1.2.1.3.3. Văn
pháp hoạch ích (nghe pháp
được lợi ích)
Chánh kinh:
Kỳ độ chúng
sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
(Chúng sanh
cơi ấy nghe những tiếng đó xong, thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng)
Giải:
“Kỳ
độ” (cơi ấy) tức
là cơi Cực Lạc.
“Văn thị âm
dĩ”: chữ “thị âm”
chỉ các pháp âm do các loài chim phát ra, Dĩ có nghĩa là đă xong, đă hoàn tất. Ư
nói: sau khi được nghe các pháp âm ấy, ai nấy đều xưng niệm Tam Bảo, nên bảo là
“giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”.
Phật, Pháp,
Tăng là Tam Bảo. Bảo có nghĩa là tôn quư. Phật, Pháp, Tăng là ba thứ tôn quư
nhất trong mọi pháp xuất thế và thế gian.
Phật được gọi
là Lưỡng Túc Tôn v́ phước lẫn huệ đều trọn vẹn. Pháp được gọi là Ly Dục Tôn v́
có thể khiến cho hết thảy thoát ly dục lạc. Tăng được xưng là Chúng Trung Tôn v́
làm bậc thầy, là khuôn mẫu cho chúng sanh noi theo, rất đáng tôn kính. Tam Bảo
có thể cứu giúp cho chúng sanh xuất ly nỗi khổ sanh tử, hưởng vui Niết Bàn nên
c̣n quư hơn tài bảo thế gian. V́ của cải thế gian chỉ có thể đem lại no ấm cùng
những dục lạc hư huyễn trong thế gian, không đem lại sự vui vĩnh viễn, giải
thoát trọn vẹn sanh tử như Tam Bảo.
Tam Bảo lại có
nhiều loại:
1) Tam Thân
Tam Bảo: Tam Bảo
tương ứng với Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân.
a. Pháp
Thân Tam Bảo: Tự tánh bất biến là Phật Bảo. Tịch mà thường chiếu là Pháp
Bảo. Tịch lẫn chiếu chẳng hai là Tăng Bảo.
b. Báo Thân
Tam Bảo: Tự tánh bất biến, chiếu mà thường tịch là Phật Bảo. Diệu dụng tùy
duyên, tịch mà thường chiếu là Pháp Bảo. Dẫu thị hiện vẫn chẳng ĺa tịch diệt là
Tăng Bảo.
c. Ứng thân
Tam Bảo: Đức Thích Ca giáng tích hoàng cung, thị hiện tám tướng thành đạo,
đầy đủ ba mươi hai tướng hảo là Phật Bảo. Ba tạng diệu điển là Pháp Bảo. Đại
chúng thường theo học với Phật từ khi Ngài chuyển pháp luân là Tăng Bảo.
2) Tứ giáo Tam
Bảo:
a. Tạng
giáo Tam Bảo: Đoạn sạch kiến hoặc và tư hoặc, chứng Niết Bàn thiên không
chính là Phật Bảo. Sanh diệt Tứ Đế, sanh diệt thập nhị nhân duyên, pháp môn Lục
Độ chỉ thuộc về Sự th́ gọi là Pháp Bảo. Tu tập Không Quán theo kiểu phân tích,
kể từ bậc đoạn Kiến Hoặc trở xuống là Tăng Bảo.
b. Thông
Giáo Tam Bảo: Đoạn Kiến - Tư Hoặc, đánh phá tập khí, chứng chân đế Niết Bàn
là Phật Bảo. Vô sanh Tứ Đế, bất sanh diệt thập nhị nhân duyên, pháp môn Lục Độ
thuộc về mặt Lư chính là Pháp Bảo. Tu Không Quán theo kiểu thể nhận bản thể, từ
bậc đánh phá tập khí trở xuống th́ thuộc về Tăng Bảo.
c. Biệt
giáo Tam Bảo: Đoạn Kiến, Tư, Trần Sa Hoặc, lại đoạn mười hai phẩm vô minh,
chứng Trung Đạo Vô Trụ Niết Bàn th́ là Phật Bảo. Vô lượng Tứ Đế, bất tư nghị
nhân duyên, bất tư nghị lục độ pháp môn... là Pháp Bảo. Lần lượt tu Tam Quán
(Không, Giả, Trung), đoạn sạch Kiến, Tư, Trần Sa Hoặc, từ bậc đoạn mười hai phẩm
vô minh trở xuống là Tăng Bảo.
d. Viên Giáo Tam
Bảo: Đoạn sạch ba hoặc, vĩnh viễn dứt trừ hai thứ sanh tử (phần đoạn và biến
dịch), chứng trọn vẹn ba đức rốt ráo của Niết Bàn (pháp thân, giải thoát, Bát
Nhă) th́ là Phật Bảo. Vô tác Tứ Đế, bất tư nghị thập nhị nhân duyên, xứng tánh
lục độ pháp môn v.v... là Pháp Bảo. Tu nhất tâm tam quán, đoạn từ mười hai phẩm
vô minh trở lên là Tăng Bảo.
3) Trụ Tŕ Tam
Bảo:
Trụ là ở trong
thế gian. Như vậy, Trụ Tŕ Tam Bảo chính là thế gian Tam Bảo. Tŕ có nghĩa là
duy tŕ, ư nói: huệ mạng của Phật phải nhờ vào loại Tam Bảo này mới tồn tại
trong thế gian dài lâu. Các tượng Phật bằng đủ các chất liệu chính là Phật Bảo.
Tam Tạng kinh, luật, luận chính Pháp Bảo, tỳ kheo nghiêm tŕ giới luật, hoằng
truyền thánh giáo chính là Tăng Bảo.
4) Tự Tánh Tam
Bảo:
Lấy tự tánh
linh giác chẳng mê muội của chúng sanh làm Phật Bảo. Lấy tánh có sẵn đủ hằng sa
công đức làm Pháp Bảo. Tánh tướng bất nhị, lư trí ngầm dung thông nhau chính là
Tăng Bảo.
Tứ giáo Tam
Bảo, Tam thân Tam Bảo và Trụ Tŕ Tam Bảo là tướng, nhưng tướng vốn hàm chứa
tánh, nhất thể Tam Bảo (tự tánh Tam Bảo) là tánh. Tánh chẳng rời tướng, tánh
hiện hữu nơi tướng, nên tánh, tướng bất nhị vậy.
Các loài chim
biến hóa nơi cơi Cực Lạc hót ra những tiếng tuyệt mỹ nào phải chỉ để người nghe
sướng tai, khoái ư thôi đâu! Tiếng chim hót c̣n diễn đủ mọi pháp Tiểu thừa, Đại
Thừa, Nhất Thừa, khiến cho người cơi Cực Lạc sanh khởi ư niệm xưng tán Tam Bảo,
tấn tu đạo nghiệp. Cơi Cực Lạc dùng đủ mọi phương tiện phù hợp căn tánh muôn
loài để khuyên nhắc, cổ vũ. Người nghe pháp hỷ sung măn, quảng phát Bồ Đề tâm.
Thật là diệu dụng bất tư ngh́ của đức Từ Phụ A Di Đà vậy!
Ba chữ “niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng” c̣n có thể hiểu như sau:
- Chúng sanh
sống trong cơi Cực Lạc, nghĩ nhớ đến nguyện lực rộng lớn, oai đức chẳng thể nghĩ
bàn của đức Từ Phụ. Đó chính là niệm Phật.
- Nghĩ đến
chim chóc, cây cối, nước, gió... đều diễn diệu pháp, nghe xong giải ngộ, tâm
sanh hoan hỷ như được uống cam lộ, hưởng niềm vui pháp vị. Đấy chính là niệm
Pháp.
- Nghĩ nhớ các
Bồ Tát và các bậc thượng thiện nhân thường yêu mến, bảo vệ ḿnh, thường được ở
chung một nơi với các Ngài, đồng tu, đồng chứng. Đấy chính là niệm Tăng.
Giải thích như
vậy là ước theo Tam Bảo của người khác mà luận. Đó chính là Sự niệm. Nếu theo tự
tánh Tam Bảo mà luận th́:
- Các loài
chim trong cơi Cực Lạc hót tiếng mầu nhiệm, xưng tán trọn vẹn các công đức của
Phật, khiến cho người nghe liền ngộ giải bổn giác thanh tịnh thường trụ Phật
tánh của chính ḿnh. Đấy là niệm Phật.
- Hoặc tiếng
chim tuyên dương tam thừa diệu pháp, khiến người nghe ngộ giải hằng sa pháp môn
sẵn đủ nơi tự tánh của chính ḿnh. Đấy chính là niệm Pháp.
- Hoặc tiếng
chim diễn nói pháp chứng đắc của tam thừa, khiến cho người nghe ngộ giải lư trí
ḥa hợp, tự tánh bất nhị. Đấy chính là niệm Tăng.
Niệm như vậy là Lư niệm.
Thêm nữa:
- Quán tự tâm thường chiếu, các pháp vằng vặc phân minh. Đấy là niệm
Phật.
- Quán tự tâm chiếu mà thường tịch, trọn không có hai pháp. Đấy là niệm
Pháp.
- Quán tự tâm tịch mà thường chiếu, chiếu nhưng thường tịch, c̣n chính là
mất, mất chính là c̣n, có chính là không, không tức là có, trong không có Diệu
Hữu. Đấy là niệm Tăng.
Niệm Tam Bảo
một cách viên măn th́ sẽ phát khởi trọn vẹn ba tâm: Niệm Phật chính là chánh
nhân để phát khởi Lư tâm Phật tánh. Niệm Pháp là liễu nhân để phát khởi Huệ Tâm
Phật Tánh. Niệm Tăng chính là duyên nhân để phát khởi Thiện Tâm Phật Tánh. Ba
tâm đă phát khởi viên măn th́ ba hoặc (Kiến, Tư, Trần Sa) sẽ đoạn trừ trọn vẹn
nên tự nhiên sẽ chứng lên ba ngôi Bất Thoái vậy.
