HỌC VI NHÂN SƯ

HÀNH VI THẾ PHẠM

 

Những bài khai thị buổi sáng của

 Ḥa thượng Tịnh Không

Tập 1-3

Chuyển ngữ: Một nhóm Diệu Âm cư sĩ

Giảo chánh: Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa

學為人師

行為世

淨空老法師講述

早餐開示

越語譯本

Học vi nhân sư hành vi thế phạm

Tập 1

Ḥa thượng Tịnh Không thuyết giảng

Chuyển ngữ theo bản in của

Vân Lâm Tịnh Tông Học Hội, tháng 9-2003

 

Đây là những bài khai thị buổi sáng của ḥa thượng Tịnh Không cho đồng tu tại Hoa Tạng Đồ Thư Quán, chưa được ḥa thượng giám định.  Đây chỉ là những bài ghi chép tóm tắt của đệ tử Ngộ Hữu, chỉnh lư cho gọn rồi viết thành bài nháp này để cúng dường độc giả.

 

A. KHAI THỊ VỀ PHƯƠNG PHÁP TU TR̀     

(Buổi sáng 02-01-95)

 

1.    Tu phước và tu huệ.

Phước và Huệ là hai mục tiêu lớn trong việc tu học Phật pháp.  Lúc chúng ta làm lễ truyền thọ Tam Quy Y, trong lời thệ nguyện có câu ‘Quy y Phật, Nhị Túc Tôn’, ‘nhị’ ở đây là phước và huệ, ‘túc’ là đầy đủ, viên măn.  Do đó có thể biết thành Phật là tu học phước và huệ viên măn, được thế gian và xuất thế gian tôn kính.

Người trong thế gian xưa nay, trong nước và ngoài nước chẳng ai không cầu phước huệ, thiệt ra chúng sanh vốn sẵn có phước huệ, trong tự tánh vốn sẵn đầy đủ, hơn nữa c̣n viên măn rốt ráo.  Tại sao hiện nay phước huệ của chúng sanh chẳng c̣n nữa?  Phật nói chúng ta có hai thứ chướng ngại cản trở, đó là Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng.  Phiền Năo chướng ngại phước đức, Sở Tri chướng ngại trí huệ.  Người có Phiền Năo Chướng th́ phước đức chẳng có; người có Sở Tri Chướng th́ trí huệ chẳng c̣n nữa; cho nên chỉ cần dẹp bỏ hai chướng này th́ phước huệ liền hiện tiền.

Làm thế nào để tiêu trừ hai chướng ngại này?  Việc này phải nhờ tu đức.  Phước huệ  vốn là tánh đức, nếu chẳng có tu đức, phước huệ trong tự tánh chẳng thể hiển lộ, thế nên phải tu hành.  Làm thế nào để tu?  Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Phật dạy trước hết phải tu Tam Phước.  Nếu chúng ta chân chánh có thể tin tưởng, chân chánh có thể hiểu đạo lư này, chịu phát tâm tu học th́ tri kiến này là trí huệ chân thật; ai thật sự chịu làm th́ người đó có phước.

Mọi người đều biết ‘Tam phước’ nhưng tại sao chẳng làm được?  V́ nhận thức chẳng đủ, nhận thức chẳng đủ tức là chẳng có trí huệ.  Chúng ta nhận thức được một phần th́ gắng sức làm một phần.  Nhận thức được hai phần th́ tự nhiên làm được hai phần, người hoàn toàn chẳng chịu làm là người chẳng có phước huệ.  Từ điểm này có thể biết trên phương diện tu đức th́ tu huệ và tu phước là hai thứ bổ sung và thành tựu lẫn nhau.

Trong kinh điển đức Phật thường dạy: ‘Thọ tŕ, đọc tụng, v́ người diễn nói’.  Câu này là dạy chúng ta tu hành chân thực.  Đặc biệt là ‘v́ người diễn nói’, diễn là biểu diễn, là dạy cho chúng ta làm [ra thành tích] cho người ta xem.  ‘Nói’ tức là v́ người giảng giải, khuyên người học Phật, thế nên ‘diễn’ là thân giáo [lấy bản thân làm gương mẫu cho người], ‘nói’ là ngôn giáo.

 

2.  Sự quan trọng của định - huệ 

(Buổi sáng 03-01-95)

Mấu chốt của sự học Phật ở tại ‘định’ – ‘huệ’.  Kinh Kim Cang dạy: ‘Chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’ [1].  Định tức là như như chẳng động, huệ tức là chẳng chấp vào tướng.  Trong kinh Kim Cang đức Phật dạy Tu Bồ Đề quan trọng nhất là hai câu này.  Chúng ta cũng có thể dùng hai câu này để phản tỉnh, kiểm điểm ḿnh có trí huệ hay chăng, ḿnh có công phu hay chăng.

Nguyên nhân [khiến cho] học Phật chẳng thể thành tựu là v́ chẳng có định, chẳng có huệ.  Nói cách khác tức là mê hoặc điên đảo, trong kinh thường gọi là ‘người đáng thương xót’.  V́ lúc khởi tâm động niệm có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, lúc đối xử với người khác vẫn c̣n tham, sân, si, mạn, vẫn c̣n đố kỵ, tạo ra nghiệp nhân của ba ác đạo.  Bất luận là tham thiền, học kinh giáo, hay niệm Phật, có những hành vi này th́ chẳng có cách chi để thoát ly luân hồi, đích thực là phải ghi nhớ lời dạy của Huệ Năng đại sư: ‘Người tu đạo chân chánh chẳng thấy lỗi người khác’, phải thấy lỗi của ḿnh chứ chẳng thấy lỗi của người thế gian, đây là hai câu quư báu đại sư Huệ Năng dạy cho người đời sau.  Nếu chẳng dụng công nơi việc này, đời này cũng sẽ giống như những đời trước, nhất định cũng sẽ luống qua.  Tại sao lại luống qua?  V́ nhịn chẳng được.  Nếu chẳng nhẫn nhịn th́ làm sao có định?  Lục Ba La Mật cũng giống như đi lên sáu tầng lầu, nếu không lên tầng thứ ba th́ chẳng có cách chi lên đến tầng thứ tư, chỉ có bố thí, tŕ giới, chẳng có nhẫn nhục th́ làm sao tu hành thành công được?  Cho nên thứ tự tu học Lục Độ là có nhẫn nhục, tinh tấn, mới được thiền định, có được định và huệ th́ mới thành tựu.  Người có định và huệ th́ tâm lượng sẽ lớn, và sẽ tương ứng với tự tánh.

Niệm Phật văng sanh cũng vậy, chẳng đạt đến tầng thứ sáu th́ niệm Phật chẳng thể văng sanh.  Điều kiện thấp nhất của niệm Phật văng sanh là công phu thành phiến (thành khối), nếu chẳng có định - huệ th́ công phu làm sao thành phiến được.  Thành phiến nghĩa là thế nào?  Lục Tổ nói rất hay: ‘chẳng thấy lỗi của người thế gian’, đây tức là h́nh dáng của công phu thành phiến.  Vẫn c̣n thấy lỗi thế gian th́ nhất định công phu chẳng thành phiến, tại v́ trong tâm của bạn vẫn có phân biệt, chấp trước, vẫn c̣n chướng ngại.

Trong Niệm Phật đường vị sư chủ tŕ thường nói: ‘Buông xuống thân tâm thế giới’.  Nếu bạn buông không nổi th́ tâm sẽ chẳng thanh tịnh.  Nh́n từ thế gian pháp, nếu mọi người đều có thể thấy lỗi lầm của ḿnh, chẳng thấy lỗi người khác, mọi người trong thế gian sẽ có thể chung sống ḥa b́nh, làm sao thế giới c̣n đấu tranh nữa!  Xă hội nhất định sẽ tốt lành, may mắn, an ḥa, thế giới nhất định sẽ đại đồng!

Những ǵ trong kinh nói đến chẳng phải niệm qua một lần là có công đức đâu, quan trọng là phải làm được những điều ấy, chỉ đọc mà chẳng làm th́ không có ích ǵ cả.  Lục Tổ dạy rất hay: ‘Việc lớn sanh tử, phước chẳng thể cứu, phải có định - huệ mới có thể cứu; giải ngộ chẳng thể cứu, phải chứng ngộ mới cứu được’.  Lúc c̣n tại thế thầy Lư thường dạy: ‘Người tu hành phải cải tâm’ (cải tâm nghĩa là cải thiện tâm niệm).  Sửa đổi tâm rồi, hành vi tự nhiên sẽ thiện.  Nếu chỉ sửa đổi trên hành vi, chẳng sửa đổi trong tâm th́ chỉ là làm giả bộ bên ngoài, trong tâm vẫn c̣n vọng tưởng, chấp trước, cũng vẫn y như cũ, chẳng có ích chi, quan trọng là phải sửa đổi trong tâm.

 

3. Tổng cương lănh của việc tu hành    

(Buổi sáng 25-01-95)

Tổng cương lănh của việc tu hành chẳng qua chỉ là phá bỏ hai thứ chấp trước và đoạn phiền năo mà thôi.  Người Tiểu Thừa th́ v́ phá ngă chấp mà phá ngă chấp nên phương pháp của họ c̣n vụng về.  Dùng công phu thiền định thâm sâu để đè nén phiền năo, chấp trước, để cho nó chẳng khởi lên.  Sau khi chứng được Sơ quả th́ phải tới lui trong cơi Trời và cơi Người bảy lần nữa mới đoạn hết Kiến Tư Hoặc, xuất ly tam giới.

Phương pháp của Đại Thừa vô cùng khéo léo, dạy cho chúng ta phát Bồ Đề Tâm, chuyển phiền năo thành Bồ Đề, là dùng phương pháp chuyển biến.  Thiệt ra phiền năo chẳng thể đoạn được, tại v́ phiền năo là chỗ khởi dụng của tự tánh, nếu đoạn hết phiền năo th́ đương nhiên tự tánh cũng bị đoạn mất luôn[2].  Cho nên chỗ khởi dụng của tự tánh khi giác ngộ th́ gọi là Bồ Đề, khi mê th́ gọi là phiền năo, phiền năo và Bồ Đề là một sự việc, chỉ khác nhau ở chỗ mê hay ngộ.  Thế nên phương pháp tu hành của Đại Thừa là chuyển mê thành ngộ; có thể chuyển mê thành ngộ tức là có thể chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn.  Đại Thừa dùng phương pháp chuyển biến là tuyệt đối chính xác, đối với lư và sự đều tương ứng.  Chỗ này cũng nói rơ người Đại Thừa cao minh hơn Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa chẳng có trí huệ nên phải dùng cách đè nén; người Đại Thừa có trí huệ nên chuyển biến [3] trở lại.

Gương mẫu tu học của Đại Thừa là năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm.  Năm mươi ba lần tham vấn này gồm có mọi người trong các ngành nghề, nam nữ già trẻ, thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều tu Bồ Tát hạnh, vả lại c̣n là hạnh Bồ Tát cao cấp -- Phổ Hiền hạnh. Thế th́ chúng ta rốt cuộc có học được hay chưa? Trong sanh hoạt mỗi ngày từ sáng đến tối có phải chúng ta đang tu Bồ Tát hạnh hay không? Có tu hạnh Phổ Hiền không? Nếu có th́ mới hy vọng thành Phật, nếu không th́ vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Phải tu học như thế nào?  Dùng những điểm chính yếu để nói th́ là làm thế nào áp dụng Lục Độ vào trong đời sống hằng ngày.  Làm được Lục Độ trong sanh hoạt th́ bạn sẽ là Bồ Tát, nếu làm được mười nguyện trong sanh hoạt th́ bạn sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát rồi đó.  Nên biết cội gốc của Đại Thừa là phát Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâm là ǵ?  Tức là độ hết thảy chúng sanh.  Dùng ngôn ngữ ngày nay th́ độ hết thảy chúng sanh nghĩa là dốc toàn tâm, dốc hết sức để giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, tâm ấy là tâm Bồ Đề.

Làm thế nào để thực hiện?  Lục Độ và Thập Nguyện là phương pháp.  Phải thực hiện Lục Độ và Thập Nguyện trong đời sống, sự nghiệp, đó tức là hành Bồ Tát đạo.  Lục Độ tức là Bồ Tát đạo, Thập Nguyện tức là Phổ Hiền Bồ Tát đạo.  Việc hành Phổ Hiền hạnh nói trong kinh Vô Lượng Thọ nghĩa là tu Thập Nguyện vương.

‘Bố thí’ nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là ‘hy sinh, cống hiến’.  Tự ḿnh chịu hy sinh, chịu cống hiến cho đại chúng, chịu cống hiến cho đoàn thể.

‘Tŕ giới’ tức là tuân giữ pháp luật, tuân giữ luật lệ, quy củ.

‘Nhẫn nhục’ tức là nhẫn nại.  Phải biết nhẫn nại trong công việc, đặc biệt là những sự việc liên quan đến người khác; chúng sanh có phiền năo, ân oán, bất b́nh tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay.  Chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp được nên phải nhẫn nhịn; đối với hoàn cảnh tự nhiên cũng phải biết nhẫn nhịn.

‘Tinh tấn’ tức là cầu tiến bộ.  Không thể nào ‘dậm chân tại chỗ’ hoài, lưu lại trong một phạm vi, một giới hạn hoài.  Có rất nhiều đại đức học Phật, tu tŕ tuy rất tốt, nhưng không thể hoằng pháp lợi sanh, nguyên nhân ở tại chỗ nào?  Họ cứ ‘dậm chân tại chỗ’, không chịu tinh tấn.  V́ thời đại bất đồng cho nên ư thức, h́nh thái, phương thức sinh hoạt của chúng sanh cũng không giống nhau.  Trong thời đại nào có phương pháp hoằng pháp của thời đại đó, cũng có phương pháp thực hiện Lục Độ, Thập Nguyện của thời đại đó, cứ giữ chặt phương pháp thời xưa là không được.  Sau khi Phật pháp từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc liền thay đổi rất nhiều; cách sinh hoạt hằng ngày lúc trước [ở Ấn Độ] là đi tŕ bát (khất thực), ngủ dưới gốc cây, mỗi ngày ăn một bữa mà thôi.  Sau khi truyền đến Trung Quốc th́ tiếp nhận sự cúng dường của các vị đồng tu tại gia nên chẳng tŕ bát nữa, tất cả hoàn cảnh sinh hoạt đều thay đổi.  Thế nên phải thích ứng với những nguyên tắc ‘hiện đại hoá, địa phương hóa, sanh hoạt hóa’.  Đây mới là ư nghĩa chân chánh của sự tinh tấn.  Chúng ta phải suy nghĩ từ phương diện này – trong sanh hoạt thường ngày làm thế nào để cầu Giác, cầu Huệ, tu Lục Độ, Thập Nguyện.  Khi chư vị xem kỹ năm mươi ba lần tham vấn th́ sẽ hiểu rơ đạo lư này.

‘Thiền định’  tức là tự ḿnh làm chủ được ḿnh, có cách nh́n của ḿnh, chẳng bị ngoại cảnh lay động, đó là thiền định.

‘Bát nhă’ tức là đối với hết thảy những điều thiệt - giả, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác của người, sự, vật đều hiểu rơ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo.  Như vậy chính là trí huệ Bát Nhă.

Thế nên nếu có thể thực hiện Lục Độ, Thập Nguyện trong đời sống của ḿnh th́ bạn sẽ vui vẻ.  Bất luận làm công việc ǵ th́ cũng là tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo.  Người hành Bồ Tát đạo này sẽ tràn đầy pháp hỷ, đây tức là chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển mê hoặc thành giác ngộ.

Phàm phu thế gian nếu cảm thấy bị áp lực trong công việc làm của ḿnh th́ sẽ khổ chẳng thể nói nổi, luôn luôn than phiền, có tâm trạng ấy th́ nhất định phải luân hồi trong lục đạo.  Pháp Bồ Tát Đại Thừa cao minh, vừa chuyển biến tâm niệm th́ đă thành Bồ Tát.  Họ biết làm việc cần cù là để kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh, là để thành tựu Bố Thí Ba La Mật cho ḿnh.  Cho nên khi tâm niệm vừa chuyển th́ khoái lạc vô cùng, hạnh phúc vui vẻ, liền được thoát khổ.

Nếu cảm thấy chẳng thể ḥa đồng khi sinh hoạt cùng đại chúng th́ đó là tự ḿnh đang sanh phiền năo, chứ chẳng phải là đang học Phật.  Học Phật là đem những cành lá tạp nhạp này dung ḥa trở lại, làm cho nó hóa giải hết.  Những cảnh giới này từ nội tâm của ḿnh phát sanh nên cũng phải hóa giải từ nội tâm của ḿnh, thế nên Phật pháp được gọi là ‘Nội Học’.  Phật pháp chẳng phải mong cầu nơi người khác mà là cầu nơi ḿnh, mọi người đều có thể hướng vào trong mà khai phát tự tánh của ḿnh, cái đoàn thể này mới gọi là ‘Tăng đoàn’.

Giới luật trong Phật pháp được dùng để yêu cầu chính ḿnh chứ chẳng phải yêu cầu kẻ khác, đây là một cách rất cao minh, chẳng giống với pháp luật thế gian dùng để kềm chế đại chúng.  Thế nên phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư, phải ‘thường thấy lỗi của ḿnh, chẳng thấy lỗi của thế gian’, được vậy th́ tâm sẽ chuyển biến thực sự, hướng vào trong và quán chiếu.

Căn bịnh lớn của chúng sanh là ‘chẳng thấy lỗi của ḿnh, chuyên thấy lỗi của kẻ khác’.  Chuyên thấy lỗi của kẻ khác th́ sẽ tăng trưởng phiền năo, sẽ chẳng có cách chi để hướng vào trong mà quán chiếu.  Nếu chúng ta chỉ lo hướng vào trong mà quán chiếu, chẳng đếm xỉa đến sự dụ hoặc của ngoại cảnh, ‘chiếu’ như vậy là trí huệ, có thể hoá giải hết phiền năo, tập khí.

Chúng ta đọc Lục Tổ Đàn Kinh sẽ hiểu tại sao những người biết dụng công giống như Lục Tổ đại sư trong nhà bếp xay gạo, chẻ củi, làm những việc nặng nhọc mà khai ngộ.  Tại sao vậy?  V́ khi xay gạo, chẻ củi họ có đầy đủ Lục Độ, Thập Nguyện, nên trong lúc xay gạo, chẻ củi họ tu được hết Lục Độ, Thập Nguyện.  Những người chẳng biết dụng công dù mỗi ngày tĩnh tọa tham thiền trong Thiền đường cũng không thể khai ngộ, phiền năo tập khí vẫn c̣n cả đống.  Nếu chúng ta biết tu th́ lúc rửa chén, lau bàn, hết thảy Lục Độ, Thập Nguyện đều đầy đủ, vậy th́ làm sao chẳng hoan hỷ chứ? Người không biết dụng công sẽ nghĩ rằng những công việc này quá cực nhọc. Thế nên chuyển cảnh giới tức là chuyển tâm -- chuyển biến tâm lư, thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi quan niệm.  Sự sai khác giữa người biết tu và chẳng biết tu là ở tại chỗ này.

Pháp sư Đàm Hư trong phần sau của quyển Niệm Phật Luận kể chuyện bà họ Trương ở Thanh Đảo, chùa Trạm Sơn, bà tu hành như thế nào?  Mỗi ngày chủ nhật chùa Trạm Sơn có khóa tu niệm Phật, bà vào nhà bếp rửa chén.  Chồng bà làm nghề kéo xe chở khách, chẳng ai coi trọng bà, thoạt nh́n bà chỉ rửa chén trong bếp, nhưng thực sự lúc đó bà đang tu Lục Độ, Thập Nguyện.  Cho nên bà có thể dự biết ngày giờ ra đi, ngồi mà văng sanh.  Nếu bà chẳng tu tập như vậy th́ làm sao có thành tựu như thế?  Chỉ có người tu hành mới có thể nh́n biết [ai là] người chân chánh tu hành, người thường trong thế gian chẳng nh́n thấy.  Người thế gian chỉ thấy bà là một người chẳng biết chữ, dốt nát, nghe kinh cũng chẳng hiểu, là một người chuyên giúp kẻ khác làm những công việc nặng nhọc.  Họ đâu biết người như bà mới đáng gọi là người chân tu, thành tựu của những kẻ nghe kinh, tham thiền chẳng sánh bằng bà.  Thế nên phải chân tu, phải hiểu lư, phải thực hiện các nguyên tắc, cương lănh tu hành ngay trong đời sống thường ngày.

 

4. Công phu niệm Phật  (Buổi sáng 26-01-95)

Có thể vận dụng lư luận của kinh Kim Cang vào trong pháp môn Tịnh Độ chính là câu ‘phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’ trong kinh Vô Lượng Thọ.  Cả bộ kinh Kim Cang dạy chúng ta phát Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâm là căn bản, các pháp môn Đại Thừa đều được xây dựng trên cơ sở của Bồ Đề tâm.  Chỉ cần phát được tâm Bồ Đề th́ bất luận tu học pháp môn nào cũng sẽ thành tựu, người niệm Phật cũng sẽ nhất định văng sanh. Lư do chính niệm Phật chẳng thể văng sanh là v́ chẳng phát Bồ Đề tâm nên tuy có ‘một hướng chuyên niệm’ cũng chẳng thể văng sanh. Người xưa nói:‘Một ngày niệm mười vạn Phật hiệu, hét bể cổ họng cũng uổng công’. Tại sao chẳng được? Tại v́ ‘Tâm tịnh th́ cơi tịnh’, tâm phải tịnh th́ mới văng sanh được.

Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: ‘Phẩm vị văng sanh cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn, chẳng phải là Phật hiệu nhiều hay ít’.  Sâu hay cạn là nói về cái ǵ?  Là nói đến tâm thanh tịnh.  Công phu niệm Phật có thể chia thành ba tầng – Lư Nhất Tâm Bất Loạn là sâu nhất, kế đó là Sự Nhất Tâm Bất Loạn, sau cùng là Công Phu Thành Phiến.  Nếu chẳng có công phu bậc này, niệm nhiều hơn bao nhiêu cũng chẳng được văng sanh.  Công phu thành phiến là như thế nào?  Tức là tâm thanh tịnh,  trong tâm chẳng có xen tạp, chẳng có vọng niệm, chỉ chuyên chú trên một câu Phật hiệu, chuyên chú tại y báo, chánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang tức là tiêu chuẩn của Lư Nhất Tâm bất loạn. Nhưng Lư Nhất Tâm bất loạn cũng có sâu cạn khác nhau. Kinh Kim Cang nói: ‘Hết thảy hiền thánh đều do Vô Vi pháp mà có chỗ sai khác’.  Hết thảy hiền thánh là tam hiền, thập thánh, tức là bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ nói trong kinh Hoa Nghiêm, họ đều đạt đến Lư Nhất Tâm. Tuy cùng đạt đến Lư Nhất Tâm bất loạn, công phu vẫn c̣n sâu cạn khác nhau, nhưng đến khi cứu cánh viên măn th́ đều thành Phật.

Những thứ này đều là nói về ‘Tự Phần’ – công phu của tự ḿnh, chưa nói đến sự gia tŕ của A Di Đà Phật.  Nếu luận về sự gia tŕ của A Di Đà Phật th́ mọi người đều b́nh đẳng.  Đây là sự khác biệt giữa Cực Lạc thế giới và tha phương thế giới, Cực Lạc thế giới có Phật lực gia tŕ.  Nếu tự ḿnh chịu nỗ lực, công phu của ḿnh đă đắc lực, phẩm vị tăng lên, đến Tây phương Cực Lạc thế giới thành Phật sẽ nhanh hơn; người văng sanh mà phẩm vị Tự Phần hơi thấp tuy cũng được Phật lực gia tŕ nhưng sẽ viên măn thành Phật chậm hơn.  Cũng tức là thời gian đạt đến viên măn Bồ Đề có sự nhanh chậm khác nhau.

 

5. Xung đột  (Buổi sáng 26-01-95)

Xung đột giữa người với người ở tại chỗ nào?  Ở chỗ lợi hại (quyền lợi).   Chúng ta đối với người chẳng có lợi hại th́ sẽ rất dễ tiếp xúc, đối đăi lẫn nhau, thiệt có thể làm được ‘chẳng tranh với người, chẳng cầu với đời’.  Trong kinh Kim Cang có hai câu: ‘Chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’, làm được vậy th́ mới giống một người tu hành.

Mọi người tụ lại ở một chỗ nhất định phải có một mục tiêu phương hướng chung để cùng nhau nỗ lực, đây là một khái niệm cơ bản.  Ngoài ra c̣n phải đồng tâm hiệp lực, nỗ lực v́ Phật giáo, v́ chúng sanh, nhất định phải buông bỏ lợi ích cá nhân.  Chẳng kể là xuất gia hay tại gia đều nên buông xuống, nếu buông xuống chẳng nổi th́ đây sẽ là một chướng ngại to lớn.  Đương nhiên chướng ngại nghiêm trọng nhất là chướng ngại ḿnh, không những ḿnh không thể thành tựu, cho đến việc văng sanh, khai ngộ, thậm chí đến việc đạt được niệm Phật tam muội cũng không chắc, bởi vậy nên nhất định phải buông xuống.

Tu hành thiệt ra chẳng phải là một việc dễ dàng, người chân chánh muốn tu hành trong một đoàn thể phải tập tánh khiêm nhượng, học khách sáo, học nhường nhịn.  Khổng Lăo Phu Tử dạy chúng ta phải giữ lễ, lễ là ǵ?  Lễ là tự ty [hạ thấp ḿnh] và tôn trọng người khác.  Phải giảm bớt sự xích mích, giảm bớt xung đột, luôn luôn nhường nhịn, như vậy mới có thể thành công, lập đại nghiệp.

Người quá nổi danh sẽ bị đố kỵ, đây cũng là hiện tượng b́nh thường v́ con người là phàm phu, đố kỵ và sân hận là tập khí từ vô lượng kiếp đến nay, nếu chẳng có những tập khí này th́ họ đă là Phật, Bồ Tát tái lai rồi.

 

6. Tâm Phật  (Buổi sáng 26-01-95)

Bất cứ lúc nào chúng ta cũng phải giữ tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi.  Thường thường dùng tâm này để kiểm điểm và phản tỉnh; chúng ta có tâm này hay không?  Có tâm này tức là tâm Phật, mới có tư cách học Phật, mới có tư cách văng sanh.

Trong lúc xử sự, đăi người, tiếp vật, tu hành phải nắm giữ những nguyên tắc này: nh́n thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, phải niệm Phật.  Nếu có thể giữ chặt những nguyên tắc cơ bản này th́ sẽ chẳng sai lầm.  Thật sự có thể nắm lấy th́ hết thảy sự việc của ḿnh đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài.  Đây là lời Chương Gia đại sư dạy tôi lúc trước: ‘Một người chân chánh muốn học Phật, chân chánh là người muốn hoằng pháp lợi sanh th́ đừng lo lắng suy nghĩ về tương lai, sanh hoạt của ḿnh, chư Phật sẽ hộ niệm, thần hộ pháp sẽ chiếu cố, lo lắng cho bạn’  Việc ǵ cũng chẳng cần phải suy nghĩ, một ḷng một dạ làm theo lời dạy trong kinh điển, Phật pháp coi trọng thực hành, nếu có thể làm được th́ sẽ tương ứng, làm chẳng được th́ sẽ chẳng có tương ứng (cảm ứng).

 

7. Chấp tướng   (Buổi sáng 29-01-95)

Tâng bốc, khen ngợi ḿnh, hạ thấp người khác trong Du Già Giới Bổn là một giới nặng nhất -- giới tự tán hủy tha.  Trong Phạm Vơng Giới Bổn th́ thấp hơn bốn giới trọng.  Tại sao lại nặng như vậy.  V́ chấp tướng.  Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang nói chấp bốn tướng th́ chẳng phải Bồ Tát.  Nếu cống cao ngă mạn, cứ nghĩ ḿnh đúng, cứ nghĩ ḿnh hạng nhất th́ tiêu tùng rồi, cho dù làm được rất nhiều việc tốt th́ cũng là phước báo hữu lậu của thế gian, đối với việc liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng có liên quan ǵ hết.

Chúng ta học Phật, đặc biệt là người xuất gia, một ḷng một dạ phải muốn thoát ly tam giới, đây là phương hướng, mục tiêu chung.  Hết thảy danh văn lợi dưỡng, vinh hoa phú quư trong thế gian đều phải buông bỏ sạch sành sanh từ trong tận đáy ḷng, phải niệm niệm v́ Phật pháp, v́ chúng sanh, v́ muốn tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phật và mười phương chư Phật.  Nếu niệm niệm vẫn c̣n một cái ‘Ta’ tồn tại th́ sẽ tương ứng với ma.  Chỗ khác nhau của ma và Phật tức là niệm niệm của ma đều v́ tự ḿnh.

8. Nhường nhịn    (Buổi sáng 30-01-95)

Người xưa nói: ‘Xử sự khó, đối xử với người c̣n khó hơn’.  Con người là phàm phu, tâm người biến đổi muôn vàn, tâm niệm của phàm phu thay đổi tùy theo cảnh giới th́ giao thiệp, tiếp xúc đương nhiên sẽ khó khăn, nguyên tắc duy nhất chính là nhường nhịn.  Phải mở rộng tâm lượng của ḿnh, tập tánh dung ḥa, tập nhường nhịn, tránh hết thảy xung đột, va chạm, hộ tŕ tinh thần giới luật của đạo tràng -- Lục Ḥa Kính.  Hộ tŕ Lục Ḥa Kính tức là nhường nhịn, nếu chẳng thể nhẫn, chẳng thể nhường th́ ḥa kính sẽ bị phá hoại, trong giới luật gọi là ‘phá ḥa hợp tăng’.  Tội phá ḥa hợp tăng là một trong năm tội ngũ nghịch, đây là nghiệp nhân đọa địa ngục A Tỳ.  Trong năm tội ngũ nghịch, bốn tội kia chẳng dễ phạm đến, chỉ có tội này dễ phạm nhất, vả lại c̣n phạm một cách vô cớ [phạm rồi mà người đó chẳng hay biết], chỉ có người một ḷng hướng về đạo, người có thể nhường nhịn mới tránh khỏi mà thôi.

Giống như lời của Lục Tổ: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh th́ chẳng thấy lỗi của người khác’.  Họ chỉ v́ việc lớn sanh tử nên luôn giữ tâm cảnh giác cao độ.  Một ḷng một dạ muốn liễu sanh tử, xuất tam giới, hết thảy việc trong thế gian đều chẳng liên can ǵ với họ.  Cảnh thuận, cảnh nghịch ǵ cũng tùy thuận v́ họ coi việc liễu sanh tử là quan trọng nhất.  Người niệm Phật chúng ta đem việc văng sanh làm việc quan trọng hàng đầu, trừ việc cầu văng sanh chẳng có việc ǵ khác đáng giữ trong tâm.

Người chân chánh từ bi gặp đồng tham đạo hữu vi phạm quy củ, phá giới, làm việc ác, không những phải bao dung nhẫn nại mà c̣n phải dùng trí huệ, thiện xảo cảm hóa họ, như vậy mới là đại từ đại bi.

 

9. Giải hành tương ứng  (Buổi sáng 30-01-95)

Xây dựng đạo tràng, hộ tŕ đạo tràng nhất định phải giải hành tương ứng.  Giảng kinh thuyết pháp là Giải môn, lănh chúng tu hành là Hành môn, cả hai đều quan trọng, cả hai đầy đủ mới là một đạo tràng hoàn chỉnh.  Nhưng người tu hành có đầy đủ giải và hành từ xưa đến nay rất hiếm, nếu cả hai đều chẳng đủ th́ thà chọn Hành môn, chẳng cầu Giải môn.

Chọn hành môn, tức là cảm thấy ḿnh chẳng hiểu, chẳng biết ǵ cả, việc ǵ cũng chẳng sánh bằng người khác, người như vậy sẽ rất khiêm tốn, chịu chắc thật niệm Phật, thông thường người như vậy sẽ được văng sanh phẩm vị rất cao.  Người có Giải nhưng chẳng có Hành th́ hoàn toàn tương phản, họ cống cao ngă mạn, cứ nghĩ ḿnh giỏi nhất, cứ coi thường việc tu hành, sẽ chẳng thể văng sanh.

Lănh chúng tu hành là công việc tự lợi, lợi tha, quan trọng nhất là phải chân thành, chân thật, tự ḿnh có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm cung kính, tâm từ bi th́ sẽ thành công.

 

10. Phương pháp niệm Phật (Buổi sáng 30-01-95)

Tu hành dụng công muôn vàn phải ghi nhớ chẳng thể coi việc khởi vọng tưởng thành quán chiếu.  Nhưng lúc mới bắt đầu học, đích thực là có dùng tâm ư thức, nếu quán chiếu đắc lực th́ vọng tưởng và phiền năo sẽ giảm bớt, trí huệ sẽ tăng trưởng, việc này cho biết việc tu hành của ḿnh đă đi đúng đường.  Nếu vẫn c̣n vọng tưởng, phiền năo chẳng đoạn hết th́ chứng minh công phu quán chiếu của ḿnh chẳng đắc lực, đây là chỗ khó khăn của phương pháp tu hành thông thường.

Phương tiện của Tịnh Độ Tông là dùng tâm ư thức chuyển thành tŕ danh hiệu, công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn, danh hiệu đích xác là chân thật nên dùng vọng tâm, tâm ư thức để tŕ danh hiệu chân thật này, vọng tâm này tức là chân tâm.  Đây là chỗ thù thắng của pháp môn niệm Phật, cũng là chỗ hết thảy pháp môn khác chẳng có, thế nên mới gọi pháp môn này là pháp môn phương tiện hạng nhất.

Bất cứ lúc nào, chỗ nào đều có thể quy về danh hiệu này, cho đến khi công phu thành phiến, tŕnh độ này cũng giống như tŕnh độ ‘quán chiếu’ trong Tông Môn.  Nếu có thể niệm đến Sự nhất tâm bất loạn tức là ‘chiếu trụ’.  Niệm đến Lư nhất tâm bất loạn tức là ‘chiếu kiến’.  Thế nên cổ đức thường nói: ‘pháp môn niệm Phật thầm hợp đạo nhiệm mầu’[4].  Đạo diệu tức là minh tâm kiến tánh, rất nhiều người dùng phương pháp này đắc được định, kiến tánh.  Cho dù chẳng được định, chẳng kiến tánh, cũng có thể văng sanh.  Tổ sư đại đức cũng nói:

‘Gặp được Di Đà th́ lo ǵ chẳng khai ngộ’

(Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất khai ngộ).

Khai ngộ tức là minh tâm kiến tánh, một khi văng sanh th́ tuyệt đối sẽ khai ngộ, sẽ kiến tánh.  Điểm thù thắng của pháp môn Tịnh Độ là ở tại chỗ này.

Nhưng nguyên tắc tu học của pháp môn Tịnh Độ là phải ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’.  ‘Một hướng’ tức là một phương hướng, một ḷng một dạ.  Bồ Đề tâm là ǵ?  Ngoài cái tâm ḿnh nhất quyết cầu văng sanh c̣n phải dùng những thiện xảo phương tiện giới thiệu pháp môn niệm Phật cho người khác, đây tức là Bồ Đề tâm.  V́ chúng ta hiểu rơ chỉ có pháp môn này có thể đoạn phiền năo, xuất tam giới, có thể bất thoái thành Phật.

Cho nên việc lớn nhất suốt cả đời của người tu học Tịnh Độ là tự ḿnh cầu sanh Tịnh Độ, giới thiệu pháp môn niệm Phật cho người khác, tự hành hóa tha.  Trừ việc này ra chẳng c̣n tâm niệm nào khác nữa, như vậy gọi là ‘phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’.  Có tâm nguyện như vậy th́ hành tŕ nhất định sẽ văng sanh.  Tuy chẳng dồn sức để đoạn phiền năo, vọng tưởng, nhưng nó sẽ từ từ giảm bớt, trí huệ sẽ tự nhiên tăng trưởng hằng ngày.

 

11. Nguyên tắc tu hành  (Buổi sáng 01-02-95)

Việc quan trọng nhất trong việc tu hành là nắm lấy cương lănh, giữ chặt nguyên tắc, công phu sẽ dễ đắc lực.  Cương lănh, nguyên tắc tức là ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’.  Nhất định phải hiểu tường tận đạo lư và ư nghĩa của hai câu này, phải thực hành theo ‘Nguyên tắc phải tuân thủ của đồng học Tịnh Tông’, đó là Tam Phước, Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện.  Nhất định phải ứng dụng trong đời sống hằng ngày, đây tức là tự hành hóa tha.

[Nội dung của tác phẩm] tiết lục (trích lục, trích đoạn và ghi chép lại) sách ‘Yếu Lược Sa Di Luật Nghi’ bao gồm những điểm chính của năm khoa mục nêu trên, thế nên ‘Nguyên tắc tu hành’ là thuộc về Hạnh Kinh.  Kinh có bốn thứ là Giáo, Lư, Hạnh, Quả.  ‘Hạnh Kinh’ là [những ǵ đức Phật] muốn chúng ta thật sự làm được.  Chúng ta thực sự có thể dùng tâm ‘chân thành, cung kính’ để tu học, phục vụ chúng sanh, nhất định sẽ được pháp hỷ sung măn, sẽ được tâm thanh tịnh.  Có thể dùng tâm chân thành, tâm cung kính để phục vụ hết thảy chúng sanh chính là tu học Đại Thừa.

Trong pháp Đại Thừa, viên măn cứu cánh nhất là ‘Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh’.  Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát là ǵ?  Tức là Lễ Kính Chư Phật, Xưng Tán Như Lai, Quảng Tu Cúng Dường, Sám Hối Nghiệp Chướng, Tùy Hỷ Công Đức, Thỉnh Chuyển Pháp Luân, Thỉnh Phật Trụ Thế, Thường Tùy Phật Học, Hằng Thuận Chúng Sanh, Phổ Giai Hồi Hướng.  Những hạnh này đều nằm trong sinh hoạt hằng ngày.  Lễ kính nhất định phải bao gồm chân thành, cung kính; xưng tán nhất định phải pháp hỷ sung măn; rộng tu cúng dường tức là phục vụ hết thảy chúng sanh.  Thế nên Phổ Hiền hạnh bao gồm phạm vi rất rộng lớn, chẳng phải chỉ là lấy một chút tiền bỏ vào bao giấy đỏ là cúng dường đâu, quan điểm này là sai lầm.

Bồ Tát đạo và tinh thần của Phật pháp Đại Thừa chính là rộng tu cúng dường, rộng độ chúng sanh.  Kinh Kim Cang nói: ‘Ta làm cho hết thảy chúng sanh đều nhập Vô Dư Niết Bàn để diệt độ’[5].  Nói theo cách bây giờ th́ là: ‘Tận tâm tận lực giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ’.  Kết quả của việc phá mê khai ngộ tự nhiên sẽ là ĺa khổ được vui.  ‘Mê, phải giúp họ phá hết; Ngộ, phải giúp họ viên măn’, đây tức là thành Phật, tức là ‘nhập Vô Dư Niết bàn, nhi diệt độ chi’.  Nếu chẳng sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới mà tu hành ở thế giới này, hoặc tu hành tại mười phương cơi Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp mới viên măn.  Nếu có người hỏi tại sao phải chọn Tịnh Độ?  Chúng ta có thể nói với họ: ‘Là v́ sợ luân hồi, sợ sanh tử, sợ dày ṿ, sợ chướng ngại, và v́ tự lợi lợi tha đạt đến viên măn nên mới quyết định cầu sanh Tịnh Độ’.

Sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới chính là như trong kinh có nói: ‘Hết thảy khổ nạn đều ĺa khỏi’.  Hơn nữa có thể trong thời gian ngắn viên măn thành tựu Phật quả.  Trí huệ đức năng viên măn hiện tiền, sau đó mới trở lại chín pháp giới rộng tu cúng dường, phục vụ cho chúng sanh th́ sẽ chẳng có chướng ngại nữa, đây tức là việc nhà Phật thường nói: ‘thừa nguyện tái lai’.

 

12. Phát bồ đề tâm, một hướng chuyên niệm  (Buổi sáng 02-02-95)

Người niệm Phật ít nhất phải hiểu rơ tám chữ ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’.  Nếu chẳng hiểu rơ tám chữ này th́ chẳng thể nào niệm được tốt, công phu sẽ chẳng được đắc lực.  Không những chẳng thể chuyển cảnh giới, mà vẫn bị cảnh giới chuyển như cũ; bị cảnh giới chuyển tức là tiếp tục luân hồi lục đạo.  Nếu có thể chuyển cảnh giới th́ nhất định sẽ được văng sanh, cho nên tám chữ này vô cùng quan trọng.

Bồ Đề tâm là ǵ?  Làm thế nào phát?  Kinh Kim Cang nói: ‘Sanh tâm’, Sanh tâm tức là phát tâm, sanh tức là sanh khởi, ư nghĩa giống như phát khởi.  Cư sĩ Giang vị Nông trong cuốn Kim Cang Giảng Nghĩa nói: ư nghĩa của chữ ‘sanh’ sâu và rốt ráo hơn chữ ‘phát’.

Một hướng chuyên niệm, một hướng có nghĩa hẹp và nghĩa rộng.  Nghĩa hẹp là niệm niệm đều hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới.  Một phương hướng, hướng về Tây phương Tịnh độ, như vậy mới có thể văng sanh, đây là thuộc về ‘sự’, có thể đạt được Sự nhất tâm.  Nói theo nghĩa rộng, ‘nhất’ là Nhất Chân pháp giới, hướng về Nhất Chân pháp giới.  Phàm phu, Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát chẳng biết Nhất Chân pháp giới, chẳng nhập vào Nhất Chân pháp giới nên vọng tưởng, chấp trước, chướng ngại trùng trùng.

Nhất chân pháp giới ở tại đâu?  Thiệt ra, chẳng nơi đâu chẳng phải, chẳng lúc nào chẳng phải [là Nhất Chân Pháp Giới].  Người hiện nay ưa nói về ‘đột phá’.  Nhất chân th́ sẽ đột phá hết thảy.  Các khoa học gia và triết học gia trong thế gian tư duy, tưởng tượng, cảm nhận về thời gian và không gian, đặc biệt là thời gian không gian nhiều chiều, tức là không gian bốn chiều, không gian năm chiều, sáu chiều, … cho đến không gian vô số chiều, trên thực tế tức là ‘pháp giới’ nói trong nhà Phật.  Pháp giới chia một cách đại khái th́ có mười pháp giới, nếu chia nhỏ ra th́ thành vô lượng vô biên, cách nói này rất kề cận với không gian vô số chiều.  Những hiện tượng này đều là từ vô minh, bất giác sanh ra, nếu có thể đột phá từng tầng th́ có thể nh́n thấy Nhất Chân pháp giới; khi nh́n thấy Nhất Chân pháp giới th́ thành Phật rồi, như nhà Thiền nói ‘kiến tánh thành Phật’.  Nhất Chân tức là chân tánh, chân tâm.  Phật nói hết thảy vạn pháp duy tâm hiện, thập pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm (không gian nhiều chiều) là do duy thức biến.  Có thể nương vào phương hướng này một hướng chuyên niệm th́ sẽ được Lư nhất tâm bất loạn, đây gọi là ‘biết niệm Phật’, công phu dễ đắc lực.

Hiện tượng công phu đắc lực tức là vọng tưởng, phiền năo, phân biệt, chấp trước sẽ ngày càng giảm bớt, trí huệ ngày càng tăng trưởng, tâm địa ngày càng thanh tịnh, tự tự nhiên nhiên sẽ buông xuống.  Họ từ bi, họ chịu niệm Phật, đây đều là hiện tượng công phu đắc lực.  Trong đời sống hằng ngày những hiện tượng này của chúng ta chẳng thể hiện tiền tức là c̣n mê hoặc điên đảo rất nặng cho nên công phu chẳng thể đắc lực.

Lời nói của Phật, câu nào câu nấy cũng đều chân thực.  Kinh Kim Cang nói: ‘Phàm hết thảy các tướng đều là hư vọng’.  Hết thảy tướng đích thực là hư vọng, là mộng, huyễn, bọt, bóng.  Nếu ở trong đó khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước, như vậy tuyệt đối là sai lầm.  Nghĩ trong đó có thể có cầu, có được th́ tuyệt đối là vọng tưởng.  Có những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước này bày trước mặt là chướng ngại to lớn.  Không những chướng ngại chứng đạo, văng sanh, c̣n chướng ngại công phu đắc lực.  Những thứ chướng ngại này đều do tự ḿnh tạo thành nên vẫn phải do ḿnh tự giải trừ, bất cứ người nào cũng chẳng thể giúp ḿnh giải trừ, cho dù là Phật, Bồ Tát cũng chẳng có năng lực ấy.

 

13. Làm thế nào mới được văng sanh   

(Buổi sáng 03-02-95)

Trong cả đời tu học nếu người tu hành chẳng thoát khỏi tam giới th́ chẳng kể là thành công, nhưng siêu việt tam giới thực sự là một việc rất khó.  Tuy nói Tịnh Độ là pháp dễ hành (dễ hơn so với những pháp môn khác), trên thật tế th́ cũng chẳng dễ, thê nên người niệm Phật th́ nhiều nhưng người văng sanh rất ít.

Người văng sanh thực sự gồm có hai hạng.  Một hạng là những người thượng căn lợi trí, họ có thể thông suốt chân tướng sự thật nên họ chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, tịnh niệm tiếp nối mà văng sanh.  Hạng thứ nh́ là những người ‘ngu độn’, phần đông thường nói là những ông già, bà cả, cái ǵ họ cũng chẳng biết, chẳng hiểu, nhưng họ chết ḷng trọn ư niệm câu A Di Đà Phật đến cùng, những người này cũng có thể văng sanh.  C̣n những người ở chính giữa chẳng phải là thượng trí cũng chẳng phải là hạ ngu th́ khó hơn.  Tại v́ họ có phân biệt, có tri kiến, đây tức là chướng ngại.  Chúng ta phải nên lắng ḷng suy nghĩ xem chúng ta thực sự thuộc về hạng nào?

Bắt chước theo người thượng trí rất khó; bắt chước người ngu chỉ cần thực sự chịu học theo th́ có thể học được, tức là phải buông xả hết thảy.  Quan trọng nhất là phải buông xả hết danh văn lợi dưỡng.  ‘Lợi dưỡng’ bao gồm ngũ dục, lục trần, ‘danh văn’ bao gồm quyền thế, địa vị, hết thảy chúng ta đều đừng đụng đến, chỉ một ḷng một dạ chắc thật niệm Phật, phục vụ đại chúng.

Như Đàm Hư pháp sư nói trong phần sau của cuốn Niệm Phật Luận, trong những người xuất gia có thầy Tu Vô, thầy là người ngu độn, cái ǵ cũng chẳng biết, cái  ǵ cũng chẳng hiểu.  Bà họ Trương ở chùa Trạm Sơn, Thanh Đảo, chồng bà làm nghề kéo xe chở khách, một ngày không kéo xe th́ chẳng có cơm ăn.  Mỗi ngày chủ nhật chùa Trạm Sơn có pháp hội, bà đều đến nhà bếp giúp việc rửa chén, bà làm những việc cực nhọc này, bạn hăy xem họ văng sanh vô cùng thong dong, tự tại!  Đó là những người ‘ngu độn’.  Người ngu cũng có thể văng sanh, người tuyệt đỉnh thông minh cũng có thể văng sanh, những người ở chính giữa hai hạng này th́ khó hơn nhiều.

Khó khăn đều là chướng ngại do ḿnh tạo ra – tranh danh đoạt lợi, tham hưởng lợi dưỡng.  Chúng ta có thể gặp được pháp môn Tịnh Độ là một nhân duyên hiếm có, nếu luống qua nhân duyên hy hữu này th́ thiệt là vô cùng đáng tiếc!

 

14.  Sám hối  (Buổi sáng 04-02-95)

[Các pháp] trong Hạnh môn có thể tóm lại thành một, đó chính là pháp Sám hối – Sám hối nghiệp chướng [trong Thập Nguyện] Phổ Hiền Bồ Tát.  Điều quan trọng trong pháp sám hối là sửa đổi tâm niệm, sửa đổi hành vi, dù chẳng có h́nh thức nhưng là chân sám hối.  Nếu có đầy đủ h́nh thức và y theo kinh văn mà làm lấy có, chẳng biến cải tâm niệm th́ chẳng phải là sám hối, chẳng có ích ǵ hết.

Phật dạy Bồ Tát tu hành tức là dạy Bồ Tát nên nghĩ tưởng về chúng sanh, phục vụ chúng sanh, đó là Bồ Tát đạo, Bồ Tát hạnh.  Luôn v́ chúng sanh là Bồ Tát đạo, phục vụ cho chúng sanh là Bồ Tát hạnh.  Phàm phu khi khởi tâm động niệm đều v́ ḿnh, đều làm cho ḿnh, thế nên chỗ khác biệt giữa Phật, Bồ Tát và phàm phu là ở tại chỗ này.

Hộ tŕ đạo tràng điểm quan trọng nhất là Lục Ḥa Kính, buông bỏ Lục Ḥa Kính th́ chẳng là đạo tràng Phật pháp, chẳng phải đạo tràng của Phật th́ nhất định phải là đạo tràng của ma.  Đạo tràng của Phật là dùng để hoằng pháp lợi sanh, là nơi để hướng dẫn đại chúng tu hành, làm cho đại chúng phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui.  Hướng về mục tiêu này mà làm th́ đúng, đây là đạo tràng của Phật.  Nếu chiếm giữ đạo tràng của Phật mà chẳng làm công tác giáo học, bỏ việc chánh và chuyên làm những chuyện chẳng cần thiết th́ là ma sự.  Là Phật hay là Ma đều ở tại một niệm, làm Phật th́ có thể văng sanh, làm Ma th́ đời sau nhất định sẽ đi vào tam ác đạo, cho dù bạn làm hết thảy thiện pháp th́ cũng chẳng tránh khỏi đọa lạc.  Tại sao vậy?  V́ bạn đă phá hoại chánh pháp.  Do đó hết thảy thiện pháp chẳng bù nổi tội lỗi này.

 

 

 

 

15. Ba giai đoạn của sự tu hành   

(Buổi sáng 05-02-95)

Đích thực chúng ta đă gặp chẳng ít người chân chánh muốn tu hành, thực sự muốn thành tựu, nhưng cửa ải khó khăn nhất là vọng tưởng và tạp niệm, muốn trừ nhưng chẳng trừ nổi.  Vấn đề này chẳng phải người đời nay mới có, từ xưa đến nay đều như vậy.  Trong kinh điển đức Phật dạy chúng ta, đây cũng là một đề mục chính, làm thế nào để đoạn trừ vọng tưởng, chấp trước.  Thực ra hết thảy các kinh luận đều nhằm giải quyết vấn đề này.  Phật đă giảng rất thấu triệt, phương pháp cũng rất khéo léo, đáng tiếc là chúng ta chẳng ráng sức mà làm nên từ vô lượng kiếp đến nay đều bị vọng tưởng phiền năo trói buộc, chẳng thể giải thoát.  Có rất nhiều phương pháp giải quyết mà trong đó niệm Phật đích thực là một phương pháp tốt nhất nhưng nhiều người chẳng dùng.

Người niệm Phật, miệng th́ niệm Phật hiệu nhưng trong tâm cứ khởi vọng tưởng không ngừng, như vậy th́ chẳng thể thành tựu.  Miệng niệm và tâm cũng phải niệm, tâm và miệng có tương ứng th́ công phu mới đắc lực.  Đắc lực tức là có thể đè nén vọng tưởng, phiền năo.  Đè nén được lâu rồi th́ sẽ đắc định, sẽ thành tựu tam muội.  Định được lâu th́ sẽ khai mở trí huệ, trí huệ vừa khai mở th́ liền chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn, đó là thành công.  Chỉ cần công phu được đắc lực, có thể đè nén vọng tưởng và phiền năo th́ có thể đới nghiệp văng sanh.  Đây là chỗ pháp môn này thù thắng hơn những pháp môn khác.  Chỉ cần chịu dụng công th́ ai cũng có khả năng làm được hết.

Văng sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, cổ đức nói: ‘Đă gặp được Di Đà th́ lo ǵ chẳng khai ngộ’, gặp được đức Phật A Di Đà th́ không ai chẳng khai ngộ.  Khai ngộ là khai mở trí huệ, khai trí huệ tức là chuyển phiền năo thành Bồ Đề.

Chúng ta thường đề xướng khuyến khích mọi người, sự tu hành của chúng ta có ba giai đoạn:

a. Giai đoạn thứ nhất: Đọc thuộc kinh văn.  Niệm kinh ba ngàn lần, đọc thuộc ḷng kinh, ghi nhớ lời dạy trong kinh, nếu lời dạy của Phật cũng chẳng nhớ th́ tu cái ǵ?  Làm sao để tu theo lời dạy?  Đây là bước thứ nhất.

b. Giai đoạn thứ nh́: Yêu cầu viên giải (hiểu biết một cách viên dung, trọn vẹn).  Phải hiểu rơ những lời dạy của Phật, phải hiểu được viên dung th́ mới chẳng chết cứng trên văn tự.  Phải hiểu lời dạy của Phật là có nguyên lư nguyên tắc ǵ, phải có thể ứng dụng những lời dạy này một cách khéo léo trong đời sống hằng ngày, như vậy mới chẳng là chỉ đọc suông, đó mới là khai trí huệ.

c. Giai đoạn thứ ba: Là phải thực hành, y theo lư luận và phương pháp dạy trong kinh để sửa đổi tư tưởng, sự hiểu biết, hành vi sai lầm của ḿnh, như vậy mới gọi là chân chánh tu hành, như vậy th́ mới văng sanh được.  Chứ chẳng phải đọc kinh ba ngàn lần là xong xuôi, đọc như vậy chẳng có ích ǵ hết.  Phải biết từ đầu đến cuối Phật pháp đều chú trọng thực hành, nghĩa là phải làm cho bằng được.

