Tập 15 (Số 14-12-15)
Xin mở kinh
bản, quyển trung, Phẩm thứ năm: Danh hiệu
của địa ngục, xin xem kinh văn:
PHẨM THỨ 5:
DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC
Nhĩ thời Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn: Nhân giả nguyện vi thiên long tứ chúng cập vị lai hiện tại nhất thiết chúng sanh thuyết Sa Bà thế giới cập Diêm Phù Đề tội khổ chúng sanh sở thọ báo xứ địa ngục danh hiệu cập ác báo đẳng sự. Sử vị lai thế mạt pháp chúng sanh tri thị quả báo.
Lúc đó
Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát nói với Địa
Tạng Bồ Tát rằng: “Thưa Nhân giả, xin ngài hăy v́
trời, rồng, tứ chúng và tất cả chúng sanh ở
hiện tại cùng vị lai mà nói rơ danh hiệu của các
địa ngục, nơi thọ báo của các chúng sanh
tội khổ ở thế giới Sa Bà và cơi Diêm Phù
Đề, cùng những sự ác báo để cho chúng sanh
trong thời Mạt pháp ở đời sau biết rơ
những quả báo đó.”
Đến đây là
một đoạn.
Đoạn này là do Phổ Hiền thỉnh nói, phía
trước đă giới thiệu qua ‘nghiệp duyên,
nghiệp hoặc’, sau hai phẩm này, đối với
những khổ báo của hết thảy chúng sanh tạo
ác nghiệp trên thế gian cảm được th́ chúng ta
cũng đă hiểu một phần rồi. Trong đoạn kinh này, Phổ
Hiền Bồ Tát đại từ đại bi thay chúng ta
thỉnh pháp, thỉnh cầu Địa Tạng Bồ Tát
nói đại khái, sơ lược những tội báo này
cho chúng ta biết. Không chỉ chúng ta hy
vọng hiểu rơ, mà lục đạo chúng sanh trong
thế giới Sa Bà bao gồm chư thiên, bát bộ quỷ
thần [đều hy vọng hiểu rơ]. V́ những chúng sanh này
trước mắt là hưởng thọ phước báo,
phước báo của thiên nhân, nhưng phước cơi
trời hưởng hết rồi th́ phải làm sao
đây. Mỗi chúng
sanh hoặc là [chỉ] nói về mỗi con người,
không phải chỉ có sanh mạng trong một giai
đoạn này mà thôi, chúng ta nhất định phải
hiểu rơ điều này. Chúng ta có
đời quá khứ, quá khứ vô thỉ, chúng ta c̣n có
đời vị lai, vị lai vô chung, những năm tháng
vô thỉ vô chung này chẳng có cách chi tính đếm
nổi. Ngày nay chúng ta nói
về con số thiên văn, con số thiên văn so với
vô thỉ vô chung cũng c̣n khác xa vời vợi, tội
nghiệp tích lũy từ vô lượng kiếp
đến nay cũng là vô lượng vô biên. Quả báo ở giai đoạn
này là hạnh nghiệp của chúng ta đă tạo từ vô
lượng kiếp, nghiệp nhân nào gặp
được duyên th́ sẽ hiện ra, [nói chung] là sự
việc như vậy.
Người không
học Phật chẳng hiểu rơ, chẳng thấu
hiểu những chân tướng sự thật này;
Phật đă nói với chúng ta thật rơ ràng, lời
Phật nói có đáng tin không?
Lời Phật nói là thiệt hay không? Chỗ thù thắng, cao minh
nhất trong giáo học của Phật là Ngài dạy chúng ta
chứng thật, ngài nói với chúng ta chuyện như
vậy, kêu chúng ta tự ḿnh đi chứng minh, như
vậy th́ không giả rồi.
Phật chẳng có nói: ‘Những ǵ ta nói là thật th́
nhất định phải là thật’, Phật chẳng
nói như vậy. Phật nói
xong, bạn có thể tự ḿnh chứng thật. Dùng phương pháp ǵ để
chứng thật? Phật
dạy phương pháp cho bạn, bạn tự cầu
chứng. Lục đạo,
thập pháp giới đều là thật, Nhất Chân pháp
giới cũng là thật, bạn có thể chứng
thật. Khỏi phải nói đến những tội
nghiệp đă tạo trong đời này, những tội
nghiệp đă tạo trong nhiều đời nhiều
kiếp về trước [cũng quá nhiều rồi], cho
nên đến lúc phước cơi trời hưởng
hết, tội nghiệp tích lũy từ những
đời quá khứ vẫn c̣n th́ đâu có lư nào chẳng
đọa lạc được?
Trong các cảm ứng trong mười pháp giới th́
cảm ứng ác nhiều hơn, cũng tức là ác duyên
nhiều, thiện duyên ít.
Nếu bạn không tin lời này th́ cũng chẳng
khó chứng thật; bạn hăy suy tư, trắc
lượng kỹ càng. Trong
đời sống hiện tiền của chúng ta, từ
sáng đến tối những người, sự, vật
mà chúng ta gặp gỡ đều là duyên, trong đó
thiện duyên nhiều hay ác duyên nhiều? Ngoại duyên bên ngoài khơi lên ư
niệm trong tâm của chúng ta, lục căn chúng ta tiếp
xúc cảnh giới lục trần bên ngoài, chúng ta khởi
tâm động niệm là ác niệm nhiều hay là thiện
niệm nhiều? Bạn b́nh
tĩnh suy tư th́ sẽ hiểu rơ. Nếu từ sáng đến
tối, ác niệm của chúng ta nhiều hơn thiện
niệm, th́ đời sau bạn sẽ sanh đến
đâu? Đó không phải là sẽ đi vào tam ác đạo hay sao,
đâu cần phải hỏi người khác! Chẳng cần phải hỏi ai
khác, chẳng cần hỏi Phật, Bồ Tát, tự ḿnh
biết rơ ràng, minh bạch.
Trong một ngày,
từ sáng đến tối nếu chúng ta có thể
giữ được thiện niệm nhiều hơn ác
niệm th́ chúng ta mới nắm chắc không đọa tam
ác đạo. Sự nắm
chắc này cũng không hoàn toàn hết mười phần,
tại sao? Lúc lâm chung bạn
có thể nắm chắc hay không?
Lúc b́nh thường có thể nắm chắc, nhưng
lúc lâm chung nắm không chắc th́ vẫn phải
đọa lạc. Do đó
mới biết chuyện này thật là khó, lúc b́nh
thường phải tập luyện, tại sao? Lúc b́nh thường rèn luyện
th́ đến lúc lâm chung mức độ có thể nắm
chắc nhiều hơn; nếu lúc b́nh thường không
chịu rèn luyện th́ đến lúc lâm chung mức
độ nắm chắc sẽ rất ít, chúng ta phải
hiểu đạo lư này.
Cổ đức có thí dụ, đó là ‘luyện binh
ngàn ngày chỉ để dùng trong một chốc mà thôi’,
lúc b́nh thường phải rèn luyện, đến phút
cuối cùng có thể đánh thắng hay không th́ chưa
chắc. Nhưng nhất
định phải rèn luyện th́ khi đánh trận
mới có cơ hội thắng trận. Nếu lúc b́nh thường không
rèn luyện th́ lúc ra trận chắc chắn sẽ bị
đánh bại. Lúc b́nh
thường rèn luyện, trong các buổi giảng chúng ta
đă nói rất nhiều.
Đặc biệt là thời gian gần đây, hoàn
cảnh sinh sống của chúng ta trên trái đất này,
địa cầu là đại hoàn cảnh sinh sống
của chúng ta xảy ra nhiều tai biến khác
thường, thiên tai nhân họa rất nhiều, số
lượng mỗi năm càng tăng, mỗi lần
xảy ra càng nghiêm trọng hơn trước; chúng ta nghe
báo cáo ở nhiều địa phương đích
thật làm cho thân tâm con người đều chẳng
yên, sanh hoạt trong lo sợ.
Ngày nay mọi người đều hỏi chúng ta
đi đâu để tránh nạn?
Chẳng có một nơi nào trên thế giới này an
toàn hết, bạn đi đâu được? Đi đâu cũng vậy. Một ngày trước lúc lăo
cư sĩ Lư Bỉnh
Tai nạn h́nh thành
như thế nào? Do cộng
nghiệp của chúng sanh cảm đến, chẳng giác
ngộ; đức Phật đă nói rơ ràng, minh bạch,
chẳng có người tin, chẳng có người chịu
tiếp nhận, cho rằng lời Phật nói là mê tín. Người hiện đại
đều tin khoa học, tin vào y cứ trong khoa học,
nếu lỡ khoa học nói sai một câu th́ làm sao
đây? Sự thiệt hại
sẽ chẳng nhỏ. Chúng ta
biết được trí huệ của đức
Phật có được từ trong thiền định,
điều này chẳng phải giả.
