Bác
sĩ Quách Huệ Trân
Trích
từ: http://www.buddhanet.com.tw/dawjam/dm015.htm
Lời
giới thiệu.
Bác
sĩ Quách Huệ Trân là một bác sĩ chuyên khoa ung thư,
bà rất nhiệt thành và tận tâm trong công việc. Ḷng từ bi và thuần thành
của bà không những đă đem lại sự khích
lệ to lớn cho bịnh nhân mà c̣n cảnh giác những người
khỏe mạnh, làm cho nhiều người phát tâm học
Phật và niệm Phật. Sau
đây là bài nói chuyện với các bạn học ở
Huệ Trí Phật Học Xă của Đại học Trung
Nguyên, nội dung rất phong phú cảm động. Tuy là đang bị bịnh ung thư
trầm trọng, bác sĩ Trân vẫn rán chịu đau và
dùng ḷng tín nguyện niệm Phật vô cùng kiên cố
của ḿnh lên giảng đài thuyết pháp; khi tuyên bố
bị bịnh bà nói: ‘Bây giờ vừa đúng lúc để
tôi nhất tâm niệm Phật và chuẩn bị văng
sanh’ (Sau lần nói chuyện
này bác sĩ Trân từ chức và lên núi đi xuất gia).
Trong
cuộc sống trầm luân khổ hải này, chúng ta không
chịu buông xả và tham luyến tất cả những ǵ
‘của ḿnh’; ai cũng đầu tắt mặt tối,
bận rộn suốt cuộc đời, đến phút
cuối cùng nh́n lại [chỉ là một con số không to
lớn] rồi âu sầu than thở. Thưa quư vị, quư vị
muốn cuộc đời của ḿnh như thế
nào? Làm sao để vượt
ra khỏi sự trói buộc của luân hồi sanh
tử? Chúng tôi hy vọng bài
này sẽ đem nhiều tư duy và chất liệu có
thể giúp quư vị t́m ra phương hướng [về
quê hương] của ḿnh!
Kính
thưa quư thầy cô, kính thưa quư bạn:
Khi
lên giảng đài này, tôi cảm thấy rất bối
rối và xấu hổ khi nh́n thấy phía dưới
phần đông đều là những người trong hàng
tiền bối, bậc thầy cô của ḿnh. Trước hết xin giải thích tại sao
một người mạt
học dở ẹt như tôi cũng lên giảng đài
nói chuyện với quư vị?
Đây là do ảnh hưởng của một bịnh nhân
cho nên tôi thường kể lại câu chuyện của
bịnh nhân này và nói lên lư do người này đă giúp cho tôi
hiểu được nhiều vấn đề. Chúng ta thường phải
trả một giá rất đắt mới có thể
hiểu được một câu nói trong kinh, nhiều khi
chỉ một câu kinh thật đơn giản. Cô này mới có ba mươi
mấy tuổi th́ bị ung thư ruột già. Khi cô đến bịnh viện
cứ khóc hoài không thôi. Lúc đó
tôi mới làm bác sĩ tập sự thuộc khoa ung thư, xem
bịnh lư mới biết cô đă mổ qua hai lần
nhưng ung thư vẫn tái phát trở lại, đúng là vô
phương cứu chữa.
Cô khóc hoài nên nói không ra tiếng nữa, thiệt là
không biết làm sao, muốn t́m bác sĩ để hỏi rơ
bịnh trạng của ḿnh.
Hôm đó tôi hết ca trực liền đến pḥng
bịnh để thăm cô và cũng nhân tiện giới
thiệu sơ lược một ít Phật pháp cho cô
biết. Không ngờ cô nghe xong,
xúc động, mở mắt thật to, nói: “Tại sao
bấy lâu nay không có ai nói cho tôi biết về những
chuyện này? Tại sao tôi
đă sống ba mươi mấy năm đầy
phiền năo và đến lúc sắp ĺa đời tôi
mới được nghe Phật pháp?”. Tuy là chỉ có mấy câu nói
thật ngắn nhưng h́nh như đă xoi thủng tim
tôi. Sau đó cô bật khóc và
làm tôi cũng khóc theo, khóc một cách rất bức
rức. Lúc bấy giờ
Tuyết Công lăo ân sư (lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam) c̣n
tại thế và giảng kinh vào ngày thứ tư mỗi
tuần. Mỗi ngày khi làm xong
việc tôi thường ở lại bịnh viện để
nói chuyện và an ủi bịnh nhân, ngoại trừ ngày
thứ tư v́ phải đi nghe Tuyết Công giảng
kinh. Cô thấy mỗi thứ
tư tôi đều rất vui chuẩn bị đi nghe
giảng nên nói: “Tôi cũng hy vọng có thể đi theo
(nghe giảng) nhưng rất tiếc không có cơ
hội”. Tôi đáp: “Trong tương
lai cô cũng sẽ có dịp đi được”. Cuối cùng cô cũng đă được
đi nghe kinh, lúc đến giảng đường Hoa
Nghiêm ở thư viện Từ Quang tôi thấy cô ngồi
ở vài hàng ghế phía trước. Nhưng đến nửa
buổi giảng cô vừa ôm bụng vừa khóc và đi
về, bịnh t́nh của cô biến chứng nặng nên cô
đau quá không thể tiếp tục nghe kinh. Lúc đó tôi chợt hiểu được
một câu trong bài khai kinh kệ:
‘Vô thượng thậm thâm vi
diệu pháp.
Bá thiên vạn kiếp nan tao
ngộ.
Ngă kim kiến văn đắc
thọ tŕ.
Nguyện giải Như Lai chân
thật nghĩa’.
V́
ảnh hưởng của cô nên từ hôm đó trở đi
tôi không ngại sự hiểu biết c̣n thô thiển
của ḿnh, luôn luôn cố gắng, tích cực hơn, và
muốn mau mau giới thiệu cho mọi người
những điều trọng yếu trong Phật pháp [mà
ḿnh hiểu được], nói cho đại chúng biết
những sự hạnh phúc mà Phật pháp có thể đem
lại cho mọi người.
Hạnh phúc này tiền tài mua không được,
kẻ ăn trộm cũng không thể lấy mất. Trong bất cứ trường
hợp và cảnh giới nào và không kể người ta
dùng quan niệm ‘phước’ hay ‘họa’ trong thế gian để
đo lường những cảm nhận hạnh phúc này,
trong nội tâm của chúng ta đều luôn luôn đầy đủ
sự an tịnh, hạnh phúc, và tươi sáng.
Tôi
hỏi các vị đạo hữu ở Phật học xă
nghiên cứu đề mục hay kinh điển ǵ trong khóa
học này, bác Hứa trả lời là đang thảo
luận ‘Kinh Bát Đại Nhân Giác’.
Chắc ai cũng đă xem qua kinh này và có thể đă
học thuộc ḷng rồi. Điều
giác ngộ thứ nhất là:
‘Thế gian vô thường,
quốc độ mong manh, tứ đại khổ không,
năm ấm vô ngă, sanh diệt đổi dời, hư
ngụy không chủ…’.
Tuy
là biết thuộc ḷng nhưng phần đông chúng ta không
tin như vậy. Tuy Phật
nói thế gian là khổ, là vô thường, nhưng bạn
lại cảm thấy nhân gian rất vui sướng! Mỗi sáng thức dậy ăn
bánh uống cà phê, …, ngước mắt nh́n lên, ôi chao
trời trong mây trắng, đời sao mà sung sướng
thế! Nếu được
vậy th́ cũng thường thôi, nhưng những lúc như
vậy trôi qua rất nhanh.
Giả sử một lúc nào đó, chuyện khó khăn
thử thách th́nh ĺnh xảy ra, khi đó bạn sẽ không
thấy trời trong mây trắng, không thấy trăm hoa đua
nở, trong ḷng của bạn sẽ không c̣n cảm
thấy vui sướng nữa.
Ở đây tôi xin kể một vài câu chuyện
thật mà tôi đă gặp khi làm việc ở bịnh
viện. Trong những câu
chuyện này, mỗi bịnh nhân đều là giáo sư
của tôi, mỗi người đều kể cho tôi
một đạo lư mà đức Phật đă nói trong kinh
điển, họ ấn chứng (chứng minh) những điều
Phật dạy, họ làm cho tôi hết ḷng tin tưởng
lời Phật nói và tin đức Phật là ‘người
nói lời chân thật, không bao giờ nói dối’.
Có
nhiều bịnh nhân hỏi tôi: “Bác sĩ năm nay bao nhiêu
tuổi?”.
Tôi
trả lời: “Ba mươi hai tuổi”.
Lại
hỏi: “Bác sĩ lập gia đ́nh chưa? Tôi làm mai cho”.
Tôi
liền hỏi họ: “Cuộc sống của bà rất
sung sướng phải không?”
Thật
kỳ lạ không có một người nào đáp là
‘phải’ hết! Cho đến
một hôm tôi gặp một bịnh nhân bị ung thư
cổ tử cung, mỗi lần đến khám bịnh đều
trang điểm thiệt là đẹp, thoa môi son thiệt đỏ,
móng tay chân đều có sơn màu rất đẹp. Khám bịnh xong bà muốn làm mai
cho tôi. Bà nói:
“Cháu
tôi làm việc ở bịnh viện Quốc Thái, người
rất lịch sự đàng hoàng”.
Tôi
hỏi bà: “Bà thiệt là rất sung sướng phải
không?”
Bà
nói: “Phải, chồng tôi đối xử rất tốt;
con cái rất có hiếu, nhà cửa rất sung túc”.
Như
vậy thật là sung sướng, xin chúc mừng cho bà. Bà là người duy nhất nói
ḿnh có hạnh phúc, thiệt là mừng giùm bà. Tại v́ khi bịnh nhân bước
chân vào bịnh viện th́ thường khóc và than:
“Bác
sĩ không biết đâu, tôi phải mượn tiền
của người ta để lại đây khám bịnh,
con cái không vui chút nào”;
Hoặc
là: “Ôi chao lúc về nhà không ai đếm xỉa tới; mang
bịnh lâu quá rồi người ta không chịu chăm sóc
nữa”.
Cũng
không ai thăm hỏi: “Thưa ba ăn cơm chưa?”.
Hoặc
là: “Từ lúc tôi mắc bịnh này, chồng tôi bỏ đi
luôn”.
Phần
lớn là thuộc vào loại này, t́nh tiết không giống
nhau nhưng nội dung hoàn toàn tương tợ; chỉ có
bà này thiệt là may mắn có được hạnh
phúc. Nhưng qua một
thời gian ngắn sau đó, y tá coi báo ngạc nhiên nói bà đó
đă tự tử. Cô y tá nói:
“Trong báo đăng tin bà được vớt lên từ
bờ sông ở ….Bà bỏ nhà ra đi hết năm ngày, sau
đó th́ tự tử”.
Tôi
hỏi: “Bà đó rất sung sướng,
rất hạnh phúc, sao lại tự tử?”.
Thưa
quư vị, chúng ta thử nghĩ xem tại sao lúc đó
niềm thương yêu của chồng không thay đổi
được tâm niệm muốn tự tử của
bà? Tại sao sự hiếu
thảo của con cái cũng không kéo bà lại được? Tại sao tiền bạc không mua được
sự an ổn của tinh thần?
Chồng thương yêu cho mấy và con cái hiếu
thảo đến đâu cũng không thay thế được
sự đau đớn trên thân thể của bà. Một người đàn bà xinh đẹp
như thế tại sao lại phải trốn khỏi nhà
đi lang thang rồi cuối cùng phải nhảy vào ḍng nước
đen tối? Có lẽ v́ trước
đó bà cảm thấy cuộc đời quá xinh đẹp,
chưa nếm qua mùi vị của sự khổ, bà chưa
biết qua: ‘thế gian vô thường, quốc độ
mong manh’, cho nên trong tâm không có chuẩn bị tâm lư, gặp
chuyện thử thách trong đời chịu không nổi,
không có ‘chích ngừa’ để pḥng bị, không có khả năng
đề kháng, chịu đựng khổ không được
nên mới tự tử. Tôi
rất hối hận trước đó không giới
thiệu Phật pháp để cho bà thay đổi quan
niệm và hướng về quang minh, hướng về
Di Đà. Những sự khổ
này có lẽ mọi người sẽ nghĩ: ‘Đó chỉ là
thiểu số, người tự tử rất ít’. Thiệt ra người tự
tử rất nhiều, tôi làm việc trong khoa ung thư,
nếu có ngày nào không gặp bịnh nhân muốn tự
tử th́ ngày đó phải được kể là ngày
rất tốt, rất hiếm!
Thiệt đó, mỗi ngày tôi thường nghe câu: ‘Tôi
nên chết sớm th́ tốt hơn’. Khi người ta cầu mong
khỏe mạnh và sự quan tâm chăm sóc mà không được
toại nguyện th́ thường thường sẽ
tự sát. Ban đêm trong
bịnh viện tôi thường phải đi giải
quyết những chuyện tự tử này. Không phải là họ cố ư không
muốn sống nhưng bị bịnh đau khổ quá nên
không biết cách nào để chịu đựng nữa.
Ngoài
ra c̣n có người cầu sanh không được cầu
chết cũng không xong, nằm trên giường bệnh
rên siết. Có một người
bịnh nguyên phần phía dưới bụng bị ung thư
lở loét ra hết, bác sĩ phải mổ và làm một
cái hậu môn tạm trên bụng, nhưng không cách nào
trị lành được.
Chất bài tiết trong ruột rỉ thẳng ra. Pḥng của người này ở
lầu ba, từ lầu hai đă nghe mùi hôi bay đến. Không phải người này có ǵ đặc
biệt nhưng bất cứ ai trong chúng ta khi gặp
phải trường hợp này đều như
vậy. Khi con bà săn sóc cho
mẹ bất đắc dĩ phải dùng một miếng
vải để bịt miệng và mũi lại. Mỗi ngày bà đều muốn
tự tử nhưng chưa gặp cơ hội. Một hôm nhân dịp con bà đi
ra chợ mua đồ ăn sáng, bà rán hết sức ḿnh
ngồi dậy, leo qua cửa sổ từ lầu ba
của bịnh viện nhảy xuống. Vừa đúng lúc đó người
con về đến, nh́n thấy mau mau chạy tới để
đỡ bà. Kết cục bà
nhảy xuống không chết mà c̣n bị thương. Vốn là đă quá đau khổ
bây giờ c̣n bị thương thêm, mỗi ngày đau đớn
không thể nào diễn tả được, cầu sanh
không được, cầu tử cũng không xong; mạng
chưa hết tự tử cũng không chết. Cho dù tự tử chết đi
rồi, vĩnh viễn trầm luân trong lục đạo
luân hồi, sự khổ năo vô tận lại tái diễn
trở lại!
Nhà
thơ Rabindranath Tagore có nói:
‘Sanh thời lệ tợ hạ
hoa, tử thời mỹ như thu nguyệt’
(Lúc sống đẹp như
hoa mùa hạ, lúc chết đẹp như trăng mùa thu).
Bạn
muốn sống đẹp như hoa mùa hạ có lẽ
cũng không khó lắm; nhưng muốn chết đẹp
như trăng mùa thu th́ phải ra sức chuẩn bị
công phu mới được!
Lắm lúc có nhiều người phê b́nh những người
học theo Phật và nói: “Ôi chao, sao quư vị ưa nói
chuyện ‘chết’, ưa nói chuyện ‘lâm chung’ quá, h́nh như
đă xem thường cả cuộc đời. Trong cuộc sống có rất
nhiều chuyện phải làm, đặc biệt là
những người tu theo Tịnh độ như quư
vị, ngày ngày cứ niệm ‘A Di Đà Phật’, chuẩn
bị để văng sanh Tây phương, thật là quá tiêu
cực”. Thật ra cuộc
sống chúng ta giống như quá tŕnh vẽ một con
rồng, mỗi nét vẽ mỗi màu sắc đều
rất quan trọng. Lúc lâm
chung cũng như nét vẽ cuối cùng vào mắt
rồng. Lúc sanh lúc tử đều
rất quan trọng, không có nét vẽ nào có thể cẩu
thả được.
Niệm Phật là tâm niệm tối thiện
nhất, tích cực làm cho lúc sống và lúc chết đều
là chí thiện chí mỹ (tốt đẹp nhất).
Nói
chuyện từ năy đến giờ nhưng chưa nói vào
đề tài chính hôm nay: ‘Lắng nghe bài ca bên sông
Hằng’. Mấy năm trước
tôi có dịp đi qua Ấn độ và ngồi thuyền đi
dọc theo bờ sông Hằng.
Lúc đó trong ḷng tôi rất an tịnh; âm thanh trên sông
cứ cuồn cuộn nổi dậy làm tôi có cảm giác như
là đang đi trong ḍng nước ‘sanh tử’…. Khi lắng tai nghe những âm thanh
này tôi nghe thấy trong đó có âm thanh của trẻ con,
của người lớn, có tiếng khóc, có tiếng cười
vui. …Tất cả những âm thanh này trộn lẫn vào nhau
biến thành một câu vạn đức hồng danh: ‘A Di
Đà Phật’. Bạn hăy nh́n h́nh
ảnh của sông Hằng, của từng làn sóng nhấp
nhô, h́nh bóng của chính bạn, của người thân,
bạn bè, mặt trời lặn, con chim và làn mây đang bay
lơ lửng ở cuối chân trời, tất cả
những h́nh bóng này ḥa hợp lẫn nhau làm thành con sông ‘sanh
mạng’. Chúng ta hăy cùng nhau xem
những h́nh ảnh và lắng nghe bài ca bên sông Hằng này,
từ bài ca ‘luân hồi sanh tử của sông Hằng’ cho đến
bài ca ‘đức Phật giác ngộ’. Đối với chúng ta sông Hằng
là một con sông rất quen thuộc v́ trong kinh đức
Phật thường dùng danh từ
‘cát sông Hằng’ để h́nh dung ư nghĩa ‘vô lượng
vô biên’. Trong con ‘sông Hằng’
sanh mạng này chúng ta đều là những người bơi
lội qua sông….
Con
thuyền cứ tiếp tục tiến tới và đi
ngang một chỗ dùng để hỏa táng ở bờ
sông. Phong tục mai táng người
chết của Ấn độ rất đơn giản,
họ không cần quan tài chỉ dùng vải bao bọc thi
thể lại rồi đem thiêu ở bờ sông, cho đến
bà Gandhi cũng không ngoại lệ (bà được dùng lá
quốc kỳ để bao).
Người giàu th́ có đủ củi lửa nên có
thể thiêu thành tro rồi đem bỏ xuống sông. Người nghèo th́ thiêu qua loa
một chút rồi đem thi thể bỏ xuống sông. Lúc tôi ngồi thuyền đi ngang
một chỗ thiêu người chết này, dưới đống
tro tàn c̣n thấy được một cái chân đen
kịt thiêu chưa thành tro.
Chúng ta thử hỏi cái chân thiêu nửa chừng này là
của ai? Không lâu trước
đó nó cũng có làn da rất mềm mại và được
ôm ấp trong ḷng mẹ. Có lúc
nào đó cái chân này đang rảo bước trên bải
cỏ xanh mướt, cũng có thể là có rất
nhiều thanh niên muốn thân cận nó. Rồi theo thời gian trôi qua nó
bắt đầu chai cứng và khô khốc khi người
chủ của nó già đi.
Rốt cục rồi nó biến thành một cái chân
thiêu nửa chừng, đen kịt, nằm dưới đống
tro tàn. Sau một thời gian
nữa th́ nó sẽ biến thành một đống cát trong
sông Hằng. Thêm một
lần nữa chúng ta hăy nh́n kỹ h́nh ảnh và lắng
nghe bài ca bên sông Hằng.
Những h́nh ảnh này của người Ấn
độ mà cũng có thể là của chúng ta nữa!
Có
một ông thường ngày rất thích ăn trầu, hút
thuốc, uống rượu rồi sau này bị ung thư
trong miệng. Khi đến
bịnh viện khám th́ chỗ bị ung thư đă lan
rộng ra, lở loét đến quai hàm và g̣ má lủng
lỗ. Chỗ lở cứ
chảy nước vàng ra hoài, khi ông ăn uống th́
thức ăn đều lọt ra ngoài. Cho dù ông uống rượu ngon trước
đó ông thích nhất cũng rất đau, khi ăn
trầu vào cũng đau như ‘nuốt viên sắt
nóng’. Thân thể cường
tráng của ông dần dần tiều tụy v́ ăn
uống không được; chúng tôi phải đút một
ống dẫn đồ ăn từ mũi vô đến
bao tử. Vợ ông rất
hối hận và nói lúc trước hai vợ chồng
họ cứ căi lộn hoài. Bà
kể lại: “Được rồi, ông chửi tôi ông sẽ
bị ung thư miệng, tôi trù cho ông bị ung thư
miệng. Ai ngờ rằng
ổng bị ung thư miệng thật, người
khổ nhất lại là tôi; ngoài việc phải chăm
sóc vết thương cho ổng, đi khắp nơi
kiếm bác sĩ trị cho ổng, c̣n phải lo kiếm
tiền để trang trải…thiệt là khổ không cách
nào diễn tả được”.
Nếu bà biết trước được cảnh
khổ bây giờ th́ sẽ trân trọng những lúc c̣n
khỏe mạnh và c̣n nói: “Lúc ổng chửi tôi, tôi thà đi
lạy Phật một trăm lạy chúc phúc cho ổng,
mời ổng ăn đồ ngon, tôi cũng không dùng
lời ác độc để trù ổng”.
Hai người
cùng nhau niệm Phật trong ánh sáng từ bi trí tuệ
của đức Phật th́ không tốt hơn là căi
lộn hay sao? Rất tiếc
là chúng ta thường chọn lấy những phương
thức đối xử để gây đau khổ
lẫn nhau; lúc chưa bịnh th́ mặc sức hành hạ
thân thể này, đến lúc mang bịnh rồi th́ lại
than trời than đất. Hy
vọng là chúng ta trong những nhân duyên tương ngộ
rất ngắn ngủi này, hăy dùng tâm từ bi chân thành đối
đăi với nhau; sự giận tức oán hờn chỉ
giúp tạo ra con đường đầy chông gai đau
khổ ở phía trước.
Ông rất thích đi câu cá; lúc tay mang trầu, rượu,
và cần câu đi ra bờ sông th́ ông cảm thấy
rất thích thú. Nhưng đến
khi bị ung thư loét hết miệng th́ mới giựt
ḿnh sực tỉnh, mới biết được cảm
giác của con cá khi bị lưỡi câu đâm thủng
miệng. V́ miệng lở
loét nên ông nói chuyện rất khó khăn, lúc tôi săn sóc
vết thương cho ông, ông rán chịu đau và nói ra
những lời hối hận này, cảm nhận được
khi trước v́ một chút khoái lạc nhất thời mà
gây đau khổ cho những con cá; sự đau khổ đó
bây giờ quay ngược lại đến với ông,
cũng là đau khổ khi miệng bị lủng lỗ;
khi miệng nuốt đồ ăn giống như
cuống họng đang bị thiêu đốt, đang
bị đâm bằng dao, đau quá cũng muốn giằng
co giăy giụa như con cá cắn câu rán hết sức ḿnh để
thoát khỏi lưỡi câu.
Ông dạy cho tôi một bài học nhớ hoài không quên,
đúng là ‘nhân quả tơ hào chẳng sai!’. Có bài thơ như sau:
Mạc đạo quần sanh
tánh mạng vi (Mạng
vật yếu ớt đừng khinh
Nhất
ban cốt nhục nhất ban b́ Thịt,
da, xương xẩu như ḿnh khác chi!
Khuyên
quân mạc đả chi đầu điểu Chớ
bắn chim trên cành kia
Tử
tại sào trung vọng mẫu quy. Chim
non trong tổ đang mong mẹ về)
Có
một bác bị ung thư miệng và cũng phải
mổ để cắt bỏ tế bào ung thư ở g̣
má. Cuộc giải phẫu này
rất phức tạp, phải chia ra mấy lần
mới xong, phải cắt da ngực để đắp
lại vết mổ ở g̣ má, và đ̣i hỏi rất
nhiều sức chịu đựng. Ban đêm khi tôi đi tuần pḥng
bịnh nhân, tôi thấy đôi mắt của bác mở thao
láo nh́n lên trần nhà, đêm đă khuya rồi mà bác ngủ
không được; ngoài trời đêm tối lạnh, nước
mắt của bác cũng rất lạnh lẽo thê lương;
chúng ta phải làm sao để an ủi những bịnh
nhân này? Bác đang đợi để
mổ lần thứ nh́ nhưng không sống được
đến lần mổ cuối cùng. Có
lẽ chúng ta thường chờ đợi để làm
một công việc ǵ đó nhưng chưa chắc có
thể sống đến lúc đó, cho nên chuyện tốt
mau mau làm, niệm Phật phải niệm ngay bây giờ !