Chân chánh tu hành là tu ở nơi khởi tâm động niệm chứ chẳng phải là ở chỗ học thuộc ḷng.  Nhớ nhiều, hiểu nhiều chẳng hữu dụng ǵ hết, phải làm cho bằng được.  Có thể làm được một phần th́ sẽ được một phần lợi ích; làm được hai phần th́ được hai phần lợi ích, nếu chẳng hết ḷng nỗ lực mà làm th́ không thể nào đạt được lợi ích chân thật này.

 

16. Bồ Tát hạnh  (Buổi sáng 07-02-95)

Phật dạy chúng ta những ǵ:  Tổng hợp lại th́ chính là ‘sửa đổi tâm niệm’.  Tâm phàm phu là ǵ?  Tâm Phật, Bồ Tát là ǵ?  Phải hiểu rơ, minh bạch hoàn toàn.  Làm thế nào để thay đổi tâm phàm phu thành tâm Phật?  Làm sao thay đổi sự hành tŕ của phàm phu trở thành sự hành tŕ của Phật, Bồ Tát?  Nếu tự ḿnh chúng ta chẳng hiểu đạo lư này, chẳng gắng sức đi làm mà c̣n giả danh Phật pháp, dạy sai chúng sanh, tội lỗi đều ở địa ngục A Tỳ, đây là việc Phật, Bồ Tát chẳng muốn nh́n thấy.  Cho nên những người đảm nhiệm trọng trách giáo học nhất định phải ráng sức nỗ lực khắc phục tập khí, khó khăn của ḿnh.

Phật pháp và Thế pháp là một chứ chẳng phải hai.  Dùng tâm của Phật, Bồ Tát vào thế gian th́ Thế pháp thành Phật pháp, chẳng có pháp nào chẳng phải là Phật pháp.  Dùng tâm phàm phu vào Phật pháp th́ hết thảy Phật pháp đều biến thành pháp thế gian.  Từ điểm này có thể biết cái gọi là Phật pháp và Thế pháp đều chẳng ở tại sự tướng mà ở tại tâm niệm của mỗi người, đó là ‘tâm tịnh th́ cơi nước tịnh’.

Phật pháp chẳng làm hoại thế gian pháp cho nên lúc Thế Tôn c̣n tại thế, khi dạy rất nhiều tín đồ của các tôn giáo ở Ấn độ, Phật chẳng thay đổi phương thức sanh hoạt của họ, chỉ sửa đổi quan niệm của họ cho đúng, giúp họ từ sinh hoạt mê tín quay trở về sinh hoạt giác ngộ, chánh tín.  Thế Tôn chẳng thay đổi họ, chỉ thêm vào cách giải thích mới, tư tưởng mới, quan niệm mới, phương pháp này đúng như thánh nhân Trung quốc gọi là: ‘vô cùng cao minh nhưng đường lối trung dung’ [6], đó mới là trí huệ chân thật.

Sanh hoạt giác ngộ tức là Bồ Tát hạnh, nói cách khác nghĩa là từ sanh hoạt của phàm phu đổi thành sanh hoạt của Bồ Tát.  Nhưng sanh hoạt chẳng có biến đổi, lúc trước làm nghề nghiệp ǵ th́ bây giờ cũng làm nghề đó, khác nhau ở chỗ lúc trước là mê, bây giờ đă giác ngộ.  Lúc mê th́ khổ, lúc giác th́ vui, cái niềm vui này chính là ‘pháp hỷ sung măn’, khác nhau ở chỗ này.  Chẳng thay đổi đời sống của họ, chẳng thay đổi chức nghiệp, ngành nghề của họ.  Năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy những Bồ Tát, nam nữ già trẻ, các ngành các nghề, tức là các ngành nghề vốn có của họ, trong đời sống tập quán sanh hoạt vốn có của họ giác ngộ xong th́ ĺa khổ được vui, đây là Phật pháp.

Thí dụ chúng ta làm việc trong nhà bếp, mỗi ngày nấu cơm, rửa chén, lau bàn, người thế gian cho những việc này là những việc khổ nhọc, nhưng người giác ngộ cho là những việc sung sướng, thiệt ra những chuyện này trong Lục Độ vạn hạnh tức là Giới Định Huệ tam học.  Công việc giống như nhau, sự việc cũng giống nhau, chỉ là tâm lư, quan niệm thay đổi.  Vừa thay đổi th́ là đời sống của Bồ Tát.  Đời sống của Bồ Tát là ǵ?  Tức là mỗi ngày nấu cơm, lau bàn, rửa chén.  Kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta những thứ này, dạy chúng ta làm thế nào để sống một đời sống sung sướng nhất, hạnh phúc nhất.  Đây là sự thật, đây tức là tu hành, Đại Thừa Bồ Tát hạnh, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là tu ở chỗ này.  Người chẳng hiểu cho rằng mỗi ngày làm những chuyện này thiệt là khổ quá chừng, các bà nội trợ ai cũng muốn chạy trốn.  Như vậy là mê, mê th́ sẽ khổ; khi ngộ rồi th́ sẽ vui.  Người giác ngộ biết tu bố thí, tu xưng tán, tu cúng dường, tu nhẫn nhục, tu thiền định, tu Bát Nhă ngay trong những trường hợp này.  Thế nên mê và ngộ hoàn toàn sẽ chẳng giống nhau.

 

17. Tu thanh phước   (Buổi sáng 08-02-95)

Họa phước thiệt ra ở tại một niệm mà thôi.  Một niệm thiện th́ là phước, một niệm ác là tai họa.  Phật dạy chúng sanh phước huệ song tu, khi phước huệ viên măn rồi th́ xưng là Nhị Túc Tôn, thế nên tu phước và tu huệ đều vô cùng quan trọng.  Trong các thứ phước báo, ‘thanh phước’ [7] là quư nhất.  Trong thanh phước có trí huệ cao độ cho nên chẳng tạo tội nghiệp.  Trong phước báo của thế gian th́ phước báo càng lớn tạo tội càng dễ, v́ vậy nên tác dụng phụ [của phước báo] cũng lớn.  Đây là điểm chúng ta phải ghi nhớ.

Nếu chúng ta có thể hiểu rơ thanh phước, hưởng thọ thanh phước th́ phước báo này thiệt là vô lượng vô biên, trí huệ nhất định sẽ tăng trưởng theo.  Chúng ta phải cố gắng tu phước và khuyên mọi người tu phước, khi mọi người đều có phước báo rồi th́ khu vực này sẽ chẳng bị nạn.  Giả sử chỉ có cá nhân ḿnh có phước, mọi người khác chẳng có phước th́ chúng ta cũng chẳng thể tránh khỏi cộng nghiệp, thế nên khuyên lơn chúng sanh tu phước là một việc vô cùng, vô cùng quan trọng.

Phải tu phước như thế nào?  [Những ǵ chúng ta] nghĩ và làm đều v́ chúng sanh, có thể quên ḿnh th́ đó là phước báo to lớn.  Tạo ác là ǵ?  Niệm niệm đều v́ ḿnh mà tưởng, mà làm th́ đó là chuyện ác to lớn.

 

18.  Mục tiêu của sự tu hành 

(Buổi sáng 09-02-95)

‘Chân thành, Thanh tịnh, B́nh đẳng, Chánh giác, Từ bi.

Nh́n thấu, Buông xuống, Tự tại, Tuỳ duyên, Chắc Thật Niệm Phật’ là mục tiêu hiện nay của chúng ta trong công việc hoằng pháp lợi sanh, và cũng là mục tiêu tu học của chúng ta.  Tất cả những kinh luận, hành pháp đều nhằm giúp chúng ta đạt đến mục tiêu này, hoàn thành mục tiêu này.

Chúng ta tự hành hóa tha đă có phương hướng, mục tiêu chính xác, đời sống này mới có ư nghĩa, có giá trị, sẽ rất vui sướng và rất hạnh phúc.  Hy vọng đại chúng từ điểm này thể hội -- tự ḿnh phải nên tu học như thế nào, làm thế nào đăi người, tiếp vật.  Đây là Phật pháp chân chánh, Phật pháp chân thực.

 

19.  Ly tướng tu phước  (Buổi sáng 09-02-95)

Xả tài là phước, nhưng càng quan trọng hơn là phải chẳng chấp tướng.  Tu phước mà chấp tướng là phước báo nhân thiên, tu phước mà ly tướng mới có thể minh tâm kiến tánh, mới có thể văng sanh, bất thoái thành Phật.

Chẳng những ngoại tài có thể xả, nội tài cũng phải xả.  Nội tài là ǵ?  Tinh thần, lao lực của chúng ta, nếu có thể phục vụ cho đại chúng một cách vô điều kiện th́ gọi là xả nội tài.  Chẳng cầu báo đáp, thực sự v́ xă hội, v́ đại chúng mà phục vụ là bố thí.

 

20.  Phước báo và trí huệ  (Buổi sáng 11-02-95)

‘Có tiền là phước báo, dùng tiền là trí huệ’.  Nếu người có phước báo to lớn nhưng chẳng có trí huệ, toàn bộ [tiền của] họ dùng đều vô ích; người có trí huệ tuy phước báo nhỏ nhưng họ có thể đem mỗi đồng tiền của họ tu những phước báo to lớn, đó gọi là ‘xả tài tu phước’.  Từ đó có thể biết người chẳng có trí huệ muốn tu phước cũng chẳng tu được.

Trên thực tế xét từ lúc tu nhân mà nói th́ trí huệ quan trọng hơn phước báo, v́ người có trí huệ sẽ chẳng tạo tội nghiệp và giảm bớt những lỗi lầm của ḿnh đến mức thấp nhất; người chẳng có trí huệ khi tạo tội nghiệp c̣n tưởng là ḿnh đang tu phước.  Trước mắt chúng ta có thể nh́n thấy rất nhiều trường hợp này, họ thiệt là có tiền và cũng phát tâm nhưng những ǵ họ tạo tác đều là tội nghiệp, chẳng phải tu phước, lại cứ tưởng ḿnh đang tu phước, chuyện này thiệt là rất đáng tiếc.

 

21.  Tùy hỷ  (Buổi sáng 12-02-95)

Trong các đoàn thể, phiền năo tập khí dễ nh́n thấy nhất là ‘đố kỵ’.  Người nào chẳng có tâm đố kỵ?  Ai nói ‘Tôi chẳng có tâm đố kỵ’ th́ người đó chẳng phải là phàm phu.  Hễ là phàm phu th́ chắc chắn sẽ có tâm đố kỵ, cho dù là người xuất gia cũng chẳng ngoại lệ.  Tùy, Đường là thời đại hoàng kim của Phật giáo Trung Quốc, là thời đại Phật pháp vô cùng hưng thịnh, Lục Tổ Huệ Năng đă xuất hiện trong thời đại này.  Sau khi được truyền trao y bát ở Hoàng Mai, bạn xem ai có thể nhịn được [không giành lại y bát]?  Đây là hiện tượng ǵ?  Đố kỵ!

Nếu chúng ta không thể hàng phục được tâm đố kỵ, tham, sân, si, mạn, chẳng những đạo nghiệp không thể thành tựu mà kết quả của việc này nhất định sẽ phá hoại đạo tràng.  Cho dù ảnh hưởng không rơ ràng th́ cũng gây chướng ngại cho sự phát triển của đạo tràng và gây chướng ngại cho sự thành tựu của đồng tham đạo hữu.  Nói một cách khác th́ là chướng ngại cho việc hoằng pháp lợi sanh.  Mọi người đều biết tội này được gọi là ‘năm tội vô gián’ trong giới luật.  Thế nên Phật, Bồ Tát dạy chúng ta tu ‘Tùy hỷ’.  Tại sao không tu tùy hỷ? [Tại sao phải tu tùy hỷ?]  Thay đổi tâm niệm ngược lại, nếu có thể tùy hỷ th́ người ta có thành tựu bao lớn, thành tựu của ḿnh cũng sẽ bằng họ, công đức của việc tùy hỷ chẳng thể nghĩ bàn.

Lúc thấy người khác làm việc tốt nếu chúng ta có thể sanh tâm hoan hỷ, có thể giúp họ, giúp họ thành tựu th́ công đức của họ chính là công đức của ḿnh, thế nên chúng ta phải biết tu tùy hỷ.  Những ǵ ḿnh không thể làm được nhưng họ làm được th́ ḿnh giúp họ; nếu giúp chẳng được th́ ḿnh tán thán, ḿnh hoan hỷ, ḿnh lo lắng cho họ, như vậy công đức sẽ bằng nhau v́ tâm của ḿnh được thanh tịnh, đây là việc mà chúng ta thường gọi là pháp hỷ sung măn.

Đây cũng là lư do tại sao chúng ta đổi khoá tụng buổi tối thành tụng kinh Vô Lượng Thọ, phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy.  Chúng ta có thể mỗi ngày đọc những tập khí lỗi lầm nói trong đoạn kinh này một lần, đọc xong phản tỉnh, kiểm điểm xem ḿnh có những tội lỗi này hay không?  Nếu có th́ phải sửa sai đổi mới, như vậy mới gọi là chân chánh tu hành.

 

22.  Khóa tụng sáng tối  (Buổi sáng 12-02-95)

‘Xă hội’ hiện nay có thể nói là đă lan rộng đến toàn thế giới, chẳng c̣n giới hạn ở một địa phương nào, đều có sự hiểu lầm rất lớn đối với Phật pháp.  Sự hiểu lầm này sẽ gây chướng ngại cho sự tu học Phật pháp, chướng ngại cho sự truyền bá Phật pháp.  Thế nên cần phải in hai cuốn sách mỏng ‘Nhận thức Phật giáo’ và ‘Truyền thọ Tam Quy’ với số lượng thật nhiều và truyền bá rộng ra.

Tu hành, những khóa tụng và nghi thức mà cổ đức soạn ra đích thực có thể đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh thời xưa.  Ngày nay nghiệp chướng chúng sanh sâu nặng và cơ sở đă mất hết – cơ sở là chẳng đọc sách Khổng - Mạnh, Lăo - Trang, những lư luận Đạo giáo cũng chẳng hiểu, Tiểu Thừa cũng chẳng học.  Giống như ngày nay chúng ta xây nhà lầu mà chẳng có nền móng vậy, chẳng có cơ sở th́ đi vào Đại Thừa làm sao có thể thành tựu được?  Xưa nay phàm những đại đức có thành tựu bất kể là tại gia hay xuất gia, căn bản Nho học của họ đều rất sâu dày.  V́ vậy những nghi quỹ (thời xưa gọi là Khoá tụng sáng tối) bây giờ chẳng dùng được.  Mục đích của công khóa sáng tối là nhằm giúp chúng ta sửa đổi tâm hạnh, nếu chúng ta tụng xong mà tâm hạnh chẳng có thay đổi ǵ hết th́ khóa tụng sáng tối này cũng dư thừa.  V́ vậy chúng tôi mới thay đổi nội dung của khóa tụng, buổi sáng tụng phẩm thứ sáu, buổi tối tụng phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ.

Mục đích của khóa sáng là hy vọng trong tâm của mỗi người đều có bốn mươi tám lời nguyện, như vậy mới gọi là niệm Phật, nhớ Phật.  Trong tâm thực sự có Phật, trong tâm có A Di Đà Phật, có bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà.  Trong bốn mươi tám nguyện này bao gồm hết thảy y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới.  Khóa tối là niệm niệm chẳng quên lời dạy của Phật A Di Đà, chúng ta phải y giáo phụng hành, như pháp tu tŕ, đây mới thực là chân chánh niệm Phật, chẳng phải niệm suông trong miệng mà thôi.

          Kinh Vô Lượng Thọ là đốn giáo.  Đốn giáo nghĩa là chẳng có thứ lớp, cho dù chúng ta chẳng có cơ sở Nho học sâu dày cũng có thể thành tựu, đây là chỗ thù thắng của pháp môn này.  Từ đó có thể y theo nguyện của A Di Đà Phật mà phát nguyện, y theo lời dạy của A Di Đà Phật mà tu hành -- phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là lời dạy của A Di Đà Phật, nội dung là ngũ giới, thập thiện, là cơ sở chung của Đại Thừa và Tiểu Thừa.  Từ đây gắng sức học tập, chúng ta niệm Phật mới có thành tựu, đây là lư do tại sao chúng tôi thay đổi khóa tụng sáng tối.

 

23.  Tâm thanh tịnh   (Buổi sáng 14-02-95)

Trong thời đại ngày nay muốn tu hành có được thành tựu th́ chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trừ con đường này ra th́ đích thực chẳng có con đường nào khác.  Niệm Phật phải niệm đến lúc nào th́ mới thực sự nắm chắc có thể văng sanh?  Phải niệm đến lúc tâm thanh tịnh.  Tâm thanh tịnh tức là công phu thành phiến, có thể đới nghiệp văng sanh.

Làm thế nào có thể làm được tâm thanh tịnh?  Nhất định phải có công phu ‘nh́n thấu, buông xuống’.  Nh́n thấu là học vấn, buông xuống là công phu.  Buông xuống những ǵ?  Buông xuống hết thảy vọng tưởng, phiền năo, tri kiến.  Chân chánh phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh, chẳng nh́n lỗi thế gian’ th́ tâm bạn sẽ thanh tịnh.

Ngày nay chúng ta vẫn c̣n thấy người này chẳng đúng, chuyện kia cũng chẳng đúng là v́ nguyên nhân ǵ vậy?  V́ chúng ta có phân biệt, chấp trước.  Chỉ có người chân chánh muốn văng sanh th́ mới thiệt buông xuống hết.  Tăng đoàn là tăng đoàn ḥa hợp, thanh tịnh -- không những chẳng nghe đến thị - phi, ngay cả trong tâm cũng chẳng có tâm niệm này.

 

24.  Học  (Buổi sáng 14-02-95)

Trong xă hội có câu: ‘Học làm người’.  Học làm người tức là học luân lư, đạo đức.  Thí dụ học Thập thiện, Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) tức là học làm người của trời Dục Giới, họ cao hơn chúng ta một bậc.  Học Tứ thiền bát định tức là học làm người của trời Sắc Giới, cảnh giới này c̣n cao hơn.  Học Bốn mươi tám nguyện, học Lục Độ, Thập đại nguyện vương tức là học làm người của Tây phương Cực Lạc thế giới, đây mới là việc chúng ta thực sự muốn học.

‘Học’ chẳng có nghĩa là ‘tôi hiểu, tôi biết rơ’ th́ xem là đă học rồi.  Chữ học ở đây có nghĩa là ‘noi gương’, ‘học tập theo’, đây là động từ chứ chẳng phải là danh từ, tức là muốn chúng ta chân chánh làm cho bằng được.  Ngày nay chúng ta tu hành tự ḿnh chẳng đạt được pháp hỷ, đó chỉ là sống qua ngày, tại sao chẳng được pháp hỷ?  V́ chúng ta chẳng thực ḷng học tập.

Học phải bắt đầu từ đâu?  Bắt đầu từ đọc kinh.  Trong kinh dạy chúng ta phải làm như thế nào th́ chúng ta làm như vậy, y theo kinh điển mà hết ḷng phản tỉnh, mỗi ngày có thể phát hiện một lỗi lầm của ḿnh, như vậy tức là giác ngộ.  Mỗi ngày có thể sửa đổi một lỗi lầm th́ mới là chân tu, cũng như lăo cư sĩ Hạ Liên Cư trong cuốn ‘Tịnh Ngữ’ có dạy: ‘Chân cán’ (Làm thực sự).  Có thể chân tu, làm thiệt, ba năm liền siêu phàm nhập thánh, sẽ chẳng là phàm phu nữa;  nếu chẳng chịu học, chẳng chịu làm th́ chẳng có cách ǵ hết.

Phải đọc kinh như thế nào?  Phải dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm cung kính mà đọc, được vậy th́ sẽ có chỗ ngộ.  Có nhiều người đọc kinh rất khổ, tại sao vậy?  V́ họ dùng tâm vọng tưởng, phân biệt, phiền năo để đọc, hoàn toàn chẳng thể hội ư tứ, cảnh giới trong kinh, vậy th́ đương nhiên càng đọc càng khổ.  Chỉ có dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm cung kính để đọc th́ mới tương ứng với tâm Phật, mới có thể hiểu được ư tứ trong kinh.   V́ chân thành, thanh tịnh, cung kính chẳng có cùng tận, cho nên ư tứ trong kinh cũng chẳng có cùng tận, vô cùng, vô tận.

 

25.  Lục Ḥa Kính  (Buổi sáng 16-02-95)

Người với người ở chung với nhau phải biết bao dung.  Phật v́ tăng đoàn chế định Lục Ḥa Kính, Lục Ḥa Kính là đoàn thể thù thắng nhất nên gọi là ‘Chúng Trung Tôn’ – trong các đoàn thể khắp thế gian, xuất thế gian, đoàn thể ḥa kính là tôn quư nhất.  Đích thực là được chư Phật hộ niệm, Long thiên tán thán, ủng hộ.  Tại sao chẳng thể ḥa?   Nguyên nhân ở đâu?  Đoàn thể càng lớn th́ ḥa kính càng khó khăn, nguyên nhân căn bản là v́ ngă kiến, ngă chấp, đây là nguyên nhân căn bản của sự bất ḥa, của sự tạo tội.

Sự tu học của Phật pháp, chẳng nói đến pháp Đại thừa, trong pháp Tiểu Thừa, điều đầu tiên là phải phá ngă kiến, phá ngă chấp.  Học Phật đầu tiên phải học cái ǵ?  Là học ‘vô ngă’, vô ngă th́ sẽ ḥa, vấn đề liền được giải quyết ngay trên căn bản -- chẳng có ngă chấp, chẳng có pháp chấp.

Chúng ta đă phát tâm xuất gia, sanh hoạt trong tăng đoàn là một nhân duyên hiếm có, phải tự ḿnh tôn trọng ḿnh (tự trọng), phải hết ḷng nỗ lực, coi đạo nghiệp làm hạng nhất, y chúng, nương vào đại chúng, khuyến khích lẫn nhau, trau giồi dùi mài.  Tự ḿnh chúng ta có thể thành tựu th́ là thành tựu của xă hội, tức là Phật pháp trụ thế có thành tựu, tức là thành tựu chúng sanh ĺa khổ được vui.  Bạn xem ảnh hưởng của việc này bao lớn?  Chúng ta phải tự ḿnh làm một gương tốt, chẳng những làm gương cho người tại gia, đồng thời cũng làm gương cho đồng tu xuất gia, như vậy mới thiệt chẳng cô phụ đă một phen xuất gia, đây mới chân chánh là tu tập tích lũy công đức.

 

26.  Phước huệ nhân quả  (Buổi sáng 16-02-95)

Phải biết hết thảy các pháp trong thế gian và xuất thế gian đều là nhân quả phước huệ.  Phước tuy quan trọng, nhưng huệ c̣n quan trọng hơn.  Có phước chẳng có huệ, khi hưởng phước nhất định sẽ tạo tội nặng, đây là như nhà Phật thường nói ‘oán ba đời’.  Đến lúc phước hưởng hết, đọa lạc trong ác đạo rồi mới muốn thoát khỏi th́ chẳng dễ, không biết phải trải qua bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp?

Có huệ chẳng có phước tuy đời sống rất thanh bần, rất khó khăn, nhưng chẳng tạo tội nghiệp.  Họ thế nào cũng có khả năng văng sanh thành Phật, v́ sanh sống quá khổ, họ chán chường đời sống trong thế gian này, dễ sanh khởi đạo tâm.  Do đây có thể biết phước báo chẳng phải là chuyện tốt, Phật dạy đệ tử xuất gia phải tu phước nhưng nhất định đừng hưởng phước, cứ sống đời sống thanh bần như cũ, phải dùng sự khổ làm thầy, đạo lư là ở chỗ này, là sợ bạn hưởng phước rồi tạo tội nghiệp.

 

27. Thật thà   (Buổi sáng 08-05-95)

Ư nghĩa quan trọng nhất trong kinh Kim Cang là: tu học Đại Thừa Phật pháp là phải tu học trong đời sống hằng ngày.  Nói một cách khác tức là dạy cho chúng ta làm thế nào để sống cuộc đời của chư Phật, Bồ Tát.  Phật, Bồ Tát sống cuộc đời đại trí huệ, đại giác ngộ, đời sống như vậy mới là chân thực hạnh phúc mỹ măn.

Niệm Phật chẳng thể thành tựu là v́ chẳng thật thà (chẳng chắc thật).  Chẳng thật thà là chẳng biết sống cách nào, khi sanh ra đời hồ đồ lộn xộn, chết đi cũng mờ mịt, lộn xộn.  Như vậy đúng là rất đáng thương, cũng như trong kinh thường gọi họ là: ‘những người đáng thương xót’.

Sau khi có trí huệ Bát Nhă, hiểu rơ chân tướng của nhân sanh mới biết thật thà, một ḷng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.  Ai có thể tiếp nhận th́ người đó sẽ được lợi ích.  Nếu chẳng chấp nhận, chẳng thể chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chính là như kinh Địa Tạng có nói: ‘Chúng sanh trong Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm không có ǵ là chẳng tạo tội’.  Đă tạo tội nghiệp th́ đời sau nhất định sẽ c̣n luân hồi trong lục đạo, bất luận là tu hành tốt đến đâu, nếu chẳng thể thoát ra khỏi tam giới th́ đều là chẳng thành tựu.

Mục đích chúng tôi giảng kinh Kim Cang là v́ muốn khuyên mọi người, dạy cho mọi người hiểu rơ chân tướng sự thật, phải chết ḷng trọn ư thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.  Những ǵ nói trong kinh Kim Cang cho đến những ǵ đức Phật nói trong hai mươi hai năm giảng kinh Bát Nhă đều cũng là v́ dạy chúng ta phải nh́n thấu, buông xuống.  Tại sao bốn chữ ‘nh́n thấu, buông xuống’ này đă giảng trong suốt hai mươi hai năm?  Hăy nghĩ xem ai nghe xong liền nh́n thấu, liền buông xuống được?  Nghe th́ cũng nghe rồi, nói th́ cũng nói xong nhưng vẫn chẳng nh́n thấu, chẳng buông xuống y như cũ.  Trong tâm từ sáng đến tối vẫn suy nghĩ lung tung, lời nói hành động vẫn phê b́nh kẻ khác, chẳng biết kiểm điểm bản thân ḿnh, đây đúng là nh́n chẳng thấu, buông xuống chẳng nổi.

 

28.  Thừa nguyện tái lai  (Buổi sáng10-05-95)

Tự ḿnh chẳng chịu hết ḷng tu hành, nghiệp báo thân thể của bạn là được định sẵn trong số mạng.  Nếu tự ḿnh chịu hiến thân v́ Phật pháp, hiến thân v́ hết thảy chúng sanh th́ thân thể này chẳng phải là của bạn nữa mà là thừa nguyện tái lai (nương vào nguyện trở lại).

V́ vậy chẳng cần phải đợi đến lúc từ Tây phương Cực Lạc thế giới trở lại đây, chỉ cần bây giờ nguyện lực vừa chuyển th́ có thể chuyển biến thân nghiệp báo của ḿnh thành thân của nguyện lực, đây chính là thừa nguyện tái lai.  Thừa nguyện tái lai là ngay trong một niệm có thể làm được, trong đây một chút xíu giả dối chẳng thể xen vào, phải là thuần chánh chẳng vọng, xen vào một tí giả dối th́ vẫn phải thọ nghiệp báo.

 

29.  Sửa lỗi  (Buổi sáng12-05-95)

Bất luận là xuất gia hay tại gia, hễ là đệ tử Phật tiếp nhận sự cúng dường tài vật nhất định phải đáp trả lại bằng pháp cúng dường.  Lúc Phật c̣n tại thế dùng chế độ tŕ bát, lúc tiếp nhận cúng dường nhất định phải thuyết pháp cho người ta nghe, đây tức là báo đáp ân của thí chủ.  Trong bất cứ trường hợp nào chúng ta tiếp nhận sự cúng dường đều phải biết quy củ, phải biết v́ người thuyết pháp.  Nếu chẳng có người khải thỉnh th́ có thể không thuyết.  Có người mời th́ nhất định phải thuyết pháp.  Nguyên tắc quan trọng nhất của sự thuyết pháp là chỉ rơ những lỗi lầm thông thường của đại chúng, giúp họ sửa sai, như vậy mới có ích lợi.  Thế nên chẳng cần phải nói huyền thuyết diệu, chẳng cần phải nói những lời nói dư thừa chẳng có ích lợi.

Nhà Phật thường nói đến ‘khai ngộ’ và ‘tu hành’, mọi người đều biết danh từ thuật ngữ này, nhưng người hiểu được hàm nghĩa bên trong th́ chẳng nhiều.  Trong khi đọc kinh sẽ có chỗ ngộ, niệm Phật cũng sẽ có chỗ ngộ, thực ra trong đời sống, lúc đăi người tiếp vật cũng sẽ có lúc ngộ được.  Chỗ ngộ được này nghĩa là ǵ?  Nghĩa là phát hiện lỗi lầm.  Phát hiện được lỗi lầm tức là khai ngộ, sửa đổi sai lầm trở lại tức là tu hành.  Tu hành chẳng phải nói mỗi ngày niệm bao nhiêu cuốn kinh, niệm bao nhiêu Phật hiệu, lạy bao nhiêu lạy.  Thật sự mà nói đó đều là h́nh thức, h́nh dáng mà thôi.  Công phu chân thật là ‘biết lỗi’, ‘sửa lỗi’, có thể làm được bốn chữ này, ngày hôm nay bạn sẽ cảm thấy rất sung măn, chẳng luống uổng.

Chẳng những người tu hành phải tuân thủ chặt chẽ, chúng ta xem trong Liễu Phàm Tứ Huấn người thế gian có ông Triệu Duyệt Đạo mỗi ngày đều phản tỉnh, đều kiểm điểm, t́m lỗi lầm của ḿnh để sửa đổi, chẳng để tái phạm.  Nhưng người học Phật ngày nay trong miệng th́ nói huyền thuyết diệu, thực tế công phu th́ hoàn toàn chẳng có, cho nên chúng ta thấy người xuất gia thành tựu chẳng bằng người tại gia.  Người tại gia học Phật đích thật có một số có thể buông xuống hết thảy; trái lại người xuất gia học Phật, trong miệng nói toàn là Phật pháp, đều là nói huyền thuyết diệu, nhưng những ǵ trong tâm suy nghĩ và hành động đều là nghiệp nhân luân hồi.  Nói th́ là phá mê khai ngộ, nhưng trên thực tế những ǵ tự ḿnh làm đều là mê hoặc điên đảo.

Công phu chân thật phải bắt đầu từ việc kiểm điểm lỗi lầm, tiêu chuẩn này là những lời dạy của đức Phật trong kinh điển.  Thế nên tại sao chúng ta phải học thuộc ḷng kinh điển?  Chính là để nhớ rơ tiêu chuẩn này, nếu nhớ chẳng rơ tiêu chuẩn ấy th́ chẳng thể phân biệt thị phi, thiện ác, cứ thường xem sai cho là đúng, đúng cho là sai, đây tức là: ‘điên đảo, sai loạn’.  Thế nên nhất định phải nhớ thuộc ḷng kinh điển, phải hết ḷng tự cứu ḿnh.  Nếu có thể siêu việt luân hồi ngay trong đời này, văng sanh Tịnh Độ th́ tự ḿnh thực sự đă được cứu.  Nếu chẳng thể văng sanh Tịnh Độ, đời này đă luống uổng, những ǵ tu được trong đời này cũng chẳng có ích ǵ, tại v́ chẳng bù nổi những ác nghiệp đă tạo -- khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều là tham, sân, si, mạn, đố kỵ, chướng ngại.  Chư vị nghĩ coi nếu sức lực này mạnh th́ sẽ đi vào tam đồ, muốn giữ được hai đường nhân, thiên chẳng phải dễ dàng đâu.

 

30. Tâm thanh tịnh  (Buổi sáng 13-05-95)

Những thức ăn chúng ta thường dùng phải nên cẩn thận để ngừa trúng độc.  Nên biết phương pháp giải độc có hiệu quả nhất là tâm thanh tịnh, tâm đại từ đại bi.  Đem bất cứ độc dược nào cho Phật, Bồ Tát cũng chẳng tạo nên tác dụng ǵ hết, nguyên nhân là ở chỗ nào?  V́ tâm quư ngài thanh tịnh, từ bi.  Thế nên tâm từ bi là thuốc giải độc công hiệu nhất.  C̣n chúng ta khi khởi tâm động niệm ǵ cũng tự tư tự lợi nên rất dễ bị những chất độc này cảm nhiễm.

Gần đây chúng tôi nh́n thấy một số người nhất tâm chuyên chú, bất kể là già hay trẻ (lăo cư sĩ Lưu Thừa Phù chín mươi mấy tuổi là thí dụ rơ ràng nhất), bạn hăy xem sự biến hóa trên thân thể, trên tinh thần, tướng mạo của họ.  Điểm này chứng minh những ǵ Phật nói đều chẳng giả, đó gọi là chứng chuyển, một trong tam chuyển pháp luân -- chứng chuyển là làm chứng minh [8].  Thế nên chúng ta muốn thân thể khoẻ mạnh, muốn được ít bịnh, ít phiền năo, nếu chẳng tu tâm thanh tịnh, chẳng tu tâm từ bi th́ chẳng có cách ǵ làm được hết.

 

31. Chuyển phước đức thành công đức

(Buổi sáng 14-05-95)

Khi gặp chuyện trong thế gian th́ chúng ta làm, đó là tu phước.  Lúc làm việc th́ đừng sợ chịu thiệt tḥi, làm nhiều là tu nhiều phước, như vậy th́ có ǵ chẳng tốt?  Lúc làm chẳng nên chấp trước, chẳng nên để trong tâm, trong tâm một dấu vết ǵ cũng chẳng lưu giữ lại, như trong kinh Kim Cang có nói: ‘Nên không trụ vào đâu để sanh cái tâm ấy’ [9]  Đó mới là phước báo chân chánh, phước đức biến thành công đức.  Nếu trong tâm cứ thường nghĩ: ‘Tôi đă từng làm được bao nhiêu việc’, đó tức là pháp thế gian, là phước báo hữu lậu sẽ có quả báo rất nhỏ.


Lúc c̣n trẻ nên tu một chút phước, đến lúc tuổi già th́ bạn sẽ hưởng phước, sẽ có rất nhiều người đến lo lắng cho bạn.  Lúc trẻ chẳng chịu tu phước đến lúc già chẳng có ai lo lắng cho th́ bạn vẫn phải lao nhọc, những nhân duyên quả báo này thiệt là tơ hào chẳng sai.

B. LUẬN SỰ SANH TỬ TRỌNG ĐẠI

 

1.  Liễu sanh tử  (Buổi sáng 27-01-95)

Phổ Hiền Bồ Tát dạy:

‘Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm

(Một ngày đă qua, mạng cũng giảm theo)

Người sáng mắt nh́n thấy quang âm ṃn mỏi, thời gian mỗi ngày trôi qua, mỗi ngày giảm bớt.  Nói một cách khác th́ tức là ngày càng gần kề cái chết.

Đạo nghiệp của chúng ta có tiến bộ theo thời gian hay không?  Chỉ có chân thật tu tŕ mới có thể liễu sanh tử, xuất tam giới.  Nếu chẳng thể liễu sanh tử, xuất tam giới th́ đời này sẽ luống uổng.  Cho dù niệm Phật tu phước th́ cũng như Phật thường nói ‘tam thế oán’ (oán ba đời).  Oán ba đời chẳng phải là chuyện tốt, đời này niệm Phật tu phước, đến đời sau hưởng phước th́ sẽ trở nên hồ đồ; khi hồ đồ sẽ tạo tội nghiệp, sẽ chịu khổ báo.  Những người quyền quư giàu to đều là do đời trước trong nhà Phật từng niệm Phật tu phước nhưng chẳng thể liễu sanh tử.  Trong đời này có quyền thế, làm xằng làm bậy, khi tạo tội nghiệp so với những người thường đều nặng hơn rất nhiều.  Thế nên chúng ta phải nh́n xa một chút, một người chân chánh giác ngộ phải lấy việc liễu sanh tử làm mục tiêu.

Muốn được liễu sanh tử pháp duy nhất trong các pháp Đại thừa mà chúng ta dám chắc [ḿnh có khả năng thành công] là pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.  Nếu muốn chân chánh làm được th́ phải ghi nhớ lời của Phổ Hiền Bồ Tát -- học Bồ Tát đạo, tu Bồ Tát hạnh.  Mỗi khi gặp một vị thiện tri thức trong năm mươi ba lần tham vấn, Thiện Tài đồng tử đều hỏi về hai vấn đề này.  Cái gọi là Bồ Tát đạo chính là cách giữ tâm, trong những bài giảng chúng ta thường nói: ‘Tâm, Nguyện, Giải, Hạnh phải giống như Phật’.  Tâm và Nguyện tức là Bồ Tát đạo, Giải và Hạnh tức là Bồ Tát hạnh.

Học Phật th́ phải học giống Phật, cho dù chẳng thể làm giống y hệt th́ cũng phải làm chẳng khác nhiều lắm, như vậy mới gọi là học Phật.  Trong thế gian có một số người chuyên làm việc ‘Phật học’ chứ chẳng phải là học Phật.  Phật học là ǵ?  Tức là có Giải chẳng có Hạnh, chỉ nghiên cứu Phật pháp như một thứ học vấn nhưng chẳng thể làm theo, họ chẳng có tâm này, và cũng chẳng có cái nguyện này, đó là Phật học; người có Tâm, có Nguyện khi hiểu được bao nhiêu th́ họ sẽ làm bấy nhiêu, như vậy mới là một người học Phật.  V́ vậy ‘học Phật’ có thể liễu sanh tử, ‘Phật học’ chẳng thể liễu sanh tử, chúng ta phải hiểu rơ hai việc này.

Kinh giáo trong nhà Phật là dung thông – viên dung, thông đạt vô ngại, cho nên thông [đạt] một kinh th́ hết thảy kinh đều thông.  Không những kinh giáo là dung thông, pháp thế gian, xuất thế gian cũng thông, v́ tất cả đều từ chân tâm bản tánh của ḿnh biến hiện mà thành, nó đều có cùng một căn nguyên, không có đạo lư chẳng thông.  Tại sao chẳng thông?  Chẳng thông là v́ có chướng ngại, chướng ngại chính là mê hoặc, điên đảo, phân biệt, chấp trước, chỉ cần phá trừ chướng ngại th́ pháp thế gian và xuất thế gian đều viên dung và thông đạt vô ngại.

Quán Thế Âm Bồ Tát hiểu rơ đạo lư này nên được đại tự tại.  Tại sao Ngài có thể biết được?  Do quán chiếu mà hiểu được.  Quán chiếu nghĩa là ǵ?  Lúc sáu căn tiếp xúc với sáu trần bên ngoài chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng tưởng, tất cả đều rơ ràng minh bạch, như vậy gọi là quán chiếu.  Nếu có một chút ư tứ ở trong đó th́ chẳng gọi là quán chiếu.

‘Quán chiếu’ thực ra là tự tánh tịnh, tức là ‘kiến văn giác tri’ (thấy - nghe - hay - biết) của tự tánh, cho nên có thể thấy được chân tánh.  Phàm phu mê mất tự tánh, chỉ dùng t́nh thức – nghĩa là tám thức, năm mươi mốt tâm sở, đó là ‘t́nh kiến’ – t́nh kiến nghĩa là như người ta thường gọi: ‘có xen lẫn cảm t́nh’.  Cảm t́nh là ǵ?  Tức là phân biệt, chấp trước, vọng tưởng.  Đem theo ‘kiến văn giác tri’ của những thứ này là kiến giải của phàm phu.  Do đó có thể biết khi ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng th́ là kiến giải của Phật, Bồ Tát.  Kiến giải của Phật, Bồ Tát gọi là quán chiếu, gọi là chiếu kiến.  V́ vậy nếu dùng kiến giải của phàm phu để tu hành th́ tuyệt đối chẳng thể siêu việt lục đạo.


Phàm phu rất khó ĺa khỏi t́nh kiến, nếu dùng t́nh kiến để tu học th́ hết thảy pháp môn chẳng có pháp nào được thành tựu hết, chỉ có tu học Tịnh Độ mới có thể.  Nhưng chúng ta nên biết tu Tịnh Độ là phải dùng công phu niệm Phật đè nén t́nh kiến, được vậy th́ mới có thể văng sanh.  Nếu đè nén chẳng nổi th́ không thể văng sanh.  Cũng có nghĩa là phiền năo chưa đoạn, chỉ là tạm thời đè nén mà thôi.  Nếu trong sát na lâm chung mà phiền năo chẳng hiện lên th́ sẽ thành công.  Nếu phiền năo khởi lên ngay lúc đó th́ chẳng thể văng sanh.  Thật ra niệm Phật cũng là ‘quán chiếu’, người biết dụng công  so với người tham thiền chẳng có ǵ khác nhau.  Trong ‘Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương’ có dạy: ‘nhiếp trọn sáu căn’, nếu làm được nhiếp trọn sáu căn th́ giống hệt như tham thiền; thí dụ chúng ta chỉ làm được ‘tịnh niệm tiếp nối’ mà chẳng biết làm thế nào để ‘nhiếp trọn sáu căn’ th́ chẳng giống với tham thiền.

 

C. KHUYẾN KHÍCH THÀNH KÍNH NHÂN SANH

 

1. Thành kính  (Buổi sáng 04-02-95)

Cầu học, cầu đạo đều dùng một chữ ‘cầu’, tự ḿnh phải cầu cho được, nếu tự ḿnh chẳng chịu [t́m cầu] th́ chẳng có ai nói cho bạn đâu.  V́ chúng sanh chẳng biết và cũng chẳng biết cầu nên chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi hiện thân thuyết pháp, thay thế chúng sanh thỉnh cầu.  Trong kinh điển chúng ta thấy những người ‘đương cơ’ là người thay thế chúng sanh [thỉnh] cầu pháp.  Trong kinh Vô Lượng Thọ, A Nan đứng ra khải thỉnh tức là thỉnh pháp thay cho chúng sanh.

Đạo và Học nhất định phải có cầu mới nói, dụng ư ở đây là ‘trọng đạo’ – tôn sư trọng đạo.  Chỉ có ‘tôn’, có ‘trọng’ th́ người học mới đạt được lợi ích.  Cũng như Ấn Quang đại sư dạy: ‘Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính th́ được hai phần lợi ích’.  Mười phần thành kính th́ người ta sẽ khai ngộ, được lợi ích to lớn.  Bởi vậy nên người xưa thường nói: ‘không thành th́ không ngộ’.  Chẳng có tâm thành kính th́ lợi ích ǵ cũng chẳng đạt được, cho dù đến nghe th́ chẳng qua chỉ là việc học thông thường mà thôi, chẳng thể nào đạt được lợi ích chân thật. 

Lợi ích chân thật là điều mà nhà Nho gọi là ‘biến hóa thân thể’ (biến hóa khí chất) và nhà Phật gọi là chuyển thức thành trí.  Nếu có thể biến hóa thân thể th́ tức là chuyển phàm thành thánh.  Nếu nghe không hiểu th́ chỉ là nghe trên lời nói, văn tự, chẳng có liên quan ǵ đến tâm tánh của ḿnh.  Nếu chẳng có một chút xíu thành kính th́ chỉ được một tí lợi ích bên ngoài mà thôi.  Nếu mọi người lưu ư một chút th́ sẽ thấy những hiện tượng này rất rơ ràng.

Có thể chúng ta tự ḿnh sẽ nghĩ: ‘Tôi đích thật đối với thầy rất cung kính, đối với Phật pháp cũng rất cung kính, bản thân cũng rất thâm nhập, vậy th́ tại sao chẳng đạt được lợi ích?’.  Hăy thử nghĩ: chúng ta đối với người ác th́ sao?  Đối với người ḿnh ghét th́ sao?  Có thể cung kính hay chăng?  Trong chân tâm chẳng có phân biệt, có phân biệt th́ chẳng là chân tâm.  Tôi đối với người này cung kính, đối với người kia chẳng cung kính, cái tâm này là giả, là hai tâm.  Thế nên vấn đề phát sanh ở chỗ chẳng có tâm thành kính, chẳng có tâm cung kính.


Tâm cung kính chân chánh tức là nhất tâm, tức là tâm b́nh đẳng, tâm thanh tịnh.  Bất luận biểu hiện được kiền thành như thế nào, nếu trong tâm c̣n phân biệt, chấp trước, th́ chẳng phải là nhất tâm.  Có phân biệt tức là chẳng b́nh đẳng; chấp trước tức là nhiễm ô, chẳng thanh tịnh, đây là mấu chốt tại sao nghe pháp, đọc kinh chẳng được lợi ích chân thật.

 

D. KHUYÊN TIN SÂU NHÂN QUẢ

 

1.    Nhân quả    (Buổi sáng 26-01-95)

Bát Nhă và Tịnh Độ đều đặc biệt nhấn mạnh nhân duyên quả báo – ‘nhân như vậy th́ quả như vậy, duyên như vậy th́ báo như vậy’ [10].  Thế nên khi chúng ta khởi tâm động niệm nếu có thể nghĩ đến quả báo tương lai th́ tự nhiên tâm sẽ thâu liễm, tự nhiên sẽ b́nh tĩnh lại.  Nếu chúng ta tạo nhân gây chướng ngại cho người khác, tương lai nhất định sẽ nhận quả báo người khác chướng ngại ḿnh, thiệt đúng là ‘một miếng ăn một miếng uống đều đă định sẵn’[11].  Là do ai định sẵn?  Là do nhân ḿnh đă tạo định sẵn.  Thế nên Phổ Hiền Bồ Tát Thập Nguyện vương dạy chúng ta phải tùy hỷ công đức.  Tùy hỷ tức là tâm Bồ Tát, tùy hỷ tức là chẳng gây chướng ngại cho người khác.

Tâm đố kỵ, chướng ngại của phàm phu chúng ta rất nặng, vừa thấy người ta có một chút lợi lộc ǵ, chúng ta liền cảm thấy khó chịu.  Có tâm niệm này th́ đă là không đúng rồi, nếu c̣n t́m cách để phá rối họ, phá hoại họ, th́ tội nghiệp sẽ rất nặng.  Nếu thiện pháp này có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh th́ tội lỗi này c̣n nặng hơn nữa, v́ đây chẳng phải chỉ gây chướng ngại cho một người mà là chướng ngại rất nhiều người, v́ vậy nên chúng ta nhất định phải hiểu rơ những mối quan hệ nhân quả này.

 

2.    Bố thí pháp   (Buổi sáng 15-02-95)

Trong ‘Hoa Nghiêm Kinh Biệt Hành Sớ Sao’ có giảng về Quảng tu cúng dường – Cúng dường tài vật chẳng bằng cúng dường pháp.  Trong kinh văn có một đoạn khai thị vô cùng hấp dẫn của cư sĩ Duy Ma, trong đó quan trọng nhất là chân chánh bố thí pháp không như chúng ta hiện nay tặng vài quyển kinh sách, tặng vài cuồn băng thâu âm [thuyết pháp] th́ gọi là bố thí pháp, chuyện này quá nhỏ bé.  Cư sĩ Duy Ma nói: ‘Pháp bố thí là dùng thân làm mẫu mực, như pháp tu hành, làm gương tốt cho tất cả chúng sanh, như vậy mới là pháp bố thí chân chánh’.  Đoạn khai thị này dạy cho chúng ta một điểm rất hay, như vậy chúng ta mới đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.


Thí dụ chúng ta thực sự bố thí tài vật, bố thí pháp, và bố thí vô úy, tu ba thứ nhân này th́ sẽ được ba thứ quả báo -- được giàu sang, thông minh trí huệ, khoẻ mạnh sống lâu.  Làm cho hết thảy chúng sanh nh́n thấy, để cho họ thấy những quả báo này và hỏi bạn: ‘Làm sao bạn được lợi ích thù thắng như vậy?’, bạn mới nói cho họ biết [muốn được quả báo như vậy th́] phải tu ba thứ nhân này.  Cho nên nhất định phải làm cho người khác nh́n thấy.  Khi tŕ giới th́ tự ḿnh hết ḷng tŕ giới, đoạn hết thảy ác nghiệp, làm cho tận đáy ḷng ḿnh thực sự đạt được thanh tịnh, thiện lương.  Cho đến nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, Bát Nhă đều phải thực sự làm cho được, như vậy chính là bố thí pháp.

Nếu bạn làm chẳng được mà nói cho người khác nghe, khuyên người th́ chẳng có hiệu quả ǵ hết, người ta chưa chắc sẽ tin tưởng.  Trong kinh đức Phật nói: ‘Chúng sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân’.  Chúng sanh nh́n thấy quả báo th́ họ mới phản tỉnh.  Nh́n thấy quả báo tốt th́ họ sẽ ngưỡng mộ, nh́n thấy quả báo không tốt th́ họ sợ hăi.  Cho nên chúng ta phải làm hết ḷng, đem quả báo bày trước mặt mọi người, để tự họ quan sát, phản tỉnh, sau đó sẽ phát tâm học tập, như vậy mới thực sự là pháp bố thí.

 

E.  HIỂU RƠ GIÁO DỤC PHẬT ĐÀ

 

1.    Hiểu lư  (Buổi sáng 29-01-95)

Việc quư báu nhất của đời người là có một phương hướng, mục tiêu chính xác trong đời sống của ḿnh, tức là có sanh hoạt giáo dục tốt đẹp.  Cổ thánh tiền hiền ở Trung Quốc dạy chúng ta làm người tốt, giữ tâm tốt, đây là giáo dục trong một đời.  Tu được tốt th́ đời sau có thể sanh lên trời, sáu tầng trời Dục giới đều là nơi những người tốt sanh đến.

Đức Phật dạy cho chúng ta phương hướng, mục tiêu đích thực là cứu cánh viên măn -- viễn ly tam giới, vĩnh viễn thoát ly luân hồi.  Nhưng nhất định phải hiểu rơ lư luận, hiểu rơ lư luận là hiểu rơ chân tướng sự thật.  Nguồn gốc của tam giới luân hồi là vọng tưởng, chấp trước, đặc biệt là ngă chấp, có cái Ta (ngă), có cái của Ta (ngă sở) là nguyên nhân tạo nên lục đạo luân hồi.  Muốn thoát ra tam giới th́ phải phá ngă chấp, ngă sở.  Ngă sở là những ǵ ḿnh có, người ta khởi tâm động niệm ǵ cũng liên quan đến ‘cái ḿnh có’, khi có quan niệm ‘cái của ḿnh’ này th́ sẽ chẳng thể thoát ra tam giới lục đạo luân hồi.  Phật pháp Đại thừa và Tiểu thừa đều nhằm phá cái Ta này, người tu Tiểu thừa đoạn được ngă chấp th́ có thể chứng quả A La Hán, thoát ra được tam giới.

‘Ta’ c̣n không có th́ làm sao có ‘cái của Ta’?  ‘Danh văn lợi dưỡng của Ta’ đă làm hại chúng ta thê thảm.  Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta chẳng phải là chưa gặp Phật pháp, và cũng chẳng phải chưa hết ḷng tu học qua, vậy th́ tại sao ngày nay phải ra nông nỗi này?  Chính là bị cái ‘Ta’ này, ‘cái của Ta’ này hại đấy.

Chỗ cao minh của kinh điển Đại Thừa, đặc biệt là kinh Bát Nhă trong Đại Thừa dạy bạn mỗi khi khởi tâm động niệm ǵ cũng v́ Phật pháp, v́ hết thảy chúng sanh.  Nhưng người thế gian thường đều lo sợ cho miếng cơm manh áo, đời sống sẽ gặp khó khăn, đây đều là ngă chấp -- chấp trước ‘Ta’, những ǵ ‘của Ta’.  Nếu có tâm niệm này th́ chẳng phải là người học Phật và sẽ chẳng đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.

 Kinh Kim Cang nói rất hay: ‘Nếu Bồ Tát có tướng Ta, tướng Người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ Tát’, hăy suy nghĩ coi ư nghĩa của câu này là ǵ?  Ư nghĩa chân chánh của câu này là: ‘Nếu mỗi tâm niệm của chúng ta đều c̣n có ‘Ta’, ‘của Ta’ th́ chúng ta chẳng phải là học tṛ của Phật, đích thực chẳng phải là người học Phật’.  Vẫn c̣n ‘Ta’, c̣n ‘cái của Ta’ tức là c̣n lưu luyến thế gian này nên chẳng thể văng sanh được.