Phật nói với
chúng ta mỗi người đều có trí huệ, năng
lực này, ‘nhưng v́ vọng tưởng chấp
trước nên chẳng thể chứng được’,
cho nên mục đích của lời Phật dạy là
muốn chúng ta chứng được. Phật nh́n thấy, bạn
cũng có khả năng nh́n thấy, đức Phật
hiểu rơ, bạn cũng có khả năng hiểu rơ, ngày
nay tại sao bạn không hiểu rơ? Tại sao nh́n chẳng
thấy? Phật nói v́ bạn
có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp
trước. Chỉ cần
xả bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, xả hết sạch sành sanh th́ bạn
sẽ nh́n thấy thấu suốt diện mục chân
thật của hư không pháp giới, vậy th́ c̣n
phải nghe người khác nói nữa ư? Đến lúc đó những ǵ
bạn nh́n thấy, bạn tiếp xúc đến chẳng
khác những ǵ chư Phật Như Lai đă nói. Thế nên Phật là ‘người
nói lời chân thật, lời thật sự, lời
đúng như vậy’[1]. ‘Như ngữ giả’ nghĩa là
sự thật ra sao th́ nói như vậy, tuyệt chẳng
thêm cành, thêm lá, và cũng chẳng nói giảm bớt một
chút, lời nói hoàn toàn phù hợp với chân tướng,
sự thật, như vậy gọi là ‘như ngữ’.
Chẳng có nói dối, chẳng có lừa dối, câu nào
cũng đều chân thật, thành thật.
Thế nên chư
thiên cũng muốn nghe, phước báo của thiên nhân tuy
lớn nhưng nên nghĩ đến lúc phước báo
hưởng hết th́ phải làm sao? Họ phải hiểu rơ đạo
lư này, họ có thể tu phước tiếp tục măi măi,
làm cho phước báo của họ kéo dài, chẳng
đến nỗi phước hưởng hết rồi
phải đọa lạc.
Nhưng chúng ta biết, đây là lời đức
Phật nói trong kinh, người hưởng hết
phước trời đọa lạc rất nhiều,
người có thể tu phước tiếp tục
chẳng đọa lạc th́ rất ít; nói thật ra
cũng giống như cơi người chúng ta. Người thật sự tin
Phật pháp, thiện căn sâu dầy, có trí huệ, tuy
hưởng phước báo nhân thiên, vẫn tu
phước, tích phước không ngừng nên phước
của họ có thể hưởng nhiều đời,
hưởng phước nhiều đời nhiều
kiếp.
Trong kinh
đức Phật dạy chúng ta phước báo của
việc bố thí cúng dường.
Thí dụ trong kinh Phật nói có người cúng
dường Bích Chi Phật một chén cơm, phước
của họ được là quả báo chín mươi
ức kiếp chẳng chịu bần cùng. Cúng dường một chén cơm
là một chuyện rất nhỏ th́ làm sao có thể
được phước báo to lớn như vậy? Phước lớn hay nhỏ là
do nơi tâm lượng cúng dường. Nếu lúc cúng dường này có
tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chân thành th́
phước báo sẽ rất lớn, chẳng có giới
hạn. Nhưng chư vị
phải ghi nhớ chín mươi ức kiếp so với
vô lượng kiếp là một con số rất nhỏ,
chín mươi ức kiếp trở về sau th́ như
thế nào? Có nghĩ
đến hay không? Đây là
nói rơ bố thí tài vật chẳng bằng bố thí
pháp. Phước báo của
bố thí tài vật chẳng thể sánh kịp với
bố thí pháp, trong kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền
Bồ Tát Hạnh Nguyện nói rất rơ, phước
của sự bố thí pháp thật là vô lượng vô biên. Thế nên kinh Phật không thể
không đọc, đạo lư mà Phật đă giảng không
thể không thâm nhập, nó có thể giúp cho chúng ta thật
nhiều, thật nhiều.
Thế nên thiên nhân cũng muốn hiểu chân
tướng sự thật này, huống chi là chúng ta.
Phổ Hiền
Bồ Tát nói rất hay ‘cập vị lai hiện tại
nhất thiết chúng sanh’.
‘Hiện tại’ là đương lúc tham gia pháp
hội, những người nghe Phật, nghe Địa
Tạng Bồ Tát thuyết pháp.
‘Vị lai’ tức là bao gồm chúng ta trong đó. Phổ Hiền Bồ Tát v́ chúng ta
khải thỉnh, chúng ta ở đây nghe Địa
Tạng Bồ Tát báo cáo, v́ chúng ta mà nói. ‘Diêm Phù Đề’ tức là
thế giới này của chúng ta, ‘Sa Bà thế giới’ là
đại thiên thế giới, Diêm Phù Đề là
địa cầu của chúng ta, đây là nơi chúng ta quan
tâm nhiều nhất. ‘Tội
khổ chúng sanh’, hăy xem nhân số năm mươi mấy
ức người ở trên thế gian chúng ta có phải
đang sinh sống trong tội khổ không? Những ǵ chúng ta tạo tác đều
là tội, những ǵ chúng ta thọ nhận đều là
khổ. Bất kể là giàu
sang phú quư trên thế gian này, có ai sinh sống chẳng
khổ? Mỗi người có
cái khổ riêng. Trong nhà
Phật những ǵ hiện nay đang thọ nhận
từ những tạo tác tội nghiệp được
gọi là hoa báo, sau khi hoa báo th́ có quả báo, quả báo
ở đời sau. Sau khi
bạn chết đi cảm nhận quả báo, quả báo
nghiêm trọng hơn hoa báo rất nhiều. Ở đây nói về quả báo.
‘Sở thọ báo
xứ, địa ngục danh hiệu’, đây là việc
chúng ta rất muốn biết.
Phổ Hiền Bồ Tát khải thỉnh là dựa trên
trí huệ chân thật, đại từ đại bi,
nếu chẳng có trí huệ, chẳng có tâm đại
từ đại bi, th́ chẳng thể nêu lên câu hỏi
này. Khải thỉnh, nói ra
mục đích là hy vọng hết thảy chúng sanh nghe xong
có thể hiểu được trạng huống chân
thực trong địa ngục hoàn toàn là do tự tâm
biến hiện nên, cùng y báo, chánh báo trang nghiêm ở
Nhất Chân pháp giới của chư Phật Như Lai
đều là sự việc sanh từ một niệm. Ở đây chúng ta phải
thật sự chú ư: ‘một niệm’, một niệm
tức là ‘sát na tế’ nói trong kinh Hoa Nghiêm, các bạn
đồng học hỏi về ‘sanh tướng vô
minh’. Sanh tướng vô minh
tức là nhất niệm, tức là sát na tế. Hiện tướng phát sanh
từ một niệm, sau khi phát sanh th́ họ niệm
niệm tiếp nối, thời gian tiếp nối dài hay
ngắn hoàn toàn dựa trên nghiệp lực. Thế nên hiểu được
đạo lư này xong, chúng ta mới biết được
sức mạnh của sự sám hối chẳng thể
nghĩ bàn, cho dù là tạo tội cực nặng, một
niệm sám hối là sửa đổi tâm niệm trở
lại.
Đố kỵ,
sân khuể đọa địa ngục, chẳng luận
thế pháp, Phật pháp đều rất khổ, cho nên
trong địa ngục chỉ có thọ khổ chứ
chẳng hưởng phước, trong cơi ngạ quỷ
c̣n hưởng phước chứ địa ngục th́
không hưởng được.
Thế nên chúng ta trong đời sống hằng ngày,
đối người, đối sự, đối
vật đừng nên khởi tâm sân khuể, chẳng nên
khởi tâm đố kỵ, nhất định phải
biết khởi những tâm này, đối với ḿnh
chắc chắn không có ích lợi ǵ hết. Cảnh giới bên ngoài
thường làm cho ḿnh sanh phiền năo, làm cho ḿnh chẳng
như ư, đều phải nghĩ đây là nghiệp
chướng trong mạng ḿnh, ḿnh phải chịu
đựng, tự làm tự chịu, đời
trước tạo nhân chẳng tốt, hiện nay gặp
quả báo chẳng tốt, tâm b́nh tịnh trở lại,
chẳng oán trời, chẳng trách người, thế th́
chúng ta đoạn dứt duyên địa ngục này. Tuy có nghiệp nhân địa ngục
nhưng sẽ chẳng chịu quả báo địa
ngục. Đây là nói về tam
đồ (ba đường ác).
