PHẠM
VƠNG KINH BỒ TÁT GIỚI BỔN GIẢNG KƯ
(Chánh thức giải
thích kinh văn)
DẪN NHẬP:
Trước khi đi vào phần giải thích kinh văn quyển Hạ, chúng tôi xin tŕnh bày sơ lược về sự sai biệt trong vấn đề phân chia ranh giới giữa quyển Thượng và quyển Hạ của bộ kinh Phạm Vơng.
Căn cứ vào các bộ chú sớ
của chư thượng đức c̣n lưu trữ
trong các bộ kinh tạng để nghiên cứu th́ có
những điểm bất đồng quan trọng trong
sự phân chia này:
- Theo bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Thuật Kư của Thắng Trang Pháp Sư
triều nhà Đường soạn.
- Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Chú của Pháp Sư Huệ Nhân triều nhà Tống
soạn.
- Bộ Phạm Vơng Kinh Trực
Giải của Tịnh Quang Pháp Sư triều Minh soạn.
- Bộ Phật Thuyết Phạm Vơng
Kinh Thuận Thù của Đức Ngọc Pháp Sư triều
nhà Thanh soạn.
Quyển Hạ bộ Phạm Vơng Kinh
bắt đầu từ câu: “Nhĩ thời, Lô Xá Na
Phật vị thử đại chúng lược khai bá
thiên hằng hà sa bất khả thuyết pháp môn” (lúc
bấy giờ, Đức Phật Lô Xá Na v́ đại chúng
trong pháp hội, lược giảng vô số pháp môn không
thể tính kể như số cát của trăm ngàn muôn
ức sông Hằng).
- Theo bộ Phật thuyết Phạm
Vơng Kinh Hợp Chú do Trí Húc Đại Sư triều Minh
soạn.
- Bộ Phật Thuyết Phạm Vơng
Kinh Bồ Tát Giới Phẩm Hạ Lược Sớ do
Hoằng Tán Đại Sư triều Minh thuật.
Quyển Hạ bộ kinh Phạm Vơng
bắt đầu từ câu: “Nhĩ thời, Thích Ca Mâu Ni
Phật tùng sơ hiện Liên Hoa Đài Tạng thế
giới, Đông phương lai nhập thiên vương cung
trung...” (Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật
từ lúc sơ khởi, hiện thân nơi thế giới
Liên Hoa Đài Tạng, qua phương Đông đến tại
cung của thiên vương...)
- Theo bộ Phạm Vơng Bồ Tát
Giới Kinh Nghĩa Sớ của Quán Đảnh Đại Sư
kư lục, do tổ Trí Giả triều nhà Tùy giảng.
- Bộ Phạm Vơng Bồ Tát Giới
Kinh Sớ San Bổ của Minh Khoán Pháp Sư triều nhà
Đường soạn.
- Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Sớ của Pháp Tạng Pháp Sư
triều nhà Đường soạn.
- Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Sớ của Nghĩa Tịnh Pháp Sư
triều nhà Đường thuật v.v...
Quyển Hạ của bộ kinh
Phạm Vơng bắt đầu ở phần Văn
Tụng: “Ngă kim Lô Xá Na, phương tọa Liên Đài Tạng..”
(Nay ta là Lô Xá Na, đang ngồi trên đài Liên Hoa...)
V́ có nhiều bộ chú sớ hiện
c̣n lưu giữ trong các Đại Tạng Kinh không thống
nhất nhau về vấn đề phân ranh giới
giữa quyển Thượng và quyển Hạ trong kinh
Phạm Vơng nên chúng ta hiện nay không thể lấy giả
thuyết nào làm căn cứ chính xác. Đây là một vấn
đề khó phán đoán và quyết định.
Theo các bổn kinh Phạm Vơng hiện
đang lưu hành th́ quyển Hạ bắt đầu
từ đoạn kinh văn: “Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni
Phật...” Và người giảng cũng xin bắt
đầu từ đoạn này. Xin chư Phật tử
lưu ư, từ phần này trở đi, là phần chính
thức giải thích kinh văn.
Kinh điển gồm ba phần:
- Tự phần.
- Chánh Tông phần.
- Lưu Thông phần.
Nhưng v́ phần giảng kinh này
thuộc về quyển Hạ nên về mặt h́nh
thức không hội đủ ba phần, nên tôi (pháp sư
giảng kinh) vẫn phân làm ba đoạn:
- Tự
thuyết giới duyên (nhơn duyên Đức Phật
thuyết pháp).
- Chánh
thuyết giới tướng (chánh thức tuyên nói
giới tướng).
- Kết
khuyến lưu thông (kết thúc và khuyên lưu hành kinh).
A. TỰ THUYẾT
GIỚI DUYÊN (nhân duyên thuyết giới)
A.1.
THẬP XỨ THUYẾT PHÁP (thuyết pháp mười
nơi)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ câu “Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni
Phật...” cho đến câu “...kỳ trung thứ
đệ thập trụ xứ thuyết pháp”.
2. Dịch
nghĩa:
Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni
Phật từ lúc sơ khởi, hiện thân nơi thế
giới Liên Hoa Đài Tạng, sau đó qua phương Đông,
đến tại cung của Thiên Vương, diễn nói
kinh Ma Thọ Hóa. Sau rốt, Ngài giáng sanh nơi cơi Nam Diêm Phù
Đề tại nước Ca Di La. Vua Tịnh Phạn là thân
phụ và hoàng hậu Ma Gia là sanh mẫu. Nhũ danh của
Ngài là Tất Đạt Đa, Ngài xuất gia bảy năm, ba
mươi tuổi thành đạo, hiệu là Thích Ca Mâu Ni
Phật. Từ bửu ṭa Kim Cương Hoa Quang, nơi
đạo tràng Tịch Diệt, nhẫn đến nơi
cung của Đại Tự Tại Thiên Vương, trong
mười nơi ấy, Đức Phật tuần tự
ngự đến thuyết pháp.
Lời
giảng:
Quyển Thượng kinh Phạm Vơng
chủ yếu thuyết minh việc có từ ngàn Đức
Phật Thích Ca đến trăm ngàn ức Đức Phật
Thích Ca tuyên thuyết pháp môn Tâm Địa của Bồ Tát
ở ngàn trăm ức thế giới trong mười
phương.
Quyển Hạ kinh Phạm Vơng
thuyết minh về việc Đức Phật Thích Ca ngự
nơi thế giới Ta Bà này, v́ các đại chúng
giảng nói pháp môn Tâm Địa của Bồ Tát.
V́ thế, chữ “nhĩ thời”
(bấy giờ) trong kinh có nghĩa chỉ thời gian lúc
ngàn trăm ức Đức Phật Thích Ca ở trong trăm
ngàn ức thế giới giảng nói pháp môn Tâm Địa
đă hoàn tất.
Chư cổ đức cũng có
vị đem hai chữ “nhĩ thời” giải thích là
thời gian từ nơi Thể mà khởi Dụng.
Nghĩa là: Ngàn trăm ức Phật Thích Ca từ nơi
chỗ Phật Lô Xá Na sau khi nghe pháp môn Tâm Địa của
Bồ Tát, trở lại thị hiện nơi thế
giới Ta Bà, v́ tất cả chúng sanh ở cơi này tuyên
thuyết pháp môn Tâm Địa của Bồ Tát. Đây tức là
sự diệu dụng từ bản thể mà phát khởi
ra.
Năm chữ “Thích Ca Mâu Ni Phật”
như mọi người đều biết là đức
Giáo Chủ thế giới Ta Bà mà cũng là đức
Bổn Sư của chúng ta.
Thích Ca Mâu Ni Phật là đức
hiệu cỉa Phật. Phật vốn có nhiều thứ
công đức bất đồng, thế nên đức
hiệu cũng có nhiều tên khác nhau. Nhưng hiện
tại gọi là Thích Ca Mâu Ni thể hiện ư nghĩa
Đức Phật xuất hiện ở thế giới Ta Bà
này, đản sanh vào gịng họ một vị vua trong
một quốc độ (chỉ cho xứ Ấn Độ).
Danh hiệu của Ngài do phụ hoàng và mẫu hậu
đặt. Thích Ca là họ, Mâu Ni là tên của Đức
Phật.
Thích Ca là họ của hoàng tộc,
Trung Quốc dịch là Năng Nhân hoặc Năng Nhu,
lại có chỗ dịch là Trực Lâm.
Chữ Nhân có nghĩa là Nhẫn. Hai
chữ Năng Nhân có nghĩa là Năng Nhẫn.
Ví như có người tán thán công
đức thiện hạnh của Đức Phật, Đức
Phật quyết không bao giờ v́ sự tán thán ấy mà
thể hiện thái độ kiêu căng, tự
đắc, hoan hỷ. Trái lại, giả sử có
người phê b́nh những điểm không đúng của
Phật, Phật cũng tuyệt đối không bao giờ
cảm thấy không vui. Thế nên, đối với
những điều vui mừng, buồn giận, trong tâm
hoàn toàn không xao động, không ảnh hưởng, nên
gọi là Năng Nhân.
Mâu Ni là đức hiệu của Thánh
Giả, Trung Quốc dịch là Tịch Mặc. Đây là danh
từ phụ hoàng đặt cho Ngài. Sự việc này,
trong kinh đề cập như vầy: “Chính lúc Bổn
Sư Thích Ca c̣n làm vị Thái Tử. Lần nọ, Ngài tham
dự đại hội của triều đ́nh do hoàng
tộc Thích Ca tổ chức. Khi đại hội sắp
khai mạc, v́ số người tham dự quá đông, nên
không khí đại hội ồn ào, huyên náo một cách
dị thường. Nhưng khi Thái Tử vừa
đến th́ tất cả những người tham
dự đại hội đều đột nhiên im
lặng. Cả đại hội đông người
như thế mà không một tiếng nói phát ra, tất
cả đều im bặt. Phụ hoàng của Ngài trông
thấy cảnh tượng ấy, nội tâm dâng lên
niềm cảm khái phi thường, liền đặt cho
Thái Tử đức hiệu Mâu Ni”.
Họ của hoàng tộc hợp
với đức hiệu của Ngài thành danh từ Thích Ca
Mâu Ni. Bốn chữ này thông thường giải thích
như vậy.
Nhưng cũng có người
đứng trên lập trường tôn giáo mà giải thích:
Thích Ca gọi là Năng Nhân, là tiêu biểu cho tâm đại
bi của Phật. Dù Phật đă chứng đắc
Niết Bàn một cách rốt ráo, nhưng v́ tâm đại
bi từ mẫn, Ngài không thể đành ḷng để cho
tất cả chúng sanh trầm luân trong sanh tử, không t́m
được phương pháp nào để
được an trụ trong cảnh Niết Bàn. Cho nên,
Đức Phật dù đă an trụ trong cảnh Niết Bàn,
lại phải từ Niết Bàn tịch tịnh, đi vào
cơi sanh tử luân hồi cứu độ chúng sanh.
Mâu Ni là Tịch Mặc, biểu thị
cho đại trí của Phật, tượng trưng tâm
tịch nhiên, mặc nhiên của Phật. Mặc dù Ngài
đi vào cơi sanh tử để cứu độ chúng sanh,
nhưng do nơi đại trí huệ rộng sâu của
Ngài, Ngài đă thấu rơ sanh tử là bể khổ mênh mông,
hoàn toàn hư giả, không ǵ chân thật, dường
như mộng huyễn. Cho nên, Ngài dù ở trong cảnh sanh
tử, mà vẫn không trụ trong sanh tử, không bị sanh
tử làm loạn động, vẫn an trụ trong
cảnh giới tịch nhiên, mặc nhiên.
Căn cứ vào đây th́ thấy
rằng bốn chữ Thích Ca Mâu Ni là h́nh ảnh của
một vị Phật, biểu thị đầy
đủ tính chất Bi, Trí song vận của một
bậc Đại Giác. Ngài được tôn xưng là Thích Ca
Mâu Ni chính v́ như vậy.
Tiếp theo đây, xin giải thích ba
câu: “Tùng sơ hiện Liên Hoa Đài Tạng thế giới,
Đông phương lai nhập Thiên Vương cung trung,
thuyết Ma Thọ Hóa kinh dĩ” – (từ lúc sơ khởi,
hiện thân nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng,
rồi qua phương Đông đến tại cung của
Thiên Vương, diễn nói kinh Ma Thọ Hóa).
Liên Hoa Đài Tạng thế giới
chỉ cho Hoa Tạng thế giới trong kinh Hoa Nghiêm
thường nói đến, cũng có chỗ gọi là Hoa
Nghiêm Hải Tạng thế giới. Căn cứ theo kinh
Hoa Nghiêm thuyết minh: “Hoa Tạng thế giới ở
trong Đại Hương Thủy Hải. Trong Đại
Hương Thủy Hải này có một thế giới mà
h́nh tượng giống như một đài hoa sen, cho nên
gọi là Liên Hoa Đài Tạng thế giới”.
Nếu chỉ là ư nghĩa như
vậy th́ cũng đủ, tại sao lại phải
gọi là Liên Hoa Đài Tạng thế giới?
Chúng ta nên biết rằng, chữ
Tạng nghĩa là ẩn chứa, bao dung, biểu thị
cho mười phương pháp giới được bao
dung, hàm tàng trong Liên Hoa Đài Tạng thế giới. Cho nên thêm
chữ Tạng vào danh từ Liên Hoa Đài và gọi đầy
đủ là Liên Hoa Đài Tạng thế giới.
Trong kinh Hoa Nghiêm thuyết minh: “Hoa
Tạng thế giới có nhiều lớp, hết lớp
này đến lớp khác. Trong mỗi lớp có hai
mươi lớp nữa, đều thuộc Hoa Tạng
thế giới. Cơi Ta Bà của chúng ta hiện đang cư
trú thuộc về lớp thứ 13 của 20 lớp trong
Hoa Tạng Hải thế giới; đồng thời,
thế giới Ta Bà nằm ở mạn Đông của thế
giới Liên Hoa Đài Tạng nên gọi là phương Đông”.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật vốn ở nơi Liên Hoa Đài Tạng thế
giới, nghe đức Lô Xá Na giảng pháp môn Tâm Địa
của Bồ Tát. Sau khi nghe xong, Ngài từ biệt Đức
Phật Lô Xá Na, trở về phương Đông, đến
cung của Thiên Vương. Như vậy, thế giới
Liên Hoa Đài Tạng là nơi đức Bổn Sư Thích Ca
đến, và cung của Thiên Vương là nơi Đức
Bổn Sư trở về.
Trước tiên, Đức Bổn Sư
cáo biệt đức Lô Xá Na nên kinh nói là “sơ” (trong
bản Việt văn gọi là “sơ khởi”). Sau đó,
Ngài xuất hiện nơi thế giới Ta Bà, cho nên nói là
“hiện” (bản Việt văn gọi là “hiện thân”).
Ba chữ Thiên Vương Cung trong câu:
“Lai nhập thiên vương cung trung”, có chỗ nói là Ma Hê
Thủ La thiên cung, nhưng đa số nói là Đâu Suất
Thiên Cung (cung của thiên vương cơi trời Đâu Suất)
v́ căn cứ vào trong kinh nói, mỗi Đức Phật trước
khi hạ sanh xuống nhân gian thành Phật đều cư
trú ở cung trời Đâu Suất.
Đâu Suất là tầng trời thứ
tư của cơi Dục, chia ra làm hai phần:
- Ngoại viện: là nơi cư trú
của phàm phu thiên, cùng tất cả thiên nhơn thông
thường của cơi trời Đâu Suất. Tất cả
chư vị cơi này c̣n thọ hưởng dục lạc.
- Nội viện: nơi cư trú
của vị Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát và tất
cả Bồ Tát khác.
Như đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni của chúng ta, khi chưa hạ sanh trong nhân gian,
tất nhiên là cư trú nơi Đâu Suất nội viện.
Đức Di Lặc Bồ Tát đương lai hạ sanh
thành Phật, hiện nay Ngài cũng vẫn cư trú nơi
Đâu Suất nội viện.
Căn cứ theo sự giới
thiệu trong kinh Phật, chẳng những Bồ Tát Thích
Ca cùng Bồ Tát Di Lặc thường ngự ở Đâu
Suất nội viện để sau đó hạ sanh xuống
nhân gian thành Phật, mà đại phàm, tối hậu thân
của chư vị Bồ Tát sắp hạ sanh xuống
thế gian, đều an trú Đâu Suất nội viện.
Trong Phật pháp thường
đề cập ba cơi, 28 từng trời, chư Thiên
ở cơi Sắc giới và Vô Sắc giới. Những
phần này hăy tạm gác qua, riêng cơi Dục Giới có 6
tầng trời:
1. Trời Tứ Thiên Vương.
2. Trời Đao Lợi.
3. Trời Dạ Ma.
4. Trời Đâu Suất.
5. Trời Hóa Lạc.
6. Trời Tha Hóa Tự Tại.
Tối hậu thân của Bổ Xứ
Bồ Tát do nguyên nhân nào mà không an trú ở năm cơi Trời
kia, lại riêng ngự nơi cơi trời Đâu Suất Đà?
Đối với vấn đề này,
trong kinh từng nói rơ:
- Chư Thiên ở ba cơi trời Tứ
Thiên Vương, Đao Lợi Thiên và Dạ Ma Thiên, suốt
ngày chỉ đam mê say đắm trong việc hưởng
thọ khoái lạc cảnh ngũ dục, không bao giờ
hay biết, hay nghĩ tưởng đến sự
việc phải làm thế nào để thoát ly sanh tử.
Cả đến chư Thiên ở cơi trời Hóa Lạc và
Tha Hóa Tự Tại cũng để hết tâm chí buông lung
theo cảnh ngũ dục, không biết, không hay, cũng
không từng nghĩ đến phải làm cách nào mong
cầu thoát ly sanh tử.
V́ lư do ấy, tối hậu thân Bồ
Tát quyết không cư trú nơi các cơi ấy. Từ ngữ
Đâu Suất Đà là âm Phạn, Trung Quốc dịch là Tri Túc
Thiên, nghĩa là:
- Chư thiên ở cơi trời này
đều có ư niệm tri túc, tiết chế đối
với sự hưởng thọ cảnh ngũ dục.
Chư vị đối với cảnh ngũ dục không
ch́m đắm, say mê, cũng không buông lung theo chúng.
- Chư thiên phàm phu ở cơi này c̣n
được như thế, nói chi đến nội
viện là nơi cư trú của Thánh Nhân, đương
nhiên không bao giờ bị cảnh ngũ dục làm mê
hoặc.
V́ lẽ đó, tối hậu thân
Bồ Tát đều cư trú nơi Đâu Suất thiên cung.
Lại có một thuyết nữa:
- Ba cơi bên dưới của Dục
Giới th́ cực kỳ buông lung theo ngũ dục, trong khi
hai cơi Trời bên trên th́ căn cơ lại quá ám
độn. Chư Thiên cơi Trời Đâu Suất ly khai
được cả hai thứ đại hoạn nói trên.
V́ thế, Bồ Tát đă sợ nơi buông lung, chán nhàm
nơi độn căn, cho nên chỉ cư trú ở Đâu
Suất nội viện, mà không cư trú nơi các cơi Trời
khác.
Tối hậu thân Bồ Tát an trú trong
cung thiên vương Đâu Suất nội viện, không
phải ở yên trong ấy, đợi đến ngày
hạ sanh xuống nhân gian thành Phật, mà là ngự trong
ấy, chủ yếu v́ chư Bồ Tát và tất cả
chúng sanh được văng sanh lên Nội Viện, giảng
nói Phật Pháp.
Cho nên chúng ta thấy trong Phật Pháp
từ trước đến nay vẫn đều
thường đề cập đến thuyết Đâu
Suất Tịnh Độ, khuyên mọi người phát
nguyện văng sanh Đâu Suất Tịnh Độ, để
được thân cận với đức Di Lặc
Bồ Tát đương lai hạ sanh. V́ thế, chư
cổ đức Trung Quốc văng sanh lên Đâu Suất nội
viện cũng rất nhiều.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật sau khi từ biệt Đức Phật Lô Xá Na,
trước tiên Ngài đến cung của thiên vương
ở thế giới Ta Bà, nơi phương Đông của
Hoa Tạng thế giới, thuyết pháp hóa độ chúng
ma, khiến cho chúng tiếp thọ được sự
giáo hóa.
Ma tiếng Ấn Độ gọi là Ma La,
Trung Quốc dịch là Sát Giả; nghĩa là nó có khả
năng sát hại huệ mạng của chúng sanh, khiến
cho thân tâm của chúng sanh không thể được tự
tại.
Phật pháp không đề cập
đến Ma th́ thôi, nếu đề cập đến
th́ đều nhắm vào ư nghĩa không tốt. V́ các
thứ này hay nhiễu loạn sự tu hành của hành
giả. Nếu căn cứ vào bản ư của Thiên Ma mà nói
th́ yêu cầu tối đại của chúng là muốn cho
tất cả chúng sanh đều thành quyến thuộc
của chúng.
Nếu chúng sanh nào cứ mải
lặn ngụp trong tam giới, không có ư niệm nghĩ
đến pháp xuất ly th́ chúng ma đối với chúng
sanh ấy rất là khách khí (tử tế, cung kính, khiêm
nhường, vị nể...). Nếu người đó có
yêu cầu việc chi th́ Ma có khả năng cung cấp cho
đầy đủ. Nếu muốn hưởng thọ
sự khoái lạc, nó cũng đem sự khoái lạc
cấp cho.
Nhưng nếu chúng sanh nào có tâm
niệm mong cầu thoát ly tam giới, ly khai khỏi
quyền hạn của Ma, không chịu làm quyến
thuộc của chúng; lúc đó, chúng sẽ bắt đầu
lộ ra bộ mặt dữ tợn, cực lực
ngăn trở và phá hoại, không chút vị nể, làm cho
chúng sanh ấy không c̣n cách nào có thể thoát ly tam giới,
vĩnh viễn ở trong quyền quản chưởng
của chúng.
Phật giáo nói đến
Ma đương nhiên là rất nhiều. Nhưng khi
Đức Phật ở trong cung của Thiên Vương
giảng kinh Ma Thọ Hóa, chủ ư của Đức Phật
là khắc phục chúng Ma. Nghĩa là: Dùng các thứ ngôn giáo
để chỉ dạy chúng Ma và cảm hóa Ma chúng,
khiến cho chúng tiếp thọ được sự giáo
hóa của Phật, không c̣n làm những việc nhiễu
loạn các hành giả trong Phật pháp.
Đức Phật ở trong cung của
thiên vương nói kinh Ma Thọ Hóa xong, khiến các Ma chúng
tiếp thọ được sự giáo hóa của Ngài
rồi, sau đó, Đức Phật mới hạ sanh
xuống Nhân gian và ở nơi thế gian này thành Phật.
Nơi đây, có một vấn
đề cần phải giải thích rơ: Thông thường
nói khi Đức Phật ở dưới cội Bồ
Đề hàng phục được chúng Ma rồi thành
đạo. Tại sao hiện tại, kinh này nói Đức
Phật ngự trong cung của thiên vương nói kinh Ma
Thọ Hóa? Nếu Ma ở trong cung của thiên vương
đă tiếp thọ sự giáo hóa của Phật rồi
th́ khi đức Thích Tôn thành Phật ở nhân gian, sao
lại c̣n phải hàng phục Ma nữa? Lại c̣n có Ma ǵ
để hàng phục?
Để giải đáp nghi vấn này,
chúng ta nên biết:
- Ma có rất nhiều, không phải là
một hay hai con Ma mà thôi, nên biết rằng: phía
trước, phía sau, hai bên của hành giả, không lúc nào là
không có ma.
- Ma luôn ở sát bên để ḍm ngó. Cho
nên, trong cung của Thiên Vương dù đă hàng phục Ma
vương, nhưng đến khi xuất hiện ở
thế gian, trước khi thành Phật, Đức Phật
vẫn c̣n phải hàng phục chúng Ma.
Tuyệt đối không nên nói rằng
Đức Phật ở trong cung của Thiên Vương đă
khiến cho Ma Vương tiếp thọ được
sự giáo hóa th́ lúc ở nhân gian thành Phật, Phật không
cần hàng phục chúng Ma nữa! Phật biết rằng
ở nhân gian cũng có chúng ma cần phải khắc
phục. Ngay khi Đức Phật ở dưới cội
Bồ Đề đă hàng phục ma rồi, nhưng không
thể nói là ở nhân gian do vậy mà không c̣n Ma.
Sự thật vẫn c̣n rất
nhiều Ma, bằng chứng là sau khi Phật diệt
độ, lúc quư đệ tử kiết tập Pháp
Tạng, vẫn từng bị Ma xuất hiện quấy
rối. Nếu như tất cả các chúng ma bị hàng
phục rồi, th́ lúc kiết tập Pháp Tạng, chư
đệ tử Phật đâu c̣n bị Ma đến
quấy phá nữa. Tuy rằng, các ma ở cung thiên
vương cũng như dưới cội Bồ Đề
đă được Đức Phật vận dụng
sức đại từ bi, đại trí huệ,
đại tinh tiến mà hàng phục chúng. Cho nên dù có
đến đời vị lai, Ma vẫn c̣n xuất
hiện để phá rối. Đó là những chúng Ma chưa
được Phật giáo hóa.
Riêng về kinh Ma Thọ Hóa, Phật
giảng ở trong cung thiên vương; về mặt
nội dung, Phật giảng những ǵ chúng ta không biết
được v́ chưa được truyền sang Trung
Quốc.
Nói đến Ma th́ có nhiều thứ
Ma, không phải chỉ Ma ở bên ngoài. Y cứ theo trong Du
Già Bồ Tát Giới giảng rơ rằng: “Bao nhiêu những
thứ lợi dưỡng, danh dự, cung kính, phóng dật,
keo kiết, bỏn xẻn, ham muốn, tức giận,
giả dối, kiêu ngạo v.v... đều là Ma”.
Ngoài ra trong Pháp Tướng Duy Thức
Học cũng nói rơ có nhiều thứ Ma như:
- Tham, sân, si: Ba thứ này trong kinh
thường gọi là Tam Độc, v́ nó làm hại tất
cả thiện căn của chúng sanh. Nó là ba thứ
tương phản với ba thứ thiện căn: vô
tham, vô sân, vô si.
- Mạn (ngă mạn).
- Nghi (không quyết định
được chân giả, phải trái).
- Ác kiến (chủng loại này chia làm
năm thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến
thủ và giới cấm thủ).
Sáu thứ ma vừa kể trên thuộc
về Ma căn bản, c̣n hai mươi thứ sau đây
thuộc về ma chi mạt (chi mạt: cành, ngọn cây),
bao gồm:
1. Phẫn (giận).
2. Hận (tâm ấp ủ sự
tức giận không quên).
3. Phú (có tội lỗi mà che giấu,
không chịu phát lồ sám hối).
4. Năo (đối với nghịch
cảnh, tâm phát sinh sự nóng nảy, bực tức).
5. Tật (thấy người hơn
ḿnh sanh ḷng ganh ghét).
6. Xan (có của cải, tiền tài sanh
tâm keo kiết, cất giấu, không bố thí).
7. Cuống (đối với mọi
người giả dối, không chân thật).
8. Siểm (dua nịnh mọi
người).
9. Hại (có ác ư làm tổn hoại loài
hữu t́nh).
10. Kiêu (kiêu căng, ngạo mạn).
11. Vô tàm (tự ḿnh có lỗi mà không
biết hổ thẹn).
12. Vô quư (bản thân có lỗi mà
đối với người khác không biết hổ
thẹn).
13. Trạo cử (nội tâm loạn
động, lăng xăng).
14. Hôn trầm (tâm hồn không sáng
suốt, tỉnh táo).
15. Bất tín (không có niềm tin chánh
đáng).
16. Giải đăi (lười
biếng, không siêng năng).
17. Phóng dật (buông lung theo bản
năng).
18. Thất niệm (không giữ
được chánh niệm).
19. Tán loạn (tâm không ổn
định).
20. Bất chánh tri (hiểu biết sai
lầm).
Sáu thứ ma căn bản và 20 thứ
ma chi mạt trong Duy Thức Học vừa kể trên
hằng ngày chúng ta cần phải kiểm điểm,
mỗi khi chúng vừa xuất hiện trong tâm đều
phải lập tức khắc phục.
Ở đây lại c̣n một vấn
đề cần giải thích nữa:
Hàng thiên nhơn ở cung trời Đâu
Suất thường tu tập Thiền Định, hỷ túc,
vốn không bị ma nhiễu loạn, nên đương
nhiên không có ma để hàng phục. Thế nhưng tại
sao trong kinh văn lại nói Đức Phật ngự trong cung
Thiên vương, nơi cơi trời Đâu Suất, giảng nói
kinh Ma Thọ Hóa? Hơn nữa, thông thường khi nói
đến Thiên Ma, không phải chỉ cho Thiên Ma ở cơi
trời Tha Hóa Tự Tại mà chính là chỉ cho Thiên Ma
ở cơi trời Ma Hê Thủ La. Như vậy, về
điểm này không có sự thống nhất, làm sao có
thể hội thông được?
Nên biết cung trời Đâu Suất trong
kinh văn là nơi ở giữa cơi trời Lục Dục
và Phạm Thế, nhưng v́ Đức Phật thường
chủ trương theo Lư Trung Đạo nên dù Ngài ngự
ở cung Thiên Vương nơi cơi trời Đâu Suất th́
thật ra cung của Ma vương cũng ở trong đó.
V́ vậy, khi nói Phật ngự trong cung của Thiên
Vương giảng nói kinh Ma Thọ Hóa th́ không có ǵ
nghịch lư.
Ngay đến như cung điện
của Thiên Vương cơi trời Ma Hê Thủ La từ
trước đến nay cho là thuộc phạm vi cơi
trời Tứ Thiền, nhưng trời Tứ Thiền là
tột đỉnh của Sắc Giới, tổng cộng
có chín tầng, phía trên là cơi Ngũ Bất Hoàn Thiên, nơi
cư trú của Đệ Tam Quả Thánh Nhân. Lẽ tất
nhiên là không bao giờ có Ma ở cơi ấy, đến
như trên đảnh của Sắc Giới lại có cung
điện của đức Tỳ Lô Xá Na. Chư đại
Bồ Tát thường tụ hợp trong ấy và cũng
không bao giờ có Ma. Cho nên có người cho rằng Đức
Phật ngự trong cung của Ma Vương, trên cơi
trời Tha Hóa Tự Tại giảng nói kinh Ma Thọ Hóa
này, rồi sau mới vào Đâu Suất nội viện.
Nhưng cũng có người cho
rằng Đức Thích Tôn sau khi từ biệt đức Lô Xá
Na, đích xác là Ngài vào trong cung của Thiên Vương cơi
trời Đâu Suất. Lúc ấy, những Ma vương có đầy
đủ nhân duyên được độ thoát đă
thuần thục, tự động đi vào cung của
Thiên Vương cơi trời Đâu Suất để tiếp
thọ sự giáo hóa của Phật. Thuyết này
được đa số thừa nhận nên hiện
tại tôi cũng chấp nhận lối giải thích này.
Khi Đức Phật ở trong cung của Thiên Vương
giảng kinh Ma Thọ Hóa xong, Ngài chuẩn bị giáng sanh
xuống cơi nhân gian của chúng ta đang cư trú. Nhưng
trước khi hạ sanh, thoạt tiên, Ngài dùng Thiên Nhăn quan
sát cảnh nhân gian, thấy tất cả chúng sanh
đều là những kẻ tạo ác nghiệp th́
nhiều, mà tu theo thiện pháp th́ ít. Do đó, bị các
thứ khổ năo vây quanh và đánh phá.
Nội tâm của Ngài cảm thấy
xúc động tột cùng, Ngài tự nghĩ nên hạ sanh
xuống thế gian để cứu độ chúng sanh
sớm được ngày nào càng tốt, để giúp
chúng sanh tất cả đều được
hưởng hạnh phúc an lạc. Vẫn biết rằng
trong pháp giới chúng sanh, có người căn cơ
nghiệp chướng nặng nề, không dễ ǵ giáo hóa.
Nhưng cũng có những kẻ căn cơ đă
thuần thục, có thể hóa độ được.
Cho nên, Ngài quyết định: Trước tiên phải
hạ sanh ở nhân gian để giáo hóa những chúng sanh
có thể tiếp thọ được sự giáo hóa,
khiến cho chúng sanh đó được giải thoát.
Ngài lại v́ những chúng sanh khó hóa
độ, làm nhơn duyên được độ,
để mong cho chúng gieo trồng thiện căn giải
thoát ở cơi đời vị lai. Đồng thời, Ngài
lại v́ muốn cho sự độ sanh được
thuận lợi, nên quán sát kỹ năm việc:
1. Quán sát căn cơ tất cả
chúng sanh trong nhân gian, xem tất cả đă rốt ráo
thuần thục hay không.
2. Quán sát thời cơ Ngài hạ sanh
ở nhân gian và thành Phật đă thật đúng lúc hay
chưa đúng lúc.
3. Quán sát tất cả quốc
độ trong nhân gian một cách tường tận, xem
Ngài nên sanh vào quốc độ nào. Vấn đề
lựa chọn quốc độ để hạ sanh,
không phải căn cứ vào tiêu chuẩn giàu có,
cường thịnh, mà căn cứ vào tiêu chuẩn
quốc độ nào nằm ở vị trí trung tâm
để thuận tiện cho việc khai hóa.
4. Quán sát chủng tánh trong nhân gian
một cách rốt ráo, xem chủng tánh nào cao quư, thù thắng
để thọ sanh. V́ chúng sanh ở thế gian
đều có quan niệm những người thuộc ḍng
dơi cao quư, nói chuyện hay giảng đạo dễ
được mọi người tiếp thọ. V́
thế, nếu hạ sanh vào trong chủng tộc tầm
thường, khi giảng đạo hoặc nói chuyện,
người khác không tiếp thọ, th́ mất ư nghĩa
hạ sanh ở nhân gian để giáo hóa chúng sanh.
5. Quán sát tất cả nam nữ trên
thế gian, rốt ráo xem người nào có đủ tư
cách làm cha mẹ ḿnh.
Sự quán sát của Phật đă
kết thúc, Ngài thấy rơ căn cơ của chúng sanh
đă thuần thục, thời cơ hạ sanh đă
đúng lúc, nước Ca Di La là trung tâm điểm của
thế giới, ḍng họ Sát Đế Lợi là thuộc
về chủng tộc cao quư, Tịnh Phạn đại
vương và Ma Gia hoàng hậu có thể kham nhận làm cha
mẹ của ḿnh.
Sự quán sát đă kết thúc, Đức
Phật quyết định hạ sanh nơi nước
Ca Di La của châu Nam Diêm Phù Đề, thọ sanh nơi
mẫu thân là Ma Gia, phụ thân tự là Bạch Tịnh,
danh hiệu của Ngài gọi là Tất Đạt (câu này
bổn Việt Văn dịch: “Nhũ danh của Ngài là
Tất Đạt Đa”).
Thế giới
của chúng ta hiện đang cư trú, trong kinh chia làm 4
đại bộ châu:
- Phía Đông là Đông
Thắng Thần Châu.
- Phía Tây là Tây Ngưu
Hóa Châu.
- Phía Bắc là
Bắc Câu Lô Châu.
- Phía Nam là Nam
Thiệm Bộ Châu.
Nam Thiệm Bộ Châu cũng là
địa phương hiện tại chúng ta đang cư
trú, có chỗ dịch là Nam Diêm Phù Đề. Theo trong kinh
điển thuyết minh, chẳng những đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni giáng sanh ở châu Nam Diêm Phù Đề
trong nhân gian này, mà tất cả chư Phật trên thế
giới này đều giáng sanh và thành Phật ở cơi Nam
Diêm Phù Đề này.
Nam Diêm Phù Đề là tiếng
Ấn Độ, Trung Hoa dịch là Thắng Kim. Theo
tương truyền, phía Bắc châu Diêm Phù Đề có
một đại thọ thật cao lớn, gọi là Diêm
Phù Đề thọ. Dưới đại thọ ấy có
một con sông lớn, cát trong sông ấy toàn là màu tử kim,
là thứ kim trấp (nước vàng), từ trên
đại thọ chảy ra mà thành cát tử kim. Như
thế, chúng ta biết đại thọ này là do nơi con
sông lớn mà có tên, và châu Diêm Phù Đề là do đại
thọ mà đặt tên.
Tại v́ sao chư Phật đều
xuất hiện ở châu Diêm Phù Đề mà thành Phật?
Việc này trong kinh A Hàm, Đức Thế
Tôn từng dạy rơ: Châu Nam Diêm Phù Đề trong nhân gian có ba
đặc điểm, mà ba châu khác không sánh kịp. Ba
đặc điểm ấy như sau:
- Phạm hạnh thù thắng: Phạm
hạnh là tu tập hạnh thanh tịnh. Do nơi tu
tập hạnh thanh tịnh này mà khiến cho thân tâm của
mỗi cá nhân được tập hợp với lư thanh
tịnh, thậm chí c̣n làm những việc hữu ích cho
nhân quần xă hội. Tinh thần đạo đức
của nhân loại chính do nơi đây mà được
phát triển và điểm đặc sắc của con
người, gọi là bản chất Người, cũng
từ nơi đây mà được biểu lộ
đầy đủ.
- Ức niệm thù thắng: “Ức
niệm” nghĩa là đối với những việc
đă kinh nghiệm có công năng lưu giữ trong tâm,
bỗng nhiên một lúc nào đó có thể ghi nhớ lại
rơ ràng. Chính v́ chúng ta có khả năng ghi nhớ những
việc dĩ văng, nên đối với lịch sử,
văn hóa, chúng ta có thể bảo tồn, và từ trong kư
ức tích lũy kinh nghiệm, chúng ta có thể khai phát trí
huệ để giải quyết mọi vấn
đề.
- Tinh tấn thù thắng: Người
ở châu Nam Diêm Phù Đề có tinh thần nhẫn nại
đặc biệt trước những khó khăn, khổ
nhọc. Trong bất cứ hoàn cảnh dù khắc nghiệt
thế nào, hay t́nh trạng sinh sống cơ cực cỡ
nào, họ đều có thể vận dụng tất
cả nghị lực khắc phục và vô cùng tinh tấn,
hướng về mục tiêu của ḿnh đă nhắm đến.
Nếu chưa đạt đến mục đích, họ
quyết không dừng nghỉ. Có thể nói, đây chính là
điểm ưu thắng tối đại của loài
người ở Nam Thiệm Bộ Châu.
Ngoài ba đặc điểm nói trên,
cơi Nam Diêm Phù Đề c̣n có một thắng duyên cực
tốt mà cả ba châu kia không hề có. Đó là chư Phật
xuất thế, thành Phật trong nhân gian, đều ở
Nam Thiệm Bộ Châu.
Phẩm Đẳng Kiến trong kinh
Tăng Nhứt A Hàm thuyết minh: “Chư Phật Thế
Tôn giai xuất nhân gian, chung bất tại thiên
thượng thành Phật giả” (chư Phật Thế
Tôn đều xuất hiện và thành Phật tại
thế gian, không bao giờ ở thiên giới mà thành
Phật vậy).
Căn cứ theo Phật pháp Tiểu
Thừa, th́ không có một Đức Phật nào thành Phật
ở trên cơi trời. Chư vị luôn xuất thế
nơi cơi Diêm Phù Đề và thành Phật cũng tại cơi nhân
gian này.
V́ thế chúng sanh ở Nam Thiệm
Bộ Châu đặc biệt có rất nhiều cơ
hội gặp Phật cũng như nhân duyên nghe pháp
cũng rất thù thắng. Cho nên làm người trên
thế gian được sanh ở châu Nam Diêm Phù Đề,
nói theo lănh vực Phật pháp, người ấy rất có
phước báo và đầy đủ thiện căn thù
thắng vậy.
Châu Nam Diêm Phù Đề là một châu
rất rộng lớn và có rất nhiều quốc gia. Khi
một vị Phật giáng sanh, không phải tùy tiện
bất cứ nơi nào Ngài cũng giáng sanh được,
mà cần phải xuất hiện nơi trung tâm
điểm của Nam Châu để biểu thị Đức
Phật thường an trú trong lư Trung Đạo. Trung tâm
điểm của Nam Diêm Phù Đề này dưới sự
quan sát của Phật nhăn, chính là nước Ca Tỳ La
Vệ (Ca Di La), Trung Quốc dịch là Hoàng Phát (tóc vàng). Có
hai lối giải thích từ ngữ này:
- Tương truyền rằng vào
thuở xa xưa, nơi nước Ca Di La này có một
vị tiên nhơn tóc vàng tu hành. Từ đó về sau, con
cháu nhiều đời sau này của Hoàng Phát tiên nhơn
tiếp tục cư trú nơi đấy, nên gọi nước
này là Hoàng Phát.
- Thông thường mọi người
cho rằng trong năm màu (đen, trắng, xanh, đỏ,
vàng) th́ hoàng sắc (màu vàng) là biểu thị cho lư Trung
Đạo. Và quốc hiệu Ca Di La, người Trung Quốc
dịch là Hoàng Phát, là nhắm vào nguyên lư Trung Đạo này
vậy.
Về lănh vực lịch sử,
xưa kia người Ấn Độ thuộc chủng
tộc Nhă Lụy An. Suy cứu về nguồn gốc phát
tích của chủng tộc này từ phương Đông hay
phương Tây đến, các nhà sử học tranh
luận nhiều, nhưng chưa đi đến kết
luận. Nhưng theo ư nghĩa phiên dịch danh từ Hoàng
Phát th́ chủng tộc của nước Ca Di La chúng ta nên
đồng ư rằng đó là người Hoàng chủng
ở Đông phương, không phải là người bạch
chủng Nhă Lụy An từ phương Tây đến.
Trong giống người Hoàng chủng đă xuất sanh
một bậc Đại Giác Thánh Giả vĩ đại
như thế, đấy là một điều chúng ta
phải hết sức vui mừng và hân hạnh!
Chính khi đức Bổn Sư Thích Tôn
ở cung của Thiên Vương sắp hạ sanh nơi
Diêm Phù Đề, Ngài đă từng quán sát xem người nào
xứng đáng làm cha mẹ ḿnh, th́ thấy chỉ có Ma Gia
phu nhân kham làm sanh mẫu, Bạch Tịnh Phạn
Vương kham làm nghiêm phụ.
Hai chữ “Ma Gia” nói cho đủ
phải là Ma-ha Ma Gia, Trung Quốc dịch là Đại
Huyễn Thuật, có chỗ gọi là Đại Trí Mẫu.
Tương truyền, đức Ma Gia chẳng những làm
Phật mẫu của đức Thích Ca mà c̣n có thể làm
mẹ của chư Phật do v́ Ngài có thể thành tựu
pháp môn Đại Nguyện Trí Giải Thoát của Bồ Tát,
dùng Đại Trí Huyễn Thuật thường làm mẹ
chư Phật.
Đến như vấn đề
nhập thai của Bồ Tát, theo chỗ kiến giải
của Đại và Tiểu thừa không thống nhất nhau.
- Theo kiến giải của Tiểu
thừa th́ Bồ Tát ngự trên đại bạch
tượng vương, từ hông phía bên mặt của
mẹ mà nhập thai, và cũng an trụ ở hông phía
hữu.
- Theo kiến giải của Đại
Thừa th́ Bồ Tát ngự trên một lâu các bằng
gỗ chiên đàn mà nhập thai.
Hai lối giải thích trên hoàn toàn khác
nhau. Tên của phụ thân Đức Phật, Trung Quốc
dịch là Bạch Tịnh Phạn Vương, Ấn
Độ gọi là Duyệt Đầu Đàn, là quốc vương
nước Ca Di La đương thời. Đức Thế
Tôn xuất hiện ở nhân gian không phải sanh vào trong gia
đ́nh của người tầm thường, mà là sanh
vào cung vua làm Thái Tử. Sau khi Thái Tử đản sanh,
phụ hoàng và mẫu hậu đặt tên cho Ngài là Tất
Đạt Đa.