Tại sao tín đồ Cơ Đốc giáo có thể sanh lên trời?  Là v́ tâm niệm của họ có thể đem hết thảy vinh dự đều hướng dâng lên Chúa, nếu họ đem hết thảy vinh dự đều cho là của ḿnh th́ họ chẳng thể sanh lên trời, v́ cái ‘Ta’ của họ chưa phá hết.  Thế nên mọi người hăy suy nghĩ kỹ đạo lư này.

 

2.    Bản chất của Phật giáo  (Buổi sáng 10-02-95)

Trong thời đại ngày nay Phật giáo cũng đang cải cách, nhưng nếu chẳng thể giữ vững tinh thần chân chánh của Phật giáo th́ Phật giáo sẽ biến chất.  Một khi biến chất th́ Phật giáo chân chánh sẽ bị tiêu diệt, thế nên phải giữ vững bản chất này.  Bản chất là những điều ghi trong tựa đề của kinh Vô Lượng Thọ: ‘Thanh Tịnh, B́nh Đẳng, Giác’, đây là căn bản, không những là căn bản của Tịnh Tông, mà tất cả hết thảy Phật pháp Đại Thừa đều xây dựng trên căn bản này.  Tất cả hết thảy pháp môn đều phải đạt đến mục đích này, tách ĺa khỏi mục tiêu này sẽ chẳng là Phật pháp nữa.

Kinh điển trong Phật pháp có vô lượng kho báu, bản thân bạn phải biết đi t́m kiếm, phát hiện.  Bất kỳ một bộ kinh luận nào cũng có kho tàng vô tận, hơn nữa hết thảy kinh luận đều hỗ tương thông đạt lẫn nhau.  Thế nên thông đạt một bộ kinh th́ sẽ thông đạt hết thảy kinh điển.  Tại sao lại thông đạt hết?  V́ mục tiêu của mỗi  bộ kinh đều là ‘Thanh Tịnh, B́nh Đẳng, Giác’.  Chỉ cần bạn đạt được thanh tịnh, b́nh đẳng, giác th́ bạn sẽ thông suốt hết thảy kinh, chẳng có chướng ngại ǵ hết.

Một bộ kinh cũng chẳng thông th́ bất kỳ kinh nào cũng chẳng thông, đây là v́ lư do ǵ?  V́ chẳng đạt được tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, vẫn c̣n mê hoặc điên đảo cho nên chẳng thông.  Nếu mọi người hiểu rơ chân tướng sự thật này th́ mới hiểu Phật pháp chú trọng ở chỗ chân chánh tu hành, [có chân chánh tu hành] th́ mới thông được.  Chẳng tu hành chân chánh, nếu chỉ học trên chữ nghĩa, văn tự th́ sẽ tuyệt đối chẳng thể thông được.

 

3.    Giới định huệ       (Buổi sáng 09-05-95)

Tu học Phật pháp chẳng thể tách rời ‘Giới Định Huệ’.  Giới tức là giữ pháp luật, giữ quy củ, giữ những lời răn dạy của Thế Tôn ghi trong kinh điển, chúng ta tuân theo mà làm.

Mấu chốt quan trọng nhất trong việc tu hành là ‘Định’, Định chính là tâm thanh tịnh.  Có thể tu tâm thanh tịnh trong mọi cảnh thuận, cảnh nghịch, chẳng bị hoàn cảnh nhân sự quấy nhiễu, ô nhiễm th́ đạo nghiệp của bạn sẽ thành công.


Có Định th́ sẽ có Huệ, Huệ tức là có khả năng biết rơ thị phi, thiện ác, tuy có thể biết rơ sự khác nhau nhưng tuyệt đối chẳng khởi tâm động niệm.  Một khi khởi tâm động niệm th́ đă lạc vào ư thức rồi, sẽ chẳng c̣n giới - định - huệ nữa.  V́ vậy nên chư Phật, Bồ Tát đối với bất cứ ai đều chẳng oán hận, cho dù có người ác, việc ác đến chướng đạo, chư Phật, Bồ Tát đều xem như tự nhiên, chẳng khởi lên tâm oán hận.  Tại sao vậy?  Hy vọng người ác có thể sớm ngày giác ngộ, có thể quay lại.  V́ người ác cũng có Phật tánh cho nên Phật, Bồ Tát đối  xử với họ rất tôn kính.

 

F. ĐIỂN TỊCH PHẢI ĐỌC

 

1.    Ngũ kinh nhất luận  (Buổi sáng14-05-95)

Học Phật và đă phát tâm xuất gia th́ nhất định phải gánh vác sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, nếu không th́ thành tựu sẽ chẳng bằng người tại gia.  Hoằng pháp lợi sanh, một đời có thể học một hai bộ kinh th́ cũng đủ dùng rồi, chẳng cần phải học quá nhiều.  Bộ kinh mà bạn chọn để tu học này, kinh văn và chú giải đều phải học thuộc ḷng, nếu chẳng tuân theo phương pháp của các đại đức đời xưa truyền lại, th́ sự thành tựu của chúng ta sẽ thua xa người đời trước.

Người đời trước học một bộ kinh không những phải học thuộc ḷng kinh văn, mà c̣n phải học thuộc ḷng chú giải.  Như trong Tông Thiên Thai họ phải học thuộc ḷng ba bộ -- kinh Pháp Hoa, ‘Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Thích Thiêm’, ‘Pháp Hoa Kinh Văn Cú’, những cuốn này tính là hai bộ; ngoài ra c̣n một bộ liên quan đến việc tu hành, đó là ‘Ma Ha Chỉ Quán’.  Đây là điều kiện căn bản để học theo phái Thiên Thai; nếu chẳng học thuộc ḷng ba bộ này th́ chẳng có tư cách để học Thiên Thai.  Cho nên người ngày nay chẳng chịu học thuộc ḷng kinh sách th́ chẳng có cách nào để vượt hơn chư vị tổ sư.  Học kinh Vô Lượng Thọ không những phải học thuộc ḷng kinh văn của kinh Vô Lượng Thọ mà c̣n phải học thuộc ḷng chú giải của kinh Vô Lượng Thọ.

Trong cả đời tôi chỉ gặp được một người vẫn c̣n dùng phương pháp dạy học thời xưa này, -- đó là Hải Nhân lăo pháp sư ở Hương Cảng.  Năm 1977 tôi đến thăm ngài, qua năm sau th́ ngài văng sanh, văng sanh lúc chín mươi mấy tuổi.  Ở Hương Cảng ngài chỉ có sáu học tṛ mà thôi; ngài chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, chuyên hoằng Lăng Nghiêm, ở Hương Cảng ngài được xưng là Thủ Lăng Nghiêm Vương.  Học tṛ của ngài phải học thuộc ḷng kinh Lăng Nghiêm, phải học thuộc ḷng chú giải nên học tṛ của ngài chỉ có sáu người mà thôi.

Nếu muốn thực sự có thành tựu th́ không thể không hạ thủ công phu ở chỗ này.  Muốn học kinh Vô Lượng Thọ th́ Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ của lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất hay, tốt nhất là có thể học thuộc ḷng cuốn này.

Nếu học kinh Quán Vô Lượng Thọ th́ chọn ‘Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ’, đây là Sớ của Thiện Đạo đại sư, phải học thuộc ḷng cả kinh lẫn chú giải.

Nếu học kinh Di Đà, kinh Di Đà có hai thứ chú sớ: ‘Di Đà Sớ Sao’ và ‘Di Đà Yếu Giải’.  ‘Sớ Sao’ tốt nhất nên thêm ‘Diễn Nghĩa’, Diễn Nghĩa là để chú giải cuốn Sớ Sao.  Sớ Sao là do Liên Tŕ đại sư soạn, Diễn Nghĩa do học tṛ của Liên Tŕ đại sư là Cổ Đức pháp sư soạn.  Sách Yếu Giải th́ tốt nhất nên học thêm cuốn Giảng Nghĩa của Viên Anh pháp sư soạn.

Học Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm th́ tốt nhất nên chọn ‘Biệt Hành Sớ Sao’, học thuộc ḷng hết hai cuốn này.

Học Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương th́ chọn Sớ Sao của Quán Đảnh pháp sư.

Học Văng Sanh Luận th́ chọn chú giải của Đàm Loan pháp sư.

Phải có khả năng học một môn, theo một nhà th́ mới được, nếu chẳng dồn hết sức như vậy th́ chỉ là giỡn chơi với Phật pháp mà thôi, chẳng thể tự độ, độ tha.  Thế nên đại đức thời xưa nói: ‘Năm năm học giới’, phục vụ những người thường trú tại đạo tràng trong ṿng năm năm là tu phước, tu bố thí, tu nhẫn nhục; trong năm năm này bạn phải học thuộc ḷng những kinh điển mà ḿnh phải học.  Trong ṭng lâm tự viện ngày xưa, năm năm này bạn chẳng có tư cách để nghe kinh.  Trong hoàn cảnh ngày nay, bạn có thể nghe kinh, nhưng bạn phải chú trọng vào việc học thuộc ḷng kinh.


Năm kinh một luận nếu có thể học thuộc ḷng càng nhiều th́ càng tốt, chú giải th́ tối thiểu phải chọn một loại.  Bạn phát tâm tương lai hoằng dương bộ kinh nào th́ phải dồn sức vào kinh ấy, mỗi ngày đều đọc, đọc quen rồi th́ tự nhiên sẽ nhớ nằm ḷng, chẳng cần phải học cũng thuộc, giới định huệ của bạn có thể hoàn thành bằng cách tu học này.  Thực sự có thể dồn sức, dồn công phu vào việc này, th́ bạn đâu c̣n thời gian để khởi vọng tưởng, kiếm chuyện thị phi?  Vẫn c̣n vọng tưởng, thị phi th́ bạn chẳng thể tu học bằng phương pháp này.  Thế nên cổ đức xưa nay đều ‘chuyên công’ -- dồn sức vào học một môn, đều là một môn thâm nhập mà có được thành tựu.

 

G. TRẢ LỜI NGHI VẤN HỌC PHẬT

 

1.    Mục đích của việc xuất gia

(Buổi sáng 04-01-95)

Người phát tâm xuất gia nói chung cũng đă giác ngộ chút ít rồi.  Giác ngộ việc ǵ?  Giác ngộ việc sanh tử luân hồi rất đáng sợ, lập chí muốn liễu sanh tử, xuất tam giới ngay trong đời này, đây là như người xưa nói: ‘Thiệt v́ sanh tử mà xuất gia’.  Một người có giác ngộ như thế sẽ có thái độ chẳng giống như người thường, khi đối xử với người, với sự, với vật, họ sẽ chẳng tranh danh đoạt lợi, sẽ chẳng ganh ghét chống đối.  Tại sao vậy?  Họ biết đó là nghiệp nhân luân hồi.  Hết ḷng muốn liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng phải là làm không được, nếu ‘chắc thật niệm Phật’ th́ sẽ làm được, chúng ta phản tỉnh tự hỏi ḿnh có ‘chắc thật’ hay không?

Chân chánh xuất gia phải nói đến nguyện vọng hoằng pháp lợi sanh, việc này sẽ bị chướng ngại hay chăng?  Chướng ngại rất nhiều.  Huynh đệ đại chúng ở chung trong một đạo tràng, nếu bạn là người muốn xuất sắc hơn kẻ khác, người ta sẽ đố kỵ, gây chướng ngại để d́m bạn xuống.  Mức độ nghiêm trọng của sự đố kỵ, chướng ngại này đă bắt đầu từ thời đức Phật Thích Ca, nhóm sáu tỳ kheo kết bè kết đảng [12] (Lục Quần Tỳ Kheo) là thí dụ cho sự đố kỵ chướng ngại này.  Trong ‘Lục Tổ Đàn Kinh’ [có nói] Lục Tổ Huệ Năng đại sư phải trà trộn trong nhóm thợ săn hết mười lăm năm, tại sao vậy?  V́ để tránh sự đố kỵ chướng ngại của những kẻ khác.  Họ chẳng thể thành tựu nên cũng không muốn ngài được thành tựu.

Tại sao người xuất gia c̣n những tâm niệm như vậy?  Đây là con cháu của Ma Ba Tuần.  Lúc Phật c̣n tại thế không phải trong kinh đă ghi lại rơ ràng hay sao: ‘Trong thời Mạt Pháp, Ma Vương Ba Tuần kêu ma con, ma cháu đều xuất gia, đắp ca sa lên ḿnh để phá hoại Phật pháp’, chắc họ là những người này.  Nếu chúng ta có tâm niệm rằng: ‘Người khác giỏi hơn ḿnh, họ làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, ḿnh ganh ghét họ, ḿnh phải kiếm cách phá đám, cản trở họ’.  Vậy th́ ḿnh đă là con cháu của Ma Vương, chuyên làm việc phá hoại Phật pháp.  Nếu có người chân chánh phát tâm làm việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta sanh tâm hoan hỷ, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ họ, lo lắng cho họ, như vậy mới thực sự là Phật tử.  Thế nên ngày nay chúng ta đă xuất gia, rốt cuộc chúng ta là con cháu của Ma hay là con cháu của Phật?  Tự ḿnh phản tỉnh, kiểm điểm th́ sẽ biết liền.  Con cháu của Ma Vương xuất gia quả báo tương lai nhất định sẽ ở trong ba đường ác, v́ họ gây chướng ngại cho đạo pháp chứ chẳng hoằng pháp ǵ hết.

Thế nên chân chánh phát tâm hoằng pháp lợi sanh th́ nhất định phải có thiện xảo phương tiện, đó tức là lúc tự ḿnh dụng công, tư thế phải đặt ở những chỗ thấp nhất, tốt nhất là dụng công đừng để cho người khác biết.  Ở những chỗ người ta không thấy th́ ḿnh dụng công; những chỗ người ta có thể thấy th́ ḿnh ḥa đồng với đại chúng, ḥa ḿnh với mọi người, hằng thuận chúng sanh tùy hỷ công đức.  Ở những chỗ người ta không thấy th́ tự ḿnh nỗ lực gắng sức.  Buông bỏ hết thảy danh văn lợi dưỡng, tham - sân - si - mạn, đố kỵ chướng ngại.  Buông bỏ những thứ này tức là buông bỏ lục đạo luân hồi, một ḷng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, đây là con đường văng sanh thành Phật.

Hôm nay nh́n người này chẳng ưa, ngày mai thấy người nọ chướng mắt, chúng ta phải biết như vậy là tạo nghiệp luân hồi.  Hết thảy những ǵ trên thế gian đều tùy hỷ, tự ḿnh làm tṛn bổn phận của ḿnh, như vậy mới đúng, ngay cả Khổng lăo phu tử cũng dạy tông chỉ này – ‘phải làm tṛn bổn phận của ḿnh’.  Bổn phận tu học của chúng ta là y theo kinh Vô Lượng Thọ, tu tập Thanh Tịnh, B́nh Đẳng, Chánh Giác, Từ Bi; trong đời sống hằng ngày phải thực hiện được Nh́n Thấu, Buông Xuống, Tự Tại, Tùy Duyên.  Thiện Đạo đại sư dạy: ‘Hết thảy phải làm từ tâm chân thật’, như vậy mới đúng.

Chương Gia đại sư dạy tôi, ở đây tôi cũng tặng lại cho quư vị: ‘Người học Phật cả đời này bất cứ việc ǵ đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài’.  Bản thân ḿnh không cần lo lắng ǵ cả, được như vậy th́ tâm mới thanh tịnh, b́nh đẳng.  Gặp cảnh thuận là do Phật, Bồ Tát an bài; gặp cảnh nghịch th́ cũng do Phật, Bồ Tát an bài.  Do vậy trong cảnh thuận chẳng sanh tâm ưa thích, trong cảnh nghịch cũng chẳng sanh phiền năo.  Hết thảy đều do Phật, Bồ Tát xếp đặt một cách ổn thỏa nhất, dùng công việc để luyện tâm, thành tựu đạo nghiệp, vậy th́ đâu có chuyện oán trời trách người.

 

2.    Năm trăm năm sau   (Buổi sáng 26-01-95)

Người chân chánh cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới phải có tâm thanh tịnh.  Nhưng chúng ta ai cũng là phàm phu chứ chẳng phải thánh nhân, phàm phu vẫn c̣n phiền năo, tập khí tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay.  Chúng ta sanh trong thời đại này, thời đại ngày nay là thời đại ǵ?  Là thời đại ‘đấu tranh kiên cố’.  Trong kinh Kim Cang, Phật có nói đến ‘năm trăm năm sau’, [danh từ này] có nhiều cách giải thích, một trong những cách giải thích là năm lần năm trăm năm sau -- thời Chánh pháp dài một ngàn năm, Tượng pháp dài một ngàn năm, Mạt Pháp mười ngàn năm; năm trăm đầu tiên của thời Mạt Pháp tức là năm trăm năm này.  Đức Phật nói đây là thời đại đấu tranh kiên cố.

Năm trăm năm thứ nhất – năm trăm năm đầu tiên sau khi Phật diệt độ -- là thời kỳ ‘giải thoát kiên cố’, lúc đó người tu hành chứng quả rất nhiều, kinh điển Phật pháp được kết tập trong thời đại này, cho nên những vị tham dự kết tập kinh điển tối thiểu cũng chứng được Tam Quả trở lên, phần đông đều là Tứ Quả A La Hán.

Năm trăm năm thứ nh́ là thời kỳ ‘thiền định kiên cố’.

Năm trăm năm thứ ba là thời kỳ ‘đa văn kiên cố’.  Đa văn nghĩa là chỉ chú trọng vào việc nghiên cứu, thảo luận kinh giáo, giảng kinh thuyết pháp mà chẳng chú trọng vào việc tu hành.

Năm trăm năm thứ tư là thời kỳ ‘tháp tự kiên cố’.  Lúc đó chẳng c̣n tinh thần để thảo luận về Phật học, mọi người đều bận rộn công việc xây dựng chùa miếu.

Năm trăm năm thứ năm là thời kỳ ‘đấu tranh kiên cố’.  Dựa vào sự ghi chép trong lịch sử Trung Quốc, đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ đến nay (1995) là ba ngàn lẻ hai mươi mốt năm (3021 năm), cũng tức là mở đầu của năm trăm năm thứ bảy.  Đây là thời kỳ đấu tranh, đấu tranh không ngừng.  Chúng ta suy nghĩ kỹ xem có chỗ nào chẳng đấu tranh?  Thật ra lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni c̣n tại thế có hết thảy chín mươi sáu nhóm ngoại đạo đối lập với Phật pháp; c̣n trong Phật môn có Đề Bà Đạt Đa, nhóm sáu tỳ kheo kết bè kết đảng nhiễu loạn Tăng đoàn, phá ḥa hợp tăng, thậm chí c̣n muốn ám hại đức Phật Thích Ca.  Ngoài ra nh́n lại lịch sử Trung Quốc có đạo tràng nào chẳng có đấu tranh?  Trong đạo tràng có rồng rắn lẫn lộn, có người tu hành tốt và cũng có người cốt ư muốn phá hoại, đây là chuyện bất cứ đoàn thể nào cũng chẳng tránh khỏi.  Đây là một sự bất hạnh của nhà Phật và cũng là hiện tượng chúng sanh phải gặp nạn và chịu khổ.

 

3.  Công việc của người xuất gia 

(Buổi sáng 29-01-95)

Tại sao phải phát tâm xuất gia?  Học Phật th́ tại gia cũng có thể thành Phật.  Xuất gia là v́ chủ tŕ Phật pháp, tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh, phát triển Phật pháp, đem lại lợi ích chân thật cho chúng sanh, đây mới là công việc của người xuất gia.  Nếu mỗi người xuất gia đều có tâm niệm này th́ Đài Loan sẽ thành ḥn đảo trân quư, phước địa thật sự.  Trong thời đại này nếu chẳng thật sự làm được sự nghiệp lợi ích chúng sanh th́ nhất định sẽ làm sự nghiệp đấu tranh – tranh danh đoạt lợi, chẳng thể nhường nhịn lẫn nhau, ḱnh chống lẫn nhau và tạo nên những tội nghiệp này.

Nếu chúng ta đă xuất gia rồi nhưng chẳng thể tín, giải, thực hành theo lời giáo huấn của đức Phật, th́ chúng ta sẽ là con cháu của Ma Vương, trong thời kỳ Mạt Pháp trộn lẫn trong tăng đoàn để hủy hoại Phật pháp.  Tuy trước mắt có được một chút lợi ích -- lợi ích là danh văn lợi dưỡng, hưởng thọ ngũ dục lục trần, nhưng đời sau nhất định sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ.

Công việc hoằng pháp lợi sanh chỉ cần có tâm muốn làm th́ ai cũng có khả năng làm, đều có thể làm được viên măn, nếu chẳng làm th́ cũng không có cách ǵ khác.

                   

4.    Chánh tri chánh kiến  (Buổi sáng 06-02-95)

Tri kiến quan trọng nhất là chánh tri chánh kiến.  Tổng cương lănh tu hành của pháp môn niệm Phật là ‘Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm’.  Phát Bồ Đề tâm là chánh tri chánh kiến, thế nên nếu chẳng phát Bồ Đề tâm th́ dù đă làm được nhất hướng chuyên niệm nhưng cũng rất khó văng sanh, điểm này rất quan trọng.  Thực tại mà nói nếu chẳng có chánh tri chánh kiến, tuy có nhất hướng chuyên niệm th́ cũng rất khó thành tựu.  V́ ‘nhất’ là nhất tâm, tâm có tạp niệm th́ chẳng là nhất tâm, niệm A Di Đà Phật mà có xen tạp, tuy buông xuống những pháp môn khác th́ h́nh như là có nhất tâm chuyên niệm nhưng thật sự chẳng phải, bạn c̣n xen tạp vọng tưởng, c̣n xen tạp phiền năo nên vẫn không thể thành tựu.  Do đó tri kiến vô cùng quan trọng trong sự tu hành.

Nếu dùng ngôn ngữ hiện nay mà nói th́ ‘tri kiến’ có nghĩa là ‘nhận thức’ -- nhận thức đối với Phật pháp, nhận thức về thế gian pháp.  Có nhận thức chính xác tức là chánh tri chánh kiến.  Phật pháp trong thế gian giáo hóa chúng sanh chẳng có ǵ khác ngoài việc giúp chúng sanh xây dựng chánh tri chánh kiến, một khi đă có chánh tri chánh kiến th́ tu hành rất dễ.  Tu hành là việc của mỗi người, nếu mỗi người tu hành không thể khắc phục phiền năo và tập khí th́ vấn đề vẫn ở tại tri kiến.  Cho nên vừa mở đầu kinh Pháp Hoa đức Thế Tôn liền chỉ rơ tông chỉ của sự giáo học: ‘Khai thị ngộ nhập Phật chi tri kiến’.  Đức Phật khai thị cho chúng ta, chúng ta phải có khả năng ngộ nhập.  ‘Ngộ’ tức là minh liễu, hiểu rơ, ‘nhập’ tức là thực sự làm được.  Và cũng có nghĩa là ‘dung hóa’ chánh tri chánh kiến, có thể ḥa thành một thể với đời sống của ḿnh th́ gọi là ‘dung hóa’, tục ngữ gọi là chứng quả, ‘nhập’ nghĩa là chứng.

Chúng ta tu học cũng phải có mục tiêu và tiêu chuẩn rơ ràng.  Mỗi năm phải tiến bộ hơn năm trước th́ thời gian mới chẳng uổng phí.  Người học Phật có thể dùng hai điều sau đây để tự kiểm điểm và phản tỉnh coi ḿnh có tiến bộ hay không:

Thứ nhất là khai mở trí huệ và cũng là điều đă nói ở phía trước, chánh tri chánh kiến càng ngày càng rơ ràng, thông suốt.  Những đạo lư nói trong kinh năm nay rơ ràng hơn năm ngoái, lănh ngộ được nhiều hơn.

Thứ nh́ là đoạn phiền năo.  Vọng tưởng, phiền năo, và tập khí ít hơn lúc trước.  Nếu trí huệ chẳng tăng trưởng, phiền năo tập khí vẫn c̣n rất nặng th́ cả năm nay đă trôi qua một cách vô ích, uổng phí.

 

5.    Hoằng pháp  (Buổi sáng 09-02-95)

Tu học Phật pháp, hoằng dương Phật pháp muôn vàn chẳng thể lấy danh nghĩa Phật pháp để lừa gạt chúng sanh, để t́m cầu danh văn lợi dưỡng, tham đắm hưởng thọ ngũ dục lục trần, nếu làm như vậy là sai lầm.  Cho dù trước mắt có thể tham được một chút tiện nghi nhưng đời sau nhất định phải đọa địa ngục A Tỳ, đạo lư và sự thật này mọi người đều chẳng khó hiểu.  Do đây có thể biết hết ḷng tu học, dũng mănh tinh tấn là một điều tất yếu.

     Hoằng dương Phật pháp th́ tự ḿnh nhất định phải làm gương tốt, phải nhận thức rơ ràng thời đại này, phải có trí huệ, thiện xảo phương tiện, làm cho hết thảy chúng sanh tín thọ phụng hành dễ dàng, được vậy th́ đời này mới chẳng luống uổng.

Chúng ta giúp đỡ người khác, bất luận là cá nhân, đoàn thể, hay đạo tràng đều phải ghi nhớ lời dạy của đại sư Thiện Đạo: ‘Hết thảy phải làm với tâm chân thật’, chẳng thể giả dối.  Sự khác biệt giữa Phật pháp và Thế pháp là ở chỗ chân và giả, Phật pháp là chân thật, tâm là chân thật, cho nên hết thảy đều là chân thật.  Tâm người thế gian là hư vọng giả dối nên hết thảy đều là hư vọng, đây cũng tức là: ‘vạn pháp duy tâm, vạn pháp duy thức’.

 

6.    Đời sống của người xuất gia

     (Buổi sáng11-02-95)

Trong thời kỳ Mạt Pháp, hoàn cảnh sinh sống của người xuất gia khác hẳn với lúc trước, hoàn cảnh sinh sống của người xuất gia lúc trước có bảo đảm.  Giống như ở Trung Quốc đại lục ngày xưa, tự viện am đường đều có hằng sản, có ruộng đất, có rừng núi, có thể cho nông phu mướn ruộng đất trồng trọt, do tự viện thâu tiền mướn đất nên nguồn lương thực của đạo tràng rất ổn định, có tài nguyên kinh tế nên tâm thanh tịnh, tâm định, chẳng phải chiều theo thị hiếu của tín đồ, tu hành cũng thành tựu dễ dàng hơn.

Trong xă hội ngày nay chùa chiền không có thâu nhập, chẳng có hằng sản, hoàn toàn phải nhờ tín đồ cúng dường.  V́ vậy nên xem tín đồ như là ‘y thực phụ mẫu’ (cha mẹ cung cấp thức ăn áo mặc), t́m đủ mọi cách để lung lạc tín đồ, cũng v́ vậy nên tâm phan duyên rất nặng và đạo tâm lơ là, tâm chẳng thanh tịnh, tâm đă bị ô nhiễm, đây là hoàn cảnh tu học ngày nay của chúng ta chẳng sánh bằng người đời xưa.  Đây cũng là lư do tại sao ngày nay người tu hành nhiều nhưng thành tựu rất ít.  Nếu chúng ta muốn thành tựu ngay trong một đời này th́ phải hiểu rơ những vấn đề này, phải rất minh bạch, chẳng thể phạm sai lầm.  Thế nên đạo tràng chẳng cần phải lớn, càng nhỏ càng tốt, chi phí ít th́ sanh hoạt dễ dàng hơn; c̣n có khả năng dư thừa th́ phải tận tâm làm công việc hoằng pháp lợi sanh.

‘Đạo’ tức là tâm thanh tịnh, nhất định phải ghi nhớ điều này.  Đề kinh của kinh Vô Lượng Thọ là ‘Thanh Tịnh, B́nh Đẳng, Giác’, đây tức là Đạo, chúng ta tu hành là tu việc này.  Hễ những ǵ nhiễu loạn tâm thanh tịnh, phá hoại tâm thanh tịnh đều là chướng ngại, đều là ma.  Nếu chúng ta ngăn ngừa cẩn thận th́ sẽ có thêm ‘tăng thượng duyên’ [13] để hướng về Đạo, cho dù đang ở trong thời loạn cũng có thể thành tựu được.  Nếu chẳng để ư th́ tập khí, bịnh cũ của chúng ta sẽ tái phát, tương lai nhất định sẽ đọa lạc.

Đă phát tâm xuất gia rồi chúng ta nhất định phải biết [nếu đọa lạc th́] sự đọa lạc của chúng ta sẽ nặng hơn và thê thảm hơn người thế gian rất nhiều.  Người thế gian mê hoặc điên đảo, đọa lạc th́ vẫn c̣n có thể tha thứ được; chúng ta ngày ngày được nghe Phật pháp, đều có tŕnh độ hiểu biết tương đối khá nhiều đối với sự thật và đạo lư của nhân duyên quả báo, đă biết rơ rồi mà c̣n cố phạm cho nên tội lỗi sẽ tăng gấp bội, c̣n nặng hơn những người thường phạm lỗi rất nhiều, đây là lư do tại sao chúng ta chẳng thể không cẩn thận, chẳng thể không hiểu rơ.

 

7.    Văng sanh  (Buổi sáng 11-02-95)

Chúng ta phải niệm niệm nhớ về cố hương (quê hương), cố hương là y báo, chánh báo trang nghiêm ở Tây phương Cực Lạc thế giới.  Phải ghi nhớ chuyện này trong ḷng, những chuyện khác chẳng có liên hệ ǵ đến ta, phải luôn luôn mong muốn trở về quê hương, cái tâm niệm muốn văng sanh này là chánh niệm.

Phần đông người thế gian không hiểu, cứ cho rằng: ‘Tại sao người này cứ muốn chết hoài?’.  Đây là quan niệm sai lầm của người thế gian.  Văng sanh là sống mà đi chứ chẳng phải chết, vả lại c̣n là ‘sống măi’ -- sẽ chẳng c̣n sanh tử, chẳng c̣n luân hồi nữa.  Cho nên đó mới là sự mở đầu của sự ‘sanh’; nếu chẳng thể văng sanh th́ sẽ có sanh tử.  Trong nhà Phật chúng ta thường nói: ‘Pháp thân huệ mạng’.  Văng sanh là bắt đầu chứng được Pháp thân huệ mạng, là sự bắt đầu của chân thường, chẳng phải vô thường, c̣n ở thế gian này đều là vô thường.  Chúng ta phải luôn luôn có cái tâm này, có ư niệm này, như vậy mới tốt.

‘Thế duyên’ tức là làm lợi ích cho chúng sanh.  Tuy phước báo của chúng ta rất mỏng, mỏng cũng chẳng thành vấn đề, cho dù chỉ là một chút thí xả, nhưng đó đích xác là lợi ích chân thật, đó cũng là công đức viên măn.

 

8.    Ma chướng (Buổi sáng 09-05-95)

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên nói rất hay: ‘Họa hay phước chẳng có lối vào, chỉ có người tự chiêu cảm lấy’[14].  Nếu chúng ta trong đời sống sanh hoạt hằng ngày, vô ư hay cố ư mắc lỗi [gây xích mích] với người ác sẽ đem đến những quả báo chẳng vừa ư, th́ người tu hành chúng ta sẽ có nhiều ma chướng trên đường tu học Bồ Tát đạo.  ‘Ma chướng’ là những chuyện cản trở do những người hay việc mà ḿnh có xích mích, đụng chạm làm nên.  Nếu chẳng mắc lỗi [xích mích] với người th́ ma chướng sẽ ít.  Mắc lỗi với người nhiều th́ ma chướng sẽ nhiều.

Chúng ta phải khắc phục tâm sân khuể của ḿnh, khắc phục ḷng đố kỵ, chướng ngại của ḿnh.  Đây đều là phiền năo tích lũy từ nhiều kiếp trước, khi thấy người khác giỏi th́ trong ḷng chẳng vui; khi nh́n người khác có thành tựu th́ ḿnh rất khó chịu, liền t́m đủ mọi cách để phá hoại người ta, gây trở ngại phá rối người khác, đâu biết đó là giúp họ thành tựu tâm nhẫn nhục, thành tựu cho định - huệ của họ, chỉ đem lại cho ḿnh nhiều điều chẳng như ư mà thôi.  V́ chuyện bạn đă tạo là ‘tánh tội’, tội này sanh từ tâm ác, bản thân của nó đă là tội, cho dù người ta chẳng báo phục th́ tự ḿnh cũng sẽ chịu lấy báo ứng.

 

9.    Chánh tri chánh kiến  (Buổi sáng 09-05-95)

Tông Thiên Thai có câu: ‘Có thể nói mà không thể làm là quốc sư; có thể nói và cũng có thể làm là quốc bảo’ [15], ư nghĩa của hai câu này là điều mà đức Phật thường nói đến trong kinh; người phá giới c̣n có thể cứu được, phá kiến (người có tri kiến sai lầm) th́ chẳng thể cứu được.

‘Có thể nói mà không thể làm’ là phá giới -- người đó biết nói nhưng làm chẳng được, những ǵ họ nói đều đúng, nói chẳng sai, tri kiến là chính xác, cho nên người này vẫn c̣n có thể cứu được.  Giả sử [người này] tŕ giới rất nghiêm mật, làm rất tốt, nhưng tri kiến sai lầm th́ chẳng thể cứu nổi.  Thí dụ chư Phật Như Lai, lịch đại tổ sư đại đức đều dạy chúng ta phải nên cầu sanh Tịnh độ, không những người niệm Phật phải cầu sanh Tịnh độ, tu học bất cứ pháp môn nào đến cuối cùng cũng nên hồi hướng cầu sanh Tịnh độ, kiến giải này tức là chánh tri chánh kiến.

Tự ḿnh có thể một ḷng một dạ cầu sanh Tịnh độ và c̣n giới thiệu chánh pháp cho mọi người, người như vậy tức là quốc bảo.  Cho nên làm thế nào hoằng pháp lợi sanh mới có hiệu quả tự độ, độ tha?  Phải đem lời dạy trong kinh thực sự làm được trong đời sống hằng ngày.  Nếu làm chẳng được, tuy những chuyện ḿnh nói là chánh pháp th́ cũng chẳng nói được thấu suốt, triệt để.  Tại sao sẽ không thấu triệt?  V́ đó chẳng phải sự thể nghiệm của chính ḿnh mà chỉ là những ǵ ḿnh nghe được; dù cho biết được từ trong kinh th́ cũng thuộc về ‘chuyện ḿnh nghe được’ – là nghe đức Phật Thích Ca nói, nghe chư Bồ Tát nói, chẳng phải là do ḿnh đích thân nh́n thấy.  Phải làm sao mới có thể đích thân nh́n thấy?  Phải tự ḿnh đích thân làm, phải đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức, phải mỗi ngày phản tỉnh, kiểm điểm lỗi lầm của ḿnh.  Chúng ta đều đă đọc cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn, ông Viên Liễu Phàm là một tấm gương rất tốt.

 


Học vi nhân sư hành vi thế phạm

Tập 2

Ḥa thượng Tịnh Không thuyết giảng

Đây là những bài khai thị buổi sáng của ḥa thượng Tịnh Không cho đồng tu khắp nơi, chưa được ḥa thượng giám định.  Chỉ là do nhóm ghi chép bài giảng đích thân nghe băng thâu âm, ghi lại những điểm chính yếu, chỉnh lư cho gọn rồi viết thành bài nháp này để cúng dường độc giả.

 

A.  KHAI THỊ VỀ PHƯƠNG PHÁP TU TR̀

 

1. Đến cũng không không, đi cũng không không     (Buổi sáng 21-11-98)

          Tôi cùng Lư hội trưởng đi thăm lăo cư sĩ Hồng Cung Lan và tặng cho ổng một xâu chuỗi.  Lăo cư sĩ nói lúc b́nh thường ông có rất nhiều vọng niệm, sau khi có được xâu chuỗi này th́ vọng niệm ít đi.  Ông nằm mộng thấy một nam một nữ đến thăm ông, họ nói là do Ngọc Hoàng Đại Đế phái đến để bảo hộ cho ông, khuyên ông phải nhẫn nại, và nói: ‘Đến cũng không không, đi cũng không không’.  Cả đời lăo cư sĩ Hồng chẳng có tâm nhẫn nại, tính t́nh nóng nảy; nghe xong, ông hiểu được và rất hoan hỷ.  Sau khi ông tỉnh dậy th́ hai người này biến mất.  Ông nói ông đă tám mươi tuổi rồi, nhất định không lừa gạt người, đây là cảnh giới thật.

          ‘Đến cũng không không, đi cũng không không’, hai câu này nói toạc hết nghĩa thú của kinh Bát Nhă.  Không những trước lúc chúng ta đến đă không không, đi rồi cũng không không, hiện tại [chẳng phải] cũng không không đó sao?  Đức Phật nói chân tướng sự thật là như ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’.  Mộng, huyễn, bọt, bóng đều chẳng chân thực, đều là giả tướng, thời gian giả tướng này tồn tại rất ngắn, trong kinh h́nh dung ‘như sương, như ánh chớp.  Như sương là nói tướng tương tục -- tiếp nối, như ánh chớp là nói ‘sát na tế’ -- rất nhanh, nói rơ thật tướng chư pháp đích thật như vậy.  Người hiểu rơ và giác ngộ th́ được xưng là Phật, Bồ Tát; người mê hoặc và chẳng giác ngộ cho rằng chuyện này không thật, đây là phàm phu.  Cho nên sự sai khác giữa Phật, Bồ Tát và phàm phu là ở tại một niệm giác hay mê.  Người giác ngộ trong mộng, huyễn, bọt, bóng được tự tại, người mê hoặc th́ rất đau khổ.

          Do đó có thể biết đây là ‘duyên sanh’, duyên khởi tánh không.  Nghiệp duyên rất phức tạp, gồm có ba thứ: thiện, ác, và vô kư (vô kư là chẳng thiện, chẳng ác).  Chỉ có người giác ngộ chân chánh mới có thể vận dụng một cách thích hợp, giúp đỡ những chúng sanh chưa giác ngộ có thể khai ngộ, đây tức là chư Phật, Bồ Tát phổ độ chúng sanh.  Hiểu rơ chư pháp là vô sở hữu, ‘không không’ cũng là vô sở hữu, liễu bất khả đắc (trọn chẳng thể có được); cái tâm niệm có thể đắc và những vật đắc được đều là ‘không không’, tâm chúng ta mới chân chánh trở lại b́nh tịnh, trở lại thanh tịnh, b́nh đẳng.  Thanh tịnh b́nh đẳng là chân tâm bản tánh của chúng ta, và cũng là ‘minh tâm kiến tánh’ nói trong Tông Môn, [hiểu được như vậy] chúng ta mới thể hội tại sao cả đời giảng kinh thuyết pháp, Thế tôn phải dùng hết hai mươi hai năm để giảng kinh Bát Nhă là v́ hết thảy chúng sanh chẳng biết chân tướng sự thật, chẳng biết các pháp đều không, chẳng thể hành Bồ Tát đạo.  Bồ Tát đạo là con đường giác ngộ, phàm phu đi con đường mê hoặc nên mới xuất hiện thập pháp giới, lục đạo, tam đồ.  Mê nặng th́ là hiện tượng tam đồ, nhẹ hơn th́ là lục đạo, nhẹ hơn nữa là tứ thánh pháp giới.  Hết thảy tam đồ, lục đạo, tứ thánh pháp giới đều là mê, đều chẳng khế nhập vào ‘lư không’, khế nhập vào ‘lư không’ th́ sẽ chứng được Nhất Chân pháp giới.

          Nhất Chân cũng là danh tướng nói một cách miễn cưỡng, nếu chúng ta chấp trước có một cái ‘Nhất’, chấp trước có một cái ‘Chân’ th́ cũng sai luôn.  Đối ngược của một là nhiều, đối ngược của chân là giả, Huệ Năng đại sư nói: ‘Một và nhiều, chân và giả là Nhị pháp, Nhị pháp chẳng phải Phật pháp’.  Cho nên chẳng có ư niệm của ‘nhất’, của ‘chân’ th́ mới thực sự là Nhất Chân pháp giới.  Do đó có thể biết vừa khởi tâm động niệm một chút th́ đă sai mất rồi.

          Học Phật th́ phải học như thế nào?  Tông Môn thường nói: ‘Tu từ căn bản’, căn bản tức là một niệm chẳng sanh, tâm địa thanh tịnh chẳng khởi một tâm niệm ǵ hết.  Nếu nghĩ: ‘hiện giờ một niệm cũng chẳng sanh’ th́ đă sanh lên cái tâm ‘một niệm chẳng sanh’, vậy th́ cũng sai rồi.  Lúc mới bắt đầu học, Tông Môn dùng phương pháp ngồi xếp bằng quay mặt vào vách để tập ‘không khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước’.  Sau khi học thành công rồi th́ phải thao luyện trong đời sống, khi lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần phải không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, vậy th́ mới thành công, lúc bấy giờ mọi cảnh giới đều là Nhất Chân pháp giới.  Nhất Chân pháp giới chẳng tách ĺa thập pháp giới, lục đạo, tam đồ; làm sao có thể gọi là Nhất Chân pháp giới?  Do chuyển biến nơi tâm, chuyển biến ở chỗ nhận biết, nhận thức chân tướng của cảnh giới, tức là nhận thức được chân tướng của vũ trụ nhân sanh.

          Ư nghĩa của câu ‘Đến cũng không không, đi cũng không không’ rất sâu, nếu nhận thức rơ th́ sẽ rất vui vẻ mà nắm lấy duyên, thành tựu vô lượng công đức, đó là tích công lũy đức.  Phàm phu nhận lầm cảnh giới, tạo thành tội nghiệp nhưng chẳng phải là cố ư tạo tội.  Đức Phật nói nguồn gốc của hết thảy tội nghiệp là ngu si, si tức là chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật nên làm sai, dùng duyên sai lầm.  Người giác ngộ hiểu rơ chân tướng sự thật nên khi khởi tâm động niệm, hết thảy hành động đều là tích công lũy đức.  Tích công lũy đức là khái niệm của người thế gian, người giác ngộ chẳng có tâm niệm này.  Chúng sanh trong thập pháp giới có tâm niệm này, Phật, Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới chẳng có tâm niệm này, đó là ‘làm mà không làm, không làm mà làm’.

          Chúng sanh có ‘cảm’ th́ Phật, Bồ Tát liền ‘ứng’, tự nhiên cảm ứng đạo giao, nhất định chẳng có khởi tâm động niệm.  Cổ đức dùng thí dụ đánh khánh, gơ khánh thí dụ cho cái ‘cảm’ của chúng sanh, âm thanh phát ra từ cái khánh thí dụ cho sự ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát.  Trên thực tế cái ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát là cảm ứng của tự tánh.  Chúng ta xem Phật, Bồ Tát thành người, xem hết thảy các pháp thành thực thể, tinh nghĩa của Đại thừa chúng ta chẳng có cách nào thể hội được nên chẳng biết hết thảy sự vật trong tận hư không trọn khắp pháp giới đều là tự tánh.  Người giác ngộ trong Tông Môn thường nói: ‘Đâu cũng là đạo, trái phải đều về nguồn’ [16], câu này nói toạc chân tướng sự thật, hư không pháp giới đều chỉ là một cái tự tánh mà thôi.  Tự tánh là năng biến (chủ thể có thể biến), cảm ứng là sở biến (cái được biến), chỗ nào có cảm th́ chỗ đó có ứng, cảm ứng đạo giao, tơ hào chẳng sai.  Lư Sự của cảm ứng sâu  rộng vô cùng, chúng ta phải thể hội kỹ càng, sau khi hiểu rơ th́ sẽ biết học Phật như thế nào, làm người như thế nào, làm thế nào sinh sống qua ngày, đạt được hạnh phúc chân chánh mỹ măn.

          Thế pháp nói đến ‘chân - thiện - mỹ - huệ’, Phật pháp nói đến ‘thường - lạc - ngă - tịnh’, những thứ này đều là thật; nhưng chúng sanh trong thập pháp giới chẳng có, Phật, Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới mới có; cũng có thể nói người khởi tâm động niệm chẳng có, người không khởi tâm động niệm mới có.  Phật thí dụ tâm như nước, lúc nước b́nh tịnh chẳng khởi sóng giống như một cái kiếng, soi những cảnh giới bên ngoài rơ ràng, nước này ví như chân - thiện - mỹ - huệ, thường - lạc - ngă - tịnh.  Nhưng lúc nước khởi sóng tuy vẫn có thể chiếu soi cảnh giới nhưng rời rạc, tan nát, cho nên chân thiện mỹ huệ, thường lạc ngă tịnh cũng mất luôn.  Từ đây có thể biết dù tâm của Phật, Bồ Tát ứng hóa trong lục đạo, tùy loại hiện thân, tùy cơ thuyết pháp nhưng vẫn b́nh tịnh.  Lúc thuyết pháp th́ ‘nói mà chẳng nói, chẳng nói mà nói’, lúc thị hiện th́ ‘hiện mà chẳng hiện, chẳng hiện mà hiện’ vĩnh viễn trụ trong cảnh giới nhất chân, tâm vĩnh viễn giữ được b́nh tịnh như nước.  Tự tánh công đức tức là ánh sáng của nước có thể chiếu kiến hết thảy vạn pháp.  Trong thập pháp giới càng đi xuống th́ cường độ rung động của làn sóng tâm càng lớn, càng lên trên th́ làn sóng càng nhỏ.  Đến lúc nào trong cảnh giới tâm chẳng động nữa, dùng kinh Hoa Nghiêm mà nói th́ mức thấp nhất là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, lúc đó Bát Nhă, giải thoát, pháp thân của tự tánh sẽ hiện tiền.

 

2.    Phương pháp khai ngộ  (Buổi sáng 24-11-98)

Cách dạy học thời xưa trong Phật pháp và thế pháp đại khái tương đồng, đều theo quan niệm dùng phương cách khơi gợi, chú trọng ngộ tánh của học sinh.  Cách dạy học của nhà Phật là nhằm giúp đỡ học sinh khai ngộ, cách dạy học của Nho gia, Đạo gia cũng vậy, chẳng đề xướng cách học kư vấn [17], đích thật chẳng giống với cách dạy học ngày nay.  Ngày nay chú trọng cách học thuộc ḷng và học tràn lan nhiều môn để tích tụ thường thức phong phú, đây là thuộc cách học kư vấn.  Người xưa chú trọng học thuộc ḷng nhằm mục đích tu định, chứ không coi trọng kư ức; người xưa  dùng cách học thuộc ḷng để đoạn dứt vọng tưởng, phân biệt, khôi phục tâm thanh tịnh, đây là phương pháp khai mở cánh cửa khai ngộ tốt nhất.  V́ cánh cửa khai ngộ bị bế tắc nên chúng sanh chẳng thể khai ngộ, nếu dẹp bỏ phân biệt và chấp trước th́ trí huệ sẽ hiện tiền, đó tức là ‘mở tung cái nút chặn’ (mao tắc đốn khai).

Do đây có thể biết phân biệt chấp trước càng nghiêm trọng th́ càng chẳng thể khai ngộ; phân biệt chấp trước nhẹ mỏng th́ dễ khai ngộ hơn, đây là lư do tại sao thế pháp và Phật pháp đều coi trọng ‘một môn thâm nhập’.  Trong một giai đoạn nào đó, chẳng kể là học tŕnh dài ngắn, chỉ cho phép học một môn, bất kỳ khóa tŕnh của một môn nào cũng mong cầu có chỗ ngộ, ngộ nhập trong một môn này th́ sự dạy học thành công.  Ngược lại nếu chẳng có lănh ngộ, chẳng khai ngộ, sự dạy học này được kể là thất bại.  Do đó giáo học đích thực chú trọng trên trí huệ và đức hạnh, người sơ học th́ đức hạnh đứng hàng đầu, trí huệ đi sau.  Một người có trí huệ nhưng chẳng có đức hạnh rất dễ tạo nên chuyện ác to lớn, gây hại xă hội, thế nên đức hạnh đứng hàng đầu.  Vừa có đức hạnh lẫn trí huệ th́ làm việc ǵ cũng là đại phước, có thể đem lợi ích cho xă hội, lợi ích cho chúng sanh.

Giáo học của nhà Nho lấy Khổng Lăo Phu Tử làm tiêu chuẩn, Khổng Lăo Phu Tử dạy bốn khoa: thứ nhất là đức hạnh, thứ nh́ là ngôn ngữ, thứ ba là chánh sự (năng lực kỹ thuật), thứ tư là văn học.  Lúc đức hạnh và kỹ năng đă được thành tựu, nếu có dư sức lực th́ mới học văn học nghệ thuật, đề cao đời sống tinh thần.  Thứ tự này rất hợp lư, giáo học của nhà Phật cũng chẳng ngoại lệ, là đoạn phiền năo trước sau đó mới học pháp môn; đoạn phiền năo tức là đức hạnh, học pháp môn tức là chánh sự.  Tuy trên phương thức vận dụng có thể biến hóa nhưng nguyên lư và nguyên tắc th́ vĩnh viễn chẳng biến đổi, đó là triết lư giáo dục.

Xă hội ngày nay có thể nói là hoàn toàn chẳng giống ngày xưa.  Nếu quan niệm giáo học và nguyên tắc sanh hoạt ngày xưa có thể thích ứng và dung hợp với thời đại hiện nay th́ chúng sanh sẽ thực sự đạt được hạnh phúc.  Đây cũng là điều những người có ḷng tốt, trong Phật pháp gọi là những Bồ Tát có tâm đại từ bi muốn t́m cách giúp đỡ chúng sanh.  Thế nên Bồ Tát nhất định phải thông suốt hết thảy pháp trong thế gian mới có thể làm thầy của trời và người, mới có năng lực chỉ đạo xă hội, giáo hóa chúng sanh.   Năng lực này tức là trí huệ chân thật và thiện xảo phương tiện.  Chân thật trí huệ là thể, thiện xảo phương tiện là vận dụng, nếu chẳng có chân thật trí huệ th́ chẳng thể vận dụng được thiện xảo phương tiện.

Lấy thí dụ: Xă hội thời xưa truy cầu ḥa b́nh, xă hội ngày nay lại khuyến khích cạnh tranh, bề ngoài hai bên hoàn toàn xung đột th́ phải làm thế nào để dung hợp?  Nói từ mặt Lư th́ dung hợp nhất định có thể làm được v́ cả hai đều cùng chung một pháp tánh.  Kinh Đại thừa nói tận hư không trọn khắp pháp giới đều cùng chung một lư thể, ngay cả pháp giới địa ngục và pháp giới Phật cũng có thể dung hợp, huống ǵ là những pháp giới khác?  Do đó trên mặt Lư như vậy th́ trên mặt Sự đương nhiên cũng có thể làm được.  Trên Sự tướng chúng ta gặp phải khó khăn, nguyên nhân ở tại phân biệt, chấp trước.  Đặc biệt là ngă chấp nặng nề, niệm niệm đều v́ ‘lợi ích của tôi’, người nào cũng chấp trước ‘lợi ích của tôi’, đây là cội rễ của vấn đề, tạo thành chẳng thể dung ḥa lẫn nhau, và cũng tạo nên vô lượng vô biên tội nghiệp.  Nếu ‘tôi’ là thật th́ c̣n có thể chấp nhận được; nào ai biết cái ‘tôi’ này chỉ là một khái niệm trừu tượng, hư giả mà thôi.

Khóa tŕnh cơ bản của Pháp Tướng Tông là ‘Bách Pháp Minh Môn Luận’, tŕnh độ của bộ luận này rất cao, là chỗ nhập môn của pháp Đại thừa, nói rơ về chân tướng của vũ trụ nhân sanh.  Bộ luận này thuộc về ‘Tông Kinh Luận’, giải thích rơ tông chỉ của [những ǵ] đức Phật nói, trên thực tế là giải thích một câu nói của đức Phật.  Đức Phật nói: ‘Hết thảy pháp vô ngă’, Bách Pháp Minh Môn Luận lấy câu này làm tông chỉ, quy nạp hết thảy pháp thành một trăm pháp, bách pháp này tức là hết thảy pháp.  ‘Vô ngă’ nói rơ ‘người vô ngă’, ‘pháp vô ngă’, nếu có thể khai ngộ hai việc này th́ sẽ hoàn toàn buông xuống ngă chấp và pháp chấp, liền có thể siêu phàm nhập thánh.  Phàm phu chấp trước có ngă, có pháp; Phật, Bồ Tát th́ giác ngộ ‘vô ngă và vô pháp’ nên Phật, Bồ Tát trong y báo, chánh báo trang nghiêm của thập pháp giới có thể ‘lư sự vô ngại, sự sự vô ngại, viên dung tự tại’.

Chúng sanh chấp trước có ngă, có pháp th́ vĩnh viễn sẽ không thể giải thoát, vĩnh viễn chịu sanh tử luân hồi, khổ chẳng thể tả nổi.  Người mê hoặc chẳng hiểu chân tướng sự thật này, chỉ có người giác ngộ hiểu được.  Cho dù học tập Phật pháp, nghiên cứu Phật pháp, nhưng họ vẫn c̣n chấp trước ngă và pháp, vẫn c̣n khen ḿnh chê người  (tự tán hủy tha).  Đây là v́ c̣n ngă chấp, chẳng biết chư pháp b́nh đẳng, chư pháp không tịch, chư pháp duyên sanh nên mới có hành vi này.  Phàm những pháp duyên sanh đều chẳng có tự thể, chẳng có tự tánh, ‘đương thể tức không, liễu bất khả đắc’.  Tướng th́ có mà Thể th́ không, Sự th́ có mà Lư th́ không cho nên Tướng là huyễn tướng, Sự như mộng, huyễn, bọt, bóng, đây đều là chân tướng sự thật.

