Lắng nghe

tiếng hát sông Hằng

 

Bác sĩ Quách Huệ Trân

Download bài viết dưới dạng Microsoft Word Doc


Lời giới thiệu.

Bác sĩ Quách Huệ Trân là một bác sĩ chuyên khoa ung thư, bà rất nhiệt thành và tận tâm trong công việc.  Ḷng từ bi và thuần thành của bà không những đă đem lại sự khích lệ to lớn cho bịnh nhân mà c̣n cảnh giác những người khỏe mạnh, làm cho nhiều người phát tâm học Phật và niệm Phật.  Sau đây là bài nói chuyện với các bạn học ở Huệ Trí Phật Học Xă của Đại học Trung Nguyên, nội dung rất phong phú cảm động.  Tuy là đang bị bịnh ung thư trầm trọng, bác sĩ Trân vẫn rán chịu đau và dùng ḷng tín nguyện niệm Phật vô cùng kiên cố của ḿnh lên giảng đài thuyết pháp; khi tuyên bố bị bịnh bà nói: ‘Bây giờ vừa đúng lúc để tôi nhất tâm niệm Phật và chuẩn bị văng sanh’  (Sau lần nói chuyện này bác sĩ Trân từ chức và lên núi đi xuất gia).

Trong cuộc sống trầm luân khổ hải này, chúng ta luôn luôn tham luyến tất cả những ǵ ‘của ḿnh’; ai cũng đầu tắt mặt tối, bận rộn suốt cuộc đời, đến phút cuối cùng nh́n lại [chỉ là một con số không to lớn] rồi âu sầu than thở.   Thưa quư vị, quư vị muốn cuộc đời của ḿnh như thế nào?  Làm sao để vượt ra khỏi sự trói buộc của luân hồi sanh tử?  Chúng tôi hy vọng bài này sẽ đem nhiều tư duy và chất liệu có thể giúp quư vị t́m ra phương hướng [về quê hương] của ḿnh!

 


Kính thưa quư thầy cô, kính thưa quư bạn:

Khi lên giảng đài này, tôi cảm thấy rất bối rối và xấu hổ khi nh́n thấy phía dưới phần đông đều là những người trong hàng tiền bối, bậc thầy cô của ḿnh.  Trước  hết xin giải thích tại sao một người mạt học dở ẹt như tôi cũng lên giảng đài nói chuyện với quư vị?  Đây là do ảnh hưởng của một bịnh nhân cho nên tôi thường kể lại câu chuyện của bịnh nhân này và nói lên lư do người này đă giúp cho tôi hiểu được nhiều vấn đề.  Chúng ta thường phải trả một giá rất đắt mới có thể hiểu được một câu nói trong kinh, nhiều khi chỉ một câu kinh thật đơn giản.  Cô này mới có ba mươi mấy tuổi th́ bị ung thư ruột già.  Khi cô đến bịnh viện cứ khóc hoài không thôi.  Lúc đó tôi mới làm bác sĩ tập sự thuộc khoa ung thư, xem bịnh lư mới biết cô đă mổ qua hai lần nhưng ung thư vẫn tái phát trở lại, đúng là vô phương cứu chữa.  Cô khóc hoài nên nói không ra tiếng nữa, thiệt là không biết làm sao, muốn t́m bác sĩ để hỏi rơ bịnh trạng của ḿnh.  Hôm đó tôi hết ca trực liền đến pḥng bịnh để thăm cô và cũng nhân tiện giới thiệu sơ lược một ít Phật pháp cho cô biết.  Không ngờ cô nghe xong, xúc động, mở mắt thật to và nói:

 “Tại sao bấy lâu nay không có ai nói cho tôi biết về những chuyện này?  Tại sao tôi đă sống ba mươi mấy năm đầy phiền năo và đến lúc sắp ĺa đời tôi mới được nghe Phật pháp?”. 

Tuy chỉ có mấy câu nói thật ngắn nhưng h́nh như đă xoi thủng tim tôi.  Sau đó cô bật khóc và làm tôi cũng khóc theo, khóc một cách rất bức rức.  Lúc bấy giờ Tuyết Công lăo ân sư (lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam) c̣n tại thế và giảng kinh vào ngày thứ tư mỗi tuần.  Mỗi ngày khi làm xong việc tôi thường ở lại bịnh viện để nói chuyện và an ủi bịnh nhân, ngoại trừ ngày thứ tư v́ phải đi nghe Tuyết Công giảng kinh.  Cô thấy mỗi thứ tư tôi đều rất vui chuẩn bị đi nghe giảng nên nói: “Tôi cũng hy vọng có thể đi theo (nghe giảng) nhưng rất tiếc không có cơ hội”.  Tôi đáp: “Trong tương lai cô cũng sẽ có dịp đi được”.  Cuối cùng cô cũng đă được đi nghe kinh, lúc đến giảng đường Hoa Nghiêm ở thư viện Từ Quang tôi thấy cô ngồi ở vài hàng ghế phía trước.  Nhưng đến nửa buổi giảng cô vừa ôm bụng vừa khóc và đi về, bịnh t́nh của cô biến chứng nặng nên cô đau quá không thể tiếp tục nghe kinh.  Lúc đó tôi chợt hiểu được một câu trong bài khai kinh kệ:

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp. 

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ. 

Ngă kim kiến văn đắc thọ tŕ. 

Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa’. 

V́ ảnh hưởng của cô nên từ hôm đó trở đi tôi không ngại sự hiểu biết c̣n thô thiển của ḿnh, luôn luôn cố gắng, tích cực hơn, và muốn mau mau giới thiệu cho mọi người những điều trọng yếu trong Phật pháp [mà ḿnh hiểu được], nói cho đại chúng biết những sự hạnh phúc mà Phật pháp có thể đem lại cho mọi người.  Hạnh phúc này tiền tài mua không được, kẻ ăn trộm cũng không thể lấy mất.  Trong bất cứ trường hợp và cảnh giới nào và không kể người ta dùng quan niệm ‘phước’ hay ‘họa’ trong thế gian để đo lường những cảm nhận hạnh phúc này, trong nội tâm của chúng ta đều luôn luôn đầy đủ sự an tịnh, hạnh phúc, và tươi sáng.

Tôi hỏi các vị đạo hữu ở Phật học xă nghiên cứu đề mục hay kinh điển ǵ trong khóa học này, bác Hứa trả lời là đang thảo luận ‘Kinh Bát Đại Nhân Giác’.  Chắc ai cũng đă xem qua kinh này và có thể đă học thuộc ḷng rồi.  Điều giác ngộ thứ nhất là:

Thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, năm ấm vô ngă, sanh diệt đổi dời, hư ngụy không chủ’. 

Tuy là biết thuộc ḷng nhưng phần đông chúng ta không tin như vậy.  Tuy Phật nói thế gian là khổ, là vô thường, nhưng bạn lại cảm thấy nhân gian rất vui sướng!  Mỗi sáng thức dậy ăn bánh uống cà phê, …, ngước mắt nh́n lên, ôi chao trời trong mây trắng, đời sao mà sung sướng thế!  Nếu được vậy th́ cũng thường thôi, nhưng những lúc như vậy trôi qua rất nhanh.  Giả sử một lúc nào đó, chuyện khó khăn thử thách th́nh ĺnh xảy ra, khi đó bạn sẽ không thấy trời trong mây trắng, không thấy trăm hoa đua nở, trong ḷng của bạn sẽ không c̣n cảm thấy vui sướng nữa.  Ở đây tôi xin kể một vài câu chuyện thật mà tôi đă gặp khi làm việc ở bịnh viện.  Trong những câu chuyện này, mỗi bịnh nhân đều là giáo sư của tôi, mỗi người đều kể cho tôi một đạo lư mà đức Phật đă nói trong kinh điển, họ ấn chứng (chứng minh) những điều Phật dạy, họ làm cho tôi hết ḷng tin tưởng lời Phật nói và tin đức Phật là ‘người nói lời chân thật, không bao giờ nói dối’.

Có nhiều bịnh nhân hỏi tôi: “Bác sĩ năm nay bao nhiêu tuổi?”. 

Tôi trả lời: “Ba mươi hai tuổi”. 

Lại hỏi: “Bác sĩ lập gia đ́nh chưa?  Tôi làm mai cho”. 

Tôi liền hỏi họ: “Cuộc sống của bà rất sung sướng phải không?” 

Thật kỳ lạ không có một người nào đáp là ‘phải’ hết!  Cho đến một hôm tôi gặp một bịnh nhân bị ung thư cổ tử cung, mỗi lần đến khám bịnh đều trang điểm thiệt là đẹp, thoa môi son thiệt đỏ, móng tay chân đều có sơn màu rất đẹp.  Khám bịnh xong bà muốn làm mai cho tôi.  Bà nói:

“Cháu tôi làm việc ở bịnh viện Quốc Thái, người rất lịch sự đàng hoàng”.

Tôi hỏi bà: “Bà thiệt là rất sung sướng phải không?” 

Bà nói: “Phải, chồng tôi đối xử rất tốt; con cái rất có hiếu, nhà cửa rất sung túc”. 

Như vậy thật là sung sướng, xin chúc mừng cho bà.  Bà là người duy nhất nói ḿnh có hạnh phúc, thiệt là mừng giùm bà.  Tại v́ khi bịnh nhân bước chân vào bịnh viện th́ thường khóc và than:

“Bác sĩ không biết đâu, tôi phải mượn tiền của người ta để lại đây khám bịnh, con cái không vui chút nào”;

Hoặc là: “Ôi chao lúc về nhà không ai đếm xỉa tới; mang bịnh lâu quá rồi người ta không chịu chăm sóc nữa”. 

Cũng không ai thăm hỏi: “Thưa ba ăn cơm chưa?”. 

Hoặc là: “Từ lúc tôi mắc bịnh này, chồng tôi bỏ đi luôn”. 

Phần lớn là thuộc vào loại này, t́nh tiết không giống nhau nhưng nội dung hoàn toàn tương tợ; chỉ có bà này thiệt là may mắn có được hạnh phúc.  Nhưng qua một thời gian ngắn sau đó, y tá coi báo ngạc nhiên nói bà đó đă tự tử.  Cô y tá nói: “Trong báo đăng tin bà được vớt lên từ bờ sông ở ….Bà bỏ nhà ra đi hết năm ngày, sau đó th́ tự tử”. 

Tôi hỏi:  “Bà đó rất sung sướng, rất hạnh phúc, sao lại tự tử?”. 

Thưa quư vị, chúng ta thử nghĩ xem tại sao lúc đó niềm thương yêu của chồng không thay đổi được tâm niệm muốn tự tử của bà?  Tại sao sự hiếu thảo của con cái cũng không kéo bà lại được?  Tại sao tiền bạc không mua được sự an ổn của tinh thần?  Chồng thương yêu cho mấy và con cái hiếu thảo đến đâu cũng không thay thế được sự đau đớn trên thân thể của bà.  Một người đàn bà xinh đẹp như thế tại sao lại phải trốn khỏi nhà đi lang thang rồi cuối cùng phải nhảy vào ḍng nước đen tối?  Có lẽ v́ trước đó bà cảm thấy cuộc đời quá xinh đẹp, chưa nếm qua mùi vị của sự khổ, bà chưa biết qua: ‘thế gian vô thường, quốc độ mong manh’, cho nên trong tâm không có chuẩn bị tâm lư, gặp chuyện thử thách trong đời chịu không nổi, không có ‘chích ngừa’ để pḥng bị, không có khả năng đề kháng, chịu đựng khổ không được nên mới tự tử.  Tôi rất hối hận trước đó không giới thiệu Phật pháp để cho bà thay đổi quan niệm và hướng về quang minh, hướng về Di Đà. 

Những sự khổ này có lẽ mọi người sẽ nghĩ: ‘Đó chỉ là thiểu số, người tự tử rất ít’.  Thiệt ra người tự tử rất nhiều, tôi làm việc trong khoa ung thư, nếu có ngày nào không gặp bịnh nhân muốn tự tử th́ ngày đó phải được kể là ngày rất tốt, rất hiếm!  Thiệt đó, mỗi ngày tôi thường nghe câu: ‘Tôi nên chết sớm th́ tốt hơn’.  Khi người ta cầu mong khỏe mạnh và sự quan tâm chăm sóc mà không được toại nguyện th́ thường thường sẽ tự sát.  Ban đêm trong bịnh viện tôi thường phải đi giải quyết những chuyện tự tử này.  Không phải là họ cố ư không muốn sống nhưng bị bịnh đau khổ quá nên không biết cách nào để chịu đựng nữa.

Ngoài ra c̣n có người cầu sanh không được cầu chết cũng không xong, nằm trên giường bệnh rên siết.  Có một người bịnh nguyên phần phía dưới bụng bị ung thư lở loét ra hết, bác sĩ phải mổ và làm một cái hậu môn tạm trên bụng, nhưng không cách nào trị lành được.  Chất bài tiết trong ruột rỉ thẳng ra.  Pḥng của người này ở lầu ba, từ lầu hai đă nghe mùi hôi bay đến.  Không phải người này có ǵ đặc biệt nhưng bất cứ ai trong chúng ta khi gặp phải trường hợp này đều như vậy.  Khi con bà săn sóc cho mẹ bất đắc dĩ phải dùng một miếng vải để bịt miệng và mũi lại.  Mỗi ngày bà đều muốn tự tử nhưng chưa gặp cơ hội.  Một hôm nhân dịp con bà đi ra chợ mua đồ ăn sáng, bà rán hết sức ḿnh ngồi dậy, leo qua cửa sổ từ lầu ba của bịnh viện nhảy xuống.  Vừa đúng lúc đó người con về đến, nh́n thấy mau mau chạy tới để đỡ bà.  Kết cục bà nhảy xuống không chết mà c̣n bị thương.  Vốn là đă quá đau khổ bây giờ c̣n bị thương thêm, mỗi ngày đau đớn không thể nào diễn tả được, cầu sanh không được, cầu tử cũng không xong; mạng chưa hết tự tử cũng không chết.  Cho dù tự tử chết đi rồi, vĩnh viễn trầm luân trong lục đạo luân hồi, sự khổ năo vô tận lại tái diễn trở lại!

Nhà thơ Rabindranath Tagore có nói:

Sanh thời lệ tợ hạ hoa, tử thời mỹ như thu nguyệt’

(Lúc sống đẹp như hoa mùa hạ, lúc chết đẹp như trăng mùa thu). 

Bạn muốn sống đẹp như hoa mùa hạ có lẽ cũng không khó lắm; nhưng muốn chết đẹp như trăng mùa thu th́ phải ra sức chuẩn bị công phu mới được!  Lắm lúc có nhiều người phê b́nh những người học theo Phật và nói: “Ôi chao, sao quư vị ưa nói chuyện ‘chết’, ưa nói chuyện ‘lâm chung’ quá, h́nh như đă xem thường cả cuộc đời.  Trong cuộc sống có rất nhiều chuyện phải làm, đặc biệt là những người tu theo Tịnh độ như quư vị, ngày ngày cứ niệm ‘A Di Đà Phật’, chuẩn bị để văng sanh Tây phương, thật là quá tiêu cực”.  Thật ra cuộc sống chúng ta giống như quá tŕnh vẽ một con rồng, mỗi nét vẽ mỗi màu sắc đều rất quan trọng.  Lúc lâm chung cũng như nét vẽ cuối cùng vào mắt rồng.  Lúc sanh lúc tử đều rất quan trọng, không có nét vẽ nào có thể cẩu thả được.  Niệm Phật là tâm niệm tối thiện nhất, tích cực làm cho lúc sống và lúc chết đều là chí thiện chí mỹ (tốt đẹp nhất). 

Nói chuyện từ năy đến giờ nhưng chưa nói vào đề tài chính hôm nay: ‘Lắng nghe bài ca bên sông Hằng’.  Mấy năm trước tôi có dịp đi qua Ấn độ và ngồi thuyền đi dọc theo bờ sông Hằng.  Lúc đó trong ḷng tôi rất an tịnh; âm thanh trên sông cứ cuồn cuộn nổi dậy làm tôi có cảm giác như là đang đi trong ḍng nước ‘sanh tử’….  Khi lắng tai nghe những âm thanh này tôi nghe thấy trong đó có âm thanh của trẻ con, của người lớn, có tiếng khóc, có tiếng cười vui. …Tất cả những âm thanh này trộn lẫn vào nhau biến thành một câu vạn đức hồng danh: ‘A Di Đà Phật’.  Bạn hăy nh́n h́nh ảnh của sông Hằng, của từng làn sóng nhấp nhô, h́nh bóng của chính bạn, của người thân, bạn bè, mặt trời lặn, con chim và làn mây đang bay lơ lửng ở cuối chân trời, tất cả những h́nh bóng này ḥa hợp lẫn nhau làm thành con sông ‘sanh mạng’.  Chúng ta hăy cùng nhau xem những h́nh ảnh và lắng nghe bài ca bên sông Hằng này, từ bài ca ‘luân hồi sanh tử của sông Hằng’ cho đến bài ca ‘đức Phật giác ngộ’.  Đối với chúng ta sông Hằng là một con sông rất quen thuộc v́ trong kinh đức Phật thường dùng danh từ  ‘cát sông Hằng’ để h́nh dung ư nghĩa ‘vô lượng vô biên’.  Trong con ‘sông Hằng’ sanh mạng này chúng ta đều là những người bơi lội qua sông….

Con thuyền cứ tiếp tục tiến tới và đi ngang một chỗ dùng để hỏa táng ở bờ sông.  Phong tục mai táng người chết của Ấn độ rất đơn giản, họ không cần quan tài chỉ dùng vải bao bọc thi thể lại rồi đem thiêu ở bờ sông, cho đến bà Gandhi cũng không ngoại lệ (bà được dùng lá quốc kỳ để bao).  Người giàu th́ có đủ củi lửa nên có thể thiêu thành tro rồi đem bỏ xuống sông.  Người nghèo th́ thiêu qua loa một chút rồi đem thi thể bỏ xuống sông.  Lúc tôi ngồi thuyền đi ngang một chỗ thiêu người chết này, dưới đống tro tàn c̣n thấy được một cái chân đen kịt thiêu chưa thành tro.  Chúng ta thử hỏi cái chân thiêu nửa chừng này là của ai?  Không lâu trước đó nó cũng có làn da rất mềm mại và được ôm ấp trong ḷng mẹ.  Có lúc nào đó cái chân này đang rảo bước trên bải cỏ xanh mướt, cũng có thể là có rất nhiều thanh niên muốn thân cận nó.  Rồi theo thời gian trôi qua nó bắt đầu chai cứng và khô khốc khi người chủ của nó già đi.  Rốt cục rồi nó biến thành một cái chân thiêu nửa chừng, đen kịt, nằm dưới đống tro tàn.  Sau một thời gian nữa th́ nó sẽ biến thành một đống cát trong sông Hằng.  Thêm một lần nữa chúng ta hăy nh́n kỹ h́nh ảnh và lắng nghe bài ca bên sông Hằng.  Những h́nh ảnh này của người Ấn độ mà cũng có thể là của chúng ta nữa!

Có một ông thường ngày rất thích ăn trầu, hút thuốc, uống rượu rồi sau này bị ung thư trong miệng.  Khi đến bịnh viện khám th́ chỗ bị ung thư đă lan rộng ra, lở loét đến quai hàm và g̣ má lủng lỗ.  Chỗ lở cứ chảy nước vàng ra hoài, khi ông ăn uống th́ thức ăn đều lọt ra ngoài.  Cho dù ông uống rượu ngon trước đó ông thích nhất cũng rất đau, khi ăn trầu vào cũng đau như ‘nuốt viên sắt nóng’.  Thân thể cường tráng của ông dần dần tiều tụy v́ ăn uống không được; chúng tôi phải đút một ống dẫn đồ ăn từ mũi vô đến bao tử.  Vợ ông rất hối hận và nói lúc trước hai vợ chồng họ cứ căi lộn hoài.  Bà kể lại: “Được rồi, ông chửi tôi ông sẽ bị ung thư miệng, tôi trù cho ông bị ung thư miệng.  Ai ngờ rằng ổng bị ung thư miệng thật, người khổ nhất lại là tôi; ngoài việc phải chăm sóc vết thương cho ổng, đi khắp nơi kiếm bác sĩ trị cho ổng, c̣n phải lo kiếm tiền để trang trải…thiệt là khổ không cách nào diễn tả được”.  Nếu bà biết trước được cảnh khổ bây giờ th́ sẽ trân trọng những lúc c̣n khỏe mạnh và c̣n nói: “Lúc ổng chửi tôi, tôi thà đi lạy Phật một trăm lạy chúc phúc cho ổng, mời ổng ăn đồ ngon, tôi cũng không dùng lời ác độc để trù ổng”. 

Hai người cùng nhau niệm Phật trong ánh sáng từ bi trí tuệ của đức Phật th́ không tốt hơn là căi lộn hay sao?  Rất tiếc là chúng ta thường chọn lấy những phương thức đối xử để gây đau khổ lẫn nhau; lúc chưa bịnh th́ mặc sức hành hạ thân thể này, đến lúc mang bịnh rồi th́ lại than trời than đất.  Hy vọng là chúng ta trong những nhân duyên tương ngộ rất ngắn ngủi này, hăy dùng tâm từ bi chân thành đối đăi với nhau; sự giận tức oán hờn chỉ giúp tạo ra con đường đầy chông gai đau khổ ở phía trước.  Ông rất thích đi câu cá; lúc tay mang trầu, rượu, và cần câu đi ra bờ sông th́ ông cảm thấy rất thích thú.  Nhưng đến khi bị ung thư loét hết miệng th́ mới giựt ḿnh sực tỉnh, mới biết được cảm giác của con cá khi bị lưỡi câu đâm thủng miệng.  V́ miệng lở loét nên ông nói chuyện rất khó khăn, lúc tôi săn sóc vết thương cho ông, ông rán chịu đau và nói ra những lời hối hận này, cảm nhận được khi trước v́ một chút khoái lạc nhất thời mà gây đau khổ cho những con cá; sự đau khổ đó bây giờ quay ngược lại đến với ông, cũng là đau khổ khi miệng bị lủng lỗ; khi miệng nuốt đồ ăn giống như cuống họng đang bị thiêu đốt, đang bị đâm bằng dao, đau quá cũng muốn giằng co giăy giụa như con cá cắn câu rán hết sức ḿnh để thoát khỏi lưỡi câu.  Ông dạy cho tôi một bài học nhớ hoài không quên, đúng là ‘nhân quả tơ hào chẳng sai!’.  Có bài thơ như sau:

Mạc đạo quần sanh tánh mạng vi        

Nhất ban cốt nhục nhất ban b́            

Khuyên quân mạc đả chi đầu điểu      

Tử tại sào trung vọng mẫu quy.          

(Mạng vật yếu ớt đừng khinh

Thịt, da, xương xẩu như ḿnh khác chi!

Chớ bắn chim trên cành kia

Chim non trong tổ đang mong mẹ về)

Có một bác bị ung thư miệng và cũng phải mổ để cắt bỏ tế bào ung thư ở g̣ má.  Cuộc giải phẫu này rất phức tạp, phải chia ra mấy lần mới xong, phải cắt da ngực để đắp lại vết mổ ở g̣ má, và đ̣i hỏi rất nhiều sức chịu đựng.  Ban đêm khi tôi đi tuần pḥng bịnh nhân, tôi thấy đôi mắt của bác mở thao láo nh́n lên trần nhà, đêm đă khuya rồi mà bác ngủ không được; ngoài trời đêm tối lạnh, nước mắt của bác cũng rất lạnh lẽo thê lương; chúng ta phải làm sao để an ủi những bịnh nhân này?  Bác đang đợi để mổ lần thứ nh́ nhưng không sống được đến lần mổ cuối cùng.  Có lẽ chúng ta thường chờ đợi để làm một công việc ǵ đó nhưng chưa chắc có thể sống đến lúc đó, cho nên chuyện tốt mau mau làm, niệm Phật phải niệm ngay bây giờ !

