chúng sanh dùng phương tiện khéo léo, chúng ta
phải học. ‘Ương’ là tai ương, tai nạn
trong đời rất nhiều, thường gặp quả báo chuyện gì cũng không vừa ý, bịnh khổ,
chết yểu. Vì nguyên nhân gì? Sát sanh, sát nghiệp quá nặng. Tự chúng ta cũng cảm thấy trong đời này
chúng ta bị bịnh nhiều, thường thường bị bịnh đau, phải biết nguyên nhân là
gì? Sát nghiệp. Đời này tuy chẳng tạo sát nghiệp, nhưng
đời trước đã tạo. Trong kinh đức Phật
nói, nói sự thật. ‘Muốn biết nhân đời trước thì những gì phải
gánh chịu trong đời này chính là kết quả của những nhân ấy’, những gì mình chịu trong đời
này đều là do nhân tạo đời trước. Bạn
phải hiểu rõ sự thật, ngày nay bất luận chúng ta chịu tai nạn gì thì cũng nên
tiếp nhận một cách vui vẻ, đời trước tạo nhân chẳng tốt thì bây giờ phải chịu
quả báo. Hứng chịu quả báo chẳng
oán trời, chẳng trách người thì khi thọ hết, khóa sổ kết thúc. Nếu bạn chịu quả báo mà còn oán trời
trách người thì phiền phức lớn lắm.
Đời này chịu quả báo lại tạo thêm ác nghiệp, đời sau vẫn phải tiếp tục
chịu, dây dưa chẳng dứt. Cho nên khi
bạn hiểu rõ rồi, những gì chúng ta nhận chịu đến đời này chấm dứt, sổ nợ trả dứt,
báo hết. Đời này nỗ lực tu thiện,
nhất định không sát sanh. Không những
không sát sanh, mà còn không làm việc não hại chúng sanh. Không những không thể làm, phải không có
ý niệm này, được vậy thì quả báo tương lai của chúng ta sẽ thù thắng. Đời này thời gian rất ngắn, cho dù sống
đến một trăm tuổi thì một khảy ngón tay bèn trôi qua, thời gian đi qua rất mau,
đọc đến câu này, nhất định không thể sát sanh, chúng ta nhìn thấy những người
thọ báo trong thế gian liền biết được.
‘Muốn biết quả báo đời sau, những gì mình làm đời này chính là nó’,
chúng ta khởi tâm động niệm, hết thảy tạo tác là quả báo đời sau, nhân duyên quả
báo tơ hào chẳng sai.
Nhược ngộ thiết đạo giả thuyết bần cùng khổ sở báo
Nếu gặp kẻ trộm cắp thì dạy rõ quả báo bần cùng khổ sở.
Hiện nay có nhiều chỗ lạc hậu như Phi Châu, chúng ta thường xem báo cáo
người bên đó chịu nỗi khổ đói lạnh, đó là cộng nghiệp, họ chẳng biết quả báo chắc
chắn phải có nhân. Nhân của sự đói
lạnh, bần cùng, khổ sở là trộm cắp.
Phạm vi của ‘trộm cắp’ vô cùng rộng lớn, định nghĩa trong Phật pháp là
‘không cho mà lấy’, đồ đạc của cải có chủ, chủ chẳng cho bạn, bạn bèn lấy đi
thì gọi là trộm cắp. Còn phương thức
trộm cắp rất nhiều; có một số người đem vật cho nhưng chẳng phải cam tâm tình
nguyện mà bị ép bức nên phải đem cho; bạn có quyền uy, thế lực nên không thể
không nịnh hót bạn, tâng bốc bạn, đó cũng là trộm cắp. Hễ dùng những thủ đoạn, tâm lý không
chánh đáng, những gì bạn đạt được đều gọi là trộm cắp. Phạm vi này rất rộng, Giới Kinh nói rất
tường tận, [trộm cắp sẽ] bị quả báo này.
Nếu gặp kẻ tà dâm thì nói rõ quả báo làm khổng tước, bồ câu, uyên ương.
Chữ ‘tước’ ở đây, trong chú giải của Thanh Liên đại sư đặc biệt ghi rõ
là khổng tước (chim công).
Nói cách khác, quả báo của tà dâm là sanh vào cõi súc sanh. Bạn muốn sanh vào cõi súc sanh
không? Nếu không muốn sanh vào cõi
súc sanh thì nhất định đừng trồng nhân ấy.
Thế nên Bồ Tát ở phía trước nói về mười cõi ác, trong Tam Phước dạy
chúng ta tu mười nghiệp thiện, khi tu mười nghiệp thiện thì những quả báo chẳng
thiện sẽ không còn nữa. Nếu bạn
không tu mười nghiệp thiện, lại còn tạo mười nghiệp ác thì chắc chắn sẽ không
tránh khỏi quả báo ác.
Nhược ngộ ác khẩu giả, thuyết quyến thuộc đấu tranh báo.
Nếu gặp kẻ nói lời thô ác, thì dạy rõ quả báo quyến thuộc kình chống nhau.
Chúng ta cũng thường thấy người trong cùng một nhà cãi lộn, [đúng là]
chẳng phải oan gia thì chẳng gặp nhau.
Tại sao người trong một nhà thường chẳng hòa hợp? Đây là quả báo đời trước nói lời thô
ác. Nếu trong đời này vẫn không sửa
đổi thì còn phiền phức hơn nữa, nhà người ấy làm sao hòa hợp được? Ngạn ngữ thường nói: ‘Nhà hòa hợp thì
vạn sự hưng vượng’, nhà chẳng hòa thì chắc chắn sẽ suy bại.
Nhược ngộ hủy báng giả, thuyết vô thiệt, sang khẩu báo.
Nếu gặp kẻ hủy báng, thì nói rõ quả báo không lưỡi, miệng lở.
Khẩu nghiệp có bốn loại, đặc biệt nêu lên ‘nói lời thô ác’. Phía sau ‘hủy báng’ bao gồm ‘nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói thêu dệt’ trong ấy. Hủy báng, đặc biệt là hủy báng Phật pháp, nhưng chư vị nên biết hiện nay hơn phân nữa xã hội cho rằng ‘Phật giáo là tôn giáo, tôn giáo là mê tín, trong hết thảy tôn giáo thì Phật giáo là mê tín nhất, thuộc về hạng thấp nhất’. Tại sao vậy? Tôn giáo hạng cao chỉ có một vị Thần, duy nhất chỉ có một Chân Thần, [họ cho r&