Nghiệp nhân
của cơi súc sanh là ngu si, ngu si là ǵ?
Không có khả năng phân biệt chân - vọng, tà -
chánh, thị - phi, cứ thường đảo lộn những
chân tướng sự thật này, vậy là chẳng có trí
huệ, vậy là ngu si. Trong
thế gian hiện nay đến đâu cũng có thể
thấy hiện tượng ngu si.
Quan trọng nhất là coi ḿnh có ngu si hay không? Người khác ngu là chuyện
của người ta, chẳng có liên quan ǵ tới ḿnh. Nếu ḿnh ngu th́ chuyện rắc
rối này lớn lắm, ngu si sẽ đọa súc
sanh. Làm sao tránh ngu si? Phải đọc kinh nhiều,
nghe giảng nhiều. Duyên
của mỗi người chẳng giống nhau. Trong kinh Phật dạy chúng ta,
vừa mở kinh A Nan Vấn Sự Phật Kiết Hung,
câu đầu tiên Phật liền dạy chúng ta ‘theo minh
sư học đạo’.
Dạy chúng ta phải thân cận thiện tri thức
th́ chúng ta mới có trí huệ.
Ở đây, trong kinh Địa Tạng, ư này được
lập lại mấy chục lần để nhắc
nhở mọi người.
Ai là thiện tri
thức? Phật là thiện
tri thức, chúng ta phải học theo Phật. [Hiện nay] Phật chẳng c̣n
tại thế, phải noi theo ai?
Phải noi theo kinh điển, đây là lời
Phật dạy ‘Y pháp chẳng y người’. Thế nhưng bạn phải
hiểu được nguyên tắc, những kinh Phật
nói trong suốt cả đời rất nhiều, bạn
chỉ có thể học theo một loại chứ không
thể học nhiều được. Ư tứ này cũng giống như
thầy thuốc chữa trị cho bịnh nhân vậy,
thầy thuốc chẩn đoán cho bạn, ra vài thứ
thuốc cho bạn uống, uống xong th́ bịnh sẽ
khỏi. Tuyệt chẳng có
nói lấy hết thảy các thứ thuốc cất trong
tiệm thuốc đem về uống hết, bất
luận bạn bị bịnh ǵ cũng uống những
thuốc này, vậy th́ chắc chắn phải chết
không nghi ǵ cả, đâu có đạo lư như vậy! Tam tạng mười hai bộ
kinh trong Đại Tạng Kinh là do đức Phật
giảng trong suốt cả đời, cũng giống
như tất cả thuốc trong tiệm thuốc, nếu
bạn uống hết thảy những thuốc này th́
sẽ chết liền, bạn c̣n được cứu
hay sao? Thế nên chư vị
phải biết thuốc có thể hại người,
Phật pháp cũng có thể hại người, hại
pháp thân huệ mạng, hại chết người. Hồi trước lúc tôi c̣n
học theo thầy Lư, cùng bạn học thảo luận
đến vấn đề này tôi đă nói như vậy,
các bạn đồng học nghe xong chẳng phục nên
đi hỏi thầy, thầy nói: đúng vậy, không sai.
Pháp phải
khế cơ, chúng ta chỉ có thể học theo một
môn. Trong kinh Phật giảng,
giảng kinh thuyết pháp đều có ‘người
đương cơ’, người khải thỉnh,
người ấy vừa nghe xong liền khai ngộ. Chúng ta phải hiểu đạo
lư này, Phật giảng hết thảy kinh chẳng phải
giảng cho riêng ḿnh mà là giảng cho rất nhiều
người căn tánh chẳng giống nhau vào thời
đó. Căn tánh của ḿnh là
ǵ? Trong hết thảy kinh này
phải chọn loại nào?
Cũng giống như thầy thuốc đă trị
bịnh cho rất nhiều người, toa thuốc
rất nhiều chất đống ở đó. Hiện nay thầy thuốc
chẳng c̣n nữa, chúng ta sanh bịnh, phải làm sao? Phải t́m trong những toa
thuốc này, quan sát loại nào thích hợp với ḿnh. Nếu uống lầm th́ không
những chẳng có ích ǵ cho ḿnh mà c̣n có hại nữa, làm
sao có thể tùy tiện uống thuốc được?
Ngày nay là thời
Mạt Pháp, ai là thiện tri thức? Ai có thể thay thế chúng ta
tuyển chọn pháp môn, làm con mắt chọn lựa pháp
cho chúng sanh thời Mạt Pháp?
Chẳng t́m ra hạng người này. Khi chúng ta tiếp xúc với
thiện tri thức, thật sự là chúng ta đánh rất
nhiều dấu hỏi.
Thế nên thân cận một vị thầy, qua vài ngày
bèn đổi ư, [cứ nghĩ c̣n] có người cao minh
hơn họ, họ chẳng đúng lắm. Cả đời đều do
dự, nghi hoặc, th́ làm sao thành tựu
được? Thế Tôn
đại từ đại bi sớm biết
được t́nh trạng của chúng sanh trong thời
Mạt Pháp, gặp những khó khăn như vậy nên
trong kinh Đại Tập ngài đă khai thị rơ ràng cho
chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta một phương
hướng, một nguyên tắc, ngài nói: “Thời Chánh
Pháp th́ Giới Luật thành tựu, thời Tượng
Pháp th́ Thiền Định thành tựu, thời Mạt Pháp
th́ Tịnh Độ thành tựu”, đây là một
đại phương châm, đại phương
hướng cho chúng ta.
Ngày nay chúng ta sanh
vào thời Mạt Pháp, chúng ta tuân theo lời dạy của
Phật, chuyên tu pháp môn Tịnh Độ, vậy là
chẳng sai. Kinh luận
của Tịnh Tông ít hơn so với bất kỳ tông phái
nào, số lượng kinh điển chúng ta y cứ
rất ít. Ít th́ dễ thọ
tŕ. Nhưng chúng ta biết
bộ kinh thứ nhất trong Tịnh Tông là kinh Vô
Lượng Thọ, năm xưa lúc đức Phật c̣n
tại thế đă giảng kinh này nhiều lần,
đây là một pháp môn rất đặc biệt. Trong đời đức
Phật Thích Ca chẳng giảng kinh nào nhiều lần
ngoài kinh Vô Lượng Thọ.
Căn cứ vào tư liệu c̣n được
lưu lại có thể chứng minh tối thiểu ngài
đă giảng hết ba lần, có thể nhiều hơn,
giảng nhiều lần nghĩa là pháp môn này đặc
biệt quan trọng lắm.
Cho nên kết tập kinh tạng cũng nhiều
lần kết tập, truyền đến Trung Quốc có
đến mười hai lần phiên dịch, rất
đáng tiếc là những bản dịch này trong
mười hai bản đă mất hết bảy bản,
hiện nay chúng ta chỉ có thể coi năm bản giữ
trong Đại Tạng Kinh.
Nội dung của năm bản này đại
đồng tiểu dị, những chỗ khác nhau này
cũng rất quan trọng, giúp cho chúng ta đoạn
trừ nghi hoặc, sanh ḷng tin.
Bởi vậy
chúng ta phải hiểu rơ mục đích của đức
Phật giảng những kinh điển này. Chúng ta không thể không biết
nghĩa thú của ba cuốn kinh trong Tịnh Tông. Kinh Vô Lượng Thọ là
đức Phật Thích Ca giới thiệu Tây phương
Tịnh Độ cho chúng ta, là sách thuyết minh. Giải thích duyên khởi của
tây phương [Cực Lạc] thế giới h́nh thành
như thế nào? Lịch
sử của tây phương thế giới, lư luận,
cơ sở và chân tướng sự thật của
đức Phật A Di Đà xây dựng tây phương
thế giới, mục đích của A Di Đà Phật xây
dựng cơi Tịnh độ này, và thành tựu của ngài,
giới thiệu và giải thích một cách đầy
đủ. Làm cho người
nghe sanh khởi ḷng ngưỡng mộ, ưa thích, phát
nguyện cầu sanh, [được vậy] th́ mục
đích của ngài đă đạt được.
Kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật là thuyết minh bổ túc cho
kinh Vô Lượng Thọ, trong đó có ba điểm quan
trọng nhất cần bổ túc.
Thứ
nhất là bổ túc trên lư luận, Quán kinh nói ‘Thị tâm
thị Phật, thị tâm tác Phật’ (Tâm này là Phật, tâm
này làm Phật), đây là bổ túc trên lư luận.
Sự
bổ túc thứ nh́ là thuyết minh thêm chi tiết về
phẩm vị [văng sanh], kinh Vô Lượng Thọ chỉ
nói đơn giản về ‘Ba Bậc văng sanh’, Quán kinh nói
rơ hơn về chín phẩm văng sanh.
Thứ
ba là bổ túc về phần phương pháp, kinh Vô
Lượng Thọ giảng về phương pháp chỉ
nói ‘phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên
niệm’, ngoài ra dạy chúng ta tu phước, nói một
cách đơn giản. Quán Kinh
giảng về mười sáu pháp quán, đây là
phương pháp, ‘Quán tưởng niệm Phật, Quán
tượng niệm Phật, Tŕ danh niệm Phật’, nói
một cách tường tận.
Tŕ danh là pháp quán thứ mười sáu, để ở
sau cùng, sau cùng là quan trọng nhất, đây là một thói
quen của Phật khi nói kinh, màn hấp dẫn để
đến sau cùng, đến màn chót. Khế hợp nhất với
cơ nghi của hết thảy chúng sanh. Tŕ danh Niệm Phật là pháp quán
thứ mười sáu, phổ độ hết thảy
chúng sanh, chân chánh làm được ‘Thích hợp khắp ba hạng căn
tánh, thâu nhiếp cả lợi căn và độn căn’ [3],
trên độ đến Đẳng Giác Bồ Tát,
dưới độ đến chúng sanh trong địa
ngục, công đức của danh hiệu chẳng thể
nghĩ bàn, thế nên đây là thuyết minh bổ sung. Tiểu bản ‘Phật Thuyết
A Di Đà Kinh’ hoàn toàn là khuyên chúng ta phát nguyện văng
sanh. Kinh này chẳng dài, trong
đó Thế Tôn đă khuyên hết bốn lần, đúng
là đau ḷng rát miệng. Cho
nên chúng ta phải nhận thức tánh chất của ba
cuốn kinh này, ba kinh đều có chung một đường lối hành động.
Hiện
nay có một số đồng tu hoài nghi bản hội
tập, đây là một sự sai lầm. Phật pháp được xây
dựng trên ḷng tin thanh tịnh, có nghi hoặc tức là
chướng ngại to lớn.
Kinh này là để giới thiệu, mục đích là
giúp cho bạn khởi ḷng tin, phát nguyện,
[được vậy th́] mục đích đă đạt
đến. Nếu chẳng có
bản hội tập th́ cần phải đọc năm
bản dịch gốc, đúng vậy, nhưng muốn
đọc hết năm bản dịch gốc th́
chẳng dễ! Nếu
bạn cảm thấy đọc năm bản dịch gốc
quá phiền, quá phức tạp, cổ đại
đức đă giúp chúng ta làm việc hội tập.
Người
đầu tiên hội tập là cư sĩ Vương Long
Thư, bản này được ghi trong Đại
Tạng Kinh, có thể nhập vào Đại Tạng Kinh
tức là được tổ sư, đại
đức thời xưa công nhận chẳng có sai lầm
mới có thể nhập được. Chẳng giống hiện nay,
rất tùy tiện bèn đem kinh nhập vào ‘Tạng’,
hồi xưa th́ không được. Hồi xưa phải có nhà vua phê
chuẩn mới được để kinh vào
Đại Tạng, nhà vua căn cứ vào đâu để
phê chuẩn? Căn cứ vào
sự tiến cử của cao tăng đại
đức đương thời, họ đều công
nhận, như vậy mới được nhập vào
Tạng, chẳng phải là một chuyện dễ
dàng. Đây là nói hội
tập chẳng có sai lầm, hội tập là một
chuyện nên làm, bản hội tập viên măn hay không th́ là
một chuyện khác, tức là nói rơ có thể hội
tập. Cũng giống
như chúng ta giới thiệu Tây phương Tịnh
Độ, chúng ta không có bản hội tập, chúng ta có
thể mở ra hết năm bản dịch gốc, trong
bản này rút ra một đoạn, từ bản kia rút ra
một đoạn để nói với mọi
người cũng được, không phải là không
được. Tôi chỉ
cần nói cho nhất quán, nói rất mạch lạc, làm cho
người nghe rất rơ ràng, minh bạch, sanh khởi ḷng
tin, sanh khởi ḷng ưa thích, vậy th́ thành công rồi.
Nói
đến phương pháp tu hành của Tịnh
Độ, đó là ‘phát Bồ Đề tâm, nhất
hướng chuyên niệm’.
Chúng ta hiểu được đạo lư này, sau
đó đối với bản hội tập này mới có
thể sanh khởi ḷng tin, tuyệt chẳng có hoài nghi. Hoài nghi th́ chúng ta đánh mất
lợi ích này. Nếu bạn
thật sự có hoài nghi th́ cũng không sao, bạn
đừng đọc bản hội tập, thậm chí
cũng đừng đọc kinh Vô Lượng Thọ,
bạn chỉ y theo kinh A Di Đà mà tu học, nhất định
cũng văng sanh. Chúng ta có
cần phủ định bản hội tập, bài xích
bản hội tập hay không?
Chúng ta chẳng có cái gan này.
Giả như người hội tập, giả
sử lăo cư sĩ Hạ Liên Cư là Quán Thế Âm
Bồ Tát tái lai, A Di Đà Phật tái lai, chúng ta có phải
đă tạo nên tội lỗi to lớn hay không! Thế nên có thái độ học
hỏi, thái độ đọc sách th́ có thể tồn
nghi chứ đừng phủ định, không thể
quyết đoán, chúng ta chỉ đánh một dấu
hỏi rồi để qua một bên, tạm thời không
cần phải cầu chứng, có thể như
vậy. Chúng ta xả bỏ
pháp môn này [nghĩa là xả bỏ bản hội tập
này], chúng ta vẫn c̣n kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật, chẳng thể báng pháp. Ngài thật sự có thân phận
ǵ, thị hiện ở thế gian này, chúng ta chẳng
biết. Tu học y chiếu
bản hội tập này, rất nhiều người
khởi lên ḷng tin từ bản hội tập này, đích
thật bản này tiện lợi hơn các bản dịch
gốc, dễ đọc, dễ hiểu, từ chỗ này
sanh khởi ḷng tin. Từ
đây có thể biết nếu người hủy báng,
phủ định [bản hội tập] này không phải
ngu si th́ cũng có dụng tâm ǵ khác.
Thế
nên phải biết Sư Thừa rất quan trọng, tôi
học theo vị thầy nào, thầy này phải hoàn toàn
chịu trách nhiệm cho tôi.
Tôi tu học có sai lầm, tương lai không thành
tựu th́ thầy đọa địa ngục A Tỳ,
thế nên quan hệ Sư Thừa rất lớn. Thầy tôi chỉ thị cho tôi
pháp môn này, người khác nói pháp môn này không đúng, tôi
học theo ai? Đây là mấu
chốt. Bạn có phải
đă phủ định thầy của bạn không,
đổi thầy, theo học thầy khác, vậy cũng
được. Hiện nay
Sư Thừa chẳng c̣n nữa, sự khó khăn bèn
đến, thời trước chuyện như vầy
rất ít xảy ra. Chúng ta
cả đời theo chắc một vị thầy, tôi có
đủ ḷng tin đối với thầy, thầy
chịu trách nhiệm cho tôi, tôi chỉ nghe theo thầy
ấy, th́ ḷng tin này sẽ chẳng lay chuyển. Trước khi học sinh chưa
khai ngộ th́ nhất định không thể nghe
người khác nói, tại sao vậy? Sợ ḷng tin bị lay chuyển,
sau khi khai ngộ th́ chẳng sao cả. Sau khi khai ngộ th́ bạn có
khả năng phân biệt chân vọng, tà chánh, thị phi;
đến lúc ấy th́ thầy sẽ để cho bạn
đi ra ngoài tham học.