Nếu luận theo Lư, Tam Bảo được nói trong kinh A Di Đà đây là nhằm biểu
thị tự tánh sẵn đủ ba đức: Phật là Pháp Thân đức; Pháp là Bát Nhă đức; Tăng là
Giải Thoát đức.
1.2.1.3.4.
Vĩnh vô ác đạo (trọn không
có các đường ác)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Nhữ vật vị thử điểu, thật thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô
tam ác đạo.
Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thật?
(Xá Lợi Phất!
Ông chớ bảo những loài chim ấy thật v́ tội báo mà sanh. V́ sao như thế? Cơi nước
Phật ấy không có ba đường ác.
Xá Lợi Phất!
Cơi nước Phật ấy c̣n không có cái tên ác đạo, huống hồ là thật có?)
Giải:
Đây là đoạn
kinh văn để phá nghi cho thính chúng. Đức Thế Tôn sợ thính chúng đâm nghi: trong
bốn mươi tám nguyện, Đức Di Đà từng thệ nước Ngài trọn không có tam ác đạo. Cớ
sao cơi Ngài lại có lắm chim như thế, há chẳng phải là điều mâu thuẫn với bổn
nguyện xưa kia hay sao? Chúng sanh được văng sanh cơi Tịnh Độ luôn luôn được
nghe diệu pháp nhuần thấm thân tâm, đoạn hẳn các ác niệm tham, sân, si... v́ sao
lại phải chiêu cảm lấy tội báo sanh trong cầm thú như thế?
Để đoạn trừ
những mối nghi ấy, Phật phải răn dè đừng sanh khởi những nghi vấn lầm lạc như
thế, cũng như giải thích rơ duyên do hiện hữu của các loài chim đó.
“Vật
vị” (đừng bảo,
đừng nói) là tiếng dùng để răn nhắc; ư nói: chớ đừng hiểu lầm, rồi nói sai lạc
là những loài chim đẹp đẽ, hót hay ấy chính là kết quả của tội báo. Chúng sanh
cơi Cực Lạc tâm niệm thuần thanh tịnh, lẽ đâu lại phải chiêu cảm lấy nghiệp phải
sanh trong ác đạo?
Hai chữ “thử thị” chỉ những loài chim đă kể ở
trên như bạch hạc, khổng tước v.v...
“Tội báo sở
sanh” nghĩa là do
tạo tội nghiệp nên chiêu cảm ác báo thọ sanh trong đường
ác.
“Sở dĩ giả hà?” là câu hỏi; ư nói: V́
sao chẳng được nói xằng là những con chim ấy do tội báo mà có?
Tiếp đó, là lư
do: Cơi Cực Lạc do đại nguyện hạnh công đức trang nghiêm của đấng Từ Phụ A Di Đà
tạo thành, trọn không có tam ác đạo.
Tam Ác Đạo,
c̣n gọi là Tam Đồ, hoặc Tam Ác Thú, tức là:
a) Địa Ngục:
tiếng Phạn là Na Lạc Ca, nơi thọ khổ kịch liệt.
b) Ngạ Quỷ
(quỷ đói): chịu nhiều khủng bố, đói khát dài lâu cả mấy ngàn năm. Nếu tội nghiệp
thâm trọng, dù có đến bên thực phẩm cũng chẳng ăn được.
c) Súc Sanh:
c̣n gọi là Bàng Sanh, do tạo nghiệp phải thọ báo xương sống nằm ngang. Súc Sanh
chỉ chung muôn loài chim bay, thú chạy, côn trùng. Trong cảnh giới này, chúng
luôn ăn nuốt, áp bức lẫn nhau.
Do đây là ba
cảnh giới cảm thọ của kẻ tạo ác nên gọi là Tam Ác Đạo.
Keo kiệt, bủn
xỉn là nhân của Ngạ Quỷ. Nóng giận là nhân của Địa Ngục. Ngu si là nhân của Súc
Sanh.
Cơi Cực Lạc
trang nghiêm khôn sánh, thất bảo hợp thành, nghĩ đến ăn liền có, nghĩ đến mặc
liền được, hết thảy mong cầu thảy được như ư. C̣n chỗ nào để Tham phát sanh nữa
ư? Các vị Bồ Tát và hàng thượng thiện nhân cơi ấy yêu kính, hỗ trợ nhau th́ Sân
làm sao c̣n phát khởi cho được? Hết thảy chúng sanh thường nghe diệu pháp, tâm
thường liễu ngộ, th́ làm sao c̣n Si được nữa? Đă không có ba ác nhân ấy, lẽ nào
c̣n có khổ quả tam đồ! Bởi thế, Phật khẳng định: “Vô tam ác đạo”.
“Kỳ Phật quốc
độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thật?” (cơi nước
Phật ấy c̣n không có cái tên ác đạo, huống là thật có?): Dùng ngay chánh nguyện
của đức Di Đà để giảng rơ duyên do không có ba ác đạo. Đời đời, kiếp kiếp, đức
Phật A Di Đà chẳng hề trái nghịch bổn nguyện. Nếu bổn nguyện bị trái làm sao
thành Phật được? Ngài từng phát nguyện: “Như lúc tôi thành Phật, trong nước tôi ai
nấy chẳng nghe đến những danh hiệu bất thiện”. Bởi bổn nguyện đó, trong cơi
Cực Lạc, tên của ba ác đạo vĩnh viễn không bao giờ được nghe nói đến. Chỉ cái
tên suông c̣n không có th́ làm sao có chuyện những loài chim ấy thật sự là do ác
báo chiêu cảm cho được!
1.2.1.3.5.
Phật lực sở thành (do Phật lực
mà thành tựu những sự như thế)
Chánh kinh:
Thị chư chúng
điểu giai do A Di Đà Phật, dục linh pháp âm tuyên lưu, biến hóa sở tác.
(Các loài chim
ấy đều do A Di Đà Phật muốn cho pháp âm được lưu turyền nên biến hóa
ra).
Giải:
Đoạn kinh văn
này giảng rơ duyên khởi của các loài chim ấy. Hết thảy những giống chim kỳ diệu
đó đều là do đức Từ Phụ A Di Đà vận dụng thần lực chẳng thể nghĩ bàn biến hiện
ra, ngơ hầu trong suốt sáu thời, pháp âm luôn được diễn xướng, lưu truyền, khiến
cho chúng sanh không lúc nào, không chỗ nào chẳng nghe. Do thường nghe nên luôn
được lợi ích vô tận (đây chính là kết quả của lời nguyện thứ mười sáu “tùy hỷ
nghe pháp”).
Những loài
chim trong cơi Cực Lạc chẳng thuộc loài súc sanh là quả báo của ngu si, cũng
chẳng phải là loài thiên điểu dẫu có thể thuyết pháp nhưng vẫn chẳng ĺa khỏi
nghiệp báo (nghĩa là: những kẻ lúc làm người miệng hay giảng pháp, nhưng chẳng
tu hành chân thật, th́ sau khi chết đi, sẽ cảm báo sanh làm loài chim trên cơi
trời. Do thói quen cũ, vẫn có khả năng thuyết pháp, nhưng vẫn là do nghiệp báo
chiêu cảm, chứ không phải do chư Phật biến hiện ra).
Xét về
Lư:
- “Vô tam ác
đạo” biểu thị tự tánh vốn không có các phiền năo tham, sân, si...
- “Biến hóa sở
tác” biểu thị tự tánh có diệu dụng tùy duyên biến hiện.
Hỏi: Di Đà
thần lực, biến ra đủ loại thân Phật, khiến ai thấy tướng hảo cũng đều phát tâm,
nghe phạm âm ngộ đạo, sao nay lại hóa làm loài chim để giảng diễn pháp môn?
Đáp: Hóa thân
làm Phật chưa đủ lạ lùng, hy hữu. Hiện làm chim thiêng thật là hiếm có. Chúng
sanh thấy chim c̣n có khả năng thuyết pháp vi diệu như thế sẽ phát sanh ư tưởng
thù thắng, tín tâm càng sâu chắc. Đâu phải chỉ linh cầm thuyết pháp không thôi,
nào là rừng quỳnh, lưới báu cũng đều diễn pháp âm, suối chảy, gió lay cũng cực
đàm chân giáo!
Ngoài ra,
chúng sanh do đới nghiệp văng sanh nên tập khí vẫn c̣n. Thuận theo tâm ư ưa
thích các loài chim đẹp lạ, hót hay, cũng như tâm trạng ưa thích chuyện hiếu kỳ
của họ mà Phật hóa hiện như thế, để làm phương tiện dẫn dụ họ luôn tưởng niệm,
tu tập diệu pháp.
Nói cách khác,
Phật biến hiện ra các loài linh cầm thuyết pháp chính là để thành tựu Tứ Tất
Đàn:
a) Thế giới
tất đàn: thuận theo tâm ưa thích của chúng sanh, hóa hiện các loài chim đẹp đẽ,
hót hay khiến họ hoan hỷ.
b) Nhân tất
đàn: chim thường thuyết pháp kỳ diệu khiến người luôn phát sanh thiện niệm.
c) Đối trị tất
đàn: do thấy chim có khả năng diễn thuyết pháp vi diệu như thế, không c̣n dám
coi thường chúng, tâm phân biệt tự mất.
d) Đệ nhất
nghĩa tất đàn: Do chim chính là Ứng Thân của Phật Di Đà nên chúng sanh sẽ giải
ngộ: Phật, chúng sanh và Pháp Thân b́nh đẳng.
1.2.1.4. Phong
thọ hiệp vận (gió và cây
cùng ḥa tiếng)
1.2.1.4.1.