Sau khi hiểu rơ chân tướng rồi th́ tâm sẽ định, sẽ thanh tịnh; lúc đó sự cảm thọ, hưởng thọ trong Phật pháp được gọi là ‘chánh thọ’, chánh tức là chánh thường.  Hưởng thọ của người thế gian chẳng chân thường, có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’; chánh thọ của Phật pháp chẳng có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’.  Chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian tuy là có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’ nhưng đó là thị hiện, biểu diễn, du hư thần thông, chẳng phải là thiệt.  Phàm phu thiệt có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’, chẳng phải diễn tuồng, cho nên tạo nghiệp.  Người chân chánh giác ngộ th́ sẽ  giống hệt chư Phật, Bồ Tát, du hư thần thông, tự tại vô ngại.

Học Phật phải gánh vác trách nhiệm tiếp nối huệ mạng của Phật, gánh vác sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, muốn đảm đương sứ mạng này th́ nhất định phải ngộ nhập.  Phương pháp ngộ nhập chẳng có ǵ khác ngoài buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà thôi.  Lúc xử thế, đăi người, tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày phải buông xuống ngă chấp.  Kinh Kim Cang nói đến ‘ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tưởng, thọ giả tướng’, chỉ cần buông xuống một tướng này th́ sẽ hoàn toàn buông xuống hết.  Bốn tướng này có sự liên hệ mật thiết, có một tướng th́ bốn tướng sẽ đều có, buông xuống một tướng th́ sẽ buông xuống cả bốn.  Sau đó đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện tức là công đức chân thật, đây là điều mà chư Phật, Bồ Tát đều tán thán, khen ngợi.  Chúng ta cần phải biết có đủ bốn tướng này là chướng ngại nghiêm trọng cho sự tu học Phật pháp.

Bạn phát tâm từ bi muốn cứu độ hết thảy chúng sanh, muốn cứu chúng sanh th́ trước hết phải độ ḿnh cái đă, nếu tự ḿnh chẳng độ được th́ sẽ chẳng có năng lực độ chúng sanh.  Cho nên tự tu học và tương lai giúp đỡ chúng sanh đều phải nhờ vào chính ḿnh, tuy chư Phật, Bồ Tát từ bi nhưng cũng chẳng giúp được.  Chư Phật, Bồ Tát chỉ giúp chúng ta trên việc dạy dỗ, nói rơ sự thật chân tướng cho chúng ta nghe, cung cấp phương pháp cho chúng ta tham khảo, nhưng khế nhập vào cảnh giới nhất định phải là sự việc của chính ḿnh, hy vọng mọi người phải hết ḷng nỗ lực.

 

3. Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo       (Buổi sáng 25-11-98)

 

a. Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo

Bất luận là pháp thế gian hay xuất thế gian, nếu chẳng có thân thể cường tráng th́ làm việc ǵ cũng không thể thành tựu.  Đời xưa bất luận là trong thiền đường, niệm Phật đường, đả thất là việc rất b́nh thường, hơn nữa là bảy ngày bảy đêm chẳng ngủ chẳng nghỉ.  Cho nên hơn phân nửa là những người trẻ tuổi tham gia, họ có khả năng và thể lực làm việc này, bốn mươi mấy tuổi trở lên th́ thể lực đă suy rồi, việc nghiên giáo (nghiên cứu giáo lư) cũng chẳng ngoại lệ.  Cho nên thời kỳ thanh thiếu niên là [thời gian] để củng cố cội rễ của học thuật, sự nghiệp.

Tôi sanh vào thời chiến tranh loạn lạc, suốt cả đoạn đời niên thiếu tốt đẹp nhất tôi phải bôn ba, chạy nạn, cho nên cơ sở giáo dục chẳng được củng cố, dù cho ngày nay siêng năng nỗ lực tu học cũng chẳng có thành tựu bằng người đời xưa.  Nếu thể chất kém một chút, thân thể suy yếu, nhiều bịnh th́ càng khó khăn hơn.  Cho dù có ư muốn học, vẫn cảm thấy tâm có dư nhưng sức chẳng đủ, đây là một chuyện vô cùng đáng tiếc.  Thế nên trong đời sống thường ngày nhất định phải chú ư đến thân thể của ḿnh.

Phương pháp thay đổi thể chất nhanh chóng và có hiệu quả nhất là tu tâm thanh tịnh, đoạn trừ hết thảy vọng tưởng, tạp niệm, sống cuộc đời đơn giản và có quy luật.  Đời sống đơn giản là đời sống khỏe mạnh.  Thực sự có thể làm được thiểu dục tri túc, hết ḷng hướng về đạo, hết ḷng nghĩ đến chúng sanh khổ nạn, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, đó là đại từ bi.  Nhân quả đều có thể chuyển.  Có thân tâm khỏe mạnh th́ mới có thể phục vụ cho xă hội đại chúng, làm thêm một số việc tốt.

 

b. Nhân quả

Miền đông bắc Trung Quốc nước sông tràn ngập lênh láng, có rất nhiều người gần chết đói, hy vọng được cứu giúp.  Chúng tôi gởi mười vạn bộ áo lạnh và lương thực cho họ, và giúp họ xây dựng lại trường học.  Những thời gian chịu đựng khổ nạn này có thể cảnh giác mọi người đừng nên tạo ác nghiệp nữa.  Họ tự ḿnh phản tỉnh là do trước kia bắt cá, sát sanh quá nhiều, ngày nay nghĩ lại [mới thấy] cái được chẳng bù nổi cái mất.  Có câu ‘Ở gần núi th́ ăn [đồ ở] núi, ở gần sông th́ ăn [đồ ở] sông’, ở ven biển hay sông th́ làm nghề chài lưới sinh sống, đời sống được no ấm th́ liền biết đủ, như vậy c̣n có thể tha thứ.  Nếu tham hưởng thụ, hy vọng lợi dụng việc sát sanh để phát tài, vậy th́ là tạo tội nghiệp, gia đạo làm sao có thể hưởng lâu dài được?  Trong lịch sử và cuộc sống hiện thực, nếu chúng ta quan sát kỹ càng th́ đích thực nhân quả báo ứng tơ hào chẳng sai.

Từ nghiệp sát này chúng ta liên tưởng đến người hiện nay tạo bốn thứ nghiệp:  giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối; trong Phật pháp đây là bốn giới trọng, bất luận là xuất gia, tại gia đều phải tuân thủ.  Nh́n vào xă hội ngày nay những ǵ trong tâm mọi người suy nghĩ, lời nói, hành động đều là giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối, rượu chè (sát, đạo, dâm, vọng, tửu), mỗi ngày đều tạo nên năm thứ tội nghiệp này, trên thực tế tức là tạo ra mười ác nghiệp, tai nạn trên thế gian làm sao tránh nổi?

Nếu muốn cứu ḿnh th́ phải hạ quyết tâm ngay tại chỗ này, giữ ǵn cấm giới nghiêm túc, y giáo phụng hành.  Có thể cứu ḿnh th́ mới có thể giúp đỡ người khác, phương pháp duy nhất giúp đỡ người khác cũng chỉ là khuyên nhủ.  Những ǵ đời sống người xuất gia cần th́ phải nhờ vào người tại gia cúng dường, cũng chẳng c̣n sức lực dư thừa để giúp người khác, duy chỉ có thể dùng thân ḿnh làm gương, khuyên mọi người trong xă hội và những người có phước báo lớn nên phát tâm tu phước.  Nếu tư tưởng và hành vi của chúng ta chẳng ngay thẳng th́ làm sao khuyên người ta cho được, làm sao làm cho người khác tin tưởng?  Thế nên phải bắt đầu từ ḿnh mà làm, tâm và hạnh của ḿnh chân chánh th́ mới ảnh hưởng người khác được.

Đặc biệt là khuyên những người phú quư, hy vọng họ giác ngộ, đây là duyên đời trước họ tu phước đời này mới hưởng phước, lúc hưởng phước phải tiếp tục tu nhân th́ phú quư mới đời đời kiếp kiếp tiếp nối chẳng dứt; nếu trong đời này hưởng hết phú quư th́ đời sau nhất định sẽ đọa lạc.  Người bần cùng hưởng nhiều khổ nạn v́ đời trước chẳng tạo thiện nhân, đời này chưa gặp được thiện duyên, v́ vậy nên ngu muội vô tri, tạo tác rất nhiều ác nghiệp.  Chúng ta cũng nên khuyên các người nghèo khổ phải giác ngộ, quay tr lại, đoạn ác tu thiện th́ đời sau mới được phước báo.  Được vậy th́ người phú quư hay nghèo khổ ǵ cũng đều được độ.  Chư Phật, Bồ Tát xuất hiện ở thế gian đều là v́ công việc này, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh giác ngộ, đây là sự nghiệp của Phật, Bồ Tát.  Chúng ta làm học tṛ, đệ tử của Phật, phải học tập và bắt chước tâm nguyện từ bi của Phật, Bồ Tát, phát huy mạnh mẽ sự nghiệp của Phật, Bồ Tát.

 

c. Mở rộng tâm lượng.

Trong thời đại ngày nay chúng ta phải mở rộng tâm lượng.  V́ thông tin phát đạt, giao thông tiện lợi nhanh chóng, những ǵ phát sanh khắp nơi trên thế giới lập tức liền có thể biết được, thế nên phạm vi hoạt động của chúng ta bằng cả trái đất.  Chúng ta phải quan tâm thương mến bất cứ địa khu nào trên trái đất, chẳng thể g̣ bó trong một phạm vi nhỏ hẹp, như vậy th́ tâm lượng quá nhỏ.  Ngoài trái đất này ra tâm lượng của chúng ta c̣n phải mở rộng đến khắp hư không pháp giới th́ chúng ta mới có khả năng xuất ly.  Nếu chẳng có tâm niệm này th́ làm càng nhiều việc tốt cũng chỉ là phước báo nhân thiên.  Có hiểu được lư này th́ mới biết tận hư không khắp pháp giới hết thảy chúng sanh hữu t́nh đều là đồng bào của chúng ta, những đồng bào này có cùng chung một pháp tánh, đều là chân tâm bản tánh của ḿnh biến hiện ra.  Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘t́nh và vô t́nh đều viên thành chủng trí’ [18].  Chỉ có thành Phật mới thực sự nh́n thấy ‘t́nh và vô t́nh đều là đồng bào’.  Sau khi hiểu rơ th́ mới biết trong đời này ḿnh nên làm như thế nào, làm sao nỗ lực mới có thể tương ứng với chư Phật, Như Lai thanh tịnh từ bi.

 

4. Làm thế nào mới được công phu đắc lực    (Buổi sáng 29-11-98)

 

a. Nh́n thấu.  Buông xuống

Trong kinh Di Đà, đức Thế Tôn ba lần khuyên chúng ta phải nên phát tâm cầu sanh Tịnh Độ, sáu phương Phật khuyên chúng ta nên tin kinh này và cũng khuyên chúng ta phải tin tưỏng lời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Sáu phương Phật đại biểu cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật, do đó mới biết Thế Tôn khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ cũng tức là mười phương hết thảy chư Phật đều khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, lời khuyên này là lời chân thật, chẳng thể nghĩ bàn, khẩn thiết đến cùng cực.

Tại sao Phật lại khuyên như vậy?  Đức Phật giáo hóa chúng sanh là v́ muốn chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui, mà văng sanh đến Cực Lạc thế giới mới là phá mê khai ngộ viên măn, được niềm vui rốt ráo, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển măi cho đến khi thành Phật.  Đó là đại nguyện viên măn của chư Phật thành Phật đạo, độ chúng sanh, thế nên hết thảy chư Phật mới đau ḷng mỏi miệng khuyên [như vậy].  Chúng ta đọc kinh, nghiên giáo phải thể hội được ư chỉ này một cách sâu sắc, hết ḷng nỗ lực, thật thà niệm Phật th́ mới chẳng phụ ḷng hết thảy chư Phật.

Chúng ta đều có tâm niệm này nhưng tại sao công phu vẫn chẳng đắc lực?  Đây là do phiền năo tập khí đang hoành hành, chướng ngại đạo nghiệp và sự tinh tấn của chúng ta.  Kinh Kim Cang dạy cho chúng ta nguyên tắc vô cùng quan trọng, phương pháp phá trừ chướng ngại là ‘nh́n thấu, buông xuống’.  Không những thế pháp phải nh́n thấu, buông xuống, Phật pháp cũng phải nh́n thấu, buông xuống.  Nh́n thấu tức là hiểu rơ chân tướng sự thật.  Nếu chúng ta dựa trên nguyên lư, nguyên tắc dạy trong kinh rồi quan sát kỹ càng tất cả hiện tượng trong thế gian và xuất thế gian th́ sẽ hiểu rơ.  Hiểu rơ chân tướng sự thật, đối với pháp thế gian và xuất thế gian chẳng khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nữa chính là buông xuống.  Sau khi buông xuống không những trên sự tu hành chẳng có chướng ngại, lúc xử sự, đăi người, tiếp vật trong đời sống sanh hoạt hằng ngày cũng được đại tự tại, cùng chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian du hư thần thông, không hai không khác.  Kinh Kim Cang nói “Ta, Người, Chúng sanh, Thọ giả” đều là giả, toàn là mộng, huyễn, bọt, bóng, thời gian tồn tại như sương và như chớp, đó là chân tướng sự thật.

Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm là tổng nguyên tắc, tổng cương lănh của sự tu hành.  Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm chia thành bảy khoa,  khoa đầu tiên là ‘Tứ Niệm xứ’ dạy cho chúng ta nh́n thấu.  Nội dung của Tứ Niệm Xứ và ‘Ta, Người, Chúng sanh, Thọ giả đều là giả’ nói trong Kinh Kim Cang hoàn toàn là cùng một đạo lư.  Kinh Kim Cang dạy cho người Đại Thừa c̣n Tứ Niệm Xứ dạy cho người Tiểu Thừa.  Cho nên Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm giống như sáu chữ hồng danh, tam căn phổ bị (bao trùm hết ba hạng căn tánh: thượng, trung, hạ), lợi độn gồm thâu, chín pháp giới chúng sanh tu học cũng chẳng rời nguyên tắc này.

Trong Tứ Niệm Xứ: thứ nhất là ‘Quán thân bất tịnh’: quán sát thân này chẳng tịnh.  Thứ nh́: ‘Quán thọ thị khổ’.  Thứ ba: ‘Quán tâm vô thường’.  Suy nghĩ kỹ càng một người đến thế gian này mấy chục năm ngắn ngủi cho dù trường thọ đến một trăm tuổi th́ cũng ngắn ngủi như thời gian búng một ngón tay, trong mấy sát na mà thôi.  Thứ tư: ‘Quán pháp vô ngă’ bao gồm ‘Tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả’; quán thân, quán thọ, quán tâm đều thuộc về ‘tướng ta’ (ngă tướng), hoàn toàn tương đồng với chỉ thú của kinh Kim Cang.  Sau khi nh́n thấu th́ phải buông xuống.  ‘Tứ Như Ư Túc’  trong ‘Ba mươi bảy Đạo Phẩm’ tức là buông xuống, chẳng c̣n nắm giữ pháp thế gian và pháp xuất thế gian trong tâm nữa.

 

b.  Tu Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện

Phật dạy chúng ta đă được thân người, phải trú ở thế gian này mấy chục năm, đúng là ‘đă đến rồi th́ hăy ở yên’ [19].  Thế nên người thông minh, có trí huệ biết tích công lũy đức, v́ họ hiểu được ‘vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không’.  Tích công lũy đức như thế nào?  Đây là lời dạy trong ‘Tứ Chánh Cần’, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện.  Đoạn ác nhất định phải đoạn phiền năo tập khí của ḿnh, tu thiện nhất định phải tu Giới - Định - Huệ Tam Học, tu Bồ Tát Lục Độ, tu Thập Nguyện Vương.  Biến Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện thành kiến giải và hành tŕ trong đời sống của ḿnh tức là tích công lũy đức.

Hoàn toàn trái ngược với Tam Học: Giới - Định - Huệ là tam độc: tham - sân - si.  Phật dạy chúng ta lấy Giới để đoạn tham, lấy Định để đoạn sân, lấy Huệ để đoạn si, biến tham - sân - si thành Giới - Định - Huệ, đây là đoạn ác tu thiện.  Bồ Tát Lục Độ nói càng rơ hơn, dùng Bố Thí đoạn trừ tham lam, lấy Tŕ Giới đoạn trừ ác nghiệp, lấy Nhẫn Nhục đoạn trừ sân khuể, lấy Tinh Tấn đoạn trừ giải đăi, lấy Thiền Định đoạn trừ tán loạn, lấy Trí Huệ đoạn trừ ngu si.  Nếu có thể tuân theo sáu nguyên tắc này khi xử sự, đăi người, tiếp vật trong đời sống hằng ngày th́ người đó là Bồ Tát.  Bồ Tát khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, nhất định phải tương ứng với những nguyên tắc này.

Phổ Hiền Thập Nguyện là đại hạnh viên măn của Bồ Tát, trong kinh nói Bồ Tát không tu Phổ Hiền hạnh th́ chẳng thể viên thành Phật đạo.  Cốt tủy của Phổ Hiền hạnh là tâm lượng viên măn, ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu các cơi nhiều như cát’ [20], đây là tâm lượng của Phổ Hiền Bồ Tát; dùng tâm lượng to lớn này tu hết thảy thiện pháp là Phổ Hiền hạnh.  Kinh Hoa Nghiêm quy nạp vô lượng hạnh môn của Phổ Hiền thành mười cương lănh, tức là Phổ Hiền thập đại nguyện vương, mười điều này là tổng cương lănh của Phổ Hiền hạnh.  Mười điều này phải thuận theo thứ tự, chẳng thể thay đổi lộn xộn, thứ nhất là Lễ Kính Chư Phật, đây là căn bản của hạnh môn.  Đối với hết thảy người, sự, vật, tận hư không trọn khắp pháp giới hết thảy chúng sanh đều phải cung kính.  Trong kinh nói: ‘Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai’.  Dùng tâm hiếu thuận cha mẹ để hiếu thuận hết thảy chúng sanh, dùng tâm tôn kính sư trưởng để tôn kính hết thảy chúng sanh, người này sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát.  Việc tu học này được gọi là Phổ Hiền hạnh.  Đây là cốt lơi của Phổ Hiền hạnh, là cội rễ của Phổ Hiền hạnh.

Dùng Lễ Kính làm cơ sở, điều thứ hai là Xưng Tán Như Lai.  Cổ thánh tiền hiền dạy người ta dấu ác, bày thiện, đây là tu dưỡng đức hạnh của ḿnh, và cũng v́ xă hội an định, hy vọng mọi người đều nh́n thấy mặt tốt mà thôi.  Phiền năo tập khí của hết thảy chúng sanh đều chưa đoạn trừ, đều có mặt xấu ác, xấu ác th́ chẳng cần phải nói đến, mặt tốt đẹp th́ phải tận lực đi tuyên dương, làm cho hết thảy chúng sanh đều giác ngộ đến phải đoạn ác tu thiện.  Nếu bạn tạo ác, người ta tha thứ cho bạn, một câu nói cũng chẳng nói đến, bạn sẽ sanh tâm xấu hổ; khi bạn làm một chút chuyện thiện, người khác biểu dương, khen ngợi bạn, đây là để cổ vơ việc tu thiện.  Cách dụng tâm này rất hay, rất tốt.

Thứ ba là Quảng Tu Cúng Dường, hết thảy chúng sanh bất luận là trên phương diện vật chất hay tinh thần có thiếu thốn, nếu chúng ta có khả năng th́ hăy tận tâm tận lực chủ động giúp đỡ, chẳng cần người ta lại cầu, đây là bố thí cúng dường.  Từ Bồ Tát mà nói th́ đây là bố thí, sự bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát th́ gọi là cúng dường.  Phổ Hiền Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai, v́ vậy nên gọi là cúng dường, đây là sự tôn kính hết thảy chúng sanh đến cùng cực.  Thứ tư là Sám Hối Nghiệp Chướng, đây là nói về sự tu hành của ḿnh. 

Trong Phổ Hiền Thập Nguyện vương mỗi một nguyện đều bao hàm hạnh môn viên măn, nguyện nào cũng như vậy, hàm nhiếp lẫn nhau.  Niệm Phật như vậy th́ làm sao có việc niệm Phật chẳng đắc lực được?  Niệm Phật như vậy th́ làm sao chẳng văng sanh được?  Cho nên Phật dạy những nguyên lư, nguyên tắc này, chúng ta nhất định phải nắm chắc [và áp dụng vào] trong đời sống hằng ngày th́ mới thật sự thành tựu cho ḿnh, chẳng phụ kỳ vọng của chư Phật Như Lai đối với chúng ta.

 

 

 

5.    Làm thế nào hàng [phục] ma 

(Buổi sáng 30-11-98)

Ngạn ngữ có câu: ‘Chuyện tốt có nhiều trắc trở’(Hảo sự đa ma), và: ‘Đạo cao một thước, ma cao một trượng’.  Ma là chướng ngại trong đời sống và sự tu hành của chúng ta.  Muốn giải quyết vấn đề này chỉ có học theo phương pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Trong bát tướng thành đạo Thế Tôn thị hiện ‘hàng phục ma ngoại’ đáng để chúng ta học tập.  Phương pháp Thế Tôn hàng phục ma chẳng phải là đối ngoại mà là đối nội.  Ma quân tới nhiễu loạn, uy hiếp, Thế Tôn chẳng chống lại, ma nữ đến dụ hoặc Thế Tôn cũng chẳng trốn tránh mà dùng Giới Định Huệ Tam Học để giải quyết.

Từ đây chúng ta rút ra được một bài học, khi gặp phải bất kỳ uy hiếp dụ hoặc, hay chướng nạn có bao lớn đi nữa th́ chỉ cần tiêu trừ ma oán trong nội tâm, cảnh giới bên ngoài sẽ là ‘chẳng có Phật mà cũng chẳng có ma’.  Cũng như Ngẫu Ích đại sư nói: ‘Cảnh duyên chẳng có tốt xấu, tốt xấu là ở nơi tâm’.  Ma cảnh bên ngoài thật ra là do tâm ma biến hiện ra, có thể biến thành ma cảnh là do tà tri tà kiến của chính ḿnh, phiền năo tham - sân của ḿnh, cảnh giới bên ngoài là cảnh bị biến ra (sở biến).  Thế Tôn dạy chúng ta phương pháp là phải hàng phục cái tâm năng biến của ḿnh, ma cảnh được biến ở bên ngoài sẽ chẳng gây chướng ngại ǵ cả.

Kinh Bát Đại Nhân Giác chia Ma thành bốn loại, đó là Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma, Thiên Ma.  Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma đều thuộc về tâm ma của ḿnh; chỉ có Thiên Ma là ở phía ngoài.  Thiên Ma từ đâu tới?  Cũng là do tâm ma của ḿnh biến hiện ra thôi.  Người đời chẳng biết đạo lư này nên khi gặp yêu ma quỷ quái th́ liền t́m mọi cách để kháng cự, khắc phục, như vậy vĩnh viễn chẳng thể giải quyết vấn đề.  Phương pháp giải quyết vấn đề là phải hóa giải.  Bản thân ḿnh có phiền năo, tà tri tà kiến, đây là gốc rễ của hết thảy ma chướng.  Thế nên chỉ cần làm được ‘tri kiến chánh, trừ phiền năo’, ma ngoại cũng sẽ thành Phật luôn.  Trong bốn hoằng thệ nguyện có nguyện ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’, ma cũng là chúng sanh, độ ma thành Phật th́ mới đúng là phổ độ chúng sanh.

Chánh tri chánh kiến là từ Tam Muội mà được.  Một người tu hành có công phu định lực tương đương th́ cũng chẳng biết ḿnh có chánh định hay tà định, thế nên chúng sanh trong chín pháp giới tu hành chẳng thể tách ĺa kinh điển.  Nếu lư luận, phương pháp tu học và cảnh giới hiện ra trong công phu tương ứng với kinh điển th́ là chánh tri, chánh kiến, tức là chánh hạnh, chánh thọ; chánh thọ tức là Tam Muội.  Phạm vi của Tam Muội rất rộng lớn, chỉ cần là ‘chánh’ th́ là Tam Muội, cho nên chánh tri, chánh giải, chánh hạnh, chánh thọ đều thuộc về Tam Muội.

Chúng ta xem trong kinh, khi Phật thuyết pháp cho chúng sanh trước hết phải thị hiện nhập định, kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng ngoại lệ.  Kinh Lăng già nói: ‘Na Già thường tại định, vô hữu bất định thời’[21], Pháp Thân đại sĩ cũng thường ở trong định, Phật c̣n phải nhập định hay sao?  Phật thị hiện nhập định là muốn thuyết minh: thuyết pháp độ sanh dùng Tam Muội làm căn bản, hết thảy pháp đều từ Tam Muội  lưu lộ ra; Tam Muội rộng lớn vô cùng, tức là tánh đức lưu xuất.

Cảnh giới trong định là Nhất Chân pháp giới, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng có trước sau, lớn nhỏ, hết thảy khái niệm và sự tướng tương đối đều chẳng tồn tại.  Nhất Chân tức là sự thật chân tướng mà Như Lai chứng được, điều Như Lai sở chứng tức là tướng cảnh giới được hiện ra trong khi nhập Tam Muội.  Cảnh giới này đối với phàm phu chẳng thể nghĩ bàn.  Thí dụ trong kinh có nói: ‘Hạt cải chứa Tu di’[22], hạt cải nhỏ cũng như hạt mè vậy, hạt cải chẳng có phóng đại, núi Tu Di cũng chẳng thâu nhỏ, làm sao bỏ núi Tu Di vào trong hạt cải?  Là v́ chẳng có lớn nhỏ cho nên có thể tương tức, tương dung (có thể chính là nhau, dung chứa lẫn nhau).  Chúng ta biết phân biệt lớn nhỏ, chấp trước lớn nhỏ, nhỏ chẳng thể chứa lớn, đây tức là ma cảnh.  Ma cảnh là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sanh ra; nếu xa ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ chẳng có lớn - nhỏ, trong - ngoài, hạt cải sẽ có thể chứa núi Tu Di.

Phàm phu sanh hoạt trong thời gian, không gian tương đối, khoa học gia gọi là ‘tương đối luận’, tương đối tức là phân biệt chấp trước, chẳng phải thật.  Phật, Bồ  Tát chẳng có phân biệt chấp trước, chẳng có tương đối, ngay cả Lư Sự cũng chẳng có, cho nên các Ngài không có chướng ngại.  Trong cái nh́n của Phật, Bồ Tát, dù là yêu ma quỷ quái th́ cũng là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai, đều dùng tâm hiếu thuận, cung kính để đối đăi, chẳng có giảm bớt chút nào.

Đây là Thế Tôn thị hiện bản lănh hàng phục ma, dụng ư là cho chúng ta học tập.  Chỉ cần có tà kiến, phiền năo th́ nhất định sẽ có ma chướng, yêu ma quỷ quái sẽ thường thường bao quanh bên ḿnh.  Nếu có thể diệt trừ tà kiến, phiền năo th́ yêu ma quỷ quái cũng sẽ thành Phật.  Từ đây có thể biết Phật và Ma chỉ ở tại một niệm mà thôi.  Một niệm mê th́ Phật sẽ biến thành Ma; một niệm giác th́ Ma sẽ thành Phật.  V́ vậy gút mắt ma chướng chẳng ở bên ngoài mà ở trong nội tâm.  Người thế gian mê muội gặp yêu ma quỷ quái th́ mời đạo sĩ vẽ bùa, niệm chú để trừ tà ma, vậy là dùng vơ lực để kháng cự.  Cho dù bạn có thể thắng họ th́ vấn đề vẫn chưa được giải quyết; tâm oán hận của họ, tâm báo thù vẫn c̣n, họ vẫn sẽ quay lại trả thù, vả lại sẽ c̣n mạnh mẽ hơn, như vậy th́ sẽ dây dưa chẳng dứt, vấn đề sẽ ngày càng trầm trọng.  Cho nên Thế Tôn chẳng chống đối mà dùng tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi để bao dung, cảm hóa.  Biến đổi Ma thành Phật là một việc tốt, hai bên đều có lợi.  Sau khi Ma thành Phật th́ sẽ vĩnh viễn cảm kích bạn, khi bạn thị hiện thành Phật độ sanh, Ma sẽ thị hiện đủ mọi thân phận để hộ pháp, đây mới là cách thực sự giải quyết vấn đề.  Phàm ai làm hỏng vấn đề đều là do ngu si tạo nên.  Do đó mới biết trí huệ là đáng quư.

Phật pháp từ đầu đến cuối đều truy cầu trí huệ, chỉ có trí huệ mới có thể giải quyết hết thảy vấn đề một cách viên măn.  Tất cả những vấn đề thế gian và xuất thế gian đều có thể giải quyết viên măn, v́ trên Lư là cùng chung một pháp tánh, pháp tánh là cứu cánh viên măn.  Hết thảy sự vật đều y pháp tánh làm tự thể, tự thể viên măn, tự thể hiện ra tướng cũng nhất định viên măn.  Phàm chẳng thể giải quyết đều là v́ trí huệ chẳng đủ, phương pháp chẳng hoàn hảo, phải quay lại tu trí huệ.  Phương pháp tức là quyền trí, nhà Phật gọi là thiện xảo phương tiện; quyền trí y vào thực trí, thực trí chính là Tam Muội.  Cho nên mới nói tự ḿnh thành Phật rồi nh́n thấy núi sông, sơn hà, đại địa, chúng sanh ‘t́nh và vô t́nh đều viên thành chủng trí’.  Từ đó có thể biết giải quyết bất kỳ nghi nan tạp chứng trong thế gian, xuất thế gian đều ở tại nội tâm.  Phật pháp xưng là Nội Học, chẳng hướng ngoại, hướng ngoại là ngoài tâm cầu pháp, là ngoại đạo.  Ngoại đạo chẳng thể giải quyết vấn đề, chỉ có Nội học mới có thể giải quyết vấn đề.

Do đó trong giai đoạn sơ học nhất định phải đọc thuộc Đại Thừa, đặc biệt là những người phát tâm hoằng pháp lợi sanh, không những phải đọc tụng mà c̣n phải khế nhập vào cảnh giới.  Khế nhập tức là ‘tùy văn nhập quán’.  Mở quyển kinh ra tùy lời dạy trong kinh mà chuyển biến quan niệm của ḿnh th́ gọi là ‘tùy văn nhập quán’.  Nhập tức là khế nhập, ư nghĩa của ‘nhập’ bao gồm ‘tín - giải - hành - chứng’.  Nhập tức là chứng, có hành mới có chứng, hành là thay đổi quan niệm; thay đổi quan niệm là v́ hiểu rơ đạo lư, hiểu lư tức là tin tưởng lời dạy của Phật.  Phật nói về ‘Giáo - Lư - Hạnh - Quả’, chúng ta có thể làm được tín - giải - hành - chứng, cảnh giới liền chuyển, đây tức là ‘tùy văn nhập quán’, đây là chân thật tu hành, có thể đạt được thọ dụng chân thật.  Phương pháp tu hành vô lượng vô biên, tùy văn nhập quán là phương pháp tu hành của Giáo Hạ, tức là mở ra cuốn kinh có thể nhập vào cảnh giới Phật.  Nhập cảnh giới quan trọng nhất là ở trong sanh hoạt hằng ngày, trong lúc xử sự, đăi người, tiếp vật, lúc nào cũng  giữ được, chẳng đánh mất tức là chẳng thoái chuyển.  Có bản lănh này th́ khi gặp yêu ma quỷ quái chúng ta sẽ chẳng kinh sợ, chúng ta có khả năng giúp đỡ họ cùng thành Phật đạo, đây là cách giải quyết viên măn nhất.  Đây là lời Phật dạy, đây mới là chân thật, cứu cánh, mỹ măn.

 

6. Làm thế nào để đối xử ḥa mục với tất cả chúng sanh (Buổi sáng 01-12-98)

Từ xưa đến nay giáo dục của nhà Phật, nhà Nho đều chẳng ra ngoài hai việc: thứ nhất là dạy chúng ta nhận thức quan hệ giữa chúng ta và đại vũ trụ, đây tức là ‘chư pháp thật tướng’.  Hiểu rơ chân tướng của vũ trụ nhân sanh một cách chính xác là tông chỉ chủ yếu của giáo dục, đây là Thể.  Thứ nh́ là dạy chúng ta làm thế nào đối người, đối sự, đối vật và cũng nghĩa là trong sanh hoạt làm sao xử sự, đăi người, tiếp vật, đây là Dụng.  Hai cái Thể và Dụng này bao gồm toàn bộ giáo học, đây chẳng phải chỉ là lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni mà thôi, mười phương ba đời hết thảy chư Phật giáo hóa tất cả chúng sanh đều chẳng ngoại lệ.

Trên mặt tác dụng tại sao chúng ta không thể đối xử ḥa mục với hết thảy chúng sanh?  Là v́ chẳng hiểu chân tướng sự thật.  Chư Phật, Bồ Tát đại thánh đại hiền hiểu rơ chân tướng cho nên có thể đối xử ḥa mục với hết thảy chúng sanh.  Đức Phật dạy chúng ta phải coi tất cả chúng sanh như cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai;  Bồ Tát Giới Bổn trong kinh Phạm Vơng cũng nói: ‘Hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta’, những chuyện này đều là sự thật, chẳng phải là thí dụ.  Kiến giải, tâm tư, thường thức của phàm phu hơn phân nửa giới hạn trong một đời, chẳng biết đời quá khứ và đời vị lai, cho nên sanh ra rất nhiều hiểu biết sai lầm.  Phật, Bồ Tát dùng định công thâm sâu đột phá giới hạn của thời gian và không gian, đối với quá khứ vô thỉ, vị lai vô chung hết thảy đều hiểu rơ, cho nên biết hết thảy chúng sanh đời đời kiếp kiếp đều là quyến thuộc lẫn nhau.

Chư Phật, Bồ Tát dùng tâm ǵ để đối đăi hết thảy người, sự, vật?  Là dùng tâm Hiếu Kính.  Câu đầu tiên của Tam Phước trong Quán Kinh: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’.  Dùng hiếu thuận, tôn kính đối đăi hết thảy người, sự, vật, đó tức là Phật, Bồ Tát, đại thánh nhân.  Tâm tư, quan niệm, hành động của phàm phu hoàn toàn ngược lại.  Tương ứng th́ là tùy thuận tự tánh, tánh đức, tùy thuận thật tướng của chư pháp.  Có thể tùy thuận một cách viên măn th́ là Nhất Chân pháp giới.  Nếu chẳng thể tùy thuận, trái ngược với những điều trên th́ là lục đạo phàm phu; hoàn toàn trái ngược th́ là tam ác đạo.  Cho nên làm thánh làm phàm, thiên đường địa ngục đều ở ngay tại một niệm của ḿnh mà thôi.  Nếu một niệm này tương ứng với pháp tánh th́ là Phật, Bồ Tát; niệm này trái ngược với tánh đức th́ là chúng sanh, ác đạo.

Do đây có thể biết cảnh giới bên ngoài thực sự như chư Phật đă nói: ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’, cảnh giới biến hóa tùy theo tâm niệm của chúng ta, cũng như kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’.  Phật c̣n nói cho chúng ta biết:  ‘hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, tâm là năng biến (cái có thể biến), pháp là sở sanh (cái được sanh ra).  Những pháp được sanh này chẳng như ư là v́ cái tâm năng sanh chẳng tương ứng với pháp tánh.  Thế nên hết thảy cảnh giới chẳng phải người khác biến hiện ra cho bạn hưởng thụ mà do tự ḿnh biến ra cho ḿnh hưởng dùng, đây là chân tướng sự thật.  Sau khi hiểu rơ chân tướng, nếu chúng ta muốn sinh hoạt trong một hoàn cảnh thích hợp với ḿnh th́ phải tuân theo lời dạy của Phật.  Nói thật ra, tuân theo lời Phật dạy tức là tuân theo tánh đức của tự tánh, pháp tắc của tự tánh.  Những ǵ chư Phật, Bồ Tát nói đều là pháp tắc của tự tánh chúng ta, chẳng phải của riêng Ngài.  Thế nên Phật nói Ngài chưa từng nói qua một lời, những ǵ Ngài nói đều là tánh đức của tự tánh chúng ta khai phát.  Chỉ có chân chánh hiểu rơ đạo lư này mới thực sự hoàn toàn tiếp nhận và khâm phục Phật pháp đến năm vóc sát đất.

Cho nên học Phật tức là tùy thuận tự tánh, Phật đại biểu cho tự tánh của chúng ta, Bồ Tát và đại thánh đại hiền là thị hiện của tánh đức, là tánh đức lưu lộ, là tự ḿnh chẳng phải người khác, đây tức là ‘ta người không hai’ [23].  Chúng ta phải lănh hội cái ư tưởng này, từ đó xây dựng ḷng tin.  Nếu có thể khế nhập th́ mới hoảng nhiên đại ngộ, chư Phật, Bồ Tát vốn là tánh đức của ḿnh lưu xuất, thập pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm cũng là tự tánh lưu lộ.  Sau đó mới chân chánh thể hội đến tận hư không trọn khắp pháp giới chỉ là chính ḿnh mà thôi, ngoài chính ḿnh ra, đích thực chẳng có pháp nào cả.  Ḷng đại từ Vô Duyên, ḷng đại bi Đồng Thể tự nhiên sẽ hiện ra, từ bi là tánh đức, tánh đức sẽ hiện ra, lưu lộ viên măn.  Chúng ta hiếu kính đối với Phật, Bồ Tát, đại thánh đại hiền, hiếu kính cha mẹ, sư trưởng, sau đó từ từ sẽ hiếu kính đối với hết thảy chúng sanh, thậm chí đối với oan gia đối đầu của ḿnh, rắn độc thú dữ, địa ngục ngạ quỷ đều hiếu kính như nhau, nhất định sẽ dùng tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng đối đăi với họ.

Nếu nhập vô cảnh giới này th́ bạn đă thành Phật rồi.  Cho dù chẳng thành Phật th́ cũng là Pháp Thân đại sĩ, trí huệ đă khai mở.  Đối với hết thảy vạn pháp trong hư không pháp giới, bạn đă giác ngộ, hiểu rơ rồi, biết được phải làm như thế nào.  Đối với những chúng sanh chưa giác ngộ th́ cũng biết làm thế nào để giúp đỡ, đây tức là giữ tâm Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo.  Cho nên bất cứ thân phận ǵ, ngành nghề ǵ, nam nữ, già trẻ đều có thể tu Bồ Tát đạo viên măn.  Bồ Tát tuyệt đối chẳng giới hạn trong một pháp giới nào, hết thảy pháp giới đều là pháp giới Bồ Tát.  Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Một tức là nhiều, nhiều tức là một, một và nhiều không hai’ tức là  ư nghĩa này.

Chúng ta đời đời kiếp kiếp tiếp xúc với hết thảy chúng sanh đă kết thiện duyên và cũng có ác duyên.  Có nhiều người rất hợp với ḿnh, có duyên và rất thích ḿnh, đây là thiện duyên từ đời quá khứ.  Có nhiều người là oán gia đối đầu của ḿnh, đem lại cho ḿnh rất nhiều điều chẳng như ư, đây là oan nghiệp từ kiếp trước.  Quá khứ mê hoặc điên đảo nên gây ra oan nghiệp này, hiện nay giác ngộ hiểu rơ rồi, phải hóa giải oan kết này th́ cũng dùng ‘hiếu kính’ như lời Phật dạy.  Hiếu thuận và tôn trọng bằng tâm chân thành, oan kết tự nhiên sẽ được hóa giải.

 Cho nên đối với hết thảy oán ghét, chúng ta phải tùy thuận, thực sự làm được hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức; trong sự tùy hỷ thành tựu trí huệ chân thật cho ḿnh, giới - định - huệ chân thật, đây là công đức.  Tùy thuận làm sao có thể thành tựu công đức?  Tâm thanh tịnh quan trọng, tâm trí huệ quan trọng, bạn dùng tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi tức là tùy thuận, đây là có công.  Có thể thành tựu, tăng thêm ḷng chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi của bạn là đức.

Cho nên nếu có một niệm oán trời trách người th́ là sai lầm quá đỗi.  Khi gặp hết thảy cảnh giới, nghịch duyên không như ư, đều phải quay lại tự ḿnh phản tỉnh, nhất định là do nghiệp chẳng thiện của ḿnh tích lũy lại tạo thành, lỗi lầm chẳng ở tại người khác.  Quay đầu lại tự ḿnh chân thật sám hối, sửa sai đổi mới, đây là chân tu hành.  Là do ḿnh chẳng xem họ như cha mẹ, sư trưởng, chẳng có hiếu thuận, tôn trọng họ, là lỗi của ḿnh, chẳng phải của họ.  Chư Phật Như Lai  dùng phương pháp này được thành tựu, chúng ta muốn làm Phật, làm Bồ Tát th́ cũng chẳng ngoại lệ, vẫn phải dùng phương pháp này.  Chúng ta phải thực hiện ‘kính người, kính sự, kính vật’ trong đời sống, niệm niệm chẳng được tách ĺa; một niệm tách ĺa là một niệm mê, một niệm tương ứng là một niệm giác, cho nên phải dụng công trong từng tâm niệm.  Chẳng thể không đọc kinh điển Đại thừa, chẳng thể không thâm giải ư thú [24], được vậy chúng ta mới có thể giữ ǵn giác chứ không mê, mới có thể đạt được đời sống hạnh phúc mỹ măn chân chánh.

 

7. Nói chuyện với đồng tu tại Niệm Phật Đường     (Buổi sáng 06-12-98)

Từ lúc khai giảng đến nay Niệm Phật Đường đă từ từ đi vào nề nếp, mọi người đều cảm nhận công đức thù thắng của sự niệm Phật một cách sâu sắc, sanh tâm hoan hỷ.  Nhưng cũng có một số đồng tu nói với tôi rằng trong đại chúng c̣n một số ư kiến.  Vấn đề này chúng ta không thể không để ư.  Cổ đức thường nói lúc cùng nhau tu tập (cộng tu) nếu có nghi hoặc, xen tạp th́ sẽ phá hoại công phu niệm Phật.  Mục đích của sự niệm Phật là để đạt được ‘nhất tâm bất loạn’, nhất tâm tuy không dễ đạt được, chỉ cần đạt đến cảnh giới này th́ nhất định nắm chắc văng sanh bất thoái thành Phật.

Công phu thành phiến tức là chẳng có nghi hoặc, xen tạp, bất luận là ở chỗ nào lúc nào, dù lúc nửa đêm nằm mộng cũng chẳng quên A Di Đà Phật, đó tức là h́nh dáng của công phu thành phiến.  Ngoại trừ A Di Đà Phật ra, lúc tiếp xúc với hết thảy người, sự, vật phải luôn luôn cảnh giác cao độ, nhất định chẳng để ngoại cảnh dụ hoặc, lay động, đó tức là công phu.  Chúng ta muốn đạt được công phu này nhưng tại sao niệm Phật măi trong Niệm Phật Đường cũng làm không được? 

Có hai nguyên nhân:

Một là phiền năo tập khí từ vô lượng kiếp đến nay quá nặng; tập khí tức là tri kiến, phần nhiều gọi là thành kiến, thành kiến rất nặng, ư kiến quá nhiều, đây là một chuyện rắc rối. 

Hai là không thật thà, thật thà cũng chẳng dễ, người có thể làm được thật thà bất luận tu học pháp môn nào đều nhất định có thể thành tựu.

Phương pháp bổ khuyết, bù đắp là đọc kinh, nghe giảng.  Đọc kinh nghe giảng giúp cho chúng ta có thể nh́n thấu, buông xuống, giúp cho chúng ta hiểu rơ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh.  Nói một cách khác hiểu rơ chân tướng ḿnh đến thế gian trong đời này.  Nếu thực sự hiểu rơ triệt để sinh hoạt và hoàn cảnh xung quanh trong đời này th́ tự nhiên sẽ buông xuống. Thế Tôn đă đau ḷng mỏi miệng nói hết bốn mươi chín năm, luôn luôn nhắc nhở nhưng chúng ta thực sự đă mê quá sâu đậm.  Không ngừng nhắc nhở là hy vọng có một ngày nào đó chúng ta có thể hoảng nhiên đại ngộ, biết được ḿnh đến thế gian chỉ là để thọ báo mà thôi.

Nghiệp đă tạo trong những đời kiếp trước th́ đời này đến để thọ nhận quả báo, đây là nhân quả tuần hoàn.  Tạo thiện nghiệp nhiều th́ đời này hưởng được một chút phước; tạo ác nghiệp nhiều th́ đời này phải chịu rất nhiều đau khổ.  Nhưng chẳng có người nào trong lúc thọ báo bèn cam chịu thọ báo, vẫn cứ tạo nghiệp y như cũ.  Thọ báo rồi tạo nghiệp, tạo nghiệp xong lại thọ báo, vĩnh viễn cứ tuần hoàn.  Hiện tượng tuần hoàn này chẳng nâng lên trên mà là từ từ đi xuống, đời này chẳng bằng đời trước, như vậy đau khổ biết bao!  Tại sao lại có hiện tượng này?  Tại chúng ta tạo ra những nghiệp chẳng thiện.  Thế Tôn nói rơ cho chúng ta biết tạo thiện nghiệp th́ đi cơi thiện siêu sanh, tạo ác nghiệp th́ đi vào cơi ác đọa lạc, đây là chân tướng sự thật của nhân sanh.  Thử suy nghĩ kỹ th́ đích thực là như vậy.  Phật từ bi thương xót những chúng sanh thọ khổ thọ nạn này v́ ngu muội vô tri mê mất tự tánh, cho nên mới nói rơ chân tướng sự thật, hy vọng chúng sanh có thể vượt thoát tam giới, lục đạo luân hồi, cùng các Ngài làm Phật, làm Bồ Tát.

Vào Niệm Phật Đường và muốn công phu được đắc lực th́ phải buông xuống hết thảy thân tâm thế giới.  Không buông xuống nổi là v́ không hiểu giáo lư nên phải dùng phương pháp giảng kinh để bổ cứu.  Thời xưa Niệm Phật Đường chẳng có giảng kinh, nhưng mỗi cây hương lúc chỉ tịnh[25] đều có giảng khai thị, dụng ư cũng giống với giảng kinh, là giúp mọi người đoạn nghi sanh tín, công phu đắc lực.  Đặc biệt là ngày nay thời gian chúng ta nghe kinh ngắn, chẳng đủ căn cơ, tuy là có duyên trụ tại Niệm Phật Đường thù thắng như vầy mà vẫn sanh phiền năo, vẫn c̣n nhiều ư kiến, vẫn gây chướng ngại cho công phu tu học của ḿnh.  Do đó có thể biết chẳng thể không đọc kinh, chẳng thể không nghe giảng, mọi người phải hết ḷng nỗ lực dụng công.

Sau khi Làng Di Đà xây xong, Niệm Phật Đường có thể chứa từ một đến hai ngàn người.  Đồng tu trụ tại Làng Di Đà đều là Phật, Bồ Tát v́ những người đến chỗ này chỉ có một mục đích là làm Phật. ‘Niệm Phật là nhân, làm Phật là quả’.  Niệm Phật Đường nhất định niệm Phật chẳng gián đoạn suốt hai mươi bốn giờ, ngày ngày đều như vậy, năm nào cũng đều như vậy.  Chúng ta là phàm phu nghiệp chướng nặng nề muốn ngày đêm niệm Phật chẳng gián đoạn, nhưng thể lực có trở ngại, có trở ngại cũng phải khắc phục.  Khi xưa Đế Nhàn lăo ḥa thượng dạy phương pháp niệm Phật cho đồ đệ của Ngài -- người làm thợ vá nồi: ‘Niệm mệt rồi th́ nghỉ, nghỉ mệt xong liền niệm tiếp tục’.  Nhất định chẳng thể làm biếng, giải đăi, đây chính là v́ ḿnh mà cũng v́ chúng sanh;  bạn thành Phật rồi th́ có thể phổ độ chúng sanh, đây là tự lợi, lợi tha.  Hy vọng mọi người tự động, tự phát đừng để người ta phải đốc thúc.  Trong Niệm Phật Đường mặc áo hải thanh (áo tràng), lúc nghỉ mệt cũng đừng cởi áo hải thanh, khi cởi áo hải thanh th́ sợ ngủ mê, làm ngưng trệ công phu niệm Phật; mặc luôn áo mà ngủ th́ có thể đề cao cảnh giác, tận lực ngăn ngừa cho ḿnh đừng làm biếng.  Tu học trong đạo tràng như vậy th́ làm sao chẳng thành Phật cho được!

Trụ ở Làng Di Đà đều miễn phí, một đồng [chúng tôi] cũng chẳng nhận, v́ các bạn là Phật, Bồ Tát, chúng tôi đương nhiên phải cúng dường.  Một trong mười đức hiệu của Phật là ‘Ứng Cúng’, các bạn trú ở đây th́ đương nhiên phải nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh.  Bạn sẽ làm Phật nên chúng tôi dùng tâm cúng dường chư Phật để cúng dường các bạn, giúp các bạn ngay trong một đời này viên thành Phật đạo, cái duyên này vô cùng thù thắng!  Nơi đây xin chúc các bạn ngay trong một đời ngắn ngủi này nhất định sẽ thành tựu.

 

8.    Học Phật tức là học làm người         

(Buổi sáng 07-12-98)

Học Phật tức là học làm người, học làm một người tốt, học làm một người minh bạch.  Nhà Nho nói: “Đạt đến mức tốt lành tột bậc” [26], Phật pháp đích thật đă làm câu này được viên măn.  Chí thiện là thiện đến mức cùng cực, đạt đến cứu cánh viên măn.  Nhà Nho và nhà Phật đều có phương pháp đạt đến chí thiện, cơ sở của phương pháp này có thể nói là hoàn toàn tương đồng.  Nhà Nho dạy học trước hết đề ra ‘Tam Cương, Bát Mục’[27].  Nhà Phật dạy học trước hết đề ra ‘Tứ Hoằng, Lục Độ’, tinh thần và nội dung của hai thứ này rất giống nhau.  Thế nên tư tưởng, kiến giải, giáo học, hành tŕ của Khổng Lăo phu tử và Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng hẹn mà hợp với nhau, đúng là ‘Cái nh́n của anh hùng đại lược giống nhau’.

Việc đầu tiên trong sự tu học là phải phát nguyện, nhà Nho nói phải lập chí, lập chí làm thánh hiền, làm đại sự, chẳng phải lập chí làm quan phát tài, hưởng vinh hoa phú quư.  Đại sự là ǵ?  Nhà Phật nói: ‘Tử sanh đại sự’, câu này nói rơ ư nghĩa của đại sự.  Trong Phật pháp, đại sự nhân duyên nói đến chỗ cứu cánh viên măn tức là phổ độ chúng sanh và cũng là nguyện thứ nhất trong Tứ hoằng thệ nguyện: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’.  Độ là ví dụ, độ qua biển khổ sanh tử, độ qua lục đạo luân hồi, đây mới là đại sự.

Vô lượng kiếp đến nay chúng sanh kẹt măi trong sanh tử luân hồi đời này sang kiếp khác, vĩnh viễn chẳng thể thoát ly; trong kinh gọi chúng sanh trong lục đạo là ‘người đáng thương xót’.  T́nh trạng trong lục đạo chỉ có Phật, Bồ Tát mới rơ ràng, phàm phu mê trong đó và chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật.  Chân tướng sự thật này tức là chân tướng của sanh tử và chân tướng của đời sống chúng ta.

Đức Phật nói khi chúng ta ở trong luân hồi th́ nhất định thời gian trong ba ác đạo dài, thời gian trong ba thiện đạo ngắn.  Thọ mạng dài nhất trong tam thiện đạo là cơi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ở trời Vô Sắc Giới, thọ mạng là tám vạn đại kiếp; một đại kiếp bằng thời gian thế giới chúng ta trải qua ‘thành - trụ - hoại - không’ một lần, tám vạn đại kiếp là thời gian thế giới chúng ta thành, trụ, hoại, không tám vạn lần, họ có thọ mạng dài như vậy.  Thời gian dài trong ác đạo càng dễ sợ hơn.  Kinh Địa Tạng dạy: ‘Thọ mạng trong địa ngục là vô số kiếp’.  Cho dù là trong cơi súc sanh tuy thọ mạng chẳng dài nhưng súc sanh ngu si, kiên cố chấp trước thân h́nh này là của ḿnh cho nên rất khó thoát ra.  Lúc Thế Tôn c̣n tại thế, tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên có một ổ kiến, Thế Tôn nói với đệ tử: ‘Đă trải qua bảy vị Phật rồi, cả ổ kiến này cũng chưa thoát thân làm kiến, đời đời kiếp kiếp cứ làm kiến hoài’.  Thời gian này dài hơn thọ mạng của Phi Phi Tướng Xứ Thiên quá nhiều, quá nhiều!

