A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI
Bửu Quang
tự đệ tử Như Ḥa hợp dịch
Trong các kinh
điển Đại Thừa được lưu truyền
rộng răi, xét về mức độ được giảng
giải, tŕ tụng, có lẽ kinh Di Đà chỉ kém Tâm Kinh Bát
Nhă. Từ trước đến nay, trong các tùng lâm, kinh Di
Đà vẫn thường được tụng vào mỗi thời
công phu tối và hầu như bất cứ vị Tăng
Ni thuộc truyền thống Bắc Tông nào cũng đều
thuộc ḷng kinh Di Đà. Bổn Sư của mạt nhân kể
rằng: Trong thời gian làm điệu, ngoài bản Sa Di Tỳ
Ni, Ḥa Thượng viện chủ bắt các điệu phải
học thuộc ḷng Di Đà đến nỗi có thể đọc
từ chữ cuối ngược lên đầu kinh mà không
vấp. Khi học chữ Hán, văn bản đầu tiên
Ḥa Thượng dùng để dạy các điệu cũng
là kinh Di Đà. Khi Ḥa Thượng c̣n tại thế, dù tụng
kinh ǵ đi nữa, mỗi ngày đại chúng trong chùa
đều phải tụng Di Đà ít nhất một lần.
Tuy được
lưu truyền, tŕ tụng rộng răi trong khắp các tùng
lâm, đối với Phật tử nói chung, kinh Di Đà vẫn
là một kinh bị hiểu lầm nhiều nhất. Trong một
lần tṛ chuyện với một Phật tử tu tại
gia lâu năm, cũng tu hạnh Tịnh Độ, mạt nhân
đă sững sờ khi nghe vị ấy nói: “Cháu tụng
kinh ǵ hằng ngày? Kinh Di Đà hả? Mỗi ngày tôi tụng một
quyển Pháp Hoa hay kinh Niết Bàn kia, chứ những kinh nhỏ,
sơ cơ như kinh Di Đà, kinh Địa Tạng chỉ khi
nào đi đám ma tôi mới thèm tụng đến mà thôi!”
Tưởng chỉ ḿnh vị ấy nghĩ như thế,
nào ngờ phần lớn những đạo hữu
thường gặp hằng tuần tại ngôi chùa gần
nhà cũng đều cho rằng kinh Di Đà chỉ dành để
đọc cho người chết nghe! Thật là đáng buồn,
bản kinh quư báu, tâm huyết của đức Thích Tôn, diệu
dược cho đời Mạt Pháp đă bị hiểu lầm,
rẻ rúng đến thế ấy!
Sau này, khi
đi nghe giảng, chúng tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy
không ít vị xuất gia cũng tỏ vẻ coi thường
kinh Di Đà. Theo họ, kinh Di Đà chỉ dành cho hạng ông già, bà
cả, ít chữ tŕ tụng. Đối với những vị
giảng sư thao thao thuyết giảng, tự hào làu thông
kinh điển Tam Tạng ấy, kinh Di Đà chỉ là một
thứ ngụ ngôn, một thứ phương tiện quyền
biến, hay nói khó nghe hơn là một thứ bánh vẽ
để dẫn dụ những hạng sơ cơ nhập
đạo. Thậm chí có vị c̣n chê kinh Di Đà là kinh nặng
tính van vái, cầu xin, quỵ lụy không thích hợp với
Phật pháp hiện đại! Một thầy c̣n tuyên bố
thẳng thừng: “C̣n trẻ mà tu Tịnh Độ th́ uổng
quá! Tôi chỉ khi nào bịnh gần chết, không c̣n làm ǵ
được nữa, mới đành chịu nằm niệm
Phật! Người tu Tịnh Độ lúc nào cũng nghĩ
đến cái chết, đôi vai trĩu nặng nỗi buồn.
Thay v́ cứ lẩm nhẩm niệm Phật, sao không quán
tưởng cảnh giới ḿnh đang sống đây chính
là Cực Lạc”.
Hậu quả
tất nhiên là có không ít Phật tử mỗi Chủ Nhật
đến chùa tụng một phẩm Pháp Hoa hay Kim Cang, niệm
Phật dăm câu lấy có; thế là đă an tâm ḿnh đă
“mua sẵn vé” về cơi Cực Lạc, là đă tu nhiều
lắm rồi! Chẳng ai bận tâm t́m hiểu giáo nghĩa
kinh Di Đà chi cả. Người tự nhận ḿnh là hạ
căn chỉ mong khi chết được văng sanh,
nhưng mấy ai bận tâm đến Tín - Hạnh - Nguyện!
Những người tự coi ḿnh là bậc thượng
căn th́ nếu có ai khuyên nên niệm Phật sẽ cười
mũi, bảo chỉ có tham thiền hay quán tưởng,
tŕ chú mới là pháp xứng đáng để họ tu tập
thôi. Tiếc thay, tuy nói thế, họ cũng chẳng dụng
công tọa thiền, cũng chẳng dụng công quán tưởng,
tŕ chú, chỉ luôn nhai nhải: “Duy Tâm Tịnh Độ, tự
tánh Di Đà! Cực Lạc là đây, lựa t́m đâu xa!”, rồi
vẫn an nhiên mặc cho quang âm vùn vụt thoáng qua!
Pháp môn Tịnh
Độ nói chung và kinh Di Đà bị hiểu lầm như thế
có phải v́ kinh Di Đà không được giảng giải cặn
kẽ hay không? Hoàn toàn không, từ xưa đến nay,
ngoài hai kinh Kim Cang và Tâm Kinh, có lẽ kinh Di Đà đă
được giảng và chú giải nhiều nhất. Tính
cho đến hiện tại, đa số các vị giảng
sư dù ít hay nhiều đều đă từng giảng qua
bản kinh này. Điều đáng ngạc nhiên là ít có Phật tử
nào chịu t́m đọc các bản chú giải kinh A Di Đà,
đành phải hiểu kinh qua cách diễn giảng của
các vị giảng sư không mặn ṃi với pháp môn Tịnh
Độ. Do quá nhiệt t́nh đề xướng pháp môn của
tông phái ḿnh, các vị giảng sư ấy đă nh́n kinh Di
Đà qua lăng kính đầy thiên kiến, khiến thính chúng
đă lầm càng lầm thêm. Điều đáng buồn là hai bản
chú giải trác tuyệt là Di Đà Yếu Giải và Di Đà Sớ
Sao đă được phiên dịch sang Việt ngữ từ
lâu, nhưng có mấy người chịu đọc kỹ
càng! Bao lẽ tinh yếu, sâu xa, huyền diệu của
kinh Di Đà đă được hai vị Tổ Sư Liên Tŕ
và Ngẫu Ích phơi bày đến cùng cực. Theo mạt
nhân thấy biết, mỗi khi giảng kinh, các vị giảng
sư hoằng dương Tịnh Độ không ít th́ nhiều
đều phải dẫn trích ư kiến của nhị vị
Tổ Sư.
Năm 1984,
trong một lần thọ Bát Quan Trai Giới, trong giờ
nghỉ trưa, mạt nhân nghe một cụ đạo hữu
lớn tuổi than văn là đă tốn nhiều công đọc
bản Sớ Sao, nhưng vẫn chưa thể lănh hội
nổi. Theo cụ, ư nghĩa của Sớ Sao quá uyên áo, quá
phức tạp; tiếc thay từ ngữ, câu văn
được dùng trong bản dịch lại quá cổ, dịch
quá sát theo cú pháp Hán văn, nên rất khó cảm nhận
được ư chỉ lời dạy của Tổ. Khi
đọc qua Yếu Giải, tuy lời văn trong sáng, giản
yếu hơn, cụ vẫn cảm thấy khó lănh hội
những phần Tổ luận về Chân Như, Thật
Tướng... Cụ cho rằng để lănh hội
được phần nào hai bản chú giải trên, người
đọc phải hiểu biết khá nhiều về Phật
pháp cũng như phải hiểu được một số
thuật ngữ chuyên môn của Hoa Nghiêm, Thiên Thai lẫn Duy
Thức. Do thế, những người mới học Phật
sẽ dễ chán nản, khó thể kiên nhẫn theo dơi toàn bộ
hai bộ chú giải trên.
Nghe lời than
thở ấy, mạt nhân chợt suy nghĩ: sao ḿnh không tổng
hợp những lời giảng của các vị giảng
sư cận đại Trung Hoa để tạo thành một
cuốn chú giải kinh Di Đà dễ hiểu hơn, ngơ hầu
các hành nhân sơ cơ, chưa biết nhiều về Phật
pháp có thể đọc hiểu được. Khi đă
có khái niệm căn bản về những thuật ngữ
thường dùng trong kinh, nắm được ư chính của
kinh Di Đà, họ sẽ lănh hội được các bản
Yếu Giải và Sớ Sao dễ dàng hơn.
Ư định
này nung nấu đă lâu, nhưng tháng ngày thoi đưa, mạt
nhân vẫn chưa t́m được tài liệu vừa ư.
Khi ấy, trong tay mạt nhân chỉ có Di Đà Kinh Bạch Thoại
Giải của lăo cư sĩ Hoàng Trí Hải. Tiếc thay,
tác phẩm này chỉ là viết lại ư kinh theo thể
văn Bạch Thoại, cũng như giải thích đôi
ba thuật ngữ Phật giáo, để những người
không quen đọc cổ văn Trung Hoa có thể hiểu
được nội dung kinh Di Đà theo mặt văn tự,
chứ không nêu lên kiến giải ǵ đặc biệt. Đă
thế, lời văn lại quá rườm rà, chỉ thích
hợp cho độc giả Trung Hoa, không bơ công dịch sang
tiếng Việt. Sau này được đọc thêm cuốn
Di Đà Kinh Dị Giải của bà Hàn Anh, đổng sự
trưởng Tịnh Tông Học Hội Đài Loan, th́ cuốn
này cũng chỉ là bản rút gọn tác phẩm của cụ
Hoàng Trí Hải, nên cũng không gợi lên một sự hứng
thú nào. Khi sang Mỹ, do bận rộn với sinh kế và
việc học, ư nguyện xưa tưởng chừng
như quên lăng hẳn.
Ngẫu hợp
sao, giữa năm 2002, đạo hữu Minh Lập đă
gởi tặng một loạt những bản chú giải
kinh Di Đà của các vị giảng sư cận đại
như:
1) Phật thuyết A Di Đà Kinh
Giảng Lục của pháp sư Đạo Nguyên.
2) Phật thuyết A Di Đà Kinh
Bạch Thoại Giảng Giải của Nam Đ́nh Ḥa Thượng.
3) Phật thuyết A Di Đà Kinh
Yếu Thích của Pháp Sư Bân Tông.
4) Phật thuyết A Di Đà Kinh
Yếu Giải Thân Văn Kư do pháp sư Bảo Tịnh giảng.
Kế đó, đạo hữu
Không Châu gởi tặng một loạt sách Tịnh Độ.
Trong ấy, có cuốn A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ của pháp
sư Khuy Cơ đời Đường. Đă thế, đạo
hữu Huệ Trang lại c̣n cho mượn cuốn Phật
Thuyết A Di Đà Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Văn
Châu. Trong một lần đi niệm Phật tại chùa Tịnh
Độ, mạt nhân thỉnh được thêm cuốn Trùng
Đính Nhị Khóa Hiệp Giải của pháp sư Hưng Từ
soạn (trong cuốn này, phần Di Đà Kinh Huyền Nghĩa
cũng chứa đựng nhiều kiến giải lư thú)
và cuốn Tịnh Độ Tư Lương của lăo cư
sĩ Hoàng Niệm Tổ (trong cuốn này, cụ Hoàng chỉ
giảng sơ lược về kinh Di Đà qua bài viết A Di
Đà Kinh Tông Yếu, Tín Nguyện Tŕ Danh).