Chánh xuất diệu âm (nói về âm
thanh mầu nhiệm)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động chư bảo hàng thọ cập bảo la vơng, xuất vi
diệu âm. Thí như bách thiên chủng nhạc đồng thời câu tác.
(Xá Lợi Phất!
Cơi nước Phật ấy, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và lưới mành báu, vang
tiếng vi diệu; ví như trăm ngàn thứ nhạc đồng thời ḥa tấu).
Giải:
Đoạn kinh
trước minh thị hữu t́nh thuyết pháp, đoạn này trần thuật vô t́nh thuyết pháp.
Như vậy, hữu t́nh lẫn vô t́nh đều có khả năng tuyên dương pháp âm, khiến người
nghe phát tâm Bồ Đề dũng mănh, tưởng niệm Tam Bảo, được lợi ích thù thắng. Đó
cũng là một trong các thắng duyên giúp cho chúng sanh chứng được Bất Thoái.
“Vi
phong” là gió nhẹ,
trong lành, nhu ḥa, chẳng nhanh, chẳng chậm, chẳng nóng, chẳng lạnh, khiến
người yêu thích.
“Chư bảo hàng
thọ” là những hàng
cây báu do thất bảo hợp thành, chỉnh tề chẳng loạn.
“Bảo la
vơng” là những mành
lưới do các thứ báu kết thành. Mỗi khi gió nhẹ thổi qua, chúng khua động lẫn
nhau, chạm ngọc, lay vàng, tạo thành vô lượng âm thanh vi diệu, thánh thót, ngân
nga, thù thắng không cách ǵ diễn tả trọn hết nổi. V́ thế, kinh đành mượn tạm
thí dụ “trăm ngàn thứ âm nhạc cùng ḥa tấu” để h́nh dung ít phần. Chứ kỳ thật,
dù trăm ngàn thứ nhạc ḥa tấu cũng chẳng bằng được một phần trong vạn phần. Kinh
Đại Bổn từng so sánh nhạc ấy c̣n hay hơn trăm ngàn vạn lần nhạc trong cơi trời
Lục Dục.
“Vi phong”
chính là ngọn gió tốt lành nhất trong những ngọn gió, diệu âm chính là âm thanh
tối thắng trong các âm thanh. Cũng giống như tiếng hót của các hóa cầm, tiếng
nhạc này cũng diễn thuyết diệu pháp. Do những tiếng nhạc ấy vượt hơn hết thảy
nên bảo là Vi, có khả năng diễn pháp nên bảo là Diệu.
Xét về
Lư;
- Gió nhẹ thổi
các hàng cây báu biểu thị trí Tam Quán chiếu Tam Đế Lư (trí đồng pháp giới như
gió, lư chứa vạn pháp như cây).
- Trăm ngàn
thứ nhạc đồng thời cùng tấu biểu thị nhất niệm bổn tâm sẵn đủ bách giới thiên
như (4).
1.2.1.4.2. Văn
thanh tấn đạo (nghe âm
thanh tăng tấn đạo nghiệp)
Chánh kinh:
Văn thị âm dĩ,
tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.
(Nghe tiếng
này rồi, tự nhiên sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).
Giải:
Chữ “âm” trong
câu “văn thị âm” chỉ những âm thanh
vi diệu do gió lùa qua cây báu, mành lưới báu phát ra, cũng như những pháp âm
được diễn nói.
Chữ “tự nhiên” hàm ư: Chẳng cần phải nhắc
nhở, khuyến khích, tâm xưng niệm Tam Bảo cứ tự nhiên phát sanh.
Niệm Phật lại
có ba loại:
a) Tâm niệm:
trong tâm thường tưởng nghĩ đến Phật.
b) Niệm nhỏ
tiếng chỉ vừa đủ riêng ḿnh nghe.
c) Niệm lớn
tiếng. Niệm lớn tiếng có mười công đức:
- Trừ được sự
mê ngủ.
- Thiên ma
kinh sợ.
- Tiếng niệm
nghe thấu mười phương.
- Dứt sự khổ
trong tam đồ.
- Những tiếng
động bên ngoài không xâm nhập được.
- Tâm chẳng
tán loạn.
- Dũng mănh
tinh tấn.
- Chư Phật
hoan hỷ.
- Tam muội
hiện tiền.
- Văng sanh
Tịnh Độ.
Niệm Phật c̣n
phân biệt ra bốn loại như sau:
a. Tâm niệm
miệng chẳng niệm.
b. Miệng niệm
tâm chẳng niệm.
c. Tâm lẫn
miệng cùng niệm.
d. Tâm lẫn
miệng đều không niệm.
Trong bốn loại
này, nên thực hành loại thứ nhất và loại thứ ba.
Hỏi: Nước,
chim, cây cối v.v... ngày đêm phát ra âm thanh thuyết pháp không lúc nào gián
đoạn, phải chăng là quá ồn náo, những người ưa thích sự tịch tĩnh biết làm thế
nào đây?
Đáp: Cơi Cực
Lạc chẳng phải như Sa Bà, hết thảy diệu âm đều là do công đức chẳng thể nghĩ bàn
của Đức Phật A Di Đà tạo thành, mỗi thứ ǵ trong cơi ấy cũng đều tùy thuận tâm
nguyện của chúng sanh. Những âm thanh cũng không ngoại lệ. Người muốn nghe th́
được nghe, người thích lặng lẽ th́ tự nhiên cảm thấy lặng lẽ, như kinh Đại Bổn
đă giảng rơ: “Muốn được nghe th́ riêng
ḿnh liền được nghe. Ai chẳng muốn nghe liền riêng ḿnh chẳng nghe”.
Hơn nữa: Vạn
pháp duy tâm. Nếu như tâm địa không bị ngăn lấp th́ hết thảy những cảnh chạm vào
mắt không thứ nào chẳng phải là cảnh thù thắng, tiếng nào lọt vào tai cũng thành
chân lư mầu nhiệm; chứ phải đâu ḿnh cơi Tây phương? Cổ đức đă nói:
Khê thanh tận
thị quảng trường thiệt,
Sơn sắc vô phi
thanh tịnh thân
(Tiếng suối
thảy đều là tướng lưỡi rộng dài, không sắc núi nào chẳng phải là thân thanh
tịnh).
Lại như Ngài
Hương Nghiêm nghe tiếng tre đụng nhau mà ngộ đạo, cho đến cổ nhân nghe tiếng
oanh kêu mà đốn ngộ. Có phải là đối với bậc đốn ngộ th́ hữu t́nh lẫn vô t́nh cơi
này cũng có khả năng thuyết pháp đó chăng? (Trúc là vô t́nh, oanh là hữu t́nh).
Huống hồ tiếng nước, tiếng chim, tiếng cây cơi Cực Lạc lại chẳng được vậy sao?
Chẳng qua là người mê vẫn cứ mờ mịt chẳng tỉnh, người ngộ khoảnh khắc hiểu rơ.
Nếu như có thể chẳng chấp khăng khăng Sự là Sự th́ toàn Sự tức là Lư, chẳng chấp
chết cảnh là cảnh, th́ toàn cảnh tức là tâm. Sự lư viên dung, tâm cảnh bất nhị,
thứ ǵ cũng là đạo, vật ǵ cũng là tự tánh cả, như thường nói: “T́nh và vô t́nh đồng viên chủng trí”.
Được như vậy
th́ chim oanh mùa Xuân, cái én mùa Thu cũng có thể luận đàm diệu đế; trúc biếc,
tùng xanh nào ngại phô trọn lư chân; lẽ đương nhiên như thế. Nếu chẳng thể triệt
ngộ lư này, chưa đích thân chứng được cảnh này th́ dẫu có bàn suông lẽ duy tâm,
luận suông thánh cảnh, vẫn đọa vào Thiên Không, vạn kiếp chẳng được nghe danh
hiệu Phật mà thôi!
1.2.1.4.3.
Tổng kết nhị nghiêm (tổng kết hai
sự trang nghiêm)
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Kỳ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
(Xá Lợi Phất!
Cơi nước Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế)
Giải:
Đoạn kinh văn
này tổng kết hai sự trang nghiêm vừa được nói trong đoạn trước: chim thiêng
thuyết pháp và gió thổi cây vang diệu pháp. Cứ mỗi đoạn, đức Thế Tôn lại kết lại
từng điều đă dạy ngơ hầu người nghe thâm tín Cực Lạc, mau mau phát nguyện cầu
sanh Tây Phương.
Chữ “như thị”
chỉ chim thiêng thuyết pháp, diệu âm phát ra khi gió thổi qua cây báu. Những thứ
ấy đều là do nguyện hạnh, công đức của đức Di Đà tạo thành. Khi tu nhân, đức A
Di Đà từng nguyện: “Lúc tôi thành Phật,
người trong nước tôi, tùy theo chí nguyện, những điều muốn nghe tự nhiên được
nghe. Nếu chẳng thế, chẳng lấy ngôi Chánh Giác”. Bởi thế, chim biến hóa và
tiếng vi diệu do gió lùa qua cây báu đều là do đại nguyện ấy cảm thành.
Kinh c̣n chép:
“Sau khi phát nguyện, tu hành, Ngài
thường dùng vẻ mặt từ ḥa, lời nói dịu dàng để làm lợi lạc cho chúng sanh”;
bởi đó, chim thiêng, cây báu đều phát ra diệu âm. Kinh c̣n chép: “Đối với Phật, Pháp, Tăng, Ngài luôn tín
trọng cung kính”; v́ thế, nay chúng sanh nghe những diệu âm ấy đều tưởng
niệm Tam Bảo.
Cứ thế mà suy,
ta thấy rơ: Mỗi một sự trang nghiêm trong cơi Cực Lạc, không điều ǵ chẳng phải
là do nguyện hạnh của đức Di Đà cảm thành. Nguyện hạnh chính là cái nhân dẫn
khởi sự trang nghiêm, sự thành tựu. Chim, cây, gió, nước v.v... cho đến hết thảy
sự trang nghiêm chính là quả được thành tựu vậy.