Cho nên Phật, Bồ Tát thường nhắc nhở chúng ta, cảnh cáo chúng ta, tam ác đạo tuyệt đối chẳng thể đi vào, đọa tam ác đạo rất dễ dàng, thoát ly tam ác đạo th́ quá khó.  Tuy Phật, Bồ Tát từ bi ứng hóa trong ác đạo độ chúng sanh, nhưng ác đạo chúng sanh ngu si đến cùng cực, c̣n thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nặng nề, so với độ người c̣n khó gấp nhiều lần.  Tuy vậy nhưng Phật, Bồ Tát cũng chẳng buông bỏ, các Ngài thực sự là từ bi đến cùng cực.

Trong lục đạo chúng sanh dễ độ nhất là loài người, thế nên Bồ Tát thị hiện thành Phật cũng ở tại cơi người.  Nguyên nhân là ǵ?  Phật, Bồ Tát thị hiện ở chỗ nào là do cảm ứng đạo giao với chúng sanh nơi đó, chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát liền có ứng.  Do đó mới biết cơi người có sức cảm ứng rất lớn với chư Phật, Bồ Tát, thế nên quư Ngài ứng hóa trong cơi người, thị hiện làm Phật, làm Bồ Tát, đây là chân lư.

Đời này chúng ta có thể sanh vào cơi người, cơ hội này vô cùng hiếm hoi và quư báu, quư ở chỗ cơi người dễ giác ngộ, dễ được độ, cho nên chúng ta nhất định phải nắm vững cơ duyên.  Vả lại cơ duyên này chẳng lâu dài v́ thọ mạng của cơi người rất ngắn, cho dù sống đến một trăm tuổi th́ cũng như búng ngón tay, một sát na ngắn ngủi mà thôi.  Thọ mạng ngắn nói lên cơ duyên này đặc biệt quư báu, v́ vậy được thân người nếu chẳng nghe được Phật pháp th́ rất đáng tiếc.  Số người được thân người nhưng chẳng có cơ duyên nghe Phật pháp đích thật là chiếm đại đa số.  Trong thời đại hiện nay Phật pháp nương vào khoa học kỹ thuật phổ biến truyền đến khắp thế giới, bất luận là tin hay không, chỉ v́ ‘một phen lọt vào tai, vĩnh viễn là hạt giống đạo’, đây là người thế gian có phước.  Nếu ở trong đời này thiệt có thể thoát ly lục đạo luân hồi th́ là thực sự thành tựu.  Ngược lại đời này chẳng thể thoát ly lục đạo, đời sau không cách chi tránh khỏi luân hồi như cũ; một khi đă luân hồi th́ chẳng biết phải trôi lăn đến kiếp nào mới có thể gặp được Phật pháp.  Nhất định chẳng thể đời nào cũng gặp được Phật pháp, nếu đời nào cũng được gặp th́ chúng ta đă thành Phật sớm rồi, bởi vậy mới biết việc này chẳng dễ.

Gặp được Phật pháp mọi người đều hy vọng ngay trong đời này được thành tựu, chuyện này cũng chẳng phải khó, đích thực mỗi người đều có thể làm được, mấu chốt là ở chỗ giác ngộ.  Biết được khuyết điểm của ḿnh chính là giác ngộ; sửa khuyết điểm cho đúng trở lại là tu hành.  Nếu chẳng biết khuyết điểm của ḿnh th́ không biết bắt đầu sửa đổi từ đâu.  Nhưng một người biết được khuyết điểm của ḿnh rất khó, ai cũng tưởng là ḿnh đúng hoàn toàn.  Lư do phàm phu vẫn cứ là phàm phu v́ họ chẳng biết lỗi lầm của ḿnh, cứ cho rằng ḿnh đúng.  Bồ Tát khác với phàm phu là v́ Bồ Tát chẳng có quan niệm ḿnh đúng, chỉ biết rằng lỗi lầm của ḿnh quá nhiều, mỗi ngày đều phản tỉnh, ngày ngày đều sửa lỗi, đây là người giác ngộ.  Người mê th́ cứ tưởng là ḿnh đúng, cho dù phản tỉnh th́ cũng nghĩ ḿnh chẳng có lỗi, lỗi đều ở nơi người khác.  Nhưng họ chẳng biết khi thấy lỗi người khác th́ chính là lỗi của ḿnh; khi nào chẳng thấy lỗi của người khác th́ lỗi của ḿnh cũng chẳng c̣n.

Huệ Năng đại sư dạy: ‘Nếu là người tu đạo chân thật chẳng thấy lỗi thế gian’.  Nh́n thấy người khác có lỗi tức là phiền năo tập khí của ḿnh hiện ra.  Bên ngoài là duyên, duyên giúp cho phiền năo tập khí của ḿnh khởi lên, đây là lỗi lầm lớn.  Cho nên người biết tu hành, hết thảy ngoại duyên đều là thiện tri thức, gặp người thiện, chuyện thiện th́ có thể học tập, gặp người ác, chuyện ác giúp ḿnh phản tỉnh sửa lỗi lầm, thuận hay nghịch đều là thiện tri thức.  Trong lúc phản tỉnh ‘có lỗi th́ sửa, không th́ nhắc nhở để đừng phạm’, lư do Bồ Tát tu hành có thể thành Phật là ở tại điểm này.

Nếu chẳng hiểu đạo lư và chân tướng sự thật, học Phật mà chẳng thực sự thay đổi trên tâm địa, tức là học Phật nhưng vẫn tạo tội nghiệp y như cũ th́ đúng như lời người xưa nói ‘Trước cửa địa ngục có nhiều Tăng sĩ’[28].  Chữ Tăng này không nhất định chỉ người xuất gia, người tại gia cũng bao gồm trong đó; Tăng là đoàn thể, bất luận là xuất gia hay tại gia, đoàn thể học Phật đều xưng là Tăng đoàn.

Hiện nay tu học pháp môn Niệm Phật có thể giúp chúng ta đoạn phiền năo, tăng trưởng trí huệ, thoát ly sanh tử luân hồi, viên thành Phật đạo.  Trong vô lượng pháp môn đây là pháp môn hy hữu thù thắng hạng nhất, chẳng dễ ǵ gặp được.  Đặc biệt là đạo tràng có tổ chức tu tập chung như vầy chẳng phải do sức người tạo nên, mà là do chư Phật, Bồ Tát gia tŕ nên đạo tràng có chư Phật hộ niệm, Long thiên ủng hộ.  Mọi người ở trong đạo tràng này tu học phải đặc biệt trân trọng cái nhân duyên hiếm có, khó gặp này, phải hết ḷng nỗ lực, nhất định nội trong một đời này viên măn thành tựu.

 

9.    Cầu cảm ứng  (Buổi sáng 08-12-98)

 

a. Học Phật tức là học giác ngộ.

Phật pháp quư ở chỗ giác ngộ, cổ thánh tiền hiền cũng nói: ‘chế ngự được niệm th́ thành thánh’[29]  , thế nên thánh hay phàm chỉ ở tại một niệm giác hay mê mà thôi.  Một niệm giác, ngay lúc đó tức là Nhất Chân pháp giới; một niệm mê th́ đâu phải chỉ có mười pháp giới không thôi?  Người giác ngộ thực sự có thể buông xuống, chỉ có người mê mới có chấp trước.  Chư Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt cho chúng ta, cho nên học Phật, Bồ Tát tức là học giác ngộ, học nh́n thấu, buông xuống, thực sự làm được ‘chẳng tranh với người, chẳng cầu với đời’ th́ tự nhiên thân tâm tự tại, trí huệ tăng trưởng.

Người học Phật chẳng thể khế nhập vào cảnh giới là v́ một niệm t́nh chấp chưa tiêu trừ.  Nếu muốn thành tựu th́ chẳng thể không biết đạo lư này, chẳng thể không hết ḷng học tập ‘chẳng tranh, chẳng cầu’, học tập từ bi, nhiệt thành giúp người.  Trong quá tŕnh giúp người, nhất định chẳng thể chấp trước danh - văn - lợi -dưỡng, ngũ dục lục trần, phải vĩnh viễn bảo tŕ tâm thanh tịnh, b́nh đẳng; đây là Bồ Tát hạnh, Bồ Tát hạnh là hạnh giác ngộ.

Chúng ta phải quan sát kỹ và thể hội cả đời hành tŕ của đức Thế Tôn.  Thế Tôn hoằng pháp lợi sanh giảng kinh thuyết pháp, chẳng có danh phận, cũng chẳng có chức vị, đối với chúng ta chỉ là quan hệ thầy tṛ.  Quan hệ này vẫn c̣n là kiến giải phàm phu, Thế Tôn tuyệt chẳng có khái niệm này; nếu Ngài có khái niệm này th́ chẳng thể thành thánh, thành Phật.  V́ thầy tṛ là nhị pháp, nhị pháp chẳng phải là Phật pháp, đây là lời Lục Tổ Huệ Năng đại sư nói.

 

b. Nhị đế         

Thế Tôn cả đời giảng kinh thuyết pháp y cứ theo nguyên lư, nguyên tắc Nhị Đế; mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai thuyết pháp cũng dựa trên Nhị Đế.  Nhị Đế tức là Chân Đế và Tục Đế.  Chân Đế hoàn toàn nói về chư pháp thật tướng, chẳng có tơ hào phân biệt chấp trước, người thế gian khó hiểu việc này.  Tục Đế tức là thế gian pháp, y theo tri kiến và thường thức của chúng sanh, mọi người đều dễ hiểu.  Nhưng trí huệ của Phật cao, thiện xảo phương tiện đạt đến cực điểm, nói Tục Đế cũng bao gồm Chân Đế, nói về Chân Đế nhưng cũng chẳng ĺa Tục Đế, Chân và Tục viên dung, được đại tự tại.  Người thế gian không những mê Chân Đế mà cũng mê Tục Đế.  Phật có thể viên dung cả Chân lẫn Tục, tức là Chân Đế nh́n thấu rồi, th́ Tục Đế cũng buông xuống.  Nh́n thấu và buông xuống là một chứ chẳng phải hai, đây mới là trí huệ chân thật.  ‘Trụ chân thật huệ’ trong kinh Vô Lượng Thọ tức là cảnh giới này.  Những việc làm cả đời của chư Phật, Bồ Tát chỉ có một mục đích là hoằng pháp lợi sanh, ban cho chúng sanh lợi ích chân thật.  Dù ban lợi ích chân thật nhưng Ngài cũng chẳng cầu một cái ǵ, và cũng chẳng phân biệt chấp trước.  Những chỗ này chúng ta phải rơ ràng, thấu hiểu triệt để, hết ḷng học tập.

 

c. Cầu cảm ứng

Sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh chẳng thể không cầu cảm ứng.  Đối với việc này, nếu có thể thể hội được Chân Tục viên dung th́ sẽ có chánh tri, chánh kiến, chánh giải, và sẽ chẳng nghiêng lệch về một bên.  Người thế gian chấp trước trên Tục Đế, thực sự niệm niệm đều mong cầu, niệm niệm mong cầu th́ liền lọt vào trong ư thức.  Cầu mong chư Phật, Bồ Tát là làm một cách đúng lư, đúng pháp, có nguyện cầu nhưng chẳng có tâm mong cầu, như vậy mới viên dung, mới có cảm ứng.

Nhà Nho nói: ‘lập chí’, nhà Phật nói ‘phát nguyện’, hai thứ này có khác nhau không?  Trong ‘chí’ có mong cầu, có cầu th́ sẽ lọt vào t́nh thức; trong ‘nguyện’ chẳng có mong cầu.  Nói một cách khác ‘lập chí’ có mang theo cảm t́nh, ‘phát nguyện’ thuần túy là trí huệ, chẳng có t́nh thức.  Thực ra chúng ta chỉ cần làm đúng như lư, như pháp, chư Phật Như Lai sẽ tự nhiên hộ niệm, đây tức là ‘cầu’, ‘cầu’ như vậy th́ có cảm ứng.  Chúng ta cầu mà chẳng cầu, chư Phật, Bồ Tát ứng mà chẳng ứng, thế th́ sẽ cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn, không những Phật, Bồ Tát hộ niệm, long thiên thiện thần cũng sẽ ủng hộ.  Nếu có tâm mong cầu th́ tuyệt đối sẽ chẳng có cảm ứng, tại v́ tâm này là t́nh thức, gây trở ngại cho sự cảm ứng giữa chúng ta và chư Phật, Bồ Tát.  Thế nên có nguyện nhưng chẳng có tâm mong cầu, chỉ cần hết ḷng nỗ lực như lư như pháp mà làm th́ tự nhiên sẽ có cảm ứng.

Tự ḿnh tu tập phải đoạn phiền năo tập khí, phải khai trí huệ, giúp đỡ người khác cũng có mục đích này, nhưng thủ đoạn phương pháp phải tùy cơ ứng biến, v́ cơ duyên chẳng giống nhau, phương thức sẽ chẳng đồng, có câu ‘phương tiện có nhiều cửa, đường trở về chẳng hai’.  Tự ḿnh thành tâm thành ư mà làm, chướng ngại của ḿnh chẳng c̣n nữa nhưng chúng sanh c̣n chướng ngại, tức là duyên chưa chín muồi.  Duyên chưa chín muồi th́ tự ḿnh phải dưỡng đạo, cũng tức là tiến tu, không ngừng nâng cao cảnh giới của ḿnh, chờ đợi cơ duyên của chúng sanh chín muồi, việc này chẳng thể miễn cưỡng chút nào.

Nếu muốn dời cơ duyên độ chúng sanh đến sớm hơn th́ tự ḿnh phải hết ḷng nỗ lực tu pháp sám hối, sửa lỗi đổi mới, hết thảy đều cầu về hướng tự tánh.  Thế nên Phật pháp được gọi là Nội Học, hoàn toàn khác với thế gian pháp.  Người thế gian hướng về bên ngoài mong cầu, Phật pháp th́ hướng về tự tánh mà cầu, chẳng hướng ngoại.  Cầu chư Phật, Bồ Tát gia tŕ th́ cũng là từ tự tánh mà cầu.  Nếu chúng ta thực sự cùng tâm, cùng nguyện, cùng đức, cùng hạnh với Phật, đây tức là ‘cầu’, cầu như vậy chẳng hướng ngoại, hết thảy Như Lai làm sao chẳng gia tŕ?  Như vậy cũng giống như tiếp nối đường điện, chẳng có chướng ngại, nhất định sẽ có cảm ứng đạo giao.  Nếu có một tâm niệm riêng tư, đường điện sẽ đứt mất và sẽ chẳng có cảm ứng.

Nếu có tâm riêng tư, có t́nh [chấp] dục [vọng] mà cầu th́ cũng có cảm ứng, đây là ma cảm ứng, trong xă hội ngày nay, những chuyện này rất nhiều.  Yêu ma quỷ quái cũng có thể làm cho bạn có thần thông, làm cho bạn phát cuồng, cho bạn một số khả năng đặc biệt, bạn cũng có thể mê hoặc chúng sanh, nhưng đây đều là tạo nghiệp. Năm mươi loại Ấm Ma giảng trong kinh Lăng Nghiêm rất rơ ràng. Những thứ thần thông, đạo lực này là do ma nhập vào người, ma gia tŕ họ; sau khi ma rời khỏi th́ hoàn toàn mất hết, sau cùng bản thân người đó cũng sẽ gặp nạn. Cho nên nhà Phật nói về đạo lư ‘cầu’ chúng ta nhất định phải hiểu; pháp thế và xuất thế gian đều hướng về tâm tánh, như vậy mới đúng.

d. Hoằng pháp và Hộ pháp.

Chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, hiển thị tại đâu?  Xung quanh chúng ta sẽ có rất nhiều bạn tốt giúp đỡ, hộ tŕ, đây là hộ pháp.  Hộ pháp gồm có nội hộ và ngoại hộ, nội hộ là do người xuất gia hộ tŕ, ngoại hộ do hai chúng tại gia hộ tŕ, được vậy chánh pháp mới được xây dựng, thường trụ tại thế gian.  Tuy được hộ tŕ cả trong lẫn ngoài, tâm địa chúng ta vẫn phải thanh tịnh, vẫn phải mảy trần chẳng nhiễm như cũ.

Giống như Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba và Tịnh Tông Học Hội đích thực có thiện hữu giúp đỡ mạnh mẽ, nhưng chúng ta đối với họ chẳng có tiếp đăi đặc biệt.  Lúc ăn cơm ở Cư Sĩ Lâm, họ tự động lấy dĩa đi gắp thức ăn, tự kiếm chỗ ngồi, chẳng nhận một sự tiếp đăi đặc biệt nào cả, đây mới thật sự là thiện hữu chân thật.  Có câu ‘Một vị Phật ra đời, ngàn Phật ủng hộ’, những người này đều là Phật, Bồ Tát, cho nên đạo tràng này có thể thành lập, là mọi người có phước.  Chúng ta rất may mắn gặp được nhân duyên này và cũng rất hoan hỷ dốc toàn tâm toàn lực để hợp tác, ủng hộ, cống hiến một chút sức hèn mọn.  V́ giúp họ là giúp hết thảy chúng sanh, giúp họ tức là giúp chư Phật Như Lai.

Cho nên người xuất gia tốt nhất đừng quản lư sự vụ, đây là do Thế Tôn thị hiện cho chúng ta thấy.  Người xuất gia quản lư sự vụ là bất đắc dĩ, là đă biến dạng rồi.  Nếu người xuất gia quản lư sự vụ th́ là hộ pháp, chẳng phải là hoằng pháp, vậy th́ phải toàn tâm toàn lực bồi dưỡng những người đi sau (lớp đàn em), chiếu cố những pháp sư hoằng pháp.  Quản lư sự vụ cũng giống như hiệu trưởng trong trường học, phải quản lư giáo vụ, tổng vụ, đây là [chức vụ] Chấp Sự, có tánh cách phục vụ.  Hoằng pháp là giáo viên, chẳng đảm nhiệm Chấp Sự.  Phía trong Chấp Sự là nội hộ, bên ngoài Chấp Sự là ngoại hộ.

 Nếu chúng ta có thể hiểu rơ quan niệm này, mỗi người đều tận tâm làm tṛn trách nhiệm của ḿnh, Phật pháp nhất định sẽ hưng vượng, chúng sanh mới thực sự có phước.  Nhất định chẳng tranh giành chức vị Chấp Sự, sau đó tác oai, tác phước để hưởng thọ, chướng ngại cho pháp sư hoằng pháp, chẳng bồi dưỡng huấn luyện hậu học, đây là tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, tạo tội nghiệp này phải đọa A Tỳ địa ngục.  Chúng ta phải rơ ràng minh bạch, phải tu phước trong nhà Phật, đừng nên tạo nghiệp.

Chúng ta làm tṛn nội hộ và ngoại hộ, tự nhiên sẽ có chư Phật Bồ Tát đến hoằng pháp lợi sanh.  Nội hộ và ngoại hộ làm chẳng đúng như pháp, nhất định sẽ chẳng có Phật, Bồ Tát đến thuyết pháp v́ duyên chưa chín muồi.  Công tác hộ pháp làm được viên măn th́ là duyên chín muồi, tự nhiên sẽ cảm được chư Phật, Bồ Tát đến thị hiện giáo hóa chúng sanh.

 

10. Làm đệ tử Di Đà  (Buổi sáng 09-12-98)

 

a. Gặp duyên rất quan trọng.

Những năm đầu Dân quốc, Thái Hư pháp sư đề xướng ‘Bồ Tát Học Xứ’, ư tưởng này rất tốt.  Hiện nay chúng ta đề xướng làm ‘Đệ Tử Di Đà’.  Đệ tử Di Đà đương nhiên cũng là Bồ Tát.  Như thế nào mới làm được?  Đây là vấn đề của giáo dục.  Thánh nhân thế gian và xuất thế gian dạy: ‘Người ta ai cũng có thể làm thánh hiền, ai cũng có thể làm Nghiêu, Thuấn’, mấu chốt là ở tại giáo học.  Dùng Phật pháp mà nói, giáo học là trợ duyên, tăng thượng duyên, nếu gặp được tăng thượng duyên tốt, người có tài năng hạng trung cũng có thể làm thánh làm hiền, trong nhà Phật có chuyện này, trong các triều đại Trung Quốc cũng có.  Đặc biệt là trong Phật pháp, hạ hạ căn cũng có thể làm A La Hán, làm Bồ Tát, đây là chỗ cao minh của nền giáo học Phật pháp.  Trong nhóm đệ tử của Thế Tôn, Châu Lợi Bàn Đà Già [30] là một thí dụ rất hay.  Ngay cả người hạ hạ căn cũng có thể chứng quả vị A La Hán, có thể thành đại Bồ Tát, huống chi là người trung, thượng căn?

Phần đông người ta cả một đời chẳng thể thành tựu, pháp thế gian và xuất thế gian chẳng thành, hoặc có được chút ít thành tựu nhưng sau cùng lại thất bại đều là v́ gặp duyên chẳng tốt.  Phật thuyết pháp: ‘Hết thảy pháp do nhân duyên sanh’ rất có đạo lư.  Một duyên phần tốt th́ chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu.  Vậy th́ đời này chúng ta có thể gặp duyên tốt chăng?  Câu trả lời là khẳng định được, tại v́ ‘trong nhà Phật chẳng xả một người nào hết’, vấn đề ở tại phát tâm.  Nếu chúng ta phát tâm thuần chánh, chư Phật Bồ Tát nhất định sẽ đến làm tăng thượng duyên cho chúng ta, sẽ đến giúp đỡ chúng ta.

 

b. Phát tâm.

Nhà Phật nói chữ ‘thuyết pháp’, cơ duyên chín muồi mà bạn chẳng thuyết pháp cho họ nghe th́ đánh mất cơ hội, là mất đi thời tiết nhân duyên; nếu cơ duyên chẳng chín muồi mà thuyết pháp cho họ th́ là không đúng lúc.  Phật hiểu rơ thời tiết nhân duyên nên Phật thuyết pháp được ví như  ‘hải triều âm’.  Hải triều chỉ thủy triều dâng (nước lên) và xuống có thời gian nhất định, nhất định chẳng bao giờ sai.  Đức Phật giáo hóa chúng sanh cũng vậy.

Đây là nói rơ một sự thật: chúng sanh có Cảm th́ Phật sẽ Ứng, cảm ứng đạo giao.  Do đó có thể biết thành tựu hay không là thao túng trong tay của chính ḿnh.  Nếu ḿnh hy vọng làm thánh làm hiền, làm Phật, làm Bồ Tát th́ cái tâm này là Cảm, nhất định Phật, Bồ Tát sẽ có Ứng.  Nếu niệm này chẳng sanh khởi th́ là chẳng có Cảm; chẳng có Cảm th́ đương nhiên Phật, Bồ Tát chẳng có Ứng, cho nên bạn sẽ chẳng  gặp được cơ duyên.  Nếu nguyện vọng của bạn là chân thật th́ cảm ứng sẽ rất nhanh chóng; nếu nguyện vọng rất yếu ớt, khi có khi không, th́ cảm ứng cũng sẽ yếu ớt.  Cho nên một đời này của bạn có thành tựu hay không là do sự ‘phát tâm’.

Nguyên nhân ‘Bồ Tát Học Xứ’ của Thái Hư pháp sư chưa thực hiện thành công là v́ người chân chánh phát tâm làm Phật, làm Bồ Tát quá ít.  Chân chánh phát tâm làm Bồ Tát th́ nhất định chẳng bị danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần trong thế gian dụ hoặc; nếu c̣n bị dụ hoặc th́ sẽ chẳng làm Bồ Tát nổi.  Chuyện này phải nhờ tự ḿnh khắc phục phiền năo tập khí th́ mới có được cảm ứng, có được trợ duyên.

Hiện nay ngoại duyên ở Tân Gia Ba đă chín muồi, đây là cảm ứng của Phật, Bồ Tát.  Chúng ta từ sự ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát th́ có thể biết được trong nhóm đồng tu có Cảm; nếu chẳng có Cảm th́ làm sao có Ứng được?  Cho nên trong các vị đồng tu nhất định có người chân chánh phát tâm muốn làm Bồ Tát, muốn làm đệ tử Di Đà nên duyên này mới chín muồi, chẳng có chút ǵ miễn cưỡng, đây là chân thật chẳng hư dối.  Chúng ta gặp được thời tiết nhân duyên vô cùng thù thắng như vậy th́ càng tăng thêm tín nguyện của chúng ta, và từ đó chúng ta cũng thành tựu theo.  Đúng như lời của cư sĩ Bành Tế Thanh ‘vô lượng kiếp đến nay hiếm có, khó gặp’, chúng ta nhất định phải trân quư cái duyên phần này.  Nếu trong nhân duyên thù thắng như vậy mà vẫn chẳng chống nổi phiền năo tập khí, chẳng chống nổi danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần dụ hoặc, bỏ lỡ cơ duyên quư báu th́ thiệt rất đáng tiếc!

Cư sĩ Lư Mộc Nguyên phát tâm chân thật, chẳng có một chút tâm riêng tư, cho nên làm việc hoằng pháp được thành công, làm tăng thượng duyên cho mọi người.  Nếu ổng có một chút tâm riêng tư th́ công chuyện sẽ nhất định thất bại, v́ nếu có tâm riêng tư th́ sẽ chẳng được Tam Bảo cảm ứng.  Nếu vẫn có cảm ứng th́ nhất định là ma đến ứng, chẳng phải Phật đến ứng.  Ma và Phật khác nhau chẳng ở cảnh bên ngoài mà là ở nội tâm.  Một niệm chân thành, Phật đến cảm ứng; một niệm tự tư tự lợi th́ ma đến cảm ứng.  Thế nên trong tâm chẳng có một chút tâm niệm ham muốn riêng tư mới cảm được chư Phật đến ứng.

 

c.Tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi

Trong đời sống hằng ngày lúc đối người, đối sự, đối vật chẳng thể có ‘tôi đúng anh sai’, ‘tôi chánh anh tà’.  Nếu vẫn c̣n tâm niệm tự tư tự lợi, cứ cho là ḿnh đúng th́ đó là phiền năo tập khí, tâm như vậy sẽ chẳng thanh tịnh, chẳng b́nh đẳng, đó là chướng ngại cho sự cảm ứng đạo giao với chư Phật, Bồ Tát.  Chuyện tốt cuối cùng biến thành ma cảnh là ở tại một niệm sai trái này.  Tâm Phật, Bồ Tát là tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, nh́n hết thảy chúng sanh đều b́nh đẳng, đối với hết thảy chúng sanh đều chân thành, cung kính.  Chúng ta phải học tập những tâm này th́ mới có được cảm ứng, có được trợ duyên.  Có được trợ duyên rồi th́ tự hành hóa tha sẽ rất thuận tiện.

Cứ thường thấy lỗi người khác, cứ cho là ḿnh đúng, đây là lỗi lầm lớn nhất.  Cho dù người khác tạo nên tội ngũ nghịch, thập ác, chúng ta vẫn phải học Phật, Bồ Tát dùng con mắt từ bi mà quán, họ chỉ v́ một lúc mê hoặc nên tạo thành lỗi lầm, họ chẳng dùng chân tâm, trong chân tâm chẳng có lỗi lầm, họ dùng vọng tâm nên bị phiền năo tập khí chi phối.  Chư Phật Bồ Tát nh́n thấy những người này sẽ dùng tâm thương xót, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng để đối đăi; v́ chân tâm Phật tánh của họ chẳng bị giảm mất chút nào, Phật, Bồ Tát đối với họ vẫn hoàn toàn cung kính.  Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta ‘Lễ kính chư Phật’, cho nên đối với những người làm ác đa đoan, lễ kính vẫn chẳng giảm bớt mảy may.

Chuyện này chúng ta có thể làm được hay không?  Nếu có phân biệt, chấp trước th́ sẽ làm không được.  Làm không được th́ là chúng sanh, chẳng phải Bồ Tát.  Muốn học làm Bồ Tát th́ phải bắt đầu học từ chỗ này, phải chân chánh làm được đối với người cực ác th́ cũng hoan hỷ khen bề tốt, mặt thiện của họ, tuyệt đối chẳng đề cập đến bề ác, mặt xấu của họ.  Không những không đề cập, trong tâm cũng chẳng lưu lại dấu vết, tâm như vậy mới thực sự thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ được đại tự tại.  Chúng ta xem họ cũng giống như một vị Phật, v́ ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’, Phật đối đăi với người như vậy đó.  Chúng ta học Phật th́ cũng phải đối đăi với người như vậy.  Bây giờ họ làm ác chỉ bất quá là v́ một lúc hồ đồ, hồ đồ rồi một ngày nào đó cũng sẽ minh bạch; chúng ta có nghĩa vụ giúp đỡ họ, làm cho họ sớm hiểu rơ; khi hiểu rơ rồi th́ họ cũng sẽ phổ độ hết thảy chúng sanh, chúng sanh sẽ có phước.

Trong tâm đừng nên nghĩ về thị - phi, nhân - ngă, ân - ân, oán - oán, phải thường nghĩ đến lời dạy của Phật, thường nghĩ đến ư nghĩa của kinh.  Dùng kinh Vô Lượng Thọ làm chánh th́ phải thường nghĩ đến nghĩa lư của kinh Vô Lượng Thọ, đem nghĩa lư đó biến thành sự suy nghĩ chân chánh của ḿnh, ứng dụng trong đời sống, dùng mắt Phật quán thế gian, chúng ta mới chân chánh thành đệ tử Di Đà, chân chánh làm Bồ Tát, chuyển phàm thành thánh.  Chuyển từ trong tâm, chuyển trên hành vi, đây là công đức chân thật, hy vọng mọi người cùng nhau khích lệ.

 

11. Mở rộng tâm lượng, bao dung kẻ khác

(Buổi sáng 14-12-98)

Quyển hai của kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền hiện lên cảnh giới: ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu các cơi nhiều như cát’.  Câu nói của Lăo Tử: ‘Có bao dung th́ mới rộng lớn, chẳng ham muốn th́ sẽ mạnh mẽ’ [31] cũng thể hiện trong đoạn kinh văn này.  Trong kinh nói đến ‘đại nhẫn’ tức là chân nhẫn, là dùng chân tâm mà nhẫn, tâm lượng của chân tâm lớn, không có ǵ chẳng bao dung.  Chỉ có hiểu rơ triệt để chân tướng sự thật th́ mới có tâm lượng lớn như vậy.  Cảnh giới đó là vốn có, chẳng phải là do học mà được, cũng chẳng phải có được dần dần, cho nên Phật mới nói ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’.  Chúng ta vốn có đại nhẫn, vốn là Phật, giống y như Tỳ Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, hiện nay lại biến thành như vầy là v́ đă mê mất tự tánh, chân tâm.  Giáo học Phật giáo chẳng có ǵ khác ngoài sự giúp đỡ chúng sanh khôi phục bộ mặt vốn có mà thôi; ngoài chuyện này ra, Phật chẳng có một pháp ǵ để dạy chúng sanh.  Cho nên thánh và phàm, Phật và chúng sanh khác nhau ở tại một niệm mê - ngộ mà thôi.  Phật thường than tiếc chúng sanh mê hoặc là ‘người đáng thương xót’, chỉ v́ mê mất tự tánh nên tâm địa hẹp ḥi, chẳng thể bao dung người khác, thậm chí hai người sống chung cũng có ư kiến bất đồng, chẳng thể ḥa hợp, đúng là đáng thương xót đến mức cùng cực.  Kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền triển hiện lên tận hư không trọn khắp pháp giới mọi chúng tạp thần, có thiện thần, có ác thần, có bát bộ quỷ thần trong thập pháp giới, c̣n có chư thiên, thiên vương, tổng cộng có hai trăm hai mươi tám đoàn thể chủng tộc khác nhau.  Thiệt là chẳng ǵ chẳng bao gồm, dung chứa, tâm lượng như vậy quá lớn!  Chúng ta cũng phải khôi phục lại tâm lượng lớn như vậy.  Nếu chẳng thể dung nhẫn, kết oán cùng người, tạo thành oan oan tương báo, bạn gây chướng ngại cho người khác th́ người khác sẽ chướng ngại bạn; bạn phá hoại kẻ khác th́ kẻ khác sẽ phá hoại bạn, tạo ra nhân ǵ th́ sẽ chịu quả báo đó, quả báo thông ba đời, rất đáng sợ.  Cho nên khi bạn bao dung kẻ khác, th́ kẻ khác bao dung bạn; bạn giúp đỡ người khác th́ người khác giúp đỡ bạn, đây là chân lư vĩnh viễn chẳng biến.  Đây là trong kinh Hoa Nghiêm, Phật hiện thân thuyết pháp, biểu diễn cho chúng ta coi, để cho chúng ta thể hội.

Chỗ vĩ đại của Phật, Bồ Tát là ở chỗ chẳng đối địch với người, ngay cả đối với ác quỷ cực ác cũng cung kính, thương yêu che chở, v́ biết [hết thảy đều] cùng một căn bản, cùng một tự tánh.  Tào Thực nói: ‘Vốn cùng sanh một rễ, nấu nhau sao quá gấp?’  [32], tận hư không trọn khắp pháp giới hết thảy chúng sanh đều cùng một cội rễ, cái cội rễ này chính là chân như tự tánh.

Một đoàn thể chủng tộc chẳng thể bao dung những chủng tộc khác th́ sẽ có đấu tranh giữa các đoàn thể chủng tộc, một quốc gia chẳng thể bao dung quốc gia khác th́ sẽ sanh khởi chiến tranh.  Muốn giải quyết những vấn đề này th́ tâm lượng nhất định phải lớn, khi khởi tâm động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh, phải tôn trọng, kính ái, hợp tác lẫn nhau, th́ mới tiêu trừ những sự hiểu lầm, mâu thuẫn, ngăn cách, kỳ thị, thế giới mới chân chánh đạt được ḥa b́nh an định.  Nếu niệm niệm đều v́ lợi ích của ḿnh, xem thường lợi ích của đối phương, xem thường lợi ích của toàn thể nhân loại, cho dù mỗi ngày đều hô hào thế giới ḥa b́nh, th́ đó cũng chỉ là một khẩu hiệu, chẳng thể thực hiện.  Do đó người tâm lượng hẹp ḥi chẳng có cách ǵ để giải quyết vấn đề.  Các đoàn thể chủng tộc trên thế giới, người lănh đạo quốc gia nhất định phải mở rộng tâm lượng, niệm niệm đều v́ hết thảy chúng sanh khổ nạn trên thế giới, ḥa b́nh an định mới có thể thực hiện.

Giả sử mọi người đều nghĩ đến lợi ích của hết thảy chúng sanh trên trái đất, vấn đề vẫn chẳng thể giải quyết y như cũ v́ tâm lượng này vẫn c̣n quá nhỏ.  Chúng ta chỉ thương yêu quả đất này, chẳng thương yêu những tinh cầu khác th́ tương lai chiến tranh giữa các tinh cầu vẫn có thể xảy ra.  Thế nên tâm lượng phải mở rộng, phải học Phật, Bồ Tát khi khởi tâm động niệm phải quan tâm đến tận hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng buông bỏ một chúng sanh nào hết.  Nếu chưa có tâm lượng lớn như vậy th́ làm sao mới làm được câu ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’?  Nếu tâm lượng nhỏ bé chẳng thể dung nạp một người nào, mỗi ngày phát nguyện [như vậy] th́ chẳng phải là tự sỉ nhục hay sao, lừa gạt Phật, Bồ Tát hay sao?  Đó là nói dối.  Nói nghe rất hay, nhưng làm toàn những chuyện phản đạo, đều là tạo nghiệp, nên cổ đức thường nói: ‘Trước cửa địa ngục, tăng đạo nhiều’, nguyên nhân người học Phật vẫn c̣n đọa địa ngục là ở tại chỗ này.

Người chẳng nghiên cứu giáo lư làm sai th́ c̣n tha thứ được; chúng ta mỗi ngày đều nghiên cứu Phật lư, chẳng t́m hiểu rơ ràng những đạo lư này, vẫn c̣n mê trong danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, việc này ngay cả ḿnh cũng chẳng tha thứ ḿnh được.  Nếu từ chỗ này chúng ta có thể tỉnh ngộ th́ đó là sự giác ngộ chân chánh.  Lúc đó đọc kinh Hoa Nghiêm mới có thọ dụng chân thật, quan niệm tư tưởng mới chuyển biến được, sẽ ‘nhập tri kiến Phật’.  Hiểu rơ y báo, chánh báo trang nghiêm của thập pháp giới vốn có cùng một gốc rễ, đó tức là tri kiến Phật.

Trong cuốn ‘Địa Tạng Kinh Luân Quán’ Thanh Liên pháp sư giảng: ‘Không tướng không tên, dứt bặt suy nghĩ”[33], đây tức là nghĩa lư và tinh hoa của kinh Kim Cang, đây là chân tướng sự thật.  Nếu chúng ta thể hội đến ư nghĩa chân thật của câu này th́ quan niệm tư tưởng, ngôn ngữ hành vi sẽ chuyển biến, chuyển phàm thành thánh.  Hiểu được một phần th́ chuyển biến một phần; hiểu được hai phần th́ chuyển biến hai phần; mức độ chuyển biến bao lớn đi đôi với mức độ lư giải sâu hay cạn.  Đây cũng có thể dùng làm phương pháp đo lường công phu tu học của ḿnh, nếu có chỗ tiến bộ th́ tâm địa sẽ ngày càng thanh tịnh, trí huệ ngày càng tăng trưởng, phiền năo cũng sẽ ngày càng giảm bớt.  Đến lúc phiền năo nhẹ, trí huệ tăng th́ những kinh luận thế gian và xuất thế gian bày ra trước mặt, vô lượng vô biên nghĩa thú tự nhiên sẽ tuôn trào ra.  Thế nên chân tu tức là làm một sự chuyển biến to lớn trên quan niệm và tâm lư.

Chúng ta là chúng sanh mê hoặc, chỗ nương dựa duy nhất để chuyển biến là thánh giáo, dựa vào phương hướng và mục tiêu của thánh giáo chỉ đạo, hết ḷng làm việc chuyển biến, chuyển thức thành trí, chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn, chuyển mê thành ngộ, siêu phàm nhập thánh, chúng ta phải làm công tác này.  Đối với chúng sanh có duyên cũng phải hết ḷng, hết sức giúp đỡ họ chuyển biến; tuy giúp đỡ chúng sanh nhưng tâm địa vẫn giữ thanh tịnh như cũ, tuyệt chẳng chấp tướng; chấp tướng sẽ sanh phiền năo, tâm sẽ bị ô nhiễm.  Phật, Bồ Tát dạy dỗ hết thảy chúng sanh có thể giữ ǵn tâm thanh tịnh, chẳng bị ô nhiễm, nếu chúng sanh có thể chuyển biến tư tưởng quan niệm, th́ tán thán hoan hỷ; nếu chẳng thể chuyển biến th́ tâm địa của Phật, Bồ Tát cũng vẫn thanh tịnh, chẳng lưu lại dấu vết, đây chính là ‘tam luân thể không’ nói trong kinh Bát Nhă, thế nên Phật, Bồ Tát vĩnh viễn tự tại, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, đạo lư là ở tại chỗ này.

Chúng ta tu học tiến bộ ít, thoái lui nhiều là v́ niệm niệm đều bị ô nhiễm.  Khi chỉ dạy người ta, nếu họ chịu tiếp nhận th́ sanh tâm hoan hỷ, vậy là bị hoan hỷ ô nhiễm rồi; ngược lại khi người ta không chịu tiếp nhận hoặc chẳng thể làm được, thậm chí những ǵ họ làm đều trái ngược với lời dạy th́ sanh phiền năo, vậy là bị phiền năo ô nhiễm rồi, bị ô nhiễm th́ sẽ thoái chuyển.  Nếu có thể làm được như lời dạy trong kinh Kim Cang: ‘chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’, tâm chẳng bị ô nhiễm th́ sẽ chẳng thoái chuyển. 

Những ǵ Phật dạy chúng ta câu nào cũng là lời chân thật, phải dựa vào lời dạy của Phật, tự t́m cầu nhiều phước đức.  Phước đức chân thật là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tức là hết ḷng nỗ lực tu bố thí tài vật, bố thí pháp, bố thí vô úy, đây là những người biết t́m cầu nhiều phước đức, hy vọng mọi người lưu ư thêm những lời dạy trong Đại Kinh, được vậy th́ sự thọ dụng trong đời này sẽ vô cùng tận.

 

12. Người làm công tác giáo dục xă hội  thiện nguyện   (Buổi sáng 15-12-98)

Nếu có thể thấu hiểu kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Hoa Nghiêm, y giáo phụng hành th́ có thể khế nhập vào Bồ Tát đạo, làm một sự chuyển biến trọng đại.  Chẳng những có thể đem lại phước báo chân thật cho ḿnh trong đời này, khai triển quang minh cho tương lai, trên Bồ Đề đạo sau này ắt cũng sẽ thuận buồm xuôi gió.

Gần đây nhiều đồng học trích lục một bài ‘Nhân sanh cam lộ’, nếu có thể đích thật làm được [như trong bài văn ấy nói], nói theo thế pháp th́ là thánh hiền quân tử, nói theo Phật pháp th́ là Bồ Tát chân thật.  Trong việc tự hành hóa tha, hoằng pháp lợi sanh nhất định sẽ được hết thảy chúng sanh hoan nghinh và kính yêu.  Cho dù chỉ làm được vài điều trong đó, đời này cũng sẽ thọ dụng chẳng hết.  Chẳng những tự ḿnh làm mà c̣n phải khuyến khích hết thảy chúng sanh tận hết trách nhiệm của ḿnh làm một phần tử hoàn hảo trong công việc giáo dục xă hội thiện nguyện.

Trong sanh hoạt b́nh thường ráng hết sức để tránh tạp niệm, tránh tán gẫu, lúc nói chuyện với người th́ luận đạo, lúc chẳng nói chuyện th́ đọc kinh, như vậy mới là tích công lũy đức.  Hạnh phúc nhất trong đời người là ngày ngày cùng những bạn bè có chung chí hướng và tâm đạo cùng nhau thuyết kinh, luận đạo, đây là đời sống vô cùng thù thắng.  Hoàn cảnh sanh hoạt như vậy là [hoàn cảnh] ở Tây phương Cực Lạc thế giới.  Chúng ta thấy được trong kinh, người ở cơi Cực Lạc đến từ mười phương, ba đời, họ buông bỏ tập khí đến để thân cận đức Phật A Di Đà cùng chư Phật Như Lai.  Mỗi ngày cùng đồng tham đạo hữu hoặc trên mặt đất, hoặc trên không trung, hoặc đi kinh hành đều là thuyết kinh luận đạo.  Hoàn cảnh tu học ở Tây phương Cực Lạc thế giới là hoàn mỹ hạng nhất, đây là đời sống chúng ta mong mỏi, ngưỡng mộ.  Cho nên chúng ta phải xây dựng một mô phạm, điển h́nh, biểu diễn cho người đời xem, nếu họ có thể hiểu được th́ cũng sẽ phát tâm hết ḷng đến học tập.

Ở Tân Gia Ba chúng tôi đi thăm viếng những người Hồi Giáo, đây là lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với họ, hy vọng có thể t́m hiểu, tôn trọng lẫn nhau, tiêu trừ các sự hiểu lầm, ngăn cách.  Làm công tác đa nguyên văn hóa được viên măn là công đức to lớn, là chuyện tốt thực sự đối với xă hội.  Hồi trước tôi đă từng quen biết với các lănh tụ Phật giáo và Hồi giáo ở vùng biên cương Trung Quốc, sự quan hệ của họ vô cùng ḥa hài, hợp tác lẫn nhau, tôn trọng và lễ kính lẫn nhau.  Hy vọng quan niệm và tinh thần này có thể đẩy mạnh đến toàn thế giới, làm cho mọi người đều đối xử ḥa mục, hỗ trợ hợp tác, cùng nhau xây dựng đời sống hạnh phúc mỹ măn.  Đây là công việc của những người làm công tác giáo dục xă hội thiện nguyện, là việc mà trách nhiệm chẳng thể thoái thác cho người khác được.  Nói một cách khác, cả đời chúng ta đều v́ một việc này, Phật pháp gọi là ‘Phật sự’, đây tức là công việc giác ngộ chúng sanh.          

Chúng ta phải hết ḷng đẩy mạnh công việc này, phát triển rộng răi.   Đặc biệt giao thiệp với những đoàn thể và nhân vật có sức ảnh hưởng đến xă hội, nói theo Phật pháp th́ những người này có đầy đủ thiện căn phước đức.  Thế nên những người có sức ảnh hưởng hoặc có địa vị lănh đạo đều là do quả báo đời trước tu phước tích thiện.  Nếu chúng ta có thể dùng Phật pháp để giao thiệp với họ th́ nhất định sẽ ảnh hưởng họ, tăng trưởng thiện căn phước đức của họ, như vậy sẽ có thể đem lại ḥa b́nh an định, phồn vinh hưng vượng cho thế giới, tiêu trừ hết thảy các tai hại tự nhiên hoặc do người đem đến.

Không những như vậy thôi đâu, chúng ta vẫn phải tiếp tục mở rộng tâm lượng, đức Phật dạy chúng ta ‘tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cơi nhiều như cát’, phải hết ḷng nỗ lực thực hiện.  Tâm lượng mở rộng đến viên măn th́ cho dù làm một việc thiện nhỏ bé nhưng nương theo tâm lượng cũng có thể biến trọn khắp hư không pháp giới, đây là đạo lư vun trồng phước báo to lớn, làm chuyện đại thiện th́ cảnh chuyển tùy theo tâm.  Trong tự viện khi cúng thí thực đều niệm ‘bảy hạt biến thập phương’, nếu tâm lượng của bạn biến trọn khắp mười phương pháp giới, bố thí một hạt gạo sẽ có thể biến trọn khắp mười phương pháp giới, hết thảy chúng sanh đều có thể được thọ dụng; nếu tâm lượng nhỏ bé, niệm Chú cũng chẳng ích lợi ǵ, cảnh chẳng chuyển theo Chú.  Chú là tăng thượng duyên (duyên phụ), tâm là thân nhân duyên (duyên chánh), nếu chẳng có duyên chánh th́ duyên phụ chẳng giúp ǵ được.  Nếu thực sự ‘tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cơi nhiều như cát’  th́ tăng thượng duyên của Chú sẽ khởi tác dụng rất lớn.  Thế nên căn bản là ở nơi tâm địa, tâm địa phải lương thiện và chân thành.  ‘Tâm thành’ th́ hành vi tự nhiên sẽ đoan chánh, công phu chân thực là ở chỗ này.

Chúng ta nói được nhất định phải làm được, vả lại khi gặp ai cũng nói.  Nhưng nói pháp phải khế cơ.  Trong kinh Hoa Nghiêm có nói mười thứ cơ [duyên], quan sát kỹ lưỡng hết thảy chúng sanh chẳng ai là không ở trong mười thứ cơ [duyên] này.  Nếu chúng sanh chẳng đạt được lợi ích trước mắt, chúng ta có thể trồng nhân cho tương lai, đó chính là ‘một khi lọt vào tai th́ vĩnh viễn thành hạt giống đạo’.  Từ điểm này quan sát th́ ai cũng là người đương cơ trong Phật pháp.

Trong kinh nói vận may nhất của người ta trong một đời là có thể thấy được tượng Phật, có thể nghe đến danh hiệu của Phật, Bồ Tát.  Không kể là họ biết hay không biết, đối với Phật, Bồ Tát cung kính hoặc hủy báng đều được phước lớn.  Cho dù là hủy báng th́ khi chịu hết quả báo ác này, khi gặp duyên hạt giống kim cang sẽ khởi tác dụng, cũng do vậy nên được độ, được độ tức là được liễu sanh tử, thoát khỏi tam giới.  Thế nên chúng ta tuyệt đối không thể v́ họ hủy báng mà không giúp đỡ, đây là sự thiếu sót của chúng ta.  Họ hủy báng, chúng ta bèn niệm một câu danh hiệu Phật, Bồ Tát cho họ nghe, làm nhân duyên cho họ đời sau được độ.

Thế nên phải biết cách kết pháp duyên rộng răi, vui vẻ thân thiết với người, thường thường nên mang theo lễ vật nho nhỏ để có thể kết duyên với người ta, sau đó mới giảng giải khái niệm của nền giáo dục Phật Đà, việc này quan trọng phi thường.  Chúng ta chẳng nói kết thiện duyên v́ thiện duyên và ác duyên đều là tương đối, pháp duyên th́ vượt ra ngoài thiện và ác, duyên này mới thực sự thù thắng.  Ác duyên chiêu cảm ác báo, thiện duyên tuy có thiện báo nhưng cũng chẳng tốt.  V́ vậy nên chư Phật Như Lai trong sanh hoạt thị hiện ba chiếc y, một cái b́nh bát chính là thiện ác hai bên đều chẳng tiêm nhiễm.  Nếu chư vị lắng ḷng thể hội th́ mới biết đó là cách sống rốt ráo viên măn bậc nhất, đáng được học tập, hy vọng chúng ta cùng nhau nỗ lực.

 

13. Căn nguyên của bịnh tật (Buổi sáng 19-12-98)

 

a.    Đạo dưỡng sanh.

Khi bác sĩ Hoàng khám sức khỏe cho mọi người biết được thân thể của những người trẻ tuổi quư vị chẳng bằng người già như tôi.  Nghe xong tôi rất buồn.  Thân thể của tôi có thể bảo tŕ khỏe mạnh là được Tam Bảo gia tŕ, tôi tuyệt đối chẳng dùng những phương pháp bảo tŕ sức khỏe hiện đại.  Tôi tin câu của Phật dạy ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, tâm địa thanh tịnh, từ bi, lương thiện th́ cho dù chẳng bảo dưỡng thân thể và chẳng vận động cũng vẫn khỏe như thường.

Từ xưa đến nay đa số người tu hành trong nhà Phật mỗi ngày nếu không tọa thiền th́ đi kinh hành, niệm Phật, thân tâm đều giữ trong trạng thái tịnh; hăy khoan nói đến vơ thuật của Thiếu Lâm tự.  Người thế gian đều ưa chuộng vận động, đạo dưỡng sanh ở trong trạng thái ‘tịnh’ th́ chẳng có nhiều người biết đến.  Chúng ta hiểu được đạo lư ấy, biết được tâm thanh tịnh, chân thành, từ bi mới là đạo dưỡng sanh chân chánh.

b. Ngă chấp

Nếu nâng cao cảnh giới thêm một tầng như trong kinh Kim Cang có nói: ‘Chẳng có ngă tướng, chẳng có chúng sanh tướng, chẳng có thọ giả tướng’, [lúc đó] không có ‘tôi’ th́ ai sanh bịnh?  Có ‘tôi’ th́ tôi mới sanh bịnh, do đó mới biết ‘vô ngă’ (chẳng chấp có tôi) không những đă nhổ tận gốc rễ của bịnh khổ, mà cũng nhổ tận gốc rễ sanh tử luôn.

Phá ngă chấp tương đối khó nhưng vô cùng cần thiết.  Có ‘tôi’ th́ sẽ có các hiện tượng sanh tử, bịnh khổ, luân hồi; không có ‘tôi’ th́ những hiện tượng này mất hết.  Trong pháp Đại thừa đức Phật dạy chúng ta phương pháp phá ngă chấp vô cùng khéo léo.  Trong cuốn Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, cư sĩ Giang Vị Nông nói: ‘Biến đổi thành rộng lớn’ (đại nhi hóa chi), câu này nói rất hay, đây là từ chỗ phát Bồ đề tâm mà có, cho nên tâm lượng phải lớn.  ‘Tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cơi nhiều như cát’ là tâm lượng vốn sẵn có của chúng ta, của mỗi chúng sanh, chẳng sai khác ǵ với quả địa của chư Phật Như Lai.  Nhưng ngày nay chúng ta ra nông nỗi này là v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước tạo nên, đây là gốc bịnh thực sự.  Trong vô lượng kiếp qua chúng ta măi trôi lăn trong sáu nẻo và không thể thoát khỏi là v́ chẳng t́m ra được gốc bịnh, chẳng biết chữa trị từ căn bản này.

Hết thảy hiện tượng trong thế pháp đều là hư ảo chẳng thật, không ǵ chẳng phải ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’, thế nên giàu sang chẳng đáng ngưỡng mộ, bần tiện cũng chẳng cần phải đau xót.  Hiểu rơ nhân tố của những hiện tượng này là do nghiệp nhân quả báo biến hiện ra, nếu tự ḿnh nắm chắc nghiệp nhân và nghiệp duyên, sự biến hóa của quả báo sẽ có thể tùy theo ư ḿnh, đó là được đại tự tại.  Người được đại tự tại biết cách nắm lấy ‘duyên’, biết được cái nút để tạo nên thiên biến vạn hóa ở tại ‘duyên’.  Quả báo thiện là do nhân thiện và duyên thiện.  Quả báo ác là do nhân ác và duyên ác.  ‘Nhân’ đă tạo rồi chẳng thể thay đổi, ‘duyên’ c̣n có thể khống chế [thay đổi] được.

Đây vẫn c̣n là pháp thế gian chứ chưa phải là ‘đệ nhất nghĩa’, đệ nhất nghĩa th́ phải ‘quán không’.  Nói một cách khác phải thoát ra khỏi luân hồi, siêu việt thập pháp giới, như vậy mới là anh hùng hảo hán.  Chỗ chúng ta cúng Phật gọi là ‘Đại Hùng Bảo Điện’, ‘đại hùng’ là đại anh hùng.  Chuyện người thế gian làm chẳng nổi mà Ngài làm được nên xưng Ngài là anh hùng.  Người thế gian chẳng có cách chi thoát khỏi luân hồi, siêu việt thập pháp giới, Phật có thể làm được; không những làm mà c̣n dạy cho chúng ta làm thế nào để đạt được.