[Cũng như] Thiện Tài đồng tử năm
mươi ba lần tham vấn, cái ǵ bạn cũng có
thể nghe, cái ǵ cũng có thể tiếp xúc. Bạn có định lực, trí
huệ; nếu không có khả năng phân biệt th́
thầy sẽ kiểm soát rất nghiêm cẩn, chẳng
để bạn tiếp xúc, một khi đă tiếp xúc
th́ sẽ hại bạn. Do
đó thế nào là một học sinh tốt? Người có thể tiếp nhận
lời dạy của thầy giáo là học sinh tốt. Đối với thầy giáo
bề ngoài th́ nghe lời c̣n bên trong th́ căi lại [4],
vậy th́ thầy giáo làm sao dạy cho được? Thế nên chẳng cho bạn nghe
nhiều, xem nhiều, đó là bảo vệ tâm thanh
tịnh của bạn, thành tựu giới, định,
huệ của bạn, chẳng có [mục đích] ǵ khác,
hiện nay người làm học tṛ chẳng thấu
hiểu được sự khổ tâm như vậy. Hiện nay người trẻ
tuổi tiếp nhận sự un đúc tà tri tà kiến, tôi
thường nói hai câu đầu của Tứ Hoằng
Thệ Nguyện chẳng cần nữa, bắt
đầu học từ đâu?
Học rộng nghe nhiều, ‘Pháp môn vô lượng
thệ nguyện học’, hai cầu đầu chẳng
cần nữa, họ làm sao thành tựu cho được? Những ǵ học được
đều là tà tri tà kiến, tâm địa, tinh thần,
tư tưởng, kiến giải đều bị ô nhiễm,
Phật, Bồ Tát có đến cũng chẳng có cách ǵ
rửa sạch cho bạn.
Nếu
chúng ta thấu hiểu kinh điển Đại Thừa
một cách sâu sắc [th́ sẽ thấy] chư Phật,
Bồ Tát đối với hết thảy, đặc
biệt là những chúng sanh khổ nạn, sự quan tâm,
thương mến này thật sự đă đạt
đến cùng cực, có bao nhiêu chúng sanh thấu hiểu
được, có thể hiểu nổi? Tuy chúng sanh không thể thấu
hiểu, có khi c̣n vu oan, hủy báng Phật, Bồ Tát; tâm
từ bi của Phật, Bồ Tát chẳng có giảm chút
nào, thật là phi thường!
Vẫn thương yêu như thường, vẫn
dùng những phương tiện khéo léo để giúp
đỡ chúng sanh, d́u dắt chúng sanh. V́ như kinh này đă nói chúng sanh
‘ương ngạnh, khó dạy, tà tri tà kiến, chẳng
biết quay về, sửa sai’, chư Phật, Bồ Tát
ứng hóa trong ấy uyển chuyển, thuận theo
để dẫn dắt; trong mắt phàm phu chúng ta: dùng
tận tâm tư, ân đức này chẳng có ǵ so sánh
nổi. Bất luận là trên
đạo lư, trên phương pháp, trên cảnh giới
đều là cực kỳ thiện xảo phương
tiện, chúng ta mở kinh ra đọc những
đoạn kinh này phải thể hội được.
Trong
bộ kinh này hiển thị Địa Tạng Bồ Tát,
Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm đều là thiện tri
thức chân thật.
Đặc biệt là pháp hội này dạy cho kẻ
sơ học, nói cho chúng ta biết những chuyện
tội khổ, t́nh huống của quả báo, mục
đích là dạy cho chúng ta tin tưởng nhân quả, tin
thiện nhân được thiện quả, ác nhân ắt
có ác báo. Chúng ta trải qua
lời nhắc nhở này, sau đó b́nh tĩnh quan sát xă
hội hiện thực của chúng ta, có thể nh́n
thấy quả báo vốn là ở trước mắt. Bạn nh́n xem bạn bè thân thích
của bạn, những người ḿnh quen thuộc, quá rơ
ràng, vả lại vô cùng nhanh chóng, mỗi năm đều
ở nơi đó biến hóa, chuyển biến. Nếu bạn quan sát sự
chuyển biến này kỹ càng, đó vốn là nhân
quả. Người trồng
thiện nhân có tâm thiện, hạnh thiện th́ mỗi
năm cũng c̣n tốt, hoàn cảnh sanh hoạt ngày càng
tốt đẹp. Người
tâm ác, hạnh ác th́ mỗi năm không bằng năm
trước. Coi hiện nay so
với lúc trước, tốc độ nhanh hơn
rất nhiều, hồi trước quả báo xảy ra
c̣n không nhanh như vậy, hiện nay th́ thay đổi
mỗi năm. Thậm chí
nếu bạn có khả năng, có trí huệ quan sát,
mỗi tháng đều thay đổi, quả báo thật
quá nhanh. Chỉ có hiểu rơ
đạo lư nhân quả này mới có thể bước vào
cửa Phật, bạn mới tin tưởng lời
Phật nói, mới có thể tiếp nhận, y giáo
phụng hành. Mục đích
chung cực là ở chỗ này, giúp đỡ hết
thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ được
vui. Phật, Bồ Tát
chẳng tiếp nhận bất kỳ sự báo
đền nào cả, tuyệt đối chẳng có danh
văn, lợi dưỡng, chúng ta cung kính các ngài chỉ là
biểu hiện một chút ḷng cảm kích của chúng ta,
Phật, Bồ Tát chẳng yêu cầu chúng ta cung kính các ngài,
chẳng có ư niệm này. Xin xem
tiếp đoạn kinh sau đây:
Địa Tạng đáp ngôn, Nhân giả, ngă kim thừa Phật oai thần, cập đại sĩ chi lực, lược thuyết địa ngục danh hiệu cập tội báo, ác báo chi sự.
Ngài Địa Tạng đáp
rằng: “Thưa Nhân Giả, nay tôi nương oai thần
của đức Phật cùng oai lực của đại
sĩ mà lược nói danh hiệu của các địa
ngục, cùng những sự tội báo và ác báo.”
Ở
đây chúng ta phải học tập, người hiện
nay hơn phân nửa đều cuồng vọng tự đại, sau khi học
được của người khác cũng không chịu
thừa nhận, c̣n mắng người ta: đây là
của tôi, chẳng phải của họ. Vậy th́ sẽ có tội. Bạn hăy xem Địa Tạng
Bồ Tát là nhân vật như thế nào! Chúng ta xem pháp hội này, phía
trước mọi người đều thấy,
mười phương chư Phật đều
đến tham dự pháp hội này. Chư Phật là người
như thế nào? Đều
là học tṛ của Địa Tạng Bồ Tát trong
những đời quá khứ, học tṛ ai cũng thành
Phật cả rồi, thầy c̣n làm Bồ Tát, thật là
phi thường. Ngài chưa
chịu thành Phật, muốn thành Phật th́ quá đơn
giản, đáng lư là đă thành Phật lâu rồi. Ngài ứng theo lời nguyện ‘Địa
ngục chẳng không tôi thề chẳng thành Phật’. Thế nên chúng ta phải hỏi
Địa Tạng Bồ Tát có cơ hội làm Phật
không? Chẳng có. Địa ngục vẫn c̣n
người th́ ngài phát tâm chưa thành Phật, ngài phải
làm Bồ Tát để giúp đỡ những chúng sanh trong
địa ngục. Bạn xem
đây là thân phận ǵ? Ngài nói
chuyện rất khiêm nhường, rất khách sáo.
‘Nhân
giả’ là tôn xưng đối với Bồ Tát, nghĩa
là ‘người nhân từ’.
Ngài chẳng nói ngài có khả năng để trả
lời, ‘Ngă kim thừa Phật oai thần’, nhờ Phật
gia tŕ. Không những nhờ
Phật gia tŕ mà c̣n mong nhờ sự gia tŕ của Phổ
Hiền Bồ Tát. ‘Cập
đại sĩ chi lực’, chữ ‘đại sĩ’ này
chỉ Phổ Hiền Bồ Tát, trí huệ và đạo lực
của Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng thể
nghĩ bàn. Chư Phật gia
tŕ, Phổ Hiền Bồ Tát cũng gia tŕ, ‘lược
thuyết địa ngục danh hiệu’ sau đó báo cáo cho
đại chúng về việc này.
Chúng ta phải khiêm nhường, người hiện
nay thật rất thích xa vời, viễn vông, tất
cả đều muốn sáng tạo, làm mới. Nói chư vị thánh nhân thế
gian và xuất thế gian đều chẳng có sáng
kiến, chẳng có sáng tạo.
Khổng Lăo Phu Tử nói cả đời ngài giảng
học ‘thuật mà không sáng tác’ (thuật nhi bất tác), ngài
chẳng có sáng tác, những ǵ ngài nói đều là lời
dạy của cổ thánh tiên hiền, ngài chẳng có sáng
tác ǵ mới mẻ.
