ĐỊA TẠNG BỒ TÁT
BỔN NGUYỆN KINH GIẢNG KƯ

Ḥa thượng Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba 5-1998

 

Tập 17 (Số 14-12-17)

         

          Chư vị đồng tu, xin mở cuốn Khoa Chú quyển trung, trang 11.  Xin xem kinh văn:

         

          Địa Tạng bạch ngôn, Nhân giả, Thiết Vi chi nội hữu như thị đẳng địa ngục, kỳ số vô hạn.

          Ngài Địa Tạng nói rằng: “Thưa Nhân Giả, trong núi Thiết Vi có những địa ngục như thế, số nhiều vô hạn.

          Chữ “như thị” trong “như thị đẳng” chỉ địa ngục Vô Gián, A Tỳ nói ở phía trên, và hai mươi hai loại địa ngục.  Danh xưng của địa ngục quá nhiều, nói chẳng hết, chẳng qua ở đây Địa Tạng Bồ Tát chỉ nói sơ lược mà thôi.  Số lượng của mỗi loại địa ngục cũng nhiều vô cùng, v́ nguyên nhân ǵ vậy?  Chúng ta có thể tưởng tượng, chính là v́ chúng sanh tạo tác tội nghiệp địa ngục ở thế gian này quá nhiều.  Thế nên ở đây chúng ta đặc biệt phải hiểu rơ nghiệp nhân quả báo của địa ngục, chúng ta phải hiểu rơ nghiệp nhân của những quả báo nói trong kinh điển, nói nghiệp nhân th́ chúng ta phải biết quả báo tương lai là ǵ.  Những việc này đều là chân tướng sự thật, tuyệt đối chẳng phải do Phật, Bồ Tát giả thiết những chuyện này để giáo hóa chúng sanh, khuyên chúng sanh đoạn ác, tu thiện, nếu chúng ta nghĩ như vậy th́ là hoàn toàn sai lầm, sẽ trái ngược với chân tướng sự thật.  Thế nên chúng ta phải ghi nhớ, Phật dạy nguyên lư của vũ trụ nhân sanh cho chúng ta, đây là đạo lư căn bản.  Đạo lư căn bản, kinh Hoa Nghiêm nói ‘Duy tâm hiện, duy thức biến’, đây là đạo lư căn bản.  Lại nói với chúng ta ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, do đó trong tâm bạn tưởng cái ǵ th́ nó sẽ biến hiện thành cảnh giới đó, hết thảy tướng trong cảnh giới đều chẳng chân thật.  Tại sao nói chẳng chân thật?  Nó chuyển biến trong từng sát na, từng sát na, vậy th́ làm sao chân thật được?  Tuy chẳng chân thật, nếu bạn mê trong cảnh giới ấy th́ bạn sẽ có cảm thọ khổ, vui, lo, mừng, cứ tưởng đó là thật, cứ tưởng chẳng phải giả.

          Sau khi giác ngộ th́ những cảm thọ này chẳng c̣n nữa, họ thật sự hiểu rơ trở lại.  Nghiệp nhân quả báo có hay không?  Có chứ, nghiệp nhân quả báo vẫn có, cảm thọ khổ, vui, lo, mừng chẳng c̣n nữa, nhà Phật nói đoạn phiền năo là có ư như vậy.  Chẳng phải là tướng của phiền năo chẳng có, chẳng phải là nghiệp của phiền năo chẳng có, mà là cảm thọ của phiền năo chẳng có, bạn đă ‘quán không’ rồi.  Tâm kinh nói ‘Quán Tự Tại Bồ Tát’, đó là trí huệ cao độ, ‘hành thâm Bát Nhă Ba la mật đa thời’, tức là dùng trí huệ cao độ, ‘chiếu kiến ngũ uẩn giai không’.  Ngũ uẩn có hay không?  Ngũ uẩn là thế giới hiện thực của chúng ta, có hay không?  Có.  Tuy có, Hữu tức là Không, thế nên trong kinh nói ‘sắc tức thị không, không tức thị sắc.  Sắc bất dị không, không bất dị sắc’, sắc tức là Hữu, Không và Hữu tồn tại đồng thời, Không và Hữu là một việc, chẳng phải hai việc, thế nên nói “Tướng th́ có mà Thể th́ không”.  Có thọ dụng, t́nh chấp chẳng sanh, như vậy th́ sẽ được đại tự tại.  Chẳng phải là không có thọ dụng, vẫn có thọ dụng, tức là nói trong ấy nhất định chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng có những thứ này th́ thọ dụng của bạn sẽ tự tại.  Nếu bạn c̣n vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, trong lúc bạn thọ dụng ắt sẽ có những cảm thọ khổ, vui, lo, mừng, đă tạo nghiệp th́ lẽ nào không thọ quả báo cho được!  Chúng ta hiểu rơ những chân tướng sự thật này th́ từ đây về sau sẽ chẳng tạo nghiệp nữa.

          Thế nên bước vào Niệm Phật Đường, thân tâm thế giới thảy đều buông xuống, một câu Phật hiệu niệm đến cùng, chỉ cầu văng sanh Cực Lạc thế giới.  Cổ đức nói: ‘Chỉ cần thấy Di Đà, c̣n lo ǵ chẳng khai ngộ?’  Thế gian, xuất thế gian chỉ có việc này là chân thật, những thứ khác đều là hư vọng, chẳng đáng so đo, chẳng đáng ấp ủ trong ḷng.  Nếu đem những thứ khác chất chứa trong ḷng, vẫn so đo như cũ, nghiệp bạn tạo là nghiệp luân hồi, v́ tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, những thứ khổ báo trong lục đạo luân hồi bạn vẫn phải hứng chịu.  Việc này nói ra th́ sẽ chẳng bao giờ dứt, con người hà tất phải làm những chuyện ngu ngốc này, đây là việc chúng ta nhất định phải biết.  Tiếp theo, Địa Tạng Bồ Tát lại nói về hai mươi hai thứ địa ngục, xin xem kinh văn:

 

          Cánh hữu Khiếu Hoán địa ngục.

          Lại có địa ngục Khiếu Hoán.

          Khiếu Hoán (Kêu Gào) là thọ khổ đến cùng cực, kêu réo chẳng ngừng.

         

          Bạt Thiệt địa ngục, Phẩn Niệu địa ngục, Đồng Tỏa địa ngục, Hỏa Tượng địa ngục, Hỏa Cẩu địa ngục, Hỏa Mă địa ngục, Hỏa Ngưu địa ngục, Hỏa Sơn địa ngục, Hỏa Thạch địa ngục, Hỏa Sàng địa ngục, Hỏa Lương địa ngục, Hỏa Ưng địa ngục, Cứ Nha địa ngục, Bác B́ địa ngục, Ẩm Huyết địa ngục, Thiêu Thủ địa ngục, Thiêu Cước địa ngục, Đảo Thích địa ngục, Hỏa Ốc địa ngục, Thiết Ốc địa ngục, Hỏa Lang địa ngục.

          Địa ngục Bạt Thiệt, địa ngục Phẩn Niệu, địa ngục Đồng Tỏa, địa ngục Hỏa Tượng, địa ngục Hỏa Cẩu, địa ngục Hỏa Mă, địa ngục Hỏa Ngưu, địa ngục Hỏa Sơn, địa ngục Hỏa Thạch, địa ngục Hỏa Sàng, địa ngục Hỏa Lương, địa ngục Hỏa Ưng, địa ngục Cứ Nha, địa ngục Bác B́, địa ngục Ẩm Huyết, địa ngục Thiêu Thủ, địa ngục Thiêu Cước, địa ngục Đảo Thích, địa ngục Hỏa Ốc, địa ngục Thiết Ốc, địa ngục Hỏa Lang.[1]