Nên biết rằng:
pháp pháp duy tâm, tự tánh vốn sẵn Cực Lạc, tự tánh chính là Di Đà. Thế nên kinh
mới dạy: “Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh, tâm
sáng Phật hiện tiền”. Duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà nghĩa là như vậy. Hết
thảy những cảnh thù thắng trang nghiêm của cơi Cực Lạc là những thứ luôn sẵn có
trong tự tánh của chính chúng ta, nào phải từ bên ngoài mà thành. Chẳng hạn như:
lan can báu, hàng cây báu chính là do tự tâm sẵn có vạn thiện trí đức mà thành;
ao, gác, hoa sen là do tự tâm sẵn có thắng nhân Đại Thừa huệ hạnh mà thành...
Muốn chứng ngộ
điều ấy, phải mau phát tâm tinh tấn, phát nguyện niệm Phật, niệm đến nhất tâm
bất loạn, th́ tâm sẽ tự nhiên rỗng toang, khai ngộ, chứng ngay tự tánh Di Đà,
thấy ngay duy tâm Tịnh Độ! Lúc ấy tự - tha nào c̣n ngăn cách, như người uống
nước lạnh nóng tự hay, bất tất phải khoa môi múa mép luận bàn xuông nữa ư!
1.2.2. Chánh
báo trang nghiêm
1.2.2.1. Giáo
chủ
1.2.2.1.1.
Lược thích danh hiệu (giải thích
sơ lược về danh hiệu của đấng giáo chủ)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Ư
nhữ ư vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà?
(Xá Lợi Phất!
Ông nghĩ thế nào? Cớ sao Đức Phật ấy hiệu là A Di Đà?)
Giải:
Đoạn này tŕnh
bày về sự trang nghiêm nơi chánh báo. Chánh báo gồm có Chủ và Bạn. Chủ tức là
giáo chủ cơi Cực Lạc, tức Phật A Di Đà. Bạn là chúng Thanh Văn, Bồ Tát, thiên
nhân cơi Cực Lạc.
Trước hết, Đức
Phật giải thích ư nghĩa của danh hiệu A Di Đà v́ danh hiệu A Di Đà chính là tông
yếu của toàn bộ bản kinh này. Đấy chính là vạn đức hồng danh, là diệu dược để
cứu độ chúng sanh trong thời Mạt Pháp. Tŕ Danh chính là pháp môn Phật muốn đặc
biệt đề cao trong kinh này, nên Ngài mới giải thích hai ư nghĩa chính yếu của
danh hiệu A Di Đà.
Pháp môn Tŕ
Danh được xưng tụng là diệu hạnh là v́:
1) Chỉ tŕ một
câu danh hiệu Phật mà có thể vượt ngang ra khỏi tam giới. Đấy chính là đường lối
tu hành giản tiện, nhanh chóng, ngắn gọn nhất.
2) Chỉ cần
mười niệm thành tựu liền được đới nghiệp văng sanh. Đấy chính là điều kỳ diệu
đặc biệt lạ lùng nhất.
3) Chỉ cần
văng sanh Cực Lạc ắt sẽ chứng đắc ba thứ bất thoái. Đấy chính là điều mầu nhiệm
viên đốn nhất.
Để dẫn khởi đến việc giải thích ư nghĩa
thù thắng của danh hiệu A Di Đà, Đức Phật nêu câu hỏi: “Ư nhữ ư vân hà?” (ư ông nghĩ thế nào?)
Chữ Ư ở đây
cho thấy Ngài Xá Lợi Phất đă hiểu ư nghĩa danh hiệu A Di Đà, nhưng vẫn lặng
thinh không đáp. Bởi lẽ, Ngài là bậc Bồ Tát thị hiện thân Thanh Văn, là bậc trí
huệ đệ nhất, lẽ đâu không biết đến nghĩa lư thù thắng này. Ngài lặng thinh v́
muốn đích thân kim khẩu của đức Thích Tôn giảng diễn, ngơ hầu tứ chúng trong
pháp hội lẫn vô lượng chúng sanh trong muôn đời sau đều sanh ḷng thâm tín nơi
danh hiệu A Di Đà thù thắng này.
Hơn nữa, trí
huệ của Ngài Xá Lợi Phất dù là bậc nhất, vẫn chẳng thể sánh bằng Phật trí. Với
trí huệ thù thắng siêu việt của bậc Đại Giác, đức Thế Tôn sẽ chọn lấy những ư
nghĩa thù thắng đặc biệt nhất trong vô lượng ư nghĩa thù thắng chẳng thể nghĩ
bàn của danh hiệu A Di Đà khiến cho thính chúng đều được hưởng vô biên lợi ích.
Nếu xét theo Lư, câu hỏi: “Ư nhữ ư vân
hà?” chính là câu nhắc nhở hành nhân phải hồi quang phản chiếu nơi tự tánh để
nhận chân ư nghĩa của danh hiệu A Di Đà.
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại. Thị cố
hiệu vi A Di Đà.
(Xá Lợi Phất!
Đức Phật ấy quang minh vô lượng chiếu mười phương cơi nước, chẳng bị chướng
ngại. V́ thế, hiệu là A Di Đà)
Giải:
Danh hiệu của đức giáo chủ cơi Cực Lạc bao hàm vô lượng nghĩa. Kinh này
chỉ chú trọng đến 2 phương diện: quang minh và thọ lượng.
“A Di
Đà”: Hán dịch là
Vô Lượng Quang, ư nói đức Phật A Di Đà có vô lượng quang minh. Ngài c̣n được gọi
là Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang cho đến Siêu Nhật Nguyệt Quang. Các danh hiệu
này đều hàm ư quang minh thù thắng vô lượng.
Trong Mật
giáo, c̣n xưng Ngài là Cam Lộ Vương Như Lai. Bồ Đề Tâm Nghi Quỹ chép: “Đức Phật này c̣n gọi là Vô Lượng Thọ Phật,
tiếng Phạn là A Di Đà Du Sái (Amitayus); hoặc là A Di Đà Bà Da Bột Đà
(Amitabhaya Buddha). Hán dịch là Vô Lượng Quang Minh Phật”. Sở dĩ, Ngài được
gọi là Cam Lộ Vương v́ chú Văng Sanh có đến mười chữ A Mi Lật Đa (amrta – cam
lộ). Cũng v́ thế, chú Văng Sanh c̣n được gọi là Thập Cam Lộ Chú.
Kinh Vô Lượng
Thọ chép: “Quang minh của Đức Phật rực rỡ
đẹp đẽ hết sức, kỳ diệu, thù thắng vô cực, sáng hơn ánh sáng của mặt trời, mặt
trăng ngàn vạn ức lần, là vua trong các quang minh của chư Phật. V́ thế, Ngài
hiệu là Vô Lượng Quang Phật”.
Đây là kết quả của lời nguyện thứ 12 khi Ngài c̣n đang tu nhân: “Lúc tôi thành Phật mà quang minh có hạn
lượng, tối thiểu chẳng chiếu thấu trăm ngàn vạn ức na do các cơi Phật th́ chẳng
lấy ngôi Chánh Giác”. Kinh Vô Lượng Thọ bảo: “Quang minh của Đức Phật ấy chiếu xa nhất,
quang minh của chư Phật chẳng bằng”.
Quang minh của Phật có hai loại:
1) Nội quang:
tức là dùng trí để chiếu Lư.
2) Ngoại
quang: tức là quang minh nơi thân, chiếu soi ra ngoài.
Quang minh nói
trong kinh này chính là ngoại quang.
Lại có ba loại
quang minh như sau:
1) Bổn quang: quang minh của Pháp Thân, rất viên dung, chẳng có hạn
lượng.
2) Trí quang: quang minh của Báo Thân, chiếu trọn khắp pháp giới.
3) Thân quang: quang minh của Ứng Thân, tùy theo cơ cảm mà biến hiện.
Thân quang lại chia thành hai loại: Thường quang và phóng quang.
a. Thường quang: Chẳng hạn như đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật quang minh
chiếu xa một tầm (khoảng tám thước).
b. Phóng quang: do nhân duyên đặc biệt, Phật liền phóng quang từ ngay
diện môn (phần giữa mũi và miệng) hoặc phóng quang từ giữa hai mày, cho đến các
quang minh phát ra từ chân, tay, toàn thân v.v...
Vô lượng quang nói ở đây chính là quang minh của Ứng Thân kể cả Thường
Quang lẫn Phóng Quang. Chữ “vô lượng” biểu thị quang minh tột bực thù thắng. Câu
“chiếu mười phương cơi nước” biểu thị cảnh được chiếu thật là rộng lớn; chẳng
phải chỉ hạn cuộc trong một hai thế giới.
“Vô sở chướng
ngại” (chẳng bị
chướng ngại) nghĩa là chiếu một cách triệt để, xuyên núi, thấu vách, tột cùng
chốn sâu kín, xuyên suốt chốn tối tăm. Thế gian thường bảo mặt trời là lớn nhất,
nhưng thật ra mặt trời chỉ chiếu khắp tứ đại châu, vẫn bị mây giá, sương mù che
khuất ánh sáng; cũng chẳng chiếu thấu khoảng dưới đáy chậu úp hay những vật giấu
trong nhà tối. Như vậy, chẳng những quang minh của mặt trời có hạn lượng mà c̣n
bị chướng ngại nữa. Nếu đem so với Phật quang, thật chẳng khác đem vi trần sánh
với núi Tu Di vậy.
Nói vậy ắt sẽ có kẻ gạn rằng: Phật quang đă chiếu khắp mười phương, không
chi chướng ngại, sao ta chẳng thấy được Phật quang?