 

c. Tự tư tự lợi

          Pháp môn niệm Phật của chúng ta đang tu tập là ‘dị hành đạo’, đạo dễ thực hành mà chẳng thể thành tựu, nguyên nhân là v́ không thể buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, niệm niệm vẫn c̣n tự tư tự lợi.  Dùng tâm niệm này tu học th́ đúng như người xưa đă nói: ‘Hét bể cổ họng cũng uổng công’!  Thế nên chỉ cần buông xuống ư niệm tự tư tự lợi th́ niệm Phật nhất định sẽ đắc lực, thân tâm sẽ khinh an.  Cho dù có một chút bịnh th́ cũng chỉ v́ ăn uống chẳng cẩn thận nên phát ra cảm mạo phong hàn mà thôi, sẽ chẳng sanh bịnh nặng.

Nếu thật sự nh́n thấu, buông bỏ tự tư tự lợi, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trong kinh Di Đà nói: ‘Nếu [niệm] từ một ngày đến bảy ngày’ sẽ được thành công.  Những người y giáo tu hành xưa nay niệm Phật văng sanh rất nhiều, phổ biến nhất là từ hai đến ba năm th́ văng sanh.  Tại sao có người chẳng nhiều hơn bảy ngày, có người lại phải niệm hai ba năm?  Người tin sâu nguyệt thiết, thực sự niệm đến khi mất hết những tâm niệm tự tư tự lợi th́ tự nhiên cảm ứng hiện tiền, công phu thành tựu.

Chúng ta xem trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện, vào đời nhà Tống pháp sư Oánh Kha tin sâu nguyện thiết niệm ba ngày liền thành công.  Nếu ḷng tin và nguyện lực chưa đạt đến mức khẩn thiết th́ phải niệm hai, ba năm.  Thế nên những người này ‘sanh tử tự tại’, chẳng phải là thọ mạng chấm dứt mà là thọ mạng hăy c̣n nhưng họ bỏ ra đi sớm, đạo lư là như vậy.

Chúng ta nh́n thấy có nhiều người ra đi rất tiêu sái (tiêu sái nghĩa là nhàn hạ, chẳng vướng bận) tự tại, chẳng có bịnh khổ, [làm cho người khác] vô cùng hâm mộ.  Tôi thường nhắc nhở mọi người, chúng ta nhất định phải làm được.  Nếu làm chẳng được th́ trong lúc bịnh nặng, thân thể chịu sự sắp đặt của người khác, tự ḿnh chẳng thể làm chủ, sẽ chẳng nắm chắc việc văng sanh, thế nên bây giờ phải dự bị cho tương lai.  Phương pháp tốt nhất là chẳng cần người khác chăm sóc, có thể dự biết trước ngày giờ ra đi, muốn đi lúc nào th́ ra đi lúc đó.  Nhất định phải hạ quyết tâm làm việc này cho bằng được th́ đời này mới chẳng luống uổng.  Những việc c̣n lại toàn là giả, chỉ có việc này là thật mà thôi.  Chúng ta nói về ‘tự lợi’, đây mới thực sự là tự lợi.

Nhưng ‘tự lợi’ phải được xây dựng trên cơ sở của ‘lợi tha’.  Trong đời sống sinh hoạt thường ngày, khởi tâm động niệm đều v́ chúng sanh chứ chẳng v́ ḿnh.  Suy nghĩ cho ḿnh là sai lầm, phải nghĩ cho chúng sanh, quên mất cái ‘tôi’ đi.  Nhất định phải v́ chúng sanh th́ tâm niệm tự tư tự lợi mới có thể đoạn trừ; chỉ cần đoạn trừ th́ công phu tu học mới có thể nắm chắc.

Chúng ta niệm niệm nghĩ đến chúng sanh, chúng sanh là chúng duyên ḥa hợp mà sanh, bao gồm cả động vật, thực vật, và khoáng vật.  Thí dụ cái bàn không sạch th́ ḿnh chùi cho sạch; cái ghế không ngay ngắn th́ ḿnh sắp cho nó ngay ngắn, như vậy đều là v́ chúng nó.  Cách làm này tức là Lễ Kính Chư Phật trong mười nguyện Phổ Hiền, kính người, kính sự, kính vật.

Đừng nên có tâm riêng tư, dục vọng, tâm niệm muốn chiếm hữu (chiếm đoạt), tâm niệm chiếm hữu này là căn bản của sanh tử luân hồi, là nguồn gốc của hết thảy tội nghiệp; chúng ta phải nhổ trừ tội căn này.  Tại sao không được chiếm hữu?  Phật dạy ‘Hết thảy pháp đều không’, ngạn ngữ cũng nói: ‘Sanh chẳng mang đến, chết chẳng mang theo’, vậy th́ tại sao có thể chiếm hữu được?  Đây là từ trên hiện tượng thô thiển mà nói.  Đi sâu thêm th́ Phật dạy: ‘Hết thảy các pháp do nhân duyên sanh, chẳng có tự tánh, đương thể tức không, trọn chẳng thể được’[34], chẳng những các vật ngoài thân chẳng thể được, ngay cả thân thể này cũng chẳng thể được.  Chẳng có tâm chiếm lấy, chiếm hữu những vật ngoài thân, đối với thân thể cũng chẳng có ư niệm là thân ‘của ḿnh’, như vậy th́ vấn đề sẽ được giải quyết.  Lúc đó ‘Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’, quyết định sẽ sanh Tịnh Độ.  Đó là giải thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, ra khỏi thập pháp giới.  Được vậy th́ may mắn lắm!

Từ vô thỉ kiếp đến nay chúng ta chẳng gặp được duyên thù thắng, đời này rất may đă gặp được.  Trong Quán Kinh chú giải Thiện Đạo đại sư nói: ‘Cửu phẩm văng sanh đều là do gặp được duyên khác nhau’[35].  Nói một cách khác khi gặp duyên thù thắng th́ phàm phu cũng có thể văng sanh thượng thượng phẩm; Bồ Tát nếu chẳng gặp duyên thù thắng th́ lại văng sanh vào phẩm trung, hạ.  ‘Duyên’ rất khó gặp, ấy là ‘có thể gặp mà chẳng thể cầu’.  Trong kinh giảng ‘thiện tri thức là duyên’.  Nếu được thiện tri thức hướng dẫn, thiện hữu nâng đỡ, đồng tham đạo hữu tốt, đạo tràng tu hành tốt, th́ tu hành sẽ chẳng có chướng ngại.  Hiện nay chúng ta đă có đầy đủ duyên này, đă được nhưng vẫn chẳng thể thành tựu, vậy th́ chỉ có thể trách ḿnh, không thể trách kẻ khác.  Nhất định phải biết cơ duyên thù thắng như vậy ‘trăm năm, vạn kiếp khó gặp được’, ‘trong vô lượng kiếp hiếm hoi khó gặp’, có thể thành tựu được hay không, mấu chốt nằm ở chỗ đột phá, phá trừ ‘tự tư tự lợi’.

Phương pháp đột phá là niệm niệm v́ chúng sanh, nhất định chẳng v́ chính ḿnh; nếu v́ ḿnh th́ nên văng sanh Tịnh Độ sớm hơn.  Thân thể c̣n lưu lại nơi thế gian này, mỗi ngày đều phải phục vụ cho chúng sanh, như vậy là hoàn toàn giống với hạnh nguyện của chư Phật Như Lai, [làm vậy] bạn sẽ được đại tự tại.  Đạo lư và sự thật này chúng ta phải hiểu tường tận, y giáo tu hành.

 

14. Phương pháp tu hành    (Buổi sáng 21-12-98)

Hôm nay mở đầu Phật thất ở Dallas, thầy Ngộ Khải gởi fax cho tôi hy vọng trong thời gian Phật thất này, [tôi có thể] dùng mạng Internet mỗi ngày nói chuyện vài câu với mọi người.

Trong những năm gần đây không kể cư trú ở đâu chúng ta đều cảm thấy thế giới càng ngày càng không an toàn, tai nạn xảy ra khắp nơi, vả lại ngày càng nghiêm trọng.  Nhân t́nh lănh đạm, không biết ân nghĩa, không những tự hủy diệt mà không hay biết, lại c̣n tạo ra những tội hủy diệt Phật pháp, hủy diệt thế gian.  Chúng ta không nói đến người khác, chỉ nói những người học Phật trong bốn chúng đệ tử, có ai không tạo ra những tội này?  Ngày xưa người ta tạo tội nhẹ, ngày nay tạo tội nặng; khi tạo tội thiệt nặng nhưng tự ḿnh lại không biết, như vậy là ngu si.  Những người ngu si hằng ngày nghe giảng kinh, hằng ngày đọc kinh, vẫn không giác ngộ như cũ, đây là v́ ‘chướng sâu nghiệp nặng’; nếu không tiêu trừ nghiệp chướng sâu nặng này th́ tuyệt đối không thể tránh khỏi đọa lạc vào tam ác đạo.

Nếu chúng ta muốn cải thiện đời sống, công phu tu học được đắc lực, biện pháp duy nhất là phải nghe [giảng] kinh cho nhiều thiệt nhiều.  Lúc c̣n tại thế đức Phật Thích Ca giảng kinh trên ba trăm hội, thuyết pháp ṛng ră bốn mươi chín năm, đức Phật Thích Ca chưa từng hướng dẫn đại chúng niệm Phật lần nào, hoặc tham thiền một lần nào cả.  Phải nên biết đức Phật không hướng dẫn chúng ta tu hành là v́ tu hành dễ dàng, giác ngộ khó khăn.  Cũng v́ giác ngộ quá khó cho nên đức Phật khổ tâm mỏi miệng phải thuyết pháp mỗi ngày, khuyến đạo mỗi ngày.  Chúng sanh ngu si, tuy mỗi ngày nghe Phật thuyết pháp nhưng vẫn mê mờ như cũ.

Tuy vậy đức Phật đại từ đại bi vẫn giảng kinh mỗi ngày; chúng sanh đọa lạc trong lục đạo th́ Phật thị hiện trong lục đạo, vẫn đi theo không nỡ bỏ rơi, đây gọi là ‘Trong nhà Phật không buông bỏ bất cứ người nào’.  Chúng sanh tạo tội nghiệp, phỉ báng và sỉ nhục Phật, Bồ Tát, thậm chí hăm hại các ngài, nhưng các ngài không màng đến, vẫn thương xót chúng sanh, giảng kinh thuyết pháp v́ chúng sanh, đây là ḷng đại từ đại bi của chư Phật, Bồ Tát.  Đời đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp qua vẫn không bỏ rơi chúng sanh, đây là việc không phải một số người thường có thể làm được, từ điểm này chúng ta có thể hiểu được ân đức của Phật là bao lớn.

Hàn Quán Trưởng hộ tŕ chúng ta trong suốt ba mươi năm, xây dựng nền móng vững chắc cho chánh pháp.  Có người nói Hàn Quán trưởng có công và cũng có lỗi lầm, nhưng theo tôi nghĩ th́ bà chỉ có công chứ không có lỗi lầm chi hết.  Nếu quư vị b́nh tĩnh quan sát kỹ càng th́ sẽ biết công đức của bà vô lượng vô biên.  Đây là một vị Bồ Tát tái lai, thị hiện cho chúng ta xem, người trong thế gian làm sao biết được?

Trong kinh nói người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới cho dù hạ hạ phẩm văng sanh đều có ‘thiên nhăn nh́n suốt, thiên nhĩ nghe thấu, tha tâm đều biết’ [36], năng lực của sáu căn hầu như bằng với đức Phật A Di Đà, cho nên khi chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động, chư Phật, Bồ Tát nh́n thấy rơ rơ ràng ràng.  Chúng ta mong cầu văng sanh th́ khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động nhất định phải tương ứng, phù hợp với lư luận và phương pháp của sự văng sanh, điểm này vô cùng quan trọng.  Tây phương Cực Lạc thế giới là ‘Nơi tụ tập của các người thiện nhất’[37], cho nên chúng ta niệm Phật th́ cũng phải tu ‘thượng thiện’.  Nếu tâm không thiện, ngôn ngữ không thiện, cho dù một ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu th́ cũng không văng sanh được.  Giống như lời của hai vị tôn giả Hàn Sơn và Thập Đắc đă nói: ‘Hét bể cổ họng cũng luống công’ (hai vị này là hóa thân của Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát).

Chúng ta đă phát tâm cứu ḿnh th́ cũng phải [phát tâm] cứu người xung quanh; sự sanh hoạt và tu học nhất định phải đúng như lư, như pháp, v́ vậy phải hiểu rơ nội dung của kinh Phật.  Nội dung này có bốn điểm: ‘Giáo, Lư, Hành, Quả’. 

Lời dạy của đức Phật được người đời sau ghi chép lại thành kinh điển, những ngôn ngữ, văn tự, lời chép trong kinh này gọi là ‘Giáo’. 

Hàm ư chứa đựng trong ‘Giáo’ gọi là ‘Lư’, ‘Lư’ này là lư luận giải thích rơ chân tướng sự thật của vũ trụ, nhân sinh.  Chỉ có đức Phật mới có thể nói rơ những chân tướng sự thật này v́ đây là cảnh giới mà đức Phật [đích] thân chứng [được], là cảnh giới hiện lượng (đích thật từng trải qua) chứ không phải do suy đoán, vọng tưởng. 

Không những đức Phật nói rơ ràng đạo lư và sự thật này, Ngài c̣n dạy chúng ta phương pháp để khế nhập vào cảnh giới của chư Phật Như Lai, đây tức là ‘Hành’ (phương pháp thực hành). 

Noi theo lư luận phương pháp trong kinh điển mà làm, đạt được sự lợi ích thù thắng, việc này tức là ‘Quả’. 

Chúng ta hiểu rơ tính chất của kinh điển th́ mới khâm phục Phật pháp, bái phục đến năm vóc sát đất.

Đức Phật dạy chúng ta khi tu học phải kiến lập một khái niệm căn bản, đó là ‘Tín, Giải, Hành, Chứng’. 

‘Tín’ là tin sâu, không nghi ngờ những lời giáo huấn của đức Phật. 

‘Giải’ là hiểu rơ, thấu triệt lư luận trong kinh điển. 

‘Hành’ tức là làm theo lư luận phương pháp này. 

‘Chứng’ tức là đích thân chứng được cảnh giới giống như chư Phật Như Lai. 

Ngày nay chúng ta c̣n tạo nghiệp, c̣n vọng tưởng, c̣n nói vọng ngôn tức là không hiểu thấu lư luận, không biết được sự lợi hại nên mới tạo ra những nghiệp tội nặng nề thậm chí hủy diệt Phật pháp, chướng ngại Phật pháp, làm cho người ta thoái tâm (sụt lùi).

Phải biết khi gặp nghịch cảnh Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát c̣n có thể thoái tâm; chỉ có Pháp Thân Đại Sĩ mới không thoái tâm.  Chướng nạn của chúng ta rất nhiều, bao gồm cả trong lẫn ngoài.  Những việc làm của Hàn Quán Trưởng và cư sĩ Lư Mộc Nguyên ở Tân Gia Ba đều là hành vi của đại Bồ Tát, Pháp Thân Đại Sĩ.  Hàn Quán Trưởng hộ tŕ chánh pháp suốt ba mươi năm vẫn không sụt lùi; luôn luôn không bị ảnh hưởng bởi những lời phỉ báng, rao đồn, kiếm chuyện phá rối, đều như như bất động và xem như không có việc ǵ xảy ra, điều này vô cùng hiếm có, quư báu!  Khi Lư cư sĩ gặp phải bất cứ chướng nạn ǵ, bất cứ lời hủy báng ǵ đều không thoái tâm, xây dựng đạo tràng ở Tân Gia Ba thành một đạo tràng điển h́nh, gương mẫu.  Nếu không phải là hóa thân của chư Phật, Bồ Tát, Pháp Thân Đại Sĩ ứng hiện th́ không thể làm được.  Chúng ta có được nhân duyên thù thắng này tức là gặp được hộ pháp chân chánh.  Cho nên mặc cho người ta hủy báng, phá hoại, làm ǵ th́ làm, chúng ta đều được sự hộ tŕ của chư Phật, Bồ Tát.

Ngày nay Tịnh Tông có thể hoằng truyền khắp thế giới, những người niệm kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà và tu học theo lư luận của kinh này theo thống kê một cách bảo thủ th́ ít lắm cũng được hơn hai chục triệu người.  Tịnh Tông có thể đạt được thành tích như vậy là công đức của Hàn Quán Trưởng, chúng ta uống nước phải nhớ nguồn, tri ân báo ân (biết ơn đền ơn).  Nếu thiệt thấy rơ, hiểu thấu th́ mới biết đây là Bồ Tát thị hiện, cảnh thuận hay nghịch đều là tăng thượng duyên (trợ duyên), đều để thành tựu Phật pháp, thành tựu cho chúng sanh.

Lúc trước thầy Lư nói với tôi muốn thực sự thành tựu trong việc hoằng pháp lợi sanh, nhất định phải cư trú lâu dài tại một nơi nhất định.  Hiện nay chúng ta an tâm lưu tại Tân Gia Ba, toàn bộ nhân lực, tài lực, vật lực đều tập trung tại đây nên có thể thành lập được một đạo tràng gương mẫu, tuyệt đối không thể phân tán lực lượng, tinh thần.  Cho nên chúng ta gặp được rất nhiều Bồ Tát ở nơi đó, thiệt đúng là ‘những người thiện nhất tụ hợp ở một chỗ’.  V́ mục đích khuyếch trương nền giáo dục của Phật Đà, chúng ta dùng thân phận của người quét dọn, người làm công để làm việc cho đức Phật A Di Đà, chư Phật Như Lai.  Đừng tưởng là ḿnh đă làm được việc ǵ cả, tất cả những thứ này đều là Phật, Bồ Tát an bài, là do chư Phật, Bồ Tát làm nên đấy, chúng ta chỉ bất quá chấp hành theo mà thôi.  Cho nên thầy Lư dạy tôi phải ‘tin Phật’, tin Phật thiệt quá khó.  Nhưng phải tin thiệt nghe!

Trong thời đại nhiều tai nạn này, con đường duy nhất của chúng ta là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; dự Phật thất cũng lấy việc này làm mục tiêu.  Chúc quư vị Phật thất lần này được thành tựu viên măn.

 

15. Làm thế nào để tiêu tai miễn nạn    

(Buổi sáng23-12-98)

Giáo hội Thiên Chúa Giáo có lời tiên tri rằng năm 1999 thế giới sẽ có tai nạn lớn, khuyên các bạn đồng đạo nên đọc kinh, phải thật ḷng sám hối, hy vọng có thể thoát khỏi tai nạn này.  Và nói: tai nạn có thể xảy ra hay không c̣n dựa trên ‘nhân tâm’, nếu nhân tâm có thể hướng thiện th́ tai nạn có thể hóa giải, có thể tŕ hoăn về sau.  Cách nói này rất có lư.

Một ngày trước khi văng sanh lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam dặn ḍ các vị đồng học: ‘Thế giới đă loạn rồi, cho dù chư Phật, Bồ Tát, thần tiên trở lại cũng không cứu nổi.  Chỉ có con đường sống sót duy nhất là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ’, cho nên tai nạn càng ngày càng gần, chúng ta không c̣n nhiều thời gian nữa, phải nên buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật.

Đạo Thiên Chúa khuyên người ta cầu lên thiên đường, họ nói không có Cực Lạc thế giới, chỉ có thiên đường và địa ngục.  Ngay cả người trên cơi trời cũng không có cách ǵ nh́n thấy toàn bộ t́nh huống phức tạp trong đại vũ trụ.  Chúng ta hiểu rơ đích thật là có Cực Lạc thế giới, Hoa Tạng thế giới, cùng quốc độ của chư Phật.  Làm thế nào để biết vậy?  Đó là ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’, nếu hiểu được đạo lư này th́ sẽ tin ngay.

Thật ra y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp giới cũng không có, Phật pháp nói: ‘Tam tâm bất khả đắc’, ‘Chư pháp vô sở hữu’; nói có th́ chỉ là tạm có, huyễn có, giả có, trong kinh dùng chữ ‘diệu hữu’.  Thế nên thiên đường, địa ngục cũng là diệu hữu; cơi này, cơi nọ cũng là diệu hữu, Cực Lạc thế giới cũng không ngoại lệ.  Nếu dùng ngôn ngữ hiện nay của khoa học gia th́ đây chỉ là không gian duy thứ (duy có nghĩa là chiều, là phương vị) khác nhau mà thôi, thí dụ như không gian ba chiều [của loài người chúng ta], không gian bốn chiều, năm chiều.  Khoa học gia đă chứng minh có mười một chiều không gian tồn tại, nhưng trên lư luận th́ không gian có vô số chiều.

Những người vừa mới hiểu Phật pháp đều khẳng định có không gian vô số chiều tồn tại.  Nếu bạn không thể đột phá những thời gian, không gian này th́ không thể hiểu rơ sự thật.  Vô số không gian có duy thứ không giống nhau tức là vô lượng vô biên thế giới, đức Phật nói [những thế giới này] đều từ tâm tưởng sanh.  Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’ tức là từ tâm tưởng sanh.  Vô lượng vô biên chúng sanh có vô lượng vô biên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên biến đổi ‘Nhất Chân pháp giới’ trở thành vô lượng vô biên không gian khác nhau, vô lượng vô biên cảnh giới, đạo lư là như vậy.

Đức Phật dạy chúng ta có thể đột phá những không gian này bằng cách xa ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Lục đạo [luân hồi] là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra; nếu buông bỏ chấp trước, chỉ c̣n vọng tưởng và phân biệt th́ lục đạo luân hồi sẽ không c̣n nữa, tức là Tứ Thánh pháp giới.  Nếu cả phân biệt cũng buông bỏ th́ Tứ Thánh pháp giới (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật) cũng không c̣n, tức là không c̣n thập pháp giới nữa.  Không c̣n thập pháp giới tức là Nhất Chân pháp giới.  Do đây có thể biết thập pháp giới là từ phân biệt, chấp trước biến hiện ra.  Xa ĺa phân biệt chấp trước th́ thập pháp giới sẽ không c̣n tồn tại.  Việc này cũng giống như nằm mộng, khi tỉnh dậy những cảnh giới trong mộng đều không c̣n.  Người ta thường nói đến danh từ ‘tu hành chứng quả’, chứng quả nghĩa là chứng được Nhất Chân pháp giới, khế nhập vào Nhất Chân pháp giới.  Tây phương Cực Lạc thế giới thuộc về Nhất Chân pháp giới.  Do đó có thể biết nếu chúng ta c̣n phân biệt, chấp trước th́ nhất định sẽ không nh́n thấy Nhất Chân pháp giới.

Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy Nhất Chân pháp giới vẫn có bốn mươi mốt cấp bậc, đó là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, đến Đẳng Giác Bồ Tát, hết thảy đều là Pháp Thân Đại Sĩ.  Những cấp bậc này c̣n tồn tại là v́ vọng tưởng chưa dứt trừ.  Vọng tưởng tức là vô minh vi tế (vi tế nghĩa là nhỏ bé).  Có câu nói: ‘phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân’, bốn mươi mốt phẩm vô minh tức là bốn mươi mốt phẩm vọng tưởng.  Khi đoạn dứt hết bốn mươi mốt phẩm vô minh này, không c̣n vọng tưởng nữa th́ chứng được rốt ráo, đây là Phật quả Viên Giáo, đây mới là quả vị cứu cánh.

Người Thiên Chúa Giáo chưa từng nghe những đạo lư này, thật đáng tiếc.  Phật pháp trong thế gian và xuất thế gian đều vô cùng thù thắng, đáng tiếc là người truyền bá quá ít.  Hoằng dương Phật pháp không dễ tại v́ tự người đó phải khế nhập trước, nếu ḿnh chưa khế nhập th́ làm sao có thể nói được [một cách hoàn hảo và đúng đắn]?  Làm sao có thể hiểu được?  Nếu muốn lư giải, hiểu rơ th́ phải tu học, có tu học th́ mới khế nhập, sau đó mới có thể giải thích [tường tận], mới có thể giúp đỡ người khác.

Chúa Jesus nói: ‘Ngày nay người trong thế gian quên ân, phụ nghĩa, không biết ân đức’.  Chúa Jesu, Thánh Mẫu Maria thiệt thương yêu người đời, người đời không những phản bội mà c̣n sỉ nhục, huỷ báng các Ngài và tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp.  Trong thế giới hiện nay những chuyện này rất phổ biến.  Con cái chịu ân đức dưỡng dục của cha mẹ, không biết báo ân mà c̣n bỏ rơi cha mẹ.  Chúng tôi đi thăm viện dưỡng lăo của những người đạo Hồi giáo (Islam), những người già ở đó đều bị con cái bỏ rơi, không nhà không cửa.  Ngày nay con cái bỏ rơi cha mẹ, học sinh phản bội thầy giáo, không biết ân nghĩa, tạo ra vô lượng vô biên nghiệp tội, v́ vậy nên chiêu cảm quả báo thế giới hủy diệt.

Cho nên lời tiên tri nói tai họa này là do chúng ta tự chiêu cảm lấy, không phải Thượng Đế nổi giận trừng phạt chúng ta, Thượng Đế rất không muốn nh́n thấy sự việc này xảy ra, nhưng không thể tránh khỏi, tạo ra nghiệp tội nhất định phải nhận lấy tai họa.  Cách nói như vậy mới hợp t́nh hợp lư.

Những năm gần đây tôi khổ tâm mỏi miệng khuyên răn mọi người, nếu ba ngày không khuyên th́ mọi người quên ráo trọi.  Đây đúng như kinh Địa Tạng nói: ‘Chúng sanh ở Diêm Phù Đề ương ngạnh khó giáo hóa’, chúng ta thể hội câu này một cách sâu sắc.  Nhưng chư Phật, Bồ Tát làm gương, làm mô phạm cho chúng ta noi theo, cho dù chúng sanh có cang cường khó giáo hóa đến đâu th́ cũng không thể bỏ rơi.  Đây đúng như câu nói: ‘Trong nhà Phật không buông bỏ một ai cả’, đây mới là đại từ đại bi chân thật.

Kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta tự ḿnh chân tu th́ có thể ảnh hưởng đến người khác, làm cho người khác cảm động khi nh́n thấy tấm gương tu hành của chúng ta, họ sanh tâm xấu hổ nên tự nhiên sẽ học theo, được vậy th́ có thể đem lại sự an định cho xă hội, ḥa b́nh cho thế giới.  Đức Phật nói ‘tự hành hóa tha’ nghĩa là nhờ vào sự tu hành chân thật của ḿnh [mới có thể cảm hóa người khác], tự ḿnh không tu hành chân thật th́ không có ích lợi ǵ cả.  Cho dù biết nói, nói được hay đến đâu, khi tai họa xảy ra th́ cũng không tránh khỏi, vốn phải sanh tử như thế nào th́ vẫn phải sanh tử như thế ấy, vẫn không ra khỏi luân hồi như cũ, và cũng không thể văng sanh.

Chúng ta nhất định phải dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm giác ngộ, tâm từ bi, chắc thật niệm câu Phật hiệu này.  Câu Phật hiệu này nhất định phải tương ứng với ‘Thanh Tịnh, B́nh Đẳng, Giác’, và cũng là ‘một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’; nếu không tương ứng, không phù hợp, câu Phật hiệu sẽ chẳng có công đức.  Làm thế nào mới được tương ứng?  Trong đời sống hằng ngày nhất định phải làm được ‘nh́n thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên’.  Nh́n thấu nghĩa là hiểu rơ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh; buông xả tức là buông xuống tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

Thiền Tông Lục Tổ Huệ Năng dạy: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh, không nh́n thấy lỗi lầm của thế gian’, chỉ biết tu [sửa bản thân] ḿnh, tự ḿnh nỗ lực đoạn ác tu thiện.  Kinh Vô Lượng Thọ dạy ba nguyên tắc của sự tu thiện:

Khéo giữ ǵn khẩu nghiệp, đừng chê bai lỗi của người khác.

Khéo giữ ǵn thân nghiệp, chẳng hành động trái ngược với giới luật.

Khéo giữ ǵn ư nghiệp, phải luôn thanh tịnh không nhiễm ô [38]

Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ từng giờ từng phút, phải làm cho bằng được.  Cả bộ Đại tạng kinh trong nhà Phật và những ǵ đức Phật đă nói trong bốn mươi chín năm [tóm lại] tức là ba câu này.  Chúng ta nhất định phải thực sự làm được th́ mới có thể cứu ḿnh và cứu chúng sanh.

Khi chúng ta tu [hành chân] thật th́ tâm sẽ b́nh (phẳng lặng, yên ổn).  Ngày nay khoa học gia nói về những làn sóng tư tưởng, tư tưởng của người thế gian rất phức tạp, đặc biệt những tư tưởng tà ác đều là những làn sóng lớn, [cường độ rung động] lên xuống rất lớn.  Những người niệm Phật chúng ta tu ‘thanh tịnh, b́nh đẳng, giác’ nên làn sóng tư tưởng này đều b́nh phẳng, yên ổn.  Niệm Phật Đường ở Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba được chư Phật Như Lai gia tŕ, có Phật, Bồ Tát cùng chúng ta niệm Phật cho nên từ trường (hoàn cảnh, môi trường tu học) ở Niệm Phật Đường vô cùng thù thắng.  Từ trường của Niệm Phật Đường tốt vô cùng, từ trường này an định, b́nh tịnh; những làn sóng tư tưởng phát ra từ nơi đây có thể điều ḥa tư tưởng tà ác trong thế gian.  Dùng làn sóng tư tưởng b́nh yên phẳng lặng của chúng ta để hóa giải những làn sóng tư tưởng tà ác to lớn của thế gian th́ những làn sóng này có thể giảm bớt, yếu đi; đây là nguyên lư hóa giải tà ác, hóa giải tai họa.

Chúng ta ở nhà niệm Phật th́ cũng có cống hiến cho xă hội, thế giới.  V́ khi chúng ta niệm Phật phát ra những làn sóng tư tưởng thanh tịnh, b́nh đẳng, giác nên có thể điều ḥa những làn sóng tư tưởng tà ác trong thế gian.  Nếu hiểu rơ đạo lư này th́ sẽ tin tưởng khi chúng ta tâm b́nh, khí ḥa niệm Phật cũng có thể giúp đỡ cho thế giới ḥa b́nh, xă hội an định.

Chân chánh phát tâm niệm Phật tức là tự độ, độ tha (độ ḿnh, độ người); chân chánh phát tâm niệm Phật tức là cứu văn kiếp nạn của thế gian, đừng tưởng là chúng ta không có năng lực này.  Nếu chư vị đồng tu có thể chân chánh giác ngộ, chân chánh buông xuống hết thảy những điều thị phi, nhân ngă, tham, sân, si, mạn, làm theo lời dạy trong Tam Phước, Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ của đức Thế Tôn th́ sẽ có năng lực an định xă hội, duy tŕ ḥa b́nh thế giới.

Chỉ cần chúng ta tâm ư chân thành, chư Phật, Bồ Tát ứng hiện khắp nơi, sẽ cảm ứng đạo giao.  Đặc biệt là trong lúc thế gian có tai nạn to lớn, chúng ta phải giúp đỡ tất cả chúng sanh khổ nạn.  Niệm Phật không chỉ là v́ chính ḿnh, càng phải v́ tất cả chúng sanh.  Chúng ta nhất định phải làm, không làm th́ không có tâm từ bi.  Hy vọng chúng ta cùng nhau nỗ lực, tự độ và độ tha.

 

16. Lư của việc niệm Phật thành Phật   

(Buổi sáng 24-12-98)

 

a. Hư không pháp giới và ḿnh cùng một thể

Từ kinh Hoa Nghiêm chúng ta nhận được rất nhiều khải thị (gợi ư) cho sự tu học Phật pháp.  Hội kinh Hoa Nghiêm là do đức Thế Tôn thuyết giảng ở Bồ Đề Đạo Tràng trong [lúc nhập] định, đại chúng tham dự hội kinh này đều là Pháp Thân Đại Sĩ.  Họ thuộc rất nhiều chủng tộc, rất nhiều đoàn thể khác nhau trong khắp hư không pháp giới, số nhiều vô lượng vô biên.  Từ điểm này có thể biết pháp hội Hoa Nghiêm trên thực tế là một hội bao gồm tận hư không trọn khắp pháp giới.  Hội Hoa Nghiêm như vậy, những hội giảng kinh khác không phải như vậy sao?  Nếu suy nghĩ sâu thêm, việc này cho chúng ta biết tận hư không trọn khắp pháp giới đều là một thể.  Đến lúc thành Phật th́ mới ư thức đến ‘tất cả chúng sanh vốn đă thành Phật’, hiểu rơ triệt để ‘hữu t́nh và vô t́nh đều tṛn đầy chủng trí’.  Nói tóm lại hư không pháp giới và ḿnh đều là một thể, hiểu như vậy mới thực sự sanh tâm từ bi.

Nhà Phật thường nói: ‘Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi’.  Chư Phật Như Lai đă giác ngộ rồi, các Ngài đă ngộ việc này; phàm phu vẫn c̣n mê, mê cũng là mê việc này.  Nhưng trong chân tướng sự thật không có mê và ngộ, mê và ngộ là ở tại người.  Người giác ngộ th́ gọi là Phật, Bồ Tát, người mê hoặc th́ gọi là phàm phu.  Nhưng sự thọ dụng của mê và ngộ khác nhau, người mê không biết hư không pháp giới đều là ḿnh, không biết hết thảy chúng sanh đều là ḿnh cả, cho nên trong đó [trong mê] sanh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tạo nên vô lượng vô biên nghiệp tội.

 

b.  Hết thảy các pháp từ tâm tưởng sanh

Nghiệp tội tức là những hành vi, việc làm trái ngược với chân tướng sự thật.  Những nghiệp đă tạo sẽ hiện ra tướng.  Tướng làm sao hiện ra?  Đức Phật nói: ‘Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh’, muôn vàn xin mọi người đừng coi thường câu này.  Sự việc trong vũ trụ thiên biến vạn hóa, y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp giới, đây là đức Phật quy nạp xong nói cho chúng ta biết, trên thực tế th́ pháp giới vô lượng vô biên.  Vô lượng vô biên pháp giới đều từ tâm tưởng sanh – trong tâm nghĩ tưởng ǵ th́ sẽ hiện ra cái đó.  V́ vậy cho nên tưởng Phật th́ sẽ hiện ra Phật; Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta:

‘Nhớ Phật niệm Phật, hiện giờ tương lai, nhất định thấy Phật’, đây nghĩa là tưởng Phật thành Phật.

Tưởng Phật th́ Phật hiện, tưởng Bồ Tát th́ Bồ Tát hiện, tưởng ǵ th́ hiện cái đó, việc này là sự thật.  Thí dụ chúng ta nghĩ tưởng đến một việc xứng tâm vừa ư th́ sẽ sanh tâm hoan hỷ, niềm vui này liền hiện lên gương mặt ḿnh; nghĩ tưởng đến một việc không vừa ư th́ sẽ nhăn nhó mặt mày, nét âu sầu sẽ hiện rơ trên gương mặt, lập tức liền thay đổi.  Quan sát việc nhỏ này mới biết lời dạy của đức Phật vô cùng chính xác.

Thế nên chư Phật Như Lai khuyên chúng ta tưởng Phật, nhớ Phật, niệm Phật, buông xuống hết tất cả những tư tưởng khác.  [Pháp môn] niệm Phật văng sanh bất thoái thành Phật trong Tịnh Tông được xây dựng trên cơ sở và lư luận này.  Từ xưa đến nay những người noi theo phương pháp này tu hành chứng quả rất nhiều, những người này đều làm gương tốt cho chúng ta noi theo.  Nếu dùng cách nói thông thường của các tôn giáo, những người này là những chứng cớ rơ rệt và những tấm gương cụ thể cho chúng ta.  Trong ba thứ chuyển pháp luân của Phật pháp, việc này gọi là ‘tác chứng chuyển’ (chuyển pháp luân bằng cách làm chứng), họ hiện thân thuyết pháp làm chứng minh cho chúng ta, nói rơ đây là sự thật.

 

c. Chuyện văng sanh.

Mấy năm trước chuyện mẹ của ông Tước Sĩ (Huân tước) Hà Đông văng sanh ở Hương Cảng đă làm nhiều người cảm động, và đă củng cố cơ sở cho hội Phật giáo Hương Cảng.  Cả nhà của cụ đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành, chỉ có cụ là người tin Phật, niệm Phật.  Tuy vậy nhưng nhà này vô cùng phóng khoáng (không câu nệ), đích thật là tự do tín ngưỡng, đối xử ḥa thuận với nhau, tôn trọng lẫn nhau, đây là một việc rất đáng quư.  Thế nên không gây trở ngại cho tự do của người khác mới là tự do thật sự.  Gây trở ngại cho người khác, xâm phạm người khác là không hiểu được [như thế nào mới là] tự do; đây là cảm t́nh, là trí huệ.

Cùng một lư lẽ, ngày nay chúng ta sinh sống trên quả địa cầu này, có rất nhiều dân tộc khác nhau, văn hóa khác nhau, tư tưởng khác nhau, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, mọi người đều không thể ḥa thuận, công kích hủy báng lẫn nhau, thậm chí dẫn đến chiến tranh tôn giáo, đây cũng là v́ không hiểu rơ ư nghĩa chân chánh của tự do.  Nguyên nhân họ không hiểu rốt cuộc cũng là vấn đề của giáo dục, đặc biệt là giáo dục luân lư đạo đức.

Gia đ́nh ông tước sĩ Hà Đông là tấm gương tốt cho chúng ta, mở rộng ra th́ cũng là tấm gương cho cả thế giới.  Bất luận chúng ta tín ngưỡng tôn giáo nào th́ nhất định phải tôn trọng những tôn giáo khác.  Trong nhà Phật bất luận tu học theo môn phái nào, nhất định cũng phải tôn trọng môn phái khác; như vậy mới hiểu tự do một cách đúng đắn, mới thiệt có trí huệ.

Lúc văng sanh cụ Hà Đông nói với con trai và dâu: ‘Cả đời má không đ̣i hỏi các con việc ǵ hết, bây giờ trước lúc văng sanh, má yêu cầu các con niệm vài câu Phật hiệu tiễn đưa má văng sanh’.  Lúc văng sanh, cụ thật sự mở một buổi họp văng sanh, mời tất cả thân bằng quyến thuộc đến dự, sau khi cụ dặn ḍ xong xuôi, cụ văng sanh một cách êm đềm, an lành giữa tiếng niệm Phật của mọi người.  Cả nhà chứng kiến tận mắt bà cụ niệm Phật văng sanh nên sau này cả nhà đều niệm Phật hết.  Cách bà cụ này độ chúng sanh quá đặc biệt, vô cùng cao minh, dùng lời nói th́ không ai nghe nên cụ biểu diễn cho họ coi, cuối cùng có thể độ hết cả nhà.

Việc cụ văng sanh là một sự biểu diễn vô cùng ngoạn mục, phải có trí huệ sâu rộng mới làm được.  Trên thế gian này chuyện ǵ cũng có thể gạt người, có thể giả mạo, chỉ có chuyện này không thể nào giả mạo được.  Lúc tôi c̣n học ở Đài Trung, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam thường dùng chuyện này khích lệ chúng tôi, dạy chúng tôi, Tây phương Cực Lạc thế giới có thật, người niệm Phật đích thật là có thể văng sanh.

 

d. Làm thế nào tự tại văng sanh

Nửa thế kỷ trở lại đây tuy chúng ta không thể đích thân nh́n thấy người ta văng sanh nhưng những chuyện nghe đến thật không ít.  Tại sao người ta có thể tự tại văng sanh?  Đây là việc mọi người đều muốn biết.  Đặc biệt là những người đang sinh sống trong thời đại nhiều tai họa, tự tại văng sanh đối với chúng ta vô cùng quan trọng, thiệt là một việc quan trọng nhất trong đời người.  Thiệt ra chỉ cần noi theo kinh luận, tu học đúng như lư như pháp, th́ có thể làm được.  Đặc biệt là kinh Vô Lượng Thọ, cổ đức nói kinh Vô Lượng Thọ là kinh số một của Tịnh Tông, v́ kinh Vô Lượng Thọ giới thiệu hoàn cảnh ở Tây phương Cực Lạc thế giới đầy đủ nhất, giải thích phương pháp tu học tường tận nhất, nói quả báo sau khi văng sanh viên măn nhất.  Nếu chúng ta chân chánh muốn tự tại văng sanh, tu học từ ba tháng đến sáu tháng sẽ có thể thành công.  Cho nên pháp môn này rất thù thắng, được hết thảy chư Phật tán thán, tuyên dương.

Thiện Đạo đại sư nói những ǵ đức Phật dạy th́ chúng ta phải làm được hoàn toàn, những ǵ đức Phật dạy chúng ta không nên làm th́ tuyệt đối đừng làm.  Nếu thiệt có thể hết ḷng làm theo những lời dạy trong kinh Vô Lượng Thọ, làm hằng ngày, một ngày cũng không vi phạm, những công đức này tích lũy trong ba tháng th́ bạn sẽ là thượng thiện nhân, sẽ nắm chắc sự văng sanh tự tại.  Nếu có thể làm hết sáu tháng th́ càng chắc chắn hơn.  Cứ tiếp tục làm như vậy, bạn muốn chừng nào văng sanh th́ lúc đó văng sanh, đứng văng sanh, ngồi văng sanh, tự tại tùy theo ư muốn.  Đây là một việc [quan trọng] hạng nhất trong đời người!

Có một số người văng sanh không được tự tại, lúc lâm chung c̣n bị bịnh khổ, nguyên nhân là v́ những ǵ đức Phật dạy, họ đều không thể làm hết hoàn toàn; những ǵ đức Phật dạy không được làm th́ họ vi phạm không ít, đây là nghiệp chướng.  Nhưng nhờ đời trước hay đời này cũng c̣n chút thiện căn, lúc lâm chung gặp được bạn tốt nhắc nhở, trợ niệm, th́ cũng có thể văng sanh.

Người ta sống trên đời này mấy chục năm ngắn ngủi, lúc đến mang hai bàn tay không th́ ra đi cũng mang theo hai bàn tay trắng.  Cổ đức nói: ‘Muôn thứ không đem được, chỉ có nghiệp theo thân’[39].  Tất cả mọi vật trên thế gian này không có một vật ǵ có thể đem theo, những ǵ có thể đem theo được chỉ là những nghiệp mà ḿnh đă tạo ra, việc này rất đáng sợ!  Tôi đọc đến việc này rởn da gà, có nhiều người đọc đến nhưng không hề ǵ, như vậy đúng là nội tâm đă chai đá hết trơn rồi.  Nếu thiệt có tri giác, đọc đến thiệt rất sợ th́ làm sao dám tạo nghiệp?

Chư Phật, Bồ Tát từ bi, có ḷng thương yêu chân thành, chúng ta không biết thân cận [học hỏi] mà c̣n xa ĺa họ, đi kết bạn với những bạn xấu trong thế gian, đó là sai lầm quá đỗi!  Bạn xấu tức là những người tạo ngũ nghịch thập ác, không chịu nghe lời dạy của thánh hiền, không y giáo phụng hành.  Đây là một sự mất mát to lớn đối với đời sống tu học của chúng ta, chúng ta phải nhận thức rơ ràng.

Nhất định phải hết ḷng nỗ lực tu học, nắm chắc sanh mạng ngắn ngủi nhưng quư báu trong đời này, hoàn thành nhân duyên hiếm hoi từ vô lượng kiếp đến nay.  Niệm Phật thành Phật, đây là một chuyện lớn, người như vậy mới đáng gọi là người có chí khí, nếu nói theo nhà Phật th́ thiệt đúng là đại anh hùng, đại trượng phu.  Hy vọng chúng ta cùng nhau gắng sức, khuyến khích lẫn nhau, ngay trong đời này làm cho xong công việc to lớn này, không uổng phí cuộc đời.

 

17. Nh́n thấu, Buông xuống (Buổi sáng25-12-98)

 

a. Nh́n thấu, buông xuống.

Thông thường hai ngày đầu của Phật thất, tâm [của người tham dự] c̣n chưa an định, công phu không thể nào đắc lực.  Đến ngày thứ bảy v́ Phật thất gần kết thúc, trong tâm lại phóng dật, buông lung trở lại nên cũng không thể đắc lực.  Do đó niệm Phật trong bảy ngày, thiệt có thể đắc lực là trong ngày thứ năm và thứ sáu, đây là một hiện tượng rất b́nh thường.

Nguyên nhân người đời nay niệm Phật không bằng người đời xưa cũng là v́ không thể ‘nh́n thấu, buông xả’.  Chữ nh́n thấu (thấy thấu suốt) là tŕnh độ hiểu rơ đối với trạng thái sanh hoạt hiện thực; nếu chúng ta không hiểu rơ, ham mê luyến tiếc thế gian th́ đương nhiên sẽ không buông xuống nổi.  Cho nên hơn phân nửa những người niệm Phật văng sanh là những người già bảy tám chục tuổi, v́ họ nh́n thấy nhiều, từng trải nhiều, biết hết thảy những việc trong thế gian đều là hư ảo không thật, bất luận sinh sống trong cảnh thuận hoặc nghịch, trải qua một thời gian dài th́ sẽ chán chường, sinh sống cảm thấy chán ghét, không muốn ở lại thêm nữa, đến lúc này th́ buông xuống hết, đây là một yếu tố rất quan trọng.  Nếu cảm thấy thế gian này c̣n rất đẹp đẽ, vẫn c̣n muốn sống thêm vài năm nữa, thậm chí muốn sống thêm vài chục năm, vài trăm năm nữa, họ buông xả, buông xuống hết không nổi th́ công phu làm sao có thể đắc lực cho được!  Phật pháp nói đến chuyện giác ngộ tức là giác ngộ việc này.

 

b. Nhân duyên quả báo.

Mọi người đều biết chuyện đời vô thường, biết chuyện trong đời không có ǵ chẳng là nhân duyên quả báo cả, nhưng hiểu không được chắc thật, không cụ thể.  Lúc trước lăo cư sĩ Ô Dư Khánh đă kể lại một câu chuyện có thật.  Vào thời kháng chiến [chống Nhật] bắt đầu, cụ ở Thượng Hải quen một thương gia, ông này làm ăn buôn bán rất thuận lợi, có một người con trai duy nhất, người con này rất nghịch ngợm.   Một hôm người con đi học mang theo 10 đồng trong túi, làm rớt tờ giấy 10 đồng này trên đường lộ, lúc đó có một người quen đi ngang nh́n thấy nên lượm lên rồi nói chơi với đứa bé: ‘Em kêu tôi bằng Bác th́ tôi trả tiền này cho em’.  Đứa bé này trả lời: ‘Nếu ông kêu tôi bằng Bác th́ tôi cho ông thêm 10 đồng nữa’.  Nghịch ngợm đến như vậy!

Một hôm ông thương gia này ăn mừng sinh nhật và mời rất nhiều bạn bè đến nhà dự tiệc.  Hôm ấy ông đột nhiên nh́n thấy gương mặt của đứa bé này và vô cùng kinh ngạc, ngay lúc ấy liền tuyên bố với mọi người hiện diện ông sẽ giao toàn bộ tài sản cho đứa bé.  Sau này ông giải thích với bạn bè rằng toàn bộ tài sản của ông vốn là của một người Đức; lúc trước chiến tranh ông làm việc cho người Đức này, khi ông chủ trở về Đức nhờ ông quản lư dùm công ty.  Kể từ đó ông chủ không trở lại [Thượng Hải] nữa và qua đời ở Đức.  Hôm ăn sinh nhật ông đột nhiên nh́n thấy gương mặt của đứa bé hiện ra giống hệt như gương mặt của ông chủ người Đức, từ đó ông mới biết đứa bé này chính là ông chủ người Đức trở lại đầu thai nên ông lập tức trả lại toàn bộ tài sản.  Nhờ vậy mà quan hệ cha con mới có thể duy tŕ.

Đức Phật nói những người trong nhà như cha con, chồng vợ, anh em đều có quan hệ báo ân, báo oán, đ̣i nợ, hoặc trả nợ nên mới ở chung một nhà.  Đứa bé này đến là để đ̣i nợ, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai.  Chúng ta hiểu rơ đạo lư này th́ thử nghĩ nếu chúng ta có lỗi đối với người, hiếp đáp người, hăm hại người, nếu người này đầu thai đến nhà chúng ta th́ trong tương lai nhất định sẽ làm cho nhà tan cửa nát.  Thế nên bất cứ ai trong thế gian đều nhất định không có việc bị thiệt tḥi, và cũng không có việc chiếm tiện nghi hoặc lợi dụng người khác được.

Thi ân cho người, giúp đỡ kẻ khác sẽ nhận được báo đền; hiếp đáp người, dày xéo người, sỉ nhục người, hăm hại người cũng sẽ có báo đền.  Nếu sự báo đền này chỉ vừa đúng [không hơn, không kém] th́ cũng c̣n được; nhưng sự báo đền luôn luôn quá đáng, biến thành hận thù oan oan tương báo, đời đời kiếp kiếp không nhường nhịn lẫn nhau, oán hận không bao giờ chấm dứt.  Chiến tranh giữa quốc gia này với quốc gia khác cũng như vậy.  Tuy dân chúng của hai nước không có oán thù ǵ với nhau, những người có oán thù chỉ là thiểu số, nhưng nếu họ có quyền lực th́ sẽ liên lụy đến rất nhiều người cùng chịu tai họa, tổn hại đến tài sản và sanh mạng của nhiều người, tai hại vô cùng, làm sao có đạo lư không đọa địa ngục cho được?  Chúng ta hiểu được đạo lư, hiểu rơ chân tướng sự thật, th́ mới biết không nên làm việc này.

Bởi vậy nên lục đạo luân hồi chỉ là ân ân oán oán báo đền lẫn nhau mà thôi, chúng ta hiểu được th́ sẽ buông xả, biết được thế gian này không vui chút nào.  Chư Phật, Bồ Tát nh́n thấy rơ ràng, chỉ cho chúng ta một con đường quang minh, rộng lớn, đây tức là Đại thừa Phật pháp, cơi nước chư Phật ở thập phương.  Trong pháp Đại thừa, [các Ngài] lại nói cho chúng ta biết một pháp môn đặc biệt, trong số các cơi nước chư Phật th́ cơi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà là cơi nước thù thắng tốt đẹp nhất.  Không những đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu cho chúng ta, trong bản dịch kinh A Di Đà của đại sư Cưu Ma La Thập nói đến sáu phương Phật tán thán; bản dịch kinh Di Đà của Huyền Trang đại sư nói đến mười phương Phật tán thán.  Kinh Vô Lượng Thọ cũng nói đến mười phương Phật tán thán.  Hết thảy chư Phật Như Lai đều khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ Di Đà.  Chư Phật, Bồ Tát không gạt người, chúng ta đừng nên hoài nghi lời nói của chư Phật, Bồ Tát.  Từ xưa đến nay kinh điển được trao truyền từ đời này sang đời khác, đích thực là được phiên dịch từ tiếng Phạn ở Ấn Độ, có người phiên dịch, có nơi chốn phiên dịch, chứng thật những kinh điển này có thể tin được.

Cả đời xưa và đời nay những người chiếu theo phương pháp này tu hành được văng sanh rất nhiều.  Chúng ta hăy quan sát điều kiện của họ, nói chung so với chúng ta th́ không khác ǵ mấy, không tốt hơn chúng ta nhiều lắm.  Nhưng quan trọng nhất là họ có ḷng tin vững chắc, nguyện vọng khẩn thiết, buông xả hết thảy, chắc thật niệm Phật.  Họ đă làm được điểm này, trên phương diện này chúng ta c̣n rất kém, chúng ta phải nỗ lực học tập theo họ.

 

c. Đoạn ác tu thiện

 Đặc biệt là ở thời đại ngày nay, Thiên Chúa Giáo có lời dự đoán, năm 1999 là năm thế giới tận thế, những lời này làm cho người ta rất lo lắng, kinh sợ.  Lời dự đoán nói nếu người ta tiếp tục tạo ác không ngừng, tai nạn này có thể trở thành sự thật; nếu có thể đoạn ác tu thiện, hồi tâm chuyển ư, tai nạn có thể hóa giải.  Câu nói này vô cùng linh động, chẳng cứng chắc (chẳng phải thay đổi không được), và nói rơ quan hệ vẫn nằm trong tay của con người.  T́nh h́nh có thể hóa giải nghĩa là tai nạn có thể giảm bớt, tŕ hoăn đến sau này.  Cách nói này hợp t́nh, hợp lư, hợp pháp, có thể biết họ cũng có trí huệ rất cao.  Đoạn ác tu thiện là việc rất nên làm, [chúng ta] làm không phải là v́ muốn tránh tai nạn; không có tai nạn th́ cũng phải đoạn ác tu thiện.