          Địa Tạng Bồ Tát tùy tiện nói bèn nói ra hai mươi hai thứ.  Khiếu Hoán địa ngục là tám đại địa ngục nóng nói trong kinh Trường A Hàm.  [Địa ngục] thứ tư, thứ năm đều gọi là Khiếu Hoán.  Trong kinh nói với chúng ta nghiệp nhân ǵ đọa vào địa ngục này?  Sân khuể, tà ác, giữ tấm ḷng như vậy, tạo tác nhiều thứ ác nghiệp, đọa vào địa ngục này.  Lại nói v́ tập khí tà ác quá nặng, vừa gặp một duyên nhỏ bèn khởi lên, cũng tức là vừa có một chút ǵ chẳng vừa ư th́ nó liền phát khởi, tạo tác các thứ h́nh phạt ác, đọa vào địa ngục Đại Khiếu Hoán.  Địa ngục Bạt Thiệt (Rút Lưỡi), địa ngục Phẩn Niệu (Phân, Nước Tiểu) đều là do tạo khẩu nghiệp.  Khẩu nghiệp gồm có bốn thứ: nói dối, nói lời thô ác, nói lưỡi hai chiều, nói lời thêu dệt (ỷ ngữ), tạo những khẩu nghiệp này th́ đọa địa ngục Bạt Thiệt.  Địa ngục Phẩn Niệu, lúc trước lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giảng kinh nói đến địa ngục, ngài rất cảm khái mà nói lúc ngài c̣n trẻ rất nghĩa hiệp, làm những hành vi hào hiệp trượng nghĩa đều chẳng màng, đọa địa ngục cũng chẳng sao.  Về sau nh́n thấy có địa ngục Phẩn Niệu th́ ngài nói cái này không được, chẳng chịu nổi.  Phẩn Niệu chẳng giống như nước [lạnh] mà là giống như nước bị lửa đun sôi lên, bắt bạn chịu đựng trong đó, như vậy th́ khó chịu lắm! Ngài nói núi dao, rừng kiếm ǵ cũng chẳng sao, ngài xem đến địa ngục này bèn sợ hăi.

          Địa ngục Đồng Tỏa (Khóa Đồng) trong kinh Quán Phật Tam Muội cũng c̣n gọi là địa ngục Hắc Thằng.  Chú giải của Thanh Liên pháp sư cũng nói rất rơ, đọa địa ngục này những sự khổ sở phải trải qua trong một ngày một đêm chẳng thể tính đếm nổi.  Nghiệp nhân này là do chúng sanh ngu si, chữ ‘chúng sanh’ này bao gồm đệ tử Phật, nghĩa là cũng bao gồm chúng ta.  Giới thiệu Phật pháp cho người khác nhưng nói sai ư nghĩa, [chánh] pháp lại nói là phi pháp, phi pháp lại nói là [chánh] pháp, phạm giới tuy không nặng nhưng chẳng biết sám hối, đọa địa ngục này.

          Địa ngục Hỏa Tượng (Voi Lửa), trong kinh nói đây là voi lớn, hết thảy những động vật này trong địa ngục đều là tánh thức biến hiện ra, toàn thân ḿnh voi đều là lửa.  Nếu voi phát điên lên rồi tấn công người ta, sức của nó rất mạnh, chẳng có cách chi có thể chống cự.  Do đó lúc voi điên cuồng nó sẽ giết người.  Kinh nói đây là nghiệp nhân ǵ?  Con người trong thế gian thích uống rượu, mỗi lần uống đến say mèm, say rồi th́ loạn tính, tạo những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng, có thể hại chúng sanh, cho nên sau khi chết đọa địa ngục này.

          Địa ngục Hỏa Cẩu (Chó Lửa), phía sau nói đến Hỏa Mă, Hỏa Ngưu (Ngựa Lửa, Trâu Lửa) rất giống nhau, nghiệp nhân khác nhau.  Kinh này nói có một số người trong thế gian nuôi tằm, ươm kén sát hại sanh mạng rất nhiều.  Thế nên người xuất gia v́ muốn nuôi dưỡng tâm từ bi nên mới không ăn thịt chúng sanh, chẳng nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh.  Mặc áo cũng vậy, nếu bạn mặc áo da th́ cũng chẳng khác ǵ ăn thịt, mặc da của chúng sanh, làm sao nhẫn tâm được?  Mùa hè mặc áo tơ lụa, tơ lụa là do tằm nhả tơ [dệt thành], một chiếc áo này của bạn, bao nhiêu con tằm phải mất mạng mới làm thành chiếc áo này cho bạn mặc?  Thế nên bốn chúng đệ tử trong nhà Phật, xuất gia, tại gia đều không nhẫn tâm, áo vải đủ để giữ ấm th́ tại sao phải dùng tơ lụa?  Tại sao phải dùng da và lông?  Đức Phật giáo hóa chúng sanh thông đạt t́nh lư, chẳng phải không nói đạo lư.  Người có thân thể suy nhược, rất sợ lạnh, nếu không mặc áo da th́ chẳng đủ ấm, như vậy có khai duyên [2], có thể mặc.  Phần nhiều trong giới kinh nói thứ nhất là người sanh bịnh, sức khoẻ rất suy yếu; ngoài ra là người già, sức đề kháng suy kém.  Trên bảy mươi tuổi sức đề kháng suy yếu th́ có khai duyên, có thể mặc áo da.  Chúng ta thân thể c̣n rất khỏe mạnh, cường tráng, c̣n sức đề kháng nếu cứ mặc những áo da này th́ cùng với ăn thịt chẳng có ǵ sai khác.  Lúc thường ngày tạo những nghiệp nhân này đều cảm thấy rất b́nh thường, chẳng màng lắm, đâu biết rằng quả báo lại nặng nề như vậy?  Nếu không đọc kinh th́ không biết, đọc xong mới hiểu được.

          Hỏa Mă, Hỏa Ngưu đồng loại với địa ngục này.  Toàn thân đều là lửa, chịu dày ṿ bởi những con thú có lửa này, bị chúng nó công kích, ở đó người ta bị chó cắn, bị ngựa đá, bị trâu húc, toàn thân đều là lửa.  Thứ chín là Hỏa Sơn (Núi Lửa), thứ mười Hỏa Thạch (Đá lửa), trong Khởi Thế Kinh [3] gọi là địa ngục Chúng Hiệp.  Phía trước chúng ta thấy có Giáp Sơn, cũng giống như nghĩa này.  Thứ mười một địa ngục Hỏa Sàng (Giường Lửa) cũng giống như Thiết Sàng phía trước, đều là quả báo của dâm dật, tà dâm.  Thứ mười hai địa ngục Hỏa Lương (Rường Lửa), lương tức là cây xà bằng sắt, cây trụ sắt, để cho người ta ôm ở trên, hoàn toàn giống như trụ sắt trong h́nh phạt Bào Lạc nói phía trước.  Địa ngục Hỏa Ưng (Chim Ưng Sắt) giống như địa ngục Thiết Ưng phía trước, mỏ của chim ưng sắt vô cùng bén nhọn, chuyên dùng để móc mắt tội nhân.  Toàn thân đều là lửa.  Người ta sanh trong thế gian thọ mạng rất ngắn ngủi, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đừng tưởng là chẳng có quả báo, nếu bạn nghĩ như vậy th́ sai rồi.  Khởi tâm động niệm cũng cảm quả báo, huống chi là ngôn ngữ, hành vi tạo tác?  Thứ mười bốn địa ngục Cứ Nha (Cưa Răng), đây cũng là quả báo của ác khẩu, [địa ngục] Rút Lưỡi, Cưa Răng đều là tội báo của khẩu nghiệp.

          Thứ mười lăm là địa ngục Bác B́ (Lột Da), cũng có kinh gọi địa ngục này là Đại Quyển, lột da xong cuốn lại.  Nghiệp nhân này hơn phân nửa là sát hại chúng sanh, lột da chúng sanh, đoạt mạng chúng sanh, cảm thọ quả báo này.  Nói cách khác chúng ta làm ǵ th́ tương lai sẽ thọ quả báo ấy.  Cổ đức thường khuyên người: ‘Những ǵ ḿnh không thích th́ đừng làm cho người khác’ [4], thường nghĩ đến câu này, ḿnh không muốn hứng chịu [việc đó] nhất định chẳng thể làm cho chúng sanh.  Không những là đối với người, hết thảy động vật cũng không thể.  Thật ra, các loài động vật chẳng khác ǵ con người, nghiệp chướng của chúng nặng nên đọa vào cơi súc sanh, chúng ta tốt hơn chúng nên được thân người.  Nếu chúng ta tạo ra những tội nghiệp nặng nề, tương lai cũng đọa thành súc sanh, súc sanh và người có khác ǵ đâu?  Con người mến tiếc sanh mạng của chính ḿnh, súc sanh cũng mến tiếc sanh mạng của chúng.  Kẻ khác làm hại chúng ta, chúng ta có tâm oán hận, muốn báo thù; súc sanh cũng vậy, bạn hiếp đáp chúng, gây tổn hại cho chúng, chúng cũng có tâm oán hận, báo thù, [hiểu vậy th́] kết oán thù với chúng sanh làm chi?  Hiểu được đạo lư này th́ tự nhiên sẽ chẳng khởi tâm ác, tự nhiên chẳng dám khởi ác niệm, chẳng dám tạo ác nghiệp.