Lúc chăm sóc những người bị ung thư miệng, tôi thường nghĩ đôi lúc ḿnh bị mụt nước lở trong miệng th́ rất đau, nhất là khi ăn những thức ăn chua cay vào th́ rất rát, huống chi vết thương lở loét cả hàm của những người này, khi uống nước lạnh cũng phải đau đến run.  Khi chúng ta mở miệng nói lời không tao nhă chỉ dùng năm sáu giây để nói một câu mà câu nói đó làm cho người nghe đau ḷng cả đời, và khi quả báo hiện ra th́ cũng đau đớn như những người bị ung thư hàm này!  Trầu và rượu có thể đem lại cho người ta một chút khoái lạc nhất thời nhưng cũng đem đến những sự đau khổ không thể nào giảm nhẹ khi mang bịnh vào thân.  Chúng ta phải nên cẩn thận, một giây phút vui sướng ngắn ngủi đi qua rất nhanh, thời gian chịu đau trên giường bịnh một ngày dài như một trăm năm!

Pḥng khám bịnh số 1 và số 2 của bịnh viện nối liền nhau bằng một cánh cửa tự động.  Một hôm tôi thấy có một bà khoảng năm mươi mấy tuổi nằm ở pḥng 1.  Bà bị ung thư vú và cần một loại thuốc nhưng bảo hiểm lao động chưa chịu trả cho thuốc này nên ngoài việc đau bịnh bà phải lo kiếm tiền trang trải chi phí thuốc men; bà thường khóc thầm v́ chịu đựng không nổi áp lực quá lớn.  Lúc đó bên pḥng 2 có một cô mới ba mươi mấy tuổi và cũng bị ung thư vú, nghe được chuyện của bà bên pḥng 1 nên lấy hết tiền trong túi rồi nói với tôi: “Nhờ bác sĩ trao cho bà ở pḥng kế bên”.  Cô vừa khóc vừa nói: “Chúng tôi đều chịu chung cái khổ này”.  Tôi rất cảm động và khen ngợi tinh thần Bồ Tát vị tha của cô, tôi hiểu rơ hoàn cảnh của cô c̣n thiếu thốn hơn bà kia rất nhiều.  Con của cô c̣n nhỏ nên phải gởi người ta nuôi giùm, tiền lương của chồng cô rất thấp, lại không có bảo hiểm, tiền dành dụm đă xài hết để trả tiền bịnh viện và mổ xẻ.  Khi cô được giới thiệu đến bịnh viện để trị liệu phóng xạ, cô tính bỏ mặc vận mạng đẩy đưa và không trị bịnh nữa v́ không có tiền; nhưng khi cô nh́n thấy ḍng chữ trên tường: ‘Cho dù ngày mai là ngày tận thế, tối nay tôi cũng phải trồng đầy hoa sen trong vườn’ nên mới nghĩ lại, đi về nhà má mượn tiền, tiếp tục trị bịnh và duy tŕ mạng sống. 

Cô nói: “Sanh mạng thiệt là vô thường và có nhiều thử thách đầy đau khổ, tuy tôi không có khả năng lớn lao ǵ nhưng tôi có một chút tâm nguyện là hy vọng làm hết sức ḿnh, giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ cho họ sớm ĺa khổ được vui”.  Tôi rất cảm động; hai người này đều bị bịnh ung thư nhưng một người th́ âu sầu khổ năo; c̣n một người th́ vượt thoát sự bi ai của ḿnh, giúp đỡ, an ủi, và lau nước mắt cho người khác, phát huy tiềm năng của ḿnh; khi c̣n sống th́ mỗi ngày trồng một hoa sen, dần dần có nguyên hồ sen thơm phức.  Thử nghĩ trị bịnh nan y đ̣i hỏi bao nhiêu sức chịu đựng và bao nhiêu sự giày ṿ; nếu đem sự giày ṿ này đổi lấy mạng sống âu sầu khổ năo có phải là rất đáng tiếc không?  Tại sao không ‘trồng hoa sen thanh khiết’ trong tâm khảm của ḿnh, cho dù chỉ nở một nụ cười th́ cũng là bố thí, có thể làm cho ḿnh và người khác đều được vui!  Có câu là: ‘Chỉ cần một niệm từ bi phát khởi, tật bịnh cùng khốn đều không ngại !’

Có một bé trai mới sáu tuổi đă bị ung thư tuyến lâm ba (lymphatic cancer), mới có bây lớn đă phải trải qua rất nhiều đau khổ.  Mỗi khi lượng bạch huyết cầu của em lên cao th́ bác sĩ phải chích một loại thuốc có tác dụng phụ là ói mửa.  Việc làm cho em vui nhất là khi lượng bạch huyết cầu giảm xuống quá thấp, thấp đến độ không thể làm trị liệu hóa học được, bác sĩ sợ độ bạch huyết cầu quá thấp th́ dễ bị nhiễm trùng có thể nguy hiểm đến tánh mạng; đối với em mỗi lần như vậy th́ em vui sướng như ở tù được thả ra, tạm thời có thể ‘miễn bị hành h́nh’!  Em nói với tôi: “Mỗi ngày ngoại trừ xem TV th́ cũng là xem TV”.  Nhà em cũng khá giả nên em được ở một pḥng bịnh riêng.  Em nói: “Cô em gần lập gia đ́nh rồi; cô mời em làm ‘em bé cầm bông’ trong hôn lễ của cô.  Phải chi em có thể trưởng thành th́ tốt biết mấy, nhưng không biết có thể lớn nổi không?”  Đây là lời nói của một em bé mới sáu tuổi, thiệt là làm cho người nghe được không khỏi ngậm ngùi.  Có lúc em ngồi ở pḥng đợi để chờ chích thuốc, trước đó em rất vui khi mang đồ chơi đến đó, nhưng đến cửa pḥng th́ nhớ lại ‘đau khổ gần đến, gần bắt đầu rồi’ cho nên cụt hứng ngay.  Đôi khi em cắn chặt răng đưa tay tự ḿnh t́m ra một mạch máu rồi nói: “Lấy chỗ này đi”.  Đôi lúc em cũng buồn hiu không chịu đi vô, em không khóc ra tiếng, chỉ khóc khe khẽ, lệ ướt đẫm mi.  Lần đầu tiên đến để rút máu từ vành tai em đă khóc hết hai giờ đồng hồ.  Cho đến nay đă chịu khổ quá nhiều lần rồi, em thừa hiểu khóc hoặc là nhơng nhẽo th́ cũng không giúp ích được ǵ nên em rất dũng cảm để chịu đựng.  Thiệt là một em bé quá đáng thương.  Trong đời sống chúng ta không muốn già nua th́ phải đoản mạng (chết yểu), nếu không muốn chết yểu th́ phải già nua!

Có một người mới ba mươi mấy tuổi đă bị ung thư mũi vào thời kỳ chót.  Thường thường nếu ba mươi mấy tuổi đă chết th́ có lẽ bạn nói rất đoản mạng.  Nhưng cô này chỉ mới ba mươi mấy tuổi đă làm cho người nhà của cô cảm thấy không thể chịu đựng nổi nữa.  Chồng cô phải vừa lo cho con vừa lo cho cô nên phải xin nghỉ hoài, và cũng v́ vậy nên đă mất chỗ làm.  Cả nhà lâm vào hoàn cảnh thiếu thốn và phải đến hội Từ Tế xin giúp đỡ.  Hội Từ Tế đồng ư cho cô một số tiền to lớn để trợ giúp cô trả tiền nhà thương.  Má cô đợi lâu quá nên than: “Tại sao lâu quá c̣n chưa đem tiền lại.  Lâu quá!”.  Tôi nói: “Không phải người ta thiếu tiền bà đâu.  Tiền này là do hội viên dành dụm, ăn xài tiện tặn, từ bi đem đi giúp người.  Họ không nhẫn tâm thấy bà chịu khổ chứ không phải người nào cũng giàu có ǵ đâu”.  Bà thở dài ra!  Không phải lo tiền bạc nữa!  Nhưng không khí trong gia đ́nh c̣n quá ngột ngạt.  Bịnh nhân cũng không an tâm tiếp tục sống, má cô lo cho cô đă quá mệt mỏi nên nói: “Mày sao không mau chết cho rồi, làm hại tụi tao phải chịu khổ theo!”.   Chồng cô khổ quá thường lại hỏi tôi: “Cổ c̣n ‘kéo dài’ được bao lâu nữa?”.  Tôi nói: “Xin đừng dùng chữ ‘kéo dài’ được không?  Sống được một ngày trong cuộc đời này thiệt là rất quư, tương ngộ một ngày thiệt là hiếm có”.  Nếu chỉ chú trọng vào sự khổ và để ư đến chỗ tối tăm trong đời sống của ḿnh, cho dù không có bịnh th́ cũng là ‘kéo dài’ mạng sống.  Nếu tích cực nghĩ về những chuyện tốt, cho dù đời sống rất khó khăn th́ cũng đáng sống.  Nếu trân trọng đời sống, ba mươi tuổi so với mười lăm tuổi cũng là trường thọ gấp đôi, so với người sáu tuổi th́ cũng trường thọ hơn gấp năm lần.

Tâm địa có thể cải tạo vận mạng.  Tôi có người bạn mới ba mươi mấy tuổi th́ bị ung thư xương, trước sau tổng cộng đă phải giải phẫu hai mươi lần.  Sau một lần động mạch ra máu không ngừng nên phải cưa đứt một chân.  Đời sống của cô c̣n khó khăn hơn người kể ở trên nhưng nhờ biết áp dụng Phật pháp, lấy tâm biết ơn đối đăi với nhau, cả nhà sinh sống c̣n vui hơn lúc chưa bị bịnh. 

Cô nói với tôi: “Tôi rất may mắn, tôi mất đi một chân mà có thể nghe được Phật pháp.  Nếu không nghe được th́ không biết phải tạo ra bao nhiêu nghiệp tội, phải chịu bao nhiêu khổ đau”.  

Chồng cô ở bên ngoài pḥng mổ đợi qua hai mươi lần giải phẫu, quư vị biết được tâm trạng của ông chồng này không?  Ông nâng đỡ chăm sóc cô như một vị Bồ Tát, không hề than thở chút nào.  Sau khi biết Phật pháp, cô chống nạng cùng chồng nấu đồ ăn đem cho những người cùng bị bịnh và khuyên họ niệm Phật.  Tôi hẹn với cô: “Cô học thuộc ḷng kinh A Di Đà rồi chúng ta cùng nhau đi lên núi vừa đi vừa lạy để hồi hướng cho những người bị bịnh ung thư”.  Do đó cả nhà cùng với cô học kinh, con cô mới học đến tiểu học nói với cô: “Má học thuộc ḷng kinh A Di Đà một chữ không sai th́ con cho má năm trăm đồng tiền thưởng”;  Cô ở nhà vừa làm đồ thủ công vừa học kinh hoặc niệm Phật, đến tối th́ trả bài cho mọi người nghe. 

Đến ngày cô học thuộc hết quyển kinh, cô nói: “Cả nhà tôi từ  trước đến giờ chưa khi nào vui mừng giống như hôm đó”.  Kể cả tiền thưởng của con và tiền công kiếm được trong thời gian học kinh cô có được bốn ngàn đồng, cô đem toàn bộ đi cúng dường Tam Bảo.  V́ muốn đi lên núi mỗi đêm khi cả nhà đă ngủ yên giấc, cô phải tập luyện lạy Phật.  Nếu bạn thấy cô dùng một chân để lạy Phật bạn sẽ cảm động đến rơi lệ.  Chồng cô t́m cách quyên tiền để làm cho cô một cái chân giả.  Cô nói: “Nếu ông có thể quyên được mười vạn đồng th́ xin đưa tiền này cho tôi để tôi bố thí; tại v́ một cái chân cũng đủ dùng rồi”.  Cô chỉ hai cây nạng rồi nói: “Tôi không phải là thiếu một chân mà ngược lại tôi dư một chân”.  Khi cô nói câu này là lúc tế bào ung thư đă lan đến phổi nên phải mổ và trị liệu hóa học thêm một lần nữa.  Nét mặt cô hồng hồng và thường có nụ cười thật tươi, nhiều khi c̣n tươi hơn những người không bịnh nữa.  Cô nói: “Nhà tôi tuy là không giàu có ǵ nhưng bây giờ c̣n vui hơn lúc trước khi chưa cưa chân nữa”.  Người niệm Phật ngay đời này đă có thể sống trong Tịnh độ, trong không khí vui vẻ ḥa thuận của cuộc sống hàng ngày. 

Như phần đông người bịnh ung thư khác, cô cũng không tránh khỏi t́nh trạng kinh tế thiếu thốn; có người mời cô mở tiệm làm tṛ chơi điện tử cho trẻ em có thể kiếm rất nhiều tiền.  Cô nói: “Tôi muốn thử chồng nên cố ư đem việc này hỏi ư kiến của chồng”.  Cô rất vui khi ông nói: “Chúng ta là người niệm Phật, sợ con ḿnh bị tṛ chơi điện tử mê hoặc th́ làm sao có thể làm hại con cái của người khác!”.  Tôi rất khâm phục hai vợ chồng này, tuy  trong hoàn cảnh khó khăn mà họ vẫn có những hành động rất cao thượng.  Có nhiều gia đ́nh cũng v́ kinh tế khó khăn nên phải sa vào hoàn cảnh đen tối, ngược lại gia đ́nh của cô nhờ bị bịnh mà có thể hướng về đức Phật, đem những chướng ngại khó khăn của ḿnh biến thành những đóa hoa sen thơm ngát, rất xứng đáng làm gương cho người khác.

Có một người bị ung thư hàm miệng phải giải phẫu để cắt bỏ tế bào ung thư và phải cắt bỏ luôn xương hàm dưới.  Bác sĩ phải cắt da trên ngực để đắp chỗ mổ và bất đắc dĩ ông trở thành người không có môi.  Ông không thể ăn cơm, chỉ có thể uống súp hoặc thức ăn lỏng.  Ông không thể ngồi ăn như người thường, phải nằm xuống để ăn, nếu không th́ thức ăn sẽ đổ ra.  V́ không có môi cho nên đối với ông không có chuyện ‘ngậm miệng lại’.  Bạn hăy nh́n những người này làm thế nào rán hết sức ḿnh để chịu đựng và chống chỏi với bệnh tật; có nhiều lúc tôi tự hỏi tại sao ḿnh lại được may mắn hơn họ?  Trong lúc chịu khổ đau như vậy ai nỗ lực th́ cũng có thể vượt qua; tuy họ có hoàn cảnh và tâm trạng không giống nhau và có cái nh́n đời sống khác biệt nhau, nhưng tất cả đều tin sâu những ǵ Phật nói.  Lúc tôi giải thích những điều Phật dạy cho người trẻ tuổi, nhiều khi phải nói đến khô cuống họng luôn mà họ cũng không tin; nhưng đối với những người đang chịu đau khổ trong bịnh viện, không cần nói ǵ hết, chỉ hỏi: “Khó chịu, đau khổ không?”. 

Họ đáp: “Rất khó chịu, rất đau khổ”. 

Tôi nói: “Phật nói thế gian là biển khổ, hăy niệm A Di Đà Phật, đem tâm niệm hướng về phía quang minh, ĺa khổ được vui”. 

Họ không nói thêm câu nào nữa lập tức bắt đầu niệm A Di Đà Phật.  Hèn chi mới có câu: ‘Thập phương ba đời chư Phật đều lấy tám thứ khổ làm thầy’.  Khổ là vị thầy tốt nhất, nhưng chúng ta phải đợi cho đến lúc này sao?

Lại thêm một người bị ung thư hàm miệng, ông đă bị mù, tế bào ung thư đă phát triển đến cổ.  Nước vàng không ngừng từ g̣ má chảy xuống.  Con dâu của ông nói: “Ở nhà tôi xịt không biết bao nhiêu dầu thơm cũng không làm những mùi hôi này bay mất”.  Tôi nghe rồi mới nói riêng với cô: “Tôi thấy cô thường dẫn ba chồng của cô đi khám bịnh, cô rất có hiếu thảo; chăm sóc cho người bịnh ung thư rất khổ, nhưng Phật có nói: ‘Trong tám phước điền, chăm sóc cho người bịnh là phước điền hạng nhất’.  Nếu cô tận tâm chăm sóc cho ông, làm cho ông già được hoan hỷ, tự nhiên phước báo sẽ vô lượng.  Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ già đi, sẽ sanh bịnh, chúng ta đối xử với người già như thế nào, con cái của ta cũng sẽ bắt chước theo để đối xử với chúng ta.  Chúng ta phải để ư, cho dù một hành động lời nói rất nhỏ nào cũng vậy, cũng phải thương xót và tội nghiệp cho người bịnh.  Người bịnh không muốn có những mùi hôi như vậy.  Ngày nay một trong ba bốn người sẽ có một người bị ung thư, nếu người đó là ḿnh th́ cũng không thể nào không có mùi hôi; họ bất đắc dĩ phải như vậy mà, nếu cô có thể bao dung một chút th́ cô sẽ có thêm phước báo.”

V́ ông bị mù nên thường hỏi bác sĩ bệnh trạng rất kỹ: “Bịnh của tôi thật sự ra sao?  Bác sĩ nói thiệt cho tôi biết đi, không hề ǵ đâu.  Điều tôi lo nhất bây giờ là con tôi c̣n một đứa chưa lấy vợ!”.  Ôi chao, người ta đúng là có vô biên phiền năo, một ḿnh bịnh nặng mà không lo, lại lo cho ‘đứa con chưa cưới vợ’!

Khi một người không có năng lực lo cho ḿnh th́ thiệt ra không có khả năng và biện pháp ǵ để lo cho người khác.  Nếu không vượt qua biển khổ của ḿnh th́ không thể nào độ người khác và giúp họ vượt qua biển khổ được.

Có một bịnh nhân ở trước ngực có xâm h́nh rồng và cọp, chắc trước kia là người trong băng đảng ǵ đó.  Từ ngày bị ung thư hóc miệng trở đi ông bắt đầu chân thành sám hối.  Ông nói: “Tôi thiệt đáng đời”, không một lời trách móc, chân thành ăn năn, giúp đỡ bịnh nhân khác, tận lực tu thiện.  Trải qua rất nhiều hoàn cảnh khổ nạn cuối cùng ông cũng đă vượt qua…

Tôi thường nghe bịnh nhân than thở: “Cả đời tôi đâu có làm ác, đâu có làm hại ai đâu, đúng là ông trời không có mắt; tại sao để cho tôi bị bịnh khổ như vầy?”.   Lời này làm tôi suy nghĩ có thiệt như vậy không?  Có thiệt là chưa làm việc ác không?  Nếu đúng như vậy th́ chúng ta đều là thánh nhân hết.  Xem lời Phật dạy, chúng ta từ nhỏ đến lớn khi gặp chuyện không vừa ư th́ nổi giận, mở miệng th́ chửi mắng.  V́ dục vọng khi ăn uống không đoái hoài ǵ đến gà con mất mẹ, không màng ǵ đến heo con một nhà sanh ly tử biệt.  Không nói lời thành thật, làm việc không tích cực, thường căi lời cha mẹ, vân vân.  Tất cả không có thứ nào không bị tham, sân, si chi phối.  Người có trồng cải rồi đều biết hột cải tuy nhỏ nhưng lúc mọc ra cây cải th́ không nhỏ.  Lúc quả báo chưa hiện ra chúng ta c̣n dám nói xấu người khác, hoặc là trong lúc giận dữ nói lời xúc phạm đến người khác, dám mời khách ăn hải sản sống.  Khi quả báo hiện ra mới biết khổ không chịu đựng nổi, đến lúc bị khổ nạn mới cầu nguyện để tiêu nghiệp chướng. 

Lăo ḥa thượng Quảng Khâm có nói:

Phải từ thân, khẩu, ư mà tiêu trừ căn bản của nghiệp chướng”. 

Nói một cách khác khi tham ăn, nghĩ đến con cá chép, con cá trê này cũng là một chúng sanh mà mười phương chư Phật thương xót; nói như vậy th́ đó cũng là huynh đệ của ḿnh, chư Phật đang thương xót, má nó đang trông đợi nó;  khi gặp chuyện muốn nổi giận nhưng v́ hiểu đó đều là mộng huyễn cho nên không sanh tâm sân hận nữa.  Nhịn không được muốn chửi người, nghĩ đến họ cũng là chúng sanh mà đức Phật A Di Đà ngày đêm trông mong để cứu độ và tiếp dẫn; họ cũng bị nghiệp lực trói buộc và có sự khổ năo, cho nên mới chuyển tâm niệm để nghĩ đến Phật và niệm Phật. 

Nếu có thể sửa đổi ḿnh một cách tích cực, không bị ngôn ngữ, hành động, ư niệm của thói quen làm chướng ngại, nghiệp chướng sẽ bị tiêu trừ, sự khổ của bịnh tật cũng nhờ tâm niệm từ bi nhu nhuyễn hóa giải và giảm dần đi.

Tôi gặp một giáo sư trung học, ông là một bịnh nhân rất phi thường.  Mỗi lần đi ngang giường bịnh tôi đều dùng tâm niệm t́m ṭi học hỏi để quan sát họ.  Khi ông vào bịnh viện th́ ung thư đă lan đến tuỷ xương sống, đè đến dây thần kinh cho nên hai chân không thể cử động được nữa.  Trải qua một thời gian dùng phóng xạ trị liệu th́ miễn cưỡng có thể chống nạng đi được;  nhà cầu ở ngay kế bên giường đối với ông là một khoảng cách rất xa.  Ông thường phải phấn đấu rất khó khăn mới có thể ngồi dậy và đi vào nhà cầu; mặc dù thân thể của ông rất yếu nhưng hai mắt ông rất có tinh thần.  Ông nói chuyện rất khó khăn v́ thần kinh trong năo cũng bị ung thư.  Lúc ngủ hai mắt nhắm không được, rồi sau đó xương chân bị găy luôn.  Trong lúc bị bịnh nặng như vậy mà ông nói: “Rất tiếc là bây giờ tôi không thể dạy học được nữa!” (ông đă là một giáo sư rất nhiệt tâm dạy học tṛ).  Ông nói: “Từng trải qua cơn bịnh quá đau khổ này làm cho tôi hiểu thêm về cuộc đời, hiểu rơ được sự khổ đau của mọi người, tôi sẽ càng thương yêu chăm sóc học sinh của tôi; rất tiếc là tôi không c̣n cơ hội nữa!”.  Tôi nói: “Ông là một giáo sư rất đáng kính trọng, chỉ xem nguyện vọng của ông khi bị bịnh như vậy th́ biết được”.  Ông từ trên giường phấn đấu để ngồi dậy nhưng chỉ có thể ngước đầu lên ba tấc.  Chúng ta lúc ngồi dậy th́ lập tức ngồi dậy.  Ông phấn đấu đến cả người đổ mồ hôi ướt đẫm áo cũng chỉ ‘gần’ ngồi dậy được; nhưng ông rất vui và nói: “Tôi hôm nay có thể nhích được khoảng cách như thế này”.  Đối với tôi, khi ông ngồi dậy được khoảng 30 đến 40 độ c̣n đáng nể phục hơn lực sĩ nhảy xa ở Thế Vận Hội. 

Ngoài sự phấn đấu về thể lực ra ông c̣n có tâm nguyện muốn tiếp tục dạy học và tiếp tục chăm sóc cho học sinh.  Người thường chúng ta mỗi ngày khoẻ mạnh đầy đủ tinh thần nhưng thường tính toán chuyện nhỏ nhặt để đem phiền năo đến cho ḿnh; chúng ta thường than trách công việc trong chỗ làm, có sức lực khả năng mà không làm chuyện tốt. Ông là một bịnh nhân nằm chịu đau trên giường nhưng lại có nguyện vọng đi dạy học trở lại để chăm sóc dạy dỗ thêm cho học sinh.  Tuy là ông không thể làm vậy được, nhưng tâm nguyện rộng lớn chân thành của ông đă đem ông lên giảng đài vĩnh viễn và trở nên giáo sư của hàng vạn người.