Trước sự hiện hữu
cùng lúc của bao nhiêu tác phẩm chú giải ấy, ư nguyện
xưa chợt sống lại mạnh mẽ trong tâm trí. Tuy
thế, mạt nhân vẫn băn khoăn không biết có nên
tiến hành hợp dịch ư kiến chú giải của
chư sư hay không, chỉ e ḿnh sẽ làm một việc
thừa thăi, vô ích. Sau khi thỉnh ư các vị đạo hữu
Vạn Từ, Minh Tiến, Minh Lập, Huệ Trang và đều
được hứa khả, khuyến khích, mạt nhân
đánh bạo gạn lọc những ư chính trong những
tác phẩm chú giải trên, chọn lấy những điểm
đặc sắc, dịch thành một tác phẩm vụng
dại, tạm đặt tên là A Di Đà Kinh Hợp Giải.
Xét trong các bản chú giải
trên, bản chú giải của Pháp Sư Bân Tông chi tiết
nhất, nhiều ư tưởng độc đáo nhất,
phân chia chương mục rơ ràng nhất, lại có cả
phần hiển lư giống như Sớ Sao, nên mạt nhân
chọn bản này làm gốc. Bản chú giải của pháp
sư Khuy Cơ quá nặng về Duy Thức học nên không
thích hợp lắm cho người sơ cơ. V́ thế, mạt
nhân chỉ chọn lấy những điểm thật
đặc sắc và dễ hiểu.
Bản của pháp sư
Văn Châu tuy không có nhiều ư tưởng độc
đáo, nhưng cách phân chia thành mười môn lớn để
chú giải rất giống với cách thích kinh của tổ
Liên Tŕ nên mạt nhân tuân thủ cách phán định và phân
chia chương mục của Văn pháp sư.
Khi chọn dịch, những
đoạn chư sư nhắc lại ư kiến của
chư vị Liên Tŕ và Ngẫu Ích, mạt nhân đều
lược qua không dịch; bởi lẽ, những ư đó
đă được phô diễn trọn vẹn trong hai bản
Yếu Giải và Sớ Sao. Để hiểu những tư
tưởng đó, phải đọc trong ngữ cảnh
của Sớ Sao và Yếu Giải mới thấy chúng sâu sắc,
tinh yếu tuyệt diệu đến dường nào!
Dù cố gắng hết sức,
nhưng với trí huệ nông cạn, tŕnh độ Phật
học thiển cận, chắc chắn trong quá tŕnh chọn
lọc, chuyển ngữ, không thể nào tránh khỏi những
lỗi lầm lẽ ra không nên có. Chỉ mong dịch phẩm
thô lậu này sẽ giúp cho những hành nhân sơ cơ có
được đôi chút kiến thức sơ cấp
để làm hành trang tham cứu ban đầu ḥng lănh hội
được những điểm u huyền, tinh túy trong
Yếu Giải và Sớ Sao.
Nếu như việc
làm liều lĩnh này đem lại chút lợi lạc nào
th́ xin hồi hướng đến khắp pháp giới
chúng sanh, những ai thấy nghe kinh Di Đà đều khởi
ḷng tin kính sâu xa, đều chăm tu Tịnh nghiệp. Nguyện
tất cả những hành nhân đồng hạnh Tịnh
nghiệp sẽ cùng được hội ngộ nơi
quê hương Cực Lạc.
Phật lịch
2547, tiết Lập Thu, Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa kính bạch
A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI
I. GIÁO KHỞI
NHÂN DUYÊN (nhân duyên phát khởi giáo pháp)
Kinh Pháp Hoa dạy:
“
V́ nhân duyên nào
mà không ai hỏi, Đức Phật lại tự giảng ra bản
kinh này? Nhân duyên Phật giảng kinh này gồm hai loại:
Tổng và Biệt.
1.
Tổng nhân duyên:
Tổng nhân duyên chẳng ngoài
việc chỉ thẳng chúng sanh dùng tâm niệm Phật
để nhập tri kiến Phật. Tri kiến Phật
chính là chân tâm của chúng sanh; nhưng từ vô thỉ đến
nay, chúng sanh do v́ mê chân, chạy theo ngụy, chẳng nhận
thức được bản thể thanh tịnh của
tâm ḿnh, nên tạo tác các nghiệp, trôi lăn măi trong ṿng luân
hồi. Nay đức Thế Tôn dạy chúng sanh nhất tâm
niệm Phật, tịnh niệm liên tục, tâm miệng xứng
hợp với nhau th́ sẽ thể hội “tâm này chính là Phật, Phật cũng chính là tâm này”,
tâm và Phật chẳng hai. Đó chính là ư nghĩa chân thật của
câu “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ”. Niệm Phật đến mức “tâm, Phật
chẳng hai” chính là “nhập Phật tri kiến’ vậy.
2.
Biệt nhân duyên:
Gồm có mười loại:
a. Ḷng từ bi nghĩ
thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp của đức
Thế Tôn:
Cơi Sa Bà vốn sẵn đau
khổ, nhưng đời Mạt Pháp, ngũ trược
hỗn loạn, sự đau khổ ấy càng trầm trọng
hơn nữa. V́ ḷng thương xót chúng sanh đời Mạt
Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói ra pháp này
để rộng cứu tế, ngơ hầu chúng sanh dẫu
chẳng được gặp Phật, mà nếu gặp
được pháp môn này, thâm tín tu hành, phát nguyện văng
sanh, niệm Phật chắc thật th́ vẫn có thể
vượt thoát tam giới, văng sanh Cực Lạc.
b. Khai thị pháp môn
phương tiện thù thắng:
V́ chúng sanh căn cơ vô
lượng nên Đức Phật cũng phải thuyết ra
vô lượng pháp môn; nhưng pháp môn Niệm Phật là
phương tiện thù thắng nhất v́:
* Dù chẳng gặp Phật tại
thế, vẫn thường được thấy Phật.
Bởi lẽ, chúng sanh thâm tín pháp môn này, chuyên tâm niệm Phật,
phát nguyện văng sanh liền được văng sanh, thân cận
A Di Đà Phật.
* Chẳng cần đoạn
hoặc nghiệp vẫn thoát khỏi luân hồi: nhờ sức
từ bi gia hộ của Phật A Di Đà, người chân
thành niệm Phật sẽ được đới nghiệp
văng sanh (do lúc văng sanh, hoặc nghiệp vẫn c̣n, chưa
đoạn trừ hết nên gọi là “đới nghiệp”).
*
Chẳng cần tu đủ các môn Ba La Mật khác, v́: Nhất
tâm niệm Phật, bỏ hết muôn duyên, đó là Bố
Thí Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật, các ác đều
dứt, đó là Tŕ Giới Ba La Mật. Nhất tâm niệm
Phật, tâm tự nhu ḥa, chính là Nhẫn Nhục Ba La Mật.
Nhất tâm niệm Phật, vĩnh viễn chẳng thoái
đọa, đó chính là Tinh Tấn Ba La Mật. Nhất tâm
niệm Phật, chẳng nghĩ đến điều ǵ
khác, đấy chính là Thiền Định Ba La Mật. Nhất
tâm niệm Phật, chánh niệm phân minh, chính là Bát Nhă Ba La Mật.
Như vậy, nhất tâm niệm Phật là đầy
đủ cả sáu Ba La Mật, nên không cần phải tu
trọn lục độ, vạn hạnh.
* Chẳng cần
phải tu nhiều kiếp mà được giải thoát
nhanh chóng: hễ nhất tâm niệm Phật cho đến mức
nhất tâm bất loạn th́ nhờ vào sức tiếp dẫn
của đấng Từ Phụ, sẽ được
văng sanh Tịnh Độ, không c̣n vướng mắc trong ṿng
sanh tử nữa.
Trí Độ Luận
chép: “Có các Bồ Tát tự nghĩ
ḿnh v́ báng bổ Đại Bát Nhă sẽ bị đọa vào ác
đạo trong vô lượng kiếp, dẫu tu các hạnh
khác vẫn chẳng diệt tội nổi. Sau gặp
được bậc thiện tri thức dạy niệm
Phật A Di Đà, liền diệt được chướng
nạn, siêu sanh Tịnh Độ”.
c. Phô bày chốn khổ, cơi
vui khiến cho chúng sanh sanh tâm chán, ưa:
Cơi Sa Bà này “thế gian vô thường, quốc
độ mong manh, tứ đại khổ không, ngũ ấm
vô ngă” (kinh Bát Đại Nhân Giác); ba khổ, tám khổ dẫy
đầy, vô lượng họa hại. Dù kẻ phước
đức tận hưởng vinh hoa phú quư, sự sự
như ư, vẫn khó giữ măi vẻ thanh xuân, tử thần
đón sẵn. Tổ Thiện Đạo từng răn:
Dẫu ai khoái lạc ngàn muôn,
Rốt cục vô thường
vẫn đến,
Và:
Vạn lượng gia tài đành
bỏ mặc,
Thơng đôi
tay trắng nhập u minh.
Cơi Sa Bà khổ sở thế
đó, nhưng chúng sanh vẫn ngu si, tham luyến, chẳng
biết là khổ, chẳng cầu xuất ly, nên đức
Thế Tôn phải đặc biệt nói pháp môn Tịnh Độ,
tán dương y báo, chánh báo thù thắng của cơi Cực Lạc
để chúng sanh nhàm ĺa Sa Bà, ham thích Cực Lạc, phát
nguyện văng sanh, khẩn thiết niệm Phật.
d. Hóa đạo hàng Nhị
Thừa khiến họ được văng sanh Tịnh Độ:
Hàng Nhị Thừa xem tam giới
như lao ngục, coi sanh tử như oan gia, nhưng một
khi đă liễu sanh thoát tử, chứng đắc Ngă
Không, bèn sanh ḷng đắm trước nơi quả vị,
chẳng thể tiến hướng Bồ Đề. V́ thế,
đức Thế Tôn phải nói ra pháp này để hóa
đạo hàng định tánh Thanh Văn, khiến cho họ
khi được nghe mười phương chư Phật
dị khẩu đồng âm tán dương A Di Đà Phật,
sẽ bỏ tâm đoạn diệt, tu hạnh Tịnh Độ,
thành tựu Phật quả.
e. Khích lệ hàng sơ tâm
thân cận Phật A Di Đà:
Hàng sơ tâm Bồ Đề tuy
đă phát đại tâm nhưng tâm chưa kiên định,
hễ gặp phải nghịch cảnh hoặc bạn ác sẽ
khó tránh khỏi thoái thất tâm Bồ Đề. Hơn nữa,
sanh tử chưa đoạn, hoặc nghiệp chưa trừ,
khó tránh khỏi nghiệp lực lôi kéo, lại bị đắm
ch́m trong ngũ dục, trôi lăn trong sanh tử. V́ thế,
Đức Phật dạy họ phải thân cận Phật A
Di Đà. Bởi lẽ, được văng sanh sẽ chứng
ngộ Vô Sanh Nhẫn. Có chứng ngộ Vô Sanh Nhẫn th́ mới
có thể trở vào Sa Bà giáo hóa chúng sanh, viên măn nguyện Bồ
Đề. Bởi thế, Long Thọ Bồ Tát dù đă chứng
Sơ Địa vẫn nguyện văng sanh; thậm chí Phổ Hiền
Bồ Tát, dẫu dùng mười đại nguyện
vương giáo hóa chúng sanh, chung cục vẫn khuyên phát nguyện
văng sanh Cực Lạc.
f. Khiến
cho mọi căn cơ dù độn hay lợi đều
được độ thoát cả:
Pháp môn này độ
trọn ba căn, gồm thâu lợi, độn, đúng
như Ngài Sư Tử Phong tán dương:
Dù gái hay trai tu được cả,
Trí ngu th́ cũng có phần
đây!
g. Hộ tŕ khiến cho chúng
sanh chẳng bị thoái đọa:
Chúng sanh đời
mạt phước mỏng, chướng dày, huệ cạn,
nghiệp sâu, tu hành vướng phải ma chướng
trùng trùng, chánh kiến yếu ớt nên bị hăm vào lưới
ma, bị ác nghiệp lôi kéo, khó bề khỏi đọa
tam đồ. Nhờ tŕ danh niệm Phật, hành nhân liền
được thấm đẫm từ ân nơi biển
đại thệ của đức Di Đà, được
đức Từ Tôn gia bị, được mười
phương chư Phật cùng hộ niệm, viễn ly ma
chướng, chóng sanh Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát
khỏi tam đồ, bát nạn (1).
h. Do hữu
niệm chứng nhập vô niệm:
Chân Như tự
tánh ai nấy sẵn có, vốn dĩ vô niệm. Tiếc là
từ vô thỉ đến nay, do một niệm vọng
động khiến cho bao tạp niệm trùng trùng, tạo
tác măi bao ác nghiệp, chết đây sanh kia, không lúc nào
ngơi.