          Nhưng một người sống trong thế gian, tập khí ác từ vô thỉ kiếp đến nay rất nặng, tự ḿnh chẳng có cách chi khống chế nổi, lại cộng thêm ác duyên bên ngoài, từng giờ từng phút dụ dỗ bạn.  Bên ngoài có dụ dỗ, bên trong có phiền năo th́ làm sao không tạo nghiệp cho được?  Do đó Thế Tôn dạy chúng ta ‘Dùng Giới Định Huệ hàng phục ma oán’, câu này trọng yếu phi thường!  Huệ là ǵ?  Đối với nghiệp nhân quả báo nh́n thấy rơ ràng, minh bạch, đây là trí huệ.  Khi cảnh giới hiện tiền, tâm địa thanh tịnh, như như chẳng động, đây là công phu.  Khi bạn có công phu định lực th́ bạn có trí huệ, bạn mới có thể khống chế nổi phiền năo, tập khí của ḿnh, chẳng cho nó phát khởi.  Chỉ riêng việc khống chế th́ cũng tương đối khó rồi, nhất định phải chuyển tâm niệm ngược lại, cực lực tu thiện, sức chú ư thay đổi, việc này dễ dàng, một ḷng một dạ hướng về thiện đạo, thành tựu cho chúng sanh.  Thế nên chúng ta nhất định phải suy tư, thường thường nghĩ chư Phật, Bồ Tát làm như thế nào?  Các ngài làm một tấm gương tốt cho chúng ta coi.  Phát tâm học Phật cũng có bi nguyện, phải rộng độ chúng sanh, nguyện này rất tốt!  Xây đạo tràng, dựng pháp tràng, độ chúng sanh, lập sự nghiệp.  Nhưng sự nghiệp này nhất định phải nhân duyên trong ngoài đều chín muồi, nếu duyên chưa chín muồi, tự ḿnh làm sự nghiệp này có một tơ hào miễn cưỡng th́ sai rồi.  Trong kinh đức Phật nói với chúng ta:‘Nếu cúng dường số thánh nhân nhiều như cát sông Hằng cũng chẳng bằng kiên tŕ dũng mănh cầu Chánh Giác’ [5], câu này là ǵ?  Duyên độ chúng sanh chưa chín muồi th́ chúng ta phải tự độ trước; khi duyên chín muồi rồi th́ có thể xả ḿnh v́ người.

          Chư Phật Như Lai biểu diễn cho chúng ta xem, tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật đang ở nơi đó xây đạo tràng, dựng pháp tràng, phổ độ hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới b́nh đẳng thành Phật, thật là khó được.  Mười phương chư Phật Như Lai có trí huệ của A Di Đà Phật không?  Có bi nguyện của A Di Đà Phật không?  Có thần thông năng lực của A Di Đà Phật không?  Đều có!  Mỗi đức Phật đều b́nh đẳng, Phật Phật đạo đồng.  Tại sao hết thảy chư Phật chẳng tự ḿnh xây dựng thế giới Cực Lạc?  Đức Phật A Di Đà xây dựng thế giới Cực Lạc, tại sao đức Phật Thích Ca Mâu Ni không xây thế giới Cực Lạc?  Đức Phật Thích Ca chẳng kém hơn đức Phật A Di Đà, chẳng thua, chẳng kém hơn.  Chúng ta có suy nghĩ, có thấu hiểu ư nghĩa này chăng?  Mười phương chư Phật Như Lai đều chẳng xây, đức Phật A Di Đà đă xây rồi, hết thảy chúng sanh đều về đó thân cận ngài.  Một tức là tất cả, tất cả là một, đây là chân lư, là chân tướng sự thật.  Nếu mỗi đức Phật đều xây một thế giới Cực Lạc, ai nấy đều đánh lộn, đấu tranh lẫn nhau, nhất định sẽ tự khen ḿnh và chê bai kẻ khác, sẽ xuất hiện căn bịnh này.  Chỉ có một đạo tràng, tận hư không trọn khắp pháp giới chỉ có một đạo tràng, mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đều cho đệ tử của ḿnh, khuyên họ đến tây phương Cực Lạc thế giới.  Việc này đă có người làm rồi, chúng ta không cần làm nữa, Phật thị hiện cho chúng ta coi, chúng ta ở đây phải thấu hiểu được.

          Ở Trung Quốc cổ đại, có nhiều đạo tràng lớn nhỏ được xây dựng trong xă hội, nguyên nhân là ǵ?  V́ giao thông chẳng phát triển, tu học chẳng thuận tiện, v́ đem lại lợi ích cho chúng sanh ở một địa phương nên xây một đạo tràng ở đó; chẳng có phương tiện giao thông nên phải xây dựng đạo tràng ở khắp nơi th́ mới rộng độ chúng sanh.  Ngày nay có cần làm vậy không?  Chẳng cần.  Thế nên mấy năm trước, lần đầu tiên tôi đến Bắc Kinh thăm viếng cụ Triệu Phác Sơ, tôi bàn với cụ hiện nay trên toàn thế giới chỉ cần xây một đạo tràng.  Tôi đề nghị với cụ, mười tông phái Đại Thừa, Tiểu Thừa ở Trung Quốc, mỗi tông phái xây một đạo tràng, chẳng cần xây nhiều, nhân lực, tài lực, vật lực đều tập trung, xây một đạo tràng bèn có thể độ hết thảy chúng sanh trên toàn thế giới.  Ngày nay đi du lịch khắp hoàn cầu phải cần hơn hai ngày, người muốn học Tịnh Độ th́ đến đạo tràng Tịnh Độ để tu học, người muốn học Thiền Tông th́ có đạo tràng Thiền Tông để tu học, hết thảy những đại đức Thiền Tông trên toàn thế giới đều tập trung ở một chỗ, th́ bạn [đến đó học] thân cận [quư ngài] rất thuận tiện, chẳng giống như thời xưa không thuận tiện.  Đặc biệt là ngày nay nói đến việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta lợi dụng công cụ khoa học, truyền h́nh vệ tinh, mạng lưới điện toán, ở một nơi có thể truyền đi khắp thế giới, mỗi người ở nhà đều có thể tiếp nhận được.  Chư vị nghĩ coi xây dựng đạo tràng nhiều như vậy làm ǵ?  Hao nhọc tiền tài của dân. Tại sao không tập trung lực lượng vào một nơi?  Bạn muốn làm người lănh đạo, được lắm!  Chúng ta sẽ ủng hộ bạn làm lănh đạo, ai làm lănh đạo cũng được, tất cả chúng ta đều đảnh lễ, đều ủng hộ bạn, mời bạn đến lănh đạo.  Người lănh đạo phải hy sinh, cống hiến nên rất cực khổ, chúng ta là người giúp việc th́ rất nhàn hạ, chẳng có trách nhiệm, toàn tâm toàn lực đi theo để giúp đỡ.  Ngày nay rất nhiều người nói đến “thôn địa cầu”, địa cầu là một thôn làng, một thôn có một đạo tràng đủ rồi, có hai đạo tràng th́ là quá nhiều.