Đức Phật Thích Ca nói với chúng ta, cả
đời ngài, hết thảy pháp ngài giảng trong bốn
mươi chín năm đều chẳng phải lời
của riêng ngài, tự ḿnh ngài chẳng sáng tác ra mà nói,
đều là thuật lại lời của cổ
Phật. Thế nên ngài nói
rằng ngài chưa từng nói một câu pháp, hết
thảy đều là lời của cổ Phật đă
nói, chẳng có câu nào là ư riêng của ngài cả. Khổng Lăo Phu Tử chỉ
thuật lại chứ không sáng tác, đức Phật Thích
Ca cũng thuật mà không tác.
Chúng ta là lớp người đời sau,
người đời sau có sáng tác! Thật là phi
thường. Thế nên
những điển tịch của đức Phật
Thích Ca chẳng có bản quyền, đều là của
người khác, chẳng phải của ḿnh, ngài làm sao có
bản quyền cho được?
Người đời nay thật là phi thường,
tự ḿnh có sáng tác, có bản quyền. Chúng ta phải học tập,
học cho chắc thật; thái độ học tập
của Thế Tôn và Khổng Lăo Phu Tử rất đúng
đắn, như vậy mới tương ứng
với tâm tánh, tương ứng với tánh đức,
cho nên quư ngài xử sự, đăi người, tiếp
vật đều vô cùng khiêm nhường. Khổng Tử biểu hiện
‘tự ty và tôn trọng người khác’, chúng ta đọc
trong sách thấy Khổng Tử đối với kẻ
bần cùng hạ tiện cũng rất tôn kính, chẳng
dám khinh mạn. Đâu có bao
giờ nói tự ḿnh cảm thấy cao quư tự
đại, coi thường kẻ khác, chúng ta chẳng
thấy trong cả đời hành nghị của Khổng
Tử. Đức Phật th́
chẳng cần phải nói nữa.
Cống
cao ngă mạn là đại phiền năo, chỉ cần có tâm
niệm này th́ Phật pháp một phần cũng chẳng
thâm nhập được; đó là chướng ngại,
tự ḿnh chướng ngại cho ḿnh. ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó
là ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến
thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’ [5],
hợp lại gọi là ác kiến, sáu phiền năo căn
bản tức là những thứ này. Sáu thứ phiền năo căn
bản là chướng ngại lớn nhất, tại sao
chúng ta học Phật không thể khế nhập? Chúng ta đọc kinh tại sao
không thể khai ngộ? Chẳng biết tự ḿnh có sáu
thứ chướng ngại này, chẳng biết. Trong sáu thứ chướng
ngại này mà bạn có một thứ th́ bạn chẳng
thể thấy đạo, đừng nói là chứng
đạo, thấy cũng thấy không
được. Diệt
trừ hết sáu chướng ngại này th́ bạn
mới thấy đạo vị.
Thế nên chúng ta muốn đạt được
lợi ích chân thật của Phật pháp, không đoạn
trừ sáu chướng ngại này th́ làm sao
được? Thật
sự đoạn trừ, trong niệm Phật
đường, vị đường chủ
thường thường nhắc đại chúng ‘buông
xuống hết thảy thân tâm thế giới’, [buông
xuống được tức là] sáu thứ này cũng
xả bỏ hết, sáu thứ này chính là thân tâm thế
giới, không buông xuống th́ không được! Nhất định phải buông
xuống, xin xem tiếp kinh văn:
Nhân giả, Diêm Phù Đề đông phương hữu sơn hiệu viết Thiết Vi, kỳ sơn hắc thúy, vô nhật nguyệt quang.
Thưa Nhân giả,
phương đông của cơi Diêm Phù Đề có núi tên là
Thiết Vi, núi đó tối đen, không có ánh sáng của
mặt trời, mặt trăng.
Những
việc này nói trong kinh Địa Tạng, không thể
lấy nhăn quan khoa học hiện đại để
khảo chứng, tại sao vậy? Khoa học ngày nay của chúng ta,
nói thật ra c̣n tương đối ấu trĩ. Chân tướng của vũ
trụ trước mắt chúng ta, có mấy ai biết
được? Đừng
cho rằng chính mắt ḿnh đă thấy mới là
thiệt, không đáng tin đâu.
Những ǵ chính mắt bạn nh́n thấy, công năng
của mắt bạn rốt ráo là được bao
lớn. Bạn chẳng
biết. [Nói] chính mắt tôi
nh́n thấy, hai mươi mấy người trong
giảng đường của chúng ta, chính mắt tôi nh́n
thấy, trong giảng đường này c̣n có Bồ Tát, có
Thanh Văn, có Duyên Giác, có thiên long quỷ thần, bạn có
thấy những vị này không?
Chẳng thấy, vậy th́ làm sao bạn có thể nói
chính mắt bạn nh́n thấy?
Bạn làm sao khẳng định như vậy? Tại sao bạn chẳng nh́n
thấy? V́ công năng của
mắt bạn rất có hạn.
Chúng ta biết mắt thấy được là
nhờ có ánh sáng, lúc tối bạn chẳng nh́n thấy,
bạn phải nhờ ánh sáng mới thấy được. Sóng của ánh sáng chẳng
giống nhau, những ǵ chúng ta nh́n thấy được
đều thuộc về một số ánh sáng có sóng
rất ngắn, làn sóng thấy được của chúng
ta đều nằm trong một đoạn ngắn này,
[những vật có sóng ánh sáng nằm] trong đoạn này
chúng ta thấy rất rơ ràng, những vật có sóng ánh sáng
dài hơn th́ chúng ta chẳng thấy, ngắn hơn cũng
chẳng thấy. Sóng ánh sáng
dài hơn [đoạn này] chẳng biết là có bao nhiêu,
ngắn hơn cũng chẳng biết là bao nhiêu. Nếu một ngày nào đó
chướng ngại đến công năng của mắt
bạn biến mất, hết thảy làn sóng ánh sáng
bạn đều chẳng bị chướng ngại,
thế giới mà bạn nh́n thấy sẽ lập tức
thay đổi, chẳng giống như trước
nữa. Vậy th́ làm sao
bạn có thể tin những ǵ bạn thấy
được đều là thật hết cả? Mắt nh́n thấy sắc, tai nghe
tiếng đều có trạng huống như vậy,
đây là nói về chân tướng cho bạn nghe.
Hiện
nay nói về những việc này th́ bạn khá có thể
hiểu được, chúng ta dùng máy móc khoa học kỹ
thuật có thể trắc lường được
những sóng ánh sáng mà mắt chúng ta chẳng nh́n
thấy. Mọi người
đều quen thuộc, ánh sáng ‘tử ngoại’ (ultra violet
light) chúng ta không nh́n thấy, quang tuyến X (X-ray) chúng ta
cũng nh́n không thấy, dựa vào máy móc chúng ta biết nó
tồn tại. Khoa học gia
biết, rất nhiều sóng ánh sáng chẳng giống nhau,
mắt thịt của chúng ta chẳng nh́n thấy. Thế nên sóng ánh sáng tồn
tại đồng thời, nếu bạn đều nh́n
thấy hết cả th́ đạo tràng này sẽ rất
khác thường. Đạo
tràng này bao lớn? Gian pḥng này
bao lớn? Tận hư không
trọn khắp pháp giới, chẳng thể nghĩ
bàn. Tại sao lại lớn
đến tận hư không, trọn khắp pháp
giới? Nếu nhăn quang
của bạn đă khai, hết thảy chướng
ngại đều không c̣n nữa, hết thảy sóng ánh
sáng bạn đều nh́n thấy cả, những làn sóng
ánh sáng này lan rộng khắp hư không pháp giới. Những cây cột này,
tường này đều trong suốt, chẳng có
chướng ngại. Bạn
ngồi ở đây nh́n lên trên, nh́n thấy hư không pháp
giới vô lượng ở trên; nh́n xuống phía
dưới, bên trái, bên phải, mười phương
thế giới vô lượng vô biên đều ở
trước mặt, bạn sẽ chẳng bị giới
hạn bởi một phạm vi nhỏ như vầy,
đây là lời nói chân thật.