Danh từ Tất Đạt Đa, Trung
Quốc dịch theo hai nghĩa:
- Đốn Kiết: biểu thị ư
nghĩa khi Đức Phật đản sanh, bỗng nhiên
tất cả những điềm tốt lành đều
cùng trong một lúc hiện ra.
- Nhứt Thiết Nghĩa Thành:
biểu thị ư nghĩa Đức Phật xuất hiện
ở thế gian này, ở nơi thế tục làm Chuyển
Luân Thánh Vương muốn thành tựu th́ không điều
ǵ chẳng thành tựu. Nếu xuất gia làm bậc Pháp
Vương muốn thành tựu th́ không pháp nào chẳng thành
tựu. V́ thế nên gọi là Tất Đạt Đa.
(Xin Phật tử lưu ư: Từ
đoạn này về sau, những phần chúng tôi
để trong ngoặc đơn chính là phần dịch
nghĩa theo Giới Bổn Việt văn, chúng tôi sẽ
không lập những chữ “theo Giới Bổn Việt
văn” mỗi khi dịch nghĩa nữa).
Như trên đă giải thích nguyên
văn trong kinh, từ câu “nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni
Phật...” cho đến “nhũ danh Tất Đạt Đa”.
Giờ đây, xin giải thích tiếp:
Kinh văn:
1. Phiên âm:
“Thất tuế xuất gia, tam thập
thành đạo, hiệu ngô vi Thích Ca”.
2. Dịch
nghĩa:
Bảy năm xuất gia, ba mươi
tuổi thành đạo, hiệu Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Lời
giảng:
Từ trước đến nay
một vấn đề quan hệ đến tuổi tác
của Đức Phật khi Ngài xuất gia. Từ
trước đến nay, trong kinh thường có hai
thuyết:
- Một số kinh cho rằng Đức
Phật xuất gia lúc mười chín tuổi.
- Một số khác cho rằng Đức
Phật xuất gia lúc hai mươi chín tuổi.
Hai thuyết này đều căn
cứ vào Thánh Giáo hẳn hoi. Ngay trong Giới Bổn
hiện tại khẳng định rằng Đức
Phật xuất gia vào lúc bảy tuổi. Điều này khó
tránh khỏi sự hoài nghi của mọi người.
Căn cứ vào tiểu sử Đức
Phật: Sau khi Đức Thế Tôn đản sanh, lúc Ngài
bảy tuổi mới bắt đầu đọc sách th́
làm sao có thể nói là đi xuất gia. Hơn nữa, sau khi
Ngài kết hôn, Ngài mới thể ngộ sự vô
thường, thống khổ của nhân loại. Do đó,
Ngài động mối từ tâm, quyết bỏ hẳn
ngai vàng, điện ngọc đi xuất gia để
tầm đạo, cứu độ chúng sanh.
Y cứ theo sử liệu th́ Tất
Đạt Đa thái tử, năm mười bảy tuổi
kết hôn với công chúa Gia Du Đà La. Dù cũng có nơi nói là
mười chín hoặc hai mươi tuổi. Thậm chí
có chỗ nói là Thái Tử kết hôn trước năm
mười sáu tuổi. Dù Ấn Độ là một
nước nhiệt đới, con người ở
đấy phát dục sớm, nhưng có sớm thế nào
th́ cũng không thể có chuyện kết hôn lúc bảy
tuổi. V́ bảy tuổi th́ lúc bấy giờ thái tử
c̣n là một tiểu hài, làm sao nói đến chuyện
kết hôn?
Hơn nữa, vấn đề cho
rằng Đức Phật thành đạo vào lúc ba mươi
hay ba mươi lăm tuổi, trong kinh cũng có nhiều
thuyết bất đồng. Dù là thuyết nào, nhưng
nếu cho rằng Đức Phật bảy tuổi xuất
gia, ba mươi tuổi thành đạo, có nghĩa là Đức
Phật xuất gia hơn hai mươi năm, sau mới
thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong
khi đó, các kinh thông thường đều nói rằng,
sau khi Phật xuất gia, Ngài tu khổ hạnh sáu năm
th́ thành Phật. So lại với những điều các
thuyết bên trên đă nói th́ hoàn toàn không hợp lư và hợp
nhất. Do vậy, giả thuyết bảy tuổi
xuất gia, lẽ tự nhiên đă khiến cho mọi
người hoài nghi. Cũng từ đó, chư cổ
đức có vị cho rằng “bảy tuổi xuất gia”
nên nói ngược lại là “xuất gia bảy năm”;
tức là: ư nói Thái Tử sau khi xuất gia bảy năm
mới thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Thuyết vừa nêu trên, chúng ta thấy
rằng hợp lư hơn cả. V́ nếu căn cứ vào
thuyết cho rằng Đức Phật hai mươi chín
tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành
Đạo, trước sau cách nhau bảy năm, th́ vấn
đề nói “bảy tuổi xuất gia” nên đảo
lại là “xuất gia bảy năm”, chúng ta nên hoàn toàn
chấp nhận.
* Riêng đối với thuyết cho
rằng: Đức Phật hai mươi chín tuổi xuất
gia, hiện tại xin trích dẫn trong một số kinh
điển để chứng minh:
- Trong kinh Niết Bàn viết bằng
tiếng Pali, phái Nam Tông thuyết minh: “Tu Bạt! Ngă nhị
thập cửu tuế xuất gia cầu thiện” (Này Tu
Bạt! Ta lúc hai mươi chín tuổi xuất gia
để cầu thiện pháp).
- Kinh Trường Hàm Du Hành của
Bắc Tông thuyết minh: “Ngă niên nhị thập cửu
xuất gia cầu thiện đạo” (Ta lúc hai mươi
chín tuổi xuất gia để cầu thiện
đạo).
- Trong kinh Đại Thừa Đại Bát
Niết Bàn thuyết minh: “Tu Bạt Đà! Ngă niên nhị
thập hữu cửu xuất gia học đạo” (Này Tu
Bạt Đà! Lúc ta hai mươi lẻ chín tuổi xuất gia
học đạo).
Trong Luật Điển bộ Tạp
Sự Luật của Nhứt Thiết Hữu Bộ,
quyển 38 thuyết minh: “Ngă niên nhị thập cửu
xuất gia cầu thiện pháp” (lúc Ta hai mươi chín
tuổi xuất gia cầu thiện pháp).
Ngoài ra, c̣n các kinh như Tăng Nhứt
A Hàm, Trường A Hàm, Trung A Hàm đều nói: Đức Thích
Tôn xuất gia lúc hai mươi chín tuổi.
* Về giả thuyết nói Đức
Phật xuất gia lúc mười chín tuổi th́ có kinh,
luận: Kinh Tu Hành Bổn Khởi, kinh Thái Tử Thoại
Ứng, kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, Đại
Trí Độ Luận v.v...
Trong bộ Tây Vực Kư của
Huyền Trang Pháp Sư cũng thuyết minh: “Du thành
xuất gia, thời diệc bất định, hoặc vân
Bồ Tát niên thập cửu, hoặc vân nhị thập
cửu” (Thời điểm vượt thành xuất gia
của Bồ Tát không thống nhất, có chỗ nói là
mười chín tuổi, có nơi nói là hai mươi chín
tuổi).
Dù có đến 2 thuyết như
vậy, nhưng Phật giáo đồ trên thế giới
hiện nay đều thừa nhận sự kiện
Đức Phật xuất gia lúc hai mươi chín tuổi.
Đối với thuyết này, kinh Vị
Tằng Hữu Nhân Duyên cũng có một đoạn ghi
như vầy:
“Một hôm, Đức Phật sai tôn
giả Mục Kiền Liên đi về hoàng cung để
độ La Hầu La xuất gia, tôn giả vâng lời
Phật dạy, trở về hoàng cung để thăm ḍ
ư kiến của công chúa Gia Du Đà La.
Biết được sự kiện
ấy, thâm tâm công chúa đau khổ vô cùng. Nàng đến
trước tôn giả Mục Kiền Liên bạch rằng:
- Kính bạch Tôn Giả! Lúc Như Lai
c̣n làm Thái Tử, Ngài kết hôn với tôi, thời gian
chưa đầy chín năm, Ngài ly khai tôi đi xuất
gia, vào chốn thâm sơn cùng cốc tu tập khổ hạnh,
trải qua thời gian sáu năm, đắc thành Phật.
Việc Ngài vất bỏ tôi đi xuất gia đă là
một việc nhẫn tâm, thế nhưng tôi không t́m
đến Ngài để gây chuyện phá rối, phiền
phức. Như thế cũng là sự hết sức
tử tế, khiêm nhượng, cung kính Ngài. Nay Ngài lại
c̣n bảo tôn giả về bắt đứa bé này là con
của tôi xuất gia, tại sao Ngài nhẫn tâm đến
như thế?”
Căn cứ vào đoạn kinh văn
trên, có thể nhận thực rằng Đức Phật
xuất gia lúc hai mươi chín tuổi, xuất gia tu
học khổ hạnh sáu năm, đến năm ba
mươi lăm tuổi thành đạo quả. So ra th́
thuyết này hợp nhất. Cho nên trong kinh Phạm Vơng
Bồ Tát Giới Bổn này nói “ba mươi tuổi thành
đạo”, tôi thiết nghĩ, nên nói là “ba mươi
lăm tuổi thành đạo” mới đúng.
Phụ chú:
Sở dĩ phải giải thích,
biện luận, dẫn chứng câu kinh văn “thất tuế
xuất gia” qua các kinh, luật, luận một cách cụ
thể và chi tiết, v́ nếu chỉ y theo câu kinh ấy
th́ không phù hợp với tiểu sử Đức Phật.
Nguyên bổn Hán Văn Bồ Tát
Giới lưu truyền từ lâu nói: “Thất tuế
xuất gia” (xuất gia lúc bảy tuổi), với
thuyết này, những vị đọc bổn Hán Văn
hoàn toàn không hiểu được tại sao có sự không
hợp nhất. V́ trong bổn Việt văn, Ḥa
Thượng Trí Tịnh dịch: “Xuất gia bảy
năm”, nên ít nhiều cũng gây ra hoang mang cho độc
giả. Có vị cho rằng tôi giải thích như thế
là thừa, v́ trong Giới Bổn không nói Đức Phật
xuất gia lúc bảy tuổi, cần chi biện luận
lung tung?
Nên biết Thượng Tọa Trí
Tịnh, trước khi dịch Giới Bổn Hán văn,
Ngài đă khảo cứu các bộ chú sớ về Bồ
Tát Giới trong Đại Tạng. Khi đă khảo cứu
tường tận, Ngài thấy nếu y theo giới bổn
Hán văn mà dịch là “bảy tuổi xuất gia” sẽ
làm cho quư Phật tử đă thọ giới Bồ Tát
rất hoang mang khi tụng giới, nhất là sẽ hoài
nghi về lịch sử Đức Phật.
Hầu hết Phật tử Việt
Nam đều biết rơ Đức Phật xuất gia lúc hai
mươi chín tuổi, nên Ngài dịch là “xuất gia
bảy năm”.
Căn cứ theo bộ Phật thuyết Phạm Vơng
Kinh Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Hạ Lược Sớ
của tổ Hoằng Tán triều Minh, th́ Ngài cho rằng
câu “thất tuế xuất gia” do người đời
sao chép lúc bấy giờ đă nhầm lẫn. Nghĩa là:
Thay v́ viết “xuất gia thất tuế” lại viết
lộn “thất tuế xuất gia”, và người
đời sau xem thấy nhưng không dám tự ư sửa
đổi.
Kinh văn:
1. Phiên âm:
“Hiệu ngô vi Thích Ca Mâu Ni
Phật”.
2. Dịch nghĩa:
Hiệu Ngài là Thích Ca Mâu Ni
Phật.
Lời giảng:
Đây là thuộc về thánh hiệu
thọ kư không phải tên do cha mẹ đặt. Trong kinh
Phật thường nói; Đức Bổn Sư Thích Tôn, vào
thời quá khứ, lúc Ngài c̣n thực hành Bồ Tát Đạo,
đến a-tăng-kỳ kiếp thứ hai đă măn,
được gặp Đức Phật Nhiên Đăng ở
tại nước Liên Hoa. Bồ Tát phát tâm muốn
đến thân cận với Đức Phật để
học hỏi kinh pháp.
Trong khi đi đến, Bồ Tát mua năm đóa
hoa sen để cúng dường lên Đức Phật, do
nơi nhân duyên và nguyện lực của Bồ Tát,
những đóa hoa ấy kết thành tàn lọng báu. Bất
kỳ Đức Phật đi, đứng chỗ nào, tàn
lọng báu ấy đều theo Đức Phật để
che cho Ngài. Đồng thời Bồ Tát Thiện Huệ
lại phát thiện nguyện xin dùng tóc của ḿnh trải
lên bùn, cầu xin Đức Phật đạp lên thân ḿnh đi
qua, để cầu xin được Đức Phật
thọ kư cho Bồ Tát thành Phật. Nếu như không
được Đức Phật thọ kư th́ Bồ Tát nguyện
nằm măi dưới đất, quyết không đức
dậy.
Đức Nhiên Đăng Thế Tôn trông
thấy sự chí thành khẩn thiết của Bồ Tát
Thiện Huệ như vậy, Ngài liền đi qua tóc
của Bồ Tát và v́ Bồ Tát thọ kư rằng: “Thử
Thiện Huệ Bồ Tát! Ư vị lai thế
đương đắc tác Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni,
thập hiệu cụ túc như ngă vô dị!” (Này Bồ Tát
Thiện Huệ! Nơi đời vị lai, Người
sẽ được thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni,
đầy đủ mười danh hiệu như Ta
đây không khác). Sau khi Đức Phật v́ Bồ Tát Thiện
Huệ thọ kư như thế, ngay lúc ấy, Bồ Tát lên ngôi
Bát Địa, chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Ư Tịch Diệt đạo tràng.
2. Dịch
nghĩa:
Nơi đạo tràng Tịch Diệt.
Lời
giảng:
Hai chữ “đạo tràng”
thông thường trong kinh có 2 lối giải thích:
- Chỉ các nơi hành đạo
như: tu viện, điện đường, am
thất... đều gọi là “đạo tràng”. Do v́
đại chúng nơi đó dụng công hành đạo.
- Chỗ thành đạo rốt ráo,
chỉ nơi Đức Phật thành đạo.
Nói chung, bốn chữ “tịch
diệt đạo tràng” ở đây ư chỉ nơi thành
đạo của chư Phật vậy.
Đại phàm, những địa
phương chư Phật thành đạo, nghĩa là
đă đạt thành ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác và tất nhiên, đă hoàn toàn đoạn trừ tất
cả phiền năo, giải quyết mọi sanh tử.
Do ư nghĩa này, chư cổ
đức giải thích hai chữ “tịch diệt”:
“Tịch ngũ trụ phiền năo, diệt nhị
chủng sanh tử” (năm điều phiền năo cốt
yếu đều vắng lặng, hai mầm mống sanh
tử đă diệt trừ).
Phiền năo tuy có rất nhiều
thứ, nhưng chung quy gồm năm thứ chính yếu:
- Kiến nhứt thiết xứ
trụ địa.
- Dục ái trụ địa
- Sắc ái trụ địa
- Vô sắc ái trụ địa
- Vô minh trụ địa
Bậc Thánh Nhân trong Nhị Thừa
chỉ có thể đoạn trừ bốn thứ
phiền năo trên, nhưng đối với Vô Minh Trụ
Địa là loại phiền năo rốt sau th́ không thể
đoạn trừ, chỉ có chư Phật mới có
thể đoạn trừ hết ngũ trụ phiền
năo mà thôi.
Hai chữ “sanh tử” trong kinh chia làm
hai loại:
- Phần đoạn sanh tử.
- Biến dịch sanh tử.
* Phần
đoạn sanh tử: Ví như con người thọ sanh
thân mạng ở nhân gian, không luận thọ hay yểu,
lâu hay mau. Có người vừa sanh đă chết, có
người thọ mạng được mười hay
hai mươi tuổi, cho đến bảy mươi, tám
mươi, một trăm tuổi. Khi sanh mạng kết
thúc, tức là cáo chung một giai đoạn. Chính v́ tính cách
phân ra từng giai đoạn một trong sự thọ sanh
của sanh chúng phàm phu, nên gọi là “phần đoạn
sanh tử”. Thánh nhân trong Nhị Thừa chứng
đến cực quả mới có thể đoạn
hẳn chủng loại phần đoạn sanh tử này.
* Biến dịch sanh
tử:
Loại này chẳng những phàm phu không thể đoạn
mà đến bậc thánh nhân Nhị Thừa cũng không
thể đoạn trừ. Thứ biến dịch sanh
tử này không thể cho là ra ngoài phạm vi của phần
đoạn sanh tử. Thực ra, đó chỉ là những
khổ tướng hoặc nghiệp khổ vi tế
ẩn trong tâm thức rất khó nhận biết. Thứ
khổ tướng hoặc nghiệp khổ vi tế này
lên đến quả vị Phật mới đoạn
trừ hẳn được. Cho nên Đức Phật ở
nơi đạo tràng Tịch Diệt thành Phật, tất
nhiên là đă đoạn hẳn hai thứ sanh tử này.
Đối với bốn chữ “đạo tràng
Tịch Diệt” này, chư cổ đức c̣n giải
thích như sau:
Căn cứ về Lư mà nói, “đạo tràng Tịch
Diệt” là chỉ cho sự sở chứng lư tịch
diệt thanh tịnh, vô vi, vô tướng của Bồ
Đề Niết Bàn. Có chỗ gọi là viên măn Bồ Đề,
tức là trở về với chỗ Vô Sở Đắc.
Chư Phật ở trong lư Tịch Diệt Vô Sở
Đắc thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; ở trong
lư tịch diệt Vô Sở Đắc mà ngồi đại
đạo tràng, chuyển đại pháp luân. Hoặc c̣n có
nơi nói Bồ Đề là Trí, Tịch Diệt là Lư. Nghĩa
là dùng trí Bồ Đề để chứng lư Tịch
Diệt, cho nên gọi là Tịch Diệt Đạo Tràng.
Kinh văn
1. Phiên âm
Tọa Kim Cương Hoa Quang Vương ṭa.
2. Dịch nghĩa:
Ngồi trên bảo ṭa Kim Cương Hoa Quang
Vương.
Lời giảng:
Căn cứ theo kinh th́ bảo ṭa Kim Cương Hoa
Quang Vương này ở cách phía Tây thành Vương Xá
nước Ma Kiệt Đà của Ấn Độ chừng
khoảng hơn 100 dặm. Nơi ấy, có một cây
đại thọ trước đó gọi là Tất Bát
La. Về sau, do v́ Đức Phật ngồi dưới cây
đại thọ ấy chứng quả Vô Thượng
Bồ Đề nên được mọi người gọi
là Bồ Đề thọ. Đức Phật ngồi nơi
bửu ṭa Kim Cương Hoa Quang Vương dưới
đại thọ này mà thành Vô Thượng Chánh Giác.
Chẳng những Bổn Sư Thích Tôn ở thế
giới này, ngồi nơi ṭa ấy thành Phật, mà ngh́n
Đức Phật trong Hiền kiếp này thành Phật
đều ngồi nơi Bửu Ṭa ấy mà nhập Kim
Cương Định, phóng đại quang minh, thành Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vả lại, theo sự tương truyền th́ lúc
thế giới này mới thành lập, bảo ṭa này
xuất hiện cùng một lúc với đại
địa và chiếm cứ ngay trung tâm của Tam Thiên
Đại Thiên thế giới. Phần hướng xuống
phía dưới thấu tột đến kim luân, phần
hướng lên trên ăn liền đến địa
tế (mặt đất). Toàn thể thuần là kim
cương tạo thành, chu vi ước chừng hơn
một trăm bộ.
Chư cổ đức giải thích: “Kim cương
sắc bén lại thêm cứng rắn, có ngàn quang minh và
rất rộng lớn. Chữ Vương là ư nghĩa
của sự tôn quư, dùng để biểu thị cho
bảo ṭa, do chính hàng ngàn Đức Phật truyền lại,
không lay động, không hư hoại, không bị mờ
tối, cũng không có một thứ ǵ có thể sánh
được”. Cho nên gọi là Kim Cương Hoa Quang
Vương ṭa.
Về phương diện Phật pháp:
- Kim Cương dùng chỉ cho Định.
- Hoa Quang chỉ cho Huệ.
Định, Huệ tương ứng, đoạn
hẳn phần vi tế sinh tướng vô minh rốt sau,
được rốt ráo tự do, tự tại, nên
gọi là Vương. Như vị Quốc Vương
thời xưa có quyền tự do tuyệt đối.
Trong kinh Pháp Hoa thuyết minh: “Phật vi pháp
vương, ư pháp tự tại” (Phật là pháp
vương, đối với tất cả các pháp
đều được tự tại).
Chữ Pháp ở đây biểu thị cho Chân Lư,
tức ư nói Đức Phật lúc bấy giờ đă thể
ngộ chân lư một cách rốt ráo, ở trong chân lư sinh
hoạt một cách tự do, tự tại.
Lưu ư:
Trong bổn Việt văn dịch: “Từ trên
bửu ṭa Kim Cương Hoa Quang nơi đạo tràng
Tịch Diệt”.
Nếu quư đại sĩ nào tham cứu giới
bổn Hán Văn sẽ thấy nguyên tác ghi: “Ư Tịch
Diệt đạo tràng, tọa Kim Cương Hoa Quang
Vương ṭa”. Điều này thực ra không phải là sự
nhầm lẫn của dịch giả mà chính v́ cách diễn
đạt khác nhau giữa Hán văn và Việt văn.
Theo cách nói của người Việt th́ nhóm từ
chỉ vị trí, nơi chốn (ngữ trạng từ
chỉ nơi chốn), thường được
đặt cuối câu. Do đó, Ḥa Thượng Trí Tịnh
đă đảo vị trí hai phần của câu Kinh văn
để phù hợp với phong cách Việt văn.
Trong bổn Việt văn dịch thiếu chữ
“vương”.
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Năi chí Ma Hê Thủ La Thiên vương cung.
2. Dịch nghĩa:
Nhẫn đến nơi cung của trời Ma Hê
Thủ La (trong giới bổn Việt văn dịch:
“Nhẫn đến nơi cung của Đại Tự Tại
Thiên Vương”).
Lời giảng:
Ma Hê Thủ La là tiếng Ấn Độ, Trung Văn
dịch là Đại Tự Tại, Đại Oai Đức hoặc
Tam Mục.
Trong bộ Phụ Hành Kư nói: “Vị thiên vương
ở Sắc giới có ba mắt, tám tay, cỡi bạch
ngưu, cầm cây phất phủ trắng, có oai
đức rất lớn. Ngài an trụ nơi trụ
xứ của Bồ Tát. Trí huệ của Ngài có thể
suốt thấu tất cả mọi việc dù khó hiểu
đến đâu, chẳng hạn cả cơi đại
thiên đồng thời có mưa, tất cả những
hạt mưa Ngài đều biết rơ, không sai lầm. Ngài
c̣n có khả năng thống nhiếp khắp cơi tam thiên
đại thiên thế giới. Ở Sắc Giới,
vị thiên vương này là vị trời độc tôn,
là vị chúa thống lănh các vị Đại Phạm Thiên
Vương”.
Thực tế mà nói, vị trời Ma Hê Thủ La này
an trụ nơi “xả niệm thanh tịnh địa”
đệ tứ thiền thuộc cơi Sắc, c̣n gọi là
Hữu Đảnh thiên hay Sắc Cứu Cánh thiên.
Thông thường trong kinh nói Pháp Vân Địa Bồ Tát
phần nhiều an trú trong cung trời này mà thuyết pháp
giáo hóa thiên chúng.
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Kỳ trung thứ đệ thập trụ xứ
sở thuyết.
2. Dịch nghĩa:
Trong mười nơi ấy, Đức Phật
tuần tự ngự đến thuyết pháp.
Lời giảng:
Đây ư nói Đức Phật ở mười nơi khác
nhau giảng nói mười pháp môn khác nhau.
Cảnh giới của Đức Phật khi thành
Phật, căn cơ của Đại Thừa và Tiểu
Thừa nhận thức không đồng. Hàng Đại
Thừa Bồ Tát th́ thấy Đức Phật khi mới thành
đạo đến nơi cung trời Đại Tự
Tại thiên vương ở Đệ Tứ Thiền, phóng
quang tiếp dắt đại chúng ở thế giới
này đi về trong cung Bách Vạn Ức Tử Kim
Cương Quang Minh ở thế giới Liên Hoa Đài
Tạng, để ra mắt Đức Phật Lô Xá Na và nghe
Ngài giảng pháp môn Tâm Địa. Sau đó, trở lại cơi
nhân gian này, ngồi dưới cội Bồ Đề,
xuất định, giảng nói chánh pháp. Mười
nơi Đức Phật tuần tự đến thuyết
pháp:
1. Ngồi nơi ṭa Kim Cương Thiên Quang
Vương và Diệu Quang Đường, giảng nói pháp môn
Thập Thế Giới Hải, tức là hội
đầu tiên của pháp môn Thập Tín.
2. Lại từ bảo ṭa đứng dậy,
đến cung trời Đế Thích, tuần tự giảng
nói pháp môn Thập Trụ.
3. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Diệm Ma, tuần tự giảng pháp môn Thập
Hạnh.
4. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Đâu Suất, tuần tự giảng nói pháp môn
Thập Hồi Hướng.
5. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Hóa Lạc, tuần tự giảng nói pháp môn
Thập Thiền Định.
6. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Tha Hóa Tự Tại, tuần tự giảng pháp môn
Thập Địa.
7. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Sơ Thiền, tuần tự giảng nói pháp môn
Thập Kim Cương.
8. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Nhị Thiền, tuần tự giảng nói pháp môn
Thập Nhẫn.
9. Từ bảo ṭa đứng dậy, đến cơi
trời Tam Thiền, tuần tự giảng nói pháp môn
Thập Nguyện.
10. Cuối cùng Đức Phật đến cung Đại
Tự Tại thiên ở Đệ Tứ Thiền, giảng nói
pháp môn Tâm Địa, do đức Lô Xá Na Phật đă
giảng ở Liên Hoa Đài Tạng thế giới
trước kia.
Đối với vấn đề Đức Phật
thuyết pháp ở mười nơi, kinh này nơi
quyển thượng có giảng giải và chư cổ
đức đối với đoạn kinh văn này
cũng đă giải thích tường tận. Nơi
đây tôi chỉ nói sơ lược.
Chú thích:
1. Tối hậu thân
Bồ Tát:
C̣n gọi là tối hậu sanh hoặc tối
hậu hữu, hoặc hậu thân Bồ Tát, tức là thân
rốt sau của Bồ Tát trong đường sanh tử.
Sau đó, Bồ Tát đắc quả thành Phật.
- Luận Câu Xá quyển mười tám nói: “Trụ
tối hậu hữu gọi là tối hậu sanh”.
- Bộ Câu Xá Quang Kư quyển 18 giải thích: “Tối
hậu sanh tức chỉ cho thân sanh trong vương cung”.
-
Trong Du Già Lược Soán Luận thuyết minh: “Tối
hậu thân nghĩa là đă sanh ở cơi Dục Giới, th́
chính ở nơi thân này thành đạo. V́ thế, nên thân
này là thân tối hậu hữu, ở trong sanh tử nên
gọi là tối hậu thân”.
2. Ngũ Bất Hoàn
Thiên:
C̣n
gọi là Ngũ Tịnh Cư thiên, bậc thánh nhân đă chứng
quả Bất Hoàn ở Đệ Tứ Thiền cơi Sắc.
Chỗ
của thánh nhân sanh này có năm cảnh giới sau đây:
-
Vô Phiền Thiên: cảnh trời này là cảnh giới hoàn
toàn không c̣n những phiền tạp nên gọi là Vô
Phiền Thiên.
- Vô Nhiệt Thiên: cảnh trời này hoàn toàn không có
sự nhiệt năo.
- Thiện Hiện Thiên: cảnh trời này những
thiện pháp thù thắng thường xuất hiện.
- Thiện Kiến Thiên: cảnh trời này
thường thấy được những thiện pháp
thù thắng.
- Sắc Cứu Cánh Thiên: cảnh
trời này là tối thắng Sắc Giới thiên. Trong
Thế Phẩm của bộ Câu Xá Tịnh Sớ thuyết
minh: “V́ sao năm cơi trời trên gọi là Tịnh Cư
thiên? V́ năm cơi ấy, chỉ có thánh nhơn cư trú,
không có phàm phu xen lẫn, nên gọi là Tịnh Cư thiên”.
3. Đốn Kiết:
Đốn Kiết ở đây chỉ cho việc khi Thái
Tử sắp đản sanh, có rất nhiều
điềm lành xuất hiện. Gồm có tất cả ba
mươi bốn thứ thoại ứng. Nhưng
trước khi liệt kê, thiết tưởng chúng ta nên
biết qua t́nh trạng của Bồ Tát khi c̣n ở trong
thai.
Khi c̣n trong thai mẹ, Ngài không bao giờ làm cho mẫu
thân có những khổ năo, lo buồn và nhất thiết
mọi tư thế đi, đứng, nằm, ngồi
đều được tự tại, không bị
chướng ngại. Đấy là đối với mẫu
thân.
Riêng đối với chúng sanh, Ngài luôn thực hành
sự lợi tha giáo hóa, nên vô lượng chúng sanh
đều được sự lợi ích thuần
thục. Ngày đêm phân ra làm sáu thời:
- Buổi mai, Ngài v́ chư Thiên cơi Sắc giảng
diệu pháp.
- Khi giữa trưa (đứng bóng), Ngài v́ chư
Thiên cơi Dục chỉ dạy, giảng nói các pháp.
- Buổi chiều, v́ quỷ thần giảng pháp.
- Ban đêm cũng
chia ba thời như vậy.
Khi phu nhơn mang thai ngày tháng sắp đủ, bà
muốn ngự ra chốn viên lâm để ngoạn
cảnh, Bạch Tịnh Đại Vương hay tin, liền
hạ lịnh quét dọn sạch sẽ khu vườn Lâm
Tỳ Ni.
Chi tiết này trong kinh Hoa Nghiêm thuyết minh: “Khi phu
nhân mang thai đă đủ mười tháng, vào ngày mùng Tám
tháng Tư, khi mặt trời sắp mọc, phu nhân trông
thấy trong vườn có một cây đại thọ mang
tên là Vô Ưu, đang nở hoa màu sắc tươi
đẹp, lại ngát hương. Cành cây tỏa ra bốn
phía vô cùng xum xuê, tươi tốt. Phu nhân đưa tay
phải định kéo cành hoa để hái, Bồ Tát
từ nơi hông phải của mẹ thoát thai”.
“Chính lúc ấy, dưới đại thọ
bỗng hiện bảy đóa hoa sen bằng thất
bảo lớn như bánh xe. Bồ Tát Thích Ca rơi trên hoa
sen. Không cần người d́u đỡ, Ngài tự đi
bảy bước, đưa tay hữu lên, phát ra âm thanh
sư tử hẩu” (tiếng rống của sư tử.
Nên biết sư tử là vua trong muôn thú. Khi nó thét một
tiếng, tất cả mọi loài thú đều nép
phục sợ hăi. Ở đây dùng thí dụ này để
chỉ cho âm thanh của Phật cũng vậy. Nghĩa là
tiếng nói của Phật khiến tất cả thiên ma,
ngoại đạo khi nghe đến đều phải
quy hàng).
Câu nói đầu tiên của Ngài là “thiên thượng,
thiên hạ, duy Ngă độc tôn” (ta ở trong tất
cả nhân, thiên là bực tối tôn, tối thắng, không
ai hơn được).
Ngay chính lúc ấy, 34 điềm lành cảm ứng
hiện ra:
1) Mười phương thế giới chiếu
sáng rực rỡ.
2) Tam thiên đại thiên thế giới có
mười tám thứ chấn động. Trong kinh
thường gọi sáu loại chấn động,
nhưng trong đây nói có mười tám tướng v́
sự chấn động của đại địa có
3 loại, mỗi loại có sáu thứ, tổng cộng
thành mười tám thứ. Ba loại chấn động:
động lục thời, động lục
phương, động lục tướng.
+ Động lục thời: sáu thời kỳ chấn
động của đại địa. Kinh Trường
A Hàm thuyết minh sáu thời kỳ này:
- Lúc Phật nhập thai.
- Lúc Phật xuất thai.
- Lúc Phật thành đạo.
- Lúc Phật chuyển pháp luân.
- Lúc thiên ma khuyến thỉnh và Phật sắp
nhập Niết Bàn.
- Lúc Phật nhập Niết Bàn.
+ Động lục phương: cả sáu phương
Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung Ương và biên tế đều
chấn động.
+ Động lục tướng: Trong sáu loại này, ba
thứ đầu thuộc về tướng, ba thứ
sau thuộc về thanh. Nơi đây chỉ nêu tên 18
thứ, muốn hiểu rơ xin tham khảo các kinh Đại
Niết Bàn, Đại Bát Nhă v.v...
- Động (chấn động).
- Dũng (bắn vọt lên).
- Chấn (rung chuyển).
- Kích (đánh).
- Hẩu (tiếng rống).
-
Bộc (tiếng nổ).
3) Trên quả đất, những g̣ nổng trở
nên bằng phẳng, cây khô tươi lại, đâm
chồi nẩy lộc, lá cành xum xuê tươi tốt, trong
cơi nước mọc những cây kỳ đặc (kỳ
hoa dị thảo).
4) Cây cối sanh ra những trái ngon ngọt dị
thường.
5) Trên đất liền bỗng tự nhiên sanh ra
những hoa sen báu lớn như bánh xe.
6) Những kho tàng ẩn trong các kho phát tia sáng rực
rỡ.
7) Những trân bảo trong các kho phát tia sáng rực
rỡ.
8) Những y phục thượng diệu trên cơi
trời tự nhiên rơi xuống.
9) Muôn ngàn sông suối nước đều
đứng lặng và trong trẻo.
10) Gió im phăng phắc, mây lành bủa giăng
đầy khắp cơi hư không.
11) Gió thơm từ bốn phương thổi
đến bát ngát hương thơm và những đám
mưa nhẹ rưới xuống khiến mặt
đất được im mát, không bị vẩn bụi.
12) Tất cả người bệnh trong
nước đều được hồi phục
sức khoẻ và trở lại b́nh thường.
13) Những cung điện, pḥng ốc trong
nước đều rực sáng, không cần đèn
nến.
14) Mặt trời, mặt trăng, sao trên không
đều đ́nh trụ không di động.
15) Sao Tỳ Xá Khư (kiết tinh) hiện xuống
nhân gian, đợi giờ đản sanh của Thái
Tử.
16) Các Phạm thiên vương cầm lọng báu,
đứng sắp hàng che khắp trên cung điện.
17) Chư thiên nhân sư ở tám phương
đều đem bảo vật đến dâng cúng.
18) Trăm thức ăn ngon quư ở cơi trời
tự nhiên hiện ra.
19) Có vô số b́nh báu đựng nước Cam
Lồ.
20) Các thứ xe đẹp quư ở cơi trời
chở báu vật đến.
21) Có vô số voi trắng đầu đội hoa
sen đứng sắp hàng trước cung điện.
22) Bảo mă thiên thanh tự nhiên đi đến
(ngựa tốt quư báu lông màu xanh biếc như da trời).
23) Có 500 bạch sư tử vương từ núi
Tuyết Sơn đi ra, chúng rất bạo ác, nhưng lúc
bấy giờ đều trở thành hiền thục, không
có ác niệm, ḷng chúng đều vui mừng.
24) Các kỹ nữ cơi Trời đứng sắp hàng
trên hư không, trỗi các âm nhạc thanh tao, vi diệu.
25) Các ngọc nữ trên thiên giới cầm phủ
phất lông khổng tước (công) hiện trên vách
tường cung điện.
26) Các ngọc nữ trên thiên giới cầm b́nh vàng
đựng đầy nước thơm, đứng
sắp hàng trên hư không, rưới cúng dường.
27) Chư thiên đồng ca tụng, tán thán công
đức của Thái Tử.
28) Tất cả cảnh giới địa ngục
khi Phật đản sanh đều ngưng hành hạ
tội nhơn.
29) Tất cả độc trùng ẩn núp
dưới đất và các ác quỷ đều phát
khởi thiện tâm.
30) Những người sống theo ác luật nghi (6)
đều đồng một lúc khởi thiện tâm.
31) Những phụ nữ có thai trong nước, ngày
ấy đều sanh con trai. Nếu người nào mắc
phải trăm thứ bịnh tật liền
được tiêu trừ, thân thể lành mạnh.
32) Tất cả Thọ Thần đều hóa thành
h́nh người, đồng đến đảnh lễ
Thái Tử và đứng hầu.
33) Quốc vương trong các nước đều
mang bảo vật danh tiếng đến phụng
hiến.
34) Tất cả trời, người không nói
những tiếng phi pháp.
4. Thọ kư
Thọ Kư là tiếng Trung Hoa, tiếng Phạn gọi
là Ḥa-già-la, Thọ Kư c̣n là tên của một trong số
mười hai bộ kinh.
Đức Phật đối với những chúng sanh
đă phát Bồ Đề tâm, thọ kư cho chúng sanh ấy trong
tương lai sẽ thành Phật. Thọ kư có nhiều
loại: hai loại, bốn loại, sáu loại, tám
loại. Ở đây chỉ đề cập đến
hai loại:
- Vô dư thọ kư: Khi Đức Phật c̣n tại
thế, thọ kư cho Bồ Tát ở kiếp... thành Phật
hiệu... Như Lai ứng cúng... ở quốc độ
nào, quyến thuộc bao nhiêu... Đức Phật nói toàn
bộ một cách rơ ràng, nên gọi là Vô Dư Thọ Kư.
Trong kinh Pháp Hoa, Phật từng nói rằng: “Nếu ta
tại thế hoặc sau khi diệt độ, chúng sanh nào
được nghe kinh Pháp Hoa này chừng một câu,
một bài kệ đều được ta thọ kư Vô
Thượng Bồ Đề”. Ấy là Vô Dư Thọ Kư.
- Hữu dư thọ kư: Như trong kinh Đức
Phật bảo chúng sanh rằng: “Ông ở đời
vị lai khi Đức Phật xuất thế độ sanh
sẽ hết tội này; đức Như Lai ấy sẽ
v́ ông thọ kư”. Đấy là Hữu Dư Thọ Kư.
5. Ngũ trụ
phiền năo:
Trong kinh thường gọi là Ngũ Trụ Địa.
Tại sao gọi là Trụ Địa? V́ phiền năo căn
bổn có khả năng sinh ra phiền năo chi mạt (chi:
cành, mạt: ngọn) nên gọi là Trụ Địa, cũng
như đất đai có thể sanh trưởng mọi
vật.
Có năm loại Phiền Năo Trụ Địa:
- Kiến Nhứt Xứ Trụ Địa: Chỉ cho
những Kiến Hoặc (những sự thấy biết
không rơ ràng) trong tam giới, thân kiến, biên kiến... Khi
chứng nhập bậc Kiến Đạo th́ đoạn
trừ được kiến hoặc nhứt xứ, cho
nên gọi là “kiến nhứt xứ”.
- Dục Ái Trụ Địa: Nghĩa là trong tất
cả các loại phiền năo ở Dục Giới, trừ
Kiến Hoặc và Vô Minh Hoặc ra, th́ tội ái
trước nặng nhất, nên gọi riêng là Ái.
- Sắc Ái Trụ Địa: Nghĩa là trong tất
cả loại phiền năo ở Sắc Giới, trừ
Kiến Hoặc và Vô Minh Hoặc ra, th́ tội ái
trước nặng nhất, nên gọi riêng tên là Ái.
- Hữu Ái Trụ Địa: Nghĩa là trong các loại
phiền năo ở Vô Sắc Giới, trừ Kiến
Hoặc và Vô Minh Hoặc ra, th́ tội ái trước
nặng nhất, cho nên chỉ nêu riêng tên Ái. Chữ Hữu
trong từ Hữu Ái là nguyên do của sanh tử, của
phiền năo. Nơi Vô Sắc Giới, sanh tử là quả
báo cuối cùng của sự ái trước, cho nên gọi
là Hữu Ái.
- Vô Minh Trụ Địa: vô minh là tâm thức si mê, ám
độn, không có trí huệ minh đạt. Ấy là
cội gốc của tất cả mọi phiền năo
trong tam giới, nên đặc biệt cho nó là một
Trụ.
Trong bộ Đại Thừa Nghĩa Chương,
quyển 5, thuyết minh: Thế nào gọi là Trụ
Địa?
- Căn bổn phiền năo làm cơ sở cho chi
mạt phiền năo nên gọi là Trụ.
- Căn bổn phiền năo sanh ra chi mạt phiền
năo nên gọi là Địa.
Trong Thắng Man Kinh Bảo Quật nói: “Căn
bổn phiền năo sanh ra chi mạt phiền năo nên gọi
là Địa; làm cho pháp sở sanh được thành lập
nên gọi là Trụ”.
(Muốn dễ nhớ, dễ hiểu th́ xem biểu
đồ Ngũ Trụ Phiền Năo)
6. Ác Luật Nghi:
Luật Nghi là ǵ? Nghĩa là ấn định
thời gian, công việc, rồi theo chương tŕnh, quy
chế đó mà giữ ǵn và thực hành đúng theo như
vậy.
Có hai loại Luật Nghi:
- Thiện luật nghi: những giới pháp của
Đức Phật chế lập cho hàng đệ tử
để y theo đó mà phụng hành, không được
trái phạm.
- Ác luật nghi: những người làm nghề
săn bắn, chài lưới...
Là Phật tử bất luận tại gia hay
xuất gia, chẳng những không được làm theo ác
luật, mà lại c̣n phải xa lánh những người
hành nghề theo Ác Luật Nghi.
Phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa đă
dạy: “Người tu hành không được thân cận
Chiên-đà-la, cùng những người sống theo Ác
Luật Nghi như nuôi heo, gà, chó... cùng những người
làm nghề săn bắn, chài lưới...”
7. Chiên Đà La:
C̣n gọi là Chiên Đồ La, Trung Hoa dịch ra nhiều
danh từ như Đồ Giả, Nghiêm Xí, Chấp Bạo Ác
Nhơn, Hạ Tánh v.v... Hạng loại Chiên Đà La này ở
ngoài tứ tánh. Những người thuộc hạng này
chuyên làm việc sát hại nên gọi là Đồ Giả. Nam th́
gọi là Chiên Đà La, nữ gọi là Chiên Đà Lợi.
Nghiêm Xí:
- Nghiêm: Chuyên làm những ác nghiệp để tự
nghiêm sức nơi thân.
- Xí: gọi đủ là “tiêu xí”, những
người thuộc hạng này, lúc đi ra
đường thường cầm chuông rung hay gơ mơ tre
để làm cho mọi người nghe thấy (tiêu: nêu ra,
nêu lên cho mọi người thấy biết; xí: nghĩa
đen là nhón chân lên mà trông cho rơ, nghĩa bóng là trù tính kế
hoạch để tạo lợi).
Trong bộ Tây Vực Kư nói: “Người chủng
tộc Chiên Đà La lúc đi đường phải rung chuông,
hoặc gơ lên cây tre chẻ đầu, để làm tiêu xí,
nếu không sẽ bị quốc vương hành tội”.
Bộ Pháp Hiển Truyện thuyết minh: “Chiên Đà La
gọi là “ác nhân”, phải sống riêng biệt không
được ở chung với người khác. Nếu
khi vào trong thành thị cần đánh mơ, rung chuông để
mọi người nghe thấy mà tránh xa, không
được đường đột xông pha vào
chỗ đông người”.
A.2. THUYẾT PHÁP DUYÊN KHỞI (khởi
sự thuyết pháp nhân duyên)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Nhĩ
thời, Phật quán chư Đại Phạm Thiên Vương
vơng la tràng, nhơn thị thuyết vô lượng thế
giới do như vơng khổng, nhứt nhứt thế
giới, các các bất đồng, Phật giáo môn diệc
như thị.