          Thế nên phải biết hiện nay là thời đại như thế nào, chúng ta hoằng pháp lợi sanh th́ phải làm như thế nào.  Nếu chúng ta thật sự có thể tập trung nhân lực, thí dụ chúng ta ở đây là Tịnh Độ Tông, những người tu học tông Tịnh Độ đều tu tập với nhau, mỗi ngày mọi người cùng nhau thảo luận kinh giáo, trau giồi dùi mài, hết ḷng tu học, không ngừng nâng cao cảnh giới của ḿnh.  Giảng kinh thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh, lợi dụng kỹ thuật đem giáo học đến tận gia đ́nh của mỗi người, thế giới này chỉ cần một đạo tràng là đủ rồi.  Nhân lực phân tán th́ chắc chắn không làm nổi chuyện này.  Tập trung nhân lực, tài lực, vật lực th́ sẽ dễ làm.  Xả ḿnh v́ người, chẳng có tự kỷ th́ đời này chúng ta mới được độ.  Khởi tâm động niệm [đều nghĩ về] ḿnh, khởi tâm động niệm [đều nghĩ] đạo tràng của ḿnh, khu vực của ḿnh, th́ bạn vĩnh viễn chẳng thể thoát khỏi lục đạo luân hồi, tại sao vậy?  Chấp trước lục đạo là của ḿnh, chấp trước địa ngục A Tỳ là của ḿnh, bạn làm sao không đọa địa ngục cho được?  Thế nào gọi là chấp trước địa ngục A Tỳ?  Chấp trước tham, sân, si, mạn tức là [chấp trước] địa ngục A Tỳ, bạn tạo tội nghiệp.  Người như thế nào mới có thể văng sanh?  Xả bỏ thế giới Sa Bà, hết thảy đều buông bỏ, chẳng muốn nữa, người như vậy mới có thể thoát ly, mong mỏi hướng về Tịnh Độ nhất định sẽ được sanh về Tịnh Độ, đây là đạo lư nhất định, là chân tướng sự thật.  Chúng ta đọc kinh Địa Tạng, hiểu sự khổ trong tam đồ lục đạo, hiểu được khởi tâm động niệm, tạo tác ác nghiệp sẽ phải thọ quả báo ǵ.  Quả báo này trong kinh nói thời gian ở mỗi địa ngục đều là vô số kiếp, lúc chúng ta tạo [tội] thật dễ dàng, thời gian rất ngắn, quả báo tương lai sẽ dài đăng đẳng.

          Mỗi câu tôi khuyên mọi người đều là lời chân thật, tôi nói với quư vị, công đức niệm Phật một ngày trong Niệm Phật Đường là vô lượng vô biên.  Lư ở trong đó rất sâu, muốn nói rơ về những sự tướng, đạo lư ấy th́ một năm, hai năm cũng chẳng cách chi nói hết.  Trong kinh Phật thường nói cho dù chư Phật Như Lai cùng nói, nói tới một kiếp cũng chẳng nói hết.  Thế nên chúng ta muôn vàn xin đừng coi thường những cụ già mỗi ngày làm việc thiện nguyện, quét dọn, lau bàn ở Cư Sĩ Lâm, chẳng có ai trên thế gian có thể sánh nổi phước đức của họ đâu.  Chúng ta cứ vênh váo ta đây rất giỏi, chẳng coi trọng họ, khinh thường họ, người ta là Bồ Tát, là Phật đấy.

          Nếu các bạn không tin, các bạn đọc trong truyện kư, Phong Can, Hàn Sơn, Thập Đắc ở chùa Quốc Thanh thời xưa, có ai coi trọng các ngài?  [Họ] ăn mặc lôi thôi, điên điên cuồng cuồng, làm những việc nặng nhọc nhất.  Phong Can giă gạo, đổ rác, Hàn Sơn, Thập Đắc nấu nướng trong nhà bếp, chẻ củi đốt lửa.  Ai biết được?  Phong Can là A Di Đà Phật tái lai, Hàn Sơn là Văn Thù, Thập Đắc là Phổ Hiền, Văn Thù, Phổ Hiền tái lai.  Bạn đừng coi thường những người làm công việc nặng nhọc này, có nhiều Phật, Bồ Tát tái lai trong đó, bạn làm sao biết được?  Dùng mắt thịt phàm phu khinh thường họ là bạn đang tạo tội nghiệp đấy.  Bạn đợi đến bao giờ họ văng sanh có tướng lành hy hữu [th́ mới biết] lời tôi nói trên giảng đài này chẳng phải là lời giả dối.  Sau khi Niệm Phật Đường này mở ra, nhất định sẽ có người đứng văng sanh, ngồi văng sanh, chẳng sanh bịnh, đoán    trước ngày giờ mất, chẳng phải là những người thường có thể sánh kịp, họ thật đều là Phật, Bồ Tát cả.

          Chúng ta vừa có một chút phước báo nho nhỏ bèn cống cao ngă mạn, cứ cho ḿnh là đúng.  Mở kinh Địa Tạng ra, có một tội nghiệp nào chẳng tạo?  Hiện nay vẫn tiếp tục tạo không ngừng, vẫn chẳng biết sửa lỗi, vẫn chưa biết quay về.  Bạn niệm Phật suốt ngày ở Niệm Phật Đường, cảm thấy vô cùng mỏi mệt, đó là ǵ?  Nghiệp chướng hiện tiền, Niệm Phật Đường thật sự đang tiêu nghiệp chướng cho bạn.  Vài ngày đầu nghiệp chướng khởi lên, nếu bạn có thể nhẫn nại, có thể dũng mănh tinh tấn th́ nghiệp chướng sẽ bị hàng phục.  Niệm được ba tháng, nửa năm th́ nghiệp chướng tiêu tan, bạn sẽ được thanh tịnh, tự tại, thân tâm an ổn, pháp hỷ sung măn.  Niệm Phật Đường chúng ta vừa mở chẳng bao lâu, có ai được pháp hỷ sung măn không?  Có chứ, chẳng ít.  Những người nào?  Đều là những bà cụ, họ được pháp hỷ sung măn.  Gặp cư sĩ Lư Mộc Nguyên họ bèn hỏi ông: ‘Chừng nào tổ chức (cử hành) khóa cộng tu nữa?’.  Ông Lư nói: ‘Mỗi tuần cử hành một lần’.  Họ nói: ‘Sao lâu quá vậy!’, thế nên các bạn nghĩ xem đây là đạo tràng ǵ?  Chẳng phải do con người tạo dựng, là do Phật, Bồ Tát tạo dựng đấy.  Nếu chúng ta ở đây tranh giành công lao, nói là do chúng ta tạo dựng, vậy th́ sai lầm quá đỗi.  Lấy công đức của Phật, Bồ Tát cho là của ḿnh, vậy th́ dễ sợ lắm!  Chúng ta chỉ bất quá là người làm công cho Phật, Bồ Tát mà thôi, đi theo xách dép mà thôi.  Tự ḿnh nhất định phải biết ḿnh ở nơi đây là thân phận ǵ th́ chúng ta mới thật sự được Phật, Bồ Tát gia tŕ, được hộ pháp long thiên ủng hộ; ủng hộ là hộ đạo tràng, là hộ những người niệm Phật này, chúng ta chỉ hưởng ké thôi.  Nếu nói hộ chúng ta th́ hoàn toàn sai lầm, chúng ta làm ǵ có trí huệ lớn như vậy?  Làm ǵ có phước báo lớn như vậy?  Thế nên đạo tràng thành lập là thiện căn, phước đức, nhân duyên của chúng sanh ở nơi đó chín muồi, chúng ta thật rất may mắn, gặp được vận may này, hưởng ké một chút, [những lời nói này] câu nào cũng là lời chân thật.

          Thứ mười sáu là địa ngục Ẩm Huyết (Uống Máu), nghiệp nhân này là trộm cắp tà hạnh, hoặc là ở trong tự viện, đạo tràng, hoặc là gần tự viện đạo tràng, tạo tác ác nghiệp, trong đó cũng bao gồm nói láo.  Trong mười đại địa ngục có một cái gọi là địa ngục Uống Máu.  Máu này rất khó uống, dơ dáy, hôi hám, là một con sông toàn máu, người ta đọa trong ấy.  Thứ mười bảy, mười tám là Thiêu Thủ (Đốt Tay), Thiêu Cước (Đốt Chân), loại này cũng thuộc tám địa ngục nóng.  Trong kinh nói nghiệp nhân này là lúc c̣n ở nhân gian chặt chém súc sanh, khi bạn ăn thịt chúng sanh, bạn dùng dao chặt đứt tay, đứt chân của chúng, rồi bỏ chúng vào nồi để thiêu, nấu, người ngoại quốc gọi là thiêu nướng, tương lai đọa địa ngục cũng bị quỷ tốt trong địa ngục thiêu nướng.