Nếu bạn dùng phương pháp khoa học hiện
nay để khảo chứng th́ khảo không ra, chứng
cũng không ra, cũng phải nói năng lực khoa học
kỹ thuật c̣n chưa phát triển đến mức
này; khoa học kỹ thuật nói thật ra vẫn
tương đối ấu trĩ nếu so sánh với
Phật pháp. Có một phần
trong lời của Phật nói đă được chứng
minh, chỉ là một phần rất nhỏ, phần
lớn th́ khoa học kỹ thuật c̣n chưa đạt
đến, thế nên chúng ta phải tin tưởng
lời Phật nói.
‘Diêm Phù
Đề đông phương hữu sơn’, có núi
Thiết Vi, mắt thịt chúng ta chẳng nh́n thấy, máy
móc khoa học cũng chẳng t́m thấy. Lúc tôi c̣n ở Đài Loan, có
người đến hỏi tôi: “Hiện nay tiềm
thủy đỉnh hạch nhân đă đến đáy
biển, chẳng phát hiện ra Long Cung, rốt cuộc là
Long Cung có thật hay không? Long
Cung ở đáy biển, tiềm thủy đỉnh
lặn xuống cũng chẳng t́m thấy. Trên mặt trăng có Nguyệt
Quang Bồ Tát, phi hành gia đặt chân lên mặt trăng
chẳng nh́n thấy, có hay không?”
Có! Người chẳng
nh́n thấy phàm thánh đồng cư độ. Những chuyện này nói thật
ra th́ những người hiểu biết đôi chút
Phật pháp đáng lẽ đều biết. Đời Đường khi pháp
sư Pháp Chiếu triều bái Ngũ Đài Sơn nh́n
thấy Đại Thánh Trúc Lâm Tự, đây là việc ngài
đích thân trải qua, chúng ta tin tưởng ngài chẳng
vọng ngữ. Gặp
được Văn Thù, Phổ Hiền đang giảng
kinh thuyết pháp, thính chúng hơn một vạn
người, ngài nghe hết một buổi, c̣n thỉnh
giáo Văn Thù Bồ Tát: “Đời Mạt phát căn tánh
chúng sanh thấp kém, nên học pháp môn ǵ mới tốt?” Văn Thù Bồ Tát khuyên ngài tu
pháp môn niệm Phật.
Niệm Phật như thế nào, c̣n dạy ngài
niệm vài tiếng, ‘Ngũ hội niệm Phật pháp môn’
là do Văn Thù Bồ Tát truyền cho ngài Pháp Chiếu. Ngài rời khỏi Ngũ Đài
Sơn, vừa đi vừa làm dấu để lần sau
đến dễ t́m, sau khi làm dấu được vài
chỗ xong quay đầu nh́n lại, [Trúc Lâm Tự]
chẳng c̣n nữa, chỉ nh́n thấy một đồi
núi hoang vu.
Thế
nên chúng ta chẳng biết chân tướng sự thật
của vũ trụ nhân sinh, cứ cho rằng ḿnh đă
nh́n thấy rất rơ ràng, nghe rất rơ ràng, tin vào tri
kiến của ḿnh, đâu biết rằng đó
đều là sai lầm? Do
đó trong kinh đức Phật dạy chúng ta rất rơ
ràng: “Khi chưa chứng đến A La Hán th́ đừng
tin ư tưởng của ḿnh”, [điều này] rất có
đạo lư. A La Hán th́ như
thế nào? A La Hán đă thông rồi,
chẳng c̣n chướng ngại nữa, A La Hán đă
chứng được Lậu Tận Thông. Thế nên lục căn của
ngài tiếp xúc với sáu thứ cảnh giới bên ngoài
chẳng giống chúng ta, ngài đột phá hết thảy
giới hạn của sóng ánh sáng, sóng âm thanh, sóng từ
trường, ngài nh́n thấy chân tướng, chúng ta nh́n
thấy vọng tướng.
Tại sao A La Hán có được năng lực
này? Rất đơn giản,
Kiến Tư phiền năo đă đoạn dứt, tức
là sáu thứ chướng ngại tôi nói lúc năy đă
đoạn dứt. A La Hán
đoạn dứt chẳng phải ǵ khác, tức là
đoạn dứt tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; ác
kiến là Ngũ Lợi Sử, cũng tức là như danh
từ chúng ta thường gọi: Kiến Tư phiền
năo. Đoạn dứt
phiền năo này rồi nên chướng ngại của các
ngài chẳng c̣n nữa, mới nh́n thấy được
chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Phải nói những lời này
trước tiên, nếu không th́ những việc này trong
kinh Địa Tạng rất khó hiểu, bạn sẽ cho
những thứ này là ǵ? Cho là
mê tín, bạn sẽ cho rằng những chuyện này
chẳng hợp khoa học, một phân một hào lợi
ích của kinh này bạn cũng chẳng đạt
được. Không những
chẳng đạt được, lại c̣n tạo ra
tội báng pháp, không đạt được lợi ích
nhưng họa hại lại đến, đây chẳng
phải là ư của Phật.
Thế nên chúng ta giảng những kinh thuộc
loại này, nhất định phải giải thích
đạo lư này rơ ràng, giải thích minh bạch.
Lúc
trước, đầu tháng này tôi đă giảng hết
sáu buổi ở Hương Cảng, chúc mừng một
năm ngày Hương Cảng được trả
về [Trung Quốc], chúng tôi giảng về đại ư
kinh Vô Lượng Thọ. Trong
nhóm thính chúng có một vị đồng tu, lúc trước
làm trong giới phim kịch điện ảnh, ông kể
cho tôi vài chuyện thật, người thật. V́ lúc quay phim điện ảnh có
khi phải quay vào ban đêm, quay cảnh ngoài trời ban
đêm, ở những vùng hoang dă có các phần mộ, thật
là có quỷ. Ông có một
bạn đồng nghiệp quay phim ngoại cảnh vào ban
đêm, ông này đầu óc không tỉnh táo, lái xe đi ngang
một khu phố náo nhiệt.
Trong tâm ông nghĩ con đường này từ
trước đến giờ ông chưa từng đi qua,
tại sao ở chỗ này lại có một khu phố náo
nhiệt như vậy? Do v́
thấy đường phố rất náo nhiệt, rất
nhiều người, nên ông xuống xe đi rảo vài ṿng
xem thử. Ông thấy có bán
đồ ăn, lúc đó là hai giờ khuya, ông cũng
hơi đói bụng nên vào một tiệm nhỏ ăn
ḿ. Ăn xong cảm thấy
buồn ngủ nên lái xe đi về. Trên đường về cảm
thấy thân thể chẳng khỏe, càng nghĩ càng cảm
thấy khu phố này có cái ǵ rất mờ ám trong ấy. Đến ngày hôm sau lái xe đi
ngược lại đoạn đường đi
hồi hôm th́ thấy đó là một nghĩa địa,
mới biết tối hôm trước đă gặp
quỷ, là đi ngang qua một đường phố
của quỷ. Những ǵ ông
ăn hồi tối ọc hết ra, ọc ra toàn là
những con giun đất, bùn, cỏ, các thứ như
vậy; ông sanh bịnh nặng hầu như gần
chết. Sau đó đầu
óc bất b́nh thường, phải nghỉ việc hai, ba
năm cũng không đi làm được. Thân người ốm như cây
tre. Sau mấy năm th́ ông
cũng trở lại làm nghề này, chẳng bao lâu lại
gặp một chuyện tương tợ như trên, sau
đó chết mất, ông đó là người làm chung
với người kể chuyện này. Những người làm trong ngành
đóng phim ảnh này tin những câu chuyện như
vậy v́ họ đích thân từng trải qua.
Thế
nên những chỗ này quỷ thần và con người
chúng ta cùng nhau cư trú, trạng huống [sinh hoạt]
của quỷ rất giống với con người chúng
ta, quỷ cũng có đô thị, chúng ta chẳng nh́n
thấy, xen kẽ với chúng ta, ở hai môi trường
khác nhau, hai cơi có ba độ (cường độ
của làn sóng) khác nhau, xen kẻ với nhau. Thế nên khi chúng ta nói nh́n
thấy tận mắt, nghe thấy tận tai, làm sao có
thể làm chủ được?
Đích thân bạn trải qua, phải đề cao
cảnh giác, phải hiểu rơ.
Khổng Lăo Phu Tử dạy chúng ta ‘kính quỷ
thần nhưng lánh xa’ [6],
quỷ thần có thật không?
Có, nhất định phải tôn trọng, phải
tôn kính. Lánh xa nghĩa là sao? Nghĩa là đừng học theo
họ, cùng một ư nghĩa như nguyện ‘Lễ kính
chư Phật’ trong Phổ Hiền thập đại
nguyện vương.