2. Dịch nghĩa:
Lúc
bấy giờ, nhân khi xem mành lưới bảo tràng
của Đại Phạm Thiên Vương, Đức Phật v́
đại chúng mà giảng kinh Phạm Vơng. Ngài dạy
rằng: “Vô lượng thế giới dường như
lỗ lưới. Mỗi mỗi thế giới
đều khác nhau, khác nhau đến số vô
lượng. Giáo pháp của Phật cũng lại như
vậy”.
Lời giảng
Đoạn kinh văn nói trên, nói rơ do nhân duyên nào Đức
Phật khởi sự thuyết pháp. Điều này trong
phần giải thích đề mục đă nói rơ:
Nhân lúc ngự trong cung của Đại Phạm Thiên
Vương, Đức Phật giảng pháp môn Tâm Địa. Khi
ấy, quư Đại Phạm Thiên Vương mang mành
lưới bảo tràng đến để cúng
dường Đức Phật và chư vị có ư muốn
gần gũi Đức Phật để nghe tuyên pháp
yếu.
Bấy giờ, Đức Phật nhân dịp xem mành
lưới bảo tràng của Đại Phạm Thiên
Vương, Ngài phát sanh cảm nghĩ sâu xa và v́ đại
chúng tuyên nói những sự sai biệt của vô
lượng thế giới trong mười phương
giống như lỗ lưới.
Mỗi thế giới đều khác nhau, khác nhau
đến vô lượng. Sự an lập của các thế
giới đều bất đồng. Có thế giới
ngửa, có thế giới úp, có thế giới thanh
tịnh, có thế giới uế trược... trong
đồng có biệt, trong biệt có đồng. Đồng,
biệt nương nhau mà an lập sát vơng.
- Chữ Sát thuộc Pháp chỉ cho vô lượng
quốc độ thanh tịnh, uế trược khác
biệt nhau, không thể dùng lời mà có thể giảng nói
đến cùng tột.
- Chữ Vơng thuộc Dụ, nghĩa là mành
lưới, là sự an lập bất đồng của
vô lượng quốc độ trong mười
phương cũng như vô lượng lỗ
lưới trong một mành lưới, nên gọi là Sát
Vơng.
Ở đây về năng dụ, duy nhất chỉ
có mành lưới bảo tràng của Đại Phạm Thiên
Vương. Về sở dụ th́ có hai loại là thế
giới và pháp môn của Phật.
Thế giới sở dụ ư chỉ căn cơ
sở bị (sở bị đồng nghĩa với
“sở nhiếp”, ư chỉ căn cơ của chúng sanh
đă được thu phục, đưa vào trong giáo pháp
của Phật).
Giáo pháp sở dụ ư chỉ pháp môn năng bị.
Đứng về phương diện pháp tánh b́nh đẳng
mà nói, th́ không thể có các thứ sai khác. Nhưng v́ căn
cơ thọ giáo của chúng sanh có ngàn muôn sai khác, nên pháp môn
của Như Lai thi thiết đương nhiên cũng có
nhiều thứ bất đồng.
Về căn cơ sở bị, sở dĩ không
gọi là chúng sanh, lại gọi là thế giới, v́
thế giới là y báo của chúng sanh. Thế giới y báo
này có thể trùm nhiếp cả chúng sanh chánh báo trong ấy.
Trong kinh thường nói Thập Giới là ư bao
gồm từ Phật Giới đến Địa Ngục
Giới vậy. Sở dĩ Đức Phật đặc
biệt dùng mành lưới bảo tràng làm thí dụ v́
những lỗ lưới ở mành lưới này rất
nhiều, có thể nói là trùng trùng muôn mắt, vô
lượng sự sai biệt khác mà vẫn xâu mắc
được vào nhau một cách xuyên suốt không ngăn
ngại.
Chư Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh mà
thi thiết những pháp môn sai khác vô lượng, mà vẫn
giao suốt nhau không ngăn ngại. Vô lượng thế
giới trong mười phương có tịnh, có uế,
có ngửa, có úp, nhưng nương theo các duyên ḥa hợp
mà thành, mặc dù có vô lượng sai khác, nhưng vẫn
giao suốt nhau không ngăn ngại.
Hoặc có nơi cho rằng lỗ lưới
của mành lưới bảo tràng lớn, nhỏ, vuông,
tṛn, bất đồng, cũng như thế giới cùng
chúng sanh thân tâm cũng sai khác, nên Đức Phật dùng pháp môn
giáo hóa, dẫn dắt chúng sanh cũng phân ra thành nhất
thừa, tam thừa sai khác nhau.
A.3. VĂNG HOÀN PHI
NHẤT (qua
lại không phải một lần)
Kinh văn
1. Phiên âm
Từ câu “ngô kim lai thử thế giới bát thiên
phản...” cho đến câu “lược khai tâm địa
pháp môn cánh”.
2. Dịch
nghĩa:
Đức Phật đă tám ngàn lần đến
thế giới Ta Bà này, ngự trên bảo ṭa Kim
Cương Hoa Quang, nhẫn đến ngự nơi cung
của Đại Tự Tại thiên vương lược
giảng Tâm Địa pháp môn cho cả thảy đại chúng
trong pháp hội ấy.
Lời giảng:
Phẩm Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa thuyết minh:
“Tất cả trời, người, a tu la đều cho
rằng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
xuất hiện tại cung họ Thích, cách thành Dà Gia không
bao xa, ngồi nơi đạo tràng chứng a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề”.
Chẳng những hàng thiên, nhân và a tu la khi Phật c̣n
tại thế đă nghĩ và nói như vậy, mà hiện
nay chúng ta cũng nghĩ và nói như vậy. Cho nên mỗi
khi nói đến đức Giáo Chủ của chúng ta,
mọi người đều nói cách đây hơn hai ngàn
năm trăm năm về trước, Đức Phật
đă xuất hiện ở Ấn Độ. Do đó, mỗi
năm khi cử hành lễ Phật Đản, kỷ niệm
ngày Đức Phật đản sanh, ai cũng chúc mừng là
cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, Đức
Phật đă giáng sanh ở Ấn Độ.
Thật vậy, chúng ta căn cứ vào lịch
sử hiện hữu để biết đích xác sự
kiện Đức Phật xuất hiện trên thế gian.
Nhưng đứng về mặt tôn giáo th́ đây không
phải là lần đầu Đức Phật xuất
hiện ở thế gian, nơi hiện tại chúng ta
đang sống, để chứng Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Phẩm Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa giảng
tiếp rằng: “Thực ra ta thành Phật trải qua vô
lượng, vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha kiếp”.
Trong kinh này, Phật cũng nói: “Ta đến thế
giới Ta Bà này đă tám ngàn lần”. Kinh văn nói tám ngàn
lần, nhưng con số này không nhứt định, có
thể hoặc nhiều hơn hay ít hơn đôi chút, chúng
ta không nên quy định một cách nhất định.
Thông thường trong kinh nói “ngũ trược ác
thế”, về tính chất này th́ chưa có thế giới
nào hơn thế giới Ta Bà này, nhưng bi nguyện
của đức Đại Thánh Thế Tôn quá sâu rộng: v́
muốn hóa độ chúng ta cùng tất cả chúng sanh
khổ năo thoát ly khỏi thế giới Ta Bà đầy ác
trược này, nên Ngài một lần, rồi nhiều
lần trở lại trong nhân gian.
Điều đáng
thương tiếc cho chúng ta là đă quá ngu si, mê muội,
không chút giác ngộ, vẫn y nhiên làm chúng sanh điên
đảo, quá phụ bạc với tâm đại từ,
với ân rộng lớn của Đức Phật. Lại c̣n
phụ bạc với chính tánh linh bổn hữu của
chính ḿnh. Nghĩ đến như vậy càng thêm đau
đớn và làm sao chẳng cảm thấy hổ thẹn
muôn phần?
Ở đây, chúng ta cần phải biết là Đức
Phật tuy qua lại thế giới Ta Bà này liên tục,
nhưng đó là Ứng Thân của Như Lai, do nơi
đại dụng Bi Trí của Phật Đà; c̣n Pháp Thân
của Như Lai th́ hoàn toàn vắng lặng, dường
như hư không, không có hiện tượng sinh diệt,
cũng không có trạng thái đến hoặc đi, không có
những biểu hiện động hoặc tịnh.
Kinh Kim Cương thuyết minh: “Như Lai giả vô
sở tùng lai, diệc vô sở khứ” (Như Lai không
từ chỗ nào đến, cũng không từ chỗ nào
đi).
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Như Lai vô thân, vị chúng sanh
cố thị hiện kỳ thân” (Như Lai hoàn toàn không có
thân, v́ hóa độ chúng sanh nên thị hiện có thân h́nh).
Đức Như Lai v́ chúng sanh mà thị hiện có thân, và
cũng do nơi nhân duyên cơ cảm, chúng sanh mới trông
thấy Đức Phật xuất hiện ở thế gian.
Một khi nhân duyên cơ cảm của chúng sanh đă
hết, tự nhiên chúng sanh lại trông thấy Đức
Phật ly khai thế gian này.
Thế nên vấn đề Đức Phật xuất
thế hay nhập diệt không phải do nơi bản
của Phật, mà hoàn toàn tùy thuộc vào nơi chúng ta và
tất cả chúng sanh, v́ Phật không bao giờ có
tướng khứ lai.
Như trong kinh Niết Bàn nói: “V́ muốn chúng sanh sanh
khởi tâm hoan hỷ cực kỳ, nên chư Phật
Như Lai xuất hiện trên thế gian này một cách
bất ngờ. V́ muốn cho chúng sanh, tất cả sanh
khởi tâm luyến mộ đến cao độ, chư
Phật Như Lai thị hiện Niết Bàn một cách
tự nhiên”.
Thật ra th́ Phật là thường trụ và
bất diệt. Chúng sanh sở dĩ thấy có Phật xuất
thế, có khi thấy Phật diệt độ, việc
ấy hoàn toàn do nghiệp chướng chúng sanh nặng hay
nhẹ. Nếu chúng sanh nghiệp chướng nhẹ th́
trông thấy Đức Phật vẫn hiện ở thế
gian; chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng th́ không
thấy Đức Phật trụ thế.
Kinh Niết Bàn đối với vấn đề
này lư giải rất rơ ràng: “Ta dù ở cơi Diêm Phù Đề này,
thường thị hiện nhập Niết Bàn, nhưng
thật ra ta không hề nhập Niết Bàn mà chúng sanh
đều cho rằng Như Lai thật sự diệt
độ. Nhưng tánh Như Lai vốn không diệt.
Thế nên phải biết Như Lai là pháp thường
trụ, là pháp không biến đổi. Đại Niết Bàn
tức là pháp giới của Như Lai”.
Phẩm Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa cũng
nói: “Như thế, từ khi Ta thành Phật đến nay
đă trải qua thời gian hết sức lâu xa, thọ
mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp,
thường trụ bất diệt”.
Căn cứ vào những lời kinh trích dẫn bên
trên th́ chúng ta biết rằng Như Lai vốn chưa
từng nhập diệt. Vấn đề Như Lai
chưa từng nhập diệt, căn cứ vào ba thân
của Phật để giảng th́:
- Pháp thân vốn không có tướng sanh diệt,
đương nhiên không thể nói nhập diệt.
- Báo thân vạn đức trang nghiêm, thọ mạng
vô biên vô tận, lẽ tự nhiên cũng không thể nói
nhập diệt.
- Hóa thân do v́ độ chúng sanh nên tùy duyên thị
hiện, th́ làm sao có thể bỏ chúng sanh mà vào cơi Vô Dư
Niết Bàn?
Phật xưa nay vốn không diệt độ,
nhưng sở dĩ nói diệt độ v́ Như Lai dùng
đó như một phương tiện hóa độ chúng
sanh. V́ có những hạng chúng sanh, Phật cần phải
thị hiện Niết Bàn mới có thể độ
được, nên Đức Phật không thể không thị
hiện nhập Niết Bàn.
V́ sao nhất thiết phải làm như thế? V́ có
những hạng chúng sanh phước đức quá
mỏng manh, thấy Như Lai ở lâu nơi thế gian
cho Phật là tầm thường, không sanh ư tưởng
khó gặp, lại cũng không có tâm cung kính. Và v́ vậy,
những hạng chúng sanh này không chịu theo đúng như
pháp Phật dạy, để tinh tấn gieo trồng các
thiện căn.
Để cứu độ những hạng chúng sanh kiêu
mạn, phóng dật, giải đăi, hay ôm ḷng nhàm chán này,
Đức Phật phải vận dụng phương
tiện đại bi trên và tuyên bố sẽ diệt
độ để cảnh tỉnh những chúng sanh
ấy, khiến cho họ biết rằng Phật xuất
thế rất khó gặp, muốn thấy được
Như Lai thật là một việc không phải dễ dàng.
Điều này không riêng ǵ đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật mà tất cả chư Phật trong ba
đời và ở mười phương cũng
đều thị hiện như vậy. Nơi đây, có
người hỏi rằng: Rơ ràng đức Như Lai
đă thành Phật từ nhiều kiếp lâu xa, khi
đến thế gian này giáo hóa chúng sanh th́ cứ trực
tiếp hiện thân thuyết pháp là tốt lắm rồi,
tại sao cần phải nương nhờ duyên cha mẹ
giáng sanh? Tại sao lại phải xuất gia tu hành?
Tại sao phải hàng phục chúng ma rồi sau mới thành
Phật?
Giải đáp vấn đề này thật
đơn giản: Tất cả chúng sanh trên thế gian
đại đa số đều là hạng vô trí. Nếu
như Đức Phật không trải qua những giai
đoạn như vậy th́ họ cho Phật là
người biến hóa, không có cha mẹ, vợ con, mới
có thể tu hành thành Phật, rồi họ tự nghĩ
ḿnh là phàm phu đầy khổ năo, lại thêm có vợ con
đa mang nhiều hệ lụy, làm sao có thể tu hành và
thành đạo như Đức Phật được.
V́ những lư do đó, Đức Phật đă xuất
hiện ở nhân gian và không thể không thị hiện
đồng như mọi người để chúng sanh
thấy rằng Đức Phật không có những điểm
đặc thù nào khác họ, khiến họ học theo
chỗ Đức Phật học, thực hành những điều
Đức Phật thực hành và chứng đắc chỗ
Đức Phật đă chứng đắc.
Đức Phật đến thế giới này
những tám ngàn lần để làm ǵ?
Chính là v́ những chúng sanh ở thế giới Ta Bà
này thuyết pháp giáo hóa.
Ta Bà là tiếng Ấn Độ, Trung Quốc dịch là
Kham Nhẫn. Tất cả những chúng sanh trên thế
giới này đều có thể kham thọ sự
độc hại của tam độc, có thể nhẫn
thọ sự bức bách của tất cả phiền năo;
có thể nhẫn thọ bao nhiêu sự thống khổ trên
thế gian mà không có niệm mong cầu thoát ly để
được sự giải thoát (tam độc: tham, sân,
si).
Hai câu “tọa Kim Cương Hoa Quang Vương ṭa,
năi chí Ma Hê Thủ La thiên vương cung” (ngự trên ṭa báu
Kim Cương Hoa Quang Vương, nhẫn đến
ngự nơi cung của Đại Tự Tại Thiên
Vương). Đây chỉ mười nơi Đức Phật
ngự đến thuyết pháp. Trong kinh văn chỉ nêu
ra Kim Cương Hoa Quang Vương là chỗ đầu
tiên với cung của Đại Tự Tại Thiên
Vương là nơi cuối cùng. C̣n tám chỗ kia dùng hai
chữ “năi chí” là lời lược qua, không kể hết,
nhưng đă bao hàm tất cả trong đó. V́ kinh văn
đoạn trước đă nêu rơ thứ tự
mười trụ xứ Phật thuyết pháp, cho nên
ở đây không cần nhắc lại.
Kinh văn
1. Phiên âm
Vị thị trung nhứt thiết đại chúng
lược khai tâm địa pháp môn cánh.
2. Dịch nghĩa:
Lược giảng Tâm Địa pháp môn cho cả
đại chúng trong những pháp hội ấy.
Lời giảng:
Câu “vị thị nhứt thiết đại chúng”
chỉ cho đại chúng trong mười trụ xứ. V́
Phật nói pháp ở mười nơi khác nhau, lẽ
đương nhiên mỗi nơi có một đại chúng
của địa phương ấy nghe pháp.
Đức Phật đă v́ đại chúng mười
nơi ấy giảng nói pháp ǵ?
Trong kinh văn nói rơ là lược giảng Tâm Địa
pháp môn; nghĩa là Đức Phật lược giảng pháp
môn Tâm Địa, là một trong trăm ngh́n hằng hà sa số
pháp môn. Đây chỉ lược nói một vài pháp môn, nếu
so sánh với tất cả pháp môn th́ con số này chỉ
ước chừng bằng đầu một sợi lông.
Nếu như muốn nói rơ ràng th́ những pháp môn ấy có
vô lượng, vô biên, vô cùng tận, bất khả
thuyết, bất khả thuyết...
Khi Đức Phật đă v́ đại chúng
lược giảng pháp môn Tâm Địa rồi, Ngài tiến
thêm một bước nữa, v́ hàng phàm phu trên quả
địa cầu này giảng nói Giới pháp, bao gồm
mười giới trọng, 48 giới khinh. Ư của
Phật là muốn cho tất cả chúng sanh nương theo
giới pháp ấy, nghiêm tŕ thanh tịnh để chứng
đắc Tâm Địa pháp môn, hoàn thành quả vị Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
A.4. NHÂN GIAN THUYẾT
GIỚI
(thuyết giới pháp nơi cơi nhân gian)
A.4.1. THÁNH PHÀM BỔN
NGUYÊN
(nguồn gốc thánh nhân, phàm nhân)
A.4.1.1. TIÊU GIỚI
BỔN NGUYÊN (nêu rơ bổn nguyên của Giới)
Kinh văn
1.
Phiên âm:
Từ câu “phục tùng thiên vương cung”... cho
đến câu: “...nhứt thiết Bồ Tát bổn nguyên,
Phật tánh chủng tử”.
2.
Dịch nghĩa:
Sau đó từ cung của Thiên Vương, Đức
Phật trở xuống ngự dưới cội Bồ
Đề nơi cơi Diêm Phù, v́ tất cả chúng sanh ở cơi
này, hạng phàm phu ngu tối, mà giảng Kim Cương
Quang Minh Bảo Giới. Giới pháp này là lời
thường tŕ tụng của Phật Lô Xá Na khi Ngài
mới phát tâm Bồ Đề và trong suốt thời kỳ tu
nhân của Ngài. Giới pháp này cũng là bổn nguyên
của tất cả chư Phật, là bổn nguyên của
tất cả Bồ Tát và là chủng tử của Phật
tánh.
Lời giảng:
Đức Phật ở nơi mười pháp hội,
sau khi giảng Tâm Địa pháp môn xong, từ trong cung của
Đại Tự Tại Thiên Vương, Ngài ngự xuống
châu Nam Diêm Phù Đề, tức cơi nhân gian của chúng ta,
ngồi dưới cội Bồ Đề, v́ tất cả
chúng sanh phàm phu si ám, tuyên thuyết một giới pháp trong
Tâm Địa pháp môn mà Đức Phật Lô Xá Na thường tŕ
tụng trong thời kỳ Ngài mới phát tâm.
“Địa thượng” trong kinh văn chỉ cảnh
giới nhân gian hiện tại.
“Nhứt thiết chúng sanh” có nghĩa là bao gồm
tất cả các loại chúng sanh (trừ Đức Phật là
bậc tối cao) như nhân loại chúng ta, các bậc Thánh
Nhân (từ nhân loại trở lên) và tất cả
động vật (từ nhân loại trở xuống).
Danh từ “chúng sanh” trong kinh có hai lối giải
thích:
- “Chúng duyên ḥa hợp nhi sanh, danh vi chúng sanh” (các duyên
ḥa hợp lại mà sanh, gọi là chúng sanh). Nên biết
rằng cứ một sinh vật nào có đầy
đủ phần tinh thần và hoạt động,
đều không phải do một pháp đơn thuần,
độc lập mà h́nh thành, mà là do nhiều điều
kiện tập hợp lại mà tạo nên.
- Trong kinh Đại Pháp Cổ thuyết minh: “Tất
cả pháp ḥa hợp thi thiết gọi là chúng sanh. Nghĩa
là do tứ đại, ngũ uẩn, thập nhị
xứ và thập bát giới, thập nhị nhân duyên v.v...
ḥa hợp lại mà thành, nên chỉ là hư giả, gọi
là người hay chúng sanh”. Lối giải thích ư nghĩa
chúng sanh sở dĩ gọi là “chúng sanh” trên đây rất
xác đáng.
- “Sát sát bất đoạn thọ sanh, danh vi chúng
sanh” (thường thường thọ sanh không gián
đoạn, gọi là chúng sanh).
- Mỗi chúng sanh hoạt động trên thế gian,
chẳng phải chỉ trong một giai đoạn và khi
kết liễu sanh mạng là xong, phải luôn luôn có một
sanh mạng khác thọ sanh tiếp theo. Hơn nữa, khi
chưa giải thoát khỏi vấn đề sanh tử,
tất cả đều phải ở trong chu tŕnh sanh
rồi tử, tử rồi lại sanh và h́nh thành một
gịng đại sanh tử.
- Trong luận Bát Nhă Đăng thuyết minh: Tại sao
gọi là hữu t́nh? Nói hữu t́nh là do tính chất luôn luôn
thọ sanh nên gọi là “chúng sanh”. Đây là lối giải thích
ư nghĩa tại sao chúng sanh được mệnh danh là
chúng sanh. “Phàm phu” là tiếng Trung Hoa, xưa dịch là phàm
phu, nay dịch là “dị sanh”. Tiếng Ấn Độ gọi
là Ba-la, là từ phản nghĩa của “thánh giả”.
Ở trong bộ Thiên Thai Chỉ Quán thuyết minh:
“Phàm thánh tương hành, phán như thiên nhưỡng”
(nhưỡng: chỗ đất người ta ở,
nghĩa là: phàm phu với thánh nhân, nếu đem so sánh th́
chẳng khác nào trời với vực). Phiền năo chưa
đoạn, lư tánh chưa chứng, muôn đời qua
lại măi trong tam giới, đó là hạng phàm phu.
Kinh Pháp Hoa nói: “Phàm phu thiển thức, thâm
trước ngũ dục” (Phàm phu ư thức nông cạn,
mải say đắm theo ngũ dục, hế không
được thoát ly khỏi tam giới).
V́ đă là phàm phu th́ cứ gọi là phàm
được rồi, sao lại c̣n nói là người si
ám?
- V́ phàm phu là những chúng sanh đối với
phiền năo chưa đoạn trừ được chút
nào, do vô minh phiền năo tự đóng bít tâm địa,
khiến cho trí huệ quang minh vốn sẵn đủ
không được khai phát, măi sinh hoạt trong cảnh
thiên hôn địa ám, v́ thế nên gọi là “ám”.
- Do vô minh phiền năo che đậy tâm địa
của ḿnh, không hiểu rơ chánh pháp của chư Phật,
vọng sanh các thứ tà kiến không chánh đáng nên gọi
là “si”.
Hạng người phàm phu si ám như thế làm sao
có thể từ trong cảnh trầm mê bất giác,
chuyển phàm nhập thánh?
Đây là một khóa đề trọng yếu của
hàng Phật tử tu học Phật pháp. Và đối
với vấn đề này, hẳn nhiên theo Phật pháp, có
biện pháp để giải quyết là liệu chúng ta có
chịu phát Bồ Đề tâm hay không?
Ngay như Đức Phật Lô Xá Na không phải tự
nhiên được thành Phật. Tận ban sơ, Ngài
cũng chỉ là một kẻ phàm phu si ám như chúng ta, sau
đó Ngài phát tâm Bồ Đề, bẩm thọ Tâm Địa
diệu giới này và luôn thường tŕ tụng cho
đến lúc chứng được quả Tâm Địa
rốt ráo, hoàn thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Nói như thế để thấy rơ cảnh giới
này chính là Quang Kiến siêu phàm nhập thánh.
Nếu như không có tâm địa diệu giới
này thu nhiếp tự tâm, lẽ tất nhiên chúng sanh
phải muôn đời trầm luân trong biển khổ sanh
tử, vĩnh viễn không có ngày thoát khỏi luân hồi
sanh tử được.
Đức Đại Thánh Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn v́
thương xót những hạng người phàm phu si ám này
mới đi vào cảnh nhân gian đầy thống khổ,
uế trược, giảng nói một trong số những
giới pháp của Tâm Địa pháp môn của Đức Phật
Lô Xá Na thường tŕ tụng trong thời kỳ mới
phát tâm.
Giới pháp Tâm Địa này chính là nhân tối thắng
để thành Phật. Tất cả chư Phật trong ba
đời, trước tiên đều bẩm thọ giới
pháp này, sau đó mới bước lên bảo ṭa Vô
Thượng Chánh Giác. Chính Đức Phật Lô Xá Na
thường tŕ tụng giới pháp này nên gọi là “Quang
Minh Kim Cương Bảo Giới”.
Quang Minh đối chọi với Hắc Ám. Có quang
minh th́ hắc ám không thể tồn tại. Đây là một
sự kiện hiển nhiên, ai cũng thấy rơ. Và v́
giới này có công năng diệt trừ hắc ám, vô minh
từ vô thỉ, nên gọi là “quang minh”.
Kim Cương là một loại khoáng thạch vô cùng
cứng rắn, có thể phá hủy bất cứ một
vật thể cứng rắn nào khác. Điều này cũng là
một sự kiện thông thường mọi
người đều biết. V́ giới pháp này có thể
tồn phá tất cả phiền năo khó tồn phá nhất,
cho nên gọi là “kim cương”.
Bửu chỉ những vật quư trọng, có thể
dứt trừ sự nghèo cùng khốn khổ của
mọi người, nên được tất cả
thế nhân xem trọng. Và cũng v́ giới pháp này có
thể xuất sanh vô lượng công đức, pháp tài,
khiến cho công đức thiện pháp của chúng sanh ngày
càng tăng trưởng nên gọi là Bửu.
Chính Kim Cương Quang Minh Bửu Giới là giới
tối thượng vi diệu đệ nhứt, là
thể tạng của mười giới trọng và
bốn mươi tám giới khinh, là tâm địa giới
pháp của chư Cổ Phật triển chuyển
truyền lại, không phải do đức Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật riêng sáng lập sau này. V́ vậy,
giới pháp này rất có giá trị đối với
mỗi chúng sanh, nhất là đối với các hành giả
bậc Đại Thừa, tu học Phật pháp, lại
cần phải đặc biệt xem trọng.
Danh từ Quang Minh Kim Cương nghiên cứu cao
hơn một bước, cũng như căn cứ vào
phương diện đạo lư, chư cổ đức
đă giải thích như sau:
- Quang Minh là căn cứ vào Nhiếp Thiện Pháp
Giới để nói, v́ Tâm Địa diệu giới này có
thể soi chiếu tất cả các pháp.
- Kim Cương là căn cứ vào Nhiếp Luật
Nghi Giới mà nói, v́ Tâm Địa diệu giới này bản
thể của nó thuộc về Vô Lậu Tánh.
- Bửu là căn cứ vào Nhiếp Chúng Sanh Giới
v́ Tâm Địa diệu giới này có công năng cứu tế
muôn vật, lợi ích quần sanh.
Nếu nghiêm cẩn hành tŕ Luật Nghi Giới th́
không một ác pháp nào chẳng trừ được,
đạt đến quả vị Phật và thành tựu
Đoạn đức.
Nếu phụng hành Nhiếp Thiện Pháp Giới
một cách thiết thực th́ không một thiện pháp nào
chẳng tu được, đạt đến quả
vị Phật, thành tựu được Trí đức.
Nếu thực tiễn nhận chân được
Nhiếp Chúng Sanh Giới th́ chính là không một chúng sanh nào
chẳng cứu độ, đạt đến quả
vị Phật, thành tựu được Ân đức.
Cho nên, chỉ có một giới pháp của
đức Lô Xá Na thường tŕ tụng, xem qua rất
đơn giản, nhưng sự thật th́ bao hàm của
nhơn quả Đại Thừa bên trong. V́ lư do nói trên,
Đức Phật tiếp tục dạy: Quang Minh Kim
Cương Bửu Giới không phải là pháp ǵ khác, chính là
bổn nguyên của tất cả chư Phật, là bổn
nguyên của tất cả Bồ Tát.
Nói rơ hơn, Tát Bà Nhă hải của chư Phật c̣n
gọi là Bát Nhă Ba La Mật, tức là Nhất Thiết
Chủng Trí của chư Phật.
Chữ Hải ở đây ư nói đại trí của
chư Phật sâu rộng như biển cả, cố nhiên
là lấy giới này làm bổn nguyên. Lục độ
vạn hạnh của Bồ Tát cũng dùng giới này làm
bổn nguyên. Đức Lô Xá Na do nơi giới này mà thành
đạo. Chư Phật trong ba đời, mười
phương cũng từ nơi giới này mà thành
đạo. Tất cả Bồ Tát ở thế giới
này và ở các phương khác lẽ đương nhiên
phải lấy giới này làm cội gốc, nương
theo để tu hành.
Nếu ly khai Quang Minh Kim Cương Bảo Giới
này mà tu hành pháp môn của 30 tâm và Thập Địa, cố
nhiên không thể nào thành tựu được. Ngay chính công
đức của Phật địa cũng không thể
phát sanh. Tánh trọng yếu của Tâm Địa diệu
giới này, nơi đây càng có thể nhận thức rơ
ràng nhất.
Chư Phật, Bồ Tát sở dĩ đều
lấy giới này làm bổn nguyên v́ giới pháp này là
chủng tử Phật tánh sẵn có của chúng sanh.
Căn cứ vào lư Đại Thừa mà nói, Phật tánh
vốn là pháp sẵn đủ của tất cả chúng
sanh, nhưng cần phải nương nhờ vào Giới
mới có thể phát sanh, cho nên gọi là “chủng tử”.
Kinh Pháp Hoa nói: “Phật chủng tùng duyên khởi” (chủng
tử Phật tánh tùy nhân duyên mà sanh ra) cũng chính là ư này.
Trong kinh Niết Bàn thuyết minh: “Nhất thiết
chúng sanh tuy hữu Phật tánh, yếu nhân tŕ giới, nhiên
hậu năi kiến, nhân kiến Phật tánh, đắc thành
a nậu đa la tam miệu tam bồ đề” (Tất
cả chúng sanh dù sẵn có Phật tánh, nhưng cần
phải nghiêm tŕ tịnh giới, sau đó mới thấy
được Phật tánh. Do thấy được
Phật tánh mà đắc thành quả vị a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề). Đây là nói về ư nghĩa
nhân duyên Phật tánh và liễu nhân Phật tánh lấy
giới này làm chủng tử.
Trong luận Khởi Tín thuyết minh: “Dĩ tri pháp
tánh vô nhiễm ô, tùy ly ngũ dục quá cố, tùy thuận
tu hành Thí Ba La Mật” (Do biết rơ pháp tánh vốn không ô
nhiễm, lập tức xa ĺa tội lỗi say mê ngũ
dục, tùy thuận theo pháp mà tu hành Thí Ba La Mật).
Đây là nói về Quang Minh Kim Cương Bảo Giới
lấy chánh nhân Phật Tánh làm chủng tử. Tất
cả chúng sanh đều đồng sẵn đủ
Phật Tánh chủng tử này, nhưng v́ sao chúng ta cũng
như tất cả chúng sanh không thể chứng
đắc Tâm Địa pháp môn?
Trả lời câu hỏi này thật đơn
giản. Ấy là do nơi chúng sanh bị phiền năo che
đậy, làm chướng, luôn trái ngược lại
giác tánh và thuận hợp với trần lao mà ra nông
nỗi như vậy. Nếu thuận theo Phật tánh mà tu
hành th́ có thể siêu thoát khỏi biển khổ sanh tử,
ngộ nhập tự tánh Niết Bàn sẵn có và mới có
thể chứng đắc Tâm Địa pháp môn, đồng
như chư Phật.
Sở dĩ Đức Phật đến nhân gian tuyên
thuyết Tâm Địa diệu giới này; và chúng ta sở
dĩ phải bẩm thọ Tâm Địa diệu giới này,
v́ Phật muốn cho chúng ta chứng đắc Tâm Địa
pháp môn. Hơn nữa, chỉ có Tâm Địa diệu giới
này mới có thể giúp chúng ta chứng đắc Tâm
Địa pháp môn. Thế nên chúng ta không nên xem thường.
A.4.1.2. HIỂN
GIỚI THẮNG LỢI (nêu rơ sự lợi ích của giới)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “nhứt thiết chúng sanh giai hữu
Phật tánh...” đến câu “... đương
đương thường hữu nhân cố,
đương đương thường trụ pháp
thân”.
2. Dịch nghĩa:
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
tất cả ư thức sắc, tâm, là t́nh, là tâm đều
nằm trong phạm vi giới tánh Phật tánh, v́ chắc
chắn thường có chánh nhân, nên chắc chắn pháp thân
luôn thường trụ.
Lời giảng:
Bổn nguyên của Quang Minh Kim Cương Bửu
Giới đă nêu rơ bên trên. Giờ đây xin thuyết minh
phần thắng lợi của Quang Minh Kim Cương
Bửu Giới.
“Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”
trong phần kinh văn trên trong kinh Niết Bàn cũng
từng nói đến. Các học giả trong Phật giáo
Trung Quốc tối sơ đều thừa nhận
tất cả chúng sanh đều sẽ được
thành Phật, chính do từ câu này.
Kinh Niết Bàn nói tiếp: “Phàm hữu tâm dă, giai
đương tác Phật” (Phàm chúng sanh nào có tâm đều
sẽ thành Phật).
Tâm nghĩa là pháp mà mỗi chúng sanh đều có
sẵn, Phật tánh ẩn tàng trong tâm chúng sanh; v́ thế nên
các chúng hữu t́nh nếu có đủ tâm thức hoạt
động đều có thể thành Phật.
Ở đây có người hỏi: Chúng tôi hiện có
Phật tánh hay không?
Tôi dám quả quyết đáp rằng: Đương
nhiên là có.
Nếu như quư vị hỏi tiếp: Chúng tôi đă
có Phật tánh, tại sao không thành Phật?
Tôi xin đáp: Đủ Phật tánh là một sự
kiện, thành Phật hay không lại là một sự
kiện khác. Chư Đại Giác Thánh Nhân sở dĩ nói các
Ngài đă thành Phật do v́ các Ngài đă đem Phật tánh
sẵn đủ của ḿnh chẳng những khai phát mà c̣n
trang nghiêm Phật tánh, để hoàn thành diệu quả
Pháp Thân thanh tịnh. Hàng phàm phu cụ phược chúng ta
sở dĩ vẫn là chúng sanh, v́ Phật tánh c̣n bị vô
minh hắc ám bao phủ, ngăn che, nên phải thành thân sanh
tử trong ṿng luân hồi. Do đó, sở dĩ chúng ta măi
trôi lăn trong ṿng sanh tử, không được thành
Phật, vấn đề không phải là ở nơi chúng
ta không đủ Phật tánh, mà chính ở chỗ do căn
bệnh vô minh che đậy Phật tánh, làm cho Phật tánh
không thể hiển hiện.
Hiện tại, nếu có thể bẩm thọ Quang
Minh Kim Cương Bảo Giới này th́ vô minh che
đậy Phật tánh bị tiêu diệt, khiến cho
Phật tánh lư thể hoàn toàn hiển lộ, tức
thời có thể thành Phật. Thế nên hiện tại
không thành Phật được, không phải là không có
Phật tánh; cũng không nên buồn trách một
người nào, mà cần nên tự trách ḿnh chưa phá
trừ được vô minh đó thôi.
Phật tánh bao gồm tất cả pháp và không
cuộc hạn ở một khía cạnh nào. Cho nên tất
cả hoặc ư hoặc thức, hoặc sắc, hoặc
tâm, đều là t́nh, là tâm. Không một pháp nào chẳng
điều nhiếp vào trong phạm vi giới pháp Phật
tánh. Lư thể Phật tánh bất sanh bất diệt và luôn
thường trụ, cho nên tất cả các tâm thức
hoạt động hư vọng, phân biệt, hoàn toàn do vô
minh, bất giác gây ra.
Chủ thể của tâm hư vọng, phân biệt
là A Lại Da Thức. Nguyên nhân sanh khởi A Lại Da
Thức là nương nơi Như Lai Tạng mà có. Nên
Khởi Tín Luận nói: “Tâm sanh diệt giả, y Như Lai
Tạng, cố hữu sanh diệt tâm. Sở vị:
Bất sanh, bất diệt, dữ sanh diệt ḥa hợp,
phi nhứt, phi dị, danh vi A Lại Da thức” (Nói
đến tâm sanh diệt phải biết do đâu mà có?
Tức là y theo Như Lai Tạng phát sanh nên có tâm sanh
diệt. Trong kinh gọi là bất sanh, bất diệt, ḥa
hợp với sanh diệt, chẳng phải hợp làm
một, chẳng phải phân ra khác nhau, gọi là A Lại
Da thức).
Tiếp theo đó, nương theo A Lại Da thức
này mà sanh khởi ra ư. Nương nơi tâm và ư mà có ư
thức sanh khởi. Đồng thời, cũng trong Khởi
Tín Luận nói: “Dĩ A Lại Da thức thuyết hữu
vô minh” (do nương nơi A Lại Da thức mà nói là có vô
minh). Chúng sanh măi trôi lăn trong ṿng sanh tử, không
được thành Phật, thật ra không phải do nguyên
nhân nào khác mà chính do Vô Minh Trụ Địa từ vô thỉ
ở trong A Lại Da thức quấy rối!
Ở đây nói là tâm là theo ư nghĩa tập khởi,
không giống như ư nghĩa tích tập chủng tử
sanh khởi hiện hành trong pháp tướng Duy Thức
đă nói, mà chỉ cho vọng niệm bỗng nhiên tập
khởi.
Ư là ư nghĩa tư lương, có đủ công
năng tác dụng hằng thẩm tư lương
(kiểm soát tư tưởng). Theo Duy Thức th́ đó là
“đệ thất nhiễm ô ư”. Khởi Tín Luận cho là có
năm thứ ư (năm thứ này có nêu và giảng rơ trong Khởi
Tín Luận và các bộ chú sớ).
Thức là liễu việc (hiểu rốt ráo mọi
việc). Cả sáu thức đều gồm luôn trong
đó. Sắc là chỉ cho vật chất cụ thể
hiện tại thường nói đến, cũng chỉ
cho sanh mạng nhục thể của chúng sanh do tứ
đại tổ hợp. Tâm, Ư, Thức ba thứ này
gọi chung là tinh thần.
Sanh mạng chúng sanh là sự ḥa hợp của hai
thể: tinh thần lẫn vật chất. Chúng sanh do
sắc tâm ḥa hợp và sẵn có Phật tánh tiềm ẩn
trong đó. Chúng ta nên biết rằng Phật tánh chính là
ở trong tâm thức. Ngoài tâm thức này ra, không có Phật
tánh nào tồn tại riêng được.
Nên trong kinh Lăng Già, Đức Phật từng nói: “Ngă
thuyết A Lại Da thức tức thị Như Lai
Tạng” (Ta nói A Lại Da thức chính là Như Lai
Tạng).
Hai chữ “thị t́nh” (là t́nh) dùng phân biệt với
vô t́nh.
Hai chữ “thị tâm” (là tâm) dùng phân biệt với
vô tâm.
Vô t́nh, vô tâm chính là những loại cây, đá vô ư
thức. Những vật thuộc về gỗ, đá
đương nhiên không thể kham thọ Tâm Địa
diệu giới. Chỉ có loài hữu t́nh có đầy
đủ tinh thần và hoạt động mới có
thể bẩm thọ Tâm Địa diệu giới. Đă là
hữu t́nh, tức có đủ Phật tánh, nên
đương nhiên vào trong pháp giới Phật tánh.
Hai câu:
Đương
đương thường hữu nhân cố.
Đương
đương thường trụ Pháp Thân.
Dịch: “V́ chắc chắn thường có chánh nhân
nên chắc chắn Pháp Thân thường trụ” biểu
thị lư tất nhiên của luật nhân quả. Hai chữ
“đương đương” ở đây có thể
hiểu là “đích thực như vậy”. Nghĩa là: Quang
Minh Kim Cương Bửu Giới đích thực
thường có chân nhân thành Phật, đích thực là
diệu quả Pháp Thân thường trụ sẵn có. Nhân
và quả đều không ly khai Tâm Địa diệu giới
này.
Hai chữ “thường hữu” dùng để phân
biệt với ư nghĩa không phải thoạt có, thoạt
không, mà bất cứ lúc nào cũng có, đích xác làm chân nhân
thành Phật. Hai chữ “thường trụ” dùng
để phân biệt với ư nghĩa không phải
thoạt đến, thoạt đi mà biểu thị ư
nghĩa Pháp Thân diệu quả vĩnh viễn
thường hằng, không có tướng khứ lai,
động tĩnh. Nhưng Pháp Thân diệu quả
thường trụ này không phải do từ bên ngoài mà có
được; chính là do Phật tánh sẵn có bên trong,
cực lực khai phát trang nghiêm mà thành.
Bởi v́ sự lợi ích thù thắng của Quang
Minh Kim Cương Bửu Giới là chân nhân thành Phật, là
Pháp Thân Diệu Quả Thường Trụ thanh tịnh,
cho nên ở phần khai mạc bên trên nêu là Hiển Giới
Thắng Lợi.
A.4.1.3. KHUYẾN TÍN THỌ TR̀ (khuyên
phát tín tâm thọ tŕ giới)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu: “Như thị thập Ba La Đề Mộc
Xoa xuất ư thế giới...” cho đến câu:
“...bổn nguyên tự tánh thanh tịnh”.
2. Dịch nghĩa:
Mười Ba La Đề Mộc Xoa như thế
xuất hiện trong đời. Giới pháp này là chỗ
kính trọng thọ tŕ của tất cả chúng sanh trong ba
đời. Giờ đây, Đức Phật sẽ v́ trong
đại chúng mà giảng lại giới phẩm vô
tận tạng, là giới phẩm của tất cả
chúng sanh, bổn nguyên tự tánh thanh tịnh.
Lời giảng:
Giới pháp Phật tánh như trên đă thuyết
minh, là nhân tố duy nhất để thành Phật của
tất cả chúng sanh. Nếu như đối với
Phật tánh pháp giới này mà cực lực trang nghiêm th́
cũng có thể hoàn thành Phật quả tối cao.
Nói một cách khác, chỗ tu nhân hạnh chính là
giới pháp Phật tánh này, chỗ chứng đắc
quả vị cũng chính là Phật tánh giới pháp này. V́
thế, chúng ta có thể biết chỗ chứng ngộ
của chư Phật Như Lai cố nhiên là giới pháp
Phật tánh này. Phàm phu chúng sanh mê hoặc, không thể giác
ngộ đều là do bị mê hoặc, không hiển
lộ được giới pháp Phật tánh này. Đức
Đại Thánh Thích Tôn đă phát lộ được
điểm ấy. Đối với tất cả chúng sanh
đă sẵn đủ nhân thù thắng th́ đều có
thể chứng đắc quả thù thắng này, nhưng
v́ bị mê hoặc không giác ngộ, nên trước sau
phải chịu trầm luân trong biển khổ sanh tử.
Đức Phật vô cùng thương xót, không nỡ để
sanh chúng cứ măi trầm luân như thế, nên Ngài mới
suy nghĩ t́m phương cách cứu độ.
Nhưng dùng phương cách nào mới có thể khiến
chúng sanh giác ngộ Phật tánh?
Không có phương pháp nào hơn là tuyên thuyết các
giới pháp, khiến cho tất cả chúng sanh nhất
nhất đều y theo đó giữ ǵn, mới có thể
chuyển mê thành ngộ, siêu phàm nhập thánh và hoàn thành vô
thượng Phật quả.
Đức Phật dùng tâm đại từ, đại
bi vận dụng những phương tiện khác nhau,
đem giới pháp Phật tánh sẵn có của chúng sanh khai
ra thành mười thứ để tuyên thuyết, cho nên
nói: “Mười Ba La Đề Mộc Xoa như thế
xuất hiện trong đời”. Mười Ba La Đề
Mộc Xoa chính là mười giới trọng căn
bổn.