Lúc
chăm sóc những người bị ung thư miệng,
tôi thường nghĩ đôi lúc ḿnh bị mụt nước
lở trong miệng th́ rất đau, nhất là khi ăn
những thức ăn chua cay vào th́ rất rát, huống chi
vết thương lở loét cả hàm của những người
này, khi uống nước lạnh cũng phải đau đến
run. Khi chúng ta mở miệng
nói lời không tao nhă chỉ dùng năm sáu giây để nói
một câu mà câu nói đó làm cho người nghe đau ḷng
cả đời, và khi quả báo hiện ra th́ cũng đau
đớn như những người bị ung thư hàm
này! Trầu và rượu có
thể đem lại cho người ta một chút khoái
lạc nhất thời nhưng cũng đem đến
những sự đau khổ không thể nào giảm
nhẹ khi mang bịnh vào thân.
Chúng ta phải nên cẩn thận, một giây phút vui sướng ngắn ngủi đi
qua rất nhanh, thời gian chịu đau trên giường
bịnh một ngày dài như một trăm năm!
Pḥng
khám bịnh số 1 và số 2 của bịnh viện
nối liền nhau bằng một cánh cửa tự động. Một hôm tôi thấy có một bà
khoảng năm mươi mấy tuổi nằm ở
pḥng 1. Bà bị ung thư vú và
cần một loại thuốc nhưng bảo hiểm lao động
chưa chịu trả cho thuốc này nên ngoài việc đau
bịnh bà phải lo kiếm tiền trang trải chi phí
thuốc men; bà thường khóc thầm v́ chịu đựng
không nổi áp lực quá lớn.
Lúc đó bên pḥng 2 có một cô mới ba mươi
mấy tuổi và cũng bị ung thư vú, nghe được
chuyện của bà bên pḥng 1 nên lấy hết tiền trong
túi rồi nói với tôi: “Nhờ bác sĩ trao cho bà ở
pḥng kế bên”. Cô vừa khóc
vừa nói: “Chúng tôi đều chịu chung cái khổ này”. Tôi rất cảm động và
khen ngợi tinh thần Bồ Tát vị tha của cô, tôi
hiểu rơ hoàn cảnh của cô c̣n thiếu thốn hơn
bà kia rất nhiều. Con
của cô c̣n nhỏ nên phải gởi người ta nuôi
giùm, tiền lương của chồng cô rất thấp,
lại không có bảo hiểm, tiền dành dụm đă xài
hết để trả tiền bịnh viện và mổ
xẻ. Khi cô được
giới thiệu đến bịnh viện để
trị liệu phóng xạ, cô tính bỏ mặc vận
mạng đẩy đưa và không trị bịnh nữa
v́ không có tiền; nhưng khi cô nh́n thấy ḍng chữ trên tường:
‘Cho dù ngày mai là ngày tận
thế, tối nay tôi cũng phải trồng đầy
hoa sen trong vườn’ nên mới nghĩ lại, đi
về nhà má mượn tiền, tiếp tục trị
bịnh và duy tŕ mạng sống.
Cô nói: “Sanh mạng thiệt là vô thường và có nhiều
thử thách đầy đau khổ, tuy tôi không có khả năng
lớn lao ǵ nhưng tôi có một chút tâm nguyện là hy
vọng làm hết sức ḿnh, giúp đỡ cho những người
đồng cảnh ngộ cho họ sớm ĺa khổ được
vui”. Tôi rất cảm động;
hai người này đều bị bịnh ung thư nhưng
một người th́ âu sầu khổ năo; c̣n một người
th́ vượt thoát sự bi ai của ḿnh, giúp đỡ, an
ủi, và lau nước mắt cho người khác, phát huy
tiềm năng của ḿnh; khi c̣n sống th́ mỗi ngày
trồng một hoa sen, dần dần có nguyên hồ sen thơm
phức. Thử nghĩ
trị bịnh nan y đ̣i hỏi bao nhiêu sức chịu đựng
và bao nhiêu sự giày ṿ; nếu đem sự giày ṿ này đổi
lấy mạng sống âu sầu khổ năo có phải là
rất đáng tiếc không?
Tại sao không ‘trồng hoa sen thanh khiết’ trong tâm
khảm của ḿnh, cho dù chỉ nở một nụ cười
th́ cũng là bố thí, có thể làm cho ḿnh và người
khác đều được vui!
Có câu là: ‘Chỉ cần
một niệm từ bi phát khởi, tật bịnh cùng
khốn đều không ngại !’
Có
một bé trai mới sáu tuổi đă bị ung thư
tuyến lâm ba (lymphatic cancer), mới có bây lớn đă
phải trải qua rất nhiều đau khổ. Mỗi khi lượng bạch
huyết cầu của em lên cao th́ bác sĩ phải chích
một loại thuốc có tác dụng phụ là ói
mửa. Việc làm cho em vui
nhất là khi lượng bạch huyết cầu giảm
xuống quá thấp, thấp đến độ không
thể làm trị liệu hóa học được, bác
sĩ sợ độ bạch huyết cầu quá thấp
th́ dễ bị nhiễm trùng có thể nguy hiểm đến
tánh mạng; đối với em mỗi lần như
vậy th́ em vui sướng như ở tù được
thả ra, tạm thời có thể ‘miễn bị hành
h́nh’! Em nói với tôi: “Mỗi
ngày ngoại trừ xem TV th́ cũng là xem TV”. Nhà em cũng khá giả nên em được
ở một pḥng bịnh riêng.
Em nói: “Cô em gần lập gia đ́nh rồi; cô mời
em làm ‘em bé cầm bông’ trong hôn lễ của cô. Phải chi em có thể trưởng
thành th́ tốt biết mấy, nhưng không biết có
thể lớn nổi không?”
Đây là lời nói của một em bé mới sáu tuổi,
thiệt là làm cho người nghe được không
khỏi ngậm ngùi. Có lúc em ngồi
ở pḥng đợi để chờ chích thuốc, trước
đó em rất vui khi mang đồ chơi đến đó,
nhưng đến cửa pḥng th́ nhớ lại ‘đau
khổ gần đến, gần bắt đầu
rồi’ cho nên cụt hứng ngay.
Đôi khi em cắn chặt răng đưa tay tự
ḿnh t́m ra một mạch máu rồi nói: “Lấy chỗ này đi”. Đôi lúc em cũng buồn hiu không
chịu đi vô, em không khóc ra tiếng, chỉ khóc khe
khẽ, lệ ướt đẫm mi. Lần đầu tiên đến để
rút máu từ vành tai em đă khóc hết hai giờ đồng
hồ. Cho đến nay đă
chịu khổ quá nhiều lần rồi, em thừa
hiểu khóc hoặc là nhơng nhẽo th́ cũng không giúp ích được
ǵ nên em rất dũng cảm để chịu đựng. Thiệt là một em bé quá đáng
thương. Trong đời sống chúng ta không muốn già nua th́
phải đoản mạng (chết yểu), nếu không
muốn chết yểu th́ phải già nua!
Có
một người mới ba mươi mấy tuổi đă
bị ung thư mũi vào thời kỳ chót. Thường thường nếu
ba mươi mấy tuổi đă chết th́ có lẽ
bạn nói rất đoản mạng. Nhưng cô này chỉ mới ba mươi
mấy tuổi đă làm cho người nhà của cô
cảm thấy không thể chịu đựng nổi
nữa. Chồng cô phải
vừa lo cho con vừa lo cho cô nên phải xin nghỉ hoài, và
cũng v́ vậy nên đă mất chỗ làm. Cả nhà lâm vào hoàn cảnh
thiếu thốn và phải đến hội Từ Tế
xin giúp đỡ. Hội
Từ Tế đồng ư cho cô một số tiền to
lớn để trợ giúp cô trả tiền nhà thương. Má cô đợi lâu quá nên than:
“Tại sao lâu quá c̣n chưa đem tiền lại. Lâu quá!”.
Tôi nói: “Người ta không phải thiếu tiền bà
đâu. Tiền này là do hội
viên dành dụm, ăn xài tiện tặn, từ bi đem đi
giúp người. Họ không
nhẫn tâm thấy bà chịu khổ chứ không phải người
nào cũng giàu có ǵ đâu”. Bà thở
dài ra! Không phải lo tiền
bạc nữa! Nhưng không
khí trong gia đ́nh c̣n quá ngột ngạt. Bịnh nhân cũng không an tâm
tiếp tục sống, má cô lo cho cô đă quá mệt
mỏi nên nói: “Mày sao không mau chết cho rồi, làm hại
tụi tao phải chịu khổ theo!”. Chồng cô khổ quá thường
lại hỏi tôi: “Cổ c̣n ‘kéo dài’ được bao lâu
nữa?”. Tôi nói: “Xin đừng
dùng chữ ‘kéo dài’ được không? Sống được một
ngày trong cuộc đời này thiệt là rất quư, tương
ngộ một ngày thiệt là hiếm có”. Nếu chỉ chú trọng vào
sự khổ và để ư đến chỗ tối tăm
trong đời sống của ḿnh, cho dù không có bịnh th́
cũng là ‘kéo dài’ mạng sống.
Nếu tích cực nghĩ về những chuyện
tốt, cho dù đời sống rất khó khăn th́
cũng đáng sống.
Nếu trân trọng đời sống, ba mươi
tuổi so với mười lăm tuổi cũng là trường
thọ gấp đôi, so với người sáu tuổi th́
cũng trường thọ hơn gấp năm lần.
Tâm địa có thể cải
tạo vận mạng. Tôi có người bạn mới
ba mươi mấy tuổi th́ bị ung thư xương,
trước sau tổng cộng đă phải giải
phẫu hai mươi lần.
Sau một lần động mạch ra máu không
ngừng nên phải cưa đứt một chân. Đời sống của cô c̣n khó khăn
hơn người kể ở trên nhưng nhờ biết
áp dụng Phật pháp, lấy tâm biết ơn đối đăi
với nhau, cả nhà sinh sống c̣n vui hơn lúc chưa
bị bịnh.
Cô
nói với tôi: “Tôi rất may mắn, tôi mất đi
một chân mà có thể nghe được Phật pháp. Nếu không nghe được th́
không biết phải tạo ra bao nhiêu nghiệp tội,
phải chịu bao nhiêu khổ đau”.
Chồng
cô ở bên ngoài pḥng mổ đợi qua hai mươi
lần giải phẫu, quư vị biết được
tâm trạng của ông chồng này không? Ông nâng đỡ chăm sóc cô như
một vị Bồ Tát, không hề than thở chút nào. Sau khi biết Phật pháp, cô
chống nạng cùng chồng nấu đồ ăn đem
cho những người cùng bị bịnh và khuyên họ
niệm Phật. Tôi hẹn
với cô: “Cô học thuộc ḷng kinh A Di Đà rồi chúng ta
cùng nhau đi lên núi vừa đi vừa lạy để
hồi hướng cho những người bị bịnh
ung thư”. Do đó cả nhà
cùng với cô học kinh, con cô mới học đến
tiểu học nói với cô: “Má học thuộc ḷng kinh A Di
Đà một chữ không sai th́ con cho má năm trăm đồng
tiền thưởng”; Cô
ở nhà vừa làm đồ thủ công vừa học kinh
hoặc niệm Phật, đến tối th́ trả bài
cho mọi người nghe.
Đến ngày cô học thuộc hết quyển kinh, cô
nói: “Cả nhà tôi từ
trước đến giờ chưa khi nào vui
mừng giống như hôm đó”.
Kể cả tiền thưởng của con và
tiền công kiếm được trong thời gian học
kinh cô có được bốn ngàn đồng, cô đem
toàn bộ đi cúng dường Tam Bảo. V́ muốn đi lên núi mỗi đêm
khi cả nhà đă ngủ yên giấc, cô phải tập
luyện lạy Phật.
Nếu bạn thấy cô dùng một chân để
lạy Phật bạn sẽ cảm động đến
rơi lệ. Chồng cô t́m
cách quyên tiền để làm cho cô một cái chân
giả. Cô nói: “Nếu ông có
thể quyên được mười vạn đồng
th́ xin đưa tiền này cho tôi để tôi bố thí;
tại v́ một cái chân cũng đủ dùng rồi”. Cô chỉ hai cây nạng rồi
nói: “Tôi không phải là thiếu một chân mà ngược
lại tôi dư một chân”.
Khi cô nói câu này là lúc tế bào ung thư đă lan đến
phổi nên phải mổ và trị liệu hóa học thêm
một lần nữa. Nét
mặt cô hồng hồng và thường có nụ cười
thật tươi, nhiều khi c̣n tươi hơn
những người không bịnh nữa. Cô nói: “Nhà tôi tuy là không giàu có ǵ nhưng
bây giờ c̣n vui hơn lúc trước khi chưa cưa chân
nữa”. Người niệm
Phật ngay đời này đă có thể sống trong
Tịnh độ, trong không khí vui vẻ ḥa thuận
của cuộc sống hàng ngày.
Như phần đông người bịnh ung thư
khác, cô cũng không tránh khỏi t́nh trạng kinh tế
thiếu thốn; có người mời cô mở tiệm
làm tṛ chơi điện tử cho trẻ em có thể
kiếm rất nhiều tiền.
Cô nói: “Tôi muốn thử chồng nên cố ư đem
việc này hỏi ư kiến của chồng”. Cô rất vui khi ông nói: “Chúng ta là người
niệm Phật, sợ con ḿnh bị tṛ chơi điện
tử mê hoặc th́ làm sao có thể làm hại con cái của
người khác!”. Tôi rất
khâm phục hai vợ chồng này, tuy là trong hoàn cảnh khó
khăn mà họ vẫn có những hành động rất
cao thượng. Có nhiều
gia đ́nh cũng v́ kinh tế khó khăn nên phải sa vào
hoàn cảnh đen tối, ngược lại gia đ́nh
của cô nhờ bị bịnh mà có thể hướng
về đức Phật, đem những chướng
ngại khó khăn của ḿnh biến thành những đóa
hoa sen thơm ngát, rất xứng đáng làm gương cho
người khác.
Có
một người bị ung thư hàm miệng phải
giải phẫu để cắt bỏ tế bào ung thư
và phải cắt bỏ luôn xương hàm dưới. Bác sĩ phải cắt da trên
ngực để đắp chỗ mổ và bất đắc
dĩ ông trở thành người không có môi. Ông không thể ăn cơm,
chỉ có thể uống súp hoặc thức ăn
lỏng. Ông không thể
ngồi ăn như người thường, phải nằm
xuống để ăn, nếu không th́ thức ăn
sẽ đổ ra. V́ không có
môi cho nên đối với ông không có chuyện ‘ngậm
miệng lại’. Bạn hăy
nh́n những người này làm thế nào rán hết sức
ḿnh để chịu đựng và chống chỏi
với bệnh tật; có nhiều lúc tôi tự hỏi
tại sao ḿnh lại được may mắn hơn
họ? Trong lúc chịu khổ
đau như vậy ai nỗ lực th́ cũng có thể vượt
qua; tuy họ có hoàn cảnh và tâm trạng không giống nhau
và có cái nh́n đời sống khác biệt nhau, nhưng
tất cả đều tin sâu những ǵ Phật nói. Lúc tôi giải thích những điều
Phật dạy cho người trẻ tuổi, nhiều khi
phải nói đến khô cuống họng luôn mà họ
cũng không tin; nhưng đối với những người
đang chịu đau khổ trong bịnh viện, không
cần nói ǵ hết, chỉ hỏi: “Khó chịu, đau
khổ không?”.
Họ
đáp: “Rất khó chịu, rất đau khổ”.
Tôi
nói: “Phật nói thế gian là
biển khổ, hăy niệm A Di Đà Phật, đem tâm
niệm hướng về phía quang minh, ĺa khổ được
vui”.
Họ
không nói thêm câu nào nữa lập tức bắt đầu
niệm A Di Đà Phật. Hèn chi
mới có câu: ‘Thập phương
ba đời chư Phật đều lấy tám thứ
khổ làm thầy’. Khổ
là vị thầy tốt nhất, nhưng chúng ta phải đợi
cho đến lúc này sao?
Lại
thêm một người bị ung thư hàm miệng, ông đă
bị mù, tế bào ung thư đă phát triển đến
cổ. Nước vàng không
ngừng từ g̣ má chảy xuống. Con dâu của ông nói: “Ở nhà tôi xịt
không biết bao nhiêu dầu thơm cũng không làm những
mùi hôi này bay mất”. Tôi nghe
rồi mới nói riêng với cô: “Tôi thấy cô thường
dẫn ba chồng của cô đi khám bịnh, cô rất có
hiếu thảo; chăm sóc cho người bịnh ung thư
rất khổ, nhưng Phật có nói: ‘Trong tám phước điền, chăm sóc cho người
bịnh là phước điền hạng nhất’. Nếu cô tận tâm chăm sóc cho
ông, làm cho ông già được hoan hỷ, tự nhiên phước
báo sẽ vô lượng.
Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ già đi,
sẽ sanh bịnh, chúng ta đối xử với người
già như thế nào, con cái của ta cũng sẽ bắt
chước theo để đối xử với chúng
ta. Chúng ta phải để ư,
cho dù một hành động lời nói rất nhỏ nào
cũng vậy, cũng phải thương xót và tội
nghiệp cho người bịnh.
Người bịnh không muốn có những mùi hôi như
vậy. Ngày nay một trong ba
bốn người sẽ có một người bị ung
thư, nếu người đó là ḿnh th́ cũng không
thể nào không có mùi hôi; họ bất đắc dĩ
phải như vậy mà, nếu cô có thể bao dung một
chút th́ cô sẽ có thêm phước báo.”
V́
ông bị mù nên thường hỏi bác sĩ bệnh
trạng rất kỹ: “Bịnh của tôi thật sự
ra sao? Bác sĩ nói thiệt cho
tôi biết đi, không hề ǵ đâu. Điều tôi lo nhất bây giờ là
con tôi c̣n một đứa chưa lấy vợ!”. Ôi chao, người ta đúng là có
vô biên phiền năo, một ḿnh bịnh nặng mà không lo, lại
lo cho ‘đứa con chưa cưới vợ’!
Khi
một người không có năng lực lo cho ḿnh th́
thiệt ra không có khả năng và biện pháp ǵ để
lo cho người khác. Nếu
không vượt qua biển khổ của ḿnh th́ không
thể nào độ người khác và giúp họ vượt
qua biển khổ được.
Có
một bịnh nhân ở trước ngực có xâm h́nh
rồng và cọp, chắc trước kia là người
trong băng đảng ǵ đó.
Từ ngày bị ung thư
hóc miệng trở đi ông bắt đầu chân thành sám
hối. Ông nói: “Tôi thiệt đáng
đời”, không một lời trách móc, chân thành ăn năn,
giúp đỡ bịnh nhân khác, tận lực tu
thiện. Trải qua rất
nhiều hoàn cảnh khổ nạn cuối cùng ông cũng đă
vượt qua…
Tôi
thường nghe bịnh nhân than thở: “Cả đời
tôi đâu có làm ác, đâu có làm hại ai đâu, đúng là ông
trời không có mắt; tại sao để cho tôi bị
bịnh khổ như vầy?”.
Lời này làm tôi suy nghĩ có thiệt như vậy
không? Có thiệt là chưa làm
việc ác không? Nếu đúng
như vậy th́ chúng ta đều là thánh nhân hết. Xem lời Phật dạy, chúng ta
từ nhỏ đến lớn khi gặp chuyện không
vừa ư th́ nổi giận, mở miệng th́ chửi
mắng. V́ dục vọng khi ăn
uống không đoái hoài ǵ đến gà con mất mẹ,
không màng ǵ đến heo con một nhà sanh ly tử
biệt. Không nói lời thành
thật, làm việc không tích cực, thường căi
lời cha mẹ, vân vân.
Tất cả không có thứ nào không bị tham, sân, si
chi phối. Người có
trồng cải rồi đều biết hột cải
tuy nhỏ nhưng lúc mọc ra cây cải th́ không
nhỏ. Lúc quả báo chưa
hiện ra chúng ta c̣n dám nói xấu người khác, hoặc
là trong lúc giận dữ nói lời xúc phạm đến người
khác, dám mời khách ăn hải sản sống. Khi quả báo hiện ra mới
biết khổ không chịu đựng nổi, đến
lúc bị khổ nạn mới cầu nguyện để
tiêu nghiệp chướng.
Lăo
ḥa thượng Quảng Khâm có nói:
“Phải từ thân, khẩu, ư mà
tiêu trừ căn bản của nghiệp chướng”.
Nói
một cách khác khi tham ăn, nghĩ đến con cá chép, con
cá trê này cũng là một chúng sanh mà mười phương
chư Phật thương xót; nói như vậy th́ đó
cũng là huynh đệ của ḿnh, chư Phật đang
thương xót, má nó đang trông đợi nó; khi gặp chuyện muốn
nổi giận nhưng v́ hiểu đó đều là
mộng huyễn cho nên không sanh tâm sân hận nữa. Nhịn không được
muốn chửi người, nghĩ đến họ
cũng là chúng sanh mà đức Phật A Di Đà ngày đêm
trông mong để cứu độ và tiếp dẫn;
họ cũng bị nghiệp lực trói buộc và có
sự khổ năo, cho nên mới chuyển tâm niệm để
nghĩ đến Phật và niệm Phật.
Nếu
có thể sửa đổi ḿnh một cách tích cực, không
bị ngôn ngữ, hành động, ư niệm của thói quen
làm chướng ngại, nghiệp chướng sẽ
bị tiêu trừ, sự khổ của bịnh tật
cũng nhờ tâm niệm từ bi nhu nhuyễn hóa giải
và giảm dần đi.
Tôi
gặp một giáo sư trung học, ông là một bịnh
nhân rất phi thường.
Mỗi lần đi ngang giường bịnh tôi đều
dùng tâm niệm t́m ṭi học hỏi để quan sát
họ. Khi ông vào bịnh
viện th́ ung thư đă lan đến tuỷ xương
sống, đè đến dây thần kinh cho nên hai chân không
thể cử động được nữa. Trải qua một thời gian dùng
phóng xạ trị liệu th́ miễn cưỡng có
thể chống nạng đi được; nhà cầu ở ngay kế bên giường
đối với ông là một khoảng cách rất xa. Ông thường phải phấn đấu
rất khó khăn mới có thể ngồi dậy và đi
vào nhà cầu; mặc dù thân thể của ông rất
yếu nhưng hai mắt ông rất có tinh thần. Ông nói chuyện rất khó khăn
v́ thần kinh trong năo cũng bị ung thư. Lúc ngủ hai mắt nhắm không được,
rồi sau đó xương chân bị găy luôn. Trong lúc bị bịnh nặng như
vậy mà ông nói: “Rất tiếc là bây giờ tôi không
thể dạy học được nữa!” (ông đă là
một giáo sư rất nhiệt tâm dạy học tṛ). Ông nói: “Từng trải qua cơn
bịnh quá đau khổ này làm cho tôi hiểu thêm về
cuộc đời, hiểu rơ được sự
khổ đau của mọi người, tôi sẽ càng thương
yêu chăm sóc học sinh của tôi; rất tiếc là tôi
không c̣n cơ hội nữa!”.
Tôi nói: “Ông là một giáo sư rất đáng kính
trọng, chỉ xem nguyện vọng của ông khi bị
bịnh như vậy th́ biết được”. Ông từ trên giường
phấn đấu để ngồi dậy nhưng
chỉ có thể ngước đầu lên ba tấc. Chúng ta lúc ngồi dậy th́
lập tức ngồi dậy.
Ông phấn đấu đến cả người đổ
mồ hôi ướt đẫm áo cũng chỉ ‘gần’
ngồi dậy được; nhưng ông rất vui và nói:
“Tôi hôm nay có thể nhích được khoảng cách như
thế này”. Đối với tôi,
khi ông ngồi dậy được khoảng 30 đến
40 độ c̣n đáng nể phục hơn lực sĩ
nhảy xa ở Thế Vận Hội. Ngoài sự phấn đấu
về thể lực ra ông c̣n có tâm nguyện muốn
tiếp tục dạy học và tiếp tục chăm sóc
cho học sinh. Người thường
chúng ta mỗi ngày khoẻ mạnh đầy đủ tinh
thần nhưng thường tính toán chuyện nhỏ
nhặt để đem phiền năo đến cho ḿnh;
chúng ta thường than trách công việc trong chỗ làm, có
sức lực khả năng mà không làm chuyện tốt.
Ông là một bịnh nhân nằm chịu đau trên giường
nhưng lại có nguyện vọng đi dạy học
trở lại để chăm sóc dạy dỗ thêm cho
học sinh. Tuy là ông không
thể làm vậy được, nhưng tâm nguyện
rộng lớn chân thành của ông đă đem ông lên
giảng đài vĩnh viễn và trở nên giáo sư
của hàng vạn người.
Có
một người bị ung thư lưỡi đang
trong thời kỳ cuối cùng.