          Thứ mười chín địa ngục Đảo Thích (Đâm Ngược), Đảo Thích, nghiệp nhân hơn nửa là phản bội, phản bội tức là chẳng thuận, sẽ hứng chịu địa ngục này.  Nghiệp nhân ở trong đó rất rộng, phản bội cha mẹ, phản nghịch sư trưởng, c̣n gọi là bội sư phản đạo, tạo ra các hành vi phản nghịch, ác nghiệp như vậy phải thọ quả báo ở địa ngục này.  Hỏa Ốc (Nhà Lửa), Thiết Ốc (Nhà Sắt), hai địa ngục này giống nhau, lúc tạo nghiệp nhân nặng nhẹ khác nhau cho nên hai thứ khổ báo địa ngục này cũng có nặng nhẹ khác nhau.  Nhà Lửa nhẹ, c̣n quả báo Nhà Sắt th́ nặng, Nhà Sắt cũng là một biển lửa.  Sau cùng là địa ngục Hỏa Lang (Chó sói Lửa).  Kinh Khởi Thế nói dùng những nghiệp nhân chẳng thiện, trong đó quan trọng nhất là tâm tham.  Tâm tham của sói nặng, sói là một loại thuộc về mănh thú trong các loài dă thú.  Người thế gian thường gọi ‘tâm sói’, tâm sói rất hận độc.  Tâm của chúng ta hận độc lúc c̣n ở nhân gian, chẳng chừa thủ đoạn, tham lấy hết thảy, quả báo ở trong địa ngục này.  Xem đoạn kinh tiếp theo:

 

          Như thị đẳng địa ngục, kỳ trung các các phục hữu chư tiểu địa ngục.

          Các địa ngục như trên, trong mỗi thứ lại có các địa ngục nhỏ

          Vô Gián, A Tỳ là địa ngục căn bản, địa ngục của những tội cực nặng.  Ngoài Vô Gián, A Tỳ ra là những đại địa ngục nói ở phía trước, mỗi địa ngục lớn lại có rất nhiều địa ngục nhỏ.

 

          Hoặc nhất hoặc nhị, hoặc tam hoặc tứ, năi chí bá thiên, kỳ trung danh hiệu các các bất đồng.

          Hoặc một hoặc hai, hoặc ba hoặc bốn cho đến trăm ngàn, tên trong số đó đều khác nhau.

          Câu này [ngụ ư Bồ Tát chỉ nói] lướt qua [về danh hiệu, t́nh trạng địa ngục], Ngài lược bớt, [nếu] nói rơ th́ nói chẳng hết.

 

          Địa Tạng Bồ Tát cáo Phổ Hiền Bồ Tát ngôn: Nhân giả, thử giả giai thị Nam Diêm phù Đề hành ác chúng sanh, nghiệp hoặc như thị.

          Địa Tạng Bồ Tát nói với Phổ Hiền Bồ Tát: ‘Thưa Nhân giả, đây đều do chúng sanh trong cơi Nam Diêm Phù Đề làm ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra như thế’.

          Nghiệp địa ngục từ đâu đến?  Nghiệp cảm ứng hiện tiền.  Thế nên hết thảy cảnh giới tướng, chẳng do người khác tạo ra cho bạn hứng chịu, nói cách khác thiên đường cũng chẳng phải do Thượng Đế tạo ra để cho bạn đến hưởng phước, địa ngục chẳng phải do Diêm La Vương tạo thành để cho bạn đến thọ tội, chẳng phải vậy, toàn là do nghiệp cảm.  Bạn tạo thiện nghiệp th́ bạn cảm được thiên đường; bạn tạo ác nghiệp, nó biến hiện ra thành địa ngục.  Cảnh giới đó biến hóa từng sát na, đây là lời chúng ta thường nói, đều căn cứ lời Phật nói ‘vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không’.  ‘Nhân quả chẳng không’ phải nói từ chỗ nào?  ‘Chuyển biến chẳng không’ cảnh giới tướng bên ngoài chuyển biến từng sát na, từng sát na.  Biến như thế nào?  Tùy tâm mà biến, tâm tức là niệm đầu (một niệm), niệm đầu là năng biến, cảnh giới là sở biến.  Tâm mọi người thiện th́ hoàn cảnh sẽ thiện, mọi người tạo ác th́ hoàn cảnh sẽ xấu ác.  Hiện nay hoàn cảnh thế gian chúng ta rất xấu ác, nhiều thiên tai nhân họa; khi chúng ta mở báo, mở TV [coi tin tức thường cảm thấy] thân tâm chẳng an, lo lắng trùng trùng, nguyên nhân là gi?  Mọi người đều tạo ác nghiệp, như vậy làm sao chịu nổi!  Chúng ta hiểu được đạo lư này, hiểu rơ chân tướng sự thật này th́ phải nên dốc toàn tâm toàn lực làm các công tác khuyến hóa, làm vậy cũng chỉ là tận tâm, tận phận mà thôi.  Người ta nghe hay không, nghe có hiểu không, chịu quay về hay không là chuyện của họ.  Tự tâm chúng ta phải thiện, lời nói thiện, hành vi thiện; trong cộng nghiệp có biệt báo (quả báo riêng biệt), đạo lư này không thể không hiểu, chẳng thể chẳng cảnh giác.

          Làm sao trong hoàn cảnh tai biến trùng trùng này cứu chính ḿnh, giúp đỡ người nhà, quyến thuộc, thân thích, bạn bè, chỉ cần họ chịu nghe, có thể tin, có thể tiếp nhận, chẳng có một ai không được cứu.  Cho dù đă tạo tội nghiệp địa ngục, [chỉ cần] bây giờ bạn c̣n một hơi thở th́ bạn cũng c̣n được cứu.  Chết đi đọa lạc trong địa ngục th́ chẳng c̣n cách ǵ nữa, Phật, Bồ Tát cũng chẳng giúp được ǵ.  Chỉ cần bạn chưa đọa địa ngục th́ bạn có thể được cứu, làm thế nào cứu?  Chư Phật Như Lai có diệu pháp, dạy bạn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, niệm Phật là pháp sám hối chân thật.  Buông xuống hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian, buông xuống tức là chẳng tiếp tục tạo tác.  Chỉ cần không tạo th́ là quay về, chẳng thêm ‘tăng thượng duyên’ cho những hạt giống trong A Lại Da Thức, tuy có hạt giống ác nghiệp nhưng nó chẳng khởi lên được; chẳng khởi lên tức là nói rơ chẳng thọ quả báo.  Lời Phật dạy chúng ta thật sự là có đạo lư, chẳng phải là không có đạo lư.  Muốn Nhân biến thành Quả, trong đó phải có Duyên, Nhân và Quả chẳng có phương pháp ǵ để khống chế, nhưng Duyên có phương pháp khống chế được.  Thí dụ hạt giống trái dưa là Nhân của trái dưa, nhưng Duyên của hạt dưa chính là đất đai, ánh sáng mặt trời, nước, phân bón, có đầy đủ điều kiện th́ hạt giống mới có thể lớn lên thành dưa, mới ra trái dưa, nó cần có Duyên.  Nếu chúng ta cắt đứt Duyên của nó, bỏ hạt giống vô tách trà, để đó một trăm năm nó cũng chẳng kết thành dưa, tại sao?  Duyên đă bị cắt đứt.

          Phật dạy chúng ta tự độ ḿnh chính là đạo lư này, nghiệp nhân hạt giống trong A Lại Da thức vô lượng vô biên, bây giờ cắt đứt tất cả duyên, tuy có hạt giống nhưng nó sẽ chẳng khởi lên.  Hiện nay chỉ thêm vào một duyên, duyên niệm Phật, trong A Lại Da thức của chúng ta có hạt giống A Di Đà Phật, có hạt giống tây phương Cực Lạc thế giới, chỉ cần chăm sóc hạt giống này cho đàng hoàng, những duyên khác hoàn toàn cắt đứt.  [Niệm Phật] trong Niệm Phật Đường chính là làm công việc này, đoạn dứt hết thảy duyên phận của các hạt giống [khác], thói quen [khác], toàn lực gia tăng, tất cả đều tập trung để tăng cường duyên niệm Phật, thế nên duyên niệm Phật này sẽ thành thục rất nhanh, ba năm, năm năm nhất định sẽ thành tựu.

          Lời trong kinh Phật nói chẳng giả dối, ‘Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật’, một khi thấy Phật th́ việc ǵ cũng sẽ viên măn.  Ngày nay chúng ta muốn làm công tác hoằng pháp lợi sanh, bạn làm như thế nào?  Bạn làm sao mới được viên măn, mới được vừa ḷng?  Làm chẳng nổi, chẳng có trí huệ, chẳng có phước đức.  Chỉ có biện pháp duy nhất là gặp A Di Đà Phật trước, thấy được A Di Đà Phật th́ phước huệ của bạn sẽ đầy đủ, bạn có trí huệ, có đại phước đức, bất luận bạn làm việc ǵ ‘trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng’, bạn c̣n chướng ngại ǵ nữa?  C̣n khó khăn ǵ nữa?  Huống chi sau khi thấy Phật, không gian sanh hoạt của chúng ta được mở rộng ra.  Ngày nay chúng ta là phàm phu sanh tử, chúng ta sinh sống trong thế gian này, không gian sinh hoạt của chúng ta là địa cầu, chẳng có cách chi ra khỏi địa cầu, đi đâu cũng chỉ đi trên mặt địa cầu, hiện nay vẫn không thể đi đến tinh cầu khác.