Như sóng và
nước vốn cùng một thể, chân cùng vọng danh
khác thể đồng. Bởi đó, chân tâm lẫn vọng
tâm chẳng ngoài một niệm hiện tiền của
chúng ta. Nay pháp môn Niệm Phật đây dùng tịnh niệm
trừ khử vọng niệm, dùng tế niệm thay thế
thô niệm, dùng thiện niệm dứt ác niệm, dùng nhất
niệm đối trị vạn niệm, tức là “dùng độc trị độc,
dùng quân dẹp quân, dùng niệm dứt niệm”. Khi độc
đă hết, giặc đă b́nh, thuốc lẫn quân c̣n dùng
chi nữa! Bởi thế, khi đă niệm đến mức
nhất tâm bất loạn, th́ sẽ niệm mà vô niệm;
đấy chính là chân niệm. Chân niệm ấy chính là chân
như tự tánh, ta và Phật không c̣n phân biệt nữa!
i. Dùng văng
sanh để ngộ nhập vô sanh:
Về lư, tuy
chúng sanh và Phật đồng một thể tánh, nhưng
xét trên sự, thánh phàm cách biệt muôn trùng.
Xét ra: Khi sanh th́ duyên sanh,
nhưng pháp tánh chẳng hề sanh cùng với duyên. Khi diệt
th́ duyên diệt nhưng pháp tánh cũng chẳng bị diệt
theo duyên.
V́ thế, nếu c̣n mê th́ dù có
nói là vô sanh nhưng vẫn sanh. Nếu luận theo pháp tánh
th́ dù có sanh nhưng vẫn là vô sanh. V́ mê muội, chúng sanh lầm
thấy có sanh diệt. Do đă ngộ, chư Phật chỉ
thấy vô sanh.
Đức Phật thương
xót chúng sanh cơi này, nhận vọng là chân, mê tánh chạy theo
cảnh, nên từ bi nói ra pháp môn Niệm Phật, khích lệ
đại chúng văng sanh. Nếu hành nhân niệm đến
khi mọi vọng duyên đều tan sạch, tâm chỉ c̣n
một khối, sẽ thể hội tâm ta chính là Phật A
Di Đà, A Di Đà Phật chính là tâm ta; nào c̣n thấy sanh hay vô sanh
nữa!
j. Chỉ rơ
con đường tắt trọng yếu trong đường
tu hành:
Trong các pháp tu
hành, pháp môn Niệm Phật giản tiện, trực tiếp
nhất; nhưng trong các pháp Niệm Phật, pháp Tŕ Danh lại
càng trọng yếu, giản tiện hơn cả, nên
được tôn xưng là “tiệp kính chi kính” (con
đường tắt nhất trong các con đường
tắt). Kinh đây giảng rơ: Chấp tŕ thánh hiệu chính
là nhiều phước đức, nhiều thiện
căn, liền được đới nghiệp văng
sanh. Được văng sanh liền chứng ngay ba bậc Bất
Thoái. So trong ba kinh Tịnh Độ, kinh này chú trọng cách thức
tu tập giản yếu, hiệu quả nhất.
Do những nhân
duyên tổng và biệt nói trên, đức Thích Tôn đă giảng
ra bộ kinh vi diệu hy hữu này.
II. HIỂN
THỂ (minh định thể tánh của kinh này)
“Thể” là thể
tánh (bản thể, bản chất). Thể tánh của một
bản kinh được gọi là Giáo Thể, đôi khi
c̣n gọi một cách tổng quát là Lư Thể. Theo đại
sư Bân Tông: “Ĺa hết thảy
các tướng th́ gọi là Tánh; chỗ hết thảy các
nghĩa quy về gọi là Lư. Nghĩa trọng yếu của
các pháp gọi là Thể”. Phô bày minh bạch yếu chỉ
của một bản kinh, nêu rơ chỗ quy hướng của
các giáo nghĩa được dạy trong kinh ấy th́ gọi
là “hiển thể”.
Nói một cách
khác, hiển thể một bản kinh chính là minh định
chân lư sẽ được phô diễn bởi bản kinh ấy.
Một bản kinh nếu không có Thể th́ thành ra ma thuyết,
ví như một kẻ chỉ có cái tên, chẳng có thân thể
thật. Mỗi một câu, một chữ trong kinh Phật
đều nhằm mục đích vận dụng ngôn ngữ,
danh tự để người nghe lănh hội được
chân lư. Bởi vậy, muốn thể hội được
huyền nghĩa của kinh, điều tiên quyết là phải
nhận chân thể tánh của kinh ấy là ǵ.
Nói chung, tất
cả các kinh Đại Thừa đều lấy Thật
Tướng làm Thể.
Thật Tướng chính là cái
tâm hiện tiền của chúng ta, vô h́nh, vô tướng, chẳng
sanh, chẳng diệt, rỗng rang, bao trùm vạn pháp, không
sót một mảy ǵ. Muôn pháp sanh diệt chỉ là những
điều hư vọng ảnh hiện trong tâm.
Chân tâm của ta dẫu suốt
ngày ở trong vọng, nhưng luôn chân thường. Tâm ấy
dẫu hằng tiếp xúc với muôn vật, muôn pháp, vẫn
thường sáng tỏ, phân biệt mọi sự, mọi
pháp rơ ràng không chướng ngại. Kinh thường diễn
tả bằng câu “linh quang
độc diệu, hồi thoát căn trần” (có thể
tạm hiểu là: xét về bản thể, tâm ấy thiêng
liêng, sáng suốt, duy nhất, chiếu rực, không vướng
vào căn, trần. Gọi là thiêng liêng v́ tác dụng nhận
biết của tâm ấy luôn hiện hữu, không bị biến
cải, không sai sót. Sáng suốt v́ không bị trần cảnh
làm ô nhiễm. Tâm ấy nhận thức rơ mọi pháp không
ngăn ngại nên gọi bảo là chiếu rực. Tâm Phật
và tâm chúng sanh đồng một thể nên gọi là duy nhất)
Thật Tướng có thể
chia thành hai loại:
1. Vô Tướng Thật
Tướng: ĺa hết thảy tướng điên
đảo, hư vọng chính là Thật Tướng chân
như, b́nh đẳng.
2. Vô Bất Tướng Thật
Tướng: trong các pháp sanh diệt, tồn tại một
tánh bất sanh, bất diệt. Tướng sanh diệt
hư vọng ấy chỉ là biệt tướng (tướng
riêng của mỗi pháp). Những tướng sanh diệt
hư vọng ấy dù thiên sai vạn biệt, nhưng
đều không có thực thể, cho nên gọi là “vô tướng”.
Nhưng tánh bất sanh bất diệt lại chân thật
chẳng hư vọng, chúng sanh và Phật đồng một
thể, thánh phàm chẳng hai. Cái Chân Như thật tánh b́nh
đẳng ấy lại chẳng phải là vô tướng,
nên gọi là “vô bất tướng”.
Để dễ h́nh dung xin mượn
một thí dụ: sóng phát sanh từ nước, sóng chính là
nước. Sóng có to nhỏ, nhưng tánh ướt chẳng
đổi. Cũng thế, tánh Chân Như b́nh đẳng bất
biến, nhưng tùy duyên có thể sanh khởi những
tướng trạng sai biệt cho vạn vật, tùy duyên
nhưng bất biến. Bởi thế, xét đến bản
chất th́ mọi tướng trạng sai biệt của
vạn pháp, không tướng nào chẳng lấy tánh Chân
Như b́nh đẳng làm thể.
Nếu xét tỷ mỉ, mỗi
kinh lại lấy một khía cạnh của Thật Tướng
làm thể. Chẳng hạn, kinh Hoa Nghiêm lấy “nhất
chân pháp giới” làm thể, kinh Lăng Nghiêm lấy Như
Lai Tạng Diệu Chân Như tánh làm thể.
Riêng về kinh Di Đà, chư
sư cùng đồng ư kinh này lấy Thật Tướng
làm tổng thể. Pháp sư Văn Châu giải thích:
“Kinh
này chú trọng niệm Phật đến nhất tâm bất
loạn, đấy chính là Thật Tướng mà cũng
chính là Chân Như. V́ thế, cũng giống như các kinh
điển Đại Thừa khác, kinh này lấy Thật
Tướng ấn làm giáo thể...
Nếu
xét trên phương diện sự tướng niệm Phật,
phải lấy sự trang nghiêm của y báo, chánh báo cơi Cực
Lạc làm Thể.
Đối
với bậc thượng căn lợi trí, từ hữu
tướng niệm Phật, họ sẽ đạt đến
vô tướng niệm Phật, hiểu thấu suốt một
niệm hiện tiền chẳng phải ở trong, chẳng
ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải
quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng phải xanh
vàng đỏ trắng, chẳng phải ngắn dài, vuông,
tṛn, thậm chí vô phi, bất phi, ĺa hết thảy tướng
tức là hết thảy pháp. Ngay khi đó, Pháp Thân hiển
hiện, Tịch Quang hiển hiện, c̣n phân biệt ǵ là y
báo, chánh báo trang nghiêm nữa! Bởi thế giáo thể của
kinh này hoàn toàn là Thật Tướng.
...Y
báo, chánh báo trang nghiêm của cơi Phật Di Đà đều phát
xuất từ Chân Như tự tánh, cho nên kinh này lấy
Chân Như B́nh Đẳng Thật Tướng làm Thể”.
Riêng về biệt thể,
pháp sư Bân Tông cho rằng kinh này lấy bốn đức
Thường, Lạc, Ngă, Tịnh làm thể. Bân pháp sư
giảng như sau:
“Vô
sanh, vô diệt, thường hằng bất biến là
Thường. Tịch diệt, vĩnh viễn an ổn, vĩnh
viễn xa ĺa các nỗi khổ là Lạc. Tự tại giải
thoát, chân như vô ngại là Ngă. Ĺa hết thảy trần,
tuyệt các cấu nhiễm là Tịnh.
...Trước
hết, minh định bốn đức của Y Báo:
-
Cơi ấy không có thành, trụ, hoại không; ấy là Thường.
-
Có lầu gác bảy báu, lưới giăng, cây báu mọc
thành hàng, ao tắm, chim quư, thiên nhạc v.v... vô lượng
trang nghiêm, mỗi mỗi đều vừa ḷng thỏa ư.
Đó là Lạc.
-
Thế giới Cực Lạc trang nghiêm thù thắng, việc
ǵ cũng như ư, mọi thứ hóa hiện, không có cảnh
trái nghịch, luôn có niềm vui tùy thuận. Đó là Ngă (Ngă có
nghĩa là Tự Tại).
-
Thế giới Cực Lạc hoàng kim làm đất, bảy
báu làm ao, tất cả mọi vật đều thanh tịnh
trang nghiêm, có năm niềm vui thanh tịnh, không có nỗi
khổ ngũ trược.
Đó chính là Lạc.
Tiếp
đến minh định bốn đức của Chánh
Báo:
-
Thọ mạng của Đức Phật và chúng sanh văng sanh cơi
ấy đều vô lượng, kéo dài bao kiếp chẳng
tận. Đó là Thường.
-
Hết thảy hữu t́nh sanh về cơi ấy liền
được thân tâm tịch chiếu, vĩnh viễn
không có phiền năo. Đó chính là Lạc.
-
Một phen đă văng sanh cơi ấy, liền đoạn diệt
được ngũ trụ (2), vĩnh viễn ĺa khỏi
nhị tử (phần đoạn và biến dịch sanh tử),
được đại tự tại. Đấy chính là Ngă.
-
Trong thế giới Cực Lạc, chúng sanh niệm Phật
được văng sanh về đấy đều là liên
hoa hóa thân, thanh tịnh, nhiệm mầu thù thắng, tướng
hảo trang nghiêm; tấm thân ô uế do tứ đại giả
hợp thành của chúng sanh cơi Sa Bà làm sao so sánh được!
Đấy chính là Tịnh.