Tế bào ung thư đă từ lưỡi lan
rộng đến cả hàm dưới. Lúc đầu c̣n khoẻ th́ có
thể tự ḿnh đi đứng được, sau đó
phải có hai người vịn ở hai bên mới đi được,
rồi phải ngồi xe lăn, rồi cuối cùng th́
không cử động được nữa. Nước vàng từ những
chỗ bị ung thư rỉ ra hoài; mỗi khi tôi đến
thay thuốc ông thường hỏi: “Tại sao càng ngày càng
lớn vậy?”. Ông nói
chuyện không rơ ràng; khi tôi rửa vết thương thay
thuốc cho ông, ánh mắt của ông nh́n tôi h́nh như là đang
hỏi: “Không biết bịnh của tôi có thể lành được
không? Tôi gần chết
rồi phải không?” Cái tâm
trạng sợ hăi đó chính là tấm ảnh của ‘sanh
tử trên sông Hằng’.
Khi
chúng sanh đối đầu với sanh tử, ai cũng
cảm thấy rất cô độc, sợ hăi, khủng
bố. Cho dù là một bà
mẹ tám mươi mấy tuổi cũng co ro vào ḷng tôi
khóc nức nở như một đứa bé … Một hôm tôi đi nghe giảng
kinh và đi ngang qua đường T. H. Trời lúc đó rất lạnh,
quán bán thịt nai bên đường vừa mới khai trương. Tôi lái xe mô tô đi ngang nh́n
thấy có ba con nai đang đứng khép nép trong
lồng. Ánh mắt của con
nai đó rất quen thuộc, rất giống ánh mắt
của những bịnh nhân đang nằm trong bịnh
viện, h́nh như họ đang nói: “Tôi sắp chết
phải không? Mau mau cứu tôi
với; không kể dùng thuốc ǵ, dùng phương pháp ǵ
…” Tội nghiệp ba con nai. Hăy thả chúng ra! Thả cho chúng về rừng đi! Một khi hô hấp của chúng
ngừng lại th́ không có cách ǵ có thể làm cho nó chạy
nữa, mau mau kiếm người chủ van xin đừng
giết chúng nó! Khi quay trở
lại tôi ghé ngang và mua mấy con nai đi phóng sanh. Khi người chủ nghe chúng tôi
muốn đem nai đi phóng sanh, cảm động mà nói:
“Tôi là người nuôi nai, rất thương yêu chúng, không
bao giờ giết hại chúng.
Nhưng v́ kinh tế khó khăn, bất đắc
dĩ hôm nay phải bán chúng làm thịt, tôi cũng rất đau
ḷng!”. Nghe xong tôi rất xúc động,
chúng sanh tạo nghiệp thọ báo đều có những
sự khổ năo bất đắc dĩ như
vậy. Thật ra mỗi người
đều có Phật tánh; đây cũng là lư do mà đức
Phật A Di Đà luôn luôn khoan dung, thương xót, chờ đợi
đến lúc chúng ta có một niệm quay đầu
trở về với quang minh.
Chúng tôi mua nai xong đem chúng đi quy y Tam Bảo
rồi thả vào rừng, hy vọng là chúng sẽ không
bị bắt trở lại, và cũng nguyện cho
những người đi săn có thể phát Bồ đề
tâm, gặp nhân duyên thiện có thể đổi nghề
nghiệp, chấm dứt nghiệp sát để khỏi
chịu khổ báo nữa.
Bịnh nhân thường để
một con cá trê hay cá chép trong nồi hay thau nước
ở dưới giường hoặc trên bàn để ăn
cho bổ. Khi tôi đến thăm
bịnh th́ thấy h́nh như những con cá này đang vùng
vẫy. Có một hôm tôi đến
giường bịnh của một cô bị bịnh ung thư
vú. Cô là một tín đồ Cơ
Đốc giáo rất trẻ, mới hai mươi bảy
tuổi đă bị bịnh này; bạn có thể tưởng
tượng được khổ tâm của cô không? Hai tay cô lúc nào cũng lạnh. Ở dưới giường cô
có để một con cá; tôi nói với cô:
“Có
người đang kêu cứu ở dưới giường
cô”. Cô mở mắt thật
lớn và tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Tôi hỏi cô:
“Lúc
cô biết được cô mắc phải bịnh này th́
cô rất hy vọng sẽ có người cứu cô hết
bịnh phải không?”. Cô
gật đầu, tôi nói tiếp:
“Con
cá dưới giường biết là nó sắp sửa vô
chảo nóng, cảm tưởng của nó cũng giống
cảm tưởng của cô bây giờ. Cô chịu làm Chúa Giê Su đi
cứu con cá này không? Con cá đang
cầu cứu cô đó. Cô hăy xem”.
Mắt
của cô đỏ lên (muốn khóc). Tôi mới nói thêm:
“Cô
phát tâm cứu chúng nó, lúc cô bị chuyện khó khăn hay tai
nạn, tự nhiên sẽ có người lại cứu
cô”. Cô vui mừng chịu đem
cá đi phóng sanh. Sau đó
một vị đạo hữu ở trường đại
học Chuyên Khoa Đài Trung giúp cô đem cá đi phóng sanh…
Nhiều
khi tôi nói với bịnh nhân: “Bán cho tôi nồi cá sống này
được không?”.
Bịnh
nhân thường nói: “Nếu
bác sĩ thích ăn th́ tôi tặng cho bác sĩ”.
Tôi
trả lời: “Tôi ăn chay, không ăn cá, tôi muốn mua
những con cá này đi phóng sanh, đem công đức phóng
sanh này hồi hướng cho bạn, hy vọng là bạn
cũng giống như con cá này cũng được
giải thoát, khôi phục lại sức khoẻ, sớm
lành bịnh về nhà đoàn viên với gia đ́nh.”
Thông
thường những bịnh nhân đă chịu quá
nhiều đau khổ hoặc có kinh nghiệm đi
gần đến cánh cửa sanh tử đều hiểu
rơ ‘t́nh cảnh của ḿnh cũng giống như của con
cá’. Họ thường phát tâm
từ bi đem cá đi phóng sanh.
Tâm niệm đem cá phóng sanh thường có thể làm
cho họ có cảm giác vui vẻ, cổ vơ sự yêu
đời của họ, và làm tươi nhuận đời
sống họ nhiều hơn là ăn cá.
Có một người
trẻ tuổi khi đi trên phố nửa đêm bị
kẻ bất lương đâm vào bụng bị thương
nằm ngă quỵ ở bên đường. Sau đó được người
ta chở vào nhà thương, vết thương quá lớn
nên ḷi ruột ra, gan và mật cũng bị thương. Chúng tôi nửa đêm phải giúp
anh giải phẫu và khi đó anh không có người nhà đi
theo nên chúng tôi phải chụp h́nh vết thương trước
khi giải phẫu để ngừa trường hợp
giải phẫu có trục trặc ǵ phải có bằng
chứng bị thương trước… (Trong xă hội
hiện nay chúng ta cứu người cũng không phải
là chuyện dễ dàng!). Anh này
mới đính hôn không bao lâu, bạn có thể tưởng
tượng được sự bối rối, lo
lắng của người vợ sắp cưới khi
nghe tin anh bị thương không?
Những thứ trong bụng chúng ta thật không
phải là vật ǵ tốt đẹp, đức Phật
nói với chúng ta về ‘quán bất tịnh’, chúng ta có
thể quán tưởng thử xem.
Nếu lúc đính hôn mà lấy một tấm h́nh
vết thương bụng máu me tùm lum đem cho người
ta xem, chắc rất ít người sẽ chịu đính
hôn với bạn!
Có
một bịnh nhân nọ vào bịnh viện để trị
bịnh xương, phía trên chân có gắn một cây
bằng kim loại xuyên qua xương và qua luôn cả
bắp thịt phía bên kia. Phía
dưới chân cũng xỏ thêm một cây như
vậy. Bạn có thể tưởng
tượng khuôn mặt và tiếng hét kêu đau của người
này lúc đút cây vào xương.
Nếu người đó là bạn th́ bạn có
thể mỉm cười được không? Chúng ta thử đoán xem? Bạn thấy những chỗ
bán chim nướng ở chợ đêm không? Có cả năm mười con chim
xỏ chung vô một xâu treo lủng lẳng trước quày
hàng. Sự đau khổ ǵ gây
ra cho những chúng sanh khác một ngày nào đó cũng có
thể xảy ra đến thân thể chúng ta. Khi chuyện đó xảy ra th́
chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng đau đớn,
một chút xíu cũng không dễ chịu. Nhưng chúng ta thường đem
sự đau khổ này gây ra cho chúng sanh khác một cách vô
t́nh và xem như không có ǵ xảy ra.
Hăy nghĩ đến sự khổ của chúng sanh, và
cũng nên nghĩ đến hạnh phúc lâu dài, xin tất
cả mọi người đừng làm vậy nữa, để
khỏi ‘hư tiếu sát tha mạng, bi khốc nhập địa
ngục’ (cười vui khi giết mạng sống của
con vật, rồi khóc than lúc vào địa ngục).
Có
một người bị ung thư tử cung mỗi
lần gặp tôi đều khóc.
Bà đă ly dị và một ḿnh nuôi mấy đứa
con rất cực khổ; đứa nhỏ mới học
tiểu học th́ bà bị bịnh này. Mỗi ngày âu sầu phiền
muộn qua ngày… Thật ra trước
đó bà đă trị bịnh gần hết rồi;
nếu bà có được chút ít trí tuệ trong đời
sống… th́ cũng có thể sinh sống vui vẻ. Người ta có thể trị
hết bịnh ung thư, nhưng sự đau khổ trong
tâm nếu không dùng trí huệ và nghe Phật pháp th́ trừ
không hết. Bà đă được
trị liệu bằng phóng xạ, bằng giải
phẫu, chỉ thiếu một chuyện là không thỉnh đức
Phật mổ cho tâm bà. Sự
giải phẫu có hiệu quả nhất là phải
giải phẫu trong tâm, bứng tận gốc rễ
của phiền năo, để bà đừng ôm cứng cây
cổ thụ phiền năo mỗi ngày mà cứ tưởng
là cây phiền năo quấn chặt lấy bà.
Có
một bà lăo lúc vào bịnh viện băng kín vải trên
mắt. Lúc tôi mở băng ra
trong tâm cảm thấy đau nhói!
Bà lăo này có gương mặt rất hiền hậu,
tṛng mắt bà đă bị móc ra v́ bị ung thư nên
phải làm như vậy. Chúng
ta có khi nào nghĩ đến lúc dùng đũa để
gắp tṛng mắt của con cá trên bàn ăn? Chúng ta thử nghĩ đến
Helen Keller, một vĩ nhân bị điếc, câm, và mù đă
viết như vầy: ‘Nếu mắt tôi có thể sáng
lại được chỉ ba ngày thôi, chỉ ba ngày
thôi…’. Chúng ta có thể trong
một trường hợp nào đó sẽ bị mất đi
đôi mắt, vậy mà lúc c̣n đôi mắt th́ lại nh́n đông,
nh́n tây và tự ḿnh sanh ra phiền muộn? Tại sao chúng ta không nh́n ánh
mắt từ bi của đức Phật? Tại sao không nh́n về phía có vô
lượng hào quang? Chúng ta thường
dùng cặp mắt quư báu để nh́n rác rến ở chung
quanh; đem rác rến của người khác bỏ vào tâm
khảm của ḿnh. Để lâu
rồi th́ cả nội tâm giống như một cái thùng
rác hôi thúi nên phải xa cách với chúng Bồ Tát trong thanh
tịnh đại hải. Xin
hăy mở rộng con mắt của nội tâm, nhân lúc c̣n
nh́n thấy được, hăy nh́n cái tốt đẹp
của người khác, học tập ưu điểm
của người khác; hăy cảm nhận thêm một chút,
hăy nh́n thêm ‘cám mục trừng thanh tứ đại
hải’ của đức Phật A Di Đà, hăy nh́n phong
cảnh cực kỳ xinh đẹp của thế
giới Cực Lạc, và tấm ḷng rộng lớn như
biển của chư Bồ Tát.
Có
một người bị ung thư ở thực quản,
hô hấp bị khó khăn, phải đút một ống
từ mũi vào phổi để giúp sự hô hấp và
một ống để đút đồ ăn vào bao
tử; có khi bà phải rán sức để ho, mỗi
lần ho th́ đau như xé ruột gan, toàn thân run rẩy
v́ đau đớn. Chồng
bà nh́n thấy cảnh tượng đau ḷng như vậy
chịu không nổi nên chạy ra hành lang mà khóc. Đôi lúc tôi đi chợ nh́n thấy
những con gà bị treo trên quày thịt cũng tội
nghiệp như vậy. Trên
cổ của con gà nào cũng có khoét một lỗ để
treo, rất ít người thương hại sự đau
đớn của chúng nó; nhưng
đến khi người đút ống thở vào mũi
là vợ, là con, hoặc là mẹ của bạn th́ bạn
cũng sẽ đau nhót ruột mỗi khi họ ho và
thở mạnh.
Có
một người làm nghề bán thịt heo, ông bị ung
thư phổi được một thời gian th́ qua đời. Tôi nghe vợ và con ông kể
lại khi ông về nhà mấy ngày hôn mê không tỉnh
nhưng miệng cứ la hét và nói:
“Mau
mau đem những gan heo treo trên tường đi chỗ
khác”. Hoặc là:
“Mau
đem đầu heo đi chỗ khác”.
Ông
cứ kêu la như vậy suốt mấy ngày đêm,
mọi người trong nhà sợ đến lông tóc
dựng đứng nhưng không hiểu ông nói cái ǵ. Cảnh tượng lúc ông
chết rất là dễ sợ, ông chịu rất nhiều
đau khổ. Từ đó người
nhà của ông mới biết nhân quả báo ứng của
sự sát sanh; khi ông nằm bịnh viện tôi đă khuyên
người nhà ông niệm Phật, nhưng họ nói trong
lúc buồn khổ như thế th́ làm sao niệm được? Tuy đức Phật A Di Đà có ḷng
đại từ bi tiếp dẫn người niệm được
mười danh hiệu Phật lúc lâm chung văng sanh về cơi
Cực Lạc, nhưng lúc c̣n khỏe mạnh người
ta rất khó niệm được v́ bị mê hoặc
bởi t́nh ái của thế gian, huống chi là lúc gần
chết bị sự bịnh khổ giày ṿ hành hạ th́ làm
sao có thể niệm được! Nguyện cho sự thị
hiện thuyết pháp của người bịnh này làm cho
người khác nghe thấy được và rút tỉa
kinh nghiệm để tránh khỏi sự đau khổ tương
tợ. Và cũng nguyện công
đức cảnh giác chúng sanh của ông có thể giúp ông
ĺa cảnh khổ và được Phật tiếp
dẫn. Và cũng nguyện cho
những chúng sanh bị ông giết hại nương vào nước
cam lồ của Phật pháp, cởi mở gút mắt trong
ḷng, đồng niệm Di Đà, đồng sanh tây phương,
đồng thành Phật đạo.
Người
khỏe mạnh thường than ngủ không đủ. Trong bịnh viện có quá
nhiều nước mắt, sự đau khổ kéo dài lây
lất! Người chưa
tới số, nằm nướng trên giường và nói
đồng hồ reo báo thức quá ồn. Người tới số,
suốt đêm chiến đấu và dằng co với sanh
tử. Có một người
bị ung thư ở hàm dưới và lan đến
cuống họng. Ông không
thể nuốt được, hô hấp cũng khó khăn,
cho nên bác sĩ mới khoét một lỗ ở bụng để
đút ống dẫn thức ăn vào dạ dày, và khoét
một lỗ ở cổ để giúp sự hô
hấp. Chúng ta có thể ăn
uống không cần khoét lỗ để đút đồ ăn
và hô hấp không cần khoét lỗ đút ống th́
thiệt rất quư, rất đáng biết ơn! Vài ngày trước khi ông mất,
có thể nói là mỗi ngày đều chảy máu một
chút, cách hai ba ngày lại chảy máu nhiều; máu từ
miệng và mũi chảy ra, từ chỗ đút ống
thở chảy ra. Những người
y tá và bác sĩ trực rất muốn cứu ông nhưng
chỉ có thể đứng một bên cầm cái thau để
hứng máu từ thân ông chảy ra, rồi phải
truyền máu cho ông tại v́ máu trong ḿnh ông chảy ra từ
những chỗ không thể cầm được. Có một lúc máu của ông chảy
ra dính vào cả người tôi.
Đôi mắt của ông đỏ ngầu và sưng
lớn lên trông rất dễ sợ. Cả đêm chúng tôi ở bên
cạnh chăm sóc và hứng máu cho ông. Sáng ngày hôm sau c̣n phải tiếp
tục khám bịnh nên tôi mới nhờ một người
bạn đem áo lại cho tôi thay.
Áo tôi có thể thay c̣n áo của ông th́ không thể thay được! Bạn biết không, mỗi
lần ông cử động mạnh một chút là máu
chảy ra nhiều thêm nữa.
Chúng tôi phải không ngừng tiếp máu vào cho ông nhưng
cũng không nhanh bằng máu từ người ông tuôn ra;
thuốc men ǵ cũng hết công hiệu; thân thể ông
cứ chảy máu như vậy và hành hạ ông cả ngày,
cả đêm. Người ta
muốn nhắm mắt một cách êm đềm thiệt
không phải là một việc đơn giản!
Từ
hôm đó tôi hiểu thêm một chút về vấn đề
sanh tử, cái h́nh bóng phản chiếu trên sông Hằng
rất có thể cũng là h́nh bóng của chính ḿnh!
Có
một em trai 16 tuổi là một học sinh hạng
nhất trong lớp; em bị bịnh ung thư năo. Em đă phải mổ năo bốn
lần mà ba lần mổ được tiến hành trong
cùng một năm. Em vào bịnh viện lần này
để trị liệu phóng xạ, xương năo
của em bị cắt đi một khoảng cho nên cái
đầu bị lơm vô một bên.
May mà tánh mạng c̣n duy tŕ và có cơ hội nghe
được Phật pháp.
Một hôm tôi nhận được một bức
thiệp cám ơn của ba em gởi. Trong đó ông nói là em nhờ ông
viết và hy vọng nếu thuận tiện th́ xin gởi
cho em một tượng Phật để em lễ
lạy. Ông rất khách sáo
sợ làm phiền tôi, và làm như là bất đắc
dĩ lắm mới xin tượng Phật. Tôi cảm động đến
chảy nước mắt nên lập tức đi
thỉnh một tượng Phật A Di Đà cho em. Ông ở Phong Nguyên, tôi quá bận
nên phải nhờ một cô y tá đem cho ông. Cô y tá này kể lại khi cô
vừa đến th́ em từ trên giường ngồi
bật dậy, v́ nửa thân người gần như cử
động không được nên đi cà nhắc nhưng
rất hăng hái và có tinh thần để đi lạy
Phật. Nh́n cảnh
tượng như vậy nên cô cảm động và nói:
“Tứ chi tôi c̣n khỏe mạnh nhưng từ
trước đến nay không bao giờ có ư muốn
lạy Phật, nh́n thấy em chí thành như vậy,
phấn đấu hết sức lực yếu ớt
của ḿnh để lạy Phật, tôi rất xấu
hổ”. Khi người ta c̣n
khoẻ mạnh đi đứng cử động
được, th́ cứ nghĩ đó là tự nhiên, ít khi
nào quư trọng. Thời gian
thân thể khỏe mạnh không thể kéo dài hoài
được, những đoạn trước có kể
người ta có thể mất đi miệng, mất
cuống họng, thậm chí đến mất bộ
năo. Ngày nay chúng ta c̣n có
miệng chúng ta nên học những lời nói ôn ḥa tốt
đẹp, cùng nhau khuyên nhủ giúp đỡ, cùng nhau
niệm câu vạn đức hồng danh ‘A Di Đà
Phật’. Chúng ta không biết
khi nào có thể mất đi bộ năo, ngày hôm nay nên dùng nó
để nghĩ đến hào quang và ḷng từ bi của đức
Phật.
A
Di Đà Phật. A Di Đà Phật.
Khi
tôi làm bác sĩ nội trú vào năm thứ nhất, có
một đêm trực ở pḥng cấp cứu. Nửa đêm có một
người bị nghẽn động mạch cơ tim,
đă ngừng hô hấp và hôn mê không tỉnh. Mặt và lưỡi đă
biến thành màu tím ngắt. Máy
đo tim và kết quả thử máu cho biết là tim đă
bị hư hoại trầm trọng; theo kinh nghiệm
của bác sĩ chủ nhiệm th́ bịnh trạng
nhẹ hơn người này cũng không cứu
được nữa huống chi là t́nh trạng nặng
như người này nên nói cho người nhà phải
‘chuẩn bị tinh thần’.
Tôi cứ theo lệ thường vừa niệm
Phật vừa lo cấp cứu bịnh nhân. Dùng hết nhiều thứ
thuốc rồi nhưng huyết áp của ông không thế
nào đo được, ông vẫn c̣n hôn mê và không thể
tự ḿnh hô hấp. Vợ
của ông đau ḷng nói với tôi:
“Người
ta nói ông trời thương và giúp đỡ người
hiền lương, nhưng tại sao ông trời không
thương tôi?”. “Xin bác sĩ
t́m mọi cách để cứu ông, cho dù ông biến thành
‘người thực vật’ th́ tôi cũng chịu chăm
sóc cho ông”.
Tôi
cảm thấy là bà rất đôn hậu và thật thà nên
mới khuyên bà:
“Lúc
người gặp tai nạn lớn, phải phát
đại nguyện niệm Phật th́ hy vọng có
thể vượt qua”.
Bà
nói: “Làm sao phát đại nguyện?”.
Tôi
nói: “Dùng tâm chí thành của ḿnh mà phát đại
nguyện”.
Bà
liền nói: “Từ nay trở đi hai vợ chồng chúng
tôi sẽ ăn chay trường và niệm Phật; ông ta là
thầy giáo, khi hết bịnh có thể hoằng
dương Phật pháp”.
Tôi
đưa bà và mấy người con mỗi người
một xâu chuỗi và nói: “Đêm nay quư vị nóng ḷng chờ đợi
trong pḥng cứu cấp th́ cũng không ích lợi ǵ, không
bằng đem tâm bồn chồn này lắng xuống
để niệm một vạn danh hiệu Phật A Di
Đà, cầu Phật gia bị, Phật lực không thể
nghĩ bàn. Chúng tôi rán hết
sức để cứu ông, quư vị v́ ông mà niệm
Phật, nếu thọ mạng của ông hết th́ ông cũng
có thể văng sanh Cực Lạc”.
Đêm đó ba người bác sĩ chúng tôi cứ nh́n các
điện đồ đo tim và đo máu, điều
chỉnh lượng thuốc từ 7 giờ chiều
đến 3 giờ khuya.
Một trong ba bác sĩ than là: “Chúng ta ba người
trực cả đêm để lo cho một người mà
không đo áp suất máu được!” (Nghĩa là người này nếu
không có gắn máy th́ không thể tự ḿnh hô hấp
được). Điều
kỳ lạ là đến khoảng bốn năm giờ
sáng th́ áp suất máu của ông từ từ tăng lên, ông
cũng từ từ tỉnh lại. Tôi lập tức đi thông báo cho
người nhà của ông. Tôi
rất cảm động khi mở cửa nh́n thấy
cả nhà ngồi xếp thành một hàng đang niệm
Phật một cách rất chí thành.
Con của ông viết trên một trang giấy: “Thưa
ba, con rất muốn ba mở đôi mắt hiền từ
ra”.
Có
một thanh niên đến thăm ông và khóc sướt
mướt làm tôi cứ tưởng là con của ông. Người thanh niên đó nói:
“Ổng là thầy tôi, lúc trước ổng ở trong
một chái nhà lụp sụp, dùng hết tiền
lương để cung cấp lo cho đám học sinh
chúng tôi. Nếu không có thầy
th́ hôm nay không có tôi, xin bác sĩ nhất định phải
cứu sống ổng”.
Lời nói chưa dứt th́ lại khóc tiếp; sau
đó tôi mới biết ông đă được chọn là
một trong ‘mười vị thầy có ḷng thương
lớn nhất đối với học sinh’. Sau khi ông tỉnh lại phải
tiếp tục dùng máy để trợ giúp hô hấp thêm ba
ngày nữa. Lúc đó ông
bắt đầu niệm Phật;
ngoài bịnh bị nghẽn động mạch cơ
tim ông c̣n bị bịnh phổi nữa. Cuối cùng ông cũng lành bịnh
và tự ḿnh bước đi ra khỏi bịnh
viện. Sau đó ông trở
lại bịnh viện kiếm tôi để hợp tác in
kinh. Những bác sĩ xem qua
tâm điện đồ và kết quả thử máu và
thấy sức khoẻ ông từ từ b́nh phục
đều cảm thấy không thể tưởng
tượng nổi.