Đáp: Phàm phu bị Tư Hoặc, Trần Sa, vô minh là các thứ phiền năo chướng
lấp nên chẳng tương ứng với Giác Tánh của Phật, lại tương ứng trần lao (bội giác
hiệp trần) nên chẳng thấy được Phật quang. Cũng giống như mặt trời chiếu khắp
đại địa, nhưng kẻ đui chẳng thấy được, có nên bảo là do chưa từng thấy nên bảo
xằng là chẳng có ánh mặt trời hay chăng? Chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng, dẫu
Phật quang hiện tiền vẫn chẳng được thấy. Nếu đă đủ thiện căn, lại thêm sức tín
nguyện tha thiết, chân thành niệm Phật th́ c̣n thấy được thân Phật, huống hồ là
quang minh?
Hơn nữa, theo kinh Vô Lượng Thọ, quang minh của Đức Phật A Di Đà có công
năng khiến cho chúng sanh khi được quang minh ấy chiếu đến th́ tam cấu (ba thứ
phiền năo: Tư Hoặc, Kiến Hoặc, Trần Sa) sẽ hoàn toàn tiêu trừ, dứt sạch mọi nỗi
khổ, sau khi thọ chung, đều được giải thoát. Trong quang minh c̣n hiện vô số hóa
Phật, mỗi Đức Phật có hai vị Bồ Tát làm thị giả. Mỗi một Đức Phật lại có tám vạn
bốn ngàn tướng hảo, trong mỗi tướng hảo lại có tám vạn bốn ngàn tướng hảo khác.
Mỗi tướng hảo có tám vạn bốn ngàn quang minh chiếu vô lượng vô biên thế giới. Cứ
như thế, quang minh trùng trùng điệp điệp đến vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ
bàn tạo lợi ích cho chúng sanh.
Chánh kinh:
Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ
nhân dân, vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Cố danh A Di Đà.
(Lại này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của Đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô
lượng a tăng kỳ kiếp, nên tên là A Di Đà).
Giải:
Đoạn này căn cứ trên thọ mạng để giải thích danh hiệu A Di Đà. Đức Phật
ấy chẳng những quang minh vô lượng, mà thọ mạng cũng vô lượng vô số, nên hiệu là
A Di Đà. V́ thế, chữ A Di Đà c̣n được dịch là Vô Lượng Thọ.
Kinh Đại Bổn chép: “Thọ mạng của
Đức Phật ấy chẳng thể tính kể. Giả sử chúng sanh trong mười phương thế giới đều
thành Thanh Văn, Duyên Giác, dốc cạn trí lực trong trăm ngàn kiếp để tính toán
vẫn chẳng thể biết được tận cùng [thọ mạng ấy]”. Đây chính là kết quả của
lời nguyện mười ba “thọ mạng vô lượng” đă phát trong thời gian Ngài c̣n tu nhân:
“Nếu lúc tôi thành Phật, thọ mạng có hạn
lượng, thậm chí thọ trăm ngàn ức na do tha th́ chẳng lấy ngôi Chánh Giác”.
Nay nguyện ấy đă thành nên danh phải xứng với thực vậy.
“Thọ mạng”: Thọ là tuổi thọ,
Mạng là sanh mạng. Tuổi thọ của con người dựa theo sự sanh diệt của thân mạng để
xác định; v́ thế mới gọi là “thọ mạng”.
Đức Phật có ba
thân: Pháp Thân, Báo Thân, và Ứng Thân nên thọ mạng cũng có ba loại:
a) Pháp thân:
Tự tánh thanh tịnh pháp thân lấy Lư tánh làm thọ mạng, muôn đời vẫn như vậy,
chẳng sanh, chẳng diệt, vô thỉ vô chung.
b) Báo Thân là
thân thọ dụng, lấy trí huệ làm thọ mạng. Báo thân do tu hết thảy công đức viên
măn mà thành, một phen đă đạt được sẽ vĩnh viễn tồn tại, có khởi đầu nhưng không
có kết thúc.
c) Ứng thân là
thân thị hiện, lấy nhân duyên làm thọ mạng, tùy cơ cảm mà thành, thị hiện sanh
diệt, chẳng những có khởi đầu mà c̣n có kết thúc. Do nhân duyên thù thắng hay
kém cỏi mà cảm thọ mạng dài hay ngắn.
Ở đây nói thọ
mạng của Phật A Di Đà vô lượng chính là luận về Ứng Thân. Ứng Thân có thọ mạng
thù thắng là do nhân duyên thù thắng cảm thành.
Trong Quang
Minh Huyền Nghĩa, Tổ Thiên Thai Trí Khải giảng: “Pháp, Báo, Ứng là ba thân. Do ba pháp tụ
lại nên gọi là Thân. Tức là Lư pháp tụ họp th́ gọi là Pháp Thân. Trí pháp tụ họp
lại th́ gọi là Báo Thân. Công đức pháp tụ họp lại th́ gọi là Ứng thân”. Như
vậy, Pháp Thân là căn cứ theo cảnh mà nói, Báo Thân là căn cứ vào Trí, Ứng thân
là căn cứ vào Dụng (công dụng). V́ Dụng tùy thuộc vào nhân duyên, tùy thuộc vào
cơ cảm, nên Ứng Thân có sanh diệt, thọ mạng có dài ngắn.
“Cập kỳ nhân
dân”: Chẳng những
thọ mạng của Đức Phật là vô lượng, mà tất cả mọi người trong cơi Cực Lạc đều có
thọ mạng vô lượng. Kinh viết “cập kỳ nhân dân” là sử dụng đảo ngữ, nếu nói thuận
th́ phải viết: “Bỉ Phật cập kỳ nhân dân thọ mạng vô lượng”.
Cơi Cực Lạc
không có khái niệm vua tôi, cha con, sao lại gọi là “nhân dân”? Phật là đấng
Pháp Vương, chúng sanh sanh về cơi Cực Lạc, khâm thừa Phật Đà giáo hóa, tôn kính
Phật như cơi này tôn kính vua. Huống hồ Phật chính là vua của cả mười pháp giới,
chứ nào phải chỉ là vua một nước mà thôi đâu!
“Vô lượng vô
biên a tăng kỳ kiếp”: Chữ Kiếp nói
cho đủ là Kiếp Ba (kalpa), Hán dịch là Thời Phần (hàm nghĩa phân biệt thời
tiết), hoặc dịch là Trường Thời. Đơn vị thời gian ngắn nhất là Sát Na, đơn vị
thời gian dài nhất là Kiếp Ba. Kiếp lại có ba thứ: Tiểu kiếp, trung kiếp và đại
kiếp.
Từ lúc con
người thọ chỉ 10 tuổi khởi tính, cứ qua một trăm năm mới tăng thêm được một tuổi
thọ. Tăng như thế đến khi thọ được tám vạn bốn ngàn tuổi, th́ qua một trăm năm,
bắt đầu giảm một tuổi. Như thế cho đến khi tuổi thọ chỉ c̣n mười năm. Chu tŕnh
một lần tăng một lần giảm như thế tính ra là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm.
Đấy là một tiểu kiếp.
20 tiểu kiếp,
tức là ba ức ba ngàn sáu trăm vạn năm, là một trung kiếp.
Gộp bốn trung
kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không, tức là mười ba ức bốn ngàn bốn trăm vạn năm là
một đại kiếp.
“A-tăng-kỳ”: Đời Tấn dịch
là Vô Số, đời Đường dịch là Vô Ương Số. Đây là một trong mười con số lớn của Ấn
Độ (mười con số lớn là Vô Số, Vô Lượng, Vô Biên, Vô Đẳng, Bất Khả Số, Bất Khả
Xưng, Bất Khả Tư, Bất Khả Lượng, Bất Khả Thuyết, Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết).
Cách tính là lấy vạn vạn là một Ức. Vạn Ức là một Triệu. Một ngàn vạn vạn vạn
vạn vạn vạn vạn vạn vạn (chín chữ vạn) triệu là một a tăng kỳ. A Tăng Kỳ lần A
Tăng Kỳ là một Vô Lượng. Vô Lượng lần Vô Lượng là một Vô Biên. Cứ tính như thế
mà tăng dần lên cho đến con số lớn thứ mười là Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết.
Như vậy, thọ mạng của Phật A Di Đà chẳng phải là một đại kiếp mà là vô số đại
kiếp, không những thế c̣n là vô lượng vô biên đại kiếp, nên bảo là “vô lượng vô
biên a tăng kỳ kiếp”.
Thật ra, trên
đây cũng chỉ là ước lượng dựa theo các con số hữu lượng để tính toán hàm hồ như
vậy thôi, chứ thật ra số lượng chẳng phải chỉ là như vậy. Theo như phẩm Thọ
Lượng trong kinh Hoa Nghiêm th́: “Một
kiếp trong cơi Sa Bà là một ngày đêm trong thế giới Cực Lạc”. Nếu vậy th́
chẳng thể tính nổi số, thật chẳng phải là số lượng thông thường thế gian có thể
h́nh dung được nổi. Dù là trí huệ cũng chỉ biết được một phần nhỏ như giọt nước
trong biển cả mà thôi!
Nếu xét riêng
Ứng Thân, thọ mạng của Phật A Di Đà tuy nói là vô lượng nhưng vẫn là “hữu lượng
chi vô lượng”, v́ theo kinh Quán Âm Thọ Kư, sau khi Ứng Thân của Phật A Di Đà
nhập diệt, Chánh Pháp trụ thế vô lượng kiếp. Ngay giữa đêm hôm Chánh Pháp diệt
hết, Quán Thế Âm Bồ Tát liền bổ xứ thành Phật, thành Phật ngay trong đêm hôm ấy,
hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai. Cơi nước đổi tên thành Chúng Bảo
Phổ Tập Trang Nghiêm. Thọ mạng và chánh pháp của Đức Phật ấy cũng kéo dài vô
lượng kiếp.