Có một người bị ung thư lưỡi đang trong thời kỳ cuối cùng.  Tế bào ung thư đă từ lưỡi lan rộng đến cả hàm dưới.  Lúc đầu c̣n khoẻ th́ có thể tự ḿnh đi đứng được, sau đó phải có hai người vịn ở hai bên mới đi được, rồi phải ngồi xe lăn, rồi cuối cùng th́ không cử động được nữa.  Nước vàng từ những chỗ bị ung thư rỉ ra hoài; mỗi khi tôi đến thay thuốc ông thường hỏi: “Tại sao càng ngày càng lớn vậy?”.  Ông nói chuyện không rơ ràng; khi tôi rửa vết thương thay thuốc cho ông, ánh mắt của ông nh́n tôi h́nh như là đang hỏi: “Không biết bịnh của tôi có thể lành được không?  Tôi gần chết rồi phải không?”  Cái tâm trạng sợ hăi đó chính là tấm ảnh của ‘sanh tử trên sông Hằng’.

Khi chúng sanh đối đầu với sanh tử, ai cũng cảm thấy rất cô độc, sợ hăi, khủng bố.  Cho dù là một bà mẹ tám mươi mấy tuổi cũng co ro vào ḷng tôi khóc nức nở như một đứa bé …  Một hôm tôi đi nghe giảng kinh và đi ngang qua đường T. H.   Trời lúc đó rất lạnh, quán bán thịt nai bên đường vừa mới khai trương.  Tôi lái xe mô tô đi ngang nh́n thấy có ba con nai đang đứng khép nép trong lồng.  Ánh mắt của con nai đó rất quen thuộc, rất giống ánh mắt của những bịnh nhân đang nằm trong bịnh viện, h́nh như họ đang nói: “Tôi sắp chết phải không?  Mau mau cứu tôi với; không kể dùng thuốc ǵ, dùng phương pháp ǵ …”  Tội nghiệp ba con nai.  Hăy thả chúng ra!  Thả cho chúng về rừng đi!  Một khi hô hấp của chúng ngừng lại th́ không có cách ǵ có thể làm cho nó chạy nữa, mau mau kiếm người chủ van xin đừng giết chúng nó! 

Khi quay trở lại tôi ghé ngang và mua mấy con nai đi phóng sanh.  Khi người chủ nghe chúng tôi muốn đem nai đi phóng sanh, cảm động mà nói: “Tôi là người nuôi nai, rất thương yêu chúng, không bao giờ giết hại chúng.  Nhưng v́ kinh tế khó khăn, bất đắc dĩ hôm nay phải bán chúng làm thịt, tôi cũng rất đau ḷng!”.  Nghe xong tôi rất xúc động, chúng sanh tạo nghiệp thọ báo đều có những sự khổ năo bất đắc dĩ như vậy.  Thật ra mỗi người đều có Phật tánh; đây cũng là lư do mà đức Phật A Di Đà luôn luôn khoan dung, thương xót, chờ đợi đến lúc chúng ta có một niệm quay đầu trở về với quang minh.  Chúng tôi mua nai xong đem chúng đi quy y Tam Bảo rồi thả vào rừng, hy vọng là chúng sẽ không bị bắt trở lại, và cũng nguyện cho những người đi săn có thể phát Bồ đề tâm, gặp nhân duyên thiện có thể đổi nghề nghiệp, chấm dứt nghiệp sát để khỏi chịu khổ báo nữa.

          Bịnh nhân thường để một con cá trê hay cá chép trong nồi hay thau nước ở dưới giường hoặc trên bàn để ăn cho bổ.   Khi tôi đến thăm bịnh th́ thấy h́nh như những con cá này đang vùng vẫy.  Có một hôm tôi đến giường bịnh của một cô bị bịnh ung thư vú.  Cô là một tín đồ Cơ Đốc giáo rất trẻ, mới hai mươi bảy tuổi đă bị bịnh này; bạn có thể tưởng tượng được khổ tâm của cô không?  Hai tay cô lúc nào cũng lạnh.  Ở dưới giường cô có để một con cá; tôi nói với cô:

“Có người đang kêu cứu ở dưới giường cô”.  Cô mở mắt thật lớn và tỏ vẻ rất ngạc nhiên.  Tôi hỏi cô:

“Lúc biết được mắc phải bịnh này th́ cô rất hy vọng sẽ có người cứu cô hết bịnh phải không?”.  Cô gật đầu, tôi nói tiếp:

“Con cá dưới giường biết là nó sắp sửa vô chảo nóng, cảm tưởng của nó cũng giống cảm tưởng của cô bây giờ.  Cô chịu làm Chúa Giê Su đi cứu con cá này không?  Con cá đang cầu cứu cô đó.  Cô hăy xem”.  

Mắt của cô đỏ lên (muốn khóc).  Tôi mới nói thêm:

“Cô phát tâm cứu chúng nó, lúc cô bị chuyện khó khăn hay tai nạn, tự nhiên sẽ có người lại cứu cô”.  Cô vui mừng chịu đem cá đi phóng sanh.  Sau đó một vị đạo hữu ở trường đại học Chuyên Khoa Đài Trung giúp cô đem cá đi phóng sanh…

Nhiều khi tôi nói với bịnh nhân: “Bán cho tôi nồi cá sống này được không?”.

Bịnh nhân thường nói:  “Nếu bác sĩ thích ăn th́ tôi tặng cho bác sĩ”. 

Tôi trả lời: “Tôi ăn chay, không ăn cá, tôi muốn mua những con cá này đi phóng sanh, đem công đức phóng sanh này hồi hướng cho bạn, hy vọng là bạn cũng giống như con cá này cũng được giải thoát, khôi phục lại sức khoẻ, sớm lành bịnh về nhà đoàn viên với gia đ́nh.” 

Thông thường những bịnh nhân đă chịu quá nhiều đau khổ hoặc có kinh nghiệm đi gần đến cánh cửa sanh tử đều hiểu rơ ‘t́nh cảnh của ḿnh cũng giống như của con cá’.  Họ thường phát tâm từ bi đem cá đi phóng sanh.  Tâm niệm đem cá phóng sanh thường có thể làm cho họ có cảm giác vui vẻ, cổ vơ sự yêu đời của họ, và làm tươi nhuận đời sống họ nhiều hơn là ăn cá.

          Có một người trẻ tuổi khi đi trên phố nửa đêm bị kẻ bất lương đâm vào bụng bị thương nằm ngă quỵ ở bên đường.  Sau đó được người ta chở vào nhà thương, vết thương quá lớn nên ḷi ruột ra, gan và mật cũng bị thương.  Chúng tôi nửa đêm phải giúp anh giải phẫu và khi đó anh không có người nhà đi theo nên chúng tôi phải chụp h́nh vết thương trước khi giải phẫu để ngừa trường hợp giải phẫu có trục trặc ǵ phải có bằng chứng bị thương trước… (Trong xă hội hiện nay chúng ta cứu người cũng không phải là chuyện dễ dàng!).  Anh này mới đính hôn không bao lâu, bạn có thể tưởng tượng được sự bối rối, lo lắng của người vợ sắp cưới khi nghe tin anh bị thương không?  Những thứ trong bụng chúng ta thật không phải là vật ǵ tốt đẹp, đức Phật nói với chúng ta về ‘quán bất tịnh’, chúng ta có thể quán tưởng thử xem.  Nếu lúc đính hôn mà lấy một tấm h́nh vết thương bụng máu me tùm lum đem cho người ta xem, chắc rất ít người sẽ chịu đính hôn với bạn!

Có một bịnh nhân nọ vào bịnh viện để trị bịnh xương, phía trên chân có gắn một cây bằng kim loại xuyên qua xương và qua luôn cả bắp thịt phía bên kia.  Phía dưới chân cũng xỏ thêm một cây như vậy.  Bạn có thể tưởng tượng khuôn mặt và tiếng hét kêu đau của người này lúc đút cây vào xương.  Nếu người đó là bạn th́ bạn có thể mỉm cười được không?  Chúng ta thử đoán xem?  Bạn thấy những chỗ bán chim nướng ở chợ đêm không?  Có cả năm mười con chim xỏ chung vô một xâu treo lủng lẳng trước quày hàng.  Sự đau khổ ǵ gây ra cho những chúng sanh khác một ngày nào đó cũng có thể xảy ra đến thân thể chúng ta.  Khi chuyện đó xảy ra th́ chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn, một chút xíu cũng không dễ chịu.  Nhưng chúng ta thường đem sự đau khổ này gây ra cho chúng sanh khác một cách vô t́nh và xem như không có ǵ xảy ra.  Hăy nghĩ đến sự khổ của chúng sanh, và cũng nên nghĩ đến hạnh phúc lâu dài, xin tất cả mọi người đừng làm vậy nữa, để khỏi ‘hư tiếu sát tha mạng, bi khốc nhập địa ngục’ (cười vui khi giết mạng sống của con vật, rồi khóc than lúc vào địa ngục).

Có một người bị ung thư tử cung mỗi lần gặp tôi đều khóc.  Bà đă ly dị và một ḿnh nuôi mấy đứa con rất cực khổ; đứa nhỏ mới học tiểu học th́ bà bị bịnh này.  Mỗi ngày âu sầu phiền muộn qua ngày…  Thật ra trước đó bà đă trị bịnh gần hết rồi; nếu bà có được chút ít trí tuệ trong đời sống… th́ cũng có thể sinh sống vui vẻ.  Người ta có thể trị hết bịnh ung thư, nhưng sự đau khổ trong tâm nếu không dùng trí huệ và nghe Phật pháp th́ trừ không hết.  Bà đă được trị liệu bằng phóng xạ, bằng giải phẫu, chỉ thiếu một chuyện là không thỉnh đức Phật mổ cho tâm bà.  Sự giải phẫu có hiệu quả nhất là phải giải phẫu trong tâm, bứng tận gốc rễ của phiền năo, để bà đừng ôm cứng cây cổ thụ phiền năo mỗi ngày mà cứ tưởng là cây phiền năo quấn chặt lấy bà.

Có một bà lăo lúc vào bịnh viện băng kín vải trên mắt.  Lúc tôi mở băng ra trong tâm cảm thấy đau nhói!  Bà lăo này có gương mặt rất hiền hậu, tṛng mắt bà đă bị móc ra v́ bị ung thư nên phải làm như vậy.  Chúng ta có khi nào nghĩ đến lúc dùng đũa để gắp tṛng mắt của con cá trên bàn ăn?  Chúng ta thử nghĩ đến Helen Keller, một vĩ nhân bị điếc, câm, và mù đă viết như vầy: ‘Nếu mắt tôi có thể sáng lại được chỉ ba ngày thôi, chỉ ba ngày thôi…’.  Chúng ta có thể trong một trường hợp nào đó sẽ bị mất đi đôi mắt, vậy mà lúc c̣n đôi mắt th́ lại nh́n đông, nh́n tây và tự ḿnh sanh ra phiền muộn?  Tại sao chúng ta không nh́n ánh mắt từ bi của đức Phật?  Tại sao không nh́n về phía có vô lượng hào quang?  Chúng ta thường dùng cặp mắt quư báu để nh́n rác rến ở chung quanh; đem rác rến của người khác bỏ vào tâm khảm của ḿnh.  Để lâu rồi th́ cả nội tâm giống như một cái thùng rác hôi thúi nên phải xa cách với chúng Bồ Tát trong thanh tịnh đại hải.  Xin hăy mở rộng con mắt của nội tâm, nhân lúc c̣n nh́n thấy được, hăy nh́n cái tốt đẹp của người khác, học tập ưu điểm của người khác; hăy cảm nhận thêm một chút, hăy nh́n thêm ‘cám mục trừng thanh tứ đại hải’ (bốn biển lớn trong ngần mắt biếc) của đức Phật A Di Đà, hăy nh́n phong cảnh cực kỳ xinh đẹp của thế giới Cực Lạc, và tấm ḷng rộng lớn như biển của chư Bồ Tát.

Có một người bị ung thư ở thực quản, hô hấp bị khó khăn, phải đút một ống từ mũi vào phổi để giúp sự hô hấp và một ống để đút đồ ăn vào bao tử; có khi bà phải rán sức để ho, mỗi lần ho th́ đau như xé ruột gan, toàn thân run rẩy v́ đau đớn.  Chồng bà nh́n thấy cảnh tượng đau ḷng như vậy chịu không nổi nên chạy ra hành lang mà khóc.  Đôi lúc tôi đi chợ nh́n thấy những con gà bị treo trên quày thịt cũng tội nghiệp như vậy.  Trên cổ của con gà nào cũng có khoét một lỗ để treo, rất ít người thương hại sự đau đớn của chúng nó;  nhưng đến khi người đút ống thở vào mũi là vợ, là con, hoặc là mẹ của bạn th́ bạn cũng sẽ đau nhót ruột mỗi khi họ ho và thở mạnh.

Có một người làm nghề bán thịt heo, ông bị ung thư phổi được một thời gian th́ qua đời.  Tôi nghe vợ và con ông kể lại khi ông về nhà mấy ngày hôn mê không tỉnh nhưng miệng cứ la hét và nói:

“Mau mau đem những gan heo treo trên tường đi chỗ khác”.  Hoặc là:

“Mau đem đầu heo đi chỗ khác”. 

Ông cứ kêu la như vậy suốt mấy ngày đêm, mọi người trong nhà sợ đến lông tóc dựng đứng nhưng không hiểu ông nói cái ǵ.  Cảnh tượng lúc ông chết rất là dễ sợ, ông chịu rất nhiều đau khổ.  Từ đó người nhà của ông mới biết nhân quả báo ứng của sự sát sanh; khi ông nằm bịnh viện tôi đă khuyên người nhà ông niệm Phật, nhưng họ nói trong lúc buồn khổ như thế th́ làm sao niệm được?  Tuy đức Phật A Di Đà có ḷng đại từ bi tiếp dẫn người niệm được mười danh hiệu Phật lúc lâm chung văng sanh về cơi Cực Lạc, nhưng lúc c̣n khỏe mạnh người ta rất khó niệm được v́ bị mê hoặc bởi t́nh ái của thế gian, huống chi là lúc gần chết bị sự bịnh khổ giày ṿ, hành hạ th́ làm sao có thể niệm được!  Nguyện cho sự thị hiện thuyết pháp của người bịnh này làm cho người khác nghe thấy được và rút tỉa kinh nghiệm để tránh khỏi sự đau khổ tương tợ.  Và cũng nguyện công đức cảnh giác chúng sanh của ông có thể giúp ông ĺa cảnh khổ và được Phật tiếp dẫn.  Và cũng nguyện cho những chúng sanh bị ông giết hại nương vào nước cam lồ của Phật pháp, cởi mở gút mắt trong ḷng, đồng niệm Di Đà, đồng sanh tây phương, đồng thành Phật đạo.

Người khỏe mạnh thường than ngủ không đủ.  Trong bịnh viện có quá nhiều nước mắt, sự đau khổ kéo dài lây lất!  Người chưa tới số, nằm nướng trên giường và nói đồng hồ reo báo thức quá ồn.  Người tới số, suốt đêm chiến đấu và dằng co với sanh tử.  Có một người bị ung thư ở hàm dưới và lan đến cuống họng.  Ông không thể nuốt được, hô hấp cũng khó khăn, cho nên bác sĩ mới khoét một lỗ ở bụng để đút ống dẫn thức ăn vào dạ dày, và khoét một lỗ ở cổ để giúp sự hô hấp.  Chúng ta có thể ăn uống không cần khoét lỗ để đút đồ ăn và hô hấp không cần khoét lỗ đút ống th́ thiệt rất quư, rất đáng biết ơn! 

Vài ngày trước khi ông mất, có thể nói là mỗi ngày đều chảy máu một chút, cách hai ba ngày lại chảy máu nhiều; máu từ miệng và mũi chảy ra, từ chỗ đút ống thở chảy ra.  Những người y tá và bác sĩ trực rất muốn cứu ông nhưng chỉ có thể đứng một bên cầm cái thau để hứng máu từ thân ông chảy ra, rồi phải truyền máu cho ông tại v́ máu trong ḿnh ông chảy ra từ những chỗ không thể cầm được.  Có một lúc máu của ông chảy ra dính vào cả người tôi.  Đôi mắt của ông đỏ ngầu và sưng lớn lên trông rất dễ sợ.  Cả đêm chúng tôi ở bên cạnh chăm sóc và hứng máu cho ông.  Sáng ngày hôm sau c̣n phải tiếp tục khám bịnh nên tôi mới nhờ một người bạn đem áo lại cho tôi thay.  Áo tôi có thể thay c̣n áo của ông th́ không thể thay được!  Bạn biết không, mỗi lần ông cử động mạnh một chút là máu chảy ra nhiều thêm nữa.  Chúng tôi phải không ngừng tiếp máu vào cho ông nhưng cũng không nhanh bằng máu từ người ông tuôn ra; thuốc men ǵ cũng hết công hiệu; thân thể ông cứ chảy máu như vậy và hành hạ ông cả ngày, cả đêm.  Người ta muốn nhắm mắt một cách êm đềm thiệt không phải là một việc đơn giản!

Từ hôm đó tôi hiểu thêm một chút về vấn đề sanh tử, cái h́nh bóng phản chiếu trên sông Hằng rất có thể cũng là h́nh bóng của chính ḿnh!

Có một em trai 16 tuổi là một học sinh hạng nhất trong lớp; em bị bịnh ung thư năo.  Em đă phải mổ năo bốn lần mà ba lần mổ được tiến hành trong cùng một năm. Em vào bịnh viện lần này để trị liệu phóng xạ, xương năo của em bị cắt đi một khoảng cho nên cái đầu bị lơm vô một bên.  May mà tánh mạng c̣n duy tŕ và có cơ hội nghe được Phật pháp.  Một hôm tôi nhận được một bức thiệp cám ơn của ba em gởi.  Trong đó ông nói là em nhờ ông viết và hy vọng nếu thuận tiện th́ xin gởi cho em một tượng Phật để em lễ lạy.  Ông rất khách sáo sợ làm phiền tôi, và làm như là bất đắc dĩ lắm mới xin tượng Phật.  Tôi cảm động đến chảy nước mắt nên lập tức đi thỉnh một tượng Phật A Di Đà cho em.  Ông ở Phong Nguyên, tôi quá bận nên phải nhờ một cô y tá đem cho ông.  Cô y tá này kể lại khi cô vừa đến th́ em từ trên giường ngồi bật dậy, v́ nửa thân người gần như cử động không được nên đi cà nhắc nhưng rất hăng hái và có tinh thần để đi lạy Phật.  Nh́n cảnh tượng như vậy nên cô cảm động và nói: “Tứ chi tôi c̣n khỏe mạnh nhưng từ trước đến nay không bao giờ có ư muốn lạy Phật, nh́n thấy em chí thành như vậy, phấn đấu hết sức lực yếu ớt của ḿnh để lạy Phật, tôi rất xấu hổ”. 

Khi người ta c̣n khoẻ mạnh đi đứng cử động được, th́ cứ nghĩ đó là tự nhiên, ít khi nào quư trọng.  Thời gian thân thể khỏe mạnh không thể kéo dài hoài được, những đoạn trước có kể người ta có thể mất đi miệng, mất cuống họng, thậm chí đến mất bộ năo.  Ngày nay chúng ta c̣n có miệng chúng ta nên học những lời nói ôn ḥa tốt đẹp, cùng nhau khuyên nhủ giúp đỡ, cùng nhau niệm câu vạn đức hồng danh ‘A Di Đà Phật’.  Chúng ta không biết khi nào có thể mất đi bộ năo, ngày hôm nay nên dùng nó để nghĩ đến hào quang và ḷng từ bi của đức Phật. 

A Di Đà Phật.  A Di Đà Phật.

Khi tôi làm bác sĩ nội trú vào năm thứ nhất, có một đêm trực ở pḥng cấp cứu.  Nửa đêm có một người bị nghẽn động mạch cơ tim, đă ngừng hô hấp và hôn mê không tỉnh.  Mặt và lưỡi đă biến thành màu tím ngắt.  Máy đo tim và kết quả thử máu cho biết là tim đă bị hư hoại trầm trọng; theo kinh nghiệm của bác sĩ chủ nhiệm th́ bịnh trạng nhẹ hơn người này cũng không cứu được nữa huống chi là t́nh trạng nặng như người này nên nói cho người nhà phải ‘chuẩn bị tinh thần’.  Tôi cứ theo lệ thường vừa niệm Phật vừa lo cấp cứu bịnh nhân.  Dùng hết nhiều thứ thuốc rồi nhưng huyết áp của ông không thế nào đo được, ông vẫn c̣n hôn mê và không thể tự ḿnh hô hấp.   Vợ của ông đau ḷng nói với tôi:

“Người ta nói ông trời thương và giúp đỡ người hiền lương, nhưng tại sao ông trời không thương tôi?”.  “Xin bác sĩ t́m mọi cách để cứu ông, cho dù ông biến thành ‘người thực vật’ th́ tôi cũng chịu chăm sóc cho ông”. 

Tôi cảm thấy là bà rất đôn hậu và thật thà nên mới khuyên bà:

“Lúc người gặp tai nạn lớn, phải phát đại nguyện niệm Phật th́ hy vọng có thể vượt qua”. 

Bà nói: “Làm sao phát đại nguyện?”. 

Tôi nói: “Dùng tâm chí thành của ḿnh mà phát đại nguyện”. 

Bà liền nói: “Từ nay trở đi hai vợ chồng chúng tôi sẽ ăn chay trường và niệm Phật; ông ta là thầy giáo, khi hết bịnh có thể hoằng dương Phật pháp”. 

Tôi đưa bà và mấy người con mỗi người một xâu chuỗi và nói: “Đêm nay quư vị nóng ḷng chờ đợi trong pḥng cứu cấp th́ cũng không ích lợi ǵ, không bằng đem tâm bồn chồn này lắng xuống để niệm một vạn danh hiệu Phật A Di Đà, cầu Phật gia bị, Phật lực không thể nghĩ bàn.  Chúng tôi rán hết sức để cứu ông, quư vị v́ ông mà niệm Phật, nếu thọ mạng của ông hết th́ ông cũng có thể văng sanh Cực Lạc”.  Đêm đó ba người bác sĩ chúng tôi cứ nh́n các điện đồ đo tim và đo máu, điều chỉnh lượng thuốc từ 7 giờ chiều đến 3 giờ khuya.  Một trong ba bác sĩ than là: “Chúng ta ba người trực cả đêm để lo cho một người mà không đo áp suất máu được!”  (Nghĩa là người này nếu không có gắn máy th́ không thể tự ḿnh hô hấp được).  Điều kỳ lạ là đến khoảng bốn năm giờ sáng th́ áp suất máu của ông từ từ tăng lên, ông cũng từ từ tỉnh lại.  Tôi lập tức đi thông báo cho người nhà của ông.  Tôi rất cảm động khi mở cửa nh́n thấy cả nhà ngồi xếp thành một hàng đang niệm Phật một cách rất chí thành.  Con của ông viết trên một trang giấy: “Thưa ba, con rất muốn ba mở đôi mắt hiền từ ra”. 

Có một thanh niên đến thăm ông và khóc sướt mướt làm tôi cứ tưởng là con của ông.  Người thanh niên đó nói: “Ổng là thầy tôi, lúc trước ổng ở trong một chái nhà lụp sụp, dùng hết tiền lương để cung cấp lo cho đám học sinh chúng tôi.  Nếu không có thầy th́ hôm nay không có tôi, xin bác sĩ nhất định phải cứu sống ổng”.  Lời nói chưa dứt th́ lại khóc tiếp; sau đó tôi mới biết ông đă được chọn là một trong ‘mười vị thầy có ḷng thương học tṛ lớn nhất’.  Sau khi ông tỉnh lại phải tiếp tục dùng máy để trợ giúp hô hấp thêm ba ngày nữa.  Lúc đó ông bắt đầu niệm Phật;  ngoài bịnh bị nghẽn động mạch cơ tim ông c̣n bị bịnh phổi nữa.  Cuối cùng ông cũng lành bịnh và tự ḿnh bước đi ra khỏi bịnh viện.  Sau đó ông trở lại bịnh viện kiếm tôi để hợp tác in kinh.  Những bác sĩ xem qua tâm điện đồ và kết quả thử máu rồi thấy sức khoẻ ông từ từ b́nh phục đều cảm thấy không thể tưởng tượng nổi.