Tâm Địa giới pháp trọng yếu dường
ấy, thế gian không dễ ǵ gặp được.
Hiện tại, nhờ đức Như Lai xuất
thế tuyên thuyết, mới có giới pháp này xuất
hiện trên thế gian. Chúng ta rất có phước duyên và
hạnh vận mới được gặp Tâm Địa
giới pháp này, nên phải phát tâm đại hoan hỷ,
hết ḷng tôn trọng cung kính đối với Ba La
Đề Mộc Xoa này và y theo đó, đúng như pháp tu tŕ,
mới mong ngộ nhập vào phạm vi giới pháp
Phật tánh.
Ba chữ “thị pháp giới” (pháp giới này),
chữ Pháp nghĩa là quỹ tắc hoặc phép tắc.
Nếu như có người hỏi chư Phật v́ sao mà
được thành Phật? Chúng ta ắt có thể đáp
lại một cách quả quyết rằng: “Căn cứ
vào quỹ tắc mười giới trọng mà
được thành Phật”.
Sự thành Phật của chư Phật đă rơ ràng
như thế, chúng ta nếu muốn thành Phật cũng
không có ǵ lạ; phải vâng theo phép tắc thành Phật này,
thể hiện một cách thiết thực, tu hành một
cách nhận chân, lẽ tất nhiên, sẽ đạt
đến mục đích thành Phật.
Nếu không vâng theo phép tắc này, không theo quy luật
này mà thực hành, mà muốn được thành Phật,
thiết tưởng đó là điều không thể
được. Và do v́ giới pháp này là phép tắc tu thành
Phật, nên kinh văn gọi là “giới pháp”.
Danh từ Ba La Đề Mộc Xoa là tiếng Ấn
Độ, trong kinh từ trước đến nay tiếng
Trung Quốc dịch là Biệt Biệt Giải Thoát.
Người đời không rơ được chủ ư
của Đức Phật khi chế giới, nên khi nh́n
thấy những giới điều của Ngài đă
chế định, trong đó Ngài dạy hàng đệ
tử việc này không được làm, việc kia không
được làm; từ đó, họ ngộ nhận
giới pháp của Phật giáo là một thứ thúc
phược con người, nên không dám phát tâm tin Phật,
cũng không dám thọ giới. Họ không biết rằng:
Giới pháp của Như Lai chế định chẳng
những không thúc phược chúng ta, mà là muốn cho chúng ta
được tự tại giải thoát.
Ư nghĩa Biệt Biệt Giải Thoát là như
thế nào?
- Nếu như nghiêm tŕ giới không sát sanh th́ chúng ta
đối với việc sát sanh này chắc chắn
được giải thoát.
- Như nghiêm tŕ giới không trộm cắp th́
đối với sự trộm cắp này, chúng ta mới
được giải thoát.
- Như nghiêm tŕ giới không dâm dục th́ đối
với việc dâm dục, chúng ta mới được
giải thoát.
Trên đây nêu ra ba giới để làm tiêu biểu.
Ngoài ra, nghiêm tŕ các giới pháp khác cũng đều
được giải thoát như vậy.
Trong phạm vi quan hệ với điểm này, tôi
cần phải giải thích rơ để quư vị khỏi
thắc mắc và không cảm thấy có sự khác lạ.
Tỷ như chúng ta tạo nghiệp sát sanh, đặc
biệt là sát nhân. Chính trong lúc tạo nghiệp là do bị
ma phiền năo xúi giục, sai sử, hoặc chính thân tâm ta
cho là không có ǵ tội lỗi. Nhưng sau khi đă tạo
nghiệp rồi, trong nội tâm của chúng ta lúc nào
cũng bị tồn tại một ám ảnh đă
giết người. Bấy giờ, dù chúng ta đi
đến bất cứ nơi nào, chúng ta cũng cảm
thấy dường như có người luôn theo sau muốn
giết ḿnh. Một khi đă có ư niệm như thế th́
trống ngực liền đập, nội tâm cảm
thấy không an ổn.
Tâm trạng bất ổn này chính là không giải thoát.
Trái lại, nếu chúng ta chưa từng có hành động
sát nhân bao giờ, th́ nội tâm luôn b́nh thản, không sợ
sệt, lại luôn được tự do tự tại.
Đó chính là do không tạo nghiệp sát sanh nên được
kết quả giải thoát rơ ràng như vậy. Không sát sanh
như thế th́ không trộm cắp cũng như vậy.
Nho thi có câu:
Vị nhơn bất
tác khuy tâm sự,
Bán dạ xao môn
diệc bất kinh.
Dịch:
Làm người đừng
mưu tâm làm hại kẻ khác th́ nửa đêm dù có bị
gơ cửa, ḷng cũng không kinh sợ.
Chẳng hạn, những kẻ trộm cắp tài vật
của người, đến lúc chiều tối, dù
ngủ ngon giấc cách nào, khi nghe tiếng gơ cửa
liền sanh tâm sợ hăi. Nếu không phải sợ
cảnh sát đến bắt th́ cũng sợ khổ
chủ bị mất tài vật đến t́m. Thâm tâm lúc
bấy giờ không được tự tại, an ổn.
Trái lại, nếu giữ ǵn giới không trộm cắp
thật nghiêm cẩn, không bao giờ trộm lấy tài
vật của người dù là một vật nhỏ, th́
trong lúc nửa đêm, dẫu có người đến gơ
cửa, trong tâm vẫn không chút ǵ sợ sệt. Không sợ
sệt tức là giải thoát.
Như trên đă thuyết minh về sự tai hại
và lợi ích của việc phạm giới, giữ
giới. Tiếp theo đây, xin nói qua giới dâm dục và
xin dẫn vài câu chuyện ngắn trong bộ Cảm
Ứng Thiên quyển 3, nói về tai hại của dâm
dục và lợi ích của sự giữ ǵn giới
cấm này.
* Truyện thứ
nhất:
Ở Trung Hoa, vào triều nhà Minh, tại xă Địch
Dương, có người tên Vương Cần Chính thông
dâm với một phụ nữ hàng xóm, và họ cùng nhau
ước hẹn đi nơi khác.
V́ sợ chồng đuổi theo kịp sẽ
rất nguy hại, người phụ nữ ấy bèn tính
kế giết chồng. Sau khi người chồng bị
giết, Cần Chánh nghe tin ấy, hoảng sợ, tức
khắc một ḿnh đến huyện Giang Sơn mong
trốn khỏi vụ án ấy.
Từ Địch Dương đến huyện Giang
Sơn cách nhau 70 dặm. Cần Chánh định chắc
đă xa, và có thể thoát qua tai họa. Trong lúc đi
đường, v́ bụng đói, anh ta ghé vào tiệm
ăn cơm. Chủ quán bảo người làm công dọn
một mâm cơm có chén đũa cho cả hai người
dùng. Cần Chánh thấy thế bảo rằng: “Chỉ
một ḿnh tôi, sao lại dọn cho hai người?”
Chủ quán đáp: “Khi năy tôi thấy có một người
bỏ tóc xơa cùng đi với ông vào tiệm, v́ thế tôi
bảo dọn cho hai người”.
Cần Chánh nghe qua vô cùng sợ hăi, biết là oan
quỷ tức chồng của t́nh nhân đi theo, liền
tự động đến quan huyện thú tội. Quan
huyện tức khắc cho bắt người đàn bà
kia. Thế là cả hai đồng bị xử án sát nhân.
* Truyện thứ
hai:
Lại tại huyện Kinh Khê có hai người, lúc
nhỏ cùng học một trường, kết bạn
với nhau rất thân thiện. Khi đến tuổi thành
niên, cả hai đều lập gia đ́nh. Một người
giàu có, một người th́ nghèo cùng, túng thiếu.
Người bạn nghèo có một cô vợ tuyệt
đẹp. Người bạn giàu kia thấy người
đẹp nên tính kế chiếm đoạt.
Một hôm anh ta nói với người bạn nghèo
rằng: “Tôi có quen một gia đ́nh đại phú, vợ
chồng anh có thể đến đó nương náu và an
sống”.
Người bạn nghèo nghe nói, tưởng là t́nh
bằng hữu măi thương nhau nên vô cùng cảm tạ.
Bấy giờ, bạn kia xuất tiền sắm một
chiếc ghe khá lớn để chở hành lư, rồi cùng
hai vợ chồng bạn cùng đi. Ba người chèo ghe
đến một ngọn núi, người bạn giàu
bảo bạn nghèo rằng: “Để chị ở đây
giữ đồ, tôi và anh đi trước lên núi”.
Người ấy dẫn bạn vào rừng rậm,
rồi tức khắc lấy búa dắt sẵn trong
lưng chém chết. Sau đó, giả vờ khóc lóc một
cách thê thảm, xuống núi bảo với vợ bạn
rằng: “Chồng chị chết v́ nạn cọp”.
Người phụ nữ vừa nghe xong ngă xuống
bất tỉnh nhân sự. Một hồi lâu nàng tỉnh
lại khóc lóc thê thảm. Người bạn giàu an ủi
rằng: “Tai nạn xảy ra là việc đă rồi,
giờ chị có quá buồn đau cũng không làm sao
được. Chị nên cùng tôi lên núi kiếm thi hài”.
Người phụ nữ dù hết sức đau
đớn, nhưng nghe nói cũng cố gắng đi t́m
thi hài của chồng. Người này dẫn vợ
bạn đến chỗ rừng suối rậm rạp,
liền ôm người đàn bà ấy và cầu làm việc
bất chánh. Người đàn bà la lên phản đối.
Ngay lúc ấy, bỗng nhiên mănh hổ nhảy ra ngậm anh
bạn giàu có đi một mạch. Người phụ
nữ thấy thế cả kinh và cho rằng quả
thật chồng ḿnh đă lọt vào miệng cọp, nên
vừa khóc kể, vừa lần xuống chân núi.
Lúc đang đi trông thấy xa xa có một
người vừa khóc,vừa đi đến,
người phụ nữ nhận ra đó chính là chồng
ḿnh. Khi vừa gặp nhau, cả hai nắm tay khóc lóc thê
thảm, rồi cùng thuật lại những việc đă
qua. Người chồng bảo: “Anh ấy toan làm nhục
em, nhưng không bị làm nhục; toan giết anh, nhưng
anh không chết, giờ đây anh đâu có ân hận ǵ!”
Người vợ cũng nói: “Cái khổ nhất
của em là tưởng anh đă chết, em toan báo thù
kẻ địch, nhưng kẻ địch đă tự
thọ báo, giờ đây em rất măn nguyện”.
Bấy giờ cả hai buồn vui lẫn lộn,
dẫn nhau xuống ghe cùng chèo về xóm.
Qua hai câu chuyện trên thuyết minh về việc
phạm dâm nghiệp mà bị hiện báo.
Tiếp theo đây, xin trích dẫn hai truyện
ngắn nói về sự giữ ǵn thân tâm thanh tịnh, không
phạm tội dâm mà được phước báo
hiện tại.
* Truyện thứ
nhất:
Ở Trung Hoa, tại tỉnh Chiết Giang, có quan
Chỉ Huy Sứ, rước một giáo sư về
nội dinh dạy con.
Một hôm, vị giáo sư bị bệnh
thương hàn, v́ muốn cơn bệnh mau nhẹ, nên
liệu trị theo cách phát hăn (làm cho toát mồ hôi), giáo
sư bảo học tṛ đi lấy mền. Cậu bé khi
đi lấy mền, v́ sơ ư, nên kéo luôn chiếc dép
của mẫu thân đến pḥng thầy giáo. Khi xông thuốc
lá xong, giáo sư bảo cậu bé đem trả mền th́
chiếc dép c̣n lại trong pḥng thầy giáo, nhưng cả
thầy lẫn tṛ đều không biết.
Quan Chỉ Huy Sứ trông thấy nghi ngờ vợ
ḿnh tư thông với thầy giáo nên tra hỏi người
vợ; nhưng tra hỏi cách nào phu nhân vẫn không chịu
tội. Quan Chỉ Huy Sứ lập mưu ḍ xét. Ông sai
một tỳ nữ đến pḥng thầy giáo gơ cửa
và nói lệnh bà mời thầy đến. Thầy giáo
cả giận mắng: “Đêm khuya giờ này mà mời cái ǵ!”
Tỳ nữ tức khắc về thưa lại.
Chỉ Huy Sứ bắt buộc phu nhân phải đích thân
đi. Khi phu nhân đi trước, quan Chỉ Huy Sứ
nối gót theo sau và cầm một thanh bạch nhẫn
(gươm trắng) đứng bên ngoài đợi mở
cửa. Phu nhân gơ cửa xin vào pḥng, thầy giáo liền
cự tuyệt và bảo rằng: “Giờ này phu nhân không
được phép vào pḥng tôi”.
Phu nhân khẩn khoản nhiều lần, nhưng
thầy giáo quyết định không mở. Hôm sau, theo
thường lệ mỗi buổi sáng, sau khi súc miệng, rửa
mặt, điểm tâm xong, thầy giáo sẽ bắt
đầu dạy học. Nhưng trái lại, thầy giáo
sau khi súc miệng, chải đầu xong, liền từ
biệt quan Chỉ Huy Sứ đi về.
Quan Chỉ Huy Sứ bấy giờ mới rơ sự
thật, nói rằng: “Tiên sinh thật là một bậc chân
quân tử”. Đoạn thuật hết đầu đuôi
tự sự chính ḿnh đă làm và thành tâm tạ lỗi,
mời thầy ở lại lớp tiếp tục giáo
huấn các con trong nhà.
Thầy giáo là một thanh niên trẻ tuổi. Trong
kỳ thi năm ấy, thầy đậu khoa cao, sau đó
làm quan trong nội triều.
* Truyện thứ
hai:
Cũng tại Trung Hoa, thời bấy giờ có
một tướng lănh tên Tŕnh Ngạn Tân. Lúc đi chinh
phạt tại Ninh Thành, trong thời gian ở thành nội,
một hôm, kẻ tả hữu đưa vào ba thiếu
nữ chưa chồng, không biết con nhà ai, dâng cho
tướng lănh. Ba cô đều là người quốc
sắc khuynh thành. Tướng công đang lúc rượu
say, thấy ba cô thiếu nữ c̣n quá trẻ, bảo
rằng: “Ba cô cũng như con gái tôi ở nhà, tôi đâu dám
làm việc phạm giới”. Sau đó, vị tướng
lănh ra lệnh thuộc hạ cho ba cô ăn uống no
đủ và dẫn vào một ngôi nhà tử tế cho
cả ba an nghỉ. Ngài ra ngoài khóa cửa lại. Đến
sáng, bảo người dẫn đến hỏi danh tánh,
xứ sở, cha mẹ, rồi sai người mang về
trao trả cho gia đ́nh.
Sau này, tướng công trí sĩ về cố
hương, tịnh dưỡng tu hành. Đến ngày từ
trần, ông đi từ biệt các thân hữu, rồi
niệm Phật mà tạ thế, hưởng thọ chín
mươi ba tuổi. Các con của ông sau này đều
đậu khoa cao và rất vinh hiển.
Truyện kể trên đă chứng minh cho chúng ta
thấy rằng giữ ǵn hạnh thanh tịnh, không
phạm tội mà được phước báo hiện
tiền.
Như thế, chúng ta thấy rơ những giới
điều của Phật chế định, ngăn
cấm việc này không được làm, việc kia không
được làm, chính là xuất phát từ tâm từ bi
của Phật. Ngài muốn cho chúng ta đi trên con
đường giải thoát, thoát hẳn sự thúc
phược và mọi khổ đau.
Thế nên người đời nếu quan niệm
những giới luật của Phật là những quy
điều bó buộc con người một cách vô ích, th́
họ hoàn toàn sai lầm. Có một điều chúng ta
cần phải biết: Bốn giới Sát, Đạo, Dâm,
Vọng thuộc về tánh giới. Đứng về
phương diện tội lỗi th́ gọi là tánh
tội. Nghĩa là bốn sự việc ấy bản
chất của chúng vốn là tội lỗi. Thế nên
nếu người nào giữ ǵn không phạm th́
được phước vô lượng; người nào
trái phạm th́ khổ quả vô biên. Không luận có Phật
ra đời hay không, có Phật chế giới hay không
chế giới, hễ nghiêm tŕ th́ được
phước, vi phạm th́ mang họa.
Như trên đă giải thích danh từ Ba La Đề
Mộc Xoa là Biệt Biệt Giải Thoát, cũng có thể
dịch là Bảo Giải Thoát. Nghĩa là người
thọ tŕ giới pháp này, nếu theo đúng pháp, giữ ǵn
không hề vi phạm, nếu là hành giả Thanh Văn
thừa, th́ Như Lai bảo đảm, chứng chắc
người ấy quyết định được
quả giải thoát tất cả vô minh, phiền năo v.v...
được chứng Pháp Thân thanh tịnh, đạt
đến quả vị như Phật.
Căn cứ vào ư nghĩa trên đây, chúng ta có thể
nói như vầy: “Lúc tu nhân, giữ ǵn tịnh giới
nghiêm cẩn, đạt đến chỗ chứng quả
Pháp Thân thanh tịnh nên gọi là Ba La Đề Mộc Xoa”. Tính
chất trọng yếu của Ba La Đề Mộc Xoa,
từ những thuyết minh trên, có thể nói, đă
được biểu thị một cách minh bạch.
Trong kinh Phạm Vơng này giảng mười giới
trọng căn bản gọi là Thập Ba La Đề Mộc
Xoa.
Trong Luận Du Già Bồ Tát Giới giảng bốn
giới trọng căn bản, gọi là Tứ Ba La Đề
Mộc Xoa.
Kinh Ưu Bà Tắc giảng sáu giới trọng
căn bản, gọi là Lục Ba La Đề Mộc Xoa.
Trong kinh Thiện Giới giảng tám giới căn
bổn th́ gọi là Bát Ba La Đề Mộc Xoa...
Như thế, các kinh giảng giới trọng
căn bổn, nhiều ít không đồng đều.
Mười Ba La Đề Mộc Xoa, Đức Phật đă
giảng, là phép tắc thành Phật của chúng sanh, nên
tất cả chúng sanh trong ba đời đều phải
đảnh đới thọ tŕ.
Hai chữ “đảnh đới” nghĩa là
đầu đội (bản Việt văn dịch là kính
trọng thọ tŕ).
Dùng “đầu đội” ư muốn nói sự tôn
trọng đến cực điểm, như đem
những vật quư báu đội lên đầu, không dám tùy
tiện sơ suất, không dám xem nhẹ mảy may và
cũng không dám có tâm khinh thường.
Hai chữ “thọ tŕ” là ư
nghĩa lănh thọ, chấp tŕ, biểu thị tinh thần
đối với giới pháp, từng giờ, từng phút
dùng tâm thể hội, như giữ ǵn cẩn thận
những vật ḿnh yêu tiếc, không một giây phút buông
bỏ, xa ĺa hoặc quên lăng.
Chỉ có thái độ tinh thần và đầu
đội tuân giữ đối với giới pháp như
thế mới mong tránh khỏi sự sai phạm giới
luật.
Đầu đội, vâng giữ giới pháp thành
Phật này, không chỉ riêng một chúng sanh nào cần
phải thực hành mà tất cả chúng sanh đều
phải thực hành. Không phải chỉ riêng đời
hiện tại, mà cả đến đời quá khứ,
vị lai, tất cả chúng sanh đều phải
thực hành đúng theo như thế.
Tóm lại:
Tất cả chúng sanh đều phải hết ḷng
tôn trọng giới pháp này. Trừ phi những chúng sanh nào
không muốn được giải thoát và thành Phật.
Trái lại, nếu muốn được giải thoát và
thành Phật th́ cần phải trân trọng tôn kính Ba La
Đề Mộc Xoa.
Nếu đối với Ba La Đề Mộc Xoa này
hơi có chút xem thường, hủy phạm, phá hoại mà
muốn thành Vô Thượng Phật Quả th́ hoàn toàn vô
vọng. Tính chất trọng yếu của giới pháp
chúng ta đă có thể thấy rơ nơi đây, nên tôi (pháp
sư giảng kinh) hy vọng mỗi hành giả đang tu
học Phật pháp, đối với giới pháp thành
Phật này, phải đúng theo pháp mà đảnh
đới thọ tŕ (đầu đội vâng giữ).
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật xuất
hiện trong nhân gian v́ muốn cho chúng sanh biết rơ
trọng yếu tính của giới pháp này, nên Ngài v́
đại chúng đương thời giảng lại
Thập Vô Tận Tạng Giới Phẩm (câu này bản
Việt văn dịch là “Đức Phật v́ trong đại
chúng này mà giảng lại giới phẩm Vô Tận
Tạng).
Hai chữ “đại chúng” trong kinh văn
đoạn này, chỉ cho hàng tứ chúng hiện tiền có
thể bẩm thọ giới pháp, cùng với chúng thiên,
long, bát bộ quỷ thần v.v... Nhân v́ giới pháp này,
bất luận người nào, chúng sanh nào chỉ cần
hiểu được lời giảng của Pháp Sư
truyền giới th́ đều có thể bẩm thọ.
Hai chữ “trùng thuyết” trong câu “trùng thuyết Vô
Tận Tạng Giới Phẩm” (giảng lại giới
phẩm Vô Tận Tạng), chứng tỏ trước
đă giảng qua, hiện tại giảng lại lần
nữa, hoàn toàn không có ư nào mới lạ, cho nên gọi là
“trùng thuyết”. Hoặc trước kia, Đức Phật Lô
Xá Na ở thiên cung v́ chư Bồ Tát và chư thiên nhân
đă giảng qua 10 Ba La Đề Mộc Xoa này. Giờ
đây, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng sanh trong cơi
nhơn gian đây giảng lại 10 giới phẩm Vô
Tận Tạng.
Có người cho: Đem trọng yếu tính của
giới pháp để giảng nói, chỉ dạy cho
mọi người một lần là đủ rồi, sao
lại phải giảng nói lại lần nữa?
Nên biết: Giới là nền tảng thành Phật.
Trong kinh Hoa Nghiêm dạy: “Giới vi Vô Thượng Bồ
Đề bổn” (giới pháp là căn bổn để thành
tựu Vô Thượng Bồ Đề). V́ thế, tuy đă
nói một lần rồi, phải nói lại lần
nữa, mà không cảm thấy nhàm chán, phiền nhọc
để cho chúng sanh đối với giới pháp này luôn
đề cao cảnh giác, đem giới pháp này ghi nhớ
trong năo hải, không được quên lăng.
Khi Đức Phật c̣n tại thế, Ngài v́ chúng
đệ tử xuất gia và tại gia cùng chế
định nguyên tắc nửa tháng tụng giới
một lần. Chính Đức Phật cứ mỗi nửa
tháng, Ngài cũng tự tụng giới, đây là ư nghĩa
Trùng Thuyết.
Đức Đạo Tuyên Luật Sư, sơ tổ
của Luật Tông Trung Hoa, cứ mỗi nửa tháng, v́
đại chúng công khai tụng với chúng một lần;
riêng cá nhân, Tổ lại tụng đến 10 lần. Đây
đều là biểu thị ư nghĩa chư Phật
Như Lai, chư Đại Bồ Tát tôn trọng kính cẩn
đối với giới pháp chưa đủ, lại c̣n
phải tụng nhiều lần cho thuần thục
điều văn của mỗi giới.
Nếu không nằm ḷng giới điều th́ sẽ
không biết thế nào là Tŕ, thế nào là Phạm, có khi
phạm giới vẫn không biết, lại tự cho ḿnh
là tŕ giới, thật nguy hiểm biết dường nào!
Nếu như thường tụng giới,
thường giảng giới th́ đối với
việc tŕ phạm, ghi nhớ rơ ràng, biết việc nào
không nên làm, nếu làm th́ phạm giới. Nhờ thế,
nhất cử, nhất động của chúng ta
đều có sự lưu ư giữ ǵn, nên không đến
nỗi xảy ra những việc vi phạm giới
luật.
Đức Phật trước v́ chúng sanh giảng nói
mười Ba La Đề Mộc Xoa, rồi từ 10 Ba La
Đề Mộc Xoa diễn rộng ra thành 48 giới khinh.
Lại từ 48 giới khinh khai triển ra thành ba ngàn oai
nghi, tám muôn tế hạnh. Rốt sau, đối với
giới Bồ Tát diễn thành vô cùng vô tận; cho nên
gọi là Vô Tận Tạng Giới.
Như trên đă thuyết minh, bất luận
giới pháp Phật tánh hay Quang Minh Kim Cương Bửu
Giới này mà Đức Phật Lô Xá Na thường tŕ
tụng trong thời kỳ tu nhân là chỉ có một
giới này duy nhất.
Tại sao hiện tại gọi là Vô Tận
Giới?
Tâm Địa diệu giới, thật tế mà nói,
chỉ là một giới mà thôi. Nhưng v́ do tâm niệm
của chúng sanh vô tận nên giới pháp này cũng thành ra vô
tận.
Trong kinh Anh Lạc thuyết minh: “Giới pháp của
tất cả phàm, thánh đều lấy tâm làm thể. Tâm
nếu như có chỗ cùng tận th́ giới pháp cũng có
chỗ tận cùng; nhưng v́ tâm không cùng tận nên giới
pháp cũng không cùng tận”.
Cho nên Vô Tận Tạng Giới vốn là do tâm
thể vô tận mà sinh ra. Giới pháp của Bồ Tát dù có
nhiều đến vô cùng, vô tận như vậy, nhưng
đều không ĺa bản thể của tự tâm. V́
thế nên gọi là một giới.
Tâm Địa diệu giới bản thể của nó
vốn là nhất vị b́nh đẳng, không thể nói có
nhiều thứ sai khác. Nhưng ở trước sở
dĩ nói Vô Tận Giới Tạng, chẳng qua v́ nhắm
vào sự sai biệt của giới tướng. Nếu
như căn cứ vào giới thể mà nói th́ vẫn là
một chớ không phải nhiều.
Đức Phật giảng Vô Tận Tạng Giới v́
ngại rằng chúng sanh căn cứ vào giới
tướng mà sanh vọng tưởng chấp
trước, rồi đối với Giới Thể
Bổn Hữu lại quên mất. Cho nên bấy giờ
lại phải đem giới tướng vô tận quy
nạp về giới thể bổn hữu; nhưng
giới thể này không phải từ bên ngoài mà đến,
cũng không phải do người nào cấp cho, mà chính là
giới pháp Phật tánh sẵn đủ của tất
cả chúng sanh.
Phật tánh này là bổn nguyên tự tánh thanh tịnh.
Từ nơi giới pháp này, chúng sanh cùng Phật
đồng nguyên gốc. Phật tánh tự nó từ xưa
nay thanh tịnh. Chỉ có điểm bất đồng là
ở chỗ chư Phật đă trở lại bổn
nguyên, khôi phục được tự tánh thanh tịnh
ấy, c̣n phàm phu chúng ta v́ chưa trở về bổn
nguyên, nên cần phải bẩm thọ giới pháp mới
khôi phục được tự tánh thanh tịnh của
ḿnh. Dù chưa khôi phục được tự tánh thanh
tịnh, dù măi c̣n trôi lăn trong biển sanh tử, nhưng
nếu suy t́m đến tận nguồn gốc th́ tự
tánh vẫn là thanh tịnh, từ trước đến
nay chưa từng bị nhiễm ô.
Ở đây một vấn đề đặt ra là
tại sao giới pháp Phật tánh sẵn đủ của
chúng sanh, nếu vốn đă là bổn nguyên thanh tịnh,
sao lại c̣n phải bẩm thọ Vô Tận Tạng
Giới?
Đối với điểm này, Phật đă dạy
rơ: “Như Lai nói Vô Tận Tạng Giới là phương
tiện của Như Lai, người bẩm thọ Vô
Tận Tạng Giới là phương tiện của
người bẩm thọ”.
Như vậy, Phật tánh vẫn là căn bổn
của giới pháp, là tự tánh thanh tịnh vốn
sẵn có từ xưa đến nay của chúng sanh,
lấy giới pháp Phật tánh làm thể sở y. Hành
giả sở dĩ cần phải bẩm thọ giới
pháp, mục tiêu duy nhất là v́ khôi phục bổn nguyên
tự tánh thanh tịnh.
Nếu như không bẩm thọ giới pháp th́ không
làm sao có thể khôi phục bổn nguyên tự tánh thanh
tịnh. Cũng v́ lư do ấy, Đức Phật đă v́ chúng
sanh giảng nói Vô Tận Giới Tạng. Thế th́
thuyết giả hay thọ giả đều là tối
yếu, nếu không th́ không thể khôi phục bổn nguyên
tự tánh thanh tịnh.
A.4.1.4. TỤNG
TIỀN KHỞI HẬU (tụng phần trước, khởi
phát phần sau)
A.4.1.4.1. XÁ NA THỈ
THỌ
(Đức Phật Xá Na bắt đầu thuyết trao
giới pháp)
Kinh văn
1. Phiên âm
Từ câu “ngă kim Lô Xá Na...” cho đến câu “...cam
lộ tức khai”.
2.
Dịch nghĩa
Nay ta là Lô Xá Na
Đang ngự trị
trên đài Liên Hoa
Trên ngh́n cánh sen
đơm ṿng
Lại hiện ra
ngh́n đức Thích Ca
Mỗi cánh sen trăm
ức cơi,
Đều ngồi
dưới cội Bồ Đề
Đồng thời thành
Chánh Giác đạo,
Ngh́n trăm ức
Phật cũng vậy.
Lô Xá Na là bổn thân,
Ngh́n trăm ức
Phật Thích Ca
Đều đem theo vi
trần chúng.
Cùng nhau đến
tại chỗ Ta.
Để nghe Ta tụng
Phật giới,
Ta liền giảng
môn cam lộ...
Lời giảng:
Ở phần trên là lối văn trường hàng,
từ đây trở về sau là lối văn trùng
tụng. Trong mười lăm câu kệ trên, câu
đầu tiên nói rơ Phật Lô Xá Na bắt đầu
truyền trao Quang Minh Kim Cương Bửu Giới.
Trong kinh thường nói Phật có ba thân: Pháp thân, Báo
thân và Ứng thân. Theo như tông Thiên Thai th́:
- Đức Tỳ Lô Xá Na là biểu tượng cho Pháp
thân Phật.
- Đức Lô Xá Na là biểu tượng cho Báo thân
Phật.
- Đức Thích Ca Mâu Ni là biểu tượng cho
Ứng thân Phật.
Nhưng theo kinh Hoa Nghiêm giảng th́:
- Đức Tỳ Lô Xá Na chính là đức Lô Xá Na, và
ngược lại. Hai thân ấy chỉ là một mà thôi,
không nên phân biệt. Kinh Hoa Nghiêm do đức Lô Xá Na
Phật tuyên thuyết bởi v́ đức Lô Xá Na chính là
đức Tỳ Lô Xá Na.
Cho nên bộ Hoa Nghiêm bổn dịch ở triều
Tấn, gồm sáu mươi quyển, để là Đức
Phật Lô Xá Na; trong khi cũng bộ Hoa Nghiêm nhưng
bổn dịch ở triều Đường gồm tám
mươi quyển th́ để là đức Tỳ Lô Xá
Na.
Lô Xá Na là tiếng Ấn Độ, Trung Quốc dịch
là Tịnh Măn.
- Chữ Tịnh ư muốn nói sự tu hành khi
đạt đến quả vị Phật th́ bao nhiêu
tội ác và các thứ hư vọng đều diệt
trừ hết sạch, không c̣n một sợi tơ hay mảy
lông, cho nên gọi là Tịnh.
- Chữ Măn có nghĩa là khi sự tu hành đă
đạt đến quả vị Phật th́ bao nhiêu
thiện pháp, vô lượng vô biên công đức
đều đă tu tập, đă viên măn tất cả, không
c̣n thiếu sót cả đến sợi tơ, mảy lông,
nên gọi là Măn.
Nói một cách đơn giản hơn, tất
cả mọi nhiễm pháp đều đoạn dứt
không c̣n thừa, tất cả tịnh pháp đều viên
măn trang nghiêm, không thiếu. Đấy gọi là Lô Xá Na
Phật.
Có nơi gọi là Quang Minh Biến Chiếu; danh
từ này vốn dịch từ đức hiệu Tỳ
Lô Xá Na. Bởi v́ tông Hoa Nghiêm xem Lô Xá Na và Tỳ Lô Xá Na là
một. V́ vậy, cũng dịch đức hiệu Lô Xá
Na là Quang Minh Biến Chiếu.
Thông thường trong kinh giải thích danh từ Quang
Minh Biến Chiếu như sau: “Nội trí dĩ quang,
chiếu chơn pháp giới. Ngoại dĩ thân quang
chiếu ứng đại cơ” (Bên trong dùng Trí quang
chiếu chơn pháp giới; bên ngoài dùng thân quang chiếu
ứng đại cơ - đại cơ là chỉ cho
Đại Bồ Tát).
Chư cổ đức cũng nói: “Đức hiệu
Tịnh Măn là ư chỉ sự tự thọ dụng thân mà
đặt tên; đức hiệu Quang Minh Biến Chiếu
là ư chỉ sự tha thọ dụng thân mà đặt”.
Dù có sự sai khác nhưng tự thọ dụng thân
hay tha thọ dụng thân đều chỉ cho báo thân
của Phật.
- Tự thọ dụng báo thân là chỉ cho quả
vị cứu cánh, chư Phật đă chứng đắc
Trí đức và Đoạn đức.
- Tha thọ dụng báo thân tức chỉ sát trần
tướng hảo (tướng tốt của báo thân
rất nhiều, không thể tính kể, dường như
vi trần của sát độ nên gọi là “sát trần
tướng hảo”).
Hàng Địa Thượng Bồ Tát tùy theo tâm
lượng của các Ngài mà trông thấy v́ mỗi mỗi
tướng tốt đều không có chừng ngằn,
hạn lượng.
Câu “ngă kim Lô Xá Na” (nay ta là Lô Xá Na), tức chánh báo
của Phật.
Câu “phương tọa Liên Hoa đài tạng”
(đang ngồi trên đài Liên Hoa) chỉ cho bổn
độ của Đức Phật Lô Xá Na, cũng tức là y
báo của Phật.
Chữ “ngă” trong câu “ngă kim Lô Xá Na” là chữ
đức Lô Xá Na tự xưng ḿnh, có nghĩa là Ta hoặc
Tôi.
Nhưng Đức Phật Lô Xá Na cũng là bậc đă
chứng quả vị, tuyệt đối phá trừ
tất cả cái Ngă, hoàn toàn không c̣n chấp ngă. V́ nếu
c̣n chấp ngă th́ chưa thể thành Phật. V́ vậy,
chữ Ngă dùng ở đây không phải là cái Thật Ngă
của hạng phàm phu vọng chấp, cũng không phải
là Thần Ngă của ngoại đạo vọng chấp là
có thật, mà chỉ thuận theo Thế Đế giả danh
mà gọi là Ngă, cũng gọi là Vô Sanh Ngă, “ngă” trong Vô Ngă.
Không nên xem chữ Ngă ở đây là Thật Ngă của phàm
phu hay Thần Ngă của ngoại đạo.
Chữ “kim” nghĩa là hiện tại, dùng chỉ
thời gian Đức Phật đang thuyết giới, không
thuộc về quá khứ hay vị lai, mà chính là ở ngay
lúc hiện tại đương thời. Trong lúc
đức Lô Xá Na thuyết giới, Ngài ngự ở
đâu?
Chính ngay trên đài Liên Hoa. Theo nhăn quang của chúng sanh
quan sát th́ thấy Chánh Báo là Chánh Báo, Y Báo là Y Báo. Hai thực
thể này cách biệt không thể dung thông thành một,
nhưng với Phật nhăn th́ chân Chánh Báo là Y Báo, Y Báo là
Chánh Báo, cả hai dung thông lẫn nhau. Căn thân cùng
quốc độ xưa nay không phải là hai, và vốn
không thể phân chia, sai biệt.
Chữ “phương” trong câu “phương tọa Liên
Hoa đài” có hai nghĩa:
1. Chỉ cho thời gian sắp ngự nhưng
chưa ngự, v́ đức Lô Xá Na sắp v́ chúng sanh
truyền trao Quang Minh Kim Cương Bửu Giới,
tất nhiên trước tiên, Ngài chuẩn bị đến
ngồi trên Liên Hoa đài.
2. Nói rơ thời gian đă ngồi, nghĩa là Đức
Phật sắp truyền trao Quang Minh Kim Cương Bửu
Giới nên đă an tọa trên Liên Hoa Đài.
Liên Hoa là h́nh tượng của Hoa Tạng thế
giới giống như hoa sen.
Chữ Đài nghĩa là cao hiển, như thông
thường gọi là cái đài cao. Đây biểu thị tâm
địa diệu giới của Đức Phật Lô Xá Na
sắp tuyên thuyết. Trên thế gian này, không có một pháp
nào có thể sánh kịp, không pháp nào có thể trên Tâm Địa
diệu giới; không một pháp nào vượt qua Tâm
Địa diệu giới. Trong giới Thanh Văn có hai câu
tụng:
Nhứt thiết chúng
luật trung,
Giới kinh vi tối
thượng.
Dịch:
Trong tất cả luật giới
Giới kinh là trên hết.
Hơn nữa, chữ Đài là ở chính giữa, có
thể hàm nhiếp mười phương, biểu
thị đức Lô Xá Na là chủ trong ngàn Đức Phật
và Tâm Địa diệu giới là căn bản của các
giới. Đức Phật Lô Xá Na ngồi trên đài Liên Hoa,
thân của Ngài cùng với đài Liên Hoa tương xứng
vừa vặn, không lớn, không nhỏ, tức biểu
thị nghĩa mầu viên dung của y báo và chánh báo trùng
trùng, thân và độ (cơi nước) không có hai.
Cũng có thể nói: tâm tánh của chúng sanh ở cơi
này chính là một hoa sen đẹp, không những ở
nơi bùn không dính bùn mà c̣n mang ư nghĩa nhân quả
đồng thời. Chính v́ tâm tánh của chúng sanh ở
thế giới này là một đóa sen đẹp, nên
thế giới Hoa Tạng giống như đóa hoa sen.
Thế giới nương nơi tâm tánh của chúng sanh mà
hiển hiện, và cũng y theo tâm tánh của chúng mà an
trụ, cho nên nói: “Phương tọa Liên Hoa đài”.
Hoa sen có những điểm đặc sắc:
- Ở nơi bùn mà không nhiễm bùn, vẫn luôn
giữ được bản chất tinh khiết,
thường hằng vĩnh viễn. Đây là biểu thị
tâm địa bất biến của giới thể. Lúc
ở địa vị phàm phu, xem ra dường như
bị ô nhiễm, nhưng thực tế không có
tướng cấu nhiễm. Lúc ở địa vị
Thánh Nhân, trông thấy dường như thanh tịnh,
nhưng thực tế không có tướng thanh tịnh.
Cổ đức có câu: “Xử sanh tử lưu, ly
châu độc diệu ư thương hải. Cư
Niết Bàn ngạn, quải luân cô lăng ư bích thiên” (Trong
ḍng sanh tử, ly châu riêng chiếu nơi biển cả.
Ở bờ Niết Bàn, trăng sáng soi riêng trên trời
xanh).
Hai câu “ly châu độc diệu ư thương
hải; quải luân cô lăng ư bích thiên” tượng
trưng Tâm Địa diệu giới như như bất
biến, ở thánh bất tăng, ở phàm bất
giảm. Ở thánh không có tướng thanh tịnh, ở
phàm không có tướng ô nhiễm. Giống như hoa sen
“cư trần bất nhễm trần”, cũng như
hạt ngọc dưới cổ con Ly long luôn soi sáng trong
biển cả, cũng như vầng minh nguyệt lơ
lửng luôn soi sáng nơi trời xanh.
- Hoa sen khi lên khỏi mặt nước th́ hết
sức trong sạch thơm tho. Trong kinh Phật thuyết A
Di Đà nói: “Vi diệu hương khiết” là chỉ cho
nghĩa này.
Dùng hai đặc tính hoa
sen kể trên để biểu thị cho Tâm Địa
giới thể trước cũng như sau luôn tinh
khiết, trong sạch, thơm tho, bát ngát, không bị
bất cứ sự huân nhiễm nào của ác pháp mà bị
biến đổi.
Hoa sen lại c̣n đặc tính nở búp, biểu
thị ư nghĩa đức Lô Xá Na Phật khai thật
Nhất Thừa Tâm Địa giới pháp, diễn nói bằng
cách dùng Quyền thừa phân ra mười giới trọng
và bốn mươi tám giới khinh. Đến rốt sau, Ngài
lại đem Quyền (mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh) hội quy về
Thực (bổn nguyên tự tánh thanh tịnh tâm địa
giới thể duy nhất).
Hai câu:
Châu tráp thiên hoa
thượng,
Phục hiện thiên
Thích Ca
Dịch:
Trên ngàn cánh sen
đơm ṿng
Lại hiện ra ngàn
Thích Ca.
Hai chữ “châu tráp” là vây quanh thành ṿng tṛn. Chữ “hoa”
trong hai chữ “thiên hoa” thông thường gọi là
“biện hoa” (biện: cánh), v́ hoa sen có nhiều cánh, nói cánh
hoa nhưng chủ ư là chỉ cho toàn bộ đóa hoa
(đây chỉ là cách nói hoán dụ).
Hoa sen ở nhân gian lớn nhất chỉ mấy
mươi cánh là cùng, nhưng hoa sen ở thiên giới so
sánh với hoa sen ở nhân gian th́ lớn hơn nhiều, có
đến hơn trăm cánh. Hoa sen của chư Phật,
Bồ Tát ngồi lại lớn hơn hoa sen ở thiên
giới. Mỗi đóa hoa có ngàn cánh, như vậy, trong ngàn
cánh hoa đơm ṿng này lại hiện ra ngàn Phật Thích
Ca.
Hai chữ “phục hiện” ở câu “phục
hiện thiên Thích Ca” có sự liên hệ tương tục:
- “Châu tráp thiên hoa thượng” và “phương
tọa liên hoa đài” hai câu này chỉ về y báo.
- “Phục hiện thiên Thích Ca” và câu “ngă kim Lô Xá Na”, hai
câu ấy thuộc về chánh báo.
Trước tiên, trông thấy ngàn cánh hoa (y báo), sau
trông thấy ngàn Phật Thích Ca ở trên ngàn cánh hoa hiện
ra, cho nên dùng chữ “phục hiện”. Như thế
nếu phân tích th́ thấy trên một cánh hoa sen có một
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trên ngàn cánh hoa sen tức nhiên có
ngàn đức Thích Ca Mâu Ni.
Như phần trước đă giải, Thích Ca tiêu
biểu cho ứng thân Phật, tùy theo cơ cảm của
chúng sanh mà thị hiện. Trong kinh đôi lúc chia làm 2
loại: ứng thân và hóa thân.
- Ứng thân chính là ngàn Đức Phật.
- Hóa thân là chỉ cho trăm ngàn ức Phật Thích
Ca.
Sở dĩ như thế là v́ không có một thân nào
của Phật thị hiện mà không phải v́ một
sự kiện duy nhất: hóa độ các loại chúng sanh
bất đồng.
Ngàn Phật Thích Ca ngồi trên ngàn cánh sen, chúng ta
đă cảm thấy rất nhiều Phật. Thế
nhưng tiếp theo trên mỗi cánh sen lại có trăm
ức quốc độ, và trong mỗi quốc độ
lại có một đức Thích Ca đi du hành giáo hóa (Trong
bản Việt văn, dùng hai câu sau đây để phiên
nghĩa: “Mỗi cánh sen trăm ức cơi, mỗi cơi một
Phật Thích Ca”).
Trong mỗi quốc độ, mỗi quốc
độ có một Phật Thích Ca, trăm ức quốc
độ trăm ức Đức Phật Thích Ca. Ngàn cánh sen
có trăm ngàn ức quốc độ, như vậy
sẽ có đến trăm ngàn ức Đức Phật Thích
Ca.