Khi Chánh Pháp
của Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai diệt tận th́ Đại Thế Chí Bồ Tát ngay
trong đêm ấy, bổ xứ thành Phật; hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai;
thọ mạng cũng vô lượng.
Tuy vậy, Phật
đă chứng ba thân, mà Pháp Thân, Báo Thân đă thọ “vô lượng chi vô lượng” th́ Ứng
Thân cũng có thể nói là thọ “vô lượng chi vô lượng”.
(“Vô lượng chi
vô lượng” là con số vô lượng một cách tuyệt đối, không cách nào h́nh dung, diễn
tả nổi dù bằng toán học, vượt hẳn mọi khả năng suy nghĩ, tính toán của con người
lẫn thánh nhân. “Hạn lượng chi vô lượng” là con số rất lớn, con người khó h́nh
dung nổi, nhưng vẫn có thể dùng toán học để diễn tả được).
Hiểu một cách
tổng quát, Vô Lượng có nghĩa là không c̣n có hạn lượng, giới hạn ǵ, Vô Biên là
không có ngằn mé, ranh giới nào. Thọ mạng vô lượng vô biên của Đức Phật chính là
kết quả của bi nguyện vô biên, của tịnh nghiệp công đức xa rời mọi ác nghiệp
Ngài đă tu tập trong vô lượng kiếp.
V́ sao chúng
sanh văng sanh cơi Cực Lạc lại có thọ mạng giống hệt như Đức Phật? Có hai nguyên
nhân:
a) Do nương
vào Di Đà nguyện lực mà thành. Lời nguyện thứ mười năm của Phật khi c̣n tu nhân
là: “Nếu lúc tôi thành Phật, thọ mạng của
người trong nước tôi đều là vô ương số kiếp, không ai có thể tính nổi số ấy. Nếu
chẳng như thế, chẳng lấy ngôi Chánh Giác”.
b) Do nguyện
lực chính ḿnh, tức là do công sức niệm Phật cảm thành. Nhất tâm niệm Phật, tịnh
nghiệp thành tựu, văng sanh Tịnh Độ, liên hoa hóa thân, đạt được thân thanh hư,
chẳng c̣n mang tấm thân do tứ đại giả hợp, có sanh lăo, bệnh tử, chợt tán hoại,
chợt vô thường, nên thọ mạng đồng với chư Phật.
Hơn nữa, Phật
thọ vô lượng để giáo hóa chúng sanh trong vô lượng kiếp. Chúng sanh được Phật
giáo hóa cũng thọ vô lượng kiếp ḥng một đời tu tập thành Phật, lại lần lượt
giáo hóa chúng vô lượng chúng sanh cho đến khi họ cùng chứng Niết Bàn.
Hỏi: Đức Phật
ấy đă có hai danh hiệu, tức là quang minh, thọ mạng thảy đều thù thắng, v́ sao
Đại Bổn và Quán Kinh chỉ lấy mỗi danh hiệu Vô Lượng Thọ làm đề mục, như vậy có
phải là khi xưng niệm như thế đă thiếu sót nghĩa thứ hai chăng?
Đáp: Đấy là
dùng Thể để bao gồm Dụng. Thọ là bản thể, Quang Minh là tác dụng. Nếu chẳng
chứng được thân vô lượng thọ th́ quang minh rốt cục sẽ đi về đâu? Do đă chứng
được thân vô lượng thọ th́ đương nhiên sẽ đạt được công dụng quang minh vô
lượng. Một khi đă nói đến thân vô lượng thọ th́ quang minh đồng thời sẽ gồm
trong ấy. Đấy là nêu Thể để gồm Dụng vậy. Do đó, chỉ xưng niệm Vô Lượng Thọ đă
gồm cả Vô Lượng Quang trong ấy. Nói Thọ nhiếp Quang th́ được, nhưng chẳng thể
bảo Quang nhiếp Thọ v́ nếu ly khai bản thể là Thọ th́ chẳng thể có tác dụng là
Quang Minh!
Xin dùng một
ví dụ để minh họa: Bản thân tấm gương là Thể, tác dụng soi chiếu của tấm gương
là Dụng. Hễ có tấm gương th́ đồng thời có tác dụng tỏa sáng, soi rọi. V́ thế có
thể chỉ nêu Gương để hàm nghĩa Quang. Trái lại nếu chỉ nói Soi Chiếu đă bao gồm
Gương trong ấy th́ chẳng được. V́ đă không có Gương, lấy đâu có tác dụng soi
chiếu
Cần phải biết
rằng: trí huệ, quang minh, oai đức v.v... của Phật A Di Đà không ǵ là chẳng vô
lượng. Thế sao lại chỉ dùng hai phẩm đức: quang minh và thọ lượng để xác lập
danh hiệu?
1) Ước về
Sự:
Ước về thọ
mạng và quang minh của Pháp Thân và Báo Thân th́ chư Phật đều giống hệt như
nhau, chỉ có quang minh và thọ mạng của Ứng Thân là khác biệt. Đấy là v́ Ứng
Thân do nhân duyên cơ cảm, thị hiện thuận theo từng căn cơ, cho nên thọ mạng có
dài ngắn sai biệt, quang minh có to nhỏ bất đồng.
Thọ mạng của
Phật A Di Đà đă dài lâu chẳng thể tính kể, quang minh của Ngài cũng thù thắng
cùng tột vượt trội hết thảy. Như đức Thích Ca thị hiện tịch diệt năm tám mươi
tuổi, c̣n các Đức Phật khác: hoặc sống ngàn năm, hoặc một vạn năm, hoặc một kiếp
cho đến na do tha kiếp. Chẳng vị nào như Phật A Di Đà sống đến vô lượng kiếp.
C̣n về quang
minh th́ đức Thích Ca viên quang soi sáng một tầm, các Đức Phật khác hoặc một do
tuần, hoặc mười do tuần, cho đến trăm ngàn vạn do tuần, trọn chẳng có vô lượng
quang như đức Phật A Di Đà. Các Đức Phật quang minh chiếu một thế giới, hoặc
trăm ngàn vạn ức thế giới, nhưng trọn chẳng có vị nào quang minh chiếu khắp mười
phương. Một phương đă có vô lượng vô biên thế giới, huống hồ là thập phương?
Quán kinh
chép: “Đức Phật ấy có tám vạn bốn ngàn
tướng hảo. Mỗi mỗi tướng hảo có tám vạn bốn ngàn quang minh, chiếu khắp chúng
sanh niệm Phật trong mười phương thế giới chẳng bỏ”.
Đủ thấy quang minh và thọ mạng của Đức Phật A Di Đà vượt trỗi hết thảy
chư Phật, đó là điểm thù thắng độc đáo nhất! V́ thế, Ngài đặc biệt dùng quang
minh và thọ mạng để lập danh hiệu.
Hỏi: V́ sao Phật Thích
Ca và Phật Di Đà cùng thành tựu Phật quả rốt ráo, nhưng quốc độ, quang minh, thọ
mạng lại khác biệt một trời, một vực đến thế? Chẳng lẽ Phật đức có hơn kém hay
sao?
Đáp: Đại phàm
chư Phật xuất thế đều chủ yếu là v́ bi nguyện, v́ mục đích độ sanh. Quốc độ có
tịnh, uế bất đồng; thọ mạng có dài, ngắn sai khác; đại lược là do hai nguyên
nhân sau:
a.- Do bổn
nguyện tạo thành:
Đức Di Đà phát
nguyện trang nghiêm Tịnh Độ để tiếp dẫn chúng sanh khổ năo, nên đặc biệt hiện
thọ mạng vô lượng, an lạc vô lượng để chúng sanh hâm mộ Cực Lạc mà niệm Phật cầu
được văng sanh. Đức Thích Ca phát nguyện giáng sanh trong cơi đời ngũ trược tà
ác để cứu độ chúng sanh c̣n đang mê đắm. Ngài phải hiện thân thọ mạng ngắn ngủi,
dùng sự vô thường cảnh tỉnh mê t́nh, khiến họ sanh ḷng chán ngán uế cảnh cầu
sanh cơi Tịnh, chóng được giải thoát. Đấy chính là phương tiện lớn lao nhằm dẫn
dụ chúng sanh ĺa khổ cầu vui, sao lại nảy ḷng ngờ Phật đức có hơn, có kém?
Về quang minh
cũng vậy: Do thân Phật trong cơi này đă nhỏ (một trượng sáu) th́ quang minh cũng
thị hiện chiếu không quá một tầm, nhưng khi cần phải thị hiện thần biến để hóa
độ, Phật cũng thị hiện phóng quang minh thấu suốt vô lượng cơi Phật ở phương
Đông như trong phẩm Tự kinh Pháp Hoa đă chép rơ ràng đấy thôi!
b.- Do
phước đức và ác nghiệp của chúng sanh chiêu cảm như thế:
Phước đức và
thiện nghiệp của chúng sanh cơi Cực Lạc cực thâm hậu nên cảm thấy thọ mạng,
quang minh của đức Giáo Chủ cũng vô lượng, vô biên. Chúng sanh cơi Sa Bà nghiệp
nặng, phước mỏng, nên thấy đức Thích Tôn tám mươi tuổi đă nhập diệt. Đấy chẳng
phải là đức Thích Tôn thiếu ḷng từ bi, chỉ v́ chúng sanh phước bạc phận mỏng
nên cơ duyên hóa độ chỉ đến thế mà thôi!
C̣n như bảo
“quang minh của Phật Thích Ca chẳng chiếu quá một tầm” là chỉ nói về Ứng Thân đó
thôi. Chứ về Báo Thân, Pháp Thân, Thường Tịch Quang Độ th́ Phật, Phật đều đồng,
chẳng hề có chuyện thọ mạng dài ngắn, quang minh chiếu xa hay gần, cơi nước có
tịnh, uế chi cả!