Có một cô gái rất đẹp, lúc trước từng là hoa khôi trong trường.  Trên mặt bị bịnh ung thư sưng lớn lên khoảng gần bằng ba cái đầu chụm lại.  Lúc tôi mới gặp và  nh́n thấy cô th́ có cảm tưởng như là có đứa bé đang ngồi trên đầu.  Tuy cô phải chịu đựng sự đau khổ to lớn này nhưng nghĩ lại cũng c̣n may.  Trong thời gian đau khổ này cô biết đến Phật pháp, cô than là: “Rất tiếc tôi nghe được quá trễ!”.  Nhưng nếu kịp thời phát tâm th́ cũng không trễ.  Trong trường hợp đau khổ như vậy nếu người khác th́ đă kêu trời kêu đất rồi, ngược lại cô c̣n có thể niệm Phật.  Cô đem sự đau khổ biến thành nước cam lồ của ḷng từ bi, đổi sự áo năo buồn rầu thành ánh sáng thanh lương, tâm cô đă nương dựa vào đức Phật A Di Đà.  Cô đem tất cả tài sản của cô ra để cúng dường cho mọi người và dặn ḍ chuyện lâm chung đại sự.  Rất nhiều pháp sư và liên hữu cũng cảm động và từ bi niệm Phật tiếp cô.  Một hôm cô đưa năm trăm đồng nhờ tôi mua hột giống hoa đem gieo trong chùa hoặc là phía trước của Tịnh Nghiệp Tinh Xá Niệm Phật Đường; cô nói là để khi nào hoa nở có thể cúng Phật, có hoa nở ra hoài để cúng Phật.

  Chúng ta là người khoẻ mạnh nhưng không ai có tâm niệm đẹp như cô.  Có lẽ bạn sẽ nói mặt của cô rất xấu xí, diện mạo không c̣n đẹp như xưa nữa, nhưng nghĩ lại chúng ta có tâm niệm đẹp như cô không?  Cô đưa tôi sợi dây chuyền quư nhất mà má cô tặng cho cô lúc trước và nói: “Nhờ bác sĩ bán sợi dây chuyền này xong rồi đem tiền đi in kinh, cúng dường Tam Bảo… tuỳ tiện làm thế nào cũng được, miễn là có thể làm lợi ích cho chúng sanh”.  Thật là hiếm có, trong lúc cô chịu đựng muôn vàn đau khổ mà lại có được tâm niệm đẹp như vậy, bạn đă thể hội được sức lực của Phật pháp hay không?  Rất nhiều người vào thăm cô, cô nói: “Tôi bị bịnh này là do nghiệp báo [của những chuyện ác mà tôi làm lúc trước], quư vị thăm tôi rồi sau này phải đừng làm việc ác, nên làm việc lành, luôn luôn nhớ như vậy, phải biết dự trữ đồ ăn pḥng khi đói kém.  Mau sớm niệm Phật th́ mới không uổng chuyến đi thăm tôi lần này”. 

Có một ông già tám mươi tuổi bị ung thư phổi từ viện dưỡng lăo đến. Ông nói: “Lúc ông năm tuổi th́ cha ông mất, tám tuổi th́ mẹ mất, một người sống cô đơn đến nay đă 80 năm”.  Có thể nói là ông đă nếm đủ hết mùi vui, buồn, ly, hiệp trong đời.  Đến nay đă già lại mắc phải bịnh nặng, suốt ngày phải nằm trên giường.  Có một đêm ông ngồi dậy ôm gối tự nói chuyện với ḿnh : “Tôi muốn đi về, tôi muốn đi về”; giọng nói rất là thê lương, nhưng lúc đứng dậy th́ đứng không vững và lại té bị thương.  Răng trong miệng đă bám đầy bựa, mỗi ngày y tá phí bao nhiêu sức lực để kêu ông chà răng, ông nhất định không chịu chà và nói: “Người muốn chết rồi, chà răng để làm ǵ nữa!”.  Đă gần hai tháng ông không chịu ăn ǵ hết nên gần kiệt lực v́ đói.  Rất khó khăn lắm tôi mới để thuốc và thức ăn vào miệng ông, nhưng ông nhất định không chịu nuốt và quyết tâm muốn chết. 

Sau đó đại và tiểu tiện cũng không khống chế và điều kiển được; đi đại tiểu tiện ngay trên giường bịnh.  Ông không có gia đ́nh, người làm trong bịnh viện không đủ, không có người túc trực ở kế bên để thay vải trải giường và thay quần áo.  Sau đó cả quần áo cũng không c̣n sức để mặc mà cũng không chịu mặc, chỉ c̣n trơ da bọc xương như vậy nằm trên giường.  V́ ông không chịu ăn cơm cho nên chỉ có thể chích thuốc.  Tay ông bấy hết v́ kim đâm để chích thuốc hoặc lấy máu.  Đây là cái khổ của sự già nua.  Khuyên ông niệm Phật nhưng ông rất khó niệm được, mỗi lần nh́n ông th́ không có bút mực nào diễn tả hết những sự đau ḷng khổ năo này.   Ông cũng đă từng khoẻ mạnh như chúng ta, đă từng bước đi thoăn thoắt trèo non vượt suối, cũng đă từng giống như chúng ta, khi đói th́ kiếm ăn, cười tươi như hoa nở.  Nhưng những đợt sóng sanh tử của sông Hằng một giây phút, một tích tắc cũng không chịu ngừng lại…  Thân thể chúng ta cũng như căn nhà có thể bị hư hoại và bị sụp đổ; sống trong căn nhà cũ bị hư, bị dột mưa th́ rất khổ, rất khó khăn.  Nếu lúc đó chúng ta niệm Phật, đem tâm an trú tại cơi Tây phương tự do tự tại, kiên cố thanh tịnh, bất cứ lúc nào cũng có thể dọn nhà đi th́ rất trang nghiêm tốt đẹp.  Nếu buồn rầu áo năo theo căn nhà cũ nát, sợ là tương lai bạn cũng sẽ dọn đến căn nhà c̣n hư dột và cũ hơn hiện tại nữa, đời đời chịu khổ!

Có một bịnh nhân đă già, có người nói ông đă 80 tuổi, có người nói ông đă 90 tuổi.  H́nh như trước kia ông là giáo sư trường đại học Bắc Kinh, diện mạo của ông rất giống người trí thức.  Ông không phải là bịnh nhân thuộc chuyên khoa chữa trị của tôi.  Từ lúc đầu tiên khi tôi gặp ông th́ ông đă hôn mê bất tỉnh.  Mỗi lần đi vào pḥng bịnh tôi chỉ có thể niệm ‘A Di Đà Phật, A Di Đà Phật’ vào tai ông.   Cứ như vậy cả hai tháng ông chưa khi nào có một chút phản ứng ǵ hết.  Sau cùng ông tỉnh lại, có chút phản ứng và nh́n tôi, ra hết sức h́nh như muốn niệm ‘A Di Đà Phật’, nhưng không có sức để niệm ra tiếng.  Tay ông cử động h́nh như muốn chắp tay, chắp tay lại đối với người khoẻ mạnh là một chuyện rất là dễ dàng, nhưng đối với ông th́ lại vô cùng khó khăn.  Không phải là lúc c̣n trẻ da ông cũng rất hồng hào mềm mại hay sao?   Nhưng thế gian vô thường, hồng hào mập mạp trẻ trung sẽ từ từ biến thành già nua lụm cụm! 

H́nh như tôi đă đem h́nh tượng của những người lớn tuổi kéo xuống tận đáy thẳm vực sâu, như thế có phải quá tàn nhẫn hay không?  Nhưng nếu không diễn tả rơ ràng như vậy th́ mọi người không hiểu rơ những chuyện trong thế gian, không buông xả được th́ không thể đạt được hạnh phúc tự tại.  Nếu không kịp lúc hồi đầu niệm Phật e rằng sẽ hối hận vĩnh kiếp về sau!

Phần đông khi người ta sắp chết th́ hô hấp rất khó khăn.  Nếu đang ở trong bịnh viện th́ bác sĩ sẽ đút một ống vào miệng hoặc vào mũi vô khí quản đến phổi để duy tŕ sự hô hấp. Đến lúc nguy cấp th́ đẩy vào pḥng có y tá túc trực thường xuyên để theo dơi bịnh nhân.  Có khi dùng duỡng khí chụp vào mũi để giúp cho bịnh nhân thở.  Khắp nơi trên thân thể chỗ nào có thể đút ống vào th́ cũng đều đút ống, thí dụ đường tiểu th́ đút ống vào để thông tiểu, miệng th́ đút ống vào để dẫn thức ăn vào bao tử, hoặc mũi th́ đút ống vào phổi, chỉ thiếu một thứ là không có một ống ǵ để dẫn ánh sáng của đức Phật A Di Đà vào tâm khảm của người ta.  Một pḥng bịnh có y tá túc trực (intensive care) th́ cũng giống như một địa ngục ở trần gian.  Có lẽ những thiết bị tối tân này đă cứu sống rất nhiều người, nhưng thiệt ra đối với bịnh nhân, không kể là chữa lành bịnh hay không đều là địa ngục rất dễ sợ, không người nào thích bị đưa vào thêm một lần nữa!  Lúc trước khi đọc kinh Địa Tạng tôi thường nghĩ là chư Phật Bồ Tát sợ chúng sanh làm chuyện ác, cố ư nói ra để dọa người, đâu có chỗ nào là địa ngục thiêu đốt, địa ngục cắt lưỡi, … cái khổ ǵ cũng có, rất là dễ sợ, h́nh như đều là dọa người ta.  Đến khi tôi vô bịnh viện th́ mới biết đức Phật nói câu nào cũng đều là sự thật, và cũng hiểu được tại sao đức Phật ở trong kinh đă nhiều phen dặn ḍ và phó chúc Địa Tạng Bồ Tát là:

Đừng để chúng sanh đọa vào ác đạo [cho dù chỉ là] một ngày một đêm”.  Nhất định phải nói rơ cho chúng sanh biết  những sự khổ trong nhân quả báo ứng này, đừng để cho chúng sanh đọa vào ác đạo chịu khổ một ngày một đêm.”   Nhưng lúc b́nh thường chúng ta có để ư và hiểu tâm từ bi này của Phật không? 

Khi bịnh nhân kêu tôi nửa đêm, lúc tôi rất mệt và buồn ngủ nhưng phải tỉnh dậy để đi thăm họ, săn sóc, cho thuốc hoặc là trị liệu, lúc đó thấy chúng sanh đang chịu đựng bên bờ sanh tử, những câu trong kinh Bát Đại Nhân Giác liền hiện ra trong tâm:

 Sanh tử thiêu đốt, khổ năo vô lượng, phát đại thừa tâm, phổ tế tất cả, nguyện chịu thay vô lượng khổ cho chúng sanh, làm cho chúng sanh đến được sự sung sướng viên măn”. 

Nhưng khi nh́n thấy những cảnh tượng quá khổ này, kêu bạn đi chịu khổ thay cho chúng sanh bạn có thể làm được không?  Thử hỏi những sự khổ đă kể ở đoạn trước, bạn có thể thay thế cho họ một đêm không?  Tôi không nói chuyện ‘thay thế’ này quá khó, chỉ là ở một bên để săn sóc an ủi người bịnh liên tục mấy đêm liền không ngủ, cả ngày lẫn đêm th́ đă quá khó rồi (thường th́ bạn sẽ cảm thấy đầu nặng, tim đập mạnh hơn lúc trước…). 

Tu hành trong nhà Phật trừ tâm từ bi ra, c̣n cần có ḷng tin vững chắc, nguyện lực rộng lớn, niệm Phật chuyên cần th́ mới có khả năng thoát ra khỏi lục đạo sanh tử luân hồi khổ năo.  Thiệt ra không nói là thay thế chịu khổ, chỉ ‘nghe’ thôi, cả ngày ngồi ở đó từ sáng đến tối nghe người ta than thở: “Tôi khổ như thế nào”, “nhà tôi có sự khổ vô cùng”, để cho bạn nghe một ngày 24 giờ, liên tục mấy ngày liền th́ bạn sẽ hiểu.  Sau khi tôi ‘nghe’ một thời gian, có một hôm khi tôi đang niệm Quán Thế Âm Bồ Tát th́ nghe có tiếng người khác cũng đang niệm “Nam mô Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát”, nghe xong câu này tôi liền có một niềm xúc động vô hạn, chảy nước mắt lúc nào không hay.

  Thật đúng như vậy, đừng nói để bạn thay thế chúng sanh chịu vô lượng khổ, chỉ để bạn ‘nghe’ sự khổ th́ liền biết ḷng từ bi vô biên của Bồ Tát.  Ngài đă phát nguyện “lắng nghe chuyện khổ nạn trong thế gian”, chỗ nào có người chịu khổ liền lập tức đến để cứu họ.  Chúng ta lắng tâm để niệm Bồ Tát, từ danh hiệu của một vị Bồ Tát th́ biết được ḷng từ bi vô cùng tận của chư Bồ Tát, tâm địa rộng lớn không thể nghĩ bàn của quư ngài.

Khi đôi mắt tôi nh́n thấy sự buồn rầu, lo sợ, khủng bố của những người sắp chết, đôi tai nghe vô số tiếng khóc lúc sanh ly tử biệt, quay lại niệm ‘vô lượng quang minh và vô lượng thọ’ của đức Phật A Di Đà, tự nhiên lại tràn đầy nước mắt và cảm nhận được sự từ bi thông cảm vô cùng thân thiết chứa đựng trong danh hiệu đức Phật A Di Đà.  Th́ ra đức Phật A Di Đà từ xưa đă biết được những sự đau buồn đen tối và sự lo sợ trong ṿng sanh tử của phàm phu chúng ta, nên ngài phóng vô lượng quang đến khắp mọi nơi để cứu độ, không nhàm chán mà an ủi chúng sanh.  Ngài không nghỉ ngơi, không ‘lấy vacation!’, ngày cũng như đêm, chí nguyện vĩnh viễn không bao giờ ngừng nghỉ mà cứu giúp chúng sanh trong biển khổ sanh tử, đem sự thanh lương ở cơi Cực Lạc ban bố cho chúng sanh.  Bạn có để ư những khi mưa suốt mấy ngày liền nhưng mặt trời vẫn không mất đi.  Vô Lượng Quang Thọ là một nguồn từ bi vĩnh hằng, chiếu rọi vô tận, không bị bất an v́ mất đi quang minh, không có sự đau khổ của sanh ly tử biệt.  

Có khi đêm đă khuya, thuốc ngủ và thuốc chống đau đều không c̣n hiệu lực nữa, tôi thường ở bên giường bịnh nhân giúp họ niệm Phật (thật ra phải nói là ‘Bồ Tát bịnh nhân’ giúp tôi niệm Phật, v́ nếu không có họ ở một bên, tôi không siêng đến nỗi nửa đêm không ngủ, thức dậy niệm Phật).   Ḥa hợp vào nhịp thở và tiếng niệm Phật của bịnh nhân, vừa niệm vừa nghe từng câu từng tiếng một cách an tịnh.  Khi thuốc men không c̣n công hiệu nữa, hết sức thành khẩn cầu cứu đức Phật A Di Đà có công hiệu mạnh nhất, có thể an ủi thân tâm đau khổ của bịnh nhân; lắng nghe được một tiếng th́ ngay khi đó liền được giải thoát, nếu an tịnh mà nghe rơ ràng từng chữ từng chữ th́ sự đau khổ trong mỗi phút này biến mất cũng như sương tan khi mặt trời mọc.  Phật A Di Đà giống như một công ty cung cấp điện lực miễn phí, chỉ cần bạn đừng rút đồ cắm điện ra th́ sẽ thâu nhận được nguồn năng lượng vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt này. 

Có một người bị ung thư ở mũi, ở đây giới thiệu về người này là có ư nghĩa đặc biệt.  Ung thư của cô đă lan rộng đến lúc khó thở th́ cô mới đến bịnh viện, lúc đó vô cùng đau đớn.  Một thời gian không lâu trước khi mất, cô phát tâm ăn chay; cô kéo tay tôi và nói: “Bác sĩ à, nếu bịnh tôi không có hy vọng chữa hết th́ xin cầu cho tôi được mau mau về nước của đức Phật A Di Đà”.  Cô từ bịnh viện khác đến bịnh viện chúng tôi để trị liệu phóng xạ.  Bịnh ung thư mũi vốn là bịnh có hiệu quả trị lành bịnh rất cao, chỉ cần phát hiện sớm và trị liệu sớm th́ đều hết bịnh, nhưng cô phát hiện bịnh quá trễ.  V́ nửa đêm cô bị hô hấp khó khăn nên người ta mới chở cô đến bịnh viện chúng tôi cấp cứu, nhưng cứu không được.  Đêm đó tôi không có trực tại bịnh viện, cho đến sáng hôm sau lúc tôi đến th́ cô đă ngừng thở hết một thời gian và được xem là đă chết rồi, người nhà đang sửa soạn để xuất viện.  Không biết tại sao y tá ở pḥng cấp cứu kêu tôi bằng hệ thống truyền thanh của bịnh viện.  Khi tôi đến nh́n thấy cô th́ cảm thấy rất buồn; tôi kề bên tai cô và nói:

Trong đời sống ngắn ngủi của cô đă chịu đựng quá nhiều đau khổ, con cô tuy c̣n nhỏ nhưng c̣n chồng cô lo cho nó, những chuyện này cô muốn lo cũng lo không được rồi.  Bây giờ cô nhất định phải buông xả hết tất cả mọi việc, cô hăy cùng tôi niệm A Di Đà Phật rồi theo ngài về Tây phương Cực Lạc Thế Giới ”. 

Tôi ở bên cạnh cô niệm Phật và cầu đức Phật từ bi nhiếp thọ; lúc đó trong ḷng tôi cảm thấy rất rơ ràng mỗi một câu niệm Phật đều từ đáy ḷng phát ra.  Một điều kỳ lạ là nước mắt của cô cứ chảy ra hoài.  Sau đó tôi mời những cô y tá trong pḥng cấp cứu lại xem và nói:

Trên mặt y khoa chúng ta nói là cô ta đă chết, hơi thở đă đoạn dứt rồi, không c̣n nhịp tim đập, không c̣n áp suất của máu, tất cả đều không c̣n nữa.  Nhưng nhà Phật nói tại v́ người chết có chấp trước, thần thức của họ chưa hoàn toàn rời khỏi thân thể, b́nh quân phải đợi đến 8 giờ sau mới ĺa khỏi thân thể, do đó chúng ta phải lo cho người gần lâm chung hoặc là mới chết một cách đàng hoàng”. 

Nhưng người hiện nay nếu tắt thở trong bịnh viện, phần đông là không cho chúng ta để yên không động thi thể của họ, điều này thật đáng tiếc. 

Là người học Phật chúng ta phải đặc biệt chú ư, lúc lâm chung vô cùng quan trọng, v́ lúc người ta gần tắt thở tứ đại phân ly rất là đau đớn, thần thức gần thoát ly ra khỏi thân thể đau giống như gió rét cắt thịt hoặc như kéo mu rùa rời khỏi thân rùa.  Lúc bấy giờ tuyệt đối đừng đụng chạm đến thân thể của người mất, phải nhắc nhở và giúp họ niệm Phật, giúp họ khởi lên chánh niệm muốn văng sanh cơi Cực Lạc.  Nếu không văng sanh th́ phải tùy theo nghiệp báo đi đầu thai, đời đời kiếp kiếp luân lạc trong sáu nẻo luân hồi, sự khổ đau của sanh lăo bịnh tử cứ diễn đi diễn lại măi măi.  Cho dù bạn là ông vua hay tổng thống cũng không tránh khỏi, thông minh không đối chọi được với nghiệp lực, giàu sang cũng không miễn được luân hồi! 

Một lần nữa xin nhắc nhở quư vị, nếu sau này gặp những trường hợp như vậy th́ phải chú ư: lúc lâm chung và 8 giờ đồng hồ sau khi tắt thở, đều phải nhất tâm niệm Phật, nếu tín nguyện được chân thành thiết tha, đức Phật nhất định từ bi nhiếp thọ.  Trong lúc này (trong ṿng tám giờ ) không được di chuyển và động chạm đến thi thể của người mất, không được làm bất cứ chuyện ǵ động chạm đến họ (kể cả di chuyển giường họ đang nằm) .

Nếu bạn đă bị bịnh nặng th́ biết trong lúc thân thể vô cùng yếu đuối và đau đớn, cho dù chỉ là nhích một tí để xoay ḿnh lại, hoặc là thay áo th́ cũng làm cho người bịnh rất đau, thân tâm rất khó an lạc.  Phần đông người ta cho rằng niệm Phật là để tiễn đưa người mất, thật ra đức Phật A Di Đà có vô lượng quang và vô lượng thọ, niệm Phật cho người bịnh nặng là đem tâm đang đau khổ rối loạn của người bịnh khế hợp (nối liền) với vô lượng hào quang của Phật (cũng là để khôi phục lại vô lượng quang thọ trong tự tánh của mỗi người.).  Nếu mạng chưa hết niệm Phật nhờ vào Phật lực gia tŕ có thể tiêu tai diên thọ; có nhiều bịnh nhân buông xả hết vạn duyên nhất tâm niệm Phật, vốn là bịnh rất nặng nhưng cũng lành bịnh.  Nếu thọ mạng đă hết khi niệm Phật th́ được đức Phật tiếp dẫn về cơi Cực Lạc đi ‘du học’, được tự tại an lạc. 

Trong bịnh viện tôi từng thấy rất nhiều bịnh nhân được đưa vào pḥng cấp cứu nhưng cứu không được, bác sĩ tuyên bố đă chết rồi.  Vài giờ sau người nhà từ phương xa đến, người mất tự nhiên ra máu mũi hoặc chảy nước mắt.  Những chuyện này làm cho tôi càng tin tưởng lời dạy của người xưa ‘không được đụng chạm và di động  người mất trong ṿng tám giờ sau khi tắt thở, hết ḷng niệm Phật để trợ niệm cho người mất’.  Ở đây xin quư vị để ư đừng nên xem thường chuyện này mà tạo nên những sơ sót không thể nào hàn gắn lại được.

Có một bịnh nhân vốn là một người bán thịt heo, thường ngày đối xử với mọi người rất tử tế; nghề mổ heo là do cha mẹ truyền lại, ông nói: “Chúng tôi không thể đổi nghề và cũng không biết là nên đổi nghề khác”.  Thuở nhỏ có người dạy ông niệm A Di Đà Phật, nên mỗi lần ông nh́n thấy tượng Phật th́ đều chắp tay niệm ba tiếng ‘A Di Đà Phật’.  Điều đáng quư là ông nói ông không cầu nguyện ǵ cho ḿnh cả, mà hy vọng đức Phật pḥ hộ cho tất cả chúng sanh; ông nói: “Đức Phật làm sao chỉ pḥ hộ cho một ḿnh tôi được chứ”.   Quan niệm này thật rất đúng.  Tuy đă làm nghề này lâu rồi nhưng tâm địa của ông rất hiền lương; ông không biết giết heo là làm hại chúng sanh th́ phải chịu quả báo không tốt.   Ông bị ung thư hàm dưới, qua một thời gian sau nguyên cả cuống họng cũng bị ung thư lan đến, tuy có chữa trị nhưng cũng tái phát trở lại.  Mỗi đêm ông nằm trên giường rên rỉ, hít thở rất khó khăn và phát ra âm thanh như kéo cưa vậy.  Trong miệng có đàm không thể khạc ra và không thể nuốt xuống, cuống họng như bị xiết cứng lại nên mỗi lần thở mạnh th́ rất đau.  Ông nói lúc đó ông mới biết được sự đau khổ của con heo vừa bị làm thịt; ông thật tâm sám hối.  