Đoạn ác tu thiện phải bắt đầu từ trong tâm.  Tâm của chư Phật, Bồ Tát là tâm thuần thiện, tâm làm lợi ích cho tất cả chúng sanh mà không v́ lợi ích cho cá nhân ḿnh.  Theo sự quan sát của tôi, Tân Gia Ba ít nhất có mười vị Bồ Tát, thiệt đúng với câu: ‘chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ’.  Họ có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm từ bi, niệm niệm v́ chánh pháp tồn tại lâu dài, v́ lợi ích cho tất cả chúng sanh, làm nên sự cống hiến to lớn.  Đời sống của họ tương ứng với Lục Độ Ba La Mật, đây là Bồ Tát trụ thế, hóa thân của Bồ Tát.  Tuy vai tṛ của họ không giống nhau, đúng như kinh điển nói ‘cần dùng vai tṛ ǵ để độ th́ hiện thân đó, cần dùng phương pháp ǵ để làm lợi ích cho chúng sanh th́ họ dùng phương pháp đó’.  Tất cả hành động của họ đều giữ tâm của Bồ Tát, hành theo Bồ Tát Đạo.

Hy vọng [đồng tu ở] Dallas cũng tổ chức phái đoàn đến đó tham học, học hỏi tinh thần và phương pháp của họ, và cũng hy vọng đạo tràng Dallas này có thể biến thành trung tâm Tịnh Tông ở Mỹ.  Chúng ta truyền bá Tịnh Tông đến tất cả địa phương có duyên trên thế giới, đây là lời nói trong nhà Phật: ‘Trong nhà Phật không buông bỏ một người nào cả’.  Chúng ta cũng phải có hoằng nguyện to lớn của chư Phật, Bồ Tát, dốc toàn tâm toàn lực giúp đỡ các vị đồng tu ở mọi nơi.  Xin chúc phúc cho chư vị trong Phật thất được đạo nghiệp tăng trưởng, tín nguyện thành tựu, Phật thất kỳ này sẽ thâu thập được hiệu quả tốt đẹp.

 

18. Làm thế nào để giữ ǵn công phu     

(Buổi sáng26-12-98)

Trong quá tŕnh tu học đa số người học Phật đều gặp phải một vấn đề, đó là trong tâm có thể giữ được thanh tịnh lúc niệm Phật trong Niệm Phật Đường, nhưng vừa trở về nhà, về chỗ làm việc th́ không thể nào giữ ǵn công phu được.  Nếu chúng ta hy vọng  trong đời này có thể tu học thành tựu th́ đây cũng là một vấn đề to lớn, cấp bách, cần phải giải quyết nhanh chóng.  Không thể giữ ǵn công phu có hai yếu tố: thứ nhất, phiền năo tập khí từ vô lượng kiếp đến nay quá nặng, không có năng lực khắc phục; thứ nh́, tâm sanh tử không thiết tha.  Tại sao tâm sanh tử không thiết tha?  Đối với thế gian này nhận thức chưa rơ ràng, không biết thế gian này là hư ảo.  Kinh Kim Cang dạy ‘Phàm những ǵ có tướng đều là  hư vọng’, ‘Tất cả các pháp hữu vi như mộng huyễn, bọt, ảnh’.  Trong kinh nói chân tướng sự thật, chúng ta gặp mặt trên mạng lưới internet càng dễ thể hội điều này.  Chúng ta nói chuyện với nhau mặt đối mặt trên màn ảnh [máy vi tính], chuyện này cũng là mộng huyễn bọt ảnh, và cũng là một thứ hư vọng, nếu có thể từ phương diện này mà thể hội th́ đă giác ngộ rồi, sau đó mới biết cho dù chúng ta đối diện với nhau th́ cũng hư vọng, không chắc thật.

            Những ǵ chắc thật có hay không?  Có, nhưng chúng ta không nh́n thấy.  Lúc nào mới nh́n thấy?  Buông xuống tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, buông bỏ hết đến mức ‘nhất tâm bất loạn’ th́ có thể nh́n thấy sự thật.  Chỉ cần chúng ta đạt được nhất tâm bất loạn, cảnh giới chân thật tự nhiên sẽ hiện ra, đây gọi là ‘Nhất Chân pháp giới’ trong Phật pháp.

          Nhưng cho dù công phu tu học của ḿnh có tốt hơn, định công sâu hơn nữa, chỉ cần trong tâm c̣n giữ một cái ‘Nhất Chân pháp giới’ th́ sẽ không thấy Nhất Chân pháp giới.  Công phu đến mức Tứ Thiền Bát Định vẫn chưa thấy được Nhất Chân pháp giới v́ tuy đè nén được phiền năo, nhưng vọng tưởng phân biệt chưa đè nén.  Đến mức Định Thứ Chín, ra khỏi lục đạo luân hồi, ra khỏi tam giới, sanh đến Tứ Thánh pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật (Phật trong thập pháp giới là Tạng Giáo Phật, Thông Giáo Phật trong Tông Thiên Thai) th́ cũng chưa thấy được tướng chân thật, nguyên nhân là v́ chưa đoạn dứt vọng tưởng, chấp trước.  Cần phải nỗ lực thêm nữa, dùng định huệ đoạn dứt phân biệt (Trần Sa phiền năo), phá thêm một phần vô minh (tức là vọng tưởng) đến mức này mới ra khỏi thập pháp giới, thấy được tướng chân thật, mới thực sự tương ứng với cảnh giới của quả địa chư Phật Như Lai.  Phải mất bao nhiêu công phu mới đến mức này?  Ngày nay một chút định lực chúng ta cũng không có!

          Thí dụ [hằng ngày] pḥng ăn ở Cư Sĩ Lâm có gần hai mươi món ăn, quá nhiều món ăn để trước mặt như vậy là một sự cám dỗ, chỉ thử mỗi món một chút thôi th́ cũng no quá chừng.  Người niệm Phật ăn đến mức ngày càng mập thêm th́ không phải là một chuyện tốt, chúng ta phải tự khắc phục ḿnh, trong nhiều món đồ ăn này chỉ gắp ba bốn món th́ thôi.  Trong việc ăn uống phải biết chế ngự, ăn cho điều độ th́ mới có thể giữ thân tâm khỏe mạnh; không chế ngự nổi th́ thân tâm sẽ không khỏe mạnh.  Nếu ăn đến mập béo ra th́ thân thể sẽ không khỏe mạnh; nh́n thấy những món ăn này rất dễ tăng trưởng tâm tham, lại tạo nên tâm lư không khang kiện.  Tu hành là phải tu trong những sự việc này.

          Cho nên trong tất cả hoàn cảnh phải biết khắc phục được vọng tưởng của ḿnh, chế ngự phân biệt, chấp trước của ḿnh, hết thảy [những việc này] đều là Phật pháp.  Nếu có thể khắc phục, chế ngự được ḿnh th́ mới có thể bảo tŕ [giữ ǵn] được công phu; nếu không thể khắc phục được ḿnh th́ không thể bảo tŕ công phu.  Những đại đức thời xưa biết được tập tánh của phàm phu rất nặng, khắc phục ḿnh rất khó, nên mới chủ trương, đề xướng ‘Nương dựa vào, noi theo đám đông’, mới tụ hợp lại tu tập chung với nhau, đốc thúc, cảnh tỉnh, khích lệ lẫn nhau, dụng ư là ở chỗ này.

Đạo tràng tu tập chung với nhau cần phải có đầy đủ nhân duyên, trong đó quan trọng nhất là duyên phận, là phải nhờ vào người xuất gia dẫn đầu; người xuất gia càng nhiều, ḷng tin của những người đồng tu sẽ càng tăng trưởng.  V́ vậy nên người xuất gia phải phát ḷng từ bi, không nệ khó nhọc, lănh chúng trong Niệm Phật Đường.  Đạo tràng có càng nhiều người xuất gia càng tốt, đây là sự thù thắng trang nghiêm chân chánh của đạo tràng.

Cho nên huân tập ở Niệm Phật Đường trong một thời gian dài, hy vọng là có thể bảo tŕ được công phu, bất kỳ ở nơi chốn nào, trong gia đ́nh, sở làm đều có thể giữ ǵn tâm thanh tịnh, niệm Phật như thế mới gọi là đạt được mục đích.

Ngày nay số người ở Niệm Phật Đường tại Cư Sĩ Lâm ngày càng nhiều, xây dựng và đẩy mạnh phong trào niệm Phật.  Những người đến đó niệm Phật rất đông, đến măi không ngớt, càng ngày càng nhiều.  Chúng tôi hy vọng xây dựng một đạo tràng ‘giải hành tương ứng’, mỗi ngày giảng kinh không gián đoạn, niệm Phật không gián đoạn, làm gương cho đạo tràng ở những nơi khác.  Thích hợp nhất cho những vị đồng tu đă về hưu, họ buông xuống công việc làm ăn, ở đó trường kỳ tham gia niệm Phật.  Những người có gia đ́nh, vẫn c̣n đang đi làm th́ lợi dụng thời gian rảnh rỗi đến Niệm Phật Đường để niệm Phật.  Thế nên hiện nay khí phần (không khí hoàn cảnh tu học) ở Niệm Phật Đường vô cùng tốt đẹp, vô cùng thù thắng.  Và cũng v́ khí phần tốt đẹp như vậy nên rất nhiều vị đồng tu vui vẻ đi đến, đến rồi đều không muốn đi về.  Nếu có thể trụ ở đạo tràng như vậy trong ṿng nửa năm, một năm, ba năm th́ không thể nào không thành tựu được.

Trong ‘Tịnh Độ Thánh Hiền Lục’, ‘Văng Sanh Truyện’ chúng ta thấy rất nhiều Bồ Tát văng sanh bất thoái, thời gian niệm Phật phần nhiều là ba năm.  Do đó có thể biết trong ṿng ba năm th́ có thể thành tựu.  Nhưng không thể nói họ niệm Phật hết ba năm th́ thọ mạng đều hết, mà v́ công phu thành thục nên mới tự tại văng sanh.  Nếu những người có công phu thành thục không văng sanh mà c̣n lưu lại trên thế gian này th́ chỉ có một nguyên nhân duy nhất là để độ chúng sanh.  Vẫn c̣n một số chúng sanh có duyên với họ, họ có thể giúp đỡ cho nên lưu lại thêm một thời gian nữa.  Nếu không có duyên phần với những người ở đó th́ tại sao không đi sớm hơn?  Mỗi ngày chúng ta đều mong mỏi, trông về Tây phương Cực Lạc thế giới, mỗi ngày tưởng niệm đức Phật A Di Đà, có thể gặp Ngài sớm hơn th́ tốt biết mấy, tại sao cơ duyên đến lại phải kéo thêm vài ngày?  Chúng ta muốn đi nhưng đi không được, nếu có năng lực th́ đă đi sớm mất rồi.

 Chúng ta b́nh tĩnh suy nghĩ, quan sát người trên thế gian này ai cũng khổ.  Chúng ta cảm thấy sanh hoạt, việc làm của ḿnh quá khổ, thật ra những người làm sự nghiệp to lớn c̣n khổ hơn chúng ta.  Gần đây tôi xem cuồn phim ‘Chiến tranh lạnh bắt đầu và chấm dứt’, nói về những người lănh đạo quốc gia trong nửa thế kỷ vừa qua, mỗi ngày đều phải đề pḥng không cho tai họa bộc phát, đặc biệt là những tai nạn do con người gây ra, làm thế nào t́m mọi cách để tiêu trừ [tai nạn].  Họ bận tâm, lo lắng quá nhiều, cuộc sống khổ quá đi thôi.  Sau khi tôi coi xong mới biết muốn làm một người lănh đạo quốc gia, đoàn thể thiệt là không đơn giản chút nào.

Thiệt ra đời sống của những người lănh đạo có địa vị cao, những người làm ăn buôn bán giàu có không sung sướng chi cả.  Nếu bạn đă nh́n thấy rơ ràng, minh bạch th́ mới biết đời sống của họ c̣n sánh không bằng đời sống của một người ăn xin.  Người đi xin ăn khi nào bụng đói th́ đi xin ăn, ăn no rồi th́ hết chuyện, tùy tiện t́m một chỗ để ngủ, không có bồn chồn lo lắng, [họ] thảnh thơi tự tại biết bao!  Chuyện đau khổ nhất của con người là chuyện bận tâm quá nhiều, lo lắng quá nhiều, vướng bận quá nhiều, ngày tháng đích thật không thoải mái tí nào.  Nếu họ có thể học Phật th́ thiệt là phước báo to lớn!

Lúc trước tôi có khuyên đại chúng, gắng sức làm việc kiếm tiền trong một năm để có đủ tiền chi tiêu cho đời sống th́ nghỉ không làm việc hai năm, chuyên tâm hết ḷng niệm Phật; đây là người có trí huệ, có đại phước báo.  Sau hai năm tiền xài hết th́ đi kiếm công việc trở lại.  Nếu bạn hỏi t́m công việc làm không dễ, đến lúc đó có thể t́m được hay không?  Nhất định sẽ t́m được.  Tại sao vậy?  Chư Phật, Bồ Tát gia tŕ cho bạn, bạn nên tin tưởng chư Phật, Bồ Tát.  Ở thế gian này nhờ vả người ta không được, nhờ vả Phật, Bồ Tát nhất định có thể được.  Nhưng bạn phải có ḷng tin tuyệt đối với chư Phật, Bồ Tát, tu học đúng như lư và làm đúng như lời dạy, làm sao không thành tựu được cơ chứ!  Đây cũng là một phương pháp bảo tŕ tâm thanh tịnh.

Nói tóm lại nguyên tắc quan trọng nhất để giữ tâm thanh tịnh là:

Thứ nhất phải có ḷng tin vững chắc muốn rời khỏi Sa Bà, cầu sanh Tịnh Độ, đây là chân tâm.

Thứ nh́ tuyệt đối đừng bị thế gian cám dỗ, có thể buông xuống, buông xả hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian. 

Trong tất cả pháp thế gian và xuất thế gian chỉ lựa chọn một pháp mà ḿnh cần, tuyệt đối không chọn quá nhiều, có câu rằng ‘biết đủ th́ thường vui’.  Tâm của bạn sẽ định, sẽ thanh tịnh; mới có thể bảo tŕ tâm thanh tịnh trong thời gian dài mà không mất.  Điểm này vô cùng quan trọng.  Những người tu hành thời xưa có thành tựu đều là nhờ yếu tố này.  Có thể khắc phục dục vọng của ḿnh, khắc phục vọng tưởng của ḿnh, thiệt có thể làm đến mức nói trong kinh Kim Cang: ‘Không chấp vào tướng, như như chẳng động’.  Trong đời sống chỉ lấy những ǵ ḿnh cần dùng là đủ, như vậy mới không bị cám dỗ, mới giữ được tâm thanh tịnh.

 

19. Khống chế và chiếm lấy (Buổi sáng 30-12-98)

 

a. Đạo dưỡng sinh

Người xưa dạy chúng ta: ‘Buổi sáng phải ăn cho tốt, buổi trưa phải ăn cho no, buổi tối phải ăn ít’.  Đây là đạo dưỡng sinh và cũng là một nguyên tắc của sự hấp thụ dinh dưỡng.  Chân chánh biết đạo dưỡng sinh nói theo nhà Phật th́ phải biết ‘dưỡng tâm’, v́ tâm có thể sanh ra rất nhiều pháp, tâm là pháp năng sanh (pháp có thể sanh), thân là pháp sở sanh (pháp được sanh), cho nên tâm thanh tịnh th́ thân sẽ thanh tịnh; thân tâm thanh tịnh th́ hoàn cảnh bên ngoài sẽ thanh tịnh, đây là một đạo lư nhất định.  Nhưng rất ít người trong thế gian hiểu được đạo lư này, vẫn ráng sức t́m cầu để bù đắp dinh dưỡng từ bên ngoài.

Người tu hành chân chánh đối với dinh dưỡng cho thân thể không t́m cầu ở bên ngoài mà hoàn toàn hướng về bên trong.  Trong kinh nói người trên cơi Sắc Giới trở lên dùng ‘thiền duyệt’ làm thức ăn, thiền duyệt là từ tự tánh lưu xuất, không phải cầu được từ bên ngoài.  Cho nên đức Phật nói năm thứ ‘tiền tài, sắc đẹp, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ’ đều có thể bỏ được.  Năm thứ này được gọi là ‘ngũ cái’ (năm thứ che đậy), nó che phủ tâm tánh, trí huệ, đức năng của chúng ta, làm cho trí huệ, đức năng của chúng ta không thể hiện tiền.  Năm thứ này là dục vọng, nếu sanh tâm tham đắm năm thứ này th́ phiền năo chỉ gia tăng mà không giảm bớt, làm sao đoạn dứt phiền năo được?

Đức Phật dạy đệ tử nhất định đừng phân biệt, chấp trước đối với thức ăn.  Ngày xưa lúc đức Phật c̣n tại thế đi khất thực, người ta cho ǵ ăn nấy, vả lại chỉ cho phép đi khất thực bảy nhà, nếu bảy nhà này cho không đủ hay không cho th́ phải đi về tu thiền định.  Cách làm này là để giúp chúng ta khắc phục dục vọng, tâm tham, và phiền năo; chúng ta phải hiểu đạo lư này.

V́ chúng ta có thân thể cho nên phải [ăn uống để] hấp thụ dinh dưỡng, không thể không duy tŕ sự khỏe mạnh của thân thể.  Nếu thân thể không khỏe mạnh, phải nhờ người khác săn sóc, cư ngụ trong đạo tràng cũng phải làm nhọc [chúng] thường trụ, như vậy không tốt.  Nhưng phải hiểu đạo lư khỏe mạnh là do tâm thanh tịnh.  Đối với ḿnh tuyệt đối phải giữ tâm cho được thanh tịnh, thanh tịnh vô vi; đối với người, với sự, với vật cần phải có tâm đại từ đại bi, vô sở bất vi (không từ khước làm bất cứ thứ ǵ), được vậy chúng ta mới có thể dùng hành động để phục vụ đại chúng, giúp đỡ đại chúng.  Đây đều là lời thánh nhân thế gian và xuất thế gian chỉ dạy cho chúng ta.

 

b. Khống chế và chiếm lấy

Nhưng ái tâm (tâm thương mến) là nghĩa vụ, nhất định không được chiếm lấy.  Cho dù rất thương mến con cái và người thân của ḿnh, tâm này của phàm phu cũng không thể gọi là từ bi, v́ nó có chứa đựng tâm niệm khống chế, chiếm lấy ở trong.  Mỗi [khi khởi lên một] tâm niệm [ǵ] đều muốn điều khiển, khống chế, chiếm lấy tất cả người, sự, và vật, như vậy là sai lầm.  Sai ở chỗ nào?  Đức Phật dạy chúng ta: ‘năng sở giai không, liễu bất khả đắc’ (năng và sở đều là không, trọn chẳng thể lấy được, có được).  Trong sáu trăm quyển kinh Bát Nhă, ba chữ ‘bất khả đắc’ (không thể lấy được, có được) đă lập đi lập lại trên ngàn lần, đó là muốn cho chúng ta ghi nhớ kỹ ‘bất khả đắc’ là chân tướng sự thật, nếu cứ tưởng tất cả có năng đắc, có sở đắc (có cái năng được, có cái để ḿnh lấy được), đó đều là ngu si, vô minh.

Nếu hiểu thấu tất cả pháp đều không thể có được, năng và sở đều không thể đạt được th́ bạn sẽ giải thoát.  Dùng danh từ hiện nay để nói th́ ‘giải thoát’ tức là tâm lư không có ràng buộc, lo lắng, bận bịu, tâm của bạn được tự tại, buông xuống hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Lư do việc ǵ chúng ta cũng buông xuống không được chính là v́ ngu si chưa bị phá trừ, vẫn c̣n cho là ‘có năng đắc, có sở đắc’, trong tâm c̣n bị ràng buộc, c̣n lo âu cho nên sinh sống rất khổ sở, công phu tu học cũng không đắc lực.

Chư Phật Như lai ứng hóa trong thế gian, tất cả những việc làm, hành động đều là ‘Phật sự trong mộng, đạo tràng như bóng trăng dưới nước’.  Đạo tràng được xây dựng càng lớn, càng huy hoàng, người giác ngộ đều xem là hoa trong gương, ánh trăng dưới nước, không có chút ǵ chấp trước, keo tham, như vậy mới được đại tự tại, đó mới là sự hưởng thọ cao độ.  Trong sanh hoạt đối với tất cả người và vật nếu có những sự thọ dụng, tuyệt đối không được khống chế, đừng có tâm niệm chiếm lấy, như vậy mới sống một đời sống của Phật, Bồ Tát; sự khác biệt của phàm phu và Phật, Bồ Tát là ở chỗ này.  Phàm phu th́ mỗi tâm niệm đều muốn khống chế, điều khiển người khác, mỗi tâm niệm đều muốn chiếm lấy tất cả, cho nên trong tâm cứ lo được, lo mất, âu lo phiền năo vĩnh viễn không dứt, sống trong những ngày tháng như vậy rất khổ sở.

C̣n chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi nhất định viên măn hàm nhiếp ‘chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác’.  Bất cứ một điều trong năm chữ này đều chứa đựng bốn điều kia, như vậy mới là ‘một là tất cả, tất cả là một’.  Nếu tâm từ bi không thanh tịnh, không b́nh đẳng th́ đây là một trong bốn loại ‘ái duyên từ bi’ nói trong Phật pháp.  Đây là từ bi của phàm phu, vẫn c̣n khống chế, chiếm lấy, không có bỏ hết tất cả yêu cầu, đ̣i hỏi, đây không phải là đại từ đại bi.  ‘Ái duyên từ bi’ hướng lên trên là ‘chúng sanh duyên từ bi’, ‘pháp duyên từ bi’, lên nữa là ‘vô duyên từ bi’, đại từ đại bi tức là ‘vô duyên từ bi’.  Vô duyên tức là không điều kiện, không yêu cầu đ̣i hỏi, không có chiếm lấy, không có khống chế, đó là đại từ đại bi của chư Phật và Pháp Thân Đại Sĩ.  ‘Vô duyên từ bi’ có đầy đủ chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác.  Nếu chúng ta dùng tâm này để xử sự, đối đăi với người, tiếp xúc với sự vật, thế th́ trong lúc xử sự, đối người, tiếp vật đă chứng quả rồi.  Giống như ‘nhập đại giải thoát môn’ (vào cửa giải thoát to lớn) nói trong kinh Hoa Nghiêm, thế th́ thành Phật rồi.  Chữ đại ở đây cũng có nghĩa là Đại thừa, cửa giải thoát nhỏ là A La Hán, bậc thánh của Tiểu Thừa.

 

c. Đọc kinh nghe pháp quan trọng

Chúng ta là phàm phu, nghiệp chướng, tập khí, phiền năo vô cùng sâu nặng, rất khó đoạn dứt, chỉ có dùng phương pháp giác ngộ mới có thể đoạn dứt.  V́ vậy cho nên đọc kinh, nghe pháp vô cùng quan trọng, một ngày cũng không thể gián đoạn.  Chúng ta không phải là người có thượng căn, lợi trí (đầu óc lanh lợi bén nhạy), không thể chỉ lắng nghe, học tập trong một thời gian ngắn mà có thể khai ngộ.  Người trung và hạ căn muốn đạt được ích lợi ngay trong một đời, chỉ có phương pháp duy nhất là đọc kinh, nghe pháp, huân tu trong thời gian dài mới có thể khế nhập vào cảnh giới ‘nhập Phật pháp’ nói trong kinh Hoa Nghiêm.  Nhập Phật pháp tức là giác ngộ, đây là đạt được lợi ích chân thật.

 

d. Quản sự bận tâm

Tôi là một người phàm, là người căn tánh trung hạ, hôm nay có được chút đỉnh thành tựu này, có được chút đỉnh trí huệ này đều là do đọc kinh, giảng kinh hằng ngày trong suốt bốn mươi mấy năm qua.  Có một số đại đức cũng giảng kinh nhưng ngoài việc giảng kinh ra họ c̣n phải quản sự (quản lư sự việc); quản sự phải lo lắng, bận tâm, ít nhiều cũng gây ra chướng ngại cho ḿnh.  Duyên phần của tôi trong đời này rất thù thắng, cả đời ‘không quản lư người, không quản lư sự việc, không quản lư tiền bạc’, cho nên sự việc trong thế tục đối với tôi không gây chướng ngại, mới có được chút đỉnh thành tựu này, đây cũng là việc tôi hiện thân thuyết pháp làm gương cho mọi người.

Người như thế nào có thể quản lư sự việc?  Phải có tâm thanh tịnh.  Cho nên ngày xưa những vị quản sự trong chùa chiền, ṭng lâm đều là chư Phật, Bồ Tát ứng hóa tái lai.  Chúng ta không phải thánh nhân ứng hóa, chúng ta đích thực là phàm phu.  Nếu phàm phu đi làm việc tức là xả kỷ vị nhân (hy sinh ḿnh để phục vụ cho người khác) thế th́ cũng đáng được ngưỡng mộ, kính phục.  Tuy hy sinh định huệ của ḿnh để phục vụ đại chúng, nhưng nhất định phải giữ giới cho được thanh tịnh, đây mới là tu phước báo chân chánh.  [Giữ] giới thanh tịnh tức là chăm sóc phục vụ cho đại chúng đúng như lư, như pháp, không có tâm riêng tư, dùng tâm chân thành, lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ hết thảy đại chúng tu học đàng hoàng.

Hàn Quán Trưởng là hạng người này, bà không phải là Phật, Bồ Tát hóa thân đến, bà sáng lập xây dựng đạo tràng, thành tựu cho đại chúng, có ân đức rất lớn đối với chúng ta.  Chúng ta báo đáp cho bà được thể hiện [một cách trọn vẹn] lúc bà lâm chung, chúng ta tiễn đưa bà văng sanh, đây là báo ân một cách trọn vẹn, lớn lao.  Nhưng duyên như vầy rất khó được, không phải người nào cũng có duyên phần tốt như vậy, cơ hội tốt như vậy.  Nếu bà không văng sanh được th́ đời sau sẽ hưởng phước báo to lớn, làm quốc vương đại thần, trưởng giả cự phú.  Nhưng phước báo ở thế gian cho dù làm đến Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương th́ vẫn c̣n ở trong ṿng lục đạo luân hồi, thoát không khỏi tam giới, cho nên phước báo như vậy chẳng rốt ráo viên măn.  Ngày nay chúng ta hiểu rơ ràng minh bạch th́ chỉ có văng sanh bất thoái thành Phật mới là chân thực [rốt ráo, viên măn].


 

d. Học sống qua ngày

Tu học tức là học làm thế nào sống qua ngày, biết làm thế nào đối với ḿnh, đối với người.  Đối với ḿnh tuyệt đối phải thanh tịnh, từ bi, chuyên tu chuyên hoằng; đối với người nhất định phải chân thành, thanh tịnh, từ bi, phải làm được vô duyên [từ bi], không có điều kiện.  Nhất định đừng có tâm niệm khống chế [bắt buộc người ta luôn luôn phải làm theo ư của ḿnh], đừng giữ tâm niệm chiếm lấy, đối với tất cả mọi người, mọi sự, mọi vật, phải buông bỏ hết tất cả yêu cầu, đ̣i hỏi, đây là trí huệ, đây là công đức, sánh với phước đức c̣n thù thắng hơn nhiều.  Hy vọng mọi người đều khích lệ khuyến tấn lẫn nhau, y giáo phụng hành.

 

B. LUẬN SỰ TỬ SANH TRỌNG ĐẠI

 

1.  Tử sanh đại sự  (Buổi sáng 20-12-98)

Lần trước chúng ta thăm viếng giáo hội đạo Islam (Hồi Giáo) có được tiếng vang rất tốt.  Từ đó có thể thấy xă hội đại chúng chẳng phân chủng tộc, biên giới quốc gia, chẳng phân tôn giáo tín ngưỡng, mọi người đều hy vọng xă hội an định phồn vinh, thế giới ḥa b́nh.  Việc này ấn chứng cho sự suy nghĩ và cách làm của chúng ta là chính xác.  Cho nên phải nỗ lực tinh tấn thêm, làm cho văn hóa đa nguyên kính trọng lẫn nhau, kính ái lẫn nhau, giúp đỡ hợp tác, nỗ lực đẩy mạnh sự nghiệp cùng tồn cùng vinh này.

Chuyện này là Phật sự, Phật sự là sự nghiệp giác ngộ chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui.  Việc chúng ta làm chính là giúp đỡ chúng sanh mở rộng tâm lượng, thương ḿnh th́ càng thương người; thương gia đ́nh ḿnh th́ càng yêu thương xă hội, tiêu trừ hết thảy những sự hiểu lầm, mâu thuẫn, xung đột để cùng nhau đạt đến mục tiêu ḥa b́nh.  Chúng ta đẩy mạnh chuyện này nhất định phải dựa căn bản trên ‘tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi’, đây mới là Phật sự, mới là sự nghiệp của Bồ Tát.

Đối với bản thân của chúng ta nhất định phải có sự cảnh giác cao độ.  Hàn Quán Trưởng từ lúc sanh bịnh đến lúc văng sanh đều tỉnh táo, việc này rất khó được.  Bà hiện thân thuyết pháp và nói cho chúng ta biết một người lúc lâm chung ngay cả trở ḿnh [nằm lật qua tư thế khác] cũng chẳng làm nổi, cũng cần phải có người giúp đỡ.  Chuyện này làm tôi nghĩ đến [cho dù] người trong thế gian có phước báo lớn hơn, quyền lực lớn hơn th́ lúc lâm chung vẫn phải chịu sự sắp đặt của người khác, chẳng có cách nào ĺa khỏi hoàn cảnh nguy hiểm này.  Phật dạy chúng ta lúc bấy giờ là thời khắc quan trọng nhất của một đời người, quan hệ đến đời sau sẽ sanh vào chốn nào.

Duyên của Hàn Quán Trưởng thù thắng, được ba mươi mấy vị xuất gia dùng tâm chân thành, thanh tịnh niệm Phật giúp cho bà, bảo vệ bà, cho nên từ lúc bà sanh bịnh đến lúc văng sanh chúng tôi nh́n thấy được rất nhiều tướng lành.  Thứ nhất, kinh Địa Tạng nói lúc người ta lâm chung sẽ nh́n thấy những thân bằng quyến thuộc đă qua đời, những người này chẳng phải là bà con thiệt mà là những oan gia chủ nợ của ḿnh biến ra quyến thuộc để dụ dỗ, trả thù ḿnh.  Chuyện này xảy ra rất nhiều.  Từ lúc Hàn Quán Trưởng sanh bịnh đến văng sanh chẳng có hiện tượng này, đây là nhờ chúng tôi bảo vệ được hiệu quả.  Thứ hai, bà nh́n thấy đức Phật A Di Đà hai lần, nh́n thấy Liên Tŕ hải hội một lần nên bà khẳng định đă văng sanh Tịnh Độ.  Sự thị hiện của bà cảnh giác chúng ta, bà có phước báo nên lúc lâm chung được nhiều người có niềm tin chân chánh, chăm sóc đúng lư đúng pháp, đây là quả báo bà có được sau ba mươi năm hộ tŕ chánh pháp.  Sau này mỗi lần giảng kinh tôi đều hồi hướng cho bà, tôi luôn luôn ghi nhớ chẳng quên sự giúp đỡ của bà lúc trước, ân đức của bà giúp cho tôi thành tựu.

Chúng ta quay lại thử nghĩ về ḿnh, ngày này chắc chắn sẽ đến, lúc đó nếu ḿnh không có phước báo, duyên phận như bà th́ phải làm sao đây?  Đây là việc quan trọng nhất trong đời của ḿnh, chẳng thể không chuẩn bị trước.  Từ xưa đến nay có không ít người niệm Phật thị hiện cho chúng ta, thị hiện lúc lâm chung chẳng có bịnh khổ cho chúng ta xem, chẳng cần phải nhờ người khác chăm sóc, dự biết thời giờ ra đi, tự tại văng sanh.  Chúng ta nhất định phải đi theo con đường này th́ mới đáng tin cậy, mới chắc ăn.

Cuốn ‘Ảnh Trần Hồi Kư Lục’ ghi pháp sư Đế Nhàn có người đệ tử niệm Phật văng sanh, vị này trước khi xuất gia làm thợ vá nồi.  Người này cả đời sinh sống vô cùng khốn khổ, trung niên xuất gia, chẳng biết chữ, và cũng chưa được nghe giảng kinh, việc ǵ cũng chẳng biết.  Pháp sư Đế Nhàn chỉ dạy cho ông niệm một câu ‘Nam Mô A Di Đà Phật’ và nói với ông: ‘Ông cứ niệm riết câu này, niệm mệt th́ nghỉ, hết mệt th́ niệm tiếp tục, tương lai chắc chắn sẽ có lợi ích ’.  Ông này là người nhà quê, thật thà chất phác, chẳng có vọng tưởng tạp niệm, chịu nghe lời dạy và niệm tới cùng.  Ông niệm được ba bốn năm th́ thành công.  Chẳng có bịnh khổ, dự biết trước giờ ra đi, sau khi văng sanh c̣n đứng ba ngày chờ pháp sư Đế Nhàn đến để lo hậu sự cho ông.  Cụ Đế khen ông và nói: ‘Kể ra th́ ông chẳng uổng phí đă một phen xuất gia, ông làm được như vậy ngay cả những đại ḥa thượng, phương trượng trụ tŕ, đại pháp sư giảng kinh thuyết pháp đều chẳng sánh bằng ông’, đây là sự thật.

Tại Đài Bắc Liên Hữu Niệm Phật Đoàn, Đài Loan, cư sĩ Lư Tế Hoa văng sanh cũng là tấm gương tốt cho chúng ta.  Lư cư sĩ dự biết trước giờ văng sanh, trước lúc văng sanh đă khẩn thiết khai thị cho mọi người trong pháp hội, nói xong th́ chào biệt mọi người và nói: ‘Tôi sẽ về nhà’.  Thính chúng cứ tưởng là ông mệt rồi nên muốn về nhà nghỉ ngơi, đâu ngờ ông ngồi trên ghế dài trong pḥng khách Liên Hữu Niệm Phật Đoàn, ngồi được một chút th́ văng sanh.

Đây là hai chuyện thật, một vị là người xuất gia, vị kia là người tại gia, họ đă làm được th́ chúng ta cũng có thể làm được, chúng ta phải học theo.  Chỉ có dùng phương thức này mới thiệt là an toàn, chẳng phải nhờ người khác sắp đặt, lúc người ta sắp đặt nếu duyên chẳng tốt đẹp th́ nhất định sẽ bị nạn.

Sau khi hiểu rơ chân tướng sự thật th́ phải nghĩ xem những ǵ gây chướng ngại cho chúng ta, san bằng những chướng ngại này th́ chúng ta cũng có thể sanh tử tự tại.  Có thể làm được việc này tức là việc mà trong Phật pháp gọi là: ‘chuyện cần làm đă làm xong’ (sở tác dĩ biện), những chuyện ǵ ḿnh cần làm đều đă làm xong xuôi, sau đó mới yên tâm đi làm những chuyện lợi ích cho chúng sanh.  Nếu chuyện của ḿnh làm chưa xong, có thể hy sinh ḿnh giúp cho người th́ cũng là một chuyện tốt, nhưng những ǵ ḿnh làm lúc bấy giờ đều là phước báo, vẫn chẳng thể thoát ra khỏi lục đạo.  Nếu ‘chuyện cần làm đă làm xong’ tức là nhất định đă nắm chắc việc văng sanh, th́ làm các sự việc giúp đỡ hết thảy chúng sanh mới là công đức chân thật, chẳng phải thọ báo trong tam giới.  Cho nên nhất định phải nhắc nhở chính ḿnh, bất luận là giờ nào chốn nào, trong bất cứ trạng huống nào tự ḿnh phải nắm chắc văng sanh được, tránh hết tất cả đau khổ, tất cả những dày ṿ do người tạo nên.  Nếu muốn làm được điểm này th́ nhất định phải ‘nh́n thấu, buông xuống’.

Địa Tạng Kinh Khoa Chú Luân Quán nói: ‘Một niệm tự tánh, thể vốn trạm tịch’ [40].  Nếu thật sự niệm niệm đều tương ứng với tánh thể trạm tịch, hết thảy tác dụng có thể tương ứng với tâm tánh, th́ mới nắm chắc việc văng sanh.  Lục Tổ Huệ Năng đại sư nói c̣n rơ hơn nữa: ‘Vốn là chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần’[41], hai câu này nói về tâm thanh tịnh và tâm b́nh đẳng.  Tâm thanh tịnh chẳng nhiễm, tâm địa thanh tịnh chẳng vướng bận, trong tâm ‘vốn chẳng có một vật’.  Dùng tâm thanh tịnh nhất tâm niệm Phật th́ việc này có thể làm được.

Nhất định phải hiểu rơ hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều là giả hết, thân thể của chúng ta cũng giả.  ‘Mượn giả để tu chân’, văng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới là chân, trừ việc này ra th́ hết thảy đều là giả, chúng ta phải nhận thức rơ ràng.

Hiện nay tai nạn dồn dập, chúng ta phải tu nhanh lên, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện, dùng tâm thanh tịnh niệm Phật.  Buông xuống vạn duyên là đoạn hết thảy ác, dùng tâm thanh tịnh để niệm Phật là tu hết thảy thiện.  Tự ḿnh nắm chắc có thể văng sanh rồi mới dốc toàn tâm toàn lực khuyên người khác, thị hiện cho người khác làm tấm gương tốt, đó là việc thiện nhất trong những việc thiện, chẳng có việc thiện nào lớn hơn việc này.  Không chỉ có người học Phật nh́n thấy làm cho họ phát tâm muốn xuất ly; trong văn hóa đa nguyên những người chưa có dịp tiếp xúc với Phật pháp nh́n thấy cũng sẽ động tâm, cũng sẽ quay lại hết ḷng học tập, đây là chuyện nhà Phật thường gọi là ‘phổ độ chúng sanh’.  Hy vọng chúng ta khuyến khích lẫn nhau, hết ḷng nỗ lực làm cho bằng được.

 

2.  Kể chuyện văng sanh     (Buổi sáng 22-12-98)

Mọi người ở đây kết thất niệm Phật cần phải hiểu rơ ư nghĩa của việc kết thất niệm Phật.  Trong bảy ngày này chúng ta hy vọng đạt được kết quả ǵ th́ bảy ngày này mới chẳng luống uổng.

     Chúng ta sinh sống trong thời đại hiện nay, nếu có trí huệ th́ nhất định sẽ có cảnh giác cao độ.  Con người sống trong thế gian bất quá chỉ được mấy chục năm ngắn ngủi, búng ngón tay th́ đă trôi qua mất rồi, b́nh tĩnh quan sát mới biết đó chỉ là một con số không [to tướng], đây là sự thật.  Sự hạnh phúc quư báu nhất của người ta trong đời là không tạo ác nghiệp.  Nếu có thể không tạo ác nghiệp, tương lai nhất định sẽ sanh vào cơi lành, cơi tốt đẹp.

     Người xưa nhắc nhở người tu hành như chúng ta cần phải có ‘tiền hậu nhăn’.  Tiền hậu nhăn nghĩa là biết quá khứ, nh́n thấy tương lai, không chỉ tập trung ở hiện tại.  Điểm này vô cùng quan trọng.

     Lúc Hàn Quán trưởng văng sanh đă cho chúng ta rất nhiều bài học, nhắc nhở chúng ta ‘tử sanh sự đại’ (việc sanh tử vô cùng quan trọng).  Chúng ta cần phải có cảnh giác cao độ, đến lúc lâm chung tự ḿnh phải làm chủ được ḿnh, được như vậy th́ tiền đồ mới xán lạn.  Nếu lúc lâm chung tự ḿnh không làm chủ được, phải chịu sự sắp xếp của người khác, cho dù có rất nhiều người lo lắng chăm sóc, nhưng những ǵ ḿnh cảm xúc chưa chắc sẽ được toại ư.  Đời sau đi về đâu đều quyết định ở một niệm cuối cùng.  Một niệm cuối cùng là tham, sân, si th́ sẽ đi vào ác đạo.  Chuyện này dễ sợ vô cùng!

     Hàn Quán trưởng có phước báo, từ lúc sanh bịnh đến lúc văng sanh được ba mươi mấy vị xuất gia có tâm địa thanh tịnh, suốt ngày đêm ở bên giường bịnh niệm Phật và chăm sóc; sau khi văng sanh [họ trợ] niệm suốt bốn mươi chín ngày đêm không ngừng, ngay cả những vị xuất gia, đại pháp sư cũng không làm được việc này.  Ngay cả lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam ở Đài Trung cũng sánh không bằng, lúc thầy Lư sanh bịnh chỉ là do vài người học tṛ chăm sóc, không có nhiều người xuất gia đắp y đầy đủ oai nghi giúp đỡ.  Phước báo này là một nhân duyên hiếm hoi!  Đây là quả báo của bà đă hộ tŕ chánh pháp suốt ba mươi năm, cho nên bà có thể văng sanh Tịnh Độ một cách vô cùng thuận lợi -- trợ duyên quá thù thắng, tốt đẹp!

     Suy nghĩ trở lại, tương lai lúc chúng ta văng sanh có được duyên phận thù thắng như vậy hay không?  Điều này chúng ta cần phải cảnh giác đến, đây thiệt là một việc lớn lao nhất trong đời này.  Trong trường hợp và hoàn cảnh hiện tại, phương pháp [an toàn nhất] là tự ḿnh phải nhất quyết tu học cho được thành tựu, không cần nhờ người khác, lúc văng sanh không bị bịnh khổ, dự biết trước thời giờ ra đi, đứng văng sanh, ngồi văng sanh, nằm văng sanh, tùy ư muốn của ḿnh, đây là sanh tử tự tại, được vậy chúng ta mới không bỏ uổng đời này.  Mọi người tham dự Phật thất niệm Phật phải hiểu rơ, nắm chắc tông chỉ này, chúng ta đến đây là để huấn luyện thêm, học tập để tương lai tự tại văng sanh.

Trong quyển Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện có ghi rất nhiều người tự tại văng sanh, số người không được ghi chép lại c̣n nhiều hơn.  Gần đây trong quyển Niệm Phật Luận của lăo pháp sư Đàm Hư, Ngài nói đă chứng kiến tận mắt hơn hai mươi mấy người văng sanh, [số người văng sanh] nghe nói đến c̣n nhiều hơn.  Trong quyển Niệm Phật Luận, Ngài thuật lại bốn chuyện văng sanh, trong đó người xuất gia có pháp sư Tu Vô ở chùa Cực Lạc, Harbin (miền Đông Bắc Trung Quốc), người tại gia có cư sĩ Trịnh Tích Tân và người em của ông, người thứ tư là cư sĩ họ Trương ở chùa Trạm Sơn.

Pháp sư Tu Vô là một người cực khổ cả đời và mù chữ; trong pháp hội truyền giới ở chùa Cực Lạc thầy phát tâm giúp đỡ săn sóc cho người bịnh.  Pháp hội truyền giới c̣n chưa kết thúc, thầy Tu Vô dự biết trước thời giờ đă đến, niệm Phật văng sanh.  Trước lúc văng sanh ngài nhắc nhở đại chúng ‘có thể nói mà không thể làm th́ chẳng phải trí huệ chơn thật’.

Cư sĩ Trịnh Tích Tân là một người làm ăn buôn bán, được dịp nghe lăo pháp sư Đàm Hư thuyết pháp nên rất vui vẻ, tán thán.  Sau này nghỉ buôn bán, học giảng kinh Di Đà, ông đi đến nhiều nơi giảng kinh và khuyên người niệm Phật.  Ông không sanh bịnh, ngồi mà văng sanh.  Một hôm sau khi giảng kinh xong ông nói với đại chúng: ‘Tôi phải đi đây’, thật là siêu thoát!  Thật là tự tại!  Người em của ông lúc trước cứ cho rằng ông học Phật quá mê lầm, sau khi nh́n thấy ông tự tại văng sanh nên tỉnh ngộ và cũng siêng năng, thật thà niệm Phật.  Ba năm sau người em của ông cũng văng sanh, lúc văng sanh mang bịnh nhẹ.

Gia đ́nh cư sĩ Trương ở chùa Trạm sơn vô cùng nghèo túng, chồng bà làm nghề kéo xe chở khách.  Bà làm công quả trong những pháp hội niệm Phật ở chùa Trạm Sơn, cả ngày từ sáng đến tối Phật hiệu không gián đoạn.  Bà dự biết trước ngày giờ văng sanh, hôm đó bà dặn ḍ chồng phải chăm sóc cho con xong rồi an nhiên ngồi trên giường mà văng sanh.  Đây là tấm gương tốt cho những người học Phật chúng ta, không cần phải nhờ cậy người khác giúp đỡ, tự ḿnh thiệt nắm chắc [có thể tự tại văng sanh].

Ngoài ra cụ Đàm [Hư] c̣n kể chuyện một học tṛ của lăo pháp sư Đế Nhàn, ông này là thợ vá nồi và không biết chữ.  [Người này là bạn chơi thân với lăo pháp sư lúc nhỏ, đến xin xuất gia v́ đời sống quá cực khổ, muốn t́m lối thoát.  Sau khi cho ông xuất gia], cụ Đế [Nhàn] dạy ông đến một ngôi miếu đổ nát ở miền quê gần Ôn Châu, t́m vài người hộ pháp săn sóc [việc ăn uống] cho ông.  Cụ Đế chỉ dạy cho ông niệm một câu ‘A Di Đà Phật’, dạy ông thật thà niệm câu Phật hiệu này, niệm đến mệt th́ nghỉ, nghỉ ngơi xong th́ niệm tiếp tục.  Ông niệm trong ṿng ba đến bốn năm th́ thành công; ông đứng mà văng sanh, c̣n đứng ba ngày sau khi văng sanh [để đợi lăo pháp sư Đế Nhàn đến lo hậu sự].  Thật là vô cùng tự tại!  Cụ Đế khen ông: ‘So với những đại pháp sư giảng kinh thuyết pháp, những vị phương trượng trụ tŕ, [sự thành tựu của] ông vượt trỗi hơn họ quá nhiều, quá nhiều!’

Phẩm vị văng sanh của những người này không phải ở Trung phẩm, Hạ phẩm mà là ‘Thượng phẩm văng sanh’ nói trong kinh Vô Lượng Thọ.  Họ có thể làm được là v́ họ đă buông xả danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần.  Ngày nay chúng ta làm không nổi là v́ buông xả chẳng nổi những sự quyến rũ, khó là khó ở chỗ này.  Nên biết danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần đều là giả hết, đă hại chúng ta đời đời kiếp kiếp kẹt măi trong lục đạo luân hồi, đọa lạc trong ác đạo chịu hết bao nhiêu khổ nạn.

Cho nên mới nói người đời nay ‘ngu si’, không những không hiểu rơ chân tướng của vũ trụ nhân sinh, mà c̣n không có khả năng phân biệt những thứ tà chánh, thiện ác, lợi hại.  Không biết tự tư tự lợi, danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần tai hại vô cùng; chỉ có buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật là việc thiện lớn nhất.  Đây là lời kinh dạy: ‘Đoạn dứt tất cả điều ác, tu tất cả điều thiện’, chúng ta phải hiểu rơ ư nghĩa chân chánh của nó.

Trong đời này mỗi vị đồng tu có thể đạt được sự thành tựu thù thắng nhất hay không?  Có thể.  Thiện Đạo đại sư nói: ‘Chín phẩm văng sanh đều là do gặp duyên chẳng đồng’.  Chúng ta đă gặp được nhân duyên thù thắng, gặp được Phật pháp Đại thừa, gặp được Tịnh Tông, gặp được bản hội tập của kinh Vô Lượng Thọ, gặp được đồng tham đạo hữu tốt, nếu trong đời này không thể thành tựu th́ đó là v́ tập khí phiền năo của ḿnh quá nặng, cứ mỗi ngày tạo nghiệp như cũ.

Khi khởi tâm động niệm đều v́ ḿnh là tạo nghiệp.  Ngôn ngữ gây tổn hại cho người khác, thị phi nhân ngă đều là khẩu nghiệp.  Trong kinh Vô Lượng Thọ nói đến tam nghiệp, đặt khẩu nghiệp ở hàng đầu: ‘khéo giữ ǵn khẩu nghiệp, đừng chê bai lỗi của người khác’ tức là cảnh giác chúng ta khẩu nghiệp quan trọng nhất, dễ phạm nhất.  Nh́n thấy chúng sanh có lỗi lầm đều không thể nói đến; nếu [người ta] không có lỗi mà ḿnh đặt chuyện, và c̣n hoài nghi người ta có lỗi th́ tội nghiệp này c̣n nặng hơn.

Người tu học c̣n chịu ảnh hưởng của phiền năo tập khí [tích lũy] từ vô lượng kiếp đến nay nên thoái chuyển rất dễ dàng, tinh tấn rất khó khăn.  Thế nên những vị đại đức, tổ sư ngày xưa đề xướng tu tập chung, kết Phật thất để cùng nhau niệm Phật, nương vào đại chúng để tu tập, đó là đạo lư của việc tu tập chung.

         Niệm Phật Đường ở Tân Gia Ba càng ngày càng thù thắng, từ mồng một tháng Giêng đến 30 tháng Chạp (tháng 12), mỗi ngày niệm Phật 24 giờ đồng hồ không gián đoạn, đây là Phật thất [kéo dài] quanh năm.  Giảng đường mỗi ngày giảng kinh hai giờ, 365 ngày trong năm không gián đoạn, thiệt đúng là giải và hành đều quan trọng như nhau, đều cùng nhau tu Định và Huệ.  Lăo ḥa thượng Tịch Độ ở Ngũ Đài Sơn, lăo ḥa thượng Nhân Đức ở Cửu Hoa Sơn, lăo ḥa thượng Mính Sơn ở chùa Định Huệ, Tiêu Sơn, Trung Quốc, đều tán thán đạo tràng này là ‘đạo tràng hạng nhất trên thế giới’.


Mọi người ở Cư Sĩ Lâm từ trên xuống dưới đều ḥa thuận, ai cũng thường nở nụ cười tươi, chúng ta ở đây có thể nh́n thấy việc ‘thường sanh tâm hoan hỷ’ nói trong kinh.  Hy vọng mọi người có cơ hội đến Tân Gia Ba tham học, đem phương pháp tu học ở đây phổ biến đến khắp nơi trên thế giới, để mọi nơi đều có thể xây dựng đạo tràng như vậy.  Chúng ta nỗ lực hết ḷng tu học, không những tự ḿnh trong đời này nhất quyết văng sanh, chúng ta c̣n có thể đem lại sự an định cho xă hội, ḥa b́nh cho thế giới, đây là công đức chân thật, tự hành hóa tha nói trong nhà Phật.  Hy vọng mọi người hăy siêng năng tinh tấn niệm Phật.

 

C. KHUYÊN TIN SÂU NHÂN QUẢ

 

1.    Chư Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng sanh đang bị khổ nạn như thế nào. (Buổi sáng 14-11-98)

Những năm gần đây, tai nạn ngày càng nhiều, đời sống chúng sanh ngày càng khổ, từ đây trở về sau sẽ càng nghiêm trọng hơn.  Có người hỏi tôi: ‘Phật, Bồ Tát đại từ đại bi làm sao đến cứu độ hết thảy chúng sanh khổ nạn?’.  Những lời nói này chẳng sai nhưng ư nghĩa chân chánh trong đó hoàn toàn bị hiểu sai.  Chư Phật, Bồ Tát từ bi cứu độ, chẳng phải nói chúng sanh thiếu thốn đồ ăn, quần áo, Phật liền tặng lương thực, cho quần áo.  Phật giúp đỡ chúng sanh phá mê khai ngộ, làm cho chúng sanh hiểu rơ nguyên nhân của tai nạn, sau đó tiêu trừ nguyên nhân ấy, vậy th́ quả báo tai nạn sẽ tiêu trừ, đó mới là chân chánh cứu độ chúng sanh.  Muốn được hạnh phúc mỹ măn, tự tại khoái lạc, những thứ này đều là quả báo, quả nhất định phải có nhân; Phật, Bồ Tát dạy chúng ta tu nhân, tu nhân thiện nhất định được quả thiện, ấy mới là đạo lư đúng đắn, cứu độ thực sự.

Ḷng từ bi của Thế Tôn được biểu hiện trong cả đời của Ngài.  Phật là Phước Huệ Nhị Túc Tôn, nghĩa là cả phước báo lẫn trí huệ đều viên măn.  Phước báo đă viên măn th́ tại sao chẳng thị hiện hưởng phước?  Kinh Vô Lượng Thọ giảng người có phước báo lớn nhất trên thế gian này là Đại Phạm Thiên Vương, nhưng phước báo của Đại Phạm Thiên Vương c̣n chẳng sánh bằng phước báo của người văng sanh về Cực Lạc hạ hạ phẩm.  Từ đó chúng ta mới hiểu phước báo của Phật đích thật là chẳng ai trong thế gian và xuất thế gian có thể sánh bằng.  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện ba chiếc y, một b́nh bát, ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây, đây là sự thị hiện đại từ đại bi.  Người giàu sang trong thế gian ít ỏi, người nghèo khổ nhiều, nếu Phật thị hiện thân phận người phú quư th́ người nghèo khổ nh́n thấy Phật chỉ có ngưỡng mộ nhưng chẳng dám đến gần.  Phật thị hiện bần tiện đến cùng cực, người bần tiện nh́n thấy Phật giống y như ḿnh th́ sẽ cảm thấy rất thân thiết nên tâm sẽ b́nh.  Đây là sự đại từ đại bi của Phật, chúng ta phải thể hội điểm này.

Nếu những người học Phật đều giàu sang, cao quư, chỗ ở đều giống hoàng cung, khi ra đường đều ngồi xe sang trọng, mắc tiền th́ những người nghèo khổ nh́n thấy sẽ nghĩ ra sao?  Đặc biệt là tiền tài, sự hưởng thụ của người xuất gia là do mười phương cúng dường, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành Phật cũng chẳng hưởng thụ như vậy.  Cả đời đức Phật chẳng cầu người ta, mỗi ngày tŕ bát khất thực th́ cũng chỉ đi trong ṿng bảy nhà mà thôi, nếu đi cả bảy nhà không được hoặc chẳng đủ th́ ngày hôm đó sẽ nhịn đói một ngày; khi khất thực nhà thứ nhất mà đủ rồi th́ sẽ chẳng đi xin ở nhà thứ hai.  Sự thị hiện này là nhằm dạy chúng ta phải biết đủ, thường vui, bịnh căn của người thế gian là chẳng biết đủ nên mới chiêu cảm đến vô lượng vô biên họa hại.

Học Phật tức là học tập theo Phật, bất luận là thân phận ǵ, bất luận làm ngành nghề ǵ, đều phải học tập tinh thần, quan niệm, từ bi của Phật, vả lại phải thực hiện trong đời sống.  Sanh hoạt của chính ḿnh phải giản dị, chất phác, phải biết đủ, có dư phải chia xẻ với hết thảy chúng sanh cùng hưởng, đây là chỗ khác nhau giữa quan niệm của chư Phật, Bồ Tát và người thế gian; Phật, Bồ Tát có phước th́ mọi người cùng hưởng, phàm phu có phước th́ một ḿnh hưởng, chẳng chịu phân chia cho người.  Phật chẳng những chỉ dùng ngôn ngữ dạy dỗ chúng sanh, Ngài nói được làm được.  Ngài thực sự nh́n thấu, nh́n thấu nghĩa là thông suốt hết tất cả lư sự, nhân quả trong thế gian và xuất thế gian.  Ngài thực sự nh́n thấu, chẳng quyến luyến bất cứ một pháp nào trong thế gian và xuất thế gian, danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần chẳng tiêm nhiễm một tí nào hết.  Hiện nay có rất nhiều đồng tu cảm thấy nghiệp chướng của ḿnh nặng nề, tai nạn quá nhiều, họ làm thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải tai nạn, thực ra đó chính là sự thị hiện trong suốt cả đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Nếu chúng ta học được rồi, lợi ích vô lượng vô biên, chẳng những tai nạn trước mắt có thể tiêu trừ, nghiệp chướng tập khí từ vô thỉ cũng có thể đoạn dứt.

Do đó có thể biết chúng ta học Phật đích thật là quá sơ ư.  Phật pháp chẳng có bí mật, bày trước mắt chúng ta vô cùng rơ ràng, nhưng chúng ta nh́n không thấy, và cũng chẳng cảm được, đây là v́ chúng ta nghiệp chướng sâu nặng.  Mặc dù chúng ta đọc kinh, nghe kinh nhưng vẫn chẳng hiểu ư nghĩa trong kinh, chẳng thể thực hiện những lời dạy này và áp dụng vào trong đời sống hiện thực hằng ngày, cho nên chẳng đạt được lợi ích chân thật.  Chúng ta chẳng thể trách Phật, Bồ Tát chẳng từ bi, chẳng thể trách Phật, Bồ Tát không giúp đỡ chúng ta; Phật, Bồ Tát thực sự có giúp đỡ nhưng chúng ta chẳng thể hội được, lại c̣n đánh mất cơ hội nhân duyên, lỗi này là ở tại chúng ta.  Thế nên tự ḿnh phải phản tỉnh, phải sám hối, phải học tập từ trong sự phản tỉnh và sám hối.

Khắc phục phiền năo và tập khí của ḿnh chính là tiêu nghiệp chướng.  Phương pháp khắc phục rất nhiều, nhà Phật thường nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, pháp là phương pháp, môn là cửa vào; cánh cửa khắc phục phiền năo và tiêu trừ nghiệp chướng th́ vô lượng vô biên.  Trong vô lượng pháp môn này đức Thế Tôn nói với chúng ta Pháp Môn Niệm Phật là phương tiện nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, có hiệu quả nhất.  Nhất định phải hiểu lư luận của sự niệm Phật th́ sẽ chẳng hoài nghi, Phật hiệu có thể niệm đến có hiệu quả, có sức mạnh; sức mạnh tức là có thể tiêu trừ nghiệp chướng, đoạn phiền năo.  Niệm Phật có thể tiêu trừ nghiệp chướng, đoạn phiền năo hay không then chốt ở chỗ niệm đúng như pháp hay không, biết cách niệm hay không.  Người biết niệm đúng như lư như pháp th́ hiệu quả sẽ vô cùng thù thắng.

Bởi vậy chẳng những phải hiểu ư kinh mà c̣n phải ‘thâm giải nghĩa thú’, v́ hiểu kinh giáo càng sâu, càng triệt để, th́ ḷng tin càng kiên định, ḷng tin có thể chuyển cảnh giới.  Kinh Kim Cang nói: ‘Tín tâm thanh tịnh ắt sanh thật tướng’.  Khi tín tâm thật sự thanh tịnh th́ có thể chuyển thập pháp giới thành Nhất Chân pháp giới, Nhất Chân pháp giới chính là thật tướng.  Có thể chuyển biến thập pháp giới thành Nhất Chân pháp giới chính là ‘cảnh chuyển tùy theo tâm’.  Thế nên Phật cứu độ hết thảy chúng sanh bằng cách dạy cho họ tự chuyển cảnh giới, v́ cảnh giới là do chính ḿnh tạo thành nên chỉ có ḿnh có thể giải quyết, bất cứ người nào khác cũng chẳng giúp được ǵ cả, chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng giúp được.  Trong kinh Lăng Nghiêm [có ghi] khi tôn giả A Nan bị nạn, Phật cũng chẳng thể giúp ngài, Phật chỉ nói rơ tiền nhân hậu quả của sự gặp nạn này, sau đó dạy ngài làm sao hóa giải tai nạn, việc này vẫn phải do chính ngài hóa giải.  Tự ḿnh thông đạt hiểu rơ, chuyển tâm hạnh trở lại, tai nạn liền được tiêu trừ, cảnh giới liền chuyển biến.

Khởi một tâm niệm ác, cảnh giới thiện liền biến thành cảnh giới ác; khởi một tâm niệm thiện, cảnh giới ác liền biến thành cảnh giới thiện, rơ ràng nhất là thập pháp giới.  Khởi một tâm niệm b́nh đẳng th́ pháp giới Phật hiện tiền; khởi một tâm niệm Lục Độ th́ pháp giới Bồ Tát hiện tiền; khởi một tâm niệm tham sân, một niệm thập ác, hoàn cảnh sinh hoạt sẽ là ngũ trược ác thế; khởi một tâm niệm thanh tịnh th́ sẽ là thanh thái an ổn, chính là Cực Lạc thế giới.  Phật thường nói: ‘Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng, v́ tướng là hư vọng nên tâm niệm mới có thể chuyển cảnh giới, vả lại sự hư vọng này giống như ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’.  Cho nên Phật nói: ‘Các thứ tâm sanh [nên] các thứ pháp sanh; các thứ pháp sanh, các thứ tâm sanh’[42], câu này nói rơ chân tướng của vũ trụ nhân sanh.  Lại nói: ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, chân chánh có thể lư giải triệt để đạo lư này th́ sẽ biết tâm chúng ta tưởng như thế nào th́ hoàn cảnh thế giới sẽ biến đổi như thế ấy; hoàn cảnh lớn sẽ thay đổi, hoàn cảnh nhỏ cũng sẽ thay đổi; dung mạo của chúng ta cũng sẽ thay đổi, thể chất sẽ thay đổi, tất cả hoàn cảnh sanh hoạt sẽ đều thay đổi, đây tức là ‘cảnh chuyển theo tâm’.  Cho nên chẳng có cảnh giới nào không thể thay đổi, không thể thay đổi là v́ chẳng thấu triệt lư luận, chẳng rơ phương pháp, thêm vào chẳng có nhẫn nại nên không được hiệu quả; nếu làm đúng như lư như pháp th́ làm sao có chuyện không thay đổi được?

Chỗ thù thắng vi diệu của Phật pháp là hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian không thể nào so sánh nổi.  Đời này chúng ta may mắn được thân người, được nghe Phật pháp, nếu có thể hiểu một chút nghĩa lư, nghĩa thú thậm thâm [vi diệu] này th́ thiệt là rất hy hữu, rất khó được.  Cho nên chúng ta phải nỗ lực hết ḷng hết sức để tu học.  Tu học tức là thực hành, làm ra h́nh dáng cho hết thảy chúng sanh nh́n thấy, đây là thực sự giúp đỡ hết thảy chúng sanh giác ngộ.  H́nh dáng là chiêu bài (bảng hiệu), chiêu bài tốt làm cho người ta thấy liền sanh hoan hỷ.  Tướng hảo của Phật chẳng ai có thể sánh bằng nên khi Phật thuyết pháp chúng sanh tin tưởng.  Chỉ cần tu học y theo lời dạy của Phật th́ sẽ đạt được tự tại, viên măn giống như đức Phật, đây chính là hiện thân thuyết pháp.

 

2.    Nói về nhân quả và chuyển cảnh giới

(Buổi sáng 16-11-98)

 

a. Nói về nhân quả:

Sự nghiệp làm ăn của cư sĩ họ Thôi ở vùng Đông Bắc rất thành công, lúc kinh tế suy thoái mà tiền tài vẫn tiếp tục tăng trưởng không ngừng, rất nhiều người chẳng hiểu được nhân tố này.  Nếu khế nhập kinh tạng đôi chút th́ sẽ hiểu rơ, hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều chẳng vượt ra ngoài định luật nhân quả.  Nhà Phật nói: ‘pháp duyên sanh’, chẳng những thập pháp giới đều là pháp do nhân duyên sanh, Phật pháp cũng là pháp do nhân duyên sanh.  Thế nên kinh Kim Cang nói: ‘Pháp c̣n phải xả, hà huống là phi pháp’, ngay cả Phật pháp cũng chẳng được chấp trước.  Phàm những pháp do nhân duyên sanh đều chẳng có tự tánh, đúng là ‘Thể ngay lúc đó là không, trọn chẳng thể được[43], đây là chân tướng sự thật.

‘Vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không’, tại sao nhân quả chẳng không?  Hăy lấy thí dụ trái đào, hột đào là nhân, hột đào trồng dưới đất sẽ lớn thành cây đào, lúc đó hột đào mất đi rồi; cây đào lớn lên lại kết quả thành trái đào, đây là nhân quả tuần hoàn.  Thế nên ‘nhân quả chẳng không’ là nói nhân quả tương tục - tiếp nối chẳng không, chuyển biến chẳng không.  Phật, Bồ Tát dạy hết thảy chúng sanh là v́ muốn chúng ta hiểu đạo lư này, nắm chắc chân tướng sự thật th́ sẽ được đại tự tại.  Trong kinh thường nói: ‘cảnh chuyển theo tâm’.  Kinh Lăng Nghiêm nói: ‘Nếu chuyển được cảnh th́ cũng đồng như Như Lai’.  Phật, Bồ Tát hiểu nhân quả chuyển biến chẳng không, tiếp nối chẳng không, vả lại vận dụng hết sức khéo léo nên các ngài có thể chuyển biến cảnh giới, chẳng bị cảnh giới chuyển, đây chính là việc chúng ta phải học.

Người hiện nay cứ mê mẩn chạy theo tiền tài, bạn tranh tôi đoạt, làm cho thiên hạ đại loạn.  Tranh đoạt thiệt có thể kiếm được tiền tài hay chăng?  Không thể nào!  Chỉ có đau khổ thêm mà thôi, Phật pháp nói đó là tạo nghiệp.  Giết người th́ phạm giới sát sanh, đoạt lấy tài vật của người khác là phạm tội ăn cắp, cứ tạo ra những ác nghiệp giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, th́ làm sao đem lại quả báo tốt lành cho được?  Người thế gian ngu si nên tạo ra tội nghiệp cực nặng.  Phật dạy chúng ta giàu sang là do bố thí tài vật mà ra, tiền tài của cư sĩ họ Thôi cũng là do bố thí tài vật mà có được.  Đời quá khứ tu bố thí tài vật th́ đời này sẽ được giàu sang, được giàu sang mà c̣n tu bố thí tài vật tiếp tục th́ tiền tài sẽ đến ào ạt.  Cho dù trong thời gian kinh tế suy thoái, tiền tài vẫn không ngừng tăng thêm, chuyện này chứng minh cho lời Phật dạy chẳng sai.

Bố thí pháp được thông minh trí huệ, tôi có thể chứng minh cho mọi người.  Lúc c̣n trẻ tôi chẳng phải là người thông minh, ngày nay đối với Phật pháp và thế pháp chỉ cần tiếp xúc th́ tôi liền hiểu rơ, đây là quả báo có được do ngày nào cũng tu bố thí pháp trong suốt bốn mươi mấy năm học Phật.

Bố thí vô úy th́ được khỏe mạnh sống lâu.  Bố thí vô úy là ǵ?  Ăn chay tức là bố thí vô úy, đây là vun trồng tâm từ bi và tâm thương yêu.  Năm hai mươi sáu tuổi tôi bắt đầu học Phật, nửa năm sau bắt đầu ăn chay trường cho đến bây giờ.  Hồi đó người coi bói nói tôi đoản mạng, tôi rất tin và nghĩ là tôi chẳng có lư do ǵ để sống lâu.  Tư tưởng và hành vi của tôi hồi c̣n trẻ rất giống với ông Viên Liễu Phàm, khuyết điểm của ông ta tôi đều có đủ, ưu điểm của ổng tôi chẳng có, tôi chẳng bằng ổng, chẳng có phước lớn như ổng.  Thế nên nhất định phải biết bố thí là nhân, giàu sang, trí huệ, khỏe mạnh sống lâu là quả báo.

Nói thực ra khỏe mạnh sống lâu chẳng cần thuốc men, tẩm bổ.  Người thế gian cho rằng bảo dưỡng sức khỏe bằng thuốc men có thể làm cho một người được khỏe mạnh sống lâu, đây là mê hoặc điên đảo, nếu thiệt có hiệu quả th́ định luật nhân quả chẳng phải đă bị lật đổ rồi sao?  Đáng sống lâu th́ dù chẳng chú trọng dinh dưỡng vẫn sống lâu; đáng đoản mạng cho dù mỗi ngày đều tẩm bổ th́ vẫn đoản mạng, đây mới là chân lư.

Nói đến đoàn thể th́ Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba và Tịnh Tông Học Hội phát khởi việc xây dựng Làng Di Đà, xây Phật Học Viện cần phải có thật nhiều tiền bạc, trong t́nh trạng kinh tế hiện nay quyên góp tiền bạc vô cùng khó khăn.  Tại sao đoàn thể này trong thời gian rất ngắn có thể tích tụ lại một số tiền tương đối khả quan?  Đó là bố thí chẳng phải v́ ḿnh, v́ hết thảy chúng sanh, v́ xă hội an định ḥa b́nh, v́ Phật pháp an trụ lâu dài trong thế gian, tâm chánh hạnh chánh, phát tâm chân thành xây dựng đạo tràng th́ có sẽ cảm ứng.  Cũng giống như kinh Lăng Nghiêm có nói: ‘phát ư viên thành’, khi vừa phát chân tâm liền viên măn công đức, cảm ứng liền hiện tiền.

 

b. Chuyển cảnh giới:

Người học Phật tuy nghe thuyết pháp như vậy nhưng vẫn chẳng tin tưởng, vẫn chạy theo vọng tưởng chấp trước của ḿnh nên cảnh giới trước sau ǵ cũng chẳng chuyển nổi; nếu có thể tin tưởng lời dạy của đức Phật, y giáo phụng hành th́ tự nhiên sẽ có thể chuyển cảnh giới.  Chuyển được thù thắng nhất là chuyển phàm thành thánh, đây là ‘đại đạo’; chuyển bần cùng thành phú quư trong Phật pháp thuộc về ‘tiểu đạo’, việc này quá dễ.  Chuyển ngũ trược ác thế thành quốc độ thanh thái th́ chẳng dễ dàng; chuyển Sa Bà thành Cực Lạc càng khó hơn!  Dù cho khó khăn nhưng vẫn có thể làm được th́ chuyện dễ làm chẳng cần bàn tới.  Cho nên mục đích của việc học Phật là nhằm ĺa khổ được vui, nếu chúng ta chẳng thể chuyển cảnh giới th́ vĩnh viễn phải chịu khổ, chịu nạn.

Có chẳng ít bạn đồng tu tu học rất gian khổ, càng khổ hơn lúc chưa học Phật trước kia, nguyên nhân là v́ họ chẳng hiểu lư luận của việc tu học, tu chẳng đúng như lư, chẳng đúng như pháp.  Tu học Phật pháp tức là chuyển biến cảnh giới, làm thế nào biến bần cùng thành phú quư, chuyển hỗn loạn thành an định, nếu chẳng hiểu đạo lư và phương pháp th́ chẳng thể chuyển được.  Nếu biết được đạo lư, biết phương pháp, tu học đúng như lư như pháp th́ tự nhiên sẽ chuyển biến cảnh giới được.  Phật pháp thường nói: ‘chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn’, chúng ta ứng dụng trong đời sống, không có một cảnh giới nào chẳng thể chuyển được.  Nguyên tắc chung, đạo lư lớn lao này chính là y báo, chánh báo trang nghiêm ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’.

Phật cũng nói: ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, cho nên tâm phải tưởng đến chuyện thiện, đừng tưởng chuyện ác.  Thiện là như thế nào? Ác ra làm sao?  Lợi ích chúng sanh, lợi ích xă hội là thiện; lợi ích cho chính ḿnh, gia đ́nh ḿnh, đoàn thể nhỏ của ḿnh là ác.  Tại sao vậy?  Niệm niệm đều v́ ḿnh và cái ṿng tṛn vây quanh ḿnh, đó là phân biệt chấp trước, đă biến Nhất Chân pháp giới vốn có thành thập pháp giới, biến thành lục đạo luân hồi, biến thành t́nh h́nh hiện nay.  Chúng ta muốn thoát ra ngoài cảnh khốn khổ này th́ chỉ có thể giải quyết nơi tâm lượng.  Nếu chẳng nghĩ tưởng cho ḿnh, gia đ́nh ḿnh, và chẳng tưởng cho cái đoàn thể nho nhỏ của ḿnh th́ chấp trước sẽ bị phá tan.  Niệm niệm đều v́ hư không pháp giới hết thảy chúng sanh th́ phân biệt sẽ bị phá trừ.  Khi hết chấp trước th́ lục đạo sẽ chẳng c̣n nữa; hết phân biệt th́ thập pháp giới sẽ chẳng c̣n nữa, sẽ khôi phục lại Nhất Chân pháp giới.  Nhất Chân pháp giới là vũ trụ sanh thái tự nhiên; sanh thái tự nhiên tốt đẹp nhất.  Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước phá hoại sanh thái tự nhiên.  Đến lúc phân biệt và chấp trước vô cùng nghiêm trọng th́ hoàn cảnh sanh thái của địa cầu chúng ta sẽ bị phá hoại, cho nên khí hậu toàn thế giới sẽ chẳng b́nh thường, chúng sanh đều chẳng có cảm giác an toàn.  Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là căn nguyên của việc phá hoại sanh thái tự nhiên.  Chỉ có Phật pháp Đại thừa giải thích việc này rơ ràng, thấu triệt.

Các tầng lớp lănh đạo trong chánh phủ Úc Châu đang t́m kiếm phương pháp làm cho xă hội an định, ḥa mục nhân quần.  Làm thế nào dung ḥa các chủng tộc khác nhau, văn hóa khác nhau, tôn giáo tín ngưỡng khác nhau thành một thể, làm cho những người cư trú ở Úc Châu tôn trọng, quan hoài, và hợp tác lẫn nhau, tạo nên xă hội phồn vinh, nhân sanh hạnh phúc.  Cách suy nghĩ và mục tiêu này tức là truy t́m sự ḥa hợp của đa nguyên văn hóa, hy vọng đạt đến xă hội an định, thế giới ḥa b́nh, người người tôn trọng lẫn nhau.


Người ta ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm, nếu chúng ta có thể nh́n ưu điểm của người ta th́ trong thế gian này ai cũng là người tốt; nếu chỉ nh́n khuyết điểm th́ ngay cả Phật, Bồ Tát cũng chẳng phải là người tốt, thế nên tốt xấu đều tại nơi một niệm.  Ngẫu Ích đại sư nói: ‘Cảnh duyên chẳng có tốt xấu, tốt xấu ở tại tâm’.  Hiểu được nguyên lư nguyên tắc này th́ có thể chuyển cảnh giới.  Chư Phật, Bồ Tát, chư thiên, thiện thần hiểu được đạo lư này cho nên cảnh giới của họ càng chuyển càng tốt thêm.  Phàm phu chẳng hiểu đạo lư này, chuyên nh́n khuyết điểm của người khác, chuyên nói xấu người khác cho nên cảnh giới càng chuyển càng xấu, đời sống càng ngày càng khổ.  Chúng ta đọc kinh Phật nên biết được những chân tướng sự thật này, quan sát kỹ càng hoàn cảnh của chúng ta mới biết câu nào của Phật nói đều là chân lư, câu nào cũng là lời chân thật.  Chỉ cần chúng ta hết ḷng nỗ lực tu học th́ nhất định có thể sáng tạo tương lai tốt đẹp.

 

D.  HIỂU RƠ GIÁO DỤC PHẬT ĐÀ

 

1.    Mục đích của giáo dục Phật Đà       

(Buổi sáng 17-11-98)

Mục đích của giáo dục Phật Đà là dạy cho mọi người thành Phật.  Trong thập pháp giới th́ pháp giới Phật là chân thật, rốt ráo, viên măn; chư Phật Như Lai khởi dụng[44] th́ xưng là Bồ Tát.  Trong kinh Vô Lượng Thọ, Bồ Tát làm ‘người bạn chẳng mời mọc’ của hết thảy chúng sanh, chỉ cần các ngài nh́n thấy, nghe đến, th́ nhất định sẽ dang tay ra giúp đỡ, chủ động giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn.

Cư sĩ Lư Mộc Nguyên ở Tân Gia Ba phát tâm rộng lớn muốn lập Phật Đà Giáo Dục Học Viện.  Trước hết phải hiểu giáo dục Phật Đà bồi dưỡng những người như thế nào, mục tiêu đó là ǵ.  Đây là một giáo dục đặc biệt, hoàn toàn khác với giáo dục thế gian, giáo dục thế gian là giáo dục nhân đạo, thuộc về giáo dục của pháp giới Người trong thập pháp giới.  Giáo dục Phật Đà là giáo dục của pháp giới Phật, Bồ Tát trong thập pháp giới, đây là việc chúng ta nhất định phải nhận thức rơ ràng.  Từ đó có thể biết pháp giới Phật bao gồm thập pháp giới mà pháp giới Người chẳng bao gồm thập pháp giới.

Đời người vô cùng ngắn ngủi, nhất định phải nắm chắc [cơ hội này], phải từ pháp giới Người nâng cao lên đến pháp giới Phật, Bồ Tát th́ công đức tu học mới kể là viên măn.  Giáo học của chúng ta cũng đặt căn bản trên quan niệm này, giúp cho con người nâng cao cảnh giới, đó là giáo dục Phật Đà.  Giáo dục Phật Đà chẳng giống với giáo dục thế gian, mục tiêu chung cực của giáo dục thế gian là nhằm đạt được danh văn lợi dưỡng, hưởng thọ ngũ dục lục trần.  Mục đích của giáo dục Phật Đà là hoàn thành đức hạnh của ḿnh, thành tựu trí huệ viên măn của ḿnh, sau đó t́nh nguyện phục vụ cho xă hội, phục vụ cho chúng sanh.   Những ǵ người thế gian đeo đuổi th́ Phật, Bồ Tát hoàn toàn buông bỏ, buông xuống, v́ người giác ngộ hiểu được truy cầu danh văn lợi dưỡng, hưởng thọ ngũ dục lục trần tất nhiên sẽ dẫn đến cạnh tranh, cạnh tranh đến sau cùng là đấu tranh.  Chư Phật, Bồ Tát hy vọng hết thảy chúng sanh đều có thể tôn trọng, kính ái, quan hoài, và hợp tác lẫn nhau; muốn đạt đến lư tưởng ấy th́ nhất định phải buông bỏ đấu tranh, muốn buông bỏ đấu tranh th́ trước hết phải buông bỏ cạnh tranh.  Hiện nay trong tâm người nào chẳng có cạnh tranh, chẳng có đấu tranh?  Tâm như vậy thuộc về pháp giới của tam ác đạo.

Nếu người tu hành c̣n chịu sự dụ dỗ của cảnh giới, vẫn c̣n bị quỷ thần phá rối th́ tâm đạo ở đâu?  Kinh nói với chúng ta chân chánh quy y Tam Bảo phải từ ‘mê, tà, chánh’ quay đầu lại, nương vào ‘giác, chánh, tịnh’, bất luận có trải qua h́nh thức quy y hay chăng th́ thần hộ pháp đều bảo hộ.  Các sách [khuyến] thiện trong thế gian đều nói: ‘Một người có tâm địa đôn hậu, tâm thiện hạnh thiện, th́ sẽ có rất nhiều thiên thần, quỷ thần hộ vệ’; cho dù chẳng học Phật, chẳng có thọ nhận Tam Quy th́ cũng có thần hộ pháp bảo hộ.  Lư do thần hộ pháp bảo hộ là v́ tôn kính đức hạnh của những người ấy, là tự nhiên cảm động đến hộ tŕ.  Giới kinh nói thọ ngũ giới th́ sẽ có hai mươi lăm vị thần hộ giới ngày đêm giữ ǵn, hộ tŕ.  Thế th́ làm sao có thể bị quỷ thần, yêu ma quỷ quái đến phá rối cho được?  Từ đó có thể biết chỉ thọ Tam Quy và Thọ Giới trên h́nh thức th́ đều là giả, vậy mà cứ cho là ḿnh rất hiển hách, nhưng quỷ thần lại khinh chê.

Ấn Quang đại sư là tấm gương tốt của chúng ta, ngài thị hiện cho chúng ta coi, ngài cũng phải trải qua tu học trong thời gian dài.  Truyện kư có ghi lúc ngài trên bảy mươi tuổi, th́ muỗi ṃng, kiến, bọ chét ở chỗ ngài cư trú đều tự động dọn đi chỗ khác, chẳng dám khuấy nhiễu ngài.  Tại sao chẳng dám khuấy nhiễu ngài?  V́ tôn kính ngài.  Chúng ta nghĩ coi tại sao ngài có thể cảm động lục đạo chúng sanh mà chúng ta làm chẳng được?  V́ chúng ta chẳng buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tâm luân hồi cứ tạo ra nghiệp luân hồi y như cũ, ai chịu tôn trọng?  Niệm niệm đều hy vọng văng sanh Tịnh Độ, chỉ có một nguyện vọng này mà thôi, có thể đạt được hay chăng th́ chưa biết.  Có nguyện th́ nhất định phải có hạnh, dùng hạnh để thực hành nguyện, [được vậy] th́ nguyện vọng mới viên măn.

Có chẳng ít bạn đồng tu bị cảnh giới chuyển nên tôi đặc biệt nhắc nhở mọi người chúng ta nhất định phải có khả năng chuyển cảnh giới.  Khí phận trong môi trường hoàn cảnh chẳng tốt, chúng ta phải có khả năng chuyển biến khí phận xấu thành khí phận tốt, từ trường chẳng tốt thành từ trường tốt, đây là công phu tu học có chút đắc lực rồi.  Nếu ḿnh trong cảnh giới ấy không thể chuyển th́ sẽ chẳng có khả năng giúp đỡ người khác, nói giúp đỡ người ta chỉ là nói suông mà thôi.  Thế nên trước hết phải học tập nh́n thấu, buông xuống, phải thấy thấu suốt ‘vạn pháp giai không’.  Kinh Kim Cang dạy: ‘Phàm hết thảy các tướng đều là hư vọng’[45], tại sao phải trong tướng hư vọng này đi phân biệt, tính toán?  Tất cả hết thảy hiện tượng, lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần, thuận tâm và chẳng thuận tâm đều là vọng tưởng.  Nếu bạn có thể nh́n thấy rơ ràng, minh bạch rồi th́ bất luận là cảnh nghịch hay thuận, tâm đều b́nh tịnh, đích thực dùng thanh tịnh, b́nh đẳng, giác để đối xử với mọi người, chẳng tiêm nhiễm mảy may nào hết, yêu ma quỷ quái sẽ chẳng đến kế bên thân bạn được.  Có ngă chấp th́ sẽ có thân thể, chẳng có ngă chấp th́ chẳng có thân thể, đây là đạo lư tại sao quỷ thần chẳng thể đến sát thân bạn được.  Nếu niệm niệm đều c̣n rơi vào ‘ta, người, chúng sanh, thọ giả’, bạn chẳng thiện th́ quỷ thần sẽ dọa bạn, phá khuấy bạn.

Từ xưa đến nay, những người học Phật đều tu học y theo kinh Kim Cang, Tông Môn xưng kinh này là đốn giáo chẳng phải là không có đạo lư.  Chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ nếu y chiếu nguyên lư nguyên tắc trong kinh Kim Cang để tu học th́ nhất định sẽ văng sanh thượng thượng phẩm, sanh Thật Báo Trang Nghiêm Độ.  Chúng ta phát tâm xuất gia, xuất gia tức là ‘học làm thầy của người, hạnh làm gương cho đời’ [46], chúng ta phải hết ḷng học tập những đạo lư phương pháp nói trong kinh Kim Cang.  V́ chúng ta chẳng thật thà, kinh Kim Cang có thể giúp chúng ta đạt đến thật thà niệm Phật, thật thà làm người, thật thà làm việc.  Tham thấu kinh Kim Cang rồi, người trở nên thật thà rồi, thật thà tức là Phật, Bồ Tát.  Thật thà th́ sẽ chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nữa, nếu vẫn c̣n vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ chẳng thật thà.

Tổ sư đại đức trong Tịnh Tông dạy chúng ta ‘thật thà niệm Phật’, hai chữ ‘thật thà’ (lăo thật, chắc thật) này chẳng dễ làm được, những người làm được th́ đời này quyết định sẽ văng sanh thượng phẩm.  Người có thiện căn, phước đức sâu dày, chẳng cần tu cũng thật thà, họ vừa nghe lời Phật dạy th́ thực sự buông xuống vạn duyên, đối với ngũ dục lục trần, danh văn lợi dưỡng trong thế gian chẳng c̣n để ư đến nữa, hoàn toàn buông bỏ hết tất cả những điều thị - phi, nhân - ngă.  Có người phải tu th́ mới thật thà, c̣n chúng ta đă học xong những vẫn chưa thật thà, đây là v́ nghiệp chướng tập khí sâu nặng.  Nhất định phải chuyển cảnh giới trong hoàn cảnh sanh hoạt, niệm niệm tự nhắc nhở ḿnh, hết ḷng nỗ lực tu học, thực sự buông xuống vạn duyên th́ mới tiêu trừ nghiệp chướng được.

Tiến tŕnh hoằng pháp ở nơi đây rất thuận lợi, đây là oai thần Tam Bảo gia tŕ.  Chư Phật, Bồ Tát chiếu cố chúng ta đến như vậy, nếu chúng ta chẳng hết ḷng, chẳng  nỗ lực th́ làm sao chẳng có lỗi với quư ngài?  Mỗi ngày đều niệm ‘Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ’, nếu hai câu này chẳng thể thực hiện th́ sẽ có lỗi với Phật, Bồ Tát, có lỗi với thiên long thiện thần hộ pháp.  Chúng ta tự ḿnh tu học và sau này thành tựu Phật Học Viện, nhất định phải y theo lời giáo huấn trong kinh điển, bắt đầu làm từ chính bản thân ḿnh.  Học tŕnh là bảy năm, ‘bảy’ là một con số viên măn, hy vọng trong bảy năm này, chúng ta tối thiểu cũng phải giống ‘Vô Lượng Thọ Phật’.  Chúng ta chẳng thể đạt đến Phần Chứng Vị, ít nhất cũng phải làm đến Tương Tự Vị, có thể chứng đến Tương Tự Tức Phật trong Thiên Thai Lục Tức Phật th́ mới chẳng có lỗi đối với Phật, Bồ Tát.  Có thể đạt đến Phần Chứng Vị là tốt nhất, Phần Chứng Vị tức là Pháp Thân Đại Sĩ, trong Viên Giáo là Sơ Trụ Bồ Tát, Biệt Giáo là Sơ Địa Bồ Tát; Tương Tự Vị là Biệt Giáo Tam Hiền Bồ Tát, Viên Giáo Thập Tín Vị Bồ Tát.  Cho nên mọi người phải nỗ lực, hướng đến mục tiêu này th́ sẽ có thể siêu phàm nhập thánh.

 

2.    Tam Quy Y  (Buổi sáng 23-11-98)

‘Quy Y Phật, Nhị Túc Tôn’, chữ nhị là chỉ trí huệ và phước đức.  Phật thuyết pháp cho chúng sanh đặc biệt chú trọng phước đức, đây cũng là ứng cơ thuyết pháp, v́ hết thảy chúng sanh chẳng có ai không mong cầu phước báo.  Phước báo khi chưa kiến tánh th́ nhất định phải dựa vào tu đức; sau khi kiến tánh th́ là ‘tánh tu bất nhị’  (tánh đức và tu đức chẳng hai).  Cho nên đối với phần lớn người ta mà nói th́ tu phước vô cùng quan trọng.  Địa phương nào có nhiều người tu phước th́ nhất định sẽ quốc thái dân an, đời sống sung túc.  Lời dạy tu phước trong kinh rất nhiều, phải thể hội kỹ càng, hiểu rơ triệt để th́ sẽ biết làm thế nào tu học mới có thể đạt được quả báo vừa ư.  Trong nhà Phật thường nói ‘Có cầu ắt ứng’, lời này chân thật chẳng giả dối.  Nhưng cầu th́ có lư luận và phương pháp để cầu, đúng như lư như pháp mà cầu th́ nhất định sẽ được thâu hoạch; nếu chẳng tương ứng với lư luận và phương pháp của sự cầu th́ chẳng thể măn nguyện.

Phước báo cùng người hưởng là phước báo chân thật, phước báo hưởng riêng một ḿnh rất dễ biến thành họa hại.  Cổ đức hiểu rơ đạo lư và sự thật này cho nên lúc tạo ra chữ Họa ()và Phước ()làm h́nh tướng của hai chữ này rất giống nhau, là hy vọng chúng ta có thể cảnh giác, đừng biến phước thành họa.  Cổ thánh tiền hiền tuy đă cảnh cáo nhưng trong lịch sử Trung Quốc rất nhiều chuyện phước biến thành họa xảy ra; hiện nay trên thế giới những chuyện thật như vậy chẳng thể nào đếm hết, người thật sự có tâm cảnh giác vẫn chẳng nhiều, đúng như lời trong kinh nói chúng sanh ngu muội, vô tri, chẳng những coi kinh chẳng hiểu, nghe giảng giải chẳng hiểu, chân tướng sự thật bày trước mặt cũng chẳng hiểu.  Phật giảng về ‘tam chuyển pháp luân’ gồm có: thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển [47]; chứng chuyển tức là đem chân tướng sự thật bày trước mặt chúng sanh, nếu vẫn chẳng hiểu th́ Phật cũng chẳng có cách chi hết.  Người như vậy trong kinh gọi là ‘nhất xiển đề’, tức là người chẳng có thiện căn.

Hiện nay những người chẳng có thiện căn rất nhiều, vả lại họ đều là người có phước báo, có phước báo mà chẳng có thiện căn, phước sẽ biến thành họa hại.  Họa hại th́ không chỉ có người này chịu nạn mà thôi, rất nhiều người khác phải chịu chung, nghiệp chướng của họ tạo càng nghiêm trọng th́ quả báo càng dễ sợ.  Người học Phật tin sâu nhân quả tuy nh́n thấy rất rơ ràng nhưng cũng chẳng làm ǵ được, v́ ngay cả Phật cũng chẳng làm ǵ được, chúng ta đương nhiên chẳng có cách chi.  Ngay lúc này việc chúng ta duy nhất làm được là tự độ, tự ḿnh giúp ḿnh thoát ly cảnh khổ nạn, đây là người thông minh.  Đây cũng là những ǵ Phật, Bồ Tát dạy chúng ta.

Gần đây có vài vị đồng tu đă văng sanh, đa số đều có tướng lành, nh́n thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, những người này làm chứng minh cho chúng ta, làm cho ḷng tin của chúng ta tăng trưởng.  Họ có thể tự tại an tường văng sanh là phước báo to lớn, nguyên nhân [họ có thể tự tại văng sanh] là v́ họ có thể buông xuống.  Thế nên ‘vạn duyên buông xuống’ là chuyện quan trọng nhất của chúng ta hiện nay, chuyện ǵ cũng buông xuống được, tâm khai ư giải, th́ có thể tiêu tai miễn nạn.  Chỉ có buông xuống th́ mới có thể chân chánh làm được nhất tâm hướng Phật.  ‘Nhớ Phật niệm Phật, hiện giờ tương lai, nhất định thấy Phật’[48], đây là công khóa trước mắt quan trọng nhất của chúng ta.  Chúng ta phải chuẩn bị đàng hoàng, tiêu trừ những nhân tố của việc niệm Phật không được đắc lực th́ niệm Phật sẽ được đắc lực, th́ sẽ đạt được công phu thành phiến, thậm chí đến công phu nhất tâm bất loạn, đây mới là phước báo chân chánh, trí huệ chân thật.

‘Quy y Pháp, Ly Dục Tôn’.  Dục tức là ngũ dục lục trần.  Chẳng thể tiêu trừ trần duyên trong tâm tức là chướng ngại to lớn.  Những việc chẳng vừa ư do trần duyên đem đến là căn nguyên của hết thảy tai họa, cho nên Phật dạy chúng ta phải xa ĺa trần duyên.  Xa ĺa không phải là chẳng muốn, kinh Đại thừa nói khi chư Phật, Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp có thiên nhân cúng dường, ca múa, giống y như người thế gian.  Thế nên chúng ta phải hiểu Phật dạy chúng ta xa ĺa nghĩa là xa ĺa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.  Đă đoạn trừ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ sự hưởng thọ ngũ dục lục trần là tùy duyên; vọng tưởng, phân biệt, chấp trước c̣n chưa đoạn trừ mà hưởng thọ là phan duyên.  Chư Phật, Bồ Tát tùy duyên, nếu có thiên nhân đến cúng dường th́ rất tốt, Bồ Tát biến hóa đến cúng dường cũng rất tốt, tuyệt chẳng có tơ hào lưu luyến, đây là sự hưởng thọ chân chánh, sự hưởng thọ như vậy tuyệt đối chẳng có tai nạn.

Cái gọi là ‘sáu căn thanh tịnh, mảy trần chẳng nhiễm’ là lúc cảnh giới hiện tiền, sáu căn [cũng] thanh tịnh, chẳng phải là lúc xa ĺa trần duyên, sáu căn mới thanh tịnh, đây là phương pháp tu học của Tiểu thừa.  Lúc tiếp xúc cảnh giới th́ tâm lại loạn lên, lại khởi vọng niệm, như vậy là chẳng có công phu.  Khi đối diện với cảnh giới mà có thể tập thành ‘thanh tịnh chẳng nhiễm’ đ̣i hỏi có trí huệ cao độ.  Kinh Kim Cang nói: ‘Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng’, câu này phải thường nhớ đến, đây là công phu quán chiếu.  Khi gặp cảnh giới vừa khởi tâm động niệm liền nhớ câu ‘Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng’ th́ tâm sẽ b́nh trở lại.  Gặp cảnh thuận chẳng khởi tâm tham luyến, gặp cảnh nghịch chẳng khởi tâm sân khuể, biết tất cả đều là giả.  Cho nên phải bắt chước Phật, Bồ Tát du hư thần thông trong thế gian, mục đích là giúp cho hết thảy chúng sanh giác ngộ, giúp người khác tức là giúp chính ḿnh, ḿnh và người không hai (tự tha bất nhị).  Tu phước phải bắt đầu từ những chỗ này.

‘Quy y Tăng, Chúng Trung Tôn’.  Chúng là đoàn thể.  Tăng đoàn là đoàn thể đáng được tôn kính nhất trong thế gian và xuất thế gian.  V́ đây là đoàn thể tu học ‘Phật pháp’;  Phật là đại giác, Pháp là ly dục, ly dục là xa ĺa hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, cho nên chẳng có đoàn thể nào có thể hơn được.  Chúng ta phải hiểu, phải học tập, phải làm cho bằng được!  Giới điều của Lục Ḥa Kính là Kiến Ḥa Đồng Giải, Giới Ḥa Đồng Tu, Thân Ḥa Đồng Trụ, Khẩu Ḥa Vô Tránh, Ư Ḥa Đồng Duyệt, Lợi Ḥa Đồng Quân, đây là [giới điều] Phật chế định ra cho những người chẳng triệt để hiểu rơ, chẳng chịu làm thực sự.  Người có thể triệt để hiểu rơ, thực sự dụng công tu học th́ tự nhiên phù hợp với Lục Ḥa Kính và sẽ chẳng cần những giới điều này.  Nếu chúng ta chẳng đạt đến tŕnh độ hiểu rơ triệt để th́ Lục Ḥa Kính đối với chúng ta vô cùng quan trọng, có thể làm tăng thượng duyên cho chúng ta, giúp chúng ta đi trên con đường ngay thẳng, đây là từ bi và thiện xảo phương tiện của đức Phật, chúng ta nhất định phải y giáo phụng hành.

 

3.    Giáo - Lư - Hạnh - Quả (Buổi sáng 28-11-98)

Trong kinh Hoa Nghiêm, Thế Tôn nói đến thế chủ hộ tŕ chánh pháp một cách tường tận.  Chánh pháp là ǵ?  Như Lai nói đến ‘Giáo - Lư - Hạnh - Quả’, [Giáo - Lư - Hạnh - Quả] được xưng là chánh pháp.  Sau khi Phật diệt độ, chúng đệ tử đem những lời Phật nói chép thành văn tự gọi là kinh điển.  Những lời nói và văn tự này tức là ‘Giáo Pháp’, giáo pháp nói rơ về chân lư của vũ trụ nhân sanh, lư này là y cứ cho những ǵ Như Lai thuyết giáo pháp, cũng như kinh Bát Nhă gọi là ‘Chư Pháp Thật Tướng’, cho nên giáo lư có lư luận chính xác, viên măn, đây tức là ‘Lư pháp’.  Nếu đời sống của hết thảy chúng sanh tương ứng với lư luận và chân tướng sự thật th́ được gọi là chánh hạnh, và cũng tức là sanh hoạt của Phật, Bồ Tát.  Ngược lại, nếu phản nghịch với chân tướng sự thật th́ là tư tưởng, hành vi sai lầm.  Sửa đổi cho đúng những tư tưởng và hành vi sai lầm để tương ứng với chư pháp thật tướng th́ xưng là tu hành, đây là ‘Hạnh pháp’.  Khi tư tưởng và ngôn hạnh của chúng ta tương ứng với chư pháp thật tướng th́ có thể đạt được sự khoái lạc chân thật cứu cánh viên măn trong cuộc sống, đây tức là ‘Chứng quả’.

Đây là sự cống hiến cho chúng sanh khi Như Lai xuất hiện trong thế gian.  Đây là việc hết thảy chúng sanh vô cùng cần thiết, bất luận là chánh hạnh chúng sanh (tức là Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn) hay là tà hạnh chúng sanh (tức là lục đạo chúng sanh) đều vô cùng cần thiết.  Chư Phật Như Lai đem kinh nghiệm, phương pháp, và những lợi ích sau khi tu chứng của ḿnh, chẳng dấu diếm mảy may ǵ để dạy dỗ hết thảy chúng sanh, đây chính là giáo dục Phật đà, tức là sự giáo học của đức Phật, thường được xưng là ‘Nền giáo dục chí thiện viên măn của đức Phật đối với chín pháp giới chúng sanh’.  Sự thị hiện và giáo học của đức Phật đối với hết thảy chúng sanh chẳng yêu cầu, đ̣i hỏi ǵ hết.  Nhưng hiện nay có một số người giảng kinh thuyết pháp c̣n bán vé vào cửa, đây là ‘buôn bán Như Lai’, phá hoại h́nh tướng của Phật Giáo.  Kinh Hoa Nghiêm nói đây là hiện tượng kỳ quái trong thời Mạt Pháp.  Đức Phật là một người làm công tác nghĩa vụ giáo dục xă hội, ‘nghĩa vụ’ là chỉ có ‘hiến dâng’ chứ tuyệt chẳng có đ̣i hỏi, đây là chỗ Phật, Bồ Tát đáng cho người kính mến.  Lúc đức Phật trụ thế Ngài sống một đời sống có tiêu chuẩn sanh hoạt thấp nhất, mỗi ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới gốc cây, đó là để làm gương cho chúng sanh, làm mô phạm, chúng ta nên noi theo, học tập.

Phát tâm xuất gia làm đệ tử Phật phải gánh vác nguyện vọng giáo hóa chúng sanh của đức Phật.  Trước hết phải hiểu rơ cái h́nh tướng, thân thể này là giả, chẳng phải định tướng, nếu chấp trước cái tướng này là nhất định, chấp cái tướng này là Ta th́ vĩnh viễn sẽ không thể thoát ly luân hồi.  Vả lại cái chấp trước này cũng nhất định sẽ chẳng như nguyện vọng của bạn; sau khi chết đi nếu đọa vào cơi súc sanh th́ sẽ hiện thân súc sanh, đọa cơi ngạ quỷ th́ sẽ hiện thân ngạ quỷ, chẳng giống cái thân bây giờ; cho dù sanh đến cơi người hiện thân người th́ cũng sẽ thay đổi mặt mày, đó là sự thật.  Thế nên nhất định chẳng nên chấp trước, nhất định buông bỏ phân biệt và chấp trước.  Chư Phật Như Lai chẳng có thân tướng cho nên mới có thể tùy loại hóa thân, chúng sanh có cảm th́ Phật sẽ thị hiện ứng hóa.  ‘Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng’, Tướng thiên biến vạn hóa, Tướng có Dụng chẳng có Thể cho nên nhất định đừng chấp trước.

Tướng là giả, Phật thuyết pháp cũng là giả, Phật chẳng có định pháp ǵ để nói, Phật chẳng có pháp ǵ để nói.  Phật thuyết pháp hoàn toàn căn cứ vào căn bịnh của chúng sanh, tùy theo chứng bịnh mà cho thuốc; căn bịnh của chúng sanh sai khác muôn vàn cho nên Phật đều ứng cơ thuyết pháp.  Chúng ta học thuyết pháp cứ cho pháp là định pháp, nhất định phải dùng một cách nào để nói th́ là sai rồi.  Pháp có nguyên lư nguyên tắc nhất định, nhưng chẳng có phương pháp nhất định, nên Phật giảng kinh là dựa trên nguyên lư nguyên tắc nhất định.  Những người kết tập kinh tạng tuy nói là học tṛ của Phật nhưng thật ra đều là chư Phật Như Lai ứng hóa đến, đúng như câu ‘Một vị Phật ra đời, ngàn Phật ủng hộ’, v́ vậy các ngài kết tập kinh tạng có thể theo đúng nguyên lư nguyên tắc nói trên.  Cho nên khi người chân chánh lănh ngộ mở cuốn kinh ra, mỗi chữ mỗi câu đều linh hoạt sống động, nói ngang nói dọc ǵ cũng chẳng trái ngược với nguyên lư và nguyên tắc, đây là chánh pháp.

Chánh pháp tức là ‘Giáo - Lư - Hạnh - Quả’, chánh giáo, chánh lư, chánh hạnh, chánh quả chỉ cần chẳng trái ngược, bất luận thuyết pháp như thế nào đều xưng là chánh pháp.  Nhưng trong kinh dạy chúng ta ‘chánh pháp’ nhất định phải xây dựng trên cơ sở của ‘chánh hạnh’, nếu chẳng có chánh hạnh th́ sẽ chẳng có chánh giải.  Cho nên muốn làm được ‘Tín - Giải - Hành - Chứng’ th́ phải thực hiện được ‘Giáo - Lư - Hạnh - Quả’, đó chính là ‘Tín - Giải - Hành - Chứng’.

Trong quá tŕnh này phải có một sự nhận thức chính xác, nhận thức tận hư không trọn khắp pháp giới đều là chính ḿnh, thế nên khi đối xử với hết thảy chúng sanh th́ niệm niệm phải v́ lợi ích chúng sanh.  Phàm phu tu học chẳng thể khế nhập là v́ niệm niệm đều v́ cá nhân ḿnh, chẳng nghĩ đến người khác.  Chư Phật, Bồ Tát niệm niệm đều v́ chúng sanh, chẳng v́ ḿnh, v́ tận hư không trọn khắp pháp giới tức là chính ḿnh, hết thảy chúng sanh đều là chính ḿnh, trên từ chư Phật Như Lai, dưới đến chúng sanh trong A Tỳ địa ngục đều là chính ḿnh.  Thí dụ thân thể chúng ta là do vô số tế bào tạo thành, tế bào tốt, tế bào khỏe mạnh ví như Phật, Bồ Tát, tế bào hư xấu, tế bào có bịnh ví như tam ác đạo, hết thảy đều trong một thân thể, chẳng có tế bào nào xa ĺa thân thể.  Cho nên v́ chúng sanh mới là chân chánh v́ chính ḿnh, chỉ v́ ḿnh mà buông bỏ chúng sanh th́ là sai lầm quá đỗi.

Từ đó chúng ta mới hoảng nhiên đại ngộ, Phật v́ hết thảy chúng sanh tức là chân chánh v́ chính ḿnh;  nhà Phật nói về ba thân, đây là Pháp Thân.  Báo Thân là trí huệ, triệt để giác ngộ minh bạch là Báo Thân.  Sau đó dốc toàn tâm toàn lực phục vụ hết thảy chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh giác ngộ, giúp đỡ hết thảy chúng sanh hồi đầu cũng ví như giúp đỡ thân thể của ḿnh, trong thân chỗ nào có bịnh đau th́ liền chữa trị.  Có thể nhận thức hư không pháp giới là một thể th́ quan niệm của chúng ta đối với hết thảy người, sự, và vật sẽ hoàn toàn biến đổi.

Niệm niệm v́ hết thảy chúng sanh, niệm niệm v́ sự hạnh phúc của toàn thể tức là chân chánh v́ ḿnh.  Đối người, đối sự, đối vật sẽ từ từ tương ứng với ‘thanh tịnh, b́nh đẳng, giác’; khi tương ứng th́ sẽ là Bồ Tát, tương ứng viên măn th́ sẽ thành Phật.  Một niệm tương ứng này cũng giống như một tế bào kiện toàn rồi, vĩnh viễn sẽ chẳng sanh bịnh nữa.  Cho nên chúng ta nên thương yêu đoàn thể, thương yêu thế giới, thương yêu hết thảy chúng sanh, như vậy th́ tâm lượng tự nhiên sẽ mở rộng.  Khi tâm lượng mở rộng th́ chân tâm bản tánh sẽ hiển lộ, vô lượng trí huệ đức năng sẽ tự nhiên hiện tiền.  Cho nên quư trọng sự dạy dỗ của Phật Đà, hết ḷng nỗ lực tu học sẽ có thể khôi phục lại trí huệ đức năng sẵn có trong tự tánh.

                                                               

4.    Sứ mạng của Giáo dục Phật đà trong thế kỷ hai mươi mốt

Bài giới thiệu sáng lập Tập San Giáo Dục Phật Đà   (Buổi sáng 13-12-98)

Thế giới ngày nay đă đi đến thời đại dân chủ, tự do, mở rộng; thông tin phát đạt, giao thông thuận tiện nhanh chóng, địa cầu h́nh như đă biến thành một thôn xóm – thôn địa cầu, việc này nói rơ nhân dân cư trú trên quả địa cầu này giao thiệp với nhau ngày càng thêm mật thiết, gần gũi.  Quan hệ gần gũi như vậy th́ từ từ sẽ phát sanh xung đột và mâu thuẫn giữa các đoàn thể chủng tộc, các truyền thống văn hóa chẳng đồng, các phương thức sinh hoạt, h́nh thái ư thức, tôn giáo tín ngưỡng khác nhau, đây là một hiện tượng tự nhiên.  Hiện tượng này phải dùng phương thức thích hợp để tiêu trừ th́ mới có thể đạt đến mức đoàn thể chủng tộc, văn hóa đa nguyên tôn trọng, quan hoài, và kính ái lẫn nhau, hỗ trợ hợp tác, cùng chung sáng tạo phước lợi xă hội cho toàn thể văn minh nhân loại đa nguyên, đây là mục tiêu chung của các tầng lớp lănh đạo toàn thế giới và các thân hào nhân sĩ hướng đ&