2) Ước về
Lư:
Vô Lượng Thọ
nghĩa là xét theo chiều dọc, Phật Tánh suốt khắp ba đời. Vô Lượng Quang là xét
theo chiều ngang, Phật Tánh bao trọn mười phương. Như vậy, hết thảy chúng sanh
không ai là chẳng dạo chơi trong biển Di Đà Quả Giác, cứ hễ nhất niệm hồi hướng
th́ sẽ liền được Phật nhiếp thọ.
Danh hiệu A Di
Đà chính là đại tổng tướng môn của pháp giới nên A Di Đà Phật c̣n được gọi là
Pháp Giới Tạng Thân; đấy chính là Phật tánh mỗi người chúng ta đều sẵn có. A Di
Đà Phật c̣n chính là tam đức bí tạng (kho tàng bí mật của ba đức): Vô Lượng Thọ
là Giải Thoát Đức, Vô Lượng Quang là Bát Nhă Đức, quang minh và thọ mạng nhất
thể chẳng ĺa chính là Pháp Thân Đức.
Thêm nữa, xét
về Pháp Thân th́: Quang lẫn thọ chẳng hai chính là diệu thể bất biến. Vô Lượng
Thọ chính là diệu dụng tùy duyên bất biến. Vô Lượng Quang chính là diệu tướng
hiển hiện.
Như vậy, giảng
ra danh hiệu A Di Đà chính là để hết thảy chúng sanh nhân danh hiệu ấy sẽ đốn
ngộ được tự tánh của chính ḿnh vốn sẵn thông suốt theo chiều dọc, trùm khắp
theo chiều ngang, chứng ngay được tam đức bí tạng, thấu rơ diệu chỉ “tâm chính
là Phật, Phật chính là tâm, tâm Phật chẳng hai”. Bởi lẽ đó, Phật lấy hai nghĩa
Quang và Thọ để lập danh hiệu vậy.
Thêm nữa, Phật
Tánh ai cũng sẵn có đó c̣n có tên khác là Bổn Giác. Một khi gặp được cơ duyên
khai ngộ, giáo dưỡng, hay được đánh thức, huân tập bằng vạn đức hồng danh A Di
Đà, th́ từ Bổn Giác Lư Thể sẽ xuất sanh trí huệ. Trí huệ ấy gọi là Thỉ Giác (do
từ vô thỉ chúng sanh bất giác, nay mới giác ngộ nên gọi là Thỉ Giác. Thỉ nghĩa
là bắt đầu). Tâm niệm Phật chính là Thỉ Giác Trí. Đức Phật được niệm chính là
Bổn Giác Lư.
Kinh nói: “Mười phương chư Phật cùng chung một Pháp
Thân”. Do lư thể của pháp thân vô nhị, vô biệt, nên bảo là “cùng chung một
pháp thân!” Lư thể của Pháp Thân Phật và lư thể của Bổn Giác của chúng sanh cũng
vô nhị, vô biệt giống như thế. Như vậy, niệm Phật chính là niệm Bổn Giác trong
chính tâm ḿnh.
Hơn nữa, Thỉ
Giác Trí phát sanh từ Bổn Giác Lư, nhưng về bản thể, Thỉ Giác lẫn Bổn Giác chẳng
hai nên chúng sanh cũng đồng như Phật chẳng khác!
Mầu nhiệm
thay! Một danh hiệu A Di Đà bao gồm vô lượng công đức chẳng thể nghĩ bàn, một
niệm hiện tiền của chúng sanh cũng chẳng thể nghĩ bàn! Nếu thật sự có thể một
niệm tương ứng với một niệm Phật, niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật th́ lo
chi chẳng đốn ngộ tự tánh Di Đà, chứng ngay được duy tâm Tịnh Độ!
Bởi những lẽ
trên, niệm Phật chính là niệm tâm, niệm tâm chẳng ngoài niệm Phật. Ngoài tâm
không Phật, ngoài Phật không tâm! Như vậy th́ thánh hiệu Quang Thọ chính là tâm
quang, thọ mạng chẳng thể nghĩ bàn của chính ngay một niệm hiện tiền của chúng
ta.
Hiểu sâu hơn,
Vô Lượng Quang biểu thị tự tánh thường tịch nhưng thường chiếu. Vô Lượng Thọ
biểu thị tự tánh chiếu nhưng thường tịch. Như vậy, A Di Đà chính là Tịch Chiếu
bất nhị vậy!
Cũng v́ những
lẽ trên, trong hai bộ Mạn Đà La: Thai Tạng và Kim Cang Giới của Mật giáo, bốn vị
Phật trong ngũ Phật (A Súc Bệ, Bảo Sanh, Bất Không Thành Tựu, A Di Đà, Tỳ Lô Giá
Na. Ngũ Phật biểu trưng cho ngũ trí) tùy theo phương vị sẽ có tên sai khác,
nhưng Phật A Di Đà luôn không đổi tên.
Trong Thai
Tạng Mạn Đà La, đức Phật A Di Đà có h́nh dáng một vị Phật tóc xoáy trôn ốc, sắc
vàng óng, tay kết Định Ấn (ḷng bàn tay phải đặt trên bàn tay, ngón trỏ và ngón
cái đâu nhau tạo thành h́nh khuyên giáp nhau), hai mắt nhắm hờ, nh́n xuống. Đấy
chính là tướng xuất gia thành đạo của tỳ kheo Pháp Tạng.
Trong Kim Cang
Giới Mạn Đà La, Đức Phật A Di Đà đội măo báu, nhưng ấn tướng vẫn như cũ, tiêu
biểu cho sự trang nghiêm của Báo Thân.
Theo Nguyên Âm
Thượng Sư, tượng Di Đà đứng tay phải kết Định Ấn (hoặc cầm đài sen), tay trái
x̣e thẳng buông dọc theo thân ḿnh. Năm ngón tay phải biểu thị năm giới: Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Hiển Phật, Mật Phật. Năm ngón tay trái biểu thị năm
giới: Thiên, nhân, quỷ, súc, địa ngục (Đấy chính là thập giới của Mật giáo). Hai
tay trên dưới như vậy tiêu biểu Lư Trí có công dụng khác biệt, nhưng đều cùng
một thân, hàm ư: Lư - Trí bất nhị (tay phải là Trí, tay trái là Lư). H́nh khuyên
do ngón cái và ngón trỏ tạo thành Định Ấn tiêu biểu cho Viên Giác, Bổn Giác hợp
cùng Thỉ Giác.
1.2.2.1.2.
Thành đạo thời kiếp
Chánh
kinh:
Hựu Xá Lợi
Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.
(Lại nữa, Xá
Lợi Phất! Từ khi đức A Di Đà Phật thành Phật đến nay là mười
kiếp)
Giải:
Câu “thành Phật dĩ lai” ([từ lúc] thành
Phật đến nay) tương ứng với câu “kim hiện tại thuyết pháp” trong Tự phần. Thế
nào là “thành Phật”? Nhân hạnh viên măn là Thành, chứng được Bồ Đề là Phật. Thêm
nữa, y báo, chánh báo, bạn lữ, các thứ trang nghiêm cũng đều là “thành” cả.
Nếu luận trên
Pháp Thân, tự tánh thanh tịnh vốn sẵn đă là Phật, c̣n có ǵ là thành hay chẳng
thành, lấy ǵ mà bàn đến chuyện kiếp số nữa ư! Nếu luận trên Báo Thân, nhân viên
quả măn, chứng đắc Bồ Đề, tựa hồ có thành, luận bàn đến kiếp số cũng không ngại
ǵ! Ứng Thân tùy cơ mà cảm hiện tám tướng thành đạo (giáng hạ từ trời Đâu Suất,
thác thai, xuất sanh, xuất gia, hàng ma, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết
Bàn) nên dĩ nhiên phải có thành, phải có kiếp số.
Như vậy, thành
Phật đă mười kiếp là nói về Ứng Thân và Báo Thân đă thành Phật mười kiếp vậy.
Nói cách khác: từ khi Phật A Di Đà thành đạo đến nay, thế giới Sa Bà đă trải qua
mười chu kỳ thành - trụ - hoại - không (*), nhưng cơi Cực Lạc vẫn y nhiên như
cũ, thường luôn vui sướng bất biến! Thật chẳng phải là cơi nước an ổn, khoái lạc
thường hằng lắm ư?
Tính cho đến
khi thành Phật, đức Phật A Di Đà đă trong vô lượng kiếp lâu xa tu hành bi
nguyện, đại hạnh mới thành Phật Quả. Theo kinh Vô Lượng Thọ kể từ thời Phật Định
Quang cho đến năm mươi ba Đức Phật xuất thế, nơi Đức Phật sau rốt là Thế Tự Tại
Vương, tỳ kheo Pháp Tạng giác ngộ thế gian vô thường, phát ra 48 trọng nguyện,
rồi tu thành Phật.
Theo kinh Pháp
Hoa, mười sáu vị vương tử của Phật Đại Thông Trí Thắng Như Lai, nhân thấy cha
thành Phật, cảm động sâu xa, cũng bỏ nước xuất gia, tu hành phạm hạnh, được thọ
kư Bồ Đề. Vị vương tử thứ chín thành Phật ở phương Tây hiệu là A Di Đà.
Theo kinh Bi
Hoa, vô lượng kiếp trước có Chuyển Luân vương tên Vô Tránh Niệm, cúng dường Bảo
Tạng Như Lai. Vua từng phát nguyện khi thành Phật, cơi nước sẽ trang nghiêm thù
diệu khôn sánh. Phật Bảo Tạng thọ kư: “Ông hành Bồ Tát đạo trong hằng sa kiếp rồi
sẽ thành Phật ở phương Tây, cơi nước hiệu là An Lạc”. Vua Vô Tránh Niệm nay
là Phật A Di Đà.