Ông ăn không được nên phải đút ống (vào miệng để dẫn thức ăn lỏng).  Trên quan niệm th́ ông đă hiểu rơ và phát tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh độ; sắc mặt của ông khác hẳn với những bịnh nhân khác, ông không thường âu sầu.  Ông nói: “Nhờ bác sĩ xem thân thể tôi có bộ phận nào c̣n dùng được, đôi mắt của tôi có thể quyên cho người khác không?  Tim tôi c̣n tốt không?  Có thể quyên cho người không?  Nếu quyên được th́ xin quyên, tại v́ hy sinh một ḿnh tôi không quan trọng lắm, nếu có thể làm cho người khác sung sướng th́ rất quư”.  Tôi nói: “Tâm của ông thiệt rất giống tâm địa của Bồ Tát.  Đời của mỗi người có thể làm gương cho người khác, đôi mắt của ông chỉ có thể cho một người duy nhất.  Người đó có đôi mắt này sẽ nh́n thấy mọi sự vật, nhưng sau khi nh́n thấy không biết người đó sẽ ‘vui’ hay ‘giận’.  Nếu dùng đôi mắt này để nh́n những thứ làm cho người đó phẫn nộ th́ rất đáng tiếc.  Một người tiếp nhận đôi mắt thịt này chưa chắc sẽ sung sướng.  Nếu không biết dùng th́ giải phẫu thay tim cũng không thể làm cho người hạnh phúc, nếu người đó không hiểu rơ được đạo lư chân chánh”. 

Ư tôi không phải phản đối không cho người giải phẫu thay bộ phận trên thân thể.  Nhưng người có thể chịu đau trong lúc mổ xẻ mà không sanh tâm sân giận hay hối hận cần phải có ‘đạo lực’ rất lớn; hơn nữa, tuy là người bị bịnh ung thư có ḷng tốt và quyên tặng bộ phận trên thân thể khi họ c̣n sống, nhưng người tiếp nhận có ngại sau khi nhận bộ phận này sẽ bị ung thư không?  Ông có ḷng tốt như vậy rất đáng quư, tôi không thể ngăn cản ông được, chỉ nói với ông là: “Bây giờ ông nên niệm Phật gấp rút để văng sanh đến tây phương Cực Lạc thế giới và sau đó theo nguyện vọng trở lại độ chúng sanh; chỉ cần lúc này ông nỗ lực niệm Phật để đến phút cuối có thể bước chân lên đài sen, ông sẽ làm gương tốt cho rất nhiều người, và làm cho họ hiểu được sự thù thắng của cơi Cực Lạc”.  

Ông nói suốt đời ông làm nghề này, lúc ban đầu v́ t́nh trạng kinh tế trong gia đ́nh bắt buộc, nếu không làm (giết heo) th́ không có tiền sinh sống.  Sau này tính lại số tiền ông kiếm được làm nghề này không đủ để ông trả tiền nằm nhà thương mà trái lại c̣n thiếu nợ nữa, làm cho đời sống càng khó khăn thêm.  Người ta thường viện cớ ‘không làm như vậy không được’, tuy biết là làm như vậy không đúng với Phật pháp mà cũng tiếp tục làm.  Đợi đến một ngày nào đó phát hiện ra ‘không được nữa’, quay đầu nh́n lại mới biết làm như vậy kiếm không được bao nhiêu nhưng cuối cùng phải mang bịnh và đau khổ, phải trả bằng một giá quá đắt, thiệt không đáng chút nào.  Lúc ông nằm bịnh viện có một số liên hữu lại giới thiệu Phật pháp và giúp ông niệm Phật.  Sau khi về nhà và mấy ngày trước khi ông mất, ông nhờ người nhà kiếm họ tiếp tục trợ niệm.  Vài người ở Y Vương Học Xă và bà chủ nhà trọ của tôi đều đến trợ niệm cho ông.  Nghe nói ông mỉm cười và niệm Phật mà đi.  Họ càng niệm Phật th́ ông càng cười tươi hơn.  Xong rồi họ nói với tôi: “Chúng tôi trợ niệm cho ông, ông mỉm cười nh́n chúng tôi.  Sau tám giờ đồng hồ ông cũng vẫn c̣n mỉm cười nh́n chúng tôi”.

Có câu thơ như vầy:

‘Tự thị bất quy, quy tiện đắc

Cố hương phong nguyệt hữu thuỳ tranh’

(Không chịu quay về, về được ngay,

Gió trăng quê cũ kẻ nào tranh?)

Nụ cười của ông khi ‘quay về cố hương’ thật là sự an ủi và khích lệ cho những người đang vùng vẫy bàng hoàng bên bờ sanh tử.  Nụ cười cuối cùng của ông là nụ cười vô cùng hiếm hoi và trân quư.

Những câu chuyện kể trên đều là h́nh ảnh của sông Hằng.  Tất cả các h́nh ảnh của ḍng sông ‘sanh tử’ này đă làm cho đức Phật Thích Ca cảm thấy rất nhức đầu.  Ngài đă nh́n thấy những h́nh ảnh của sanh, lăo, bịnh, tử và suy nghĩ để t́m cách cứu giúp chúng sanh xa ĺa biển khổ sanh tử.  Trải qua một quá tŕnh tu tŕ gian khổ dưới bóng cây Bồ đề, ngài đă giác ngộ được tất cả đạo lư của nhân sanh vũ trụ.  Bắt đầu chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển, thuyết pháp Tứ Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) cho nhóm năm tỳ kheo đầu tiên (nhóm ông Kiều Trần Như).  Ngài nói cho họ biết ‘nhân sanh’ có các thứ khổ như thế nào, nguyên nhân của khổ là ǵ, phương pháp thoát khổ là ǵ, và sau khi thoát khổ th́ sẽ ra sao. 

Tôi nghĩ đây là cuộc diễn giảng về y học hoàn hảo nhất trong lịch sử nhân loại.  Đức Phật là một người thầy thuốc vĩ đại nhất, ngài đă giảng cho chúng ta phương pháp vĩnh viễn miễn trừ những sự đau khổ này!  Như tia sáng lóe ra từ trong đêm dài đen tối, giác ngộ là một con đường vô cùng xinh đẹp, con đường đi về cố hương, đi trở về với Phật tánh thanh tịnh vốn sẵn có của mỗi người.  Đức Phật Thích Ca mỗi ngày đều kêu gọi chúng ta mau mau lên đường đi về quê hương.  Ngài muốn chúng ta tháo mở những phiền năo đang trói buộc chúng ta để đi đến sự an lạc viên măn.  

Quư vị muốn nối gót đức Phật lên đường về quê hương không?  Có nhiều người đi theo đức Phật và đă giác ngộ rồi.  Xin quư vị xem h́nh của lăo ḥa thượng Hư Vân, chỉ cần nh́n thần sắc của ngài, chỉ cần nh́n phong độ phi phàm của ngài mà không cần xem truyện kư, chúng ta cũng cảm nhận được tấm ḷng của ngài rộng lớn như thế nào mới có thần sắc như vậy?  Tôi đă nghe một pháp sư kể lại vào năm thầy của pháp sư 36 tuổi, lăo ḥa thượng lúc bấy giờ đă 106 tuổi, hai người đi qua một con sông, cây cầu bắt ngang sông làm bằng hai cây trúc hợp lại.  Vị thầy trẻ tuổi này không dám đi qua, lăo ḥa thượng nắm lấy cổ áo của ông nâng lên như thế rồi khiêng ông đi qua sông.  Hai chân của ông c̣n đá tới đá lui sợ hết hồn, lăo ḥa thượng một nháy mắt cũng không chớp th́ đă khiêng ông đi qua cầu.  Nguyên câu chuyện này quư vị có thể đọc được trong niên phổ truyện kư, ở đây chúng ta chỉ nhắc đến một chút, mọi người có thể từ đó mà suy nghĩ.  Hăy nh́n xem những người nối gót theo chân đức Phật, họ làm thế nào mà ‘sanh thời lệ tợ hạ hoa, tử thời mỹ như thu nguyệt’?  Lúc sống đẹp như hoa mùa hạ, lúc chết đẹp như trăng tṛn mùa thu chiếu sáng khắp nơi.

Thêm một vị đại đức gần đây nhất là lăo ḥa thượng Quảng Khâm, mọi người đều xưng tán ngài là ‘bảo vật’ trong Phật giáo.  Đây là di ảnh chụp lúc ngài 95 tuổi, hai ngày trước khi văng sanh, đôi mắt sáng và vô cùng sắc sảo.  Năm lăo ḥa thượng 92 tuổi, tôi có dịp theo ngài đi lên núi; ngài đi ở phía trước từng bước rất vững vàng và nhanh chóng.  Tôi đi theo phía sau thiệt rất mệt mới theo kịp.  Lúc đó chùa Thừa Thiên c̣n đang xây cất chưa xong, khi đi qua một đoạn đường có nhiều vật chướng ngại, xém chút xíu tôi bị té, ngài quay đầu lại nói:

“Con phải đi cẩn thận nghen!”.

Giọng nói của ngài khàn khàn nhưng có oai lực, ánh mắt nghiêm nghị nhưng chứa đựng ḷng từ bi vô hạn.  Tôi rất hổ thẹn; bây giờ trên đường đời đă vấp ngă bao lần, đă gặp phải nhiều chướng ngại, nhớ lại lời ngài nói th́ tự nhiên lệ đẫm ướt mi lúc nào không biết.

Có người tưởng ngài rất là huyền bí nên muốn đi ‘điều tra’ cặn kẽ.  Đến khi nghe ngài nói chuyện hết nửa ngày chỉ nghe toàn là những từ ngữ như: ‘niệm Phật’, ‘đừng ăn thịt’ nên trong bụng thầm nghĩ: ‘tôi cũng biết nói như vậy, cần ǵ phải hỏi lăo ḥa thượng!’.  Thật không sai, ai cũng biết nói như vậy, nhưng chúng ta không ai đă từng trải qua sự tu hành khổ hạnh, công phu thứ thiệt như ngài, lại không có đủ đức hạnh để cảm hóa người khác.  Cho dù có nhiệt tâm để khuyên người, người ta c̣n chê ḿnh là ‘nhiều chuyện’ nữa.   Ngài đă hàng phục được ḿnh, đă hạ thủ công phu rất sâu trong sự tu niệm nên tự nhiên cảm hóa được hàng vạn người.

  Lúc ngài c̣n trẻ tu hành ở trong hang trên núi, khi lương thực đem theo đă hết th́ chỉ nhờ vào khoai rừng và rễ cây để duy tŕ mạng sống.  Ba chiếc áo vá đi vá lại đến khi chỉ c̣n một chiếc, suốt sáu mươi năm chỉ ngồi không nằm, đối với vật chất yêu cầu rất thấp.  Lúc c̣n trẻ ở chùa Thừa Thiên thầy của ngài là Chuyển Trần lăo ḥa thượng có dạy ngài như vầy:

Ăn những thứ mà người khác không ăn, mặc những thứ mà người khác không [muốn] mặc, làm những ǵ mà người khác không làm, sau này th́ ông mới biết”. 

Thầy của ngài chỉ dạy ngài tu khổ hạnh và chuyên niệm Phật.  Ngài làm theo những lời dạy này một cách rất thật thà, hạ thủ công phu trên tâm địa ḿnh, rốt cục ngài trở thành một vị rất là phi phàm; rất nhiều người vừa mới gặp liền cảm động, mến phục, và rất kính trọng ngài.

Những lời ngài khai thị thường thường chỉ là một vài câu nhưng có ư nghĩa rất quan trọng; nếu chúng ta tin theo được th́ nhất quyết sẽ không lăng phí đời này.  Như phía trước có nói: ‘niệm Phật’ và ‘đừng ăn thịt’.  Nếu chúng ta trong mỗi niệm đều niệm Phật, làm cho đại quang minh, trí huệ, từ bi, và giác ngộ của chư Phật bất kỳ lúc nào cũng tràn đầy trong tâm khảm của ḿnh; như vậy không phải là lúc nào cũng kiết tường hay sao?  Không c̣n sự đau khổ của ‘nhân, ngă, thị, phi’ (ḿnh, người, đúng, sai), không chịu sự hành hạ của tham, sân, và si nữa.  Nếu giảm bớt sự ham thích ăn uống và làm theo lời dạy của ngài: ‘đừng ăn thịt’ th́ từ từ sẽ thể hội được đạo lư: ‘cùng một gốc rễ’ (cùng bản thể), sẽ thưởng thức được sự hỷ duyệt (vui sướng ) của ḷng từ bi; mỗi ngày trong ḷng đều điềm đạm, b́nh thản, mộc mạc, tin sâu, nguyện thiết và niệm Phật cầu sanh tây phương; lúc lâm chung sẽ nhờ sức Phật tiếp dẫn, thoát khỏi sự đau khổ đời đời kiếp kiếp của sanh tử luân hồi!  Hai câu nói đơn giản của ngài đă chỉ ra con đường sáng rỡ thành Phật ngay trong một đời.  Ai thật thà chịu nghe, tin, và làm theo th́ sẽ được lợi ích lớn; người không thật thà chỉ thích nói lư thuyết cao siêu, làm những chuyện kỳ quái, phô trương một số thần thông mà lại xem thường lời dạy quan trọng nhất này th́ sẽ đánh mất cơ hội quư báu để thoát ly sanh tử luân hồi.

Đệ tử của lăo ḥa thượng thuật lại lúc ngài c̣n tại thế, một hôm có một người xách cặp táp kiểu điệp viên 007 một cách rất thần bí, lên núi xin gặp và nói chuyện ‘riêng’ với ngài.  V́ trong quá khứ đă có người có ư muốn làm hại ngài cho nên các đệ tử không cho người này đơn độc gặp lăo ḥa thượng.  Người này đến kề vào tai lăo ḥa thượng và hỏi ngài một cách rất cung kính:

“Kính thưa lăo ḥa thượng, người ta đều nói ngài có thần thông, xin ngài nói thật với tôi ngài có thần thông hay không?”. 

Sau đó lăo ḥa thượng cũng thần bí kề vào tai người kia và nói: “Tôi nói với ông, tôi có ăn th́ có thông, không ăn th́ không thông!”. 

Sự kỳ diệu của Phật pháp là ở chỗ rất b́nh thường, không lôi cuốn sự hiếu kỳ của người ta bằng những thần thông hoặc những tướng trạng kỳ dị.  Người người đều có đầy đủ thần thông, chỉ v́ bị tâm tham, sân, si, mạn, nghi, phiền năo che lấp nên không thể hiện ra được; có thần thông mà không thể giải quyết vấn đề sanh tử th́ cũng như không.  Hướng ngoại t́m cầu nhờ ‘những người có thần thông’ cứu giúp th́  là ‘bỏ gốc rễ (căn bản) mà t́m cành nhánh’.  Ngài nói: “Cầu người th́ là mất đi đức Phật Thích Ca”.

Tôi cảm thấy ‘thần thông’ vĩ đại nhất rất đáng cho mọi người tán thán là công phu nhẫn nhục của ngài: ‘nhẫn chuyện người không nhẫn được, làm chuyện  người khác làm  không được’.   Năm xưa khi ngài từ hang động trên núi về đến chùa Thừa Thiên ở Đại lục, đầu tóc mọc ra quá dài làm cho ngài trông giống như một người rừng, không ai nhận biết đến khi giải thích rơ ràng th́ mọi người mới nhận ra.  Về chùa qua một thời gian sau đó, vị sư ‘đương gia’ (thầy giám viện) và ‘điện chủ’ trong chùa muốn khảo nghiệm công phu tu hành của ngài nên cố ư đem tiền trong thùng phước sương dấu đi, rồi giả vờ nói nghi ngờ lăo ḥa thượng đă ăn cắp tiền này; từ đó mọi người đều cho là ngài đă ăn cắp, ai cũng đều nói nặng nói nhẹ lăo ḥa thượng. 

Ngài nghe những lời nói này như gió mùa xuân thổi và như uống nước cam lồ, an nhiên tự tại, tâm lượng của ngài thật vô cùng rộng lớn, thật là một người tiêu diêu tự tại.  Cái ‘thần thông’ nhẫn nhục này so với những thứ ‘phóng quang, lên khói’ th́ c̣n thần kỳ hơn nhiều; tại v́ đốt giấy th́ sẽ lên khói, đốt đèn th́ sẽ phóng quang, nhưng chúng ta tự hỏi ai bị vu oan là người ăn trộm mà vẫn an nhiên tự tại như uống nước cam lồ và vẫn không giải thích biện bạch rằng ḿnh không phải [người ăn trộm].  Ai có công phu tu hành đến mức nh́n thấu chuyện thế gian như bèo như bọt là người có đại trí huệ, xứng đáng được người khác cung kính.  Chúng ta thường biến thành vật mà lăo ḥa thượng h́nh dung là ‘thạch đầu cẩu’ (con chó chạy theo cục đá).   Người ta muốn chúng ta chạy th́ rất dễ, chỉ cần liệng một cục đá th́ ḿnh liền chạy theo, đuổi theo đến khi mệt lả, đuối sức cũng chỉ v́ đuổi theo một cục đá ăn không được!  Lăo ḥa thượng mở to đôi mắt nói: “Không có chủ trương (ư chí không cứng rắn nhất định) như vậy làm sao có thể đi về Tây phương được?” 

Ngài làm chủ được ḿnh, sanh tử tự tại, mọi người đều kính trọng.  Ngài không cầu danh văn lợi dưỡng và biểu hiện qua hành vi trong đời sống thường ngày, làm cho mọi người tâm phục khẩu phục.  Có lần nọ một kư giả nhà báo lên chùa uy hiếp, đ̣i tiền ngài và nói: “Ng̣i bút của tôi rất lợi hại, nếu không đưa tiền cho tôi th́ tôi sẽ viết xấu về ngài”.  Lăo ḥa thượng điềm nhiên và nói: “Cứ việc đăng lên báo, tùy ư viết như thế nào cũng được, tôi không cần người ta cung kính, nếu người ta cung kính tôi, mỗi ngày tôi phải niệm Chú Đại Bi gia tŕ vào nước Đại Bi cho họ; nếu người ta không cung kính tôi, tôi được rảnh rang thanh tịnh mà niệm A Di Đà Phật”.  Người kư giả này cũng không làm ǵ được và cảm than rằng ngài không giống người phàm, đúng là: ‘Sự việc đến mức không tâm th́ rất vui sướng, người có thể không mong cầu th́ phẩm đức tự nhiên cao’.

C̣n lần nọ, một số đệ tử theo ngài đi nghe giảng và biết vị pháp sư thuyết pháp có ư phê b́nh ngài trong buổi giảng nên nổi giận và về chùa thuật lại với ngài.  Không ngờ ngài nghe xong không những không nổi giận mà c̣n kêu nhóm đệ tử này phải sám hối với vị pháp sư đó, và c̣n giải thích rơ [dùm vị pháp sư] hàm ư của những ngôn từ đó.  Ngài nói với nhóm đệ tử nếu người ta lấy pháp danh của ḿnh mà chửi mắng th́ ḿnh phải cám ơn người ta, huống chi là họ không có nói rơ tên ḿnh ra!  Ngài c̣n nghiêm nghị mà giảng về đạo lư: “Nếu muốn Phật pháp hưng thịnh th́ tăng phải khen ngợi tăng”.  Ngài khen ngợi vị pháp sư đó: “Trong thế giới trược ác này có thể độ chúng sanh, đúng là Bồ Tát”.  Và c̣n khiêm tốn nói: “Tôi không dám làm”.

Công phu của lăo ḥa thượng đạt đến mức chúng ta không thể suy đoán nổi, những việc xảy ra thường ngày đều nói lên tâm lượng rộng lớn của ngài.  Mỗi câu chuyện đều làm cho tôi cảm động, ngài như ánh thái dương từ bi phổ chiếu từng ngọn cỏ từng gốc cây; tuy nhiên có khi cũng dùng cây kiếm trí huệ của ngài chém sạch cành lá của phiền năo, chém sạch danh văn lợi dưỡng, giúp cho những mầm non đang lớn có thể hướng về Tây phương thanh tịnh. 

Ngài thường đề ra những bài thi đột xuất, thường rất là sôi nổi và kích thích, tài nghệ ‘diễn kịch’ của ngài rất xuất sắc; những người bị khảo thí này thường bị cảnh giới chuyển dời, ngay khi đó không cảnh giác th́ không biết, lâu dần th́ hiểu được và mới biết dụng ư rất từ bi của lăo ḥa thượng.  Có thể h́nh dung phương pháp và sự tập luyện của ngài là: ‘Xay đến tróc vỏ, mài đến [gạo] trắng, nhồi đến nhuyễn, nung đến đổi màu’.  Cách này làm cho một người chân chánh phát tâm tu hành trở thành ‘một cái bánh thánh có thể cúng dường tất cả chúng sanh, cúng dường tất cả chư Phật’.   Quá tŕnh này thường phải đ̣i hỏi rất nhiều nước mắt và mồ hôi. 

Có lúc lăo ḥa thượng cũng rớt nước mắt, từ bi mà nói với đệ tử đang bị ngài khảo thí: “Thầy dạy như vậy con có hiểu rơ chưa?  Thầy sợ kết oán thù với con, vốn là muốn giúp con phá đi những thứ chấp trước này, nhưng nếu con không hiểu rơ được hết dụng ư, th́ sẽ kết thành oán thù với các con.  Tạo cảnh nghịch ra là để tập luyện cho các con mà thôi!”.

Tổ sư nói ba món tư lương cần có để văng sanh Tây Phương là ‘tín, nguyện, và hạnh’.  Nguyện là chán ghét muốn thoát ly cơi Sa Bà và ưa thích cơi Cực Lạc.   (Sa Bà là từ ‘tự tâm ác’ và ‘tâm uế’ (dơ) tạo ra, Cực Lạc là do ‘tự tâm thanh tịnh’ hiện ra).  Tuyết Công lăo ân sư cũng nhấn mạnh cái tâm ‘hân’ (ưa thích) và tâm ‘yếm’ (chán ghét) là pháp môn ‘tổng an tâm Tịnh độ’.  Phàm phu chúng ta trong cảnh thuận rất khó phát ra tâm chán ghét Sa Bà, bất đắc dĩ nên lăo ḥa thượng cho đến chư Phật Bồ Tát đều ‘ban’ cho chúng ta những cảnh nghịch, để cho chúng ta ‘dùng khổ làm thầy’, dũng mănh phát tâm chán ghét Sa Bà ưa thích Cực Lạc mà niệm Phật, liễu sanh thoát tử, dùng sự tinh tấn cần khổ trong đời này đổi lấy sự tự tại hạnh phúc vĩnh viễn; thật ra đây là ân huệ không có ǵ quư hơn mà các ngài ‘ban’ cho chúng ta.  Ngặt v́ chúng ta ưa thích những ‘ḿn nổ chậm được bao bọc đẹp đẽ bên ngoài’, theo đuổi sự khoái lạc và danh lợi nhất thời mà đánh mất sự an lạc vĩnh cửu.  Chư Phật Bồ Tát thường rơi lệ v́ những sự tổn thất lớn lao của chúng ta. 

Có lần lăo ḥa thượng nghiêm nghị nói:

Trong thế giới Sa Bà này, chỉ cần tham ái một ngọn cỏ th́ sẽ đi vào luân hồi trở lại

Cho nên mặc cho mọi người đối với ngài vô cùng cung kính cúng dường, ngài vẫn buông xả một cách rất là siêu thoát; ngôi chùa có một kiến trúc vô cùng hùng vĩ trên núi đối với ngài chỉ là ‘một công cụ dạy học nhất thời mà thôi’, ngài mượn những nhân duyên và cảnh giới này để giảng dạy cho những chúng sanh có duyên.  Những người buông xả hoàn toàn và thành thật niệm Phật văng sanh mới là đệ tử chân chánh của ngài.   Không lâu trước khi văng sanh, ngài cứ lập đi lập lại và nói:

Sự khổ nạn càng ngày càng nhiều, hăy tu mau lên, phải  tu mau mau; tu một phần được một phần công đức, tu một ngàn phần được một ngàn phần công đức, tu một vạn phần được một vạn phần công đức!”.  

Ngài rất nhẫn nại nhắc đi nhắc lại hoài, đây là sự khuyên nhủ vô cùng khẩn thiết; tin lời ngài nói th́ hăy thật thà niệm Phật, một môn thâm nhập không nên đổi tới đổi lui hoài !

Có một vị đạo hữu kể lại khi ông đi thăm và hỏi lăo ḥa thượng:

“Phải niệm Phật cách nào?”. 

Ngài nghe xong liền hỏi lại: “Ông niệm như thế nào?”.  

Ông trả lời: “Khi tôi rảnh rang th́ liền niệm Phật”. 