Khổng Tử đối với quỷ thần, tà
môn ngoại đạo, tâm cung kính chẳng giảm bớt,
đúng là lễ kính chư Phật, Khổng Tử đă
làm được. Chúng ta
đối với họ phải cung kính, đối đăi
với quỷ thần nhất định phải đúng
như pháp. Trong kinh đức
Phật đă nói với chúng ta rất nhiều, chúng ta
phải hiểu rơ. Chúng ta
phải coi trọng tế lễ của nhà Nho, quỷ
thần có thể yên ổn, đối với sự
trị loạn trên thế gian chúng ta có liên quan mật
thiết. Nếu làm cho
những quỷ thần này không thể yên ổn, một
khi họ làm loạn lên th́ sẽ ảnh hưởng
đến xă hội chúng ta, có rất nhiều tai biến
vô duyên, vô cớ sẽ sanh khởi, chúng ta nói vô duyên, vô
cớ [nhưng thật ra là do] quỷ thần làm loạn,
không thể không hiểu đạo lư này.
Những
người xuất gia trong nhà Phật trú ở trên núi
muốn dựng một cḥi tranh đương nhiên phải
t́m vật liệu ở gần đó, phải đốn
cây. Phật nói những cây cao
bằng thân người hoặc cao hơn một thân
người đều có thần cây (thọ thần) trú
ở đó. Thần cây là
ǵ? Quỷ thần nương
nhờ, trú ở trên cây, họ chẳng có chỗ
để trú, họ nhờ chỗ đó để che
mưa đỡ nắng. Quỷ thần trú trên cây nên
xưng họ là thần cây.
Chúng ta muốn đốn cây này, nói cách khác tức là
chiếm đoạt chỗ ở của họ, họ
bằng ḷng hay không? Nếu
họ không bằng ḷng, khởi lên ác niệm th́ họ
sẽ đến phá rối, báo thù, gây rắc rối cho
bạn, bạn ở trong cḥi tranh đó cũng không yên
ổn. Nếu phước báo
của bạn lớn th́ họ chẳng có biện pháp chi,
không dám xâm phạm bạn, đợi đến lúc vận
của bạn suy thoái th́ họ sẽ đến gây
rắc rối, họ rất nhẫn nại chờ
đợi. Lúc vận may
của bạn c̣n th́ họ không dám phá bạn, phước
báo của bạn lớn nên họ không phá, đợi
tới lúc vận của bạn xuống dốc, họ
sẽ đến phá. Thế
nên Phật dạy chúng ta muốn đốn cây th́ ba ngày
trước đó phải tế lễ, tụng kinh, nói
với họ tôi bất đắc dĩ phải kiếm
chỗ trú, nói với họ dọn nhà, khuyên họ dọn
nhà. Không thể vừa t́m
được cây nào vừa ư th́ đốn cây ấy
liền, ba ngày trước khi đốn phải cúng
tế.
Ngay
cả những chỗ này, những chi tiết nhỏ này
cũng coi trọng. Hiện
nay mọi người đều chẳng tin những
chuyện ấy, lúc trước những khu đất làm
phần mộ ở sườn núi, hiện nay nhiều
người cứ tùy tiện dời những phần
mộ ở đó, đoạt những khu đất
ấy để xây nhà lầu, may là những người
cư trú ở đó c̣n một chút phước báo có
thể duy tŕ được vài năm. Đến lúc phước báo
hết rồi th́ những quỷ thần này sẽ lại
phá rối, làm cho thân tâm những người cư trú
ở đó chẳng an, làm xă hội động
loạn. Bạn làm cho họ
không được yên ổn th́ họ cũng biết báo
thù, cũng sẽ làm cho bạn không được yên. Thiên tai nhân họa do đó mà
xảy ra, thập pháp giới là một thể, không
thể không biết. Thánh nhân
thế gian và xuất thế gian đều dạy chúng ta ‘suy
bụng ta ra bụng người [7]’,
Phật pháp chẳng nói chỉ riêng người, Phật
pháp nói đến ‘vật’, vật tức là thiên
địa, quỷ thần đều bao gồm trong
ấy. Chúng ta muốn sinh
sống hạnh phúc, mỹ măn, bạn phải nghĩ
quỷ thần cũng muốn sống mỹ măn, súc sanh
cũng hy vọng đời sống mỹ măn, làm sao có
thể ăn thịt chúng sanh được? Việc này trong kinh nói rất rơ
ràng, ăn thịt chúng sanh, sát hại chúng sanh sẽ bị
những quả báo ǵ. Chúng ta
có chịu xẻ thịt cho người khác ăn không? Cùng một đạo lư ấy,
chúng ta không muốn người ta đến ăn thịt
chúng ta, động vật cũng như vậy, nó đâu
chịu cho người ta ăn thịt nó? Chúng ta giết, ăn thịt nó,
nó hoan hỷ không? Người
có cùng một tâm ấy, tâm có cùng lư ấy. Thế nên ăn thịt chúng sanh,
những oán hận này, những oán hận của hết
thảy chúng sanh sẽ không tiêu mất, khi gặp cơ
hội th́ chúng sẽ trả thù.
Phật pháp nói: “Ăn nửa cân thịt của nó,
th́ phải trả tám lượng”, nhiều đời
nhiều kiếp ăn nuốt lẫn nhau, dây dưa
chẳng dứt.
Thân này
của chúng ta có được là thân nghiệp báo,
chẳng có cách chi hết, nếu không có dinh dưỡng th́
sẽ chẳng duy tŕ được sinh mạng, v́
phải duy tŕ sanh mạng nên bất đắc dĩ phải
ăn uống. V́ bất
đắc dĩ phải ăn uống, bạn phải
biết nên ít kết oán thù với chúng sanh, ít tạo
nghiệp. Động vật
có sanh mạng, thực vật cũng có sanh mạng, chúng ta
ăn động vật là sai lầm, ăn thực
vật cũng sai lầm, nhưng so sánh hai thứ này, t́nh
thức của động vật rơ ràng hơn của
thực vật. Nói cách khác ư
niệm báo thù của động vật không biết
lớn hơn thực vật bao nhiêu lần, cũng
nghĩa là chúng ta xả bỏ những vật có linh tánh
lớn, không giết hại nó, linh tánh của thực
vật rất yếu [so với động vật], bất
đắc dĩ nên phải ăn nó. Giới kinh nói: ‘Tỳ kheo thanh
tịnh không đạp lên cỏ tươi’, chân chánh
hiển thị ḷng từ bi.
Khi có đường lộ có thể bước
đi, tại sao không bước đi trên lối đi mà
lại đạp lên cỏ?
Trừ phi là không có đường lộ, nhất
định phải đi qua, đó cũng là bất
đắc dĩ, bất đắc dĩ th́ có thể tha
thứ được.
Nếu có đường lộ, bạn nhất
định phải đi theo đường lộ, không
được bước lên cỏ. Thế nên phải thương
tiếc sanh mạng, thực vật cũng phải
thương mến, phải có một trái tim yêu
thương đối với người, đối
sự, đối vật, tâm yêu thương chân thành, thanh
tịnh, bất đắc dĩ phải ăn [những thực
vật này.]
Thế
nên đức Phật dạy chúng ta ‘Năm pháp quán lúc
ăn’, thường có tâm báo ân.
Con người có ân đức lẫn nhau, con
người cùng hết thảy vạn vật cũng có ân
đức. Chúng ta mỗi ngày
tu hành, niệm Phật tụng kinh, dứt ác tu thiện,
hồi hướng công đức đến hết
thảy chúng sanh là báo ân. Cái tâm
này thành khẩn biết bao, ư này hậu biết bao, như
vậy mới tương ứng với tâm tánh. Nếu chúng ta không quán
tưởng như vậy, chẳng có tấm ḷng thành này
th́ mỗi ngày đều tạo tội nghiệp. Bạn hiểu được
đạo lư này, thường quán như vậy, những
thực vật cung cấp dinh dưỡng cho bạn
cũng có công đức, nó thật sự cúng dường
cho bạn, bạn đáp trả cho nó, có đáp trả
tức là không có cướp đoạt, không kết oán thù
với nó, chỉ kết ân đức với nó. Chúng ta xem tiếp đoạn kinh
phía sau:
Hữu đại địa ngục, hiệu Cực Vô Gián, hựu hữu địa ngục danh Đại A Tỳ.
Có địa ngục lớn tên là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là Đại A Tỳ