          Chúng ta cũng thường nghe nói có người ngoài không gian, người hành tinh khác đến thăm viếng trái đất, những ‘người’ ấy đến địa cầu đích thật [là chúng sanh] thuộc về nhân đạo, chẳng phải là thiên đạo.  Tại sao?  Thiên đạo chẳng cần lái dĩa bay, chẳng cần công cụ phi hành, chẳng cần, chỉ có cơi người mới cần.  Người cơi trời đi đâu chẳng cần những công cụ này.  Những người này c̣n phải dùng công cụ phi hành, kỹ thuật khoa học của họ phát triển hơn chúng ta, cho nên họ vẫn thuộc nhân đạo, chắc chắn không phải thiên đạo.  Ngay cả Tứ Thiên Vương họ cũng chẳng thể sánh bằng, Tứ Thiên Vương đi lại trong vũ trụ chẳng cần máy móc.  Các báo cáo về không gian hiện nay rất nhiều, những sách loại này rất nhiều, chúng tôi thấy đều là người, chẳng phải là người trên địa cầu chúng ta.

          Phạm vi nhân đạo trong thế giới Sa Bà rất lớn, chẳng phải chỉ có địa cầu này thôi, rất nhiều tinh cầu khác đều có người.  Trí huệ và năng lực của con người chẳng giống nhau, phước báo chẳng giống nhau, sanh đến địa cầu ấy, sanh hoạt trên tinh cầu ấy, nghiệp báo của mỗi người khác nhau, đều là quả báo.  Nam Diêm Phù Đề được Phật, Bồ Tát đặc biệt nhắc đến trong kinh này chính là quả địa cầu của chúng ta.  Phía trước có nói ‘Chúng sanh Diêm Phù Đề, chí tánh vô định, theo tập khí mà tạo ác nghiệp’, ‘tập’ là tập khí, chẳng hay chẳng biết họ bèn tạo ác, nên cảm đến khổ báo ở địa ngục.  Bốn câu sau quan trọng phi thường!  Chúng ta phải ghi nhớ, chẳng nhớ nổi cả bộ kinh, nhưng phải nhớ mấy câu này.  Từ ‘Nam Diêm Phù Đề hành ác chúng sanh, nghiệp hoặc như thị’, ba câu này phải ghi nhớ, từng giờ từng phút nhắc nhở chính ḿnh.  Tiếp theo lại nói:

 

          Nghiệp lực thậm đại, năng địch Tu Di, năng thâm cự hải, năng chướng thánh đạo.

          Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu Di, có thể sâu như biển cả, có thể chướng ngăn thánh đạo.

          Nghiệp lực rất lớn, lớn đến cỡ nào?  Sau đó nêu ra ba việc.  Tu Di là tên núi lớn, nghiệp lực có thể dời núi, dời biển, núi lớn biển sâu chẳng chống nổi nghiệp lực.  Nghiệp lực có thể chướng ngăn thánh đạo, làm cho đạo nghiệp của bạn trong đời này chẳng thể thành tựu.  Bất luận bạn tu hành dơng mănh tinh tấn cách mấy, bạn cũng chẳng thoát ly lục đạo luân hồi nổi, nguyên nhân là ǵ?  Nghiệp lực.  Thế nên Phật pháp giáo hoá hết thảy chúng sanh. trọng điểm là ở tại tâm, tâm lư.  Thiền Tông dạy tu hành phải tu từ căn bản, căn bản là niệm đầu (một niệm, móng ư) trong tâm.  Tông Môn như vậy, Giáo Hạ sao không như vậy được?  Vẫn như vậy.  Nói cách khác, tu hành phải thay đổi, sửa đổi tư tưởng, sửa đổi quan niệm; trước kia tâm lư, tư tưởng, quan niệm của chúng ta mỗi niệm đều v́ chính ḿnh, lấy ḿnh là bản vị, đó chính là tạo nghiệp luân hồi, đó là tâm luân hồi.  Phật dạy chúng ta chuyển đổi tâm niệm này, chuyển thành cái ǵ?  Chúng ta niệm niệm v́ chúng sanh, chúng ta khởi tâm động niệm, tư tưởng kiến giải, ngôn ngữ tạo tác toàn v́ chúng sanh, chẳng v́ ḿnh nữa, như vậy th́ tốt!

          Phật dạy chúng ta lục đạo v́ sao mà có?  V́ chấp trước nên mới có lục đạo; cả ba thứ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều có th́ sẽ hiện thành lục đạo; nếu chỉ có vọng tưởng và phân biệt, chẳng có chấp trước th́ lục đạo sẽ chẳng c̣n nữa, trong mười pháp giới [chỉ c̣n] Tứ Thánh pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, [mười pháp giới] biến thành Tứ Thánh pháp giới.  Nếu phân biệt chẳng c̣n nữa th́ Tứ Thánh pháp giới chẳng c̣n, thập pháp giới cũng chẳng c̣n nữa, hiện ra Nhất Chân pháp giới.  Trong Nhất Chân pháp giới, kinh Hoa Nghiêm nói có bốn mươi mốt cấp bậc, Bồ Tát có bốn mươi mốt cấp bậc: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác.  Cấp bậc này từ đâu đến?  Do chưa đoạn vọng tưởng, là từ vọng tưởng mà ra.  Sau khi vọng tưởng đoạn dứt th́ cấp bậc chẳng c̣n nữa, đó là Phật quả cứu cánh.  Thật sự b́nh đẳng, Phật Phật đạo đồng, chẳng c̣n cấp bậc nữa.  Đây là nói rơ Nhất Chân pháp giới, Thập pháp giới, tam đồ lục đạo h́nh thành như thế nào.  Chỉ cần khởi tâm động niệm có Ta, đây là sở hữu của Ta, bạn có đủ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, bạn có thể thoát ly lục đạo luân hồi ư?  Từ chỗ này thật sự khế nhập, thấu hiểu th́ quư vị đă thật sự giác ngộ, chẳng giác ngộ giả.  Giác ngộ xong bèn siêu phàm nhập thánh, thánh tức là giác, phàm tức là mê, phàm phu tức là c̣n vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Chẳng nói đến vọng tưởng, [khi có] phân biệt, chấp trước th́ là phàm phu, xả bỏ phân biệt, chấp trước th́ thành thánh nhân, tức là Phật, Bồ Tát.  Phật, Bồ Tát và phàm phu chỉ khác nhau ở một niệm mà thôi, bạn chuyển đổi tâm niệm trở lại bèn siêu phàm nhập thánh.

          Ai có thể chuyển đổi trở lại?  Ở nơi chính ḿnh, ḿnh có chịu chuyển không?  Bạn chịu chuyển đổi trở lại th́ lập tức liền biến đổi.  Tôi hiểu được đạo lư này nên tôi chuyển rồi, cư sĩ Lư Mộc Nguyên hiểu đạo lư này nên ông ta đă chuyển.  Sau khi chuyển trở lại, chúng tôi phục vụ cho hết thảy chúng sanh, hết thảy chúng sanh là chủ nhân của chúng tôi, là ông chủ của chúng tôi, chúng tôi là người làm công phục vụ cho họ, vô ngă.  Chúng tôi mới thật sự được thọ dụng của Phật pháp, chuyển nghiệp lực thành trí huệ, chuyển nghiệp lực thành năng lực, nhà Phật nói về thần thông đạo lực, tức là chuyển ngay nơi niệm đầu, nghiệp lực bèn chuyển trở lại.  Thông thường chúng tôi nói nguyện lực, chuyển nghiệp lực thành nguyện lực, nghiệp lực quá lớn có thể chướng ngăn thánh đạo, nguyện lực rất lớn có thể thành tựu thánh đạo, tại sao không chịu chuyển?  Nếu không chuyển, nếu không chuyển th́ vô lượng kiếp vẫn phải làm chuyện luân hồi sanh tử, dây dưa chẳng dứt.  Hà tất phải rớ vô chuyện phiền phức này?  Kinh văn  tiếp theo c̣n vài câu quan trọng:

 

          Thị cố chúng sanh, mạc khinh tiểu ác, dĩ vi vô tội.  Tử hậu hữu báo, tiêm hào thọ chi.