Lăo ḥa thượng đáp: “Ông ‘rảnh’ th́ niệm, không rảnh th́ không niệm, như vậy chắc ông có ‘quen biết lớn’ (điểm đầu chi giao) với Phật phải không?  Niệm như vậy th́ làm sao kỳ vọng Phật đến cứu ông trong giờ phút sanh tử.   Lại đây, mọi người đưa chân ra, chân nào là chân Phật?  Nhận ra chân của Phật không?  Nếu muốn ôm chân Phật, chân Phật là chân nào cũng không nhận ra, th́ làm sao ôm được.  Ông đích thật là có nhận biết được Phật không?” (ôm chân Phật nghĩa là cầu cứu đức Phật). 

Ngài nói như vậy là để thức tỉnh người ta.  Vị đạo hữu này kể tiếp, ngài hớp một ngụm trà rồi ngước đầu lên hỏi: “Ông thấy tôi có ‘xướng’ ra tiếng không?”.  Ông đáp: “Không có”.  Ngài hỏi: “Tôi niệm Phật ông biết không?”  Lăo ḥa thượng dạy một cách rất sống động và biểu diễn niệm Phật trong khi uống trà, ăn cơm, đi, đứng, nằm, ngồi, tất cả mọi thời đều phải niệm Phật.  Nửa đêm không vặn đèn khi nghe hai tiếng ho ‘ách x́’ th́ bạn biết là cha bạn đă về.  Như vậy lúc nửa đêm nếu đức Phật A Di Đà đến th́ bạn biết là Phật đến hay không?  Chúng ta hăy thử hỏi ḿnh đă niệm đến mức nhận biết Phật và cùng Phật rất quen thuộc hay không?  Lăo ḥa thượng đă niệm đến mức đó rồi.  Có một lần ngài nói với một vị bác sĩ đến thăm: “Tiếng chim hót, xe chạy, âm thanh tạp loạn đều là tiếng niệm Phật”.  Ông này hỏi ngài có thể niệm như vậy được bao lâu, ngài đáp: ‘trú dạ lục thời’ (nghĩa là 24 giờ mỗi ngày, bất kỳ lúc nào cũng niệm như vậy). 

Mười năm trước lăo ḥa thượng đă nói với đệ tử của ngài: “Tương lai lúc tôi văng sanh sẽ hiện ra tướng có bịnh” và c̣n nói ba người trong nhóm đệ tử của ngài sẽ không tiễn ngài ra đi (hiện diện lúc ngài ra đi).  Ba người đệ tử này đều không tin, tại v́ [họ nghĩ] một trong ba người thế nào cũng có một người luôn ở bên cạnh ngài.  Làm sao có thể nói là họ không thể ‘tiễn ngài ra đi’ được.  Quả nhiên lúc ngài ra đi v́ một lư do đặc biệt ǵ đó cả ba người tạm thời đi khỏi th́ ngài thiệt đă văng sanh rồi.

Trước lúc ra đi ngài khuyến khích đại chúng:

Thế giới Sa Bà rất khổ!  Đại chúng mau mau niệm Phật để đi về tây phương Cực Lạc thế giới”. 

Cuối cùng ngài nói: “Không đến, không đi, không có chuyện ǵ!” rồi an nhiên niệm Phật và văng sanh.  Thật là đẹp, thật là siêu phàm! 

Chúng ta th́ ngược lại: “Đến đến, đi đi, quá nhiều chuyện!”, không có ngày nào, không có giờ phút nào mà không có chuyện để lo lắng và bận tâm đến.  Chữ ‘sự t́nh’ (chuyện xấu) trong tiếng địa phương ở Đài Loan hàm ư không kiết tường, đúng như người ta thường nói:

Bất thị nhàn nhân nhàn bất đắc, nhàn nhân bất thị đẳng nhàn nhân’

(Nếu không phải người nhàn hạ th́ nhàn không được, người nhàn hạ không phải là người tầm thường). 

Trong tâm chúng ta nếu thiệt là không có ‘chuyện ǵ’ hết, thiệt là ‘nhàn hạ’ th́ phải cần công phu tập luyện chứ không phải dễ!

Khoảng một tuần trước lúc ngài văng sanh, cả ngày lẫn đêm ngài đều to tiếng niệm Phật, cách niệm của ngài là ‘dùng hết sức ḿnh rất thành khẩn mà niệm A Di Đà Phật’, không phải người nào cũng có thể niệm như vậy được.  Đại chúng luân phiên nhau niệm lớn tiếng theo ngài mà c̣n khan tiếng, đau ngực, chịu không nổi huống chi ngài đă 95 tuổi !  Đa số người ta lúc gần ra đi th́ hô hấp rất yếu ớt, không thể làm chủ được, c̣n ngài th́ mạnh như ‘tướng quân đột phá ṿng vây thoát ra khỏi ngũ trược ác thế’.  Mấy người đệ tử sợ ngài yếu sức chịu không nổi v́ cả tháng ngài đă không ăn ǵ hết nên nói:

“Để chúng con niệm, xin sư phụ đừng niệm, chỉ nghe theo mà thôi!”. 

Ngài mở to mắt ra nói một cách rất dứt khoát: “Mỗi người tự niệm cho ḿnh, sanh tử của ai th́ tự người đó đoạn dứt.” 

Nói xong liền lớn tiếng và thành khẩn mà niệm tiếp.  Vào ngày thứ sáu trong tuần đó, đột nhiên ngài ‘biểu diễn’ một màn kịch, tôi nghĩ thật là đáng để mọi người chiêm nghiệm.  Hôm đó đột nhiên ngài không khuyên mọi người niệm A Di Đà Phật như lúc trước mà lại ra lịnh cho đại chúng mau đem Đại Tạng Kinh ra tụng.  Đại Tạng Kinh quá dài ai cũng không biết bắt đầu từ đâu mà tụng nên hỏi lăo ḥa thượng phải tụng quyển nào? 

Ngài đáp: “Tổng tụng” (tụng hết). 

Đại chúng mới đem từ quyển Đại Tạng Kinh ra, nội việc khiêng ra cũng mệt đứt hơi, nh́n thấy ngài có vẻ rất quyết tâm văng sanh, mọi người vừa mệt, vừa gấp, mà vừa buồn.  Ngài nói: “Để coi quư vị biết quyển kinh nào, tất cả đều tụng cho tôi nghe!”  V́ thế cho nên đại chúng mới tụng từng bộ từng bộ: Tâm kinh, kinh Kim Cang, kinh Dược Sư, kinh Địa Tạng, … 

Lúc ở trong cửa ngơ sanh tử khẩn yếu này mới biết nội hai trăm mấy chữ trong Tâm kinh cũng tụng không mạch lạc; có thể nói miệng họ tụng nhưng tâm họ lại lo ra.  Lúc mọi người tụng kinh như vậy, ngài lại cười chúm chím mà tiếp tục niệm: “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, ….”  một tí ǵ cũng không bị ảnh hưởng bởi âm thanh đại chúng đang tụng kinh.  Nụ cười này của ngài thiệt là một cây gậy thật to đập vào đầu của mọi người!  Thử hỏi trong màn biểu diễn bất ngờ này có ai đă ‘tổng tụng’ Đại Tạng kinh không?  Duy chỉ có lăo ḥa thượng niệm niệm phân minh, rơ ràng, niệm niệm rất khẩn thiết mạnh mẽ niệm A Di Đà Phật, đây mới là ‘tổng tụng’ Đại Tạng kinh!

Xin quư vị đừng nghi hoặc tại sao lăo ḥa thượng lại thay đổi tiết mục bất ngờ như vậy.  Ngài thường dùng phương pháp ‘phản diện’ rất khéo léo để làm cho mọi người tỉnh giác và c̣n làm cho mọi người ghi nhớ vào xương vào tuỷ; ư nghĩa rốt ráo của sự tu hành là phải ‘thực hành’,  không phải chỉ nghe rồi bỏ qua; trong trường Y khoa bàn luận chuyện chữa bịnh trên sách vở hiển nhiên rất khác với chuyện gặp lúc bệnh nhân máu chảy đầm đ́a!  Có lẽ các bạn sẽ nghĩ sự thị hiện của lăo ḥa thượng rất giống cách nói của Tuyết Công lăo ân sư:

Sáu chữ hồng danh bao gồm hết tinh hoa của tất cả vạn pháp’. 

Phần đông người ta khi lâm chung rất khổ sở, chỉ bốn chữ ‘A Di Đà Phật’ cũng niệm không được, huống ǵ là tụng kinh, mà c̣n tụng Đại Tạng kinh nữa!  Chúng ta hăy nghe theo lời dạy bảo và hăy ‘lăo thật niệm Phật, đừng thay đổi đề mục’ nữa.  Đừng lâm vào t́nh trạng ‘luyện hết mười tám thứ vơ nghệ, đến lúc khổ đau quá không biết phải dùng thứ nào’.  Mỗi ngày thay đổi đề mục h́nh như có vẻ học rộng biết nhiều và h́nh như cũng kết rất nhiều duyên với Phật và Bồ Tát.  Đến lúc cần thiết th́ tâm rối nùi như tơ, không biết phải niệm vị nào mới được.  Thiệt ra trong kinh A Di Đà có nói: ‘Sáu phương Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài tán thán A Di Đà Phật, khuyên chúng sanh tín thọ cầu sanh Tây phương’.  Đây là nói rơ chúng ta niệm Phật A Di Đà th́ tất cả chư Phật đều vui vẻ tán thán, đây chính là ‘tổng tụng’ vậy!

Hai ngày trước lúc văng sanh, lăo ḥa thượng đích thân gơ mơ và kêu đệ tử niệm Phật, trong đó có nhiều chuyện rất thú vị.  Ngài đem câu ‘Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới’ niệm ráp vào danh hiệu của các vị Phật và Bồ Tát.  Thí dụ như Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Phổ Hiền Bồ Tát , Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Di Lặc Bồ Tát ….Tôi hiểu ư của ngài là ‘có thể gặp tất cả những vị Bồ Tát này ở thế giới Cực Lạc’, chỉ cần chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sanh tây phương th́ có thể sánh bước cùng họ khi đến tây phương!  

Một hôm tôi cùng một bác sĩ lên núi để thỉnh giáo ngài.  Ông bác sĩ này hỏi: “Làm thế nào tĩnh tọa mới có thể đả thông huyết mạch?”.  Ngài đáp: “Không cần phải đả thông huyết mạch, nhất tâm niệm Phật chứng đến Niệm Phật Tam Muội th́ tất cả huyết mạch tự nhiên đều thông!”; đây là lời dạy của người đă giác ngộ và đă được đại tự tại; chúng ta hiểu được th́ không cần phải phí sức tốn công đi t́m kiếm vô ích.  Mau sớm chuẩn bị tư lương như ngài đă nói:

“Tôi đă mua vé xe rồi! Đă xác nhận ghế ngồi rồi! 

Quư vị có phải đă mua vé rồi hay chưa? 

Đă xác nhận ghế rồi chưa? 

Hay là không cần xác nhận chỗ ngồi? 

Hay là không chịu lên xe? ”

Phải nên mua vé sớm th́ hơn, đừng làm giống tôi sau khi ngài văng sanh lên núi niệm Phật, niệm hết mấy giờ đồng hồ, nước mắt cứ chảy hoài, không thể nào niệm Phật được đàng hoàng để cúng dường lăo ḥa thượng; cúi đầu không dám ngước lên, tại v́ không làm theo đúng lời dạy và lời dặn ḍ của ngài, xấu hổ và sám hối đều đau khổ; xin nguyện cho các bạn đều sớm mua vé thượng hạng ở toa thứ nhất, lên đài sen vàng ở thượng phẩm thượng sanh!

Tiếp theo đây chúng ta hăy xem Tuyết Công lăo ân sư (lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam) là một vị đại đức đương thời, 97 tuổi mới văng sanh.  Ở đây tại sao phải nhắc đến tuổi lúc ngài văng sanh?  V́ đoạn trước có nói những người mắc bịnh mới ba mươi mấy tuổi đă chết, người nhà c̣n than là mạng sống (đau khổ) kéo quá dài.  Nhưng như lăo ḥa thượng 95 tuổi, và thầy Lư 97 tuổi văng sanh, mọi người đều than là quá ngắn, ai cũng khóc lóc đ̣i các ngài ở lại trụ thế măi măi để phổ độ chúng sanh.  Tôi đi nghe kinh cũng là v́ cảm kích thầy Lư.  Mười năm trước tôi có cơ hội đến nghe thầy giảng kinh Hoa Nghiêm ở Thư viện Từ Quang, Đài Trung.  V́ thầy có giọng nói của người miền Sơn Đông (rất khó nghe) tuy là có phiên dịch qua tiếng Đài Loan, nhưng tiếng Đài Loan (tiếng Phước Kiến) tôi cũng không thạo, chủ yếu là v́ tŕnh độ quá kém nên nghe cũng không hiểu, cảm thấy thời gian kéo quá dài và không thích thú.  Thấy mọi người chung quanh nghe kinh và thường cười rộ lên mà ḿnh không biết ǵ hết.  Lâu lâu chỉ nghe được một câu có cảm giác quen quen h́nh như đă nghe ở đâu rồi nhưng cũng không hiểu. 

Mấy hôm trước nửa đêm nằm mộng thấy trăng sáng trên núi, tự nhiên nhớ lại lời giảng của thầy mười năm trước.  Lúc đó thầy giảng kinh Hoa Nghiêm đến đoạn ‘Vô tận tạng’, thầy có nhắc đến mấy câu trong bài Xích Bích Phú của Tô Đông Pha:       ‘Duy giang thượng chi thanh phong   

Dữ sơn gian chi minh nguyệt,             

Nhĩ đắc chi nhi vi thanh,                     

Mục ngộ chi nhi thành sắc...               

Thị tạo vật giả chi vô tận tạng dă’       

Có một người [không rơ tên] đă dịch như vầy:

“Bui gió mát trên sông dài,

Trăng sáng chiếu non thẳm,

Tiếng thoảng qua tai,

Cảnh in vào mắt …

Ḱa kho vô tận của hóa công!”

Thầy giải thích chữ ‘vô tận tạng’ trong bài thơ này là lấy từ kinh Phật.  Nửa đêm nằm mơ nhớ lại chuyện này rồi bị điện thoại reo giựt ḿnh, tỉnh dậy không thấy rừng núi trăng sáng ǵ cả, chỉ thấy bịnh nhân khó chịu nên mấy cô y tá kêu đi khám bịnh.  Sau cơn mộng này mới càng hối hận, lúc đó tôi đi nghe kinh không hiểu nên cứ nghĩ là thầy giảng không hay; thật ra là v́ tŕnh độ của ḿnh quá kém (thiệt ra là không có tŕnh độ ǵ cả!), cho nên mới chê là thầy giảng không hay và không tiếp tục nghe cả mười năm rồi, xém chút xíu th́ làm hỏng pháp thân huệ mạng của ḿnh!  Cách một thời gian sau đó thầy không ra giảng kinh; khi tôi tham gia ‘Trai Giới Học Hội’ chịu ảnh hưởng rất lớn của Pháp sư Sám Vân, nên có thể nói Trai Giới Học Hội đă chuyển biến cả đời tôi.  Trong thời công phu tối pháp sư đọc bài hồi hướng cho lăo ḥa thượng Quảng Khâm và lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam làm cho tôi có ấn tượng rất sâu đậm, nên một hôm có cơ duyên đặc biệt tôi liền theo mấy vị liên hữu đi nghe giảng kinh. 

Hôm đó chân thầy Lư sưng lên đến nỗi đi đứng không vững nên người ta phải dùng kiệu để khiêng thầy lên bục giảng.  Phật pháp thiệt quá quan trọng và người hoằng pháp thiệt là vĩ đại, chân sưng lên đi không được mà vẫn tiếp tục giảng kinh thuyết pháp.  Buổi giảng hôm đó tôi khóc từ đầu đến cuối; bài giảng ghi lại nghuệch ngoạc, nét chữ xem không rơ, đến nay cũng không nhớ nội dung là giảng về đề tài ǵ, nhưng ḷng từ bi vô lượng của thầy Lư đă làm chấn động tâm tôi một cách mănh liệt, tôi cảm động tinh thần ‘v́ pháp quên ḿnh’ của thầy, nếu không có ḷng nhiệt thành hoằng pháp của thầy th́ không có cách nào cứu nổi cái tâm ngoan cố ngu si của tôi, kể từ đó tôi dọn nhà về Đài Trung để nghe giảng cho thuận tiện.

Mỗi đầu tháng khi bịnh viện sắp xếp thời khoá biểu làm việc tôi luôn luôn yêu cầu sắp xếp tránh thời gian đi nghe giảng; tôi thà chịu liên tục làm suốt mấy ngày liền và thà chịu mệt chứ không chịu bỏ qua những buổi giảng của thầy.  Tại v́ ‘Thân người khó được, đây là một nhân duyên rất hiếm có; Phật pháp khó nghe được, cơ hội rất khó gặp trong lũy kiếp; nếu lỡ bỏ qua, thiệt không ai có thể bù đắp sự tổn thất này!”

 Mỗi ngày bịnh nhân của tôi đều than thở khóc lóc để nhắc tôi tầm mức quan trọng của chuyện này; không phải không có người khuyên tôi: “Cô nên ăn uống có dinh dưỡng một chút, uốn tóc đẹp một chút, mặc áo đẹp một chút”;  nhưng tôi thể hội được một cách rất sâu sắc rằng trong giờ phút khẩn cấp của sự sanh tử trong đời người, những thứ này đều không cần thiết tí nào!  Phải nên thấy rơ, hiểu thấu, nghe kinh, thực hành theo để chuyển hóa đời sống th́ có ích lợi hơn.  Cho nên mặc dù giọng nói miền Sơn Đông của thầy rất khó nghe, nhưng nghe hiểu được câu nào th́ trân quư câu đó, thật là cơ hội hiếm hoi ngàn đời khó gặp!  Huống chi là lời phiên dịch qua tiếng thổ ngữ Đài Loan của bác Giản rất rơ ràng và lưu loát, giúp đỡ rất nhiều; nếu c̣n chỗ nào không hiểu th́ tôi đến Đài Trung để cung kính nghe những vị trưởng thượng trong Liên Xă giảng lại.  Khi nghe lại mới biết là các đạo hữu rất chăm học, tư duy thâm nhập [giáo lư] mà lại c̣n nỗ lực đi thực hành, ai cũng cảm nhận sự giáo huấn và đức hạnh của thầy chiêu cảm. 

Vào mỗi ngày thứ tư rất nhiều người từ khắp nơi như Đài Bắc, Đài Nam, và Cao Hùng lũ lượt về đến Đài Trung để nghe giảng, cả một giải liễu châu, lục châu, tôi gặp rất nhiều người tay cầm xâu chuỗi, mặc áo đà, thật là một cảnh tượng rất ôn nhu, đẹp đẽ, thanh lương trong thế giới Sa Bà …  Tôi c̣n nhớ rơ ràng buổi giảng cuối cùng của thầy, thầy dùng tấm ḷng bi nguyện rộng lớn, từ câu, từ câu khuyến khích mọi người phải luôn ‘tịnh niệm tiếp nối’; đây là lời trong Chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông; nhiều người cảm động quá không cầm được nước mắt.

Thầy rán hết sức trong mấy hơi cuối cùng để khuyên mọi người:

‘tịnh niệm tiếp nối’ là điều quan trọng trong sự tu niệm;

  Chúng ta có thiết thật làm được chuyện này hay chưa?  Trong kinh Phật thường bắt đầu bằng câu: “Tôi nghe như thế này”.  Trên bề ngoài chúng ta đều có ‘nhĩ văn’ (tai nghe) nhưng câu cuối cùng “hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ” (vui vẻ tin nhận, lễ lạy rồi lui ra) th́ có mấy người làm được?  Y theo lời của Ngẫu Ích Tổ sư, thân tâm vui mừng th́ gọi là ‘hoan hỷ’, không có nghi ngờ ǵ hết th́ gọi là ‘tín’, nhận chịu không quên th́ gọi là ‘thọ’; cảm đại ân đức quy mạng lạy xuống th́ gọi là ‘tác lễ’; y theo lời dạy mà tu tŕ không lùi bước th́ gọi là ‘nhi khứ’.  Chúng ta có thiệt là ‘y giáo tu tŕ, nhất văng bất thoái’ không? 

Nghĩ đến đây th́ rất xấu hổ, mọi người thử xem th́ biết, tôi tự biết vọng tưởng của ḿnh có sức mạnh giống như thạch nham từ trong núi lửa trào ra, c̣n tịnh niệm th́ yếu ớt như xách một thùng nước nhỏ mà đi chữa lửa.  Muốn thay đổi thế lực của hai thứ này (vọng niệm và tịnh niệm) th́ phải ra sức khổ công; nếu không như vậy th́ lúc thân thể khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, tự ḿnh c̣n không làm chủ ḿnh được, tự ḿnh c̣n không biết tâm niệm kế tiếp là tâm niệm ǵ th́ lúc lâm chung c̣n tệ hại hơn nữa!

          Thầy dạy chúng ta:

Niệm Phật không nên cầu niệm nhiều, niệm một trăm lẻ tám hột chuỗi tâm không loạn, trong đó nếu có một niệm loạn, quay xâu chuỗi niệm từ đầu trở lại”. 

Tôi luyện tập qua một thời gian, chỉ có ba hột đầu tiên trong xâu chuỗi là có màu đen thôi!  Không biết trong ba niệm này có xen tạp không nữa; khi niệm một vạn, hai vạn, cho đến có lúc niệm sáu vạn, bảy vạn danh hiệu th́ cũng rất khó t́m ra được ‘trăm lẻ tám tịnh niệm tiếp nối’.  Cái tâm này thiệt loạn đến mức quá nguy hiểm rồi, nguy hiểm nhưng tự ḿnh không biết, làm sao không sớm nỗ lực gia công thêm được!  Chúng ta hăy nh́n thầy một lần nữa và đem lời dạy này nhớ kỹ trong ḷng.  Ánh mắt kiên nghị của thầy, ánh mắt nh́n về Tây phương thanh tịnh, nh́n về hư không vô tận, và cũng nh́n chúng sanh khổ nạn vô biên.  Thầy dạy chúng ta:

Tận hư không biến khắp pháp giới đều là thân của đức Phật A Di Đà.  Chúng ta nằm trong ḷng của đức Phật A Di Đà cho nên Phật lại tiếp dẫn chúng ta rất dễ dàng.   Điều này cũng như cái bàn ở trước mặt chúng ta, có con kiến đi từ bên đây qua đến bên kia bàn, nếu ḅ theo đường thẳng th́ cũng phải ḅ hết một thời gian rất dài.  Cũng như Phật A Di Đà, chúng ta  có thể đem con kiến từ bên này qua đến bên kia, cũng có thể đem ngược lại; chúng ta  đi và lại đă nhiều lần rồi mà con kiến cũng chưa đi đến bờ bên kia.  Chúng ta niệm Phật khi đến mức có cảm ứng, đức Phật đến tiếp dẫn th́ cũng như vậy.   Làm sao mới cùng đức Phật A Di Đà có cảm ứng?  Phải đem ngũ dục lục trần buông xuống; phàm những ai niệm Phật không có cảm ứng đều tại v́ các thứ này trói buộc.” 

Nguyện cho chúng ta có thể thật thà làm theo lời dạy của ngài trong đời sống, có thể làm giống như thầy, có thể biết trước ngày giờ văng sanh, quảng độ chúng sanh, viên măn bồ đề nguyện.

          Có thể có người sẽ nói: rất khó có cơ hội gặp được những người giống như lăo ḥa thượng Quảng Khâm hoặc là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam.  Phàm phu như chúng ta phải làm sao?  Xin quư vị xem xá lợi của lăo cư sĩ Lại Tạ Diệu ở Viên Lâm, có năm màu trong suốt lấp lánh giống như lưu ly, mă năo, ngọc đẹp…  Bác Diệu từ khi tin Phật đến nay rất siêng năng, mỗi ngày thức dậy đều mặc áo hải thanh (áo tràng), mở cửa nghinh đón chư Phật Bồ Tát , ngày ngày thật thà niệm Phật, làm người rất từ bi, ít nói, bà cũng đă niệm đến lúc dự biết trước ngày giờ văng sanh.  Bà nhờ liên hữu trợ niệm giúp, liên hữu nói mùa hè trợ niệm rất là khó chịu.  Bà nói:

“Không sao đâu, tôi sẽ lựa một ngày mát mẻ mà văng sanh!”.  