Có
một cô gái rất đẹp lúc trước từng là
hoa khôi trong trường. Trên
mặt bị bịnh ung thư sưng lớn lên khoảng
gần bằng ba cái đầu chụm lại. Lúc tôi mới gặp và nh́n thấy cô th́ có cảm
tưởng như là có đứa bé đang ngồi trên
đầu. Tuy cô phải
chịu đựng sự đau khổ to lớn này
nhưng nghĩ lại cũng c̣n may. Trong thời gian đau khổ này
cô biết đến Phật pháp, cô than là: “Rất tiếc
tôi nghe được quá trễ!”.
Nhưng nếu kịp thời phát tâm th́ cũng không
trễ. Trong trường
hợp đau khổ như vậy nếu người khác
th́ đă kêu trời kêu đất rồi, ngược
lại cô c̣n có thể niệm Phật. Cô đem sự đau khổ
biến thành nước cam lồ của ḷng từ bi,
đổi sự áo năo buồn rầu thành ánh sáng thanh
lương, tâm cô đă nương dựa vào đức
Phật A Di Đà. Cô đem
tất cả tài sản của cô ra để cúng
dường cho mọi người và dặn ḍ chuyện
lâm chung đại sự.
Rất nhiều pháp sư và liên hữu cũng cảm
động và từ bi niệm Phật tiếp cô. Một hôm cô đưa năm
trăm đồng nhờ tôi mua hột giống hoa đem
gieo trong chùa hoặc là phía trước của Tịnh
Nghiệp Tinh Xá Niệm Phật Đường; cô nói là
để khi nào hoa nở có thể cúng Phật, có hoa
nở ra hoài để cúng Phật.
Chúng ta là người khoẻ mạnh nhưng không ai
có tâm niệm đẹp như cô.
Có lẽ bạn sẽ nói mặt của cô rất
xấu xí, diện mạo không c̣n đẹp như xưa
nữa, nhưng nghĩ lại chúng ta có tâm niệm
đẹp như cô không? Cô
đưa tôi sợi dây chuyền quư nhất mà má cô tặng
cho cô lúc trước và nói: “Nhờ bác sĩ bán sợi dây
chuyền này xong rồi đem tiền đi in kinh, cúng
dường Tam Bảo… tuỳ tiện làm thế nào
cũng được, miễn là có thể làm lợi ích
cho chúng sanh”. Thật là
hiếm có, trong lúc cô chịu đựng muôn vàn đau
khổ mà lại có được tâm niệm đẹp
như vậy, bạn đă thể hội được
sức lực của Phật pháp hay không? Rất nhiều người vào thăm
cô, cô nói: “Tôi bị bịnh này là do nghiệp báo [của
những chuyện ác mà tôi làm lúc trước], quư vị
thăm tôi rồi sau này phải đừng làm việc ác,
nên làm việc lành, luôn luôn nhớ như vậy, phải
biết dự trữ đồ ăn pḥng khi đói
kém. Mau sớm niệm Phật
th́ mới không uổng chuyến đi thăm tôi lần
này”.
Có
một ông già tám mươi tuổi bị ung thư
phổi từ viện dưỡng lăo đến. Ông nói:
“Lúc ông năm tuổi th́ cha ông mất, tám tuổi th́ mẹ
mất, một người sống cô đơn
đến nay đă 80 năm”.
Có thể nói là ông đă nếm đủ hết mùi
vui, buồn, ly, hiệp trong đời. Đến nay đă già lại mắc
phải bịnh nặng, suốt ngày phải nằm trên
giường. Có một đêm
ông ngồi dậy ôm gối tự nói chuyện với ḿnh
: “Tôi muốn đi về, tôi muốn đi về”;
giọng nói rất là thê lương, nhưng lúc
đứng dậy th́ đứng không vững và lại té
bị thương. Răng
trong miệng đă bám đầy bựa, mỗi ngày y tá phí
bao nhiêu sức lực để kêu ông chà răng, ông
nhất định không chịu chà và nói: “Người muốn
chết rồi, chà răng để làm ǵ nữa!”. Đă gần hai tháng ông không chịu
ăn ǵ hết nên gần kiệt lực v́ đói. Rất khó khăn lắm tôi
mới để thuốc và thức ăn vào miệng ông,
nhưng ông nhất định không chịu nuốt và
quyết tâm muốn chết.
Sau đó đại và tiểu tiện cũng không
khống chế và điều kiển được;
đi đại tiểu tiện ngay trên giường
bịnh. Ông không có gia đ́nh,
người làm trong bịnh viện không đủ, không có
người túc trực ở kế bên để thay
vải trải giường và thay quần áo. Sau đó cả quần áo cũng
không c̣n sức để mặc mà cũng không chịu
mặc, chỉ c̣n trơ da bọc xương như
vậy nằm trên giường.
V́ ông không chịu ăn cơm cho nên chỉ có thể
chích thuốc. Tay ông bấy
hết v́ kim đâm để chích thuốc hoặc lấy
máu. Đây là cái khổ của
sự già nua. Khuyên ông niệm
Phật nhưng ông cũng rất khó niệm
được, mỗi lần nh́n ông th́ không có bút mực
nào diễn tả hết những sự đau ḷng khổ
năo này. Ông cũng đă
từng khoẻ mạnh như chúng ta, đă từng
bước đi thoăn thoắt trèo non vượt
suối, cũng đă từng giống như chúng ta, khi
đói th́ kiếm ăn, cười tươi như hoa
nở. Nhưng những
đợt sóng sanh tử của sông Hằng một giây
phút, một tích tắc cũng không chịu ngừng lại… Thân thể chúng ta cũng như
căn nhà có thể bị hư hoại và bị sụp
đổ; sống trong căn nhà cũ bị hư, bị
dột mưa th́ rất khổ, rất khó khăn. Nếu lúc đó chúng ta niệm
Phật, đem tâm an trú tại cơi Tây phương tự do
tự tại, kiên cố thanh tịnh, bất cứ lúc nào
cũng có thể dọn nhà đi th́ rất trang nghiêm
tốt đẹp. Nếu
buồn rầu áo năo theo căn nhà cũ nát, sợ là
tương lai bạn cũng sẽ dọn đến
căn nhà c̣n hư dột và cũ hơn hiện tại
nữa, đời đời chịu khổ!
Có
một bịnh nhân đă già, có người nói ông đă 80
tuổi, có người nói ông đă 90 tuổi. H́nh như trước kia ông là
giáo sư trường đại học Bắc Kinh,
diện mạo của ông rất giống người trí
thức. Ông không phải là bịnh
nhân thuộc chuyên khoa chữa trị của tôi. Từ lúc đầu tiên khi tôi
gặp ông th́ ông đă hôn mê bất tỉnh. Mỗi lần đi vào pḥng
bịnh tôi chỉ có thể niệm ‘A Di Đà Phật, A Di Đà
Phật’ vào tai ông. Cứ
như vậy cả hai tháng ông chưa khi nào có một chút
phản ứng ǵ hết. Sau
cùng ông tỉnh lại, có chút phản ứng và nh́n tôi, ra
hết sức h́nh như muốn niệm ‘A Di Đà Phật’,
nhưng không có sức để niệm ra tiếng. Tay ông cử động h́nh
như muốn chắp tay, chắp tay lại đối
với người khoẻ mạnh là một chuyện
rất là dễ dàng, nhưng đối với ông th́
lại vô cùng khó khăn. Không
phải là lúc c̣n trẻ da ông cũng rất hồng hào
mềm mại hay sao? Nhưng
thế gian vô thường, hồng hào mập mạp
trẻ trung sẽ từ từ biến thành già nua lụm
cụm!
H́nh
như tôi đă đem h́nh tượng của những người
lớn tuổi kéo xuống tận đáy thẳm vực
sâu, như thế có phải quá tàn nhẫn hay không? Nhưng nếu không diễn
tả rơ ràng th́ mọi người không hiểu rơ những
chuyện trong thế gian, không buông xả được,
như vậy th́ không thể đạt được
hạnh phúc tự tại.
Nếu không kịp lúc hồi đầu niệm
Phật e rằng sẽ hối hận vĩnh kiếp
về sau!
Phần
đông khi người ta sắp chết th́ hô hấp
rất khó khăn. Nếu
đang ở trong bịnh viện th́ bác sĩ sẽ đút
một ống vào miệng hoặc vào mũi vô khí quản
đến phổi để duy tŕ sự hô hấp.
Đến lúc nguy cấp th́ đẩy vào pḥng có y tá túc
trực thường xuyên để theo dơi bịnh nhân. Có khi dùng duỡng khí chụp vào
mũi để giúp cho bịnh nhân thở. Khắp nơi trên thân thể
chỗ nào có thể đút ống vào th́ cũng đều
đút ống, thí dụ đường tiểu th́ đút
ống vào để thông tiểu, miệng th́ đút
ống vào để dẫn thức ăn vào bao tử,
hoặc mũi th́ đút ống vào phổi, chỉ
thiếu một thứ là không có một ống ǵ
để dẫn ánh sáng của đức Phật A Di Đà
vào tâm khảm của người ta. Một pḥng bịnh có y tá túc
trực (intensive care) th́ cũng giống như một
địa ngục ở trần gian. Có lẽ những thiết bị
tối tân này đă cứu sống rất nhiều
người, nhưng thiệt ra đối với bịnh
nhân, không kể là chữa lành bịnh hay không đều là
địa ngục rất dễ sợ, không người
nào thích bị đưa vào thêm một lần nữa! Lúc trước khi đọc kinh
Địa Tạng tôi thường nghĩ là chư Phật
Bồ Tát sợ chúng sanh làm chuyện ác, cố ư nói ra
để dọa người, đâu có chỗ nào là
địa ngục thiêu đốt, địa ngục
cắt lưỡi, … cái khổ ǵ cũng có, rất là
dễ sợ, h́nh như đều là dọa người
ta. Đến khi tôi vô bịnh
viện th́ mới biết đức Phật nói câu nào
cũng đều là sự thật, và cũng hiểu
được tại sao đức Phật ở trong kinh
đă nhiều phen dặn ḍ và phó chúc Địa Tạng Bồ
Tát là: “Đừng để chúng
sanh đọa vào ác đạo [cho dù chỉ là] một ngày
một đêm”. Nhất định phải nói rơ
cho chúng sanh biết những
sự khổ trong nhân quả báo ứng này, đừng
để cho chúng sanh đọa vào ác đạo chịu
khổ một ngày một đêm.” Nhưng lúc b́nh thường chúng
ta có để ư và hiểu tâm từ bi này của Phật
không?
Khi
bịnh nhân kêu tôi nửa đêm, lúc tôi rất mệt và
buồn ngủ nhưng phải tỉnh dậy để
đi thăm họ, săn sóc, cho thuốc hoặc là
trị liệu, lúc đó thấy chúng sanh đang chịu
đựng bên bờ sanh tử, những câu trong kinh Bát
Đại Nhân Giác liền hiện ra trong tâm: “Sanh tử thiêu đốt, khổ năo vô lượng,
phát đại thừa tâm, phổ tế tất cả, nguyện
chịu thay vô lượng khổ cho chúng sanh, làm cho chúng
sanh đến được sự sung sướng viên
măn”. Nhưng khi nh́n thấy
cảnh tượng quá khổ này kêu bạn đi chịu
khổ thay cho chúng sanh bạn có thể làm được
không? Thử hỏi những
sự khổ đă kể ở đoạn trước, bạn
có thể thay thế cho họ một đêm không? Tôi không nói chuyện ‘thay thế’
này quá khó, chỉ là ở một bên để săn sóc an
ủi người bịnh liên tục mấy đêm
liền không ngủ, cả ngày lẫn đêm th́ đă quá
khó rồi (thường th́ bạn sẽ cảm thấy đầu
nặng, tim đập mạnh hơn lúc trước…). Tu hành trong nhà Phật trừ tâm
từ bi ra, c̣n cần có ḷng tin vững chắc, nguyện
lực rộng lớn, niệm Phật chuyên cần th́ mới
có khả năng thoát ra khỏi lục đạo sanh
tử luân hồi khổ năo.
Thiệt ra không nói là thay thế chịu khổ,
chỉ ‘nghe’ thôi, cả ngày ngồi ở đó từ sáng đến
tối nghe người ta than thở: “Tôi khổ như
thế nào”, “nhà tôi có sự khổ vô cùng”, để cho
bạn nghe một ngày 24 giờ, liên tục mấy ngày
liền th́ bạn sẽ hiểu.
Sau khi tôi ‘nghe’ một thời gian, có một hôm khi tôi đang
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát th́ nghe có tiếng người
khác cũng đang niệm “Nam mô Đại từ Đại bi
Quán Thế Âm Bồ Tát”, nghe xong câu này tôi liền có một
niềm xúc động vô hạn, chảy nước
mắt lúc nào không hay. Thật đúng
như vậy, đừng nói để bạn thay thế
chúng sanh chịu vô lượng khổ, chỉ để
bạn ‘nghe’ sự khổ th́ liền biết ḷng từ bi
vô biên của Bồ Tát. Ngài đă
phát nguyện “lắng nghe chuyện khổ nạn trong
thế gian”, chỗ nào có người chịu khổ
liền lập tức đến để cứu
họ. Chúng ta lắng tâm để
niệm Bồ Tát, từ danh hiệu của một vị
Bồ Tát th́ biết được ḷng từ bi vô cùng
tận của chư Bồ Tát, tâm địa rộng
lớn không thể nghĩ bàn của quư ngài.
Khi
đôi mắt tôi nh́n thấy sự buồn rầu, lo
sợ, khủng bố của những người sắp
chết, đôi tai nghe vô số tiếng khóc lúc sanh ly tử
biệt, quay lại niệm ‘vô lượng quang minh và vô lượng
thọ’ của đức Phật A Di Đà, tự nhiên
lại tràn đầy nước mắt và cảm nhận
được sự từ bi thông cảm vô cùng thân
thiết chứa đựng trong danh hiệu đức
Phật A Di Đà. Th́ ra đức
Phật A Di Đà từ xưa đă biết được
những sự đau buồn đen tối và sự lo
sợ trong ṿng sanh tử của phàm phu chúng ta, nên ngài phóng
vô lượng quang đến khắp mọi nơi để
cứu độ, không nhàm chán mà an ủi chúng sanh. Ngài không nghỉ ngơi, không
‘lấy vacation!’, ngày cũng như đêm, chí nguyện
vĩnh viễn không bao giờ ngừng nghỉ mà cứu
giúp chúng sanh trong biển khổ sanh tử, đem sự
thanh lương ở cơi Cực Lạc ban bố cho chúng
sanh. Bạn có để ư
những khi mưa suốt mấy ngày liền nhưng
mặt trời vẫn không mất đi. Vô Lượng Quang Thọ là
một nguồn từ bi vĩnh hằng, chiếu rọi
vô tận, không bị bất an v́ mất đi quang minh,
không có sự đau khổ của sanh ly tử
biệt.
Có
khi đêm đă khuya, thuốc ngủ và thuốc chống đau
đều không c̣n hiệu lực nữa, tôi thường
ở bên giường bịnh nhân giúp họ niệm
Phật (thật ra phải nói là ‘Bồ Tát bịnh nhân’ giúp
tôi niệm Phật, v́ nếu không có họ ở một
bên, tôi không siêng đến nỗi nửa đêm không
ngủ, thức dậy niệm Phật). Ḥa hợp vào nhịp thở và
tiếng niệm Phật của bịnh nhân, vừa
niệm vừa nghe từng câu từng tiếng một cách
an tịnh. Khi thuốc men không
c̣n công hiệu nữa, hết sức thành khẩn cầu
cứu đức Phật A Di Đà có công hiệu mạnh
nhất, có thể an ủi thân tâm đau khổ của
bịnh nhân; lắng nghe được một tiếng th́
ngay khi đó liền được giải thoát, nếu an
tịnh mà nghe rơ ràng từng chữ từng chữ th́
sự đau khổ trong mỗi phút này biến mất
cũng như sương tan khi mặt trời mọc. Phật A Di Đà giống như
một công ty cung cấp điện lực miễn phí,
chỉ cần bạn đừng rút đồ cắm điện
ra th́ sẽ thâu nhận được nguồn năng lượng
vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt này.
Có
một người bị ung thư ở mũi, ở đây
giới thiệu về người này là có ư nghĩa đặc
biệt. Ung thư của cô đă
lan rộng đến lúc khó thở th́ cô mới đến
bịnh viện, lúc đó vô cùng đau đớn. Một thời gian không lâu trước
khi mất, cô phát tâm ăn chay; cô kéo tay tôi và nói: “Bác sĩ à,
nếu bịnh tôi không có hy vọng chữa hết th́ xin
cầu cho tôi được mau mau về nước
của đức Phật A Di Đà”.
Cô từ bịnh viện khác đến bịnh
viện chúng tôi để trị liệu phóng xạ. Bịnh ung thư mũi vốn là
bịnh có hiệu quả trị lành bịnh rất cao,
chỉ cần phát hiện sớm và trị liệu sớm
th́ đều hết bịnh, nhưng cô phát hiện
bịnh quá trễ. V́ nửa đêm
cô bị hô hấp khó khăn nên người ta mới
chở cô đến bịnh viện chúng tôi cấp
cứu, nhưng cứu không được. Đêm đó tôi không có trực tại
bịnh viện, cho đến sáng hôm sau lúc tôi đến
th́ cô đă ngừng thở hết một thời gian và được
xem là đă chết rồi, người nhà đang sửa
soạn để xuất viện.
Không biết tại sao y tá ở pḥng cấp cứu
kêu tôi bằng hệ thống truyền thanh của bịnh
viện. Khi tôi đến nh́n
thấy cô th́ cảm thấy rất buồn; tôi kề bên
tai cô và nói:
“Trong đời sống ngắn
ngủi của cô đă chịu đựng quá nhiều đau
khổ, con cô tuy c̣n nhỏ nhưng c̣n chồng cô lo cho nó,
những chuyện này cô muốn lo cũng lo không được
rồi. Bây giờ cô nhất định
phải buông xả hết tất cả mọi việc, cô
hăy cùng tôi niệm ‘A Di Đà Phật’ rồi đi theo ngài
về tây phương Cực Lạc Thế Giới”.
Tôi
ở bên cạnh cô niệm Phật và cầu đức
Phật từ bi nhiếp thọ; lúc đó trong ḷng tôi
cảm thấy rất rơ ràng mỗi một câu niệm
Phật đều từ đáy ḷng phát ra. Một điều kỳ lạ
là nước mắt của cô cứ chảy ra hoài. Sau đó tôi mời những cô y tá
trong pḥng cấp cứu lại xem và nói:
“Trên mặt y khoa chúng ta nói là cô ta đă
chết, hơi thở đă đoạn dứt rồi,
không c̣n nhịp tim đập, không c̣n áp suất của máu,
tất cả đều không c̣n nữa. Nhưng nhà Phật nói tại v́ người
chết có chấp trước, thần thức của
họ chưa hoàn toàn rời khỏi thân thể, b́nh quân
phải đợi đến 8 giờ sau mới ĺa
khỏi thân thể, do đó chúng ta phải lo cho người
gần lâm chung hoặc là mới chết một cách đàng
hoàng”.
Nhưng
người hiện nay nếu tắt thở trong bịnh
viện, phần đông là không cho chúng ta để yên không động
thi thể của họ, điều này thật đáng
tiếc.
Là
người học Phật chúng ta phải đặc
biệt chú ư, lúc lâm chung vô cùng quan trọng, v́ lúc người
ta gần tắt thở tứ đại phân ly rất là đau
đớn, thần thức gần thoát ly ra khỏi thân
thể đau giống như gió rét cắt thịt hoặc
như kéo mu rùa rời khỏi thân rùa. Lúc
bấy giờ tuyệt đối đừng đụng
chạm đến thân thể của người mất,
phải nhắc nhở và giúp họ niệm Phật, giúp
họ khởi lên chánh niệm muốn văng sanh cơi Cực
Lạc. Nếu không văng sanh
th́ phải tùy theo nghiệp báo đi đầu thai, đời
đời kiếp kiếp luân lạc trong sáu nẻo luân
hồi, sự khổ đau của sanh lăo bịnh tử
cứ diễn đi diễn lại măi măi. Cho dù bạn là ông vua hay tổng
thống cũng không tránh khỏi, thông minh không đối chọi
được với nghiệp lực, giàu sang cũng
không miễn được luân hồi!
Một lần nữa xin nhắc nhở quư vị,
nếu sau này gặp những trường hợp như
vậy th́ phải chú ư: lúc lâm chung và 8 giờ đồng
hồ sau khi tắt thở, đều phải nhất tâm
niệm Phật, nếu tín nguyện được chân
thành thiết tha, đức Phật nhất định
từ bi nhiếp thọ. Trong
lúc này (trong ṿng tám giờ ) không được di chuyển
và động chạm đến thi thể của người
mất, không được làm bất cứ chuyện ǵ động
chạm đến họ (kể cả di chuyển giường
họ đang nằm) .
Nếu
bạn đă bị bịnh nặng th́ biết trong lúc thân
thể vô cùng yếu đuối và đau đớn, cho dù
chỉ là nhích một tí để xoay ḿnh lại, hoặc
là thay áo th́ cũng làm cho người bịnh rất đau,
thân tâm rất khó an lạc.
Phần đông người ta cho rằng niệm
Phật là để tiễn đưa người
mất, thật ra đức Phật A Di Đà có vô lượng
quang và vô lượng thọ, niệm Phật cho người
bịnh nặng là đem tâm đang đau khổ rối
loạn của người bịnh khế hợp (
nối liền ) với vô lượng hào quang của
Phật (cũng là để khôi phục lại vô lượng
quang thọ trong tự tánh của mỗi người.). Nếu mạng chưa hết
niệm Phật nhờ vào Phật lực gia tŕ có thể
tiêu tai diên thọ; có nhiều bịnh nhân buông xả
hết vạn duyên nhất tâm niệm Phật, vốn là
bịnh rất nặng nhưng cũng lành bịnh. Nếu thọ mạng đă
hết khi niệm Phật th́ được đức
Phật tiếp dẫn về cơi Cực Lạc đi ‘du
học’, được tự tại an lạc. Trong bịnh viện tôi từng
thấy rất nhiều bịnh nhân được đưa
vào pḥng cấp cứu nhưng cứu không được,
bác sĩ tuyên bố đă chết rồi. Vài giờ sau người nhà
từ phương xa đến, người mất
tự nhiên ra máu mũi hoặc chảy nước
mắt. Những chuyện này
làm cho tôi càng tin tưởng lời dạy của người
xưa ‘không được đụng
chạm và di động người
mất trong ṿng tám giờ sau khi tắt thở, hết ḷng
niệm Phật để trợ niệm cho người
mất’. Ở đây xin quư
vị để ư đừng nên xem thường chuyện
này mà tạo nên những sơ sót không thể nào hàn gắn
lại được.
Có
một bịnh nhân vốn là một người bán
thịt heo, thường ngày đối xử với
mọi người rất tử tế; nghề mổ heo
là do cha mẹ truyền lại, ông nói: “Chúng tôi không thể đổi
nghề và cũng không biết là nên đổi nghề
khác”. Thuở nhỏ có người
dạy ông niệm A Di Đà Phật, nên mỗi lần ông nh́n
thấy tượng Phật th́ đều chắp tay
niệm ba tiếng ‘A Di Đà Phật’. Điều đáng quư là ông nói ông
không cầu nguyện ǵ cho ḿnh cả mà hy vọng đức
Phật pḥ hộ cho tất cả chúng sanh; ông nói: “Đức
Phật làm sao chỉ pḥ hộ cho một ḿnh tôi được
chứ”. Quan niệm này
thật rất đúng. Tuy đă
làm nghề này lâu rồi nhưng tâm địa của ông
rất hiền lương; ông không biết giết heo là
làm hại chúng sanh th́ phải chịu quả báo không
tốt. Ông bị ung thư
hàm dưới, qua một thời gian sau nguyên cả
cuống họng cũng bị ung thư lan đến, tuy
có chữa trị nhưng cũng tái phát trở lại. Mỗi đêm ông nằm trên giường
rên rỉ, hít thở rất khó khăn và phát ra âm thanh như
kéo cưa vậy. Trong
miệng có đàm không thể khạc ra và không thể
nuốt xuống, cuống họng như bị xiết
cứng lại nên mỗi lần thở mạnh th́ rất
đau. Ông nói lúc đó ông
mới biết được sự đau khổ của
con heo vừa bị làm thịt; ông thật tâm sám
hối. Ông ăn không được
nên phải đút ống (vào miệng để dẫn
thức ăn lỏng). Trên
quan niệm th́ ông đă hiểu rơ và phát tâm niệm Phật
cầu sanh Tịnh độ; sắc mặt của ông khác
hẳn với những bịnh nhân khác, ông không thường
âu sầu. Ông nói: “Nhờ bác
sĩ xem thân thể tôi có bộ phận nào c̣n dùng được,
đôi mắt của tôi có thể quyên cho người khác
không? Tim tôi c̣n tốt không? Có thể quyên cho người
không? Nếu quyên được
th́ xin quyên, tại v́ hy sinh một ḿnh tôi không quan trọng
lắm, nếu có thể làm cho người khác sung sướng
th́ rất quư”. Tôi nói: “Tâm
của ông thiệt rất giống tâm địa của
Bồ Tát. Đời của
mỗi người có thể làm gương cho người
khác, đôi mắt của ông chỉ có thể cho một người
duy nhất. Người đó
có đôi mắt này sẽ nh́n thấy mọi sự
vật, nhưng sau khi nh́n thấy không biết người
đó sẽ ‘vui’ hay ‘giận’.