Lại nên biết rằng: tứ
đức (Thường, Lạc, Ngă, Tịnh) là tự tánh
Di Đà, mà cũng chính là Phật tánh sẵn có của mỗi
người chúng ta, c̣n gọi là Pháp Thân. Mê th́ là chúng sanh, ngộ
th́ thành chư Phật. Nếu ai phát tâm niệm Phật, liền
được văng sanh thế giới Cực Lạc, hoa nở
gặp Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn, thân chứng Pháp
Thân.
Pháp
Thân ấy bất sanh, bất diệt, chẳng đến,
chẳng đi, chính là Thường đức. Pháp Thân rốt
ráo tịch diệt, vĩnh viễn ĺa khỏi sanh tử, tức
là Lạc đức. Pháp Thân tự tại vô ngại, rốt
ráo giải thoát, tức là Ngă đức. Pháp Thân tuyệt
các cấu nhiễm, vốn sẵn thanh tịnh, tức là Tịnh
đức...
Hơn
nữa, kinh chép: ‘Đều được bất thoái chuyển
nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề’ là nghĩa
Thường. Lại chép: ‘Không có các điều khổ, chỉ
hưởng các điều vui’ là nghĩa Lạc. Lại
chép: ‘Tự nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng. Người ấy lúc mất tâm không
điên đảo’ là nghĩa Ngă. Lại chép: ‘Nhất tâm bất
loạn’ là nghĩa Tịnh”.
III. HIỂN
MINH TÔNG THÚ (minh định tông thú của kinh này)
Tông nghĩa là
sùng phụng, là điều được kinh đề
cao. Tông chính là đường lối trọng yếu để
tu hành. Mục đích của tu hành là khế hội bản
thể; do đó, Tông chính là mấu chốt để thực
hiện mục đích ấy. Thú là chỗ Tông quy kết về.
Trong phần
trước đă biện minh về Thể, ấy là Tánh
đức. Phần này luận về Tông Thú, đấy
chính là Tu đức. Từ tánh khởi tu, toàn tu tại
tánh. Tánh đức là điều ai cũng sẵn có,
nhưng Tu đức là điều mỗi cá nhân phải nỗ
lực tu tập để thành tựu.
Kinh này lấy
“Tín, Nguyện, Tŕ Danh” làm Tông; lấy việc “văng sanh, viên
chứng ba thứ Bất Thoái” làm Thú.
Ba thứ Tín,
Nguyện, Tŕ Danh (hay c̣n gọi là Tín, Nguyện, Hạnh)
thường được gọi chung là Tư
Lương. Đi xa cần phải dắt theo tiền bạc
ḥng chi dụng, đó gọi là Tư. Mang theo thức
ăn, nước nôi, đó là Lương. Như vậy,
Tư Lương chính là những phương tiện, vật
dụng cần thiết cho bất cứ cuộc hành tŕnh
nào.
Trong ba thứ
Tư Lương nói trên, Tín là mấu chốt. Nếu niệm
Phật tinh tấn nhưng vẫn chưa thể tin chắc
ḿnh sẽ được văng sanh, chưa tin chắc vào bi
nguyện của Phật Di Đà lẫn cơi Tịnh Độ th́
chẳng thể phát nguyện chân thành, thiết tha. Nếu
tín, nguyện không có th́ chẳng thể duy tŕ hạnh Tŕ
Danh lâu dài được! Nếu thật sự tin sâu, nguyện
thiết th́ tự nhiên sanh khởi diệu dụng Tŕ Danh.
1. Tín:
Tín là đoạn trừ hết
thảy ngờ vực, nhưng ḷng tin ấy do sự hiểu
biết phát xuất từ trí, chứ không phải là tin
tưởng một cách mù quáng.
Tín gồm có bảy
điều sau:
a. Tin vào lời Phật dạy:
Tin rằng pháp môn Niệm Phật
đây chẳng phải do tà ma, ngoại đạo, quỷ
thần vọng thuyết, mà do chính kim khẩu của đức
Thích Tôn đích thân giảng ra. Đức Phật là đại
đạo sư của tam giới, là cha lành của bốn
loài, là bậc quyết định không dối trá. Cổ
đức đă nói: “Phật
ngôn bất tín, thùy ngôn khả tín?” (chẳng tin lời Phật
th́ c̣n tin lời ai được nữa?) Do vậy, phải
tin vào lời Phật, đừng nhận lầm kinh này chỉ
là do Đức Phật giả lập phương tiện, Cực
Lạc là cảnh giới tưởng tượng, để
đến nỗi tạo tội báng pháp như “tăng” Nhật
Liên (khai tổ Tân Pháp Hoa Tông của Nhật Bản) dám phỉ
báng kinh A Di Đà này là ngụy tạo.
Hơn nữa,
pháp môn Niệm Phật được đề cập
đến rất nhiều trong các kinh khác. Các pháp môn Tiểu
Thừa, Quyền giáo đến thời Pháp Hoa - Niết
Bàn đều bị bài xích, nhưng chưa hề thấy
trong kinh điển nào Đức Phật lại chỉ trích
pháp môn này là quyền tạm, là phương tiện cả!
Ngoài ra, khi Đức Phật thuyết
kinh này, sáu phương chư Phật đều dị khẩu
đồng âm xưng dương, tán thán. Ngay cả bản
kinh được xưng tụng là “chúng kinh chi
vương” (vua của mọi kinh) là kinh Pháp Hoa cũng
chép: “Người tụng kinh
này (kinh Pháp Hoa) khi mạng chung sẽ sanh về thế giới
Cực Lạc của Phật A Di Đà”. Vua trong Tam Tạng,
được thế gian xưng tụng là mẹ của
các kinh, tức là kinh Hoa Nghiêm, ngay trong phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện cũng quy hướng văng sanh Tịnh Độ.
Kinh báu của nhà Thiền là kinh Lăng Nghiêm, trong
chương Thế Chí Niệm Phật Viên Thông cũng dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật,
tương lai nhất định thấy Phật”.
Kinh Ban Châu Tam Muội chép: “Bồ Tát nhập tam muội này
liền thấy A Di Đà Phật”. Kinh Mục Liên Sở Vấn
chép: “Ta bảo cơi nước
Vô Lượng Thọ dễ về, dễ sanh, mà không ai chịu
tu hành văng sanh, ngược lại c̣n thờ phụng 96 phái
ngoại đạo. Ta bảo kẻ ấy [là hạng]
không mắt, không tai!” Các kinh Bi Hoa, Đại Vân, Đại Tập,
Quán Phật Tam Muội, Thập Trụ Đoạn Kết,
Văn Thù Bát Nhă, Bảo Tích, Tọa Thiền Tam Muội...
đều đề xướng pháp môn Niệm Phật.
Các bộ luận Đại Thừa
cũng đề xướng pháp môn Niệm Phật, chẳng
hạn như Đại Trí Độ Luận chép: “Niệm Phật diệt trừ được các thứ
phiền năo và các tội nghiệp từ đời trước...
[cho đến] niệm Phật có đại phước
đức, độ được chúng sanh.... phước
đức của các tam muội khác chẳng bằng
được phước đức của Niệm Phật
Tam Muội”. Tỳ Bà Sa Luận gọi Niệm Phật
là đạo dễ hành, mau thoát sanh tử. Luận chép: “Phật có vô lượng pháp môn,
như đường đi trên thế gian có dễ, có khó.
Đi bộ th́ khó, ngồi thuyền th́ dễ. Muốn dễ
được sanh hăy nên mau niệm A Di Đà Phật”. Các bộ
luận khác như Đại Thừa Khởi Tín Luận của
Bồ Tát Mă Minh, Văng Sanh Tịnh Độ Luận của Ngài
Thế Thân, Thập Nghi Luận của tổ Trí Khải,
Nhiếp Đại Thừa Luận, Niệm Phật Tam Muội
Bảo Vương Luận... đều cực lực
đề xướng pháp môn Niệm Phật.
Ngoài ra, trên th́ như các vị
thượng thủ Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền,
Long Thọ, Mă Minh đều phát nguyện văng sanh. Chư tổ
sư như Ngài Lô Sơn Huệ Viễn, Bách Trượng
thiền sư, Thanh Lương Quốc Sư (Ngài Trừng
Quán), Linh Chi Nguyên Chiếu luật sư, Tử Bách Lăo Nhân,
U Khê đại sư, Trí Húc Linh Phong đại sư, Vân
Thê Liên Tŕ đại sư, Hám Sơn đại sư...
đều nhiệt thành hoằng truyền, tán dương
Tịnh Độ.
Cận đại, bậc cao
tăng nhà Thiền là Hư Vân Ḥa Thượng, ngôi Thái
Sơn Bắc Đẩu của Thiên Thai tông là Đế Nhàn pháp
sư (xem tập Khai Thị Niệm Phật Khẩn Yếu),
đại sư Thái Hư thuộc tông Duy Thức (xem Tịnh
Độ Pháp Môn Tập), Hoằng Nhất đại sư bên
Luật Tông (xem tác phẩm Nhân Sanh Tối Hậu) ngoài việc
hoằng dương tông ḿnh, đều cực lực xiển
dương pháp môn Tịnh Độ.
Hăy thử nghĩ: Đại Tạng
Kinh đầy dẫy kinh luận, ngữ lục tán
dương Tịnh Độ, lịch đại hiền triết
đích thân tu tập, thành tựu văng sanh; vậy th́ Cực
Lạc có phải là cơi tưởng tượng hay không?
Kinh Di Đà có phải là lời ngụ ngôn của đức
Phật Thích Ca hay không?
b. Tin vào Phật nguyện:
Chữ Phật ở đây chỉ
đức A Di Đà Phật, nguyện là nguyện lực, tức
biển thệ nguyện lực vô biên của đức A
Di Đà Như Lai chân thật, không dối. Chúng ta phải tin rằng:
Y báo, chánh báo trang nghiêm của cơi Cực Lạc chính là do lực
dụng vĩ đại của Phật đại nguyện
lực tạo thành. Trong quá khứ, Ngài đă phát thậm
thâm hoằng nguyện, bao đời tu hành khổ hạnh,
chẳng thoái thất tâm ban đầu, nguyện nguyện
trang nghiêm Tịnh Độ, tạo thành thế giới Cực
Lạc thù thắng khôn sánh. Phật là bậc đại
thánh nhân, tuyệt đối không thệ nguyện hư huyễn.
Bốn mươi tám nguyện của Từ Phụ Di Đà
siêu tuyệt thệ nguyện của chư Phật, nên cổ
đức tán thán: “Thập
phương tam thế Phật, A Di Đà bậc nhất”.
c. Tin vào cơi Phật:
Tin cơi Cực Lạc thù thắng
trang nghiêm, vượt trỗi hết thảy các cơi Tịnh
Độ trong mười phương. Mỗi mỗi sự
tướng trong cơi ấy đều thù thắng khôn sánh,
đều phát xuất từ lực dụng A Di Đà Như
Lai đại thệ nguyện hải.
d. Tin vào pháp môn:
Tin pháp môn Niệm Phật độ khắp
ba căn, thượng căn là bậc Đẳng Giác như
Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù v.v..., trung căn như chư tổ
Tây Thiên, Đông Độ: Long Thọ, Mă Minh, Huệ Viễn, Ngẫu
Ích, Liên Tŕ v.v... ; hạ căn như kẻ ngu phu, ngu phụ,
ngũ nghịch, thập ác, chim vẹt, chim sáo v.v... Hễ
ai chịu phát tâm niệm Phật cầu được
văng sanh th́ đều được đới nghiệp
văng sanh, được Phật từ bi rủ ḷng tiếp
dẫn. Dẫu là hàng Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng
thoát khỏi phạm vi tiếp độ của pháp môn này.
Bởi thế, pháp môn Niệm Phật chính là tu trọn muôn
hạnh, một câu hồng danh trọn đủ vạn
đức. Hành nhân Tịnh Độ phải tin pháp môn này là tối
thắng, tối diệu, bất tất phải tu kèm các
pháp môn khác. Pháp môn này chắc chắn độ chúng sanh vĩnh
viễn thoát khỏi sanh tử, rốt ráo thành Phật. Dù
hành nhân c̣n đầy dẫy phiền năo vẫn có thể
đới nghiệp văng sanh, đắc bất thoái chuyển.
e. Tin vào tự tâm:
Bổn tánh của chúng ta linh giác bất muội,
chân tâm ta thường trụ bất biến, chẳng hề
khác biệt ǵ với chân tâm của đức Di Đà.
Nhưng từ vô thỉ đến nay, tâm ta bị phiền
năo che lấp, nên phải luân hồi sanh tử chẳng
ngơi. Nhất tâm niệm Phật, dùng vạn đức
hồng danh của Phật Di Đà huân tập tâm ta, sẽ tiêu
diệt được nghiệp chướng trong ức
kiếp sanh tử. Khi hoặc chướng đă tiêu trừ
hết th́ sẽ tự nhiên chứng đắc Chánh Giác.
Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn sẵn đủ
tướng đức, trí huệ của Như Lai,
nhưng v́ vọng tưởng chấp trước nên chẳng
thể chứng đắc. Nếu ĺa vọng tưởng
th́ Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều
sẽ hiện tiền”. Bởi đó, duy tâm Tịnh Độ
ai cũng có phần, đừng tự khinh ḿnh là phàm phu,
nghiệp nặng cấu dày, chẳng có duyên phận chi với
cơi Cực Lạc. Tuy ta là phàm phu điên đảo mê hoặc,
nhưng chân tâm này chẳng mất. Nếu một niệm hồi
quang phản chiếu, giữ chắc Phật hiệu, quyết
sẽ được văng sanh. Tâm tánh chúng ta vốn chẳng
thể nghĩ bàn, A Di Đà Phật lực chẳng thể nghĩ
bàn, sáu chữ hồng danh cũng chẳng thể nghĩ
bàn. Dùng tâm chẳng thể nghĩ bàn tŕ niệm danh hiệu
chẳng thể nghĩ bàn để văng sanh về cơi
nước thù thắng do nguyện lực chẳng thể
nghĩ bàn tạo thành là chuyện thập phần xác
đáng, c̣n ngờ chi nữa!
f. Tin vào sự
lư:
Tin vào sự lư
viên dung.
* Tin Sự là tin ở phía Tây
thế giới Sa Bà này, cách đây mười vạn ức
cơi Phật, quả thật có cơi Cực Lạc, chúng sanh cơi
ấy không có các nỗi khổ, y báo, chánh báo trang nghiêm. Nếu
chúng ta trong một đời này tin sâu, nguyện thiết,
chắc thật tŕ danh, sẽ chắc chắn được
liên hoa hóa sanh, vĩnh viễn thoát khỏi khổ nạn,
đắc đại giải thoát.
Nếu có kẻ
cật vấn:
- Đại Thừa Bát Nhă dạy
hết thảy pháp là không. Nếu hết thảy đă là
không, sao c̣n có thuyết “thật có cơi Tây Phương Cực
Lạc?” Kinh luận c̣n dạy: “Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức” th́ làm sao ở
ngoài tâm thức, lại có thể có tịnh độ của
chư Phật được?
Đáp:
- Ôi chao! Lời nạn ấy
thật là v́ chưa hiểu rơ đạo lư “viên dung nhất
thật” của nhà Phật vậy! Phải biết rằng
nhà Phật nói “không” đó là để phá chấp, tức
là đối với Có mà nói Không. Nhưng Có mà chẳng phải
Có mới là Diệu Hữu, Không chẳng phải là Không mới
là Chân Không. Nên biết rằng hết thảy pháp đều
do nhân duyên sanh, vốn chẳng có tự tánh. Duyên sanh bèn có,
duyên diệt thành không. Do vô tự tánh nên bảo hết thảy
pháp là không. Do v́ duyên sanh nên bảo hết thảy pháp là có.
Bởi vậy mới bảo là Chân Không chẳng ĺa Diệu
Hữu, Diệu Hữu chẳng ngại Chân Không. Thế
nên duy tâm chẳng ngại Tịnh Độ, Tịnh Độ cũng
chẳng phương ngại ǵ đến cái Không của
duy tâm. Nếu bảo: “Duy tâm tịnh
độ, tịnh độ duy tâm” th́ c̣n đúng; chứ
khăng khăng chỉ có chân không, chẳng hề có Tịnh
Độ, th́ sẽ thành ra mâu thuẫn.
Hơn nữa, một niệm
hiện tiền của chúng ta chẳng thể cùng tận,
mười phương thế giới do tâm ta biến hiện
cũng chẳng thể cùng tận. Kinh dạy: “Hư không vô tận, thế giới
vô tận”. Thế nên chẳng những chỉ cơi Tây
Phương Cực Lạc tồn tại, mà cơi thế giới
Lưu Ly ở phương Đông, vô lượng các thế giới
cũng mỗi mỗi đều chắc chắn tồn tại.
* Tin Lư là:
Một niệm tâm hiện tiền
của chúng ta đây xét theo chiều dọc th́ trùm khắp
ba đời, xét theo chiều ngang th́ chứa trọn mười
phương. Bởi thế mới nói: “Vô biên cơi nước, tự - tha chẳng cách mảy
lông”. Mười vạn ức cơi nước khác ǵ ở
ngay trước mắt! Phật tâm bao gồm khắp tất
cả, tâm ta cũng bao gồm khắp tất cả, cơi
nước cũng bao trùm khắp tất cả, như ánh
sáng của ngàn ngọn đèn đặt trong một căn
nhà, trùng trùng giao thoa, soi sáng lẫn nhau chẳng hề trở
ngại. Y báo, chánh báo, chủ - bạn cơi Tây phương
đều hiện bóng trong một niệm tâm hiện tiền
của chúng ta. Toàn thể sự chính là lư, toàn bộ vọng
chính là chân, toàn thể Tha chính là Tự, nào nhọc phải
t́m cầu tự tánh đâu xa, chính nội tâm là Phật Di
Đà.
Nhưng chẳng nên chấp lư
bỏ sự, cũng chẳng thể chấp sự mê lư.
Chấp lư phế sự th́ lư chẳng thể viên dung. Chấp
sự mê lư th́ công hạnh chẳng cao. Nhưng thà cứ chấp
sự mà siêng năng tu tập ắt sẽ chẳng uổng
công, quyết được văng sanh! Nếu chấp lư, hoàn
toàn không dụng công thực hành, chỉ e mắc phải họa
Thiên Không. Bởi vậy, nếu có thể viên dung giải
ngộ lư sự một cách sâu xa th́ mới là tận thiện,
tận mỹ vậy!
g. Tin vào nhân - quả:
Cái có khả năng sanh trưởng
là Nhân, giống như hạt giống; cái do nhân ấy
được thành tựu gọi là Quả. Lại nữa,
việc làm ban đầu là Nhân, cảm thọ hậu báo là
Quả. Nhân nào, quả nấy là lẽ tự nhiên. Mọi
việc trên thế gian này không việc ǵ chẳng do Nhân mà kết
thành Quả cả.
Nay ta phát một niệm chân
tâm, niệm Phật là Nhân, quyết định văng sanh thế
giới Cực Lạc, rốt ráo thành Phật là Quả. Dẫu
tán tâm xưng danh vẫn kết thành hạt giống Như
Lai, văng sanh Tịnh Độ; huống hồ là niệm
được nhất tâm bất loạn, lẽ nào chẳng
được văng sanh ư?
2.
Nguyện:
Nguyện là phát nguyện văng
sanh. Dẫu có ḷng tin sâu đậm, nhưng nếu chẳng
phát nguyện vẫn khó ḷng thành tựu, chẳng đạt
được lợi ích thực sự. Cũng như bệnh
nhân nghe bác sĩ bảo có thứ thuốc nọ rất
hay, cũng tin tưởng là thứ thuốc ấy rất
tuyệt, nhưng chẳng chịu uống thuốc. Đă không
chịu uống thuốc, c̣n mong lành bệnh sao được!
Đă biết Sa Bà là khổ, là
nhơ uế, th́ cần phải buông bỏ, phải chán
ĺa. Đă biết Tây Phương là vui, là thanh tịnh, th́ phải
nên cầu, nên ưa thích. Đấy mới chính là mục
đích của hành nhân Tịnh nghiệp.
Nguyện gồm có sáu điều:
a. Nguyện bỏ hết thảy
các phiền năo tham, sân, si... nhất tâm cầu sanh Cực Lạc.
b. Nguyện từ nay trở
đi vĩnh viễn chẳng khởi các ác nghiệp để
khỏi đọa vào tam ác đạo, cầu sanh Cực Lạc.
c. Nguyện bao nhiêu thiện
nghiệp đă tạo chẳng v́ cầu sanh trong cơi trời
người thọ hưởng phú quư, chuyên tâm nhất ư hồi
hướng, nguyện cầu văng sanh Cực Lạc.
d. Nguyện dù gặp phải
tai nạn, nghịch cảnh, bệnh khổ đến thế
nào đi nữa, trọn chẳng thay đổi tấm
ḷng niệm Phật.
e. Nguyện bao nhiêu công đức
do tŕ giới, bố thí, tụng kinh, lễ Phật... đều
hồi hướng về Tịnh Độ, để làm trợ
duyên cho việc văng sanh.
f. Nguyện pháp giới hết
thảy chúng sanh cùng phát tâm niệm Phật, cùng sanh Cực
Lạc.
Nói tóm lại, nguyện tâm tha
thiết, văng sanh chẳng khó ǵ! Nếu chẳng phát nguyện,
hoặc nguyện tâm chẳng tha thiết sẽ trọn chẳng
được sanh về thế giới Cực Lạc. Dẫu
có ḷng tin th́ ḷng tin ấy cũng chỉ là hư dối, chẳng
thọ hưởng lợi ích thật sự nào; bởi thế
phải nên phát nguyện chân thành, tha thiết.
3. Tŕ Danh:
Tŕ là chấp
tŕ (nắm giữ), Danh là danh hiệu. V́ sao cần phải
tŕ danh? Tŕ niệm một câu hồng danh A Di Đà Phật th́ sẽ
được đầy đủ mọi đức,
thâu tóm trăm hạnh (đấy là v́ danh hiệu A Di Đà bao
gồm vạn đức, trong phần giải thích danh hiệu
A Di Đà sẽ luận rơ hơn). Đấy là do công đức
chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Như Lai vậy. Nếu
chỉ đủ tín nguyện mà chẳng chân thật tu tŕ
vẫn chẳng được văng sanh; khác nào bánh vẽ chẳng
thể đỡ đói, khác nào suốt đời đếm
của báu cho người, tự ḿnh chẳng được
lợi lạc ǵ!
Trong bốn
pháp niệm Phật (Thật Tướng, Quán Tưởng,
Quán Tượng, Tŕ Danh), Tŕ Danh là pháp tu rộng răi nhất
(v́ mọi căn cơ đều tập được),
hạ thủ dễ dàng, nhanh chóng, là pháp tu phương tiện
bậc nhất trong các pháp phương tiện, là pháp viên
đốn tối cực, là pháp vô thượng liễu nghĩa.
Kinh này chuyên dạy pháp Tŕ Danh, nên chúng ta phải tận lực
tŕ danh chẳng phân biệt ngày đêm, chẳng luận bận,
rảnh, chỉ khăng khăng chấp tŕ sáu chữ Di Đà
hồng danh chẳng quên, th́ sẽ tự nhiên đạt
được nhất tâm bất loạn, lâm chung quyết
định được Phật tiếp dẫn văng sanh.
Nếu tâm niệm Phật lơ là, hời hợt, quyết
chẳng được văng sanh. Dù chẳng được
văng sanh, vẫn gieo trồng thiện căn thành Phật
trong đời tương lai. Bởi thế cổ đức
bảo: “Tán xưng vi Phật
chủng, chấp tŕ đậu bất thoái” (tán tâm
xưng danh là chủng tử Phật, chấp tŕ [danh hiệu]
sẽ đạt được bất thoái).
Hành nhân niệm
Phật phải có tín tâm kiên cố, chẳng bị hết
thảy tà ma, ngoại đạo, tà sư khuấy động,
đến nỗi hủy báng đánh mất đạo tâm.
Đại nguyện phải kiên cố, chẳng bị lay
động bởi nghịch cảnh, danh lợi, quyền
thế, đến nỗi thoái thất đạo tâm. Tŕ
danh phải chuyên tâm thiết tha, đừng nên tạp tu,
lơ là, chớ có hễ gặp chuyện bất như ư
liền buông xuôi chẳng niệm.
Lực dụng
c̣n gọi là công dụng hay gọi tắt là Dụng của
một bộ kinh. Hiệu quả thành tựu do việc tu
hành gọi là Công, những ứng dụng phong phú từ việc
thành tựu ấy gọi là Dụng. Hết thảy kinh
điển nếu không có công dụng mầu nhiệm (diệu
dụng) th́ c̣n có ai chịu nhọc nhằn tu hành nữa
ư?
Mỗi một bản kinh có một lực dụng
riêng biệt. Chẳng hạn như Lăng Nghiêm lấy “ly
ái đắc độ” (ĺa ái nhiễm được
độ thoát) làm dụng, kinh Bát Nhă lấy “thoát khổ
phá vọng” làm dụng. Kinh này lấy “văng sanh Cực Lạc,
đắc bất thoái chuyển” làm dụng.
1. Luận về văng sanh:
Do hành nhân niệm Phật có siêng - lười,
định - tán, sự - lư, mê - ngộ, đới nghiệp
- bất đới nghiệp sai khác, nên văng sanh về bốn
cơi Tịnh Độ sai khác, phẩm vị đại lược
chia thành chín phẩm văng sanh.
- Nếu chấp tŕ danh hiệu,
nhưng chưa đoạn được Kiến hoặc
và Tư hoặc, đới nghiệp văng sanh, th́ chỉ có
thể sanh vào Đồng Cư Tịnh Độ, thấy hóa thân
của Phật A Di Đà, nghe giảng ba mươi bảy
đạo phẩm sanh diệt, ngộ được Phật
tánh thiên không. Đây là căn tánh được hóa độ bởi
Tạng Giáo. Lại tùy theo tín tâm sâu hay cạn, nguyện lực
lớn hay nhỏ, công hạnh siêng hay lười mà phân
thành ba bậc chín phẩm.
- Nếu tŕ niệm danh hiệu
đến mức sự nhất tâm bất loạn, tùy phần
đoạn được một trong hai thứ Kiến
Hoặc và Tư Hoặc, sẽ sanh về cơi Phương
Tiện Hữu Dư Tịnh Độ, thấy được
Liệt Ứng Thân của Phật A Di Đà, nghe giảng ba
mươi bảy đạo phẩm vô sanh, ngộ
được chân không Phật tánh. Đây là căn tánh
được hóa độ bởi Thông Giáo.
- Nếu niệm đến mức
lư nhất tâm bất loạn, phá rỗng toang từ một
phẩm cho đến bốn mươi mốt phẩm vô
minh th́ sẽ sanh về cơi Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ,
cũng chứng được một phần Thường
Tịch Quang Tịnh Độ, thấy Thắng Ứng Thân của
Phật A Di Đà, nghe giảng vô lượng ba mươi bảy
đạo phẩm, ngộ trung đạo Phật tánh. Đây
là căn tánh được hóa độ bởi Biệt
Giáo.
- Nếu đă đoạn sạch
hết vô minh, th́ sẽ rốt ráo sanh về cơi Thường
Tịch Quang Tịnh Độ, thấy Pháp Thân Phật, nghe giảng
vô tác ba mươi đạo phẩm, giác ngộ Trung Đạo
Phật tánh viên măn. Đây là căn tánh được hóa độ
bởi Viên giáo.
Điều cần lưu ư là Tịnh
Độ tuy phân bốn cơi như thế, nhưng chẳng phải
thật sự có bốn cơi Tịnh Độ riêng biệt. Cùng
một cơi Tịnh Độ, do mức độ chứng
đắc khác nhau mà thấy thành bốn cơi Tịnh Độ.
Ba bậc chín phẩm văng sanh
như Quán kinh và kinh Vô Lượng Thọ đă rộng giảng.
Theo Ngài Quán Nguyệt
Tử Hưng Từ Pháp Sư phán định trong Nhị
Khóa Hiệp Giải, chín phẩm văng sanh có thể phán định
theo biểu đồ sau:
|
Phẩm vị
văng sanh |
Công hạnh |
Đoạn hoặc |
Địa vị |
|
|
Viên giáo |
Biệt
giáo |
|||
|
Thượng thượng |
Đại Thừa hạnh |
Phá Kiến, Tư hoặc |
Thập Tín
|
Đạo Chủng Tánh Thập Hướng |
|
Thượng trung |
Bát Tín, Cửu Tín |
Tánh Chủng Tánh Thập Hạnh |
||
|
Thượng hạ |
Từ Thất Tín trở xuống |
Tu tập tánh Thập Trụ |
||
|
Trung thượng |
Nhị thừa hạnh |
Đă chế phục hoặc |
Quán Hạnh ngũ phẩm |
Thập Tín |
|
Trung trung |
||||
|
Trung hạ |
Thiện hạnh thế gian |
|||
|
Hạ thượng |
Chỉ làm ác |
Chưa đoạn hoặc |
Danh tự |
|
|
Hạ trung |
||||
|
Hạ hạ |
||||
2.
Luận về bất thoái chuyển:
Thoái chuyển nghĩa là lui sụt
công hạnh, đánh mất đạo tâm ban đầu.
Người văng sanh cơi Cực Lạc sẽ chứng
được ba loại bất thoái chuyển:
1. Vị bất thoái:
Người đới nghiệp văng sanh về cơi Phàm Thánh
Đồng Cư Tịnh Độ, gởi thân nơi hoa sen, vĩnh
viễn chẳng c̣n bị đọa trở lại vào nhân
gian nữa, nên địa vị sẽ không bị lui sụt.
2. Hạnh bất thoái: Đă
đoạn được Kiến hoặc, Tư hoặc,
cũng phá được cả Trần Sa hoặc th́ mới
sanh lên cơi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ,
hướng thẳng đến cực quả, vĩnh viễn
chẳng lui sụt xuống cơi Đồng Cư.
3. Niệm bất thoái:
Phá vô minh, hiển Pháp Thân, sanh lên cơi Thật Báo Trang Nghiêm, chứng
đắc một phần cơi Tịnh Quang của Như
Lai, tâm tâm lưu nhập vào biển Nhất Thiết Trí.
Lại c̣n có một loại gọi là Cứu
Cánh Bất Thoái, nghĩa là chẳng cần biết là tán
tâm, định tâm, tin hay không tin v.v... chỉ cần niệm
một câu A Di Đà hoặc nghe danh hiệu Ngài thoảng qua
tai, dẫu trong đời này chưa được văng
sanh th́ trong trăm ngàn vạn kiếp sau, rốt ráo cũng
nhờ công đức ấy sẽ được độ
thoát, sẽ được văng sanh. Khác nào kẻ nuốt chất
kim cang vào bụng chẳng thể tiêu trừ nổi, công
đức niệm Phật cũng giống như thế!
Tóm lại, do căn cơ là lợi
hay độn, do nghiệp là nặng hay nhẹ, do hạnh
có sâu hay cạn sai khác mà đạt quả báo địa vị
có hơn kém, cao thấp như thế. Nhưng cứ hễ
đă được văng sanh th́ sẽ vĩnh viễn chẳng
bị thoái chuyển, sẽ thành tựu quả Bồ Đề
rốt ráo viên măn. Kẻ đới nghiệp văng sanh sanh vào
cơi Đồng Cư liền chứng Vị Bất Thoái, thọ
mạng dài lâu vô tận nên có thể trong một đời
chứng được Nhất Sanh Bổ Xứ. Hễ
đă được sanh về cơi Đồng Cư, chắc
chắn sẽ tiến lên ba cơi kia. Nói cách khác, một phen
đă chứng được Vị Bất Thoái, sẽ lần
lượt chứng được hai thứ Bất Thoái
kia.
Như vậy, được
văng sanh cơi Cực Lạc th́ không hạnh nào chẳng thành tựu,
không việc ǵ chẳng hoàn thành. Lực dụng như thế,
thiên kinh vạn quyển chưa hề thấy có. Nếu chẳng
phải là do đại nguyện lực của Phật A
Di Đà, làm sao có được công đức chẳng thể
nghĩ bàn như vậy? Xin hăy siêng gắng tu tập để
khỏi cô phụ tấm ḷng bi mẫn vô lượng của
đấng Từ Phụ!
V. TẠNG
GIÁO SỞ NHIẾP (phân định kinh này thuộc về tạng
nào, thời giáo nào)
Tạng có nghĩa là tích chứa,
tàng trữ. Giáo pháp một đời đức Phật
đă thuyết được kết tập thành tạng.
Tạng có hai loại: Nhị Tạng và Tam Tạng.
- Nhị Tạng
là Bồ Tát tạng và Thanh Văn tạng.
- Tam Tạng là
Kinh Tạng, Luận Tạng và Luật Tạng.
1. Phán định về Tạng:
Kinh này từ đầu đến
cuối không đề cập đến việc tŕ giới,
cũng chẳng luận nghị, chỉ chuyên dạy niệm
Phật, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ
nên phải thuộc về Kinh Tạng.
Kinh này lại hoằng
dương Đại Thừa, tuyên dương đấng
Giáo Chủ cơi Cực Lạc, dù dạy chúng sanh chán khổ
ưa vui, cầu sanh Cực Lạc, nhưng cốt yếu
là để gặp Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn rồi
sẽ trở lại Sa Bà, giáo hóa chúng sanh. Đấy đều
là hạnh Bồ Tát, cho nên kinh này phải thuộc về Bồ
Tát Tạng.
2. Phán định giáo tướng:
Những lời chư Phật,
chư thánh giảng dạy được gọi là Giáo. Việc
phân định, xếp loại thứ tự thánh giáo của
đức Như Lai thường được gọi là
“phán định giáo tướng” hay gọi tắt là “phán
giáo”.
* Theo đại sư Khuy Cơ, tính cho đến
thời Đại Sư, đă có những thuyết phán giáo sau
đây:
a.
Thuyết Nhất Thời Giáo: do Ngài Tam Tạng Bồ Đề
Lưu Chi (Tàu dịch là Giác Thọ) đời Bắc Ngụy
đề xướng. Nghĩa là tuy giáo pháp của đức
Phật chỉ có một thời, nhưng v́ có hai ư nghĩa
bất đồng nên tựa hồ có nhiều giáo pháp:
a.1. Giáo đồng
căn dị: Như nước mưa chỉ có một
vị, nhưng ba loại dược thảo, hai loại
cây cối được thấm nhuần sai khác. Tức
là giáo pháp vốn chỉ là một, nhưng chúng sanh ngộ
giải bất đồng, do căn cơ chúng sanh khác nhau
nên tựa hồ có nhiều giáo pháp khác nhau.
a.2. Lư đồng
chứng dị: Lư tuy chỉ một nhưng sự chứng
đắc của tam thừa có sai khác, như cùng một
ḍng sông, ba loài thú cùng lội qua, chân đạp xuống
nước sâu cạn sai khác.
b. Thuyết Tiệm Đốn Giáo:
do Ngài Đàm Vô Sấm đời Tống lập ra.
b.1. Đốn giáo là những thuyết như nhị
không, tam tánh, tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngă v.v...
b.2 Tiệm giáo
là những giáo pháp như Tứ Đế, Duyên Sanh, Ngũ Giới,
Bát Giới v.v...
c. Thuyết Tam Thời Giáo (c̣n gọi
là Tam Giáo): do Ngài Chân Đế Tam Tạng Pháp Sư thời
Lương đề xướng. Tam thời giáo là:
c.1. Hữu
giáo: trong ṿng 7 năm đầu kể từ khi thành Phật,
đức Thế Tôn nói ra Hữu giáo, dùng pháp Thanh Văn
để độ các vị như năm anh em Kiều Trần
Như, Xá Lợi Phất, Ca Diếp v.v...
c.2. Không giáo:
Từ năm thứ tám đến năm thứ ba
mươi tám, Đức Phật chuyên giảng về học
thuyết Bát Nhă. Đó là Không Giáo.
c.3. Phi hữu
phi không giáo: Từ năm thứ 39 cho đến khi Phật
nhập Niết Bàn, Ngài chuyên giảng về giáo pháp phi hữu
phi không như các kinh Pháp Hoa, Lăng Già, Tư Ích...
d. Thuyết Tứ Thời Giáo:
do Khuất Đa Cấp Đa Tam Tạng đề xướng;
chia một đời giáo hóa của đức Như Lai
thành bốn thời:
d.1. Sanh không
giáo: tức là thời gian trong 12 năm đầu sau khi
thành Phật, đức Thế Tôn giảng thuyết các bộ
kinh giảng về nhân không như A Hàm...
d.2. Pháp không
giáo: Từ năm thứ 13 đến năm thứ 38,
Phật giảng các bộ kinh dạy về pháp không như
tám bộ Bát Nhă v.v...
d.3. Pháp
tướng giáo: Từ năm thứ 39 đến
năm thứ 49, Phật giảng các kinh như Lăng Già,
Tư Ích, Pháp Hoa v.v... chỉ bày các pháp như bách pháp, tam
tánh, tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngă v.v... Do chú trọng
đến phân chia danh mục, số loại của các pháp
nên gọi là Pháp Tướng.
d.4. Quán hạnh
giáo: tức là thời gian giảng về pháp môn Pháp Giới
Quán của kinh Hoa Nghiêm...
e.