Quư vị xem bà có thể ‘lựa chọn ngày mát mẻ để văng sanh’, thiệt là thong dong tự tại biết bao. Đến lúc cuối, mọi người trợ niệm giúp bà, bà không thể niệm ra tiếng, nhưng tay có thể gơ vào giường để ḥa vào tiếng niệm Phật của mọi người, chánh niệm phân minh mà về Tây.  Hỏa táng xong có rất nhiều xá lợi năm màu đẹp như vậy, làm tăng thêm ḷng tin cho những người đi sau!  Thường ngày bà sinh sống rất đạm bạc, không cần mua châu báu mà dùng ḷng tin tha thiết và từng tiếng A Di Đà Phật tích tụ lại những châu báu trang nghiêm tự ḿnh sẵn có.  V́ mỗi khi chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật th́ liền đem vô lượng công đức của Phật gom về làm công đức của ḿnh.  Tín nguyện tŕ danh, tŕ một câu, một câu không thể nghĩ bàn, tŕ trăm câu, ngàn câu, vạn câu danh hiệu, câu nào cũng không thể nghĩ bàn!

   Người xưa có câu: ‘Thuấn hà nhân dă, Vũ hà nhân dă, hữu vi giả diệc nhược thị’ (Thuấn là người nào, Vũ là người nào, họ làm được ḿnh cũng làm được!  Đại ư: Vua Nghiêu Thuấn, Vua Đại Vũ là những ông vua nổi tiếng nhân từ hiếu thảo, tôi cũng là một người, nếu tôi rán hết sức th́ có thể làm giống vua Thuấn, vua Vũ).  Một bà lăo có thể làm được như vậy, chúng ta tại sao không thể nh́n mà bắt chước theo?  Thiệt ra chúng ta có chỗ nào là thông minh hơn [hay thua] bà lăo này không?  Đạo lư của pháp môn Tịnh độ vô cùng thâm diệu, muốn chân chánh đảm đương triệt để th́ chỉ có các vị tổ sư như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả, và Vĩnh Minh; nếu chúng ta dùng vọng tưởng để đo lường th́ càng suy nghĩ càng sai lầm, ngược lại không bằng bà lăo thật thà niệm Phật và có thể từ từ thâm nhập vào Phật trí, âm thầm phù hợp với đạo lư thâm diệu!

Có thể sẽ có người hỏi: niệm danh hiệu A Di Đà Phật có hiệu lực lớn như vậy sao?  Đúng vậy.  Hăy khoan nói công đức vô lượng của danh hiệu đức Phật, trước hết hăy dùng một tên thông thường làm thí dụ: thí dụ như tên ‘quưt’ (hay cam).  Có một bác nông phu muốn trồng quưt để đến mùa thu [đem ra chợ bán và] có người sẽ thưởng thức được mùi vị ngọt ngào giải khát của quưt.  Từ khi gieo hạt giống, vun bới, bón phân, tốn rất nhiều công sức, cây quưt này trải qua những trận mưa mùa xuân và ánh nắng gay gắt mùa hè, trải qua những cơn băo tố, từ đất đen nở ra cây trái vàng óng ánh, toả ra hương thơm ngát, trải qua thời gian rất dài và tốn nhiều công sức, thật không phải dễ. 

Cây quưt có sự liên quan vô cùng mật thiết với cả thế giới này, rễ quưt bám sâu vào ḷng đất, cây quưt hít thở bầu không khí rộng lớn và ḥa vào không khí mà chúng ta hít thở hàng ngày, và cùng thọ nhận nguồn ánh sáng mặt trời vô tư.  Anh nông phu cần phải dựa vào sức lao lực và hoa trái của những người khác để duy tŕ đời sống; anh phải mặc áo và khi bị bịnh phải đi khám bác sĩ.  Cây quưt này có một lai lịch thật là phức tạp nhưng khi người mẹ hỏi con: “Con muốn ăn ǵ?”  Bạn chỉ trả lời: “quưt” th́ liền ăn được trái quưt vô cùng ngọt ngào này, hưởng thụ được thành quả mà người nông phu phải ra sức vun bồi mới có được.

Không phải vậy sao?  Trái quưt b́nh thường đă vậy, huống chi là câu vạn đức hồng danh ‘A Di Đà Phật’.  Quá tŕnh thành Phật đ̣i hỏi bao nhiêu sự khó khăn gian khổ, đ̣i hỏi bi nguyện rộng lớn chấn động đến trời đất, thêm vào sức nhẫn nại nỗ lực qua nhiều kiếp mới thành tựu được Phật quả không thể nghĩ bàn.  Niệm danh hiệu th́ cũng như nếm trái quưt; hưởng thụ được những mùi thơm ngọt của nó; trong danh hiệu ‘A Di Đà Phật’ này, đức Phật ban cho chúng ta hạnh phúc vô lượng vô biên, ban cho chúng ta thành quả gặt hái được từ tất cả công phu tu hành của ngài.  Có người hấp tấp nuốt liền và cũng có người từ từ thưởng thức hương vị; mỗi người nếm được mùi vị khác nhau, nhưng ai cũng được đă khát. 

Danh hiệu ‘A Di Đà Phật’ chứa đựng tất cả sự trang nghiêm, tốt đẹp, tự tại, thong dong của Cực Lạc thế giới; tất cả đều có sẵn nhưng chỉ có người có tín nguyện thành khẩn mới có thể tiếp nhận được.  Giả sử bạn nhất định không chịu tin rằng ‘nói ‘quưt’ th́ má bạn sẽ cho bạn ăn trái quưt’, mà nhất định phải tự ḿnh đi gieo hột giống để trồng cây quưt.  Như vậy th́ cũng được nhưng sợ cây quưt chưa lớn th́ bạn đă khát quá và chết đi rồi, hoặc là bị rắn trong vườn cắn bị thương. 

Như tôi không biết trồng cây, mạng sống lại rất ngắn ngủi nên thích nói chữ ‘quưt’ để má cho ăn và liền có thể nếm được mùi vị ngon ngọt của trái quưt, liền hấp thụ được mùi vị ngọt ngào dinh dưỡng của trái quưt, và cũng cám ơn sự cần khổ của anh nông phu, tin tưởng vào nguyện và hành của anh nông phu đă thành tựu, tin vào lời má nói, rất đơn giản và dễ dàng.  Ăn xong trái quưt th́ có sức lực để đi khám bịnh, phục vụ xă hội, như vậy th́ quá tốt!  Giả sử tin không được nên phải từ sáng bận rộn cho đến tối làm việc [trồng trọt] để kiếm ăn, đây là cả một vấn đề khó khăn. 

Chúng ta ở trong đời trược ác này lâu quá  nên rất khó có thể tin những chuyện tốt hoặc tin chân lư.  Nếu có người nói với chúng ta bên đường phía đông có một băng đảng tên là Kim Quang, họ chuyên môn lập kế để gạt tiền người khác.  Chúng ta sẽ tin liền, sợ họ và không dám đi về phía đông.  Nhưng nếu nói với chúng ta Tây phương thế giới có đức Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, và Đại Thế Chí Bồ Tát thường phóng hào quang và từ bi  cứu giúp chúng sanh, giúp cho họ thoát ly khổ nạn, và hưởng an lạc vĩnh viễn.  Chúng ta ngược lại sẽ hoài nghi cho đến chết cũng không tin.  Tại sao đều là nh́n không thấy mà chúng ta lại tin là có băng đảng Kim Quang và sợ không dám đi về phía đông.   Chúng ta tại sao không tin Phật Bồ Tát từ bi và có vô lượng hào quang trí huệ, không hoan hỷ tin tưởng để có thể đi về phương tây?  Tâm của chúng ta trầm luân đến nỗi chỉ tin ác chứ không tin thiện, chỉ tin giả chứ không tin thật?  Tôi cũng tin người trong băng đảng Kim Quang đều có Phật tánh, nếu chuyển ư niệm và niệm A Di Đà Phật th́ cũng sẽ thành Phật.  Đức Phật A Di Đà từ bi sẽ không bao giờ bỏ rơi họ.  Tôi cũng tin Kim Quang đảng trong nội tâm của tôi: tham, sân, si có một ngày nào đó cũng sẽ phóng hào quang như đức Phật A Di Đà.

Tôi xin giới thiệu thêm chuyện của bác Phan Tạ Ánh Mai.  Vốn là một đêm trước tết, khi tôi mở cửa pḥng khám bịnh chuẩn bị đi về th́ nh́n thấy một người trẻ tuổi nói là họ từ Mỹ về thăm bà má vợ (chồng) bị đụng xe.  Bà này đă dặn ḍ chuyện ra đi của bà từ một năm trước, bà dặn khi bà qua đời th́ kêu họ mời ngài Sám Công và các vị bạn sen trong liên xă trợ niệm cho bà.  V́ họ kêu điện thoại đến chùa Liên Nhân không gặp thầy và có người kêu họ lại kiếm tôi để nhờ giúp đỡ.   Tôi nghe nói bà đă thọ giới Bồ Tát, rất siêng năng niệm Phật, và đă dặn ḍ con cái không được di động thân thể của bà sau khi bà lâm chung, không cho con cái khóc lóc, và phải niệm Phật trợ giúp bà.  Tôi nghĩ: “Bà siêng năng tu hành như vậy mà c̣n gặp phải tai nạn đụng xe, huống chi là người như tôi” nên mau mau đi trợ niệm giúp bà, phải làm cho bà được măn nguyện, giúp bà văng sanh. 

Khi tôi đến bịnh viện th́ gặp con bà đang nói chuyện điện thoại bàn bạc về hậu sự.  Tôi cảm nhận được sự khổ của tất cả chúng sanh đang trôi lăn trong ṿng sanh, lăo, bịnh, tử.  Bà nằm trong pḥng cấp cứu hôn mê đă mấy ngày không tỉnh.  Nhưng đến khi niệm Phật cho bà th́ bà chảy nước mắt.  Đêm đó các bạn ở liên xă chưa ăn cơm xong vừa nghe liền nhiệt tâm đến giúp chồng bà chuẩn bị và giải thích rơ về việc trợ niệm.  Con bà rất hiếu thảo, muốn làm cho bà được măn nguyện và văng sanh tây phương; họ đem các h́nh gia đ́nh họ hàng đang treo trên tường đem cất để cho bà khỏi động tâm lưu luyến thế giới Sa bà này.  Bà ra đi ngay đêm giao thừa; có ba bốn mươi người bạn trong liên xă đến để trợ niệm mà trước đó không có người nào quen biết bà. 

Tôi rất xúc động khi thấy tờ giấy viết bài phát nguyện (bài kệ phát nguyện trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện) đă nhuốm vàng bởi khói nhang.  Con bà nói trước đó bà thường đi trợ niệm và có viết sẵn tên của những người quen có thể đến trợ niệm cho bà.  Nhưng gặp ngay đêm giao thừa có một số đi về quê, một số khác th́ bận việc nên không đến được.  Con bà rất lo không có ai đến, nhưng không ngờ lại có nhiều người không quen biết nhiệt tâm đến để trợ niệm cho bà.  Thiệt là nhân quả không sai, người niệm Phật chỉ cần tu nhân, ‘nhân’ đúng th́ ‘quả’ chắc chắn sẽ đúng.

Người Á đông vốn rất kỵ chuyện tang lễ vào dịp tết, nhất là vào đêm giao thừa, nhưng Phật tử th́ không màng đến chuyện này, chúng ta chỉ hy vọng có thêm một người văng sanh thành Phật th́ có thể độ được vô lượng chúng sanh; chúng ta chỉ sợ người trong gia đ́nh trong lúc buồn rầu làm cho họ mất đi ‘tín’ và ‘nguyện’.  Sau khi hỏa táng bà để lại vài viên xá lợi màu xanh, vàng, và trắng.   Chồng bà rất cảm động; trước đó ông thường phàn nàn: “Tôi nghèo như vầy cũng v́ bà bố thí hết trơn và không nấu thịt cá cho tôi ăn!” (từ điểm này có thể biết được bà là người như thế nào).  Ông nói tiếp: “Mỗi khi tôi ngồi coi truyền h́nh, bà đều ngồi xếp bằng, dùng gốc cây nhang để tính số niệm Phật; nhiều lúc tôi trách bà nhưng không ngờ là bà đă tu thành công!”.  Tôi cảm thấy một việc rất không thể nghĩ bàn là xâu chuỗi của bà làm bằng hột ‘Tinh Nguyệt Bồ Đề’, sau khi hỏa thiêu xong c̣n lại hai hột y nguyên không bị cháy hết.  Con trai, con gái, và con rể bà đều là tiến sĩ ở Mỹ, đối với việc này cũng nói là không thể tưởng tượng nổi.  Thật thà niệm Phật, công phu đắc lực th́ sẽ thành công; nhân quả tơ hào chẳng sai.  

Hồi xưa có một đệ tử hỏi Phật: “Nếu gặp chuyện bất trắc mà chết đi bất ngờ th́ có thể văng sanh được không?”   Phật thí dụ: “Nếu có một cây mọc nghiêng về phía đông, nếu bị gẫy th́ cũng sẽ ngă về hướng đông”.   Chúng ta niệm Phật cũng như cây mọc nghiêng về hướng tây, mỗi ngày đều hướng về tây mà lớn thêm, nếu bị gẫy th́ cũng sẽ ngă về hướng tây.  Chúng ta phải tự hỏi ḿnh có nghiêng về hướng tây không? (chỉ sợ là không có!).  Cái tâm của ḿnh thường thường đều hướng về bốn phương tám hướng nhảy tùm lum, và không nhất tâm hướng thẳng về tây.  Hai mươi bốn giờ trong ngày, thời gian thiệt thà niệm Phật cũng không quá năm phút; nếu người siêng năng hơn một chút th́ một ngày niệm được vài giờ, trong đó cũng không biết có bao nhiêu câu niệm được đàng hoàng (không xen tạp và không gián đoạn).  Cho nên cây này đúng là mọc tùm lum, nếu bị gẫy bất ngờ rồi ngă về hướng nào th́ rất khó mà biết trước được.

Trong nhật kư bà đă viết sẵn di chúc dặn con cháu phải lo chuyện lâm chung như thế nào, đến sau này th́ con bà mới t́m ra.  Cũng may là hậu sự cũng được làm giống theo ư muốn của bà.  Có một đoạn trong nhật kư làm cho tôi có ấn tượng rất sâu.  Bà có một người con từng làm khoa trưởng ở đại học Phùng Giáp bị tai nạn xe đă qua đời.  Lúc đó bà chưa học Phật và cảm biết được sự đau khổ trong đời người, bà viết: “Hôm nay là ngày vĩnh biệt con tôi và là ngày đau khổ nhất trong đời tôi”.  Một người mẹ nhận chịu sự đau khổ của người ‘tóc trắng tiễn đưa người tóc đen’ thật là chua xót biết bao.  Một người không tầm thường sẽ không vùi đầu vào sự đau khổ và tối ngày than vắn thở dài.  Người đó sẽ từ những sự khổ: ‘sanh, lăo, bịnh, tử, thương xa ĺa, ghét gặp mặt, năm ấm hừng hực (ngũ ấm xí thạnh)’ giác ngộ trở lại và bước theo gót chân của những thánh nhân hồi xưa.  Chúng ta hăy cùng nhau hướng về pháp hội Di Đà vĩnh hằng vô tận, hướng về Liên Tŕ Hải Hội thanh tịnh, hoan hỷ, sáng lạng, tràn ngập tiếng cười.   Ấn Quang đại sư đă từng nói:

Ưng đương phát nguyện nguyện văng sanh.

Khách lộ khê sơn nhậm bỉ luyến

Tự thị bất quy, quy tiện đắc

Cố hương phong nguyệt hữu thùy tranh

Tạm dịch:

Văng sanh phát nguyện đi thôi,

Suối non đất khách mặc người quẩn quanh,

Quê nhà chẳng chịu về nhanh,

Hễ về ắt được, ai giành gió trăng?

Chúng ta đừng đi lang thang nữa.  Hăy học theo thế giới nội tâm của Hoằng Nhất đại sư: “Hoa chi xuân măn, thiên tâm nguyệt viên”; hăy niệm Phật cho đàng hoàng.  Pháp môn niệm Phật là một pháp môn đặc biệt nhất trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của đức Phật Thích Ca, pháp môn này dễ thành công nhất.  Mỗi ngày niệm đến khi vô cùng thành khẩn th́ giống như hồi nhỏ trẻ em thường ca:

“Xe lửa mau bay, xe lửa mau bay, bay qua núi cao, bay qua khe suối …”

Lúc niệm Phật trong tâm càng trải qua nhiều sự khó khăn th́ cũng như xuyên qua núi cao, băng qua khe suối.  Và cũng giống như lời ca: “Mẹ hiền trông thấy thiệt là vui mừng”.  Cha mẹ từ bi vô tận vô biên của chúng ta, đức Phật A Di Đà đă dang tay ra từ lâu rồi, rất lâu rồi, khi nh́n thấy chúng ta quay trở về nhà th́ vui mừng biết bao!  Nghĩ đến “Bồ Tát đón mừng, Di Đà đợi ở ngưỡng cửa” tiếng vang dội từ xa truyền lại th́ làm sao không bước mau lên….

Quay đầu nh́n lại tất cả những h́nh ảnh sanh tử bên bờ sông Hằng chúng ta giống như những người đang vùng vẫy sắp chết, chư Phật Bồ Tát từ bi nhảy vào ḍng nước sanh tử tràn đầy đau khổ và dạy chúng ta dùng một câu “ A Di Đà Phật” để chứng đến bản tánh bổn vô sanh diệt của chúng ta, đem gịng nước ác trược dơ bẩn này biến thành con sông thanh tịnh thánh thiện; đem lợn sóng cay đắng này biến thành những mùi thơm ngọt ngào. 

‘Không nỡ để chúng sanh khổ, không nỡ để thánh giáo suy’.  Nguyện cho chúng ta phát ra tâm từ bi, thường làm theo đại nguyện của đức Phật A Di Đà mà cứu giúp tất cả chúng sanh, nguyện chúng sanh đều sanh đến Liên Tŕ Hải Hội trang nghiêm, cùng nhau thưởng thức mưa Mạn Đà La hoa….

Xin quư vị thứ lỗi, tôi thường không có nội dung tốt đẹp ǵ để cúng dường cho quư vị, chỉ kể một vài câu chuyện thê thảm cho quư vị nghe, không muốn quư vị ghi nhớ những huyết lệ trong đó, chỉ nguyện cho quư vị trên con đường đời sớm giác ngộ.  Chúng ta phải làm ‘ngựa hạng nhất’ không cần phải đợi những sự đau khổ này đến kề bên người rồi mới chạy.  Ngựa hạng nhất là vừa thấy bóng dáng của cây roi phất ngựa là chạy liền.  Thấy người khác khổ, biết được đời sống có chuyện khổ như vậy, đừng chờ đợi nữa, hăy mau tu hành!  Ngựa hạng nh́ là đợi đến khi roi đánh tới ḿnh rồi mới chạy;  ngựa hạng ba là đợi đến lúc bị đánh tróc da chảy máu rồi mới chạy.  Ngựa hạng tư là cho dù trầy da tróc vảy, đau đến xương tủy cũng không biết chạy.  Có thể cũng có ngựa hạng năm là chết rồi cũng không sợ, loại này làm cho Bồ Tát phải rơi nước mắt!

Buổi diễn giảng hôm nay vốn là có đạo hữu đề nghị tôi đừng giảng hoặc là mời thầy khác giảng dùm.  (Ở đây thuận tiện nên báo cáo cùng quư vị đạo hữu luôn) V́ cũng như đă nói ở phía trước, chúng ta đều ở trong ḍng sông sanh tử, những h́nh ảnh mà chúng ta thấy được trên sông Hằng đều là h́nh bóng của chính ḿnh.  Tôi cùng tất cả bịnh nhân đều giống nhau, đều bị bịnh ung thư, bây giờ đúng lúc nhất tâm niệm Phật chuẩn bị văng sanh.  Tôi đă nhận lời nói chuyện với quư vị ngày hôm nay (27 tháng 4).  V́ bác Hứa gọi điện thoại nhiều lần và vô cùng thành khẩn nên cho dù hôm nay chỉ có một người đến nghe tôi cũng sẽ nói.  V́ nếu có thêm một người niệm Phật văng sanh Cực Lạc thế giới th́ sẽ ít đi một người đau khổ rơi lệ.  Hơn nữa tôi đă gặp nhiều vị sư trưởng đều ‘không nỡ chúng sanh chịu khổ, không nỡ thánh giáo suy’, rán hết sức ḿnh để đem những điều vô cùng quan trọng trong Phật giáo dạy cho chúng ta.  Hôm nay tôi có thể không ở trên giường bịnh rên siết, đến đây cùng các bạn học tập đều là nhờ ân đức của họ (những vị sư trưởng).  Tôi chỉ muốn rán hết sức ḿnh (phấn đấu với bịnh đau) để báo đáp phần nào ân đức của họ. 

Trong Đại Trí Độ Luận, có một vị Bồ Tát nói: ‘Tôi đă mất đi thân mạng trong vô thỉ kiếp sanh tử vừa qua, chưa từng v́ pháp (mà hy sinh)’.  Phải đúng vậy không?  ‘Quay đầu nh́n lại xương chất thành núi’, vô số lần mất mạng trong đời quá khứ đều nhẹ như hồng mao, chưa từng nặng như Thái sơn th́ cũng phải mất mạng.  Chúng ta hăy v́ Phật pháp, v́ chúng sanh, chánh niệm rơ ràng, niệm Phật mà văng sanh! 

Nếu như trong những lời nói hôm nay có một tơ hào nào thành khẩn đáng quư, nguyện đem phần công đức này hồi hướng cho tất cả thiện tri thức, cha mẹ, thầy giáo, bạn bè đă nhắc nhở tôi trên con đường Bồ đề này.  Tôi xin cám ơn tất cả, cám ơn từng câu nói thành khẩn, không kể là khích lệ hay trách mắng; cảm ơn từng nụ cười, từng giọt lệ chân thành, từng lời dạy dỗ.  Cũng xin hồi hướng cho mỗi vị ‘bịnh nhân Bồ Tát’ của tôi, cho tất cả chúng sanh đang chịu đau khổ, nguyện cho họ sớm nghe được lời kêu gọi của Di Đà trong nội tâm, đồng sanh nơi ‘không có sự khổ, chỉ toàn đều vui’ ở liên bang Cực Lạc.

Lúc tôi đi khám bịnh v́ bác sĩ không biết tôi cũng hành nghề này nên lúc họ thảo luận bịnh trạng với nhau tôi nghe và biết rất rơ và cũng nh́n thấy chỗ ung thư qua máy siêu âm.  Chỗ ung thư này đến lúc tôi có thời gian đi khám th́ đă quá lớn, lớn đến gần hết phía dưới bụng.  Tôi rất xấu hổ không biết và lo chữa sớm, thiệt là quá tệ.  Mỗi lần ‘beeper’ kêu là tôi phải mau mau chạy đi, nhiều khi đang tắm cũng phải ngưng và chạy đi.  Mấy ngày trước khi đi khám, chân tôi sưng lên đến nỗi mang giày không được nhưng cũng phải rán mang như mang dép đi làm.  Tuyết Công có nói: “Nếu có mười phần sức lực mà chỉ dùng hết chín phần th́ không đủ thành tâm”.  

Tôi không có cảm giác lo sợ hay khủng bố ǵ hết, cảm thấy rất b́nh thường, chỉ quyết tâm niệm Phật cầu sanh tây phương, tận dụng hết thời gian c̣n lại để hoàn thành công việc ḿnh phải làm, gặp mặt những người giác ngộ từ xưa đến nay.  Chỉ cần tin tưởng Phật pháp, tin tưởng điều giác ngộ thứ nhất dạy trong kinh Bát Đại Nhân Giác là ‘thế gian vô thường’, nếu như vậy th́ chuyện này rất b́nh thường, không cần phải hỏi: “Có thiệt không?  Tôi làm sao mà bị bịnh này được”.  Bịnh nhân thường hỏi như vậy lắm.  Và cũng không cần phải khóc: “Không.  Không thể nào là tôi được.  Tôi không thể nào bị bịnh này được (bịnh nhân thường kháng cự giống như vậy).  Tại sao không thể là chúng ta được?   Rất có thể là chúng ta.  Hoặc giả vốn là luân phiên đến lượt chúng ta.  Hăy thức tỉnh đi, vận dụng thời gian c̣n lại đừng lăng phí và chạy trốn nữa!