Nếu dùng đôi mắt này để nh́n những
thứ làm cho người đó phẫn nộ th́ rất đáng
tiếc. Một người
tiếp nhận đôi mắt thịt này chưa chắc
sẽ sung sướng.
Nếu không biết dùng th́ giải phẫu thay tim
cũng không thể làm cho người hạnh phúc, nếu
người đó không hiểu rơ được đạo
lư chân chánh”. Ư tôi không phải
phản đối không cho người giải phẫu thay
bộ phận trên thân thể.
Nhưng người có thể chịu đau trong lúc
mổ xẻ mà không sanh tâm sân giận hay hối hận
cần phải có ‘đạo lực’ rất lớn; hơn
nữa, tuy là người bị bịnh ung thư có ḷng
tốt và quyên tặng bộ phận trên thân thể khi
họ c̣n sống, nhưng người tiếp nhận có
ngại sau khi nhận bộ phận này sẽ bị ung thư
không? Ông có ḷng tốt như
vậy rất đáng quư, tôi không thể ngăn cản ông được,
chỉ nói với ông là: “Bây giờ ông nên niệm Phật
gấp rút để văng sanh đến tây phương
Cực Lạc thế giới và sau đó theo nguyện
vọng trở lại độ chúng sanh; chỉ cần
lúc này ông nỗ lực niệm Phật để đến
phút cuối có thể bước chân lên đài sen, ông
sẽ làm gương tốt cho rất nhiều người,
và làm cho họ hiểu được sự thù thắng của
cơi Cực Lạc”. Ông nói
suốt đời ông làm nghề này, lúc ban đầu v́
t́nh trạng kinh tế trong gia đ́nh bắt buộc,
nếu không làm (giết heo) th́ không có tiền sinh
sống. Sau này tính lại
số tiền ông kiếm được làm nghề này
không đủ để ông trả tiền nằm nhà thương
mà trái lại c̣n thiếu nợ nữa, làm cho đời
sống càng khó khăn thêm. Người
ta thường viện cớ ‘không làm như vậy không được’,
tuy biết là làm như vậy không đúng với Phật
pháp mà cũng tiếp tục làm.
Đợi đến một ngày nào đó phát hiện ra
‘không được nữa’ quay đầu nh́n lại
mới biết làm như vậy kiếm không được
bao nhiêu nhưng cuối cùng phải mang bịnh và đau
khổ, phải trả bằng một giá quá đắt,
thiệt không đáng chút nào.
Lúc ông nằm bịnh viện có một số liên
hữu lại giới thiệu Phật pháp và giúp ông
niệm Phật. Sau khi về
nhà và mấy ngày trước khi ông mất, ông nhờ người
nhà kiếm họ tiếp tục trợ niệm. Vài người ở Y Vương
Học Xă và bà chủ nhà trọ của tôi đều đến
trợ niệm cho ông. Nghe nói
ông mỉm cười và niệm Phật mà đi. Họ càng niệm Phật th́ ông
càng cười tươi hơn.
Xong rồi họ nói với tôi: “Chúng tôi trợ
niệm cho ông, ông mỉm cười nh́n chúng tôi. Sau tám giờ đồng hồ
ông cũng vẫn c̣n mỉm cười nh́n chúng tôi”.
Có
câu thơ như vầy:
‘Tự
thị bất quy, quy tiện đắc
Cố
hương phong nguyệt hữu thuỳ tranh’
(Không
chịu quay về, về được ngay,
Gió
trăng quê cũ kẻ nào tranh?)
Nụ
cười của ông khi ‘quay về cố hương’
thật là sự an ủi và khích lệ cho những người
đang vùng vẫy bàng hoàng bên bờ sanh tử. Nụ cười cuối cùng
của ông là nụ cười vô cùng hiếm hoi và trân quư.
Những
câu chuyện kể trên đều là h́nh ảnh của sông
Hằng. Tất cả các h́nh
ảnh của ḍng sông ‘sanh tử’ này đă làm cho đức
Phật Thích Ca cảm thấy rất nhức đầu. Ngài đă nh́n thấy những h́nh
ảnh của sanh, lăo, bịnh, tử và suy nghĩ để
t́m cách cứu giúp chúng sanh xa ĺa biển khổ sanh
tử. Trải qua một quá
tŕnh tu tŕ gian khổ dưới bóng cây Bồ đề,
ngài đă giác ngộ được tất cả đạo
lư của nhân sanh vũ trụ.
Bắt đầu chuyển pháp luân tại vườn
Lộc Uyển, thuyết pháp Tứ Đế (Khổ,
Tập, Diệt, Đạo) cho nhóm năm tỳ kheo đầu
tiên (nhóm ông Kiều Trần Như).
Ngài nói cho họ biết ‘nhân sanh’ có các thứ khổ
như thế nào, nguyên nhân của khổ là ǵ, phương
pháp thoát khổ là ǵ, và sau khi thoát khổ th́ sẽ ra
sao. Tôi nghĩ đây là
cuộc diễn giảng về y học hoàn hảo
nhất trong lịch sử nhân loại. Đức Phật là một người
thầy thuốc vĩ đại nhất, ngài đă
giảng cho chúng ta phương pháp vĩnh viễn miễn
trừ những sự đau khổ này! Như tia sáng lóe ra từ trong đêm
dài đen tối, giác ngộ là một con đường
vô cùng xinh đẹp, con đường đi về
cố hương, đi trở về với Phật tánh
thanh tịnh vốn sẵn có của mỗi người. Đức Phật Thích Ca mỗi ngày đều
kêu gọi chúng ta mau mau lên đường đi về quê hương. Ngài muốn chúng ta tháo mở
những phiền năo đang trói buộc chúng ta để đi
đến sự an lạc viên măn.
Quư
vị muốn nối gót đức Phật lên đường
về quê hương không? Có
nhiều người đi theo đức Phật và đă
giác ngộ rồi. Xin quư
vị xem h́nh của lăo ḥa thượng Hư Vân, chỉ
cần nh́n thần sắc của ngài, chỉ cần nh́n
phong độ phi phàm của ngài mà không cần xem truyện
kư, chúng ta cũng cảm nhận được tấm ḷng
của ngài rộng lớn như thế nào mới có
thần sắc như vậy?
Tôi đă nghe một pháp sư kể lại vào năm
thầy của pháp sư 36 tuổi, lăo ḥa thượng lúc
bấy giờ đă 106 tuổi, hai người đi qua một
con sông, cây cầu bắt ngang sông làm bằng hai cây trúc hợp
lại. Vị thầy trẻ
tuổi này không dám đi qua, lăo ḥa thượng nắm
lấy cổ áo của ông nâng lên như thế rồi
khiêng ông đi qua sông. Hai chân
của ông c̣n đá tới đá lui sợ hết hồn,
lăo ḥa thượng một nháy mắt cũng không chớp
th́ đă khiêng ông đi qua cầu.
Nguyên câu chuyện này quư vị có thể đọc được
trong niên phổ truyện kư, ở đây chúng ta chỉ
nhắc đến một chút, mọi người có
thể từ đó mà suy nghĩ.
Hăy nh́n xem những người nối gót theo chân
đức Phật, họ làm thế nào mà ‘sanh thời
lệ tợ hạ hoa, tử thời mỹ như thu
nguyệt’? Lúc sống đẹp
như hoa mùa hạ, lúc chết đẹp như trăng
tṛn mùa thu chiếu sáng khắp nơi.
Thêm
một vị đại đức gần đây nhất
là lăo ḥa thượng Quảng Khâm, mọi người đều
xưng tán ngài là ‘bảo vật’ trong Phật giáo. Đây là di ảnh chụp lúc ngài 95
tuổi, hai ngày trước khi văng sanh, đôi mắt sáng và
vô cùng sắc sảo. Năm
lăo ḥa thượng 92 tuổi, tôi có dịp theo ngài đi lên
núi; ngài đi ở phía trước từng bước
rất vững vàng và nhanh chóng.
Tôi đi theo phía sau thiệt rất mệt mới theo
kịp. Lúc đó chùa Thừa Thiên
c̣n đang xây cất chưa xong, khi đi qua một đoạn
đường có nhiều vật chướng ngại,
xém chút xíu tôi bị té, ngài quay đầu lại nói: “Con
phải đi cẩn thận nghen!”, giọng nói của ngài
khàn khàn nhưng có oai lực, ánh mắt nghiêm nghị nhưng
chứa đựng ḷng từ bi vô hạn. Tôi rất hổ thẹn; bây
giờ trên đường đời đă vấp ngă bao
lần, đă gặp phải nhiều chướng
ngại, nhớ lại lời ngài nói th́ tự nhiên lệ đẫm
ướt mi lúc nào không biết.
Có
người tưởng ngài rất là huyền bí nên
muốn đi ‘điều tra’ cặn kẽ. Đến khi nghe ngài nói chuyện
hết nửa ngày chỉ nghe toàn là những từ ngữ
như: ‘niệm Phật’, ‘đừng
ăn thịt’ nên trong bụng thầm nghĩ: ‘tôi
cũng biết nói như vậy, cần ǵ phải hỏi
lăo ḥa thượng!’. Thật
không sai, ai cũng biết nói như vậy, nhưng chúng ta
không ai đă từng trải qua sự tu hành khổ
hạnh, công phu thứ thiệt như ngài, lại không có
đủ đức hạnh để cảm hóa người
khác. Cho dù có nhiệt tâm để
khuyên người, người ta c̣n chê ḿnh là ‘nhiều
chuyện’ nữa. Ngài đă
hàng phục được ḿnh, đă hạ thủ công phu
rất sâu trong sự tu niệm nên tự nhiên cảm hóa được
hàng vạn người. Lúc
ngài c̣n trẻ tu hành ở trong hang trên núi, khi lương
thực đem theo đă hết th́ chỉ nhờ vào khoai
rừng và rễ cây để duy tŕ mạng sống. Ba chiếc áo vá đi vá lại đến
khi chỉ c̣n một chiếc, suốt sáu mươi năm
chỉ ngồi không nằm, đối với vật
chất yêu cầu rất thấp.
Lúc c̣n trẻ ở chùa Thừa Thiên thầy của
ngài là Chuyển Trần lăo ḥa thượng có dạy ngài như
vầy:
“Ăn những thứ mà người
khác không ăn, mặc những thứ mà người khác
không [muốn] mặc, làm những ǵ mà người khác không
làm, sau này th́ ông mới biết”.
Thầy
của ngài chỉ dạy ngài tu khổ hạnh và chuyên
niệm Phật. Ngài làm theo
những lời dạy này một cách rất thật thà,
hạ thủ công phu trên tâm địa ḿnh, rốt cục
ngài trở thành một vị rất là phi phàm; rất
nhiều người vừa mới gặp liền cảm
động, mến phục, và rất kính trọng ngài.
Những
lời ngài khai thị thường thường chỉ là
một vài câu nhưng có ư nghĩa rất quan trọng;
nếu chúng ta tin theo được th́ nhất quyết
sẽ không lăng phí đời này.
Như phía trước có nói: ‘niệm Phật’ và ‘đừng
ăn thịt’. Nếu chúng
ta trong mỗi niệm đều niệm Phật, làm cho đại
quang minh, trí huệ, từ bi, và giác ngộ của chư
Phật bất kỳ lúc nào cũng tràn đầy trong tâm
khảm của ḿnh; như vậy không phải là lúc nào
cũng kiết tường hay sao?
Không c̣n sự đau khổ của ‘nhân, ngă, thị,
phi’, không chịu sự hành hạ của tham, sân, và si
nữa. Nếu giảm
bớt sự ham thích ăn uống và làm theo lời dạy
của ngài: ‘đừng ăn thịt’ th́ từ từ
sẽ thể hội được đạo lư: ‘cùng
một gốc rễ’ (cùng bản thể), sẽ thưởng
thức được sự hỷ duyệt (vui sướng
) của ḷng từ bi; mỗi ngày trong ḷng đều
điềm đạm, b́nh thản, mộc mạc, tin sâu,
nguyện thiết và niệm Phật cầu sanh tây phương;
lúc lâm chung sẽ nhờ sức Phật tiếp dẫn,
thoát khỏi sự đau khổ đời đời
kiếp kiếp của sanh tử luân hồi! Hai câu nói đơn giản
của ngài đă chỉ ra con đường sáng rỡ
thành Phật ngay trong một đời. Ai thật thà chịu nghe, tin, và
làm theo th́ sẽ được lợi ích lớn; người
không thật thà chỉ thích nói lư thuyết cao siêu, làm
những chuyện kỳ quái, phô trương một số
thần thông mà lại xem thường lời dạy quan
trọng nhất này th́ sẽ đánh mất cơ hội
quư báu để thoát ly sanh tử luân hồi.
Đệ
tử của lăo ḥa thượng thuật lại lúc ngài c̣n
tại thế, một hôm có một người xách cặp
táp kiểu điệp viên 007 một cách rất thần bí,
lên núi xin gặp và nói chuyện ‘riêng’ với ngài. V́ trong quá khứ đă có người
có ư muốn làm hại ngài cho nên các đệ tử không cho
người này đơn độc gặp lăo ḥa thượng. Người này đến kề
vào tai lăo ḥa thượng và hỏi ngài một cách rất
cung kính:
“Kính
thưa lăo ḥa thượng, người ta đều nói
ngài có thần thông, xin ngài nói thật với tôi ngài có
thần thông hay không?”.
Sau
đó lăo ḥa thượng cũng thần bí kề vào tai người
kia và nói: “Tôi nói với ông, tôi có ăn th́ có thông, không ăn
th́ không thông!”.
Sự
kỳ diệu của Phật pháp là ở chỗ rất
b́nh thường, không lôi cuốn sự hiếu kỳ
của người ta bằng những thần thông
hoặc những tướng trạng kỳ dị. Người người đều
có đầy đủ thần thông, chỉ v́ bị tâm
tham, sân, si, mạn, nghi, phiền năo che lấp nên không
thể hiện ra được; có thần thông mà không
thể giải quyết vấn đề sanh tử th́
cũng như không. Hướng
ngoại t́m cầu nhờ ‘những người có thần
thông’ cứu giúp th́ là ‘bỏ
gốc rễ (căn bản) mà t́m cành nhánh’. Ngài nói: “Cầu người th́ là
mất đi đức Phật Thích Ca”.
Tôi
cảm thấy ‘thần thông’ vĩ đại nhất
rất đáng cho mọi người tán thán là công phu
nhẫn nhục của ngài: ‘nhẫn
chuyện người không nhẫn được, làm
chuyện người khác
làm không được’. Năm xưa khi ngài từ hang động
trên núi về đến chùa Thừa Thiên ở Đại
lục, đầu tóc mọc ra quá dài làm cho ngài trông
giống như một người rừng, không ai nhận
biết đến khi giải thích rơ ràng th́ mọi người
mới nhận ra. Về chùa
qua một thời gian sau đó, vị sư ‘đương
gia’ (thầy giám viện) và ‘điện chủ’ trong chùa
muốn khảo nghiệm công phu tu hành của ngài nên cố
ư đem tiền trong thùng phước sương dấu đi,
rồi giả vờ nói nghi ngờ lăo ḥa thượng đă
ăn cắp tiền này; từ đó mọi người đều
cho là ngài đă ăn cắp, ai cũng đều nói
nặng nói nhẹ lăo ḥa thượng. Ngài nghe những lời nói này như
gió mùa xuân thổi và như uống nước cam lồ, an
nhiên tự tại, tâm lượng của ngài thật vô
cùng rộng lớn, thật là một người tiêu diêu
tự tại. Cái ‘thần
thông’ nhẫn nhục này so với những thứ ‘phóng
quang, lên khói’ th́ c̣n thần kỳ hơn nhiều; tại v́
đốt giấy th́ sẽ lên khói, đốt đèn th́
sẽ phóng quang, nhưng chúng ta tự hỏi ai bị vu oan
là người ăn trộm mà vẫn an nhiên tự tại
như uống nước cam lồ và vẫn không giải
thích biện bạch rằng ḿnh không phải [người
ăn trộm]. Ai có công phu tu
hành đến mức nh́n thấu chuyện thế gian như
bèo như bọt là người có đại trí huệ,
xứng đáng được người khác cung kính. Chúng ta thường biến thành
vật mà lăo ḥa thượng h́nh dung là ‘thạch đầu
cẩu’ (con chó chạy theo cục đá). Người ta muốn chúng ta
chạy th́ rất dễ, chỉ cần liệng một
cục đá th́ ḿnh liền chạy theo, đuổi theo đến
khi mệt lả, đuối sức cũng chỉ v́ đuổi
theo một cục đá ăn không được! Lăo ḥa thượng mở to đôi
mắt nói: “Không có chủ trương
(ư chí không cứng rắn nhất định) như
vậy làm sao có thể đi về Tây phương được?” Ngài làm chủ được ḿnh,
sanh tử tự tại, mọi người đều
kính trọng. Ngài không cầu
danh văn lợi dưỡng và biểu hiện qua hành vi
trong đời sống thường ngày, làm cho mọi người
tâm phục khẩu phục. Có
lần nọ một kư giả nhà báo lên chùa uy hiếp,
đ̣i tiền ngài và nói: “Ng̣i bút của tôi rất lợi
hại, nếu không đưa tiền cho tôi th́ tôi sẽ
viết xấu về ngài”.
Lăo ḥa thượng điềm nhiên và nói: “Cứ
việc đăng lên báo, tùy ư viết như thế nào
cũng được, tôi không cần người ta cung
kính, nếu người ta cung kính tôi, mỗi ngày tôi
phải niệm Chú Đại Bi gia tŕ vào nước Đại Bi
cho họ; nếu người ta không cung kính tôi, tôi được
rảnh rang thanh tịnh mà niệm A Di Đà Phật”. Người kư giả này cũng
không làm ǵ được và cảm than rằng ngài không
giống người phàm, đúng là: ‘Sự việc đến
mức không tâm th́ rất vui sướng, người có
thể không mong cầu th́ phẩm đức tự nhiên cao’.
C̣n
lần nọ, một số đệ tử theo ngài đi
nghe giảng và biết vị pháp sư thuyết pháp có ư phê
b́nh ngài trong buổi giảng nên nổi giận và về
chùa thuật lại với ngài.
Không ngờ ngài nghe xong không những không nổi
giận mà c̣n kêu nhóm đệ tử này phải sám hối
với vị pháp sư đó, và c̣n giải thích rơ [dùm
vị pháp sư] hàm ư của những ngôn từ đó. Ngài nói với nhóm đệ
tử nếu người ta lấy pháp danh của ḿnh mà
chửi mắng th́ ḿnh phải cám ơn người ta,
huống chi là họ không có nói rơ tên ḿnh ra! Ngài c̣n nghiêm nghị mà giảng
về đạo lư: “Nếu muốn Phật pháp hưng
thịnh th́ tăng phải khen ngợi tăng”. Ngài khen ngợi vị pháp sư đó:
“Trong thế giới trược ác này có thể độ
chúng sanh, đúng là Bồ Tát”.
Và c̣n khiêm tốn nói: “Tôi không dám làm”. Công phu của lăo ḥa thượng đạt
đến mức chúng ta không thể suy đoán nổi,
những việc xảy ra thường ngày đều nói
lên tâm lượng rộng lớn của ngài. Mỗi câu chuyện đều làm
cho tôi cảm động, ngài như ánh thái dương
từ bi phổ chiếu từng ngọn cỏ từng
gốc cây; tuy nhiên có khi cũng dùng cây kiếm trí huệ
của ngài chém sạch cành lá của phiền năo, chém
sạch danh văn lợi dưỡng, giúp cho những
mầm non đang lớn có thể hướng về Tây phương
thanh tịnh. Ngài thường
đề ra những bài thi đột xuất, thường
rất là sôi nổi và kích thích, tài nghệ ‘diễn
kịch’ của ngài rất xuất sắc; những người
bị khảo thí này thường bị cảnh giới
chuyển dời, ngay khi đó không cảnh giác th́ không
biết, lâu dần th́ hiểu được và mới
biết dụng ư rất từ bi của lăo ḥa thượng. Phương pháp và sự tập
luyện của ngài có thể h́nh dung là: ‘Xay đến tróc
vỏ, mài đến [gạo] trắng, nhồi đến
nhuyễn, nung đến đổi màu’. Cách này làm cho một người
chân chánh phát tâm tu hành trở thành ‘một cái bánh thánh có
thể cúng dường tất cả chúng sanh, cúng dường
tất cả chư Phật’.
Quá tŕnh này thường phải đ̣i hỏi rất
nhiều nước mắt và mồ hôi. Có lúc lăo ḥa thượng cũng
rớt nước mắt, từ bi mà nói với đệ
tử đang bị ngài khảo thí: “Thầy dạy như
vậy con có hiểu rơ chưa?
Thầy sợ kết oán thù với con, vốn là
muốn giúp con phá đi những thứ chấp trước
này, nhưng nếu con không hiểu rơ được
hết dụng ư, th́ sẽ kết thành oán thù với các
con. Tạo cảnh nghịch
ra là để tập luyện cho các con mà thôi!”.
Tổ
sư nói ba món tư lương cần có để văng sanh
Tây Phương là ‘tín, nguyện, và hạnh’. Nguyện là chán ghét muốn thoát
ly cơi Sa Bà và ưa thích cơi Cực Lạc. (Sa Bà là từ ‘tự tâm ác’ và ‘tâm
uế’ (dơ) tạo ra, Cực Lạc là do ‘tự tâm thanh
tịnh’ hiện ra). Tuyết
Công lăo ân sư cũng nhấn mạnh cái tâm ‘hân’ (ưa
thích) và tâm ‘yếm’ (chán ghét) là pháp môn ‘tổng an tâm Tịnh
độ’. Phàm phu chúng ta trong
cảnh thuận rất khó phát ra tâm chán ghét Sa Bà, bất đắc
dĩ nên lăo ḥa thượng cho đến chư Phật
Bồ Tát đều ‘ban’ cho chúng ta những cảnh
nghịch, để cho chúng ta ‘dùng khổ làm thầy’,
dũng mănh phát tâm chán ghét Sa Bà ưa thích Cực Lạc mà
niệm Phật, liễu sanh thoát tử, dùng sự tinh
tấn cần khổ trong đời này đổi lấy
sự tự tại hạnh phúc vĩnh viễn; thật ra
đây là ân huệ không có ǵ quư hơn mà các ngài ‘ban’ cho chúng
ta. Ngặt v́ chúng ta ưa thích
những ‘ḿn nổ chậm được bao bọc đẹp
đẽ bên ngoài’, theo đuổi sự khoái lạc và danh
lợi nhất thời mà đánh mất sự an lạc
vĩnh cửu. Chư
Phật Bồ Tát thường rơi lệ v́ những
sự tổn thất lớn lao của chúng ta.
Có
lần lăo ḥa thượng nghiêm nghị nói:
“Trong thế giới Sa Bà này,
chỉ cần tham ái một ngọn cỏ th́ sẽ đi
vào luân hồi trở lại”
Cho
nên mặc cho mọi người đối với ngài vô
cùng cung kính cúng dường, ngài vẫn buông xả một
cách rất là siêu thoát; ngôi chùa có một kiến trúc vô cùng
hùng vĩ trên núi đối với ngài chỉ là ‘một
công cụ dạy học nhất thời mà thôi’, ngài mượn
những nhân duyên và cảnh giới này để giảng
dạy cho những chúng sanh có duyên.
Những người buông xả hoàn toàn và thành
thật niệm Phật văng sanh mới là đệ tử
chân chánh của ngài. Không lâu trước
khi văng sanh, ngài cứ lập đi lập lại và nói:
“Sự khổ nạn càng ngày càng
nhiều, hăy tu mau lên, phải
tu mau mau; tu một phần được một
phần công đức, tu một ngàn phần được
một ngàn phần công đức, tu một vạn
phần được một vạn phần công đức!”.
Ngài
rất nhẫn nại nhắc đi nhắc lại hoài, đây
là sự khuyên nhủ vô cùng khẩn thiết; tin lời
ngài nói th́ hăy thật thà niệm Phật, một môn thâm
nhập không nên đổi tới đổi lui hoài!
Có
một vị đạo hữu kể lại khi ông đi
thăm và hỏi lăo ḥa thượng:
“Phải
niệm Phật cách nào?”.
Ngài
nghe xong liền hỏi lại: “Ông niệm như thế
nào?”.
Ông
trả lời: “Khi tôi rảnh rang th́ liền niệm
Phật”.
Lăo
ḥa thượng đáp: “Ông ‘rảnh’ th́ niệm, không
rảnh th́ không niệm, như vậy chắc ông có ‘quen
biết lớn’ (điểm đầu chi giao) với
Phật phải không? Niệm
như vậy th́ làm sao kỳ vọng Phật đến
cứu ông trong giờ phút sanh tử. Lại đây, mọi người
đưa chân ra, chân nào là chân Phật? Nhận ra chân của Phật
không? Nếu muốn ôm chân
Phật, chân Phật là chân nào cũng không nhận ra, th́ làm
sao ôm được. Ông đích
thật là có nhận biết được Phật không?”
(ôm chân Phật nghĩa là cầu cứu đức
Phật).
Ngài
nói như vậy là để thức tỉnh người
ta. Vị đạo hữu
này kể tiếp, ngài hớp một ngụm trà rồi ngước
đầu lên hỏi: “Ông thấy tôi có ‘xướng’ ra
tiếng không?”. Ông đáp:
“Không có”. Ngài hỏi: “Tôi
niệm Phật ông biết không?”
Lăo ḥa thượng dạy một cách rất sống động
và biểu diễn niệm Phật trong khi uống trà, ăn
cơm, đi, đứng, nằm, ngồi, tất cả
mọi thời đều phải niệm Phật. Nửa đêm không vặn đèn
khi nghe hai tiếng ho ‘ách x́’ th́ bạn biết là cha bạn đă
về. Như vậy lúc
nửa đêm nếu đức Phật A Di Đà đến
th́ bạn biết là Phật đến hay không? Chúng ta hăy thử hỏi ḿnh đă
niệm đến mức nhận biết Phật và cùng
Phật rất quen thuộc hay không? Lăo ḥa thượng đă niệm đến
mức đó rồi. Có
một lần ngài nói với một vị bác sĩ đến
thăm: “Tiếng chim hót, xe chạy, âm thanh tạp loạn đều
là tiếng niệm Phật”.
Ông này hỏi ngài có thể niệm như vậy được
bao lâu, ngài đáp: ‘trú dạ lục thời’ (nghĩa là 24
giờ mỗi ngày, bất kỳ lúc nào cũng niệm như
vậy).
Mười
năm trước lăo ḥa thượng đă nói với đệ
tử của ngài: “Tương lai lúc tôi văng sanh sẽ
hiện ra tướng có bịnh” và c̣n nói ba người
trong nhóm đệ tử của ngài sẽ không tiễn ngài
ra đi (hiện diện lúc ngài ra đi). Ba người đệ tử
này đều không tin, tại v́ [họ nghĩ] một trong
ba người thế nào cũng có một người luôn
ở bên cạnh ngài. Làm sao có
thể nói là họ không thể ‘tiễn ngài ra đi’ được. Quả nhiên không sai, lúc ngài ra đi
v́ một lư do đặc biệt ǵ đó cả ba người
tạm thời đi khỏi th́ ngài thiệt đă văng sanh
rồi.
Trước
lúc ra đi ngài khuyến khích đại chúng:
“Thế giới Sa Bà rất
khổ! Đại chúng mau mau niệm
Phật để đi về tây phương Cực
Lạc thế giới”.
Cuối
cùng ngài nói: “Không đến,
không đi, không có chuyện ǵ!” rồi an nhiên niệm
Phật và văng sanh. Thật là đẹp,
thật là siêu phàm!
Chúng
ta th́ ngược lại: “Đến đến, đi đi,
quá nhiều chuyện!”, không có ngày nào, không có giờ phút
nào mà không có chuyện để lo lắng và bận tâm đến. Chữ ‘sự t́nh’ (chuyện
xấu ) trong tiếng địa phương ở Đài Loan
hàm ư không kiết tường, đúng như người ta
thường nói:
‘Bất thị nhàn nhân nhàn bất
đắc, nhàn nhân bất thị đẳng nhàn nhân’
(Nếu không phải người
nhàn hạ th́ nhàn không được, người nhàn
hạ không phải là người tầm thường).
Trong
tâm chúng ta nếu thiệt là không có ‘chuyện ǵ’ hết,
thiệt là ‘nhàn hạ’ th́ phải cần công phu tập
luyện chứ không phải dễ!
Khoảng
một tuần trước lúc ngài văng sanh, cả ngày
lẫn đêm ngài đều to tiếng niệm Phật,
cách niệm của ngài là ‘dùng hết sức ḿnh rất
thành khẩn mà niệm A Di Đà Phật’, không phải người
nào cũng có thể niệm như vậy được. Đại chúng luân phiên nhau niệm
lớn tiếng theo ngài mà c̣n khan tiếng, đau ngực,
chịu không nổi huống chi ngài đă 95 tuổi ! Đa số người ta lúc gần
ra đi th́ hô hấp rất yếu ớt, không thể làm
chủ được, c̣n ngài th́ mạnh như ‘tướng
quân đột phá ṿng vây thoát ra khỏi ngũ trược
ác thế’. Mấy người
đệ tử sợ ngài yếu sức chịu không
nổi v́ cả tháng ngài đă không ăn ǵ hết nên nói:
“Để
chúng con niệm, xin sư phụ đừng niệm,
chỉ nghe theo mà thôi!”.
Ngài
mở to mắt ra nói một cách rất dứt khoát: “Mỗi người niệm theo
mỗi người, sanh tử của ai th́ tự người
đó đoạn dứt.”
Nói
xong liền lớn tiếng và thành khẩn mà niệm
tiếp. Vào ngày thứ sáu trong
tuần đó, đột nhiên ngài ‘biểu diễn’ một
màn kịch, tôi nghĩ thật là đáng để mọi
người chiêm nghiệm. Hôm
đó đột nhiên ngài không khuyên mọi người
niệm A Di Đà Phật như lúc trước mà lại ra
lịnh cho đại chúng mau đem Đại Tạng Kinh ra
tụng. Đại Tạng Kinh
quá dài ai cũng không biết bắt đầu từ đâu
mà tụng nên hỏi lăo ḥa thượng phải tụng
quyển nào?
Ngài
đáp: “Tổng tụng” (tụng hết).
Đại
chúng mới đem từ quyển Đại Tạng Kinh ra,
nội việc khiêng ra cũng mệt đứt hơi,
nh́n thấy ngài có vẻ rất quyết tâm văng sanh, mọi
người vừa mệt, vừa gấp, mà vừa
buồn. Ngài nói: “Để coi quư
vị biết quyển kinh nào, tất cả đều
tụng cho tôi nghe!” V́ thế
cho nên đại chúng mới tụng từng bộ
từng bộ: Tâm kinh, kinh Kim Cang, kinh Dược Sư,
kinh Địa Tạng, … Lúc ở
trong cửa ngơ sanh tử khẩn yếu này mới biết
nội hai trăm mấy chữ trong Tâm kinh cũng tụng
không mạch lạc; có thể nói là miệng họ tụng
nhưng tâm họ lại lo ra.
Lúc mọi người tụng kinh như vậy, ngài
lại cười chúm chím mà tiếp tục niệm: “Nam mô
A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, ….” một tí ǵ cũng không bị
ảnh hưởng bởi âm thanh đại chúng đang
tụng kinh. Nụ cười
này của ngài thiệt là một cây gậy thật to đập
vào đầu của mọi người! Thử hỏi
trong màn biểu diễn bất ngờ này có ai đă
‘tổng tụng’ Đại Tạng kinh không? Duy chỉ có lăo ḥa thượng niệm niệm phân minh, rơ ràng,
niệm niệm rất khẩn thiết mạnh mẽ
niệm A Di Đà Phật, đây mới là ‘tổng tụng’
Đại Tạng kinh!
Chúng
ta xin đừng nghi hoặc tại sao lăo ḥa thượng
lại thay đổi tiết mục bất ngờ như
vậy. Ngài thường dùng
phương pháp ‘phản diện’ rất khéo léo để
làm cho mọi người tỉnh giác và c̣n làm cho mọi người
ghi nhớ vào xương vào tuỷ; ư nghĩa rốt ráo
của sự tu hành là phải ‘thực hành’, không phải chỉ nghe rồi
bỏ qua; trong trường Y khoa bàn luận chuyện
chữa bịnh trên sách vở hiển nhiên rất khác
với chuyện gặp lúc bệnh nhân máu chảy
đầm đ́a! Có lẽ các
bạn sẽ nghĩ sự thị hiện của lăo ḥa thượng
rất giống cách nói của Tuyết Công lăo ân sư:
‘Sáu chữ hồng danh bao gồm
hết tinh hoa của tất cả vạn pháp’.
Phần
đông người ta khi lâm chung rất khổ sở,
chỉ bốn chữ ‘A Di Đà Phật’ cũng niệm không được,
huống ǵ là tụng kinh mà c̣n tụng Đại Tạng kinh
nữa! Chúng ta hăy nghe theo
lời dạy bảo và hăy ‘lăo
thật niệm Phật, đừng thay đổi đề
mục’ nữa. Đừng lâm
vào t́nh trạng ‘luyện hết mười tám thứ vơ
nghệ, đến lúc khổ đau quá không biết
phải dùng thứ nào’.
Mỗi ngày thay đổi đề mục h́nh như
có vẻ học rộng biết nhiều và h́nh như
cũng kết rất nhiều duyên với Phật và
Bồ Tát. Đến lúc cần
thiết th́ tâm rối nùi như tơ, không biết phải
niệm vị nào mới được. Thiệt ra trong kinh A Di Đà có nói: ‘Sáu phương Phật đều
hiện tướng lưỡi rộng dài tán thán A Di Đà
Phật, khuyên chúng sanh tín thọ cầu sanh Tây phương’. Đây là nói rơ chúng ta niệm Phật A Di Đà th́ tất cả chư
Phật đều vui vẻ tán thán, đây chính là ‘tổng
tụng’ vậy!
Hai
ngày trước lúc văng sanh, lăo ḥa thượng đích thân
gơ mơ và kêu đệ tử niệm Phật, trong đó có
nhiều chuyện rất thú vị. Ngài đem câu ‘Nam mô Tây phương
Cực Lạc thế giới’ niệm ráp vào danh hiệu
của các vị Phật và Bồ Tát. Thí dụ như Nam mô Tây phương
Cực Lạc thế giới Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát, Nam mô Tây phương Cực Lạc thế
giới Phổ Hiền Bồ Tát , Nam mô Tây phương
Cực Lạc thế giới Di Lặc Bồ Tát ….Tôi
hiểu ư của ngài là ‘có thể gặp tất cả
những vị Bồ Tát này ở thế giới Cực
Lạc’, chỉ cần chuyên niệm A Di Đà Phật cầu
sanh tây phương th́ có thể sánh bước cùng họ
khi đến tây phương!
Một
hôm tôi cùng một bác sĩ lên núi để thỉnh giáo
ngài. Ông bác sĩ này hỏi:
“Làm thế nào tĩnh tọa mới có thể đả
thông huyết mạch?”. Ngài đáp:
“Không cần phải đả thông huyết mạch,
nhất tâm niệm Phật chứng đến Niệm
Phật Tam Muội th́ tất cả huyết mạch
tự nhiên đều thông!”; đây là lời dạy
của người đă giác ngộ và đă được
đại tự tại; chúng ta hiểu được th́
không cần phải phí sức tốn công đi t́m kiếm
vô ích. Mau sớm chuẩn
bị tư lương như ngài đă nói:
“Tôi
đă mua vé xe rồi! Đă xác nhận ghế ngồi
rồi!
Quư
vị có phải đă mua vé rồi hay chưa?
Đă
xác nhận ghế rồi chưa?
Hay
là không cần xác nhận chỗ ngồi?
Hay
là không chịu lên xe? ”
Phải
nên mua vé sớm th́ hơn, đừng làm giống tôi sau khi
ngài văng sanh lên núi niệm Phật, niệm hết mấy
giờ đồng hồ, nước mắt cứ
chảy hoài, không thể nào niệm Phật được
đàng hoàng để cúng dường lăo ḥa thượng;
cúi đầu không dám ngước lên, tại v́ không làm theo đúng
lời dạy và lời dặn ḍ của ngài, xấu
hổ và sám hối đều đau khổ; xin nguyện
cho các bạn đều sớm mua vé thượng hạng
ở toa thứ nhất, lên đài sen vàng ở thượng
phẩm thượng sanh!
Tiếp
theo đây chúng ta hăy xem Tuyết Công lăo ân sư (lăo cư
sĩ Lư Bỉnh Nam) là một vị đại đức đương
thời, 97 tuổi mới văng sanh.
Ở đây tại sao phải nhắc đến
tuổi lúc ngài văng sanh? V́ đoạn
trước có nói những người mắc bịnh
mới ba mươi mấy tuổi đă chết, người
nhà c̣n than là mạng sống (đau khổ) kéo quá dài. Nhưng như lăo ḥa thượng
95 tuổi, và thầy Lư 97 tuổi văng sanh, mọi người
đều than là quá ngắn, ai cũng khóc lóc đ̣i các ngài
ở lại trụ thế măi măi để phổ độ
chúng sanh. Tôi đi nghe kinh
cũng là v́ cảm kích thầy Lư.
Mười năm trước tôi có cơ hội đến
nghe thầy giảng kinh Hoa Nghiêm ở Thư viện
Từ Quang, Đài Trung. V́ thầy
có giọng nói của người miền Sơn Đông
(rất khó nghe) tuy là có phiên dịch qua tiếng Đài Loan,
nhưng tiếng Đài Loan (tiếng Phước Kiến) tôi
cũng không thạo, chủ yếu là v́ tŕnh độ quá
kém nên nghe cũng không hiểu và cảm thấy thời gian
kéo quá dài và không thích thú.
Thấy mọi người chung quanh nghe kinh và thường
cười rộ lên mà ḿnh không biết ǵ hết. Lâu lâu chỉ nghe được
một câu có cảm giác quen quen h́nh như đă nghe ở đâu
rồi nhưng cũng không hiểu. Mấy hôm trước nửa đêm
nằm mộng thấy trăng sáng trên núi, tự nhiên
nhớ lại lời giảng của thầy mười
năm trước. Lúc đó
thầy giảng kinh Hoa Nghiêm đến đoạn ‘Vô
tận tạng’, thầy có nhắc đến mấy câu
trong bài Xích Bích Phú của Tô Đông Pha:
‘Duy
giang thượng chi thanh phong
Dữ
sơn gian chi minh nguyệt,
Nhĩ
đắc chi nhi vi thanh,
Mục
ngộ chi nhi thành sắc...
Thị
tạo vật giả chi vô tận tạng dă’
Có
một người [không rơ tên] đă dịch như
vầy:
“Bui
gió mát trên sông dài,
Trăng
sáng chiếu non thẳm,
Tiếng
thoảng qua tai,
Cảnh
in vào mắt …
Ḱa
kho vô tận của hóa công!”
Thầy
giải thích chữ ‘vô tận tạng’ trong bài thơ này là
lấy từ kinh Phật.
Nửa đêm nằm mơ nhớ lại chuyện
này rồi bị điện thoại reo giựt ḿnh,
tỉnh dậy không thấy rừng núi trăng sáng ǵ
cả, chỉ thấy bịnh nhân khó chịu nên mấy cô
y tá kêu đi khám bịnh. Sau cơn
mộng này mới càng hối hận, lúc đó tôi đi nghe
kinh không hiểu nên cứ nghĩ là thầy giảng không
hay; thật ra là v́ tŕnh độ của ḿnh quá kém
(thiệt ra là không có tŕnh độ ǵ cả!), cho nên
mới chê là thầy giảng không hay và không tiếp tục
nghe cả mười năm rồi, xém chút xíu th́ làm
hỏng pháp thân huệ mạng của ḿnh! Cách một thời gian sau đó
thầy không ra giảng kinh; khi tôi tham gia Trai Giới
Học Hội chịu ảnh hưởng rất lớn
của Pháp sư Sám Vân nên có thể nói Trai Giới Học
Hội đă chuyển biến cả đời tôi. Trong thời công phu tối pháp
sư đọc bài hồi hướng cho lăo ḥa
thượng Quảng Khâm và lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam làm
cho tôi có ấn tượng rất sâu đậm, nên
một hôm có cơ duyên đặc biệt tôi liền theo
mấy vị liên hữu đi nghe giảng kinh. Hôm đó chân thầy Lư sưng lên
đến nỗi đi đứng không vững nên
người ta phải dùng kiệu để khiêng thầy
lên bục giảng. Phật
pháp thiệt quá quan trọng và người hoằng pháp
thiệt là vĩ đại, chân sưng lên đi không
được mà vẫn tiếp tục giảng kinh
thuyết pháp. Buổi
giảng hôm đó tôi khóc từ đầu đến
cuối; bài giảng ghi lại nghuệch ngoạc, nét
chữ xem không rơ, đến nay cũng không nhớ nội
dung là giảng về đề tài ǵ, nhưng ḷng từ bi
vô lượng của thầy Lư đă làm chấn
động tâm tôi một cách mănh liệt, tôi cảm
động tinh thần ‘v́ pháp quên ḿnh’ của thầy,
nếu không có ḷng nhiệt thành hoằng pháp của thầy
th́ không có cách nào cứu nổi cái tâm ngoan cố ngu si
của tôi, kể từ đó tôi dọn nhà về Đài Trung
để nghe giảng cho thuận tiện.
Mỗi
đầu tháng khi bịnh viện sắp xếp thời
khoá biểu làm việc tôi luôn luôn yêu cầu sắp xếp
tránh thời gian đi nghe giảng; tôi thà chịu liên
tục làm suốt mấy ngày liền và thà chịu mệt
chứ không chịu bỏ qua những buổi giảng
của thầy. Tại v́ ‘Thân người khó
được, đây là một nhân duyên rất hiếm có;
Phật pháp khó nghe được, cơ hội rất khó
gặp trong lũy kiếp; nếu lỡ bỏ qua,
thiệt không ai có thể bù đắp sự tổn
thất này!”
Mỗi ngày bịnh nhân của tôi
đều than thở khóc lóc để nhắc tôi tầm
mức quan trọng của chuyện này; không phải không
có người khuyên tôi: “Cô nên ăn uống có dinh
dưỡng một chút, uốn tóc đẹp một chút,
mặc áo đẹp một chút”;
nhưng tôi thể hội được một cách
rất sâu sắc rằng trong giờ phút khẩn cấp
của sự sanh tử trong đời người,
những thứ này đều không cần thiết tí nào! Phải nên thấy rơ, hiểu
thấu, nghe kinh, thực hành theo để chuyển hóa
đời sống th́ có ích lợi hơn. Cho nên mặc dù giọng nói
miền Sơn Đông của thầy rất khó nghe, nhưng
nghe hiểu được câu nào th́ trân quư câu đó,
thật là cơ hội hiếm hoi ngàn đời khó
gặp! Huống chi là lời
phiên dịch qua tiếng thổ ngữ Đài Loan của bác
Giản rất rơ ràng và lưu loát, giúp đỡ rất
nhiều; nếu c̣n chỗ nào không hiểu th́ tôi
đến Đài Trung để cung kính nghe những vị trưởng
thượng trong Liên Xă giảng lại. Khi nghe lại mới biết là
các đạo hữu rất chăm học, tư duy thâm
nhập [giáo lư] mà lại c̣n nỗ lực đi thực
hành, ai cũng cảm nhận sự giáo huấn và
đức hạnh của thầy chiêu cảm. Vào mỗi ngày thứ tư
rất nhiều người từ khắp nơi như
Đài Bắc, Đài Nam, và Cao Hùng lũ lượt về
đến Đài Trung để nghe giảng, cả một
giải liễu châu, lục châu, tôi gặp rất nhiều
người tay cầm xâu chuỗi, mặc áo đà,
thật là một cảnh tượng rất ôn nhu, đẹp
đẽ, thanh lương trong thế giới Ta Bà … Tôi c̣n nhớ rơ ràng buổi
giảng cuối cùng của thầy, thầy dùng tấm
ḷng bi nguyện rộng lớn, từ câu, từ câu
khuyến khích mọi người phải luôn ‘tịnh
niệm tiếp nối’; đây là lời trong Chương
Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông; nhiều
người cảm động quá không cầm
được nước mắt.
Thầy
rán hết sức trong mấy hơi cuối cùng để
khuyên mọi người:
‘tịnh niệm tiếp
nối’ là điều quan trọng trong sự tu niệm;
Chúng ta có thiết thật làm
được chuyện này hay chưa? Trong kinh Phật thường
bắt đầu bằng câu: “Tôi nghe như thế
này”. Trên bề ngoài chúng ta
đều có ‘nhĩ văn’ (tai nghe) nhưng câu cuối cùng
“hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ” (vui vẻ tin
nhận, lễ lạy rồi lui ra) th́ có mấy
người làm được?
Y theo lời của Ngẫu Ích tổ sư, thân tâm vui
mừng th́ gọi là ‘hoan hỷ’, không có nghi ngờ ǵ
hết th́ gọi là ‘tín’, nhận chịu không quên th́
gọi là ‘thọ’; cảm đại ân đức quy
mạng lạy xuống th́ gọi là ‘tác lễ’; y theo
lời dạy mà tu tŕ không lùi bước th́ gọi là ‘nhi
khứ’. Chúng ta có thiệt là
‘y giáo tu tŕ, nhất văng bất thoái’ không? Nghĩ đến đây th́
rất xấu hổ, mọi người thử xem th́
biết, tôi tự biết vọng tưởng của ḿnh
có sức mạnh giống như thạch nham từ trong
núi lửa trào ra, c̣n tịnh niệm th́ yếu ớt
như xách một thùng nước nhỏ mà đi chữa
lửa. Muốn thay đổi thế lực của hai
thứ này (vọng niệm và tịnh niệm) th́ phải
ra sức khổ công; nếu không như vậy th́ lúc thân
thể khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt, tự ḿnh
c̣n không làm chủ ḿnh được, tự ḿnh c̣n không
biết tâm niệm kế tiếp là tâm niệm ǵ th́ lúc lâm
chung c̣n tệ hại hơn nữa!
Thầy dạy chúng ta: “Niệm Phật không nên cầu
niệm nhiều, niệm một trăm lẻ tám hột
chuỗi tâm không loạn, trong đó nếu có một
niệm loạn, quay xâu chuỗi niệm từ đầu
trở lại”. Tôi
luyện tập qua một thời gian, chỉ có ba hột
đầu tiên trong xâu chuỗi là có màu đen thôi! Không biết trong ba niệm này có
xen tạp không nữa; khi niệm một vạn, hai
vạn, cho đến có lúc niệm sáu vạn, bảy
vạn danh hiệu th́ cũng rất khó t́m ra
được ‘trăm lẻ tám tịnh niệm tiếp
nối’. Cái tâm này thiệt
loạn đến mức quá nguy hiểm rồi, nguy
hiểm nhưng tự ḿnh không biết, làm sao không sớm
nỗ lực gia công thêm được! Chúng ta hăy nh́n thầy một
lần nữa và đem lời dạy này nhớ kỹ
trong ḷng. Ánh mắt kiên
nghị của thầy, ánh mắt nh́n về Tây
phương thanh tịnh, nh́n về hư không vô tận, và
cũng nh́n chúng sanh khổ nạn vô biên. Thầy dạy chúng ta:
“Tận hư không biến
khắp pháp giới đều là thân của đức
Phật A Di Đà. Chúng ta nằm
trong ḷng của đức Phật A Di Đà cho nên Phật
lại tiếp dẫn chúng ta rất dễ dàng. Điều này cũng như cái bàn
ở trước mặt chúng ta, có con kiến đi từ
bên đây qua đến bên kia bàn, nếu ḅ theo
đường thẳng th́ cũng phải ḅ hết
một thời gian rất dài.
Cũng như Phật A Di Đà, chúng ta có thể đem con kiến từ
bên này qua đến bên kia, cũng có thể đem
ngược lại; chúng ta
đi và lại đă nhiều lần rồi mà con
kiến cũng chưa đi đến bờ bên kia. Chúng ta niệm Phật khi
đến mức có cảm ứng, đức Phật
đến tiếp dẫn th́ cũng như vậy. Làm sao mới cùng đức
Phật A Di Đà có cảm ứng?
Phải đem ngũ dục lục trần buông
xuống; phàm những ai niệm Phật không có cảm
ứng đều tại v́ các thứ này trói buộc.”
Nguyện
cho chúng ta có thể thật thà làm theo lời dạy của
ngài trong đời sống, có thể làm giống như
thầy, có thể dự biết trước ngày giờ
văng sanh, quảng độ chúng sanh, viên măn bồ
đề nguyện.
Có thể có người
sẽ nói: rất khó có cơ hội gặp được
những người giống như lăo ḥa thượng
Quảng Khâm hoặc là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam. Phàm phu như chúng ta phải làm
sao? Xin quư vị xem xá lợi
của lăo cư sĩ Lại Tạ Diệu ở Viên Lâm,
có năm màu trong suốt lấp lánh giống như lưu
ly, mă năo, ngọc đẹp…
Bác Diệu từ khi tin Phật đến nay rất
siêng năng, mỗi ngày thức dậy đều mặc
áo hải thanh (áo tràng), mở cửa nghinh đón chư
Phật Bồ Tát , ngày ngày thật thà niệm Phật, làm
người rất từ bi, ít nói, bà cũng đă niệm
đến lúc dự biết trước ngày giờ văng
sanh. Bà nhờ liên hữu
trợ niệm giúp, liên hữu nói mùa hè trợ niệm
rất là khó chịu. Bà nói:
“Không
sao đâu, tôi sẽ lựa một ngày mát mẻ mà văng
sanh!”.
Quư
vị xem bà có thể lựa chọn ngày mát mẻ
để văng sanh, thiệt là thong dong tự tại
biết bao. Đến lúc cuối, mọi người trợ
niệm giúp bà, bà không thể niệm ra tiếng, nhưng
tay có thể gơ vào giường để ḥa vào tiếng
niệm Phật của mọi người, chánh niệm
phân minh mà về Tây. Hỏa
táng xong có rất nhiều xá lợi năm màu đẹp như
vậy, làm tăng thêm ḷng tin cho những người đi
sau! Thường ngày bà sinh
sống rất đạm bạc, không cần mua châu báu mà
dùng ḷng tin tha thiết và từng tiếng A Di Đà Phật tích
tụ lại những châu báu trang nghiêm tự ḿnh sẵn
có. V́ mỗi khi chúng ta niệm
một câu A Di Đà Phật th́ liền đem vô lượng
công đức của Phật gom về làm công đức
của ḿnh. Tín nguyện tŕ
danh, tŕ một câu, một câu không thể nghĩ bàn, tŕ
trăm câu, ngàn câu, vạn câu danh hiệu, câu nào cũng không
thể nghĩ bàn! Người
xưa có câu: ‘Thuấn hà nhân dă, Vũ hà nhân dă, hữu vi
giả diệc nhược thị’ (Thuấn là người
nào, Vũ là người nào, họ làm được ḿnh
cũng làm được!
Đại ư: Vua Nghiêu Thuấn, Vua Đại Vũ là
những ông vua nổi tiếng nhân từ hiếu thảo,
tôi cũng là một người, nếu tôi rán hết
sức th́ có thể làm giống vua Thuấn, vua Vũ). Một bà lăo có thể làm
được như vậy, chúng ta tại sao không thể
nh́n mà bắt chước theo?
Thiệt ra chúng ta có chỗ nào là thông minh hơn [hay
thua] bà lăo này không? Đạo lư
của pháp môn Tịnh độ vô cùng thâm diệu, muốn
chân chánh đảm đương triệt để th́
chỉ có các vị tổ sư như Mă Minh, Long Thọ,
Trí Giả, và Vĩnh Minh; nếu chúng ta dùng vọng
tưởng để đo lường th́ càng suy nghĩ
càng sai lầm, ngược lại không bằng bà lăo
thật thà niệm Phật và có thể từ từ thâm
nhập vào Phật trí, âm thầm phù hợp với
đạo lư thâm diệu!
Có
thể sẽ có người hỏi: niệm danh hiệu A
Di Đà Phật có hiệu lực lớn như vậy sao? Đúng vậy. Hăy khoan nói công đức vô lượng
của danh hiệu đức Phật, trước hết
hăy dùng một tên thông thường làm thí dụ: thí dụ
như tên ‘quưt’ (hay cam). Có
một bác nông phu muốn trồng quưt để đến
mùa thu [đem ra chợ bán và] có người sẽ thưởng
thức được mùi vị ngọt ngào giải khát
của quưt. Từ khi gieo
hạt giống, vun bới, bón phân, tốn rất nhiều
công sức, cây quưt này trải qua những trận mưa mùa
xuân và ánh nắng gay gắt mùa hè, trải qua những cơn
băo tố, từ đất đen nở ra cây trái vàng óng
ánh, toả ra hương thơm ngát, trải qua thời
gian rất dài và tốn nhiều công sức, thật không
phải dễ. Cây quưt có
sự liên quan vô cùng mật thiết với cả thế giới
này, rễ quưt bám sâu vào ḷng đất, cây quưt hít thở
bầu không khí rộng lớn và ḥa vào không khí mà chúng ta hít
thở hàng ngày, và cùng thọ nhận nguồn ánh sáng
mặt trời vô tư. Anh
nông phu cần phải dựa vào sức lao lực và hoa trái
của những người khác để duy tŕ đời
sống; anh phải mặc áo và khi bị bịnh phải đi
khám bác sĩ. Cây quưt này có
một lai lịch thật là phức tạp nhưng khi người
mẹ hỏi con: “Con muốn ăn ǵ?” Bạn chỉ trả lời:
“quưt” th́ liền ăn được trái quưt vô cùng ngọt
ngào này, hưởng thụ được thành quả mà người
nông phu phải ra sức vun bồi mới có được.
Không
phải vậy sao? Trái quưt b́nh
thường đă vậy, huống chi là câu vạn đức
hồng danh ‘A Di Đà Phật’.
Quá tŕnh thành Phật đ̣i hỏi bao nhiêu sự khó khăn
gian khổ, đ̣i hỏi bi nguyện rộng lớn
chấn động đến trời đất, thêm vào
sức nhẫn nại nỗ lực qua nhiều kiếp
mới thành tựu được Phật quả không
thể nghĩ bàn. Niệm
danh hiệu th́ cũng như nếm trái quưt; hưởng
thụ được những mùi thơm ngọt của
nó; trong danh hiệu ‘A Di Đà Phật’ này, đức Phật
ban cho chúng ta hạnh phúc vô lượng vô biên, ban cho chúng ta
thành quả gặt hái được từ tất cả
công phu tu hành của ngài. Có người
hấp tấp nuốt liền và cũng có người
từ từ thưởng thức hương vị;
mỗi người nếm được mùi vị khác
nhau, nhưng ai cũng được đă khát. Danh hiệu ‘A Di Đà Phật’
chứa đựng tất cả sự trang nghiêm, tốt đẹp,
tự tại, thong dong của Cực Lạc thế
giới; tất cả đều
có sẵn nhưng chỉ có người có tín nguyện thành
khẩn mới có thể tiếp nhận được. Giả sử bạn nhất định
không chịu tin rằng ‘nói ‘quưt’ th́ má bạn sẽ cho
bạn ăn trái quưt’, mà nhất định phải tự
ḿnh đi gieo hột giống để trồng cây
quưt. Như vậy th́ cũng được
nhưng sợ cây quưt chưa lớn th́ bạn đă khát quá
và chết đi rồi, hoặc là bị rắn trong vườn
cắn bị thương.
Giống như tôi không biết trồng cây, mạng
sống lại rất ngắn ngủi th́ thích nói chữ
‘quưt’ để má cho ăn và liền có thể nếm được
mùi vị ngon ngọt của trái quưt, liền hấp
thụ được mùi vị ngọt ngào dinh dưỡng
của trái quưt, và cũng cám ơn sự cần khổ
của anh nông phu, tin tưởng vào nguyện và hành của
anh nông phu đă thành tựu, tin vào lời má nói, rất đơn
giản và dễ dàng. Ăn
xong trái quưt th́ có sức lực để đi khám
bịnh, phục vụ xă hội, như vậy th́ quá
tốt! Giả sử tin không được
nên phải từ sáng bận rộn cho đến tối
làm việc [trồng trọt] để kiếm ăn, đây
là cả một vấn đề khó khăn.
Chúng
ta ở trong đời trược ác này lâu quá nên rất khó có thể tin
những chuyện tốt hoặc tin chân lư. Nếu có người nói với
chúng ta bên đường phía đông có một băng đảng
tên là Kim Quang, họ chuyên môn lập kế để
gạt tiền người khác.
Chúng ta sẽ tin liền, sợ họ và không dám đi
về phía đông. Nhưng
nếu nói với chúng ta Tây phương thế giới có đức
Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, và Đại Thế Chí
Bồ Tát thường phóng hào quang và từ bi đi cứu
giúp chúng sanh, giúp cho họ thoát ly khổ nạn, và hưởng
an lạc vĩnh viễn.
Chúng ta ngược lại sẽ hoài nghi cho đến
chết cũng không tin.
Tại sao đều là nh́n không thấy mà chúng ta
lại tin là có băng đảng Kim Quang và sợ không dám đi
về phía đông. Chúng ta
tại sao không tin Phật Bồ Tát từ bi và có vô lượng
hào quang trí huệ, không hoan hỷ tin tưởng để
có thể đi về phương tây? Tâm của chúng ta trầm luân đến
nỗi chỉ tin ác chứ không tin thiện, chỉ tin
giả chứ không tin thật?
Tôi cũng tin người trong băng đảng Kim
Quang cũng có Phật tánh, nếu chuyển ư niệm và
niệm A Di Đà Phật th́ cũng sẽ thành Phật. Đức Phật A Di Đà từ bi
sẽ không bao giờ bỏ rơi họ. Tôi cũng tin Kim Quang đảng
trong nội tâm của tôi: tham, sân, si có một ngày nào đó
cũng sẽ phóng hào quang như đức Phật A Di Đà.
Tôi
xin giới thiệu thêm chuyện của bác Phan Tạ Ánh
Mai. Vốn là một đêm trước
tết khi tôi mở cửa pḥng khám bịnh chuẩn bị
đi về th́ nh́n thấy một người trẻ
tuổi nói là họ từ Mỹ về thăm bà má vợ
(chồng) bị đụng xe.
Bà này đă dặn ḍ chuyện ra đi của bà
từ một năm trước, bà dặn khi bà qua đời
th́ kêu họ mời ngài Sám Công và các vị bạn sen trong
liên xă trợ niệm cho bà.
Tại v́ họ kêu điện thoại đến
chùa Liên Nhân không gặp thầy và có người kêu họ
lại kiếm tôi để nhờ giúp đỡ. Tôi nghe nói bà đă thọ giới
Bồ Tát, rất siêng năng niệm Phật, và đă dặn
ḍ con cái không được di động thân thể
của bà sau khi bà lâm chung, không cho con cái khóc lóc, và phải
niệm Phật trợ giúp bà.
Tôi nghĩ: “Bà siêng năng tu hành như vậy mà c̣n
gặp phải tai nạn đụng xe, huống chi là người
như tôi” nên mau mau đi trợ niệm giúp bà, phải làm
cho bà được măn nguyện, giúp bà văng sanh. Khi tôi đến bịnh viện
th́ gặp con bà đang nói chuyện điện thoại bàn
bạc về hậu sự.
Tôi cảm nhận được sự khổ
của tất cả chúng sanh đang trôi lăn trong ṿng
sanh, lăo, bịnh, tử. Bà
nằm trong pḥng cấp cứu hôn mê đă mấy ngày không
tỉnh. Nhưng đến
khi niệm Phật cho bà th́ bà chảy nước
mắt. Đêm đó các bạn
ở liên xă chưa ăn cơm xong vừa nghe liền
nhiệt tâm đến giúp chồng bà chuẩn bị và
giải thích rơ về việc trợ niệm. Con bà rất hiếu thảo,
muốn làm cho bà được măn nguyện và văng sanh tây phương;
họ đem các h́nh gia đ́nh họ hàng đang treo trên tường
đem cất để cho bà khỏi động tâm lưu
luyến thế giới Sa bà này.
Bà ra đi ngay đêm giao thừa; có ba bốn mươi
người bạn trong liên xă đến để trợ
niệm mà trước đó không có người nào quen
biết bà. Tôi rất xúc động
khi thấy tờ giấy viết bài phát nguyện (bài
kệ phát nguyện trong phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện) đă nhuốm vàng bởi khói nhang. Con bà nói trước đó bà thường
đi trợ niệm và có viết sẵn tên của
những người quen có thể đến trợ
niệm cho bà. Nhưng gặp
ngay đêm giao thừa có một số đi về quê,
một số khác th́ bận việc nên không đến được. Con bà rất lo không có ai đến,
nhưng không ngờ lại có nhiều người không quen
biết nhiệt tâm đến để trợ niệm
cho bà. Thiệt là nhân quả
không sai, người niệm Phật chỉ cần tu nhân,
‘nhân’ đúng th́ ‘quả’ chắc chắn sẽ đúng.
Người
Á đông vốn rất kỵ chuyện tang lễ vào
dịp tết, nhất là vào đêm giao thừa, nhưng
Phật tử th́ không màng đến chuyện này, chúng ta chỉ
hy vọng có thêm một người văng sanh thành Phật th́
có thể độ được vô lượng chúng sanh;
chúng ta chỉ sợ người trong gia đ́nh trong lúc
buồn rầu làm cho họ mất đi ‘tín’ và
‘nguyện’. Sau khi hỏa táng
bà để lại vài viên xá lợi màu xanh, vàng, và
trắng. Chồng bà rất
cảm động; trước đó ông thường phàn
nàn: “Tôi nghèo như vầy cũng v́ bà bố thí hết trơn
và không nấu thịt cá cho tôi ăn!” (từ điểm này có thể
biết được bà là người như thế
nào). Ông nói tiếp: “Mỗi khi
tôi ngồi coi truyền h́nh, bà đều ngồi xếp
bằng, dùng gốc cây nhang để tính số niệm
Phật; nhiều lúc tôi trách bà nhưng không ngờ là bà đă
tu thành công!”. Tôi cảm
thấy một việc rất không thể nghĩ bàn là xâu
chuỗi của bà làm bằng hột ‘Tinh Nguyệt Bồ
Đề’, sau khi hỏa thiêu xong c̣n lại hai hột y nguyên
không bị cháy hết. Con trai,
con gái, và con rể bà đều là tiến sĩ ở
Mỹ, đối với việc này cũng nói là không
thể tưởng tượng nổi. Thật thà niệm Phật, công
phu đắc lực th́ sẽ thành công; nhân quả tơ
hào chẳng sai.
Hồi
xưa có một đệ tử hỏi Phật: “Nếu
gặp chuyện bất trắc mà chết đi bất
ngờ th́ có thể văng sanh được không?” Phật thí dụ: “Nếu có
một cây mọc nghiêng về phía đông, nếu bị
gẫy th́ cũng sẽ ngă về hướng đông”. Chúng ta niệm Phật cũng như
cây mọc nghiêng về hướng tây, mỗi ngày đều
hướng về tây mà lớn thêm, nếu bị gẫy
th́ cũng sẽ ngă về hướng tây. Chúng ta phải tự hỏi ḿnh
có nghiêng về hướng tây không? (chỉ sợ là không
có!). Cái tâm của ḿnh thường
thường đều hướng về bốn phương
tám hướng nhảy tùm lum, và không nhất tâm hướng
thẳng về tây. Hai mươi
bốn giờ trong ngày, thời gian thiệt thà niệm
Phật cũng không quá năm phút; nếu người siêng
năng hơn một chút th́ một ngày niệm được
vài giờ, trong đó cũng không biết có bao nhiêu câu
niệm được đàng hoàng (không xen tạp và không
gián đoạn). Cho nên cây này đúng
là mọc tùm lum, nếu bị gẫy bất ngờ
rồi ngă về hướng nào th́ rất khó mà biết trước
được.
Trong
nhật kư bà đă viết sẵn di chúc dặn con cháu
phải lo chuyện lâm chung như thế nào, đến sau
này th́ con bà mới t́m ra.
Cũng may là hậu sự cũng được làm
giống theo ư muốn của bà.
Có một đoạn trong nhật kư làm cho tôi có ấn
tượng rất sâu. Bà có
một người con đă từng làm khoa trưởng
ở đại học Phùng Giáp bị tai nạn xe đă
qua đời. Lúc đó bà chưa
học Phật và cảm biết được sự đau
khổ trong đời người, bà viết: “Hôm nay là
ngày vĩnh biệt con tôi và là ngày đau khổ nhất
trong đời tôi”. Một người
mẹ nhận chịu sự đau khổ của người
‘tóc trắng tiễn đưa người tóc đen’
thật là chua xót biết bao.
Một người không tầm thường sẽ
không vùi đầu vào sự đau khổ và tối ngày than
vắn thở dài. Người
đó sẽ từ những sự khổ: ‘sanh, lăo,
bịnh, tử, thương xa ĺa, ghét gặp mặt, năm
ấm hừng hực (ngũ ấm xí thạnh)’ giác
ngộ trở lại và bước theo gót chân của
những thánh nhân hồi xưa.
Chúng ta hăy cùng nhau hướng về pháp hội Di Đà
vĩnh hằng vô tận, hướng về Liên Tŕ Hải
Hội thanh tịnh, hoan hỷ, sáng lạng, tràn ngập
tiếng cười. Ấn
Quang đại sư đă từng nói:
Ưng
đương phát nguyện nguyện văng sanh.
Khách
lộ khê sơn nhậm bỉ luyến
Tự
thị bất quy, quy tiện đắc
Cố
hương phong nguyệt hữu thùy tranh?
Tạm
dịch:
Văng
sanh phát nguyện đi thôi,
Suối
non đất khách mặc người quẩn quanh,
Quê
nhà chẳng chịu về nhanh,
Hễ
về ắt được, ai giành gió trăng?
Chúng
ta đừng đi lang thang nữa. Hăy học theo thế giới
nội tâm của Hoằng Nhất đại sư: “Hoa chi
xuân măn, thiên tâm nguyệt viên”; hăy niệm Phật cho đàng
hoàng. Pháp môn niệm Phật là
một pháp môn đặc biệt nhất trong tám vạn
bốn ngàn pháp môn của đức Phật Thích Ca, pháp môn
này dễ thành công nhất.
Mỗi ngày niệm đến khi vô cùng thành khẩn
th́ giống như hồi nhỏ trẻ em thường ca:
“Xe
lửa mau bay, xe lửa mau bay, bay qua núi cao, bay qua khe
suối …”
Lúc
niệm Phật trong tâm càng trải qua nhiều sự khó khăn
th́ cũng như xuyên qua núi cao, băng qua khe suối. Và cũng giống như lời
ca: “Mẹ hiền trông thấy thiệt là vui mừng”. Cha mẹ từ bi vô tận vô biên
của chúng ta, đức Phật A Di Đà đă dang tay ra
từ lâu rồi, rất lâu rồi, khi nh́n thấy chúng ta
quay trở về nhà th́ vui mừng biết bao! Nghĩ đến “Bồ Tát đón
mừng, Di Đà đợi ở ngưỡng cửa”
tiếng vang dội từ xa truyền lại th́ làm sao không
bước mau lên….
Quay
đầu nh́n lại tất cả những h́nh ảnh
sanh tử bên bờ sông Hằng chúng ta giống như
những người đang vùng vẫy sắp chết,
chư Phật Bồ Tát từ bi nhảy vào ḍng nước
sanh tử tràn đầy đau khổ và dạy chúng ta dùng
một câu “ A Di Đà Phật” để chứng đến
bản tánh bổn vô sanh diệt của chúng ta, đem gịng
nước ác trược dơ bẩn này biến thành con
sông thanh tịnh thánh thiện; đem lợn sóng cay đắng
này biến thành những mùi thơm ngọt ngào.
‘Không
nỡ để chúng sanh khổ, không nỡ để thánh
giáo suy’. Nguyện cho chúng ta
phát ra tâm từ bi, thường làm theo đại nguyện
của đức Phật A Di Đà mà cứu giúp tất
cả chúng sanh, nguyện chúng sanh đều sanh đến
Liên Tŕ Hải Hội trang nghiêm, cùng nhau thưởng
thức mưa Mạn Đà La hoa….
Xin
quư vị thứ lỗi, tôi thường không có nội dung
tốt đẹp ǵ để cúng dường cho quư
vị, chỉ kể một vài câu chuyện thê thảm cho
quư vị nghe, không muốn quư vị ghi nhớ những
huyết lệ trong đó, chỉ nguyện cho quư vị
trên con đường đời sớm giác ngộ. Chúng ta phải làm ‘ngựa
hạng nhất’ không cần phải đợi những
sự đau khổ này đến kề bên người
rồi mới chạy.
Ngựa hạng nhất là vừa thấy bóng dáng
của cây roi phất ngựa là chạy liền. Thấy
người khác khổ, biết được đời
sống có chuyện khổ như vậy, đừng
chờ đợi nữa, hăy mau tu hành! Ngựa hạng nh́ là đợi đến
khi roi đánh tới ḿnh rồi mới chạy; ngựa hạng ba là đợi đến
lúc bị đánh tróc da chảy máu rồi mới
chạy. Ngựa hạng tư
là cho dù trầy da tróc vảy, đau đến xương
tủy cũng không biết chạy. Có thể cũng có ngựa
hạng năm là chết rồi cũng không sợ,
loại này làm cho Bồ Tát phải rơi nước
mắt!
Buổi
diễn giảng hôm nay vốn là có đạo hữu đề
nghị tôi đừng giảng hoặc là mời thầy
khác giảng dùm. (Ở đây
thuận tiện nên báo cáo cùng quư vị đạo hữu
luôn) V́ cũng như đă nói ở phía trước, chúng ta
đều ở trong ḍng sông sanh tử, những h́nh
ảnh mà chúng ta thấy được trên sông Hằng đều
là h́nh bóng của chính ḿnh. Tôi
cùng tất cả bịnh nhân đều giống nhau, đều
bị bịnh ung thư, bây giờ đúng lúc nhất tâm
niệm Phật chuẩn bị văng sanh. Tôi đă nhận lời cùng quư
vị nói chuyện ngày hôm nay (27 tháng 4). V́ bác Hứa gọi điện
thoại nhiều lần và vô cùng thành khẩn nên cho dù hôm
nay chỉ có một người đến nghe tôi cũng
sẽ nói. Tại v́ nếu có
thêm một người niệm Phật văng sanh Cực
Lạc thế giới th́ sẽ ít đi một người
đau khổ rơi lệ. Hơn
nữa tôi đă gặp nhiều vị sư trưởng đều
‘không nỡ chúng sanh chịu khổ, không nỡ thánh giáo
suy’, rán hết sức ḿnh để đem những điều
vô cùng quan trọng trong Phật giáo dạy cho chúng ta. Hôm nay tôi có thể không ở trên
giường bịnh rên siết, đến đây cùng các
bạn học tập đều là nhờ ân đức
của họ (những vị sư trưởng). Tôi chỉ muốn rán hết
sức ḿnh (phấn đấu với bịnh đau) để
báo đáp phần nào ân đức của họ. Trong Đại Trí Độ Luận, có
một vị Bồ Tát nói: ‘Tôi đă mất đi thân
mạng trong vô thỉ kiếp sanh tử vừa qua, chưa
từng v́ pháp (mà hy sinh)’.
Phải đúng vậy không?
‘Quay đầu nh́n lại xương chất thành
núi’, vô số lần mất mạng trong đời quá
khứ đều nhẹ như hồng mao, chưa
từng nặng như Thái sơn th́ cũng phải mất
mạng. Chúng ta hăy v́ Phật
pháp, v́ chúng sanh, chánh niệm rơ ràng, niệm Phật mà văng
sanh! Nếu như trong
những lời nói hôm nay có một tơ hào nào thành khẩn
đáng quư, nguyện đem phần công đức này
hồi hướng cho tất cả thiện tri thức,
cha mẹ, thầy giáo, bạn bè đă nhắc nhở tôi
trên con đường Bồ đề này. Tôi xin cám ơn tất cả, cám ơn
từng câu nói thành khẩn, không kể là khích lệ hay trách
mắng; cảm ơn từng nụ cười, từng
giọt lệ chân thành, từng lời dạy dỗ. Cũng xin hồi hướng cho
mỗi vị ‘bịnh nhân Bồ Tát’ của tôi, cho tất
cả chúng sanh đang chịu đau khổ, nguyện cho
họ sớm nghe được lời kêu gọi của
Di Đà trong nội tâm, đồng sanh nơi ‘không có sự
khổ, chỉ toàn đều vui’ ở liên bang Cực
Lạc.
Lúc
tôi đi khám bịnh v́ bác sĩ không biết tôi cũng hành
nghề này nên lúc họ thảo luận bịnh trạng
với nhau tôi nghe và biết rất rơ và cũng nh́n thấy
chỗ ung thư qua máy siêu âm.
Chỗ ung thư này đến lúc tôi có thời gian đi
khám th́ đă quá lớn, lớn đến gần hết
phía dưới bụng. Tôi
rất xấu hổ không biết và lo chữa sớm,
thiệt là quá tệ. Mỗi
lần ‘beeper’ kêu là tôi phải mau mau chạy đi,
nhiều khi đang tắm cũng phải ngưng và
chạy đi. Mấy ngày trước
khi đi khám, chân tôi sưng lên đến nỗi mang giày
không được nhưng cũng phải rán mang như
mang dép đi làm. Tuyết Công
có nói: “Nếu có mười phần sức lực mà
chỉ dùng hết chín phần th́ không đủ thành
tâm”. Tôi không có cảm giác lo
sợ hay khủng bố ǵ hết, cảm thấy rất
b́nh thường, chỉ quyết tâm niệm Phật
cầu sanh tây phương, tận dụng hết thời
gian c̣n lại để hoàn thành công việc ḿnh phải
làm, gặp mặt những người giác ngộ từ xưa
đến nay. Chỉ cần
tin tưởng Phật pháp, tin tưởng điều giác
ngộ thứ nhất dạy trong kinh Bát Đại Nhân Giác là
‘thế gian vô thường’, nếu như vậy th́
chuyện này rất b́nh thường, không cần phải
hỏi: “Có thiệt không? Tôi
làm sao mà bị bịnh này được”. Bịnh nhân thường hỏi
như vậy lắm. Và
cũng không cần phải khóc: “Không. Không thể nào là tôi được. Tôi không thể nào bị bịnh
này được (bịnh nhân thường kháng cự
giống như vậy).