Trong kinh
Nhất Hướng Xuất Sanh Bồ Tát, có kể chuyện vị quốc vương được nghe Phật pháp, bèn
phụng tŕ tinh tấn, trong suốt bảy vạn năm chưa từng ngủ nghỉ, ở riêng một ḿnh
trong chốn núi rừng, tu tập Thiền Định, sau độ tám mươi ức trăm ngàn na do tha
chúng sanh được bất thoái chuyển. Vị quốc vương ấy thành Phật, hiệu là A Di Đà.
Những vị như
tỳ kheo Tịnh Mạng trong kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Tŕ, vương tử Tịnh Phước
Báo Chúng Âm trong kinh Hiền Kiếp, quốc vương Thắng Oai trong kinh Như Huyễn Tam
Ma Địa Vô Lượng Ấn cũng đều là tiền thân của Phật A Di Đà.
Đến khi thành
Phật, đức A Di Đà hằng ngày thời thời thuyết pháp, luôn x̣e cánh tay tử kim tiếp
dẫn chúng sanh, sao ta vẫn cam bề trầm luân, đành phụ tấm ḷng thâm thiết của
đấng Từ Phụ, chẳng chịu sự tiếp độ giáo hóa của Ngài, có đáng thẹn hổ lắm không?
1.2.2.2. Hóa
bạn (đồ chúng được
đấng Giáo Chủ hóa độ)
1.2.2.2.1.
Thanh Văn chúng:
Chánh kinh:
Hựu Xá Lợi
Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán
số chi sở năng tri.
(Lại này Xá
Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là A La Hán,
chẳng thể tính toán để biết được nổi).
Giải:
Đoạn kinh văn
này thuyết minh về các hóa bạn (những người được hóa độ của đấng Giáo Chủ).
Thanh Văn là
những người do được nghe Đức Phật giảng thuyết pháp Tứ Đế mà ngộ đạo. Thanh Văn
được chia làm bốn tầng cấp:
1) Tu Đà
Hoàn: Hán dịch là Nhập Lưu, hoặc Dự Lưu (dự vào ḍng thánh), thuộc về địa vị
Kiến Đạo, đă đoạn sạch tám mươi tám Sử thuộc về Kiến Hoặc, nên gọi là Sơ Quả
Thanh Văn.
2) Tư Đà
Hàm: Hán dịch là Nhất Văng Lai hay Nhất Lai, nghĩa là c̣n phải thọ sanh một
lần nữa trong Dục Giới. Thánh quả này thuộc về Tu Đạo, đă đoạn sạch Kiến Hoặc
trong tam giới, đoạn được sáu phẩm Tư Hoặc đầu tiên trong Dục Giới của 81 phẩm
Tư Hoặc. Địa vị này c̣n gọi là Nhị Quả Thanh Văn.
3) A Na
Hàm: Hán dịch là Bất Lai, nghĩa là không c̣n phải thọ sanh trong Dục Giới
nữa. Địa vị này vẫn thuộc về Tu Đạo, đă đoạn hết ba phẩm Tư Hoặc của Dục Giới
c̣n sót lại. Thánh Quả này c̣n gọi là Tam Quả Thanh Văn.
4) A La
Hán: Hán dịch là Vô Sanh, nghĩa là chẳng thọ sanh trong Tam Giới nữa. Thánh
quả này thuộc về địa vị Vô Học, đoạn sạch chín phẩm Tư Hoặc của Dục Giới, sống
trong trời A Na Hàm của Sắc Giới, lại đoạn bảy mươi hai phẩm Tư Hoặc; tổng cộng
đă đoạn 88 Sử thuộc Kiến Hoặc, tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc. Địa vị này c̣n gọi là
Tứ Quả Thanh Văn.
Câu “giai A La Hán” nhằm chỉ rơ thánh chúng
cơi Cực Lạc không c̣n thuộc trong ba quả vị đầu của Thanh Văn. Kinh không đề cập
đến Duyên Giác, hàm ư: Duyên Giác đă tính gộp trong chúng Thanh Văn.
“Phi thị toán
số”: Số lượng
thánh chúng Thanh Văn nhiều đến nỗi chẳng thể tính toán được nổi. Số lượng ấy
khó hay biết đến nỗi đành phải lấy từ ngữ “vô lượng vô biên” để tạm diễn tả. Bởi
lẽ như kinh Vô Lượng Thọ đă nói rơ: “Giả
sử có các tỳ kheo nhiều đến ức na do tha, trăm ngàn số lượng, đều thành tựu thần
thông giống như Mục Liên, muốn tính đếm số lượng Thanh Văn trong hội thuyết pháp
đầu tiên của Đức Phật ấy th́ dù có tận hết thần lực vẫn chưa biết được nổi một
phần trăm số ấy!”
V́ sao cơi An
Lạc lại có chúng Thanh Văn đệ tử? Hàng Tiểu Thừa định tánh Thanh Văn chẳng tin
vào các cơi Tịnh Độ phương khác dĩ nhiên quyết định chẳng được văng sanh cơi Cực
Lạc. C̣n như các vị hành giả trong Đại Thừa, hành hạnh Bồ Tát, chẳng hạn như bậc
Thất Trụ đă đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc, xét về quả vị tuy đồng Tứ Quả Thanh Văn,
nên gọi là Thanh Văn; nhưng thật sự vẫn là hành giả Bồ Tát hạnh.
Hoặc như Quán
Kinh Sớ đă chỉ rơ: Những người quen tu tập hạnh Tiểu Thừa, nhưng có tâm xu hướng
Đại Thừa, đă chứng tiểu quả Thanh Văn hay không, khi lâm chung, phát khởi đại
tâm, phát nguyện văng sanh nên cũng được văng sanh. Do đó gọi là Thanh Văn;
nhưng là loại Thanh Văn “hồi Tiểu hướng Đại”. Thuận theo căn cơ của họ, Phật
cũng thuyết giảng những pháp Thanh Văn, khiến họ dần dần chứng những quả vị
Thanh Văn, tấn tu đạo nghiệp Đại Thừa.
Hoặc những
người chuyên niệm nhưng chưa hiểu tự tánh Di Đà, hoặc chỉ v́ tự lợi mà niệm, nên
khi văng sanh về cơi Đồng Cư Tịnh Độ, sẽ thuộc về chúng Thanh Văn.
1.2.2.2.2. Bồ
Tát chúng:
Chánh
kinh:
Chư Bồ Tát
chúng diệc phục như thị.
(Các hàng Bồ
Tát cũng giống như thế).
Giải:
“Chư Bồ Tát
chúng”: Bồ Tát là
hàng thánh giả tu học Đại Thừa. Chữ “Chư” hàm nghĩa chẳng phải chỉ có một, tức
là không những các vị Bồ Tát từ mười phương văng sanh, mà tất cả các vị Bồ Tát
trong Tứ Giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên) cũng đều văng sanh. Từ hàng Thập Tín cho
đến địa vị Đẳng Giác không vị nào là chẳng văng sanh.
Câu “diệc phục như thị” (cũng giống như
thế) ngụ ư chẳng những các chúng Thanh Văn nhiều vô lượng vô biên mà các vị Bồ
Tát cũng đông nhiều như thế, chẳng thể tính toán được nổi!
Khi nói đến
những vị Thanh Văn, Bồ Tát đó, không phải là chỉ có những vị Bồ Tát, Thanh Văn
từ thập phương sanh về Cực Lạc, mà c̣n là tính gộp tất cả phàm phu văng sanh cơi
Cực Lạc: Nếu là tiểu căn nghe Phật thuyết pháp, sẽ chứng nhập tiểu quả nên gọi
là Thanh Văn; bậc đại căn chứng nhập đại quả nên thành Bồ Tát.
Hỏi: Chúng
sanh đời trược, nghiệp nặng khó bề hóa độ, nên Phật phải diễn giảng giáo pháp
tam thừa. C̣n như nhân dân cơi Tịnh Độ ḷng tin sâu xa, rất dễ khuyến hóa, cớ
sao Phật vẫn giảng Tứ Quả?
Đáp: V́ hai
lẽ:
1) Do bi
nguyện hóa độ khắp cả căn cơ sâu cạn, nên kẻ ngũ nghịch thập niệm cũng được văng
sanh. Đối với những căn cơ hạ liệt ấy, không thể giảng ngay vào pháp Đại Thừa,
phải dùng pháp Tiểu Thừa khiến họ tăng tiến đạo tâm.
2) Hai là
quyến thuộc trang nghiêm, đồ chúng đông nhiều: tuy là cơi Tịnh Độ, vẫn có chúng
Thanh Văn, v́ như kinh Pháp Hoa đă dạy: “Khi Đức
Phật ấy xuất
thế, tuy chẳng phải là đời ác, nhưng do bổn nguyện, vẫn nói Tam
Thừa”. Hoặc như Quán
kinh nói: “Kẻ căn cơ Tiểu Thừa, sanh về
cơi ấy, đắc Tứ Quả”.
Xét về
Lư:
- A La Hán
biểu thị Chân Đế không tịch.
- Bồ Tát biểu
thị Tục Đế tùy duyên.
- “Diệc phục
như thị” biểu thị Chân Tục bất nhị.
1.2.2.3. Tổng
kết
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Bỉ Phật quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
(Xá Lợi Phất!
Cơi nước Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế).
Giải:
Đoạn kinh văn
này tổng kết tất cả những điều trang nghiêm vừa được diễn giảng ở trên: Phật
quang, thọ mạng, Thanh Văn, Bồ Tát. Tuy văn tự giống hệt đoạn văn kết ở trên,
nhưng ư nghĩa có khác. Trong đoạn tiểu kết trước, chỉ kết về y báo trang nghiêm.
Đoạn này kết lại chánh báo trang nghiêm: trong cơi nước Cực Lạc, hóa chủ, hóa
bạn thảy đều vô lượng thù thắng trang nghiêm, không điều ǵ không là do công đức
nguyện hạnh thù thắng chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành.