2. ĐẶC KHUYẾN
ƯNG CẦU VĂNG SANH DĨ PHÁT NGUYỆN (riêng khuyên
phải nên cầu văng sanh để phát nguyện)
2.1. Văng sanh
giai đắc bất thoái (hễ văng sanh
đều được bất thoái chuyển)
Chánh kinh:
Hựu Xá Lợi
Phất! Cực Lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí.
(Lại này Xá
Lợi Phất! Chúng sanh sanh về cơi nước Cực Lạc đều là bậc Bất Thoái
Chuyển)
Giải:
Đă giảng xong
y báo, chánh báo trang nghiêm cơi Cực Lạc, trong đoạn này, Đức Phật bèn dẫn dụ
chúng sanh phát sanh ḷng tin phát nguyện cầu được văng sanh, ḥng đạt được nhân
thù thắng xuất thế vô thượng, ngơ hầu vượt ngang ra khỏi tam giới, viên chứng ba
thứ Bất Thoái, vĩnh viễn giải quyết xong vấn đề sanh tử, rốt ráo thành Phật.
Để làm được
điều này, nếu c̣n nấn ná trong cơi Sa Bà, phải đoạn sạch cả ba Hoặc. Hơn nữa,
cơi này lắm chướng duyên gây thoái thất, khó ḷng hoàn thành. V́ thế, trước khi
khuyến hóa thính chúng phát nguyện, Đức Phật đặc biệt phô bày nhân duyên thù
thắng của cơi Cực Lạc để người nghe sanh ḷng hâm mộ, hăm hở phát nguyện cầu
sanh.
Những người
mới sanh về cơi Cực Lạc, dẫu là mới đến vẫn đều sẽ đạt được địa vị bất thoái nên
bảo là “chúng sanh sanh giả”.
“A Bệ Bạt
Trí”: C̣n phiên là A
Duy Việt Trí, Hán dịch là Bất Thoái Chuyển, gồm có ba loại: Vị Bất Thoái, Hạnh
Bất Thoái, Niệm Bất Thoái, trong phần luận về thể dụng của kinh đă bàn qua, ở
đây không nhắc lại.
Ngoài ba thứ
Bất Thoái nói trên, Ngài Khuy Cơ c̣n xướng ra năm thứ bất thoái: Tín Bất Thoái,
Vị Bất Thoái, Chứng Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Phiền Năo Bất Thoái, nhưng không
giải thích rơ.
Căn cứ trên
công hạnh của người niệm Phật, lại có bốn loại Bất Thoái:
1) Niệm Bất
Thoái: người niệm Phật chẳng những niệm đến mức đạt được Sự nhất tâm bất
loạn, mà c̣n có thể tiến nhập Lư Nhất Tâm Bất Loạn (hai thứ Sự và Lư nhất tâm
bất loạn này đă được giải thích tỉ mỉ trong sách Yếu Giải), phá vô minh, hiển
Phật Tánh. Chánh nhân Phật Tánh hiển hiện nên Lư Tâm phát khởi, chứng được Pháp
Thân đức. Liễu nhân Phật Tánh hiển hiện khiến Huệ Tâm sanh khởi, chứng được Bát
Nhă đức. Duyên nhân Phật Tánh hiển hiện khiến thiện tâm phát khởi, chứng Giải
Thoát đức. Viên chứng ba thứ Phật Tánh như thế, phát trọn vẹn ba thứ tâm như
thế, chứng trọn vẹn ba đức như thế, khai Phật tri kiến, sanh trong Thượng Phẩm
Thượng Sanh nơi cơi Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ, chứng được một phần Thường
Tịch Quang Tịnh Độ. Đó là Niệm Bất Thoái.
2) Hạnh Bất
Thoái: Người niệm Phật chẳng những đoạn được Kiến, Tư, Phiền Năo, sanh trong
cơi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ, lại c̣n có thể hồi Tiểu hướng Đại, từ Không xuất
Giả, đi vào cơi tục độ sanh, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, sanh trong
Thật Báo Tịnh Độ, chứng một phần Thường Tịch Quang Tịnh Độ, làm bầu bạn cùng với
hàng Bất Thoái Bồ Tát. Đấy là Hạnh Bất Thoái.
3) Vị Bất
Thoái: Tu hành trong thế giới Sa Bà, tất nhiên phải đoạn Kiến Tư Hoặc, phá
Ngă Chấp, chứng Chân Đế, mới an trụ nơi Vị Bất Thoái. Nhưng đối với cơi Cực Lạc,
chẳng cần phải đoạn hoặc chứng chân, chỉ cần nhất tâm niệm Phật, lâm chung mười
niệm liền được văng sanh, sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, đến khi hoa nở gặp
Phật, niệm niệm cầu thành Phật đạo. Đấy là Niệm Bất Thoái. Thường gặp Phật nghe
pháp, ưa thích tu hạnh Đại Thừa, liền chứng Hạnh Bất Thoái, cùng các vị thượng
thiện nhân luôn ở chung một chỗ, đó là Vị Bất Thoái. Đây chính là điểm đặc biệt
thù thắng nhất của cơi Tịnh Độ, chỉ cần văng sanh Cực Lạc, ba thứ Bất Thoái đều
tự nhiên viên thành.
4) Cứu Cánh
Bất Thoái: Hết thảy chúng sanh chẳng cần biết là hữu tâm hay vô tâm, chẳng
luận là nhất tâm hay tán tâm, chẳng kể là chỉ một lần xưng niệm thánh hiệu Di Đà
hay thánh hiệu của chư Phật phương khác, đều tạo thành chân nhân thành Phật. Dù
chỉ nghe người khác xưng niệm Phật hiệu cũng tạo thành thiện căn, rốt ráo sẽ
thành Phật. Đấy gọi là Cứu Cánh Bất Thoái.
Trong kinh A
Di Đà đây, khi nói đến A Bệ Bạt Trí là nói đến ba thứ Bất Thoái đầu tiên.
Nếu xét về địa
vị th́:
a) Sơ Quả
trong Tạng Giáo, Kiến Địa trong Thông Giáo, Sơ Trụ trong Biệt Giáo, Sơ Tín trong
Viên Giáo đều mới đoạn được Kiến Hoặc, mới chứng nhập Thánh Vị, không c̣n lui
sụt xuống địa vị phàm phu, nên gọi là Vị Bất Thoái.
b) Địa vị Bồ
Tát trong Thông Giáo, Thập Hạnh trong Biệt Giáo, Thập Tín trong Viên Giáo không
những đoạn được Kiến Hoặc c̣n phá được Trần Sa, rộng độ chúng sanh, chẳng lui
sụt xuống địa vị Nhị Thừa, nên gọi là Hạnh Bất Thoái.
c) Địa vị Sơ
Địa trong Biệt Giáo, Sơ Trụ trong Viên Giáo vừa mới đoạn được vô minh, thấy được
Phật Tánh, đắc Vô Sanh Nhẫn, tâm tâm tự nhiên lưu nhập Diệu Giác Tánh Hải, nên
gọi là Niệm Bất Thoái.
Nói tóm lại:
Phải đoạn được Kiến Hoặc mới chứng Vị Bất Thoái. Phải đoạn Trần Sa Hoặc mới
chứng Hạnh Bất Thoái. Đoạn sạch Vô Minh Hoặc mới chứng Niệm Bất Thoái. Đó là
điểm chung của mọi cơi Phật. Thế nhưng trong cơi Cực Lạc, dù là ngũ nghịch thập
ác đi nữa mà chịu hồi tâm phát nguyện văng sanh, dẫu thuộc vào hạ hạ phẩm, vẫn
có thể viên chứng ba thứ Bất Thoái! Nếu chẳng do đại nguyện vĩ đại của đức A Di
Đà cảm thành như thế, lẽ nào lại được như vậy ư? Khắp cả mười phương thế giới,
trọn không đâu có được phương tiện thù thắng, lạ lùng nhường ấy! Trong khắp các
giáo pháp, cũng chẳng có pháp môn nào thù thắng, mầu nhiệm khôn sánh thế ấy!
Sách Thập Nghi
Luận giảng rơ:
“Có năm nhân
duyên nên được bất thoái:
1) Được đại bi
nguyện lực của Phật Di Đà nhiếp tŕ, nên được Bất Thoái.
2) Phật quang
thường chiếu nên Bồ Đề tâm niệm niệm tăng trưởng. V́ thế được Bất Thoái.
3) Nước, chim,
rừng cây, tiếng gió reo, tiếng nhạc tự nhiên vang vọng đều có thể diễn nói pháp
âm mầu nhiệm, khiến người nghe thường niệm Tam Bảo. V́ thế được Bất Thoái.
4) Các bạn hữu
thuần là Bồ Tát nên được Bất Thoái.
5) Thọ mạng
vĩnh kiếp, ngang bằng với thọ mạng của Phật, nên được Bất
Thoái”.
Ngài Khuy Cơ
lại bảo có năm nhân duyên khiến người sanh trong cơi Cực Lạc sẽ không bị thoái
chuyển:
1) Do không
bịnh nên không bị sự khổ trói buộc.
2) Không gây
tạo những hạnh trái nghịch chánh pháp.
3) Thường đọc
tụng, nghe giảng kinh pháp.
4) Thường nghĩ
làm việc lành.
5) Luôn ḥa
thuận, không gặp các sự ḱnh chống, trái ư, tranh chấp.
Như vậy, lời
cổ đức dạy: “Tu hành th́ Niệm Phật là ổn
đáng nhất” quả thật chẳng ngoa! Văng sanh liền được viên chứng ba thứ Bất
Thoái chính là kết quả của lời nguyện thứ 17 trong 48 đại nguyện.
Chúng sanh cơi
Sa Bà được phân làm ba loại, trong kinh thường gọi là Tam Tụ. Tụ có nghĩa là tụ
họp lại, hay c̣n có nghĩa là xếp vào cùng loại:
1) Tà Định
Tụ: gồm những kẻ không tin Phật pháp, bác không nhân quả.
2) Bất Định
Tụ: gồm những chúng sanh tuy tín ngưỡng Phật pháp, nhưng ḷng tin không kiên
định, lúc tiến, lúc lùi, không nhất định. Hàng Bồ Tát ở địa vị Thập Tín c̣n bị
gọi là Mao Đạo Bồ Tát, tức là đạo nghiệp tu hành của họ giống như những sợi lông
theo gió cuốn bay lơ lửng trong không trung. Gió là ví cho cảnh giới. Hàng Bồ
Tát chưa đạt đến địa vị Thập Tín chưa thể tự ḿnh làm chủ, gặp được cảnh giới
Phật pháp th́ tinh tấn tu hành, gặp cảnh giới ngũ dục, ắt sẽ liền biếng nhác,
thoái đọa. Do tinh tấn chẳng nhất định như thế nên vẫn thuộc về Bất Định Tụ.
3) Chánh
Định Tụ: gồm những bậc đă chứng từ địa vị Sơ Trụ kể đi, vĩnh viễn chẳng sanh
khởi tà tri, tà kiến, đối với chánh pháp đă sanh tâm quyết định, nên gọi là
Chánh Định Tụ.
Chúng sanh
văng sanh cơi Cực Lạc đều thuộc về Chánh Định Tụ v́ đă viên chứng ba thứ Bất
Thoái.
Xét theo Lư,
“bất thoái” biểu thị tự tánh thường trụ.
2.2. Bổ xứ
toán số mạc trắc (Chẳng thể
tính toán nổi số lượng những vị Nhất Sanh Bổ Xứ):
Chánh kinh:
Kỳ trung đa
hữu Nhất Sanh Bổ Xứ. Kỳ số thậm đa, phi thị toán số sở năng tri chi, đản khả dĩ
vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết.
(Trong số đó,
có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ. Số [các vị Bổ Xứ] ấy rất nhiều, chẳng thể tính toán
để biết được nổi, chỉ có thể dùng [con số] vô lượng vô biên a tăng kỳ để
nói)
Giải:
Không những
người văng sanh về Cực Lạc là hạng Bất Thoái, trong ấy c̣n có chẳng thể tính đếm
nổi các vị đă đạt đến địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ.
Nhất Sanh Bổ
Xứ chính là địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, tức là những vị trong một đời sẽ kế tiếp
thành Phật. Chẳng hạn như Di Lặc Bồ Tát hiện đang ngự trong nội viện cung trời
Đâu Suất, sẽ tiếp nối Phật Thích Ca thành Phật trong cơi Sa Bà. Đẳng Giác Bồ Tát
c̣n một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá hết, nên c̣n phải sanh một đời nữa,
đoạn được phẩm sanh tướng vô minh ấy mới có thể chứng đắc địa vị Diệu Giác (tức
là Phật Quả). Bởi thế, gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ.
Nếu xét theo
cơi Sa Bà này, th́ vô minh gồm có bốn mươi hai phẩm. Bồ Tát chứng Sơ Vị trong
Viên Giáo đă có thể đoạn được vô minh, lần lượt trải qua các địa vị Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, trong mỗi địa vị phá được một phẩm vô minh,
đến địa vị Đẳng Giác phá được tất cả bốn mươi mốt phẩm vô minh; nhưng vẫn c̣n
sanh tướng vô minh chưa phá sạch.
Chúng sanh cơi
Cực Lạc đều là Bất Thoái đă là điều thù thắng chẳng thể nghĩ bàn so với mọi cơi
Phật khác. Thế mà cơi ấy lại c̣n có chẳng thể tính đếm nổi số lượng các vị Nhất
Sanh Bổ Xứ Bồ Tát như thế th́ thật là thù thắng vượt xa mọi cơi Phật khác, thù
thắng bậc nhất trong mọi điều thù thắng, không c̣n có thể dùng lời lẽ nào để tán
thán, xưng dương được nữa!
Cứ thử tạm
nghĩ: từ lúc phát tâm tu hành, tu đến viên măn địa vị Thập Tín, chứng được Vị
Bất Thoái, chẳng biết phải tu hành bao kiếp, thật là khó khăn; huống hồ chứng
đắc Hạnh Bất Thoái và Niệm Bất Thoái lại càng khó khăn biết dường nào! Đến như
địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, cả cơi Sa Bà này, chỉ có ḿnh đức Di Lặc Bồ Tát. Thế mà
cơi Cực Lạc lại có tối thiểu là vô lượng vô biên a tăng kỳ vị Nhất Sanh Bổ Xứ
th́ thật là một điều kỳ tuyệt, duy nhất trong mười phương cơi Phật vậy!
Hỏi: Bổ Xứ Bồ
Tát ở vào địa vị Á Thánh, sẽ kế ngôi làm Phật. Thế mà Phật A Di Đà thọ mạng vô
lượng vô biên kiếp dài lâu. Khi Phật diệt độ, Quán Âm rồi đến Thế Chí lần lượt
nối ngôi thành Phật, vị nào thọ mạng cũng cực dài lâu. Thế mà lại có quá nhiều
vị Nhất Sanh Bổ Xứ như thế th́ đến khi nào mới có thể kế ngôi thành Phật được?
Đáp: Mười
phương có vô lượng thế giới, đương nhiên sẽ có vô lượng chư Phật. Chư Phật nhập
Niết Bàn th́ đương nhiên sẽ có vô lượng Bồ Tát kế ngôi thành Phật. Các vị Nhất
Sanh Bổ Xứ cơi Cực Lạc sẽ kế ngôi thành Phật trong vô lượng thế giới mười
phương, chứ đâu cứ nhất định phải thành Phật trong cơi Cực Lạc!
Xét về Lư,
Nhất Sanh Bổ Xứ biểu thị ư quyết định thành Phật.
2.3. Chánh
khuyến phát nguyện văng sanh (khuyên nên
phát nguyện văng sanh):
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ
như thị chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ.
(Xá Lợi Phất!
Chúng sanh nghe vậy, hăy nên phát nguyện sanh về cơi ấy. V́ cớ sao thế? Được
cùng với vị thượng thiện nhân như thế ở cùng một chỗ).
Giải:
Đây là đoạn
kinh văn Đức Phật chánh thức khuyến hóa nên phát nguyện văng sanh Cực Lạc. Nói
cách khác, ở đây đức Phật nêu ra điều kiện tiên quyết thứ hai để được văng sanh:
Nguyện. Dù có ḷng tin sâu xa vào sự thù thắng trang nghiêm cơi Cực Lạc, nhưng
vẫn không chịu phát nguyện th́ sẽ trọn chẳng bao giờ được văng sanh! V́ thế, cần
phải phát nguyện.
“Chúng sanh
văn giả”: Ngoại trừ Đức
Phật ra, tất cả đều gọi là “chúng sanh”. Nói chung, chúng sanh gồm trong chín
pháp giới: sáu pháp giới của lục đạo phàm phu chúng sanh, hai pháp giới của hàng
Nhị Thừa, và một pháp giới của các vị Bồ Tát. “Văn” có nghĩa là đă nghe những
công đức thù thắng mầu nhiệm của y báo, chánh báo trang nghiêm của cơi Cực Lạc
như trên đă giảng.
“Ưng đương
phát nguyện”: Hai chữ “ưng
đương” (phải nên) chính là lời răn dạy đinh ninh, ân cần của đấng Thích Tôn. Ư
nói: Những người hữu duyên đă được nghe pháp này, hăy nên mau phát nguyện cầu
sanh. Bởi thế, kinh chép là “ưng đương phát nguyện”.
Câu “nguyện sanh bỉ quốc” là nói đến chí
nguyện cầu sanh Cực Lạc. Đây chính là đức Bổn Sư bi tâm khẩn thiết, chỉ sợ chúng
sanh nghe giảng rồi như gió thoảng bên tai, chẳng chịu do nghe pháp sanh khởi
ḷng tin, do tin phát nguyện văng sanh, đánh mất duyên thù thắng vô thượng, nên
cứ đau ḷng rát miệng ân cần khuyến dụ nhiều phen!
Trộm nghĩ:
nhân quả mười phương nào ngoài Nguyện. Cổ đức từng nói: “Hữu nguyện cánh thành”.
Mỗi một sự trang nghiêm thù thắng khôn sánh của cơi Cực Lạc cũng đều do đại
nguyện vĩ đại của đức Di Đà cảm thành. Người văng sanh cơi ấy cũng chẳng thể
không nương vào nguyện lực của chính ḿnh và của Phật để được văng sanh. Mọi sự
trên thế gian này đều do ư nguyện mà thành, huống hồ là chuyện văng sanh Cực
Lạc!
“Sở dĩ giả
hà?” là lời hỏi
ngược lại để thâu tóm ư của đoạn văn trên, hàm ư: V́ sao Phật lại đặc biệt
khuyến hóa phát nguyện văng sanh? Cơi Sa Bà này, Phật cũng là hóa chủ, can cớ
chi lại muốn xa ĺa cơi này sanh về cơi ấy? Mười phương có vô lượng cơi Phật,
cần ǵ cứ phải khăng khăng nguyện sanh cơi Cực Lạc?
Tiếp đó, Phật
giải thích: v́ cơi ấy có vô lượng vị thượng thiện nhân như đă thuật ở trên cùng
tụ họp ở chung một chỗ. Đấy chính là nhân duyên thù thắng để un đúc thiện nghiệp
thù thắng, tạo thành sự thành tựu ba thứ Bất Thoái không cơi nào khác có được,
nên phải đặc biệt phát nguyện sanh trong cơi Cực Lạc.
Chữ “thượng
thiện nhân” chỉ các vị Bồ Tát, Nhất Sanh Bổ Xứ v.v... Cơi trời tuy lành nhưng
vẫn chưa ra khỏi sanh tử. Nhị Thừa dẫu lành nhưng vẫn c̣n chấp vào Không Tịch.
Do đó, đều chẳng thể gọi là Thượng Thiện được. Chỉ có những vị từ hàng Bồ Tát đă
phá vô minh, thấy được Pháp Thân cho đến các vị Nhất Sanh Bổ Xứ mới đáng gọi là
“thượng thiện”. Do số lượng các vị như vậy rất nhiều nên bảo là “chư thượng
thiện nhân”.
C̣n có thể
hiểu “thượng thiện nhân” là từ ngữ chỉ chung tất cả thánh phàm cơi Cực Lạc. Nói
vậy, ắt sẽ có kẻ cật vấn: “Chúng sanh cơi Cực Lạc chẳng phải chỉ gồm có một
loài, nào là hạng đới nghiệp văng sanh, thậm chí c̣n có kẻ ngũ nghịch, thập ác,
lâm chung thập niệm văng sanh, lẽ đâu đều gọi tất cả là thượng thiện
nhân?”
Xin đáp: Đều
gọi là thượng thiện nhân v́ tất cả đều đă chứng Bất Thoái, đều sẽ rốt ráo thành
Phật vậy.
Cơi Sa Bà ngũ
trược đầy dẫy, lắm chướng duyên, thường chịu đủ mọi nỗi khổ, chánh báo, y báo
biến đổi vô thường, khó thành tựu đạo nghiệp xuất thế. Cơi Sa Bà này dẫu cũng là
Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng khi Phật đă nhập diệt, muốn gặp gỡ các vị Bồ Tát, các
thánh giả Nhị Thừa cũng là điều thiên nan, vạn nan. V́ vậy, dẫu là Phàm Thánh
Đồng Cư, nhưng tựa hồ chỉ là cái danh xuông. Thêm nữa, ma chướng trùng trùng. Có
vô lượng các loài ma, thiên sai vạn biệt, nhưng nếu nói đại lược, có hai loại
ma:
1) Ngạnh
ma (ma cứng): tức là những kẻ oan gia đối đầu, ganh ghét, đố kỵ, gây chướng
ngại, khiến chúng ta chẳng thể khéo dụng công tu hành.
2) Nhuyễn
ma: Đây chính là thân thích, quyến thuộc, ân ái trói buộc, vấn vương, bịn
rịn khiến chúng ta khó ḷng buông bỏ để toàn tâm toàn ư tu tập.
Dù ngạnh ma
hay nhuyễn ma cũng đều là nhân duyên chướng đạo.
Mười phương
Tịnh Độ dẫu thiện diệu vẫn không bằng nổi cơi Cực Lạc ở mức độ thắng diệu, chẳng
có khả năng tiếp độ mọi căn cơ. V́ thế, Đức Phật đặc biệt khuyến hóa chúng sanh
nên phát nguyện văng sanh Cực Lạc. Dễ đâu gặp được nhân duyên hội ngộ thù thắng
cùng các bậc thượng thiện nhân như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền... thế
sao không gấp phát nguyện cầu nguyện văng sanh? Có thân thích toàn là bậc thượng
thiện nhân th́ đâu c̣n ân ái buộc ràng, đâu c̣n oan gia hội ngộ, thế nên ngạnh
ma lẫn nhuyễn ma chẳng c̣n tồn tại để tạo nhân duyên chướng ngại nữa!
Trong pháp hội
Hoa Nghiêm, một đời viên măn nhân thành Phật, chỉ có mỗi Thiện Tài đồng tử.
Trong kinh này, các vị Nhất Sanh Bổ Xứ cực nhiều. Sự tuyệt diệu ấy không c̣n ǵ
để nói nổi được nữa. Bởi thế, trong pháp hội Hoa Nghiêm, rốt cục Phổ Hiền Bồ Tát
cũng khuyến hóa hải chúng quy hướng Cực Lạc.
Xét về
Lư:
- “Nguyện sanh
bỉ quốc” biểu thị sự “bội trần hiệp giác” (bỏ trần lao, hướng theo giác ngộ. Ở
đây, Trần là ngũ trược, Giác là Cực Lạc).
- “Chư thượng
thiện nhân câu hội nhất xứ” biểu thị trong tâm sẵn đủ hết thảy thiện pháp.
3. CHÁNH THỊ
CHẤP TR̀ DANH HIỆU DĨ LẬP HẠNH (chỉ bày
thẳng vào việc chấp tŕ danh hiệu để lập hạnh)
3.1. Xuất
thắng nhân (nêu ra nhân
thù thắng)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc.
(Xá Lợi Phất!
Chẳng thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên để sanh về cơi ấy).
Giải:
Đây chính là
đoạn văn thừa tiếp ư đoạn trên, nhấn mạnh: Muốn thân cận các bậc thượng thiện
nhân như trên đă nói, cần phải có nhiều thiện căn, phước đức. Dùng câu nói này,
Đức Phật nhằm dẫn dụ thính chúng nhận thức công đức thù thắng của việc Tŕ Danh:
Tu hành các hạnh khác đều là những việc chỉ đạt được chút ít thiện căn, chút
phước đức, chút nhân duyên; đều chưa phải là chánh nhân để được văng sanh.
Thiện chính là
hành vi cùng tâm nguyện thuần chánh, lương hảo. Căn có nghĩa là sanh trưởng. Như
vậy, hiểu rộng ra th́ “thiện căn” ở đây chính là tâm nguyện thuần lương, tinh
tấn hành tŕ, cầu sanh Tây Phương. Đấy chính là căn bản của việc phát nguyện cầu
sanh.
“Phước đức”:
làm những điều lành nhằm tạo lợi ích cho người khác th́ gọi là “tu phước”. Tích
tụ thiện hạnh là Đức. Hành giả nếu chỉ có thiện căn mà chẳng chịu tu tập các
phước đức để làm trợ hạnh, th́ cũng chưa đủ để được văng sanh Tây Phương.
Thiện căn và
phước đức c̣n có thể hiểu như sau: thiện căn chính là Bồ Đề chánh đạo, đó là
nhân; lục độ vạn hạnh là phước đức, đó là trợ duyên.
Nói cách khác:
khăng khăng chấp giữ cái tâm phàm phu, đó là “vô thiện căn”. Phát tâm Tiểu Thừa
là “thiểu thiện căn”, chẳng làm những việc lợi người là “vô phước đức”. Dù làm
nhưng mong cầu phước báo th́ là “thiểu phước đức”. Trái lại: phát nguyện niệm
Phật cầu sanh chính là làm được hạnh khó làm, nên có nhiều thiện căn; một câu
hồng danh đầy đủ vạn đức, tŕ được câu danh hiệu ấy chính là nhiều phước đức.
Bởi lẽ, trong đời ác ngũ trược này mà tŕ niệm được danh hiệu A Di Đà th́ đích
thật là một nhân duyên thù thắng khôn sánh!
Nói ở mức độ
cao hơn: Thiện căn chính là chánh hạnh Niệm Phật; phước đức là tất cả các công
đức khác để làm trợ duyên. Niệm Phật là đại thiện căn, là chánh nhân, những
thiện sự khác chính là công đức, phước nghiệp, làm trợ duyên. Đúng như kinh Đại
Bi đă dạy: “Một phen xưng danh hiệu Phật
th́ đă là thiện căn, dự vào trong cảnh giới Niết Bàn, chẳng thể cùng tận”.
Kinh Xưng
Dương Chư Phật Công Đức cũng bảo: “Nếu có
ai được nghe danh hiệu của Vô Lượng Thọ Như Lai, một dạ tin ưa, tŕ phúng, tụng
niệm th́ người ấy sẽ được vô lượng phước, vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ. Sau khi
mạng chung sẽ văng sanh cơi kia”.
Luận Trí Độ
khẳng định: “Thí như có người, lúc vừa
mới sanh ra trên đất, liền có thể một ngày đi cả ngàn dặm, dâng thất bảo cúng
Phật trong suốt cả ngàn năm, vẫn chẳng bằng người trong đời ác sau này xưng niệm
một tiếng A Di Đà Phật. Phước người sau trội hơn người trước”.
Cũng theo Trí
Độ Luận, chứng được năm thứ Bồ Đề tâm sau đây là tối thiện:
a) Phát Bồ
Đề tâm: nghĩa là ngay khi đang c̣n ở trong vô lượng sanh tử, người niệm Phật
có thể phát khởi tâm Đại Bồ Đề, cầu thoát sanh tử, văng sanh Cực Lạc để tự độ,
độ người.
b) Phục tâm
Bồ Đề: tŕ danh niệm Phật, chánh niệm liên tục, đoạn các phiền năo, hàng
phục tâm ḿnh.
c) Minh tâm
Bồ Đề: tŕ danh niệm Phật, tâm miệng tương ứng, hiểu rơ một niệm tương ứng
một niệm Phật, hiểu rơ các pháp không có vật ǵ ở ngoài tâm, niệm niệm tương ứng
với niệm niệm Phật.
d) Xuất đáo
Bồ Đề: đắc Vô Sanh Nhẫn, xuất ly tam giới.
e) Vô
thượng Bồ Đề: người tŕ danh niệm Phật, viên chứng ba thứ Bất Thoái, đạt địa
vị Nhất Sanh Bổ Xứ, ngồi Đại Đạo Tràng, thành vô thượng chánh giác.
Người niệm
Phật dẫu c̣n ở địa vị phàm phu, nhưng đă phát khởi tâm Đại Giác, chánh niệm rỡ
ràng, phiền năo tự diệt, nội tâm tự có thể thuyết pháp Thật Tướng, chứng được
địa vị Bất Thoái Chuyển, thẳng tiến đến thành Phật, nên đương nhiên năm thứ Bồ
Đề tâm đều chứng trọn.
Hơn nữa, cầu
sanh Tây Phương không phải là tiêu cực, trốn tránh hiện thực như nhiều người lầm
tưởng. Cầu sanh Tây Phương chính là để đạt hoàn cảnh và nhân duyên tu tập thuận
lợi cho sự tiến tu. Một khi chính ḿnh đă chứng nhập Chân Lư, sẽ trở vào Sa Bà,
lần lượt hóa độ chúng sanh.
Như vậy, tŕ
danh niệm Phật thật là điều thiện nhất trong các sự thiện, thật là đại thiện bậc
nhất trong các điều thiện lớn lao nhất.
Hành giả tu
tŕ một câu A Di Đà chính là tu trọn vạn hạnh, tu khắp lục độ! Niệm đến nhất tâm
bất loạn, buông bỏ thân tâm th́ đương nhiên sẽ chẳng khởi tâm tham. Đấy là Bố
Thí Độ. Chẳng c̣n tâm tham sẽ không khởi tạo mọi điều ác. Đấy chính là Tŕ Giới
Độ. Không c̣n ác nghiệp đương nhiên không c̣n nhân ngă thị phi, đấy là Nhẫn Nhục
Độ. Đă được nhất tâm bất loạn th́ nội tâm tự nhiên minh bạch, chẳng có chút gián
đoạn, chẳng hề có ư tưởng lười nhác. Đấy chính là Tinh Tấn Độ. Do đạo nghiệp
tinh tấn nên chẳng khởi vọng niệm điên đảo, đấy chính là Thiền Định Độ. Không
c̣n vọng niệm th́ đương nhiên chánh niệm rỡ ràng, chẳng bị lầm lạc vào những nẻo
quanh co, dứt tận cùng cội rễ ngu si. Đấy chính là Trí Huệ Độ.
Rơ ràng là giữ
vững sáu chữ hồng danh chính là tu trọn Lục Độ; mà tu Lục Độ chính là tu trọn
hết thảy phước đức. V́ thế, Niệm Phật chính là đại phước đức vậy!
Tuy nói như
vậy, cần phải lưu ư là người niệm Phật chớ nên xao lăng việc tu tập các phước
duyên để làm trợ hạnh. Bởi lẽ người niệm Phật trong đời hiện tại, nghiệp chướng
nặng nề, căn lành sơ bạc, nếu không dùng trợ duyên hỗ trợ, khó ḷng một bề tinh
tấn chuyên tu. Một khi đă không tinh tấn chuyên tu, hóa ra thiện căn cũng chẳng
thành tựu, mà phước đức cũng chẳng đạt được ǵ, làm sao thành tựu sự nghiệp văng
sanh?
Hỏi: Câu nào
cũng đề cao Niệm Phật là đại thiện căn, là đại phước đức. Như vậy, hóa ra tu các
môn khác, chẳng hạn như tu Thiền Định là ít thiện căn, ít phước đức hay sao?
Đáp: Phải biết
rằng: Tu Thiền Định là hạnh viên đốn, chuyên chú trọng nơi Thiền Định, không hề
cầu sanh Tây Phương. Tuy là kiến giải cao, nhưng sự tái sanh trong thân sau chưa
đoạn (tức là chưa đoạn nổi sanh tử). Chẳng hạn như Ngài Triết Công tinh tấn tu
Thiền, là bậc đại long tượng trong nhà Thiền, thân sau sanh trong nhà họ Tăng,
phải đọa lạc trong chốn hồng trần. Ngũ Tổ Giới Thiền Sư thân sau sanh làm Tô
Đông Pha, tham luyến phú quư... Cứ lấy mấy trường hợp ấy mà suy, ta thấy tu các
môn khác chưa ổn đáng, nên chẳng xứng gọi là “đại thiện, đại phước đức”
được!
Hỏi: Quán kinh
đă dạy thập niệm Di Đà, chóng sanh Tịnh Độ. Nếu nói như vậy, hóa ra đâu cần phải
nhiều thiện căn, nhiều phước đức mới được văng sanh?
Đáp: Mười niệm
được sanh là bi nguyện để tiếp độ chúng sanh giải đăi. Nhưng thật ra để thành
tựu mười niệm đó, cần phải cả một quá tŕnh tu tập dài lâu. Kẻ ngũ nghịch, thập
ác lâm chung nếu không có túc phước thâm hậu, dễ đâu lâm chung gặp thiện tri
thức khai ngộ, mười niệm văng sanh? Nói “nhiều thiện căn, nhiều phước đức” là
đối với căn cơ tinh tấn, siêng học mà nói. Kinh văn nói hoặc lược hoặc rộng,
phải khéo suy xét, chớ khá hồ nghi!
Hỏi: Bồ Tát
bao kiếp dài lâu vào trong cơi trần độ sanh, nay ta nguyện văng sanh Tây Phương,
ắt chẳng thể trở về ngay đời ngũ trược hóa độ hữu t́nh, há chẳng phải là tu hạnh
Tiểu Thừa hay sao?
Đáp: Bao kiếp
dài lâu ở trong cơi trần độ sanh nào phải chuyện dễ dàng! Muốn làm được vậy,
phải có đủ trí huệ, biện tài, thần thông, phương tiện. Nếu không, khác nào toan
cứu người chết đuối, ḿnh đă không có ghe thuyền, lại chẳng biết bơi; ḿnh lẫn
người cùng chết ch́m cả! Muốn phát Đại tâm, trước hết phải văng sanh về cơi kia,
để hoa nở, gặp Phật, rồi sau mới có thể trở vào ngũ trược, thuận nghịch lợi sanh
một cách tự tại được.
Hỏi: Cơi Sa Bà
một kiếp chỉ bằng một ngày đêm trong cơi Cực Lạc. Bậc Thượng Trung Phẩm văng
sanh c̣n phải chờ qua một đêm hoa mới nở, bảy ngày sau mới đắc Diệu Bồ Đề. Bậc
Thượng Hạ Phẩm phải chờ đúng một ngày một đêm hoa mới nở, hăm mốt ngày sau mới
được thấy Báo Thân Phật. Như vậy là khi đó, cơi Sa Bà đă trải qua nhiều kiếp.
Nếu ta không kịp độ chúng sanh, chỉ sợ bọn họ tâm thức bất định, tạo nghiệp đọa
khổ, không cách nào cứu nổi?
Đáp: Tuy phát
đại tâm, tự ḿnh không sức, chẳng bằng tự cứu ḿnh trước đă! Khi đă đắc Phật Huệ
rồi, sẽ nhập trần độ sanh, cả ḿnh lẫn người đều được lợi ích thù diệu. Nay tâm
đại bi tha thiết, sau ắt sẽ toại nguyện.
Xét về Lư,
“thiện căn, phước đức" biểu thị hết thảy công đức sẵn có nơi tự tánh.
3.2. Thị chánh
tu (chỉ bày
đường lối tu hành)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp tŕ danh
hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ
nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn.
(Xá Lợi Phất!
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu
hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc
sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn)
Giải:
Đoạn kinh văn
này giảng về điều kiện thứ ba để được văng sanh: Hạnh. Hạnh chính là Chấp Tŕ
Danh Hiệu.
Từ ngữ “thiện
nam tử, thiện nữ nhân” bao gồm hết thảy chúng sanh trong sáu đường, tất cả những
người có thiện tâm. Gọi là “thiện nhân” v́ phải là người từng đă gieo nhiều căn
lành từ trước đối với Tam Bảo, nay mới có thể niệm Phật.
Hiểu theo
nghĩa hẹp, “thiện nam tử”, tiếng Phạn là Ưu Bà Tắc (c̣n phiên là Ô Ba Sách Ca),
Hán dịch là Cận Sự Nam, là những tại gia đệ tử nam, vâng giữ năm giới. Do thân
cận phụng sự Tam Bảo nên gọi là “cận sự”. “Thiện nữ nhân”, tiếng Phạn là Ưu Bà
Di (c̣n phiên là Ô Ba Tư Ca), dịch là Cận Sự Nữ.
Hỏi: Văng Sanh
Luận của Bồ Tát Thiên Thân (Bà Tẩu Bàn Đậu) viết: “Nữ nhân và căn khuyết, giống nhị thừa chẳng
sanh”, ở đây kinh lại gộp cả thiện nữ nhân, như vậy có mâu thuẫn nhau hay
không?
Đáp: Như nữ
nhân chuyên tinh niệm Phật tinh tấn, khi mạng chung rồi sẽ chuyển sanh nam thân,
sanh về cơi kia, nào có trở ngại ǵ. Người căn khuyết cũng thế. Vả nữa, Luận nói
như vậy hàm nghĩa: trong cơi Cực Lạc, không hề có danh hiệu nữ nhân, không có
người các căn bị khuyết thiếu, không có định tánh Nhị Thừa!
“Văn” (nghe) là
nghe từ nơi thiện hữu giảng thuyết sự văng sanh cơi Cực Lạc, hoặc tự ḿnh t́m
hiểu biết được. Nên biết rằng: “Một phen
lọt qua tai, vĩnh viễn thành Phật chủng”. Một khi danh hiệu Phật lọt qua
tai, sẽ kết thành đạo chủng thành Phật trong tương lai; v́ ai ai cũng có Phật
tánh, nhờ Phật hiệu đánh thức, khiến cho tâm thức phát sanh thiện căn, thiện căn
ấy lần lần được tăng trưởng, thuần thục, khiến hành nhân phát tâm Bồ Đề, tiến tu
đạo nghiệp. Nghe danh hiệu Phật có lợi ích lớn lao như thế nên kinh Hoa Nghiêm
từng nói: “Thà ở trong đường ác, thường
được nghe Phật hiệu, chẳng muốn trong đường thiện, tạm thời chẳng nghe nói đến
Phật!”
“Chấp
tŕ”: Chấp là cầm
nhận lấy, Tŕ là giữ ǵn. Hiểu sâu hơn: Chấp là tín tâm chẳng lay động, Tŕ là
nghĩ nhớ chẳng quên. Ư nói: do tín lực kiên cường, vận dụng công phu nghĩ nhớ,
ǵn giữ danh hiệu Phật chẳng hề quên mất. Chấp Tŕ Danh Hiệu không có nghĩa là
miệng niệm Phật xuông, mà tâm phải chuyên chú theo tiếng niệm, tâm khẩu tương
ứng, tịnh niệm tiếp nối, mới xứng gọi là Tŕ Danh Niệm Phật.
Hỏi: Nhà Phật
kỵ nhất là chấp trước, hễ c̣n chấp trước th́ chưa phải là ngộ nhập Phật pháp,
tại sao ở đây Phật lại dạy chúng sanh nên chấp tŕ danh hiệu, há chẳng phải là
khiến tâm chấp trước càng sâu nặng hơn sao?
Đáp: Tám vạn
bốn ngàn pháp môn chẳng qua chỉ gồm 2 loại chính: Không môn và Hữu môn.
Từ Không môn
mà vào th́ phải chứng nhập “hết thảy đều là không”, chẳng được chấp trước. V́
thế, kinh Kim Cang dạy:
Dùng sắc để
thấy ta,
Dùng âm thanh
cầu ta,
Người ấy hành
đạo tà,
Chẳng thấy
được Như Lai.
Ư nghĩa của
bài kệ này là khi c̣n chấp có sắc thân Phật để thấy được, c̣n có âm thanh Phật
thuyết pháp có thể cầu được th́ đă lạc vào đường tà, làm sao thành Phật nổi?
Theo Không Môn nhập đạo, phải thấy hết thảy là không. Ngay cả cái “tất cả đều là
không” ấy cũng là không. Trọn không c̣n chấp vào cái ǵ nữa mới ḥng minh tâm
kiến tánh.
Từ Hữu môn
nhập đạo lại khác: Tin có cơi Cực Lạc, tin có Phật A Di Đà, không hề sợ chấp
trước, v́ chấp đây là chấp vào A Di Đà Phật, chứ nào phải chấp vào ngũ dục, lục
trần. Y báo, chánh báo cơi Cực Lạc chính là Diệu Hữu. Chấp vào Diệu Hữu, chấp
đến nhất tâm bất loạn, sanh về Tây phương, liễu chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đấy là
đường tuy khác, nhưng mục đích tương đồng. Diệu Hữu chẳng hữu mới chính là Chân
Không. Cái không của Chân Không nào phải là ngoan không, cũng chẳng phải là Đoạn
Diệt Không. Chân Không chẳng không chính là Diệu Hữu!
V́ thế, nào
ngại chấp trước, chỉ sợ chấp trước chẳng chuyên; bởi lẽ, ngũ dục, lục trần đă là
tập khí từ vô thỉ! Đấy chính là dùng tịnh chấp để đối trị vọng chấp.
Những câu
“hoặc một ngày... hoặc bảy ngày” hàm nghĩa giả định. Nói từ một ngày cho đến bảy
ngày chỉ là tạm ấn định một thời gian để dốc sức hạ thủ công phu tŕ niệm; mà
cũng là ngụ ư: công phu Niệm Phật thật dễ thành tựu. Chúng sanh căn cơ khác
nhau, nghiệp chướng cạn sâu có khác. Có người niệm Phật từ một đến bảy ngày liền
được Nhất Tâm Bất Loạn. Đương nhiên có người phải niệm nhiều lần bảy ngày, hoặc
bốn mươi chín ngày, hoặc bốn mươi chín tháng, bốn mươi chín năm, thậm chí cả đời
niệm Phật, cũng chưa đạt được Nhất Tâm Bất Loạn.
Con số “từ một
đến bảy ngày” đó chỉ là nói đại khái, để hành giả định kỳ hạn chuyên tu, ngơ hầu
đạt được Nhất Tâm. Chẳng hạn, kinh Vô Lượng Thọ lấy 10 ngày chuyên niệm làm hạn.
Kinh Cổ Âm Thanh Vương cũng bảo mười ngày mười đêm chuyên tŕ niệm, trừ bỏ tán
loạn. Kinh Ban Châu Tam Muội lại lấy bốn mươi chín ngày làm hạn, thường đi,
thường đứng, chuyên niệm Phật. Kinh Văn Thù Bát Nhă cũng lấy bốn mươi chín ngày
thường ngồi hướng về Tây, chuyên niệm Phật để cầu đắc Tam Muội. Đức Di Đà đă
nguyện: “Nhất tâm hệ niệm đến ta, tuy chỉ
trong ṿng một ngày một đêm chẳng đoạn, ắt sẽ được sanh trong cơi ta”. Như
vậy, thời gian dài hay ngắn chẳng thành vấn đề. Quan trọng là người niệm Phật có
giữ được tâm niệm Phật liên tục chẳng gián đoạn hay không.
“Nhất tâm bất
loạn”: Bốn chữ này
chính là yếu chỉ của toàn bộ kinh, mà cũng là cứu cánh của toàn bộ công phu niệm
Phật. Nói rộng ra: bốn chữ này chính là cốt tủy của toàn bộ Đại Tạng Kinh, là
chỗ tu chứng của mọi pháp môn, là điều xứng tánh cực đàm của toàn bộ giáo thuyết
nhà Phật.
“Nhất tâm” là
không có ǵ xen tạp khiến tâm bị gián đoạn. “Bất loạn” là chuyên chú, không bị
tản mác. Hiểu một cách đơn giản, sơ lược: Phàm phu suốt ngày lăng xăng với những
chuyện bên ngoài, những vọng tưởng bên trong, gặp cảnh nào duyên theo cảnh đó,
tâm vọng động liên tục. Nhất Tâm Bất Loạn là tâm chỉ riêng chuyên chú nơi danh
hiệu Phật, không c̣n tưởng đến ǵ khác. Dù làm mọi chuyện ǵ, uống, ăn, làm
lụng, ngủ nghỉ, trong tâm không rời câu Phật hiệu. Hiểu như vậy mới là đạt Nhất
Tâm Bất Loạn về mặt Sự.
Nếu thấu hiểu,
chứng nhập được diệu chỉ “ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”, tâm lẫn
Phật gộp thành một phiến, tâm vắng lặng như mặt nước, như gương sáng, chiếu soi
hết thảy, nhưng chẳng bị hết thảy lay động, th́ đă đạt Nhất Tâm Bất Loạn về mặt
Lư.
Đạt được nhất
tâm bất loạn là đă chứng Niệm Phật Tam Muội, quyết định được văng sanh vô ngại,
nào khác ǵ với cái gọi là “minh tâm kiến tánh” của nhà Thiền ư? Cần phải nhớ
rằng người thật sự minh đạt đạo lư Nhất Tâm sẽ chẳng chấp lư phế sự. Trái lại,
càng thêm dũng mănh tŕ danh chẳng ngơi. Bởi lẽ toàn Sự tức là Lư, toàn Lư tức
là Sự.
Hỏi: Kinh văn
chỉ nói từ một ngày đến bảy ngày liền đạt nhất tâm bất loạn, nhưng có người tu
hành cả mấy tháng, mấy năm, cho đến trọn đời vẫn không đạt được nhất tâm bất
loạn là v́ sao?
Đáp: Có ba
nguyên nhân:
- Tội nghiệp
sâu nặng.
- Niệm lực
chưa đủ, lại tu tŕ chẳng chuyên.
- Niệm chẳng
đúng như pháp, tâm niệm Phật chưa thật sự khẩn thiết, tín tâm chưa sâu chắc.
Theo Ngài Đạo Nguyên, niệm Phật chín trăm chín mươi chín tiếng rồi, nếu một niệm
nghĩ tưởng đến chuyện ǵ khác ngoài Phật hiệu th́ lần chuỗi niệm lại từ đầu,
không tính những niệm trước. Có như vậy tâm mới chuyên nhất được.
Tâm người niệm
Phật hay bị tán loạn phần nhiều là do những điều ḿnh thấy nghe gây chướng ngại.
Nếu biết tu tập sao cho trong bất cứ hoàn cảnh nào đều niệm Phật được th́ tâm sẽ
chẳng khởi lên vọng niệm, sẽ mau đạt được nhất tâm. Nếu một Phật thất chưa thành
tựu th́ hai, ba thất cho đến trọn đời dũng mănh niệm Phật, lo ǵ rồi sẽ chẳng
thành tựu “nhất tâm bất loạn”.
Tuy thế, Đại
Sư Luyến Tây Cổ Côn Ngọc Phong c̣n cho rằng cứ chuyên tâm niệm Phật là đủ, dẫu
tâm tán loạn cũng được, miễn sao thời thời khắc khắc đừng quên câu niệm Phật,
chẳng cần vội mong cầu “nhất tâm bất loạn” làm ǵ. Càng mong cầu sẽ khiến tâm
thêm chao động, càng khó đạt Nhất Tâm. Ngài dạy: “Nếu thường niệm Phật lâu ngày th́ ắt sẽ
biết là nhất tâm bất loạn quyết định là do tán tâm niệm Phật mà thành, lẽ đâu
lại coi là chuyện tầm thường! Nếu đă chẳng tán tâm niệm Phật từ trước th́ làm
sao thành tựu nổi nhất tâm? Nếu ai quả thực có thể thường tán tâm niệm Phật lâu
ngày chẳng lui sụt th́ sẽ tự nhiên thành tựu nhất tâm!”
Ngài c̣n cho
rằng căn bịnh chung của người niệm Phật là vừa niệm Phật vừa cố trừ vọng tưởng.
Tâm niệm xáo động nên càng khó nhất tâm. Phải quán sát: “Hoàn toàn không vọng tưởng th́ chỉ có mỗi
một ḿnh Như Lai đạt được, hễ c̣n là chúng sanh th́ c̣n có vọng tưởng. Mặc cho
vọng tưởng lao xao, cứ chuyên tâm niệm Phật th́ tự nhiên vọng tưởng lặng dần,
chẳng cần diệt mà vọng tưởng tự diệt. Nếu không biến câu niệm Phật thành tập
quán, làm sao lúc lâm chung nhớ Phật, niệm Phật cho được?”
Đại Trí Độ
Luận dùng ba tâm để phán định Nhất Tâm Bất Loạn:
1) Trực
tâm: chánh niệm Chân Như, chẳng lạc vào hữu niệm lẫn vô niệm, chẳng chấp vào
hai bên (có và không), hoàn toàn quy về Trung Đạo. Đấy chính là Nhất Tâm Bất
Loạn.
2) Thâm
tâm: ưa thích tích tập các thiện pháp, tu trọn lục độ, đầy đủ vạn hạnh. Như
kinh Na Tiên đă nói: “Trong các điều
thiện, chỉ có mỗi ḿnh Nhất Tâm thật là bậc nhất. Các điều thiện tùy thuận Nhất
Tâm ấy”. Đấy chính là Nhất Tâm Bất Loạn.
3) Đại bi
tâm: rộng độ chúng sanh, độ được chúng sanh nơi tự tánh của chính ḿnh. Đấy
chính là Nhất Tâm Bất Loạn.
Căn cứ trên ba
tâm ấy, chúng ta thấy rằng: Người niệm Phật nếu đă có thể chánh niệm Chân Như,
tu lục độ, vạn hạnh, rộng độ chúng sanh, th́ đấy chính là chân nhân để thành tựu
văng sanh, đương nhiên lâm chung sẽ cảm được Phật và thánh chúng đến tiếp dẫn.
Nếu luận về Sự
Lư th́ có bốn loại chấp tŕ danh hiệu Phật:
a) Sự Tŕ
Danh Niệm Phật:
Chẳng luận là
tăng hay tục, là trời hay người, nếu có thể xem nhẹ danh lợi, ngũ dục, buông bỏ
thân tâm, lại đoạn trừ được tập khí, nghĩ đến những nỗi khổ của cơi Sa Bà, hâm
mộ những sự vui trong cơi Cực Lạc, miệng niệm tai nghe sáu chữ hồng danh Di Đà,
chữ chữ phân minh, câu câu nối tiếp, ngoài tuyệt tà cảnh, trong tâm dứt những
suy tưởng. Đi cũng niệm như thế, đứng, ngồi, nằm cũng niệm như thế. Nghĩa là
trong cả bốn oai nghi, trong mọi hoàn cảnh chẳng ĺa câu niệm th́ gọi là Sự Tŕ
Danh Niệm Phật.
Thành tựu cách
tu này th́ chẳng bị Kiến Hoặc, Tư Hoặc nhiễu loạn, lâm chung cảm Ứng Thân Phật
đến tiếp dẫn văng sanh về Phàm Thánh Đồng Cư Độ.
b) Lư Tŕ
Danh Niệm Phật:
Cách này dung
thông cả Thiền lẫn Quán. Trước hết, phải nhận thức rơ: một niệm tâm tánh tịch
chiếu thường hằng, tịch mà thường chiếu (vô lượng quang), chiếu mà thường tịch
(vô lượng thọ). Dùng quang - thọ làm Thể để khởi tín nguyện tŕ danh, nhất tâm
xưng niệm, động tịnh bất nhị th́ gọi là Lư Tŕ Danh Niệm Phật.
Tu cách này
thành tựu sẽ phá được Trần Sa vô minh, cảm được Báo Thân Phật đến tiếp dẫn văng
sanh Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ.
c) Sự Lư
Bất Nhị Tŕ Danh Niệm Phật:
Dù trong bất
cứ hoàn cảnh nào cũng giống nhau: thuận tiện cũng được, bất tiện cũng xong,
trong khi Thiền Quán cũng tốt, ở chốn ồn náo cũng được, chẳng bị chân lẫn vọng
làm trở ngại. Hiểu rơ toàn vọng là chân, tâm, Phật, chúng sanh vô sai biệt. Niệm
niệm Di Đà, tiếng tiếng Cực Lạc. Làm được như vậy chính là Sự Lư Bất Nhị Tŕ
Danh Niệm Phật.
Tu cách này
thành tựu sẽ phá được căn bản vô minh, cảm được Pháp Thân Phật hiện tiền, sanh
trong Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
d) Tùy Ư
Tŕ Danh Niệm Phật:
Chẳng câu nệ
hoàn cảnh nào, cứ mặc kệ tất cả để niệm Phật. Niệm đến mức nhất tâm bất loạn,
đến lúc lâm chung liền được tùy ư văng sanh, hoa nở gặp Phật. Đấy là Tùy Ư Tŕ
Danh Niệm Phật.
Tu cách này
thành tựu th́ tùy công phu sâu hay cạn, sẽ tùy ư cảm được Phật hiện tiền, sanh
về Cực Lạc.
Luận về phương
cách tŕ danh niệm Phật th́ lại có mười loại:
1) Ngồi
ngay ngắn tŕ danh: Lúc đi đứng nằm, ngồi, thân tâm đoan chánh. Hễ thân ngay
thẳng tâm ắt sẽ chánh trực. Tâm chánh trực th́ vọng niệm khó sanh, tự nhiên
thanh tịnh, mau đắc Nhất Tâm Bất Loạn.
2) Lần
chuỗi niệm Phật: niệm Phật một tiếng, tay lần chuỗi một hạt, chớ để lầm
loạn. Dùng chuỗi để bó buộc tâm, tự nhiên mau được thân tâm vắng lặng thanh
tịnh.
3) Kim Cang
Tŕ: Ở chỗ ồn ào, hoàn cảnh chẳng thuận lợi, th́ chỉ động môi mép niệm. Đấy
là Kim Cang Tŕ. Chẳng cần biết niệm nhiều hay ít, cốt sao chữ chữ phân minh,
Phật hiệu từ trong tâm tuôn ra. Làm vậy sẽ trừ được hết thảy vọng niệm, mau đạt
Niệm Phật Tam Muội.
4) Lớn
tiếng niệm Phật: khi vọng tưởng nổi lên, hoặc lúc thần chí hôn trầm, nên
niệm Phật lớn tiếng để đánh thức, khôi phục tinh thần. Niệm đến khi tinh thần
tỉnh táo, th́ lại niệm nhỏ tiếng như cũ.
5) Niệm
Phật nhỏ tiếng: lúc mệt mỏi, chỉ cần niệm sao cho riêng ḿnh nghe được là
đủ, niệm cho đến khi hết mệt mỏi, tinh thần phấn khởi trở lại th́ có thể chuyển
sang cách niệm Phật lớn tiếng.
6) Phép
niệm điều ḥa hơi thở: Lúc tịnh tọa, trước hết điều ḥa hơi thở sao cho
chẳng gấp, chẳng hoăn, dơi theo hơi thở ra vào, cứ mỗi hơi là một câu niệm Phật.
Niệm đến lúc không c̣n thấy hơi thở lẫn câu niệm, thân tâm an vui, ngay khi ấy
chính là cảnh giới Duy Tâm Tịnh Độ.
7) Lễ bái
tŕ danh niệm Phật: Thân ngay ngắn hướng về Phật, vừa lễ vừa niệm, hoặc niệm
xong, lễ một lễ. Hoặc lạy một lạy xong, niệm mấy câu lại lễ đều được. Nhân v́
thân lễ Phật, miệng niệm Phật, ư nghĩ đến Phật nên ba nghiệp thanh tịnh, sáu căn
thâu nhiếp. Cách này có hiệu lực rất lớn, rất dễ chứng đắc Niệm Phật Tam Muội.
8) Định kỳ
tŕ danh: Tự hạn định thời gian để tạ tuyệt hết thảy mọi việc, thân tâm
buông bỏ hết để chuyên chí niệm Phật. Cách này thường gọi là “khắc kỳ thủ chứng”
(định kỳ hạn để cầu được chứng đắc); rất mau được “nhất tâm bất loạn”.
9) Niệm
Phật trong khi bệnh hoạn: Trong khi bệnh tật, luôn nghĩ mọi thứ cảm thọ
trong Sa Bà đều là khổ; coi nhẹ sống chết, siêng năng niệm Phật, chỉ mong A Di
Đà Phật mau đến tiếp dẫn. Đây chính là phương pháp tối hảo để tự khích lệ ḿnh
siêng gắng.
Trong quá khứ,
có một vị Tăng mắc bệnh, đau đớn quá, cứ rên “ôi chao” một tiếng, lại niệm Phật
một tiếng, ngày đêm chẳng ngớt xưng niệm. Quả nhiên cảm được Như Lai gia hộ,
chẳng lâu sau liền lành bệnh, bèn bảo mọi người: “Tôi trong lúc đau bệnh, hễ đau
liền rên ôi chao, đỡ đau liền niệm A Di Đà Phật. Giờ đây bệnh đă khỏi nhưng A Di
Đà vẫn c̣n y nguyên, hai chữ ôi chao không biết đă đi đâu rồi!” Câu chuyện này
có thể lấy làm gương cho những hành nhân Tịnh nghiệp vậy.
10) Tŕ
danh bằng mười hơi: Cứ trong một hơi, tùy ư tŕ được mấy câu th́ tŕ cho đến
hết một hơi. Làm như vậy đến mười lần th́ thôi. Cách này căn cứ theo ư nghĩa
thập niệm văng sanh trong bốn mươi tám nguyện của đấng Từ Phụ, dành cho những
người quá bận rộn, không có thời gian rảnh rỗi nhiều để niệm Phật.
Hỏi: Lúc niệm
Phật, bị nhiều tạp tưởng hôn trầm bức bách quá đỗi th́ phải làm cách nào?
Đáp: Vọng
tưởng chính là tập khí từ vô thỉ, muốn trừ vọng tưởng th́ vọng tưởng càng tăng
thêm. Khi vọng tưởng nổi lên, cứ cao tiếng niệm Phật khiến cho từng câu niệm lọt
rơ ràng vào tai, chú tâm lắng nghe, dần dần tâm sẽ quy nhất.
Hỏi: Cầu thọ
th́ niệm Dược Sư, độ vong th́ niệm Di Đà có được hay không?
Đáp: Niệm vị
Phật nào cũng có công đức chẳng thể nghĩ bàn; nhưng nếu niệm như vậy, tâm vướng
mắc vào chỗ phân biệt, so đo. A Di Đà chính là Vô Lượng Quang Thọ, nguyện lực
khôn lường. Niệm một đức Phật đến triệt để th́ hiện tại đă tăng phước thọ, lâm
chung gởi chất nơi liên thai. Chứ nếu tâm c̣n so đo, tính toán, sẽ khó ḷng niệm
đến đắc lực được!
Chánh kinh:
Kỳ nhân lâm
mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền.
(Người ấy lúc
mạng sắp dứt, A Di Đà Phật cùng các thánh chúng hiện ra trước mặt)
Giải:
Đoạn trước,
Phật dạy diệu hạnh Tŕ Danh. Đoạn này, Phật thuyết minh quả báo thù thắng của
diệu hạnh Tŕ Danh.
Chữ “kỳ nhân” chỉ người niệm Phật đă niệm
đến mức nhất tâm bất loạn.
“Lâm mạng
chung thời” là lúc khổ
báo trong cơi Sa Bà sắp chấm dứt.
“Chư thánh
chúng” là các vị Bồ
Tát, Thanh Văn, Duyên Giác trong cơi Cực Lạc.
Lúc lâm chung,
cảm được Phật, Thánh đến tiếp dẫn hoàn toàn là cậy vào Tự Lực và Tha Lực cảm ứng
đạo giao mà thành. Phàm nhân, lúc b́nh thời đă tạo những nghiệp thiện ác ǵ, lúc
lâm chung, những cảnh thiện ác ấy đều cùng lúc hiện ra trước mặt. Tùy theo
nghiệp lực sẽ sanh thiên hay đọa lạc. Kẻ tạo ngũ nghịch, thập ác, ắt tướng Địa
Ngục hiện tiền. Kẻ keo, tham, ganh ghét, cảm tướng Ngạ Quỷ hiện. Kẻ ngu si ám
muội cảm tướng súc sanh hiển hiện.
Nếu cả một đời
niệm Phật, th́ do tịnh nghiệp cảm thành, đương nhiên tịnh cảnh sẽ hiện ra; v́
thế, Phật, Thánh tự nhiên hiển hiện; đúng như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai,
nhất định thấy Phật”. Đấy chính là sức tự niệm của chính ḿnh.
Phật Di Đà lại
có lời nguyện: “Lúc ta thành Phật, chư
thiên nhân dân trong mười phương vô ương số thế giới có ai phát Bồ Đề tâm, tu
các công đức, nguyện sanh về cơi ta,
th́ lúc lâm chung, ta cùng đại chúng hiện trước mặt người ấy”. Đây chính là
Tha Lực, tức là Nguyện Lực của Phật A Di Đà.
Hỏi: Phật thân
vốn chẳng đến, chẳng đi, sao lại bảo là hiện ra trước mặt?
Đáp: Pháp Thân
vốn không đến, không đi, nhưng Báo Thân, Ứng Thân v́ độ sanh nên phương tiện tùy
cơ cảm hiện.
Hỏi: Chúng
sanh niệm Phật trong mười phương thế giới rất nhiều, chỉ có mỗi một đức Phật A
Di Đà làm sao có thể hiện ra khắp mọi nơi được?
Đáp: Như một
vầng trăng trên không hiện bóng trong muôn chỗ có nước. Tâm người niệm Phật
trong veo như nước th́ Di Đà và Thánh Chúng đều hiện bóng trong ấy. Điều này
cũng chẳng ngoài sức cảm ứng đạo giao của Tự Lực và Tha Lực vậy.
Hỏi: Cứ như
nhà Thiền thường bảo: “Phàm hết thảy những h́nh tướng ta thấy đều là hư vọng,
hoặc là ma đến nhiễu loạn đạo tâm”. Vậy lấy ǵ bảo đảm Phật và thánh chúng hiện
ra khi người niệm Phật lâm chung đó chẳng phải là ma?
Đáp: Nên biết
rằng Niệm Phật là pháp môn vô cùng đặc biệt. Niệm Phật thấy Phật là chuyện nhân
quả xứng hợp. Xưa Ngài Huệ Viễn chuyên tu Tịnh nghiệp, ba lượt thấy Thánh tượng,
lâm chung thấy Phật tiếp dẫn. Tâm đă chân thành niệm Phật, lại nương Phật lực,
bổn nguyện lực, nhiếp thọ lực tiếp dẫn, chở che, ắt chẳng có ma sự!
Giả sử hành
giả do túc nghiệp sâu nặng, hoặc là chẳng khéo dụng tâm, nên vướng phải ma sự,
làm sao phân biệt được? Hăy dùng huệ tâm quán sát, soi chiếu hết thảy cảnh giới
vốn là không tịch. Nếu là ma hiện th́ đương nhiên chúng sẽ bị ẩn mất.
Xin đại chúng
hăy nhớ: “Phù sanh như mộng, huyễn chất
chẳng bền, vô thường nhanh chóng, sanh tử việc lớn”, hăy gấp chí tâm niệm
Phật để dự bị lúc lâm chung khỏi bị tán loạn.
Lại có kẻ bảo:
“Nếu đúng là như thế, chỉ cần lúc lâm chung, phát sanh thiện tâm niệm Phật th́
liền được văng sanh Tây Phương là xong. Cần ǵ lúc thường cứ phải khéo dụng công
niệm Phật!”
Đáp: Cần phải
nhớ rơ một điều: có được một niệm lâm chung toàn là nhờ lúc b́nh thường chí tâm
niệm Phật. Tu tŕ đến mức thuần thục th́ lâm chung, chánh niệm mới hiển hiện rỡ
ràng, mới có thể phát khởi thiện niệm. Nếu không, bệnh tật hôn mê, đau đớn bức
bách, lại thêm vợ đèo con níu, quyến thuộc lăng xăng, chẳng thể dứt t́nh ân ái,
hoặc bị những ác nghiệp từ trước lôi kéo, nhiễu loạn khiến thần chí mê loạn. Lúc
bấy giờ có muốn phát khởi một thiện niệm hay niệm Phật một tiếng cũng không
xong.
Hơn nữa, mạng
người yểu thọ, dễ ai biết trước, hoặc bị tai nạn chết ngang xương, có kịp phát
sanh thiện niệm nữa không? Đến giây phút lâm chung quan yếu ấy, người tu hành
tinh tấn c̣n sợ chẳng thể làm chủ, huống hồ là kẻ chẳng tu ư?
V́ vậy, lúc
b́nh thời tu tŕ niệm Phật chính là để dự bị cho lúc lâm chung. Cứ bảo đợi đến
lúc lâm chung mới niệm th́ thật là ḿnh đă lầm lẫn lại c̣n khiến người lầm lạc
theo, tai hại chẳng nhỏ, hăy nên cẩn thận.
Hỏi: Nhà Thiền
ĺa tâm ư thức để tham chiếu, tham thấu tới khi cha mẹ c̣n chưa sanh ra, c̣n
người niệm Phật lại hoặc là tŕ danh, hoặc là quán tưởng, chẳng hề ĺa tướng là
v́ cớ nào?
Đáp: Đối với
nhà Thiền, dĩ nhiên phải “dù một tướng cũng chẳng lập, chẳng vướng một trần, hễ
c̣n mảy may ư niệm ắt thành nghiệp nhân sanh tử”. Người niệm Phật trong th́ dựa
vào Nhất Tâm của chính ḿnh, ngoài th́ dựa vào Di Đà nguyện lực, cốt sao chấp
tŕ danh hiệu chẳng quên, chẳng khuyết, chắc chắn như Thái Sơn, th́ gọi là Chánh
Niệm. Nếu ai tu quán tưởng niệm Phật, th́ phải theo đúng như lời dạy trong Quán
kinh, chuyên chú tâm vào một cảnh, rành rẽ, chẳng sai chạy. Như vậy mới là Chánh
Quán. Cả hai việc ấy đều có thể hoàn thành ngay trong một đời này.
Chánh kinh:
Thị nhân chung
thời, tâm bất điên đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.
(Người ấy lúc
mạng chung, tâm chẳng điên đảo, liền được sanh về cơi nước Cực Lạc của Phật A Di
Đà).
Giải:
Chữ “thị nhân” chỉ người niệm Phật.
“Chung
thời” là lúc khí ấm
trên thân đă hết, thức thần sắp ly khai xác thân.
“Tâm bất điên
đảo” là v́ công
phu niệm Phật sâu dày, luôn nghĩ đến vô thường chẳng có kỳ hạn, thường vâng giữ
một câu Phật hiệu khăng khăng, niệm đến mức nhất tâm bất loạn. Thế nên tâm linh
minh mẫn, chánh niệm hiện tiền, chẳng bị điên đảo.
Theo Duy Thức
học, khi người sắp xả mạng, thân thể lạnh dần, hơi nóng thoát ra từ đâu chính là
thức thứ tám thoát ra từ đó. Bởi vậy, mới có thuyết: Dựa theo chỗ nào bị lạnh
sau cùng, có thể đoán biết người chết được sanh về đâu. Chẳng hạn, đảnh đầu lạnh
sau cùng sẽ sanh về thiên giới. Từ đó, sanh ra việc khám nghiệm hơi ấm rộn ràng
khiến người chết nhiều khi bị chạm xúc, sanh tâm sân hận, chướng ngại việc văng
sanh. V́ thế, chư tổ đức Tịnh Độ cực lực cấm ngặt việc khám nghiệm hơi nóng trên
thân người chết.
“Tức đắc văng
sanh”: là nói văng
sanh rất lẹ, chẳng cần phải trải qua giai đoạn Trung Ấm thân, trong ṿng một
niệm liền sanh về cơi Cực Lạc. Quán kinh bảo là: “Trong khoảng khảy ngón tay, sanh trong cơi
Cực Lạc”.
Hỏi: Chúng
sanh ác nghiệp vô lượng, làm sao có thể chỉ niệm Phật trong một đời, tội chướng
liều tiêu trừ, được văng sanh?
Đáp: Theo Tịnh
Độ Thập Nghi Luận, do ba điều nên có thể đối địch ác nghiệp:
- Một là tại
tâm: Lúc tạo tội dùng tâm hư vọng, lúc niệm Phật dùng tâm chân thực. Dùng thực
trừ hư dĩ nhiên là được, như bóng tối ngàn năm, chẳng thể đương nổi một tia sáng
mặt trời.
- Hai là tại
cảnh: Duyên tạo tội thuộc trong cảnh giới điên đảo. Duyên niệm Phật là công đức
thắng diệu. Dùng chân khử ngụy, có ǵ là không được.
- Ba là tại
tịnh: Tạo tội là ư nhơ nhiễm, niệm Phật là tâm thanh tịnh. Tịnh thù thắng, nhiễm
hạ liệt, nhiễm sánh sao nổi với tịnh; khác nào đứa trẻ con mượn sức gươm bén
chặt đứt sợi thừng to dài cả ngàn trượng; một đốm lửa tí ti đốt tiêu vạn bó củi.
Quán kinh nói: “Niệm Phật một tiếng trừ
được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”.
Hơn nữa,
nhân nào quả nấy, tơ hào chẳng sai. Người niệm Phật dùng Phật hiệu để lắng trong
cái tâm hôn mê, điên đảo, vọng tưởng bộn bề của ḿnh, cố giữ cho tịnh niệm liên
tục như gà ấp trứng, như mèo ŕnh chuột, không để lúc nào sơ hở, th́ tự nhiên
cái tâm lắng trong. Tâm đă lắng trong th́ tâm quang sẽ phát khởi. Tâm ta biến
thành một phiến quang minh, sẽ phản chiếu được quang minh từ nơi tâm địa của
Phật A Di Đà. Ánh sáng giao nhau, khác nào hai thếp đèn ánh sáng chiếu rọi lẫn
nhau, sáng càng thêm sáng.
Người niệm
Phật đến mức Nhất Tâm Bất Loạn th́ tất nhiên tâm địa là một phiến quang minh,
đồng thể với tâm địa của Phật A Di Đà, tự nhiên A Di Đà và thánh chúng tự hiển
hiện trong tâm người ấy. Tâm tâm niệm niệm chỉ nghĩ đến Phật A Di Đà; mắt thấy,
tai nghe, không ǵ là chẳng chuyên chú nơi Phật A Di Đà.
Thêm nữa, lúc
lâm chung, do tâm luôn chuyên chú nơi tịnh cảnh, nơi Phật, không c̣n vọng tưởng
tham luyến, nhất chí tưởng niệm văng sanh Tây Phương. Đó là tự lực mạnh mẽ, đánh
bạt mọi ác nghiệp khác. Lại thêm Phật và thánh chúng hiện tiền, Phật lực tiếp
dẫn, tạo thành sức hỗ trợ thù thắng, th́ đương nhiên sẽ được văng sanh. Cái nhân
đă thanh tịnh th́ dĩ nhiên cái quả cũng thanh tịnh vậy.
Hỏi: Như trên
đă nói: “Niệm Phật, lễ tụng trừ được tội chướng”, nhưng sao lại có những kẻ
thiện tín chăm chỉ lễ niệm vẫn gặp phải tai ương, hoạn nạn?
Đáp: Đó là do
nghiệp chướng sâu nặng từ nhiều kiếp, hoặc do lễ niệm không chuyên chí, tạp niệm
niệm Phật nên không đạt được tác dụng thù thắng vậy. Đấy là do quả do nhân tạo,
như bóng theo h́nh, chẳng sai sảy mảy may. Di Lặc Bồ Tát nói: “Trong khoảng khảy ngón tay có ba mươi hai
ức trăm ngàn niệm. Mỗi niệm thành h́nh, thiện niệm thành h́nh ảnh tốt, ác niệm
tạo thành cảnh tượng xấu, chẳng sai tơ tóc. Con người suốt ngày suy nghĩ tạp
nhạp mà vẫn chẳng hay biết, đến lúc muốn lắng đọng ư niệm, mới hay ḿnh có nhiều ư niệm”.
Từ phàm tiến
lên thánh, ư niệm trở nên càng tinh tế hơn. Ngay như Di Lặc Bồ Tát vẫn c̣n có
chút ư tưởng vi tế, huống hồ bọn phàm phu chúng ta? Một tâm niệm tí ti vẫn bao
trọn khắp pháp giới. V́ thế, một thiện niệm có công năng rất lớn, một ác niệm
cũng tạo tội khó thể nghĩ bàn! Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện dạy: “Khởi tâm động niệm, không chi là chẳng phải
tội”. Huống hồ từ vô thỉ đến nay, bao tội ác đă gây tạo có thể tính lường
nổi ư?
Nay do túc
căn, tuy niệm Phật, lễ tụng, nhưng trí lực kém cỏi, ư niệm bất định, khác nào
ngọn đèn thắp giữa lúc sương mù, lại thêm bị gió lùa, tỏa sáng được mấy? Ví dù
có chút đắc lực, lại do t́nh chấp nặng nề, khiến cho ma sự dễ bề nhiễu loạn.
V́ lẽ đó, niệm
Phật phải chuyên chú nhất cảnh, chớ để tạp niệm xen tạp. Dù có thấy tướng hảo,
quang minh của Phật cũng đừng hoan hỷ, cứ câu câu giữ vững, tâm tâm vắng lặng
th́ nghiệp chướng sẽ tự tan. Người đời nay dụng công một chút, thấy được chút
hảo cảnh, đă vội khoe khoang rầm rĩ, tránh sao khỏi bị ma dựa?
Hỏi: Tu Thiền
cố nhiên gặp nhiều ma sự, c̣n người niệm Phật làm thế nào để khỏi bị ma nhiễu?
Đáp: Thiền giả
dùng quán trí đối chọi vọng tưởng, tất nhiên ngũ ấm ma tà trong tám thức bị kích
động, nên hiện ra đủ các tướng kỳ lạ. Người trí lực kém, lầm sanh vui mừng, chấp
trước, ắt vướng phải ma sự. Người niệm Phật niệm niệm quy nhất sẽ có quang minh
chiếu xa đến bốn mươi dặm, ma tà tránh xa. Nếu thấy thánh tướng cũng chẳng sanh
ḷng hoan hỷ, khoe khoang ầm ĩ, chỉ càng thêm siêng gắng công phu, sẽ quyết định
sanh Tây.
Nếu v́ duyên
sự bức bách như bệnh tật không thể dùng miệng niệm, mà dùng tai chú tâm lắng
nghe hay vô tâm niệm Phật vẫn được lợi lạc. Cuối đời Thanh, bước sang thời Dân
Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn ở Nam Kinh là một người hoằng dương Phật giáo rất
tích cực tại Hoa Nam. Tuy giảng nhiều kinh điển khác nhau, ông vẫn chuyên tâm
Tịnh Độ và thường niệm Phật rất tinh chuyên. Con chim bát ca (gần giống con
nhồng) của ông nuôi, mỗi ngày thường nghe chủ niệm Phật, cũng bắt chước niệm
theo. Dần dà thành thói quen, cứ thấy chủ là nó niệm Phật. Mấy năm sau chim
chết, cụ Dương đem chôn bên nhà, đắp thành nấm mộ nhỏ. Mấy hôm sau, từ mộ chim
mọc lên một cành sen. Ṭ ṃ, cụ đào lên th́ thấy cành sen ấy mọc ra từ mỏ chim.
Chuyện lạ này được đồn khắp hai xứ Nam Kinh, Thượng Hải. Đủ thấy dẫu là chúng
sanh đang thọ khổ trong tam ác đạo vẫn có khả năng niệm
Phật.
Câu Phật hiệu
c̣n có khả năng cứu độ chúng sanh trong tam ác đạo: Đời Tống, trong khoảng niên
hiệu Thuần Hy, ông Ma Thành Trung kết bạn rất thân với ḥa thượng Thọ Phổ ở đất
Kinh Nam, thường qua lại đàm luận đạo lư với nhau. Một lần đến chơi, trong khi
chờ đợi chủ nhân, Sư thấy có con vẹt trong lồng treo bên pḥng khách. Tự nhiên,
vẹt kêu lên: “Ba năm nhốt trong lồng, vẫn chưa được giải thoát, xin Ḥa Thượng
từ bi”. Sư đáp: “Tiểu súc! Ai bảo mày hay nói làm chi?” Chim gục đầu như hiểu,
từ đó, không nói nữa. Sư bèn khuyên ông Ma thả chim đi.
Khi về đến
chùa, Sư thấy vẹt bay theo, kêu ríu rít như cảm tạ. Sư dạy: “Ngươi hăy lánh thân
trong rừng sâu để tránh lưới rập”. Con vẹt không chịu bay đi, cứ ngước nh́n Sư
như cầu dạy bảo. Sư niệm: “A Di Đà Phật!” Tám năm sau, Ḥa Thượng vân du, đến
một khu rừng núi nọ, có một đứa bé đến lễ tạ, thưa: “Xưa kia con là con vẹt
trong nhà họ Ma, nay đă được sanh làm con trai nhà họ Tiêu ở Tây Hương”.
Đời Tấn, ở
Lĩnh Nam có một vị thầy đồ nuôi một con vẹt trắng. Mỗi sáng, thầy niệm thánh
hiệu Quán Âm và tụng chú Đại Bi. Mỗi khi thầy niệm, con vẹt cũng niệm theo. Một
bữa nọ, con vẹt chợt bảo: “Tôi từ Tây Phương đến, nay lại về Tây phương”. Nói
xong, cúi đầu, xếp cánh chết ngay.
Xét về Lư,
“nhất tâm bất loạn” biểu thị tự tánh linh minh, “tâm bất điên đảo” biểu thị tự
tánh chẳng mê muội.
3.3. Trùng kết
khuyến (lại kết ư và
khuyên răn)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Ngă kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn. Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả,
ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
(Xá Lợi Phất!
Ta thấy điều lợi này, nên nói ra lời ấy. Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy th́
hăy nên phát nguyện sanh về cơi nước ấy)
Giải:
Trong câu “Ngă kiến thị lợi”, Ngă là lời Như Lai
tự xưng; “kiến” là Đức Phật dùng Phật nhăn quán sát tường tận, chữ “thị lợi”
(điều lợi này) chỉ diệu quả được Phật tiếp dẫn văng sanh như trên đă nói: một
phen được sanh trong cơi Cực Lạc sẽ viên chứng ba thứ Bất Thoái, lại cùng sum
họp với các vị thượng thiện nhân. Bởi thế, đức Thế Tôn mới nói “ngă kiến thị
lợi” (ta thấy điều lợi này).
Trong suốt hơn
bốn mươi năm hóa độ, đức Thích Tôn giảng kinh hơn ba trăm hội, giảng ra vô lượng
pháp môn, nhưng phần lớn những pháp môn ấy đều là tự lực, phải đoạn sạch Hoặc
nghiệp mới có thể liễu thoát sanh tử. Chỉ mỗi một ḿnh pháp môn Tịnh Độ này,
chẳng những độ trọn ba căn, lợi độn cùng tu, lại khế lư, khế cơ, chí viên, chí
đốn, dung thông Tự Lực lẫn Tha Lực, đới nghiệp văng sanh, thật không c̣n pháp
môn nào tạo được lợi ích lớn lao hơn thế!
Tu các pháp
môn khác, kẻ cuồng huệ vọng đàm lư Không, kẻ cuồng tu chấp tướng mê tâm. Đấy đều
là do ngũ trược chướng nặng, hoặc nghiệp hừng hực, dẫu muốn tu tŕ cũng khó ḷng
thành tựu. Dù đă chứng Sơ Quả, vẫn c̣n mê khi xuất thai, Bồ Tát vẫn c̣n mê khi
cách ấm (chuyển thân này sang thân khác). Chỉ ḿnh pháp môn Niệm Phật đây, một
khi được văng sanh, chẳng c̣n sợ những chướng ngại như thế nữa!
“Cố
thuyết” (cho nên nói)
là chữ dùng để tiếp ư câu trên. Đức Phật xét rơ tuy pháp môn Niệm Phật rất khó
tin, nhưng vẫn có người tin nhận được, cho nên không ai thỉnh vấn, Ngài vẫn tự
nói.
Chữ “thử ngôn” (lời này) chỉ giáo pháp Niệm
Phật.
Câu “văn thị thuyết giả” (nghe nói như vậy)
hàm ư: pháp môn Niệm Phật thù thắng mầu nhiệm như vậy, đừng để như gió thoảng
qua tai, mà phải nên phát nguyện cầu sanh mới là đúng lư.
Hai chữ “ưng đương” (phải nên) thể hiện tấm
ḷng tha thiết, khẩn khoản của đức Thế Tôn. Ngài bao lượt đinh ninh dặn ḍ,
khuyên lơn những mong người nghe mau phát tâm nguyện cầu văng sanh, đừng bỏ lỡ
đại lợi ích thù thắng này.
“Phát
nguyện”: Nguyện dẫn
dắt Hạnh, như phải có người cầm cương đánh xe th́ mới đến được mục tiêu. Nếu
không có Nguyện dẫn dắt Hạnh, làm sao sanh về cơi Cực Lạc?
Hỏi: Thập
phương chư Phật đều có bi nguyện, lẽ đâu chỉ ḿnh Phật Di Đà; v́ sao chỉ khuyên
phát nguyện văng sanh cơi ấy?
Đáp: Chư Phật
độ sanh hễ có duyên th́ ứng, vô duyên chẳng cảm. Chư Phật tuy đều sẵn ḷng bi,
nhưng Phật chỉ có thể hóa độ chúng sanh hữu duyên. Kẻ vô duyên bị nghiệp chướng
của chính họ ngăn che, nên chẳng độ được. Do Di Đà đại nguyện có túc duyên sâu
sa đối với chúng sanh trong đời ác trược, nên bất cứ kẻ nào cũng đều được Ngài
tiếp độ. V́ lẽ ấy, chư Phật, chư Bồ Tát, chư cổ đức đều cực lực khuyến hóa phải
nên phát nguyện sanh về cơi Ngài.
Hỏi: Tổ Linh
Phong bảo nếu không có tín, nguyện, chỉ chấp tŕ danh hiệu, dù có niệm đến Nhất
Tâm Bất Loạn cũng chẳng được văng sanh. Nếu đă chẳng tin có cơi Cực Lạc, lại
chẳng thèm phát nguyện cầu sanh, lẽ đâu cam tâm niệm Phật cho được?
Đáp: Những kẻ
ấy được nghe người khác dạy rằng: Niệm Phật có công đức rất lớn, chẳng những chỉ
kiếp sau được hưởng quả báo phú quư, lại c̣n có thể sanh thiên hưởng phước. Do
họ ham đắm những phước báo hữu lậu như thế nên khẩn thiết niệm Phật, đem vạn đức
hồng danh của Phật quy hướng nơi phước báo nhỏ nhoi cơi trời. Thật đáng tiếc
thay!
Ở Trung Hoa
c̣n có tà thuyết: cứ niệm Phật một tiếng, trong ngân hàng âm phủ sẽ có thêm một
đồng. Thế nên lắm kẻ chăm chỉ mỗi ngày niệm Phật ba vạn tiếng để dành sẵn tiền
cơi âm cho thân sau. Chẳng niệm Phật để cầu xuất thế, lại chỉ niệm Phật để cầu
chết đi biến thành một con quỷ bạc tiền rủng rỉnh, chẳng đáng đau xót lắm ư?
Đến đây phần
Chánh Tông đă xong, phần kế tiếp chính là phần Lưu Thông với mục đích làm cho
người nghe tin nhận, phụng hành, khiến cho pháp môn Niệm Phật được lưu truyền
bất tuyệt.
1. KHUYẾN
TÍN (khuyên nên
tin nhận)
1.1. Bổn Sư
xưng tán công đức (đức Bổn Sư
khen ngợi công đức)
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất!
Như ngă kim giả, tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi
lợi.
(Xá Lợi Phất!
Như ta nay khen ngợi A Di Đà Phật công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn).
Giải:
Tán là xưng
tán, Thán là cảm thán. “Bất khả tư nghị” nghĩa là chẳng tầm thường, chẳng thể
dùng những lời bàn luận thông thường để diễn tả, lư luận được.
Đoạn trên Phật
bảo “ngă kiến thị lợi” (ta thấy điều lợi ấy), ở đây Phật lại bảo: Công đức lợi
ích chẳng thể nghĩ bàn; hàm ư: lợi ích do công đức của Phật A Di Đà đem lại cho
chúng sanh thật chẳng thể suy luận, h́nh dung được nổi.
Đại lược, công
đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà gồm những điều sau:
- Y báo trang
nghiêm (ao báu, cây báu, lầu gác báu v.v...).
- Chánh báo
trang nghiêm (quang, thọ vô lượng).
- Khiến cho
quyến thuộc (những người sanh trong cơi Cực Lạc) đều chứng ba thứ Bất Thoái.
- Khiến cho
những ai được văng sanh đều được nhập Như Lai địa.
- Phương tiện
nhiếp thọ: dùng bốn mươi tám nguyện độ khắp ba căn.
Nếu đứng trên
phương diện những chúng sanh được Phật hóa độ để luận th́:
1) Niệm Phật
thành công liền được vượt ngang ra khỏi tam giới, đới nghiệp văng sanh, chẳng
cần phải đoạn hoặc chướng.
2) Văng sanh
Cực Lạc rồi, chẳng cần phải đợi đến khi chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, cứ sanh
trong cơi Đồng Cư th́ sẽ chứng được cả ba cơi Tịnh Độ
khác.
3) Luôn tŕ
một câu thánh hiệu, chẳng cần phải nhọc công tu phương tiện Thiền, Quán nào khác
mà tự được tâm khai.
4) Lấy bảy
ngày làm hạn, liền được nhất tâm bất loạn, chẳng cần phải nhọc nhằn tu hành
nhiều kiếp.
5) Chỉ cần tŕ
một câu thánh hiệu A Di Đà, liền được sáu phương chư Phật hộ niệm khiến cho
người ấy được an ổn, không gặp phải các chướng nạn.
6) Công đức bố
thí pháp một cách rộng lớn: dùng vô lượng quang thọ hằng diễn Phật
pháp.
Đấy thật là
những điều chẳng thể nghĩ bàn được nổi, toàn là do công đức, hạnh nguyện vô biên
của Phật A Di Đà tạo thành. Như vậy, chữ Lợi ở đây là nói về đại lợi ích vô lậu
thù thắng xuất thế. Cho nên bảo là “chẳng thể nghĩ bàn”.
Đoạn kinh văn
này tổng kết những công đức trang nghiêm của y báo và chánh báo, phô diễn lợi
ích thù thắng chẳng thể nghĩ bàn mà chúng sanh sẽ đạt được, trước khi nêu danh
hiệu chư Phật sáu phương cùng khen ngợi, chứng tín pháp môn này.
1.2. Chư Phật
tán thán, tiêu đề (chư Phật
khen ngợi, nêu tên kinh)
1.2.1. Đông
phương Phật:
Chánh kinh:
Đông phương
diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu
Âm Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường
thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ
đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư
Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Phương Đông
cũng có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu
Âm Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng
lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng
sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư
Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
Pháp môn Tịnh
Độ đây thật là pháp hết sức khó tin. Bởi thế, đức Thế Tôn không ai hỏi bèn tự
giảng. Phật đă tự phát khởi, th́ đương nhiên cũng phải do chính Ngài tự khuyến
hóa, lưu thông. V́ thế, tiếp đó, Ngài dẫn vô lượng danh hiệu chư Phật trong các
phương, dị khẩu đồng âm, tán thán, xưng dương kinh này để chứng minh, ngơ hầu
hết thảy chúng sanh tin tưởng xác thật, đoạn sạch nghi t́nh.
Bản dịch của
Ngài Huyền Trang kể đủ mười phương Phật. Trong bản này, Ngài La Thập tỉnh lược
bớt. Đó là v́ người Đông Độ thời ấy thích nói ngắn gọn, nên Ngài cũng thuận cơ
nghi rút gọn, nhưng ư nghĩa kinh không hề bị giảm mất.
Phương Đông là
phương mặt trời mọc, theo Bát Quái, thuộc về quẻ Chấn, chủ về Động. Trong tứ
thời, phương Đông tương ứng với mùa Xuân. Khí Xuân khiến muôn vật sanh trưởng,
biểu thị ư nghĩa trí huệ có công năng xuất sanh. Do trí huệ thường được dùng để
hướng dẫn sự nghiệp học Phật, nên kinh lấy Đông phương làm chủ.
Danh hiệu của
hết thảy chư Phật thường dựa trên các yếu tố “bi trí, đoạn chứng, nhân quả, hạnh
lư” để xác lập. Mỗi danh hiệu Phật bao gồm muôn vạn nghĩa lư sai biệt, đầy đủ
vạn đức; những lời giải thích dưới đây chỉ là căn cứ trên văn tự mà tạm giải
thích để học nhân nương ư tự quán chiếu, viên ngộ vô lượng ư nghĩa của mỗi đức
hiệu, khác nào toan dùng một giọt nước biển để diễn tả cả đại hải
vậy.
1) A Súc Bệ Phật: c̣n phiên là A Sơ Bệ
Phật, A Sô Bệ Phật, Hán dịch là Bất Động hoặc Vô Động; hàm nghĩa: hạnh chứng
Phật trí, chẳng bị hết thảy cảnh giới (chẳng hạn như lợi, suy, chê bai, ca tụng,
khen ngợi, gièm báng, khổ, vui...) nhiễu động. Chúng sanh trôi lăn trong sanh tử
thường bị động, đức Phật đă chứng vô lậu thánh quả, pháp thân thường trụ bất
biến, chẳng bị nhị biên (có - không, chân - tục, đến - đi) làm lay động, nên có
tên như thế.
2) Tu Di Tướng Phật: Tu Di (Sumeru) là tên
núi, c̣n phiên là Tu Di Lâu, hoặc Mê Lô sơn, tức là núi Diệu Cao. Núi Diệu Cao ở
giữa đại hải, bốn đại châu bao quanh. Núi này do các báu tạo thành nên gọi là
Diệu. Núi cao vượt khỏi mặt nước tám vạn bốn ngàn do tuần (đây là con số ước lệ,
hàm ư núi rất cao) nên gọi là Cao. Ba đức Phật tiếp theo đây đều dùng Tu Di làm
hiệu, hàm ư: đức trí siêu việt, cao siêu, mầu nhiệm như núi Tu Di.
Tu Di Tướng
nghĩa là tướng hảo, quang minh do trăm phước cảm thành, giống như núi Tu Di do
các báu hợp thành mầu nhiệm khôn sánh. Trời, người, Nhị Thừa, Bồ Tát chẳng sánh
nổi đức trí của Phật, khác nào núi Tu Di cao trỗi hơn tất cả. V́ thế Phật hiệu
là Tu Di Tướng.
3) Đại Tu Di Phật: đức hạnh của vị Phật
này c̣n cao siêu, sâu rộng ṿi vọi, vượt xa núi Tu Di, như kinh Duy Ma nói: “Tiếng tăm cao xa, vượt hơn núi Tu Di”.
4) Tu Di Quang Phật: Tu Di do các báu hợp
thành, đương nhiên quang minh chói ḷa. Đức Phật này quang minh chiếu xa chói
lọi, khác nào núi Tu Di tỏa quang minh phủ lấp các ngọn núi khác lẫn ánh sáng
mặt trời, mặt trăng.
5) Diệu Âm Phật: Âm thanh của Phật vi
diệu, thuyết pháp thích ứng căn cơ khiến chúng sanh luôn hoan hỷ, nên lập danh
như thế. Thêm nữa, âm thanh của Phật chẳng thể nghĩ bàn, cùng trong một âm thanh
thuyết pháp, mà tùy theo căn khí, mỗi người nghe sẽ lănh hội pháp ích khác nhau,
tăng trưởng đạo nghiệp. Kinh Duy Ma nói: “Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, chúng
sanh tùy loại ai nấy đều nhận, hiểu”.
“Như thị
đẳng”: Đông phương
vô biên, đương nhiên có vô lượng thế giới. Trong vô lượng thế giới, đương nhiên
có vô lượng chư Phật. Chữ “như thị” chỉ năm Đức Phật vừa được nêu tên, chữ Đẳng
chỉ chung hết thảy chư Phật c̣n lại.
Từ ngữ “Hằng hà sa số” (số cát trong sông
Hằng) biểu thị con số cực nhiều. Mỗi khi muốn nói đến con số rất nhiều, không
cách nào h́nh dung nổi, Phật thường dùng lượng cát trong sông Hằng để làm tỷ
dụ.
Hằng Hà
(Gange, c̣n phiên là Căng Già, dịch nghĩa là Thiên Đường Lai: từ cơi trời chảy
xuống) là một trong bốn con sông lớn nhất toàn xứ Ấn. Phát nguyên từ ao A Nậu
Đạt (Vô Nhiệt Năo) trong rặng Tuyết Sơn (Hymalaya), bề ngang rộng đến bốn mươi
dặm, cát nhỏ mịn như bột, từng hạt phân minh. Những địa điểm Đức Phật thuyết
pháp thường gần bên sông Hằng nên Phật hay dùng h́nh ảnh này để đại chúng dễ
lănh hội.
“Chư
Phật” tức là chư
Phật ở phương Đông. Do phương Đông có hằng hà sa số Đức Phật nên bảo là “chư
Phật”.
“Quảng trường
thiệt tướng” (tướng lưỡi
rộng dài) là một trong ba mươi hai hảo tướng của Phật. Từ bao nhiêu kiếp đến
nay, chư Phật đă xa ĺa bốn lỗi nơi khẩu nghiệp (nói dối, nói thêu dệt, nói đôi
chiều, ác khẩu), khẩu nghiệp hằng thanh tịnh, nên khi thành Phật, đạt được tướng
này. Tả hữu là Quảng, trước sau là Trường. Tướng lưỡi Phật rộng lớn, mềm mại, đỏ
hồng, nên bảo là “quảng trường thiệt tướng”.
Người thường
nếu suốt ba đời chưa hề nói dối th́ lưỡi dài có thể liếm đến chót mũi. Nếu lưỡi
rộng không dài, hoặc dài nhưng hẹp, hoặc nhỏ ngắn, co rụt, cứng khó xoay chuyển,
đều là do đời trước ưa bàn chuyện thị phi, nên cảm phải báo ấy.
Riêng ḿnh Đức
Phật trong vô lượng kiếp, tích tập công đức đă lâu, trọn không vọng ngữ, nên cảm
được quư tướng ấy. Phẩm Ly Thế Gian trong kinh Hoa Nghiêm chép:
“Bồ Tát có
mười loại lưỡi:
1) Lưỡi phân
biệt giải nói vô tận hạnh của hết thảy chúng sanh.
2) Lưỡi khai
thị, diễn nói vô tận pháp môn.
3) Lưỡi tán
thán công đức vô tận của chư Phật.
4) Lưỡi thuyết
pháp vô tận biện tài.
5) Lưỡi diễn
nói vô tận pháp môn Đại Thừa.
6) Lưỡi trùm
khắp mười phương hư không giới.
7) Lưỡi phổ
chiếu hết thảy cảnh giới Phật.
8) Lưỡi b́nh
đẳng tán thán hết thảy chúng sanh.
9) Lưỡi tùy
thuận chư Phật khiến hoan hỷ.
10) Lưỡi hàng
phục hết thảy ma và ngoại đạo, trừ diệt sanh tử, đạt đến Niết
Bàn”.
Bồ Tát thành
tựu mười pháp này nên thành tựu tướng lưỡi vô thượng, che khắp cơi nước (quảng
trường thiệt tướng). Tướng lưỡi rộng dài, ai ai cũng sẵn có, nhưng do tu tŕ
chẳng đủ, khẩu nghiệp chẳng thanh tịnh, nên chẳng thể chứng đắc, thọ dụng nổi!
“Biến phú tam
thiên đại thiên thế giới”: Biến là khắp
cả, Phú là che phủ. Tam thiên đại thiên đă giảng ở phần trước. Khu vực hóa độ
của một Đức Phật tối thiểu bao gồm một tam thiên đại thiên thế giới, mà kinh hay
gọi là “quốc độ” hoặc Phật Sát.
Ở đây, v́ pháp
môn được giảng rất thù thắng, đặc diệu “nhân bé, quả to”, chỉ sợ chúng sanh sanh
ḷng nghi, không chịu tu tập, c̣n trở lại gièm báng, nên chư Phật phải hiện
tướng thần biến kỳ đặc “tướng lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên thế
giới” để chứng tín.
“Thành thực
ngôn” là lời quyết
định chẳng hư vọng, là lời khẩn thiết, chân thực.
Trong từ ngữ
“đương tín thị”, chữ Thị chỉ bản
kinh này.
“Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”: Mười sáu chữ
này là tên của bản kinh này. Tám chữ đầu ước về Phật đức (khen ngợi công đức
chẳng thể nghĩ bàn), tám chữ sau là ước về pháp (Nhất thiết chư Phật sở hộ niệm:
được hết thảy chư Phật hộ niệm). Ngài Huyền Trang dịch là Xưng Tán Tịnh Độ Phật
Nhiếp Thọ Kinh, nghĩa lư tương đồng với nguyên danh; nhưng vẫn có phần rút gọn,
v́ đă đem nghĩa “bất khả tư nghị” gộp vào trong hai chữ Tịnh Độ. Ngài La Thập
dịch là Phật thuyết A Di Đà kinh, ư vẫn chẳng khác, v́ mười sáu chữ tên gốc của
kinh đều nằm trọn trong thánh hiệu A Di Đà. Dịch như vậy rất phù hợp với diệu
chỉ Tŕ Danh được phô diễn trong kinh này, rất phù hợp với bổn ư của Đức Phật.
Bởi thế, hậu thế đa phần lưu thông bản dịch của Ngài La Thập.
“Chư Phật Sở
Hộ Niệm” hàm ư: tông
chỉ của bản kinh này là chuyên tŕ hồng danh chẳng lui sụt mới được văng sanh,
cắt ngang sanh tử. Đây thật đúng là chiếc bè báu để vượt bến mê, là thuyền từ
qua bể khổ, v́ thế chư Phật đều cùng hộ niệm. Hộ là bảo hộ (ǵn giữ, bảo vệ),
Niệm là ức niệm (nghĩ nhớ). Ư nói: Chúng sanh niệm Phật, được chư Phật nghĩ nhớ
đến, cảm Phật lực hộ tŕ nên được an ổn, chẳng bị thoái đọa. Đấy chẳng những là
do sức hộ tŕ của riêng Phật A Di Đà, mà c̣n là sức hộ tŕ của mười phương chư
Phật nữa. Pháp môn mầu nhiệm thế ấy, chẳng những ḿnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
khen ngợi, tán dương, mà mỗi mỗi vị Phật trong mười phương thế giới cũng đều dị
khẩu đồng âm khen ngợi, tán dương.
Ngài Đạo
Nguyên lại hiểu “hộ niệm” nghĩa là chư Phật trong mười phương đều ǵn giữ, yêu
mến, luôn nghĩ đến pháp môn thù thắng, đặc diệu này. Do được chư Phật gia hộ nên
chẳng bị đọa lạc. Do được chư Phật ái niệm nên đạo nghiệp, phước huệ được tăng
tấn.
Đối với đoạn
kinh này, chư cổ đức có nhiều cách hiểu khác nhau:
Ngài Từ Ân
(Khuy Cơ) bảo: “Các vị giáo chủ trong
những thế giới, vốn đă tự tuyên dương pháp môn Niệm Phật khiến cho những chúng
sanh trong cơi ḿnh đều tu tŕ, phụng hành. Đức Thích Ca Thế Tôn lại c̣n lần
lượt diễn nói, dẫn lời xưng tán cơi Tây Phương, khuyên tŕ pháp môn Niệm Phật
của mười phương chư Phật để đại chúng trong hội kính tín, ngưỡng mộ, cầu sanh”.
Ngài Linh Chi
Nguyên Chiếu lại cho rằng: “Ngay trong
lúc đức Thích Ca Thế Tôn giảng dạy, khen ngợi cơi Tây Phương trong vườn Cấp Cô
Độc và khuyên tu tŕ pháp môn Niệm Phật, th́ mười phương chư Phật cũng đồng thời
xưng tán”.
Cả hai cách
giải thích này đều đáng để chúng ta suy gẫm, nhận lấy nghĩa lư.
Xét về
Lư:
- A Súc Bệ
biểu thị trí tánh sẵn có bất động, tự nhiên.
- Tu Di Tướng
biểu thị Phật tướng vi diệu.
- Đại Tu Di
biểu thị Phật đức đệ nhất.
- Tu Di Quang
biểu thị Phật trí phổ biến.
- Diệu Âm biểu
thị tứ biện tài, bát âm đầy đủ.
- “Tướng lưỡi
rộng dài” biểu thị pháp âm viên măn, trọn khắp.
1.2.2. Nam
phương Phật
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm
Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số
chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại
thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng
Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất!
Thế giới phương Nam có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên
Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế
đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại
thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán
Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Nhật Nguyệt
Đăng Phật”: Nhật là mặt
trời, ánh trăng soi sáng đêm trường. Ánh đèn (đăng quang) hỗ trợ ánh sáng mặt
trời, mặt trăng trừ tối. Như vậy, Nhật Nguyệt Đăng hàm nghĩa quang minh khắp
trọn, trừ sạch si ám. Nghĩa là đại trí quang minh của Đức Phật chiếu suốt mười
phương, ba đời, chiếu tan hết thảy những điều phiền hoặc tối tăm: tham, sân,
si... của chúng sanh. V́ thế, dùng Nhật Nguyệt Đăng để lập danh. Hoặc có thể
hiểu là Nhật Nguyệt Đăng chính là thân quang lẫn trí quang cùng chiếu.
Hiểu sâu hơn,
Nhật Nguyệt Đăng chính là dùng ba trí của Phật để lập danh. Nhật chiếu soi ban
ngày, sanh trưởng vạn vật. Dùng Nhật để ví với Đạo Chủng Trí, chiếu rơ Tục Đế
lư, thành tựu chúng sanh. Nguyệt chiếu soi ban đêm, xua tan hắc ám, ví như Nhất
Thiết Trí, chiếu tỏ Chân Đế lư, phá trừ phiền ám. Đăng (đèn) chiếu soi cả ngày
lẫn đêm, lại hỗ trợ công năng của Nhật lẫn Nguyệt. Như vậy, Đăng tương ứng với
Nhất Thiết Chủng Trí, chứng Trung Đạo lư, cùng chiếu cả Chân lẫn Tục, viên dung
vô ngại.
“Danh Văn
Quang Phật”: Chữ Văn hàm
nghĩa tiếng tăm vang dội, ai nấy đều hay biết. Vạn đức hồng danh của Đức Phật
này vang dội khắp pháp giới, từ quang chiếu khắp nơi, gia bị hết thảy chúng
sanh, khiến cho những ai nghe danh hiệu Ngài hay được quang minh của Ngài chiếu
thấu đều đạt đại lợi ích.
“Đại Diệm Kiên
Phật”: Diệm có nghĩa
là quang minh chói rực, chiếu tan hết thảy hắc ám. Kiên là đôi vai, có tác dụng
gánh vác. Đức Phật này quang minh chiếu suốt tột cùng hết thảy chúng sanh, vận
dụng Quyền Trí lẫn Thật Trí để đảm đương sự nghiệp cứu độ chúng sanh.
“Tu Di Đăng
Phật”: Núi Tu Di tối
cao, Đăng (đèn) có tác dụng soi đường, chỉ lối. Đức Phật này dùng trí huệ tối
cao dẫn dắt, chỉ dạy chúng sanh, khiến họ bỏ chỗ tối t́m về chỗ sáng.
“Vô Lượng Tinh
Tấn Phật”: Vô lượng là
con số rất lớn, Tinh là chẳng tạp, Tấn là chẳng lui sụt. Trong vô lượng thời
gian, Đức Phật này tuyên thuyết đạo lư thuần chánh, chưa từng ngưng nghỉ nhằm
làm lợi lạc chúng sanh. Nếu luận về tu nhân th́ Đức Phật này trong vô lượng kiếp
đă rộng tu vô lượng pháp môn, đối với pháp môn nào cũng đều tinh tấn chẳng lười,
nên mau được thành Phật.
Xét về
Lư:
- Nhật Nguyệt
Đăng biểu thị ba trí của Phật có công năng phá được ba thứ hoặc chướng.
- Danh Văn
Quang biểu thị ba đức trí chiếu khắp mười phương.
- Đại Diệm
Kiên biểu thị Quyền Trí và Thật Trí có công năng chiếu tỏ Chân Đế và Tục Đế.
- Tu Di Đăng
biểu thị chứng tứ đức rồi khởi dụng.
- Vô Lượng
Tinh Tấn biểu thị từ Phật trí lưu xuất phương tiện bất tận.
1.2.3. Tây
phương Phật
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng
Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật. Như thị
đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư
kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế
giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất!
Thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng
Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật. Hằng hà sa
số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che
khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên
tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Vô Lượng Thọ
Phật”: Vị Phật này
mang cùng tên với đấng Đạo Sư cơi Cực Lạc. Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu bảo: “Phật Phật đạo đồng nên chư Phật đồng danh
rất nhiều”. Pháp sư Bân Tông cho rằng: Vị Phật này chẳng phải là vị Phật do
tỳ kheo Pháp Tạng tu thành, v́ chẳng lẽ Phật A Di Đà lại tự đứng ra khen ngợi
ḿnh. Nếu tự khen ngợi như thế, há chẳng phải sẽ khiến cho chúng sanh cơi Cực
Lạc lại mong cầu một cơi Cực Lạc nào khác nữa ư?
“Vô Lượng
Tướng Phật”: chữ Tướng chỉ
tướng hảo trang nghiêm của Phật. Tướng hảo trang nghiêm của đức Thế Tôn nhiều
đến vô lượng, vô tận, như đức Lô Xá Na có đến Hoa Tạng hải vi trần tướng hảo.
Nếu chỉ luận về Ứng Thân th́ có ba mươi hai tướng hảo, hoặc chín mươi bảy tướng
đại nhân v.v... Báo Thân có sát trần vô lượng tướng. Pháp Thân có vô lượng chẳng
thể nghĩ bàn tướng. Đức Phật Vô Lượng Tướng tu thành Phật Quả, chứng vô lượng
tướng, lại dùng tướng hảo dẫn dụ chúng sanh nhập đạo.
“Vô Lượng
Tràng Phật”: Tràng là cái
sào hoặc trụ rất cao (h́nh tṛn hoặc h́nh lục giác, bát giác) để treo phan hoặc
cờ, hay là khắc kinh chung quanh. Như vậy, chữ Tràng biểu thị hai ư nghĩa cao
tột và thấy rơ. Tràng gồm ba nghĩa: siêu thắng (cao trỗi hơn mọi vật), tồi tà
(dẹp tan tà vạy) và hiển chánh. Đức Phật này vận dụng Phật trí, kiến lập vô
lượng pháp tràng, dẫn đạo vô lượng chúng sanh, dẹp tan vô lượng tà ma.
“Đại Quang
Phật”: Đại Quang là
quang minh vĩ đại, không đâu chẳng chiếu thấu. Danh hiệu Phật này ước theo Trí
mà lập. Đức Phật này quang minh trí huệ cực đại, chiếu khắp hết thảy chúng sanh.
“Đại Minh
Phật”: Đại Minh có
nghĩa là trọn chẳng có hắc ám ǵ. Đức Phật này phá trừ hắc ám tam hoặc, đă chứng
trọn ba trí, quang minh chiếu khắp mười phương thế giới, không bị chướng ngại,
phá tan hoặc chướng của chúng sanh, nên hiệu là Đại Minh.
“Bảo Tướng
Phật”: Chữ Bảo hàm
nghĩa tôn quư, hy hữu, lợi ích. Tướng hảo thù thắng đặc biệt, đều như trân bảo,
thật đáng tôn quư. V́ thế gọi là Bảo Tướng. Đức Phật này hiển thị tướng hảo siêu
tuyệt cho hết thảy chúng sanh được trông thấy, khiến họ ngưỡng mộ Phật tướng quư
báu mà phát tâm Bồ Đề, tu đạo chứng quả, đoạn sanh tử.
“Tịnh Quang Phật”: ĺa các cấu nhiễm là
Tịnh, hoặc chướng trừ sạch th́ trí huệ quang minh tự nhiên phát sanh. Đức Phật
này chứng ngộ cực quả một cách sâu xa, viên măn; lại dùng trí quang vô lậu chiếu
hết thảy chúng sanh, khiến hết thảy chúng sanh đều được lợi ích, tâm địa đều
quang minh.
Xét về Lư:
- Vô Lượng Thọ
biểu thị quả báo thù thắng trọn khắp ba đời.
- Vô Lượng
Tướng biểu thị Phật tánh tùy cơ thị hiện vô tận.
- Vô Lượng
Tràng biểu thị Phật tánh siêu thắng viên măn.
- Đại Quang,
Đại Minh biểu thị Thể lẫn Dụng của Phật tánh đều vô tận. Bảo Tướng biểu thị công
đức trí viên măn.
- Tịnh Quang
biểu thị nơi Phật tánh, trí lẫn quang cùng thể hiện rạng ngời.
1.2.4. Bắc
phương Phật
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật
Sanh Phật, Vơng Minh Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết
thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị
Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất!
Thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật
Sanh Phật, Vơng Minh Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong
nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói
lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Diệm Kiên
Phật”: xem chú giải
ở phần trên.
“Tối Thắng Âm
Phật”: Âm thanh của
Phật cực kỳ viên măn. Không một âm thanh nào khác có thể chướng ngại được Phật
âm. Phật có tám thứ âm thanh: cực hảo âm, nhu nhuyễn âm, ḥa thích âm (âm thanh
điều ḥa, vừa phải, thích ứng), tôn huệ âm (âm thanh tôn quư, trí huệ), bất nữ
âm (không có giọng nữ, không yếu đuối), bất ngộ âm (chẳng lầm lạc), thâm viễn âm
(âm thanh sâu xa), bất kiệt âm (chẳng cùng kiệt). Đấy chính là do khẩu nghiệp
thanh tịnh nên đạt quả báo thù thắng như vậy. Đức Phật này sở chứng chẳng thể
nghĩ bàn, dùng một âm thanh diễn nói khiến cho thập loại chúng sanh ai nấy đều
được giải ngộ.
“Nan Trở
Phật”: Trở là phá
hoại, ngăn chướng. Về mặt tự lợi, Phật đă chứng lư thể rốt ráo kiên cố, thân như
kim cang, không có ǵ phá hoại được. Về phương diện cứu độ, Ngài làm cho những
chúng sanh được Ngài cứu độ đều nhận rơ chân lư vũ trụ, chẳng bị ngũ dục, ma
chướng phá hoại.
“Nhật Sanh
Phật”: Mặt trời vừa
mọc, chiếu tan đêm trường tăm tối. Quang minh trí huệ của Đức Phật này xuất
hiện, chiếu khắp hết thảy chúng sanh, không mảy may tư vị, khiến cho hết thảy
chúng sanh chướng trừ, trí hiển, như ánh thái dương chiếu khắp đại địa.
“Vơng Minh
Phật”: Vơng (cái
lưới) là do nhiều sợi gai bện thành, Minh là tỏa sáng. Lưới mà tỏa được ánh sáng
th́ lưới ấy phải được kết bằng sợi báu, bảo châu. Đức Phật thuyết pháp, lời lẽ
chẳng hư vọng, mỗi chữ như từng hạt châu, mỗi câu đều là lời báu, quán xuyến tất
cả, khiến cho chúng sanh đều được yên trụ nơi chánh đạo, khác nào mành lưới tóm
thâu tất cả, chẳng sót vật nào.
Xét về Lư:
- Tối Thắng Âm
biểu thị tự tánh sẵn đủ tám âm thâm diệu.
- Nan Trở biểu
thị Pháp Thân kiên cố.
- Nhật Sanh
biểu thị tự tánh vằng vặc.
- Vơng Minh
biểu thị Phật trí quang minh chói rọi, phản chiếu vô lượng.
1.2.5. Hạ
phương Phật
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật,
Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ
quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất!
Thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật,
Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở
trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế
giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Giải:
“Hạ phương thế
giới” tức là những
thế giới nằm ở ngay dưới thế giới chúng ta đang sống. Dưới thế giới này có thủy
luân. Dưới thủy luân có kim luân. Dưới kim luân có hỏa luân. Dưới hỏa luân có
phong luân. Dưới phong luân có không luân. Phía dưới không luân là trời Vô Sắc
Giới, Sắc Giới, Dục Giới, nhân gian của một thế giới khác. Dưới thế giới ấy lại
có thủy luân, kim luân, hỏa luân.... trùng trùng vô tận thế giới như vậy.
“Sư Tử
Phật”: Sư Tử là vua
loài thú, oai mănh vô cùng, các thú đều chịu khuất phục nó. Tiếng nó rống khiến
các loài thú khác đều run sợ. Phật là Pháp Vương, thuyết pháp tự tại, phá tan
hết thảy tham, sân, si của chúng sanh, khiến cho ngoại đạo, tà ma đành chịu
khuất phục, hoảng sợ. V́ thế, kinh dùng Sư Tử làm thí dụ để biểu thị Phật đức
oai mănh, tôn quư tối thắng. Đức Phật này cũng dùng ư ấy để lập tôn hiệu.
“Danh Văn
Phật”: Danh xưng rền
khắp vô lượng thế giới. Đức Phật này dùng vô lượng công đức cứu độ chúng sanh,
chẳng dùng sức nào khác, ai nghe đến tên Ngài đều ngưỡng mộ, đạt lợi ích thù
thắng.
“Danh Quang
Phật”: danh tiếng,
pháp âm của Đức Phật ví như ánh nắng mặt trời b́nh đẳng soi rọi khắp tất cả. Đức
Phật này b́nh đẳng thí pháp cho hết thảy chúng sanh; cũng như trong toàn bộ thế
gian này, không ai là chẳng được hưởng ánh mặt trời soi rọi.
“Đạt Ma
Phật”: Đạt Ma là
Pháp. Đức Phật đă tự dùng Phật pháp để tu thành Phật Quả, chẳng c̣n trụ vào hữu
vi lẫn vô vi, rồi lại đem pháp ấy cứu độ hết thảy chúng sanh, khiến ai nấy đều
được thành Phật.
“Pháp Tràng
Phật”: Như trên đă
nói, Tràng hàm nghĩa cao hiển. Pháp Đức Phật nói ra, dẫu là pháp Tiểu Thừa vẫn
cao siêu hơn mọi pháp thế gian. Đức Phật này dùng Phật pháp cao siêu làm cờ
hiệu, hiển minh cứu cánh, chiết phục tà ma, ngoại đạo, khiến nhân thiên đều
ngưỡng mộ.
“Tŕ Pháp
Phật”: Tŕ là chấp
tŕ. Đức Phật này khéo dùng các pháp quyền - thật, đốn - tiệm, tùy cơ giáo hóa
chúng sanh, đối bệnh cho thuốc, khiến ai nấy đều do nghe pháp bèn được hưởng lợi
ích thù thắng.
1.2.6. Thượng
phương Phật
Chánh
kinh:
Xá Lợi Phất!
Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương
Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ
Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật.
Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt
tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng
chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá Lợi Phất!
Thế giới phương trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương
Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thọ
Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi
rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh
các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở
Hộ Niệm này”)
Giải:
Thượng phương
thế giới là những thế giới ở phía trên hư không của thế giới chúng ta đang sống.
Trên đỉnh núi Tu Di là trời Đao Lợi. Trên đấy là trời Dạ Ma, Đâu Suất... cho đến
trời Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Trên Vô Sắc Giới lần lượt là không luân, phong luân,
hỏa luân, kim luân, thủy luân. Phía trên thủy luân là nhân gian thế giới. Trùng
trùng vô tận thế giới như thế.
“Phạm Âm
Phật”: Phạm nghĩa
là thanh tịnh. Chỉ ḿnh Đức Phật chứng đắc âm thanh thanh tịnh. Đức Phật này từ
bao kiếp lâu xa đến nay, tu tŕ chứng đắc diệu âm thanh tịnh, tuyên thuyết vô
ngại khiến cho tâm thính chúng vui thích nên có hiệu như vậy.
“Tú Vương
Phật”: Tú là tinh
tú (sao), mặt trăng được gọi là vua của các tinh tú bởi v́ ánh sáng của muôn sao
không che lấp được ánh sáng của mặt trăng. Riêng mỗi mặt trăng tỏa sáng vằng vặc
giữa muôn sao, nên cổ nhân gọi “mặt trăng là vua của muôn tinh tú”. Đức Phật này
đă chứng cực quả, làm đấng Pháp Vương, hết thảy chúng sanh chẳng sánh bằng, khác
nào các tinh tú phải chịu kém sáng hơn mặt trăng. C̣n có thể hiểu cách khác:
Phật là Giác Vương, là đấng hết thảy chúng sanh quy y, khác nào tinh tú quây
quần quanh mặt trăng. V́ thế, Đức Phật có tôn hiệu như vậy.
“Hương Thượng
Phật”: Chiên Đàn
Hải Ngạn hương chính là vua trong các loài hương, Sáu thù hương này trị giá bằng
cả tam thiên đại thiên thế giới. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Hương Chiên Đàn vừa đốt lên, tỏa ngát hương
khắp bốn mươi dặm”. Đức Phật này nhiều kiếp tu tŕ, thành tựu năm thứ diệu
hương công đức Pháp Thân (giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương,
diệu giải thoát tri kiến hương), xông khắp pháp giới chúng sanh, khiến hết thảy
ngửi thấy mùi hương đều được lợi ích. V́ thế dùng hương Chiên Đàn tối thượng để
sánh ví với Đức Phật.
“Hương Quang
Phật”: Hương có
công năng trừ mùi nhơ, trừ khí ác. Quang chính là trí huệ hiển hiện, trừ diệt
hết thảy hắc ám của chúng sanh. Vị Phật này đă chứng năm phần Pháp Thân hương,
đă đoạn sạch hai thứ cấu uế: Kiến, Tư Hoặc, dùng trí đức quang minh chiếu phá
hết thảy ngu si, hắc ám, nên có tôn hiệu như thế.
“Đại Diệm Kiên
Phật”: xem lời giải
thích ở phần trước.
“Tạp Sắc Bảo
Hoa Nghiêm Thân Phật”: Tạp Sắc là
nhiều màu, Bảo Hoa là hoa do các thứ trân bảo quư giá nhất hợp thành. Nghiêm
Thân là thân thể được trang sức hết sức đoan chánh. Hoa biểu thị nhân hạnh (hạnh
được thực hiện khi c̣n tu nhân). Tạp Sắc Bảo biểu thị các pháp môn thù thắng
trong khi tu nhân. Vị Phật này từ bao kiếp lâu xa đă tinh ṛng tu lục độ vạn
hạnh, nên khi thành Phật, cảm được thân tướng đoan nghiêm khôn sánh, quư như các
thứ trân bảo hợp thành. Lại dùng đức tướng thù thắng ấy để dẫn dắt chúng sanh,
khiến ai được trông thấy thánh tướng trang nghiêm của Phật đều chẳng quên chí
nguyện, tinh tấn hướng đạo.
“Sa La Thọ
Vương Phật”: Sa La là
tiếng Phạn, dịch nghĩa là Kiên Cố. Loại cây này xanh tươi suốt bốn mùa, chất gỗ
cực cứng rắn, hoa đẹp, thơm ngát. Đao, búa không chặt mẻ được cây, tàng cây cao
to. Thật là một loại cây phi thường, nên gọi là Thọ Vương (cây chúa). Vị Phật
này đă chứng lư thể Pháp Thân kiên cố rốt ráo, chẳng bị bất cứ trần cảnh nào
nhiễu động hoặc phá hoại, thành bậc thánh của chư Thánh, lại dùng Đại Bi phổ tế
hết thảy chúng sanh. Khác nào cây Sa La trong lúc nắng gắt, x̣e tàng rợp bóng
che mát người đi đường.
“Bảo Hoa Đức
Phật”: Hoa cơi thế
gian ắt sẽ có tướng tàn tạ. C̣n Đức Phật đây, trọn đủ vạn đức, trang nghiêm quư
trọng như hoa báu, kiên cố diệu tuyệt, chẳng bị hư hoại, nên lập danh như vậy.
“Kiến Nhất
Thiết Nghĩa Phật”: Các pháp
thế gian, xuất thế gian vô lượng nên cũng có vô lượng nghĩa lư. V́ thế gọi là
Nhất Thiết Nghĩa. Thiên sai vạn biệt nghĩa lư ấy, chỉ ḿnh Đức Phật hiểu thấu
tột cùng, đă chứng được Nhất Thiết Chủng Trí, đầy đủ chánh tri, chánh kiến, lại
liễu đạt Thật Tướng của các pháp, cũng như các lư Quyền - Thật, Thiên - Viên. V́
thế, Phật hiệu là Kiến Nhất Thiết Nghĩa.
“Như Tu Di Sơn
Phật”: Tu Di là vua
trong các núi. Vị Phật này đầy đủ bốn đức, cao quư hơn hết trong mười pháp giới,
khác nào núi Tu Di vượt trỗi trong thế gian. V́ thế, lấy danh hiệu như thế.
Xét về
Lư:
- Phạm Âm biểu
thị bản tánh của âm thanh là vô nhiễm, thanh tịnh.
- Tú Vương
biểu thị pháp thanh tịnh có công năng tiêu trừ sự nóng bức của phiền năo (như
ánh mặt trăng mát mẻ, khiến ai cũng khoan khoái).
- Hương Thượng
biểu thị vạn đức siêu việt các nhân vị.
- Hương Quang
biểu thị Pháp Thân hương chiếu khắp thế giới.
- Tạp Sắc Bảo
Hoa Nghiêm Thân biểu thị quả đức dùng vạn hạnh làm nhân hoa để trang nghiêm.
- Sa La Thọ
Vương biểu thị Pháp Thân kiên cố, bất biến.
- Bảo Hoa Đức
biểu thị bốn đức của Phật thơm ngát, thanh tịnh nhiệm mầu.
- Kiến Nhất
Thiết Nghĩa biểu thị hiểu thấu suốt, tường tận các pháp.