Kể từ ngày sanh ra đời này, chúng ta ai nấy đều từ từ tiến dần đến cái chết.  Có một người bạn sen thường hay nhắc nhở chúng tôi: “Mọi người đều có một sự việc luôn luôn dũng mănh tinh tiến, đó là từ lúc sanh ra đời th́ liền từ từ tiến dần đến trạm cuối của cuộc đời.” 

Lại c̣n nói: “Nếu nói bạn trưởng thành th́ bạn rất vui, nhưng nếu nói là bạn đang đi về phần mộ th́ bạn rất buồn, thiệt ra hai chuyện này đều là một”.  

Lại có người hỏi: “Quư vị là những người tin Phật th́ làm sao có thể bị bịnh ung thư được?” 

Kinh Phật nói với chúng ta rất rơ ràng: ‘Những ác nghiệp mà chúng ta đă làm từ vô thỉ kiếp đến nay nếu tính ra th́ vô lượng vô biên.  Giả sử những ư niệm, ngôn ngữ, và hành vi sai lầm của chúng ta có thể tích và có h́nh tướng th́ cả tận hư không này cũng chứa không hết.  Muốn biết nhân ở thời quá khứ cứ xem những ǵ ḿnh thọ nhận ngày hôm nay th́ biết được; muốn biết quả tương lai, cứ xem những ǵ ḿnh làm hôm nay th́ biết được.’ 

Từ lũy kiếp đến nay, không biết tôi đă làm hại hết bao nhiêu chúng sanh, đă làm bao nhiêu sanh linh đau khổ, bây giờ quả báo hiện ra th́ phải nhận chịu một cách vui vẻ và b́nh tĩnh; chúng ta niệm Phật phải noi theo trí huệ và ḷng từ bi của chư Phật, nguyện cho tất cả những chúng sanh bị tôi làm hại lúc trước đều được tắm gội trong ánh sáng từ quang giác ngộ, hóa giải những oán hận kết tập lại trong nội tâm, phá bỏ tất cả không cho oan oan tương báo tiếp tục.  Đây là sự gia tŕ tốt nhất của chư Phật Bồ Tát cho tôi, miễn hết tất cả những trách móc và so đo không cần thiết, tất cả những gút mắt t́nh cảm không tốt đẹp.  Giả sử ngày mai là ngày tận thế, tối nay tôi vẫn phải trồng đầy hết ‘phần đà lợi hoa’ (hoa sen) trong vườn, dưới gió mát trăng thanh phải lớn tiếng niệm Phật A Di Đà. 

Vẫn có nhiều bạn không bỏ qua được, cứ trách móc Phật Bồ Tát không gia tŕ cho tôi, để cho tôi mang bịnh này.  Thiệt ra không phải là Phật Bồ Tát làm cho tôi mắc phải bịnh này; chúng ta hăy nghĩ xem một hạt dầu khi nhỏ vào nước sẽ nổi lên mặt nước, trái lại viên đá sẽ ch́m xuống đáy nước.  Nghiệp chướng của tôi cũng nặng như viên đá cho nên tự nhiên sẽ ch́m xuống đáy, sẽ mang bịnh.  Rất may đức Phật A Di Đà đă chuẩn bị đại nguyện, đem chiếc ‘hàng không mẫu hạm’ để cứu vớt tôi và tất cả chúng sanh có nghiệp chướng sâu nặng.  Nên tôi không lo ǵ cả, chỉ cần có tín nguyện kiên cố, chấp tŕ danh hiệu Phật, nhất định sẽ văng sanh.  Ngẫu Ích đại sư không phải đă nói với chúng ta rồi sao:

Được sanh hay không toàn do có tín nguyện hay không.

 Phẩm vị cao thấp toàn do tŕ danh sâu hay cạn”. 

Tôi tuy là chưa niệm đến mức ‘nhất tâm bất loạn’ nhưng tiếp tục nỗ lực gắng sức niệm và tin đức Phật A Di Đà sẽ lại tiếp dẫn.  Tôi hiểu được đời người cũng giống như quá tŕnh vẽ một h́nh đức Phật.  Mỗi một nét chúng ta đều dùng tâm hết sức chân thành để vẽ!  Đừng để khi gác cọ xong rồi nh́n lại bức tranh ḿnh vẽ lại thành ra một con chó sói, hoặc là một con heo, thậm chí là một con ác quỷ!

Tôi biết có một bịnh nhân vô cùng siêu thoát, bà đă dạy cho tôi rất nhiều.  Bà bị ung thư gan.  Lúc bà vào bịnh viện là v́ đường tiêu hóa bị chảy máu chứ không phải vào để trị bịnh ung thư.  Đêm đó nhằm ngày tôi trực ở bịnh viện, tôi giúp bà đút ống vào mũi đến dạ dày, đổ nước đá vào để cầm máu và cũng để khám chỗ chảy máu.  Thường khi đút ống vào mũi thẳng đến dạ dày phần đông bịnh nhân ai cũng rên xiết kêu đau, nhưng bà này rất là điềm đạm an nhàn, không nhăn nhó tí nào, có vẻ dường như không có chuyện ǵ xảy ra hết.  Sau đó tôi nh́n thấy vết thẹo mà những người thọ giới đốt để lại trên tay mới biết bà là một người biết tu hành đă lâu. 

Đêm đó bịnh nhân rất đông tôi phải làm việc liên tục đến 5 giờ sáng.  Lúc đi ngang qua giường, bà chắp tay nói: “A Di Đà Phật, chào bác sĩ”.  Lúc đó bà đang nằm ở giường tạm đặt ngoài hành lang v́ bịnh viện không đủ giường cho bịnh nhân nên phải đặt thêm giường tạm.  Những bịnh nhân nằm những giường này luôn luôn phàn nàn là ‘nhiều người đi qua lại ồn quá’ và ‘đi nhà vệ sinh không thuận tiện’.  Nhưng bà này lại không phàn nàn ǵ hết, bà nở nụ cười chắp tay niệm Phật (lúc đó đang đút ống vào mũi) và nói: “Ở đây không khí thiệt là tốt, sáng sớm bốn giờ mấy là tôi đă làm xong công phu (tụng kinh) khóa sáng!  Nghe xong tôi rất cảm động, tâm lượng của bà quá đẹp. 

Trong hoàn cảnh không thuận lợi, nơi chốn ồn ào, thân thể đang bịnh nặng, đối với bà tất cả đều là: “rất thanh tịnh mát mẻ”.  Chúng ta đừng xem thường công phu niệm được một câu A Di Dà Phật trong lúc này (mỗi người thử đút một ống vào mũi rồi niệm thử xem).  Thường ngày muốn niệm đến tương ứng trong niệm này phải dẹp sạch tất cả phiền năo của tạp niệm lên xuống (giả như muốn được niệm niệm đều tương tục th́ phải niệm niệm đều thoát ra khỏi ṿng vây, niệm niệm phải đều thắng lợi, phải chiến thắng tất cả vọng tưởng) huống chi là lúc khổ nhất!   Muốn có một niệm A Di Đà Phật mà ‘tâm và miệng tương ứng với nhau’ phải có tâm lực mạnh mẽ để khắc phục tất cả đau khổ và khó khăn, bạn có biết không?  Cho nên một câu niệm Phật và vài câu nói của bà đă làm cho tôi cảm động rơi lệ.

  Tôi khám chỗ đau của bà, cảm thấy gan cứng và sưng lên, tôi nghi là ung thư. Qua ngày sau rọi siêu âm và thử nghiệm mới biết ung thư gan đă lớn đến đường kính tám phân (8 cm).  Thấy thái độ và biểu hiện khác người của bà nên tôi nói thiệt bịnh t́nh cho bà biết (thường thường th́ chúng tôi phải suy nghĩ cân nhắc trước khi nói với bịnh nhân). 

Một người học Phật chân chính sẽ xem chuyện sanh tử rất là b́nh thường.  Chúng ta sợ nhất là trí huệ không khai mở, đời này hồ đồ lộn xộn, chết đi rồi lại tiếp tục sanh vào lục đạo luân hồi.  Khi đă hiểu rơ đạo lư này sẽ không kêu trời trách đất và sẽ niệm Phật đàng hoàng, đặt bước trên con đường về cố hương, chuẩn bị tham gia liên tŕ hải hội.  Đây là sự ‘pḥ hộ’ tốt nhất, t́nh cảnh bi thương là đau khổ đối với người khác, nhưng chúng ta vui vẻ xem như là chuyện thường, đây là lễ vật của chư Phật Bồ Tát!  Mười triệu đồng có thể mua được đủ loại chữa trị (không thiếu đau khổ giày ṿ) nhưng mua không được tâm b́nh tĩnh vui vẻ, c̣n lễ vật nào quư hơn tâm này không? 

Lúc tôi nói thiệt bịnh t́nh cho bà biết, bà nói liền giống như đă chuẩn bị lời văn từ trước: “Tôi sống ngày nào th́ phục vụ thêm một ngày cho chúng sanh, đến lúc mạng tôi sắp hết, đức Phật A Di Đà sẽ lại rước tôi đi”.  Bà siêu thoát như thế đó, tràn đầy từ bi và ḷng tin, thần sắc của bà khắc sâu vào tâm khảm của tôi, làm thành một sức mạnh có khả năng khuyến khích và giúp đỡ tôi vượt qua rất nhiều khó khăn chướng ngại thường ngày.

Thiệt t́nh mà nói, không phải là tôi làm bác sĩ mà phải nói tôi đang ‘đi học’, ‘bịnh’ của tôi nặng nhất trong số những người bịnh, ‘các thứ xấu ác’ trong tâm nhiều quá; tham, sân, si, mạn … đều rất nặng.  Mỗi bịnh nhân đều thị hiện một hoàn cảnh đặc biệt để dạy cho tôi hiểu được một đạo lư nào đó.  Người nào cũng rất từ bi không tiếc đem những lời dạy và những câu chuyện sống động đầy máu và nước mắt để dạy và làm cho tôi hiểu được lời trong kinh Lăng Nghiêm ‘Chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông’ đoạn ‘Mười hai vị Như Lai liên tục một kiếp, vị Phật sau hết danh hiệu Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy tôi Niệm Phật Tam Muội’.

  Có một thầy giáo nói: “Thiện duyên của đức Đại Thế Chí Bồ Tát vô cùng tốt đẹp có thể gặp được muời hai vị Phật và được truyền dạy Niệm Phật Tam Muội; chúng ta một vị Phật cũng không được gặp”.  Tuy là thiện căn của tôi rất mỏng, nhưng nhân duyên th́ rất đặc biệt, rất tốt!  Mỗi ngày đều có một vị Bồ Tát đem h́nh ảnh của sự khổ nạn vô tận trên sông Hằng đến để cảnh tỉnh và giúp cho tôi giác ngộ: niệm Phật đi, niệm Phật đi; họ giúp tôi trao dồi tâm lực, giúp tôi buông xả.  Đây là sự gia tŕ của chư Phật Bồ Tát, giả sử không có sự từ bi gia tŕ này, khi nghe đến ‘tên bịnh’ th́ tứ chi liền phát run, tay chân không c̣n sức lực nữa và khóc: ‘Thù hận trong đời người làm sao miễn được, …’

Có khi tôi thấy rất nhiều người thầm vái ở trước tượng Phật, đôi lúc tôi cũng muốn hỏi họ khấn vái những ǵ?  Mỗi người thắp ba cây nhang rồi ‘rù ŕ rù ŕ’ khấn vái, lời họ khấn chắc c̣n dài hơn 48 đại nguyện của đức Phật A Di Đà; nào là: xin ngài pḥ hộ cho con tôi thông minh khỏe mạnh, có thể thi đậu vào trường Y Khoa (tốt nhất là trúng tuyển hạng nhất); pḥ hộ cho con tôi cưới được một người vợ hiền hậu hiếu thảo; pḥ hộ cho chồng tôi sự nghiệp phát tài kiếm được thiệt nhiều tiền; pḥ hộ cho tôi trúng số độc đắc và được lên chức… Nói ra tràng giang đại hải xong rồi đem trái cây cúng Phật đem về nhà ăn cho ‘được b́nh an’.  Nếu cầu không được toại nguyện liền trách móc Phật Bồ Tát không pḥ hộ, chỉ ‘nh́n’ đồ cúng và ‘ngửi’ hương tôi cúng rồi thôi, không ‘linh’ tí nào!  (Thiệt ra họ đâu biết tự ḿnh không hiểu nhân quả, không làm theo lời dạy của Phật, là tự ḿnh không ‘linh’). 

Chúng ta thử nghĩ xem người ta mong cầu những ǵ?  Chẳng qua là cầu cho da mặt ḿnh nhăn thêm một chút (cầu trường thọ sống lâu th́ tránh không khỏi da nhăn tóc bạc); cầu gánh nặng vác trên vai nặng thêm (cầu con cái đầy nhà th́ nhiều phiền năo); cầu chướng ngại trong đời sống nhiều một chút (lo danh lợi, lo ‘được’, lo ‘mất’).  Người ta chỉ cầu để được nhiều những thứ nhỏ nhặt này.  Thật ra pháp lực của chư Phật Bồ Tát rộng lớn vô biên và có thể cho chúng ta sự pḥ hộ thần kỳ mà lại vĩnh cữu, cho chúng ta một ch́a khóa trí huệ để khai mở kho tàng vô tận trong tự tánh, có thể lấy ra sự hạnh phúc vô tận.  Sự hạnh phúc này không bị hoàn cảnh thay đổi làm mất đi, không bị ăn trộm, không bị giựt, cũng không bị mất.  Cái ch́a khóa này chính là xưng niệm ‘Nam Mô A Di Đà Phật’; chỉ cần tiếp nhận rồi thiệt t́nh đi mở, ai cũng có được kho tàng quư báu vô tận!

V́ tôi bị bịnh nên có người nói: “Cô ăn chay thiếu dinh dưỡng nên mới bị bịnh”.  Thiệt ra chỉ cần so sánh là biết ăn chay được khỏe mạnh và sống lâu;  giống như đoạn trước có nói đến lăo ḥa thượng Hư Vân và Quảng Khâm, Tuyết Công lăo ân sư đều là ‘nhân thụy’ (người  trường thọ và vô cùng khỏe mạnh).  Nhưng ăn chay không phải để cầu trường thọ mà là không muốn v́ sự hưởng thụ ngắn ngủi trên ba tấc lưỡi của ḿnh đem lại sự lo sợ sắp bị mất mạng và sự đau khổ cùng cực cho chúng sanh; mỗi con ḅ chờ đợi bị làm thịt cũng run và chảy nước mắt, mỗi con chim bị bắt đều có những con chim mẹ đang chờ đợi con bay về tổ.   Chúng ta chưa bao giờ nghe hoặc thấy con gà nào t́nh nguyện trườn cổ dài ra đợi bị làm thịt, nhổ lông và nói: “Tốt quá, tôi sẽ được đi làm con gà nướng!”. 

Như những bịnh nhân của tôi luôn vùng vẫy trong sự đau khổ bên bờ sanh tử, mỗi một con vật đối diện với cái chết đều sợ phát run lên.  Nếu tôi xem thường mạng người, không đếm xỉa đến sự đau khổ của người bịnh, họ nhất định sẽ không tha thứ cho tôi.  Cũng giống như vậy nếu chúng ta xem thường sự đau khổ của các loài vật khác, chúng nó cũng sẽ không tha thứ cho chúng ta.  Nếu bạn chặt một cái đùi của nó, nó cũng sẽ t́m cách để làm bạn găy đi một cái chân; cứ như vậy oan oan tương báo, trở thành oan gia chủ nợ lẫn nhau, vĩnh viễn không có ngày thoát ra, trong sự oán thù rối nùi này ai cũng vô cùng đau khổ! 

Tôi từng nghe một vị pháp sư thuật lại câu chuyện thật như sau:  Một hôm có người bồng em bé nằm trong nôi đi bái kiến lăo hoà thượng Quảng Khâm.  Đứa bé mặt mũi khôi ngô rất là dễ thương, ai nh́n cũng thích và muốn nựng em bé.  Chỉ có lăo ḥa thượng vừa nh́n thấy liền hiện vẻ không vui (mặt trầm xuống) và nói với chúng đệ tử: “Nó lại để đ̣i nợ đó (chỉ em bé)”.  Mọi người đều không hiểu.  Lăo ḥa thượng mới nói với những người này: “Quư vị làm ăn buôn bán gà đông lạnh phải không?  Hăy xem đứa bé”.  Cha mẹ của em vừa khóc vừa gật đầu rồi vạch áo của em ra; em bé tuy có bộ mặt rất dễ thương nhưng phía dưới thân ḿnh lại giống y hệt như thân h́nh của một con gà! 

Lăo ḥa thượng không ngớt lời khuyên họ nên đổi nghề.  Họ nói: “Đă tốn hết 30 triệu đồng trong việc thiết bị hệ thống đông lạnh, rất là khó mà đổi….” 

Tôi nghĩ tiền lời được trong việc làm ăn này có lẽ cũng không đủ trả tiền thuốc men cho em bé, càng không thể bù đắp nổi những giọt nước mắt chảy ra... (V́ tôi biết rất nhiều bịnh nhân có t́nh trạng giống như vậy).  Nhưng phần đông người ta thà chịu khổ, chịu tổn hao tài sản sau này, và c̣n mất thêm sự hạnh phúc cả đời người nhưng không chịu buông bỏ cái lợi trước mắt, sự thèm muốn của cái miệng và cái bụng của ḿnh.  Lăo ḥa thượng là người có pháp nhăn, vừa nh́n th́ đă thấy rơ nhân quả, hết ḷng khuyên nhủ, nhưng có mấy ai tin và chịu làm theo? 

Người ta thường cầu Phật pḥ hộ nhưng không tin lời Phật nói, thiệt là kỳ lạ!  Cho dù hôm nay có một danh y bác sĩ nổi tiếng nào nói với tôi là ‘đổi ăn thịt’ đừng ăn chay nữa th́ có thể chữa cho tôi hết bịnh, tôi cũng không chịu đi hy sinh tánh mạng của con gà, heo, dê, ḅ, để gây ra sự đau khổ cho chúng nó.  Huống chi không có một bác sĩ nổi tiếng nào có thể xác nhận ăn mặn (ăn thịt) th́ sẽ ‘kéo dài đời sống lâu’ hơn là ăn chay; bất kỳ bác sĩ nổi tiếng nào cũng sẽ chết, họ cũng không thể bảo đảm ăn thịt có thể trường sanh th́ làm sao có thể bảo đảm cho tôi?  Th́ làm sao có thể bảo đảm cho người khác? 

Tôi chỉ tin tưởng lời Phật dạy và trí huệ của Phật.  Hôm nay tôi có thể lấy được thêm một số ‘đản bạch chất’ và  chất béo từ thịt động vật, nhưng tôi không thể bù đắp nổi sự đau khổ của chúng nó, không thể an ủi sự sợ hăi khủng bố của chúng nó, càng không lau hết nước mắt của má chúng nó khóc con mất mạng.  Có một ngày nào đó chúng nó sẽ quay lại để trả thù.  Nhân quả của con người rất là phức tạp nhưng không sai chạy tí nào.  Mắt thịt của phàm phu chúng ta chỉ nh́n thấy một mà không nh́n thấy hai, thường cho ‘quấy’ thành ‘phải’.  (Hồi xưa, Nicolaus Copernicus (1473-1534) nói địa cầu là tṛn xém chút th́ phải mất mạng.  Chúng ta nói nhân quả báo ứng và lục đạo luân hồi, nếu bị chê là ‘mê tín’ th́ cũng là ‘việc nhỏ’ mà thôi). 

Thiệt ra danh từ ‘chủ nợ’ không hẳn là phải ‘đeo mắt kiếng đen, hút thuốc lá thơm, cầm súng, mặt đầy ác khí, đi đến trước cửa để đ̣i nợ’.  Chủ nợ có rất nhiều dạng: có thể là một người đẹp mà bạn vừa nh́n đă bị ‘hốt hồn’ đi mất rồi, bạn không có suy nghĩ liền đem tiền cho người đó phung phí, đến khi hết tiền th́ người đó bỏ bạn, làm cho bạn âu sầu ủ rũ cả đời.  Hoặc có thể là người khi bạn mới nh́n th́ nổi nóng lên, mặt đỏ gay lên để căi lộn với họ, rốt cùng rồi làm cho bạn lên huyết áp, chảy máu trong đầu và chết bất ngờ.  Chúng ta hăy nên tin lời nói đầy trí huệ của chư Phật Bồ Tát, tránh làm hại và kết oán thù với chúng sanh, tại v́ tất cả sự khổ đều sẽ quay trở vào thân ḿnh, thường là hối hận không kịp.  Chúng ta hăy quyết tâm luôn luôn kết thiện duyên, khai mở trí huệ trong bổn tánh, mở ra nguồn vui sướng vô tận không phải là tốt đẹp hơn không?  Những người như vậy, giống như lăo hoà thượng Quảng Khâm và Tuyết Công lăo ân sư cho dù sống cả trăm tuổi mọi người đều thương tiếc.

‘Tại sao ngài lại ra đi sớm vậy?’

‘Tại sao không sống đến hai trăm tuổi, để cho cháu chắt của tôi cũng có dịp gặp ngài?’ 

Thọ mạng của các ngài vĩnh viễn đối với mọi người đều không đủ.  Phần đông người ta chỉ cần sanh ra một bịnh nan y, ai cũng than là tại sao họ lại ‘kéo’ [mạng sống] quá dài như vậy, làm cho cả nhà ‘kéo’ đến gần sụp luôn.  Nói như vậy th́ ‘trường thọ’ hay không, không phải dựa trên ‘số tuổi’; chúng ta nên sống mà mọi người đều tiếc là quá ngắn, nhưng đừng nên ‘kéo’ dài để cho ai cũng than là quá dài! 

Thiệt ra phải sống làm sao mới tốt?  Th́ nên nghe theo lời dạy của đức Phật và những người đă đắc đạo trong quá khứ, nên thật t́nh niệm Phật!  Dùng cái tâm tánh không thể nghĩ bàn và rộng lớn vô biên của chúng ta để xưng niệm danh hiệu không thể nghĩ bàn của đức Phật Vô Luợng Thọ Vô Lượng Quang A Di Đà; mỗi khi niệm một tiếng th́ có một tiếng vượt ra khỏi trần lao!  Nguyện cho chúng ta dùng ḷng tín nguyện vô cùng vững chắc, trang nghiêm từng danh hiệu A Di Đà Phật, mỗi một niệm đều chiến thắng tất cả phiền năo, mỗi một niệm đều đầy đủ quang minh tự tại, mỗi một niệm đều hiện ra trời trong trăng sáng.  Dùng danh hiệu bất khả tư ngh́ này thể hội được vô lượng quang thọ của tự tánh.  Cũng như Ngẫu Ích Tổ sư có nói: “Chuyển kiếp trược thành hải hội thanh tịnh, chuyển kiến trược thành vô lượng quang, chuyển phiền năo trược thành thường tịch quang, chuyển chúng sanh trược thành liên hoa hoá sanh, chuyển mạng trược thành vô lượng thọ”.  Nguyện từng tiếng Phật hiệu thành khẩn, thiết tha đem sóng nước cuồn cuộn trên sông Hằng sanh tử trồng đầy hoa sen….

Nam mô A Di Đà Phật.

Trong quá tŕnh chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho. 

Xin thành thật cám ơn.

Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 9 tháng 4-1991

 


Hồi hướng

Nguyện đem công đức này trang nghiêm Phật Tịnh Độ

Trên báo bốn ân nặng, dưới độ ba đường khổ

Nếu có người nghe được đều phát Bồ Đề Tâm

Đến hết báo thân này đồng sanh Cực Lạc quốc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sách biếu không bán.