- Về mặt không gian, chúng ta thấy số
quốc độ có đến trăm ngàn ức như
vậy, lẽ đương nhiên giữa các quốc
độ đều có vô lượng sự khác biệt
nhau. Trong trăm ngàn ức quốc độ sai khác vô
lượng vô biên ấy, có trăm ngàn ức Phật Thích
Ca, tính như vậy th́ biết là rất nhiều.
- Về phương diện thời gian, Phật
Thích Ca tuy nhiều như vậy, nhưng đó chỉ là
những ứng thân và hóa thân của Ngài, cho nên sự thành
Phật của trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca
không có sự sai biệt khác nhau về thời gian. Và chính
v́ sự không có sự sai khác bất đồng về
vấn đề thời gian, cho nên ngàn Đức Phật
Thích Ca đều ngồi dưới cội Bồ Đề,
cùng trong một lúc hoàn thành Phật đạo.
Cho đến trăm ngàn Phật Thích Ca cũng
đều đồng ở trong một thời gian
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Đoạn
chú thích này để giải thích hai câu kinh tụng trong
bản Việt văn: “Đều ngồi dưới gốc
cội Bồ Đề, đồng thời Chánh Giác đạo”.
Ư nói ứng thân và hóa thân Phật ở trong trăm ngàn
ức quốc độ thị hiện thành Phật và
thuyết pháp độ sanh, tuyệt đối không có
vấn đề phân biệt trước sau.
Tại sao vậy?
V́ mục đích duy nhất của ứng thân và hóa
thân Phật là v́ độ những chúng sanh hữu duyên nên
thị hiện hai h́nh tướng ấy. Nhưng cơ
duyên của các chúng sanh trong quốc độ nào đă
thuần thục cần hóa độ th́ ở trong quốc
độ ấy thị hiện thành Phật để hóa
độ.
Nếu như khi chúng sanh trong trăm ngh́n ức
quốc độ, nhân duyên hóa độ đă thuần
thục, lúc bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật
xem việc hóa độ chúng sanh là trách nhiệm của
Ngài, nên đương nhiên trong trăm ngh́n ức quốc
độ khác nhau đó, đồng trong một lúc, Ngài
thị hiện thành Phật đạo để hóa
độ.
Đức Phật bao giờ cũng tùy cơ duyên
của chúng sanh mà phó cảm, không bao giờ để
mất thời cơ. Như thủy triều trong biển
cả, lúc lên, lúc xuống đều có thời gian nhất
định không sai chạy, đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật trong ngh́n trăm quốc độ thị
hiện thành Phật cũng lại như thế.
Ngoài ra, sự kiện từ nơi Phật Lô Xá Na
thị hiện ngàn Phật Thích Ca hay ngàn trăm ức
Phật Thích Ca chính là từ Thể mà khởi ra Dụng.
Nếu như hỏi ngàn trăm ức Phật Thích
Ca từ đâu mà có?
Lẽ đương nhiên là từ bổn thân
của Phật Lô Xá Na thị hiện mà có. Như vậy,
trăm ngàn ức Phật Thích Ca vốn phát xuất từ
chính Đức Phật Lô Xá Na. Đó chính là quy tŕnh thu nhiếp
Dụng trở về Bổn. Đoạn này dùng để
giải thích hai câu kệ trong bổn Việt dịch:
Ngh́n trăm ức
Phật như vậy,
Lô Xá Na là bổn thân.
Đem sự biến Dụng (ngh́n trăm ức
Phật Thích Ca) thu nhiếp lại để quy nạp
về Căn Bổn (Phật Lô Xá Na), v́ ngàn trăm ức
Phật Thích Ca thuộc về thân “sở hóa hiện”
(đối lập với năng hóa hiện) của ngàn
Phật Thích Ca. Suy luận ngược lại th́ ngàn
Phật Thích Ca đương nhiên chính là bổn thân
của ngàn trăm ức Phật Thích Ca. Tương tự,
ngàn Phật Thích Ca là thân sở hóa hiện của Phật
Lô Xá Na. Như vậy, đương nhiên Phật Lô Xá Na là
bổn thân của ngàn Phật Thích Ca.
Cho nên Dụng dù có đến ngh́n, trăm, ức
như vậy, nhưng Thể thực ra chỉ là một
mà thôi. Nên bộ Phát Ẩn giải thích hai câu kệ này
như sau: “Phật Lô Xá Na là Bổn, ngàn Phật Thích Ca là
Tích. Ngàn Phật Thích Ca là Bổn, trăm ức Phật
Thích Ca là Tích. Bổn Phật hay Tích Phật không phân
trước sau, đồng thành Phật một lúc. Đây chính
là tượng trưng cho Thể và Dụng vốn không hai
vậy”.
Về mặt danh từ, dù phân chia ra Bổn và Tích,
nhưng đừng sinh ư tưởng là có hai. V́ ngàn trăm
ức Phật Thích Ca tức là một thân của Đức
Phật Lô Xá Na mà thôi.
Nói thí dụ cho dễ hiểu: Ảnh tượng
của vầng minh nguyệt hiện khắp trăm ngàn
ức sông hồ, nhưng ngước nh́n lên không trung
chỉ thấy một vầng minh nguyệt duy nhất.
Lại như ngh́n trăm ức người đồng
dùng miệng truyền âm thanh; âm thanh từ mỗi
người tuy có sai khác, nhưng tiếng vang ở hang
trống không thể phân biệt. Ứng thân và hóa thân
Phật vô cùng vô tận, nhưng về Pháp Thân chỉ có
một và bất di bất dịch như vậy.
Phật Thích Ca phân thân ở ngh́n trăm ức
quốc độ, đương nhiên phải có chúng sanh
được hóa độ nhiều như vi trần trong
những quốc độ ấy. Lúc bấy giờ,
Phật Thích Ca đem vi trần chúng sanh được giáo
hóa ấy, từ các quốc độ đến thế
giới Liên Hoa Đài Tạng. Một Phật Thích Ca dẫn
dắt vi trần chúng sanh, ngàn trăm ức Phật Thích Ca
đem theo ngàn trăm ức vi trần chúng sanh. Cho nên nói:
“Các tiếp vi trần chúng” (đều đem theo vi
trần chúng). Danh từ “vi trần” có nghĩa là hạt
bụi nhỏ, dùng để chỉ con số nhiều
đến mức không thể ước lượng
được, cũng ví như những hạt bụi
nhỏ, không thể nào đếm được.
Kinh Phạm Vơng quyển Thượng thuyết minh:
“Bấy giờ Đức Phật Thích Ca liền ḱnh tiếp
đại chúng trong thế giới này đến cung Bách
Vạn Ức Tử Kim Cang Quang Minh ở thế giới
Liên Hoa Đài Tạng, để ra mắt Đức Phật Lô Xá
Na, Ngài đang ngự trên bửu ṭa trăm ngàn ức cánh
sen sáng suốt rực rỡ”.
Văn tụng ở phần này dùng chữ “tiếp”,
nhưng trong phần văn trường hàng th́ lại dùng
chữ “ḱnh tiếp”.
- Trong kinh Duy Ma Cật nói: “Thủ ḱnh đại
thiên”.
- Kinh Pháp Hoa nói: “Thần thông tiếp chúng”.
Kinh Duy Ma Cật ở phẩm Kiến A Súc Phật,
phẩm 12, giải thích: “Sở dĩ dùng từ ‘thủ
ḱnh đại thiên’ nhân v́ đại chúng trong pháp hội
lúc Phật nói kinh Duy Ma Cật đều sanh tâm khát
ngưỡng, muốn được thấy thếu
giới Diệu Hỷ và đức Vô Động Như Lai,
cùng với chúng Bồ Tát, Thanh Văn, của thế
giới ấy. V́ vậy, Đức Phật bảo Bồ Tát
Duy Ma Cật tiếp lấy thế giới Diệu Hỷ
cùng với chúng Bồ Tát, Thanh Văn... đem đến
cơi Ta Bà cho đại chúng được xem thấy”.
Đức Duy Ma Cật Bồ Tát phụng mệnh
Đức Phật, hiện thần thông, dùng tay hữu
tiếp lấy thế giới Diệu Hỷ và đức
Bất Động Như Lai cùng với chúng Bồ Tát, Thanh
Văn... đem đến thế giới Ta Bà cho
đại chúng được trông thấy. Bồ Tát
tiếp lấy thế giới Diệu Hỷ về
mặt y báo lẫn chánh báo một cách dễ dàng như
những người thợ gốm để đất
vào khuôn. Khi Bồ Tát đặt thế giới ấy trên
tay đem về thế giới Ta Bà này giống như Ngài
để một tràng hoa trên tay và đưa cho đại
chúng xem.
Mặc dù các từ ngữ không giống nhau, nhưng
ư nghĩa giữa các kinh vẫn tương đồng.
Đức Phật Thích Ca tiếp vi trần chúng sanh đến
nơi nào?
Hiển nhiên là đến Hoa Tạng thế giới
của Phật Lô Xá Na cư trú vậy. Đoạn này giải
thích câu “cùng nhau đến tại chỗ Ta” trong bổn
Việt dịch.
Hai chữ “câu lai” (cùng đến) ư nói rằng
chẳng những vi trần chúng sanh được
tiếp nhận đưa đi, mà chính ngh́n trăm ức
Phật Thích Ca cũng đồng đi đến nơi
đức Lô Xá Na Phật. Khi đến nơi, việc
đầu tiên là ngàn, trăm, ức Phật Thích Ca (người
đưa đại chúng: năng tiếp) và vi trần
chúng sanh (những kẻ được đưa
đến: sở tiếp), đồng kính lễ
đức Lô Xá Na Phật. Sau khi kính lễ xong, tất
cả đều nghe Đức Phật Lô Xá Na đích thân
tụng Tâm Địa đại giới của chư
Phật. Đây cũng chính là giới pháp Ngài hằng tŕ
tụng. Giới pháp này gọi là Quang Minh Kim Cương
Bửu Giới.
Một điểm cần lưu ư là tại sao ở
đây dùng từ “tụng giới” mà không dùng từ
“giảng giới” trong câu “để nghe ta tụng
giới?”
Nguyên v́ Tâm Địa pháp giới vốn do chư
Phật đồng chứng đắc, cùng nhau truyền
thừa, bất luận chư Phật thời quá khứ,
hiện tại hay vị lai, chỗ sở chứng và
truyền thừa đều là Tâm Địa pháp giới này.
Ngoài Tâm Địa pháp giới này ra không c̣n một giới pháp
nào khác.
Chư Phật thời quá khứ đă tụng
giới pháp như thế, hiện tại Đức Phật
Lô Xá Na cũng đem giới pháp này v́ đại chúng
tụng lại. Điều này chính là biểu thị ư nghĩa
đây không phải là lần đầu tiên Đức Phật
Lô Xá Na tụng “Tâm Địa diệu giới” này.
Nếu hỏi giới pháp này từ đâu mà có?
Có thể trả lời một cách khẳng
định rằng: Do chư Phật trong đời quá
khứ khởi tụng mà có.
Nếu hỏi tấn thêm rằng: Chư Phật
thời quá khứ v́ sao đồng tụng giới pháp này?
Có thể không ngần ngại trả lời
rằng: giới pháp này là giới pháp Phật tánh sẵn có
của tất cả chúng sanh và chư Phật. Tức là
chư Phật nhờ giới này mà thành Phật; chẳng
qua chư Phật đem Tâm Địa giới pháp sẵn
đủ của ḿnh khai hiển ra, cho nên được
thọ dụng giới pháp này. C̣n chúng sanh tuy vốn
sẵn đủ giới pháp, nhưng v́ phiền năo bao vây,
che đậy, chưa có thể khai hiển được
giới pháp, cho nên không thọ dụng được
giới pháp này mà thôi.
Ví như hai người đều có vàng ngọc do
tổ tiên chôn giấu dưới đất. Một
người biết khai quật lên nên được giàu
có hưởng thụ đầy đủ mọi khoái
lạc. Một người không biết khai quật lên nên
phải đi làm thuê mướn khổ sở, hoặc
đến nỗi phải đi ăn xin, chẳng hạn.
Đó chính là v́ không biết tự ḿnh có của báu nên phải
chịu khổ sở như vậy.
Nếu khi biết được, hoặc có
người khác chỉ bảo cho, lấy của báu lên
được để tiêu dùng, th́ được sung
sướng như người kia không khác.
Chư Phật Như Lai chứng được Tâm
Địa diệu giới này, biết rơ nó không phải là
vật sở hữu riêng của bất cứ ai, mà là
một pháp sẵn có, sẵn đủ của tất
cả chúng sanh, nên chư Phật sau khi thành Phật
liền v́ chúng sanh tụng ra giới pháp này.
Chư Phật quá khứ đă tụng tŕ như
vậy, hôm nay Đức Phật Lô Xá Na cũng theo gương
chư Phật quá khứ v́ vi trần chúng sanh do ngàn trăm
ức Đức Phật Thích Ca tiếp dắt đến,
cũng như trăm ngàn ức Đức Phật Thích Ca mà
tụng lại một biến. V́ lư do ấy nên ở
đây gọi là “tụng” mà không nói là “giảng”.
Câu: “Cam lộ môn tức khai” (ta liền giảng pháp
môn cam lộ) chủ ư nêu thí dụ và tán thán công đức
này. Tương truyền ở Trung Hoa ngày xưa có một
thứ tiên đơn diệu dược trường sanh
bất lăo. Đă nói là “bất lăo” đương nhiên sẽ
bất tử. Ở Ấn Độ vào thời xưa cũng
tương truyền có vị thuốc Cam Lộ giống
như loại tiên đơn mà Trung Quốc gọi là
“thuốc bất tử”.
Có thuyết cho rằng Cam Lộ là một thứ tinh
khí của thần linh, ngưng đặc lại giống
như chất mỡ và ngon ngọt như kẹo mạch
nha, lại thêm tươi đẹp thanh khiết. Có
nơi nói rằng: Trên cơi Trời có một thứ thiên
đơn gọi là Cam Lộ, nếu ai ăn
được vị Cam Lộ này th́ thân tâm
được thanh tịnh và sẽ không già, không chết.
Do nơi truyền thuyết trong nước Ấn
Độ xưa kia có vị Cam Lộ, nên khi Đức Phật
thuyết pháp thường dùng từ Cam Lộ để ví
cho Thật Tướng của các pháp, hoặc ví cho
cảnh Niết Bàn rốt ráo, hoặc ví cho giáo pháp của
Đức Phật đă thuyết giảng. Trong kinh này dùng Cam
Lộ để ví cho Tâm Địa Diệu Giới.
Nếu người nào
bẩm thọ Tâm Địa diệu giới này sẽ
được thoát ly sự nhiệt năo sanh tử trong tam
giới, chứng đắc cảnh Niết Bàn thanh tịnh
tự tại. Cũng như bệnh nhân có phước
duyên được uống Cam Lộ diệu dược
th́ tất cả bệnh tật tiêu trừ. V́ thế nên
gọi là: “Cam lộ môn khai” (cửa cam lộ liền
mở).
Dù rằng Phật tánh diệu giới là pháp sẵn
đủ của tất ca chúng sanh, nhưng do từ vô
thỉ đến nay bị những thứ hoặc
nghiệp che đậy, chẳng khác nào những cánh
cửa đă đóng chặt, không cách ǵ mở ra
được. Cho nên dẫu rằng có sẵn nhưng
chúng sanh vẫn không thể thọ dụng được
thứ “cam lộ” này. Chư Phật dùng Phật nhăn xem xét,
thấy chúng sanh sẵn có Cam Lộ mà không thọ dụng
được, nên rất xót thương và đau
buồn. Cho nên lúc bấy giờ Đức Phật Lô Xá Na v́
tất cả chúng sanh mà tụng Tâm Địa diệu
giới, mà trước đó chư Phật đă tụng.
Như thế, có nghĩa là Ngài cũng như chư
Phật đồng v́ chúng sanh mà mở toang cánh cửa Cam
Lộ đă bị đóng bít từ lâu. V́ tất cả
chúng sanh nào được nghe và được thọ tŕ
giới pháp này chẳng khác nào người được
uống vị Cam Lộ, thâm tâm mát mẻ, tự tại,
thoát ly khỏi sự nhiệt năo trong sanh tử luân
hồi, chứng đắc cảnh Niết Bàn bất sanh
bất diệt.
Vị Cam Lộ được xem là diệu
dược bất tử, nên dùng làm thức ăn th́ no
ḷng, dùng làm thức uống th́ giải khát, dùng làm thuốc
uống th́ có thể trị liệu bá bệnh. Chính do có ba
thứ đặc dụng kể trên, nên chư cổ
đức đem Cam Lộ tượng trung cho Tam Tụ
Tịnh Giới của Đại Thừa Bồ Tát.
Nếu dùng Cam Lộ làm thức ăn th́ chẳng
những đỡ đói mà lại vĩnh viễn no
đủ. Đây ví cho Nhiếp Thiện Pháp Giới, nghĩa
là nếu hành giả Bồ Tát nào có thể thọ tŕ
Nhiếp Thiện Pháp Giới một cách chân thực,
thực hành tất cả các thiện pháp tích cực th́ các
công đức pháp lành sẽ được sung măn nơi
sanh mạng, như ăn Cam Lộ mà được no
đủ.
Nếu dùng Cam Lộ làm trà để uống,
chẳng những có thể giải khát lúc khí trời nóng
bức mà lại vĩnh viễn không cảm thấy khô
miệng. Đây là ví cho Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới, nghĩa là:
Nếu hành giả Bồ Tát thấy những chúng sanh cơi
thế gian bị các thứ khổ năo bức ngặt,
với tinh thần Nhiêu Ích Hữu T́nh, các Ngài liền hóa
độ chúng sanh không giây phút chậm trễ, cũng không
quên lăng khiến cho chúng sanh trừ hết nhiệt năo,
được trạng thái thanh lương, dường
như uống vị Cam Lộ mà được mát mẻ.
Nếu dùng Cam Lộ như một thứ linh
đơn diệu dược có công dụng trị
liệu bách bệnh, chỉ cần dùng một lần,
tức khắc mọi bệnh tật tiêu trừ, thân
thể trở lại khang kiện, đây ví cho Nhiếp
Luật Nghi Giới. Nghĩa là nếu hành giả Bồ Tát
nào có thể nghiêm tŕ Nhiếp Luật Nghi Giới một
cách chân thành th́ tự nhiên được đoạn
dứt tất cả ác pháp và không c̣n tạo tội.
Chúng ta sở dĩ tạo ra các tội ác, đấy
là những chứng bệnh, do nơi không y theo Nhiếp
Luật Nghi Giới mà phụng hành, để đoạn
trừ tất cả tội ác. Nếu nghiêm tŕ Nhiếp
Luật Nghi Giới, đoạn trừ tất cả
tội ác, th́ ví như bệnh nhân được uống
vị Cam Lộ, tất cả tật bệnh đều
được thuyên giảm lành mạnh. V́ thế, chính
nơi một thí dụ Cam Lộ này, hàm nhiếp Tam Tụ
Tịnh Giới của Bồ Tát.
Đại môn Tam Tụ Tịnh Giới làm thế nào
để có thể mở toang ra được?
Điều đó không có ǵ đặc biệt, diệu
xảo cả. Chỉ cần được nghe Đức
Phật Lô Xá Na tụng giới pháp mà chư Phật đă
thường tŕ tụng th́ cánh cửa to lớn ấy
tự nhiên mở rộng ra. Do đây, chúng ta biết
được rằng: Nếu không có Đức Phật Lô Xá
Na đọc tụng giới pháp này, tất nhiên cánh
cửa cam lộ kia chắc chắn trường kỳ
đóng bít. Tất cả chúng sanh trên thế gian nếu
chỉ nương vào sức lực của ḿnh th́ không bao
giờ có thể mở toang cửa ấy ra
được. Chúng ta biết rơ giới pháp này không
phải ở ngoài mà là sẵn có nơi nội tâm. Khi nghe
Phật tụng giới, nếu y theo đó mà phụng hành
th́ Tâm Địa diệu giới sẵn có sẽ
được khai phát. Ấy tức là mở toang cánh
cửa cam lộ vậy.
A.4.1.4.2.
THÍCH CA CHUYỂN THỌ (Phật Thích Ca truyền trao giới
pháp)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “thị thời thiên bách ức...” cho
đến câu “...chuyển thọ chư chúng sanh”.
3. Dịch nghĩa:
Bấy giờ ngàn trăm ức Phật,
Trở về đạo tràng của ḿnh.
Đều ngồi dưới cội Bồ Đề,
Tụng mười giới trọng,
Bốn mươi tám giới khinh
Của Bổn Sư Xá Na.
Giới như vầng nhật nguyệt sáng
Cũng như chuỗi báu, ngọc châu,
Chúng Bồ Tát như vi trần,
Do giới này mà thành Phật,
Đây là đức Xá Na tụng,
Ta đây cũng tụng như vậy,
Các ông tân học Bồ Tát,
Phải cung kính thọ tŕ giới,
Khi thọ tŕ giới này rồi,
Nên truyền lại cho chúng sanh...
Lời giảng
Hai chữ “thị thời” (bấy giờ) là chỉ
thời gian Phật Lô Xá Na v́ ngàn Phật Thích Ca và ngàn
trăm ức Phật Thích Ca truyền trao Tâm Địa
giới pháp. Ngàn Phật Thích Ca và ngàn trăm ức Phật
Thích Ca đương thời sau khi ở Liên Hoa Đài Tạng
thế giới, nghe Đức Phật Lô Xá Na tụng giới
xong, đều trở về đạo tràng nơi ḿnh
đắc đạo trước kia. Tất cả
đều ngồi dưới cội Bồ Đề,
tụng lại giới pháp của Bổn Sư Lô Xá Na
Phật. Ta (chỉ cho Đức Phật Thích Ca) đă tŕ
tụng mười giới trọng và bốn mươi
tám giới khinh.
Ngàn Phật Thích Ca và ngàn trăm ức Phật Thích Ca
đều nhận Đức Phật Lô Xá Na làm Bổn Sư,
cho nên cần phải tụng lại giới pháp của
Bổn Sư đă tụng. Đây là biểu thị giới
pháp có thầy truyền trao và trong thân tâm không bao giờ vong
bổn. Đoạn trên đây dùng giải thích các câu kệ
trong giới bổn Hán văn:
Thị thời thiên
bách ức,
Hoàn chi bổn
đạo tràng,
Các tọa Bồ
Đề thọ,
Tụng ngă Bổn
Sư giới.
Phần tiếp theo, giải thích câu kệ: “Giới
như minh nhật nguyệt” (giới như vầng
nhật nguyệt sáng). Câu này có hai phần:
* “Giới như vầng minh nhật”. Trong kinh
thường nói:
Trọng tội
như sương, lộ
Huệ nhật
năng tiêu trừ
Dịch:
Tội trọng như sương, giá,
Mặt trời trí huệ hay tiêu trừ.
Ở phương Bắc Trung Hoa (pháp sư Diễn
Bồi ở Trung Hoa), hàng năm từ khoảng tháng Chín,
tháng Mười, bắt đầu có sương xuống
nhiều. Dù chỉ là một màng mỏng manh, nhưng che
phủ cả trên nóc nhà, cây cối, núi rừng. Tất
cả hiện ra một màu trắng xóa. Sớm mai thức
dậy có thể trông thấy rơ ràng. Nhưng lúc vầng thái
dương vừa xuất hiện, bao nhiêu sương
tuyết trắng xóa kia đều bị ánh mặt
trời chiếu rọi, tức khắc tan biến, không
tồn tại được lâu dài. Ngoài sương
tuyết ra, c̣n có một thứ nước mù sa, cũng
như thế, cứ mỗi sớm mai, thứ mù sa này
đọng khắp trên các đầu ngọn cỏ xanh
trong những cánh đồng mênh mông bát ngát, lóng lánh như
ngọc. Nhưng khi mặt trời xuất hiện, bao
nhiêu giọt mù sa kia đều bị tia sáng mặt
trời làm tan biến tức khắc.
Bao nhiêu tội ác của chúng sanh đă tạo ra
từ vô thỉ cũng giống như sương
tuyết, mù sa, không có thực thể. Nên một khi mặt
trời trí tuệ xuất hiện th́ tất cả tội
ác ấy tức khắc tiêu trừ. Ở đây dùng “minh
nhật” để dụ cho Tâm Địa diệu giới, nghĩa
là khi ánh sáng của vầng thái dương xuất
hiện, tất cả hắc ám đều bị tiêu
diệt như quang minh của giới pháp có công năng
diệt trừ tất cả sương mù tội ác.
* Giới như vầng minh nguyệt:
Minh nguyệt là trăng sáng. Vầng trăng
tượng trưng cho sự thanh lương, u tịch.
Trong đêm tối, vầng trăng tỏa ra những tia
sáng vừa trong sạch, vừa mát mẻ, tạo cho con
người cảm giác sảng khoái dễ chịu. Dù ban
ngày nóng bức đến độ nào, đêm về, khi
vầng minh nguyệt xuất hiện, tất cả sự
nóng bức đều tan biến, khiến mọi người
cảm thấy mát mẻ, an vui, tự tại.
Ví giới pháp như vầng trăng sáng, là biểu
thị ư nghĩa nếu hành giả thật sự nghiêm tŕ
tịnh giới sẽ luôn cảm thấy thân tâm
thường được mát mẻ, an vui, tự
tại. Trái lại, nếu tạo tội lỗi, hoặc
vi phạm giới pháp, dù không ai hay biết, nhưng nội
tâm tự biết rơ tội lỗi của ḿnh. Nếu không
nghĩ đến th́ thôi, một khi bỗng nhiên nghĩ
đến, tức khắc mặt sẽ nóng bừng,
nội tâm nhiệt năo, như tiết mùa Hạ nóng bức
không chịu nổi.
Nên kinh luật từng nói:
Phạm giới
tựu đắc nhiệt năo,
Tŕ giới tựu
đắc thanh lương.
Dịch:
Phạm giới
sẽ bị nhiệt năo,
Tŕ giới sẽ
được mát mẻ, an lạc.
V́ thế nên ví giới pháp như vầng minh
nguyệt.
Phần tiếp theo sau đây, xin giải thích câu:
“Diệc như anh lạc châu” (cũng như chuỗi anh
lạc).
- Anh là tên chung của loài hoa, thứ hoa tốt
nhất, hoặc cái tinh túy, tốt đẹp nhất.
- Lạc là vui.
- Châu là hột ngọc sinh ra do nước bọt
của con trai dưới biển kết tụ lại
rất đẹp và quư.
Anh lạc là một loại chuỗi người
Ấn Độ dùng làm vật trang sức. Người th́ dùng
ngọc thật để xâu thành chuỗi, người th́
dùng hoa tươi đẹp đẽ để xâu thành
tràng hoa trang sức nơi cổ. Ở đây, nói chuỗi
ngọc Anh Lạc chỉ cho những hạt trân châu, kim
ngân có giá trị được kết lại thành
chuỗi, một thứ trang sức quư giá của những
người giàu.
Dùng h́nh tượng chuỗi Anh Lạc quư báu
để ví cho chúng sanh, nếu có thể nghiêm tŕ tịnh
giới th́ được đắc vô lượng
thiện pháp, mà không bị bần cùng, cô độc. Sự
bần cùng, cô độc của chúng sanh ở thế gian,
đối với Phật pháp mà nói, th́ không phải là không
có tài sản, tiền bạc, giàu có mà gọi là “bần
cùng”. Ở đây chính là chỗ không có công đức, pháp
tài, do không nghiêm tŕ tịnh giới hoàn hảo, khiến cho
các thiện pháp quư báu bị tản thất.
Nếu có thể nghiêm tŕ tịnh giới th́ tất
cả của báu thiện pháp tự nhiên mỗi ngày dần
dần tích tụ lại thành một đại phú gia. V́
vậy, giới pháp được ví như chuỗi
ngọc Anh Lạc.
Anh Lạc là loại chuỗi trang nghiêm. Mọi
người v́ muốn trang sức thân ḿnh nên dùng chuỗi
ngọc Anh Lạc mang vào cổ, v́ nó là vật vô cùng quư giá
và đẹp đẽ. Ấy là dụ cho hành giả
nếu có thể nghiêm tŕ tịnh giới th́ có thể không
c̣n những tướng mạo xấu xa. Nếu sanh làm
người mà lại bị tướng mạo xấu xí,
theo như Phật pháp, th́ đó là hậu quả của
những việc không nghiêm tŕ tịnh giới. Nếu có
thể nghiêm tŕ tịnh giới th́ chắc chắn được
tướng hảo viên măn.
Hai câu kệ:
Giới như minh
nhật nguyệt,
Diệc như Anh
Lạc châu.
C̣n có lối giải thích khác:
- “Giới như minh nhật nguyệt”: mặt
trời, mặt trăng tượng trưng cho sự quang
minh, biểu thị cho trí huệ quang minh, trang nghiêm.
- “Diệc như anh lạc châu”: anh lạc
tượng trưng cho sự giàu sang, biểu thị cho
phước đức trang nghiêm.
Căn cứ vào đây, chúng ta có thể biết
nếu hành giả có thể nghiêm tŕ tịnh giới th́
chắc chắn được phước huệ nhị
nghiêm. Trong kinh thường nói, hành giả tu học Phật
pháp, không phải chỉ cần tu phước đức
mà đối với trí huệ cũng cần phải chuyên
tâm tu học.
Việc tu phước đức, trí huệ này không
phải là t́m cầu ở bên ngoài. Chỉ có nghiêm tŕ
tịnh giới mới có thể được
phước huệ nhị nghiêm. Tu hành đến mức
phước huệ viên măn, th́ đương nhiên
được thành Phật quả. Nói như thế
mới có thể thấy rơ được rơ ràng tính
chất trọng yếu của sự tŕ giới.
Cổ thi Trung Hoa có câu “nhật nguyệt lệ thiên”.
Mặt trời, mặt trăng soi sáng trên không trung, lúc
trời quang mây tạnh, tạo nên một khung cảnh vô
cùng diễm lệ, trang điểm cho bầu trời
trở nên rực rỡ, khiến cho mọi người
đối cảnh đều sanh tâm ưa thích, chiêm
ngưỡng.
Đây ví như hành giả tu học Phật pháp, nếu
có thể nghiêm tŕ tịnh giới sẽ được các
giới đức trang nghiêm nơi thân. Thế nhân trông
thấy đều tín ngưỡng, tôn sùng. Trong xă hội,
chúng ta có thể chứng kiến một sự kiện
thật rơ ràng: Một tăng nhân phá hủy giới pháp,
người ấy không bao giờ được sự
kính ngưỡng của giới Phật tử. V́ sự
kính ngưỡng là nơi giới đức đầy
đủ, chứ không do nơi cá nhân của vị Tăng
ấy.
Thế nên chúng Tăng tŕ giới thanh tịnh, th́ dù
đi đến đâu cũng đều được
sự tôn kính sùng bái của mọi người. V́ thế,
hành giả tu học Phật pháp bất luận tại gia
hay xuất gia đều phải nghiêm tŕ tịnh giới.
Vấn đề nghiêm tŕ tịnh giới chẳng
những triệt để đối với hàng Tăng
chúng, Phật tử tại gia hay xuất gia, mà đối
với vô lượng vô biên chúng Bồ Tát nhiều như
vi trần. Trong tương lai, sở dĩ các Ngài
được thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác không phải do nguyên nhân nào khác mà chính là do nơi
thọ tŕ mười giới trọng, 48 giới khinh.
Cho nên, trong văn tụng có câu: “Do thị thành Chánh
Giác” (do đây mà thành Chánh Giác).
Nói như thế để thấy rơ, muốn
được thành Phật, phải thọ tŕ giới này.
V́ thọ tŕ giới là Nhân, thành Chánh Đẳng Chánh Giác là
Quả. Nhân quả rơ ràng như thế đều là do
nơi lực dụng của giới pháp. Như thế
chúng ta đối với giới pháp này có thể nào
lại bỏ qua, không thọ tŕ!
Đoạn này dùng giải thích hai câu:
Vi trần Bồ Tát
chúng,
Do thị thành Chánh
Giác.
Như trên đă nói: Mười giới trọng và
bốn mươi tám giới khinh vốn do “Bổn Sư
Lô Xá Na Phật của ta tŕ tụng, nên Thích Ca Mâu Ni Phật
Ta đây cũng đúng pháp, đúng luật như lời
Phật dạy, mà tŕ tụng như thế” (lời
Phật Thích Ca tự nói). Như thế để mọi
người thấy rằng: nói tụng giới, không
phải bản thân ḿnh không cần tụng, chỉ chuyên môn
dùng miệng bảo người khác tụng.
Nho thư có câu “thượng hành hạ hiệu”
(người trên thực hành, kẻ dưới mới làm
theo). Nên biết đức Lô Xá Na Phật đích thân
tụng giới, chính là thể hiện tinh thần
“thượng hành”, Bổn Sư Thích Ca cũng tụng
như thế chính là ư nghĩa “hạ hiệu” vậy.
Chúng ta không bao giờ tự ḿnh không thực hành mà có
thể bảo người khác thực hành được.
Chỉ khi nào đem chính bản thân ḿnh thực hành phép
tắc th́ mới có thể khiến kẻ khác tùy thuận
theo để thực hành. Ngược lại, nếu
như tự ḿnh không tŕ tụng, chỉ khiến bảo
người tŕ tụng, th́ dù cho có hiệu quả th́
cũng chỉ có tính cách nhất thời, không thể nào
vĩnh cửu được. Phật Lô Xá Na hiểu
rất rơ điểm này.
Bổn Sư Thích Ca cũng nhận thức rất
minh bạch nguyên lư ấy. V́ thế nên Bổn Sư Lô Xá Na
cũng như ngàn Phật Thích Ca, trăm ngàn ức Phật
Thích Ca mỗi mỗi đều tŕ tụng giới pháp. Đây
là giải thích hai câu:
Thị Lô Xá Na
tụng,
Ngă diệc như
thị tụng.
Dịch:
Đây là đức Lô Xá
Na tụng,
Ta cũng tụng y
như vậy.
Phật Lô Xá Na và Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
các ngài hăy c̣n tụng giới, không dám cẩu thả một
mảy tơ, sợi lông như vậy. Hàng tân học
Bồ Tát các ông mới được nghe giới pháp,
lẽ tất nhiên lại càng cần phải thân tâm cung
kính, đảnh đới thọ tŕ Tâm Địa diệu
giới này không nên xao lăng, xem thường bất cứ
phút giây nào.
- Đảnh đới thuộc về thân nghiệp,
nghĩa là đối với pháp thể hiện thái
độ tôn trọng cực điểm.
- Thọ tŕ thuộc về ư nghiệp, nghĩa là
đối với giới pháp phải có tâm quư trọng
tuyệt đỉnh.
V́ nếu đối với giới pháp không tôn
trọng, quư kính tuyệt đối th́ không bao giờ
đầu đội và thọ tŕ. Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni rất e ngại cho những người mới phát tâm,
mà lại có sự xem thường đối với
giới pháp. Cho nên Ngài đặc biệt thận trọng
và cực lực răn dạy. Chẳng những hành
giả bản thân phải theo đúng pháp thọ tŕ như
thế, và khi thọ tŕ rồi lại c̣n phải truyền
trao lại cho những chúng sanh đă phát đại tâm,
để giới pháp này măi được triển
chuyển lưu truyền không bị đoạn tuyệt.
- Tự ḿnh thọ tŕ giới là tự lợi;
đem giới pháp truyền trao lại cho chúng sanh là
lợi tha. Như vậy mới có thể gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát.
Nếu chỉ nghĩ tự ḿnh thọ tŕ mà không
truyền trao cho những chúng sanh phát đại thừa tâm
th́ thành ra phong cách của Thanh Văn, không thể gọi là
Bồ Tát.
Phần trên đây giải thích bốn câu kệ:
Nhữ tân học
Bồ Tát
Đảnh đới
thọ tŕ giới.
Thọ tŕ thị giới
dĩ,
Chuyển thọ
chư chúng sanh.
Dịch:
Các ông mới học
Bồ Tát,
Phải cung kính
thọ tŕ giới.
Khi thọ giới này
rồi,
Nên truyền lại
cho chúng sanh
Lưu ư: “Đảnh đới” ở đây dịch là
cung kính.
Theo sự phân tích ở trên, chúng ta có thể xác
định rơ ràng: Đối với giới pháp này cần
phải lưu truyền cho hậu thế măi măi, cũng
như những ngọn đèn, ngọn này nối tiếp
qua ngọn kia. Ánh sáng tiếp nhau măi măi không đoạn
tuyệt. Đó chính là do sự triển chuyển truyền
giao. Như đầu tiên căn bổn từ đức
Lô Xá Na, truyền trao cho Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lại đem giới pháp
căn bổn này truyền trao cho chúng Bồ Tát vi trần.
Chúng Bồ Tát vi trần được giới pháp này làm
căn bổn và tiếp tục truyền trao cho phàm phu chúng
sanh, truyền trao xuống măi như thế, cùng tột
đến đời vị lai vô biên, vô tận.
A.4.1.4.3. KHUYẾN
CHÚNG TÍN THỌ (khuyên đại chúng tin tưởng, thọ tŕ)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “đế thính ngă chánh tụng...”
đến câu “...chí tâm thính ngă tụng”.
2. Dịch nghĩa:
Lắng nghe ta đang tŕ tụng,
Pháp Ba La Đề Mộc Xoa
Là giới tạng trong Phật pháp,
Đại chúng ḷng nên tin chắc,
Các ngươi là Phật sẽ thành.
Ta đây là Phật đă thành,
Thường có ḷng tin như vậy.
Thời giới phẩm đă được
trọn vẹn,
Tất cả những người có tâm,
Đều nên nhiếp hộ Phật giới.
Chúng sanh nào thọ Phật giới,
Chính là vào hàng chư Phật.
Đă đồng hàng bực Đại Giác.
Mới thật là con chư Phật.
Đại chúng đều nên cung kính,
Chí tâm nghe lời ta tụng.
Lời
giảng
“Đức Bổn Sư Lô Xá Na đă thọ tŕ,
đọc tụng đại giới của chư
Phật. Giờ đây, Ta (Bổn Sư Thích Ca) cũng
đang tụng giới pháp này mà Bổn Sư của ta
đă tụng. Các ông cần phải nhứt tâm lắng nghe
đúng như pháp ta đang tụng cho nghiêm túc, không
được để tâm nghĩ tưởng Đông, Tây, mà
ngăn ngại cho việc nghe giới của các ông”.
Đây là một điều khẩn
yếu v́ nếu người không chuyên tâm nghe kỹ,
sẽ không được thâm nhập Tâm Địa diệu
giới của Phật. Như thế th́ dù có nghe cũng
như không nghe, đối với bản thân không
được một chút lợi ích nào cả. Đây là
giải thích câu kệ: “Đế thính ngă chánh tụng”.
Pháp Ba La Đề Mộc Xoa là giới
tạng trong Phật pháp, tức là vô thượng Tâm
Địa giới pháp, là bổn nguyên của tất cả
giới pháp như: Ngũ Giới, Bát Giới, Thập
Giới, hai trăm năm mươi giới v.v... Không
một giới nào chẳng từ nơi căn nguyên Tâm
Địa diệu giới này mà lưu xuất. Đồng
thời tất cả Ngũ Giới, Bát Giới, hai
trăm năm mươi giới... này cũng không một
giới nào chẳng nhiếp vào trong căn nguyên này. Cho nên
gọi là giới tạng trong Phật pháp.
Trong kinh Thanh Tịnh Tỳ Ni
Phương Quảng thuyết minh: “Bồ Tát Tỳ Ni do
như đại hải, nhứt thiết Tỳ Ni vô
bất nạp thọ” (Tỳ Ni của Bồ Tát như
bể cả, tất cả các Tỳ Ni khác không một
Tỳ Ni nào chẳng nhiếp thọ) chính là ư này.
* Có một lối giải thích khác:
Giới tạng của Phật giáo
thuộc về Đại Thừa Tỳ Ni. Chẳng những
khác hẳn tà giới của ngoại đạo, lại
cũng khác biệt với thiên giới của Thanh Văn,
Duyên Gác (thiên giới là giới của hàng hành giả
Nhị Thừa, chỉ thiên trọng về tự lợi
mà tu hành, nên giới pháp của các Ngài bẩm thọ
gọi là Thiên Giới).
Giới của ngoại đạo tu
hành sao gọi là tà giới?
Nguyên v́ các ngoại đạo ấy
cho là con người kiếp trước là loài súc sanh
như gà, chó v.v... cho nên trong đời hiện tại
cần phải giữ giới không ăn thịt gà, chó...
Họ tự lập riêng ra những giới khổ
hạnh như ăn những đồ phẩn uế... và
cho rằng có thực hành những khổ hạnh ấy
mới tiêu tội, được phước, để
có thể được sanh lên thiên đường,
hưởng sự khoái lạc. Sự thật ư nghĩa
của hành động này không phải là giới hạnh
được sanh lên thiên đường, nhưng họ
vọng chấp như vậy, nên gọi là tà giới.
Hai chữ Tỳ Ni trong thuật từ
Đại Thừa Tà Ni là tiếng Ấn Độ, Trung Quốc
dịch là Thiên Thọ. Ư nghĩa cho rằng Tỳ Ni là
thọ mạng của Phật pháp, cho nên Tỳ Ni tồn
tại một ngày ở thế gian là Phật pháp cũng
tồn tại ở thế gian một ngày. Nếu một
mai Tỳ Ni bị tiêu diệt trên thế gian th́ Phật
pháp cũng không c̣n!
Cũng có nơi giải thích Tỳ Ni
là Thiện Tánh, tức là tự tánh của Tỳ Ni vốn
là thuần thiện. Chủ yếu là đúng theo giới
pháp thọ tŕ th́ hàng Phật tử tu học Phật pháp có
thể tăng tiến thiện hạnh. Có chỗ dịch
là Thiên Trụ, từ này cũng đồng nghĩa với
Thiên Thọ, ư nói nếu Tỳ Ni cửu trụ thế gian
th́ chánh pháp của Như Lai cũng cửu trụ ở
thế gian.
Giới tạng của Phật pháp quan
hệ mật thiết đến sự tồn vong của
Phật pháp là như thế. V́ thế, hàng tân học
Bồ Tát các ông phải thiết thực dụng tâm
lắng nghe cho kỹ, không được khinh suất.
Này đại chúng! Các ông chẳng
những phải chí tâm lắng nghe thật nghiêm túc, lại
phải thật ḷng tin tưởng sâu chắc. Nếu
như chỉ nghe mà không có tâm thâm tín, nghĩa là nghe qua
rồi cho là xong chuyện, thế là vô dụng. Cho nên
tuyệt đối sau khi nghe tụng giới phải xác
thực tin chắc giới này là chánh nhân thành Phật.
Nếu đúng pháp, y luật, phụng tŕ không biếng nhác
th́ tương lai nhất định sẽ thành tựu vô
thượng Phật Quả không nghi. Chẳng những
phải tin chắc rằng tự ḿnh do nghiêm tŕ tịnh
giới mà được thành Phật, lại càng phải
tin tưởng rằng đức Lô Xá Na thành Phật
cũng là do Ngài nghiêm tŕ tịnh giới mà được.
Nếu có được tín tâm đầy đủ như
vậy, th́ niệm niệm hộ tŕ giới mới không
dám sanh tâm hủy phạm giới, dù như mảy lông.
Thế nên chữ Tín ở đây mang ư
nghĩa trọng yếu vô cùng. Trên đây là giải thích câu
kệ: “Đại chúng tâm đế thính”.
V́ muốn củng cố tín tâm của
đại chúng cho kiên cố hơn, đức Bổn
Sư Thích Tôn tiến xa hơn một bước, Ngài
đối trước đại chúng trong pháp hội
dạy rằng:
- “Này toàn thể đại chúng! Các ông không nên tự
xem nhẹ ḿnh, tự cho ḿnh là tâm địa phàm phu, không
mong ǵ đạt đến quả Phật. Các ông nên
biết: dù hiện tại các ông là phàm phu, nhưng trong
tương lai đều quyết định sẽ
được thành Phật. Nhưng điều cần
yếu là các ông phải có tín tâm sâu chắc khi thọ tŕ
giới pháp này.
Giờ đây ta v́ các ông nói một
lời khẳng định: Ta đây là đấng Đại
Thánh Giác đă thành Phật, nhưng nguyên nhân ta
được thành Phật chính là do tin chắc vào giới
pháp này. Do ta đối với giới pháp này thâm tín thọ
tŕ, cho nên được thành Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Các ông cũng cần phải tự tin chắc
nơi ḿnh.
Điều tối yếu là phải
thọ tŕ giới pháp này mới quyết định thành
tựu được Phật quả. Ta cũng có thể
nói với các ông một cách quả quyết rằng:
Hiện tại ta truyền trao giới pháp này lại cho các
ông, bảo đảm rằng các ông được
giải thoát chắc chắn. Đây là sự kiện nhất
định, không có ǵ đáng nghi!”
Đây là lời Phật nói với
đại chúng đương thời, nhưng cũng bao
hàm tất cả đại chúng thọ tŕ Bồ Tát
giới đời vị lai.
Như vậy, muốn thành tựu
quả Phật, nhất quyết phải cầu thọ Tâm
Địa diệu giới này, nhưng muốn cầu thọ
Tâm Địa diệu giới này, cần phải khởi tín
tâm quảng đại. Chỉ có đủ tín tâm này th́
Phật chủng mới không bị đoạn tuyệt và
đối với tự thân, quyết sẽ
được thành Phật.
Nếu như không có tín tâm sâu chắc
th́ đối với tất cả giới pháp không thể
nào giữ ǵn một cách nghiêm cẩn được. Trong
Đại Trí Độ Luận nói: “Phật pháp đại
hải, tín vi năng nhập” (Bể cả Phật pháp,
chỉ có ḷng tin mới vào được).
Phần trên dùng giải thích hai câu
kệ:
Nhữ thị
đương thành Phật,
Ngă thị dĩ thành
Phật.
Dịch:
Các ngươi là
Phật sẽ thành,
Ta đây là Phật
đă thành.
Tŕ giới quyết định sẽ
được thành Phật, điều ấy cần
phải tin chắc không nên nghi ngại. Nếu như
thường được tín tâm như vậy, th́
giới phẩm trọn vẹn. Do đây, chúng ta thấy
giới phẩm được trọn vẹn không
phải là một sự kiện khó khăn. Điều quan
hệ trọng yếu là hoàn toàn ở sự tin chắc!
Thế nên người có tín tâm chỉ
cần phóng hạ đồ đao tức khắc thành
tựu một vị Phật trong trăm ngàn vị
Phật. Trái lại, nếu không có tín tâm th́ dù có gặp
được sự kêu gọi phát khởi giác tánh nơi
chúng sanh của ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát
cũng vẫn măi trầm mê (Ngài Thường Bất Khinh
Bồ Tát kêu gọi chúng sanh phát khởi tín tâm, nhưng chúng
sanh thời bấy giờ không tin, lại c̣n phỉ báng,
nên bị đọa lạc trong ngh́n kiếp).
Đă tin Tâm Địa đại giới này
là chánh nhân thành Phật th́ hẳn nhiên cần phải
thọ tŕ giới pháp này. Nếu chỉ tin suông mà không
bẩm thọ giới pháp ấy tức không phải chân
thật tín tâm.
Bồ Tát đại giới này trừ
những loại cây đá vô trí, không phải là pháp khí th́
không thể bẩm thọ đại giới này. Ngoài ra,
tất cả chúng sanh có tâm thức (chí cho loài hữu t́nh có
sự hoạt động về tinh thần) bất
luận cao cấp hay hạ cấp đều nên nhiếp
thọ Phật giới.
Chữ Nhiếp ở đây có nghĩa
là nạp thọ, thu nhận và giữ măi trong tâm những
ǵ được nghe giảng từ bên ngoài, không cho
mất, ấy gọi là Nhiếp. Tại sao những
người có tâm thức đều nên nhiếp thọ
Phật giới?
Vấn đề này trong kinh Niết Bàn
thuyết minh: “Phàm hữu tâm giả, giai đương tác
Phật” (tất cả chúng sanh có tâm thức đều có
thể thành Phật). Có tâm thức cũng tức là có
sẵn Phật tánh. Sẵn có Phật tánh đương
nhiên có thể thành Phật.
Trong Quán kinh cũng nói: “Thị tâm
thị Phật, thị tâm tác Phật” (tâm này là Phật, tâm
này làm Phật). V́ Phật không phải ở ngoài tâm; ngoài
tâm hoàn toàn không có Phật. Cho nên Tâm Địa đại
giới này chỉ từ tâm mới có được.
Chính v́ như vậy, cho nên tất
cả những chúng sanh nào có tâm thức, kể cả
những hàm linh xuẩn động, ḅ bay, cựa quậy,
không một chúng sanh nào chẳng có thể nhiếp hộ
Phật giới này; cũng không một chúng sanh nào chẳng
do nhiếp hộ Phật giới này mà thành Phật.
Phần trên dùng để giải thích
hai câu kệ:
Nhứt thiết
hữu tâm giả,
Giai ưng nhiếp
Phật giới.
Nên tiếp theo hai câu:
Chúng sanh thọ
Phật giới,
Tức nhập
chư Phật vị.
Từ địa vị phàm phu
đến địa vị Phật cách nhau rất xa,
như vậy tại sao mới vừa thọ giới pháp
mà lập tức được vào địa vị
của chư Phật?
Nguyên v́ Tâm Địa giới pháp này do
chư Phật truyền trao lẫn nhau, chính chư Phật
từ nơi giới pháp này mà được thành Phật.
Hiện nay, chúng sanh do Tâm Địa giới pháp của chư
Phật đây th́ đương nhiên đă bước lên
giai cấp địa vị của chư Phật.
Nơi đây có một vấn
đề cần nên biết: Địa vị đă
đồng với Phật quả Đại Giác th́ cứ xác
thực gọi những người thọ giới là
Phật, sao lại c̣n gọi là “chân thị chư Phật
tử?”
Hai chữ “Phật tử” là đệ
tử của Phật là điều không c̣n nghi ǵ cả.
Nhưng sánh với Phật quả đại giác th́ có
một khoảng cách rất xa. Như vậy sao lại
bảo “tức nhập chư Phật vị?”
Chúng ta nên biết rằng “thọ
giới vị Phật giới” (giới vị tức là
địa vị của giới tử thọ giới pháp
của chư Phật), tuy nói là đồng hàng với
Đại Giác nhưng trên thực tế hoàn toàn chưa
chứng được quả Đại Giác tối cao. V́ tu
hành nhân hạnh chưa viên thành, về công đức
chứng đắc vẫn chưa viên măn. Cho nên sau khi
thọ Phật giới, phải ở trong khoảng
thời gian lâu dài là trải qua ba đại a tăng
kỳ kiếp. Trong thời gian ấy, phải rộng tu
lục độ vạn hạnh, thừa sự chư
Phật trong mười phương, thực hành tất
cả đại pháp của chư Phật. Chừng nào
đạt đến hạnh nguyện viên măn, mới chân
thực bước vào địa vị của Như Lai.
Như vị vương tử làm lễ Quán Đảnh, trong
tương lai chắc chắn thừa kế vương
vị, nhưng hiện tại th́ vẫn c̣n ở Đông Cung
nên chỉ được gọi là Vương Tử,
chưa được gọi là Quốc Vương.
Danh từ “Phật tử” giải thích
theo lối thông thường là đại phàm từ
miệng Phật sanh, từ pháp hóa sanh đều gọi là
Phật tử. Căn cứ vào phương diện phân
biệt thể loại, th́ có nơi chia làm ba thể
loại như sau:
- Tu hành c̣n ở trong địa vị
phàm phu, chưa ngộ nhập Phật đạo, chưa
thể thiệu long Phật chủng th́ chỉ gọi là
ngoại Phật tử.
- Hành giả nhị thừa, bẩm
thọ giới pháp Tiểu thừa của Như Lai, dù có
thể sanh trưởng pháp thân, hoàn thành thánh quả,
nhưng không từ trong giáp pháp đại thừa xuất
sanh, nên gọi là Thứ Phật tử.
- Hành giả Bồ Tát đă bẩm
thọ Đại Thừa giáo pháp của Như Lai, phát Bồ
Đề tâm, thọ Bồ Tát giới, Pháp Thân sanh
trưởng, gọi là chân Phật tử.
Câu kệ: “Chơn thị Phật
tử” chính là chỉ cho loại Phật tử thứ ba
này.
Trong bộ Pháp Tạng Giới Bổn
Sớ quyển một, đối với danh từ
Phật tử phân biệt rơ ràng như sau:
- Y cứ theo kinh Lăng Già thuyết
minh: “Bát địa Bồ Tát, danh tối thắng Phật
tử” (Bồ Tát đệ bát địa gọi là tối
thắng Phật tử). V́ Bồ Tát ở địa
vị thứ tám tu hành đă đạt đến tŕnh
độ “vô công dụng hạnh”, nghĩa là tất cả
công hạnh nhiệm vận tự nhiên, đồng
thời với tác dụng của chư Phật, mới
đủ tư cách là Phật tử.
- Y cứ trong Phật Tánh Luận
thuyết minh: “Sơ Địa danh vi Phật tử” nghĩa
là Bồ Tát ở địa vị sơ đẳng,
nhưng đă thể ngộ chơn lư của các pháp,
bắt đầu chứng được Pháp Thân,
được khí phần của Phật, mới
đủ tư cách gọi là Phật tử.
- Kinh Anh
Lạc thuyết minh: “Thập Trụ tức danh Phật
tử”. Bồ Tát Thập Trụ dù mới bắt
đầu vào địa vị Tam Hiền, nhưng các Ngài
đă tu hành đến bậc bất thối chuyển, nên
đầy đủ tư cách gọi là Phật tử.
- Phát Bồ Đề tâm, thọ Bồ Tát
giới, liệt vào hàng Đại Thừa, mới có tư cách
gọi là Phật tử. Hạng Phật tử thứ
tư này ứng vào câu kệ: “Chơn thị chư
Phật tử” của kinh Phạm Vơng vậy.
Như trên đă nói rơ, giai cấp,
địa vị của Bồ Tát dù thứ tự cao
thấp bất đồng, nhưng tất cả
đều phải thọ tŕ giới pháp này triệt
để, cho nên các chúng Phật tử kể trên
đều bao hàm trong đây.
Theo bộ Nhiếp Luận của
Chơn Đế tam tạng pháp sư dịch vào triều nhà
Lương, Đại Thừa Bồ Tát chân thật là con
Phật phải hội đủ năm điều
kiện sau đây:
1. Dùng Phương Tiện làm cha.
2. Dùng Bát Nhă làm mẹ.
3. Dùng Thiền Định làm thai.
4. Dùng Từ Bi làm người
dưỡng dục.
5. Dùng ḷng tin ưa pháp Đại Thừa
làm chủng tử.
Đủ năm điều kiện trên th́ mới là chân
thật Phật tử, thiếu một trong năm
điều kiện trên th́ vẫn không thể gọi là chân
Phật tử.
Đức Phật Thích Ca dạy:
“Thọ giới Phật rồi là chân Phật tử,
tương lai được thành Phật đó là lẽ
tự nhiên, không c̣n vấn đề ǵ. Thế nên, hiện
tại, lúc ta đang tụng giới pháp của Bổn
Sư Lô Xá Na, đại chúng các ông đều phải cung
kính, chí tâm, nhất ư lắng nghe Ta tụng lại
đại giới của chư Phật đây vậy”.
Ba chữ “chí tâm thính” nghĩa là trong lúc
nghe giới, không phải nghe một cách tùy tiện mà là nghe
một cách nhận chân. V́ chỉ có nghe với tinh thần
nhận chân, không lơ đễnh, giới pháp mới có
thể thâm nhập vào Tâm Địa, để trở lại
với bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của ḿnh.
Nghe giới chí tâm hay không,
vấn đề này hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ
cung kính. Hai chữ “cung kính” trong văn tự thường
đi đôi với nhau có ư nghĩa:
Chữ Cung là biểu thị
h́nh tướng, oai nghi, nghiêm chỉnh ở bên ngoài.
Chữ Kính là chỉ về tâm ư
kiền thành ở bên trong.
Như vậy, trong cũng
như ngoài đều phải tinh thành mới gọi là “chí
tâm”. Giới tạng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
đang tụng là giới tạng của chư Phật,
tất cả đại chúng phải chí tâm lắng nghe.
Nếu lúc nghe mà không chí tâm thành khẩn, th́ không thể vào
được bổn nguyên Tâm Địa. Cho nên lời
cuối cùng của Đức Phật ở đây, đặc
biệt là kết khuyến, răn nhắc đại chúng
phải chí tâm lắng nghe.
Trên đây là giải thích hai câu
kệ:
Đại
chúng giai cung kính,
Chí tâm thính ngă tụng.
Chú thích:
Thành ngữ “phóng hạ đồ đao” trong kinh
điển thường đề cập. Bộ Sơn
Đường Tứ Khảo dẫn giải:
Ngày xưa có một đồ tể
ở hội Niết Bàn vừa buông bỏ con dao làm
nghề sát hại xuống, lập tức được
thành Phật. Đây ư nói sự bỏ dữ theo lành một cách
nhanh chóng, chứ thật sự không phải có thể thành
Phật một cách nhanh chóng như thế. Bởi lẽ,
tạo ác nghiệp hay thiện nghiệp đều do
nơi tâm. Lúc si mê, tùy theo vọng tưởng phiền năo
tạo ác nghiệp; khi tỉnh ngộ, tùy thuận theo trí
huệ mà tạo thiện nghiệp.
Như vậy, Thiện hay Ác nghiệp
đồng do tâm tạo nên. Chính trong khi bỏ Ác
đấy tức là Thiện. Nên nói: “Phóng hạ đồ
đao, lập địa thành Phật”. Hai câu này
người thế gian dù chưa tin Phật cũng
thường nói đến, nhưng phải hiểu rơ ư
nghĩa là như vậy.
Câu này đồng nghĩa với câu:
“Phiền năo tức Bồ Đề”. Nghĩa là mê th́ phiền
năo, ngộ th́ Bồ Đề. Nhưng nên biết rằng,
từ sự giác ngộ ấy tiến tu phải trải
qua ba đại a tăng kỳ kiếp, chứ không
phải buông bỏ con dao sát hại mà thành Phật lập
tức. Nguyên nhân sự thành Phật ở vô lượng
kiếp về sau cũng do giờ phút buông bỏ con dao
đồ tể này. Cũng v́ thế, chư cổ
đức gọi là “hồi đầu thị ngạn”. Ư
nói khi si mê th́ sanh tử luân hồi; một khi đă hồi
quang phản chiếu th́ tiến đến cảnh
giới Niết Bàn.
A.4.2.
TỔNG KẾT GIỚI TƯỚNG (chung kiết
tướng trạng giới tướng)
A.4.2.1. KINH
GIA TỰ THUYẾT (nhà kiết lập kinh tự thuyết)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật...”
đến câu “...Thính Phật tụng nhất thiết
chư Phật đại thừa giới”.
2. Dịch nghĩa:
Thuở ấy, Đức Phật Thích Ca mới thành
đạo Vô Thượng Chánh Giác. Trong khi ngồi
dưới cội Bồ Đề, Ngài bắt đầu
kiết giới Bồ Tát. Ngài dạy: “Hiếu thuận
với cha mẹ, sư tăng, tam bảo, hiếu
thuận với pháp chí đạo. Hiếu gọi là
Giới, tức là ngăn cấm”.
Liền khi ấy, từ nơi miệng Phật phóng
ra vô lượng tia sáng. Các Bồ Tát, mười tám
Phạm thiên, sáu cơi trời Dục giới, mười sáu
đại quốc vương đồng chắp tay, chí
tâm nghe Đức Phật tụng giới pháp Đại Thừa
của tất cả chư Phật.
Lời
giảng:
Hai chữ “nhĩ thời” (khi ấy) chỉ thời
gian Đức Phật từ cơi trời trở lại nhân
gian, thị hiện xuất gia, thành đạo tại châu
Diêm Phù Đề.
Năm chữ “Thích Ca Mâu Ni Phật” là tôn hiệu,
chỉ cho vị Hóa Chủ tụng giới.
Câu “sơ tọa Bồ Đề thọ hạ”
(ngồi dưới cội Bồ Đề) chỉ về hóa
xứ tụng giới (hóa xứ: xứ giáo hóa; hóa chủ:
người giáo hóa), chỉ cho địa phương
Đức Phật đến giáo hóa.
Câu “thành Vô Thượng Chánh Giác dĩ” chỉ cho
quả vị Bồ Đề tối cao mà Phật thị
hiện chứng đắc. Bởi quả vị Bồ
Đề của hàng thánh nhân trong tam thừa chứng
đắc, không thể sánh ngang hàng với Phật vị,
cũng không có người nào có thể vượt qua
Bồ Đề Phật quả. Cho nên gọi là Vô
Thượng Chánh Giác.
Đức Phật ở dưới cội Bồ
Đề, sau khi thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,
lập tức chế định Đại Thừa Bồ Tát
giới. Cho nên nói: “Sơ kiết Bồ Tát Ba La Đề
Mộc Xoa”. Đức Phật thành Phật không bao lâu đă
chế định giới pháp. Điều đó chứng
tỏ giới pháp là điều kiện tối yếu
nhập đạo không thể chậm trễ.
Nói giới Bồ Tát, đương nhiên là
để phân biệt với giới Thanh Văn. V́
giới pháp Thanh Văn là tùy duyên phạm tội mà Đức
Phật căn cứ vào đó để chế giới.
Trái lại giới Bồ Tát không như thế.
Nghĩa là tất cả năm mươi tám giới
Đức Phật chế định ngay trong một lúc
(điều này trong phần Tiên Đề Khái Thuyết đă
nói qua).
Chính v́ cơ nghi thụ nhiếp giới pháp Đại
Thừa chỉ dành cho hành giả Đại Thừa, cho nên
Đức Phật chế định hai phần giới
trọng, giới khinh. Đó không phải là giới pháp hàng
Nhị Thừa có thể học được. Duy chỉ
có Đại Thừa Bồ Tát mới có thể giữ ǵn
Bồ Tát Ba La Đề Mộc Xoa mà Đức Phật đă
kiến lập khi vừa mới thành đạo.
Phần trên đă giải thích bốn câu: “Nhĩ
thời Thích Ca Mâu Ni Phật sơ tọa Bồ Đề
thọ hạ, thành Vô Thượng Chánh Giác dĩ, sơ
kiết Bồ Tát Ba La Đề Mộc Xoa” (thuở ấy
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc mới thành đạo Vô
Thượng Chánh Giác. Trong khi Ngài ngồi dưới
cội Bồ Đề, Ngài bắt đầu kiết
giới Bồ Tát).
Thật vậy, Đức Phật khi mới thành
đạo Vô Thượng Chánh Giác, Ngài liền chế
định Bồ Tát đại giới.
Nhưng định nghĩa thế nào là Giới?
Ngài hoàn toàn chưa v́ đại chúng giải thích minh
bạch. Bấy giờ, Ngài mới nêu ra cương lănh
của Giới, đó chính là “hiếu thuận”.
Ngài đem chữ Hiếu hợp cùng chữ Giới
chung làm một để thuyết minh rằng giới pháp
Chân Đế chính là hiếu đạo. Duy chỉ có hiếu
hạnh mới là giữ ǵn giới pháp một cách chân
thật.
Cũng như chỉ có theo đúng pháp để
giữ giới mới thiết thực đạt tới
sự cùng tột của hiếu đạo. Cho nên, học
giới không có ǵ khó, chỉ cần học tập “hiếu
thuận với cha mẹ, sư tăng, Tam Bảo” mà thôi.
Nếu đối với cha mẹ, sư tăng, Tam
Bảo có thể thực hành đến mức hiếu
thuận chơn chánh tức là đă đồng với
nghiêm tŕ tịnh giới.
Như thế đủ thấy rằng: Giới
hạnh của Bồ Tát là nhân tối thắng trong muôn
hạnh. Cha mẹ là người sanh thành, dưỡng
dục sắc thân của chúng ta. Nếu như không có cha
mẹ th́ không bao giờ có sắc thân của chúng ta trên
thế gian. Và đă không có sắc thân th́ làm sao có thể
hành đạo? Cho nên ân đức của cha mẹ
đối với chúng ta thật là vĩ đại.
Thử nghĩ, cha mẹ ban sanh mạng cho chúng ta,
lại nuôi nấng, vỗ về cho chúng ta được
trưởng thành. Trong suốt quá tŕnh ấy, cha mẹ
đă nếm không biết bao nhiêu sự cay đắng.
Chúng ta bổn phận làm con, dù trai hay gái, đối
với cha mẹ, phải phát khởi hiếu tâm, thừa
thuận, phụng sự cha mẹ để mong
đền đáp một phần trong muôn một thâm ân này.
Nếu đối với cha mẹ không thực hành
hiếu đạo th́ bất luận đối với
thế pháp hay xuất thế pháp đều không bằng
loài cầm thú!
Trung Hoa xưa có tích “ô nha phản bổ” (quạ con
nuôi mẹ). Danh từ “ô nha” nếu phân tích kỹ th́ Ô là con
quạ lông cánh đen mướt. Loài quạ này biết
đền đáp công ơn cha mẹ nó. Nha cũng là loài
quạ, nhưng loại này không biết báo hiếu. Nhưng
danh từ “ô nha” ở đây chỉ chung loài quạ lông cánh
xanh đen. Khi quạ mẹ già không thể kiếm ăn
được th́ quạ con đi khắp nơi t́m
kiếm vật thực đem về nuôi dưỡng
quạ già. Quạ là loài phi cầm mà c̣n biết hiếu
thảo như thế, c̣n chúng ta là loài người, lẽ
nào đối với cha mẹ không thực hành
được hiếu đạo đối với
mẹ cha?
Tiện đây, dịch giả xin trích bộ Vật
Do Như Thử của Từ Thái Sử, vài mẫu
truyện ngắn về loài phi cầm, tẩu thú c̣n
biết báo hiếu cha mẹ.
* Tích thứ 1:
Trường Hưng hiếu nga trủng (mộ phần con
ngỗng có hiếu tại Trường Hưng)
Vào niên hiệu Thiên Bảo năm cuối, tại
huyện Trường Hưng, có một người
phụ nữ tên Trần Thị, nuôi một con ngỗng
mái. Ngỗng ấy khi đẻ trứng, bị ruột sa
mà chết. Bấy giờ, ngỗng con thấy thế
buồn rầu kêu la thảm thiết và bỏ ăn. Sau
đó, nó đi kéo một chiếc chiếu rách che thi hài
của mẹ nó. Rồi lại ngậm những cọng
cỏ non sắp bày trước thi hài như h́nh trạng
cúng tế. Ngỗng con ngước lên trời buồn kêu
một lúc rồi cũng chết theo mẹ.
Trần thị thấy thế làm lạ, sanh ḷng
thương cảm, bèn mua một cái tráp ván, bỏ
ngỗng vào đem chôn. Người sau nhân đó gọi là
“mộ phần của hiếu nga”.
Lư Tự Nghĩa xem chuyện ấy xong, nhận xét:
“Tôi thiết nghĩ chỉ một con ngỗng con mà c̣n
biết báo hiếu cho mẹ nó. Con người đối
với cha mẹ cư xử như thế nào? Chính mắt
tôi trông thấy có những người khi cha mẹ
chết, họ vẫn uống rượu, ăn thịt,
vui cười, đùa giỡn trong khi đọc văn
tế lễ. Họ cũng tự lấy đó làm cao. Con
người như thế chắc chắn không phải là
con người! Nếu họ đọc truyện ngắn
của con hiếu nga trên th́ không cảm thấy thẹn
đến chết hay sao?”
Ông Hạo tử (biệt hiệu của Từ Thái
Sử, người trước tác bộ Vật Do Như
Thử) nói: “Mẫu thân chết, hiếu nga bi thảm
đến như thế, không biết nếu mẫu thân nó
c̣n sống th́ con hiếu nga ấy gần gũi luyến
ái biết dường nào!” Hạc tử làm bài thơ
rằng:
Sự tử hà
cập sự sanh,
Ngưỡng thiên
khốc thuyết lệ tung hoành,
Vi nhi xả mạng
thân nan thục,
Tuyền hạ nan
văn đổng mẫu thinh.
Đại ư bài thơ này nói lên t́nh thương của
ngỗng con đối với ngỗng mẹ. Trong đó,
Hạc tử muốn nhấn mạnh ư nghĩa: Thờ
phượng cha mẹ lúc chết không bằng lúc sống.
Nhưng ngỗng con kia quá thương mẹ. Khi thấy
thi hài của mẹ nó nằm đó, nó buồn đau vô
cùng, nên ngước mặt lên trời than khóc, máu ḥa
nước mắt tuôn rơi chung quanh xác mẹ. Bổn
phận làm con dù có xả thân mạng cũng khó đền
đáp công ơn sanh dưỡng. Và ngỗng mẹ ở
suối vàng đâu nghe được những tiếng khóc
đau thương của ngỗng con?
* Tích thứ 2:
Biển bức thức mẫu khí (dơi con biết hơi mẹ)
Tiêu Vu Thị, người tại My Châu, v́ bệnh
cần phải ḥa hợp các thứ thuốc để làm
thành tễ (thuốc tễ). Trong tễ thuốc, tất
cả các loại thuốc đều lấy từ
dược thảo, riêng có một vị phải dùng
biển bức (con dơi). Do đó, ông t́m bắt một
con dơi đem về nhổ lông, phơi khô, sao tán thành
bột, ḥa thuốc làm tễ.
Trong khi ông làm thuốc tễ th́ có vài con dơi
nhỏ tự nhiên đến vây quanh. Những con dơi kia
chưa mở mắt, nhưng chính do biết hơi mẹ
mà bay đến. Cả nhà họ Đinh thấy thế
đều rơi lệ, thệ nguyện từ đó
về sau, nếu có bào chế thuốc, quyết không dùng
sanh mạng loài vật, lại rất siêng năng phóng sanh.
Nhờ đó, thuốc kia chưa uống mà bệnh đă
lành.
Lư Tự Nghĩa nói: “Những biển bức con
biết hơi mẹ mà đến, có thể thấy t́nh
mẫu tử nhất khí đồng thể, sanh tử
tương quan. Thế nên nhất quyết không nên dùng sinh
mệnh để ḥa hợp thuốc. Suy gẫm kỹ,
nếu thương tổn sinh mạng loài vật
để cứu mạng ḿnh th́ dù có thể cứu
được đi nữa, vẫn c̣n rất tàn nhẫn,
huống chi vị tất cứu được ư?
Tôi nhớ lại năm Ất Hợi, phu nhân trong nhà
tôi bệnh nặng, thầy thuốc bảo phải dùng
toàn thân con trạch lớn, ḥa với các thứ thuốc
để làm thành hoàn (viên tṛn) mới có thể cứu
được. Tôi quyết định ngăn cản không
cho. Nhưng y sĩ muốn cứu phu nhân tôi, lén mua
trạch chế thuốc cho uống, nhưng rốt
cuộc bệnh vẫn không lành. Thế là không thể
cứu mạng người, c̣n làm thương hại
đến sanh mạng loài vật. Thực là việc
đáng thương, đáng buồn!”
Hạc tử nói: “Xét cho kỹ những con biển
bức biết hơi mẹ, đến vây quanh nơi
chỗ làm thuốc. Đối với sự việc ấy,
chẳng những toàn gia họ Đinh đều rơi lệ
mà đến hôm nay tôi đọc truyện này cũng
liền gấp quyển, nước mắt tự nhiên
chảy ṛng ṛng xuống”.
* Tích thứ 3:
Độc thôn đao (trâu nghé nuốt đao - truyện trích trong tập
Liễu Nhai Tử)
Ở Trung Hoa ngày xưa, tại huyện Thuật
Dương, có anh đồ tể họ Vương chuyên
nghề giết trâu bán thịt nuôi sống.
Một hôm anh mua về hai con trâu: một mẹ,
một con. Anh định giết trâu mẹ trước
nên cột trâu mẹ vào một cây cột để đi
mài dao. Đang lúc đó có người đến gơ cửa, anh
để dao xuống chạy ra mở cửa. Trâu nghé
thừa dịp không người, liền ngậm con dao
của anh đồ tể, chạy thẳng đến nhà
hàng xóm.
Đến nhà của Tôn Lăo, trâu nghé dùng sừng cụng
vào cửa. Nghe tiếng động, Tôn Lăo chạy ra mở
cửa th́ thấy một con nghé, trong miệng ngậm
một con dao đă nuốt gần một nửa. Chỉ
trong chốc lát sau, nó đă nuốt hết con dao. Trâu nghé
nh́n Tôn Lăo với vẻ buồn rầu và kêu la thảm
thiết.
Trong lúc Tôn Lăo c̣n đang kinh dị th́ anh đồ
tể họ Vương hơ hải chạy đến.
V́ sau khi tiếp khách xong, anh định tiếp tục mài
dao, nhưng xem lại th́ con dao biến mất. Trâu nghé
cũng không c̣n. Anh ta đi kiếm, khi đến nhà Tôn Lăo
hỏi lư do, mới biết sự thật trâu nghé nuốt
dao, v́ nó không muốn trâu mẹ bị giết.
Tôn Lăo là người sống bằng nghề nông, nghe
chàng họ Vương thuật lại việc trâu nghé
ngậm dao chạy đi, ông liền động mối
từ tâm, chẳng nỡ để cả hai mẹ con
bị giết, nên hỏi đồ tể họ
Vương giá hai con trâu bao nhiêu. Biết được giá
cả, Tôn Lăo liền xuất một món tiền lớn và
dùng lời nhă nhặn bảo họ Vương: “Anh làm
nghề bán thịt trâu th́ phải có lời mới
sống. Hôm nay xin anh hoan hỷ cho tôi mua lại hai mẹ
con trâu. Tôi xin hoàn số tiền gấp đôi”.
Đồ tể họ Vương biết Tôn Lăo là
người nhân đức từ trước đến
nay, nên vui vẻ nhận lấy số tiền. Tôn Lăo
đến nhà họ Vương mở trói trâu mẹ,
dắt đem về. Trâu nghé vừa thấy mẹ, hai hàng
lệ tuôn rơi, và quỳ bên Tôn Lăo tỏ vẻ tạ
ơn. Trâu mẹ cũng đến liếm con từ
đầu đến đuôi. Tôn Lăo nghĩ rằng trâu nghé
không thể sống, nhưng trải qua cả tuần
lễ vẫn không thấy có ǵ lạ. Về sau trâu mẹ
đem hết sức lực làm ruộng cho Tôn Lăo
được vài năm rồi chết. Tôn Lăo chôn cất
tử tế, trâu nghé cũng đem hết sức làm
ruộng cho con của Tôn Lăo sau khi ông qua đời hơn
hai mươi năm.
Khi trâu nghé chết, những người biết chuyện
20 năm trước trâu nghé nuốt đao, họ xúm nhau
bàn với con Tôn Lăo mổ bụng trâu ra xem. Con Tôn Lăo
nghĩ rằng nếu con vật c̣n sống mà đem
mổ bụng là tội ác, nhưng nay nó đă chết
rồi th́ tử thi giống như cây đá, nên bằng
ḷng cho người mổ bụng trước khi chôn
cất. Khi mổ bụng ra th́ rơ ràng chiếc dao nằm
ở dạ dày. Điều quái lạ là có một cái bao da
rất dày bọc chung quanh con dao, giống như chiếc
vỏ đao bọc bên ngoài.
Hạc tử nói: “Sự
việc con trâu nghé này thật là kinh thiên động
địa! Tôi đọc truyện này đầu tiên
phải tấm tắc khen ngợi, thế rồi kính
cẩn thâu nhiếp sắc diện, rồi lại xúc
động rơi lệ, đứng dậy khoa chân múa
tay...
Sau đó, ông lại đề thơ cảm tác:
Thôn đao tạc
tạc mạc nghi hư,
Khấu giác
độc cầm Tôn lăo cư,
Tử mẫu sạ
phùng ngưỡng thiên đống,
Nhứt thời
cuồng hỷ cánh hà như?
Dịch:
Nuốt
dao việc ấy chớ hồ nghi,
Húc sừng gơ cửa
lăo Tôn bi,
Mẹ con gặp
gỡ nh́n trời rống,
Mừng này mấy
thuở sánh sao b́?
* Tích thứ 4:
Khuyển bộ mẫu (Chó nuôi mẹ - truyện này trích trong
Cẩm Tâm Lục)
Ở Trung Hoa, tại huyện Đức Hưng, có
người chuyên làm ruộng, gia đ́nh nghèo túng. Trong nhà có
nuôi con chó cái. Lúc nó sinh con, v́ không có ǵ ăn, lại thêm
đám con xúm nhau bú, cho nên thân h́nh nó chỉ c̣n da bọc
xương.
Cách nhà này hơn nửa dặm, có người họ
Vương, một hôm đến nhà bác nông phu, thấy t́nh
trạng thảm thương như vậy, nên nhân khi
mấy con chó con dứt bú, bèn xin một con chó con đem
về nuôi.
Hằng ngày ông này dùng tấm cám nấu cho chó con
ăn no. Chó con sau khi được ăn no liền vui
mừng ngoắt đuôi, hớn hở chạy về
chỗ cũ ói ra những đồ ăn trong bụng cho
mẹ nó ăn. Buổi mai cũng như chiều, dù
gặp lúc mưa gió, chó con vẫn không quên mẹ.
Một nhân sĩ đương thời mục kích
cảnh ấy có làm bài phú ca ngợi hiếu khuyển sau
đây:
Cảm từ phong
vũ lộ giang tân,
Triêu mộ bái hồi
bàng mẫu thân,
An đắc gia gia
hoan thúc thỉ,
Bạch đầu
thùy niệm ỷ lư nhân.
Dịch:
Cảm ḷng con trẻ gió mưa
sông,
Chiều mai nuôi mẹ chẳng thưa ḷng,
Cảnh nghèo hôm sớm vui rau cháo,
Tóc trắng phương trời tựa cửa trông.
Ư nghĩa bài phú trên:
Hai câu đầu mô tả hoản cảnh chó con nuôi
mẹ. Sau khi được chủ mới xin về nhà
nuôi và cho ăn uống no đủ, chó con không quên mẹ,
nên ngày ngày hai lượt chạy trở về chốn
cũ ói thức ăn ra để nuôi mẹ. Dù gặp lúc
mưa to, gió lớn, sông nước ngăn trở, chó con
vẫn không ngại khổ nhọc, lo cho mẹ khỏi
bị đói ḷng, không bao giờ xao lăng bổn phận.
Hai câu dưới đem cảnh nghèo khổ của
chó con nuôi mẹ so sánh với cảnh nghèo túng của
những người nghèo trong xă hội. Trên đời này,
có mấy người sống trong cảnh nghèo đói mà
được niềm hạnh phúc đầm ấm, trong
sự hiếu thảo của con nuôi dưỡng như
trường hợp chó mẹ được con nuôi như
vậy?
Ba chữ “hoan thúc thỉ” mô tả cảnh
người nghèo, tuy chỉ ăn đậu, uống
nước lă, sống qua ngày nhưng vui sống với
những đứa con hiếu thảo. Ba chữ này trích
trong kinh Lễ: “Chiết thúc, ẩm thỉ tận kỳ
hoan” (ăn đậu, uống nước lă cũng vui vô
cùng).
Hai chữ “bạch đầu” ư chỉ mẹ nuôi con
khôn lớn đến lúc bạc đầu nhưng có
mấy ai nghĩ đến thâm ân từ mẫu.
Ba chữ “ỷ lư nhân” ư nói khi con ra khỏi nhà,
mẹ thường sớm chiều tựa cửa ngóng
trông.
* Tích thứ 5:
Độc tàng đao (ḅ con giấu dao – truyện trích trong tập Đồng
Sanh Lục)
Tại tỉnh Vân Nam, châu An Ninh bên Trung Hoa, có anh chàng
đồ tể họ Triệu, chuyên làm nghề bán
thịt ḅ nuôi sống. Một hôm, anh ta mua về hai con ḅ
một mẹ, một con. Khi đem về nhà, anh
định giết ḅ mẹ trước, nên trói lại
rồi vào nhà lấy thùng ra hứng huyết. Ḅ con
đứng cạnh trông thấy chiếc dao đồ
tể để gần mẹ nó, nó vội ngậm dao
đem giấu nơi kẹt đá.
Anh đồ tể khi xách thùng ra, kiếm con dao
thọc cổ ḅ, nhưng không thấy đâu cả. Trong
lúc anh ta đi kiếm khắp chỗ, th́ có người
hàng xóm trông thấy việc làm của ḅ con thuật lại
cho anh ta. Nhưng anh đồ tể không tin, sau đó
lấy một con dao khác đặt vào chỗ cũ,
rồi vào trong nhà nép bên cửa sổ nh́n xem, anh thấy rơ
ràng ḅ con cũng làm như trước.
Đồ tể họ Triệu chính mắt thấy
cảnh đó, ḷng buồn vô hạn, nước mắt
tuôn rơi, ăn năn những tội đă làm từ
trước. Chàng lập tức bỏ nhà vào trong Hoa Sơn
làm đạo sĩ. Hằng ngày hành thiện và chí thành sám
hối, lại dặn mẹ ở nhà nuôi hai con ḅ ấy.
Đến 20 năm sau, khi chúng chết, chôn cất chu toàn.
Hạc Tử đề thơ cảm tác:
Đao đầu
chuyển thính huyết phi hồng,
Tiểu độc
hàm đao dĩ kế cùng;
Nhị thập niên
gian t́ mẫu hạn,
Hoa Sơn tiêu thụ
hảo ṭng phong.
Ư nghĩa bài thơ trên diễn tả cảnh
người đồ tể trong lúc giết ḅ, chỉ
cầm dao trong nháy mắt th́ máu đỏ đă bắn ra
tung tóe. Câu hai diễn tả hành động ḅ con ngậm
dao đem giấu để cứu mẹ. Hai câu sau nói
sự hai mẹ con ḅ được gia đ́nh họ
Triệu nuôi tử tế, riêng anh đồ tể bây
giờ chuyên lo tu dưỡng, hưởng cảnh thanh nhàn
nơi Hoa Sơn.
Hạc Tử đă b́nh luận: “Việc làm của
đồ tể họ Triệu trong truyện này cùng
với đồ tể họ An đem dê mẹ, dê con vào
chùa phóng sanh, đều là bậc anh dũng, phát tâm dơng mănh,
phóng hạ đồ đao một cách dứt khoát dễ
dàng”.
Hàng Sơn Tử có câu: “Liên hoa sanh phất thang”,
nghĩa là “hoa sen sanh trong nước sôi” cũng là
để nhắc nhở tích xưa, chuyện thật
vậy.
Dịch giả thành kính y trong bộ Vật Do Như
Thử dịch lại 5 truyện ngắn trên. Hai chuyện
thuộc về phi cầm; ba truyện thuộc về
tẩu thú. Kính mong chư thượng đức, tăng
ni hai giới cùng quư Phật tử tại gia đă thọ
Bồ Tát giới sau khi đọc những truyện này,
luôn nhớ lời Phật dạy: “Nhứt thiết chúng
sanh giai hữu Phật tánh, thị tâm tác Phật” (Tất
cả loài hữu t́nh có tâm thức, có hoạt động,
tức nhiên có Phật tánh. Đă có Phật tánh th́ trong những
kiếp tương lai, không chóng th́ chầy, cũng sẽ
thành Phật).
Khi đă hiểu như thế, đối với cá
nhân tự ḿnh, nên nghiêm tŕ tịnh giới, làm cho Bồ
Đề tâm tăng trưởng. Đối với chúng sanh
(lớn như voi, trâu; nhỏ như kiến, mọt) luôn
thực hành theo lời Phật dạy là phải có tâm
hiếu thuận, từ bi. Được như thế th́
phước đức vô lượng và mau viên măn quả
Bồ Đề.
Riêng về ư nghĩa bốn chữ Vật Do Như
Thử là tựa đề quyển sách, có ư nghĩa là loài
vật, cầm thú c̣n như thế (biết hiếu
thảo) huống chi là con người, không lẽ không
bằng loài vật.
Như trên đă nói qua hiếu đạo của loài
cầm thú, bây giờ xin nói qua hiếu đạo của
con người. Y chiếu theo trong kinh điển, xin nêu
lên hai gương hiếu hạnh:
* Tích 1: Gương
đại hiếu của Viêm Ma vương tử
Phụ thân của Viêm Ma Vương Tử một hôm
lâm trọng bệnh. Sau khi chẩn mạch, y sĩ cho
biết muốn chữa bệnh phải có con mắt
của người từ lúc sơ sinh đă không bao
giờ có tâm nóng giận, chưng làm thuốc uống th́ bệnh
mới hy vọng chữa khỏi. Ngoài ra không có vị
thuốc nào có thể chữa khỏi được.
Viêm Ma Vương Tử nghe vậy liền thưa
với y sĩ rằng: “Thưa tiên sinh, tôi là người
từ trước đến nay không hề nóng giận.
Vậy tôi xin thành tâm nguyện móc mắt để trị
bệnh cho thân phụ”.
Chư vị hăy suy nghĩ
đây là một gương hiếu hạnh vĩ
đại biết dường nào!
* Tích 2: Đồng
tử Từ Tâm
Trong kinh lại nói, có một đồng tử tên là
Từ Tâm. V́ muốn ra biển cả t́m châu báu để
cứu tế những chúng sanh trong cảnh bần cùng,
khốn khổ. Sau khi định như vậy,
đồng tử bèn từ biệt thân mẫu của ḿnh
để ra đi.
Thân mẫu của đồng tử v́ ḷng
thương con tha thiết, bà e rằng đồng tử
xuống biển t́m châu báu chưa chắc đă t́m
được, nhưng sanh mạng quư báu lại bị
mất. V́ thế bà không tán thành ư kiến của con.
Nhưng từ tâm muốn t́m châu báu cứu giúp chúng sanh
của Từ Tâm quá tha thiết, đồng tử không
kể đến lời can ngăn của mẹ, quyết
chí ra đi.
Trước khi đi, trong lúc nóng giận v́ sự
cản trở của mẹ, đồng tử đă
đến gần bà nhổ đi một sợi tóc mà không
ai hay biết. V́ hành động ngỗ nghịch bất
hiếu đối với thân mẫu như vậy, nên khi
đồng tử vào trong biển cả, tự nhiên
thấy một ṿng sắt nóng cháy đỏ từ không
trung rơi xuống ngay đỉnh đầu xoay tít trên
ấy.
Đồng tử cảm thấy thống khổ
cực điểm, liền lập tức phát đại
thệ nguyện rằng: “Từ này về sau, tôi nguyện
nếu có bao nhiêu tội nhân phải chịu khổ h́nh này,
tôi xin t́nh nguyện chịu thay tất cả”.
Do sự phát nguyện rộng sâu như thế, ṿng
lửa cháy đỏ đang xoay trên đầu đồng
tử liền tiêu diệt.
Kinh Khê Đại Sư khi xem truyện ấy, có làm bài
kệ:
Nghịch mẫu
tổn phát,
Thành địa
ngục tâm,
Phát thệ lập
nguyện,
Thuộc Phật
giới hiện.
Dịch:
Nghịch với
mẫu thân nhổ sợi tóc,
Tâm ngỗ nghịch
ấy thành nhân địa ngục.
Phát thệ lập
nguyện độ chúng sanh
Tức là thiện tâm
soi nơi Phật giới.
Thế nên, chúng ta đối với cha mẹ
phải luôn thực hành hiếu đạo.
Trên đă đề cập đến sự hiếu
thuận đối với phụ mẫu, tiếp theo xin
giải thích sự hiếu thuận đối với
sư tăng, Tam Bảo. Chữ Sư trong kinh văn
chỉ cho Bổn Sư Ḥa Thượng, cũng chỉ cho
tam sư thất chứng. Bổn Sư Ḥa Thượng và
tam sư thất chứng chẳng những có ân đức
dạy dỗ chúng ta, mà c̣n có trọng ân thành tựu
giới thân huệ mạng cho chúng ta.
Nếu không có giới thân để làm gốc tu nhân
th́ tất cả công đức pháp lành đều không
thể sanh trưởng được. Nếu như không
có sự giáo huấn của sư trưởng th́ chúng ta
không biết tu hành như thế nào. Dù có tu đi nữa,
cũng lạc vào đường lối tu hành mù quáng, không
có hy vọng được thành Phật.
Thâm ân trọng đức vĩ đại này hoàn toàn
từ nơi bậc sư trưởng đă ban cho chúng ta.
Cho nên đối với sư trưởng chúng ta phải
hết ḷng thờ kính, phụng dưỡng và hiếu
thuận, không được trái nghịch, để
khả dĩ gọi là báo bổ một phần trong muôn
một thâm ân trọng đức này!
Tam Bảo nghĩa là Phật, Pháp, Tăng. Phật là
đấng Đạo Sư trong tam giới. Pháp là hoằng quy
xuất thế gian. Tăng là đệ tử Như Lai,
người thay thế cho Phật tuyên dương chánh
pháp, lợi ích quần sanh. Phật, Pháp, Tăng gọi là
Tam Bảo, là phước điền tốt của muôn
loài, là từ phụ của tứ sanh. Có công năng thành
tựu huệ mạng cho chúng sanh. Huệ mạng của
chúng ta hoàn toàn nương nhờ sự huân tu trong ngôi Tam
Bảo mà thành.
Nếu không có sự huân tu trong ngôi Tam Bảo th́ chúng
ta nhờ đâu mà được huệ mạng cho
đến chứng đắc quả Vô Thượng
Bồ Đề? V́ thế, thâm ân trọng đức của
Tam Bảo đối với chúng ta thật vĩ
đại, không thể nào h́nh dung và đo lường.
Cho nên là một Phật tử đối với ân
sâu dường bể cả của Tam Bảo, phải khéo
léo cung kính, phụng dưỡng, hết ḷng hiếu
thuận, tôn trọng, không được trái nghịch,
mới có thể đền đáp thâm ân trong muôn một.
Nếu không như thế, th́ không xứng đáng là
người đệ tử của Tam Bảo.
Tóm lại:
Cha mẹ có công sanh thành dưỡng dục. Sư
tăng có công giáo huấn dẫn dắt. Tam Bảo có ân
cứu độ. Thế nên chúng ta nhất thiết
phải hiếu thuận. Hiếu thuận đối
với cha mẹ, sư tăng, tam bảo là đồng
với vâng giữ giới cấm của Như Lai, nên
gọi hiếu thuận là cương lănh của giới
pháp. Đây là một giá trị đặc biệt, chúng ta
phải chiêm nghiệm, nghiên cứu và tôn trọng triệt
để.
Thông thường, thế nhân không hiểu rơ giới
pháp và hiếu thuận tuy dị danh nhưng đồng
nhất thể. Nên khi nh́n thấy những người
xuất gia, cát ái từ thân, không nuôi dưỡng cha mẹ,
cạo râu, bỏ tóc, đem thân giam hăm nơi chốn
thiền môn thanh tịnh hay chốn lan nhă tịch tĩnh;
họ liền cho rằng hành động ấy là
đại bất hiếu. V́ thế, họ kết
luận Phật giáo là một tôn giáo không xem trọng
Hiếu đạo.
Quan niệm ấy thật vô cùng sai lầm! Phải
biết giới pháp của Phật là hiếu đạo,
bao dung tất cả. Không thể cho Phật pháp là quên
đạo hiếu thuận. Phật pháp chẳng những
không quên hiếu đạo mà trái lại c̣n xem đó là
điều tối trọng yếu.
Do vậy, nên trong Tây Quy Trực Chỉ quyển 3
của bộ An Sĩ Toàn Thư, có chương mang
đề mục “Đại hiếu nhân bất nguyện
nhập thai” (người đại hiếu không nguyện
nhập vào thai mẹ) thuyết minh như sau:
Thần thức con người khi gá vào thai mẹ,
chẳng những tự ḿnh bị khổ, mà chính cũng
làm cho mẫu thân thọ đại khổ.
- Đây xin nói về nỗi khổ khi c̣n ở trong thai
và lúc thoát thai. Khi c̣n trong thai, hài nhi nằm ở
dưới sanh tạng, trên đại trường. Ban
đầu h́nh thể dường như váng cháo, sau đó
như cái bóng nước, tiếp tục triển
chuyển đổi thay dần dà thành h́nh. Lúc ở trong bào
thai hoàn toàn không được tự do, lại chịu
nhiều thống khổ, khi mẹ ăn đồ nóng,
thai khác nào như bị nước sôi rưới và thân;
khi mẹ ăn thức lạnh, thai nhi dường nằm
trên băng tuyết.
- Chỗ ở là nơi hoàn toàn không tinh khiết,
thức ăn đều là máu huyết bất tịnh.
Thời kỳ hoài thai tuy không quá ba trăm ngày mà sự
thọ khổ dài gần 20 năm, nên trong kinh gọi là
“thai ngục”. Đến khi đă đầy đủ ngày
tháng, hài nhi lộn ngược, đầu hướng
xuống sản môn, h́nh chất dần dà to lớn,
muốn t́m lối ra cũng không biết phải làm sao!
Thế là con đường tự tử chính ở
giờ phút này, mà nhân duyên giết mẹ cũng ngay giờ
phút này. Lúc sanh, bà mụ kéo hài nhi từ bụng mẹ ra,
nỗi đau ấy hài nhi cảm thấy dường
như bị xe cán. V́ thế, khi vừa ra khỏi thai, không
một hài nhi nào mà không cất tiếng khóc. Tiếng khóc
nghe chừng âm vang hai chữ: “Khổ a! Khổ a!”
Khi ra khỏi thai, trẻ chưa nhận thức
được thế nào là dơ sạch, ḅ lết
nằm ngồi trên phẩn uế. Cho dù người
đại phú quư hay bậc đại thánh, đại
hiền cũng vẫn như vậy. Nhưng v́ mọi
người đă quen chấp nhận, nên cho là luật
tự nhiên, không lưu tâm đến những điểm
đó.
Nhưng nếu là kẻ có tâm tỉnh ngộ,
những lúc đêm khuya thanh vắng, tự ḿnh suy ngẫm,
lẽ nào không cảm thấy buồn chán hổ thẹn!
Lúc lâm bồn hài nhi chịu thống khổ đă đành,
nhưng người mẹ lại càng muôn vàn nỗi
thống khổ lẫn hổ thẹn. Từng phút giây
đối diện với tử thần, mỗi niệm,
mỗi niệm, sợ sanh khó được. Nếu may
mắn qua khỏi, sống lại, khi vừa thấy hài
nhi th́ bao nhiêu đớn đau, hổ thẹn đều
quên mất, ḷng mẹ thương yêu quư trọng con
dường như châu ngọc.
Từ đây lo chăm sóc, ẵm bồng, cho ăn,
cho bú, nằm nơi ẩm ướt, nhường chỗ
khô ráo cho con. Khi sanh nở, bao nhiêu tinh huyết đều
tiêu ṃn, nỗi khổ của từ mẫu nói sao cho
cạn.
Nên xưa kia có thầy sa-di mới bảy tuổi
xuất gia, tinh tấn tu hành. Sau khi đắc đạo
Lục Thông, thầy dùng Túc Mạng Thông tự biết rơ
những đời quá khứ của ḿnh. Thầy xúc
động than rằng:
- Chỉ một thân ta đây mà làm khổ lụy không
biết bao nhiêu bà mẹ. Ở đây, ta chỉ nói sự
thống khổ của năm bà mẹ thôi. Khi làm con
của bà mẹ thứ nhứt, gần nhà một sản
phụ cũng sanh một nam tử như ta. Riêng ta
đoản mạng, mỗi khi mẹ ta nh́n thấy con bà
hàng xóm trưởng thành liền sanh ḷng buồn rầu,
khổ năo. Khi làm con bà mẹ thứ hai, ta cũng lại
chết sớm. Mẹ ta nếu thấy người cho con
bú liền sanh ḷng buồn khổ. Đến khi làm con
người thứ ba, mới lên mười tuổi, ta
cũng qua đời. Mẹ ta mỗi khi thấy con
của người khác ăn uống như ta, th́ đâm ra
đau buồn, khổ năo. Khi làm con bà mẹ thứ tư,
chưa nói đến cuộc hôn nhân th́ ta đă chết.
Mẹ ta trông thấy những thanh niên trang lứa như
ta, có cha mẹ đi kết thông gia và cưới vợ,
th́ cũng buồn rầu đau khổ vô cùng. Hiện
tại làm con bà mẹ thứ năm, ta mới bảy
tuổi, theo thầy xuất gia, học đạo, mẹ
ta ở nhà trơ trọi một ḿnh, mỗi khi nhớ
đến con, quên ăn, bỏ ngủ sanh ra đau
buồn khổ năo.
Chao ôi! Chúng sanh ở trong ṿng luân hồi sanh tử có
vui thú ǵ? Mỗi khi thọ sanh chỉ làm khổ lụy cho
mẹ như thế. V́ vậy, sau khi xa ĺa cha mẹ, ta tinh
tấn học đạo chuyên tu, hôm nay đạo quả
đă viên thành...
Hiện nay trên khắp nẻo đường thênh
thang xuôi ngược, bao nhiêu lữ hành lại qua nhộn
nhịp như thoi đưa. Đại đa số
đều là những kẻ làm khổ lụy cho cha
mẹ, có mấy ai biết báo đáp công ơn dưỡng
dục sanh thành?
Nếu suy gẫm cho kỹ, thoát thai một
đời làm khổ lụy cho cha mẹ một
đời; thoát thai trăm ngàn muôn ức đời làm
khổ lụy cho cha mẹ đến trăm ngàn muôn
ức đời, chẳng phải thật đáng buồn
hay sao?
Thế nên Đại Thánh Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng
ta thương xót thế gian, Ngài dạy chúng ta nhứt tâm
niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ,
hóa sanh nơi hoa sen. Tự ḿnh đă tránh khỏi
được hoạn nạn về sanh khổ, mà
đối với cha mẹ cũng vĩnh viễn tránh
được sự gây khổ lụy cho từ thân. Đó
chẳng phải là hạnh đại hiếu của
bậc đại hiếu hay sao?
Thế nhưng, có lắm người không tin
Phật, họ trở lại phỉ báng Phật, cho
rằng những người xuất gia là đại
bất hiếu. Ấy là họ cam ḷng chịu ở trong
thai ngục, cũng như làm khổ lụy cho mẫu thân!
Truyện ngắn trên đây cho chúng ta thấy
đạo hiếu thuận trong Phật pháp là hàm dung
tất cả.
Ở đây, những Phật giáo đồ thuần
chánh, đôi lúc cũng có thể phát sanh nghi vấn: “Ư
nghĩa giới pháp trong Phật pháp rất rộng
lớn, c̣n hiếu thuận thông thường của
thế tục đâu thể nào là cùng tột, để
sánh với nghĩa giới pháp của Phật?”
Nên biết rằng: Hiếu thuận trong Phật pháp
giảng nói, không phải là thứ hiếu thuận thông
thường trong thế tục.
Tại sao vậy? V́ quan niệm về hiếu
thuận của thế tục, mọi người nếu
quả có thể thực hành được th́ chẳng qua
chỉ thu được tiểu quả của cơi nhân
thiên mà thôi. Ngược lại, quan niệm hiếu
thuận của Phật pháp rộng lớn dường
như hư không.
Nếu có thể thực hành được th́ thâu
hoạch được quả vị Vô Thượng
Bồ Đề, cho nên trong kinh văn nói hiếu thuận là
pháp chí đạo. Không phải là thứ hiếu thuận
phục lao, phụng dưỡng thông thường.
Trong Vu Lan Bồn Sớ thuyết minh:
Khể thủ tam
giới chủ,
Đại hiếu Thích
Ca tôn,
Lịch kiếp báo
thâm ân,
Tích nhân thành Chánh Giác.
Dịch:
Cúi đầu
đảnh lễ Tam Giới Chủ
Thích Ca Mâu Ni
đại hiếu tôn
Nhiều kiếp
đáp đền ơn cha mẹ,
Chứa nhóm nhân lành
thành Chánh Giác.
Cực đỉnh của vô thượng Phật
quả là do báo đáp thâm ân của song thân mà thành, th́ đâu
phải là thứ hiếu thuận của thế gian?
Hiếu thuận với song thân sẽ được
đắc thành quả Phật và bất hiếu với
song thân lẽ đương nhiên phải thọ quả
khổ. Nói vậy để thấy rằng quả báo
sướng, khổ của thế gian và xuất thế
gian đều do nơi hiếu hoặc bất hiếu
chiêu cảm nên, tức là do nơi tŕ giới hay không tŕ
giới mà thọ lănh vậy.
Phần trên giải thích câu: “Hiếu thuận chí
đạo chi pháp”. Theo sự dẫn giải này, chúng ta
thấy rơ hiếu thuận cùng pháp giới tuy dị danh
nhưng đồng nhất thể.
Nên Đức Phật dạy tiếp: “Hiếu danh vi
Giới” (Hiếu gọi là Giới). Theo quan niệm trong
Phật pháp, hiếu thuận đứng về mặt
thời gian, chẳng những trong đời hiện
tại, bổn phận làm con, không phân biệt nam nữ, dù
hết ḷng hầu hạ, phụng dưỡng, cúng
dường cho cha mẹ, cũng chưa được xem
là hoàn toàn hiếu thuận và đền đáp thâm ân cha
mẹ đầy đủ; mà phải làm thế nào cho cha
mẹ sanh tín tâm đối với Tam Bảo, từ trong
Tam Bảo tu học, để thâm tâm được
giải thoát. Đó mới chính thật là đại hiếu
hạnh theo quan niệm của Phật pháp.
Trên thế gian này nếu nói về bậc chân chánh, có
đầy đủ tư cách thực hành hạnh
đại hiếu, th́ phải suy tôn đức Thích Ca Mâu
Ni Phật của chúng ta. Khi thành đạo, Ngài chẳng
những riêng v́ cha mẹ hiện đời thuyết pháp,
mà c̣n muốn đền đáp công ơn của cha mẹ
nhiều đời. Nên khi hóa độ chúng sanh, lúc
giảng đến vấn đề hiếu thuận
với cha mẹ, Ngài dạy chúng ta phương thức làm
thế nào để thể hiện hạnh hiếu
thuận với cha mẹ hiện đời, luôn cả
đối với cha mẹ nhiều đời, nhiều
kiếp.
Theo quan điểm của Phật pháp mà nói, chẳng
những như trong kinh Phạm Vơng nhấn mạnh:
“Nhứt thiết nam tử thị ngă phụ, nhứt
thiết nữ nhơn thị ngă mẫu” (tất cả
người nam đều là cha của ta; tất cả
người nữ đều là mẹ của ta), mà
tất cả chúng sanh bao gồm nhân loại đến các
loài hữu t́nh khác, không một chúng sanh nào không phải là
cha mẹ của chúng ta. V́ từ vô thỉ cho đến
ngày nay, chúng ta trôi lăn trong ṿng sanh tử, th́ không có chúng
sanh nào không từng làm cha mẹ của chúng ta. Chẳng qua
v́ luân hồi nhiều kiếp thay h́nh đổi dạng
nên không c̣n nhận ra lẫn nhau, chỉ biết cha mẹ
trong đời hiện tại của ḿnh, c̣n với
tất cả người khác không cho là cha mẹ.
Cũng v́ không biết tất cả chúng sanh
đều là cha mẹ của ḿnh nên tâm lượng
của chúng sanh vô cùng hạn hẹp. V́ muốn mở
rộng ḷng dạ của chúng ta, Đức Phật đă
nhiều phen đặc biệt khai thị rằng:
“Nhất thiết chúng sanh giai thị phụ mẫu”.
Như thế, đối với tất cả chúng sanh,
nếu chúng ta đồng thực hành sự không sát sanh,
không trộm cắp... phải biết đó chính là nghiêm tŕ
tịnh giới.
Chúng ta đối với tất cả chúng sanh,
nếu đă xem là cha mẹ của ḿnh th́ cần phải
cung kính, tôn trọng, không chút khinh suất. Đó chính là hiếu
thuận. Cho nên ư nghĩa sở tại của hiếu
thuận chính là giới hạnh đầy đủ. Chính
v́ như thế, trong phần kinh văn phía sau, khi giảng
đến mười giới trọng, bốn mươi
tám giới khinh, rất nhiều giới, Đức Phật
đề cập đến tâm hiếu thuận, tâm cung
kính, tâm từ bi.
Tất cả tâm này lại xuất phát từ tâm
hiếu thuận mà lưu lộ. Tất cả đều
lấy tâm hiếu thuận làm căn bản. Do đó, chúng
ta thấy rơ hiếu thuận tức là giới pháp.
V́ thế, hành giả trong Phật pháp, bất
luận tại gia hay xuất gia, nếu không thể chân
chánh thực hành hiếu đạo, tức không phải
chơn tâm học Phật và cũng sẽ không
được thọ dụng pháp vị trong Phật pháp.
Như vậy, là Phật tử nói riêng, tất cả nhân
loại nói chung, không nên khinh thường bỏ qua hạnh
hiếu thuận, nếu không muốn nói là phải hết
sức xem trọng.
Đại Thừa Bồ Tát giới tức Tam Tụ
Tịnh Giới, dù bàn luận ư nghĩa ra th́ rất sâu
rộng, không cùng tận. Nhưng nếu đem so sánh
với ba câu trong Nho Giáo của Trung Hoa về đạo
hiếu thuận đối với cha mẹ th́ nội dung
tư tưởng rất phù hợp với Tam Tụ
Tịnh Giới. Ba câu ấy như sau:
1. Bất nhục
kỳ thân
(không làm cho cha mẹ bị nhục)
Ư nói phận làm con phải triệt để tránh
mọi hành vi, cử chỉ trong cuộc sống khả
dĩ làm cho cha mẹ chúng ta bị sỉ nhục. Nếu
thường giữ tâm niệm không làm cho cha mẹ bị
sỉ nhục, th́ lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ không bao
giờ làm những việc trái với đạo
đức nhân sinh, cũng như những tội ác vi
phạm pháp luật.
Nên Nhạc Chánh Tư Xuân nói: “Nhứt cử túc nhi
bất cảm vong phụ mẫu; nhứt xuất ngôn chi
bất cảm vong phụ mẫu; thị cố ác ngôn
bất xuất ư khẩu, phẫn ngôn bất cập
ư thân. Bất nhục kỳ thân, bất sỉ kỳ
thân, khả vi hiếu hĩ” (Mỗi khi giở chân không dám
quên ơn cha mẹ, mỗi khi thốt lời cũng không
dám quên ơn cha mẹ.Thế nên, lời nói ác không bao
giờ thốt ra khỏi miệng, những lời nói
tức giận cũng không đến nơi thân ḿnh
được. Giữ ǵn bản thân không bị sỉ
nhục, cũng không làm cho song thân bị sỉ nhục.
Như thế có thể gọi là hiếu vậy).
Phải thực hành thế nào để có thể
đạt đến mức độ nói trên? Muốn
vậy, chỉ có việc duy nhất là vâng giữ Nhiếp
Luật Nghi Giới của Bồ Tát. V́ công hiệu tối
đại của Nhiếp Luật Nghi Giới là khiến
cho chúng sanh không làm tất cả những tội ác.
Chúng ta lúc sinh tồn trên thế gian nếu có thể
tránh làm tất cả những tội ác th́ tất cả
mọi sự đều quang minh chánh đại, nào ai dám
xem thường ḿnh, cũng như khinh nhục cha mẹ
ḿnh.
Sở dĩ cha mẹ bị người hủy
nhục chỉ v́ con cái tạo gây việc lỗi lầm.
Tỷ như người đó trộm cướp,
giết người, th́ dư luận sẽ nói kẻ
đó là con của ông đó, bà đó... do không chịu quan
tâm đến sự giáo dục con cái nên mới xảy ra
những việc đồi phong bại tục như
thế... Thật là oan uổng cho cha mẹ biết
dường nào! Sự sỉ nhục ấy không phải là
do con cái gây nên hay sao?
Nếu phụng hành Nhiếp Luật Nghi Giới
của Bồ Tát nghiêm túc th́ không bao giờ làm cho cha mẹ
bị sỉ nhục, hay nói khác đi, đó chính là sự
chân thật hiếu thuận đối với song thân.
2. Hiển
dương phụ mẫu (làm cho cha mẹ được vinh
hiển)
Ư nói phận làm con dù nam hay nữ, mọi hành
động, cử chỉ đều phải làm cho cha
mẹ được vinh diệu, hân hoan, rạng rỡ
mày mặt.
Đức Khổng tử nói: “Lập thân hành
đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ
hiển kỳ phụ mẫu, hiếu chi chung dă”
(đạo làm con phải lo lập thân hành đạo,
để tiếng tốt cho đời sau, làm cho cha
mẹ được hiển vinh, đấy là trọn
với hiếu đạo vậy).
Trung Hoa ngày xưa dùng bộ Tam Tự Kinh để
dạy vỡ ḷng cho trẻ con, trong ấy cũng nói:
“Dương danh thanh, hiển phụ mẫu” (đạo
làm con phải làm sao cho thanh danh của ḿnh được
hiển đạt, khiến cho cha mẹ được
rỡ ràng mày mặt).
Nếu chúng ta có học vấn quảng bác, trí
thức phong phú, phẩm tánh cao thượng th́ dù ở
bất cứ xă hội nào, quốc gia nào, đều có danh
dự lành tốt, được mọi người tôn
kính. Từ đó, thanh danh chúng ta được lan
truyền rộng răi. Tự bản thân đă có thanh danh lành
tốt, đương nhiên cha mẹ cũng
được vinh quang vô hạn. Ngược lại, cha
mẹ sẽ cảm thấy tủi nhục, xấu hổ
vô cùng.
Nhưng làm thế nào để cha mẹ
được hiển vinh?
Chỉ duy nhất cố gắng vâng giữ Nhiếp
Thiện Pháp Giới của Bồ Tát. V́ Nhiếp Thiện
Pháp Giới có công dụng khiến chúng sanh thực hành
tất cả việc thiện. Chúng ta sanh tồn trên
thế gian, nếu có thể tận lực đem hết
khả năng, thậm chí hy sinh lợi ích cá nhân để
làm những việc lợi ích cho nhân quần, xă hội, th́
mọi người sẽ ca ngợi: “Người ấy
rất nhiệt tâm đối với việc giáo dục
trong xă hội và mọi công tác từ thiện, thật là
một người hiếm có. Người ấy là con
trai, con gái của ai? Ồ! Vốn là con của ông ấy,
bà ấy. Có được một người con trai
như thế hẳn ông cha cũng như thế. Có
được một người con gái như thế,
hẳn là bà mẹ cũng như thế. Tốt thay! Quư
thay!”
Chỉ một lời khen ngợi như thế cha mẹ
cảm thấy vinh diệu vô cùng. Cho nên muốn thực
hành được bốn chữ “quang tông diệu tổ”
của người Trung Hoa nói, chỉ duy nhất là y theo
Nhiếp Thiện Pháp Giới của Bồ Tát mà thực
hành, nên có tể nói tŕ giới chính là hiếu thuận
vậy.
3. Tứ loại
bất quỹ (ban bố cho nhân loại không thiếu sót)
Ư nói đạo làm con, ngoài vấn đề chính
tự bản thân thực hiện hiếu thuận với
mẹ cha, c̣n nên khuyên bảo mọi người
đều nên hiếu thuận với cha mẹ, làm cho
tất cả đều thấm nhuần trong hạnh
hiếu thảo, không bỏ sót một cá nhân nào. Cổ
đức giải thích câu “tứ loại bất quỹ”
như sau: Tứ là ban bố, quỹ là thiếu sót.
Ư nói: Tự ḿnh đă thực hành hiếu đạo,
lại c̣n đem hạnh hiếu rải đều, ban
bố cho tất cả chúng sanh, chẳng để
thiếu sót mọi ai. Đó chính là dùng thân ḿnh làm phép tắc,
tự ḿnh hiếu thuận với cha mẹ, lại c̣n
phải “khổ khẩu bà tâm” khuyên người hiếu
thuận với cha mẹ để làm tṛn bổn phận
làm con. Nếu như không hiếu thuận với cha
mẹ, đó chính là phạm tội ác lớn.
(“Khổ khẩu bà tâm” là một thành ngữ. “Khổ
khẩu” đồng nghĩa với “khổ ngôn”: lời
nói dùng để khiển trách, răn đe mọi
người chừa bỏ những việc làm gây tạo
lỗi lầm và tội ác, nên thường là nghịch tai
mọi người. “Bà tâm” là ḷng từ lành. Nói chung thành
ngữ này có nghĩa là v́ ḷng từ lành, không quản
mệt nhọc, đem lời khiển trách răn đe,
khiển trách chúng sanh từ bỏ tội ác, lỗi
lầm).
Làm thế nào để ḿnh
và mọi người thực hành hạnh hiếu
thuận?
Chỉ có vâng giữ Nhiếp Chúng Sanh Giới của
Bồ Tát giới. V́ lực dụng tối đại
của Nhiếp Chúng Sanh Giới chính là hóa độ cho
tất cả chúng sanh, khiến tất cả đều
được vào Phật đạo.
Bất cứ người tu hành nào đă vào
được trong Phật Pháp, th́ không ai chẳng hiếu
thuận với cha mẹ. Chẳng những đối
với cha mẹ hiện đời, mà cả với cha
mẹ nhiều đời quá khứ, đều mong
mỏi cho các vị được độ thoát.
Nếu như không y chiếu thực hành theo Nhiếp
Chúng Sanh Giới th́ không bao giờ đạt
được mục đích ấy. V́ thế nếu có
thể thực hành Nhiếp Chúng Sanh Giới một cách
nghiêm cẩn, tức là thể hiện hạnh hiếu
thuận với cha mẹ từ vô thỉ đến
hiện tại. Như vậy, chúng ta đủ thấy
hiếu thuận tức là Tŕ Giới.
Phần trên đă giải thích câu “hiếu danh vi
giới”. Tiếp theo đây xin giải thích câu “diệc danh
chế chỉ” (cũng gọi là cấm ngăn).
Chữ “chế” có nghĩa là định ra với
tính cách bó buộc để chống lại điều ǵ.
Ở đây, có nghĩa là chế ngự ba nghiệp không
cho tạo tác các điều ác quấy. Chữ “chế”
ở đây c̣n có nghĩa là chế định, quy
định ra những pháp lành cần phải thực
hiện rốt ráo.
Chữ “chỉ” có nghĩa là dừng lại, nghĩa
là ngăn các vọng niệm, không cho sanh khởi và loạn
động. Chữ “chỉ” c̣n có nghĩa là ngưng ngay
tất cả mọi ác pháp, không được tiếp
tục tạo tác, như không được sát sanh,
trộm cắp, tà dâm... chính là phạm vi của chữ
Chỉ.
Nên biết rằng: Ngăn dứt tất cả
tội ác không làm nữa, có nghĩa là “chỉ tŕ”. Đó chính là
điều cấm chỉ trong hạnh hiếu thuận.
C̣n như phóng sanh, bố thí, tu phạm hạnh
ấy chính là Tác Tŕ, nghĩa là pháp chế trong tâm hiếu
thuận. Cho nên hiếu thuận gọi là Chế Chỉ.
Trong kinh, Phật dạy:
Chư ác mạc tác,
Chúng thiện
phụng hành.
Tự tịnh kỳ
ư,
Thị chư
Phật giáo.
Dịch:
Đừng làm
điều ác,
Vâng làm việc lành.
Tự giữ thanh
tịnh,
Chính lời Phật
dạy.
Bài kệ trên giải thích hai chữ “chỉ tŕ”
rất thấu đáo.
Theo sự thuyết giảng bên trên, chúng ta thấy
hiếu đạo trong Phật pháp mang tính siêu việt
hơn hiếu đạo của Nho gia cũng như
hiếu đạo thông thường ở thế gian.
Tại v́ sao?
V́ hiếu đạo trong Phật pháp mang ư nghĩa
giới pháp - Hiếu gọi là Giới. Hiếu đạo
của Phật pháp chẳng những có tính chất b́nh
đẳng, rộng lớn và bao dung, mà c̣n ĺa khổ
được vui, thú hướng quả vô thượng
Bồ Đề tối cao là mục đích. Khi mới thành
đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức
Phật kiết giới Bồ Tát này, Ngài đă dạy
như thế. Chính ngay trên hội Niết Bàn, trong kinh Di
Giáo, Đức Phật cũng dạy: “Này các tỳ kheo! Sau khi
ta diệt độ, các ông phải trân trọng tôn kính Ba La
Đề Mộc Xoa như người trong bóng tối gặp
được ánh sáng, người nghèo được
của báu. Các ông nên biết Ba La Đề Mộc Xoa tức là
vị đại sư của các ông. Hăy xem giới pháp này
như ta c̣n trụ thế không khác. Ba La Đề Mộc Xoa
chính là Giới, Đại Sư của các ông chính là Hiếu!”
Do đó, chúng ta thấy giáo pháp suốt thời
đại của Đức Phật đă tuyên thuyết,
trước sau đều lấy Hiếu là giới,
Hiếu làm chế chỉ. Điều này thể hiện trong
toàn bộ giáo pháp của Phật và trong kinh này,
trước sau cũng đều nhất quán như
thế.
Hành giả Bồ Tát nếu không trái nghịch với
mười giới trọng, bốn mươi tám giới
khinh th́ chẳng những thuận với bổn nguyên Tâm
Địa, cũng như đối với Tam Tụ Tịnh
Giới mà c̣n là hiếu thuận với tất cả. Làm
con, không phân biệt trai gái, đều phải hiếu
thuận với cha mẹ. Có thể nói đó là việc
thiên kinh địa nghĩa (đạo của trời,
nghĩa của đất), xưa nay không bao giờ thay
đổi, không được hoài nghi. Nhưng muốn
biết hiếu chân hay giả, cần phải khảo
nghiệm.
Giờ đây, xin kể một câu chuyện có
thật như sau:
Vào thời xưa tại Trung Quốc, có một ông
cụ tuổi đă cao. Bà cụ đă qua đời,
chỉ c̣n một ḿnh ông sống với ba người con.
Cụ ông là người tiền của rất nhiều,
ruộng vườn không kể xiết; nhưng thân
thể ông lại mang nhiều bệnh tật.
Sau khi cụ bà măn phần một thời gian, ông
đem tài sản chia ra làm bốn phần bằng nhau.
Mỗi phần gồm một ngàn vạn quan tiền, thêm
ruộng đất thật nhiều. Ba phần gia sản
được cấp cho con trưởng, con thứ và con
út. C̣n lại một phần ông để dành làm phần
dưỡng lăo cho ḿnh.
Sự phân chia rất công bằng của ông khiến
các người con không ai phản đối đuợc.
Nhưng v́ cho rằng ông c̣n giữ một phần gia
sản to lớn, nên người con cả nảy sinh ư
định chiếm đoạt. Anh ta đến thưa
với cha rằng: “Con xin thỉnh phụ thân về nhà
ở, con nguyện phụng dưỡng phụ thân trong lúc
tuổi già và cố gắng làm cho phụ thân
được vui ḷng trong những ngày già”.
Cậu con thứ hai cũng đồng tâm trạng
tranh đoạt phần gia tài c̣n lại nên cũng thưa
với cha: “Con nguyện giúp cho phụ thân du lịch
ngoại quốc, con sẽ theo hầu để phụ
thân được nh́n thấy sự phong quang trên thế
giới. Nhăn quan của phụ thân sẽ được
mở rộng, tâm hồn sẽ được thơ
thới trong những ngày già”.
Riêng phần người con út sau khi cha chia gia tài,
cậu không biểu lộ bất cứ thái độ nào.
Cũng không thốt một lời nào, lúc nào cũng im
lặng, trầm ngâm.
Nh́n vẻ bên ngoài, ai cũng nghĩ hai người
con lớn thật hiếu thảo, và cậu con út
dường như bất hiếu. Người cha muốn
khảo nghiệm các con của ḿnh để biết xem
người nào chân thật hiếu thảo. Ông cho gọi
cả ba về nhà và bảo rằng: “Cha cho các con biết:
Gia tài của cha đă chia làm bốn phần, đă cho các
con ba phần. Riêng phần của cha, cha đă đem
trợ giúp cho cơ quan từ thiện. Hiện nay cha không
c̣n một đồng, lại thêm thân mang bệnh mỗi
ngày một trầm trọng. Từ đây về sau, cha
cần nương vào các con, để nhờ các con
chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh
hoạn và cung cấp sự sống hằng ngày”.
Ba người con khi nghe cha nói xong, đều có
phản ứng khác nhau. Cậu con cả trong ḷng tự
nghĩ: “Tưởng gia tài của ông c̣n nguyên, té ra trong tay
không c̣n một đồng. Vậy ta cũng không cần
nuôi dưỡng ổng làm ǵ”. Sau khi suy nghĩ như
vậy, cậu ta liền thưa rằng: “Thưa phụ
thân, lẽ ra con phải rước phụ thân về nhà
con ở, nhưng nhà con chật hẹp, con nít lại
đông, e rằng phụ thân không được yên ổn
lúc tuổi già. Theo con nhận thấy, tốt nhứt
phụ thân nên đến nhà chú hai ở v́ chú hai
trước đây có hứa giúp cho phụ thân đi du
lịch ngoại quốc. Chú sẽ giúp phụ thân
được toại nguyện”.
Cậu thứ hai vừa nghe anh cả nói xong, vội
tiếp lời: “Thưa cha, sức khỏe của cha
hiện nay đă suy yếu, đối với sự du
lịch thật không c̣n thích hợp. C̣n việc về nhà
con ở th́ rất bất tiện, v́ nhà con chật
hẹp. Hơn nữa, con phải ra ngoài công tác, không ai
ở nhà lo cơm cháo cho cha. Theo con thấy, cha nên về nhà
chú ba ở tiện hơn!”.
Cậu thứ ba nghe hai anh nói vậy, không cần suy
nghĩ liền thưa rằng: “Con xin thỉnh cha về
nhà để con lo lắng cho cha, con cố gắp giúp cha
vui sống lúc tuổi già và sẽ rước lương y
điều trị bệnh hoạn cho cha. Tốn hao bao
nhiêu cũng được, xin cha yên tâm đừng nghĩ
đến. Con chỉ mong cha được mạnh
khỏe, khang kiện là con mừng!”
Nghe xong ông cụ liền nói rằng: “Việc ấy
đâu có được, gia tài cha cho con, để con lo cho
gia đ́nh con sau này. Con phải giữ ǵn cho kỹ. Cha nay
tuổi đă già, bệnh lại trầm trọng thế
này, sống được ngày nào th́ sống, con chớ
bận tâm lo lắng, cần ǵ phải rước
lương y!”
Cậu út thưa rằng: “Xin cha đừng nghĩ
như thế! Tài sản của cha cho con là những
giọt mồ hôi và nước mắt của cha từ bao
nhiêu sự thống khổ mà có ra. Hiện nay trong tay cha
không c̣n đồng nào nữa, th́ phần tài sản của
con, con xin đem toàn bộ để lo cho cha. C̣n sự
sống của vợ con của con về sau, con và chúng nó
tự lo để duy tŕ đời sống. Con đâu
nỡ thấy cha bệnh hoạn mà không lo lắng”.
Sau khi nghe cậu thứ ba thành khẩn chí thiết
thưa như trên, cụ ông vô cùng cảm động,
bảo rằng: “Con thật là đứa hiếu tử
chơn thật. Con đối với cha hoàn toàn không có
bất cứ tham vọng nào về tài sản. Giờ
đây, cha công khai tuyên bố với ba con: Số gia tài
một ngàn vạn quan và ruộng đất của cha không
hề có sự trợ giúp cho cơ quan từ thiện nào
cả. Hôm nay cha rất an tâm mà đem toàn bộ tài sản
của cha giao cho đứa con thứ ba này. Tương
lai, hai anh của con nếu lúc nào thật túng thiếu, có
thể đến nơi con lấy tiền tiêu xài. Cha tin
chắc đứa con út sẽ cấp cho hai anh của nó.
Tốt lắm! Lời nói của cha đến đây là
kết thúc. Ai chân thật hiếu thuận, ai giả
vờ hiếu thuận, ta đă thấy minh bạch
lắm rồi!”
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy muốn khảo
nghiệm con cái hiếu thuận hay không, không phải trong
lúc giàu có mà chính trong lúc nghèo khốn mới có thể
thấy được những đứa con chân thật
hiếu thuận.
Trung Hoa có câu: “Hàn môn xuất hiếu tử” (nhà nghèo
sanh con hiếu). Đây thật là câu danh ngôn chí lư, v́ hầu
như chỉ những gia đ́nh nghèo mới có thể
xuất sanh con thảo.
Những gia đ́nh giàu có thường khi vừa sanh
con ra đă mướn vú nuôi dưỡng. Kết quả
t́nh thương yêu giữa đứa trẻ với cha
mẹ trở nên nhạt nhẽo, không gắn bó bằng
t́nh thương với vú nuôi. Đó là một trong những
nguyên nhân làm cho tâm hiếu thuận khó phát sanh. Những
đứa con dễ có quan niệm sai lầm, cho rằng
bổn phận cha mẹ phải cung cấp cho chúng mọi
nhu cầu. Đó là việc cha mẹ chúng cần phải làm và
đương nhiên phải làm. Đây không phải nói tất
cả gia đ́nh giàu có đều không thể có
được hiếu tử, nhưng là trường
hợp thật hiếm hoi đó thôi.
Căn cứ vào t́nh trạng xă hội hiện nay,
chúng ta có thể thấy có nhiều gia đ́nh giàu có,
chỉ v́ vấn đề phân chia tài sản không vừa ư
con cái mà xảy ra những thảm kịch tranh giành
đến nỗi gây nên cảnh đổ máu. Đôi khi con cái
c̣n loạn ngôn, mắng nhiếc cha mẹ bằng những
ngôn từ thật vô lễ, chẳng hạn chúng gọi cha
mẹ là “lăo già này, mụ già kia... sao không chết phứt
cho rồi!”
Trái lại trong những gia đ́nh bần hàn, sự
nuôi dưỡng con cái do một tay cha mẹ đảm
trách. Những đứa con khi khôn lớn, nghĩ nhớ nỗi
tân khổ của mẹ cha, nào ẵm bồng, nâng niu,
nuốt đắng, nhường ngọt để nuôi
dưỡng cho ḿnh được nên người. Nay
đă đến tuổi trưởng thành, sức lực
dồi dào khỏe mạnh, có thể tự lập mưu
sinh cho gia đ́nh. Nhất là nhận thấy cha mẹ
đều đến tuổi già, nếu bản thân ḿnh
không lo phụng dưỡng th́ biết c̣n ai? Do suy nghĩ
như vậy, tâm hiếu thuận tự phát một cách
chân thành, chúng nó sẽ hết ḷng phụng dưỡng cha
mẹ.
Như thế, chúng ta thấy rằng: Bậc làm cha
mẹ không nhất thiết phải v́ con cái tích lũy
tiền của thật nhiều; cũng không nên quá v́ con mà
đem thân làm trâu ngựa!
Sách Nho có câu: “Nhi tôn tự hữu nhi tôn phước,
mạc vị nhi tôn tác mă ngưu” (con cháu tự có
phước phần của con cháu, đừng v́ con cháu mà
làm trâu ngựa). Chính là v́ ư đă nói ở phần trên
vậy.
Nếu như chỉ v́ con cái mà chuyên lo tích lũy
tiền của, th́ rốt cuộc chỉ làm gia tăng
tội lỗi cho chúng. Do đó, bậc làm cha mẹ,
nếu ư thức đúng đắn đường lối
ái hộ con cái, th́ một phải un đúc tư
tưởng đạo đức, hiếu thuận cho con
cái. Một mặt phải vun trồng tài năng và kiến
thức phong phú, giúp chúng có được nghề
nghiệp vững vàng, th́ đương nhiên chúng có thể
độc lập trong cuộc mưu sinh. Đây mới chính
thực là sự thương yêu chính đáng.
Nhưng dù xuất thân từ nơi bần hàn hay phú
quư, phận làm con phải luôn tưởng nhớ công ơn
cha mẹ trong mỗi phút giây, và hết ḷng hiếu
thuận đối với cha mẹ, sư tăng, tam
bảo, cũng như đối với tất cả chúng
sanh.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật sau khi
giảng dạy về vấn đề “Hiếu gọi là
giới”, tức thời từ nơi miệng của Ngài
phóng ra vô lượng tia sáng. Trong kinh, từ trước
đến nay, có hai lối giải thích hiện
tượng này:
1. Như Lai mỗi khi sắp giảng nói giáo pháp
Đại Thừa, trước tiên, luôn luôn phóng hào quang
biểu hiện điềm lành cho thính chúng trong pháp hội
trông thấy. Trước là để chúng phát sanh tín tâm
cung kính sâu sắc, sau đó, nghe Đức Phật tuyên
thuyết đại pháp, mới có thể thành khẩn và
nhận chân giáp pháp một cách rốt ráo.
2. Đức Phật chế lập giới pháp, bất
luận giới Thanh Văn Tiểu Thừa hay là Bồ Tát
Đại Thừa đều là giới pháp, chỉ có chính
Đức Phật mới có quyền chế lập. Và cũng
chỉ chính từ nơi kim khẩu của Ngài tuyên
thuyết. Ngoài ra, không có một ai có quyền làm việc
đó. Hiện tại, Đức Phật sắp tuyên
đọc giới pháp Đại Thừa của tất
cả chư Phật. Cho nên đặc biệt từ trong
miệng Ngài phóng ra quang minh.
Trong kinh văn nói Đức Phật phóng ra vô
lượng quang minh, biểu thị Tâm Địa diệu
giới vốn sẵn đủ nơi chư Phật cùng
chúng sanh cũng vốn là Vô Tận Tạng Giới, vô
lượng vô biên nên gọi là “vô lượng" và
bản chất của diệu giới này vốn thanh
tịnh, không ô nhiễm nên gọi là “quang minh”.
Một lối giải thích khác nữa là Đức
Phật phóng vô lượng quang minh để chỉ rơ
chúng sanh cần phải nương theo Quang Minh Kim
Cương bửu giới nơi bổn nguyên Tâm Địa
của ḿnh để làm căn bổn tu nhân, sau đó
mới chứng đắc quả vị thù thắng Quang
Minh Kim Cương bửu giới nơi bổn nguyên Tâm
Địa.
Đây là giải thích câu “Phật tức khẩu phóng vô
lượng quang minh” (liền khi đó nơi miệng
Đức Phật phóng ra vô lượng tia sáng). Tiếp theo,
xin giải thích đoạn kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ câu “thị thời bá vạn ức đại
chúng...” cho đến câu “...thính Phật tụng giới
nhứt thiết chư Phật Đại Thừa giới”.
2. Dịch nghĩa:
Bấy giờ, có đến trăm vạn ức
đại chúng, các Bồ Tát, mười tám Phạm thiên
ở sáu cơi trời Dục Giới, mười sáu
đại quốc vương đồng chí tâm chắp
tay nghe Đức Phật tụng giới pháp Đại Thừa
của tất cả chư Phật.
Lời giảng:
Hai chữ “thị thời” tức chỉ thời
gian Đức Phật phóng ra vô lượng tia sáng.
Câu “bá vạn ức đại chúng” là ước
lượng số đại chúng nhân, thiên, phàm, thánh
đến tập hợp nơi pháp hội đương
thời.
Ba chữ “chư Bồ Tát” chỉ chư Bồ Tát
từ hàng mới phát tâm đến chư vị
đại Bồ Tát đă trải qua nhiều kiếp tu
tập đại hạnh tự lợi, lợi tha.
Bốn chữ “thập bát Phạm thiên” là chỉ cho
chư thiên ở cơi Sắc giới, gồm 18 cơi trời
như sau:
* Sơ Thiền gồm có ba tầng trời:
- Phạm Chúng
- Phạm Phụ
- Đại Phạm.
* Nhị Thiền gồm ba từng trời:
- Thiểu Quang
- Vô Lượng Quang
- Quang Âm.
* Tam Thiền gồm
ba từng trời:
- Thiểu Tịnh
- Vô Lượng
Tịnh
- Biến Tịnh
* Tứ Thiền
gồm 9 tầng trời:
- Vô Vân
- Phước Sanh
- Quảng Quả
- Vô Tưởng
- Vô Phiền
- Vô Nhiệt
- Thiện Kiến
- Thiện Hiện
- Sắc Cứu Cánh
Trong số chín từng trời này, ba tầng
trước thuộc về Phàm Phu Thiên, từng thứ
tư là Ngoại Đạo Thiên, và năm từng sau thuộc
Thánh Nhân Thiên.
Mười tám từng trời ở Sắc Giới
do đâu mà gọi là Phạm Thiên?
Chữ Phạm ư nghĩa là thanh tịnh. Nghĩa là
mười tám từng trời ấy, về phương
diện dục trần hoàn toàn đă chế ngự và
được rốt ráo thanh tịnh. Chỉ c̣n có sắc
thân là tồn tại, nhưng phần sắc thân tồn
tại này hoàn toàn thanh tịnh, không giống với sắc
thân ô uế, cấu nhiễm của chúng sanh cơi Dục
Giới, nên gọi là Phạm.
Như trong Trí Độ Luận thuyết minh: “Thanh
tịnh quang khiết, tối thắng, tối tôn, cố
danh vi Thiên” (thanh tịnh, sáng sạch, tối thắng,
tối tôn nên gọi là Trời). Hợp lại gọi chung
là Phạm Thiên.
Lục Dục thiên tử là sáu tầng trời cơi
Dục Giới bao gồm Địa Cư thiên và Vô Cư thiên.
* Địa Cư thiên
- Trời Tứ Thiên Vương: cơi này ở giữa
núi Tu Di.
- Trời Đao Lợi: ở đảnh núi Tu Di.
* Vô Cư Thiên:
- Trời Dạ Ma.
- Trời Đâu Suất Đà.
- Trời Hóa Lạc.
- Trời Tha Hóa Tự Tại.
Sáu từng trời trên v́ chưa ly khai vật dục
và nam nữ dục nên gọi là Lục Dục Thiên.
Câu “thập lục đại quốc vương”
(16 vị đại quốc vương): Ở Ấn
Độ lúc bấy giờ có rất nhiều nước
nhỏ, không thể liệt kê hết, nên chỉ nêu ra 16
nước lớn làm tiêu biểu. Theo kinh Trường A
Hàm th́ 16 quốc gia này là:
1. Nước Sử Già.
2. Nước Ma Kiệt Đề.
3. Nước Ca Thi.
4. Nước Câu Tất La.
5. Nước Bạt Kỳ.
6. Nước Mạt La.
7. Nước Chi Đề.
8. Nước Bạt Sa.
9. Nước Ni Lâu.
10. Nước Bàn Xà La.
11. Nước A Thấp Bà.
12. Nước Bà Ta.
13. Nước Tô La.
14. Nước Càn Đà Sa.
15. Nước Kiếm Phù Sa.
16. Nước A Bàn Đề.
Như thế toàn bộ đại chúng nhân, thiên,
phàm, thánh trăm vạn ức đều chắp tay chí tâm
lắng nghe Đức Phật tụng giới pháp Đại Thừa
của tất cả chư Phật.
Hai chữ “hiệp chưởng” biểu thị thái
độ cung kính cực điểm, tượng trưng
thân nghiệp của đại chúng thanh tịnh.
Hai chữ “chí tâm” là chuyên tâm, nhất ư, tượng
trưng ư nghiệp của đại chúng đă thanh
tịnh.
Hai chữ “thính tụng” là ư chỉ sự ǵn giữ
yên lặng, lắng nghe, tượng trưng khẩu
nghiệp của đại chúng thanh tịnh.
Dùng ba nghiệp thanh tịnh, kiền thành này
để nghe Đức Phật đọc tụng giới
pháp Đại Thừa, tức là mười giới trọng
và 48 giới khinh mà tất cả chư Phật đă
đồng tụng. Chính từ nơi Tâm Địa giới
quang này, tâm nguyên có thể được soi sáng.
V́ vậy, lúc nghe Giới, triệt để phải
giữ ǵn ba nghiệp thanh tịnh, tuyệt đối
không được buông lung với thái độ
dường như kẻ bàng quan vô sự, chỉ ngồi
nghe cho có lệ mà thôi.
A.4.2.2. PHẬT TỰ
TỰ THUYẾT (Đức Phật tự thuật thuyết giới)
A.4.2.2.1. TỰ
TỤNG KHUYẾN NHÂN (tự tụng giới để
khuyên người)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “Phật cáo chư Bồ Tát ngôn...” cho
đến câu “... Thập Địa chư Bồ Tát diệc
tụng”.
2. Dịch nghĩa:
Đức Phật nói với các vị Bồ Tát: “Nay ta
cứ mỗi nửa tháng tự tụng giới pháp
của chư Phật. Tất cả hàng Bồ Tát sơ
phát tâm nhẫn đến các Bồ Tát Thập Phát Thu,
Thập Trưởng Dưỡng, Thập Kim Cương,
Thập Địa cũng tụng giới ấy”.
Lời
giảng:
Ở trên là nhà kiết tập kinh thuật lại
việc Đức Phật kiết giới, giờ đây là
thuyết minh Đức Phật tự thuật việc Ngài
tụng giới.
Đức Phật nói với chư Bồ Tát rằng:
“Ta hôm nay, mỗi nửa tháng tự tụng giới pháp
của chư Phật”. Trước tiên, điều
cần nói rơ là giới quang đương thời trùm
nhiếp tất cả đại chúng, nhân, thiên, phàm thánh,
trăm vạn ức rất nhiều.
Tại sao hiện tại chỉ nói Đức Phật
riêng nói với chư Bồ Tát?
V́ giới pháp của chư Phật hiện tại,
Đức Phật tự đương tụng là thuộc
Đại Thừa Bồ Tát giới, đối tượng
thọ tŕ giới ấy dĩ nhiên là Bồ Tát. Mà Bồ
Tát trong trăm vạn ức đại chúng
được nhân, thiên, phàm phu, Tiểu Thừa
đồng tôn trọng. Nên kinh văn dù chép: “Phật nói
với chư Bồ Tát”, nhưng sự thật bao gồm
cả đại chúng nhân, thiên trong ấy.
Bốn chữ “bán mạc, bán mạc” chỉ cho
“hắc bạch” là hai bán cá nguyệt, tức từ mùng
một đến rằm là “bạch bán nguyệt” (nửa
tháng có trăng). Từ mười sáu đến ba
mươi là “hắc bán nguyệt”.
Nguyên nhân mỗi tháng phải tụng giới hai
lần là v́ muốn biểu thị sự tôn trọng
của Đức Phật đối với giới pháp và
muốn hành giả phải thẩm sát giới pháp ḿnh
đă thọ có vi phạm hay không?
Sở dĩ Đức Phật đặc biệt tôn
trọng giới pháp v́ giới này là căn bổn chánh
nhơn của Phật, Bồ Tát tu chứng Bồ Đề
Niết Bàn. V́ nếu không do giới pháp này th́ chư
Phật, Bồ Tát quyết không thể chứng đắc
cực quả rốt ráo Bồ Đề, Niết Bàn.
Nói như thế, Đức Phật đối với
giới pháp không thể không hết ḷng tôn trọng. Sở
dĩ hành giả phải thẩm sát giới pháp ḿnh đă
bẩm thọ, v́ thông thường đại đa số
chúng ta đều có tánh hay quên. Nếu lâu ngày không tụng
giới kinh th́ những giới đă bẩm thọ có
phạm hay không sẽ mặc nhiên không hay biết.
Nếu cứ mỗi nửa tháng tụng giới
một kỳ th́ tự ḿnh sẽ đề cao cảnh
giác, không đến nỗi khi phạm giới mà cho là tŕ
giới. V́ thế, tụng giới là một điều vô
cùng trọng yếu.
Nói rơ hơn, chánh pháp của Đức Phật
được cửu trụ trong thế gian hay không,
cứ xem quy củ Đức Phật chế định
mỗi nửa tháng tụng giới có được duy tŕ
trường cửu hay không?
Luật Thiện Kiến dạy: “Vân hà danh vi Chánh Pháp
cửu trụ? Phật ngôn: Bố Tát pháp bất hoại
thị” (Thế nào gọi là chánh pháp được
cửu trụ? Đức Phật dạy: “Với pháp
bố-tát không phá hoại chính là đấy”).
Bố-tát là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa dịch là
Tịnh Trụ, nghĩa là làm lễ bố-tát tụng
giới th́ thân tâm được thanh tịnh, và y như
giới pháp Phật dạy mà an trụ. Chúng ta thử
tưởng Phật tử đă thọ đại
giới, mà không y như giới pháp Phật dạy an
trụ th́ chánh pháp Như Lai làm sao cửu trụ thế
gian? V́ thế, luật tụng giới tuyệt đối
không v́ nguyên nhân ǵ mà không tuân hành.
Bậc
cổ đức đối với sự tụng giới
ở hai bán cá nguyệt hắc bạch đă giải thích
sâu thêm một mức nữa như vầy: Bạch bán cá
nguyệt là từ mùng Một đến Rằm. Trong bán cá
nguyệt ấy mặt trăng từ khuyết đến
tṛn biểu thị cho trí quang dần dần
được tăng trưởng, cùng trí đức
được viên măn. Hắc bán cá nguyệt là từ
mười sáu đến ba mươi, mặt trăng
từ sáng chuyển sang tối, tượng trưng tà quang
dần giảm và đoạn đức được
cứu kính.
Đức Phật là bậc đă ở quả vị
tối cao mà c̣n trịnh trọng tụng giới như
vậy, chư Bồ Tát ở nhơn địa, hành
Bồ Tát đạo, phải tụng giới là lẽ
đương nhiên.
Nên tiếp theo kinh văn nói: “Nhữ đẳng
nhứt thiết phát tâm Bồ Tát, năi chí Thập Phát Thú,
Thập Trưởng Dưỡng, Thập Kim Cương,
Thập Địa chư Bồ Tát diệc tụng”.
Câu “nhứt thiết phát tâm Bồ Tát” (tất cả
hàng Bồ Tát sơ phát tâm) là chỉ Bồ Tát mới phát
tâm Đại Thừa, theo địa vị thứ lớp là
chỉ Bồ Tát ở vị Thập Tín, tức là sơ
bộ của Tam Hiền, giai cấp đầu tiên của
Thập Thánh. Nếu không trải qua giai đoạn
Thập Tín này th́ không thể bước lên đại
đạo Hiền Thánh.
C̣n chữ Tín ở dây nói là chỉ sự tin giới
pháp của chư Phật để làm chủng tử thành
Phật. V́ không có giới pháp này, quyết không thể thành
Phật.
Trong kinh Anh Lạc có nói rơ việc ấy như sau:
“Người tu hành ở địa vị phàm phu,
được gặp chư Phật, Bồ Tát thuyết
pháp giáo hóa, trong giới pháp của Phật, sanh một
niệm thâm tín liền phát tâm Bồ Đề, người
ấy lúc bấy giờ ở trước Thập Trụ
gọi là danh tự Bồ Tát”.
Tu học Đại Thừa Phật pháp mà không có tín tâm
th́ làm sao mà tu hành?
Chẳng những Bồ Tát mới phát tâm, giới tâm
chưa được kiên cố, giới hạnh chưa
được viên thành, cần phải tụng giới
mỗi nửa tháng, mà chính chư đại Bồ Tát trong
Tam Hiền Thập Thánh, giới tâm đă kiên cố,
giới hạnh đă viên thành, cũng phải tụng
giới như vậy. V́ tụng giới là quy luật
vĩnh thường của chư Phật, nên bất
luận vị thứ cao thấp như thế nào,
đều phải đồng tụng giới. Điều này
không giản biệt bất cứ người nào đă
phát Bồ Đề tâm, thọ Bồ Tát giới.
Thập Phát Thú, theo như quyển thượng
của kinh này nói: “Chư Phật các ngài nên biết! Trong
Kiên Tín Nhẫn, Thập Phát Thú Tâm hướng quả:
1. Xả tâm.
2. Giới tâm.
3. Nhẫn tâm.
4. Tấn tâm.
5. Định tâm.
6. Huệ tâm.
7. Nguyện tâm.
8. Hộ tâm.
9. Hỷ tâm.
10. Đảnh tâm.
Mười tâm này lấy Thập Tín trước làm
căn bổn. V́ mười tâm này từ quả Giả
Quán nhập Không quán, tâm tâm khai phát, thú hướng về
Phật quả, cho nên gọi là Phát Thú. Mười phát thú
tâm này thông thường gọi là Thập Trụ. V́ sau khi
tín tâm đă thành tựu, trí huệ an trụ nơi lư,
chứng được địa vị bất thối
chuyển.
Thập Trưởng Dưỡng như quyển
thượng kinh này thuyết minh: “Chư Phật các ngài nên
biết: Từ Thập Phát Thú tâm này vào trong Kiên Phát
Nhẫn, Thập Trưởng Dưỡng tâm hướng
quả:
1. Từ tâm.
2. Bi tâm.
3. Hỷ tâm.
4. Xả tâm.
5. Thí tâm.
6. Hảo ngữ tâm.
7. Ích tâm.
8. Đồng tâm.
9. Định
10. Huệ tâm.
Hành giả Bồ Tát do mười tâm này từ
quả Không Quán nhập Giả Quán, tinh tấn dơng mănh,
với công hạnh tự lợi lợi tha, tăng
trưởng Phật đạo cho tự ḿnh, dưỡng
dục thánh thai cho tất cả chúng sanh, nên gọi là “trưởng
dưỡng”. Thập Trưởng Dưỡng
thường gọi là Thập Hạnh, là do Thập
Trụ tâm trước phát chơn ngộ lư. Từ đây,
tiến thú về Phật đạo không gián đoạn,
rộng tu công hạnh lợi tha một cách tích cực, nên
gọi là Thập Hạnh.
Thập Kim Cương, quyển thượng của
kinh này thuyết minh: “Chư Phật các ngài nên biết:
từ nơi Thập Trưởng Dưỡng tâm
hướng vào trong Kiên Tu Nhẫn, Thập Kim Cương
tâm hướng quả:
1. Tín tâm
2. Niệm tâm
3. Hồi hướng tâm
4. Đạt tâm
5. Trực tâm
6. Bất thối tâm
7. Đại thừa tâm
8. Vô tướng tâm
9. Huệ tâm
10. Bất hoại tâm
Hành giả Bồ Tát do mười tâm này tu tập
pháp quán Trung Đạo, hàng phục vô minh, tánh như kim
cương, không bị bất cứ cái ǵ làm hư
hoại, nên gọi là kim cương.Thập Kim Cương
thường gọi là Thập Hồi Hướng. V́
ở trong mười tâm này mà tu hành, có thể thực hành
ba thứ đại hồi hướng:
- Hồi sự hướng lư.
- Hồi nhân hướng quả.
- Hồi tự hướng tha.
Hồi là hồi chuyển. Hướng là thú
hướng. Hồi hướng: đem công đức
thiện căn của ḿnh đă tu hành thú hướng
đến chỗ mong cầu, nên gọi là “hồi hướng”.
Hồi Hướng có ba loại:
- Hồi nhơn hướng quả: Cũng gọi
là Bồ Đề Hồi Hướng, là đem thiện
nhơn công đức của ḿnh tu tập, thú hướng
cầu chứng quả vị Bồ Đề.
- Hồi sự hướng lư: cũng gọi là
Thực Tế Hồi Hướng, là đem công đức
thiên căn của ḿnh tu tập thú hướng cầu
chứng vô vi Niết Bàn.
- Hồi tự hướng tha: cũng gọi là Chúng
Sanh Hồi Hướng, là nguyện đem công đức
thiện căn của ḿnh tu tập, mà bố thí cho tất
cả chúng sanh, nên gọi là Thập Hồi Hướng.
Thập Địa như quyển thượng của
kinh này thuyết minh: “Chư Phật các ngài nên biết:
từ Thập Kim Cương, tâm này vào trong Kiên Thánh
Nhẫn, Thập Địa hướng quả:
1. Thể Tánh B́nh Đẳng Địa.
2. Thể Tánh Thiện Huệ Địa.
3. Thể Tánh Quang Minh
Địa.
4. Thể Tánh Nhĩ
Diệm Địa.
5. Thể Tánh Huệ
Chiếu Địa.
6. Thể Tánh Hoa Quang
Địa.
7. Thể Tánh Măn Túc
Địa.
8. Thể Tánh Phật
Hậu Địa.
9. Thể Tánh Hoa Nghiêm
Địa.
10. Thể Tánh
Nhập Phật Giới Địa.
Hành giả Bồ Tát do mười tâm trên làm trí
huệ vào thánh địa, nên tiến thêm một
bước nữa mới vào trong địa này.
Địa là ư nghĩa gánh vác, chở che, là Bồ Tát tu
hành đă vào bực Thập Địa, hướng
thượng: phải gánh vác chánh pháp của Như Lai,
hướng hạ: có thể che chở cho chúng sanh một
cách rộng lớn.
Chỗ quy thú của công đức trí huệ,
chỗ phát sanh từ bi phương tiện, nên gọi là
Địa. Dù mỗi Địa đều có thể xuất sanh
vô lượng pháp môn, nhưng v́ sự cạn sâu của
Địa và v́ thứ lớp bất đồng nên mới
phân thành thập địa. Mười địa này cùng
với thập địa, thường nói trong các kinh, tên
gọi bất đồng, nhưng đều đồng
gọi là bực thánh giả.
Như Lai sở dĩ ân cần khuyến giáo chư
Bồ Tát phải nửa tháng tụng giới v́ sự
thật, lúc hành Bồ Tát đạo, Đức Phật do
thường tụng giới pháp của chư Phật mà
được hoàn thành Phật quả.
Giờ đây, Ngài v́ chúng sanh giảng Tâm Địa
giới, mong tất cả chúng sanh đều
được siêu phàm nhập thánh, tuần tự
chuyển tiến, thú hướng Phật đạo và
chúng sanh, đương nhiên cũng phải y theo quy củ
này của Phật, mỗi nửa tháng tụng giới pháp
của chư Phật, để huệ mạng của
Như Lai được liên tục không đoạn
tuyệt. Thế nên Ngài phải hai ba phen ân cần khuyên
chư Bồ Tát tụng giới pháp này.
A.4.2.2.2. PHÓNG QUANG
GIỚI HỌC (phóng quang khiến đại chúng tụng và học
giới pháp)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “Thị cố giới quang tùng khẩu
xuất...” cho đến câu “...ưng thọ tŕ, ưng
độc tụng, ưng thiện học”.
2. Dịch nghĩa:
V́ thế, nên giới quang từ
miệng phóng ra. Phóng quang là v́ có nguyên do chớ chẳng
phải vô cớ. Giới quang ấy chẳng phải màu xanh,
vàng, đỏ, trắng, và đen; chẳng phải sắc
pháp cũng chẳng phải tâm pháp, chẳng phải pháp
hữu, pháp vô, cũng chẳng phải pháp nhơn, pháp
quả. Nó chính là bổn nguyên của chư Phật, là
căn bổn hành Bồ Tát đạo, là căn bổn
của chúng Phật tử. V́ thế nên chúng Phật tử
phải thọ tŕ, phải đọc tụng, phải
học kỹ giới pháp này.
Lời
giảng
Kinh văn phần trước nói: “Phật tức
khẩu phóng vô lượng quang minh” (Đức Phật
liền từ trong mịêng phóng ra vô lượng tia sáng).
Giới quang từ nơi miệng phóng ra, ư muốn
nói rơ giới pháp từ miệng Phật tuyên thuyết,
quang minh ứng từ miệng Phật phóng ra. Sở dĩ
trong miệng Phật phóng ra quang minh, giảng nói giới
pháp này, là do nhờ lúc tu nhơn, hành Bồ Tát đạo,
ngài thường tŕ tụng giới pháp của chư
Phật.
Giới đủ công năng sanh thiện diệt ác,
quang minh có lực dụng chiếu sáng phá tối; nên
giới quang từ miệng Phật phóng ra, chúng sanh nào
thấy được đều phát tâm Bồ Đề.
Chúng sanh nào nghe được đều ĺa khổ sanh
tử.
Giới quang đầy đủ công năng, lực
dụng như vậy, không phải vô nhân, vô duyên mà phóng
quang nên nói “hữu duyên, phi vô nhơn duyên cố quang” (phóng
quang là v́ có nguyên do, chớ không phải vô cớ).
Giới quang từ miệng đức Xá Na phóng ra,
tất nhiên phải có nguyên do, và việc đức Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tụng giới pháp hẳn nhiên
không phải là vô cớ. Có chỗ giải thích Tâm Địa
diệu giới vốn không tự tánh; vô tự tánh
giới hiện khởi, dĩ nhiên phải nương
nhờ nhân duyên.
Cái ǵ là nhân? Cơ cảm chúng sanh là nhân.
Cái ǵ là duyên? Đức Như Lai tuyên thuyết là Duyên.
Lại có chỗ nói giới pháp của chư
Phật, đức Lô Xá Na tự tụng, ngàn Phật tùy
theo mà tụng. Ngàn Phật tự tụng, hàng Bồ Tát
sơ phát tâm và chư Bồ Tát đă phát tâm từ nhiều
kiếp lâu xa cũng tụng như thế. Cho nên duyên
của giới quang chính từ miệng Phật lưu
xuất.
Đă có duyên thù thắng như thế th́ chắc
chắn có nhân thù thắng của nó. Cho nên nói: “Hữu duyên
phi vô nhân cố quang”.
V́ e phàm phu, ngoại đạo và tiểu thừa khi
nghe Phật nói có nhân, có duyên, không liễu đạt
giới quang sẵn có của tự ḿnh, một mặt
hướng về ngoại cảnh dong ruổi tầm
cầu, sanh khởi vọng chấp không chánh đáng, nên
Phật lại phân biệt tổng phá rằng: Như trên
nói phóng giới quang, đă là vật sắc ngũ phương
(1), chẳng phải màu xanh, vàng, đỏ, trắng,
đen, nên không sa vào ảnh tượng quả Biến
Kế Chấp của phàm phu; là lục nhập sắc tâm
(2), chẳng phải sắc pháp, chẳng phải tâm pháp,
nên không sa vào quả vọng tưởng t́nh cảnh
của nhơn thiên. Lại không phải là vọng chấp
của lục sư (3), chẳng phải là pháp hữu,
chẳng phải là pháp vô th́ không sa vào quả tà kiến,
chấp thường, chấp đoạn của ngoại
đạo.
Cũng không phải là pháp hư luận, chẳng
phải là pháp nhân, pháp quả, th́ không sa vào quả sự
tướng có tu, có chứng của Tiểu Thừa. Đă
không lạc vào các quả trên, th́ đương nhiên
chứng nhập Pháp Thân Diệu Quả. Tức là chân
nhơn thành Phật. Cho nên Tâm Địa giới quang này là pháp
siêu việt t́nh trần, ly khai kiến chấp hữu vô,
bặt dứt tâm tu chứng và không thể nghĩ bàn
được.
Từ trong miệng Đức Phật phóng ra tâm
địa giới quang không thể nghĩ bàn, ấy là
Bổn Nguyên Chánh Biến Tri Hải thênh thang vô tận
của chư Phật chứng đắc. V́ nếu chư
Phật không có tâm địa giới pháp này th́ không thể
chứng đắc quả vô thượng Bồ Đề và
vô trụ Niết Bàn.
Chẳng những là bổn nguyên của chư
Phật thành Phật, mà cũng là căn bổn của
chư Bồ Tát hành Bồ Tát đạo. V́ Bồ Tát
nếu không có tâm địa giới pháp này th́ không thể
tu lục độ vạn hạnh. Suy xuống những
tầng lớp bên dưới, chúng sanh đời
đời kiếp kiếp sanh tử không cùng, nhưng
đến đời vị lai sẽ được thành
Phật, ấy là do lấy tâm địa giới pháp này làm
căn bổn.
Cho nên nói: “Thị đại chúng chư Phật
tử chi căn bổn” (là căn bổn của chư
Phật tử). Thật có thể nói phàm thánh không ai
chẳng nương vào giới pháp này. V́ nương
nơi giới thanh tịnh, lẽ đương nhiên
được chỗ gọi là Tịnh Cực Quang Thông
(giới nhơn là thời kỳ tu nhơn nghiêm tŕ tịnh
giới). Tâm Địa giới pháp này đă là căn bổn
của đại chúng, của chư Bồ Tát và của
các đức Như Lai. Nên tiếp theo kinh nói: “Thị
cố đại chúng chư Phật tử ưng thọ
tŕ, ưng độc tụng, ưng thiện học” (V́
thế chúng Phật tử phải thọ tŕ, phải
đọc tụng, phải học kỹ giới này) không
nên có chút xem thường.
Thế nào là thọ tŕ, đọc tụng?
- Lănh nạp nơi tâm là Thọ.
- Giữ măi không quên là Tŕ.
- Niệm văn tự trong giới kinh là Đọc.
- Niệm thuộc ḷng giới kinh là Tụng.
- Gắng sức thực hành theo là Thiện Học.
Trong ấy có sự liên quan với nhau, nghe rồi
cần phải thọ tŕ. Thọ tŕ rồi nhất
định phải đọc tụng, Đọc tụng th́
phải học kỹ. V́ nếu không thọ tŕ th́ không
thể tạo được nhân thành Phật. Nếu không
đọc tụng th́ không thể làm nhân tăng
trưởng. Đọc tụng mà không học kỹ th́
chẳng những trở thành nói suông, không bổ ích,
lại không thể chứng đắc diệu quả. V́
thế học giả với bốn việc nghe, tŕ, đọc,
học này phải thuận theo thứ lớp, đúng
như pháp mà thực hành, mới thấy được
công dụng của giới pháp.
Chú thích:
1. Ngũ phương
vật sắc:
* Ngũ phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, và Trung
Ương.
* Vật sắc: ngũ sắc gồm có hai loại:
- Ngũ chánh sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng,
đen.
- Ngũ gián sắc: phi (màu điều), hồng,
tử (tím), lục (xanh lá cây), lưu hoàng (màu vàng cam).
Bộ Hành Sự Sao Tư Tŕ Kư nói: “Ngũ sắc
gồm nhiếp chánh sắc và gián sắc trong ngũ
phương. Mỗi sắc phối hợp với vị
trí trong ngũ phương như sau:
|
Ngũ
chánh sắc |
Phương
hướng |
Ngũ
gián sắc |
|
Thanh sắc |
Đông phương |
Lục sắc |
|
Bạch sắc |
Tây phương |
Phi sắc |
|
Xích sắc |
Nam phương |
Hồng sắc |
|
Hắc sắc |
Bắc phương |
Tử sắc |
|
Hoàng sắc |
Trung Ương |
Lưu hoàng |
2. Lục nhập
sắc tâm
(lục nhập tức là lục căn): nhăn – nhĩ -
tỉ - thiệt – thân – ư.
Lục căn thuộc về Tâm; Sắc là một
ở trong lục trần. Nhưng Sắc ở đây
tượng trưng cho lục trần. Lục trần c̣n
gọi là Lục Cảnh. V́ sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp là sáu cảnh sở duyên của sáu căn.
Xưa dịch là Lục Nhập, nay dịch là Lục
Xứ. Lục Cảnh là Lục Nhập bên ngoài. Lục
Căn là Lục Nhập bên trong. Lục Nhập trong
Thập Nhị Nhân Duyên là Lục Nhập bên trong, tức
Lục Căn. Chữ Nhập nghĩa là Thiệp Nhập,
là sáu căn với sáu cảnh thiệp nhập lẫn nhau
mà sanh ra sáu thức nên gọi là Xứ.
3. Lục sư: Ngoại đạo
nước Thiên Trúc, trong bộ Phiên Dịch có thiên Lục
Sư, nói tên Lục Sư như sau:
1) Phú Lan Na Ca Diếp.
2) Mạc Già Lê Câu Xa
Lê.
3) San Xà Dạ Tỳ
La Chi.
4) A Kỳ Đa Xí Sá Khâm
Bà La.
5) Ca La Cưu Đà Ca
Chiên Diên.
6) Ni Kiền Đà Nhă
Đề Tử.
A.4.2.2.3. PHỔ
NHẾP QUẦN CƠ (thâu nhiếp căn cơ của
đại chúng)
Kinh văn
1. Phiên âm:
Từ câu “Phật tử đế thính! Nhược
thọ Bồ Tát giới giả...” cho đến câu “...giai
danh đệ nhứt thanh tịnh giả”.
2. Dịch nghĩa:
Giảng đến đây,
Đức Phật lại bảo các Phật tử rằng:
- “Hiện tại các ông cần phải
chí tâm thành ư lóng nghe cho kỹ, ta nói đây: Trường
hợp của người phát tâm thọ giới pháp
của Phật, cùng người thọ giới tỳ kheo
tăng có điểm bất đồng: Thọ giới
tỳ kheo chẳng những phải đủ năm duyên
thành tựu (1), lại phải trừ bỏ mười ba
giá nạn (2) mới được cho thọ giới.
Nếu thiếu một trong năm duyên nói trên và có một
giá nạn vào trong mười ba giá nạn th́ không cho
thọ giới tỳ kheo tăng”.
V́ tỳ kheo tăng là thành phần
trụ tŕ Tam Bảo (3), là phước điền trong
thế gian, là sư phạm của Nhân Thiên. Nếu không
phải là pháp khí thanh tịnh th́ không thể phát sanh vô tác
giới thể. Trái lại, thọ giới Bồ Tát th́
không khó khăn như thế, chỉ có điểm tối
cần là phải phát tâm Bồ Đề mới
được thọ giới pháp của Phật.
V́ bổn nguyên Tâm Địa diệu
giới này tất cả chúng sanh đều sẵn
đủ, nên bất luận hiền, ngu, quư, tiện, nhân,
phi nhân (quỷ thần)... chủ yếu là có thể lănh
hội được lời nói của Pháp Sư
truyền giới, th́ không chúng sanh nào không có thể thọ
giới pháp này của Phật. Những chúng sanh ấy trong
kinh văn lược nêu như sau:
- Quốc vương là vị nhân
chủ.
- Vương tử là thanh cung (4).
- Bá quan là các quan chức làm việc công
của quốc gia để quyết đoán những
sự phải quấy.
- Tể tướng (giới bổn
Việt văn dịch là các quan chức) là vị quân
đứng đầu trong bá quan nắm cương lănh
triều đ́nh giúp cho quốc vương.
- Tỳ kheo, tỳ kheo ni.
- Mười tám vị Phạm thiên cơi
trời Sắc giới (bổn Việt văn gọi là
“chư thiên cơi Sắc”)
- Các thiên tử sáu cơi Dục (chư
thiên cơi Dục) cơi trời Dục Giới.
- Ngoài ra hàng thứ dân là bá tánh ở
nhân gian.
- Hoàng môn là các quan hoạn ở nội
cung.
- Dâm nam, dâm nữ hy sinh sắc
tướng.
- Hàng nô tỳ phục vụ con
người.
- Lại c̣n có bát bộ quỷ thần
thuộc về chúng Hộ Pháp.
- Thần Kim Cương là vị
thần cầm kim cương bảo xử theo hầu
chư Phật để ngăn dẹp ngoại ma, hộ
tŕ Chánh Pháp.
- Súc sanh là lục súc... cho đến
người biến hóa là chỉ cho thiên, long, quỷ,
thần...
V́ các vị này nếu để nguyên h́nh
vào trong đại chúng rất bất tiện, nên biến
hóa h́nh người đến đạo tràng thọ
giới pháp của Phật.
Các thứ chúng sanh như trên chủng
loại bất đồng, chỉ cần hiểu lời
nói của Pháp Sư đều được thọ
giới.
Nên biết những chúng sanh vừa
kể, xem về h́nh thái th́ có sai khác, nhưng về bổn
tánh th́ không có ǵ bất đồng. Cho nên ở nhân gian này,
bậc quư trọng như quốc vương, thái tử,
hạ tiện như hoàng môn, nô tỳ, cho đến
những chúng sanh khác, bất luận là quỷ thần,
chủ yếu nghe hiểu được lời nói
của vị Pháp Sư thuyết giới, th́ vị hành
giả Bồ Tát làm Truyền Giới Sư phải v́
tất cả phải v́ tất cả chúng sanh ấy
truyền trao Tâm Địa giới pháp.
Tuyệt đối không nên có tâm phân
biệt lựa chọn, nói chúng sanh này có thể thọ
giới, chúng sanh kia không được thọ giới.
Phải có tâm đại từ b́nh đẳng, không bỏ
sót một chúng sanh nào. Nhưng trong sự không lựa
chọn phân biệt, vẫn có chỗ lựa chọn phân
biệt như sau:
1. Chúng sanh nào không hiểu
được lời nói của Pháp Sư truyền
giới th́ không nên truyền giới Bồ Tát, v́ dù
truyền giới cũng không thể đắc giới.
2. Chúng sanh cơi Vô Sắc v́ không có sắc
thân, không phải pháp khí thọ giới, nên phải trừ
bỏ, không truyền giới.
3. Chúng sanh trong địa ngục,
thọ các thứ thống khổ, cực h́nh, bị các
khổ làm chướng ngại, nên cũng phải trừ
bỏ, không truyền giới.
Chúng ta thấy Bồ Tát giới
hết sức bao dung, không quá nghiêm khắc như giới
Thanh Văn. Vấn đề cần phải rơ ở
đây là v́ sao thọ giới Thanh Văn lại nghiêm
khắc như thế và thọ giới Bồ Tát lại
bao dung đến cả phi nhân, quỷ thần...
đều được bẩm thọ? Như thế
không lẽ Bồ Tát thuần khiết không bằng Thanh
Văn hay sao? Sự thật vấn đề thế này:
- Bồ Tát lấy việc lợi sanh
làm mục đích duy nhứt, nên tinh thần dung nạp luôn
phải rộng mở, nếu như không thể bao dung
tất cả th́ sự hóa độ không khỏi có hạn
lượng.
- Thanh Văn vâng giữ theo Tăng
chế của đức Như Lai, trụ tŕ chánh pháp
của Phật, nên cần phải lựa chọn nghiêm
cẩn, nếu không th́ chánh pháp của Như Lai không tránh
khỏi có chỗ tổn thất.
Đây là nguyên nhân căn bản khác
nhau giữa Bồ Tát giới và Thanh Văn giới.
Câu “giai danh đệ nhứt
thanh tịnh giả” (đều gọi là thanh tịnh
thứ nhứt) là nói các loại hữu t́nh trên, khi chưa
thọ giới Bồ Tát, th́ có sự sai biệt nhiễm
tịnh, cao hạ, quư tiện.
Khi thọ giới rồi, như kinh
văn dạy ở trước: “Chúng sanh thọ Phật
giới tức nhập chư Phật vị” (chúng sanh nào
thọ giới của Phật, tức đă dự vào hàng
chư Phật). Lúc ấy, chúng sanh nào cũng thành pháp khí,
tối thượng, đều là thanh tịnh thứ
nhất, lại cũng không c̣n sữ khác biệt ai
nhiễm, ai tịnh, ai cao, ai thấp, ai quư, ai tiện, ai
trí, ai ngu....
Lại có chỗ giải thích: Khi
chưa thọ giới, v́ Tâm Địa diệu giới bị
phiền năo làm nhiễm ô, nên không được thanh
tịnh. Giờ đây thọ giới trước tiên theo
kinh dạy phải tha thiết sám hối, gột rửa
thân tâm, đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh,
nên gọi là đệ nhứt thanh tịnh.
Chú thích:
1. Năm
duyên thành tựu:
* Lối giải thích thứ nhất:
- Nhân: chỉ người thọ
giới
- Tăng chỉ cho chúng tăng như
Ḥa Thượng truyền giới và Yết Ma, Giáo Thọ,
các tôn chứng....
- Pháp: là lúc làm lễ truyền trao
giới pháp đúng như pháp, như luật, như
lời Phật dạy mà thực hành.
- Y bát là mỗi giới tử lúc
thọ giới Cụ Túc phải có đủ ba y và b́nh bát.
* Lối giải thích thứ hai:
- Nhơn thành tựu: chỉ cho các
vị thọ giới thuộc về người trong
nhơn đạo và các căn phải đầy
đủ, không phải là người phá trọng giới,
cũng phải đầy đủ h́nh tướng
của người xuất gia. Trước tiên thọ
giới Sa Di, sau mới cho thọ giới Cụ Túc (bên Ni
thọ Sa Di, phải thọ Thức Xoa, học giới hai
năm mới thọ Cụ Túc).
- Kiết giới thành tựu: bạch
Tứ Yết Ma, tăng số đầy đủ, không
có lỗi biệt chúng, y bát đầy đủ.
- Tự xưng danh thành tựu:
Giới tử thọ giới Cụ Túc phải tự
xưng tên của ḿnh và xưng tên của Ḥa Thượng,
thành tâm khất cầu giới pháp.
- Tâm thành tựu: tâm và cảnh
đều tương ứng.
- Sự thành tựu: việc thọ
giới được cứu cánh thành tựu,
trước là thỉnh sư, sau thọ giới. Xong
rồi, trước cũng như sau đều đúng
pháp.
2.
Mười ba giá nạn
Nói chung gồm 13 giá tội và
mười ba nạn tội. Giá tội thuộc về
khinh, chữ “giá” nghĩa là ngăn che. Nạn tội
thuộc về trọng; chữ “nạn” là chướng
nạn.
*
Mười ba nạn tội:
- Biên tội nạn: Người
trước kia thọ Cụ Túc Giới, rồi phạm
bốn pháp Ba La Di th́ người ấy ở bên ngoài
Phật pháp nên gọi là Biên Tội.
- Phạm Tỳ Kheo Ni: Lúc c̣n làm
người thế tục, phạm giới tỳ kheo ni
nghiêm tŕ tịnh giới.
- Tặc tâm thọ giới: Lúc làm
người thế tục, hoặc xuất gia làm sa di,
trộm nghe chúng tăng thuyết giới yết ma, rồi
giả dối xưng ḿnh là tỳ kheo, nên gọi là
“tặc tâm thọ giới”.
- Người phá nội, ngoại
đạo: Người trước kia tu theo ngoại
đạo, sau vào Phật pháp thọ giới Cụ Túc.
Thọ giới Cụ Túc rồi lại bỏ Phật pháp
trở về ngoại đạo, bấy giờ muốn
trở lại thọ giới Cụ Túc. Người này
với hai bên Phật pháp và ngoại đạo đều
phá hoại, tâm tánh không nhất định, nên gọi là
“phá nội ngoại đạo”.
- Hoàng môn: năm hạng người
bất nam. Trong Luật gọi là “sanh bất nam” là khi
vừa sanh ra không có bộ phận dương vật
của nam tử. Kiện bất nam là có dương
vật nhưng tự cắt (trường hợp cắt
sau khi thọ Cụ Túc th́ không ở trong cấm lệ),
biến bất nam, bán bất nam, đố bất nam.
- Giết cha.
- Giết mẹ.
- Giết A La Hán.
- Phá Tăng và phá pháp luân tăng,
nếu là phá yết ma tăng th́ không ở trong nạn này.
- Làm thân Phật xuất huyết.
- Nạn phi nhơn: quỷ thần
trong bát bộ biến hóa thành h́nh người để
thọ giới.
- Súc sanh nạn: súc sanh biến hóa làm
h́nh người để thọ giới.
Nạn nhị h́nh: người đủ hai căn
nam và nữ.
*
Mười ba giá tội (có chỗ gọi là thập lục
giá):
- Không biết tên ḿnh.
- Không biết tên Ḥa Thượng
của ḿnh.
- Không đủ hai mươi tuổi.
- Không đủ ba y.
- Không có b́nh bát.
- Cha không cho phép.
- Mẹ không cho phép.
- Ḿnh thiếu nợ của
người.
- Làm nô lệ cho người.
- Đương làm quan trong quốc gia
(nếu hưu trí hay xin nghỉ th́ không trong hạn lệ
cấm này).
- Không phải là nam tử.
- Có bịnh hủi.
- Có bịnh ung thư.
- Có bịnh bạch lại.
- Mắc bịnh c̣m xấu, thân h́nh
gầy g̣, ốm yếu.
- Bị điên cuồng.
Mười sáu giá tội này
thường gọi là “mười ba giá tội”, nhưng
trong Luật khi chất vấn giới tử th́ chỉ có
mười thứ: y bát tính là một, cha mẹ tính là
một, năm thứ bịnh tính là một, cộng là
mười giá tội.
3. Trụ
Tŕ Tam Bảo:
Một trong bốn loại Tam Bảo.
Kính Quán Vô Lượng Thọ nói: “Là Phật tử phải
nhất tâm cung kính Tam Bảo và phụng sự sư
trưởng. Tất cả:
- Phật Đà là Phật Bảo.
- Giáo pháp của Đức Phật tuyên
thuyết là Pháp Bảo.
- Những người theo giáo pháp
của Phật tu hành là Tăng Bảo.
- Phật là giác tri.
- Pháp là phép tắc.
- Tăng là ḥa hợp.
Bốn loại Tam Bảo:
1) Nhứt Thể Tam Bảo: c̣n gọi
là đồng thể Tam Bảo, đồng tướng
Tam Bảo, nghĩa là thể của mỗi Tam Bảo
đều có ư nghĩa Tam Bảo. Trên thể của
Phật Bảo bao hàm ư nghĩa giác chiếu là Phật
Bảo, Quỹ Tắc là Pháp Bảo, không trái chống nhau
là Tăng Bảo. Như thế, Phật Bảo có
đủ Tam Bảo. Tóm lại, Tam Bảo có quán trí là
Phật Bảo, có quỹ tắc là Pháp Bảo, ḥa hợp
không chống trái là Tăng Bảo.
2) Lư Thể Tam Bảo: trên thể
của Chơn Như mà thành lập đủ Tam Bảo. Lư
thể Chơn Như cùng với giác tánh, pháp tướng
không trái chống nhau nên gọi là Lư Thể Tam Bảo.
3) Hóa Tướng Tam Bảo: C̣n gọi
là Biệt Tướng Tam Bảo, Chơn Thật Tam
Bảo. Tam Bảo này có hai loại:
- Tam Bảo Đại Thừa: ba thân
của chư Phật là Phật Bảo, lục độ
là Pháp Bảo, Thập Thánh là Tăng Bảo.
- Tam Bảo Tiểu Thừa: Hóa thân
Phật tương tục là Phật Bảo, pháp Tứ
Đế, Thập Nhị Nhân Duyên là Pháp Bảo, tứ quả
Thanh Văn, Duyên Giác là Tăng Bảo.
4) Trụ Tŕ Tam Bảo: Sau khi Phật
nhập diệt, Tam Bảo cửu trụ ở thế
gian, dùng các danh mộc điêu khắc tượng Phật,
hoặc dùng bùn, đất, xi măng tô đắp
tượng Phật, dùng giấy vẽ h́nh tượng
Phật... là Phật Bảo. Văn cú trong Tam Tạng thánh
điển là Pháp Bảo. Phật tử xuất gia,
cạo râu tóc, mặc y hoại sắc là Tăng Bảo.
Bốn loại Tam Bảo trên có hai
loại trước thuộc Đại Thừa, hai loại
sau thông cả Đại, Tiểu Thừa.
4. Thanh Cung
Cung điện của Thái Tử.
Bộ Thần Dị Kư nói: “Ở phương Đông núi Đông
Minh có một cung điện dùng đá xanh làm vách, ngoài
cửa có bảng bằng bạc, cũng dùng đá xanh
chạm khắc sáu chữ “thiên địa trưởng nam
chi cung” (cung con trưởng nam của trời đất).
V́ lư do ấy nên gọi là Thanh Cung. Bộ sách trên nói:
- Phương Đông thuộc về cung
Chấn. Cung Chấn là trưởng tử. Xưa kia
Tần Vương lúc c̣n làm Thái Tử. Phụ hoàng của
Tần Vương nói: “Phương vị của con ta
ở tại Đông Cung nên cần đem việc trong cung ủy
thác cho Thái Tử”. V́ thế nên nói Đông Cung là cung điện
của Thái Tử ở.


(Tam Giới)
(Tam Giới)