Thuyết Ngũ Thời Giáo: do Lưu Cư Sĩ đời
Tấn đề xướng, chia giáo pháp thành năm thời:
e.1. Nhân thiên
giáo: là những giáo pháp được giảng trong 21
ngày sau khi Đức Phật thành đạo; gồm các giáo pháp
như Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện v.v... v́ thính
chúng chưa có thiện căn xuất thế. Thuyết này
bị Ngài Giác Thọ (Bồ Đề Lưu Chi) bắt bẻ:
“Kinh Đề Vị nói nhóm năm
trăm người lái buôn như Đề Vị v.v... thọ
Ngũ Giới, Phật dạy họ trước hết
phải sám hối các tội Ngũ Nghịch, Thập Ác. Thế
Tôn dạy: ‘Tứ đại vốn tịnh, cái Ta vốn
tịnh’, Đề Vị liền đắc Vô Sanh Nhẫn;
năm trăm người lái buôn đắc Nhu Thuận Nhẫn.
Lẽ nào đấy chỉ là giáo pháp thuộc nhân thiên
ư?”
e.2. Sanh không
giáo: tức là giáo pháp Nhị Thừa được giảng
trong mười hai năm đầu tiên.
e.3 Pháp không
giáo: là những giáo pháp được giảng trong
mười tám năm kế đó.
e.4. Câu không
giáo: tức là thời gian giảng tám bộ Bát Nhă.
e.4. Phi hữu phi không giáo: tức là thời
gian từ năm thứ 49 sau khi Đức Phật thành đạo
trở đi. Thời gian này Ngài giảng các kinh như
Lăng Già, Pháp Hoa v.v...
Đại Sư
Khuy Cơ chỉ nêu ra các giáo như thế nhưng không khẳng
định kinh này thuộc về giáo nào trong những thuyết
trên. Tuy thế, những thuyết phán giáo trên đây không
được phổ biến và vận dụng rộng
răi bằng hai thuyết Ngũ Thời Bát Giáo của tông
Thiên Thai và Ngũ Giáo của tông Hoa Nghiêm.
a.
Ngũ thời Bát giáo:
a.1. Bát giáo:
Bát giáo gồm “hóa
nghi tứ giáo” (bốn phương pháp hóa độ thuận
theo căn cơ) và “hóa pháp tứ giáo” (bốn phương
pháp giáo hóa dựa theo mức độ giải ngộ).
Hóa nghi tứ giáo gồm: Đốn,
Tiệm, Bất Định, Bí Mật. Hóa pháp tứ giáo gồm
Tạng (Tiểu Thừa), Thông (bao gồm cả Tiểu Thừa
lẫn Đại Thừa, nhưng mới chỉ là những
giáo pháp sơ khởi của Đại Thừa), Biệt (giáo
pháp Đại Thừa dành riêng cho hàng Bồ Tát), và Viên (những
giáo pháp viên dung vô ngại, hàm nhiếp trọn vẹn tất
cả các giáo pháp, là giáo pháp cao tột nhất trong các giáo
pháp Đại Thừa).
a.2. Ngũ thời:
- Thời Hoa Nghiêm:
Phật hiện thân to lớn, giảng kinh Hoa Nghiêm cho những
bậc căn cơ Đại Thừa viên đốn, chuyên giảng
về Viên Giáo, nhưng đôi chỗ có kèm Biệt giáo.
- Thời
A Hàm: Phật hiện thân trượng sáu, giảng pháp
cho thính chúng căn cơ Tiểu Thừa, chỉ dạy về
Tạng Giáo và Nhị Thừa Tiểu Quả.
- Thời Phương Đẳng:
đối với căn cơ Tiểu Thừa, Phật giảng
Tạng Giáo; đối với căn cơ Đại Thừa,
Phật dạy Viên, Thông, Biệt Giáo.
- Thời Bát Nhă: dù kiêm thuyết
lư tánh quyền hiện, nhưng chủ yếu là Thật Lư
viên măn của Viên Giáo.
- Thời Pháp Hoa - Niết Bàn:
quy nhiếp Tam Thừa về Nhất Thừa, khai thị
tri kiến Phật.
b. Ngũ Giáo
Tức là:
- Tiểu (Tiểu Thừa): chỉ
giảng pháp không, chưa giảng Ngă Không.
- Thỉ (Đại Thừa Thỉ
Giáo): căn cứ trên sự sanh diệt của tám thức,
kiến lập những giáo nghĩa sanh tử, Niết Bàn,
bàn rộng pháp tướng, nhưng chỉ mới luận
đôi phần về pháp tánh. Tuy đă giảng về Tam Thừa,
nhưng chưa hứa khả hàng định tánh Thanh
Văn và Nhất Xiển Đề có khả năng thành Phật.
V́ chưa bàn cùng tột giáo lư Đại Thừa nên gọi là
Thỉ (bắt đầu).
- Chung (Đại Thừa chung
giáo): bàn cùng tận giáo nghĩa Đại Thừa, căn cứ
vào bát thức của Như Lai Tạng tùy duyên bất biến
để lập giáo nghĩa, chú trọng đến pháp
tánh, nhưng chỉ luận đôi chút về pháp tánh,
chưa giảng chi tiết. Dù có giảng pháp tướng
đi nữa, cũng đều quy về pháp tánh. Chung Giáo
công nhận Xiển Đề có khả năng thành Phật.
- Đốn: Chỉ luận về
Thật Tướng. Một niệm bất sanh th́ gọi
là thành Phật. Không cần bận tâm đến thứ tự
tu tập từng bước nên gọi là Đốn (nhanh
chóng).
- Viên: Viên Giáo bao trùm cả bốn
giáo trên, viên dung đầy đủ muôn pháp, duyên khởi
vô ngại, pháp giới vô tận, không c̣n phân biệt giữa
sự và lư nữa nên gọi là Viên (trọn vẹn).
3.
Phán định giáo tướng của kinh này:
Nếu xét theo cách phán giáo của
tông Hoa Nghiêm, kinh này thuộc về Viên Giáo lẫn Đốn
Giáo. Xét theo cách phán giáo của tông Thiên Thai, kinh này tuy nằm
trong thời Phương Đẳng, nhưng lại thuộc
về Viên Giáo.
Bởi Tạng giáo và Thông Giáo
chẳng đề cập đến danh hiệu chư Phật
ở phương khác, nên kinh A Di Đà chẳng thể thuộc
về Tạng và Thông giáo.
Người niệm Phật lại
có thể vượt ngang ra khỏi ba cơi, văng sanh Cực Lạc,
đồng chứng ba thứ bất thoái nên kinh này phải
thuộc về Đốn Giáo.
Trong năm thời, thời
Hoa Nghiêm nhằm lúc Phật mới thành đạo, Ngài v́
hàng pháp thân đại sĩ giảng giải cảnh giới
Như Lai, chúng Thanh Văn ngồi dự pháp hội như
đui, như điếc, chẳng lănh hội được
ǵ. Kinh này lại chuyên dạy chúng sanh đời mạt, ác
thế ngũ trược, niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, nghĩa là: đối tượng được
hóa độ của kinh này là hết thảy hữu t́nh,
nên kinh này không thể nào thuộc về thời Hoa Nghiêm
được.
Trong thời A Hàm, Phật
chuyên dạy pháp Tiểu Thừa. Thế nhưng kinh này luận
về công đức trang nghiêm y báo, chánh báo cơi Cực Lạc,
cũng như ư chỉ huyền nhiệm rốt ráo thành Phật,
nên cũng không thể nào thuộc về thời A Hàm
được.
Trong thời Bát Nhă, Đức Phật
chuyên luận về những pháp mà Bồ Tát phải học.
Kinh này chẳng phân biệt căn cơ chúng sanh, bất cứ
ai nếu chí thành niệm Phật đều có thể
được văng sanh. Bởi đó, kinh này chẳng thể
thuộc về thời Bát Nhă.
Thời Pháp Hoa khai quyền hiển
thật (vạch rơ những pháp phương tiện, trực
chỉ thật lư Nhất Thừa), khai thị tri kiến
Phật; thế nhưng kinh này chỉ chuyên dạy Tŕ Danh,
nên chẳng thuộc về thời Pháp Hoa được.
Bởi những lẽ trên,
kinh này phải thuộc về thời Phương Đẳng.
Hơn nữa, kinh Di Đà bao hàm
diệu lư viên đốn, trước th́ thông tiếp kinh
Hoa Nghiêm, sau th́ thông tiếp kinh Pháp Hoa; cho nên phán định
kinh này thuộc về thời Phương Đẳng rất
hợp lư.
VI. CĂN
TÁNH SỞ BỊ (những căn tánh được tiếp
độ bởi kinh này)
Những nghĩa
lư được diễn giảng trong kinh này tuy là chí viên,
chí đốn, là pháp để giáo hóa Bồ Tát, nhưng cũng
là pháp kiêm dạy Nhị Thừa. Bất luận căn
cơ là thượng, trung hay hạ đều có thể niệm
Phật, đều được văng sanh. Chỉ trừ
kẻ chẳng tin, chẳng nguyện, chẳng hạnh là
đành chịu vô phần. Nếu có tín, hạnh, nguyện
th́ dù đang ở trong địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh, vẫn là căn cơ sẽ được hóa
độ bởi kinh này.
Kinh chép: “V́ vậy, này Xá Lợi Phất!
Các ông đều phải nên tin nhận lời ta và lời
chư Phật nói” là khuyến tín. Lại chép: “Nếu có kẻ tin hăy nên phát nguyện
sinh sang cơi ấy” là khuyên phát nguyện. Lại chép: “Nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhân, nghe nói A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu hoặc
một ngày... hoặc bảy ngày nhất tâm bất loạn”
là khuyên nên hành tŕ.
Thuộc cùng một
Bộ là những kinh cùng phô diễn một tông thú, nhưng
diễn giảng rộng lược khác nhau. Thuộc cùng một
Loại là những kinh có tông thú liên quan mật thiết với
nhau.
Xét về Bộ,
hai kinh cùng Bộ là kinh này và kinh Vô Lượng Thọ (không
đề cập đến kinh Xưng Tán Tịnh Độ
Phật Nhiếp Thọ v́ nó chỉ là bản dịch khác của
kinh này).
Cùng Loại với
kinh A Di Đà đây có kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Cổ
Âm Thanh Vương, A Di Đà Kệ Kinh.
Được xếp
vào Phi Bộ Phi Loại là những kinh có nói kèm đến
pháp môn Tịnh Độ như kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh
Lăng Nghiêm, Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhă, Bi Hoa, Quán Âm Bồ
Tát Thọ Kư, Phật Thuyết Như Huyễn Tam Ma Địa
Vô Lượng Ấn Pháp Môn ...
Nếu kể
cả những kinh Mật Giáo dạy thần chú, cách lập
đàn, vẽ mạn đà la, quán tưởng Phật A Di
Đà th́ phải kể thêm:
1. Vô Lượng Thọ
Như Lai Tu Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ do Ngài Bất
Không dịch vào đời Đường, chủ yếu dạy
cách quán tưởng và các nghi thức cúng dường.
2. Bạt Nhất
Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh
Độ Thần Chú do Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào
đời Lưu Tống (bản này chỉ ghi bài thần
chú)
3. Cửu Phẩm Văng Sanh
A Di Đà Tam Ma Địa Tập Đà Ra Ni kinh do Ngài Bất Không dịch
vào đời Đường.
4.. Đại Thừa Vô Lượng
Thọ Kinh do Ngài Pháp Thành dịch vào đời Đường.
5. Vô Lượng Thọ Đại
Trí Đà Ra Ni, do Ngài Pháp Hiền dịch vào đời Triệu
Tống. Kinh này chỉ có bài chú. Bản dịch khác của
kinh này đầy đủ hơn là kinh Đại Thừa
Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh
Vương Như Lai Đà Ra Ni.
VII. DỊCH
TRUYỀN CẢM THÔNG (các bản dịch, bản
được lưu truyền, những sự cảm ứng
do tụng tŕ kinh này)
A. Các bản dịch:
Từ Phạn ngữ, dịch
sang Hán văn có hai bản dịch:
1. Bản thứ
nhất mang tên Phật Thuyết
A Di Đà Kinh, do Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
dịch vào thời Dao Tần (394-415).
2. Bản thứ
hai mang tên Xưng Tán Tịnh Độ
Phật Nhiếp Thọ Kinh do Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch vào đời Đường.
Hai bản dịch
này đại đồng tiểu dị, bản dịch của
Ngài Huyền Trang chi tiết hơn, nhưng kém phần bóng
bẩy hơn so với bản dịch của Ngài La Thập.
Hiện tại, bản được lưu truyền rộng
răi hơn cả là bản dịch của Ngài La Thập (thường
gọi là bản Tần dịch).
Ngoài hai bản
dịch này, hiện c̣n một bản hội tập hai bản
kinh trên do cư sĩ Hạ Liên Cư soạn. Ngoài Tịnh
Độ Cư Sĩ Lâm Trung Hoa, bản hội tập này không
được sử dụng phổ biến cho lắm.
Theo Chúng Kinh Mục Lục, vào đời Lưu Tống, kinh
này cũng được Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch
với tựa đề Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh
nhưng đă thất truyền.
Khi chú giải
các kinh này, từ xưa đến nay, các nhà sớ giải
kinh đều dùng bản của Ngài La Thập. Ngay cả
đại đệ tử của pháp sư Huyền Trang
là Ngài Khuy Cơ khi sớ giải kinh cũng dùng bản của
Ngài La Thập, có lẽ v́ bản này phổ biến hơn
cả.
B. Các bản chú giải:
Từ xưa đến nay,
kinh này được chú sớ rất nhiều, nhưng bị
thất truyền rất nhiều. Hiện tại, chỉ
c̣n giữ lại được một số bản chú
giải như sau:
1. A Di Đà Kinh Nghĩa
Kư, 1 quyển, do Ngài Trí Khải soạn thuật vào đời
Tùy.
2. A Di Đà Kinh Nghĩa
Thuật, 1 quyển, do Ngài Huệ Tịnh soạn vào đời
Đường.
3. A Di Đà Kinh
Thông Tán Sớ, 3 quyển, do Ngài Khuy Cơ soạn vào đời
Đường.
4. A Di Đà Kinh Sớ,
1 quyển, do Ngài Khuy Cơ đời Đường soạn.
5. A Di Đà Kinh Sớ,
1 quyển, do Ngài Hải Đông Nguyên Hiểu người xứ
Tân La soạn.
6. A Di Đà Kinh Sớ,
do Ngài Trí Viên soạn vào đời Tống.
7. A Di Đà Kinh Nghĩa
Sớ do Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu đời Tống soạn.
8. A Di Đà Kinh Cú
Giải do Ngài Tánh Trừng soạn vào đời Nguyên.
9. A Di Đà Kinh Lược Giải của Ngài Đại Hựu
thời Nguyên.
10. A Di Đà Kinh Sớ
Sao do Ngài Vân Thê Liên Tŕ soạn vào thời Minh.
11. A Di Đà Kinh
Lược Giải Viên Trung Sao, 2 quyển, do Ngài U Khê Truyền
Đăng soạn.
12. A Di Đà Kinh Yếu Giải do Ngài Linh Phong Ngẫu Ích
Trí Húc soạn vào cuối đời Minh.
13. A Di Đà Kinh Yếu
Giải Giảng Nghĩa của Viên Anh Pháp Sư đời
Thanh.
14. A Di Đà Kinh Thiệt Tướng của Ngài Tịnh
Đĩnh soạn.
15. A Di Đà Kinh Trực
Giải Chánh Hạnh của Liễu Căn Toản soạn.
16. A Di Đà Kinh
Lược Chú của Ngài Tục Pháp soạn.
17. A Di Đà Kinh
Trích Yếu Dị Giải do Ngài Chân Tung soạn.
18. A Di Đà Kinh
Ước Luận của cư sĩ Bành Tế Thanh soạn
vào đời Thanh.
19. A Di Đà Kinh
Thích và A Di Đà Kinh Chú của Trịnh Trừng Đức và Đặng
Trừng Nguyên hợp soạn.
20. A Di Đà Kinh
Tiên Chú của cư sĩ Đinh Phước Bảo (ông này cũng
là tác giả của bộ Phật Học Đại Từ Điển).
Từ bản A Di Đà Kinh Sớ
Sao, Ngài Trí Nguyện tổng kết những lời giảng
của chư cổ đức đời Minh soạn ra ba
tác phẩm: A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa, A Di Đà Kinh Sớ
Sao Vấn Biện, A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa.
Ngài Đạt Mặc (không rơ thời đại) soạn
lời Sao cho cuốn Yếu Giải của Tổ Trí Húc,
đặt tên là A Di Đà Kinh Yếu Giải Tiện Mông Sao,
Trong các bản
chú giải kinh trên đây, bản Yếu Giải của
Ngài Ngẫu Ích được Tổ Ấn Quang tán
dương như sau: “Lư sự
đều đạt đến chỗ tuyệt diệu,
kể từ khi Phật thuyết kinh này đến nay, Yếu
Giải là bản chú giải bậc nhất, khéo léo nhất,
xác thực nhất. Ví dù cổ Phật xuất thế chú
giải lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn
được nữa”. V́ thế, trong các bản chú giải
kinh A Di Đà, tác phẩm A Di Đà Kinh Yếu Giải được
lưu truyền mạnh mẽ nhất.
Cho đến
hiện tại, chư tôn cổ đức vẫn tiếp
tục diễn giảng kinh A Di Đà và trước tác rất
nhiều tác phẩm mới để phu dương mật
nghĩa của kinh này nhưng kiến giải đa phần
vẫn dựa theo hai tác phẩm Yếu Giải và Sớ
Sao là chính.
C. Sự cảm
ứng của việc tŕ kinh
Từ xưa đến nay,
người tŕ tụng kinh này được cảm ứng
rất nhiều, xin lược thuật một vài chuyện:
Theo Trí Độ Luận, có một
vị tỳ kheo tŕ tụng kinh A Di Đà, lúc sắp mạng
chung, bảo đệ tử rằng: “A Di Đà Phật cùng
các thánh chúng đều đến đón ta”. Mất rồi,
đệ tử làm lễ trà tỳ, thấy cuống
lưỡi của vị tỳ kheo ấy chẳng cháy,
h́nh dáng, màu sắc vẫn tươi nguyên như khi c̣n sống.
Ông Đường Thế
Lương đời Tống tụng kinh Di Đà đến
mười vạn biến. Một ngày nọ bảo
người nhà: “Phật đến đón ta”. Nói xong, làm lễ
mà tịch. Đêm ấy có kẻ đi buôn, ngụ bên núi Đạo
Vị, mộng thấy ánh sáng lạ lùng ở Tây
Phương, phan, hoa vần vũ, âm nhạc réo rắt,
trên không rền vang tiếng nói: “Ông Đường Thế
Lương đă sanh về Tịnh Độ”.
Đời Tống, kẻ thảo
dân Bằng Mân, thuở trẻ thích săn bắn. Một
ngày nọ, đi săn gặp một con rắn to liền
cầm giáo xông đến đâm. Khi ấy, rắn đang
núp một gộp đá lớn, toan mổ một con ḅ vàng.
Bằng Mân xô đá đè chết rắn. Khi được
tái sanh, rắn nhiều phen tính trả thù, nhưng họ Bằng
đă tu sám, niệm Phật đă lâu nên rắn chẳng làm
ǵ được. Đến một ngày nọ, ông thỉnh các
bạn đồng tu Tịnh nghiệp tụng kinh Di Dà, ngồi
chắp tay qua đời.
Đời Tống, pháp sư Trí
Tiên, hiệu Chân Giáo, trụ tŕ chùa Bạch Liên, suốt
mười ba năm hướng về Tây niệm Phật,
trong 12 thời chưa từng thiếu sót công phu. Một
chiều nọ, Sư mỉm cười, sai quán đường
hành nhân tụng kinh A Di Đà. Tụng chưa xong, Sư đă
an nhiên tọa hóa.
Ngài Thích Xử Khiêm đời
Tống chuyên tu Tịnh Độ. Một tối nọ, tụng
kinh A Di Đà xong, Ngài khen ngợi Tịnh Độ rồi bảo
với đại chúng rằng: “Tôi đă đạt vô sanh
mà sanh Tịnh Độ”. Liền như nhập thiền định,
lặng lẽ mà hóa.
Đời Tống, bà lăo họ
Chung ở quận Gia Ḥa, mỗi ngày tụng kinh Di Đà mười
biến, niệm Phật chẳng bỏ sót ngày nào. Một
ngày nọ bà bảo con: “Ta thấy hoa sen trắng vô số,
thánh chúng đến đón ta”. Rồi ngồi ngay ngắn,
lặng lẽ qua đời.
Hoài Ngọc thiền sư
người Đài Châu, chuyên mặc áo vải, ngày ăn một
bữa, thường ngồi chẳng nằm, tinh tấn
niệm Phật, tụng kinh Di Đà đến ba mươi vạn
biến. Một ngày kia thấy Tây Phương thánh chúng nhiều
như cát sông Hằng. Một vị tay cầm đài bạc,
theo cửa sổ mà vào. Sư hỏi: “Tôi một đời
tinh tấn, thề lấy được đài vàng, sao lại
như thế này?” Đài bạc liền ẩn mất. Sư
càng cảm khích, tinh tấn gấp bội. Hăm mốt
ngày sau, thấy Phật hiện chật cả không trung, bèn
bảo đệ tử: “Kim đài đă đến
đón, ta sanh về Tịnh Độ đây!” Rồi đọc
kệ, mỉm cười mà tịch.
Năm Đại Lịch thứ
chín đời Nguyên, Tử Hoa thiền sư trụ tại
chùa Quán Âm ở Nhuận Châu, tụng kinh Di Đà suốt sáu
tháng, chợt mắc bệnh. Đêm ngửi thấy mùi
hương, nghe tiếng âm nhạc, trên không có tiếng bảo:
“Sự vui thô thiển đă qua, sự vui tinh tế sẽ
tiếp nối. Ngài sẽ văng sanh”. Chẳng lâu sau, sư niệm
Phật viên tịch, mùi hương ngào ngạt suốt mấy
ngày chẳng tan.
Ngay cả cầm thú cũng
được lợi lạc do việc tŕ kinh này. Quán công ở
chùa Chánh Đẳng tại Hoàng Nham, có nuôi một con nhồng
(tên một loài chim), thường dạy nó niệm Phật
chẳng ngớt. Về sau, con nhồng chết đứng
trong lồng. Quán công đem chôn, ít lâu sau, trên mộ chim mọc
lên một đóa hoa sen tím. Bới đất để t́m
gốc sen, thấy hoa sen ấy mọc ra từ lưỡi
con nhồng.
Sự cảm ứng của kinh Di Đà rất
nhiều, chẳng thể thuật trọn. Chúng ta là hạng
phàm phu khổ năo chúng sanh, muốn thoát ly biển khổ,
mong vượt khỏi tam giới, thật phải nên buông
bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật th́
đương nhiên sẽ hữu cầu tất ứng, vô
cảm bất thông vậy!