Tại sao không thể là chúng ta được? Rất có thể là chúng ta. Hoặc giả vốn là luân phiên đến
lượt chúng ta. Hăy thức
tỉnh đi, vận dụng thời gian c̣n lại đừng
lăng phí và chạy trốn nữa!
Kể
từ ngày sanh ra đời này, chúng ta ai nấy đều
từ từ tiến dần đến cái chết. Có một người bạn sen
thường hay nhắc nhở chúng tôi: “Mọi người đều có một sự
việc luôn luôn dũng mănh tinh tiến, đó là từ lúc
sanh ra đời th́ liền từ từ tiến dần đến
trạm cuối của cuộc đời.”
Lại
c̣n nói: “Nếu nói bạn trưởng
thành th́ bạn rất vui, nhưng nếu nói là bạn đang
đi về phần mộ th́ bạn rất buồn,
thiệt ra hai chuyện này đều là một”.
Lại
có người hỏi: “Quư vị là những người
tin Phật th́ làm sao có thể bị bịnh ung thư được?”
Kinh Phật nói với chúng ta rất rơ ràng
từ vô thỉ kiếp đến nay, những ác
nghiệp mà chúng ta đă làm, nếu tính ra th́ là vô lượng
vô biên. Giả sử những ư niệm,
ngôn ngữ, và hành vi sai lầm của chúng ta có thể tích
và có h́nh tướng th́ cả tận hư không này cũng
chứa không hết. Muốn
biết nhân ở thời quá khứ cứ xem những ǵ
ḿnh thọ nhận ngày hôm nay th́ biết được; muốn biết quả tương
lai, cứ xem những ǵ ḿnh làm hôm nay th́ biết được.
Từ
lũy kiếp đến nay, không biết tôi đă làm
hại hết bao nhiêu chúng sanh, đă làm bao nhiêu sanh linh đau
khổ, bây giờ quả báo hiện ra th́ phải nhận
chịu một cách vui vẻ và b́nh tĩnh; chúng ta niệm
Phật phải noi theo trí huệ và ḷng từ bi của chư
Phật, nguyện cho tất cả những chúng sanh bị
tôi làm hại lúc trước đều được
tắm gội trong ánh sáng từ quang giác ngộ, hóa
giải những oán hận kết tập lại trong
nội tâm, phá bỏ tất cả không cho oan oan tương
báo tiếp tục. Đây là
sự gia tŕ tốt nhất của chư Phật Bồ
Tát cho tôi, miễn hết tất cả những trách móc và
so đo không cần thiết, tất cả những gút
mắt t́nh cảm không tốt đẹp. Giả sử ngày mai là ngày tận
thế, tối nay tôi vẫn phải trồng đầy
hết ‘phần đà lợi hoa’ (hoa sen) trong vườn, dưới
gió mát trăng thanh phải lớn tiếng niệm Phật
A Di Đà. Vẫn có nhiều
bạn không bỏ qua được, cứ trách móc
Phật Bồ Tát không gia tŕ cho tôi, để cho tôi mang
bịnh này. Thiệt ra không
phải là Phật Bồ Tát làm cho tôi mắc phải
bịnh này; chúng ta hăy nghĩ xem một hạt dầu khi
nhỏ vào nước sẽ nổi lên mặt nước,
trái lại viên đá sẽ ch́m xuống đáy nước. Nghiệp chướng của tôi
cũng nặng như viên đá cho nên tự nhiên sẽ ch́m
xuống đáy, sẽ mang bịnh.
Rất may đức Phật A Di Đà đă chuẩn
bị đại nguyện, đem chiếc ‘hàng không
mẫu hạm’ để cứu vớt tôi và tất
cả chúng sanh có nghiệp chướng sâu nặng. Nên tôi không lo ǵ cả, chỉ
cần có tín nguyện kiên cố, chấp tŕ danh hiệu
Phật, nhất định sẽ văng sanh. Ngẫu Ích đại sư không
phải đă nói với chúng ta rồi sao:
“Được sanh hay không toàn do có
tín nguyện hay không,
phẩm vị cao thấp toàn do tŕ
danh sâu hay cạn”.
Tôi
tuy là chưa niệm đến mức ‘nhất tâm bất
loạn’ nhưng tiếp tục nỗ lực gắng
sức niệm và tin đức Phật A Di Đà sẽ
lại tiếp dẫn. Tôi
hiểu được đời người cũng
giống như quá tŕnh vẽ một h́nh đức
Phật. Mỗi một nét
chúng ta đều dùng tâm hết sức chân thành để
vẽ! Đừng để khi
gác cọ xong rồi nh́n lại bức tranh ḿnh vẽ
lại thành ra một con chó sói hoặc là một con heo
thậm chí là một con ác quỷ!
Tôi
biết có một bịnh nhân vô cùng siêu thoát, bà đă
dạy cho tôi rất nhiều.
Bà bị ung thư gan. Lúc
bà vào bịnh viện là v́ đường tiêu hóa bị
chảy máu chứ không phải vào để trị
bịnh ung thư. Đêm đó
nhằm ngày tôi trực ở bịnh viện, tôi giúp bà đút
ống vào mũi đến dạ dày, đổ nước
đá vào để cầm máu và cũng để khám
chỗ chảy máu. Thường
khi đút ống vào mũi thẳng đến dạ dày
phần đông bịnh nhân ai cũng rên xiết kêu đau,
nhưng bà này rất là điềm đạm an nhàn, không nhăn
nhó tí nào, có vẻ dường như không có chuyện ǵ
xảy ra hết. Sau đó tôi
nh́n thấy vết thẹo mà những người thọ
giới đốt để lại trên tay mới biết
bà là một người biết tu hành đă lâu.
Đêm
đó bịnh nhân rất đông tôi phải làm việc liên
tục đến 5 giờ sáng.
Lúc đi ngang qua giường, bà chắp tay nói: “A Di Đà
Phật, chào bác sĩ”. Lúc đó
bà đang nằm ở giường tạm đặt ngoài
hành lang v́ bịnh viện không đủ giường cho
bịnh nhân nên phải đặt thêm giường
tạm. Những bịnh nhân
nằm những giường này luôn luôn phàn nàn là ‘nhiều
người đi qua lại ồn quá’ và ‘đi nhà vệ
sinh không thuận tiện’. Nhưng
bà này lại không phàn nàn ǵ hết, bà nở nụ cười
chắp tay niệm Phật (lúc đó đang đút ống
vào mũi) và nói: “Ở đây không khí thiệt là tốt,
sáng sớm bốn giờ mấy là tôi đă làm xong công phu
(tụng kinh) khóa sáng! Nghe xong
tôi rất cảm động, tâm lượng của bà quá đẹp. Trong hoàn cảnh không thuận
lợi, nơi chốn ồn ào, thân thể đang bịnh
nặng, đối với bà tất cả đều là:
“rất thanh tịnh mát mẻ”.
Chúng ta đừng xem thường công phu niệm được
một câu A Di Dà Phật trong lúc này (mỗi người
thử đút một ống vào mũi rồi niệm thử
xem). Thường ngày muốn
niệm đến tương ứng trong niệm này
phải dẹp sạch tất cả phiền năo của
tạp niệm lên xuống (giả như muốn được
niệm niệm đều tương tục th́ phải
niệm niệm đều thoát ra khỏi ṿng vây, niệm
niệm phải đều thắng lợi, phải
chiến thắng tất cả vọng tưởng)
huống chi là lúc khổ nhất!
Muốn có một niệm A Di Đà Phật mà ‘tâm và
miệng tương ứng với nhau’ phải có tâm
lực mạnh mẽ để khắc phục tất
cả đau khổ và khó khăn, bạn có biết
không? Cho nên một câu niệm
Phật và vài câu nói của bà đă làm cho tôi cảm động
rơi lệ. Tôi khám chỗ đau
của bà, cảm thấy gan cứng và sưng lên và nghi là
ung thư. Qua ngày sau rọi siêu âm và thử nghiệm th́
biết là ung thư gan đă lớn đến đường
kính tám phân (8 cm). Thấy thái độ
và biểu hiện khác người của bà cho nên tôi nói
thiệt bịnh t́nh cho bà biết (thường thường
th́ chúng tôi phải suy nghĩ cân nhắc trước khi nói
với bịnh nhân). Một người
học Phật chân chính sẽ xem chuyện sanh tử
rất là b́nh thường.
Chúng ta sợ nhất là trí huệ không khai mở, đời
này hồ đồ lộn xộn, chết đi rồi
lại tiếp tục sanh vào lục đạo luân
hồi. Khi đă hiểu rơ đạo
lư này sẽ không kêu trời trách đất và sẽ
niệm Phật đàng hoàng, đặt bước trên con đường
về cố hương, chuẩn bị tham gia liên tŕ
hải hội. Đây là sự
‘pḥ hộ’ tốt nhất, t́nh cảnh bi thương là đau
khổ đối với người khác, nhưng chúng ta
vui vẻ xem như là chuyện thường, đây là
lễ vật của chư Phật Bồ Tát! Mười triệu đồng
có thể mua được đủ loại chữa
trị (không thiếu đau khổ giày ṿ) nhưng mua không được
tâm b́nh tĩnh vui vẻ, c̣n lễ vật nào quư hơn tâm
này không? Lúc tôi nói thiệt
bịnh t́nh cho bà biết, bà nói liền giống như đă
chuẩn bị lời văn từ trước: “Tôi
sống ngày nào th́ phục vụ thêm một ngày cho chúng sanh,
đến ngày tôi sắp chết, đức Phật A Di Đà
sẽ lại rước tôi đi”. Bà siêu thoát như thế đó, tràn
đầy từ bi và ḷng tin, thần sắc của bà
khắc sâu vào tâm khảm của tôi, làm thành một sức
mạnh có khả năng khuyến khích và giúp đỡ tôi
vượt qua rất nhiều khó khăn chướng
ngại thường ngày.
Thiệt
t́nh mà nói, không phải là tôi đi làm bác sĩ mà phải nói
là tôi đang ‘đi học’, ‘bịnh’ của tôi nặng
nhất trong số những người bịnh, ‘các
thứ xấu ác’ trong tâm nhiều quá; tham, sân, si, mạn … đều
rất nặng. Mỗi
bịnh nhân đều đến thị hiện một
hoàn cảnh đặc biệt để dạy cho tôi
hiểu được một đạo lư nào đó. Người nào cũng rất
từ bi không tiếc đem những lời dạy và
những câu chuyện sống động đầy máu và nước
mắt để dạy và làm cho tôi hiểu được
lời trong kinh Lăng Nghiêm ‘Chương Đại Thế Chí
Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông’ đoạn ‘Mười
hai vị Như Lai liên tục một kiếp, vị
Phật sau hết danh hiệu Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy
tôi Niệm Phật Tam Muội’.
Có một thầy giáo nói: “Thiện duyên của đức
Đại Thế Chí Bồ Tát vô cùng tốt đẹp có
thể gặp được muời hai vị Phật và được
truyền dạy Niệm Phật Tam Muội; chúng ta một
vị Phật cũng không gặp được”. Tuy là thiện căn của tôi
rất mỏng, nhưng nhân duyên th́ rất đặc
biệt, rất tốt!
Mỗi ngày đều có một vị Bồ Tát đem
h́nh ảnh của sự khổ nạn vô tận trên sông
Hằng đến để cảnh tỉnh và giúp cho tôi
giác ngộ: niệm Phật đi, niệm Phật đi;
họ giúp tôi trao dồi tâm lực, giúp tôi buông xả. Đây là sự gia tŕ của chư
Phật Bồ Tát, giả sử không có sự từ bi gia
tŕ này, khi nghe đến ‘tên bịnh’ th́ tứ chi liền
phát run, tay chân không c̣n sức lực nữa và khóc: ‘Thù
hận trong đời người làm sao miễn được,
…’
Có
khi tôi thấy rất nhiều người thầm thầm
vái ở trước tượng Phật, đôi lúc tôi
cũng muốn hỏi họ khấn vái những ǵ? Mỗi người thắp ba cây
nhang rồi ‘rù ŕ rù ŕ’ khấn vái, lời họ khấn
chắc c̣n dài hơn 48 đại nguyện của đức
Phật A Di Đà; nào là: xin ngài pḥ hộ cho con tôi thông minh
khỏe mạnh, có thể thi đậu vào trường Y
Khoa (tốt nhất là trúng tuyển hạng nhất); pḥ
hộ cho con tôi cưới được một người
vợ hiền hậu hiếu thảo; pḥ hộ cho
chồng tôi sự nghiệp phát tài kiếm được
thiệt nhiều tiền; pḥ hộ cho tôi trúng số độc
đắc và được lên chức… Nói ra tràng giang đại
hải xong rồi đem trái cây cúng Phật đem về
nhà ăn cho ‘được b́nh an’.
Nếu cầu không được toại nguyện
liền trách móc Phật Bồ Tát không pḥ hộ, chỉ
‘nh́n’ đồ cúng và ‘ngửi’ hương tôi cúng rồi
thôi, không ‘linh’ tí nào! (Thiệt
ra họ đâu biết tự ḿnh không hiểu nhân quả,
không làm theo lời dạy của Phật, là tự ḿnh không
‘linh’). Chúng ta thử nghĩ
xem người ta mong cầu những ǵ? Chẳng qua là cầu cho da mặt
ḿnh nhăn thêm một chút (cầu trường thọ
sống lâu th́ tránh không khỏi da nhăn tóc bạc);
cầu gánh nặng vác trên vai nặng thêm (cầu con cái đầy
nhà th́ nhiều phiền năo); cầu chướng ngại
trong đời sống nhiều một chút (lo danh lợi,
lo ‘được’, lo ‘mất’).
Người ta chỉ cầu để được
nhiều những thứ nhỏ nhặt này. Thật ra pháp lực của chư
Phật Bồ Tát rộng lớn vô biên và có thể cho chúng
ta sự pḥ hộ thần kỳ mà lại vĩnh cữu,
cho chúng ta một ch́a khóa trí huệ để khai mở kho
tàng vô tận trong tự tánh, có thể lấy ra sự
hạnh phúc vô tận. Sự
hạnh phúc này không bị hoàn cảnh thay đổi làm
mất đi, không bị ăn trộm, không bị
giựt, cũng không bị mất.
Cái ch́a khóa này chính là xưng niệm ‘Nam Mô A Di Đà
Phật’; chỉ cần tiếp nhận rồi thiệt
t́nh đi mở, ai cũng có được kho tàng quư báu vô
tận!
V́
tôi bị bịnh nên có người nói: “Cô ăn chay
thiếu dinh dưỡng nên mới bị bịnh”. Thiệt ra chỉ cần so sánh là
biết ăn chay được khỏe mạnh và
sống lâu; giống như đoạn
trước có nói đến lăo ḥa thượng Hư Vân và
Quảng Khâm, Tuyết Công lăo ân sư đều là ‘nhân
thụy’ (người
trường thọ và vô cùng khỏe mạnh). Nhưng ăn chay không phải để
cầu trường thọ mà là không muốn v́ sự
hưởng thụ ngắn ngủi trên ba tấc
lưỡi của ḿnh đem lại sự lo sợ
sắp bị mất mạng và sự đau khổ cùng
cực cho chúng sanh; mỗi con ḅ chờ đợi bị
làm thịt cũng run và chảy nước mắt, mỗi
con chim bị bắt đều có những con chim mẹ
đang chờ đợi con bay về tổ. Chúng ta chưa bao giờ nghe
hoặc thấy con gà nào t́nh nguyện trườn cổ
dài ra đợi bị làm thịt, nhổ lông và nói:
“Tốt quá, tôi sẽ được đi làm con gà
nướng!”. Như những
bịnh nhân của tôi luôn vùng vẫy trong sự đau
khổ bên bờ sanh tử, mỗi một con vật
đối diện với cái chết đều sợ phát
run lên. Nếu tôi xem
thường mạng người, không đếm xỉa
đến sự đau khổ của người
bịnh, họ nhất định sẽ không tha thứ
cho tôi. Cũng giống như
vậy nếu chúng ta xem thường sự đau khổ
của các loài vật khác, chúng nó cũng sẽ không tha
thứ cho chúng ta. Nếu
bạn chặt một cái đùi của nó, nó cũng sẽ
t́m cách để làm bạn găy đi một cái chân; cứ
như vậy oan oan tương báo, trở thành oan gia
chủ nợ lẫn nhau, vĩnh viễn không có ngày thoát ra,
trong sự oán thù rối nùi này ai cũng vô cùng đau
khổ!
Tôi
từng nghe một vị pháp sư thuật lại câu
chuyện thật như sau:
Một hôm có người bồng em bé nằm trong nôi
đi bái kiến lăo hoà thượng Quảng Khâm. Đứa bé mặt mũi khôi ngô
rất là dễ thương, ai nh́n cũng thích và muốn
nựng em bé. Chỉ có lăo ḥa
thượng vừa nh́n thấy liền hiện vẻ
không vui (mặt trầm xuống) và nói với chúng
đệ tử: “Nó lại để đ̣i nợ đó
(chỉ em bé)”. Mọi
người đều không hiểu. Lăo ḥa thượng mới nói
với những người này: “Quư vị làm ăn buôn bán
gà đông lạnh phải không?
Hăy xem đứa bé”. Cha
mẹ của em vừa khóc vừa gật đầu rồi
vạch áo của em ra; em bé tuy có bộ mặt rất
dễ thương nhưng phía dưới thân ḿnh lại
giống y hệt như thân h́nh của một con gà! Lăo ḥa thượng không ngớt
lời khuyên họ nên đổi nghề. Họ nói: “Đă tốn hết 30
triệu đồng trong việc thiết bị hệ
thống đông lạnh, rất là khó mà đổi….” Tôi nghĩ tiền lời
được trong việc làm ăn này có lẽ cũng
không đủ trả tiền thuốc men cho em bé, càng không
thể bù đắp nổi những giọt nước
mắt chảy ra... (V́ tôi biết rất nhiều bịnh
nhân có t́nh trạng giống như vậy). Nhưng phần đông
người ta thà chịu khổ, chịu tổn hao tài
sản sau này, và c̣n mất thêm sự hạnh phúc cả
đời người nhưng không chịu buông bỏ cái
lợi trước mắt, sự thèm muốn của cái
miệng và cái bụng của ḿnh.
Lăo ḥa thượng là người có pháp nhăn, vừa
nh́n th́ đă thấy rơ nhân quả, hết ḷng khuyên nhủ,
nhưng có mấy ai tin và chịu làm theo?
Người
ta thường cầu Phật pḥ hộ nhưng không tin
lời Phật nói, thiệt là kỳ lạ! Cho dù hôm nay có một danh y bác
sĩ nổi tiếng nào nói với tôi là ‘đổi ăn
thịt’ đừng ăn chay nữa th́ có thể chữa
cho tôi hết bịnh, tôi cũng không chịu đi hy sinh
tánh mạng của con gà, heo, dê, ḅ, để gây ra sự
đau khổ cho chúng nó.
Huống chi không có một bác sĩ nổi tiếng nào
có thể xác nhận ăn mặn (ăn thịt) th́ sẽ
‘kéo dài đời sống lâu’ hơn là ăn chay; bất
kỳ bác sĩ nổi tiếng nào cũng sẽ chết, họ
cũng không thể bảo đảm ăn thịt có
thể trường sanh th́ làm sao có thể bảo
đảm cho tôi? Th́ làm sao có
thể bảo đảm cho người khác? Tôi chỉ tin tưởng lời
Phật dạy và trí huệ của Phật. Hôm nay tôi có thể lấy
được thêm một số ‘đản bạch
chất’ và chất béo từ
thịt động vật, nhưng tôi không thể bù
đắp nổi sự đau khổ của chúng nó, không
thể an ủi sự sợ hăi khủng bố của
chúng nó, càng không lau hết nước mắt của má chúng
nó khóc con mất mạng. Có
một ngày nào đó chúng nó sẽ quay lại để
trả thù. Nhân quả của
con người rất là phức tạp nhưng không sai
chạy tí nào. Mắt thịt
của phàm phu chúng ta chỉ nh́n thấy một mà không nh́n
thấy hai, thường cho ‘quấy’ thành ‘phải’. (Hồi xưa, Nicolaus Copernicus
(1473-1534) nói địa cầu là tṛn xém chút th́ phải
mất mạng. Chúng ta nói nhân
quả báo ứng và lục đạo luân hồi, nếu
bị chê là ‘mê tín’ th́ cũng là ‘việc nhỏ’ mà thôi).
Thiệt
ra danh từ ‘chủ nợ’ không hẳn là phải ‘đeo
mắt kiếng đen, hút thuốc lá thơm, cầm súng,
mặt đầy ác khí, đi đến trước
cửa để đ̣i nợ’.
Chủ nợ có rất nhiều dạng: có thể là
một người đẹp mà bạn vừa nh́n đă
bị ‘hốt hồn’ đi mất rồi, bạn không có
suy nghĩ liền đem tiền cho người đó phung
phí, đến khi hết tiền th́ người đó
bỏ bạn, làm cho bạn âu sầu ủ rũ cả
đời. Hoặc có thể
là người khi bạn mới nh́n th́ nổi nóng lên,
mặt đỏ gay lên để căi lộn với họ,
rốt cùng rồi làm cho bạn lên huyết áp, chảy máu
trong đầu và chết bất ngờ. Chúng ta hăy nên tin lời nói
đầy trí huệ của chư Phật Bồ Tát, tránh
làm hại và kết oán thù với chúng sanh, tại v́ tất
cả sự khổ đều sẽ quay trở vào thân
ḿnh, thường là hối hận không kịp. Chúng ta hăy quyết tâm luôn luôn
kết thiện duyên, khai mở trí huệ trong bổn tánh,
mở ra nguồn vui sướng vô tận không phải là
tốt đẹp hơn không?
Những người như vậy, giống như
lăo hoà thượng Quảng Khâm và Tuyết Công lăo ân sư
cho dù sống cả trăm tuổi mọi người đều
thương tiếc ‘Tại sao ngài lại ra đi sớm
vậy?’ ‘Tại sao không sống đến hai trăm
tuổi, để cho cháu chắt của tôi cũng có
dịp gặp ngài?’ Thọ
mạng của các ngài vĩnh viễn đối với
mọi người đều không đủ. Phần đông người ta
chỉ cần sanh ra một bịnh nan y, ai cũng than là
tại sao họ lại ‘kéo’ [mạng sống] quá dài như
vậy, làm cho cả nhà ‘kéo’ đến gần sụp
luôn. Nói như vậy th́
‘trường thọ’ hay không, không phải dựa trên
‘số tuổi’; chúng ta nên sống mà mọi người
đều tiếc là quá ngắn, nhưng đừng nên
‘kéo’ dài để cho ai cũng than là quá dài!
Thiệt
ra phải sống làm sao mới tốt? Th́ nên nghe theo lời dạy
của đức Phật và những người đă
đắc đạo trong quá khứ, nên thật t́nh
niệm Phật! Dùng cái tâm tánh
không thể nghĩ bàn và rộng lớn vô biên của chúng
ta để xưng niệm danh hiệu không thể nghĩ
bàn của đức Phật Vô Luợng Thọ Vô
Lượng Quang A Di Đà; mỗi khi niệm một tiếng
th́ có một tiếng vượt ra khỏi trần lao! Nguyện cho chúng ta dùng ḷng tín
nguyện vô cùng vững chắc, trang nghiêm từng danh
hiệu A Di Đà Phật, mỗi một niệm đều
chiến thắng tất cả phiền năo, mỗi một
niệm đều đầy đủ quang minh tự
tại, mỗi một niệm đều hiện ra
trời trong trăng sáng. Dùng
danh hiệu bất khả tư ngh́ này thể hội
được vô lượng quang thọ của tự
tánh. Cũng như Ngẫu Ích
Tổ sư có nói: “Chuyển kiếp trược thành
hải hội thanh tịnh, chuyển kiến trược
thành vô lượng quang, chuyển phiền năo trược
thành thường tịch quang, chuyển chúng sanh
trược thành liên hoa hoá sanh, chuyển mạng
trược thành vô lượng thọ”. Nguyện từng tiếng
Phật hiệu thành khẩn, thiết tha đem sóng
nước cuồn cuộn trên sông Hằng sanh tử
trồng đầy hoa sen….
Nam
mô A Di Đà Phật.
Trong quá tŕnh chuyển
ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc
thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám ơn.