          V́ thế chúng sanh đừng khinh điều ác nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dù nhỏ bé đều phải nhận lănh.

          Mấy câu này phải ghi nhớ, thường thường nhắc nhở ḿnh, đừng cho rằng không có báo ứng, đó là sự sai lầm của bạn.  Một niệm ác dù nhỏ nhoi cách mấy cũng sẽ cảm thọ quả báo, đúng như câu ‘chẳng phải là không báo, mà là thời giờ chưa đến’?  Thời giờ ǵ?  Duyên chưa đầy đủ, thời giờ là nói về duyên, khi duyên đầy đủ th́ quả báo lập tức hiện tiền.  Nếu chư vị b́nh tĩnh, b́nh tâm tịnh ư để quan sát thế giới này, hiện tại quả báo này gọi là hiện thế báo, quả báo xảy ra rất nhanh, ngay trước mắt.  Nếu chúng ta muốn thực sự cứu ḿnh, chư vị nhất định phải biết sanh mạng chẳng quan trọng, chẳng đáng tiếc, chúng ta ở thế gian có thể sống được mấy năm?  Trăm năm sương gió chỉ thoáng qua trong ṿng khảy ngón tay mà thôi.

          Năm tôi chín tuổi rời khỏi nhà, [nhà tôi] rất gần Cửu Hoa Sơn, những h́nh ảnh nơi đó lúc ra đi trong kư ức tôi vẫn c̣n nhớ rất rơ, giống như ngày hôm qua vậy.  Những bậc trưởng thượng ở làng quê hồi đó, bạn bè thân thích, bảy tám phần đều chẳng c̣n nữa, những bạn bè thuở nhỏ đều chẳng c̣n nữa.  Đời người là một con số không, chỉ là một giấc mộng, phải tỉnh giấc mộng này, tỉnh ngộ cũng như quay đầu là bến bờ, phải hạ thủ công phu ở lúc khởi tâm động niệm, chẳng khởi một ác niệm, niệm niệm đều v́ phước báo của chúng sanh, chúng ta dốc toàn tâm toàn lực để tạo phước cho chúng sanh hưởng phước, như vậy mới tốt, tự ḿnh đừng hưởng phước.  Người như vậy nhất định sẽ thành tựu, người như vậy sẽ được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hựu, dơng mănh tinh tấn, chuyên cần phấn chấn chẳng lười để tạo phước, giúp đỡ xă hội, giúp đỡ đại chúng.  Cuộc sống của ḿnh th́ thanh bần, không lăng phí, biết cần kiệm, mỗi khi dùng một phân tiền đều phải nghĩ đến hết thảy chúng sanh đang chịu khổ nạn, ḿnh có thể nhín một phần th́ họ sẽ có thêm một phần thọ dụng, thường thường giữ quan niệm này.

          Trong kinh đức Phật nói tại sao hết thảy những người tu hành trên thế gian tu hành chẳng đạt được kết quả?  Đều v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước quá nhiều, niệm này khởi lên tiếp theo niệm trước.  Kinh nói với chúng ta một khảy ngón tay có sáu mươi sát na, một sát na có chín trăm sanh diệt, đó là nói về niệm đầu (một niệm) nhỏ.  C̣n những niệm đầu thô cũng đă dễ sợ lắm rồi, từ sáng tới tối có bao nhiêu niệm sanh diệt?  Tự chúng ta có thể cảm giác được.  Niệm trước vừa diệt, niệm sau liền tiếp tục sanh lên, trong ấy đều có nhân quả, một niệm thiện sẽ là quả báo thiện, một niệm ác sẽ là quả báo ác.  Hăy khoan nói tới ngôn ngữ tạo tác, quả báo đó c̣n nghiêm trọng hơn nữa, khởi tâm động niệm ǵ cũng có quả báo.  Cho nên Bồ Tát ở đây khuyên chúng ta, khích lệ chúng ta, cảnh tỉnh chúng ta ‘Đừng coi thường việc ác nhỏ mà cho là không có tội’, đến lúc bạn thọ báo th́ có hối hận cũng không kịp nữa.  Những câu sau đây nói vô cùng rơ ràng:

 

          Phụ tử chí thân kỳ lộ các biệt, túng nhiên tương phùng, vô khẳng đại thọ

          Chí thân như cha và con, mỗi người đi mỗi ngả khác nhau, dù cho gặp gỡ cũng chẳng bằng ḷng chịu khổ thay cho nhau.

          Quả báo tự làm tự chịu, ai cũng chẳng có cách ǵ thay thế, chư Phật Như Lai đại từ đại bi cũng chẳng có cách ǵ thọ báo thế bạn.  Nếu có thể thay thế th́ Phật, Bồ Tát đă thay rồi, chẳng có cách chi thay thế, đây là tự làm tự chịu, cảnh giới đều do chính ḿnh biến hiện thành.  Giống như cư sĩ Chương Thái Viêm đă nói, tôi nghe lăo cư sĩ Châu Kính Trụ kể, cụ Châu viết những chuyện này vào sách, ông ta có viết vài tác phẩm.  Chương Thái Viêm là cha vợ của cụ, đây chẳng phải là lời giả dối, lúc c̣n trẻ cụ vốn là người học khoa học, chẳng tin Phật pháp, cha vợ của cụ có học Phật, kể cho cụ những chuyện này, cụ nghe xong cứ tưởng là mê tín, ngụ ngôn.  Lúc quá trung niên, trong thời kỳ kháng chiến cụ cư ngụ tại Trùng Khánh, ban đêm đi đường gặp quỷ nên cụ mới tin, nếu cụ chẳng đích thân nh́n thấy th́ người khác nói ǵ cụ cũng chẳng tin.  Cụ cùng quỷ đi bộ trên một con đường suốt nửa giờ đồng hồ, thời gian cũng khá dài.  Đi hơn nửa giờ cụ mới bỗng nhiên nghĩ tại sao người đàn bà ấy đi một ḿnh lẻ loi trong đêm vắng?  Vừa nghĩ đến đó th́ lông tóc dựng đứng, nh́n kỹ lại bà đó chỉ có nửa thân phía trên, chẳng có nửa thân dưới, cụ bèn hoảng hồn.  Lúc đó thân h́nh phía trước biến mất, cụ tin Phật từ đó.  Nếu chẳng phải đích thân nh́n thấy, đích thân trải qua th́ những người này sẽ chẳng tin.  Cho nên sau này khi nghĩ đến câu chuyện của cha vợ, cụ nghĩ đây là thật, chẳng giả.

          Chương Thái Viêm nói những nỗi khổ trong địa ngục, ông cảm thấy rất tàn nhẫn, chẳng nhân đạo, rất nhiều địa ngục đáng bị phá hủy.  Vua Diêm La nghe đến những đề nghị này chẳng nói ǵ cả, chỉ phái hai chú tiểu quỷ dẫn ông đi đến chỗ có địa ngục.  Tiểu quỷ dẫn ông đi, đi rất xa mới đến chỗ ấy, chỉ cho ông nhưng ông chẳng nh́n thấy ǵ cả.  Lúc đó ông mới vỡ lẽ, trong kinh Phật nói chẳng sai, là do nghiệp lực biến hiện, nếu bạn chẳng có nghiệp lực ấy th́ sẽ chẳng nh́n thấy.  Trong kinh nói địa ngục chỉ có hai hạng người có thể nh́n thấy: một là người tạo tội nghiệp, họ thọ báo biến thành những cảnh giới này; ngoài ra là Bồ Tát, Bồ Tát có năng lực vào địa ngục để độ chúng sanh nên ngài có thể nh́n thấy.  Nếu chẳng phải hai loại duyên: độ chúng sanh trong địa ngục, hoặc là thọ tội tại địa ngục th́ dù địa ngục ở ngay trước mặt cũng chẳng nh́n thấy.  Từ đây mới biết chẳng phải là Diêm Vương tạo địa ngục cho những người này thọ tội, mà là cảnh giới do nghiệp lực của ḿnh biến hiện ra.  Chúng ta hiểu rơ đạo lư này rồi mới biết cha con chí thân cũng chẳng có cách ǵ thay thế cho nhau, chính ḿnh phải hứng chịu.  Xem tiếp kinh văn:

 

          Ngă kim thừa Phật oai lực, lược thuyết địa ngục tội báo chi sự, duy nguyện nhân giả tạm thính thị ngôn.

          Nay tôi nương oai lực của đức Phật mà lược nói những sự tội báo trong địa ngục, mong Nhân Giả tạm nghe lời đó.

          Địa Tạng Bồ Tát rất khiêm nhường, nhưng trên thực tế Địa Tạng Bồ Tát rất vĩ đại!  Bạn coi khi pháp hội bắt đầu, mười phương chư Phật Như Lai đều đến tham dự, c̣n thù thắng hơn pháp hội Hoa Nghiêm.  Trong pháp hội Hoa Nghiêm chúng ta thấy, đương nhiên hết thảy chư Phật đều đến, các ngài chẳng dùng thân Phật mà hiện ra rất nhiều thân phận khác nhau đến tham dự.  C̣n trong pháp hội Địa Tạng th́ Phật dùng thân Phật đến thị hiện, hết thảy chư Phật đều tham dự pháp hội này.  Địa Tạng Bồ Tát là thầy của chư Phật, ngài ở đây rất khiêm tốn ‘Tôi nương nhờ oai lực của Phật, lược nói những sự tội báo trong địa ngục’.  Chẳng dám nói tôi biết những chuyện này.  Tôi biết những chuyện này quá rơ ràng, tôi nói cho bạn nghe th́ được rồi, người hiện đại chắc chắn sẽ có thái độ như vậy.  Đích thật ngài biết rất rơ ràng, cách nói này của ngài dạy chúng ta bất luận lúc nào cũng phải khiêm nhường, phải cung kính, phải nhẫn nhịn, đây là tánh đức.  Trong mỗi niệm đều phải hàng phục phiền năo tập khí của ḿnh, tham sân si mạn đều là phiền năo, là tạo tội.   Cho nên chúng ta thấy trong kinh, ngôn ngữ, thái độ, dụng ư của các ngài vô cùng sâu xa.  Phổ Hiền Bồ Tát là hạng người như thế nào, đều là Như Lai quay chiếc bè từ thị hiện.  ‘Duy nguyện Nhân Giả tạm nghe lời này’, câu này khiêm nhường, cung kính biết bao, đây là dạy chúng ta phải luôn khiêm nhường cung kính khi xử sự, đăi người, tiếp vật.

 

          Phổ Hiền đáp ngôn Ngô dĩ cửu tri tam ác đạo báo, vọng Nhân Giả thuyết lịnh hậu thế mạt pháp nhất thiết ác hạnh chúng sanh văn Nhân Giả thuyết, sử lịnh quy Phật.

          Ngài Phổ Hiền đáp rằng: “Tôi từ lâu đă biết tội báo nơi tam ác đạo, mong Nhân Giả nói ra để cho tất cả chúng sanh ác hạnh trong đời Mạt Pháp sau này, nghe được lời dạy của Nhân Giả mà quay về với Phật”

          Hai vị Bồ Tát này, một người hỏi, một người đáp, mục đích là dạy chúng ta [và] những chúng sanh đang tạo tội nghiệp, quay đầu là bến bờ, chân chánh quy y Tam Bảo.  Quy nghĩa là quay về, thật sự quay về, nương vào lời dạy của Phật mà sanh hoạt, nương vào lời dạy của Phật để làm việc, như vậy gọi là quy y.  Chúng ta nên làm theo những lời dạy trong kinh này, chúng ta hết ḷng nỗ lực để làm.  Những sự việc nào [đức Phật dạy] chẳng được làm th́ chúng ta nhất định phải dứt trừ, như vậy mới gọi là quy y Phật.

         

          Địa Tạng bạch ngôn, Nhân Giả địa ngục tội báo, kỳ sự như thị.

          Ngài Địa Tạng nói rằng: “Thưa Nhân Giả, tội báo ở địa ngục, việc ấy như vầy:

          Tiếp theo lại lược nói cho chúng ta mười bốn loại.

 

          Hoặc hữu địa ngục, thủ tội nhân thiệt, sử ngưu canh chi.

          Hoặc có địa ngục kéo lưỡi của tội nhân ra cho trâu cày lên

          Đây tức là địa ngục Kéo Lưỡi.

 

          Hoặc hữu địa ngục thủ tội nhân tâm Dạ Xoa thực chi.  Hoặc hữu địa ngục hoạch thang thạnh phất, chử tội nhân thân

          Hoặc có địa ngục moi tim tội nhân cho quỷ Dạ Xoa ăn.  Hoặc có địa ngục vạc nước sôi sùng sục nấu thân tội nhân.

          Tục gọi là Du Đỉnh, xuống vạc dầu.

 

          Hoặc hữu địa ngục xích thiêu đồng trụ, sử tội nhân băo.  Hoặc hữu địa ngục sử chư hỏa thiêu sấn cập tội nhân.  Hoặc hữu địa ngục nhất hướng hàn băng.  Hoặc hữu địa ngục vô hạn phẩn niệu.  Hoặc hữu địa ngục thuần phi tật lê.  Hoặc hữu địa ngục đa toàn hỏa thương.  Hoặc hữu địa ngục duy chàng hung bối .  Hoặc hữu địa ngục đăn thiêu thủ túc.  Hoặc hữu địa ngục bàn kiểu thiết xà.  Hoặc hữu địa ngục khu trục thiết cẩu.  Hoặc hữu địa ngục tận giá thiết loa. 

          Hoặc có địa ngục đốt trụ đồng nóng đỏ lên rồi bắt tội nhân ôm lấy.  Hoặc có địa ngục các bựng lửa đuổi theo tội nhân.  Hoặc có địa ngục toàn là băng giá.  Hoặc có địa ngục nhiều vô hạn phân tiểu.  Hoặc có địa ngục toàn là loại tật lê bay.  Hoặc có địa ngục có nhiều giáo lửa.  Hoặc có địa ngục chỉ đập ngực lưng.  Hoặc có địa ngục chỉ đốt tay chân.  Hoặc có địa ngục rắn sắt quấn cắn.  Hoặc có địa ngục xua đuổi chó sắt.  Hoặc có địa ngục toàn kéo la sắt.

          Danh hiệu của địa ngục phía trước có nói qua, ở đây là nói về những tội nhân thọ quả báo này, trạng huống họ thọ quả báo trong địa ngục.  Câu thứ nhất, quả báo này là nói lưỡi đôi chiều, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, tạo những tội nghiệp này, hủy báng Tam Bảo, phá hoại ḷng tin của người ta đối với Phật pháp, sau khi chết đọa vào địa ngục này.  Gọi là rút lưỡi, ngưu canh (trâu cày), đồng sôi đổ vào miệng, lá sắt trói buộc thân, trong các địa ngục này cầu sống không được, cầu chết cũng không xong.  Trong địa ngục chẳng phải thọ tội xong bèn chết đi, nếu chết đi th́ là siêu sanh rồi, họ chẳng chết nổi.  Trong địa ngục có ‘gió nghiệp’, gió này vừa thổi th́ họ bèn sống lại, sống lại để thọ tội tiếp, một ngày một đêm vạn lần chết đi, vạn lần sống lại.  Cứ như vậy măi cho đến khi tội báo của họ thọ hết, thời gian đều là dùng ‘kiếp’ để tính, vô số kiếp, thọ những khổ báo này.  Tội báo chưa thọ hết th́ vĩnh viễn chẳng thể thoát khỏi địa ngục.

          Nhưng tội báo là một việc rất phiền phức, thí dụ nói lời hủy báng Tam Bảo, đoạn mất ḷng tin của người ta, đến khi nào th́ nghiệp này mới tiêu hết?  Khi nào sức ảnh hưởng của lời bạn nói hoàn toàn mất hết th́ bạn mới có thể thoát ra khỏi địa ngục.  Nếu sức ảnh hưởng này c̣n tồn tại th́ bạn sẽ chẳng có cách chi thoát ra khỏi địa ngục.  Sức ảnh hưởng này thường kéo dài đến nhiều đời, hạt giống của ác duyên khởi tác dụng trong A Lại Da thức của họ, khi gặp Tam Bảo th́ họ liền hoài nghi, họ chẳng thể sanh khởi ḷng tin, sức ảnh hưởng này bao lớn.  Như hiện nay nói chuyện, nói xong c̣n thâu âm, c̣n đem băng thâu âm đi khắp nơi, hoặc bán, hoặc tặng kết duyên.  Nếu nội dung của lời nói của bạn phá hoại Tam Bảo, chỉ cần có một cuồn băng c̣n lưu lại trên thế gian này th́ bạn chẳng có cách chi thoát khỏi địa ngục.  Khi bạn viết thành văn, nếu thế gian c̣